GH-6A21 - CHÂN DUNG THÁNH TÔMA AQUINO ( 2 ): ĐỨC TIN CỦNG CỐ, BỔ TÚC VÀ SOI SÁNG CHO CHÂN LÝ
ĐGH Benedictô 16, Nguyễn Học Tập thoát dịch
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 6A 21) Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 16.06.2010.
CHÂN DUNG THÁNH TÔMA AQUINO ( 2 ): ĐỨC TIN CỦNG CỐ, BỔ TÚC VÀ SOI SÁNG CHO CHÂN LÝ MÀ LÝ TRÍ CON NGƯỜI KHÁM PHÁ RA ĐƯỢC.
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
hôm nay tôi muốn tiếp tục giới thiệu với Anh Chị Em Thánh Tôma Aquino, một nhà thần học với giá trị cao cả đến nỗi nghiêng cứu về tư tuởng của ngài đã được chính Công Đồng Vatican II khuyên bảo một cách rõ rệt trong hai văn kiện, Nghị định Optatam totius, về việc đào tạo Linh Mục, và Tuyên Ngôn Gravissimum educationis, về nền giáo dục Ki Tô giáo.
Ngoài ra, đã từ năm 1880, Đức Giáo Hoàng Leone XIII, là người rất ngưỡng mộ ngài và là vị cổ vỏ các công trình nghiêng cứu về Thánh Tôma Aquino, đã muốn tuyên dương Thánh Tôma là Quan Thầy các Học Viện và Đại Học Công Giáo.
1 - Nguyên nhân của cử chỉ ngưỡng mộ nầy
- không chỉ hệ tại ở nội dung nền giảng dạy của ngài,
- mà còn ở cả phương thức mà ngài đã áp dụng, nhứt là ở sự tổng hợp mới mẻ
- và việc phân tách khác biệt giữa triết học và thần học.
Các Giáo Phụ đã phải đương đầu với các ngành triết học khác nhau theo hệ thống Platon, trong đó triết học được xem như là một nhãn quang hoàn hảo về thế giới và về đời sống, kể cả vấn đề Thiên Chúa và tôn giáo.
Đối với các luồng triết học nầy, các Giáo Phụ đã khai triển một nhãn quang đầy đủ về thực thể ( essere ) , khởi đầu từ đức tin và bằng cách dùng các yếu tố của chủ thuyết Platon, để trả lời cho những câu hỏi thiêt yếu về con người. Nhãn quang nầy, dựa trên mạc khải Thánh Kinh và được khải triển theo chủ thuyết Platon, được hoàn hảo hoá dưới ánh sáng đức tin, được các vị gọi là " nền triết học của chúng ta ".
Như vậy từ ngữ " triết học " không phải chỉ là cách diễn tả một hệ thống thuần lý, và bởi đó tách rời khỏi lý trí, mà có ý nói lên một nhãn quang bao gồm về thực thể, được cấu trúc trong ánh sáng đức tin, nhưng được thiết lập và suy tư bằng lý trí. Dĩ nhiên đây là một nhãn quang vượt qua khỏi chính khả năng của lý trí, nhưng cũng chính vì đó mà thoả mãn được các nhu cầu của lý trí.
Đối với Thánh Tôma, việc gặp gỡ với nền triết học tiền Ki Tô giáo của Aristotele ( chết đi khoản năm 322 trước Thiên Chúa Giáng Sinh ) mở ra một viễn ảnh mới.
Triết học của Aristotele là một nền triết học được khai triển mà không có sự hiểu biết về Cựu Ước và Tân Ước, là một cách giải thích về thế giới không có sự mạc khải cho, chỉ dựa vào lý trí đơn thuần. Và lối lý luận thuần lý đó đã đưa đến kết quả có tính cách thuyết phục.
Như vậy hình thức cổ " triết lý của chúng ta " của các Giáo Phụ không thể tiếp tục được một cách trôi chảy.
Mối tương quan giữa triết học và thần học, giữa đức tin và lý trí, cần phải được suy nghĩ lại.
