Văn Nghệ >> Truyện Ngắn

PrintPrint This TopicEmail To Friend
BỐ GIÀ XÓM NÚI
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Ngài là một linh mục, nhưng ở đấy người ta không gọi ngài là cha, mà chỉ nghe gọi là Bố, hoặc Bố Già. Tôi gặp Bố Già trong một hoàn cảnh thật tình cờ và hi hữụ.

Một hôm, gần giáp tết, tôi và ba anh bạn tù được lệnh đi ra xã bắt lợn. Từ ngày vô trại, chúng tôi không biết xã ở đâu. Được đi ra ngoài và nhất là đi xa là một điều vô cùng sung sướng đối với bất cứ tù nhân nào. Đi là đi cho biết đó biết đây để mở rộng tầm mắt, và xem miền Bắc xã hội chủ nghĩa tốt đẹp ra sao. Ngoài khu vực nhốt tù được vây kín bởi hai lần rào tre bên trong và một lần kẽm gai bên ngoài, tất cả chung quanh đều là đồi núi chập chùng, rừng cây xanh ngắt, chẳng thấy làng mạc đâu. Những lần đi lấy cây hay tre nứa, có khi đi cả cây số mới nhìn thấy một vài căn nhà của dân. Cũng chỉ là những mái tranh úp xúp nghèo nàn ở rải rác như những ốc đảo, không thể gọi là làng hay xã. Nghe tên quản giáo bảo ra xã, tôi mường tượng là một nơi phồn hoa náo nhiệt, và chuyến đi chắc thú vị lắm.

Vì phải đi xa nên chúng tôi được lãnh phần ăn sáng trước. Mỗi phần gồm hai khúc mì luộc. Mỗi khúc tròn bằng nửa cườm tay và dài cỡ gần gang tay. Chúng tôi cũng còn được phát luôn thêm phần ăn trưa vì chắc chắn trưa chúng tôi không về kịp. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lên đường. Lúc đi chúng tôi nhẹ nhàng thoải mái vì không phải mang vác gì. Chỉ có lúc về là hơi vất vả vì phải khiêng heo. Bốn người thành hai cặp, chúng tôi thay đổi nhau từng cặp một để khiêng cho đỡ mệt. Ông Trời cũng chiều lòng người. Hôm nay trời nắng đẹp. Đường núi thật là khô ráo dễ đi. Đường đi nhiều đoạn phải leo núi nhưng không sao, chúng tôi ai cũng đi người không. Lúc về có con heo trên vai nhưng đường lại xuống dốc. Luật bù trừ ở đây xem ra khá ứng nghiệm. Trên đường lúc đi cũng như lúc về, bọn tù chúng tôi vô cùng an tâm vì đàng sau đã có khẩu AK với đạn lên nòng và lưỡi lê lắp sẵn luôn luôn bảo vệ.

Mỗi năm tết đến, dù tình trạng bết bát đến đâu thì đám tù cũng có được ba ngày tết ăn tươi. Chẳng phong lưu cũng ba ngày tết mà. Bọn tù già đầu chờ tết cũng y như lũ con nít chờ tết vậy. Chẳng khác gì. Con nít chờ mặc áo quần mới, tiền lì xì, chơi bầu cua, đốt pháo. Còn bọn tù già chờ được miếng ăn ngon. Dài cổ chờ cả năm. Đếm nhẩm từng ngày. Tết đến thật là mừng. Được ăn no cơm trắng với thịt lại không phải lao động.
Chương trình ăn tết năm nay của trại chúng tôi gồm có một con trâu già đã hết khả năng lao động, hai con heo, bánh chưng với nhân khoai lang luộc nghiền nhuyễn ngào mật, kẹo bánh, và dĩ nhiên dưa hành đã muối sẵn từ trước cả tháng. Dự trù hai con heo nhưng trại mới chỉ có một con. Trâu thì đã có sẵn. Còn thiếu một con heo nữa nên trại phải mua ở ngoài và hôm nay chúng tôi đi bắt về. Heo miền núi Bắc Kỳ cũng giống như con người ngoài đó, thiếu ăn nên không lớn được và gầy trơ xương. Bọn tù già có máu tếu gọi là heo diet. Cao lắm con nào cũng chỉ tới năm chục ký là cùng. Bọn tù chúng tôi những lúc lao động ngoài rẫy hay sau giờ vô chuồng, đã phác họa thực đơn cho từng ngày tết. Cũng đã thử làm một con toán quân phân hai con heo trên đầu người cho cái tết năm nay đâu vào đấy chu đáo cả rồi. Thịt trâu cho mùng một và mùng hai. Xương trâu mùng ba. Da trâu dành riêng cho ngày ra quân mùng bốn tết. Bộ đồ lòng được chôn vào bụng các ban (hay cai tù). Cái đó khỏi nói. Luật bất thành văn trong trại tù là bất cứ mổ heo hay mổ trâu cũng thế, bộ đồ lòng bao giờ cũng được đặc biệt đem chôn tử tế. Không phải chôn dưới đất mà là chôn vào bụng các ban. Còn về hai con heo, nếu cả hai con vật đạt trọng lượng tối đa thì trại đã có 100 ký heo để ăn tết. Nhưng đây là heo hơi hay heo sống chứ chưa phải là thịt heo. Cả trại có 420 tù cải tạo, cộng thêm chừng bốn chục tên ban tức cai tù, chia nhau hai con heo vừa xương, vừa lông, vừa những thứ linh tinh trong bụng của nó nữa. Vị chi mỗi đầu người sẽ được thưởng thức khoảng 217 gram thịt heo hơi. Hơn một trăm gram thịt heo hơi này vừa làm nhân bánh chưng, vừa bầy biện pha chế đủ các món xào nấu cho ngày đầu xuân. Tết như thế kể cũng đã linh đình thịnh soạn rồi. Tuy nhiên đấy là tính trên lý thuyết. Thực tế chẳng bao giờ có sự bình quyền bình đẳng giữa tù và cai tù. Nghĩa là tù được ăn một thì cai tù ăn mười, ăn một trăm. Chưa kể bộ đồ lòng cũng được chôn vào bụng các ban.
