Tham Khảo >>  Tài Liệu Hữu Ích

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Từ ngữ " phản động " ai trong chúng ta cũng thường nghe nói đến, được hô to từ miệng những con người chỉ biết có Đảng và Nhà Nước là thần thánh, không ai được động tới, mặc cho Đảng và Nhà Nước có sai trái và từ đó đối xử với người dân bằng lường gạt, đánh đập, tàn bạo như súc vật. Người dân trong một Đất Nước, hay con người nói chung, có quyền " phản động ", đối kháng, chống đối lại những kẻ hành xử bất công, vô nhân đạo không? Lịch sử đã và đang trả lời cho câu hỏi một cách minh nhiên hay mặc nhiên. I - Quyền " phản động " trong lịch sử. Vấn đề qụy mọp, cúi đầu vâng lệnh Công Quyền đã được đặt ra ngay từ thời khởi thủy Kitô giáo, theo đó thì phải vâng lời Chúa trước khi vâng lời các luật lệ của con người: " Obedire oportet Deo, magis quam hominibus " ( Cần phải vâng lời Chúa, trước khi vâng lời người phàm ) ( Act 5-9). Dựa trên nền tảng vừa kể, các Kitô hữu đầu tiên bất tuân luật pháp của đế quốc Roma, cho rằng các luật lệ đó là những điều ngược lại các giới răn của Chúa, nhứt là đạo luật Roma bắt buộc phải đi lính , gia nhập vào đoàn quân viễn chinh giết người như phát cỏ của họ. Bởi đó là đạo luật ngược lại giới răn " chớ giết người " ( Điều răn thứ V ) của Kitô giáo. Các tín hữu Chúa Kitô lúc đó thanh thản chấp nhận các cực hình, kể cả phải tử đạo, để luôn luôn trung thành với tôn giáo và lương tâm mình. Bởi đó đọc lịch sử, chúng ta thấy được các tín hữu Chúa Kitô là những người phản đối tiên khởi về vấn đề " đi lính ", " đi quân dịch " hay là " bọn phản động " đối với sắc lệnh của hoàng đế Roma. Nhưng rồi dòng lịch sử chuyển đổi, kể từ năm 313 trở đi, khi hoàng đế Constantino nhận biết Kitô giáo là Tôn Giáo và kế đến trở thành Quốc Giáo. Đến nỗi năm 380, một chiếu chỉ của hoàng đế Teodosio cho rằng chỉ có các tín hữu Chúa Kitô là những người đáng trở thành quân nhân phục vụ trong các đội quân giữ an ninh trật tự và củng cố đế quốc. Từ thời Trung Cổ trở đi, nhiều triết gia và thần học gia đã đưa ra những chủ thuyết về quyền chống đối kẻ độc tài. Thánh Tôma d'Aquino chẳng hạn, xác nhận rằng: - " Ai giết chết kẻ độc tài, là người đáng được khen ngợi và tưởng thưởng " ( cfr Giorgio Giannini, Diritto di Resistenza, Centro Studi Difesa Civile, 1989, 121, cit. Summa Theologia III, 318...). Theo một số các nhà Hiến Pháp học danh tiếng, việc nhận biết quyền đối kháng được xác định rõ rệt trong Nghị Quyết của vua André II năm 1222 và trong chương 61 Magna Carta Anh Quốc 1225. Quyền và bổn phận chống lại những kẻ đàn áp, độc tài, bất chính được Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 xác định rõ: - " Chúng tôi xác nhận rằng mọi người được dựng nên bình đẳng như nhau, được Đấng Tạo Hoá ban cho những quyền bất khả nhượng..., mà mỗi khi một hình thức chính quyền nào đạt đến mức chối bỏ những mục đích đó, dân chúng có quyền sửa đổi hay loại bỏ chính quyền đó, bằng cách thiết lập nên một chính quyền mới, đặt nền tảng trên các nguyên tắc vừa kể...Khi nào một chuỗi các cuộc lạm quyền và hành xử sai trái...phản ngược lại đồ án đến nỗi làm cho con người phải hoàn toàn qụy phục, thì lúc đó dân chúng có bổn phận, hơn cả chỉ là quyền, phải lật đổ chính quyền đó ". Quyền và bổn phận chống lại đàn áp bất chính có nền tảng pháp lý chính đáng của mình trong Cách Mạng Pháp Quốc 1789. Thật vậy Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân 1789, điều 2 xác nhận: - " Mục đích của mỗi cộng đồng xã hội là gìn giữ các quyền tự nhiên và bất khả tách rời của con người. Các quyền đó là quyền tự do, quyền tư hữu, quyền có được cuộc sống an ninh và quyền chống lại trấn áp ". Kế đến Hiến Pháp 1973 Pháp Quốc còn xác định chi tiết hơn: - " Quyền chống lại áp bức là hậu quả các quyền khác của con người " ( Điều 33). - " Khi chính quyền vi phạm các quyền của dân chúng, việc nổi dậy chống đối của dân chúng là một quyền thiên thánh nhứt và là một trong những bổn phận thiết yếu nhứt " ( Điều 35). Bẳng đi một thời gian quyền đối kháng của người dân bị đàn áp bằng bạo lực không được nhắc đến, sau những gì chúng ta vừa ghi lại ở trên. Nhưng rồi vấn đề được pháp luật nhận biết đối với quyền con người chống đối trước bạo lực bất công được bắt đầu đề cập lại sau thế chiến II, sau những thảm trạng tàn sát hàng triệu người, nhứt là người Do Thái trong các lò sát sinh của Đức Quốc Xã. Như vậy, trong Nội Quy Toà Án Nuenberg, được ký kết trong thoả ước Luân Đôn ngày 08.08.1945 giữa các Quốc Gia Đồng Minh, xác định nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân đối với những ai " phạm tội gây chiến" hay " phạm tội diệt chủng ", ngay cả khi người đó thi hành theo lệnh trên cũng vậy. Quyền con người chống trả đối với những đàn áp bất công, nguyên tắc nầy được Định Chế Quốc Tế nhận biết và được ghi trên nhiều Hiến Pháp sau thế chiến II, nhứt là Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, là Hiến Pháp kết quả, thoát xuất từ tình trạng khủng khiếp của Đức Quốc Xã. - Hiến Pháp các Tiểu Bang về phía Á Châu của Cộng Hoà Liên Bang Đức, 01.12.1946 chẳng hạn, thiết định ở điều 147 rằng: * "Chống lại cách hành xử quyền lực công quyền ngược lại Hiến Pháp là quyền và bổn phận của mỗi người ". - HIến Pháp của Tiểu Bang Brema, 21.10,1947, xác đinh ở điều 19 rằng: * " Nếu các quyền con người được Hiến Pháp thiết định, bị công quyền vi phạm ngược lại Hiến Pháp, sự chống đối lại của mỗi người là quyền và bổn phận". - Hiến Pháp Tiểu Bang Brandenburg ngày 21.01.1947, ở điều 6 xác nhận: * " Chống lại các luật lệ ngược lại luân lý và nhân loại, con người có quyền được chống đối ". - Cũng vậy Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, ở điều 20, đoạn 4, tuyên bố: * " Mọi người dân Đức đều có quyền chống đối lại đối với bất cứ ai có ý định phá hoại định chế hiện hành, nếu không có cách nào khác để cải tiến khác hơn ". 2 - Quyền " phản động " được mặc nhiên tuyên bố trong một Hiến Pháp. Khác với cách tuyên bố minh nhiên của một vài Hiến Pháp được đề cập, đọc suốt 138 điều khoản Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, không ai tìm được một điều khoản nào đứng về phiá " bọn phản động " một cách minh nhiên, cho phép " bọn phản động " có quyền và có lý chứng chống đối lại cách hành xử man rợ của Đảng và Nhà Nước. Điều đó khiến cho người đọc đặt ra câu hỏi: như vậy người dân Ý Quốc có quyền chống đối, " phản động " đối với bọn Phát Xít Mussolini ác ôn, nếu chẳng may có thể đội lốt giang hồ tái xuất hiện hay không? Nhiều nhà Hiến Pháp học nổi tiếng của Ý đã không ngần ngại trả lời xác quyết. Bởi lẽ theo các vị, " quyền chống đối lại áp bức " đã được Hiến Pháp mặc nhiên ( implicitamente) bảo vệ, đối với bất cứ ai vi phạm các nguyên tắc nền tảng của một Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ như Hiến Pháp 1947 Ý Quốc. Thật vậy, quyền đối kháng chống lại những hành động bất công vi hiến đã được chính danh hoá trong nguyên tắc " quyền tối thượng của quốc gia thuộc về dân " trong điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc: - " Quyền tối thượng thuộc về dân, người dân hành xử quyền tối thượng đó theo các thể thức và trong các lằn mức của Hiến Pháp " ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Trong câu nói vừa kể, " quyền tối thượng thuộc về dân ", là quyền được gán cho mỗi người dân, như là thành phần dân chúng trong cộng đồng Quốc Gia, chớ không phải chỉ cho tập thể dân chúng ( hay " nhân dân " hiểu theo ngôn từ của các đồng chí ), để đè bẹp cá nhân, coi cá nhân chỉ là một con số. Trong ngành Luật Pháp Ý Quốc:, có nhiều đạo luật thiết định quyền chống đối của cá nhân ( tức là của mỗi con người ) trước những chỉ thị, nghị quyết, sắc lật, sắc lệnh...bất chính của tổ chức công quyền ( trung ương cũng như địa phương ) hay trước thái độ bất chính tùy hỷ của nhân viên công quyền thuộc hạ: - Điều 4 của Sắc Lệnh n.288, năm 1944, chính danh hoá việc chống đối tích cực ( tức là bằng mọi phương tiện ) đối với một viên chức công quyền hay một cơ quan chính trị, quản trị hay tư pháp, khi các động tác công cộng đó được thi hành bất chấp luật lệ. - Điều 51 của Bộ Hình Luật loại trừ khỏi bị trừng phạt các động tác được thực hiện " trong việc thi hành phận vụ ", do một đạo luật cắt đặt cho hay do lệnh chính đáng của tổ chức công quyền đưa ra. - Điều 650 của Bộ Hình Luật cho phép thành viên thuộc hạ cưởng chế lại các quyết định được Cơ Quan Công Quyền " ban hành không chính đáng ", tức là ban bố tùy hỷ và bất hợp pháp. - Đối với quân nhân, bổn phận vâng lời một chỉ thị bất hợp pháp đã được đạo luật 382, ngày 11.07.1978, điều 4 tiên liệu như sau: * " Quân nhân nhận được một lệnh rõ ràng chống lại các cơ chế Quốc Gia hay việc thực hiện điều lệnh đó trở thành một tội phạm rõ rệt, người quân nhân đó có bổn phận không thi hành lệnh và thông báo cho cấp trên cáng sớm càng tốt ". Tất cả những đạo luật chính danh hoá thái độ " phản động ", phản đối,bất tuân vừa kể không có gì khác hơn là những đạo luật áp dụng điều 52, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, theo đó thì - " Định chế quân đội phải được thiết định dựa trên tinh thần dân chủ của Nền Cộng Hoà ". Về phía cá nhân đã vậy, dân sự cũng như quân nhân, luât pháp đều chính danh hoá quyền " phản động ", đối kháng, bất tuân được bảo vệ chống lại mọi cách hành xử độc tài, đàn áp, phi nhân, coi con người như rơm rạ. Về phía tập thể, dộng tác " phản động " cũng được chính danh hoá chống lại sắc luật, sắc lệnh, nghị quyết, chỉ thị... hay thái độ hành xử ngược lại các nguyên tắc hiến định, không phải chỉ đối với viên chức hay tổ chức công quyền đem ra áp dụng , mà còn ngay cả đối với các cơ quan hiến định, như Quốc Hội, Chính Quyền, Tư Pháp là những cơ quan đại diện Quốc Gia soạn thảo chuẩn y, áp dụng và giải tích sai trái tùy hỷ, trái với tinh thần của Hiến Pháp. Bởi lẽ đó là những đạo luật, động tác và giải tích phán đoán vi hiến. Quyền " phản động " cá nhân cũng như tập thể. được thể hiện như là hành xử các quyền tự do, đã được Hiến Pháp 1947 Ý Quốc minh nhiên xác nhận: - " Mọi người đều có quyền tự do phát biểu tư tưởng của mình bằng lời nói, bằng chữ viết và bằng các phương tiện truyền thông khác " ( Điều 21, đoạn 1, id.). - Quyền đình công được thể hiện trong lãnh vực được luật pháp thiết định " ( Điều 40, id.). - " Mọi công dân đều có quyền tự do hợp nhau thành các chính đảng, để cùng nhau theo phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị Quốc Gia " ( Điều 49, id.). a) Trên thục tế, điều 54 Hiến Pháp 1947 thiết định: - " Mọi công dân đều có bổn phận phải trung thành với Nền Cộng Hoà và tuân giữ Hiến Pháp và luật pháp. Các công dân được ủy thác cho các phận vụ công cộng, có bổn phận phải chu toàn các bổn phận đó theo luật lệ và với danh dự, qua thể thức tuyên thệ ". Tuy nhiên chúng ta không nên lầm lẫn giữa bổn phận trung thành và bổn phận vâng lời. Thật vậy, đó là hai quan niệm khác nhau: trung thành với Nền Cộng Hoà đi trước, dĩ nhiên và trên lý thuyết, là tuân giữ lề luật Quốc Gia. Bởi đó, bổn phận trung thành với Nền Cộng Hoà, và như vậy với Hiến Pháp và nhứt là với các nguyên tắc nền tảng được thiết định trong Hiến Pháp, có giá trị trổi vượt và ưu tiên hơn bổn phận phải vâng lời, bởi vì phải vâng lời đối với những gì được luật pháp thiết định, luật pháp là những diễn giải và thực thi lý tưởng và giá trị được ghi trên Hiến Pháp. Trong trường hợp luật pháp có những đạo luật đi ngược lại các nguyên tắc nền tảng của Định Chế Hiến Pháp, tức là những đạo luật vi hiến, bổn phận vâng lời các nguyên tắc nền tảng hiến định phải được đặt lên trên bổn phận vâng lời luật pháp. Như vậy việc đơn sơ vâng lời luật pháp thôi, chưa đủ bổn phận vâng lời đối với thể chế Quốc Gia, đòi buộc phải có một thái độ thiết thực hợp với các nguyên tắc nền tảng của văn bản Hiến Pháp. b) Qua ba quyền tự do được trích dẫn ở trên, mà người công dân phải có trong cuộc sống của mình. Đó là - quyền tự do ngôn luận ( Điều 21, đoạn 1, id.), - quyền đình công ( Điều 40, id.) - và quyền thành lập và gia nhập chính đảng ( Điều 49, id), chúng ta hiểu được rằng quyền đối kháng hay " phản động " đối với những suy tư và hành xử sai trái của giới công quyền không phải chỉ là cách hành xử côn đồ, chỉ biết đánh đập, bỏ tù, giết chết, tiêu diệt như những gì đã và đang xảy ra, ai cũng thấy. Người dân có thể không đồng ý với những điều sai trái, áp bức bất công của công quyền bằng cách dùng - lời nói của mình để phản đối, dùng các phương tiện truyền thông để thảo luật bàn thảo với người khác, cho thấy đâu là điều sai trái có hại cho mình và cho anh em mình trong cộng đồng quốc gia hay cả cộng đồng quốc tế ( Điều 21, id.). - người công nhân có thể bất đồng ý kiến với kẻ có quyền thế, tư nhân cũng như công quyền, bằng cách phản ứng thụ động, " đình công ", không cộng tác, để tránh cho những điều sai trái không tạo thêm những tai họa lớn lao hơn cho mình và cho anh em ( Điều 40, id.). - người dân có thể họp nhau thành lập và kêu gọi thêm những người khác gia nhập các chính đảng. Hiến Pháp không xác định phải thành lập và gia nhập chính đảng nào, mà là " Mọi công dân đều có quyền hợp nhau thành các chính đảng, để cùng nhau theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia " ( Điều 49 id.). " Tự do ngôn luận " của cá nhân là tiếng nói đơn độc, người dân có quyền thành lập và gia nhập các chính đảng, tiếng nói của mình nhờ được tổ chức các chính đảng khuếch đại đều khắp đất nước, để mọi người hiểu được, thấy được đâu là sai trái của giới đương quyền và những gì đáng lý ra phải làm và hoạch định những đồ án tốt đẹp, lợi ích hơn cho mình và cho Đất Nước. Ngoài ra " các chính đảng " không chỉ là tiếng nói tập thể của người dân, mà còn là " tổ chức giáo dục " huấn dạy cho dân chúng biết những gì đáng làm và phải tránh, vì lợi ích Đất Nước. Hiểu như vậy, quyền " phản động ", đối kháng không phải chỉ là những gì vũ phu tiêu cực, đả phá những sai trái, mà còn là những gì những gì tích cực, xây dựng tốt đẹp hơn cho công ích, làm cho cuộc sống người dân và cộng đồng dân tộc đưọc tốt đẹp hơn. Dĩ nhiên nên lưu ý trong khi thực hiện thái độ " phản động ", nên suy nghĩ có nên thực hiện " phản động " bằng bạo lực hay không. Bởi vì " phản động " để bênh vực một quyền bị cách hành xử của tổ chức công quyền xúc phạm, chúng ta không nên làm tổn thương hay hy sinh các quyền căn bản khác của con người, ngang hàng hay quan trọng hơn, như - quyền được bảo toàn mạng sống - hay quyền an ninh cá nhân chẳng hạn ( Dĩ nhiên thái độ dùng vũ lực của cá nhân được cho phép trong một vài trường hợp được Bộ Hình Luật thiết định trước, ví dụ như để bảo vệ một quyền chính đáng hay trong trường hợp khẩn thiết cần kiếp, sẽ được vị thẩm phán đương cuộc duyệt xét ) . Qua những gì được đề cập, chúng ta hiểu được quyền " phản động ", chống đối lại các tư tưởng và hành động sai trái của giới công quyền được Hiến Pháp 1947 Ý Quốc chấp nhận, mặc dầu dưới hình thức mặc nhiên, bởi lẽ quyền đối kháng, " phản động ", không chấp nhận cách hành xử bất chính hay không hiệu năng của giới đương quyền, không có gì hơn là áp dụng hiện thực nguyên tắc tối thượng của dân chúng, " Quyền tối thương thuộc về người dân, người dân hành xử quyền tối thượng của mìnhtheo caqc thể thức và trong giới mức hiến định " ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), nói lên định chế luật pháp Quốc Gia. Quyền tối thượng được thực hiện một cách trực tiếp qua các nguyên tắc nền tảng về quyền tự do, được chính HIến Pháp xác nhận rõ ràng và một cách gián tiếp qua tổ chức Quốc Gia, các cơ chế Quản Trị Hành Chánh. Nhưng dù sao đi nữa hoạt động của tổ chức cơ chế Quốc Gia không thể đối ngược lại quyền tối thượng của dân chúng. Như vậy khi nào tổ chức Quốc Gia tỏ ra ý muốn hoặc hành xử không phù hợp với dân chúng, người dân có quyền và bổn phận ( cá nhân cũng như tổ chức tập thể ) thu tóm lại quyền tối thượng của mình để thiết lập lại tính cách chính đáng, ví dụ như để bênh vực các cơ chế dân chủ. Trên thực tế, - mặc dầu Chính Quyền hay một cơ quan công quyên đã được chính danh thiết lập bằng cuôc đầu phiếu, - nhưng khi hành động vượt qua bên ngoài tính cách chính danh hợp pháp của mình, các công dân là những chủ nhân của quyền tối thương, có thể hay dúng hơn phải phát đông sự chống đối, " phản động " để thiết lập lại tình trạng luật pháp đã bị vi phạm. Nếu người công dân không có quyền " phản động " chống đối để lập lại trât tự, phương thể cuối cùng nào có thể tái tạo được tình trạng luật pháp bị vi phạm, nuyên tắc quyền tối thượng thuộc về dân sẽ là một nguyên tắc vô ý nghĩa. Quyền đối kháng, " phản động " là một dụng cụ nền tảng, mặc dầu là dụng cụ được dùng trong trường hợp bất thường, dùng để bảo đảm Định Chế Hiến Pháp, mặc dầu trong Hiến Pháp Ý Quốc 1947 không được minh nhiên đề cập đến, nhưng lần bước theo tinh thần được chứa đựng trong Hiến Pháp, chúng ta cũng tìm ra được. Ngoài ra bổn phận trung thành với Hiến Pháp, được điều 54 xác nhận, bao gồm cả bổn phận bất tuân đối với các đạo luật chống lại Hiến Pháp. Bởi đó khi có môt hành vi do một cơ chế Hiến Pháp thiết định, ngay cả Chính Quyền và Quốc Hội, nếu hành vi đó là cách hành xử vi hiến, - người dân không những có quyền mà còn có cả bổn phận phải chống đối lại, -miễn là thái độ chống đối đó không phải là thái độ có thể vi phạm các quyền căn bản của người khác và để bảo vệ các cơ chế dân chủ. Như vậy khi cơ chế Quốc Gia thực hiện một động tác chống lại các nguyên tắc nền tảng của Hiến Pháp, người dân có quyền " phản động " đối kháng, kể cả đối kháng tập thể, như là phương thể cuối cùng " extrema ratio " để thiết kế lại tính cách pháp lý hiến định. Tùy trường hợp cách đối kháng đó có thể được thự hiện dưới hình thức bất tuân dân sự và có hay không bạo lực. Dân chủ của các Quốc Gia văn minh là vậy ! Quyền đối kháng hay " phản động " đối với những cách hành xử bất chính đều được các Hiến Pháp thiết định, minh nhiên hay mặc nhiên cũng vậy.

 

ANH EM HÃY ĐI VÀ LÀM CHO MUÔN DÂN TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ, LÀM PHÉP RỬA CHO HỌ NHÂN DANH CHA VÀ CON VA THÁNH THẦN... Phúc Âm Thánh Matthêu kết thúc bằng biến cố Chúa Phục Sinh hiện ra cho Nhóm Mười Một ở Galilea, với sứ mạng được sai đi và lời hứa bảo trợ. Phúc Âm không còn đặc tâm chú ý để thuyết phục về thực thể phục sinh nữa, mà chỉ có ý dẫn đến hậu quả của đức tin vào Chúa Kitô. 1 - Con số " Nhóm Mười Một " nhắc lại cho những ai đọc Phúc Âm rằng nhóm khởi đầu là " Nhóm Muời Hai ", bị thu bớt lại vì sự phản bội của của Giuda ( Mt 26, 14-16; 27, 3-10). Nhóm Mười Một đến gặp Chúa Phục Sinh được đánh dấu bằng kinh nghiệm của sự phản bội bất trung. Chúa Giêsu hiện ra giữa các Vị trên núi nầy ở Galilea, là điều thể hiện lời hứa đã được nói lên trong cuộc hành trình lâu dài ban đêm hướng về Giêrusalem: - " Nhưng sau khi tỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilea trước anh em " ( Mt 26, 32). Galilea là nơi các môn đệ được kêu gọi ( Mt 4, 18-22), vậy cũng là nơi Chúa Giêsu triệu tâp các môn đệ. Địa danh đó là nơi cách xa các cơ chế điều hành Đền Thờ Giêrusalem, cơ chế quyền lực chính trị , xa cách thành phố, nhưng là nơi khởi xuất sứ mạng của các Tông Đồ. Các môn đệ đến gặp Chúa Giêsu trên " một ngôn núi ": - " Mười một môn đi đệ đến miền Galilea, đến ngôn núi Chúa Giêsu đã truyền cho các ông đến " ( Mt 28, 16). " Ngọn núi " là địa danh nơi Thiên Chúa tỏ mình ra: - " Hãy lên núi với Ta và ở lại đó, Ta sẽ ban cho ngươi những bia đá: luật và mệnh lệnh Ta đẽ viết ra để dạy dỗ dân chúng " ( Ex 24, 12), Có lẽ khi viết câu Phúc Âm trên, Thánh Matthêu liên tưởng đến Cựu Ước, và những những địa danh mà Chúa Giêsu đã hiện diện: - các lúc Chúa Giêsu bị cám dỗ, - lúc Chúa Giêsu rao giảng Tám Mối Phước Thật, - lúc Chúa Giêsu được biến dạng, tỏ mình ra sáng láng. Các ngôn núi vừa kể đã được chiêm ngưởng một dòng dõi nhân loại mới được phát sinh và chiến thắng. Giờ đây trên ngọn núi ở Galilea, Chúa Phục Sinh hoàn hảo hóa cuộc chiến thắng đó của dòng dõi nhân loại mới, bởi lẽ cái chết đã bị khuất phục, một dòng dõi mới được năng động hoá bởi lề luật tình thương. 2 - " Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng một vài người hoài nghi " ( Mt 28, 17). Câu Phúc Âm vừa kể cho thấy Thánh Matthêu ghi nhận ngay những giây phút sinh nở đầu tiên của Giáo Hội, đã phát hiện ra thái độ hoài nghi. Ngài muốn làm cho chúng ta lưu ý các mối cảm tình và phản ứng trái ngược của Nhóm Mười Một môn đệ, trước sự hiện diện của Chúa Phục Sinh. Đức tin va hoài nghi là hai thái độ luôn luôn hiện diện trước mọi lần Chúa Phục Sinh hiện ra ( Mc 16, 14; 24, 11.41). Và không những vậy, ở những thời điểm khởi đầu, mà ngay cả lúc các môn đệ đồng hành với Chúc Giêsu ( Mt 8, 26; 14, 31; 16,8). 3 - Chúa Giêsu đầy uy quyền phán với các môn đệ: * " Thầy đã được trao toàn quyền trên trời, dưới đất " ( Mt 28, 18). " Thầy đã được trao toàn quyền ...", đây là hình thức thể thụ động thần học ( passif théologiaue), Chúa Giêsu nhận thức rằng Người đã được Chúa Cha trao cho mọi quyền. " Mọi quyền " là từ ngữ nói lên uy quyền và khả năng hành đông, được Chúa Cha trao cho. Và bởi vì Người là Chúa Con, nên quyền được trao cho phải được hiểu là quyền tối thượng, mà Người hành động hoàn toàn hoà hợp với ý muốn của Chúa Cha. " Trên trời, dưới đất ", cách dùng hai từ ngữ đối ngược " trời / đất " là thể thức nói lên đặc tình hoàn toàn, trọn vẹn: Chúa Giêsu xác quyết rằng Người có mọi quyền và hành động bất cứ ở đâu. Trong đời sống công cộng, không thiếu những trường hợp trong đó Chúa Giêsu xác nhận quyền thượng đẳng của mình, - khi Người giải thích Lề Luật theo ý muốn của Người: " Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: " Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý nuốn của Cha Thầy, l2 Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi " ( Mt 7, 21). - khi người tha tội lỗi: " Vậy để các ông biết, ở dước đất nầy, Con Người có quyền tha tội - bấy gờ Chúa Giêsu bảo người bại liệt - " Con hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà ! Người bại liệt đứng dậy đi về nha " ( Mt 9, 6). Và giờ đây là lần đầu tiên, Người công khai xác nhận rằng Người có quyền với trương độ tuyệt đối, " trên trời dưới đất ". Quyền tối thượng phổ quát đó của Chúa Giêsu là căn cội từ đó phát xuất sứ mạng phổ quát đều khắp.Nói tóm lại cả diễn từ của Chúa Giêsu gồm tóm tư tưởng phổ quát điều khắp hoàn hảo. Tỉnh từ " mọi, tất cả " được lập đi lập lại đến bốn lần: " mọi quyền " ( Mt 28, 18), " mọi dân nước " ( Mt 28, 19), " mọi điều Thầy đã truyền cho anh em " và " mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20). 4 - Quyền được giao cho Chúa Giêsu có ảnh hưởng quan trọng đến cộng đồng các môn đệ ( Mt 28, 19). Chúa Giêsu đã khai trương một phương thức mới, giờ đây được giao cho các môn đệ Người. Như Người đã đi để gặp các con người trong thời đại của Người, các môn đệ Người cũng phải ra đi làm như vậy. Sứ mạng làm Phép Rửa cho mọi dân tộc, nhân danh Chúa Ba Ngôi và " dạy họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em " thuộc về bản thể cấu trúc của cộng đồng các môn đệ: Giáo Hội tự bản thể của mình là cộng đồng truyền giáo. " Làm cho trở thành môn đệ " là mục đích của sứ mạng. Từ ngữ rất quan trọng, hàm chứa tất cả các ý nghĩa mà danh từ môn đệ có trong Phúc Âm, và đó ccũng là định nghĩa ngắn gọn và chính xác đời sống Kitô hữu. Người tín hữu Chúa Kitô không phải chỉ có bổn phận đem đến cho người khác một sứ điệp, mà là thiết lập nên sự liên hệ cá nhân với vị Thầy, đó mới là bổn phận tiên khởi, " làm cho trở thành môn đệ ", tức là người bước theo Chúa Giêsu. Trong trạng thái " môn đệ hay đệ tử " của Do Thái không đặt tầm quan trọng mối tương quan thầy- trò, như là điều kiện tiên khởi phải có, mà là phải học hiết lý lẽ mà thấy giảng dạy cho. Đó không phải là điều kiện người môn đệ của Chúa Giêsu: người môn đệ của Chúa Giêsu là người gắn chặt, khắn khít với Thầy và dấn thân chia xẻ đồ án cuộc sống với Người. Điều đó cho thấy mối tương quan thầy / trò trong người " môn đệ " của Chúa Giêsu, không phải là " học biết ", mà " bước theo " Chúa Giêsu: - " ...Lập tức các ông bỏ chài lưới, mà đi theo Người..., Lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà đi theo Người " ( Mt 4, 18-22). Như vậy việc " làm môn đệ " được thực hiện bằng cách đi theo Chúa Giêsu, sống theo lời Ngườig dạy bảo cho và theo hành động của Người. " Mọi dân tộc ", một vài câu xác quyết trong Phúc Âm Thánh Matthêu làm cho chúng ta có cảm tương rằng Phúc Âm ngài có những tư tưởng giới hạn, đóng kín, hay nói cách khác là có mặc cảm chỉ dành cho người Do Thái: - " Anh em đừng đi đến dân ngoại, đừng đi vào các thị xã dân Samaritani, đúng hơn anh em hãy chăm lo cho các con chiên thất lạc của nhà Israel " - " Ta không được sai đến, nếu không phải cho các con chiên lạc nhà Israel " ( Mt 15, 24). Nhưng giờ đây vào phần kết thúc Phúc Âm, nói một cách rõ ràng, chuân trời của sứ mạng được mở rộng ra cho cả thế giới: - " Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ..." ( Mt 28, 19). " Làm cho muôn dân trở thành môn đệ " không có nghĩa là tất cả đều phải hoán chuyển, theo Kitô giáo, mà là tác động truyền giáo phải được lan rộng đến hết mọi người. Cách diễn tả vừa kể làm chúng ta nhớ lại đặc tính phổ quát, cho hết mọi nguời, sứ mạng các môn đệ được sai đí, không loại trừ Israel: - " Các dân thiên hạ sẽ tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách chiên với dê " ( Mt 25, 32). Nếu đối với Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế, một sứ mạng giới hạn vào đất đai Israel, thì đối với Chúa Giêsu phục sinh, , sứ mạng được trải rộng ra cho mọi dân tộc. Phận vụ được giao cho các môn đệ là " làm Phép Rửa "" dạy bảo ": - " Làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần " ( Mt 28, 19). Phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả trước kia là phép rửa thống hối, một dấu chứng bên ngoài của lòng thành tâm thiện chí, Trái lại, Phép Rửa Kitô giáo là động tác hội nhập con người vào thông hiệp với Chúa Ba Ngôi, " nhân danh Cha và Con và Thánh Thần ". Qua Phép Rửa Kitô giáo, con người được hội nhập vào, kết hợp với Chúa Kitô và qua Người, được kết hợp với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người tín hữu Chúa Kitô nhận được Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu, - " vì được dìm trong cái chết của Người, chúng ta cũng đã cùng được mai táng với Người. Bởi vậy, cũng như Người đã được sống lại từ cỏi chết nhờ quyền năng của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một cuộc đời mới " ( Rom 6,4). Người tín hữu Chúa Kitô trở thành Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, - " Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trơng anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như vậy anh em đâu còn thuộc về thế gian nữa " ( 1 Cor 6, 19), và trở thành nghĩa tử của Chúa Cha: - " Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con, th2i cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa " ( Gal 4, 7). 5 - " Dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em " Mt 28, 20). " Tuân giữ " không chỉ có nghĩa là " gìn giữ, không quên đi ", mà còn áp dụng, hành động, thực hiện trong cuộc sống. Như vậy, người môn đệ Chúa Kitô không phải chỉ là người có trí óc nhớ dai những gì mình được dạy bảo, mà còn là người phải đem ra thực hiện trong cuộc sống và hành động như Chúa Giêsu đã làm và chỉ dẫn cho. Nói cách khác, người tín hữu Chúa Kitô phải biến đổi mình giống như Chúa Giêsu, thành một Chúa Giêsu thứ hai. Người tín hữu Chúa Kitô được mời gọi phải " tuân giữ ", tức là phải hành đông theo lời Chúa dạy bảo, phải là người rao giảng Phúc Âm cho người khác bằng đời sống, trước khi bằng lời nói. Ai đón nhận lời giảng dạy của các môn đệ, sẽ là người được kêu gọi nhân chứng, làm cho người khác thấy được bằng đời sống cuộc sống môn đệ Chúa Kitô của mình. Người môn đệ là nguời có bổn phận giải thích lời của Vị Thầy bằng gương mẫu đời sống. Trên thực tế, điều đó được Chúa Giêsu dạy một cách ngắn gọn: - " Vậy tất cả những gì anh em muốn người khác làm cho mình, anh em hãy làm cho người ta ..." ( Mt 7, 12). Nói cách khác, đó là tình yêu đối với Chúa và đối với anh em: - " Tất cả Luật Moisen và các sách Ngôn Sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy " ( Mt 22, 40). Đó là sứ mạng mà Chúa Giêsu giao phó cho các môn đệ và các người tín hữu Chúa Kitô, con cái của các vị trong đức tin, tức là tất cả chúng ta. 6 - Sứ mạng Chúa Phục Sinh giao cho các môn đệ được bảo đảm. - " Thầy ờ cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20). Thánh Matthêu đã đề cập đến chủ đề nầy ngay khi khởi sự Phúc Âm của ngài. Chúa Giêsu là Đấng thực hiện lời hứa cho Acaz: Người là Đấng Emmanuel - " Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu:nầy đây người trinh nữ mang thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Emmanuel" ( Is 7, 14), là Thiên Chúa ở cùng chúng ta: - " Bà sẽ sinh một con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Tất cả sự việc nầy đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia: Nầy đây Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, con trẻ sẽ được gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta " ( Mt 1, 22-23). Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế của Người, Người đã chỉ cho con đường phải đi theo. Giờ đây, là Chúa Phục Sinh, Người ban cho sức mạnh để bước đi. Sức mạnh đó thoát xuất từ sự hiện diện của Người, Người vẫn là động lực thúc đẩy cho công đồng Giáo Hội, liên hợp với Người và tùy thuộc vào Người. Người không từ biệt các môn đệ Người, bởi vì Người không rời xa các vị, chỉ thay đổi sự hiện diện. Cuộc hẹn ước gặp nhau ở Galilea là để nhắc nhớ rằng Người luôn luôn hiện diện với các vị. Đây là lần hẹn cuối cùng với các môn đệ, nhưng là lần hẹn nhau đầu tiên cho tất cả mọi người. Ta sẽ ờ cùng anh em cho đến khi nào cho đến thời gian nầy kết thúc. Đó là cầu xác định, mà qua câu đó Thánh Matthêu kết thúc Phúc Âm. Đó là một câu kết thúc bất ngờ; Chúa Phục Sinh không ra đi, Người đã sống lại đê luôn luôn ở giữa các môn đệ Người, Lời hứa, mà danh tánh Chúa Giêsu nói, lên, " Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Emmanuel ", vẫn được giữ nguyên vẹn. Sứ mạng của các môn đệ, của người tín hữu Chúa Kitô, của Giáo Hội được Chúa Giêsu bảo đảm, trong Giáo Hội có Chúa Giêsu Phục Sinh: - " Nầy đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế ".

