Tham Khảo >> Công Giáo và Xã Hội

PrintPrint This TopicEmail To Friend
TÔN TRỌNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG TINH THẦN ĐỨC TIN
NGUYỄN HỌC TẬP
TÔN TRỌNG PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG TINH THẦN ĐỨC TIN VÀ TÀI LIỆU HUẤN DỤ XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI


Hôm thứ sau Tuần Thánh, 03.04.2015, nhân dịp theo dõi chương trình cử hành Lễ Rửa Chân cho 12 tù nhân trong trại tù Rebibbia ở Roma, người viết được chứng kiến một cảnh tượng thật cảm động: ĐTC Phanxicô qùy gối xuống rửa và hôn chân một cậu bé chưa đến ba tuổi đang bị ở tù chung với mẹ.
Câu hỏi tự nhiên có lẽ ai trong chúng ta cũng đạt ra:
- luật lệ dân sự ( legge civile) ở Ý, một trong những nước được coi là văn minh trên thế giới, có phải là luật lệ tôn trọng phẩm giá con người hay không?
- làm sao mà một cậu bé chưa đến ba tuổi, vô tội, cũng phải " ngồi tù "cùng chung số phận với mẹ và như những người khác?

Nhân bức xức với lương tâm về câu hỏi đó, người viết tìm gặp được bài viết về cùng một chủ đề tương tự của Đức Hồng Y Carlo Martini, Tổng Giám Mục giáo phận Milano.
Người viết xin dựa vào đó để viết ra những dòng dưới đây, như vậy mọi người chúng ta, nhứt là những người công giáo, cùng nhau suy nghĩ cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong tương lai.
Bài viết được ĐHY Carlo Martini viết ra trực tiếp để nhắn gởi đến các linh mục tuyên úy, các nữ tu và các người công giáo tự nguyện ra vào nhà tù để tiếp xúc, ủy lạo xã hội và tinh thần các tù nhân đang bị giam giữ.
Ngài cho biết:

- " Nhiều lần anh chị em đã phải bất lực chứng kiến cảnh bạo lực vô lý, làm hạ giá chống lại con người, nam cũng như nữ, trong nhà tù và bạo lực có hệ thống phát sinh và tái diễn chính trong bối cảnh nhà tù ".

Điều ngài vừa cho biết, đó là do thư từ mà các tù nhân gởi ra cho thân nhân của mình ở bên ngoài,cũng như ai trong chúng ta cũng biết được qua các hệ thống thông tin, qua cơ hội có dịp tiếp túc với tù nhân, hay được các tù nhân kể lại cho chính ngài.
Qua những sự việc đau thương, mà người tù nhân phải gánh chịu đó, ở một xứ " văn minh ", thật là điều không thể tưởng tượng được. Nhưng rất tiếc là những chuyện thực tại và xảy ra hằng ngày, ( còn nói gi đến số phận của những tù nhân ở những quốc gia bị coi là kém văn minh, như quốc gia nào đó chúng ta thừa biết ). Chúng ta thử tìm hiểu sâu xa hơn " tình trạng luật pháp dân sự đáng lý phải có " , dựa vào Lời Chúa và dựa vào các Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội.

Điều chúng ta muốn được suy nghĩ " đáng lý phải có ", chúng ta có thể dựa vào " điều mới mẻ " của Phúc Âm, sứ điệp cứu độ cho tất cả mọi người, trong bất cứ hoàn cảnh nào mình đang sống, sống ngoài cuộc sống bình thường xã hội hay trong ngục tù áp bức cũng vậy.
Con người được sứ điệp Phúc Âm cho biết không bao giờ là con người bị bóp ngạt, bị bất cứ hoàn cảnh hay thực tại nào nô lệ hoá, dầu cho hoàn cảnh đó là hoàn cảnh áp bức bóp nghẹt nào cũng vậy.

Người công giáo, ai trong chúng ta cũng còn nhớ lời tiên tri Isaia, được Chúa Giêsu lâp lại để nói lên sứ mạng của Người trong phần khởi đầu Phúc Âm Thánh Luca:

- " Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa " ( Lc 4, 18-19).

Đó là sứ điệp cho người tín hữu Chúa Kitô, các linh mục tuyên úy nhà tù, các nữ tu trợ tá, các người công giáo dấn thân tự nguyện giúp các phạm nhân hay bất cứ người công giáo nào, lúc nào và ở đâu cũng vậy.
Hiểu như vậy, chúng ta nên hiểu các lời Phúc Âm vừa trích dẫn không phải chỉ là những lời dành riêng cho những hạng người vừa kể, mà là điều nhắc nhở cho biết rằng những ai đảm nhận công tác đươc đề cập, đừng cảm thấy mình trơ trọi một mình trong sứ mạng, mà còn biết có cả Giáo Hội cùng chung với mình, đang cùng thông hiệp với Chúa Kitô, ngay cả khi các Đấng Bản Quyền không có dịp tiếp xúc để chia xẻ công việc mình làm.
Hãy cảm nhận mình luôn luôn được Chúa Kitô yêu thương và có Giáo Hội trợ lực!
- Các linh mục tuyên úy đã nhận được sứ mệnh ủy thác từ ngày được truyền chức.
- Các tu sĩ nam nữ, từ ngày tuyên khấn.
- Các nam nữ giáo dân từ ngày nhận được Phép Rửa và Phép Thêm Sức.

Giáo Hội nghĩ gì về nhà tù ?
Qua những dòng vừa viết, có lẽ phần đông trong chúng ta nghĩ rằng đó là những suy tư tổng quát, còn Giáo Hội, Giáo Hội có tiếng nói, có tài liệu chính thức nào nói về " tù nhân " đang bị cầm tù ngày hôm nay hay không, ngoài ra những gì chúng ta được biết qua Thánh Kinh?

Thời gian và tình thế đã thay đổi. Thánh Kinh nói đến người Do Thái bị ngược đãi, đối xử như nô lệ trong hoàn cảnh thảm đạm, bất nhân trong tay người Ai Cập, Assiri, Babylon, tù nhân của các hoàng đế Roma. Đối với những người Do Thái thời đó, Thánh Kinh lập đi lập lại lời của Thiên Chúa nói với họ.