Trên đường đi tới xã, bốn chúng tôi vẫn còn hăng say bàn tán “kế hoạch” thực đơn của ngày tết. Ngày này qua ngày khác, bọn tù bàn ăn không bao giờ biết chán. Khoảng nửa đường, chúng tôi được nghỉ chân một lần. Đường núi ngoằn ngoèo, lên dốc nhiều nên dù khí hậu mùa đông giáp tết, chúng tôi cũng cảm thấy láp nháp tí mồ hôi. Hai mẩu sắn vào bụng hồi sáng đã biến mất. Chúng tôi lấy xuất ăn trưa ra thanh toán, không cần biết rồi trưa nay sẽ ra sao.
Chúng tôi tới xã mặt trời đã gần đứng bóng. Lội khoảng 8 cây số đường đồi núi mất đến gần 4 tiếng đồng hồ. Tới nơi rồi mà chúng tôi vẫn không biết. Hỏi tên cán bộ bảo vệ, nó nhe hàm răng cải mả đáp:
- Tới rồi đấy.
Tôi không thể tin được chỗ này mà lại là xã. Chỉ có mười mấy căn nhà le ngoe nằm rải rác chung quanh một khu lòng chảo nhỏ. Hỏi ra mới biết trụ sở xã và là nơi có đông người ta ở còn cách đây những hơn ba cây số nữa. Nơi đó mới thực là xã. Xóm quê này người địa phương quen gọi là Xóm Núi cũng thuộc xã nên tên bảo vệ gọi là xã cũng không sai.
Thấy khách bắt heo tới, bà chủ bán heo niềm nở chạy ra tận ngõ đón khách. Bà đúng là điển hình một bà mẹ Việt Nam trong văn chương cổ xưa và trên các tranh vẽ thời đó: tóc vấn, đội khăn mỏ qụa, răng đen, chân đất, áo nâu sồng, lưng quấn ruột tượng, mặc váy đen, một loại skirt mà ở bên Mỹ này chưa thấy có ai vẽ kiểu. Bà còn khoác ngoài một cái áo bông mầu đen cũ đã sờn gấu. Lúc ra chào khách, bà hãy còn nhai bỏm bẻm trong miệng miếng trầu đỏ nhoét. Thỉnh thoảng nhổ toẹt một bãi nước miếng trầu xuống ngay bên cạnh. Bà nói chuyện rất xởi lởi với tên cán bộ bảo vệ nhưng lại làm ra vẻ lạnh nhạt với bọn tù và giữ một khoảng cách chừng mực với chúng tôi. Bà niềm nở mời tên bảo vệ vô nhà và quay sang nói với chúng tôi như ra lệnh:
- Các anh tạm ngồi nghỉ ngơi ngoài này đi.
Tên cán bộ bảo vệ trước khi bước vô nhà vẫn không quên theo đúng sách vở nhắc nhở chúng tôi phải giữ nội qui nghiêm túc, không được quan hệ linh tinh. Chúng tôi vâng dạ cho phải phép, mừng thầm trong bụng vì được hưởng những giây phút thoải mái ngoài sự canh chừng của con mắt hắn. Một lúc sau bà chủ bán heo đem ra cho chúng tôi bốn khúc mì luộc khá lớn đựng trong một cái rá rách và một ấm chè xanh, hai cái bát sành để uống nước. Bà nói lớn như cố ý cho tên bảo vệ trong nhà nghe thấy:
- Đồng chí cán bộ cho phép các anh ăn trưa để chốc nữa khiêng lợn đấy.
Tôi nghĩ trong bụng thì ra vụ bắt heo này đã được sắp đặt trước chứ làm gì có mà nước uống với mì luộc lẹ đến thế. Chúng tôi ngồi bệt xuống dưới gốc một cây rừng già bên ngoài cổng để nghỉ.
Xóm Núi là một khu thung lũng hẹp. Chung quanh núi đồi và rừng già trùng điệp.Có một con suối chảy qua. Đây là nguồn nước duy nhất cho mọi gia đình trong xóm. Nếu là một du khách có tâm hồn lãng mạn hoặc một thanh niên có tinh thần thể thao thì đây là nơi có thể nói là khá lý tưởng để làm thơ hoặc leo núi. Tại các chân núi và các triền đồi thấp, người ta trồng cấy lúa nương, khoai mì hoặc bắp. Rải rác trong thung lũng chỉ có chừng hơn một chục mái tranh. Nhà nào cũng như nhà nấy, gồm hai hoặc ba gian nhà trên và một gian nhà ngang. Gian này tách rời và nằm chắn đầu nhà trên thành một góc vuông dùng làm bếp. Trước cửa nhà trên là một khoảnh sân nhỏ. Mỗi nhà thường có trồng mấy gốc chè (trà). Có khi chè trồng thành luống trước cửa nhà phía bên ngoài khoảnh sân. Thường nhà nào cũng có vài ba con gà thả trong sân. Có nhà còn nuôi heo. Heo không có chuồng mà cũng được thả rông như gà. Xóm Núi có cuộc sống xem ra thanh bình và có thể nói đươc là trù phú xét theo tiêu chuẩn nhà quê miền núi. Đây là điều chúng tôi đặt thành nghi vấn trong đầu để tìm hiểu.