 

Nhiều năm trước đây, sau khi Cộng Sản Liên Bang Sô Viết và Đông Âu sụp đổ trên mười mấy năm trước đó, chúng tôi có viết một bài liên quan đến ĐTC Gioan Phaolồ II, trong đó có người cho rằng Cộng Sản sụp đổ, nhờ có ĐTC Gioan Phaolồ II " làm chính trị ". Để làm sáng tỏ vấn đề ĐTC thực sự như thế nào có " làm chính trị " hay " không làm chính trị ", trên cương vị của một nhà lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi có trích lại đoạn phỏng vấn của hai ký giả Enzio Mauro và Paolo Mieli của tờ nhật báo La Stampa, một trong những nhật báo lớn nhứt nhì Ý Quốc như sau: - " Kính thưa Đức Thánh Cha, người ta đồn rằng Đức Thánh Cha làm chính trị, Đức Thánh Cha nghĩ sao?". - " Tôi nghĩ rằng không thể hiểu chính trị theo nghĩa hẹp. Nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm, nhưng trong Phúc Âm có con người. Sự tôn trọng đối với con người, tức là nhân quyền, tự do lương tâm và tất cả những gì thuộc về quyền sống xứng đáng của con người. Nếu tất cả những điều đó có một giá trị chính trị, thì đúng Đức Giáo Hoàng có làm chính trị. Nhưng Ngài luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người" ( Ezio Mauro e Paolo Mieli, " Giovanni Paolo" II, La Stampa 04.03.91, p.2). Qua câu trả lời vừa kể, chúng ta thấy được ĐTC xác nhận phương thức " làm chính trị phải có " của ngài, cũng như của bất cứ một vị lãnh đạo tôn giáo ở cấp bậc nào, để " luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người ". Dĩ nhiên không phải chỉ có một mình ĐTC, một mình ngài ảnh hưởng tác động phải có, như điều phải có của các vị lãnh đạo tôn giáo, làm cho Cộng Sản sụp đổ. Nhiều nhân vật có kinh nghiệm trong chính trị cho rằng ảnh hưởng của ĐTC Gioan Phaolồ II đến việc sụp đổ của Công Sản chủ nghĩa chỉ là ảnh hưởng nhỏ nhặt, một phân nào đó, hay chỉ là ảnh hưởng phiến diện. Điều đó, chúng ,tôi xin nhường lại cho các vị hiểu biết về chiến thuật, chiến lược, kinh tế, xã hội, ngoại giao khai triển thêm chi tiết. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói đến ảnh hưởng của ĐTC Gioan Phaolồ II qua động tác không ngừng rao giảng khắp nơi sứ điệp Phúc Âm, tín lý công giáo của ngài, sức mạnh mà không gì có thể thắng được trong trái tim con người. Sự góp phần của ĐTC Gioan Phaolồ II cho sự sụp đổ Cộng Sản chủ nghĩa được thể hiện qua các động tác và lời giảng dạy của ngài, cũng như chính vì ngài, một Vị Lãnh Đạo Tối Cao của Giáo Hội Công Giáo lại là người đồng hương với Thánh Stanislaw, với chủ tịch Cộng Đoàn Lao Động Solidarnosc và với Leck Walesa, cho thấy dầu cục đá có cứng đến đâu đi nữa, sớm muộn gì rồi cũng sẽ bị đâm thủng và cũng cho thấy rằng Giáo Hội Công Giáo không cần dựa trên bao nhiêu sư đoàn để có thể chiến thắng trên sự ác, trên những gì ngược lại bản tính con người. Và đây là câu nói của ĐTC Gioan Phaolồ II không lâu sau khi Cộng Sản ở Liên Bang Sô Viết sụp đổ: - " Chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm của giai đoạn vừa được kết thúc đã chứng minh ngược lại: tôn giáo và Giáo Hội đã tỏ ra là yếu tố giữa những yếu tố hữu hiệu nhứt để giải phóng con người khỏi một hệ thống toàn trị hoàn toàn nô lệ hoá con người " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Discorso per l'apertura dei lavori dell'Assemblea Speciale per l'Europa dei Sinodi dei Vescovi, 05.06.1990) Đối với chủ thuyết Mác Xít và phương thức thực hành của người Cộng Sản, dĩ nhiên ĐTC Gioan Phaolồ II không lên tiếng giảng dạy các chủ thuyết và các kỳ vọng giá trị mà thế giới Tây Âu ngưỡng mộ, trong đó - thế tục chủ nghĩa, - tự do xả láng chủ nghĩa ( libertà sfenata), - tương đối chủ nghĩa - và được phép chủ nghĩa (permissivismo, hay nề luân lý co giãn dây thung) đã tạo nên bóng tối lệch hình cho thế giới Kitô giáo. Ngoài ra, mặc dầu ghi nhận những sai trái đã làm cho thế giới Cộng Sản chao đảo và sụp đổ ngoạn mục, ĐTC cũng đặc tâm lưu ý nói lên những nguy hiểm mà nhà thần học Michele Federico Sciacca gọi là " chủ thuyết tây âu " ( occidentalismo ) ( Michele Federico Sicaccia, L'oscuramento dell'intelligenza, Marzorati, Milano 1970, II parte, 91ss), như những gì vừa kể. ĐTC vẫn tiếp tục giảng dạy theo đường lối tín lý và mục vụ phận vụ giáo hoàng của ngài. 1 - Trong buổi nói chuyện với Ngoại Giao Đoàn được Toà Thánh Vatican chấp nhận, ngày 13 tháng giêng năm 1990, ngài đã cảnh tỉnh các viên chức như sau: - " Varsavia, Moscu, Budapest, Berlin, Praga, Sofia và Bucarest, để chỉ đề cập đến các thủ đô, thực sự đã trở thành những chặng đường của cuộc hành hương lâu dài hướng về tự do. Chúng ta cần ngưỡng mộ đối với các dân tộc, mặc cho giá phải hy sinh bao la, họ đã can đảm bắt đầu cuộc hành trình nầy và ngưỡng mộ đối với các nhà chính trị có trách nhiệm đã tạo điều kiện thuận lợi cho ( ...). Rất tiếc, quá thường xuyên nền dân chủ tây phương đã không biết dùng tự do đã đạt được trong quá khứ với các giá phải trả thật đau sót. Không thể thiếu cay đắng trách móc trước thái độ khiếm diện hữu ý, không màn gì đến luân lý siêu nhiên trong việc quản trị các xã hội " được gọi là phát triển ". Bên cạnh những phát triển rộng lớn về liên đới hỗ tương, bên cạnh lo âu thiết thực về thăng tiến công lý và một lo âu liên ủy về việc tôn trọng thực hữu các quyền con người, cần phải nhận thức được sự hiện hữu và lan tràn thái độ chống đối các giá trị, như chủ thuyết ích kỷ, tôn thờ tiền bạc như thần tượng, kỳ thi chủng tộc và chủ thuyết vật chất hoá thiết thực. Ước gì những người mới đến được tự do và dân chủ không bị làm cho thất vọng bởi những ai một cách nào đó là những đàn anh, những " bậc trưởng thượng ". 2 - Trong diễn từ của ngài trước Đại Hội Khoáng Đại Thánh Bộ Văn Hoá, ngày 12.01.1990, ĐTC Gioan Phaolồ II còn lưu ý: - " Một vài bức tường đã sụp đổ. Một vài cửa biên giới đã được mở rộng ( ...). Một chủ thuyết cứu dộ trần thế đã đổ nát và trên thế giới đang nảy sinh ra lòng khao khát một niềm công lý mới ( ...). Tất cả đều đòi buộc phải có một nền văn minh mới đầy nhân bản, trong thời điểm hiện đại đặc ân mà chúng ta đang sống và niềm hy vọng bao la đó của nhân loại không thể bị lơ đãng bỏ rơi ". Và ngài còn cảnh tỉnh: - " Không thiếu những rủi ro của ảo tưởng và thất vọng. Luân lý thế tục đã có kinh nghiệm về những giới hạn của mình và khám phá ra rằng con người bất lực trước những thí nghiệm khủng khiếp được thực hiện trên con người, bị coi như chỉ là những đồ vật đơn sơ của phòng thí nghiệm. Con người cảm thấy bị hăm doạ tận gốc rễ trước các đường lối chính trị tùy hỷ quyết định trên đời sống mình hay trên lúc nào mình phải chết, trong khi đó thì luật pháp của hệ thống kinh tế ảnh hưởng nặng nề trên đời sống gia đình mình. Khoa học thú nhân mình bất lực để trả lời cho những câu hỏi to lớn về đời sống, về tình yêu, đời sống xã hội và về cái chết. Và chính những người đặc trách Quốc Gia dường như cũng nghi ngại, không biết phải đi theo con đường nào để xây dựng thế giới hữu nghị và liên đới mà tất cả mọi người đương thời chúng ta đang lớn tiếng đòi hỏi, trong quốc gia cũng như trên tầm mức lục địa " Bởi đó, ngài kết luận: - " Chính phận vụ của người nam và người nữ có văn hoá phải suy tư đến tương lai nầy trong ánh sáng Kitô giáo mà họ đang ước vọng ". 3 - Ở Bài Giảng trong Thánh Lễ cử hành tại thánh điện Velehrad, Chúa Nhật 22.04.1990, ĐTC chỉ dẫn: - " Đêm đã qua đi, ngày mới đã đến. Cuộc hành hương của Anh Chị Em hướng về tự do còn phải được tiếp tục. Anh Chị Em hãy bước đi như là con cái ánh sáng ( Eph 5, 8). Nếu chỉ có tự do bên ngoài thôi, không có được cuộc giải thoát bên trong, tự do đó sẽ tạo nên hỗn loạn. Anh Chị em hãy ở lại trong tự do , mà vì tự do đó Chúa Kitô đã giải thoát Anh Chị Em ( Gal 5, 1). Sự hiệp nhứt giữa tự do bên ngoài và tự do bên trong phải kiến tạo Âu Châu của ngày mai, nền văn minh tình thương và chân lý; và mối hiệp nhứt đó được đặt trên Chúa Kitô, viên đá góc tường. Anh Chị Em hãy tiếp tục bước đi hướng về tự do trọn hảo ". Bởi đó khuôn mẫu để đi theo không phải là khuôn mẫu của dân chủ hiện đại, được đặt nền tảng trên bất khả tri chủ nghĩa ( agnosticisme) và trên tương đối chủ nghĩa ( relativisme). Giáo Hội Công Giáo luôn luôn tôn trọng tất cả các hình thức chính quyền, khi các chính quyền đó thực sự là chính quyền với đầy đủ ý nghĩa, nghĩa là khi họ tìm cách tạo được công ích, trong khi trái lại, Giáo Hội chưa bao giờ chấp nhận hình thức dân chủ tân tiến hiện đại ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Il mio Evoluzione dêl concetto di democrăzia, in Quaderni di Cristianità, anno I, n.3. 1985, pp. 14-33). Bởi vì nền dân chủ vừa kể không có gì hơn ngoài cái định chế " tùy theo ý kiến "..... 4 - Trong Thông Điệp Cenesimus annus, ĐTC Gioan Phaolồ II xác định một cách minh bạch: - " Một nền dân chủ đích thực chỉ có thể có được trong một Quốc Gia pháp trị và dựa trên một quan niệm chính đáng về con người (...). Ngày nay người ta có khuynh hướng xác nhận rằng bất khả tri chủ nghĩa và tương đối chủ nghĩa bi quan là triết lý và thái độ nền tảng đáp ứng lại các thể thức chính trị dân chủ, và có khuynh hướng xác nhân rằng bao nhiêu người xác tín mình biết được chân lý và chặt chẽ gắn chặt vào đó. Đó là những người không đáng tin cậy dưới nhãn quang dân chủ, bởi vì họ chỉ chấp nhận chân lý những gì được đa số đồng thuận chấp nhận hay có thể thay đổi tùy theo các đẳng cấp quân bình chính trị khác nhau. Về vấn đề vừa kể, cần lưu ý rằng, - nếu không có chân lý nào là chân lý tối thượng để hướng dẫn và định hướng động tác chính trị, - thì các ý kiến và các xác tính có thể dễ dàng bị lợi dụng cho mục đích quyền lực. Một nền dân chủ không có các giá trị định chuẩn có thể dễ dàng trở thành thể chế toàn trị công khai hoặc giấu diếm mánh lới, như lịch sử chứng minh ( CA, n. 46). ( Để tránh cho bài viết quá dài, người viết xin tạm bỏ qua các bài diễn văn mà ĐTC gởi các cộng đồng Kitô hữu Âu Châu về nền tảng căn nguyên của nền văn minh Âu Châu, mà đáng lý Âu Châu phải có, để tiếp tục tư tưởng của ngài trong Thông Điệp Centesimus annus, về sự thất bại Cộng Sản Chủ Nghĩa của Liên Bang Sô Viết và Đông Âu). Đề cập đến những thay đổi mới xảy ra trước đó của Cộng Sản Chủ Nghĩa Liên Bang Sô Viết và Đông Âu, ĐTC cho biết không có gì sai sự thật hơn là coi tôn giáo như là yếu tố làm băng hoại con người, như chủ thuyết Mác Xít đã chủ trương và thực hành: - " Chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm của khoảng thời gian vừa mới kết thúc, xác quyết sự thật hoàn toàn sai trái: bởi lẽ tôn giáo và Giáo Hội đã tỏ ra là những yếu tố hữu hiệu để giải thoát con người khỏi một hệ thống biến con người hoàn toàn thành nô lệ " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Discorso per l'apertura dei lavori dell'Assemblea Speciale per l?Europa del Sinodo dei Vescovi, 05-06.1990). Cộng Sản đã sụp đổ ở Liên Bang Sô Viết và Đông Âu, ĐTC Gioan Phaolồ II không cho đó là cuộc chiến thắng của ngài, cũng không phải trực tiếp do công sức của Giáo Hội, bởi vì ngài nghĩ rằng: - Giữa nhiều yếu tố làm cho các chế độ đàn áp bị sụp đổ, " yếu tố chính " đó là do " * sự vi phạm các quyền làm việc " * và " yếu tố thứ hai " ( ...) là tính cách bất hiệu năng của hệ thống kinh tế ", nhưng đó không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật, đúng hơn đó là hậu quả của việc vi phạm các quyền có sáng kiến của con người, vi phạm đến quyền tư hữu và đến quyền tự do trong lãnh vực kinh tế " ( CA, 01.05.1991, n. 24). Dầu như vậy, nhưng nguyên nhân đích thực - " chính là tình trạng trống rỗng thiêng liêng do vô thần chủ nghĩa tạo nên. Chủ thuyết đó đã làm cho bao thế hệ trẻ thiếu định hướng và trong không ít trường hợp, trong việc con người tìm kiếm, ước vọng ta không thể nào loại bỏ được, đó là tìm tòi chính căn tính của mình và ý nghĩa của cuộc sống. Chủ thuyết vừa kể đã thúc đẩy các thể hệ trẻ khám phá ra các căn cội tôn giáo của văn hoá Quốc Gia họ và tìm ra được chính con người Chúa Kitô, như là câu trả lời nền tảng thoả đáng cho lòng hưóng thiện, ước muốn chân lý và đời sống trong tâm hồn của mỗi con người " ( CA, n. 24). Sự kiện là - " Trong công cuộc hoán chuyển đó, một sự cộng tác quan trọng, hay đúng hơn là quyết định, Giáo Hôi đã dấn thân cung cấp vào công cuộc đóng góp quan trọng để bênh vực và thăng tiến con người: trong những bối cảnh nặng trĩu ý thức hệ, trong đó trạng thái đứng về một phía làm lu mờ đi ý thức được phẩm giá chung của con người, Giáo Hội đã xác nhận một cách đơn sơ và đầy nghị lực rằng mỗi con người ( ...) mang nơi mình hình ảnh Thiên Chúa và bởi đó mỗi con người đáng phải được kính trọng. Xác tín đó thường được đại đa số dân chúng nhận biết, và đó là điều khiến cho họ cùng tìm ra những hình thức tranh đấu và những giải pháp chính trị tôn trọng phẩm giá con người hơn " ( CA, n. 22).

 

A - CHÍNH TRỊ LÀ GÌ? 1 - Qua các thế kỷ, các mối tương quan giữa người tín hữu Chúa Kitô và chính trị đã trải qua như thế nào? * Các mối liên hệ giữa chính trị và người tín hữu Chúa Kitô, giữa tổ chức cơ chế Quốc Gia và Giáo Hội, qua các thế kỷ và trong các Quốc Gia khác nhau, đã gặp phải những biến chuyển phức tạp trên lãnh vực nguyên tắc, cũng như trong các lãnh vực thực hành cụ thể. * Phương thức quan niệm và thực hành các mối tương quan đó cần phải lưu tâm đến các bối cảnh lịch sử, xã hội và tôn giáo khác nhau. * Những dòng suy tư dưới đây đặc biệt được dựa trên các tài liệu của Giáo Hội trong 50 năm cuối cùng vừa qua, nhứt là trên - Hiến Chế Gaudium et Spes, - Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, - Bộ Giáo Luật, - Tổng Lược Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. 2 - Theo đức tin Kitô giáo, mục đích của chính trị là gì ? Chính trị được hiểu như là các động tác đa dạng và khác nhau về kinh tế - xã hội - luật pháp - quản trị - văn hoá. Nguời tín hữu Chúa Kitô chuyên cần trong chính trị phải a) Đối với con người và xã hội dân sự. - bảo vệ và phát huy các quyền căn bản, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, phẩm giá và quyền bình đẳng của tất cả; - thi hành các phận vụ của mình, như là phận vụ phải phục vụ con người và xã hội; - phát huy các giá trị căn bản và dùng các phương thức chính đáng và thích hợp để thực hiện công ích, công lý và hoà bình; - xử dụng các đức tính tự nhiên, như những gì nền văn minh cỗ Hy Lạp đã nói lên một cách chính đáng phải có; và đó là bốn đức tính định điểm cho cuộc chung sống nhân loại: đức khôn ngoan, đức công bình, lòng can đảm và đức tính có điều độ. b) Đối với công quyền, người tín hữu Chúa Kitô phải - dùng các phương tiện ngay chính để đạt được, giữ vững và tăng thêm quyền lực công quyền. - hành xử quyền lực được dân chúng ủy thác không thiên vị, bè phái và theo phương thức dân chủ. - tạo mọi điều kiện dễ dàng để thông tin loan báo và để cho dân chúng tham dự một cách dân chủ vào quyền lực Quốc Gia, trong khi vẫn tuân giữ kính trọng nguyên tắc liên đới hỗ tương, nhứt là đối với những người nghèo khổ, yếu kém, thành phần thiểu số. - thực hiện một nền quản trị trong sáng trong lãnh vực nhân sự và quản trị tài nguyên công cộng, cùng với việc tiêu xài một cách thành thật chính đáng công qủy. - nhận biết và tồn giữ một cách chính đáng các quyền của phe đối lập. c) Đối với nhân loại: - phát huy tình liên đới hỗ tương, lợi ích và hoà bình giữa các dân tộc. - sắp xếp các mối đụng chạm bất hoà bằng đối thoại. - thực hiện và tang cường vững mạnh một tổ chức quốc tế, trong tôn trọng các nguyên lý gợi ý cho một một thể chế pháp luật thích hợp với trật tự luân lý. - thực hiện công ích. 3 - Công ích có những đòi buộc nào? a) Công ích - " được thực hiện thành một tổng thể các điều kiện xã hội cho phép và tạo dễ dàng cho con người, cho gia đình và các tổ chức xã hội trung gian ( gia đình, học đường, hiệp hội, chính đảng, tổ chức công đoàn) có thể đạt được đầy đủ và nhanh chóng sự triển nở hoàn hảo chính mình (Gaudium et spes ( GS), 26). - Vì là của tất cả và của mỗi người, nên công ích là và vẫn sẽ là công cộng, bởi vì không thể phân chia và bởi vì chỉ có khi nào là tổng thể của chung, cá nhân cũng như tổ chức xã hội trung gian mới đạt đến được, làm cho công ích phát triển được và gìn giữ bảo vệ được, cả trước viễn ảnh hướng về tương lai " ( GS, 164). b) Lợi ích - là lợi ích của tất cả mọi người và của của cả con người toàn diện ( uomo integrale) ( Christifideles laici, 42). - đòi buộc phải làm sao cho phép con người có thể đạt đến được những những gì cần thiết , để cho con người có được một cuộc sống xứng đáng với con người " ( GS, 26). - có liên hệ đến quan niệm toàn diện về con người và về sự triển nở của con người, theo cả sự giàu có sung mãn mà con người được cấu trúc; - đòi buộc công cuộc chuyên cần dấn thân của tất cả và của mỗi người, mặc dầu dưới nhiều thể thức và bằng nhiều phương thức khác nhau và bổ túc cho nhau theo hình thức, phận vụ và trách nhiệm. Công ích là tìm kiếm " lợi ích cho tất cả và cho mỗi người, bởi vì tất cả hãy chịu trách nhiệm đối với tất cả "( Sollecitudo rei socialis ( SRS), 38).Công ích cho con người không thể thực hiện được, tự lập đối với công ích của cộng đồng, mà con người tùy thuộc vào đó. - cũng bao gồm cả tầm mức kinh tế, mặc dầu không phải chỉ kết thúc vào kinh tế. Công ích gồm có mối đươn kết trật tự giữa ba phương diện không thể thiếu của việc phát triển: kinh tê, xã hội và nhân bản. 4 - Bao giờ một xã hội được xem chính đáng là dân chủ, theo quan niệm Kitô giáo? - Khi xã hội được đặt trên một tổ chức Quốc Gia được thiết lập một cách chính danh, trong đó luật pháp ở địa vị tối thượng chớ không phải ý muốn tùy hỷ của những con người hành quyền. Một Quốc Gia như vừa kể đói buộc phải có * những cuộc tuyển cử tự do và phổ quát; * quan niệm chính đáng về phẩm giá con người và phải có những phương thức tiền liệu bảo đảm các quyền của con người; * nhãn quan và thực hiện hợp lý công ích, như là mục đích và định chuẩn xếp đặt đời sống chính trị: * sự tham dự đều khắp và cùng đồng trách nhiệm của người dân, ở nhiều tầm mức khác nhau và tùy khả năng khác nhau của các đương sự; * sự kính trọng quyền tự lập của chính mình và cũng như của người khác, trong các lãnh vực chính trị, văn hoá, kinh tế, tôn giáo. 5 - Trong một xã hội dân chủ, chủ thể của quyền lực chính trị là dân chúng, nói một cách tổng quát tất cả dân chúng là chủ nhân quyền tối thượng của Quốc Gia. Cộng đồng chính trị được thiết lập để phục vụ xã hội dân sự, và nói cho cùng, là để phục vụ con người và các tổ chức xã hội trung gian, thành phần của Quốc Gia. Bởi đó quyền lực chính trị phải - bảo đảm trật tự và trôi chảy cho cộng đồng Quốc Gia, bằng cách phát huy công ích. - tôn trọng nguyến lý " phụ túc bảo trợ " ( sussidiarietà ), tức là cơ chế Quốc Gia không được thay thế tự do hoạt động của cá nhân hay tổ chức xã hội trung gian, mà dúng hơn là thiết định lằn mức pháp luật định chế và nâng đỡ trong trường hợp cần thết. - để cho mình được hướng dẫn bởi lề luật luân lý. Đó là lề luật được đặt nền tảng trong Thiên Chúa, Nguyên Lý tiên khởi và Cùng Đích của mọi tạo vật ( ĐTC Gioan XXIII, Pacem in terris, 270). Chính từ lề luật luân lý đó, mà quyền lực chính trị diễn dịch ra được các đức tính có hiệu lực bắt buộc và đặc t1inh luân lý chính danh của các động tác mình, chớ không phải từ các suy tư tùy hỷ và lòng ước muốn của quyền lực. - nhận biết, kính trọng và phát huy các giá trị và luân lý căn bản của con người. - phổ biến các lề lluật chính đáng, tức là những luật lệ thích hợp với phẩm giá con người và với tiếng nói của lương tâm chính đáng. Bởi đó người dân không bị lương tâm bắt buộc phải tuân theo các chỉ thị của Chính Quyền, nếu những chỉ thị đó ngược lại các đòi buộc luân lý, ngược lại các quyền căn bản của con người hay ngược lại các huấn dạy Phúc Âm. - trù hoạch các hình phạt tương xứng với tầm quan trọng của tội phạm, và với mục đích nhằm sửa chữa lại rối loạn do sai lỗi gây nên, bảo đảm trật tự công cộng và an ninh cho con người, góp phần sửa đổi và thu lươm lại cá nhân và đoàn thể tội phạm. 6 - Làm thế nào để thực hiện tính cách trần thế trong tổ chức Quốc Gia? " Không phải là đặc tính trần thế, mà là băng hoại thành thế tục chủ nghĩa, thái độ thù nghịch mọi sụự hiện diện của một đường lối chính trị và văn hoá tôn giáo, một cách cá biệt, chống đối lại mọi biểu tượng tôn giáo trong các tổ chức công cộng. Cũng vậy, không phải là dấu hiệu đặc tính trần thế lành mạnh thái độ khước từ - cộng đồng kitô giáo, và một cách cá biệt khước từ đối với những người chính danh đại diện cho cộng đồng đó, - quyền được nói lên các vấn đề luân lý mà ngày nay đang kêu gọi đến lương tâm của tất cả mọi người, nhứt là lương tâm của những nhà lập pháp. Điều vừa kể không có đó nghĩa là sự xâm nhập của Giáo Hội vào tác động lập pháp, tác động chuyên biệt và chỉ dành cho Quốc Gia, nhưng đó chỉ là xác định và bênh vực các giá trị cao cả làm cho cuộc sống con người có ý nghĩa và là để bảo vệ phẩm giá con người. Những giá trị đó, trước khi là những giá trị Kitô giáo, là những giá trị nhân loại, bởi đó khiến cho Giáo hội không thể dững dưng và im lặng. Giáo Hội có bổn phận tuyên bố một cách cứng rắn chân lý về con người và về số phận của con người " ( ĐTC Benedictus XVI, Discorso all'Unione Giuristi Cattolici Italiani, 09.12.2005).

