Tham Khảo >> Sống Đạo

PrintPrint This TopicEmail To Friend
V-B26 - MỤC TỬ NHÂN LÀNH
NGUYỄN HỌC TẬP
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( V - B 26 ); ( 26.04.2015); ( Jn 10, 11-18) CHÚA NHẬT IV SAU PHỤC SINH NĂM B.



Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay trình bày cho chúng ta Chúa Giêsu dưới hình ảnh của người mục tử nhân lành, hy sinh cả cuộc đời mình, sống chết vì đoàn chiên.

Một hình ảnh rất được ngưỡng mộ và gây nên cảm xúc trước sự hy sinh cao cả của chủ chăn đối với đoàn chiên trong xã hội nông nghiệp lúc đó, thời Chúa Giêsu, ở miền Trung Đông và Cận Đông.

Nhưng hình ảnh đó có thể không gây nên một cảm xúc nào đối với xã hội kỹ nghệ hóa hiện đại của chúng ta, nhứt là xã hội hoá như các xứ Tây Âu, bởi lẽ người dân trong các nước kỹ nghệ không mấy khi quen thuộc với hình ảnh người mục tử đi trước dẫn theo sau một đoàn chiên, có chăng một đôi khi qua màn ảnh truyền hình và càng không thể hiểu được tâm tình gắng bó giữa mục tử và đoàn chiên, được kể lại trong Phúc Âm.

Chúng ta không biết có thể lấy hình ảnh của đứa bé chăn trâu, dắt trâu ra đồng ăn cỏ ở Việt Nam để biểu tượng phần nào mối thân tình giữa chủ chăn và đoàn trâu trên cánh đồng cỏ ở Việt Nam không. Nhưng hình ảnh vừa kể không thể nào biểu tượng được mối cảm xúc Chúa Giêsu đề cập đến thái độ hiên ngang và đại lượng của người mục tử đối đầu với đoàn sói để bênh vực đoàn chiên mình.

Cử chỉ anh hùng và đại lượng đó đã làm rung động bao nhiêu trái tim của những ai nghe Người kể lại thái độ phải có của người mục tử trước hiểm họa của đoàn chiên lúc đó:

- " Ta là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh ta, nên khi thấy sói đến, anh ta liền bỏ chạy. Sói vồ lấy chiên và làm chúng tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, nên không thiết gì đến chiên" ( Jn 10, 11-13).

Cử chỉ can đảm và đại lượng của người mục tử nhân lành, mà Người là biểu tượng, được Chúa Cha tán đồng và tình thương của Người xác nhận. Bởi đó Người nhận được ý muốn của Chúa Cha phải thi hành và có quyền hy sinh mạng sống mình cũng như lấy lại lúc nào tùy ý Người, vì Người là Thiên Chúa:

- " Sở dĩ Chúa Cha yêu mến Ta, là vì Ta hy sinh mạng sống mình. Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha Ta, mà Ta đã nhận được" ( Jn 10, 17-18).

Ở phần chính của đoạn Phúc Âm, không những Chúa Giêsu là Người Mục Tử nhân lành có mối liên hệ mật thiết sống còn với đoàn chiên của mình:

- " Ta biết con chiên Ta, và con chiên Ta biết Ta" ( Jn 10, 15),

mà Người còn có những con chiên khác, chưa hội nhập vào đoàn chiên của Người. Cả những con chiên đó nữa, Người cũng yêu mến chúng, Người phải lo lắng cho chúng, đem chúng về dưới sự dẫn dắt thương mến của Người, để tất cả trở thành một đoàn chiên duy nhứt :

- « Ta còn những con chiên khác, không thuộc về ràn nầy. Ta cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và chỉ có một ràn chiên và một mục tử » ( Jn 10, 16).

Và đó là những gì Người đã trối lại cho các môn đệ và cho chúng ta, con cái của các ngài trong đức tin, tiếp tục hoàn thành sứ mạng của Người :

- « Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em » ( Mt 28, 18-19).

Trong bài giảng của Chúa Giêsu về Người là Người Mục Tử nhân lành, chúng ta có thể rút một vài tư tưởng đề suy niệm :
Chúa Giêsu tự mạc khải chính Ngài là ơn cứu rổi.
Mạc khải đó ở đây được tuyên bố dưới hình thức của một mệnh đề xác định (proposition affermative ) : « Ta là + Mục Tử Nhân Lành ».
Mệnh đề trên, trong nguyên bản Hy Lạp cho phép chúng ta viết lại dưới hình thức của một câu văn xác quyết , có tính cách nhấn mạnh : « Mục Tử Nhân Lành + là Ta » hay « Mục Tử Nhân Lành, chính là Ta ».

Viết lại câu văn như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rổi duy nhứt . Và chúng ta có thể xác quyết Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rổi duy nhứt, dưới nhiều hình thức khác , bằng cách đem vào phần đầu của mệnh đề những tước hiệu mà Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta trong Phúc Âm :

- « Ánh sáng thế gian, chính là Ta,
- « Bánh từ trời xuống, chính là Ta,
- « Đàng, sự thật và sự sống, chính là Ta,
- « Cây nho, chính là Ta và các con là cành nho… »,


Đọc mệnh đề đảo ngược như vậy, chúng ta có được ý nghĩa Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rỗi duy nhứt với những tước hiệu khác xung quanh, được Người mạc khải cho chúng ta, chung quanh Người là sự sống / sự sống đời đời trong Phúc Âm Thánh Gioan , tương đương với thành ngữ « Nước Trời » hay « Nước Thiên Chúa » trong Phúc Âm của Thánh Matthêu, Marco và Luca.

Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế ( mục tử nhân lành hy sinh mình để cứu chiên).
Người mục tử nhân lành khác với người làm công, tắc trách và ích kỷ. Người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình đề bênh vực chiên :

- « Ta chính là Mục Tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên ... Mạng sống ta không ai lấy đi được, nhưng chính ta hy sinh mạng sống mình » ( Jn 10, 11.18).

Trong bản Hy Lạp, từ ngữ « mạng sống » trong câu Phúc Âm vừa trích dẫn được các dịch giả Hy Lạp dùng một từ ngữ rất có ý nghĩa « mạng sống, psyché= linh hồn », trái lại khi nói về người mục tử dẫn chiên ra đồng cỏ, để chiên được ăn uống no đầy, được sống dồi dào, tác giả Phúc Âm dùng từ ngữ « sống, zoè » : sự sống của một động vật ( môn động vật học , zoologie).
Hiểu được sự khác biệt ý nghĩa giữa hai từ ngữ Hy Lạp vừa kể, thử đọc lại câu vừa trích dẫn, chúng ta sẽ thấy thấm thía ý nghĩa của câu văn:

- « Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh « mạng sống = linh hồn ( psyché) » mình cho đoàn chiên… ».

Và nếu chúng ta đặt câu hỏi « Ai là người mục tử nhân lành » được đề cập trong đoạn Phúc Âm ?
Chính Chúa Giêsu, là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa.
Như vậy chúng ta thấy được cử chỉ đại lượng cao cả của Chúa Giêsu. Người là Thiên Chúa. Mặc dầu là Ngôi Lời Nhập Thể Ngài vẫn là Thiên Chúa. Người đã không ngại hy sinh chính linh hồn ( psyché) của Người để cứu rỗi chúng ta, như người mục tử nhân lành , đã không ngại hy sinh tất cả con người của mình ( cả linh hồn mình, phần cao cả nhứt trong con người) để cứu chiên, vì thương chiên của mình.
Người đã yêu thương chúng ta đến nỗi dầu phải hy sinh linh hồn, Người cũng không lùi bước. Đó là những gì Thánh Matthêu thuật lại cho chúng ta, khi Chúa Giêsu kết thúc công cuộc cứu rỗi của Người :

- « Lập tức, một người trong bọn chạy lấy miếng bọt biển, thấm giấm, buộc vào đầu cây sậy, và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo : Khoan đã, để xem ông Elia có đến cứu hắn không ! Chúa Giêsu lại kêu lớn một tiếng, rồi trút linh hồn » ( Mt 27, 48-50).

Phải chăng đây là tấm gương cho những ai có trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên Chúa ?
Thương yêu bảo vệ đoàn chiên được giao phó, bênh vực chiên cho dầu có phải hy sinh cả linh hồn mình !
Lý do người mục tử hy sinh cả linh hồn mình cho đoàn chiên là để cho chiên khỏi bị sói vồ lấy :

- « Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên » ( Jn 10, 12-13).

Ngoài ra đặt Chúa Giêsu làTrung Gian Nguồn Ơn Cứu Rỗi duy nhứt , như cách dịch đảo ngữ mệnh đề kể trên, chúng ta sẽ thấy rằng lý do sâu xa hơn nữa để Chúa Giêsu hy sinh mạng sống mình cho chúng ta, là để tất cả chúng ta, đoàn chiên của Người được tham dự vào chính đời sống tình thương, mối thân tình giữa Người và Cha Người :

- « Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa… » ( 2 Pt 1, 4).

Sự hy sinh của Chúa Giêsu được đặt đồng thời trên nền tảng tự do và vâng phục.
Chúa Giêsu vâng lệnh Chúa Cha đem đến sự cứu rỗi cho nhân loại, nhưng Người có toàn quyền quyết định tự do, vô điều kiện và không ai có thể cưỡng chế Người được :

- « Mạng sống của Ta, không ai có quyền lấy đi được, nhưng chính Ta hy sinh mạng sống của Ta. Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy » ( Jn 10, 18).

Tấm lòng đại lượng của Ngài là vậy : « Mạng sống ( = linh hồn) của Ta không ai có quyền lấy đi được, nhưng chính ta hy sinh mạng sống ( = linh hồn) của Ta ».
Do đó sự sống lại của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan không phải chỉ là động tác của Chúa Cha, như trong các Phúc Âm khác, mà còn tiềm ẩn cả trong quyền lực của Người Con : « Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy » .
Nhưng uy quyền tự do đó, Chúa Giêsu hành xử trong sự vâng phục đối với Cha Người, bởi vì Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha :

- « Nếu Ta không làm việc của Cha Ta, thì các ông đừng tin Ta. Còn nếu Ta làm các việc đó, thì dù các ông không tin Ta, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy các ông sẽ biết, và ngày càng biết thêm rằng : Chúa Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Chúa Cha » ( Jn 10, 37-38).

Và như vậy qua sự liên hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và các con chiên Người , « Mục Tử nhân lành, chính là Ta. Ta biết chiên của Ta, và chiên của Ta biết Ta » ( Jn 10, 14), Chúa Giêsu ban cho họ được tham dự vào đời sống thần linh thông hiệp giữa Cha Người và Người, như lời tuyên bố trên của thư Thánh Phêrô.

- « Phần Ta, Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sồng dồi dào » ( Jn 10, 10).


NGUYỄN HỌC TẬP

* Ý Kiến Độc Giả