Bà chủ heo từ trong nhà trở ra cho biết mọi sự đã ổn định. Chữ ổn định của bà có nghĩa là mọi chuyện đã sắp đặt đâu vào đó, không còn trở ngại gì nữa. Tên bảo vệ đã bị ông chủ nhà cầm chân bằng nửa con gà luộc với một cút (xị) rượu và cơm canh. Nó giao khoán bọn tù cho bà chủ nhà coi giữ không ngờ vực gì cả.
- Nó ăn xong còn phải ngủ nữa.
Bà chủ nhà cho biết như thế. Lúc này bà đổi hẳn thái độ với chúng tôi. Bà chuyện trò niềm nở và còn trấn an chúng tôi thêm:
- Nó say rồi. Các anh yên tâm có ông nhà tôi ở trong nhà.
Chúng tôi không lạ gì lối sống hai mặt như thế của người dân miền Bắc. Từ khi đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã gặp những con người hai mặt như thế này nhiều rồi. Lần đầu tiên lúc xuống ga xe lửa Yên Bái, bọn cán bộ huy động đồng bào ra chửi bới lăng nhục bọn tù chúng tôi. Chúng bắt đồng bào mang nước ra cho chúng tôi uống. Khi có mặt bọn cán bộ thì đồng bào làm ra vẻ căm hờn bọn “Ngụy” chúng tôi lắm, nhưng sau lưng bọn chúng, đồng bào đổi hẳn thái độ, ân cần múc nước mời chúng tôi, có khi còn lén dúi cho củ khoai, khúc mía v.v. Sống trong chế độ công sản ít có những lúc đồng bào miền Bắc sống thực với lòng mình. Quanh năm suốt tháng lúc nào người dân cũng sống trong tâm trạng giả dối đó nên họ người nào người nấy thường mang vẻ mặt đăm chiêu tư lự, ít khi thấy họ cười đùa một cách hồn nhiên.
Gặp chúng tôi, biết cùng là người đồng hội đồng thuyền, bà chủ nhà mới dám bộc lộ tâm tư. Chúng tôi kể chuyện miền Nam cho bà nghe. Bà nói chuyện miền Bắc với chúng tôi. Sống ở cái xó núi này lại còn bị chính sách bưng bít thông tin của cộng sản, thực ra bà cũng chẳng biết được bao nhiêu chuyện về miền Bắc. Nhưng câu chuyện về Xóm Núi này của bà thì bà biết rành mạch lắm.
Khi cộng sản tiếp quản miền Bắc vào năm 1954 thì Xóm Núi này còn toàn là rừng núi hoang vu. Bà là một trong mấy người được đưa đến đây đầu tiên. Ngày đó, ở ngay trên nền nhà hiện thời của gia đình bà,có một dẫy lán bằng nứa do đám thanh niên xung phong được đưa lên làm lâm trường dựng lên để ở. Lâm trường thì chưa thấy nhưng bọn thanh niên đói rét quá chịu không nổi bỏ trốn mất gần hết. Thế là lâm trường phải dẹp. Vào lúc này đang có phong trào đồng bào trốn di cư vào Nam và chiến dịch cải cách ruộng đất đang gây kinh hoàng khắp miền Bắc nên số người bị bắt, bị đầy không biết bao nhiêu mà kể. Xóm Núi được coi là nơi lý tưởng để lưu đầy những thành phần chống đối hoặc không theo chế độ. Những người khốn khổ này bị đưa lên lấp chỗ trống cho bọn thanh niên xung phong. Họ sống chui rúc trong những dẫy lán tre mà bọn thanh niên xung phong dựng lên. Hầu như tất cả dân xã đều là những thành phần bị chế độ kết án. Có người là phản động, có người là cường hào, kẻ là địa chủ ác ôn, người là tư sản tìm cách trốn theo Mỹ Diệm. Thành phần càng bị coi là nguy hiểm càng bị tống lên cao. Người nào được coi là ít nguy hiểm hơn thì được chỉ định cư trú tại địa điểm chung quanh trụ sở xã bây giờ. Mười mấy gia đình bị đưa lên Xóm Núi đều thuộc loại cực kỳ phản động và hung hiểm. Đợt đầu tiên bị tống lên đây gồm ba gia đình. Hai người là hạ sĩ quan trong quân đội partisan của Pháp cùng với gia đình không chịu vô Nam và một nữa là gia đình bà chủ heo. Ông chồng bà làm trùm ở một giáo xứ vùng đồng bằng thuộc địa phận Thái Bình. Giáo xứ này là một làng tự vệ chống Việt Minh. Đa số dân làng đã dắt díu nhau di cư vào Nam . Lúc đó bà trùm đau nặng nên cả gia đình đành phải ở lại rồi bị đầy lên đây. Những gia đình khác lần lần bị đưa lên sau, gồm gia đình của một ông chánh tổng, còn lại đều thuộc thành phần địa chủ ác ôn. Tới sau cùng là một người đàn ông trung niên. Ông ta bị đưa lên đây một mình. Nói đến nhân vật này, bà chủ heo mới sực nhớ ra, bà vừa chỉ tay về phía một rẫy bắp cách không xa vừa nói:
- Mới thấy bố già đàng kia mà thoắt cái đã đâu mất rồi.