Ngày nay, trước hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, ở các nước " văn minh hay độc tài man rợ ", có lẽ chúng ta còn muốn nghe nói một cách thực tiển hơn, Giáo Hội, Giáo Phận, Họ Đạo hay các nhóm, các phong trào công giáo có tiếng nói nào để bênh vực phẩm giá người bị cầm tù hay không?
Ngay cả ở Ý quốc, dựa theo tài liệu của ĐHY Carlo Martini, mà chúng tôi viết bài nầy, có đến khoản 40.000 người đang bị cầm tù và cứ mỗi tháng có thêm trên 500 người.
Đàng sau những người đang bị mất tự do nầy, còn có cả gia đình, cha mẹ, vợ hay chồng, chị em và con cái của họ đang đau khổ vì họ nữa!
Và rồi chúng ta còn phải nghĩ đến những vấn đề, lắm khi thật thảm đạm, thất vọng, do trạng thái bị cầm tù nảy sinh ra, trước khi có được một giải pháp thực tiển cho tù nhân và gia đình, thân nhân.
Tâm trạng thương xót, thảm đạm có; nhưng thái độ trả thù phục hận, đáng kiếp cũng không thiếu.
Đó là những gì các cha tuyên úy, các nam nữ tu sĩ, cũng như giáo dân dấn thân đối với tù nhân thuật lại cho ĐHY Carlo Martini, được ngài đề cập đến trong bài viết mà chúng tôi dựa vào, để viết lên những dòng nầy.
Thái độ " nhốt tù để trừng phạt " nhứt là " trừng phạt " cả bằng " tù chung thân và tử hình " không phải không đang gây ra rất nhiều tranh cải, có phải là cách sửa trị xứng đáng với phẩm giá con người không?

1 - Thánh Kinh và Tài liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội.

Trước hết chúng ta nên nhớ Thánh Kinh và Tài Liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội soi sáng cho chúng ta phải có thái độ hành xử nào trong tình trạng tế nhị và đau khổ nầy.

A) Trong Thánh Kinh chúng ta không gặp được đoạn văn lý thuyết và có hệ thống nào về bản thể con người.
Thánh Kinh đề cập đến con người thực tế, trong lịch sử và bối cảnh văn hoá sống của mình. Cả các chân lý về phẩm giá, con người, về các quyền và bổn phận đều có liên hệ đến hiện trạng cá biệt và thực tế của cuộc sống.

B) Trái lại, trong một vài Tài Liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, chúng ta gặp được lời huấn dạy được cấu trúc và xếp đặt mạch lạc có thứ tự về phẩm giá con người, các quyền cũng như bổn phận.
Giữa các Tài Liệu trong thế kỷ 20, chúng ta có được Thông Điệp Mit Brennender Sorger ( 1937) của ĐTC Pio XI và Thông Điệp Divini Redemptoris ( 1937); Sứ Điệp Giáng Sinh năm 1942 của ĐTC Pio XII và Pacem in Terris của ĐTC Gioan XXII ( 1963).
Chúng ta cũng đừng quên Hiến Chế " Gaudium et Spes " của Công Đồng Vatican II, Bản Tuyên Ngôn về quyền tự do tôn giáo " Dignitatis humanae".

Chúng ta cũng còn nhớ Thông Điệp " Populorum Progressio " của ĐTC Phaolồ VI và cả Bài Thuyết Giảng cho Tổ Chức Ngoại Giao Đoàn 1978 của ngài, trong đó ĐTC nhấm mạnh đến
- thái độ kính trọng vô điều kiện đối với phẩm giá con người,
- chống lại vấn đề tra tấn người bị bắt giữ.
ĐTC Gioan Phaolồ II đặt vấn đề và giải thích huấn dụ của ngài về con người, khởi đầu từ Thông Điệp " Redemptor Hominis " ( 1978 ): Chúa Kitô mạc khải phẩm giá con người cho con người. Và đây là một chủ đề chính trong thời đại Giáo Hoàng của ĐTC Gioan Phaolồ II. Trong nhiều bài viết và huấn từ của ngài, ngài nhắc nhở cho mọi người rằng Giáo Hội gìn giữ phẩm giá con người, là phẩm giá được Thiên Chúa nhân lành giải thoát: đây là chủ đề được đề cập đến một cách đặc biệt trong Thông Điệp " Dives in Misericordia " ( 1980), mà ĐTC chỉ cho chúng ta biết như là bản văn nền tảng cho Năm Thánh thời gian đó.

Nền tảng của phẩm giá con người: đó là " giống hình ảnh Thiên Chúa ".
Trong các bản văn nầy, nền tảng của phẩm giá con người, của mỗi con người là gì?
Dưới nhãn quang của đức tin, đó là sự dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa.

Công cuộc dựng nên đó, được Sách Sáng Thế Ký thuật lại, thiết lập nên nền tảng của phẩm giá con người và là nguyên cội của các quyền và bổn phận của con người.
Và đó cũng là nền tảng của Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, nhứt là trong Hiến Chế " Gaudium et Spes ", đã khai triển rộng rãi, khi nói về phẩm giá con người:

- " ...Theo quan niệm thông thường đó, thường con ngưòi tán dương mình như một mẫu mực tuyệt đối hay lại chê bai đến độ tuyệt vọng, từ đó con ngườ hoài nghi và lo lắng. Thông cảm sâu xa được những khó khăn nầy, Giáo Hội, vì được Thiên Chúa là Đấng mạc khải dạy dỗ, có thể đem lại câu giải đáp cho những khó khăn ấy, nhờ đó diễn tả được thân phận đích thực của con người, giải bày những yếu hèn, đồng thời có thể nhìn nhận xác đáng phẩm giá và thiên chức của con người.
Thực vậy, Thánh Kinh dạy rằng con người đã được tạo dựng " theo hình ảnh của Thiên Chúa " và có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Tạo Dựng nên mình, được Người đặt làm chủ nhân mọi tạo vật trên trái đất , để cai trị và xử dụng chúng, mà ngợi khen Thiên Chúa... " ( GS, 12)
.