 

Cộng Hoà Liên Bang Đức hiện tại là một trong những Quốc Gia tân tiến nhứt Âu Châu. Nhưng không ai có thể quả quyết như vậy cách đây khoảng 50 năm, trước năm 1949, khi Hiến Pháp hiện hành chưa được tuyên bố. Cộng Hoà Liên Bang Đức lúc đó là một Quốc Gia bị đổ nát kiệt quệ, thua trận trong thế chiến thứ II, đang bị quân đồng minh chiếm đóng, vừa thoát khỏi cơn ác mộng độc tài của Hitler đã đưa đến chiến tranh và đại họa. Hiến Pháp 1949 được soạn thảo trong hoàn cảnh bi đát đó của đất nước, các vị trong Quốc Hội Lập Hiến phải nghĩ ra một Hiến Pháp, văn bản nền tảng trên đó xây dựng lại đất nước, chứa đựng những điều kiện tránh tại họa có thể tái diển do cách hành xử tác oai tác quái tùy hỷ của những ai thi hành quyền lực Quốc Gia. Một số các điều kiện tiền liệu đó được các vị suy nghĩ khi đề cập đến vai trò Quốc Hội trong tương lai. Và đó là đề tài của bài viết, chúng ta cùng nhau đọc để suy nghĩ cho tương lai đất nước, khi chúng ta có cơ hội kiến tạo lại Quê Hương thân yêu của chúng ta. Như hầu hết các Quốc Gia Đại Nghị Chế Âu Châu, Quốc Hội Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Hội Lưỡng Viện, Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag)Thượng Viện Liên Bang ( Bundesrat). A - Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag). I - Thể thức bầu cử: Hạ Viện Liên Bang là một cơ quan đại diện cho dân chúng khắp Liên Bang, được tuyển chọn qua các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín: - “ Các dân biểu Hạ Viện Liên Bang được tuyển chọn qua các cuộc bầu phiếu phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín. Các Hạ Nghị Sĩ là những người đại diện cho toàn dân Đức, không bị ràng buộc bởi mệnh lệnh hay chỉ dẫn của ai và là những người chỉ phải tuân theo lương tâm của mình“ (Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ( CHLBD). Nhiệm kỳ của Hạ Viện Liên Bang là bốn năm: - “ Hạ Viện Liên Bang được tuyển chọn cho mỗi bốn năm. Hạ Viện Liên Bang mãn nhiệm cùng với phiên họp đầu tiên của Hạ Viện mới (Điều 39, id.). Dân chúng có quyền bầu cử và ứng cử vào Hạ Viện Liên Bang khi đến 18 tuổi trưởng thành: - “ Mọi công dân đến 18 tuổi trưởng thành đều có quyền bầu cử và ứng cử vào Hạ Viện (Điều 38, đoạn 2, id.).( phần ứng cử hội đủ 18 tuổi và phải có quyền công dân Đức ít nhứt là một năm , được tu chính án xác nhận năm 1970). Mỗi Hạ Nghị Sĩ đều được hưởng các đặc quyền trong khi thi hành chức vụ của mình: a) Không thể bị xét xử hay phạt vạ kỷ luật: - “ Các Hạ Nghị Sĩ không bao giờ có thể bị đưa ra xét xử hay phạt vạ kỷ luật, cũng không thể bị đòi buộc phải giải thích ngoài Hạ Viện Liên Bang, về các ý kiến và việc bỏ phiếu của mình trong Quốc Hội hay trong các Ủy Ban quốc Hội “ (Điều 46, Hiến Pháp 1949 CHLBD). b) Được miễn nhiểm khỏi bị bắt bớ giam cầm hay khỏi bị giảm thiểu tự do dưới bất cứ hình thức nào khác, nếu không được chính Hạ Viện Liên Bang cho phép (Điều 47, đoạn 2, id.) c) “Các Nghị Sĩ Hạ Viện có quyền từ chối làm chứng đối với nhưng người đã tin tưởng bày tỏ cho họ, với tư cách là dân biểu Quốc Hội, những dữ kiện, hay đối với những người mà chính các dân biểu đã thân tín thông tin với tư cách dân biểu của họ. Dựa trên giới hạn của quyền được từ chối làm nhân chứng nầy, không ai có quyền trưng thu tài liệu liên hệ “ (Điều 47, id.). Về cách thức bầu cử Hạ Viện Liên Bang, cả lãnh thổ Quốc Gia được chia thành 328 đơn vị bầu cử đơn danh, phân nửa tổng số dân biểu của Hạ Viện là 656. Mỗi cử tri, trên cùng một tấm thẻ có hai phiếu: - phiếu thứ nhứt ( Erststimme) là phiếu dành cho cử tri chọn một trong số các ứng cử viên trong đơn vị, theo phương thức đơn danh. Ai là người được nhiều phiếu nhứt, dù là đa số tương đối cũng được đắc cử. - phiếu thứ hai ( Zweitstimme) là phiếu dùng để cử tri chọn một trong các danh sách các ứng cử viên thuộc các chính đảng khác nhau trong vùng ( Landeslisten), theo phương thức đa số tỷ lệ. Số phiếu ở mỗi đơn vị hợp chung lại với số phiếu toàn quốc thành tổng số và chia ra, cứ mỗi 60.000 phiếu là chính đảng liên hệ có được cửa một dân biểu vào Hạ Viện ( Lá phiếu được vớt lai ) Qua những gì vừa trình bày, chúng ta thấy phương thức bầu cửa ở Công Hoà Liên Bang Đức là phương thức tổng hợp giữa cách - bầu cử theo đơn danh đa số ( uninominale) của Anh Quốc, vị dân biểu được chọn ở dòng đầu, -nhưng cũng là phương thức bầu cử theo đa số tỷ lệ ( maggiorité proportionelle) để cho mọi thành phần cử tri đều có thể chọn được vị dân biểu của mình, có tiếng nói của mình trong Quốc Hội. Nhưng để tránh sự sinh sôi nẩy nở quá đáng các chính đảng trong dân chúng, phương thức bầu cử của Cộng Hoà Liên Bang Đức đưa ra một lằn mức để ngăn chận, ( Sperrklausel ): một chính đảng muốn được công nhận là chính đảng sinh hoạt trong lòng Quốc Gia phải đạt đến ít nhứt 5% số phiếu toàn quốc hay có ít nhứt 3 dân biểu được bầu ở đơn vị theo phương thức đơn danh. II - Tổ chức nội bộ. Hạ Viện Liên Bang có quyền tự lập trong tổ chức nội bộ. - Các thành viên của Hạ Viện có quyền chọn Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch và các Thư Ký. - Thường thì Chủ Tịch Hạ Viện được chọn giữa những người thuộc các chính đảng có đa số tương đối. - Nhiệm kỳ của những chức vụ được chọn tồn tại cho đến khi Hạ Viện mãn nhiệm. - Hạ Viện có quyền soạn thảo nội quy của mình (Điều 40, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD). - Hạ Viện có quyền kiểm soát các cuộc bầu cử và quyết định một nghị viên nào đó có còn thuộc thành phần của Hạ Viện hay không (Điều 41, đoạn 1, id.). - Các quyết định của Hạ Viện, nhứt là đối với việc “ chuẩn y hay bác bỏ luật pháp ” , phận vụ chính của Quốc Hội, không có tính cách vĩnh viễn. Bỡi lẽ nhiều cơ chế khác của Quốc Gia ( Chính Quyền Liên Bang, 1/3 dân biểu Hạ Viện hay Chính quyền của một Tiểu Bang) có quyền đệ trình kháng thư đến Viện Bảo Hiến, nhờ xét xử tính cách hợp hiến hay vi hiến của đạo luật (Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). - Các công tác của Hạ Viện thường được các Ủy Ban làm việc riêng rẻ từng Ủy Ban thường trực chuyên môn, rồi lấy quyết định chung kết trong các phiên họp khoáng đại. B - Thượng Viện Liên Bang. I - Thể thức bầu cử. Thượng Viện Liên Bang ( Bundesrat) là gạch nối giữa tổ chức Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender). Là cơ quan, qua đó các Tiểu Bang nói lên tiếng nói của mình ở cấp bậc Liên Bang: - “ Qua trung gian của Thượng Viện, các Tiểu Bang cộng tác vào lập pháp và quản trị Liên Bang ” (Điều 50, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Các Thượng Nghị Sĩ của Thượng Viện Liên Bang không do bầu cử, mà do Chính Quyền các Tiểu Bang chỉ định, họ là thành viên của Chính Quyền các Tiểu Bang: - “ Thượng Viện được gồm có các thành phần do Chính Quyền các Tiểu Bang tuyển chọn và thu hồi” (Điều 51, id.). Thành phần các Thượng Nghị Sĩ trong Thượng Viện được phân chia theo nguyên tắc đa số tỷ lệ, tùy theo số đông dân chúng trong mỗi Tiểu Bang, nhưng không phải là tỷ lệ cứng rắn: Mỗi Tiểu Bang có 3, 4, 5 hay 6 Thượng Nghị Sĩ, tùy theo số dân chúng: - “ Mỗi Tiểu Bang có ít nhứt là 3 phiếu ở Thượng Viện; các Tiểu Bang có hơn 2 triệu dân có được 4 phiếu; Tiểu bang có hơn 6 triệu dân, có 5 phiếu; Tiểu Bang có trên 7 triệu, có 6 phiếu ” (Điều 51, đoạn 3, id.). Như vậy mặc dầu không theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng như ở Hoa Kỳ, tiêu chuẩn được Cộng Hoà Liên Bang Đức áp dụng là tiêu chuẩn theo tỷ lệ và có ý ưu đải các Tiểu Bang nhỏ bé hơn. Thượng Viện có tất cả 69 Thượng Nghị Sĩ. II - Tổ chức nội bộ. Thượng Viện Liên Bang có quyền hiến định tự lập chọn Chủ Tịch của mình có chức vụ trong một năm và luân phiên thay đổi nhau giữa các Tiểu Bang: - “ Thượng Viện Liên Bang tuyển chọn Chủ Tịch của mình với chức vụ một năm ” (Điều 52, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Vị Chủ Tịch có quyền điều khiển các hoạt động của Thượng Viện, triệu tập các phiên họp khoáng đại, và nhứt là có bổn phận phải triệu tập Thượng Viện, họp khoáng đại, nếu có sự yêu cầu của hai Tiểu Bang hay của Chính Quyền Liên Bang (Điều 52, đoạn 2, id.). Chủ Tịch Thượng Viện có quyền thay thế vị Nguyên Thủ Quốc Gia trong trường hợp chức vụ của vị Nguyên Thủ bị cản trở hay khiếm diện trước nhiệm kỳ: - “ Các chức vụ của Tổng Thống Liên Bang , trong trường hợp bị cản trở hay khiếm diện trước định kỳ, được điều hành bởi Chủ Tịch Thượng Viện ” (Điều 57, id.). Thượng Viện Liên Bang được tổ chức thành những Ủy Ban chuyên môn, trong đó thành viên của các Tiểu Bang đều được mời tham dự. Các Ủy Ban chuyên môn của Thượng Viện cũng có thể được các thành phần hay đại diện khác (không cần phải là Thượng Nghị Sĩ) tham dự với tư cách chuyên viên: - “ Các phần tử hay đại biểu của Chính Quyền các Tiểu Bang có thể tham dự vào các Ủy Ban của Thượng Viện Liên Bang ” (Điều 52, đoạn 4, id.). Mỗi khi một dự án luật ( do Chính Quyền Liên Bang hay do Hạ Viện đệ trình) hay một vấn đề liên quan đến việc quản trị sứ sở được chuyển đến Thượng Viện, dự án luật hay vấn đề liên hệ vừa kể lập tức được chuyển đến Ủy Ban đặc trách của Thượng Viện. Ủy Ban đặc trách trình bày vấn đề với các Chính Quyền Tiểu Bang để hỏi ý kiến. Điều vừa kể cho thấy không phải mọi quyết định trong việc điều hành Quốc Gia đều phát xuất từ trung ương. Các tổ chức của các Ủy Ban chuyên môn của Thượng Viện có lợi điểm hơn các Ủy Ban của Hạ Viện Liên Bang. Vì là những Ủy Ban chuyên môn có sự tham dự của cả các “ thành phần hay đại diện khác của Chính Quyền các Tiểu Bang ”, là những chuyên gia trong nhiều lãnh vực khác nhau. Nhờ đó, Ủy Ban chuyên môn có thể nhờ cậy được khả năng của các chuyên gia để giải quyết vấn đề, không như các Ủy Bang của Hạ Viện chỉ là những dân biểu, nhiều khi không có khả năng chuyên môn để quyết định vấn đề mà mình không có thẩm quyền.( Friedrich, Landparlament in der Bundesrepublik, Berlin 1975) Như vậy đặc tính của các Ủy Ban chuyên môn Thượng Viện, gồm cả các chuyên gia không cần phải là thượng nghị sĩ, tránh được tình trạng nhiều lúc các dân biểu trong Ủy Ban Hạ Viện phải ngồi trước vấn đề lở cười, lở khóc. C – Vai trò của Quốc Hội và một số cơ quan liên hệ. 1 ) Vai trò của Tổng Thống Liên Bang Trước kinh nghiệm hành xử quyền lực độc đoán của Adolf Hitler, Vị Tổng Thống của Hiến Pháp 1949 CHLBĐ không còn được bầu do phổ thông đầu phiếu nữa, tức là không còn do dân chúng trực tiếp bầu lên, mà là do Hội Đồng Liên Bang ( Bundesversammlung) với một số nghị sĩ ngang nhau của Thượng Viện và Hạ Viện đồng đều bầu lên: - “ Vị Tổng Thống Liên Bang được Hội Đồng Liên bang bầu lên, không cần bàn cải. Mọi công dân Đức có quyền được bầu vào Hạ Viện, đều có thể được bầu và cần có đủ 40 tuổi ” (Điều 54, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Và rồi quyền hạn của Tổng Thống đối với Thủ Tướng ( Kanzler) và Hạ Viện cũng bị giới hạn, sau mẫu gương hành xử quyền bính hét ra lửa của Hitler: - “ Vị Thủ Tướng Liên Bang được tuyển cử do Hạ Viện, theo lời đề nghị của Tổng Thống. Sẽ được tuyển chọn ai hội đủ đa số phiếu (đa số tuyệt đối) của các thành viên Hạ Viện. Người được tuyển chọn phải được Tổng Thống Liên Bang bổ nhiệm ” (Điều 63, id.). Tổng Thống bổ nhiệm vị Tân Thủ Tướng, nhưng là bổ nhiệm người đã được Hạ Viện đồng thuận tuyển chọn trước. Điều đó cũng cho thấy rằng việc Tổng Thống bổ nhiệm vị Thủ Tướng do Hạ Viện tuyển chọn ( Hạ Viện là Viện Quốc Hội dân cử), Tổng Thống không thể truất phế Thủ Tướng, nếu không có sự đồng thuận của Hạ Viện ( Schneider – Zeh, Parlamentsrecht und Parlamentpraxis in der Bundesrepublik Deutschland, Berlin-New York, 1989). Và Hạ Viện, nếu muốn cất chức Thủ Tướng sẽ phải hành xử và hội đủ các điều khoản hiến định, nếu không muốn việc truất phế trở thành một hành động tự sát, bị giải tán ( Schneider- Zeh, op. cit., id.). Điều khoản hiến định đó, chúng ta sẽ bàn đến ở những trang tới. Vị Tổng Thống Liên Bang cũng không còn được Hiến Pháp dành cho quyền tuyên bố “ tình trạng khẩn trương nguy ngập” để tùy hứng xử dụng quyền đặc biệt “ hét ra lửa ” của Hitler. 2) Chính Phủ và Hạ Viện. Thủ Tướng và Nội Các Chính Phủ không do Tổng Thống tuyển chọn và bổ nhiệm, như thời Đệ Nhứt Cộng Hoà với Hiến Pháp Weimar 1919 và những gì đã xảy ra với Hitler, ai cũng biết. Chính Phủ của Hiến Pháp 1949 CHLBD được khai sinh bằng thể thức khác biệt hơn, để tránh việc hoàn toàn tùy thuộc vào Tổng Thống,Thủ Tướng và Nội Các phải cúi đầu vâng phục Tổng Thống hét ra lửa. Sau khi Hạ Viện được tuyển chọn và Hạ Viện vừa sắp xếp xong nội quy, các chức vụ, ủy ban chuyên môn, những cuộc thăm do và thương lượng giữa các lực lượng chính trị trong Hạ Viện bắt đầu diển ra. Sau khi hội đàm với các vị lãnh đạo các chính đảng, Tổng Thống có thể ủy quyền cho một nhà lãnh đạo một chính đảng ( chính đảng chiếm đa số) thành lập Chính Phủ. Người được ủy thác, sau khi nhận thấy mình có thể tin cậy vào sự ủng hộ của đa số dân biểu ( túc số để tạo thành đa số tuyệt đối) trong Hạ Viện, có thể trả lời chấp thuận nhận nhiệm vụ và được Tổng Thống bổ nhiệm chức Thủ Tướng, lãnh đạo Chính Phủ. Vị Thủ Tướng dựa vào cuộc thăm do và đồng thuận trước đó, có thể phát hoạ ra danh sách các Bộ Trưởng, thành phần Chính Phủ và đệ trình lên Tổng Thống để Chính Phủ được ủy nhiệm. Mặc dầu chưa được Hạ Viện tín nhiệm, nhưng mặc nhiên Chính Phủ vừa được phát họa đã được Hạ Viện “ chuẩn y ” trong các cuộc thăm do và thương lượng trước đó. Tất cả thủ tục hình thành Chính Phủ, dựa trên sự thăm do, thương lượng để tìm được đa số đồng thuận trong Hạ Viện ủng hộ, gồm cả tiến trình ủy nhiệm của Tổng Thống cho Thủ Tướng lựa chọn các Bộ trưởng và việc Hạ Viện bỏ phiếu tín nhiệm, trên phương diện hiến định chỉ gồm có một dộng tác duy nhứt trong Hiến Pháp 1949 CHLBĐ: Hạ Viện ( Viện đại diện dân cử) trực tiếp tuyển chọn Thủ Tướng Liên Bang: - “ Thủ Tướng Liên Bang được Hạ Viện tuyển chọn không cần thảo luận, theo lời yêu cầu của Tổng Thống Liên Bang” (Điều 63, đoạn 1, id.). Với điều khoản vừa kể, Hiến Pháp 1949 CHLBD quy tựu hết trách nhiệm của Chính Phủ vào cá nhân của vị Thủ Tướng. Các Bộ trưởng cũng được Tổng Thống bổ nhiệm, nhưng khác với Hiến Pháp Weimar, các ông không có trách nhiệm từng cá nhân trực tiếp trước Hạ Viện, bởi lẽ các ông không do Hạ Viện tuyển cử và cũng không nhận được tín nhiệm nơi Hạ Viện. Chỉ có Thủ Tướng là người được Hạ Viện trực tiếp tuyển cử (Điều 63, đoạn 1, id.) và là người duy nhứt trong Chính Phủ được hay bị Hạ Viện bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm: - “ Hạ Viện có thể tuyên bố bất tín nhiệm đối với Thủ Tướng Liên Bang, khi…” (Điều 67, đoạn 1, id.). Việc tập trung vào con người vị Thủ Tướng với sự đồng thuận đa số tuyệt đối của Hạ Viện trong việc tuyển chọn, cũng như việc “ chuẩn y hay bất tín nhiệm ”, tránh cho việc bất đồng tư tưởng, chính kiến giữa Thủ Tướng và các Bộ Trưởng, “ông nói gà bà nói vịt ”, nhược điểm của các Chính Phủ liên hiệp, làm cho Chính Phủ suy yếu. Việc Hạ Viện biểu quyết tín nhiệm hay bất tín nhiệm chỉ đối với Thủ Tướng ( chớ không với cả Chính Phủ), cũng như chỉ có Thủ Tướng hoàn toàn chịu trách nhiệm về đường lối chính trị của Chính Phủ, cho thấy Thủ Tướng có quyền vô hạn định trong việc đề cử hay thu hồi chức vụ các Bộ Trưởng. Đó là điều các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBD nhằm tạo ra để có một Chính Quyền mạnh mẽ và hữu hiệu ( K. Stern, Das Staetsrecht der Bundesrepublik Deutschland, Muenchen, C.H. Beck, vol. I, 765). Lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng. Hiến Pháp 1949 không những chỉ giới hạn cho Hạ Viện Liên Bang mới có quyền bất tín nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ, mà còn đặt điều kiện hạn chế Hạ Viện chỉ được xử dụng quyền nầy trong các điều kiện được Hiến Pháp xác định rỏ rệt. Mục đích của những điều kiện giới hạn là để cũng cố cho Hành Pháp được luôn luôn hoạt động hợp pháp và vững chắc, luôn luôn có Hạ Viện bên cạnh biểu quyết đồng thuận và hậu thuẩn cho tồn tại. Giới hạn được Hiến Pháp 1949 đặt ra đối với Hạ Viện được xác định ở điều 67: - “ Hạ Viện có thể tuyển bố bất tín nhiệm Thủ Tướng Liên Bang chỉ khi nào Hạ Viện tuyển chọn được một vị thay thế với đa số phiếu các thành viên Hạ Viện (đa số tuyệt đối ) và yêu cầu Tổng Thống Liên Bang thu hồi chức vụ Thủ Tướng. Tổng Thống phải thoả mãn lời yêu cầu nầy và bổ nhiệm vị vừa được tuyển chọn ” (Điều 67, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Tinh thần của điều khoản vừa kể được gọi là “ lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng ” ( konstruktive Misstraeunsvotum). Giới hạn được Hiến Pháp 1949 đặt ra do kinh nghiệm tiêu cực của thời Đệ Nhất Cộng Hoà Weimar. Dưới thời Cộng Hoà Weimar, hai đảng đối lập cực hữu và cực tả, Đảng Đức Quốc Xã và Đảng Cộng Sản, đối lập với Chính Phủ và chống thể chế dân chủ mà Hiến Pháp Weimar chủ trương, thường toa rập cấu kết nhau làm cho phe thân Chính Phủ thành thiểu số, để bất tính nhiệm và lật đổ Chính Phủ. Thái độ của họ nhằm đả phá, lật đổ hơn là cộng tác nhau tạo đa số vững mạnh để xây dựng đất nước. Mục đích của họ là làm cho Chính Phủ tê liệt và đả phá nền Cộng Hoà Weimar. Hiểu như vậy các điều kiện “ lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng ” của điều 67 vừa kể được viết ra nhằm ngăn chận tình trạng bất ổn của thời Cộng Hoà Weimar tái diển và chính tình trạng bất ổn đó đã đưa đến chế độ độc tài của Hitler. Đành rằng Hạ Viện có quyền biểu quyết bất tín nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ, nếu không chúng ta không còn ở trong Đại Nghị Chế nữa. Nhưng Đại Nghị Chế hay Dân Chủ Tự Do không có nghĩa là đập đổ vô trách nhiệm, mà là tự do phát biểu ý kiến bất đồng với những gì không lợi ích, hiệu năng, hành xử lạm quyền quá lố trong hiện tại, để đưa ra những đường lối chính trị chính đáng, chương trình khả thi thực hiện tốt đẹp hơn trong tương lai. Đó là ý nghĩa của câu văn “ Hạ Viện có thể bất tín nhiệm Thủ tướng, chỉ khi nào tuyển chọn được một vị khác thay thế với đa số phiếu ( tuyệt đối) các thành viên Hạ Viện” (Điều 67, id.). Một câu văn tiền liệu tránh tình trạng bất ổn, hổn loạn, vô chính phủ và Quốc Gia bị tê liệt, do cách hành xử của những ai có thái độ vô trách nhiệm gây hổn loạn cho đất nước. Giải tán Hạ Viện trước định kỳ. Như tất cả các Hiến Pháp của các Quốc Gia dân chủ tự do, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ bảo đảm ý kiến và nhu cầu, ước vọng của người dân luôn được trước các đại diện dân cử lên tiếng trong Quốc Hội, nhu cầu và ước vọng của đa số (được tuyển chọn trong các đơn vị bầu cử đơn danh với lá phiếu thứ nhứt ( Erststimme), cũng như tiếng nói của thiểu số dân chúng còn lại trong phương thức đếm phiếu toàn quốc và chia cho 60.000 phiếu để có được một dân biểu. Hạ Viện Liên Bang là tiếng nói của toàn thể dân chúng Đức, nói lên đường hướng chính trị và phương thức quản trị xứ sở mà Chính Quyền phải lắng nghe. Hạ Viện Liên Bang có quyền bày tỏ thái độ bất bình của dân chúng đối với Hành Pháp bằng lá phiếu bất tín nhiệm của mình. Nhưng để tránh hổn loạn, bất ổn, khủng hoảng cho Quốc Gia, Hạ Viện phải hội đủ các điều kiện được Hiến Pháp tiên liệu được viết lên ở điều 67 vừa trích dẫn, khi tỏ thái độ bất tín nhiệm đối với Chính Phủ. Nhiệm kỳ của Hạ Viện Liên Bang được Hiến Pháp xác định là 4 năm. Nếu Hạ Viện hành xử theo các điều kiện hiến định vừa kể, không ai có quyền trấn áp, bắt bớ, áp chế, giảm thiểu tự do từ thành viên, cho đến tổ chức nội bộ cũng như cả cơ quan Hạ Viện, trong khi Hạ Viện thi hành quyền dân cử của mình. Tuy vậy, để tránh những gì đã xảy ra với Đệ Nhất Cộng Hòa Weimar, khi đảng Đức quốc Xã và đảng Cộng Sản hùa nhau, âm mưu phá hoại nền dân chủ, Hiến Pháp 1949 cũng phải tiền liệu những điều kiện phòng hờ những cấu kết với âm mưu bất chính, phương hại cho đất nước ( M. Volpi, Lo Sciolgimento Anticipato del Parlamento e la Classificazione dei regimi contemporanei, Maggioli, Rimini 1983). Hiến Pháp 1949 CHLBD tiền liệu những điều kiện để có thể giải tán Quốc Hội trước định kỳ. Thật ra, việc giải tán Hạ Viện trước định kỳ không phải là hành động “ trả đủa ” đối với Hạ Viện ương ngạnh, cho bằng vì nhu cầu thiết yếu và để đáp ứng một cách thiết thực hết sức có thể ý muốn của dân chúng, ý muốn chính đáng của dân chúng nói lên trong Hạ Viện và nhu cầu hoạt động của Chính Phủ. Mục đích của việc giải tán Hạ Viện trước định kỳ là tạo ra điều kiện để bầu cử Hạ Viện mới, hy vọng rằng Hạ Viện mới sẽ quy tựu được đa số nghị sĩ (đa số tuyệt đối) ủng hộ một Chính Phủ vững mạnh trong tương lai. Nhưng hai lần giải tán Quốc Hội trước định kỳ các năm 1930-1932 ( có đến 2 lần chỉ trong năm 1932) cho thấy kết quả trái ngược: cứ mỗi lần giải tán và bầu Quốc Hội mới, là mỗi lần số phiếu của các phe thái cực ( cực tả, Cộng Sản và cực hữu, Đức Quốc Xã) gia tăng, để phá hoại đạp đổ thể chế dân chủ. Do đó các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 rất dè dặt áp dụng vũ khí đang bàn. Các vị đặt Hạ Viện Liên Bang chỉ có thể bị giải tán với hai giả thuyết: - Hạ Viện Liên Bang không có khả năng tuyển chọn vị Tân Thủ Tướng với đa số tuyệt đối các thành viên, - Hạ Viện Liên Bang bỏ phiếu bất tín nhiệm vị Thủ Tướng đương nhiệm và không có khả năng tuyển chọn nổi một Tân Thủ Tướng khác với đa số tuyệt đối. a) Hạ Viện Liên Bang không có khả năng tuyển chọn Tân Thủ Tướng với đa số tuyệt đối các thành viên. Sau cuộc phổ thông đầu phiếu chính trị ( hoặc sau việc từ chức, hoặc sau cái chết của Thủ Tướng đương nhiệm), nều Hạ Viện Liên Bang không có khả năng quy tựu được đa số tuyệt đối các thành viên để tuyển chọn một Tân Thủ Tướng, Tổng Thống Liên Bang có thể giải tán Hạ Viện: - “Được tuyển chọn ai hội đủ đa số phiếu các thành viên Hạ Viện Liên Bang. Người được tuyển chọn phải được Tổng Thống ủy nhiệm”. - “ Nếu nhân vật được Tổng Thống đề nghị không được Hạ Viện Liên Bang tuyển cử, trong vòng 14 ngày kể từ ngày bầu cử, Hạ Viện Liên Bang có thể tuyển chọn Thủ Tướng với đa số tuyệt đối các thành viên của mình”. - “ Nếu không có một cuộc bỏ phiếu nào trong khoảng thời gian vừa kể, liền sau đó phải có một cuộc bỏ phiếu khác, trong đó ai được nhiều phiếu nhứt (đa số tương đối cũng được) sẽ được tuyển chọn. Nếu người được tuyển chọn chiếm được đa số ( tuyệt đối) số phiếu các thành viên Hạ Viện, trong vòng 7 ngày sau cuộc đầu phiếu, Tổng Thống Liên Bang phải bổ nhiệm vị đó. Nếu người được tuyển chọn không hội đủ đa số phiếu ( tuyệt đối) như vừa kể, trong vòng 7 ngày, Tổng Thống Liên Bang có thể hoặc bổ nhiệm vị được tuyển chọn, hoặc giải tán Hạ Viện” (Điều 63, đoạn 2, 3 và 4 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Đọc các đoạn trích dẫn của điều 63 Hiến Pháp 1949 CHLBD vừa kể, chúng ta thấy rằng giải pháp giải tán Quốc Hội trước định kỳ là giải pháp cuối cùng, sau khi đã tìm hết mọi giải pháp khác. Nếu ở vòng bỏ phiếu đầu tiên, Hạ Viện chưa quy tựu đủ đa số tuyệt đối để chọn Thủ Tướng ( và Thủ Tướng sẽ thành lập Chính Phủ để bắt đầu hoạt động cho Quốc Gia), Hiến Pháp 1949 còn dành cho Hạ Viện một cơ hội thứ hai: trong vòng 14 ngày kế tiếp, các thành viên Hạ Viện phải thoả thuận với nhau, tạo thành khối đa số tuyệt đối để tuyển chọn vị Tân Thủ Tướng cho Quốc Gia (đoạn 3, id.). Giả sử cuộc bỏ phiếu thứ hai cũng bất thành, các lực lượng chính trị trong Quốc Hội không thoả thuận được với nhau để chọn Thủ Tướng sau thời gian 14 ngày đó, Hạ Viện bị bắt buộc phải bỏ phiếu lần thứ ba. Lần nầy cũng vậy, ứng viên nào chiếm được đa số tuyệt đối sẽ đắc cử và Tổng Thống bị bắt buộc phải bổ nhiệm. Giả sử “ trời xui đất khiến ”, xui xẻo còn hành hạ kéo dài, ngay cả ở vòng bỏ phiếu thứ ba nầy, tức là sau 21 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc phổ thông đầu phiếu chính trị ( vị nguyên Thủ Tướng từ chức hay từ trần), vẫn chưa có ai được Hạ Viện bầu với đa số tuyệt đối, thì đành vậy. Ai được bầu với số phiếu nhiều nhứt (đa số tương đối) cũng có thể được Tổng Thống chấp nhận bổ nhiệm trong vòng 7 ngày (Điều 63, đoạn 4, id.). Nhưng trong trường hợp nầy, Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện (đoạn 4, id.). Các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 đợi thêm thời gian 7 ngày, trước khi Tổng Thống có quyết định bổ nhiệm người thắng cử hay giải tán Hạ Viện, vì nghĩ rằng đó là chiếc phao cứu cấp cuối cùng của Hạ Viện. Các vị hy vọng rằng thời gian 7 ngày đó, có thể các dân biểu còn có thời gian chứng tỏ cho Tổng Thống thấy rằng nhân vật tạm thời được đề cử với số phiếu đa số tương đối, sẽ được các dân biểu bảo đảm cho thành đa số tuyệt đối, và như vậy bắt buộc Tổng Thống phải bổ nhiệm thay vì giải tán Hạ Viện, cho về vườn ( Schneider- Zeh, op. cit., 128). Chỉ khi các điều kiện trên được nhẫn nại, chờ đợi một cách vô vọng, Tổng Thống mới xử dụng quyền “ giải tán Quốc Hội trước định kỳ ”. b) Hạ Viện bất tín nhiệm Thủ Tướng và không có khả năng chọn người thay thế. * Trường hợp thứ hai để giải tán Quốc Hội trước định kỳ: khi Thủ Tướng đương nhiệm xin Hạ Viện bày tỏ ý kiến “ tín nhiệm hay bất tín nhiệm ” đối với đường lối chính trị, chương trình quản trị xứ sở của ông hay chương trình thực hiện một đồ án cá biệt nào đó. Nếu Thủ Tướng không được Hạ Viện bỏ phiếu tín nhiệm, trong vòng 21 ngày Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện: - “ Trường hợp có thể xảy ra khi Thủ Tướng Liên Bang yêu cầu Hạ Viện biểu quyết lòng tín nhiệm đối với ông, không được đa số ( tuyệt đối) thành viên Hạ Viện chấp thuận, trong vòng 21 ngày, theo lời đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện. Quyền nầy sẽ không còn hiệu lực, vừa khi Hạ Viện tuyển chọn được một Thủ Tướng khác với đa số ( tuyệt đối) thành viên của mình ” (Điều 68, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Lý do tại sao giải tán Quốc Hội trước định kỳ ở điều 68 vừa đọc cũng là lý do của điều 63 được trích dẫn ở trên: một Quốc Hội không chu toàn nhiệm vụ hiến định của mình, lựa chọn và hậu thuẩn vững mạnh, với đa số tuyệt đối, cho Chính Phủ có khả năng điều hành Quốc Gia. Quốc Hội không thể tại vị lâu dài, mà không cho Quốc Gia một Chính Phủ có khả năng điểu khiển và hoạt động, thoả mãn nhu cầu và ước vọng của dân chúng, là một Quốc Hội thiếu trách nhiệm của mình đối với Đất Nước. Tổng Thống không có quyền giải tán Quốc Hội, nếu Quốc Hội có khả năng quy tựu đa số thành viên vững mạnh để tuyển chọn và làm hậu thuẩn cho Chính Phủ, hoạt động vì lợi ích của dân chúng. Quốc Hội như vừa kể là Quốc Hội có quyền tồn tại đến mãn nhiệm, không có quyền lực Quốc Gia nào có khả năng giải tán môt Quốc Hội đang chu toàn nhiệm vụ của mình, phục vụ đất nuớc. * Nhưng giải pháp “ giải tán Quốc Hội trước định kỳ ” trong trường hợp Hạ Viện bất tín nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ không phải là giải pháp duy nhứt. Giải pháp thứ hai được đưa ra, đó là giải pháp tuyên bố “ tình trạng lập pháp khẩn trương ” ( notgebungsgericht ) : - “ Nếu trong trường hợp được điều 68 quy định, Hạ Viện không bị giải tán, Tổng Thống theo lời yêu cầu của Thủ Tướng Chính Phủ, cùng với sự đồng thuận của Thượng Viện, có thể tuyên bố “tình trạng lập pháp khẩn trương”, đối với một đạo luật bị hạ Viện bác bỏ, mặc dầu Chính Phủ tuyên bố là cấp bách. Cũng vậy, đối với một dự án luật bị bát bỏ, mặc dầu Thủ Tướng Liên Bang đặt liên hệ giữa dự án và tính cách khả dĩ áp dụng các điều khoản của điều 68 ”. - “ Nếu Hạ Viện lại bác bỏ một lần nữa dự án luật, sau khi “ tình trạng lập pháp khẩn trương” được tuyên bố, hoặc biểu quyết chấp thuận theo văn mạch mà Chính Phủ không thể chấp nhận được, dự án luật được coi là đã được biểu quyết tán đồng, nếu được Thượng Viện đồng thuận. Điều nầy cũng có giá trị đối với một dự án luật không được Hạ Viện biểu quyết sau 4 tuần lễ kể từ ngày được đệ trình”. - “ Trong thời gian tại chức của một vị Thủ Tướng, trong suốt thời gian 6 tháng kể từ ngày “ tình trạng lập pháp khẩn trương” được tuyên bố, bất cứ dự án luật nào bị Hạ Viện bát bỏ, đều được coi là chuẩn y, theo tinh thần của đoạn ( 1 ) và ( 2 ). Hết 6 tháng vừa kể, trong nhiệm kỳ của một Thủ Tướng, không thể chấp nhận một lần công bố thứ hai ” tình trạng lập pháp khẩn trương” (Điều 81, đoạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Ba giải pháp được điều 81 liệt kê để giải quyết tình trạng bế tắc giữa Hạ Viện và Chính Quyền, cho thấy Hạ Viện là một viện Quốc Hội dân cử, đại diện chính thức và hệ trọng cho tiếng nói phát biểu nhu cầu và ước vọng của người dân. Nhưng Hạ Viện, cũng như Chính Quyền không phải là cơ quan duy nhứt trong guồng máy Quốc Gia, nhứt là khi Hạ Viện không chu toàn trách nhiệm hiến định của mình, quy tựu được đa số tuyệt đối để thành lập, bảo đảm và hướng dẫn Chính Quyền đem lại lợi ích chung cho đất nước. Trong trường hợp thiếu trách nhiệm như vừa kể, các cơ chế khác của Quốc Gia được Hiến Pháp tiền định có thể thay thế Hạ Viện trong một thời gian ngắn, 6 tháng ( Tổng Thống, Chính Phủ Liên Bang và Thượng Viện, đại diện Chính Quyền các Tiểu Bang). Các giải pháp của điều 81, dựa trên sự đồng thuận của các cơ chế khác của Quốc Gia để giải quyết tình trạng đình trệ và tê liệt đời sống Quốc Gia. Các giải pháp đó không phải là phương thức hành xử độc tài, cưỡng áp Hạ Viện, mà là những phương thức duy nhứt và tạm thời nhằm cứu vãn đời sống Cộng Đồng Quốc Gia. Tạm thời bởi lẽ không được kéo dài trên 6 tháng và không được lập lại lần thứ hai trong nhiệm kỳ của một Thủ Tướng. Về phía Hành Pháp, vị Thủ Tướng trong vai trò lãnh đạo của mình bị Hạ Viện bất tín nhiệm, sẽ không bị cô lập và không bị Quốc Gia bỏ rơi, nếu đường lối lãnh đạo và quản trị đất nước của ông và Nội Các ông được coi là đúng đắn và lợi ích cho Quốc Gia. Bên cạnh ông và Nội Các của ông còn có các cơ chế khác hổ trợ, để đạt được mục đích chung của Quốc Gia. Thủ Tướng và Nội Các của ông còn được Tổng Thống, Vị Nguyên Thủ quốc Gia và Thượng Viện, đại diện cho các Cộng Đồng Địa Phương, các Tiểu Bang ( Laender) khắp đất nước ủng hộ để chu toàn hoạt động của mình. Hạ Viện là tiếng nói của dân chúng. Nhưng các dân biểu Hạ Viện không thể cố chấp khăng khăng giữ lấy tự ái của mình, cũng như không có khả năng thoả thuận với nhau để cung cấp cho đất nước cơ quan Hành Pháp, hoạt động đem lại lợi ích cho dân chúng. Hiến Pháp 1949 CHLBD là Hiến Pháp của một Quốc Gia Dân Chủ Đại Nghị Chế. Trong Đại Nghị Chế, Hiến Pháp không thể áp đặt Quốc Hội chấp nhận một Chính Phủ mà Quốc Hội không muốn, nhưng Hiến Pháp có thể bắt buộc Quốc Hội tuyển chọn vị Thủ Tướng để thành lập Chính Phủ, thiết yếu cho đời sống Quốc Gia, cũng như ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi và xác định chính hướng để Chính Phủ hoạt động lợi ích cho Quốc Gia, bằng đa số tuyệt đối thành viên của mình, nếu không muốn bị giải tán trước định kỳ hoặc bị thể chế hiến định giảm thiểu đi nhiệm vụ lập pháp của mình trong khoảng thời gian 6 tháng. Hiến Pháp 1949 CHLBD tạo được ổn định cho cuộc sống Quốc Gia, nhờ các vị soạn thảo đã tiền liệu các điều kiện để giải quyết các tình trạng đình trệ và bế tắc. Kết quả đạt được do kinh nghiệm không có gì là tốt đẹp của thời Đệ Nhứt Cộng Hoà Weimar, cộng thêm với nhiều đầu óc sáng suốt cùng suy nghĩ của các học giả người Đức tạo nên. D - Thượng Viện, Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang. Một số mối liên hệ tương quan giữa 3 cơ quan hiến định vừa kể, chúng ta đã đề cập đến ở những dòng trên, - “ lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng”, - “ giải tán Hạ Viện trước định kỳ ”, - “ tình trạng lập pháp khẩn trương ”… Đó là những gì có thể xảy ra trong các trường hợp xung đột bất thường, Hiến Pháp 1949 CHLBD đã tiền liệu để tránh tình trạng bất ổn và tê liệt, thiệt hại đến đời sống Quốc Gia. Trong cuộc sống thường nhật thông thường, Thượng Viện, Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang là những cơ quan hiến định tự nhiên của Quốc Gia, hoạt động nhịp nhàn với nhau để hướng dẫn chính hướng và quản trị Quốc Gia một cách hiệu năng. Đó là những gì Hiến Pháp 1949 CHLBD diển tả qua điều 76: - “ Các dự án luật được Chính Quyền Liên Bang, các thành viên Hạ Viện trình lên Hạ Viện và Thượng Viện ” (Điều 76, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Khi Chính Phủ Liên Bang, qua các Bộ Trưởng và chuyên viên của mình đề thảo ra một dự án luật, dự án phải được đệ trình đến Thượng Viện để duyệt xét và Thượng Viện phải phán quyết trong vòng 6 tuần lễ. Khi một dự án luật mà Chính Phủ Liên Bang cho là “ khẩn cấp ”, sau khi Chính Phủ đệ trình cho Thượng Viện, Chính Phủ cũng có thể đệ trình cho Hạ Viện sau 3 tuần lễ kể từ ngày đã đệ trình Thượng Viện, dầu cho Thượng Viện chưa bày tỏ ý kiến. - “ Các dự án luật, Chính Phủ Liên Bang phải đệ trình trước tiên cho Thượng Viện. Thượng Viện có quyền phán quyết ý kiến của mình trong vòng 6 tuần lễ. Chính Phủ Liên Bang có thể chuyển đến Hạ Viện, sau 3 tuần lễ, một dự án luật mà mình cho là ngoại lệ và đặc biệt khẩn cấp, khi đệt trình lên Thượng Viện, ngay cả khi ý kiến của Thượng Viện chưa được trả lời cho Chính Phủ. Nhưng rồi Chính Phủ phải lập tức chuyển đến Hạ Viện phán quyết của Thượng Viện, ngay vừa khi nhận được Thượng Viện trả lời ” (Điều 76, đoạn 3, id.). Trong tiến trình thông thường để hình thành luật pháp, một dự án luật được đệ trình Thượng Viện, Thượng Viện ( là Viện Quốc Hội đại diện của các Chính Quyền các Tiểu Bang) sẽ chuyển đến Chính Quyền các Tiểu Bang để hỏi ý kiến. Nếu Chính Quyền các Tiểu Bang đa số tỏ ý bất đồng, Thượng Viện không có cách gì tự mình “chuẩn y ” dự án luật đang bàn. Điều đó cho thấy Chính Quyền Liên Bang không thể đưa ra Nghị Định, Pháp Lệnh tự mình hay ỷ thế “ cả vú lập miệng em ” dựa vào đa số đồng thuận ở Hạ Viện “ ban hành ” đạo luật nào và áp dụng thế nào tùy hỷ. Thượng Viện Liên Bang là Viện Quốc Hội, gồm thành viên là các đại diện Chính Quyền các Tiểu Bang. Tiếng nói của Thượng Viện là tiếng nói của Chính Quyền và dân chúng địa phương, có thể là tiếng nói của các lực lượng chính trị thiểu số đối lập, nhằm “ cắt tỉa, hảm thắng ” cách hành xử quá lố, tùy hỷ của Chính Quyền và Hạ Viện Liên Bang có thể cấu kết nhau. Tiếng nói của Thượng Viện, của các Tiểu Bang hay của Cộng Đồng Địa Phương không phải chỉ là tiếng nói liên quan đến các vấn đề địa phương, mà cũng là tiếng nói của dân chúng ở địa phương liên quan đến nhu cầu và ước vọng của toàn quốc. Do đó không có cách gì Hiến Pháp 1949 CHLBD cho phép Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang soạn thảo, “chuẩn y hay bát bỏ ” và hành xử luật pháp mà không đếm xỉa gì đến tiếng nói của Thượng Viện và Chính Phủ các Tiểu Bang ( Gherig, Parlament-Regierung- Opposition: Dualismmus als Voraussetzung fuer eine parlamentarissche Kontrolle der Regierung, Muenchen, 1969, 189s). Điều đó cắt nghĩa tại sao Hiến Pháp 1949 CHLBD tiền liệu những điều kiện đề phòng bộ mặt độc tài của Hitler lúc nào cũng lăm le muốn trở lại, đối với bất cứ ai hành xử quyền lực Quốc Gia. “Đức khôn ngoan” dạy cho chúng ta rằng bộ mặt độc tài của Hitler lúc nào cũng có thể trở lại, nhứt là đối với những ai có quyền và bổn phận “ soạn thảo và chuẩn y ” luật pháp và kế đến là những ai “hành xử ” luật pháp. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu tại sao hầu hết các Hiến Pháp Tây Âu là những Hiến Pháp cứng rắn, Hiến Pháp mà người dân của họ đã đổ bao nhiêu máu và nước mắt mới viết lên được. Và điều đó cắt nghĩa tại sao Hiến Pháp 1949 CHLBD đặt điều kiện gia trọng cho những ai muốn tu chính sửa đổi Hiến Pháp sau nầy: - “ Một đạo luật như thế (đạo luật để tu chính Hiến Pháp) cần được sự đồng thuận của 2/3 số phiếu của Hạ Viện và 2/3 số phiếu của Thượng Viện ” (Điều 79, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Một điều kiện gia trọng nặng nề như vậy, không phải là điều kiện dễ thực hiện: phải được sự đồng thuận của 2/3 dân biểu của cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện! Chúng ta thử nghĩ muốn chọn vị Thủ Tướng để thành lập Chính Phủ điều hành Quốc Gia, Hiến Pháp chỉ đòi buộc cần có đa số tuyệt ( ½ số phiếu + 1 phiếu) các thành viên Hạ Viện. Điều kiện chỉ có vậy mà phải mất bao nhiêu công sức mới chu toàn được, kể cả việc tạo ra các tình trạng bế tắc khẩn trương mà Hiến Pháp đã phải tiền liệu những giải pháp để tháo gở, chúng ta đã thấy ở trên. Còn nữa, Hiến Pháp 1949 CHLBD đã phán quyết có những điều khoản cố định, bất di dịch trong Hiến Pháp, không ai có thể sửa đổi với bất cứ điều kiện nào: - “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự thay đổ nào đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến quyền tham gia lập pháp của các Tiểu Bang hay đến các nguyên tắc được tuyên bố ở điều 1 và điều 20 ” (Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Quyền của các Tiểu Bang có quyền tham dự vào tiến trình “ chuẩn y hay bác bỏ ” các dự án luật, chúng ta vừa thấy ở trên, để tránh việc cấu kết tập quyền giữa Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang “soạn thảo, chuẩn y hay bác bỏ và hành xử quyền lực ” độc tài tùy hỷ. Ngoài ra Hiến Pháp 1949 CHLBD tuyên bố địa vị tối thượng bất khả xâm phạm của con người trong tổ chức Quốc Gia, vì đó là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới: - “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ phẩm giá đó. - Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới ” (Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Kế đến phương thức cấu trúc của Quốc Gia, làm nền tảng và khuôn sườn để tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người mà Hiến Pháp đã tuyên bố bất khả xâm phạm cũng được tuyên bố cố định ở điều 20, khi Hiến Pháp định nghĩa thế chế Quốc Gia của Cộng Hoà Liên Bang Đức: - “ Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Liên Bang, dân chủ và xã hội ” (Điều 20, đoạn 1, id.). Đặt các điều kiện phải tuân hành đối với những ai soạn thảo, chuẩn y và thi hành luật pháp Quốc Gia, các phương thức cần để giải quyết khi xảy ra những cơn khủng hoảng làm xáo động hay làm tê liệt cuộc sống Quốc Gia, các nguyên tắc cố định tôn trọng con người và để bảo vệ thể chế Cộng Hoà Dân Chủ. Tất cả những cử chỉ thận trọng đó không có mục đích gì hơn là để đề phòng những bộ mặt độc tài như bộ mặt của Hitler, lúc nào cũng thập thò trong bóng tối, chờ cơ hội xuất hiện. Một trong những mục đích chính của Hiến Pháp 1949 CHLBD là để chống độc tài là vậy. Kế đến vai trò của Thượng Viện, Viện Quốc Hội đại diện cho Chính Quyền các Tiểu Bang cũng tối quan trọng để chống kết cấu độc tài từ trung ương. Thường thường thì Thượng Viện chỉ có nhiệm vụ duyệt xét lại và chuẩn y các đạo luật đã được Hạ Viện chấp thuận ( Zustimmungsgesetze). - Đối với những đạo luật có liên quan đến các quyền lợi của các Tiểu Bang về quản trị, tài chánh, thuế vụ và những đạo luật về tu chính Hiến Pháp như vừa kể, nếu Thượng Viện bát bỏ, phán quyết bát bỏ của Thượng Viện có giá trị tuyệt đối. Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang không có cách gì có thể thắng được (Điều 93, id.) - Thượng Viện có thể tham dự việc soạn thảo các đạo luật thông thường cùng chung với Hạ Viện. Trong trường hợp bất đồng ý kiến đối với các đạo luật thông thường nầy, Thượng Viện có thể bát bỏ. Nhưng phiếu không đồng thuận của Thượng Viện có thể bị Hạ Viện vượt thắng , nếu Hạ Viện có đủ đa số 2/3 thành viên của mình chấp thuận, một tỷ lệ không phải dễ đạt đến. - Tuy vậy, giữa hai Viện Quốc Hội có một Ủy Ban Hoà Giải ( Vermittlung ausschuss), được thiết lập gồm 16 thành viên Thượng Viện và 16, thuộc Hạ Viện. Các thành viên của Ủy Ban Hoà Giải hoạt động với tư cách cá nhân, không phải trả lời hành động của mình trước tư nhân cũng như trước Chính Quyền các Tiểu Bang. Ủy Ban hoạt động trong các phiên họp kín, nên thường gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp trong công tác trung gian hoà giải của mình. - Ủy Ban Hoà Giải không có thẩm quyền quyết định, mà chỉ có thể suy nghĩ và đưa ra dự án mà Ủy Ban nghĩ rằng có thể gặt hái được sự đồng thuận của cả hai Viện. - Thường thỉ một dự án luật được Hạ Viện biểu quyết chấp thuận, liền sau đó được chuyển giao đến Thượng Viện. Nếu Thượng Viện không biểu quyết đồng tình, trong vòng hai tuần lể Thượng Viện có thể yêu cầu Ủy Ban Hoà Giải nhóm họp (Điều 77, đoạn 2, Hiến Pháp 1949 CHLBD). - Đồ án của Ủy Ban Hoà Giải đưa ra được trao cho Hạ Viện để biểu quyết và sau đó chuyển đến Thượng Viện. Nếu Thượng Viện lại bát bỏ với đa số phiếu, Hạ Viện có thể vuợt thắng được với đa số. Và nếu Thượng Viện bát bỏ đến 2 /3 số phiếu của mình, Hạ Viện có thể không chấp nhận ý kiến của Thượng Viện cũng với số phiếu 2/3 thành viên của mình (Điều 77, đoạn 4, id.). E - Hoạt động kiểm soát. Qua những gì đã trình bày, chúng ta thấy Hiến Pháp 1949 CHLBD dành nhiều điều khoản liên hệ đến mối tương quan giữa Hạ Viện, Chính Phủ, Tổng Thống và Thượng Viện Liên Bang để các cơ chế Quốc Gia “ kiểm soát và cân bằng nhau ” ( checks and balances), như trong Tổng Thống Chế của Hoa Kỳ, cũng như những phương thức để giải quyết tình trạng khủng hoảng, bất ổn và trì trệ giữa lập pháp và hành pháp. Tất cả những mối tương quan vừa kể được nghĩ ra nhằm xác định đúng đắn đường lối chính trị và chương trình quản trị Quốc Gia trong hiệu năng. Trong Đại Nghị Chế ( Parlamentarisme), ngoài vai trò hướng dẫn và xác định đường lối chính trị và chương trình quản trị hiệu năng cho Quốc Gia, Quốc Hội còn được Hiến Pháp trao cho quyền kiểm soát hoạt động của Chính Quyền: -Trong hoạt động kiểm soát của Quốc Hội, Hạ Viện có thể viết thành văn bản, đặt thành nghi vấn ( kleine Anfrage) về cách hành xử nào đó của Chính Quyền nếu có được 15 thành viên Hạ Viện yêu cầu (15/656 hạ nghị sĩ không phải là một con số khó kiếm). Bản văn nghi vấn đó sẽ được đưa ra bàn cải trong Hạ Viện trong các giờ dành để đặt câu hỏi ( Fragestunde), như thời gian “question time” trong Quốc Hội Anh. - Và trong lúc bàn cải ở Hạ Viện, nếu bản văn có được ít nữa là 30 dân biểu đồng thuận ký tên, các vấn đề được nghi vấn sẽ được yêu cầu Chính Phủ phải trả lời trước Hạ Viện ( grosse Anfrage). - Nếu các nghi vấn không được Chính Phủ giải đáp thoả đáng trước Hạ Viện, với 1 /4 dân biểu đồng thuận, Hạ Viện sẽ thiết lập Ủy Ban Điều Tra về cách hành xử của Chính Quyền: * “ Hạ Viện có quyền và, do lời yêu cầu của 1 /4 các thành viên, bị bắt buộc phải thiết lập Ủy Ban Điều Tra để thu thập các chứng cớ cần thiết trong các buổi họp công cộng. Tiến trình tranh luận có thể được thực hiện trong các phiên họp kín ” (Điều 44, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Do đặc tính của Đại nghị Chế, các chính đảng chiếm đa số đương quyền trong Chính Phủ cũng có thể đang chiếm đa số trong Hạ Viện. Bởi đó Hiến Pháp 1949 CHLBD không đợi phải có đa số Hạ Viện mới có quyền đặt nghi vấn, điều tra và tố cáo Chính Phủ về cách hành xử bất chính của họ: - 15 dân biểu, - rồi 30 dân biểu - và cuối cùng chỉ cấn 1/4 thành viên Hạ Viện cũng có quyền đòi buộc Hạ Viện thiết lập Ủy Ban Điều Tra hạch hỏi và tố cáo cách hành xử sai quấy của Chính Phủ. Nói cách khác, Hiến Pháp 1949 CHLBD trao cho thành phần thiểu số đối lập có thực quyền hạch hỏi, tố giác và nếu cần bất tín nhiệm Chính Phủ ( Gherig, op. cit., 192s). Đọc những điều kiện ràng buộc liên hệ giữa các cơ chế Quốc Gia như trên, chúng ta có thể hiểu được tại sao Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Đại Nghị Chế bền vững, không bị hổn loạn và không bị độc tài trong suốt trên 50 năm nay, tạo điều kiện ổn định và dân chủ tự do biến đất nưóc từ đổ nát đến tân tiến nhứt Âu Châu, mặc dầu cho đến những năm gần đây, khi chúng tôi viết bài nầy, Tây Đức vẫn bị các Anh Em Xã Hội Chủ Nghĩa Vĩ Đại bên kia bức tường Bá Linh không ngừng khuấy nhiểu. Kết quả trên là những kinh nghiệm đắc giá của Hiến Pháp Weimar 1919 và bao nhiêu khối óc lỗi lạc của người Đức đã cùng nhau ngồi lại suy nghĩ, viết ra Hiến Pháp 1949 CHLBD và định chế cho Quốc Hội Liên Bang. Người Đức không bốc đồng tự nhiên có được Hiến Pháp 1949 trong tay và Quốc Hội Liên Bang được tổ chức nhịp nhàng, không đưa đến hổn loạn và độc tài, mà qua những gì họ đã phải trả đắc giá bằng xương máu và công sức. Mercedes là chiếc xe an toàn và bảo đảm nhứt thế giới, không phải người Đức tự nhiên bốc đồng chế ra được, nếu không phải từ bao nhiêu tai nạn chết người và bao nhiêu chương trình nghiêng cứu không ngừng. Cộng Hoà Liên Bang Đức và Quốc Hội Liên Bang của họ là bài học cho những ai có tâm huyết suy tư cho Đất Nước. Mọi đồ án và công trình có giá trị không thể một ngày, một buổi bốc đồng mà thành tựu được. Người Ý, con cháu của người La Tinh có câu: “ Roma không phải chỉ một ngày mà xây dựng được ! ” ( Ma Roma non fu fatta in un giorno!)

