Tham Khảo >> Sống Đạo

PrintPrint This TopicEmail To Friend
V-B22 - BẰNG TÌNH THƯƠNG ĐÓN NHẬN CHƯƠNG TRÌNH AN BÀI CỦA CHÚA
NGUYỄN HỌC TẬP
SUY NIỆM PHÚC ÂM ( V- B 22 ); ( 29.03.2015); ( Mc 14, 1-15,47) CHÚA NHẬT LỄ LÁ, NĂM B

1 - Bài Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay thuật lại cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu khá dài, nên chắc chắn chúng ta không thể suy niệm được cả bài cùng một lúc, bởi vậy chúng ta nên dừng lại suy niệm phần đầu ( Mc 14, 1-11).
Những phần còn lại, hy vọng chúng ta sẽ có dịp suy niệm khi chu kỳ Phụng Vụ trở lại, nếu Chúa còn thương để chúng ta sống tiếp tục phục vụ Người và phục vụ anh em.

Phần đầu của đoạn Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay, được nhập đề bằng hai câu để xác định thời điểm và bối cảnh:

- “ Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Bánh Không Men, các thượng tế và các kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi; vì họ nói: Đừng làm vào chính ngày Lễ, kẻo dân chúng náo động” (Mc 14, 1-2).

Dự tính bắt giết Chúa Giêsu của các thượng tế và các kinh sư không phải là điều mới lạ, đối với ai đọc Phúc Âm Thánh Marco, bởi lẽ Ngài đã nhiều lần đề cập đến trước đó:

- “ Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu lập tức bàn tán với phe Erode, để tìm cách giết Chúa Giêsu” (Mc 3, 6),
- “ Các thượng tế và các kinh sư thấy vậy, thì tìm cách giết Chúa Giêsu. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất thán phục về lời giảng dạy của Người ” ( Mc 11, 18).
- “ Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng lại sợ dân chúng; quả vậy, họ thừa hiều Người đã nhắm vào họ, mà kể dụ ngôn ấy” ( dụ ngôn các tá điền sát nhân làm vườn nho) ( Mc 15, 13-14).


2 - Với những lần đề cập đến âm mưu vừa kể, Thánh Marco cho chúng ta biết ý định giết Chúa Giêsu trong Phúa Âm hôm nay không phải là ý nghĩ thoáng qua, bốt đồng, quyết định bất thình lình, mà là dự tính đã có từ lâu và chín mùi, đạt đến tột đỉnh hôm nay với quyết định hành động của họ.
Đọc những tư tưởng vừa kể trong Phúc Âm, chúng ta có cảm tưởng rằng các biến cố liên tục tiếp xảy ra là do quyết định của con người, “ các thượng tế và các kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi…” ( Mc 14, 1).

Nhưng đọc các diển biến theo tiến trình của Phúc Âm Thánh Marco, chúng ta thấy rõ các biến cố tiếp diển theo đường hướng ý muốn của Thiên Chúa sắp đặt, như chính Chúa Giêsu xác nhận trong vườn Getsèmani:

- “ Abba, Cha ơi! Cha làm được hết mọi sự, xin cất chén nầy xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn ” ( Mc 14, 36).

Động từ “ nộp” ( Hy Lap, paradidomi) mà đôi khi chúng ta cũng dịch là “ phản bội ”, nói lên động tác của Giuda đối với Chúa Giêsu là một động từ quan trọng, được Thánh Marco lập lại hai lần trong hai câu 11-12:

- “ Giuda Iscariot, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để “ nộp” Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giuda liền tìm cách “ nộp” Người sao cho tiện ” ( Mc 14, 11-12).

Và rồi động từ “ nộp ” hay “ phản bội ” ( paradidomi ) còn được Thánh Marco lập lại nhiều lần khác trong đoạn Phúc Âm tường thuật lại cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu hôm nay:

- “ Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giuda, một người trong Nhóm Mười Hai xuất hiện…Kẻ “ nộp” Chúa Giêsu đã cho họ một ám hiệu, hắn dặn rằng: Tôi hôn ai, thì chính là người đó. Các ông bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận” ( Mc 14, 41-44),
- “ Vừa tảng sáng, các thượng tế đã bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng: sau đó họ trói Chúa Giêsu và giải “ nộp” cho Pilato” ( Mc 15, 1),
- “ Vì muốn chiều lòng đám đông, Pilato phóng thích tên Baraba, truyền đánh đòn Chúa Giêsu, rồi trao “ nộp” Người cho họ đóng đinh vào thập giá ” ( Mc 15, 15).


