Tham Khảo >> Sống Đạo

PrintPrint This TopicEmail To Friend
V-B24 - Chúa thánh Thần và Sứ Mạng Cứu Rỗi
NGUYỄN HỌC TẬP
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( V - B 24 );( 12. 04. 2015 );( Jn 20, 19-31 ) CHÚA NHẬT II SAU PHỤC SINH, NĂM B



Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 20, 19-31) thuật lại hai lần Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ Người, sau ngày Người sống lại:
- lần thứ nhứt ( Jn 20, 19-23), buổi chiều ngày hôm sau ngày sabat:

" Vào chiều ngày hôm ấy, ngày thứ nhứt trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: " Bình an cho anh em" ( Jn 20, 19).

- và lần thứ hai ( Jn 20, 24-29), tám ngày hôm sau:

" Tám ngày hôm sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Toma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Chúa Giêsu đến, đứng giữa và phán: Bình an cho anh em" ( Jn 20, 26).

Cả hai lần hiện ra, Thánh Gioan đều tường thuật lại với ý nghĩa rất súc tích, không thể nào chúng ta có thể suy niệm tất cả một lần.
Do đó chúng ta chỉ cùng nhau suy niệm lần hiện ra trước tiên, và hẹn nhau lại trong dịp tới, nếu Chúa muốn chúng ta còn gặp nhau, để suy niệm lời Chúa trong lần hiện ra thứ hai.

Đọc lại những gì Thánh Gioan kể lại cho chúng ta trong lần hiện ra lần thứ nhứt, tư tưởng đầu tiên mà ai trong chúng ta cũng thấy được đó là Thánh Gioan muốn tường thuật lại để diễn tả sáng tỏ hơn những gì mà " người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến" " đã thấy và tin" của đoạn Phúc Âm Phục Sinh ( Jn 20, 1-9) khi Ngài cùng Thánh Phêrô được Chị Maria Magdala báo và cả hai cùng hối hả chạy đến mộ.

Sau khi Chị Maria Magdala đã nhận ra được Chúa Giêsu :

-" Rabboni, lạy Thầy" ( Jn 20, 16).

và được Chúa Giêsu nói chuyện với Chị và bảo Chị:

- " hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Chúa của Thầy, cũng là Chúa của anh em" ( Jn 20, 17 ),

Chị liền đi báo cho các ông:

- " Bà Maria Magdala đi báo với các môn đệ: " Tôi đã thấy Chúa và bà kể lại những điều Người đã nói với bà" ( Jn 20, 18).

Tin theo lời Chị Maria Magdala, các môn đệ tựu họp lại trong một ngôi nhà đóng kín, " vì sợ người Do Thái". Và lần thứ nhứt Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ được Thánh Gioan kể lại trong bối cảnh vừa kể.
Chúng ta có thể chia đoạn tường thuật của Phúc Âm đang được đề cập thành hai phần:

- Phần thứ nhứt, Chúa Giêsu đến, đứng ở giữa và tỏ các dấu cho các môn đệ, để các vị nhận ra Người và vui mừng:

- " Chiều hôm ấy là ngày thứ nhứt sau ngày sabat, nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em! Nói xong, Người cho các ông thấy tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" (Jn 20, 19-20).

- Phần thứ hai, Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng cho các ông. Người thổi hơi Chúa Thánh Linh và trao cho các ông quyền tha giải hay cầm giữ tội lỗi:

- "Người lại nói với các ông: Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã ủy thác cho Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Jn 20, 21-23).

Yếu tố trước tiên của bài tường thuật lần nầy, cũng như ở lần thứ hai tám ngày hôm sau, là " nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín" ( Jn 20, 19), vì các ông " sợ người Do Thái"(Jn 20, 18).
Yếu tố " sợ người Do Thái " luôn luôn bàng bạc trong kháp Phúc Âm , trong dịp lễ Lều, dịp Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh được nhiều người đi theo Người, cũng như sau khi Người đã chết.

" ( Trong dịp lễ Lều của người do Thái, khi nghe Chúa Giêsu lên Đền Thờ), dân chúng bàn tán nhiều về Người. Kẻ thì bảo: Đó là một người tốt. Kẻ thì nói: Không, ông ta mê hoặc dân chúng. Nhưng không ai dám công khái nói về Người, vì sợ người Do Thái" ( Jn 7, 11-13).

Trong dịp chúa Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh,

" Tuy nhiên trong giới lãnh đạo Do Thái cũng có nhiều người tin vào Chúa Giêsu. Nhưng họ không dám xưng ra, vì sợ bị nhóm Pharisêu khai trừ ra khỏi hội đường" ( Jn 12,42),

Và cả sau lúc Người đã chết,

- " sau đó ông Giuse, người Arimatea, xin Phi la Tô cho phép hạ thi hài Chúa Giêsu xuống. Ông Giuse nầy là một môn đệ theo Chúa Giêsu, nhưng kín đáo, vì sợ người do Thái" ( Jn 19, 38).