Lúc mới tới, chúng tôi có nhác thấy một ông cụ gìa đang lui cui làm cỏ một vạt bắp gần đó, nhưng bây giờ không còn thấy đâu nữa. Tôi cũng nhớ lại nên hỏi bà chủ heo:
- Có phải ông cụ cùng với mấy đứa nhỏ làm cỏ bắp ở đàng kia không? Chúng tôi mới trông thấy đây thôi mà.
- Đúng rồi. - Bà chủ heo nheo mắt cười rồi quay về phía ruộng bắp gọi:
- Bố già ơi, bố có đem theo điếu với lửa cho mấy anh này mượn hút với.
Tiếng ông già vọng lại từ cuối ruộng bắp:
- Có đây, tôi đem lại ngay.
Thoáng cái đã thấy ông cụ ló đầu ra khỏi luống bắp cầm theo chiếc điếu cầy và mồi lửa đi về phía chúng tôi. Ông cụ râu tóc bạc phơ. Bộ đồ nâu rách lỗ chỗ lên mầu mốc thếch tiệp với nước da trên khuôn mặt khô hốc của ông. Tôi tò mò hỏi bà chủ heo xem ông là ai để chúng tôi tiện việc chào hỏi. Bà nói thật nhỏ vào tai chúng tôi:
- Ông cha xứ của chúng tôi đấy.
Bà nói tiếp liền để mô tả về ông cha xứ của bà:
- Ông cụ già rồi mà chẳng bao giờ chịu để cho chúng tôi giúp đỡ gì cả đâu. Cái gì cũng làm lấy tất. Già rồi mà còn khỏe đáo để.
- Kính chào cha.
Cha xứ đến, cả bốn chúng tôi đều đứng lên lễ phép chào. Ngài nhìn quanh quất giây lát rồi thận trọng bảo chúng tôi:
- Ấy chết các ông gọi như thế ở đây là không được đâu.
Bà chủ heo chêm vào:
- Gọi ông cụ là bố già được rồi. Bố con mình đợi mấy anh ra mà ra kiểu này có chán không kia chứ! Có phải không bố?
Bố già cười xề xòa an ủi chúng tôi:
- Ai muốn vậy đâu. Không phải tại các ông ấy. Vận nước tới biết sao được.
Trưa mùa đông ở vùng cao tuy có nắng hanh nhưng trời vẫn lạnh căm. chúng tôi co ro bên đống lửa do bố gìa nhúm để sưởi và để hút thuốc lào. Rít điếu thuốc lào rồi nhấp một ngụm chè xanh đặc quạo thì thật là một cái thú trên đời, dân tỉnh thành chắc chẳng bao giờ được hưởng. Bên cạnh đống lửa, câu chuyện về Xóm Núi cứ tự nhiên như một cuốn phim với bố già là nhân vật chính và bà chủ heo là diễn viên phụ tuần tự quay lại theo khói thuốc của chiếc điếu cầy.
Bố Già trước kia là một linh mục coi một giáo xứ miền duyên hải tỉnh Nam Định. Sau khi đất nước bị chia đôi, ngài tổ chức cho giáo dân của ngài và cho cả đồng bào không có đạo chung quanh đó đóng bè vượt biển vào Nam tìm tự do rất nhiều. Ngài và một ít thanh niên tâm phúc tình nguyện ở lại lo cho đồng bào ra đi, hết đợt này đến đợt khác. Cuối cùng cha con họ mới ra đi trên một chuyến bè chót. Chẳng may bè bị sóng lớn đánh bể ngoài khơi. Mười mấy thanh niên không biết sống chết ra sao. Sau này không bao giờ ngài được gặp lại họ nữa. Trôi dạt trên mặt đại dương hơn một tiếng đồng hồ giữa đêm tối sóng to gió lớn, ngài may mắn ôm được một cây bương. Cứ thế một ngày trời chịu đói, chịu rét, sóng đưa ngài dạt vào gần đến bờ thì bị công an bắt được. Chúng giam ngài tại tỉnh lỵ mấy tháng rồi tống ngài vào trại Đầm Đùn Khu Tư. Đây là một trại giam khét tiếng dữ dằn chuyên nhốt tù thứ dữ. Tù vô đây cứ coi như không có ngày về.