Giờ đây chúng ta thử suy ngẫm lại một cách ngắn gọn lời của Thánh Kinh:

- " Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta " ( Gen 1, 26).

Chúng ta có thể nói rằng cách dịch chính xác hơn:

- " Chúng ta hãy tạo dựng các con người giống hình ảnh chúng ta ".

Theo ngôn ngữ Do Thái, Adam = con người, mà một danh từ số ít, thực tế và có ý nghĩa tổng thể. Bởi đó, ở đây, chúng ta nên đọc hiểu không phải chỉ là tạo dựng nên một con người đầu tiên và duy nhứt, mà là dựng nên loài người.
Và điều đó nhấn mạnh, nói lên cho biết không phải chỉ là tạo dựng nên một con người tiên khởi, duy nhứt, con người đó chưa hề phạm tội, cần phải được kính trọng, mà là mỗi con người của loài người đều được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa.
Và rồi Sách Sáng Thế Ký tiếp tục kể tiếp:

- " ...giống như Chúng Ta , để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất...Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ..." ( Gen 1, 26-27).

" ...giống hình ảnh Ta " có nghĩa là gì?

Đó là ý nghĩa của một bức tượng, một khuôn mặt trọn hảo được phát hoạ hoặc điêu khắc. Trong ngôn từ Do Thái, lắm khi cách diễn tả, giống hình ảnh là làm sống động thể hiện một nhân vật. Một tượng điêu khắc một nhà vua, theo tinh thần đông phương, là nhắc nhớ và làm hiện diện thực sự trước mắt vị vua. Đây là một quan niệm rất sống động và tức khắc, nói lên sự hiện diện tiếp tục và tác động của nhà vua.
Trong ý nghĩa đó,Sách Sáng Thế Ký nói lên cho chúng ta biết mối liên hệ thân tình giữa con người và Thiên Chúa, được thể hiện có nền tảng.
Nói cách khác, con người trong Thánh Kinh khám phá ra phẩm giá của mình, giống như Thiên Chúa, và giá trị của phẩm giá đó là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mỗi con người, Đấng Tạo Hoá của mình.
Thật đây là một biến cố có tầm mức ngoại lệ, duy nhứt trong cả công trình tạo dựng của Thiên Chúa.
Sự kiện con người là tạo vật duy nhứt giống như Thiên Chúa hằng sống, Đấng đang hiện diện nơi mình, là chìa khóa làm cho chúng ta hiểu được cả Thánh Kinh, là nguyên nhân trổi thượng nhứt của cả lịch sử thiên thánh.
Hiểu như vậy, chúng ta còn gặp được bao nhiêu đoạn Thánh Kinh khác tường thuật lại những gì Sách Sáng Thế Ký đã đề cập đến:

- " Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa " ( Gn 9, 6C ).
- " Xin Chúa nhớ cho: Ngài đã tạo ra con bằng đất sét, rồi lại đưa con trở về cát bụi " ( Gb 10,9); ( Tb 8,8; ( Sp 7, 1; 10, 1-2).


Cả Phúc Âm, Thư Thánh Phaolồ gởi các tín hữu Colossei 3, 10 cũng đã đề cập đến.
Như vậy, yếu tố nền tảng để hiểu biết được phẩm giá con người là những gì được đặt trên mối liên hệ thân tình của con người với Thiên Chúa.

Nhưng điều chính yếu con người, là hình ảnh của Thiên Chúa nghĩa là gì?
Dĩ nhiên " hình ảnh của Thiên Chúa " không phải chỉ thu gọn vào tài năng của con người, chức vụ của con người cũng như cách hành xử của con người.
Con người là hình ảnh của Thiên Chúa hiện thực trong tự bản thể của mình, trong hiện thể của mình.

Kế đến Thánh Kinh còn dùng một thể thức diễn tả khác để làm sáng tỏ hơn quan niệm hình ảnh Thiên Chúa của con người: đó là khi Thánh Kinh đề cập đến sự kiện con người được kêu gọi trở nên con Thiên Chúa , có quyền - nói như thánh Gioan cho biết - được trở thành con Thiên Chúa.

Quyền đó con người có được bỏi vì Thiên Chúa muốn, dựng nên , yêu thương và giờ đây được Thiên Chúa cứu thoát nơi Chúa Giêsu Kitô.
Đây là một giá trị Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ tạo dựng nên cho.

Phẩm giá đó được thể hiện do sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa, nguyên nhân tiên khởi và chính yếu của bản thể con người,
- được hiện thực bằng cách con người tham dự vào đặc tính tối thượng của Đấng Tạo Hoá trên vạn vật;
- được tỏ ra trong chính khả năng của con người liên hệ, nhận biết, đàm thoại và yêu thương của mình đối với Thiên Chúa.
Nói cách khác, phẩm giá đó được phát sinh do
- chính Thiên Chúa luôn luôn thương yêu con người đang sống,
- đang đối thoại với Người,
- đang được Thiên Chúa kêu gọi liên hệ thông hiệp với Người,
- đang được Người làm cho trở nên thực sự là con cái của người, chớ không phải chỉ là ảo tưởng.mà chúng
Như vậy phẩm giá con người là mối liên hệ với Thiên Chúa. Mối liên hệ đó là nền tảng phẩm giá đich thực của con người, phẩm giá tuyệt đối trổi vượt ưu tiên trên tất cả các giá trị khác.
Hiểu như vậy,
- không ai có thể thiết định thế nào đối với con người,
- không ai có thể coi mình là chủ nhân ông của người khác,
bởi lẽ không ai có thể đặt Thiên Chúa ở vị trí nào mình muốn.