Trong đoạn Phúc Âm ngắn ngủi tường thuật lại Chúa Giêsu hiện ra lần thức nhứt cho các môn đệ, Thánh Gioan rất khéo léo diễn tả lại bằng các ngôn từ ngắn gọn những điều Chúa Giêsu đã hứa với các ngài trước khi chịu tử hình ( Jn 13-17), Người đã thực hiện, vì chính Người là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế.
Trước hết Người sống lại và đem bình an cho các ông:

- " Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em!" ( Jn 20, 19),

như lời Người đã hứa với các ông, ngược lại với lối cư xử thù nghịch của thế gian:

- " Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy không ban bình an, như thế gian ban bình an. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi" ( Jn 14, 27).

- " Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em phải gian nan khốn khổ. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" ( Jn 16, 33).

Sự hiện diện của Chúa Giêsu đem lại vui mừng, kết thúc những ngày ảm đạm tang tóc của tử nạn: " Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" ( Jn 20, 20). Điều đó Chúa Giêsu cũng đã tiên báo cho các ông:

- " Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã được sinh ra trong thế gian. Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được" ( Jn 16, 20-22).

Chúa Giêsu đến với các môn đệ là để thực hiện lời hứa Người sẽ không để các ông mồ côi. Người đang sống, đến đứng ở giữa, chúc bình an để các ông an lòng là các ông không bị bỏ rơi: " Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em" (Jn 20, 19). Điều đó Chúa Giêsu đã hứa trước với các ông:

- " Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy ,và Thầy ở trong anh em" ( Jn 2, 19.21-22).

Chúa Giêsu đến với các môn đệ, chứng tỏ cho các ông thấy Người đã sống lại không quá ba ngày sau khi chết. Người thực hiện điều Người đã tuyên bố về việc sẽ xây dựng lại đền thờ nội trong ba ngày:

- " Chúa Giêsu đáp: Các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại. Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây chính là thân thể Người: Vậy khi Người từ cõi chết trổi dậy, các môn đệ nhớ lại lời Người đã nói điều đó: Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói" ( Jn 19, 21-22).

Như vậy vấn nạn các người Do Thái hỏi Người " Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi là ông có quyền làm như thế" ( Jn 2, 18) đã được Chúa Giêsu Phục Sinh trả lời.

e ) Và cử chỉ thổi hơi Chúa Thánh Thần ở phần hai của đoạn tường thuật cũng là động tác thực hiện những gì Người đã hứa với các ông vào dịp kết thúc lễ Lều của người
Do Thái:

-" Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhứt. Chúa Giêsu đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng phán rằng: ai khát hãy đến với Ta, ai tin vào Ta hãy đến mà uống! Như Thánh Kinh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bây giờ họ chưa nhận được Chúa Thánh Thần, vì Chúa Giêsu chưa được tôn vinh" ( Jn 7, 37-39).

f ) Còn nữa, Chúa Giêsu Phục Sinh đến với các môn đệ, cho các ông xem tay và cạnh sườn, để chứng thật Người là Đấng đã bị đóng đinh, đã chết và giờ đây sống lại đang đứng giữa các ông:

- " Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" ( Jn 20, 20).

Người đã hy sinh, chịu khổ hình và chịu chết để đền tội cứu chúng ta. Chúa Giêsu đã chết, bị người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn, chính Thánh Gioan đứng ra làm chứng:
- máu chảy ra tượng trưng cho cái chết hy sinh để cứu rổi:

- " Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra. Người xem thấy việc nầy đã làm chứng và chứng của người ấy xác thực, và người ấy biết mình nói sự thật để cho anh em nữa cũng tin" ( Jn 19, 34-36).

- nước tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, là sự sống của nhân loại:

- " Như Thánh Kinh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuông chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận…" (Jn 7, 39).

- tay Người tượng trưng cho quyền lực của tình thương hướng dẫn sứ mạng mạc khải và ban sự sống cho nhân loại:

- " Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người" ( Jn 3, 35).
- " Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta. Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta, thì lớn hơn cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một" ( Jn 10, 28-29).
- " Chúa Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa" ( Jn 13, 3).


g) Một ý nghĩa sâu xa khác, chúng ta có thể tìm thấy trong câu Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng của Người cho các môn đệ.
Bản dịch Thánh Kinh Việt Ngữ chúng tôi có trong tay, NXB Thành Phố HCM, 1998, trang 2040 dịch câu vừa kể như sau:

- " Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" ( Jn 20, 21),

là lối dịch không chính xác.
Dịch giả đã dùng cùng một động từ " sai"( Cha đã sai Thầy,…Thầy sai anh em) để dịch hai động từ khác nhau từ bản chính Hy Lạp. Đó là hai động từ " apostello"" pempo" được nguyên bản đặt như sau:

- " Như Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Thầy, thì Thầy cũng sai ( pempo) anh em".