 

A - Quốc Gia phân tán về mặt xã hội và chính trị. Năm 1947 trong bối cảnh Hiến Pháp được soạn thảo, Ý Quốc sau thế chiến II là một Quốc Gia phân tán về mặt xã hội và chính trị, cùng với những hố sâu ( cleavages) cách biệt về xã hội và kinh tế, giữa chủ và thợ, giữa nông nghiệp và kỷ nghệ, giữa miền Bắc và miền Nam, trung ương và địa phương. Làm thế nào để " hoà hợp và hội nhập bổ túc" ( unità ed integrazione) mọi thành phần xã hội thành - " một cộng đồng dân tộc đồng nhứt, cùng sống trên một lãnh thổ, được tổ chức theo một thể chể " ( định nghĩa Quốc Gia trong chính trị học)? Mục đích đó của tổ chức Quốc Gia được Hiến Pháp tuyên bố và quy trách cho Thể Chế Cộng Hoà tương lai của Đất Nước: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi người triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Đất Nước" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều mà chúng ta có thể nói ngay khi đọc điều khoản vừa kể của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, mục đích ưu tiên và tối thượng của của tổ chức Quốc Gia, được đặt ngay ở một trong những điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp ( điều 3, đoạn 2), là để - " cho phép mỗi người triển nở hoàn hảo con người của mình" ngay cả trước khi đề cập đến phát triển Đất Nước, - " ...và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Đất Nước". Nói cách khác, mục đích của tổ chức Quốc Gia được Hiến Pháp là văn bản nền tảng và bảo chứng là - " Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội " tiếp theo ,chớ không ngược lại. Con người có được " triển nở hoàn hảo con người của mình ", mới có khả năng, ước vọng, có được môi trường thích hợp, hợp với lý tưởng sống của mình, mới có thể " tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Đất Nước". Nhưng làm thế nào để hoà hợp và hội nhập mọi thành phần xã hội thành một cộng đồng dân tộc, trong đó - " Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đải vì lý do phái giống, sinh trưởng, chủng tộc, ngôn ngữ,quốc tịch, tín ngưỡng hay chính kiến" ( Điều 3, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức)? Nói cách khác trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ, không ai là công dân hạng hai bị tổ chức Quốc Gia miệt thị và đối xử bất công, so với con ông cháu cha hay các " đồng chí " có máu mặt, thuộc Trung Ương Đảng chẳng hạn. Làm sao thực hiện được mục đích đó? Câu hỏi được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc quy trách cho các chính đảng, là những tổ chức đươn kết các nguồn tài nguyên chính trị, phải đảm lấy trách nhiệm " đại diện cần thiết " của mình trong cơ chế Quốc Gia đứng ra đảm nhận. Và đó là những đặc điểm mà chúng ta có thể tìm thấy trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, Hiến Pháp của một Quốc Gia bị phân tán về xã hội và chính trị cũng như bị kiệt quệ đổ nát về kinh tế sau thế chiến II ( Giuliano Amato, Costituzione, mutamento sociale, riformabilità, in Consiglio Regionale della Toscana ( a cura di), Quattro lezioni sulla Costituzione, p. 38). Thay vì nhấn mạnh đến các tình trạng khác biệt và phân hoá, Hiến Pháp chọn lựa - " một định chế được thảo ra để huấn dạy mọi thành phần biết chung sống, tạo nên những nhịp cầu mà dần dần các phe phái khác biệt có thể bước qua để gặp nhau, trao đổi ý kiến với nhau và đồng thuận nhìn về lợi ích chung của Đất Nước" ( Giuliano Amato, id., p. 39). Định chế đó của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc gồm hai đặc tính: - đặc tính thứ nhứt là một hệ thống các giá trị về con người ( hay giá trị Nhân Bản) mà các Hiến Pháp của các thập niên '800 tuyên dương làm thành những nguyên tắc phổ quát cho mọi cộng đồng dân tộc, để tổ chức một cuộc sống xã hội văn minh ( từ điều 2-54 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Và đó cũng là những gì được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức nhắc lại: * " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó. Như vậy dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - đặc tính kế đến , ( bàn bạc trong suốt 139 điều khoản của Hiến Pháp), là phương thức tiền liệu được đề ra để bảo vệ và cũng như cổ võ, để phát triển những bậc thang giá trị được Hiến Pháp đứng ra " nhận biết và bảo đảm " đối với bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, chống lại các cách hành xử quyền lực tùy hỷ của cá nhân hay đảng phái cầm quyền ( Mario Dogliano, Interpretazioni della Costituzione, Angeli, Milano 1982, 52 - 57): * " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân phát huy con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy " định chế chung cư " của " một cộng đồng dân tộc, cùng sống trên một mãnh đất, được tổ chức theo một định chế " đã được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đề ra, như là chất keo để hoà hợp ( unità) và hội nhập bổ túc ( integrazione) mọi thành phần xã hội và chính kiến khác biệt thành " một cộng đồng dân tộc ". Đó là ý thức hệ Nhân Bản và Dân Chủ được viết thành văn bản Hiến Pháp Bảo Chứng. B - Một Chính Quyền hoà giải và hội nhập bổ túc. Đứng trước mục đích hay " tham vọng lớn lao " hoà hợp và hội nhập bổ túc mọi thành phần dân chúng, không phân biệt thành phần chính kiến, điều kiện các nhân hay xã hội như vừa kể vào " một cộng đồng dân dân tộc ", nhiều ý kiến được đưa ra để tổ chức cơ chế Quốc Gia, nhứt là tổ chức Chính Quyền. a) Giáo sư Costantino Mortati thuộc " Phó Ủy Ban Đặc Trách 75 " ( Sotticommissione 75) của Quốc Hội Lập Hiến, đưa ra đề nghị là để hoạt động được hữu hiệu và địa vị không quá bấp bênh, Chính Quyền phải được hiểu như một cơ quan " giữa đường ", giữa hình thức Chính Quyền Đại Nghị Chế ( dễ lắc lư tùy hứng tín nhiệm hay bất tín nhiệm của Quốc Hội ) và Hội Đồng Điều Hành ( Directoire) của Thụy Sĩ. Chính Quyền - phải được sự tín nhiệm của Lưỡng Viện Quốc Hội ( đúng, vì là Chính Quyền Đại Nghị Chế, phải tùy thuộc vào Quốc Hội, tiếng nói dân cử), - nhưng đồng thời Chính Quyền đó cũng phải được Hiến Pháp bảo đảm cho có được thời gian bền vững để hoạt động ít nhứt là 2 năm, kể từ ngày được thành lập. Chỉ trong trường hợp có sự bất đồng liên tục, dai dẳng và có hệ thống giữa Chính Quyền và Quốc Hội, Tổng Thống mới cần phải chuẩn định xem có nên giải nhiệm Chính Quyền hay giải tán Quốc Hội trước định kỳ ( Bruno Fernanda, i giuristi alla Costituente: l'opera di Costantino Mortati, in De Servio Ugo ( a cura di), Scelte della Costituente e cultura giuridica, Il Mulino, Bologna 1980, vol II, 132s). b) Giáo sư Tosato Egidio, một nhân vật lỗi lạc khác trong Quốc Hội Lập Hiến cho rằng để đạt được mục đích " tham vọng lớn lao" của Hiến Pháp, Quốc Gia cần có được một Chinh Quyền Dân Chủ, hoạt động hiệu năng và bền vững. Muốn có vậy, - lúc khởi đầu Lưỡng Viện Quốc Hội phải nhóm họp lại thành Hội Đồng Quốc Gia ( Assemblea Nazionale) tuyển chọn một ứng cử viên Thủ Tướng, một trong những nhân vật trong danh sách được Tổng Thống đề nghị, sau khi đã tham khảo ý kiến các chính đảng. - Ứng cử viên nào được đa số phiếu tuyệt đối của Hội Đồng Quốc Gia, Tổng Thống phải bổ nhiệm. - Nếu ở vòng đầu không có ứng viên nào đạ được đa số tuyệt đối, trong phiên bỏ phiếu lần thứ hai, ứng viên được đa số phiếu tương đối cũng được coi là hội đủ điều kiện để được tuyển chọn ( Armaroli Publio, Introvabile governabilità; Cedam, Padova 1986, 47). Ngoài hai đề nghị quan trọng vừa kể, còn một số đề nghị khác nữa. Các đề nghị được " Phó Ủy Ban Đặc Trách 75 " của Quốc Hội Lập Hiến nghiêng cứu với kết quả là - Chính Quyền phải được Tổng Thống bổ nhiệm, - Sau khi bổ nhiệm Chính Quyền phải được Quốc Hội tín nhiệm, - Quốc Hội chỉ có thể bất tín nhiệm Chính Quyền đương nhiệm qua một phiên họp Hội Đồng Quốc Gia ( cả hai Viện Quốc Hội đều được triệu tập họp chung), - và Thủ Tướng Chính Phủ được giao cho trong trách lãnh đạo và chịu trách nhiệm về đường lối chính trị Quốc Gia của cả Nội Các ( Pitruzella Giovanni, Presidente del Consiglio dei Ministri e l'organizzazione del Governo, Cedam, Padova 1986, 172s). Phần nghiêng cứu vừa kể của " Phó Ủy Ban Đặc Trách 75 " sau cùng được đút kết thành hai điều 94 và 95 Hiến Pháp 1947, đặt nặng vấn đề ở hai đề mục: - Thủ Tướng Chính Phủ được Tổng Thống bổ nhiệm, sau khi cuộc thăm dò ý kiến các chính đảng và được vị Thủ Tướng đặc trách cho rằng mình có thể đảm nhận vai trò thành lập Chính Phủ, được đa số tuyệt đối trong Quốc Hội đồng thuận tín nhiệm. - Kế đến theo lời đề nghị của Thủ Tướng được bổ nhiệm, Tổng Thống sẽ bổ nhiệm các Bộ Trưởng trong Nội Các Chính Phủ. - Chính Quyền phải được sự tín nhiệm của Lưỡng Viện Quốc Hội ( nhưng mỗi Viện có thế họp để bỏ phiếu riêng, thay vì phải họp nhau thành Hội Đồng Quốc Gia). - Chính hướng lãnh đạo Quốc Gia được giao cho trách nhiệm của Thủ Tướng và của cả Nội Các Chính Phủ: " Chính Quyền phải được sự tín nhiệm của cả Hai Viện Quốc Hội. Mỗi Viện có thể tín nhiệm hay thu hồi sự tín nhiệm qua một cuộc bỏ phiếu có lý chứng và bỏ phiếu bằng các phiếu điểm danh" ( Điều 94, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). " Thủ Tướng Chính Phủ lãnh đạo chính hướng tổng quát của Nội Các và nhận lãnh trách nhiệm. Bảo đảm hợp nhứt đường lối chính trị và quản trị, bằng cách cổ võ và phối hợp hoạt động của các Bộ trưởng". Các Bộ trưởng có trách nhiệm tập thể về các hành động của Nội Các Chính Phủ, và mỗi cá nhân về các hoạt động các Phân Bộ của mình" ( Điều 95, đoạn 1 và 2, id.). Đọc qua hai điều 94 và 95 vừa trích dẫn, chúng ta thấy được nhiều nguyên tắc tổ chức Chính Phủ khác nhau, là kết quả từ nhiều điều kiện xã hội và chính trị khác biệt của đất nước, sau nhiều cuộc bàn cải, thảo luận, nhân nhượng và đồng thuận về - đường lối lãnh đạo Quốc Gia, - chương trình hành động, - phương tiện để hành xử, - nhân sự được sắp xếp tùy theo ảnh hưởng của từng chính đảng và khả năng chuyên môn của các thành viên. Đó là phương thức " dân chủ trung gian điều giải " ( democrazia mediata), phương thức thành lập Chính Phủ của phần lớn các Quốc Gia đa diện Tây Âu, được thực hiện không do trực tiếp thành quả của các cuộc bỏ phiếu chỉ định, mà do những cuộc tham dò, bàn thảo, nhân nhượng giữa các chính đảng và các tổ chức xã hội trung gian sau đó. Đó là một Chính Quyền Dân Chủ được thành lập - do việc Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng và các Bộ Trưởng, - các Bộ Trưởng được Tổng Thống bổ nhiệm theo lời đề nghị của Thủ Tướng ( điều 92, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - Nội Các Chính Phủ trước khi nhận lãnh chức vụ hành pháp phải tuyên thệ trong tay Tổng Thống ( điều 93, id.). - Sau 10 ngày được thành lập, Nội Các Chính Phủ phải đến trình diện trước Quốc Hội, để được Quốc Hội tín nhiệm ( điều 94, đoạn 3, id.). - Sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của Quốc Hội được tuyên bố qua một cuộc bỏ phiếu có lý chứng và bỏ phiếu bằng các phiếu điểm danh ( điều 94, đoạn 2, id.). Đó là hình thức Chính Quyền Dân Chủ Liên Hiệp, được tổ chức theo - nguyên tắc trách nhiệm tự lập của mỗi Phân Bộ trong Chính Phủ, - nguyên tắc lãnh đạo tập thể đường lối chính trị Quốc Gia của Thủ Tướng cùng chung với Hội Đồng Nội Các, - nguyên tắc trách nhiệm lãnh đạo đường lối chính trị cá nhân của Thủ Tướng. Ý thức được tình trạng xã hội và chính trị phân hoá của đất nước, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không có ý đóng khung phương thức tổ chức Chính Quyền trong khuôn thước cứng rắn. Các vị viết điều 94 và 95 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc thành những - định hướng cho nhiều phương thức giải quyết khác nhau theo trương độ và cường độ liên hiệp của Chính Quyền, - nhằm đạt được mục đích tối thượng và trung tâm điểm của Hiến Pháp, được các vị viết lên ngay ở các điều khoản đầu tiên, " hoà hợp và hội nhập bổ túc " ( unità ed integrazione) mọi thành phần dân tộc trong mục đích: - " ...cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Phải chăng đây cũng là bài học cho chúng ta nhìn về tương lai Đất Nước, môt khi " chế độ độc tài, độc đảng trị " không còn nữa?