Gần mười năm sau có lẽ công sản sợ Miền Nam đánh ra Bắc nên chúng đem cầm chân ngài trên Xóm Núi. Ở đây lúc này đã tập trung được 14 gia đình gồm ba là công giáo, còn lại là người lương. Việt Minh giao ông cha cho hai gia đình người lương quản lý để theo dõi và báo cáo chi tiết mọi sinh hoạt của ngài. Bố già lúc đó chỉ còn là một cây sậy biết đi, nhưng ngài vẫn tỉnh táo, tháo vát và vui tính. Ngài tự đi lấy cây lấy nứa về dựng một túp lều cho mình, không phải nhờ đến ai. Chỉ sau dăm sáu tháng về đây, ngài đã có thể trồng bắp và khoai lang để tự túc được về lương thực. Điểm đặc biệt là bố già lúc nào cũng tỏ ra là một người yêu đời, sống chan hòa và giúp đỡ bất cứ ai trong xóm. Dân Xóm Núi gom lại từ nhiều địa phương khác nhau, thuộc đủ mọi thành phần và giai tầng xã hội cũng như tôn giáo nên thời gian đầu họ sống rất cô độc, lạnh nhạt với nhau. Nói đúng ra là họ nghi kỵ nhau nên ai cũng thủ. Đó là tâm trạng chung trong bất cứ một xã hội cộng sản nào. Nhưng chỉ vài năm sau khi bố già tới, tình hình đã biến đổi. Ngài chiếm trọn cảm tình và sự tin tưởng của mọi người dân Xóm Núi, kể cả tên công an phụ trách an ninh xóm. Vì thế, không những ngài được nới rộng quản chế mà còn được chỉ định làm tổ trưởng tổ sản xuất có trách nhiệm trông coi chi nhánh hợp tác xã sản xuất Xóm Núi.
Hợp tác xã là cái tên chỉ đặt ra theo phong trào. Ngài đem hết những hiểu biết của mình trước kia về cộng sản từ sách vở và những kinh nghiệm của ngài trong các nhà tù ra để giúp ngời dân Xóm Núi sống thích ứng với hoàn cảnh mới. Ngài chủ trương ở đây là đất rừng và đồi núi, ai canh tác được bao nhiêu tùy sức. Vấn đề là đóng thuế đủ cho xã. Ngài lập luận với bọn chính quyền xã: thế cũng là một hình thức khoán sản phẩm của nhà nước rồi. Mức thuế do xã qui định, nhưng sự qui định của xã lại tùy theo cung cách xử trí vấn đề của người dân trong xóm. Nói nôm na là dân biết sống được lòng quan thì chuyện gì cũng xong. Ai lên đây cũng với hai bàn tay không, đổi chén mồ hôi lấy miếng ăn. Có đủ miếng ăn đã là may. Thời gian đầu khi mọi người còn giữ thái độ e dè nghi kỵ nhau, tinh thần người dân Xóm Núi xuống rất thấp. Họ thất vọng, chán nản và hầu như buông xuôi. Thấy tình cảnh như vậy, bố già lập tức đề ra trong đầu một chương trình dân sinh chung cho cả xóm. Câu nói mà cộng sản dậy cho tù trong lúc ngài bị giam giữ “mình vì mọi người, mọi người vì mình” được ngài đem ra thực hành. Bắt đầu ngài tới lui từng nhà, đề nghị sửa sang, tu bổ hay thay đổi cái này cái khác. Những đề nghị của ngài nếu được gia đình đồng ý đều do chính tay ngài thực hiện. Gia đình có đóng góp thì chỉ là phụ. Mỗi ngày, ngài lao động cho mình một nửa ngày. Nửa ngày còn lại ngài làm giúp các gia đình, nay nhà này, mai nhà khác. Bọn chính quyền xã sau một thời gian theo dõi và kiểm soát, không thấy có biểu hiện nào đáng nghi ngờ, chúng chỉ định ngài làm đội trưởng đội sản xuất và trông coi hợp tác xã. Vì là ở miền núi và nhất là không có trâu bò cũng như dụng cụ canh tác nên ngài tranh đấu cho mỗi người được giao phần đất lãnh canh tối thiểu. Nghĩa là từng người tùy theo tuổi tác hay sức khỏe nhận khai phá và trồng trọt phần đất để đủ sinh sống. Tuy nhiên ngài ngầm cổ võ và khuyến khích từng người và từng nhà khai phá và canh tác tối đa nếu có thể. Do đó tuy với mức thuế khoán thường là 60%, Xóm Núi vẫn có đủ lương thực không bao giờ thiếu. Con gà trong sân gia đình nào nuôi được đều là sản phẩm thặng dư có quyền giết ăn hoặc bán . Trừ ra con heo nuôi được nếu giết ăn hay bán đi thì phải đóng thuế. Ngài còn áp dụng phương pháp vần công, đổi công của các hợp tác xã nông nghiệp miền Bắc để xây dựng nhà ở cho từng gia đình. Vì thế gia đình nào cũng có nhà cửa tương đối tươm tất để ở.