Dịch câu văn với hai động từ khác nghĩa như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng sứ mạng mà các tông đồ và cả chúng ta , con cái của các ngài trong đức tin, lãnh nhận qua Chúa Giêsu, cũng chính là sứ mạng nguyên thủy mà Chúa Cha ủy thác cho Chúa Giêsu. Đó là sứ mạng truyền giáo của mỗi người trong chúng ta, chúng ta lãnh nhận nơi Chúa Giêsu ngày chúng ta nhận Phép Rửa :

- " Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữa những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 19-20).

Chúa Cha không " sai " Chúa Giêsu đi thực hiện sứ mạng cứu rổi, mà "ủy thác" (apostello, apostolus) cho Chúa Giêsu. Cũng vậy, qua Chúa Giêsu, chúng ta cũng được Chúa Cha " ủy thác" cho sứ mạng để đem Tin Mừng cứu rổi cho anh em chúng ta. Chúa Cha không giao cho chúng ta như người ngoại cuộc, người làm công làm việc tắc trách, được việc hay không được việc cũng được, mà là " ủy thác" thân tính và tin tưởng như việc của một người cha giao cho một đứa con. Gương của Chúa Giêsu nhiệt thành hy sinh không lùi bước, ngay cả trước cái chết, để thực hiện sứ mạng, nói lên cử chỉ phải có của một Người được một Người Thân " ủy thác" cho. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng phải đáp ứng sứ mạng cứu rổi anh em được " ủy thác" ( apostello), bằng cách hành xử với tất cả tấm lòng nhiệt thành của một tông đồ ( apostolus).

h) Động tác " thổi hơi"( emphuo) để ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ cũng mang ý nghĩa chúng ta cần suy niệm:

" Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần…" ( Jn 20, 22).

Động tác " thổi hơi" vừa kể là động tác của Thiên Chúa, khi Ngài " thổi hơi để ban sự sống cho tạo vật:

- " Bấy giờ Yahvé là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mủi, và con người trở nên sinh vật" ( Gn 2, 7).
- " …Nhưng anh không bận tâm về số phận phải chết hay về cuộc đời vắn vỏi của anh, mà lại đi bon chen với thợ vàng thợ bạc, đi bắt chước thợ đồng, vênh vang vì nắn ra đồ mã. Con tim của anh là tro bụi, hy vọng của anh hèn hơn đất, cuộc đời của anh tệ hơn bùn. Chỉ vì anh không biết Đấng đã nặn ra anh, Đấng thổi vào anh một linh hồn sống động, phú cho anh một làn sinh khí" ( Sap 15, 9-11).
- " Người lại bảo. Ngươi hãy truyền sấm gọi Thần Khí. Chúa Yahvé phán thế nầy: Từ bốn phương trời, hởi Thần Khí, hãy thổi vào những người đã chết nầy cho chúng được hồi sinh. Tôi tuyên sấm như Người đã truyền cho tôi. Thần Khí liền nhập vào những người đã chết; họ được hồi sinh và đứng thẳng lên: Đó là cả một đạo quân rộng lớn, đông vô số kể" ( Ez 37, 9-19)
.

Như vậy qua động tác " thổi hơi " vào các môn đệ để ban Chúa Thánh Thần, nguồn mạch sự sống cho các vị, Chúa Giêsu đã gợi lại cử chỉ của Thiên Chúa từ sách Sáng Thế Ký, từ sách Khôn Ngoan và từ sách các Tiên Tri. Hành động đó là hành động của Thiên Chúa để sáng tạo vũ trụ, để ký kết giao ước với dân Do Thái và ban Chúa Thánh Linh để " ủy thác"" sai đi " thực hiện sứ mạng cứu rổi trong giao ước mới:

- " Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và phán: Chén nầy là chén giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em" ( Lc 22, 20).

Qua những tư tưởng chúng ta vừa suy niệm, Chúa Giêsu thực hiện tất cả những gì đã được đề cập đến trong Thánh Kinh, không những gì Người đã hứa với các môn đệ trong Phúc Âm, mà cả những gì Thiên Chúa hành động trong Cựu Ước để sáng tạo vũ trụ và ký giao ước với dân được Người chọn, dân Do Thái.

Vậy Chúa Giêsu là ai?
Chúa Giêsu là Ngôi Lời, Đấng mà Thánh Gioan đã long trọng tuyên bố ngay ở những dòng đầu của Phúc Âm Ngài, ở Lời Tựa:

- " Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời,
Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa,
Và Ngôi Lời là Thiên Chúa…
Ngôi Lời là sự sống của mọi tạo vật,
Và sự sống là ánh sáng cho nhân loại…
Còn những ai đón nhận Người, tức là những ai tin vào danh Người,
Người cho họ quyền được trở nên con Thiên Chúa.
Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" ( Jn 1, 1.3.12.14).


Như vậy, tường thuật lại biến cố Chúa Giêsu hiện ra lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại, một lần nữa Thánh Gioan cắt nghĩa rõ ràng hơn những gì Ngài đã viết ở Lời Tựa và những gì Ngài đã quả quyết một cách ngắn gọn " Ông đã thấy và tin " ở Phúc Âm Phục Sinh ( Jn 20, 8).


NGUYỄN HỌC TẬP

* Ý Kiến Độc Giả