Theo dõi các diễn biến được động từ “ nộp” hay “ phản bội ” diễn tả, chúng ta có cảm tưởng là tiến trình cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu là do trách nhiệm của con người quyết định, của tất cả những nhóm người hiện diện gần gũi Người lúc đó:
- khởi đầu là nhóm người sát gần thân hữu với Người, Nhóm Mười Hai, trong đó có Giuda,
- kế đến là nhóm thượng tế, kỳ mục và kinh sư Do Thái,
- và sau cùng là vị thống đốc Roma, Pilato, không những có toàn quyền chính trị quyết định mà còn tượng trưng cho uy quyền đế quốc Roma đối với mọi người dân thuộc hạ, dĩ nhiên Chúa Giêsu, công dân Do Thái cũng là một trong những người thuộc hạ đó.
Yếu tố nhân loại có trách nhiệm đối với cuộc Thương Khó và Tử nạn của Chúa Giêsu, càng được nổi bật hơn nữa, chính Chúa Giêsu cho biết trước hành động “ nộp ” hay “ phản bội ” của Giuda:

- “ Đang khi dùng bữa, Người nói: Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ “ nộp” Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy” ( Mc 14, 18).
- “ Đã hẳn Con Người ra đi như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào “ nộp” Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn ” ( Mc 14, 21).


Biết trước những gì sẽ xảy ra cho mình như vậy, nhưng Chúa Giêsu không lẩn tránh.
Điều đó cho thấy Người chấp nhận chương trình an bài theo thánh ý Chúa Cha.
Các diễn biến trong cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu là do ý muốn của Chúa Cha, không những chúng ta biết được qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Getsèmani, chúng ta đã trích dẫn ở trên, mà còn được thể hiện trong các câu nói của Chúa Giêsu, được diễn tả bằng động từ “ nộp ” ở thể thụ động thần học ( passif théologique).

-“ Con Người “ sẽ bị nộp” vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại ” ( Mc 9, 31),
- “ Nầy ta lên Giêrusalem và Con Người “ sẽ bị nộp” cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án và xử tử Ngưòi và nộp Người cho dân ngoại ” ( Mc 10, 33).


Dùng động từ ỏ “ thể thụ động thần học ” là cách dùng động từ của người Do Thái để chỉ chính Thiên Chúa là chủ thể tác động. Nhưng dùng ở thể thụ động như vậy tránh được gọi tên Chúa, vì tôn kính Ngài.
Đặt hai yếu tố nhân loại và thiên thánh vừa kể chung nhau trong biến cố Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, chúng ta thấy được tự do và trách nhiệm của con người được lồng vào trong đồ án cao cả rộng lớn hơn của Thiên Chúa.
Nói như vậy, chúng ta không có ý giảm thiểu trách nhiệm và tầm quan trọng của việc con người không chấp nhận Chúa Giêsu, nhưng như vậy chúng ta thấy được quyền năng của chương trình cứu rỗi của Chúa Cha và tình thương yêu bao la của Người đối với con người chúng ta. Để cứu rỗi đem lại hạnh phúc cho chúng ta, Thiên Chúa không lùi bước bất cứ trước một trở lực nào, dù phải hay sinh, “ nộp” chính Con Một của mình.

3 – Nhưng ý nghĩa của phần Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay không phải chỉ có vậy.
Giữa đồ án bắt giết Chúa Giêsu của các thượng tế và kỳ mục ( Mc 14, 1-2) và biến cố Giuda “ nộp ” hay “ phản bội ” Chúa Giêsu ( Mc 10-11), Thánh Marco tường thuật lại bửa cơm tại nhà ông Simon, trong đó một thiếu phụ đến xức dầu thơm cho Chúa Giêsu thật rất ý nghĩa ( Mc 14, 3-9).
Cách hành xử của người thiếu phụ “ làm cho vài người bực bội ”, vì họ không hiểu ý nghĩa việc làm của nàng đối với Chúa Giêsu:

- “ Có vài người bực tức, nói với nhau: Phí dầu thơm như vậy để làm gi?...” ( Mc 14, 4).

Thánh Marco không xác định rõ “ vài người bực tức ” đó là ai.
- Có thể họ là “ các thượng tế và các kinh sư tìm mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi ” ( Mc 14, 1), dựa trên Lề Luật Moisen và truyền thống Do Thái Giáo dạy đừng phí phạm của cải, tốt hơn để “ dầu đó có thể đem bán, lấy trên ba trăm quan tiền, mà bố thí cho người nghèo” ( Mc 14, 5).
- “ Vài người bực tức ”
đó cũng có thể là những người trong Nhóm Mười Hai, trong đó có cả Giuda”, được Thánh Marco đề cập đến ở câu 10:

- “ Giuda Iscariot, một trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ ” ( Mc 14, 10).