Nói như vậy, có thể có người cho rằng đó chỉ là cách nói đẹp đẽ trên lý thuyết, nhưng trong cuộc sống thực tế hằng ngày không phải vậy.
Có thể có người thách thức cho rằng thử sống cuộc sống thực tế hằng ngày với chúng tôi, người có ý nghĩ lý tưởng như vừa kể sẽ nhận thức được rằng con người của Thánh Kinh, của Công Đồng Vatican II không có gì ám hạp với thực tế, với lịch sử hằng ngày, nhứt là với cuộc sống tù tội.
Vậy thì câu hỏi cấp thiết cần phải được đặt ra. Đó là làm cách nào con người hằng ngày mà chúng ta đang gặp hiện diện trước mắt và đôi khi mà chúng ta biết được hoàn cảnh khổ tâm của họ, hoặc do chính họ, hoặc do người khác hay hoàn cảnh mà tạo ra, có thể còn là con người đang mang nơi mình vinh quang của Thiên Chúa, hình ảnh Thiên Chúa không?
Báo chí, truyền thanh, truyền hình hằng ngày không phải hiếm gì đưa ra hoặt phát họa lên những con người , mà dư luận công cộng cho là
- đáng ghét,
- đáng khinh bỉ,
- là thú vật đầy hung dữ;
- và đôi khi còn bị ghi vào " sổ bìa đen của luật pháp ", trước khi bị toà án công khai xét xử và lên án tội phạm.
Trong bài nói chuyện với Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận Milano, mà chúng tôi dựa vào để viết lên những dòng nầy, ĐHY Carlo Martini còn kể ra trường hợp của một thanh niên 24 tuổi viết cho ngài<,

- " Trong lúc bước vào nhà tù, con cản thấy mình chỉ còn là một vật, choáng chỗ chật chội và làm khó chịu thêm cho người khác, cho tất cả: đối với những người đang dẫn con vào lúc đó , cũng như đối với những người nhận được có sự hiện diện của con... Kế đến vào lúc chiều tối,khi họ tiếp xúc với con, con nghe được người nầy hỏi người kia: Bao nhiêu thú vật anh đã nhận vào chuồng của anh..,?".

Nói đến đây, tôi còn muốn được thêm vào, ĐHY nói tiếp, vì bị coi mình như một đồ vật,
- mà chính người tù nhân đã làm mất đi lòng tín nhiệm vào những đặc tính giá trị mình có,
- không còn cảm thấy mình còn có giá trị thiên thánh,
- đặc tính con cái Thiên Chúa cũng bị mất đi hay cả lời kêu gọi trở thành con cái Chúa cũng không còn. Trái lại, người tù nhân sẽ cảm nhận ra mình là người thất vọng, tội nhân bị lên án, từ nay vĩnh viễn sẽ là con người chịu thua thiệt, đáng bị vất bỏ như đồ vật phế thải.
Tâm tình cảm thấy mình không còn xứng đáng là con người nữa, đã trở thành hư không, khiến cho người bị cầm tù có những suy, hành đông quá độ, càng ngày càng tăng trưởng thêm bởi hoàn cảnh và tình trạng cô lập, chắc chắn sẽ đưa người tù nhân đến sự hủy diệt mình.
Một thanh niên khác cũng viết cho ĐHY,

- " con mới có 20 tuổi, nhưng con cảm thấy con là loài sâu bọ, thật là một điều xấu hổ . Trong đời sống con sẽ không thành đạt trở thành một người nào và con không bao giờ có khả năng làm được điều gì tốt đẹp. Con cản thấy con hèn hạ, đáng khinh bỉ...Có lẽ con nên chấm dứt cuộc đời nầy còn hơn..." .

Có thể mỗi người trong chúng ta cảm thấy bản tính tiên khởi của mình thái độ khước từ, đối với những ai giết chóc, buôn bán cái chết bằng súng đạn, hảm hiếp người vô tội, cướp giựt đối với người già cả.
Làm sao chúng ta có thể nhận ra được nơi những con người vừa kể hình ảnh thiên thánh của Thiên Chúa? Điều dữ đã phủ bùn đất, xáo trộn, làm rách nát hình ảnh thiên thánh đó.

2 - Thánh Kinh cho biết gì về thực trạng cuộc sống con người?

a )Thánh Kinh đã cho chúng ta biết gì về thực trạng đau lòng đó?

Đọc những trang Thánh Kinh, chúng ta được mời gọi hãy thức tỉnh, nhận thức được thực trạng, chớ đừng chỉ mộng tưởng cuộc sống con người toàn là những gì tích cực và dễ dãi.

Thực trạng thảm đạm của con người được Thánh Kinh thuật lại là con người tội lỗi, " sai lạc đường, mất định hướng " và du côn du đảng.

Thánh Kinh lập đi lập lại nhiều lần và kể cả đến chi tiết, diễn tả lòng bất nhân và bất công từ Adam cho đến vua David, từ vua Salomon cho đến vua Erode và tổng trấn Pilato.
Chúng ta chỉ cần đọc Thư Thánh Phaolồ gởi cho các tín hữu Roma để bết được con người được phác hoạ ra như thế nào, không nhận biết nơi chính mình cũng như trong các tạo vật niềm vinh quang của Thiên Chúa, hình ảnh của Đấng Tạo Hoá.
Bởi đó họ bị Thánh Phaolồ gọi là những con người
- làm mất đi thiên tính nơi chinh mình , đầy bất công, dã thú , đầy tham lam dục tình, hư mất và lươn lẹo bất công;
- đầy ghen ghét, có khuynh hướng giết người, cạnh tranh , lường lọc và độc ác;
- thích bêu xấu, loan truyền điều thất thiệt, thù nghịch đối với Thiên Chúa, kiêu ngạo, khoe khoang, lanh lợi khôn khéo.Vì thế họ làm điều ác , chống báng cha mẹ, tàn nhẫn vô tâm và không biết thương xót:

- " Vì thế Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế, khiến thân thể họ ra hư hèn. Thay vì Thiên Chúa thật, họ đã theo những thần giả; họ đã tôn thờ những loài thọ tạo, thay vì chính Đấng Tạo Hóa. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời.
Bởi thế, Thiên Chúa đã để họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy. không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình.
Vì họ đã không thèm nhận biết Thiên Chúa, nên Người đã để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng, lòng họ đầy bất chính, xấu xa, tham lam, độc ác đủ thứ; nào là ganh tỵ, khoác lác, cãi cọ, mưu mô, thâm hiểm, nào là nói hành, nói xấu, vu oan giá họa. Ho thù ghét Thiên Chúa, ngạo ngược, kiêu căng, khoác lác, giỏi làm điều ác, không vâng lời cha mẹ, không có lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương " ( Rom 1, 24-31)


Đây có lẽ là bản liệt kê dài nhứt của Thánh Phaolồ về tình trạng của con người, một bản liệt kê hoàn toàn tiêu cực và thảm đạm.