Một nền " triết học " hoàn hảo và có tính cách thuyết phục tự mình hiện hữu đã có, tính cách hợp lý trước khi có đức tin, và kế đến là nền " thần học " , là cách suy tư với đức tin và trong đức tin.
Vấn đề cấp thiết lúc đó là thế giới của lý trí, nền triết học được khai triển không có Chúa Ki Tô, và thế giới của đức tin có thể hoà hợp với nhau được không?
Hay là loại trừ nhau?
Không thiếu những yếu tố xác nhận là có đối nghịch giữa hai thế giới vừa kể, nhưng Thánh Tôma xác tín mãnh liêt rằng cả hai có thể hoà hợp nhau - hay nói đúng hơn, nền triết học được khai triển không có sự hiểu biết đối với Chúa Ki Tô như là nền triết học đang mong đợi ánh sáng của Chúa Giêsu, để có thể trở nên hoàn hảo.
Đó là " điều bất ngờ " trọng đại của Thánh Tôma, đã thiết định cuộc hành trình với tư cách là tư tưởng gia của ngài.
Chứng minh cho thấy tính cách độc lập giữa triết học và thần học, nhưng đồng thời cũng nói lên mối liên hệ giữa hai lãnh vực đó với nhau, đó là sứ mệnh lịch sử của vị sư phụ cao cả đó.
Điều đó làm cho chúng ta hiểu được, trong thế kỷ XIX, khi có những chủ thuyết cho rằng có sự xung khắc quyết liệt giữa lý trí hiện đại và đức tin, Đức Giáo Hoàng Leone XIII đã chỉ Thánh Tôma như là vị hướng dẫn cuộc đối thoại giữa lãnh vực nầy và lãnh vực kia.
Trong công trình nghiêng cứu thần học của ngài, Thánh Tôma đã giả định và thực hữu hoá mối tương quan đó.
Đức tin củng cố, bổ túc và soi sáng cho chân lý, mà lý trí con người khám phá ra được.
Lòng tin tưởng mà Thánh Tôma dành cho hai dụng cụ nầy của sự hiểu biết - đức tin và lý trí - có thể được quy hướng về sự xác tín rằng cả hai đều thoát xuất từ nguồn mạch duy nhứt của chân lý, đó là " Logos ", Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng tác động trong công cuộc sáng tạo, cũng như trong công trình cứu rổi.
2 - Cùng chung với sự hoà hợp được giữa lý trí và đức tin, đàng khác, chúng ta cũng phải nhận thức rằng cả hai đều cần có các tiến trình hiểu biết khác biệt nhau.
Lý trí đón nhận chân lý bởi năng lực hiển nhiên nội tại, được trung gian điều giải hay tức khắc; đức tin, trái lại, chấp nhận chân lý dựa trên uy quyền của Lời Chúa mạc khải chính Ngài cho.
Thánh Tôma viết lên lúc khởi đầu của quyển Summa Theologiae ( Thượng Đẳng của Nền Thần Học):
- " Khoa học có hai lãnh vực: một vài môn phát khởi từ những nguyên tắc đã được biết nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, như toán học, hình học và những môn khác tương tợ; những môn khác phát khởi từ những nguyên tắc đã được biết nhờ một môn khoa học cao hơn:môn viễn ảnh quang ( prospectiva ), từ những nguyên tắc được biết đến của môn hình học, và âm nhạc, nhờ các nguyên tắc được biết của môn toán học.
Cũng giáo lý thánh ( tức là thần học ) là môn khoa học, bởi vì thoát xuất từ các nguyên tắc được biết qua ánh sáng của một môn khoa học thượng đẳng hơn, đó là môn khoa học của Chúa và của các Thánh " ( I, q. 1.a.2).
Sự phân biệt bảo đảm tính cách tự lập các môn khoa học của con người, cũng như các khoa học thần học.
Tuy nhiên phân biệt ( distinzione ) không có nghĩa là tách biệt ( separazione ), mà đúng hơn là hàm chứa một sự cộng tác với nhau và có lợi cho nhau.