Một vấn đề khó khăn cho người dân Xóm Núi lại chính là sự “thịnh vượng” bề ngoài ấy của họ. Khi người dân no mà cán bộ cách mạng đói thì đúng là một điều nghịch lý dưới chế độ cộng sản. Thấy dân có ăn, bọn chánh quyền xã bắt đầu mè nheo yêu sách. Nhận thấy có mòi bất ổn, bố gìa trong tư cách đội trưởng đội sản xuất lập tức tìm cách chận đứng ngay. Cũng chẳng có gì khó khăn. Cái khó nó đẻ cái khôn là qui luật tự nhiên. Phương pháp hữu hiệu nhất để chận họng và khóa tay bọn cán bộ là tọng cái gì đó vào miệng chúng thì chuyện gì cũng xong. Kinh nghiệm sống trong xã hội cộng sản dậy cho mọi người biết rằng con người chỉ là con vật, mà bản tính của mọi loài vật là bằng mọi cách để sinh tồn. Người dân tìm sinh tồn bằng chính bàn tay và mồ hôi mình đổ ra. Còn bọn cầm quyền CS sinh tồn bằng cây súng trong tay của chúng. Thực ra người dân Xóm Núi đã là những người cùng khổ nhất trong cái xã hội nghèo nàn miền Bắc này rồi. Họ chẳng còn có gì để cho đi ngoài miếng ăn hàng ngày của họ. Nhưng dù phải hy sinh bớt đi ít nhiều trong khẩu phần của họ để được hưởng một chút thoải mái trong cuộc sống vẫn còn hơn. Cái mà họ có thể dùng để trả giá cho cuộc sống yên vui của họ là rau quả ngoài vườn, là con gà trong sân, là chén gạo trong lu, là chai rượu nấu được. Đơn giản thế thôi. Bà chủ heo kể rằng bà nuôi được hai con heo. Một con bán cho trại tù hôm nay chúng tôi tới bắt. Con khác lớn và mập mạp hơn một chút đã bán trước cho hợp tác xã (tại xã). Con heo này bà phải đóng thuế mất già một nửa trị giá. Bộ đồ lòng dành riêng để “bồi dưỡng” cho ủy ban. Khi cân heo, chiếc cân được nhích lên khoảng vài ba ký trừ hao. Người chủ heo được đền bù những cái mất mát kia bằng cách đó theo tập tục xã hội chủ nghĩa. Một bên có lợi vì được cho không. Một bên bị ăn cướp công khai nhưng lấy lại được chút ít ân huệ. Như thế cũng thỏa mãn rồi. Những chuyện bị ăn cướp rồi được đền bù đại loại như thế đã trở thành nếp sống của người dân dưới chế độ công sản nói chung, và tại Xóm Núi nói riêng. Không một ai dám kêu ca mà trái lại còn phải coi đó như một ân huệ mà nhà nước chỉ chiếu cố cho những người xứng đáng được hưởng. Bố già dí dỏm nhận định tham nhũng là một “đức tính xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc, và ngài còn cho rằng cách thức người ta đưa và ăn hối lộ đã trở thành một “nghệ thuật giao tế” trong chế độ cộng sản. Điều này thật quan trọng. Không phải cứ đưa hối lộ là được nhận cả đâu, mà phải biết đưa cho đúng cách mới thực sự là điều quan trọng. Nếu không khéo léo thiếu tế nhị khi đưa hối lộ thì không những mất của mà còn mất luôn cả cái mạng nữa chưa biết chừng. Bởi vì dưới chế độ cộng sản, việc nhân dân bồi dưỡng cán bộ và việc hối lộ mua chuộc cán bộ nhà nước là hai hành động đã đưọc điển chế hóa hẳn hoi. Vui vẻ tự nguyện cho cán bộ ăn được coi là việc làm bồi dưỡng cán bộ. Đây là hành động có công với cách mạng. Ngược lại cho bọn cán bộ ăn mà không vui vẻ tự nguyện thì đó là hối lộ cán bộ nhà nước. Đây là một tội hình, nhẹ thì tù sơ sơ năm mười năm, mà nặng thì mất đầu như chơi. Bọn tù chúng tôi học được cả một kho kinh nghiệm sống của bố gìa. Quả thật là đi một ngày đàng học một sang khôn. Chuyến đi bắt heo của chúng tôi không uổng.
Việc bố già bị đầy lên Xóm Núi là cái xui cho ngài nhưng phải được coi là cái may cho những người dân bị đầy lên đây. Trong câu chuyện, bà chủ heo lập đi lập lại với chúng tôi:
- Không nhờ có bố gìa, Xóm Núi không được như thế này đâu.
Cuộc sống người dân Xóm Núi được cải thiện và nâng cao rõ ràng so với hầu như toàn miền Bắc. Trong khi dân miền Bắc có nơi có người bị chết đói thì Xóm Núi vẫn chưa đến nỗi thiếu thốn cái ăn. Trong khi cả nước bị chiến tranh tàn phá thì Xóm Núi vẫn thanh bình yên vui. Nhà nước không mở trường học ở đấy nhưng bố già cũng đã tự mình tổ chức được một lớp học vào mỗi Chủ Nhật để dậy cho những người ít chữ nghĩa, không kể người lớn hay trẻ con. Ở Xóm Núi ai ai cũng có nhà ở. Người dân với nhau không ai bóc lột áp bức ai mà lại sống rất chan hòa yêu thương nhau. Thực ra cũng có áp bức bóc lột, nhưng là do bọn cán bộ nhà nước. Tuy nhiên tệ nạn này cũng đã hóa giải được tới mức có thể chịu đựng được nhờ người dân Xóm Núi biết hy sinh và tài khéo léo của bố già. Ở trong một đất nước theo xã hội chủ nghĩa, có thể nói được rằng bố già là một lãnh tụ đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Xóm Núi này, chuyện mà Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh v.v. đã phải giết đến hàng chục triệu con dân của họ để thực hiện mà cho đến lúc chết vẫn chỉ là giấc mơ.