 

A - Công Giáo và Chính Trị. Năm 1991, sau khi thể chế Cộng Sản sụp đổ ở Đông Âu và Liên Bang Sô Viết, một số dư luận cho rằng hai người có công lớn trong việc làm cho Cộng Sản sụp đổ, đó là Tổng Thống Michael Gorbaciov ( vị Tổng Thống cuối cùng của Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết) với chủ trương " Glassnost" và " Perestroika", và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II, với những phương các hành xử của Ngài. Để xác định rỏ thực hư nguồn dư luận trên, Enzio Mauro và Paolo Mieli, hai đặc phái viên của tờ La Stampa, một trong những nhật báo lớn nhứt ở Ý, đã xin phép được phỏng vấn Đức Giáo Hoàng: - " Kính thưa Đức Thánh Cha, người ta đồn rằng Đức Thánh Cha làm chính trị, Đức Thánh Cha nghĩ sao?". - " Tôi nghĩ rằng không thể hiểu chính trị theo nghĩa hẹp. Nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm, nhưng trong Phúc Âm có con người. Sự tôn trọng đối với con người, tức là nhân quyền, tự do lương tâm và tất cả những gì thuộc về quyền sống xứng đáng của con người. Nếu tất cả những điều đó có một giá trị chính trị, thì đúng Đức Giáo Hoàng có làm chính trị. Nhưng Ngài luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người" ( Ezio Mauro e Paolo Mieli, " Giovanni Paolo" II, La Stampa 04.03.91, p.2). Câu trả lời của Đức Giáo Hoàng cho hai ký giả nhật báo La Stampa lược tóm mối tương quan đúng đắn giữa Tôn Giáo và Chính Trị, đề tài được bàn cải không ít, với thiện cảm cũng có và ác cảm, lợi dụng ẩn nấp dưới bình phong " tôn giáo không làm chính trị " cũng không thiếu. Dựa vào câu trả lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II, chúng ta thử tìm hiểu một vài chi tiếc trong câu nói để làm sáng tỏ vấn đề. - " Nhưng trong Phúc Âm có con người ". Con người trong Phúc Âm hay con người của Ki Tô giáo là ai, mà - " Ngài luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người"? - Đó là con người được Thiên Chúa sáng tạo giống hình ảnh Ngài: * " Ta hãy dựng con người giống như Ta " ( Gen 1, 26) * " Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Ngài, Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh Thiên Chúa Người Nam và người Nữ, Thiên Chúa dựng nên" ( Gen 1, 27). " Giống như Thiên Chúa " ( Gen 1, 26) " Giống hình ảnh Thiên Chúa" ( Gen 1, 27) có nghĩa là Thiên Chúa ban cho con người có trí thông minh và lòng yêu chuộng tự do, phản ảnh lại trí khôn vô hạn và tự do không bị bất cứ một điều kiện gì ràng buộc của Thiên Chúa. - Con người được ban cho trí khôn và lòng ước muốn tự do đó, được Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa Nhập Thể nhắc lên địa vị con Thiên Chúa, dạy cho họ gọi Thiên Chúa là Cha: " Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế nầy: Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời…" ( Mt 6, 9 ). - Và sau cùng con người đó được Thiên Chúa ban cho quyền được tham dự vào bản tính thần linh của Thiên Chúa, vào đời sống nội tại mà Thiên Chúa đang sống: + " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…" ( 2 Pt 1,4). Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người là con Thiên Chúa và con người được hưởng gia tài bản tính thần linh của Thiên Chúa. Địa vị con người cao cả như vậy cắt nghĩa tại sao " Ngài bênh luôn luôn đề cập đến con người, Đức Giáo Hoàng bênh vực con người " chống lại bất cứ ý thức hệ nào đàn áp, chà đạp và đê tiện hóa con người. B - Chính trị là gì? Để có một cái nhìn đúng đắn hơn với chính trị và hiểu rỏ những gì Đức Giáo Hoàng muốn đề cập đến trong câu nói của Ngài, thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu chính trị qua những tư tưởng nguyên thủy của nó. Từ ngữ "Chính Trị " mà chúng ta có, đồng nghĩa với danh từ Politique ( Pháp ngữ), Politica ( La Tinh và Ý ngữ), Policy ( Anh Ngữ). Tất cả những danh từ " Chính Trị " trong các ngôn ngữ vừa kể đều phát xuất từ danh từ Polis của Hy Lạp, có nghĩa là Thành Phố hay Thị Xã. Thị Xã trong thời cỗ Hy Lạp ( Polis ) , nhứt là thời Cộng Hoà Athène được tổ chức như những tiểu quốc tự lập, trong đó mọi người được phân chia công tác tùy khả năng, từ gát cổng, quét đường đến tổ chức phòng vệ, sản xuất thủ công nghệ, tổ chức văn hóa nghệ thuật. Cách tổ chức, phân chia công viêc để điều hành mưu ích cho cuộc sống trong Thị Xã ( Polis) đó, được người Hy lạp goi là Politiké ( đường lối chính trị Quốc Gia, nói theo từ ngữ của chúng ta). Từ ý nghĩ tổ chức phân chia công việc mà mọi người đều tham gia góp phần sao cho đời sống chung của Thị Xã được ăn khớp nhịp nhàng đó, nảy ra những phương thức áp dụng vào Quốc Gia, làm sao để tổ chức hữu hiệu hơn, hoạt động hoàn hảo hơn, để - mưu ích cho đời sống của từng cá nhân - và lợi ích chung cho đời sống trong cộng đồng. Đó là những từ tưởng khởi thủy của Chính Trị ( Politiké , Politque, Politica, Policy, Polis). Hiểu như vậy, Chính Trị không có gì khác hơn là những phương thức tổ chức Thị Xã (Polis) ,sao cho đời sống được trôi chảy, nhằm mưu ích cho cá nhân cũng như cho cuộc sống chung của cộng đồng. Đến thời đế quốc Roma bành trướng qua Hy lạp, người La Tinh thu thập cách tổ chức trên của Hy Lạp cho cuộc sống Thị Xã ( Polis ) của họ. Thị Xã trong ngôn ngữ La Tinh là Civis. Người sống trong Thị Xã do đó được gọi là Civilis . Nhưng Civilis trong ngôn ngữ La Tinh cũng có nghĩa là con người văn minh. Bởi lẽ trong tâm thức người La Tinh chỉ có ai sống trong Thị Xã ( Civis), mới là người có cuộc sống văn minh ( Civilis), nhờ sáng kiến, việc làm cộng tác của người nầy, giúp đỡ người kia có cuộc sống tốt đẹp hơn và ngược lại. Còn ai không sống trong Thị Xã, là người không thể nào có cuộc sống tiến bộ cho ra hồn, là người có cuộc sống Bán Khai Mọi Rợ ( Barbarus): người không tắm rửa, chải chuốt, có râu ria xồm xàm như quân Hung Nô, sống trong các Làng Mạc Hẻo Lánh ( Pagus). Qua những tư tưởng Polis, Civis, Civilis, Barbarus và Pagus vừa kể, chúng ta có thể rút ra một vài tư tưởng sau đây: a) Chính Trị hiểu theo nghĩa Polis, Civis là những phương thức tổ chức Quốc Gia, nhằm đem lại lợi ích chung cho cuộc sống cộng đồng, nói theo ngôn ngữ chúng ta, mà cũng nhằm phục vụ cho từng người trong cuộc sống Quốc Gia. Bởi lẽ, Quốc Gia hay Dân Tộc là những danh từ trừu tượng, được thể hiện trên thực tế bằng đời sống của từng người một. Dĩ nhiên, trong một tập thể chính trị có tổ chức như Quốc Gia, nơi quy tựu chung sống của hàng triệu người, sẽ có nhiều ý kiến và phương thức tổ chức cho cuộc sống chung cũng như liên quan đến đời sống riêng rẻ của từng người, nên công việc lựa chọn thể chế nào thích hợp nhứt sẽ hàm chứa việc người dân có quyền đứng ra quyết định để lựa chọn. Người dân có quyền lựa chọn phương thức cũng như người lãnh đạo để thực hiện hay Dân Chủ (Demokratía). Dân Chủ theo nguyên ngữ Hy Lạp là Demokratía ( Demos, dân chúng; Krátos, quyền hành): quyền hành là của dân chúng hay dân chúng là chủ nhân của quyền hành, có quyền định đoạt đường lối tồ chức Quốc Gia hay đường lối Chính Trị. Những ai muốn đứng ra lãnh đạo Quốc Gia có nhiệm vụ đề ra phương thức tổ chức hay "đường lối lãnh đạo Quốc Gia", hoặc "chương trình chính trị", nói theo ngôn ngữ chúng ta, để người dân phán đoán và lựa chọn. Những cách hành xử thủ đoạn, lường gạt, mỵ dân, khủng bố, cấu kết, bè phái để đoạt lấy và khăng khăng giữ lấy quyền bính, tiêu diệt đối phương là những hành vi băng hoại (dégénération) Chính Trị , chớ không phải Chính Trị, theo nguyên ngữ và tư tưởng cao đẹp khởi thủy của nó. b) Tham dự chính trị. Người Hy Lạp, người La Tinh cho rằng người sống ngoài Thị Xã ( Polis, Civis) là những người bán khai mọi rợ, bởi lẽ đời sống không có tổ chức, để người nầy hỗ trợ người khác, sáng kiến của người nầy bổ túc tạo lợi ích cho người khác, đời sống không thể nào có tiến bộ. Con người không thể sống lẻ loi, riêng rẻ: nhân vô thập toàn. Tư tưởng đó vẫn còn có giá trị đối với chúng ta. Chúng ta muốn trở thành văn minh, Civilis, muốn cho đất nước chúng ta tiến bộ, chúng ta phải ở trong Thị Xã ( Polis): chúng ta " phải tham dự chính trị "," làm chính trị ". Trong một Quốc Gia, tham gia chính trị có nghĩa là - bầu cử, - ứng cử để chuyển ý kiến của người dân trong Quốc Hội, hành xử quyền lực được người dân giao phó trong Chính Quyền, - mà cũng có nghĩa tham gia vào các tổ chức, đảng phái, để nói lên tiếng nói, ảnh hưởng, đặt điều kiện với các tổ chức quyền lực Quốc Gia trong các quyết định chính trị, quyết định có liên quan đến đời sống cá nhân cũng như cộng đồng Quốc Gia, nếu chúng ta không muốn những ai cầm quyền đưa ra các quyết định, áp đặt lên đầu lên cổ chúng ta và đồng bào chúng ta. Qua những quan niệm khởi thủy của Chính Trị vừa được trình bày, chúng ta thấy rằng muốn có thể đưa ra được - " đường lối lãnh đạo Quốc Gia và chương trình để thực hiện" hay đường lối Chính Tri, - chúng ta phải có " Văn Hoá Chính Trị" ( Culture Politique ) hay * lý tưởng về con người, về cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như của cộng đồng mà chúng ta cho là cao đẹp phải đạt đến * và những phương thức tổ chức, thực hiện để đạt được mục đích lý tưởng. Nói cách khác, chúng ta phải có khái nhiệm về Chính Trị theo nghĩa rộng hay Văn Hoá Chính Trị : " Văn Hóa Chính Trị có bổn phận - thiết định giá trị căn bản của cuộc sống cộng đồng… - hòa hợp giữa bình đẳng và tự do, quyền lực công cộng với quyền tự do, tự lập chính đáng của cá nhân - và với phương thức tham dự vào đời sống công cộng của cá nhân cũng như của tổ chức đảng phái, - hòa hợp quyền tối thượng của quốc gia với cuộc chung sống và hổ tương quốc tế. Nói tóm lại, Chính Trị theo nghĩa rộng là các phương thế và nền tảng luân lý trong các giao tiếp xã hội" ( Puebla, Evangelizzazione nel presente e nel futuro dell'America Latina, Conclusione della III Conferenza dell'Episcopato Latinoamericano, CELAM, 1979, AVE, Roma 1979, n.521). Trong khi đó thì Chính Trị theo nghĩa hẹp là: - phương thế hành xử của đảng phái, công đoàn, Chính Quyền và cơ chế Quốc Gia, - chương trình hành động thiết thực và chính xác cho mỗi trường hợp cá biệt. - kỹ thuật chuyển hóa các giá trị, nhu cầu và ước vọng của cá nhân và cộng đồng xã hội dân sự thành hành động để đạt được kết quả thực sự, đem lại công ích cho cộng đồng. - áp dụng thực tế các đồ án Chính Trị ( chính trị theo nghĩa hẹp ) đi sau Văn Hoá Chính Trị ( Chính trị theo nghĩa rộng) : chuyển hoá các quan niệm hay lý tưởng Văn Hoá Chính Trị thành ứng dụng thực hữu và thành lựa chọn để hành động. Lãnh vực Chính Trị theo nghĩa hẹp là lãnh vực của giáo dân. Người giáo dân nhờ điều kiện sống giữa trần thế của họ, họ có thể họp nhau thành chính đảng với ý thức hệ và phương thế thực hiện tương xứng, để đạt được mục đích chính đáng nhằm đạt được (Puebla, id., 524). C - "Nhưng trong Phúc Âm có con người". Phúc Âm là sứ điệp cho tất cả mọi người được sinh ra trên mặt đất, ở mọi nơi và mọi thời đại. Qua Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa - không những mạc khải mầu nhiệm đời sống thần linh của Ngài cho con người, mạc khải Thiên Chúa cho con người, - mà còn "mạc khải hoàn hảo chính con người cho con người" ( Gaudium et Spes , GS, 22): * con người được dựng nên giống Thiên Chúa ( Gen 1, 26), * con người là con cái của Thiên Chúa ( Mt 6, 9), * con người được tiền định thừa kế gia sản qúy báu của Thiên Chúa ( 2 Pt 1 4). Lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II được trích dẫn, " Nhiệm vụ của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm", cho thấy sứ mạng của Giáo Hội là sứ mạng tôn giáo, " không thuộc về lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( GS, 42). Nhưng sứ mạng tôn giáo và siêu nhiên của Giáo Hội không tách rời Giáo Hội ra khỏi dòng lịch sử của nhân loại và tách biệt xa mọi thực tại trần thế. Bởi vì Giáo Hội rao truyền sứ điệp Phúc Âm trong trần thế, được Chúa Giêsu thiết lập nên để hoạt động và tăng trưởng ở giữa trần thế: - " Nước Thiên Chúa được thực hiện trong lịch sử, trong đó biến cố Nước Trời không phải chỉ là một cái gì được thêm vào quan niệm về con người tự mình hiện hữu trơ trụi trong không gian và thời gian" ( GS, 40). - "Công cuộc cứu rổi của Chúa Giêsu, một đàng nhằm giải thoát con người, đàng khác cũng bao gồm mục đích tác tạo lại tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ mạng của Giáo Hội không những có mục đích đem đến cho con người sứ điệp và ân sủng của Chúa Giêsu, mà còn tác động và hoàn hảo hoá trật tự trần thế bằng tinh thần Phúc Âm" ( Apostolicam Actuositatem, 5). Sứ mạng của Giáo Hội là rao giảng Phúc Âm, - nhưng không phải rao giảng Phúc Âm trên không trung, - mà là rao giảng Phúc Âm cho con người đang sống " tại nơi đây và lúc nầy" (hic et nunc) trong xã hội , nói cho con người về Thiên Chúa, về tình yêu của Thiên Chúa đối với họ và mạc khải hoàn hảo chính con người cho con người: Chính với con người hiện thực đó mà Chúa Giêsu nhập thể, đem đến Phúc Âm , nói về Tin Mừng Nước Trời cho họ. Mạc khải Ki Tô giáo là những mạc khải được thể hiện trong lịch sử nhân loại. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, đến trong thế giới của nhân loại, - hội nhập vào dòng lịch sử của nhân loại để tiếp đón nhân loại và thế giới , với dòng lịch sử của họ, - biến đổi và thánh hóa để đưa về cùng Chúa Cha, Đấng Sáng Tạo ra họ và thế giới của họ ( GS, 38). Biến cố Nhập Thể được thực hiện trong suốt lịch sử nhân loại, qua các thế hệ, các nền văn hoá và các biến chuyển thăng trầm của con người, tuần tự nhân loại hóa thế giới mà họ đang sống, - " mặc cho những thái độ kém hiểu biết, những sai trái, tội lỗi, những sa ngã của nhân loại vào các hành động man rợ và những giai đoạn con người lệch lạc đi ra ngoài con đường cứu rỗi, Biến Cố Nhập Thể vẫn luôn luôn đem con người và thế giới của họ tới gần Đấng Tạo Hóa của họ hơn, mặc cho họ có để ý hay không" ( Phaolồ VI, Populorum Progressio, 79). Con người với địa vị cao cả của mình được Phúc Âm mạc khải cho như đã được đề cập, là một thực thể bất di dịch. Nhưng con người đó sống trong dòng lịch sử và tiến trình văn hoá luôn luôn biến chuyển. Do đó, đức tin Ki Tô giáo nếu muốn được con người lắng nghe và hiểu biết, đức tin đó phải luôn luôn được cập nhật hoá hội nhập vào văn hóa ( inculturazione), tư tưởng và tập quán của con người. Đức tin Ki Tô giáo phải biết nói với con người bằng tiếng nói của nền văn hóa trong môi trường và của thời đại con người đang sống. Đức tin vào Thiên Chúa và các giá trị về con người của đức tin Ki Tô giáo, nếu không được hội nhập văn hóa để diển tả bằng ngôn ngữ của con người trong hoàn cảnh sống là đức tin câm nín, không ai nghe được. Đi nói với con người bằng ngôn ngữ cập nhật dễ hiểu của họ, Giáo Hội không thể không quan tâm đến hoàn cảnh xã hội, văn hóa và điều kiện sống của con người trong thực tại. Bởi đó Công Đồng Vatican II đã nói với con ngươì: - " Vui mừng và hy vọng, buồn phiền và lo âu của con người, Giáo Hội cảm nhận thực sự và mật thiết liên đới với nhân loại và dòng lịch sử của họ" ( GS, 1). Giáo Hội chia xẻ những vấn đề quan trọng của con người - " bằng chiếu rọi ánh sáng Phúc Âm để giải thoát con người và canh tân xã hội" (GS, 3). Bằng ánh sáng Phúc Âm, Giáo Hội can thiệp vào lãnh vực trần thế như thế nào? Giáo Hội can thiệp vào các lãnh vực trần thế trên phương diện luân lý, bởi vì luân lý liên hệ mật thiết với lãnh vực siêu nhiên, phần rỗi của con người: - " chính những thực thể trần thế và những tổ chức của con người, trong chương trình an bài của Thiên Chúa, là những thực thể được thiết lập liên hệ đến việc cứu rỗi con người" (Christus Dominus, 12). Và vì lãnh vực luân lý liên hệ mật thiết đến lãnh vực siêu nhiên, liên quan đến phần rỗi con người, nên Giáo Hội có thẩm quyền can thiệp vào các vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị, khi các vấn đề đó có liên quan đến lãnh vực luân lý. Nói cách khác, Giáo Hội có quyền đem Văn Hoá Chính Trị" Không có bất cứ trường hợp nào trong đó Giáo Hội có thể từ chối bổn phận của mình, có uy tín can thiệp, không phải đối với các vấn đề kỹ thuật chuyên môn, mà Giáo Hội không có phương tiện thích nghi để can thiệp, nhưng can thiệp vào tất cả những gì có liên quan đến lãnh vực luân lý" ( Pio XI, Quadragesimo Anno, 45). Và trong khi can thiệp vào các vấn đề liên quan đến luân lý, đến Văn Hoá Chính Trị, như vừa kể, Giáo Hội không ngần ngại trình bày vấn đề với tư cách là tiếng nói - " kinh nghiệm về con người, có khả năng cung hiến cho nhân loại điều gì là sở hữu cá biệt của mình: nhãn quang toàn diện về con người và về xã hội" ( Phaolồ VI, Popolorum Progressio, 13). Như vậy Giáo Hội có " đề nghị xã hội " của mình hay Văn Hoá Chính Trị của mình để cống hiến cho cộng đồng nhân loại, "đề nghị xã hội dưới ánh sáng Phúc Âm", để đưa ra những đường lối chính yếu cho xã hội con người ( nguyên tắc, tiêu chuẩn để phán đoán và định hướng để tổ chức xã hội nhân loại). Và tiếp theo những " đề nghị xã hội " hay Văn Hóa Chính Trị có tính cách lý tưởng tổng quát để định hướng đó, bất cứ ai thành tâm thiện chí cũng có thể khai triển thành những đồ án và chương trình thực hiện để tổ chức một xã hội xứng đáng với nhân phẩm con người: - " đặc tâm chú ý đến các dấu chỉ thời đại, được diển giải theo ánh sáng Phúc Âm và theo lời huấn dạy của Giáo Hội, cả cộng đồng Ki Tô giáo đều được mời gọi hãy lãnh lấy trách nhiệm của mình đối với những việc lựa chọn cụ thể và phương thức thực hiện thiết thực, để đáp ứng lại các nhu cầu luôn thay đổi trong các hoàn cảnh luôn luôn biến chuyển. Các huấn dụ xã hội đều có đặc tính năng động trong tiến trình phát họa và áp dụng. Người tín hữu giáo dân không nên có thái độ là những người thừa hành thụ động, mà là những cộng tác viên tích cực của các vị chủ chăn; chính họ có thể cung cấp cho các vị kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của chính mình" ( Puebla, Evangelizzazione nel presente e nel futuro dell'America Latino Conclusione della III Conferenza dell'Episcopato Latinoamericano, AVE, Roma 1979, n. 521). Và ở một đoạn của tài liệu Thánh Bộ Tín Lý, chúng ta có những xác nhận: - " Tổ chức một nền văn minh tình thương là một đồ án tổ chức xã hội, một sự thách thức lịch sử, được Giáo Hội đề ra. Một sự thách thức mới mẻ được đề ra cho người Ki Tô hữu đang dấn thân để thực hiện một " nền văn minh tình thương", như là hậu quả tất yếu của gia sản thừa kế luân lý và văn hóa Phúc Âm. Nhiệm vụ vừa kể đòi buộc phải có động tác suy tư mới mẻ trên mối tương quan giữa giới răn tình thương cao cả và trật tự xã hội trong thực tại phức tạp hiện trạng. Kết luận trực tiếp của tiến trình suy tư sâu sắc là phát họa và thực hiện các chương trình hành động táo bạo để phóng thích hàng triệu con người khỏi các mối áp bức xã hội kinh tế và chính trị đang ngột ngạt đàn áp trên họ" (Congregazione per la Dottrina della Fede, Libertatis conscientia, 22.3.1986, 81). Ý nghĩa của đoạn văn vừa kể của Thánh Bộ Đức Tin cho thấy - " Đồ án tổ chức xã hội được Giáo Hội đề ra không phải chỉ giới hạn trong việc nêu ra những nguyên tắc hay những lời kích lệ có tính cách tổng quát cho việc dấn thân xã hội. Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội cốt yếu nhằm định hướng đi đến hành động" (Libertatis conscientia, 72). Đồ án tổ chức xã hội của Giáo Hội, một nền văn minh tình thương, được đặt nền tảng thần học trên Phúc Âm về con người, nhưng rồi phải được diển giải ra bằng "những đồ án hành động táo bạo để phóng thích hàng triệu người khỏi các mối áp bức xã hội, kinh tế và chính trị " ( Libertatis conscientia, 81). Tư tưởng vừa kể cũng được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nêu lên trong Thông Điệp Mater et Magistra: - " Giáo Hội không những có quyền và bổn phận bảo vệ các nguyên tắc luân lý và tôn giáo, mà còn có uy quyền can thiệp vào trật tự trần thế, mỗi khi cần phải phán đoán chuẩn định việc áp dụng các nguyên tắc trên vào các trường hợp thực tế" (Gioan XXIII, Mater et Magistra, 239 ). Giáo Hội đề ra khuôn mẫu tổ chức xã hội, một nền văn minh tình thương, trong đó con người với địa vị cao cả có được một cuộc sống xứng với nhân phẩm của mình. Sứ mạng chính yếu của Giáo Hội là sứ mạng tôn giáo, " Bổn phận của Đức Giáo Hoàng là rao giảng Phúc Âm", nhưng điều đó không cho phép Giáo Hội lẫn tránh trách nhiệm "hiện diện trong xã hội", bởi Chúa Giêsu không rao giảng Phúc Âm cho con người lơ lững trên mây trên gió, mà cho con người sống trong dòng lịch sử với những hoàn cảnh và điều kiện sống phức tạp trong tổ chức xã hội, " nhưng trong Phúc Âm có con người ". Đồ án tổ chức xã hội, trên bình diện văn hoá chính trị, được Giáo Hội đề ra qua hàng giáo phẩm, các vị lãnh đạo của Giáo Hội đề nghị với mọi người. Phần thực hiện, phần chính trị theo nghĩa hẹp, là bổn phận của người tín hữu giáo dân cùng cộng tác với những ai thành tâm thiện chí, có cùng chí hướng đứng ra soạn thảo ra đồ án và chương trình thiết thực để thực hiện. Trong tinh thần phục vụ, với lòng thành thật và khả năng chuyên môn, Chính Trị hay cách tổ chức Quốc Gia để mưu công ích và lợi ích riêng cho từng người, là một trong những hoạt động tối quan trọng, - bởi vì Chính Trị ảnh hưởng một cách quyết định đến đời sống con người, - chính trị liên quan đến nhiều phương diện căn bản của cuộc chung sống dân sự: gia đình, việc làm, sức khoẻ, học đường, nhà cửa, bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người. Lời Chúa trong Phúc Âm cần được " hội nhập văn hoá" vào xã hội con người, tức là các chân lý mạc khải của Phúc Âm cần phải được diển giải biến thành - những giá trị , - thành tư tưởng, - ngôn ngữ và phong tục của mọi dân tộc. Có như vậy, tinh thần Phúc Âm mới có thể định hướng được các cơ chế xã hội và Quốc Gia, qua tiến trình " trung gian hoà giải " (mediation) của người tín hữu giáo dân. Người tín hữu giáo dân dấn thân phục vụ trong các lãnh vực trần thế, với phương thức và luật lệ trần thế riêng của các lãnh vực liên hệ, - cần được soi sáng bởi ánh sáng Phúc Âm, - nhưng cũng cần có những hiểu biết, khả năng chuyên môn và trách nhiệm của chính mình. Người tín hữu giáo dân dân thân phục vụ trong các lãnh vực trần thế với tinh thần Phúc Âm - không phải chỉ là những " thừa tác viện thụ động" của Cha Sở hay Giám Mục của địa phận mình, - mà là những chủ thể năng động tích cực, được soi sáng bởi ánh sáng Phúc Âm, hành động với khả năng chuyên môn và trách nhiệm của chính mình: - " Chức nghiệp và những hoạt dộng trần thế là lãnh vực của giáo dân, mặc dầu không phải là lãnh vực độc quyền của họ…Họ ( người tín hữu giáo dân) nên trông đợi ở các linh mục ánh sáng sức mạnh thiêng liêng. Nhưng họ đừng nghĩ rằng các Vị Chủ Chăn của họ có thẩm quyền để có thể cung cầp cho họ giải pháp thiết thực và kịp thời đối với mọi vấn đề có thể xãy ra, ngay cả đối với những vấn đề hệ trọng cũng vậy. Hoặc nghĩ rằng đó là sứ mạng của các Vị. Đúng hơn được soi sáng bởi đức khôn ngoan Ki Tô giáo, luôn trung thành với huấn dụ của Giáo Hội, người tín hữu giáo dân , chính họ hãy nhận lảnh trách nhiệm của mình" ( GS, 43). Trước viễn ảnh đó, Giáo Hội không ngừng kêu gọi người tín hữu giáo dân không được thiếu bổn phận truyền giáo của mình trong lãnh vực xã hội và chính trị: - " Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích" ( Apostolicam Actuositatem, 14). - " Người Ki Tô hữu phải hợp tác với tất cả mọi người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội…" ( Ad Gentes Divinitus, 12). - " Người Ki Tô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn" ( GS, 57). - " Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mât thiết đến đời sống con người " ( Pio XI, Discorso alla FUCI, 1927, Osservatore Romano, 3). - " Việc dấn thân chính trị là phương thức cần thiết…mặc dầu không phải là duy nhứt, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác" ( Phaolồ VI, Octogesima Adveniens, 46). Qua những gì đề cập và trích dẫn nói lên tầm quan trọng của Chính Trị, liên quan đến đời sống con người với phẩm giá cao cả của mình. Bởi đó nếu Giáo Hội " không làm chính trị ", " không cung cấp dạy dỗ Văn Hoá Chính Trị " cho những ai có phận vụ tổ chức và hành xử chính trị, chính trị đó sẽ không khó khăn gì biến cuộc sống con người thành cuộc sống bị đán áp, đối xử như trâu bò, súc vật, do cách hành xử mọi rợ của những ai nắm lấy quyền hành trong tay. Nếu Giáo Hội " không làm chính trị ", không cung cấp, dạy dỗ nền Văn Hoá Chính Trị cho chính tri, chính trị sẽ trở thành " chính trị mất dạy ".