Thật vậy, đức tin bảo vệ cho lý trí khỏi bị các cơn cám dỗ đâm ra thối chí trong khả năng của chính mình, kích thích lý trí luôn luôn mở rộng mình ra cho những chân trời mới rộng rải hơn, làm cho lý trí luôn năng động tìm kiếm các nền tảng và khi lý trí được áp dụng cho lãnh vực siêu nhiên của mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, lý trí làm cho công việc của mình trở thành sung mãn hơn.
Theo Thánh Tôma, ví dụ, lý trí con người có thể đạt đến xác quyết sự hiện hữu của một Thiên Chúa duy nhứt, nhưng chỉ có đức tin, đón nhận sự Mạc Khải của Thiên Chúa, mới có khả năng thấu hiểu được mầu nhiệm Tình Thương của Một Chúa Ba Ngôi.
Đàng khác, không phai chỉ có đức tin mới giúp lý trí.
Cả lý trí, với những phương thức của mình, cũng có thể làm được những gì quan trọng cho đức tin, phục vụ đức tin bằng ba cách mà Thánh Tôma lược tóm trong lời nói đầu của quyển chú giải về " De Trinitate " ( Chúa Ba Ngôi ) của Boezio :
- " Chứng minh cho thấy nền tảng của đức tin; giải thích bằng các điều giống nhau các chân lý của đức tin; chống đối lại các vấn nạn chống lại đức tin " ( q. 2. 2, a. 2).
Cả lịch sử của nền thần học, thật ra, là động tác sự chuyên cần nầy của lý trí,
- chứng tỏ cho thấy tính cách hữu lý của đức tin,
- cấu trúc liên kết và hoà họp nội tại của đức tin,
- tính cách hữu lý và khả năng phát huy điều tốt lành cho con người.
Tính cách hợp lý của các lối suy luận thần học và ý nghĩa hiểu biết hiện thực của các lý luận đó được đặt nền tảng trên giá trị của ngôn ngữ thần học, mà theo Thánh Tôma, nói cách chung là cách diễn tả bằng ngôn từ tương tự.
Khoản cách giữa Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo, và thực chất các tạo vật của Người là khoản cách vô tận; sự không giống nhau luôn luôn lớn hơn là sự giống nhau ( cfr DS 806).
Mặc dầu vậy, trong sự khác biệt giữa Đâng Tạo Hoá và các tạo vật, có một điều giống nhau giữa thực thể của tạo vật và thực thể của Đấng Tạo Hoá, cho phép chúng ta có thể dùng ngôn ngữ loài người để nói được về Thiên Chúa.
3 - Thánh Tôma đã thiết lập nên chủ thuyết về sự tương tợ, ngoài ra những cách lý luận hoàn toàn có tính cách triết học, cả với sự kiện là qua mạc Khải chính Thiên Chúa đã nói với chúng ta và như vậy, đã cho phép chúng ta nói về Người.
Tôi nghĩ rằng đây là điều quan trọng nhắc lại chủ thuyết nầy.
Thật vậy đó chính là chủ thuyết gíup chúng ta vượt thắng được một vài vấn nạn của chủ nghĩa vô thần hiện đại, chối bỏ rằng ngôn từ tôn giáo không có khả năng nói lên ý nghĩa thực sự khách quan. Và cũng từ đó họ cho rằng ngôn từ ttôn giáo chỉ có tính cách chủ quan hay đơn sơ xúc động tình cảm. Vấn nạn vừa kể là kết quả của sự kiện cho rằng tư tưởng thực định ( pensiero positivo) xác tín rằng con người không biết được bản chất , mà chỉ hiểu được các động tác có thể thí nghiệm được của thực thể.
Với Thánh Tôma và với đại truyền thống triết học, chúng ta xác tín rằng, trên thực tế,
- con người không những chỉ biết các động tác, các vật thể của khoa học thiên nhiên,
- mà còn biết được điều gì đó của chính thực thể - ví dụ như biết được con người, cái Tôi của người khác, chớ không phải chỉ dáng sắc vật lý và sinh học của bản thể anh ta.