Đấy là về mặt xã hội. Một khía cạnh quan trọng khác là về mặt tôn giáo. Bố già là một linh mục công giáo. Xóm Núi là nơi ngài bị đầy ải. Ngài sống trong một căn nhà hai gian. Ngài nấu ăn ở đấy, ngủ ở đấy, dậy học ở đấy, và thậm chí làm lễ cũng ở đấy. Khi bố già mới tới, Xóm Núi có 14 gia đình thì 11 là lương dân. Chỉ có ba gia đình là công giáo. Bố già được giao cho hai gia đình bên lương quản chế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, cả hai gia đình này đều trở lại công giáo. Chín gia đình khác về sau được ngài cảm hóa cũng theo đạo của ngài. Còn lại chỉ còn hai gia đình vẫn giữ đạo ông bà. Bố già ở Xóm Núi, tuy là một linh mục nhưng ngài không bao giờ giảng đạo cho ai. Phải nói là ngài không dám giảng đạo mới đúng. Những người theo đạo đều là vì cảm mến ngài mà theo đạo của ngài. Bà chủ heo hãnh diện giới thiệu với chúng tôi bố già là ông cha xứ của bà. Thực ra Xóm Núi chẳng phải là một xóm đạo. Ông cha xứ chỉ là một tên tù bị chỉ định cư trú. Bố già cũng không có một cái gì để hành xử chức linh mục của ngài. Thậm chí đến một cuốn Phúc Âm cũng không có. Ngài không có thánh đường, không có Thánh Kinh, không giảng thuyết, nhưng chính bản thân ngài là một cuốn Thánh Kinh sống. Người ta có thể đọc được từng lời của Chúa trong lối sống và hành động của bố già. Ngài không xây cất thánh đường nguy nga tráng lệ để mở mang nước Chúa, không tổ chức lễ lạt với cờ xí trống chiêng inh ỏi để truyền bá Phúc Âm. Nguời ta tìm thấy Chúa trong chính con người đơn sơ của ngài.
Hồi còn chưa đi lính, tôi có đọc câu chuyện về một linh mục giống y như bố già. Ngài là người Ý, cha Pio.
Cha Pio là cha sở họ đạo Rosola, một làng quê miền núi hẻo lánh. Cha là một linh mục khác thường. Khác thường ở đây có nghĩa là chẳng được bằng ai. Phong thái thì nhà quê nhà mùa. Trí khôn thì chậm chạp, có thể nói được là dốt nát. Quê mùa dốt nát là tất cả những gì cha Pio có. Chỉ có giáo dân của ngài mới biết ngài là linh mục, nhưng lại không biết tên họ của ngài là gì. Mọi người theo thói quen gọi ngài vắn tắt bằng cái tên mộc mạc Pio, cha Pio. Những người chưa quen biết ngài, dù đang đứng đối diện với ngài cũng không thể nào nhận ra ngài là một ông cha sở. Ngài thiếu hẳn cái dáng dấp và tác phong của một ông cha sở mà người ta thường thấy: mặc áo chùng thâm, đội mũ mục đồng, tay cầm ba toong, đi rảo chung quanh nhà thờ vào những lúc rảnh rỗi. Trái lại, cha Pio, ngoài những lúc làm nhiệm vụ linh mục như giải tội, làm lễ v.v., suốt ngày lam lũ ngoài nương khoai rẫy bắp như một anh nông phu chánh hiệu con nai vàng. Giáo dân trong họ đạo mỗi khi có việc đến nhà xứ để gặp ông cha sở mà không thấy, họ biết ngay họ phải kiếm ngài ở đâu. Họ chỉ việc men theo con đường ngòng ngoèo từ nhà xứ dẫn ra ngoài rẫy. Con đường mòn này hai bên cây cối um tùm, lúa ngô rậm rạp, họ vừa đi vừa gọi tên ngài. Thế nào họ cũng tìm ra được cha sở của họ đang lúc hoặc cuốc đất, hoặc trồng bắp, hoặc vun xới mấy gốc nho đâu đó.
Người ta kể lại. Có một ngày, đức giám mục địa phận mới nhậm chức, đến thăm cha Pio nhưng không gặp ngài trong nhà xứ. Đức cha bèn trở ra, ngài thấy một ông già đang chăm chú sửa sang hàng rào cây chung quanh nhà thờ. Ngài hỏi thăm ông già:
- Chào ông già, ông có biết cha sở ngài đi đâu không?
Ông già làm vườn có vẻ hơi lung túng. Ông cúi đầu chào đức cha, không trả lời thẳng câu hỏi mà chỉ tay về phía nhà xứ như có ý bảo cha sở đang ở trong đó. Thế rồi ông để đức cha đứng đó một mình giữa sân nhà thờ, vội vã chạy vào nhà xứ làm như đi trình báo cho cha sở biết. Ít phút sau, người ta thấy cha sở tất tả chạy ra đón đức giám mục. Đức cha nhận ra ngay cha sở chính là ông già làm vườn ngài vừa mới gặp. Tuy nhiên đức cha vẫn tươi cười tỉnh bơ, giả bộ như một người thiếu con mắt tinh đời.