Nhưng “ vài người bực tức ” đó là ai chăng nữa, họ không hiểu được ý nghĩa kính trọng và yêu thương của người thiếu phụ đối với Chúa Giêsu. Họ dựa vào Luật Lệ Moisen, giáo lý Do Thái ( các thượng tế và các kinh sư), hay vào những gì Chúa Giêsu đã dạy họ ( trường hợp các môn đệ), dựa trên nguyên tắc để phán đoán việc đang xảy ra.
Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy cách phán đoán của họ có lý một phần, “ phải thương giúp người nghèo ”, như Lề Luật và tôn giáo dạy:

- “ Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ chẳng được ” ( Mc 14, 7).

Nhưng đồng thời Chúa Giêsu cũng bênh vực người thiếu phụ, vì cử chỉ của nàng là cử chỉ thương yêu một người nghèo đến độ cùng cực, sẽ bị đàn áp, khỗ hạnh và chết bị lột cả y phục trên thập giá mấy ngày sắp tới:

- “ Điều gì làm được thì nàng đã làm: nàng đã lấy dầu thơm ướp xác Ta, để chuẩn bị ngày mai táng ” ( Mc 14, 8).

Tiên đoán trước của Tử Nạn của mình, Chúa Giêsu cũng cho chúng ta thấy được tâm hồn người thiếu phụ.
Nàng trọng kính và thương yêu Chúa Giêsu. Và với tình thương đó, lòng nhạy cảm trực giác của người phụ nữ và tình thương yêu dành cho Chúa Giêsu, nàng cảm nhận được những gì sắp xảy ra cho và vì đó nàng chăm sóc cho Người, bằng những gì có thể làm được, “điều gì làm được thì nàng đã làm”.
Trước cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, các cách lý luận theo nguyên tắc Lề Luật và đạo giáo, các suy tư diễn dịch “ thần học ”, của các thượng tế và các kinh sư cũng như có lẽ của cả các môn đệ lúc đó, đều không đạt được mục đích.
Thật vậy, những gì xảy ra trên thập giá nói lên tình thương hãi hà của Thiên Chúa, vượt quá mọi khả năng suy luận và tiền liệu của con người, con người chỉ có thể cảm nhận được bằng tiếng nói của tình thương.
Tiếng nói tình thương của Thiên Chúa, qua đồ án của Người và cả trong tâm hồn chúng ta, Người nói với hết mọi người. Nhưng kẻ dễ nhận ra tiếng nói của Người là người sống với Người bằng tình thương hơn là bằng “ Lề Luật và suy luận diễn dịch thần học ”.
Với tình thương, người thiếu phụ cảm nhận xác đáng những gì sắp xảy ra cho Chúa Giêsu, được chính Người xác nhận:

- “ …nàng đã lấy dầu thơm ướp xác Ta, để chuẩn bị ngày mai táng ” ( Mc 14, 8).

Cử chỉ của người thiếu phụ là mẫu gương cho người tín hữu Chúa Ki Tô, lấy việc phục vụ Chúa làm định điểm.
Phục vụ Chúa không phải là cách hành xử tương phản lại việc phục vụ người nghèo, bởi vì “ người nghèo” sẽ bị chết trần truồng trên thập giá trong những ngày sắp đến, cần được ưu tiên săn sóc, đối với nàng chính là Chúa Giêsu đang hiện diện trước mặt nàng, bởi đó “điều gì có thể làm được, thì nàng đã làm ”, nàng lo lắng chăm sóc Chúa Giêsu.
Phục vụ người nghèo, bác ái đặt ngưòi nghèo là người phải được chăm sóc ưu tiên, cũng được nói lên cho chúng ta bằng gương hy sinh cao cả của Chúa Giêsu trong thư gởi Philippe chúng ta được đọc ở bài đọc thứ hai.
Chúa Giêsu hy sinh để cứu con người khỏi hoàn cảnh tội lỗi khốn cùng của mình, trở về hưởng hạnh phúc viên mãn và bất diệt với Thiên Chúa. Đó là cùng đích mà Chúa Giêsu hy sinh tất cả để chúng ta đạt được.
Tình thương trước cảnh nô lệ tội lỗi, bất hạnh của nhân loại, khiến Chúa Giêsu hy sinh “trút bỏ vinh quang ” địa vị Thiên Chúa của mình, sống như người phàm, trở thành nô lệ, để cứu chúng ta khỏi nô lệ và diệt vong của sự chết:

- “ Chúa Ki Tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trức bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế ” ( Phil 2, 6-7 ).

NGUYỄN HỌC TẬP

* Ý Kiến Độc Giả