Dưới ánh sáng lời dạy dỗ nầy của Thánh Tôma, thần học xác nhận rằng, dầu cho có hạn hẹp cũng vậy, ngôn ngữ tôn giáo có mang nơi mình ý nghĩa - bởi vì chúng ta đang đụng chạm đến bản thể - như một cây tên đang hướng về một thực thể có ý nghĩa.
Sự hoà hợp căn bản nầy giữa lý trí con người và đức tin Ki Tô giáo được nói lên trong một nguyên tắc nền tảng khác của tư tưởng Thánh Tôma Aquino:
- Ơn Chúa không không xoá bỏ đi, mà giả định và hoàn hảo hoá bản tính con người. Bản tính con người, thật vậy, ngay cả sau khi phạm tội, không hoàn toàn bị phá hủy, mà chỉ bị tổn thương và mềm yếu đi.
Ơn Chúa, được Thiên Chúa rộng ban cho và được thông ban cho chúng ta qua Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, là một quà tặng hoàn toàn nhưng không, nhờ đó bản tính được chữa lành, tăng cường và giúp đở để chúng ta đạt được điều ước muốn bẩm sinh trong tâm hồn của mỗi người nam cũng như nữ: đó là hạnh phúc.
Mọi khả năng của bản tính con người được thanh tẩy, biến đổi và được nâng lên cao nhờ ơn Chúa.
Một áp dụng quan trọng của mối tương quan nầy giữa bản tính và ơn Chúa được báo cho chúng ta biết trong thần học luân lý của Thánh Tôma Aquino, mà hiện nay chúng ta cảm thấy đang thịnh hành.
Ở trung tâm điểm lời giảng dạy của ngài trong lãnh vực nầy, ngài đặt lề luật mới, đó là lề luật của Chúa Thánh Thần.
Với một cái nhìn Phúc Âm sâu đậm, ngài nhấn mạnh đến sự kiện là lề luật nầy chính là Ơn của Chúa Thánh Thần, được ban cho tất cả những ai tin vào Chúa Ki Tô. Cùng chung với Ân Sủng đó là lời giảng dạy trên văn bản hay bằng lời nói về các chân lý tín lý và luân lý, được Giáo Hội chuyển đến chúng ta.
Thánh Tôma nhấn mạnh phận vụ căn bản, trong đời sống luân lý, động tác của Chúa Thánh Thần, của Ân Sủng, từ đó thoát xuất ra các nhân đức thần học và luân lý, khi ngài cho biết rằng mỗi tín hữu Chúa Ki Tô đều có thể đạt được viễn tượng cao cả của " Bài giảng Trên Núi ", nếu biết sống trong mối liên hệ đích thực của đức tin trong Chúa Ki Tô, nếu mở rộng con người mình ra cho động tác của Chúa Thánh Thần.
Tuy nhiên, Thánh Tôma Aquino thêm:
- " mặc dầu ân sủng có hiệu quả hơn bản tính, dầu vậy, bản tính thiết yếu hơn cho con người " ( Summa Theologiae, I a, q.29, a. 3),
Bởi đó, trong viễn ảnh luân lý Ki Tô giáo, lý trí có một chỗ đứng, bởi lẽ lý trí có khả năng nhận định lề luật luân lý thiên nhiên. Lý trí có thể nhận biết đưọc lề luật đó, bằng cách chuẩn định điều gì tốt nên làm và điều gì cần phải tránh để đạt được hạnh phúc đang ở trong con tim của mỗi người.
Lý trí cũng quy định trách nhiệm đối với những người khác và như vậy, quy định phải tìm kiếm công ích. Nói cách khác, các nhân đức của con người, thần học và luân lý, có gốc rễ trong bản tính con người.
Ân sủng Thiên Chúa đi theo, trợ lực và thúc đẩy dấn thân luân lý, tuy nhiên tự mình, theo Thánh Tôma, mọi con người, tín hữu hay không tín hữu, đều được mời gọi hãy nhận biết các đòi buộc của bản tính con người, được thể hiện ra trong lề luật thiên nhiên và được mời gọi hãy để cho lề luật thiên nhiên gợi ý cho mình trong khi thiết định ra những lề luật thực định ( leggi positive ), tức là những luật lệ được ban hành bởi các quyền lực dân sự và chính trị, để sắp đặt cuộc sống chung của nhân loại.