 

Ngày 13-11-2009, giờ 09:47 Câu chuyện sau đây được viết ra để tưởng niệm hơn 130 đồng bào trên " ghe ông Cộ " trên đường vượt biển tìm tự do đã bị cộng sản Việt Nam tàn sát dã man vào tháng Tư năm 1979 ở đảo Trường Sa, và cũng để gửi đến các con yêu quý của ba: Lê Chí Dũng, Lê Thị Đông Nghi, Tì Tì. Thảm sát trên đảo Trường Sa Chúa ơi cứu con với ! Tiếng thét đau thương, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một giòng nước ấm văng vào mặt đã khiến cho tôi phải lấy tay vuốt mặt mình và bàng hoàng nhận ra toàn là máu, máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẫng cao đầu lên một chút để nhìn sang bên cạnh, người phụ nữ đang oằn oại với vết thương một bên đùi vỡ toác do đạn xuyên phá, máu tuôn xối xả. Tôi xót xa nhìn người phụ nữ đang lăn lộn vì đau đớn, nhưng cũng đành bất lực không cứu giúp gì được, vì ngay bản thân tôi cũng đang nằm bẹp dí xuống sàn tàu để tránh đạn. Đạn vẫn tiếp tục nỗ, tiếng rên xiết, la hét, kêu gào, của những người bị trúng đạn quyện vào nhau tạo thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người, âm thanh giữa biên giới của sự sống và cái chết chỉ diễn ra trong một cái nháy mắt, mới còn nghe rên la đó.... một loạt đạn tiếp theo đã ghim chặt vào thân người, lập tức tiếng rên la im bặt, một con người đã vĩnh viễn ra đi, những người khác tiếp tục rên la, chờ đợi loạt đạn tiếp theo cướp lấy mạng sống của mình. Tôi tự nhủ thầm, muốn sống còn phải rời bỏ con tàu ngay lập tức. Tôi vùng dậy, và nhận ra con tàu đang chìm dần từ phía sau của thân tàu, phía trước của con tàu đã bị đạn pháo bắn gãy, đang chông lên trời. Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt, một cảnh tượng hãi hùng mà tôi chưa từng chứng kiến. Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn của con người trong tôi bừng sống dậy, tôi lao mình ra khỏi con tàu phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng biển chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu. Thật là may mắn, tôi vừa rời xa con tàu thì dường như cùng một lúc, một trái đạn pháo kích rớt chính xác ngay giữa con tàu khiến con tàu gãy đôi và chìm xuống biển, mang theo toàn bộ số người có mặt trên tàu lên tới trên 130 người. Trên mặt biển bây giờ đã không còn thấy bóng dáng con tàu đâu nữa, thay vào đó là những vật dụng bể nát của con tàu, những tấm ván bể nổi trôi lềnh bềnh trên sóng nước. Xác người chết ! xác người chết trôi nổi quanh tôi, phụ nữ, đàn ông, con nít, già có, trẻ có. Tất cả, không một ai còn được toàn vẹn thân thể, không một ai còn sống cả..... Có lẽ tôi là người sống sót duy nhất còn lại của con tàu, ngoài tôi ra thì chỉ còn lại toàn rặt là xác của người chết. Máu, là máu, từng vệt loang dài chảy ra từ vết thương của những xác chết, theo giòng nước trôi quanh tôi. Thủy triều đang lên, tôi rùng mình nghĩ đến đàn cá mập đói đang lẫn quẩn quanh đây chờ thủy triều lên cao sẽ theo mùi máu mà kéo đến, thì cho dù tôi có còn sống thì vẫn phải làm mồi cho đàn cá mập như những xác chết kia mà thôi! Tôi vươn tay cố gắng chụp lấy một mảnh ván để bám vào, tôi bám chặt vào mãnh ván, nhắm mắt lại cầu nguyện, dọn mình chờ chết, và trong cái khoảnh khắc tuyệt vọng đó tôi đã nghĩ đến gia đình, nghĩ đến những người thân thương ruột thịt, đã không biết được rằng tôi đã bỏ thây giữa biển cả và làm mồi cho cá mập. Vĩnh biệt tất cả. 3 giờ sáng thành phố Nha Trang vẫn còn chìm trong giấc ngủ, hàng trụ điện bên đường Nguyễn Thái Học tỏa ánh sáng mờ mờ, soi bóng tôi trên đường. Vai mang cái phao ( loại ruột xe hơi được bơm căng lên ) giả làm dân đi tắm biển sớm ( đối với người dân Nha Trang thì việc có người đi tắm biển vào lúc 3- 4 giờ sáng là chuyện thường ) tôi rảo bước thật nhanh hướng về phía biển cho kịp giờ hẹn. Xuống tới bãi cát, tôi đưa mắt nhìn quanh dò xét địa thế, bãi biển vắng lặng không một bóng người, tôi yên tâm cởi bỏ áo ra chỉ mặc chiếc quần cụt, giả vờ làm vài động tác thể dục trước khi bước xuống nước. Từ xa, về phía biển có ánh sáng mù mờ của một chiếc thuyền câu đang tiến vào bờ, tôi lại đảo mắt nhìn quanh kiểm soát lần cuối trước khi rời bãi cát. Bước xuống nước, tôi nhoài người bơi nhanh về hướng chiếc thuyền câu, trả lời đúng mật mã, một bàn tay vươn ra kéo tôi lên chiếc thuyền. Thuyền lướt nhẹ trên mặt biển hướng về " Hòn Tre " cá nhân tôi thì phải nằm sát xuống khoang thuyền không được ngồi dậy cho đến khi tới chổ ẩn nấp ngoài đảo Hòn Tre. Hòn Tre là một hòn đảo lớn, nằm cách bờ biển và hải cảng Nha Trang khoảng chừng 6 cây số, cư dân trên đảo này rất ít chỉ chừng vài chục gia đình, hầu hết đều sinh sống bằng nghề chài lưới. Nơi đây cũng là nơi ẩn nấp của các tàu thuyền và ngư dân mỗi khi gặp gió bão. Con thuyền chạy được chừng hơn tiếng đồng hồ thì tới một cửa động nằm khuất sâu vào phía trong trên đảo Hòn Tre, rất khó mà tìm thấy nếu không quen thuộc được địa hình nơi đây. Từ phía ngoài nhìn vào, tôi chỉ nhìn thấy một màu tối đen, bằng ánh sáng của cái đèn (pin ) do người ngồi trước mũi soi sáng, chiếc thuyền câu từ từ lướt nhẹ vào động. Tôi được bỏ xuống đây để ẩn trốn chờ đêm đến sẽ ra " tàu lớn " một tốp 5 người đàn ông chạy ra đón tôi, ai nấy đều trần như nhộng, không mặc một thứ gì trên người ( sau này thì tôi cũng như họ vì không khí trong động rất oi bức khó chịu ) họ là những người đã đến trước tôi từ đêm hôm trước, cũng để chờ để ra tàu lớn. Trời đã sáng tỏ, nhưng từ phía bên trong động, chúng tôi nhìn ra bên ngoài cũng chỉ nhìn thấy được một vệt ánh sáng rất mờ, yếu ớt chiếu sáng vào trong động. Lúc này trong động chúng tôi cũng đã lờ mờ nhìn thấy được nhau, thật là một cảnh tượng sống động có một không hai mà trong cuộc đời của tôi đã được tận mắt nhìn thấy, 5 ông A Đam của thời kỳ hồng hoang, ăn lông ở lỗ, trên người không một mảnh vải che thân, đang đứng giữa một thạch động thiên nhiên thì thào to nhỏ với nhau, vì cứ sợ bên ngoài nghe được. Nhưng thật ra thì có hét to lên cũng chẳng có ai người ta nghe thấy. Không khí trong động đã bắt đầu oi bức dần lên, tôi cũng phải lột bỏ cái quần cụt mang trên người để trở thành người tiền sử như những người khác. Qua câu chuyện, tôi được biết nơi đây là nơi cất giấu dầu chạy máy dùng cho chuyến vượt biển, mỗi ngày một ít số dầu tồn trữ được tăng dần lên theo với thời gian, và đây là giai đoạn chót cho nên 5 người họ đã ở lại luôn trong thạch động, chờ tối nay thì sẽ chuyển sang tàu lớn. Tôi được chia cho một ít cơm với muối mè đã được vắt cục lại với nhau để đở đói chờ đêm đến ra tàu lớn, nằm ngã lưng trên mặt đá lởm chởm, tôi liên tưởng đến chuyến vượt biển đêm nay và cầu nguyện ơn trên cho mọi việc được thông suốt, nghĩ đến gia đình, nghĩ đến tương lai không biết rồi sẽ đi về đâu, tôi bồi hồi tất dạ. Đêm đến, ánh đèn pin từ cửa động chiếu ánh sáng vào, cùng với tiếng người nói chuyện với nhau. Rõ ràng là không phải những người trong ban tổ chức, mọi người nín thở chờ đợi, mọi người đều nằm ép sát mình xuống mặt đá, không dám cử động mạnh, cũng may là từ phía ngoài nhìn vào thì chỉ thấy một màu tối đen, nên chúng tôi đã không bị phát giác. Thời gian chờ đợi tưởng chừng như vô tận, sau cùng thì nhóm người đó cũng bỏ đi, chúng tôi thở ra nhẹ nhõm. Một anh trong nhóm chúng tôi cho biết, đó là những người đi " soi mực " ban đêm và anh đoan chắc rằng họ chỉ vô tình đi lạc vào đây mà thôi. Vào khoảng giữa đêm thì chiếc thuyền câu liên lạc đã trở lại thông báo cho biết là: tối nay không thể khởi hành được vì có sự trục trặc do lý do an ninh. Mọi người lộ vẻ thất vọng, nhưng cũng đành phải nhận lấy phần lương thực cho ngày mai và tiếp tục chờ đợi. Thời gian chờ đợi trong thạch động dường như dài vô tận, chúng tôi chỉ có việc ăn xong rồi nằm hoặc đi lại cho giãn gân cốt, trò chuyện thì hạn chế tối đa vì lo sợ bị phát giác. Một ngày một đem đã trôi qua, mọi người nôn nóng chờ tin từ con thuyền liên lạc, bóng đêm lại phủ đầy bên ngoài cửa động, con thuyền liên lạc đã trở lại và tiếp tục báo tin buồn vẫn chưa thể khởi hành được, chúng tôi nóng ruột thấy rõ, người đưa tin thì chỉ làm nhiệm vụ đưa tin và chuyển lương thực cho chúng tôi xong thì rút lui. Đêm thứ ba, bóng con thuyền đưa tin đã trở lại, lần này có vẻ hối hả hơn hai đêm trước, theo sau nó là ba chiếc thuyền câu khác nối đưôi nhau tiến vào thạch động, tôi đoán là giờ khởi hành đã tới. Quả đúng như tôi dự đoán, chúng tôi được lịnh " bốc " toàn bộ số dầu chạy máy lên bốn chiếc thuyền câu cùng với mọi người rời thạch động ra tàu lớn. Giây phút quan trọng đã đến, chúng tôi lần lượt chuyển hết số dầu lên thuyền, còn chúng tôi thì nằm sát xuống thuyền bên trên được phủ một tấm nylon để che kín. Bốn chiếc thuyền câu theo hàng dọc lặng lẽ rời thạch động hướng về tàu lớn. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi đã cập được sát tàu lớn đang bỏ neo chờ chúng tôi." tàu lớn " là một chiếc ghe đi biển của ngư dân, dài khoảng 15 thước, rộng chừng 3 thước, mà dân trong nghề đi biển gọi là " 3 lốc đầu bạc ", dầu được chuyển cấp tốc và nhanh chóng lên tàu lớn, chúng tôi cũng đã lần lượt leo lên tàu lớn. Tàu nhổ neo, chạy ở vận tốc bình thường như là một chiếc tàu đánh cá bình thường khác đang hoạt động quanh đó. Tôi leo lên mui tàu tìm chổ ngồi, tôi đã giật mình kinh ngạc khi nhìn thấy toàn bộ số người có mặt trên tàu. Đông quá! chổ nào cũng có người ngồi chen chúc, nhưng rồi tôi cũng không lấy làm quan tâm cho lắm, miễn sao con tàu cứ tiếp tục hướng mũi ra khơi hướng về Philippine. "tháng ba bà già đi biển " câu thành ngữ của những người hành nghề đánh cá, rất đúng trong trường hợp của chuyến vượt biển đêm nay. Mặt biển phẳng như gương, bầu trời trong vắt với muôn vì sao lấp lánh. Sau khi đã bỏ xa khu vực đánh cá trong vùng, con tàu mở hết tốc lực hướng mũi ra khơi. Mặt trời đã ló dạng từ phía chân trời, trời đã dần sáng tỏ, từ trên mui tàu tôi có dịp quan sát rõ hơn toàn bộ khung cảnh trên tàu, điều khủng khiếp đập vào mắt tôi đầu tiên là mặt nước biển chỉ cách bẹ tàu có chừng non 1 thước, chứng tỏ con tàu đang bị khẳm vì chở nặng con tàu như đang oằn mình trườn tới phía trước với sức nặng vượt quá mức cho phép. Trên khoang tàu la liệt là người, trước mũi, sau khoang, chổ nào cũng có người. Nắng đã lên cao, tuy mới sáng sớm nhưng nắng giữa đại dương đã mang lại cái nóng khó chịu trong người rồi, vài người đã cởi áo ra cũng như tận dụng hết tất cả những gì khả dĩ có thể che nắng được để tránh cái nắng đã bắt đầu gay gắt. Chỗ duy nhất có thể tránh nắng được là cabin tàu đã được dành riêng cho gia đình chủ tàu, các hầm tàu bình thường dùng để làm nơi chứa cá sau khi thu hoạch được, đã được gỡ bốc nắp hầm đi dùng làm nơi tránh nắng, nhưng có lẽ dưới hầm tàu không khí quá ngột ngạt oi bức nên cứ chốc chốc lại có người trồi lên để hứng lấy khỏang không khí trống trải trên tàu, có người leo lên khỏi miệng hầm thì cũng có người lại chui xuống dưới hầm tàu, cái quy trình " cắc cớ " này cứ thế mà tiếp diễn trong suốt cuộc di hành.Vài tiếng khóc của trẻ em đã nổi lên vì khát nước, chủ tàu ra lịnh cung cấp nước uống cho mọi người, người lớn thì được ba nắp " bi đong " con nít được gấp đôi trong ngày đầu tiên, cứ cách khoảng chừng 1 giờ đồng hồ thì lại cấp tiếp cho con nít, người lớn thì phải chịu nhịn lâu hơn. Vì ngồi trên mui cabin nên tôi đã nói chuyện được với gia đình chủ tàu, theo như họ cho biết thì chuyến đi đã bị gặp khó khăn do địa điểm bị tiết lộ ra bên ngoài bởi những người chung vàng cho chuyến đi, do đó thân nhân của những người này đã " canh me " rất sát chuyến đi. Đó cũng là lý do khiến chúng tôi phải chờ đợi trong thạch động hết hai ngày đêm, đêm thứ ba chủ tàu quyết định phải ra đi bằng mọi giá trước khi việc đổ bể. Tàu cập sát bờ biển nơi " kho gạo" để bốc người, số người dự trù chính thức là gần 60 người. Không ngờ, khi tàu cập vào bờ thì người ở mọi ngõ nghách túa ra leo lên tàu, và vì không muốn bị lộ nên chủ tàu đành phải chở hết số khách không có trong danh sách, sau khi kiểm soát lại thì được biết là con số người đã lên đến hơn 130 người. Trời đã vào chiều, gió thổi lạnh, một đàn cá heo " dolphin " bơi cập theo hong tàu trông rất đẹp mắt, mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống chân trời, bóng tối bắt đầu phủ xuống, con trăng thượng tuần treo lơ lửng trên đầu, bóng con tàu trông thật cô đơn giữa biển cả mêng mông, con người đã trở nên vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên, đâu đó văng vẳng tiếng cầu nguyện, lúc đầu nhỏ, sau to dần lên, và không hẹn hầu như mọi người trên tàu đều cầu nguyện theo tôn giáo mình. Biển hoàn toàn vắng lặng, không có bóng một con tàu nào qua lại, không gian là một màu đen che phủ đến lạnh người, con tàu vẫn lầm lũi lướt tới, tôi được anh tài công người của chủ tàu đưa cho một " tấm bạt " loang đầy dầu mỡ để che lạnh, tôi cùng vài người khác quây quần phía bên trong tấm bạt cho bớt lạnh. Một ngày một đêm đã trôi qua trong an bình, mọi người thầm cảm tạ ơn trên đã che chở cho con tàu. Ngày thứ hai, nắng dường như gay gắt hơn, nắng như đổ lửa xuống những tấm thân đã rộp lên vì bị phỏng nắng, tiếng con nít khóc vang trời. Nước ! nước đã trở thành một thứ quan yếu bật nhất trên tàu, chủ tàu đã cử bốn thanh niên lực lưỡng đứng canh gác khu vực để nước. con nít được ưu tiên tăng lượng nước uống lên từ 6 nắp lên 8 nắp, nhưng người lớn thì bị giảm xuống chỉ còn có một nắp mà thôi. Ngày qua đi, đêm lại xuống, tiếng kinh cầu lại vang lên, thỉnh thoảng lại có tiếng nôn oẹ vang lên, đoàn lữ hành nằm dã dượi trân mình hứng chịu khí hậu lạnh lẽo của đại dương về đêm. Ngày hứng chịu cái nắng khủng khiếp, đêm về lại phải đón nhận cái lạnh, chỉ mới có hai ngày mà những con người khốn khổ đã teo hóp lại, sức đề kháng dường như đã không còn nữa. Ngày thứ hai cũng trôi qua bình an, nhưng đoàn người thì đã hoàn toàn đuối sức, ai nằm chỗ đó, phó mặc cho con tàu muốn đưa mình đi tới đâu thì đi. Trưa ngày thứ ba thì sóng gió đã nổi lên, mặt biển đã không còn phẳng lặng nữa, gió đã nổi lên kéo mạnh từng cơn, bầu trời vần vũ, mây đen kéo về đen kịt, từ xa từng ngọn sóng bạc đầu đang kéo tới. Sóng to , gió mạnh, khiến con tàu chao đảo liên tục, từng cơn sóng cao vời bốc con tàu lên cao, nhìn xuống dưới là một hố sâu thẳm đến rợn người. Tôi cùng những người khác trên mui phải leo xuống khoang tàu, vì quá nguy hiểm nếu cứ tiếp tục ở lại trên mui tàu. Đang ở giữa trưa mà tôi cứ ngỡ rằng là đang lúc chiều tối vì bầu trời tối đen, chủ tàu trấn an mọi người rằng :" Đây là chuyện thường thôi, chỉ là " gió Nam " gió Nam thì mấy người làm nghề biển coi như cơm bữa." Hư thật ra sao không biết, mhưng mọi người đã quá hoảng sợ và trở nên nhốn nháo, khiến con tàu đã bị sóng nhồi chao đảo lại thêm chòng chành như muốn lật úp. Chủ tàu phải hét lớn ra lịnh, không được nhốn nháo, nếu không muốn tàu bị lật thì ai ở đâu ngồi đó. Con tàu chuyển mình kêu răng rắc như muốn vỡ ra từng mảnh nhỏ, khiến mọi người đang lúc hoảng sợ càng thêm hoảng sợ, tiếng than khóc, tiếng gọi nhau vang lên thảm thiết, người ta dồn cục vào với nhau như để tìm sự che chở cho nhau. Mưa đã bắt đầu trút xuống, ngày càng nặng hột hơn, mưa giăng trắng xóa cả một khoảng không gian rộng lớn giữa đại dương, con tàu vẫn trồi lên hụp xuống tưởng chừng như muốn hất văng những thuyền nhân xuống biển. Con tàu đã phải chuyển hướng, không thể nào đi theo hướng đã định mà phải cập theo sóng để tránh cho tàu khỏi bị lật úp, người tài công chính của tàu, người nắm giữ sinh mạng của hơn 130 thuyền nhân, giờ đây đang gồng mình ôm chặt bánh lái với sự giúp sức của hai người khác để giữ cho con tàu khỏi bị lật. giữ cho con tàu khỏi bị lật đã là một việc vô cùng khó khăn lắm rồi, việc nhận rõ phương hướng đã không còn được đặt ra nữa. Con tàu đã thật sự lạc mất phương hướng, mặc cho sóng gió đưa đẩy, mọi người chỉ còn biết cầu nguyện và phó mặc số mệnh vào sự may rủi mà thôi. Cơn bảo vẫn tiếp tục quần thảo từ trưa đến tối, nhồi con thuyền xoay vòng giữa cơn bão dữ, những người trên tàu giờ đây đa số đã phải chui vào hầm tàu để tránh khỏi bị hất văng xuống biển. Đến tối thì cơn bão chấm dứt, mọi người ngoi ngóp bò dậy, may mắn thay suốt cơn bão dữ mọi người vẫn được bình an dù đã phải trải qua một ngày kinh hoàng khiến ai nấy không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc tiếp tục di hành thêm nữa. Có ánh đèn ! có ánh đèn ! một người la to, rồi nhiều người khác cùng la, cứ tưởng như là mơ. Nhưng quả thật, từ hướng bên phải của con tàu có ánh đèn leo lét khi ẩn khi hiện do sự trồi lên hụp xuống của con tàu.Tài công hướng mũi con tàu chạy thẳng vào nơi có anh đèn, trông thì gần, nhưng thật ra thì tàu phải chạy gần hai giờ đồng hồ mới đến được. càng đến gần thì mọi người nhận ra đó là một hòn đảo, đảo nhưng có ánh đèn, nghĩa là có người sinh sống trên đảo. Mọi người mừng rỡ quỳ tạ ơn trên đã dẫn dắt con tàu đến nơi bình an. Con tàu đang ngon trớn, bỗng nghe đánh..... ầm một tiếng lớn, tiếng máy tàu gầm rú liên hồi, anh tài công la lớn " Ghe mắc rạng " anh tài công cố gắng bằng mọi cách để xoay chuyển con tàu nhưng đành bó tay đứng nhìn, nhìn mũi tàu ghếch cao ở phía trước, tôi đoán là con tàu đã " cưỡi " lên đá ngầm rồi. Từng đợt sóng mạnh mẽ đánh vào mạng tàu như muốn phá vỡ con tàu ra làm trăm mảnh. Nhìn vào phía trong đảo, thấy không còn xa lắm, từ chổ con tàu gặp nạn vào đất liền khỏang chừng vài trăm thước. Phải rời tàu di tìm đi tìm phương tiện cấp cứu thôi, có người lên tiếng đề nghị. Thế là một số trai tráng khỏang chừng 20 người trong đó có tôi, tình nguyện rời tàu đi vào đảo tìm phương tiện cấp cứu, chúng tôi được quấn dây thừng thật chặt rồi lần theo đó mà vào chổ nông hơn để đi vào bờ, thật may mắn là vào lúc đó thủy triều đang rút xuống cho nên chúng tôi có thể đi bộ vào đảo được, dưới chân tôi là muôn ngàn những con cầu gai cùng với các loại vỏ nghêu, vỏ ốc, mà tôi đã phải dẫm lên khiến cho lòng đôi bàn chân bị cắt đứt ngang dọc, khiến đau rát buốt óc. Chúng tôi lần mò, nối đưôi nhau tiến vào đảo, đặt chân được lên bãi cát trên đảo, chúng tôi nằm nhoài ra nghĩ lấy sức. Hồi tưởng lại cơn bão vừa qua, tôi vẫn còn hãi hùng và thầm cám ơn ơn trên đã che chở, bằng không có lẽ giờ này chúng tôi đã vùi thây giữa lòng biển cả rồi. Lấy lại được sức, đoàn người tiếp tục bước sâu vào trong đảo, riêng tôi thì còn quá mệt nên cũng chẳng vội vã bước theo họ. Vì lý do đó, cho nên tôi trở thành người cuối cùng ở sau chót của đoàn người. Bất ngờ, hàng loạt đèn pha từ phía trong đảo bật sáng chiếu thẳng vào chúng tôi. Có tiếng hô to..... ai đó, đứng lại, vào đây làm gì? Lúc đầu chúng tôi nghe không rõ vì gió biển thổi cùng với tiếng sóng, hơn nữa họ lại nói tiếng Việt phát âm giọng Bắc khiến chúng tôi ngỡ là một thứ tiếng ngoại quốc, có thể là tiếng Phi. Chúng tôi đã vô cùng mừng rỡ vì biết được mình đã tới nơi chốn mà mình muốn. Chúng tôi vừa đưa cả hai tay lên trời, vừa làm dấu cho họ biết rằng chúng tôi đến đây là do thiện chí và cứ thế tiếp tục bước tới. Nhưng càng đến gần thì chúng tôi nhận ra rõ ràng là tiếng Việt chứ không phải là tiếng ngoại quốc. Có tiếng hô qua loa phóng thanh. Tất cả đứng lại..... nếu không sẽ bị bắn bỏ. Trời ạ...... chúng tôi đã lạc vào đảo của Việt Nam rồi! chúng tôi lập tức đứng lại, hai tay vẫn đưa thẳng khỏi đầu, chúng tôi hội ý với nhau là: để qua mặt được họ, chúng tôi phải nói rằng tàu vượt biên do nhà nước tổ chức ra đi. Khi nói như vậy, chúng tôi ngầm hai ngụ ý: Thứ nhất, khi biết là chúng tôi ra đi do nhà nước tổ chức thì họ sẽ tìm phương tiện giúp chúng tôi. Thứ hai, nếu không giúp được gì thì họ cũng sẽ không làm khó dễ chúng tôi, trường hợp tệ lắm là họ sẽ bắt trở về đất liền để đi tù, trong trường hợp này thì mọi người sẽ an toàn hơn cả. Giọng nói kia tiếp tục vang lên. Tất cả đứng yên tại chỗ đợi lịnh......Thời gian lặng lẽ trôi qua trong ngột ngạt. Khoảng chừng hơn 10 phút, thì đột nhiên từ phía bờ cát một loạt lửa da cam tóe lên cùng lúc với những tràng súng liên thanh nổ rền trời, tôi giật mình ngó về phía đoàn người. Tôi như bị hoa mắt vì thấy máu từ các thây người phun ra khắp nơi, thây người đổ ập xuống, tiếng rên la thảm thiết vang lên như muốn xé tan màn đêm. Việt Cộng giết người.....nghĩ thế xong là tôi vội vàng bò hết tốc lực để tránh ra xa khỏi đoàn người và đứng lên vùng chạy về phía biển, vài người khác trong đoàn người cũng cố gắng mang thương tích vùng chạy ngược trở ra biển, một số chỉ chạy được nữa chừng rồi thì ngã xuống nằm lại luôn. Bằng tất cả sức lực còn lại trong người, tôi chạy thẳng và nhào người ra biển, dẫm lên cầu gai, võ nghêu, võ ốc mà chạy càng xa, càng tốt, trong tôi bây giờ không còn có cảm giác đau đơn do bị cầu gai đâm thủng chân nữa, tôi hoàn toàn ở trong trạng thái vô cảm. Sau cùng thì tôi cùng vài người khác cũng đã chạy ra được nơi con tàu mắc cạn. Mọi diễn biến trên đảo đã được chúng tôi tường thuật lại, thực ra thì mọi người đã nghe được tiếng súng nổ tuy không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng cũng phần nào đoán ra được là đã co chuyện không lành. Khi nghe chúng tôi báo cáo lại mọi chuyện, mọi người đã vô cùng hoảng sợ. Tất cả đàn ông, trai tráng trên tàu, đều được huy động xuống để đẩy con tàu ra khỏi vùng đá ngầm. Trời đã phụ lòng người ! sức của con người làm sao chống chọi lại với sức mạnh của thiên nhiên, chúng tôi cố đẩy được con tàu xê dịch đi một chút, thì lập tức các ngọn sóng lại đánh đẩy con tàu trở về vị trí cũ. Đang lúc tất cả đang cố gắng đẩy con tàu thì súng lại nổ vang rền, đạn bay như rãi về phía con tàu. Có thiếng thét kinh hãi... có người trúng đạn... có người trúng đạn, tiếp theo là những tiếng khóc, tiếng kêu gào, khung cảnh rối loạn cả lên, mạnh ai người đó chạy tìm chỗ nấp, nhưng nấp vào đâu bây giờ, giữa trời nước bao la và con tàu khốn khổ đang phải hứng chịu những vết đạn từ những con người tàn bạo? Súng đã thôi nổ liên hồi, nhưng vẫn tiếp tục nổ cầm chừng, và thỉnh thoảng lại có người gào lên kêu cứu khi thân nhân mình trúng đạn. Phải ở vào hoàn cảnh trên thì mới có thể cảm nhận được hết cái không khí dã man, tàn bạo, đầy khủng bố mà không thể có ngòi bút nào lột tả được hết. Súng vẫn nổ lai rai, đoàn người vẫn cố gắng trong tuyệt vọng để đẩy con tàu. Nhưng bất lực! hoàn toàn bất lực! mọi người đã kiệt sức vì đói lạnh, da thịt mọi người đã thâm tím đi vì lạnh. tất cả đều buông xuôi leo lại lên tàu phó mặc cho trời. Suốt đêm đạn vẫn nỗ, người tiếp tục chết vì đạn, tiếng kêu khóc vẫn cứ vang lên mỗi khi có người trúng đạn chết. Từ nơi xa xa, có thấp thoáng ánh đèn chiếu sáng từ một hòn đảo khác bên cạnh. (nhạc buồn) Trời sáng dần, tiếng kẻn buổi sáng phía trong đảo vang lên. Đoàn người tội nghiệp dõi mắt về hướng đảo trông chờ phép lạ. Trên đảo nhộn nhịp hẳn lên, bộ đội chạy tới chạy lui, gia đình thân nhân vợ con của bộ đội cũng chạy ra đứng nhìn con tàu nghiêng ngã. Đàn bà, con nít trên tàu được cho lên mui tàu hướng về trong đảo quỳ lạy xin được cứu giúp. Tiếng kêu khóc vang dội trời xanh, những con người Việt Nam khốn khổ đang quỳ lạy những con người Việt Nam khác ngừng tay bắn giết đồng bào mình. Lịch sử Việt Nam từ bao nhiêu ngàn năm nay chưa bao giờ có những trang sử ô nhục như thế này. Ô kìa.... phép lạ xảy ra, có bóng của những bàn tay vẫy phất như báo cho thuyền nhân biết là họ có thể vào bờ được rồi, những cái vẫy tay mời gọi từ phía trong đảo đã làm mọi người như sống lại. Ưu tiên cho đàn bà và con nít vào trước, dây thừng được lấy ra quấn chặt vào mình, cùng với sự giúp sức của vài thanh niên, sợi dây thừng dài được nối từ con tàu vào thân của những người xuống tàu lôi vào bờ. Đoàn người rời con tàu xa dần dần tiến vào bờ, dây thừng vẫn được quấn chặt vào người, cách bờ chừng 100 mét nhưng vẫn chưa thấy người từ trên bờ ra cứu giúp. Bỗng nhiên súng lại nổ. (Tiếng súng) Trời ơi ! súng nổ nhắm vào những người đang quấn chặt dây thừng ngang mình để vào bờ, thế là chỉ còn có chờ chết mà thôi, làm sao mà có thể chạy thoát được khi sợi dây oan nghiệt đang trói mọi người lại với nhau. Không một ai sống sót qua trò chơi man rợ của lủ người không tim trên đảo. Tiếng kêu gào thảm thiết lại vang lên của những người chồng, người cha, khi nhìn thấy cảnh vợ con mình bị bắn giết vô cùng man rợ như trên. Đàn bà con nít lại được đưa lên mui tàu chấp tay hướng vào đảo mà van lạy xin được buông tha, đáp ứng lại những lời van xin thảm thiết này là những tràng đàn nổ tiếp theo, bóng người đàn bà với tư thế hai tay chấp vào nhau vì đang quỳ lạy ngã chúi xuống biển từ trên mui tàu, cùng lúc với các em trẻ bật ngữa ra sau dẫy chết vì trúng đạn. Tàn bạo, man rợ, không thể nào tả hết. Nắng đã lên cao, từ trong đảo bóng dáng bộ đội cộng sản chạy lại ụ súng được mọi người trên tàu nhìn thấy rõ mồn một. Tấm phông che súng được kéo xuống, nòng súng được hạ xuống. Trời ơi !..... một cây súng pháo với nòng súng dài có đến 10 thước đang hiện ra trước mắt mọi người trên tàu. Kinh hãi,,,,, hỗn loạn trên tàu đã diễn ra, chỉ cần một trái đạn pháo từ khẩu súng đó mà trúng vào con tàu thì tất cả chỉ còn là tro bụi. Cầu nguyện, và dọn mình chờ chết, vì sẽ không còn ai sống sót sau khi trái đạn được khai hỏa bắn trực xạ vào một mục tiêu cố định là con tàu. Nhưng không, tấm phông đã được kéo lại che đậy khẩu súng, nòng súng đã được nâng lên cao, không còn ở vị trí sẵn sàng nhả đạn nữa Bóng dáng bộ đội lại chạy nhốn nháo, và họ đang lấp ráp chân " đế " của cây súng cối. Dã man, tàn bạo, bộ đội cộng sản Việt Nam vì tiếc một quả đạn súng pháo lớn, nên thay vào đó là đạn súng pháo nhỏ hơn, và dó là trò chơi giết người của họ. Ầm.... quả đạn đầu tiên được bắn ra rớt xuống biển cách con tàu chừng vài thước, mọi người chưa kịp hoàn hồn thì. Ầm.... quả đàn thứ hai rớt chính xác ngay mũi tàu, thịt xương văng tung tóe, máu đổ chan hoà, cùng lúc với hàng loạt đạn lớn nhỏ vang rền khắp nơi, tay chân, máu thịt, vung vãi ở khắp mọi nơi trên tàu, con người lăn lộn, vật vã với vết thương, khung cảnh của địa ngục trần gian đang phơi bày trước mắt tôi. Sau tiếng thét đau thương, hãi hùng của người phụ nữ nằm bên cạnh tôi. Tôi vùng dậy, nhoài mình phóng ra khỏi con tàu, một ngọn sóng cuốn tôi ra xa cùng lúc với một trái đạn khác rớt ngay giữa thân tàu, con tàu gẫy đôi và chìm xuống biển. Tất cả sự kiện xảy ra chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, sau khi tiếng kẻng buổi sáng trên đảo vang lên. Chung quanh tôi xác người chết trôi vất vưỡng khắp nơi, những người còn sống sót thì vẫn phải đang lặn hụp với từng cơn sóng biển, và từ trong bờ đảo những tên bộ đội khát máu vẫn giương súng nhắm bắn vào những người sống sót, rất may là nhờ sóng biển nhồi lên hụp xuống mà cái đầu tôi là một mục tiêu khó nhắm đích của những kẻ sát nhân, có người đang cố gắng bơi ra xa khỏi tầm đạn, nhưng nữa chừng thì tôi bỗng thấy nằm bất động trôi vật vờ trên biển, tôi biết rằng họ đã trúng đạn hoặc chết vì vết thương quá nặng. Thủy triều đã lên cao, sóng biển không còn đánh mạnh nữa, và cũng chính vì vậy mà những người sống sót khó tránh khỏi tầm ngắm của lủ sát nhân. Tất cả đã vĩnh viễn ra đi, tôi cũng đã trôi ra xa khỏi tầm đạn và đang nằm chơi vơi giữa đại dương bao la, khung cảnh hoàn toàn im lặng đến rợn người. Tôi nhắm mắt lại cầu nguyện, nghĩ đến gia đình đang còn ở lại đất liền xa xôi, chỉ trong chốc lát nữa thôi những con cá mập sẽ kéo tới và tôi sẽ chết vì bị cá mập ăn. Nghĩ tới cá mập, tôi hoảng sợ mở mắt ra. Và kìa, từ hướng xa tôi nhìn thấy một chiếc thuyền câu đang trôi về hướng tôi. Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội công sản Việt Nam hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt, nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỷ lại thì tôi nhận ra trên chiếc thuyền đó hoàn toàn im lặng, không có một sự di động của bất cứ người nào trên thuyền, tôi hơi vững tâm và cố gắng bơi lại gần thuyền. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi trong thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người dang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên thuyền họ bèn quay lại sụp lạy tôi và xin tha mạng, tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngữa ra nằm bất động trên sàn tàu. Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau thì tôi mới vỡ lẽ ra họ cũng trôi dạt vào đây và cũng bị bắn như chúng tôi. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, trên tàu gồm 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị vào khoảng 9 tuổi, cậu em khoảng 6 tuổi. Ba của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở phía mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát mất phần vai hai bên, hai cánh tay chỉ còn dính liền bởi phần da còn lại trên vai, đang nằm thôi thóp thở dưới hầm máy, tình trạng cho thấy là anh này sẽ khó thoát chết do vết thương quá nặng. Trong khi con thuyền đang trôi vật vờ như thế thì cũng có được 4 người khác từ chiếc tàu bị bắn chìm trước đó thoát chết, leo lên được con thuyền mà chúng tôi đang có mặt. Như vậy là tổng cộng số người thoát chết của hai chiếc thuyền là 16 người, con số trên 130 người đã bị bắn chết vùi thây dưới lòng biển lạnh. Con thuyền cứ tiếp tục trôi vật vờ trên biển, nhưng càng lúc càng rời xa khu vực nguy hiểm, lúc này đã vào khoảng 10 giờ sáng, nhìn sang bên trái của con thuyền, chúng tôi nhìn thấy một hòn đảo khác cách chúng tôi không xa lắm. Nghĩa là con thuyền của chúng tôi đang nằm giữa vị trí của hai hòn đảo. Hòn đảo này tôi đoán có lẽ là hòn đảo mà chúng tôi đã thấy thấp thoáng ánh đèn từ đêm hôm trước, đêm hôm bị bộ đội cộng sản Việt Nam tàn sát. Chúng tôi quyết định phải rời xa hai hòn đảo này càng sớm càng tốt nếu còn muốn sống. ( Đây là một quyết định sai lầm mà chúng tôi đã phải trả giá rất đắt, sẽ được nói đến ở đoạn sau ) chúng tôi dùng mái chèo cố gắng chèo con thuyền ra khơi, vì bình xăng của con thuyền đã bị bắn vỡ chảy hết dầu. Gió đã đổi chiều, thổi con tàu tội nghiệp của chúng tôi trôi vào cõi vô định. Con thuyền này dài chừng 6 thước, rộng gần 2 thước, loại thuyền dùng để đi câu ven bờ biển chứ không thể đi xa hơn. Vậy mà nó cũng đã chở 13 con người vượt được hàng trăm hải lý để đến nơi đây cùng chung số phận như chúng tôi. Chiều xuống dần, không gian yên tỉnh, không có một bóng dáng của bất cứ một con tàu nào khác ngoài con thuyền của chúng tôi lạc lõng giữa đại dương. Tối đến, chúng tôi phát giác ra một chuyện chết người khác, con thuyền đang bị vô nước từ phía dưới lườn tàu, thế là chúng tôi tìm cách chặn nước không cho tràn vào, và cử người canh chừng để tát nước liên tục. cứ hai người cho mỗi phiên trực tát nước, số phận của 16 người sống sót trên con thuyền này sẽ tùy thuộc vào hai người có nhiệm vụ tát nước ra khỏi tàu, nếu chẳng may họ buồn ngủ, hoặc mệt quá mà chểnh mảng thì con thuyền sẽ chìm và mọi người cũng sẽ chìm theo con thuyền, nhưng biết làm sao hơn đây! khi mà tất cả mọi người ai cũng còn mang nét mặt kinh hoàng vì mới vừa phải trải qua một biến cố quá đau thương và.... phó mặc cho mọi việc cho Thượng Đế. Một đêm kinh hoàng trôi qua, người sống phải sống cùng xác chết trên một diện tích vô cùng chật hẹp của con thuyền, vấn đề vệ sinh chung đã được đặt ra, là phải giải quyết cái xác chết vẫn còn ở trước mũi thuyền. Thật là tội nghiệp cho hai đứa trẻ, chúng kêu khóc thảm thiết không cho thủy táng người cha thân yêu của mình. Chúng tôi cũng đành phải chìu lòng của hai em, nhưng sang đến ngày thứ ba thì chúng tôi phải giấu hai em mà thủy táng người quá cố để bảo vệ sức khỏe cho những người còn lại. Sau này biết được các em đã lăn lộn khóc lóc vô cùng bi thảm, chúng tôi chỉ còn biết rớt nước mắt dỗ dành hai em. Tình trạng của anh thanh niên bị thương dưới hầm tàu đã trở nên tồi tệ hơn vì không có thuốc men chạy chữa, vết thương đã thối rửa, biết là anh cũng sẽ không qua khỏi, tối ngày thứ ba, sau khi thủy táng người đàn ông ba của hai đứa trẻ, chúng tôi quyết định nấu cho anh chút cháo trộn với đường cát như là bửa ăn tối cuối cùng trước khi ra đi, tôi là người đã đút cháo cho anh ăn, suốt bửa ăn anh cứ liên tục kêu cứu cầu sống, tôi chỉ còn biết gạt lệ an ủi với anh là cố gắng chút cháo, rồi mọi người sẽ được cứu sống. Sáng hôm sau, chúng tôi thấy anh đã nhắm mắt lìa đời, thân thể anh tái xanh vì đã không còn máu. Chúng tôi cũng đã thủy táng anh và cầu nguyện cho linh hồn anh sớm được siêu thoát. Đã hơn một tuần lễ lênh đênh trên biển, có một điều thật lạ lùng là chúng tôi không hề nhìn thấy bất cứ một thương thuyền nào qua lại vùng biển này cả. Không lẽ chúng tôi đã lạc vào một vùng biển chết? Lương thực còn được mấy kí gạo sau ngày bị bắn dùng để nấu cháo cầm hơi cũng đã hết, nước uống thì đã hết từ trưa, cơn đói khát đang đốt cháy ruột gan mọi người. Một ngày đói khát đã bắt đầu và sẽ còn tiếp tục không biết kéo dài đến bao lâu. Cầu nguyện, chỉ còn có biết cầu nguyện thôi, tất cả mọi việc đều đã được sắp đặt và an bày do Thượng Đế, con người đã trở thành vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên, vũ trụ. Lại một ngày đói khát nữa, cái khát làm cho da thịt như muốn bốc khói, môi nức nẻ, đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh bởi thức ăn, nước uống. Tội nghiệp hai đứa trẻ, suốt ngày chúng cứ nói đến miếng ăn mà trước đây mẹ chúng làm cho chúng ăn, hoặc thứ nước uống mà chúng thích. Mọi người như mê loạn đi vì đói và khát. Dường như lời cầu nguyện của chúng tôi đã thấu tới trời xanh. Chiều hôm đó, trời đổ cơn mưa, những hạt mưa như những nước cam lồ trong chuyện thần tiên, tưới mát thân thể chúng tôi, chúng tôi say sưa ngữa mặt lên trời hứng lấy nước mưa mà uống, lấy thêm " can nhựa " trên tàu hứng lấy nước mưa dự trữ. Nhưng trời mưa lại dẫn đến một vấn đề khác. Thuyền ngập nước, thế là mọi người xúm vào tát nước cho thuyền khỏi chìm, rất may là cơn mưa không kéo dài. và còn may hơn nữa là từ đó cho đến ngày được cứu, cứ vài ngày lại có một cơn mưa ngắn giúp chúng tôi có đủ nước uống. Vấn đề nước uống đã được giải quyết, nhưng còn thức ăn? chúng tôi đã không còn được bất cứ một thứ gì để có thể ăn được. Cơn đói cứ dày vò, ám ảnh chúng tôi liên tục, người chúng tôi đã teo lại chỉ còn lớp da bọc lấy xương, hay nói cho đúng hơn là những bộ xương biết bò, vì chúng tôi không thể nào đứng vững được nữa. Một hôm tôi bò xuống hầm máy để cố gắng kiếm thử xem còn gì có thể ăn được không, tôi trông thấy một chai " xá xị " mới nhìn tôi cứ tưởng đó là một chai đựng dầu nhớt gì đó của mấy người thợ máy bỏ quên, nhưng tôi cứ cầm lên và ngữi thử. Một mùi thơm ngào ngạt bốc thẳng vào óc tôi, khứu giác tôi dường như mở ra tối đa để hít lấy mùi thơm đó. Mùi thơm của mỡ heo, đúng vậy, chai xá xị kia là một chai dùng để đựng mỡ heo dành để chiên đồ ăn của các ngư phủ. Tôi thọc ngón tay vào miệng chai và đưa lên miệng mút. Trời ạ! thật là một thứ cao lương mỹ vị mà tôi chưa hề được thưởng thức qua bao giờ, tôi cứ mút lấy mút để cái thứ nước sền sệt nhưng vô cùng tuyệt hảo đó. Chợt nhớ lại những người ở trên, đặc biệt là hai đứa trẻ, tôi bò trở lên với chai xá xị, không ai còn để ý đến tôi vì mọi người đều đã nằm liệt. Tôi bò đến hai đứa trẻ, thò ngón tay tôi móc một ít mỡ heo nhét vào miệng các em, như là một liều thuốc tiên các em bừng tỉnh lại, tôi ra dấu cho các em cứ bình tỉnh mà mút mỡ heo, nhắm chừng các em đã dần dần có chút sinh lực trở lại, tôi trút một ít mỡ heo vào cái chén nhựa cho các em, còn lại tôi dùng một chiếc đũa thọt vào chai xá xị có mỡ heo và kêu mọi người lại mút lấy chiếc đũa thần kỳ diệu. Nhờ có chai xá xị mỡ heo mà chúng tôi có được một bữa tiệc sang trọng nhất trong đời. Và cũng nhờ chút mỡ heo tuyệt vời đó mà em bé trai có chút sinh lực ngồi nghịch phá cái máy radio nhỏ xíu bất khiển dụng, cái radio bị vỡ lòi ra mấy sợi dây kẻm nhỏ, một bác lớn tuổi trên thuyền có sáng kiến uốn mấy sợi kẻm nhỏ đó thành những cái móc câu, dùng cước cột các móc câu đó lại, cạy các con ốc nhỏ bám theo be thuyền làm mồi. Kết quả thật bất ngờ khích lệ, buổi đầu tiên bác câu được hai con cá lớn độ bằng bàn tay người lớn. Cái cột buồm vô dụng được bác ấy chẻ ra từng miếng nhỏ dùng để nhóm bếp. Cũng may là trên thuyền còn có được cái hôp quẹt còn xử dụng được. Hai con cá được bác nướng lên chia đều cho mỗi người. Từ đó chúng tôi được chia ra làm công việc chẻ cột buồm để giữ lữa, bác ấy làm công việc câu cá. Ngày nào có được vài con cá thì bác chia đều cho mỗi người được một miếng bằng hai ngón tay, ngày nào không câu được thì mọi người nhịn đói uống nước mưa cho qua cơn đói. Chúng tôi đã trôi trên biển 20 ngày qua rôi, nhưng vẫn không nhìn thấy bóng dáng của một chiếc thương thuyền nào, mỗi khi chiều xuống tôi thường bò lên trước mũi thuyền nằm trông ngóng bóng dáng một con thuyền. Nằm nhìn những con chim hải âu săn mồi trên biển mà lòng tôi tan nát, không ngờ rằng cuộc đời của mình lại kết thúc trong bi thảm như thế này. Sợ nhất là mỗi khi chiều về, màn đêm chuẩn bị buông xuống, chung quanh là một màu tối đen, không khí chết chóc cứ như lẫn quẩn đâu đây. Hoặc những khi trời nỗi cơn giông, từng lượn sóng cao như mái nhà bốc con thuyền lên cao, rồi nhận con thuyền xuống đáy, rồi lại bốc lên, cứ như thế kéo dài hàng mấy giờ đồng hồ liền khiến chúng tôi vô cùng sợ hãi. Tình trạng cô đơn giữa đại dương bao la kéo dài cho đến tuần lễ thứ ba thì chúng tôi nhìn thấy con tàu đầu tiên. Thật là không còn gì để diễn tả được nỗi vui mừng của chúng tôi, chúng tôi reo mừng, reo la cầu cứu, vì nghĩ rằng chắc chắn là mình sẽ được cứu. Nhưng, ô kìa ! chiếc thương thuyền vẫn lạnh lùngrẽ nước phăng phăng chẳng buồn ngó đến chúng tôi, mặc dù khỏang cách của đôi bên quá gần, gần đến nổi chúng tôi có thể nhìn thấy thủy thủ trên chiếc tàu buôn đang tập trung trên bong tàu để nhìn chúng tôi. Con tàu khuất dạng ở chân trời, chúng tôi ngỡ ngàng, hụt hẫng, sao lại có chuyện lạ lùng như vậy ? Sao lại có những người vô lương tâm đến như vậy? thấy người sắp chết sao không cứu? ngần ấy câu hỏi cứ quay trong đầu tôi cho tôi đến khi tôi lịm người đi vì mệt mỏi và thất vọng. Lại có thêm bóng dáng một chiếc tàu buôn từ đàng xa, như được tăng thêm sức, tôi cùng vài người khác vùng dậy trèo lên mui ra dấu cầu cứu, và cũng như chiếc tàu thứ nhất, họ lạnh lùng bỏ đi mặc cho chúng tôi kêu gào đến kiệt sức. Từ đó trở đi, mỗi ngày chúng tôi nhìn thấy hàng chục chiếc tàu buôn qua lại trong vùng nhưng không một chiếc nào chịu cứu vớt chúng tôi. Thậm chí, có ngày chúng tôi còn nhìn thấy hạm đội của Mỹ đang thao dượt trên biển với máy bay phản lực lên xuống trên các chiến hạm. Từ dữ kiện này, tôi đoán là chúng tôi đang ở đâu đó trong vùng vịnh Philipine. Chiều ngày thứ 30 trên biển, chúng tôi tuyệt vọng trong mòn mỏi, không còn hơi sức để kêu cứu nữa, mặc cho các tàu buôn vẫn qua lại nhìn chúng tôi sắp chết. Tôi nằm xoải trên mui con thuyền đưa mắt hững hờ nhìn chiếc tàu buôn mang hàng chữ Nhật chở đầy những cây gỗ với đường kính hai người ôm, chiếc tàu buôn đó, cũng như những chiếc khác trước đây, cũng lạnh lùng băng qua trước mặt chúng tôi mà đi thẳng, tôi cũng chẳng buồn ngó theo làm chi vì quá chán ngán với thế thái nhân tình. Khỏang độ hai tiếng đồng hồ sau, tôi đang nằm nhìn mặt trời xuống dần thì bỗng giật mình vì tiếng còi hụ ngân dài, tiếng còi hụ giữa biển khơi nghe vang dội, tôi nhổm mình dậy nhìn thì trông thấy từ đàng xa chiếc tàu buôn chở gỗ mà tôi nhìn thấy từ chiều đang tiến về hướng chúng tôi. Và..... Trời ạ ! thủy thủ trên tàu đang nhộn nhịp với dây thừng và phao cấp cứu, và quan trọng hơn nữa là nó đang giảm dần tốc độ để lựa thế lại gần thuyền chúng tôi mà tàu chúng tôi không bị lật do sóng vỗ. Dùng thân tàu to lớn như ngọn núi, chiếc tàu buôn chận lại các ngọn sóng đang vỗ về phía tàu chúng tôi như một bà mẹ đang bảo vệ đứa con bé bỏng của mình, các thủy thủ đang cố gắng quăng các sợi dây thừng sang phía chúng tôi. Họ đã cứu chúng tôi, sau khi đã cột được dây thừng vào thuyền chúng tôi, họ đã kéo được con thuyền cập sát hong chiếc tàu buôn, chiếc thang dây được buông xuống, chúng tôi từng người một dưới sự phụ giúp của các thủy thủ trên chiếc tàu buôn, chúng tôi đã lần lượt lên được chiếc tàu buôn an toàn. Leo lên được bong tàu chúng tôi ngã sóng xoài xuống và nằm im không cử động gì được nữa, vì tất cả sinh lực còn lại đã được dồn lại cho việc leo lên chiếc tàu buôn to lớn kia sau gần hai tiếng đồng hồ cố gắng thực hiện. Con tàu nhỏ bé tội nghiệp của chúng tôi được kéo theo sau chiếc tàu buôn, nhưng sau đó có lẽ vì lý do an toàn đã được cắt bỏ, nhìn chiếc thuyền bé nhỏ tội nghiệp đã cưu mang chúng tôi một tháng trời ròng rả trên biển đang từ từ chìm xuống biển, chúng tôi không hẹn mà ai cũng bật lên tiếng khóc chào vĩnh biệt con thuyền. Tối đến, chúng tôi được cho uống nước mát ướp lạnh, một loại nước uống thông dụng của người Đại Hàn có pha đường. Thật là một cảm giác khó tả, khi cầm ly nước trong tay nhưng chưa uống được vì quá vui mừng vì đã được cứu sống, tất cả xảy ra như trong một giấc mơ. Sáng hôm sau chúng tôi được cho ăn cháo loãng với nước tương ( xì dầu ) chúng tôi ăn như chưa bao giờ được ăn. Nhưng vì sợ chúng tôi bị bội thực, thủy thủ trên tàu đã không cho chúng tôi ăn nhiều, vậy mà cũng có người sau khi ăn xong bèn quay qua ói xối xả vì bội thực. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được biết đây là một chiếc tàu chở mướn của một công ty hàng hải Nhật Bản với thủy thủ đoàn và Thuyền Trưởng là người Đại Hàn, chiếc thuyền đang trên đường chở gỗ từ Pakistan về Okinawa một hòn đảo nằm về phía cực Nam nước Nhật. Viên Hoa Tiêu cho chúng tôi biết diễn biến của sự việc như sau: Lúc chiều ( là lúc mà tôi nhìn thấy chiếc thuyền ) ông ta đã thấy con thuyền của chúng tôi và đã báo cáo lên Thuyền Trưởng xin phép được tiếp cứu, nhưng viên Thuyền Trưởng cho biết là ông ta không được phép làm vậy, nếu không tất cả nhân viên kể cả ông sẽ bị mất việc và gặp rắc rối, vì vậy mà chiếc tàu vẫn tiếp tục hải trình như tôi đã thấy. Tuy nhiên, viên hoa tiêu vẫn cứ tiếp tục van nài Thuyền Trưởng với lý do là sẵn sàng bị mất việc, chứ thấy người sắp chết mà không cứu là không được. Hơn nữa, theo tin tức khí tượng cho biết thì tối nay bão sẽ kéo tới và chắc chắn rằng con thuyền vượt biên sẽ bị nhận chìm xuống biển. Viên thuyền Trưởng đã khóc và chấp nhận vớt chúng tôi. Vị trí mà chiếc tàu buôn đã cứ chúng tôi nằm cách đảo Lữ Tống ( Luzon ) của Philippine khoảng 60 cây số. Và nếu chúng tôi có sống sót qua cơn bão này thì chúng tôi sẽ trôi ra tới Ấn Độ Dương, vì gió đã đổi chiều và chúng tôi sẽ khó có cơ hội được cứu thoát vì đó không phải là hải trình của tàu buôn. Chúng tôi cũng đã tường thuật lại chuyến vượt biên kinh hoàng của chúng tôi cho Thuyền Trưởng và toàn thể thủy thủ trên tàu được biết. Sau khi nghe chúng tôi tường thuật, Thuyền Trưởng đã đánh điện vào đất liền thông báo cấp tốc,vì trước đó qua tin tức ông cũng đã biết được chuyến vượt biên kinh hoàng này do những người sống sót trước đó tường thuật lại. Số là trong cái đêm kinh hoàng dó, khi chúng tôi bị bộ đội cộng sản Việt Nam tàn sát dã man, thì có 8 người đàn ông nhìn thấy có ánh đèn trên một hòn đảo ở từ phía xa, cách nơi chiếc thuyền bị nạn chừng vài hải lý, nên thay vì ở lại chờ chết, họ đã lặng lẻ dùng các can nhựa có trên tàu để bơi về phía hòn đảo có ánh đèn đó để tìm sinh lộ. Họ đã tìm đúng sinh lộ, vì đó là hòn đảo thuộc chủ quyền của Philippine. Họ được cứu và đưa về đất liền ngay đêm hôm đó. Đêm đó, quân trú phòng trên đảo được lệnh báo động và sẵn sàng để cứu vớt các thuyền nhân mắc nạn, họ cho biết là có nghe tiếng súng nổ suốt đêm, và súng pháo kích sáng hôm đó, nhưng không thể làm gì khác hơn được là đứng nhìn, vì hòn đảo đang diễn ra cuộc tàn sát thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tóm lại, trong khi chúng tôi vẫn còn đang lênh đênh trên biển đúng một tháng, thì đã có 8 người trên chiếc " ghe ông Cộ " đã được cứu thoát do bơi sang đảo Phi. Nhận được tin từ vị Thuyền Trưởng, Bộ Nội Vụ Nhật Bản đã đồng ý cho chúng tôi cập bến Okinawa, Thuyền Trưởng hoan hỷ loan báo tin này cho chúng tôi biết và chúc mừng chúng tôi thoát nạn. Ba ngày sau, chúng tôi cập bến hải cảng Okinawa. Người đầu tiên bước lên tàu để đón chúng tôi là một thông dịch viên tiếng Nhật, anh tên là Nguyễn Gia Hùng, một sinh viên du học tại Nhật Bản trước năm 1975, hiện đang phụ giúp với hội Caritas Nhật lo giúp đỡ những thuyền nhân Việt Nam đang tị nạn tại Nhật Bản. Chúng tôi đã vô cùng xúc động vì nghĩ mình đã được tái sinh lần thứ hai. Chúng tôi bịn rịn bắt tay từ giả các vị ân nhân cứu mạng mình để lên đất liền làm thủ tục tị nạn, những người này cũng đã khóc khi tiển chúng tôi bước xuống cầu tàu. Bước xuống tàu, chúng tôi đã nhìn thấy một rừng phóng viên báo chí, các hãng thông tấn thế giới đang chờ sẵn để lấy tin tức, một cuộc họp báo đã được tổ chức liền tại chỗ dưới sự hướng dẫn và thông dịch của các anh thuộc tổ chức Người Việt Tự Do tại Nhật Bản. Sau dó chúng tôi lên xe bus về trại tị nạn tại quận Motobucho, một trại tị nạn dành cho người Việt tị nạn được coi là lớn nhất nước Nhật với vỏn vẹn chừng 300 người Việt hiện đang tạm trú để chờ các quốc gia đệ tam nhận đi định cư. Ngày hôm sau, tất cả các báo chí, đài truyền hình Nhật Bản đều cho chạy đi bàn tin đầu với hình ảnh và tin tức về chuyến vượt biển kinh hoàng do tội ác cộng sản gây nên, và 30 ngày đói khát lênh đênh trên mặt biển của chúng tôi. Cầm trên tay tờ báo, nhìn vào hình ảnh của chính mình, tôi đã rúng động không còn nhìn ra được mình nữa, thay vào đó là một bộ xương với hộp sọ nhô cao lên. Đôi giòng lệ đã âm thầm chảy xuống vì hạnh phúc. Tôi biết mình đã thực sự sống sót. Chủ nghĩa cộng sản đã là một thảm họa của nhân loại, kể từ khi thứ chủ nghĩa này xuất hiện trên thế giới, nó đã giết chết không biết là bao nhiêu nạn nhân vô tội. cuộc vượt biển tìm tự do đầy bi thảm và kinh hoàng của tôi cũng chỉ là một sự đóng góp vào kho tàng tội ác của chủ nghĩa cộng sản. Điều đáng quan tâm là hiện nay đất nước và dân tộc Việt Nam vẫn còn bị chìm đắm dưới sự độc tài, toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam. Chỉ có một con đường duy nhất là phải chấm dứt cái chế độ man rợ này, không thể nào nói chuyện hòa hợp hòa giải với những con người với đầu óc chai cứng vì đặc quyền, đặc lợi, mà họ đang thụ hưởng trên từng thân xác của những con người Việt Nam bất hạnh. Đào Minh Tri * Source: http://lyhuong.net/viet/index.php?op...nhan&Itemid=64