Nhưng nếu chúng ta đọc Sách Các Tiên Tri, nếu chúng ta đọc lại những bài thuyết giảng của Chúa Giêsu, các bản văn Tông Đồ Công Vụ, chúng ta sẽ thấy rằng không có tội ác nào của con người mà không được kể ra trong Thánh Kinh và được viết lên như là thời điểm cuối cùng, bất khả phân với hoàn cảnh tàn tạ của con người, như là điểm khởi đầu cho động tác tái lập lại của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa " không muốn cho con người tội lỗi phải bị tiêu diệt, mà muốn cho họ hối cải và sống còn ". Bởi đó Chúa Giêsu đến nỗi đã nhận lấy bản thể của chúng ta, để trở thành hoàn toàn như chúng ta, và trở thành một vị Thượng Tế đầy lòng nhân từ:

- " Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế
nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân " ( Heb 2, 17).


Chúa Giêsu cũng gặp phải cơn cám dỗ như chúng ta, để có thể trợ giúp được những ai bị cám dỗ:

- " Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách " ( Heb 2, 18).

Và vì đó Người có thể cảm thông được tình trạng yếu hèn của chúng ta:

- " Vị Thượng Tế của chúng ta phải là Đấng thông biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội " ( Heb 4,15).

Người có thể cảm thông được một cách tương xứng đối với những ai dốt nát hoặc lầm lỡ:

- " Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính Người cũng đầy yếu đuối " ( Heb 5, 2 ).

b) Và trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã nói lên rõ ràng và lập đi, lập lại nhiều lần, rằng Người đến trong thế gian không phải để vì người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi, không phải cho người khoẻ mạnh vì chỉ có người đau yếu và kẻ cần đến vị y sĩ, Người đến để tìm kiếm và cứu độ những con người bị hư mất:

- " Nghe thấy như vậy, Chúa Giêsu nói: " Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần
" ( Mt 9, 12).
- " Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã " ( Lc 19, 10).
- " Đây là điều đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Chúa Giêsu Kitô đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi " ( 1 Tim 1, 15).


Qua những gì Chúa Giêsu đã phán và chúng ta vừa trích dẫn, chúng ta có thể hiểu được mục đích của Chúa Giêsu lập nên Giáo Hội. Người lập Giáo Hội của Người như người mẹ và là nơi trú ẩn cho con người tội lỗi:

- " Con Người đến cũng ăn uống như ai, thì các ông lại bảo: " Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi " ( Lc 7, 34).
- " Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm " ( Mt 9, 16).


Chúa Giêsu lập Giáo Hội của Người như người mẹ và như là nơi ẩn trú cho người tội lỗi, chúng tôi xin được lập lại.
Hay nói một cách thiết thực hơn, Giáo Hội và chúng ta, mỗi con người chúng ta là thành phần của Giáo Hội, phải làm gì, hành xử thế nào và con đường nào chúng ta phải tìm ra để chữa trị phẩm giá bị thương tích của con người?
Câu trả lời tổng quát trước tiên là Giáo Hội, là tất cả chúng ta, phải luôn luôn được tiếp tục huấn dạy cho thấu triệt rằng phẩm giá con người là những gì có địa vị ưu tiên và đứng trên tất cả.
Nói một cách chi tiếc hơn bất cứ hình phạt nào, bất cứ một cuộc bắt giữ , xử kiện hay giam cầm nào, dầu cho đó là điều bất khả kháng, phải thi hành, đều phải thực hiện trong phương cách kính trọng phẩm giá con người, trong mọi tiến trình.
Trong chiều hướng đó, tất cả mọi người đều được kêu gọi phải hành xử trong việc thi hành bổn phận của mình, dầu cho mình là thành viên của quốc hội, của hành pháp hay tư pháp hay lực lượng an ninh cảnh sát khi thi hành luật pháp cũng vậy.
Người bị cầm giữ phải có quyền và cơ hội đích thực để hoán cải tinh thần mình, cả trước khi có thái độ xứng đáng đối với cuộc sống xã hội.
Viễn ảnh vừa kể cho thấy không ai có quyền tước đoạt động tác chuyên cần dấn thân của Giáo Hội trong việc định hướng, hướng dẫn người bị cầm giữ, bằng những lời khuyên bảo về sai lỗi của đương sự, lòng thống hối, trạng thái tha thứ, niềm hoà giải lại với Chúa và với người thân cận.

Nhưng điều quan trọng không ai được quên đi và cần phải được nhấn mạnh là người bị cầm giữ, cũng như bất cứ con người nào khác, là chủ thể được công cuộc cứu rổi nhằm đên, bởi đó cần phải được trợ giúp đương sự trên con đường cứu chuộc khỏi điều ác, như bất cứ một con người nào khác muốn được giải thoát khỏi tội lỗi của mình.

3 - Trên thực tế, tội nhân phải được trợ giúp thế nào?

Làm thế nào để đến được gần, thân cận bên cạnh tội nhân và con người yếu đuối, đã lầm lỡ nhường bước trước cơn cám dỗ của Qủy Dữ và làm cho đương sự cảm nhận được mình phải hoán cải lại cuộc đời, tóm thu lại được phẩm giá hoàn hảo con cái Thiên Chúa của mình, được lòng nhân từ của Chúa là Cha giải thoát cho ?
Chúng ta đừng ỷ lại mình là người công chính như người Pharisêu trong dụ ngôn ( Lc 18, 9), cho bằng cảm nhận chính mình là kẻ tội lỗi.
Người viết những dòng nầy không phải là một linh mục trong toà cáo giải, nên không thể kể hết ra đây các hình thức có thể phạm tội. Người viết chỉ muốn lấy lại lời Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan để mọi người chúng ta ý thức đến thân phận yếu hèn của mình:

- " Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi " ( Jn 8, 7 ).