Hồi nhỏ, cậu Pio không có được cái may mắn cắp sách đến trường vì cả vùng quê cậu ở không có trường học. Hầu hết các trẻ em ở đây đều thất học. Riêng Pio, ngoài việc chăn cừu, còn được cái may mắn đến học chữ với cha sở một họ đạo vùng Montalbano. Pio học hành không giỏi nhưng được cái ngoan và hiền. Lớn lên cậu được gởi vào chủng viện rồi trở thành linh mục. Sau một thời gian làm tuyên úy, cha Pio được cử về làm cha sở xứ đạo Rosola. Ngoài công tác mục vụ, công việc thường xuyên của cha là làm rẩy. Nhà xứ không có ai giúp việc. Cha sở phải tự tay làm lấy tất cả mọi việc. Làm lễ cũng cha. Giật chuông, mở cửa nhà thờ cũng cha. Ăn uống cha cũng tự nấu lấy. Thậm chí áo quần rách cha tự tay khâu vá, không nhờ đến ai. Tài sản của ngài thu gọn trong một cái túi lớn. Ngài đi chợ mua ăn không cần giỏ xách. Tất cả được gói lại nhét vào một cái bao may liền với cái áo chùng thâm của ngài. Bổn đạo cười. Ngài thản nhiên trả lời:
- Có sao đâu. Vậy mà tiện lắm đấy.
Nói chuyện với Bố Già tôi cứ tưởng tượng ngài là cha Pio của xứ đạo Rosola. Cả hai giống nhau đặc biệt về mặt tu hành và thực hành chức linh mục. Về mặt này, bố già phải được kể là một nhà truyền giáo rất thành công. Tuy ngài không giảng đạo nhưng có nhiều người chung quanh ngài nhận ra Chúa và theo Người. Bố Già Xóm Núi mang hai hình ảnh, vừa là nhà truyền giáo vừa là một lãnh tụ cộng sản. Mặt nào ngài cũng thành công.
Những chuyện xẩy ra ở Xóm Núi mặc dầu rất âm thầm nhưng không thể qua mắt được bọn cán bộ xã. Tuy nhiên chúng cũng phải mắt nhắm mắt mở làm ngơ như không biết gì, bởi vì bọn chúng một đàng không có điều gì đến nỗi phải thù ghét bố già. Đàng khác chúng đã mắc nghẹn ở cổ họng rồi. Chúng không có lý do gì để khui ra mà hành tội ngài cả. Tên công an Xóm Núi còn chưa ráo máu đầu, là cộng sản từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, không biết tôn giáo là gì, nhưng rất khoái bố già, thỉnh thoảng trước đám đông nó hỏi ngài: Sao, anh tính lấy vợ đi chứ, tôi xây dựng cho. Bố già chỉ cười thoái thác: Tôi già lão thế này ai mà chịu lấy. Bà chủ heo kể câu chuyện vui nhưng sợ buồn lòng bố già, bà phân trần với bọn tôi:
- Thằng ranh con không biết cha cụ là ai. Cũng tội nghiệp.
Chuyện trò giữa bọn tù chúng tôi với bố già và bà chủ heo còn đang hào hứng thì tên cán bộ bảo vệ trong nhà đã thức giấc. Nó lên tiếng gọi chúng tôi:
- Các anh vào bắt lợn, khẩn trương về cho kịp.
Chúng tôi đứng lên chào bố già rồi chạy vào. Công việc bắt, trói con heo tiến hành đâu vào đấy chỉ mất năm phút như những người giết heo nhà nghề. Bắt con heo xong, tên cán bộ hối về liền. Tôi hỏi nó:
- Phải cân đã chứ cán bộ?
- Cân rồi, năm chục ký. – Tên cán bộ trả lời.
Chúng tôi hiểu ý. Con heo làm gì đến năm chục ký. Cái kiểu cân bằng mắt của tên bảo vệ hẳn là để bù lại nửa con gà và xị rượu hắn đã tống vào bụng.
Chúng tôi khiêng heo ra đến cổng thì vừa lúc bố già đi làm về cũng ngang qua đó. Ngài tươi cười chào hỏi mọi người và không quên nhắn nhủ chúng tôi một câu cho phải phép:
- Các anh cố gắng học tập tốt, lao động tốt để chóng được đảng và nhà nước cho về đoàn tụ với gia đình nhá.
Tên cán bộ bảo vệ thấy ông già nhà quê lên lớp bọn tù, nó lấy làm hả hê lắm, nhe hàm răng cải mả ra giữa đống da thịt đỏ ối vì men rượu nói với chúng tôi:
- Các anh thấy không, đảng và nhân dân ai cũng mong như thế cả. Về sớm hay muộn đều là tùy các anh cả đấy.
Sâu vào trong xóm, bố già khả kính của người dân Xóm Núi cùng với hai tiểu đồng đi trước, đứa vác cuốc, đứa xách chiếc điếu cầy đang khuất dần vào vạt bắp rậm rạp. Bọn tù chúng tôi khiêng heo về trại để chuẩn bị ăn tết.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất




XUÂN TRONG TÙ

Nhìn trời đàn én đến đưa thoi
Mới biết ràng xuân đã đến rồi
Gió nhẹ đưa hoa cười cợt ý
Nắng hồng đón bướm lượn đùa chơi
Xuân về ai nấy vui xum họp
Tết đến mình riêng một góc trời
Chó tới: "mày... tha thì chẳng chẳng" (1)
Gà đi: "đời... có thế mà thôi..ôi...ôi". (2)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Tân-Lập, Vĩnh Phú tết Canh-Tuất 1982


(1) tiếng chó sủa: ẳng ẳng)
(2) tiếng gà gáy: ò ó o o)

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

* Ý Kiến Độc Giả