 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, hôm nay tôi muốn được đề cập đến một nhà trí thức quan trọng của Tây Phương Ki Tô giáo: Gioan Scoto Eriugena, mà nguồn gốc chúng ta không được biết rõ. Chắc chắn Gioan Scoto Eriugena xuất thân từ Ái Nhĩ Lan, nơi mà ngài được sinh ra ở những năm đầu của các năm 800, nhưng chúng ta không biết được ngài đã rời hòn đảo của ngài lúc nào để vượt qua eo biển Manche và như vậy hội nhập hoàn hảo vào thế giới văn hoá đang đươc khôi phục lại dưới thời Carolingiens, nhứt là dưới thời vua Charles Calvé, ở Pháp trong thế kỷ IX. Không biết rõ ngày sinh tháng đẻ của ngài, chúng ta cũng không biết được ngài mất đi lúc nào, mà theo các học giả, có lẽ phải vào khoản năm 870. 1 - Gioan Scoto Erigugena nhận được trực tiếp ngành văn hóa về các Giáo Phụ, Hy Lạp cũng như La tinh: thật vậy, ngài trực tiếp biết được các văn phẩm của các Giáo Phụ La Tinh và hy Lạp. Ngoài ra, ngài còn biết được các tác phẩm của Thánh Augustino, Ambrogio, Gregorio Cả ( Gregorio Magno), những Giáo Phụ trọng đại của Tây Phương Ki Tô giáo, nhưng ngài cũng biết được tư tưởng của Origene, Gregorio Nissa, Gioan Crisostomo ( Gioan Kim Khẩu) và các Giáo Phụ không kém quan trọng khác ở Đông Phương. Gioan Scoto Eriugena là một con người phi thường, là người thấu triệt ngôn ngữ Hy Lạp lúc đó. Ngài đặc tâm chú ý một cách đặc biệt đến Thánh Massimo il Confessore ( Massimo Vị Cáo Giải ) và nhứt là đến Dionigi Areopagita. Dưới tên gọi ẩn danh đó, Dionigi là một văn hào về Giáo Hội học ở thế kỷ V, người Syria, mà cả thời Trung Cổ và Gioan Scoto Eriugena đều xác tín rằng đó là một môn đệ trực tiếp của Thánh Phaolồ, được đề cập đến trong sách Tông Đồ Công Vụ: - " Nhưng có mấy người đi theo ông và tin Chúa, trong số đó có ông Dionigi, thành viên hội Đồng Areopago và một phụ nữ tên là Damaria, cùng những người khác nữa" ( Act 17, 34). Scoto Eriugena, xác tín đặc tính tông truyền đó của Dionigi, bởi đó ngài gọi Dionigi là " tác giả thiên thánh" nhứt. Bởi đó các tác phẩm của Dionigi là nguồn mạch tuyệt hảo cho tư tưởng của ngài. Gioan Scoto dịch các tác phẩm của Dionigi ra tiếng La Tinh. Nhờ đó các nhà đại thần học thời Trung Cổ, như Thánh Bonaventura, biết được các tác phẩm của Dionigi qua các bản dịch đó. Gioan Scoto dành cả cuộc sống để tìm hiểu sâu xa và phát triển tư tưởng của mình, múc lấy từ các văn bản vừa kể, thậm chí cho đến ngày nay, chúng ta khó mà phân biệt được đâu là tư tưởng của Scoto Eiugena và trái lại, đâu là ngài không làm gì khác hơn là trình bày lại tư tưởng của chính Dionigi Ẩn Danh. Thật ra các hoạt động thần học của Gioan Scoto không gặp được nhiều may mắn. Không những là phần cuối của thời Caroligiens làm cho người ta quên đi các tác phẩm của ngài, mà ngay cả một động tác kiểm soát của Giáo Quyền cũng đã làm cho khuôn mặc của ngài bị chìm vào bóng tối. Gioan Scoto được coi là người theo sát tư tưởng của truyền phái Platon, và đôi khi bị xem là người gần gũi với quan niệm đa thần, mặc dầu các chủ đích cá nhân của ngài vẫn luôn luôn là chính thống. Chúng ta còn được một vài tác phẩm của Gioan Scoto, trong số đó những tác phẩm đáng được ghi nhớ đặc biệt là tác phẩm bình luật " Về Sự Xếp Đặt Thiên Nhiên" ( Sulla divisione della natura) và " Các Thứ Bậc PhẩmTrật Thiên Quốc của Thánh Dionigi" ( Esposizioni sulla gerarchia celeste di san Dionigi). Gioan Scoto khai triển những suy tư thần học thật hấp dẫn, có thể cũng là những gợi ý suy tư sâu đậm thêm cho các nhà thần học đương thời. Tôi muốn đề cập đến, ví dụ, về những gì ngài viết về bổn phận phải chuẩn định thích đáng đối với điều được coi là quyền lực chính đáng ( autoritas vera), hay về việc gắng công tiếp tục tìm kiếm sự thật, cho đến mức đạt được một vài kinh nghiệm trong thái độ thờ phượng Thiên Chúa trong thầm lặng. Vị tác giả của chúng ta nói: " Salus nostra ex fide inchoat", (phần rổi của chúng ta khởi đầu từ đức tin). Điều đó có nghĩa là chúng ta không thể nói về Chúa từ những gì chúng ta sáng tạo ra, mà là từ những gì chính Thiên Chúa nói về Người trong Thánh Kinh. Dĩ nhiên điều đó bởi vì Thiên Chúa chỉ nói lên sự thật, bởi đó Scoto Eriugena xác tín rằng quyền lực và lý trí không bao giờ có thể đối nghịch nhau. Ngài xác tín rằng tôn giáo đích thực và triết lý ngay chính luôn trùng hợp nhau. Trong nhãn quang đó ngài viết: - " Bất cứ một loại quyền lực nào không được lý trí ngay chính xác nhận đều phải được coi là quyền lực yếu ớt...Thật vậy quyền lực không chính đáng nếu không trùng hợp với sự thật nhờ sức mạnh của lý trí khám phá ra, cả khi đề cập đến một quyền lực được các Giáo Phụ gởi gắm, khuyên dặn và trao chuyển lại vì lợi ích cho các thế hệ mai sau" ( I, PPL 122, col 513 BC). Vì lý do đó ngài lưu ý. - " Ước gì không có quyền lực nào làm cho anh phải khiếp sợ hay làm cho anh xao lãng khỏi điều mà anh đạt được nhờ vào đường lối suy niệm lý trí. Thật vậy, quyền lực chính đáng không bao giờ đối nghịch lại lý trí ngay chính. bởi lẽ không có gì phải nghi ngại là cả hai đều thoát xuất từ một cội nguồn duy nhứt, đó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa " ( I, PL 122, col 511B). Như vậy chúng ta gặp được ở đây một lời xác quyết can đảm về giá trị của lý trí, được đặt nền tảng trên rằng quyền lực chính đáng là quyền lực hợp lý, bơi vì Thiên Chúa là Lý Trí sáng tạo. 2 - Theo Eriugena, chính Thánh Kinh cũng không vượt ra khỏi sự cần thiết phải dựa vào cùng một tiêu chuẩn để nhận định. Thật vậy, nhà thần học Ái Nhĩ Lan xác quyết trong khi trình bày một suy tư hiện hữu nơi Thánh Gioan Kim Khẩu ( Giovanni Crisostomo), Thánh Kinh, mặc dầu thoát xuất từThiên Chúa, có lẽ không cần thiết phải có, nếu con người đã không sa ngã phạm tội. Hiểu như vậy, chúng ta có thể diễn dịch rằng Thánh Kinh được Chúa ban cho với mục đích sư phạm và do lòng chiều chuộng đối với con người, để con người có thể nhớ lại được tất cả những gì Thiên Chúa đã ấn dấu vào trong tâm hồn của mình ngay từ lúc Người tạo dựng nên mình " giống hình ảnh Thiên Chúa"( cfr Gen 1, 26) và cuộc sa ngã dầu tiên của con người đã làm cho con người quên mất đi. Eriugena viết trong quyển " Expositiones " ( Những Điều Trình Bày): - " Không phải con người được dựng nên cho Thánh Kinh, mà có lẽ con người không cần đến, nếu con người đã không phạm tội, nhưng đúng hơn phải nói Thánh Kinh - được hiểu như là giáo lý và các dấu chỉ tượng trưng - được Chúa ban cho là ban cho con người. Thật vậy, nhờ Thánh Kinh, bản tính con người có lý trí của chúng ta hội nhập được vào các bí nhiệm của việc chiêm ngắm trong sáng đích thực về Chúa" ( II, PL 122, col 146 C). Lời của Thánh Kinh thanh tẩy lý trí của chúng ta đã bị làm mờ ám đi và gíúp cho chúng ta nhớ lại tất cả những gì, như là hình ảnh của Thiên Chúa, mà chúng ta đang mang trong tâm hồn, nhưng rất tiếc đã bị tội lỗi làm tổn thương. Từ đó đưa đến một vài hậu quả về cách chú giải Thánh Kinh, mà ngày nay vẫn còn chỉ dẫn cho chúng ta con đường chính đáng phải có để có thể đọc Thánh Kinh một cách đúng đắn. Thật vậy, đó là điều cần phải khám phá ra ý nghĩa ẩn dụ trong trong Sách Thánh và muốn làm điều đó cần phải cuộc thực tập đặc biệt nội tâm, nhờ đó lý trí mở ra cho chúng ta con đường vững chắc để đến được chân lý. Việc thực tập đó gồm việc nuôi dưỡng thái độ luôn luôn sẵn sàng sám hối. Bởi vì muốn thấy được trong thâm sâu của Văn Bản, tâm hồn sám hối cần tiến bước đồng thời với hiểu biết phân tích ý nghĩa trang Sách Thánh, theo vũ trụ quang, lịch sử hay tín lý cũng vậy. Thật vậy, chỉ nhờ vào việc thanh tẩy không ngừng, con mắt của trái tim và mắt của trí khôn chúng ta mới có thể chiếm lấy được sự hiểu biết xác đáng. 3 - Con đường bước đi đầy cản trở, đầy yêu sách và phấn khởi nầy, được thực hiện bằng những chinh phục liên tục và những hiểu biết tương đối của trí khôn con người, dẫn đưa con người thọ tạo có trí khôn ngoan đến ngưởng cửa Mầu Nhiệm Thiên Chúa, nơi mà các quan niệm đều tỏ ra sự yếu hèn và bất lực của mình và do đó đòi buộc, với sức mạnh đơn sơ, tự do và dịu dàng của sự thật, con người phải đi xa thêm nữa, bên kia những gì vẫn liên tục chiếm hữu được. Lòng nhận biết thờ phượng và thinh lặng đối với Mầu Nhiệm, mở ra cho con người mối thông hiệp hợp nhứt, cho thấy như vậy là con đường đôc nhứt đi đến mối tương quan với chân lý; là điều kết hợp thân thiết thâm sâu hết sức có thể và cũng đồng thời là sự kính trọng chi tiếc chu đáo hết đối với phía bên kia. Gioan Scoto - trong chủ đề nầy, bằng cách dùng một ngôn từ được truyền thống Ki Tô giáo Hy Lạp yêu chuộng - đã gọi kinh nghiệm vừa kể, mà chúng ta nhằm đạt đến là " theosis" ( hay thần thánh hoá), bằng những lời xác nhận bạo dạn đến độ làm cho ngài bị nghi ngờ là người thuộc phái đa thần phi chính thống. Nhưng dù sao thái đô của ngài cũng tạo nên cho chúng ta cảm giác mạnh đứng trước các từ ngữ như sau - khi ngài dùng hình ảnh biểu tượng cổ của việc nấu cho sắt hoá lỏng, ngài viết: - " Như vậy, khi tất cả thanh sắt đều được nóng bỏng, hoá lỏng đến độ làm cho chúng ta có cảm tưởng là chỉ có lửa, tuy nhiên thể chất của thực thể nầy và thực thể kia vẫn còn tách biệt nhau. Cũng vậy, chúng ta phải nhận biết rằng khi thế gian nầy kết thúc, cả thiên nhiên hữu thể cũng như vô hình, chỉ còn có Thiên chúa hiện diện. Tuy vậy, thiên nhiên vẫn còn nguyên vẹn, một cách nào đó có thể nhận biết được Thiên Chúa, mặc dầu Người là Đấng vẫn còn không nhận biết được và chính cả tạo vật được biến đổi, với một sự ngạc nhiên chưa từng thấy, trong Thiên Chúa" ( V, PL 122, col 451B). Trên thực tế, cả tư tưởng thần học của Gioan Scoto là điều chứng minh một cách hiển nhiên nhứt ý muốn nhằm giải thích bằng lời nói Thiên Chúa là Đấng không thể diễn tả ra được, giải thích bằng cách duy nhứt đặt nền tảng trên mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể nơi Chúa Giêsu Nazareth. Bao nhiêu cách nói bóng bảy được ngài dùng để nói lên thực thể không thể diễn tả được nầy cho thấy rằng ngài ý thức được ngôn ngữ mà chúng ta dùng để nói lên những thực thể đó là những từ ngữ hoàn toàn không có khả năng thích đáng để diễn tả. Tuy vậy cách diễn tả của ngài vẫn làm cho chúng ta hứng khởi và bầu không khí của kinh nghiệm thần bí đó làm cho chúng ta đôi khi có thể như chạm đến được bằng bàn tay của mình, trong các bản văn của ngài. Để chứng tỏ điều đó, chỉ cần trích dẫn lại một trang của quyển De divisione naturae ( Về cách xếp đặt trong thiên nhiên ) cũng đánh động được thâm sâu tâm hồn chúng ta, những người tín hữu của thế kỷ XXI: - " Không cần phải ao ước gì khác hơn -ngài viết - nếu không phải là niềm hân hoan của chân lý là Chúa Ki Tô, cũng như không cần phải tránh xa gì khác, nếu không phải là sự khiếm diện của Người. Thật vậy, sự khiếm diện đó cần phải bị coi là nguyên cớ duy nhứt của niềm sầu não toàn diện và vĩnh viễn. Cất Chúa Ki Tô ra khỏi tôi, tôi không còn có của cải gì nữa, cũng không còn có ai nữa sẽ làm cho tôi bị hạ sát đất cho bằng sự khiếm diện của Người. nỗi khổ não nhứt của một tạo vật có lý trí là sự thiếu thốn và khiếm diện của Người " ( V, PL 122, col 989a). Đó cũng là những lời mà chúng ta cũng có thể lấy làm sở hữu của chúng ta, bằng cách diễn tả lên thành lời cầu nguyện với Đấng là hơi thở cho cả con tim chúng ta. Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn < famigliacristiana.it>, 10.06.2009).