Với tâm trạng ý thức về tội lỗi của mình như vừa kể, chúng ta có thể dễ dàng đến bên cạnh tất cả mọi người, như là người anh em của các đương sự đó.
Tình anh em vừa kể không phải tự chúng ta biến chế ra cho mình, mà là thực thể được đặt trên nền tảng của công trình Thiên Chúa sáng tạo và dựa trên sức mạnh ơn gọi của Chúa Giêsu Kitô.
Chúng ta phải biết cảm nhận mình ngang hàng, giống như mọi người, cùng đồng hành với các người anh em đang bị tù tội, cùng đồng hành với họ như Chúa Giêsu đã sống và ở giữa tất cả, không sợ sệt, không được bảo vệ, nhưng với tình thương, bởi vì tình thương hoàn hảo vượt thắng sợ hãi.

Như vậy ơn gọi của các cha tuyên úy, các nữ tu và các Kitô hữu tự nguyện là một ơn gọi với lòng nhân từ hiện diện giữa các người bị giam giữ, giữa các nhân viên quân đội canh gát, giữa các viên chức nhà tù, là những con người đang sống trong những giây phút khó khăn và cứng rắn.

Làm sao chúng ta có thể làm sống động lại phẩm giá con người, nhứt là của những người bị lên án, giam giữ, bỏ tù?
Khi một con người đang đau khổ, chúng ta không thể dựa vào lý luận nạn nhân vô tội hay tội phạm: nguời bị
kết án, giam giữ, bị cầm tù, luôn luôn là con người đáng được thương hại.
Chúng ta cần đến bên cạnh con người đó, thông cảm hiểu biết anh ta và nâng đỡ anh bằng lời nói, động tác và lòng thành thật chia xẻ đau khổ anh đang gánh chịu.
Đó là bổn phận của mỗi người tín hữu Chúa Kitô phải chăm lo, săn sóc.
Với dụ ngôn người Samaritano nhân lành, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải trở nên người thân cận với người đang đau khổ, nửa sống nửa chết, mất hết cả nhân tính, đang nằm giữa đường đến Gerico ( Lc 10, 29-37). Và Người đã nói cho chúng ta biết phải làm gì.
Nỗi đau khổ của con người thật đa diện, nhưng điều làm cho con người điêu đứng ngất ngư hơn hết là tình trong bị bỏ rơi một mình. Con người chịu đau khổ kinh khủng, khi cảm thấy mình đơn độc.
Trong tài liệu của buổi nói chuyện với Hội Đồng Mục Vụ giáo phận Milano, mà chúng tôi là dựa vào để viết bài nầy, ĐHY Carlo Martini còn cho biết nội dung của một bức thư gởi cho ngài:

- " Con không còn nữa đối với bất cứ ai...Con không còn sống nữa, con không biết tại sao, cũng như như thế nào...Mọi người đều nói, nhưng không ai nghe con nữa. Con không còn giá trị gì đối với một ai. Mầy chỉ là đồ phế thải, vất đi. không có quyền lựa chọn...mầy không biết họ nhốt mầy ở đâu ".

Con người tội lỗi cảm thấy mình đơn độc, không cha mẹ, không anh chị em. Từ đó anh tự xác tín rằng không có gì và không ai giúp đỡ mình hoặc bám lấy vào những gì có thể, mặc dầu không có gì làm bảo chứng, cảm thấy mình bị mọi người loại bỏ, lên án và cả đến lương tâm mình cũng nguyền rủa mình.
Và đây chính là giây phút mà phép lạ có thể xảy ra, nếu có ai đó đến gần mình, như Chúa Giêsu đã nhắc nhớ chúng ta trong dụ ngôn:

- " Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp ; Ta trần truồng các ngươi đã không cho ; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng" ( Mt 25, 43).

Trong câu trích dẫn vừa kể từ Phúc Âm Thánh Matthêu, các nỗi bần cùn mà Chúa Giêsu liệt kê ra, nỗi bất hạnh " ngồi tù " được Người liệt kê cuối cùng trong ngày phán đoán cuối cùng của Người, điều đó cho thấy người bị " ngồi tù " là người có tinh thần đáng thương nhứt, bị loại ra bên ngoài xã hội, bị tách riêng xa khỏi người thân, không thể còn có quyền được dự phần vào cuộc sống cộng đồng trong vòng một năm, hai năm, mười năm, ba mươi năm hay chung thân ở tù, khiến cho người bị cầm tù cảm thấy mất đi chính con người của mình và hình ảnh của mình.
Nỗi bần cùn to lớn nhứt là cảm thấy mình vô giá trị và không còn tình yêu thương, không còn cha mẹ và cả anh em.
Và rồi nếu đó là hình phạt vĩnh viễn ( tù chung thân chẳng hạn) thì đó là hình phạt khiến cho người tù nhân bất hạnh khốn cùng và bị lên án chúc dữ.
Tất cả những điều đó là những gì thực sự xảy ra trên phương diện tâm lý và tôn giáo.

Hiểu như vậy, chúng ta hãy tận tâm tận lực giúp đỡ những người anh em đó để tìm lại được phẩm giá của mình, để xây dựng lại phẩm giá của mình.
Chúng ta tin rằng đàng sau mặt nạ con người tù nhân đó còn có khuôn diện của con người, trong con người đó còn có hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn tiếp tục là Cha của anh, mặc cho cách đối xử nhân loại của chúng ta coi anh không còn là anh em nữa!

ĐTC Gioan XXIII dạy chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn giữa sự sai lầm với con người sai lầm:

- " Con người sai lầm vẫn luôn luôn và đúng hơn là một con người và vẫn tồn giữ, trong bất cứ trường hợp nào, phẩm giá con người của mình và bởi đó luôn luôn cần phải nhận biết và đối xử thế nào cho tương xứng với phẩm giá cao cả đó " ( Pacem in Terris, n. 83).