4 - Khi lề luật tự nhiên và trách nhiệm hàm chứa trong lề luật đó bị chối bỏ, cuộc sống luân lý theo tương đối chủ nghĩa được phát sinh ra một cách thảm đạm, đối với cá nhân cũng như đối với tập thể trong Quốc Gia trên phương diện chính trị.
Sự bảo vệ các quyền phổ quát của con người và việc xác nhận giá trị tuyệt đối của phẩm giá con người đòi buộc phải có một nền tảng.
Không phải chính lề luật tự nhiên ( legge naturale) là nền tảng nầy, với các giá trị không thể chuyển nhượng mà lề luật đó xác định hay sao?
Vị Chân Phước Gioan Phaolồ II đã viết lên trong Thông Điệp Evangelium Vitae ( Phúc Âm của đời sống) những lời vẫn còn có giá trị hiện đại:
- " Như vậy, cần khàm phá ra một cách khẩn cấp, cho tương lai xã hội và cho sự phát triển của một nền dân chủ lành mạnh, sự hiện hữu các giá trị nhân bản và luân lý thiết yếu và bẩm sinh, là những điều thoát xuất từ chính chân lý của bản thể con người, diễn tả và bảo vệ phẩm giá con người: đó là những giá trị mà không một cá nhân nào, một thành phần đa số nào và một Quốc Gia nào có thể tạo dựng ra, sửa đổi hay tiêu diệt được, nhưng là những giá trị phải được nhận biết, kính trọng và thăng tiến " ( n. 71).
Để kết thúc, Thánh Tôma giới thiệu cho chúng ta một quan niệm quảng bác và đầy tin tưởng về lý trí con người:
- quảng bác, bởi vì không bị giới hạn trong những khuôn viên của cái gọi là lý trí thực nghiệm - khoa học, mà là rộng mở ra cho cả thực thể con người và như vậy cũng cho cả các vấn đề căn bản và bất khả khước từ của cuộc sống nhân loại;
- đầy tin tưởng, bởi vì lý trí con người, nhứt là nếu lý trí đó chấp nhận các ước vọng của đức tin Ki Tô giáo, là lý trí phát huy một nền văn minh nhận biết phẩm giá của con người, tính cách bất khả xâm phạm của các quyền của con người và các bổn phận bắt buộc không thể thiếu.
Bởi đó không có gì là bất ngờ, ý thức hệ về phẩm giá con người, nền tảng của việc nhận biết các quyền bất khả xâm phạm của con người, được trở nên trưởng thành trong các bối cảnh của các tư tưởng đã đón nhận gia sản của Thánh Tôma Aquino, là vị có quan niệm rất cao cả về tạo vật con người. Ngài định nghĩa tạo vật con người đó, bằng ngôn từ triết học chặt chẽ của ngài, như là
- " những gì hoàn hảo nhứt có được trong thiên nhiên, nghĩa là một chủ thể hiện hữu trong một bản tính có lý trí " ( Summa Theologiae, Ia, q. 29, a.3).
Đặc tính sâu thẩm của tư tưởng Thánh Tôma Aquino phát sinh ra - chúng ta đừng bao giờ quên - từ đức tin sống động và từ nhân đức nhiệt huyết của ngài, mà ngài diễn tả ra trong các lời cầu nguyện được Chúa soi sáng, như là lời nguyện nầy, trong đó ngài xin Chúa:
- " Hãy ban cho con, con nguyện xin Chúa, một ý chí đi tìm Chúa, môt đức khôn ngoan gặp được Chúa, một đời sống mà Chúa hài lòng, một lòng bền tâm mong đợi Chúa trong tin cậy và một niềm tin cậy phó thác mà kết thúc sau cùng chiếm được Chúa ".
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.
( Thông tấn www.vatican.va, 16.06.2010).