Và đây là những bước đường thực tế, mà người tín hữu Chúa Kitô, các cha tuyên úy, các nam nữ tu sĩ, cũng như mọi người Kitô hữu tình nguyện và phải tình nguyện để trợ giúp người bị bắt bớ, xử án, bị bỏ tù ( có công bằng hay không là môt chuyện khác).
Trước khi đề cập đến những chỉ dẫn cá biệt, chúng ta cần nhớ và cần đặt nặng vấn đề đối thoại.
Chúng ta tôn trọng nhân phẩm của một con người, khi chúng ta nhận biết nơi đương sự quyền đối thoại của người đang hiện diện trước chúng ta.
Đối thoại có nghĩa là nói chuyện với nhau, biết lắng nghe nhau, để cùng tìm thấy những gì trợ giúp cả hai làm sáng tỏ vấn đề đang bàn, các quan điểm tương đồng cho vấn đề đang được đề cập, cũng như về cuộc sống, con đường trên đó cùng chung nhau bước đi, các giá trị thục sự làm người thêm phong phú.

Để hiểu được phương thức và tinh thần đối thoại xây dựng, theo tinh thần Kitô giá, chúng tôi thiết tưởng rằng chúng ta nên tìm hiểu sâu đậm hơn về Hiến Chế " Gaudium et Spes" của Công Đồng Vatican IIThông Điệp " Eccesiam Suam " của ĐTC Phaolồ VI.
Qua đối thoại, được cùng nhau thảo luận, chúng ta có thể tìm lại được và tái chiếm hữu lại được ba giá trị quan trọng, nói lên cao độ của phẩm giá con người. Đó là
- lương tâm ngay chính,
- quyền tự do và
- tình yêu thương.

a ) Lương tâm ngay chính.
Con người, không phải bằng áp đặt hay vũ lực, mà với lòng tôn kính tối thượng, có thể tìm ra được chân lý.
Không phải chúng ta là những người tiên khởi làm cho hiện diện trở lại nơi tội nhân quyền của anh ta, cũng như trách cứ anh ta. Chính đó là việc làm của lương tâm anh.
Trong Thánh Kinh, chúng ta cũng biết được tiên tri Natan, trước khi đối mặt đối mặt với David, vị vua tội lỗi, là vị tiên tri đã làm thức tỉnh dậy lương tâm của nhà vua.
Bởi đó vị tiên tri có lời khuyên đối với cả chúng ta,đừng phán đoán, đừng lên án.
Chúng ta chỉ có phận sự giúp cho người đối thoại biết lắng nghe tiếng nói lương tâm của chính mình : đây là một cuộc tỉnh tâm thiêng liêng cần đưọc đưa ra, giới thiệu cho người nghe được biết và cùng chung với anh trong thinh lặng biết lắng nghe Lời Chúa trong tinh thần tôn giáo.
Bất cứ một phán đoán nào đến từ bên ngoài, đến từ ngoại nhân, nhứt là với tư cách là một lời phán đoán của kẻ có quyền lực trổi thượng, đều phải bị từ chối, nhứt là những lời phán đoán đó được thốt lên với thái độ thinh lặng bất bình, hay với cử chỉ hăm doạ, tấn công.
Trái lại phán đoán từ nội tâm, của lương tâm cá nhân, đều được công nhận và chấp thuận, ít nhứt là trong một khoản thời gian ngắn nào đó, ngay cả của người bị coi là tồi tệ hơn cả loại người. Con người phải chấp nhận uy quyền của chính lương tâm mình; cả những người phản động, phi chính phủ, thù địch đối với bất cứ lề luật nào và quyền lực nào cũng vậy.
Con người, mỗi con người, đều biết cúi đầu tuân phục lời phán đoán nầycủa lương tâm là thi hành một động tác của phẩm giá và trong lúc mình biết lắng nghe lại tiếng nói của lương tâm là lắng nghe tiếng Chúa.
Lương tâm là nơi mà chính Chúa Giêsu huấn dạy cả những người chưa được biết Người.
Chúng ta có thể gnhĩ đến lương tâm bị làm lu mờ đi, bại liệt đi. Đó là trường hợp nguy hiểm mà Chúa Giêsu đã nghiêm nghị nói lên và nói một cách đáng lo ngại:

- " Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào ! " ( Mt 6, 23).
- " Chẳng có ai đốt đền lên, rồi đặt vào chỗ khuất hoặc dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng " (Như Lc 11, 33).


Dù sao đi nữa thì lương tâm luân lý vẫn còn: mặc cho có bị đau yếu đi nữa.
Lương tâm nầy, khi là lương tâm cá nhân đích thực, không bao giờ trái ngược lại với đức tin . Bởi đó hành động theo lương tâm và hành động theo đức tin,hay hành động ngay chính, cũng là một cách hành xử như nhau, đối với người Kitô hữu.
Lời và tiếng nói của lương tâm trong con người chúng ta không thể nói lên cùng một tiếng nói.
Như vậy lương tâm luân lý không bị đức tin xoá bỏ đi: đúng hơn, lương tâm luân lý nơi con người chúng ta được chiếu sáng và biến thành ánh sáng để hướng dẫn chúng ta.

Như vậy, chỉ có khi nào con người được giáo huấn lương tâm lại, con người mới sống cho ra người. Một lương tâm bị bệnh hoạn cần gặp được một lương tâm lành mạnh, ngay chính, được soi sáng, xác tính và sống năng động chữa trị cho: lương tâm được chữa trị và nâng lên cao độ bằng đức tin, qua cuộc đối thoại, được thể hiện bằng lời Chúa. Thật là một mẫu gương tuyệt vời, và nếu chúng ta nhớ lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ Samaritana ( Jn 6, 6-42), với những giai đoạn mà qua đó Chúa Giêsu đã hướng dẫn cho người thiếu phụ tự do biết nhận ra những lỗi lầm của mình, trở nên phấn khởi vì biết mình còn phẩm giá có thể đạt lại được và được trả lại cho.

b)Tự do.

Tự đo là giá trị thứ hai tuyệt đối cần thiết đòi hỏi cho phẩm giá con người.
Chỉ trong tự do, con người mới có thể thực hiện điều tốt đẹp. Và đây là một vấn đề phức tạp và khó khăn.
Làm thế nào một " tù nhân " có thể đồng thời cũng là con người tự do?
Trên lý thuyết chúng ta có thể nói rằng người bị cầm giữ nên biết rằng tự do nội tâm là tự do cao cả hơn các thứ tự do khác, bởi đó anh ta cần phải cảm thấy được mình tự do ở bất cứ hoàn cảnh nào.
Nhưng tự do tinh thần, do bản tính con người và chân lý Phúc Âm đòi buộc, cũng cần có những điều kiện thích hợp.
Chắc chắn đó không phải là môi trường nhà tù, như những gì chúng ta biết được hiện nay, là môi trường thuận lợi để người tù nhân có thể chiếm lấy lại được ít nữa là tự do nội tâm.
Nhà tù là nơi đàn áp,trả thù báo oán, tàn bạo, có ảnh hưởng to lớn, nhứt là đối với những người yếu đuối, mỏng dòn và không phải là Kitô hữu sâu đậm.
Đó là phần lớn các lý do khiến cho con người khó có thể lội nguợc dòng trong các hoàn cảnh như vậy, bởi lẽ địa thế không cho phép có được một sự lựa chọn nội tâm dễ dàng, ý thức và tự do, cho dù có xác tính cá nhân và lương tâm thúc đẩy.
Viết đến đây, người viết nhớ lại lời ĐTC Gioan Phaolồ II trong Thông Điệp " Dives in misericordia ":

- " ...mặc dầu có nhiều chương trình xã hội vẫn tiếp tục nhắc lại cùng một lý tưởng công chính, nhưng cả kinh nghiệm cuộc sống cho thấy rằng nhiều mãnh lực tiêu cực khác đã vượt thắng lên trên tư tưởng công lý,ví dụ như hận thù, ganh ghét, ngay cả đến bạo lực hung dữ. Trong trường hợp đó, thái độ tiêu diệt kẻ thù, hạn chế tự do anh ta, hay ngay cả áp đặt anh ta phải hoàn toàn tùy thuộc, trở thành lý do nền tảng thái độ phải hành động. Điều đó ngược hẵn lại bản chất của công lý, mà tự bản tính mình, công lý có khuynh hướng thiết lập nên công bình...Việc lạm dụng dư tưởng công lý đó...chứng tỏ cho thấy động tác của con người có thể tách xa khỏi công lý biết bao nhiêu " ( n.12).


Điều đó cho thấy biết bao nhiêu lần nhân danh công lý, chúng ta có thể tách xa rời khỏi công lý: " summus jus, summa injuria" ( thượng đẳng công lý, có thể gây nên thượng đẳng bất công).

Câu nói vừa kể không phải là nói lên để hạ thấp giá công lý, ĐTC nói tiếp, nhưng công lý cần phải múc lấy sức lực của mình nơi tinh thần, còn có sức mạnh hơn cả công lý, bởi lẽ tinh thần ảnh hưởng đến chính trật tự công lý " ( id.).

c) Tình yêu Kitô giáo.

Tất cả những gì được đề cập đến đây đều được tình yêu thương nối kết và đặt chung nhau. Và hiểu như vậy, người tín hữu Chúa Kitô là đường dây liên kết hướng dẫn và là dấu chứng hữu hiệu của tình yêu Chúa Kitô và của Giáo Hội đối với mọi người.
Tình yêu đó ôm ấp người bị giam giữ, gia đình của họ, các người thân của con người tù nhân, đang cảm thấy bị trừng trị đối với tình thương yêu người thân bị giam giữ của mình. Và điều đó khiến cho chúng ta hiểu được sự đau đớn, khỗ tâm của họ.
Chẳng có ai vui xướng gì khi người thân của mình bị giam giữ, cầm tù.
Nếu có mấy đứa trẻ bảy, tám tuổi phát hoạ ra hình ảnh người cha đang ở trên thiên đàng, thì cũng có nhiều câu trẻ từ chối không đến trường, để khỏi bị bạn bè dán cho mình nhãn hiệu là con cái của tù nhân.
Tình trạng đau thương đó không phải là không có trong cộng đồng Kitô giáo và nói cho, bởi lẽ chúng ta biết cộng đồng đang cần đến tình thương yêu bất thường của chúng ta.
Mỗi người chúng ta đều phải có tình thương yêu nầy đối với các anh em đang bị cầm tù, mặc dầu theo nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng họ vẫn nghĩ đến và hy vọng vào Chúa.
Trong tận đáy lòng của họ, họ vẫn có đức tin, và chúng ta người Kitô hữu được kêu gọi hãy biết giáo huấn để làm cho đức tin đó lớn mạnh, bằng cách hành xử của chúng ta, đối với họ, đối với gia đình, người thân đang đau khổ ở bên ngoài, bằng cách bước theo con đường tình thương cứu độ của Chúa Giêsu và của Giáo Hội.
Bởi đó các điều khoản Giáo Luật mới đã thu gọn và giảm thiểu tình trạng lên án phạt và dứt phép thông công đối với những ai lầm lỡ ,những sa ngã, bởi lẽ mạc dầu Giáo Hội vẫn cảnh cáo những sai lầm, nhưng không để mất cơ hội để nói lên lòng yêu thương mẫu tử của mình đối với những đứa con lầm lạc.
Anh em hãy đem lòng yêu thương của Giáo Hội đến với những người anh em lầm lạc, bị giam dữ, bằng đức bác ái, bằng tình thương, bằng các Phép Bí Tích Giải Tội, Mình Thánh Chúa, mà anh em cử hành cùng chung với họ, vùng với những lời đối thoại và cảm thông huynh đệ.
Hỡi các cha tuyên úy, các vị tu sĩ nam, nữ, các Kitô hữu phục vụ tình nguyện, anh em hãy làm sống động tình yêu Giáo Hội Chúa Kitô trong nhà tù.

Đó là tình yêu thương tin vào phẩm giá con người, vào ơn cứu rổi.
Bởi vì tất cả đều là con Thiên Chúa, đều là anh em của chúng ta.




NGUYỄN HỌC TẬP

* Ý Kiến Độc Giả