 

Các Hiến Pháp Tây Âu là những Hiến Pháp nhân bản, thừa hưởng gia tài tinh thần nhân bản từ Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789. Và đây là những hạt ngọc của hai văn bản vừa kể: - " Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau. Tất cả đều được Đấng Tạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng" (Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ1776). - "Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng: các quyền của con người do Thiên Phú, bất khả nhượng và cao qúy " ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789). Tinh thần nhân bản đó, từ trên 200 năm nay là nền tảng trên đó các quốc gia Tây Âu được xây dựng và phát triển đến phú cường thịnh vượng. Tinh thần nhân bản chúng ta có thể tìm thấy đó đây trong suốt các văn bản Hiến Pháp của họ. Một số Hiến Pháp nêu lên tính cách nhân bản của Hiến Pháp ở ngay phần Tiền Đề, như Hiến Pháp 1958 hiện hành của Pháp Quốc chẳng hạn để nói lên tính cách quan trọng và long trọng của nền tảng Quốc Gia mình: - " Dân tộc Pháp long trọng tuyên bố trung thành với các quyền con người và các nguyên tắc tối thượng Quốc Gia, được Tuyên Ngôn 1789 định nghĩa và được Hiến Pháp 1946 xác nhận ở Tiền Đề " ( Tiền Đề Hiến Pháp 1958 hiện hành Pháp Quốc). Cũng với xác tín rằng nhân bản là nền tảng căn bản trên đó Quốc Gia được thiết lập, nhưng thay vì đặt tầm quan trọng vào tính cách long trọng hay kém long trọng, một số Quốc Gia như Ý và Đức đặt nặng hiệu năng của lời tuyên bố hơn. Do đó thay vì tuyên bố đặc tính nhân bản của thể chế Quốc Gia ở Tiền Đề như các văn bản vừa kể, các nhà soạn thảo Hiến Pháp Ý Quốc ( 1947) và Cộng Hoà Liên Bang Đức ( 1949) đặt tinh thần nhân bản vào chính thân bài của Hiến Pháp, bằng cách tuyên bố thành những điều khoản luật thuật định ( lois positives) có tính cách bắt buộc. Qua những khái niệm về đặc tính của các Hiến Pháp Tây Âu vừa trình bày, chúng ta thử xem người Tây Âu quan niệm như thế nào về con người trong Hiến Pháp của họ. 1) Địa vị con người trong Hiến Pháp. Như chúng ta vừa nói, các Hiến Pháp Ý ( 1947) và Cộng Hoà Liên Bang Đức ( 1949) tuyên bố địa vị và các quyền liên hệ của con người ngay trong thân bài của Hiến Pháp và tuyên bố thành những điều khoản luật có hiệu lực bắt buộc hay các điều khoản cuả Hiến Pháp là những đạo luật thực định ( lois positives), được tuyên bố dưới hình thức mệnh lệnh tính ( préceptive) chớ không tuyên bố ở phần Tiền Đề như là một quan niệm khái quát và long trọng. - " Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây có hiệu lực đối với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như là những quyền có gía trị bắt buộc trực tiếp " ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 CHLBĐ). Hay : " Các bổn phận của Quốc Gia ( đối với các quyền đã được liệt kê) trong các điều khoản nầy sẽ được các cơ quan và tổ chức sẽ được thiết lập chu toàn hoặc bổ khuyết "(Điều 38, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nói cách khác, nếu người dân không được hưởng các quyền và tự do của mình do Hiến Pháp tuyên bố, tổ chức Quốc Gia với các cơ chế lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các cơ quan được thiết lập để thừa hành, sẽ là những chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và sẽ bị quy trách với những hậu quả luật định. Đó là đặc tính tối quan trọng, mà Hiến Pháp phải có, đặc tính bảo chứng: -" Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng ( garantismo). Ở Âu Châu người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản luật pháp nền tảng hay một loạt các nguyên tắc cơ bản, thể hiện một thể chế Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xữ quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm cho một Chính Quyền có giới hạn " ( Givanni Sartori, Elementi di Teoria Politica, II ed., Bologna, Il Mulino, 1995, 18). - Hiến Pháp Ý tuyên bố địa vị và các quyền liên hệ của con người từ điều 2-54, trong khi đó thì Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố từ điều 1-19, trước khi định nghĩa về thể chế và các phương thức tổ chức Quốc Gia từ điều 20 trở đi. Điều đó cho thấy rằng hai dân tộc Ý và Đức đã dành cho con người địa vị tối thượng và trung tâm điểm của tổ chức quyền lực Quốc Gia. Con người có trước Quốc Gia. Quốc Gia được tổ chức để phục vụ con người, chớ không ngược lại. Đó là điều Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố ở điều 1: - " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm " ( Điều 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Và cũng trong tinh thần đó, đây là điều 2 của Hiến Pháp Ý Quốc: “ - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay như thành phần xã hội trung gian, nơi con người phát triển nhân cách của mình”( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nếu để ý, chúng ta thấy rằng câu tuyên bố của Hiến Pháp CHLBĐ có tính cách phổ quát và đều khắp. Người Đức không tuyên bố rằng: " Trên lãnh thổ Đức hoặc đối với người dân Đức, nhân phẩm con người bất khả xâm phạm " , mà chỉ bằng một mệnh đề ngắn gọn, có sức mạnh nói lên lòng xác tín của dân tộc họ và có hiệu lực như một mệnh lệnh: - " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm " ! Mệnh lệnh đó có hiệu lực đối với bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào và có giá trị ở bất cứ thời đại nào. Ai không tôn trọng hiệu lực của mệnh lệnh trên, là người làm tổn thương đến niềm tin của dân tộc Đức, trong cuộc sống chung hòa bình và thân hữu với họ và chắc chắn người Đức sẽ không làm ngơ trước sự chà đạp lên niềm tin của họ như vậy. Đó là điều mà người Đức thêm vào ở phần kế đến của cùng một điều khoản: “- " Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới " ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 CHLBĐ). - Cũng trong câu tuyên bố ngắn gọn biểu tượng cho xác tín, niềm tin và mệnh lệnh phổ quát trên của điều 1, chúng ta thấy rằng các vị soạn thảo Hiến Pháp Herrenchiemsee ( địa danh nơi Hiến Pháp 1949 CHLBĐ được soạn thảo) đã dùng từ ngữ rất chính xác, như là đặc tính của người Đức. Các vị đã không dùng từ ngữ " người công dân" hoặc " người công dân Đức " , mà là "“ con người "” trong câu " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm". Điều đó có nghĩa là đối với người Đức, bất cứ ai là người, đều phải được mọi người tôn trọng, không phân biệt màu da, sắc tộc, phái tính, địa vị, tài năng, thế lực… Đó là điều Hiến Pháp 1949 sẽ tuyên bố kế tiếp ở điều 3: - " Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Người nam và người nữ đều ngang hàng nhau đối với các quyền của mình. Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đãi do phái tính, sinh trưởng, giòng giống, ngôn ngữ, quốc gia hay nguồn gốc, tín ngưỡng, lòng tin tôn giáo hay chính kiến " ( Điều 3, đoạn 1,2,3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). - Cách dùng từ ngữ " con người " thay vì " người công dân ", ngoài ra đặc tính phổ quát của mệnh lệnh như vừa đề cập, từ ngữ " con người" còn nói lên địa vị tối thượng và trung tâm điểm của con người trong tổ chức quốc gia. Con người có trước và tự lập đối với tổ chức Quốc Gia. Quốc Gia được tổ chức để phục vụ con người như là cùng đích mà mình được tổ chức. Con người hiện hữu trước tổ chức Quốc Gia. Do đó khi Quốc Gia được tổ chức, Quốc Gia phải biết nhận ra con người, quyền thượng đẳng của con người trên sự hiện hữu của mình và phục vụ con người như là mục đích chính yếu và là trung tâm điểm của mọi tổ chức quyền lực mà Quốc Gia có được. Đó là điều mà Hiến Pháp 1947 Ý Quốc long trọng tuyên bố ở điều 2: - " Cộng hòa dân chủ Ý nhìn nhận và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay như thành phần cộng đồng xã hội, nơi con người phát huy nhân cách của mình... " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Và vì con người có trước tổ chức Quốc Gia, nên các quyền tối thượng bất khả xâm phạm của con người không do tổ chức Quốc Gia định đoạt, mà do Thiên Phú, liên hệ mật thiết với bản tính nhân loại của mình. Đó là điều mà di sản của Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789 đã để lại: - " Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau. Tất cả đều được Đấng Tạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng...". “- " Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng các quyền của con người do Thiên Phú, bất khả nhượng và cao qúy ". Con người có trước tổ chức Quốc Gia. Tổ chức Quốc Gia phải “" nhận biết và bảo vệ" địa vị tối thượng đó như là cùng đích của mình. Đó là tư tưởng mà Linh Mục Luigi Sturzo, vị sáng lập đảng Đại Chúng Ý ( Partito Popolare Italiano), tiền thân của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo ( Democrazia Cristiana) xác nhận: - " Đối với chúng tôi - bài thuyết trình trong Đại Hội Toàn Quốc đảng Đại Chúng tai Torino ngày 12.04.1923 - Quốc Gia là một tổ chức xã hội được tổ chức theo đường lối chính trị để đạt được những mục đích đặc biệt. Quốc Gia không bóp nghẽn, không tiêu hủy, không tác tạo ra các quyền của con người, của gia đình, của xã ấp, của đoàn thể, của tôn giáo. Quốc Gia chỉ nhận biết và bảo vệ, phối hợp các quyền đó trong giới hạn hoạt động của mình. Đối với chúng tôi, Quốc Gia không phải là tự do. Quốc Gia cũng không ở trên tự do. Quốc Gia chỉ nhận biết và phối hợp, định chế các giới hạn để người dân xử dụng tự do không làm bằng hoại thành giấy phép. Quốc Gia là một tập thể lịch sử phức tạp, có nhiệm vụ hoạt động trong liên đới, phát huy các năng động của mình trong cơ chế, trong đó một Quốc Gia văn minh được tổ chức " (Luigi Sturzo, Il Partito Popolare, vol II: Popolarismo e Fascismo ( 1924), Zanichelli, Bologna, 1956, p.107). - Nếu với từ ngữ " con người " chúng ta có các đặc tính phổ quát và tối thượng như vừa kể, thì với từ ngữ " người công dân ", chúng ta có được ý nghĩa hạn hẹp hơn. Trong chính trị học, khi đề cập đến người công dân là chúng ta nói đến người dân liên hệ đến một tổ chức Quốc Gia cá biệt, có thể chế, luật lệ và tổ chức đặc thù. Khi nói đến người công dân Ý chẳng hạn, là chúng ta đề cập đến người dân vừa kể liên quan đến tổ chức Quốc Gia Ý. Quyền và nhiệm vụ của người công dân Ý tuỳ theo thể chế và luật pháp Ý quy định. Trước hết, nếu Hiến Pháp 1947 Ý đề cập đến địa vị, quyền và tự do của con người từ điều 2-54 và Hiến Pháp 1949 CHLBĐ từ điều 1-19, trước khi đưa ra định nghĩa thể chế chính trị và các phương thức tổ chức quyền lực Quốc Gia, để nói lên địa vị tối thượng và chính yếu của con người trong tổ chức Quốc Gia, thì Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết chỉ đề cập đến " người công dân " của họ” khởi đầu từ điều 33 trở đi, sau khi đã đề cập đến thể chế chính trị ( 1-9), hệ thống kinh tế ( 10- 18), phát triển xã hội và văn hóa ( 19-27), chính sách ngoại giao ( 28-30) và chính sách bảo vệ quốc gia xã hội chủ nghĩa( 31-32). Điều đó cho thấy người dân được ý thức hệ Cộng Sản ban cho một chỗ đứng nào trong quan niệm tổ chức Quốc Gia của họ. Và nếu các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu đề cập đến " con người" , thì Hiến Pháp của các quốc gia Cộng Sản, đặc biệt là Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết chỉ đề cập đến "người công dân " ”, khi bàn về các quyền và bổn phận của người dân: - " Nhân dân Sô Viết được hướng dẩn bằng các tư tưởng cộng sản chủ nghĩa khoa học và trung thành với các truyền thống cách mạng định chắc nền tảng của chế độ xã hội và chính trị của Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền , tự do và bổn phận bắt buộc đối với người công dân, các nguyên tắc tổ chức và mục đích cho Quốc Gia Xã Hội Chủ Nghĩa của toàn dân" ( Tiền Đề, đoạn XIV Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết). Và như chúng ta vừa nói, khi đề cập đến " người công dân", là chúng ta đề cập đến người dân có liên hệ với tổ chức Quốc Gia. Quyền và bổn phận của người công dân tuỳ thuộc vào sự quyết định của thể chế Quốc Gia. Đó là điều mà Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết tuyên bố: - " Nhân dân Sô Viết, thiết định các quyền, tự do và bổn phận bắt buộc đối với người công dân ". Điều đó có nghĩa là con người sống trong chế độ Cộng Sản chỉ là người công dân liên hệ với tổ chức Quốc Gia. Các quyền và tự do của họ phải do thể chế Quốc Gia Cộng Sản " thiết định cho " mới có, khác với “" con người "” trong Hiến Pháp Tây Âu là những chủ thể được Thiên Phú cho các quyền và tự do liên hệ mật thiết với bản tính nhân loại của mình, mà bất cứ ai, ở bất cứ thời đại và không gian nào cũng phải tôn trọng. Và vì thể chế Cộng Sản có quyền " thiết định " các quyền và tự do của người công dân họ, nên ai sống ngoài tổ chức của Cộng Sản, những ai không chấp nhận thể chế và cơ chế Cộng Sản là những người dân không được thể chế luật pháp " thiết định ". Điều đó có nghĩa là những ai chống đối lại thể chế Cộng Sản sẽ là những người không còn có được một quyền và tự do nào: Cộng Sản có thể tự do tiêu diệt họ. Nói cách khác vì giới hành quyền Cộng Sản có thể thiết định các quyền và tự do của người công dân, nên họ có thể " thiết định " ” nhiều ít tùy hỷ và họ cũng có thể " không thiết định " : họ có thể truất mọi quyền làm người của con người sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Hay nói như Linh Mục Tiến sĩ Hortz S.J.: - " Trong thể chế Cộng Sản không có con người " ( Hortz S.J., La Nuova Costituzione Sovietica, in Civiltà Cattolica, 1978, p.40). Trình độ hiểu biết và cuộc sống văn minh của người Cộng Sản chưa bao giờ đạt đến mức sống nhân bản của Tây Âu để cho phép họ biết được thế nào là địa vị cao cả của con người. 2) Nhận biết và thực thi. Qua những gì vừa trình bày, chúng ta thấy rằng Hiến Pháp nhân bản các Quốc Gia Tây Âu đặt con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm các tổ chức quyền lực Quốc Gia. Nhưng điều quan trọng không phải tuyên bố nhiều hay ít, tuyên bố long trọng hay không, tuyên bố trước hay sau trong thân bài của Hiến Pháp mà là tiên liệu những điều khoản luật có hiệu lực thực định để thực thi và bảo vệ các quyền và tự do mình tuyên bố: - " Nền Cộng hòa nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay là thành phần xã hội, nơi con người phát huy phẩm giá của mình, và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). / Bởi lẽ nếu Hiến Pháp chỉ tuyên bố các quyền và tự do của con người ( hay đúng hơn của người công dân, như trong các Hiến Pháp Cộng Sản), những lời tuyên bố trên chỉ mới là hình thức thuyết lý của dân chủ và nhân quyền ( démocratie formelle), nếu Hiến Pháp không dự trù những điều khoản luật để thực thi và bảo vệ các quyền và tự do mà mình tuyên bố. Khác với các Hiến Pháp Cộng Sản, Hiến Pháp nhân bản Tây Âu tiên liệu các điều khoản để thực thi và bảo vệ mỗi khi tuyên bố quyền và tự do của con người. Đó là tinh thần dân chủ và nhân bản thực hữu ( démocratie substantielle). Ngay ở điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp 1949 CHLBĐ, Hiến Pháp đã tuyên bố một điều luật khái quát bắt buộc, biến tất cả những điều khoản Hiến Pháp kế tiếp về con người thành những điều luật có hiệu lực và xác định chủ thể rõ rệt để quy trách: - " Những quyền căn bản sẽ được kể sau đây có hiệu lực đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp như là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp "”. ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Tĩ mĩ hơn, sau khi tuyên bố quyền bình đẳng của người dân: - " Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang hàng nhau và bình đẳng như nhau trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, địa vị cá nhân và xã hội " ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quốc Gia Ý tiên liệu , quy trách cho cơ chế Quốc Gia phải tạo những điều kiện thuận lợi, giúp người dân thực thi được những gì mình tuyên bố bảo đảm: - " Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, cản trở mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). a) Cũng vậy để thực thi quyền bình đẳng, một trong những hình thức bình đẳng tối thiểu đó là bình đẳng để khởi hành, bình đẳng để bắt đầu khởi công cuộc sống. Muốn được bình đẳng để mọi người có thể khởi đầu cuộc sống như nhau, mọi người dân phải được đặt trong cùng một số điều kiện như nhau để có kiến thức như nhau. Nói cách khác , mọi người phải được có cùng điều kiện để được học vấn như nhau, để khởi công cuộc sống trong những điều kiện như nhau. Đó là điều mà Hiến Pháp 1958 Pháp Quốc long trọng tuyên bố ngay ở phần Tiền Đề: - " Tổ chức giáo dục công cộng, miển phí và phi tôn giáo ở mọi đẳng cấp, là bổn phận của Quốc Gia” ( Tiền Đề, Hiến Pháp 1958 Pháp Quốc). Tuyên bố một cách tĩ mĩ hơn, Hiến Pháp Ý đề cập: - " Học đường được mở rộng cửa cho tất cả mọi người. Nền học vấn ở cấp bực thấp, được giảng dạy ít nhứt là tám năm ( đổi thành 12 năm với tu chính án mới đây) có tính cách bắt buộc và miển phí. Đối với những ai có khả năng và đáng được trợ giúp, dẫu cho thiếu phương tiện, cũng có quyền được học hành đến trình độ giáo dục cao nhất. Cộng Hòa Ý biến quyền được học vấn nầy thành thực hữu bằng cách trợ cấp cho gia đình và mọi hình thức tiền liệu khác, qua việc trợ cấp theo thể thức thi tuyển " ( Điều 34, đoạn 1-4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). b) Bước vào lãnh vực làm việc, - " Nền Cộng Hoà chăm lo việc huấn nghệ và thăng tiến chức nghiệp" ( Điều 35, đoạn 2, id.). Và đối với những ai không được thiên nhiên ưu đải, không có khả năng làm việc: - " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện cần thiết để sống, có quyền được trợ giúp để sống và bảo trợ xã hội " ( Điều 38, đoạn 1, id.). c) Trong lãnh vực kinh tế, - Nếu cá nhân có sáng kiến kinh tế là quyền tự do, * " Sáng kiến kinh tế cá nhân là quyền tự do " ( Điều 41, đoạn 1, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), thì không phải cá nhân hay nhóm có " vốn liếng " hay " tư bản " muốn hành xử thế nào và đối với ai theo cách nào cũng được, * " Không thể hoạt động ngược lại với lợi ích xã hội hay theo cách nào đó có phương hại đến an ninh, tự do và phẩm giá con người " ( Điều 41, đoạn 2, id). Cũng vậy, tư do kinh tế không phải là tự do " bốc lột ", khiến cho con người thiếu thốn, có cách sống mọi rợ: * " Người làm việc có quyền được thù lao tương ứng với số lượng và phẩm chất của việc làm và dù sao đi nữa, cũng đủ để bảo đảm cho mìnhvà gia đình mình có được một cuộc sống khang trang" ( Điều 36, đoạn 1, id.). d) Đối với người phụ nữ, thành phần yếu thế hơn cũng vậy: - " Người phụ nữ làm việc cũng có đủ các quyền như nam giới...Các điều kiện làm việc phải được thiết lập thế nào để người phụ nữa làm việc có thể chu toàn bổn phận thiết yếu trong gia đình và bảo vệ cho người mẹ và trẻ thơ bằng một sự bảo vệ đăc biệt và thoả đáng" ( Điều 37, đoạn 1, id.). e ) Hiến Pháp cũng ra chỉ thị bảo đảm cho người bị tai nạn, bệnh tật, về hưu: - " Người là việc có quyền được tiên liệu và bảo đảm các phương tiện cần thiết để đáp ứng lại thoả đáng các nhu cầu của cuộc sống, trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tật nguyền và tuổi già, bị thất nghiệp ngoài ý muốn" ( Điều 38, đoạn 2, id.). f ) Còn nữa, tinh thần dân chủ và nhân bản thực hữu của Hiến Pháp cũng được thể hiện qua các quyền về an ninh xã hội: “- " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện để sống có quyền được trợ cấp và bảo trợ xã hôi. Những người không có khả năng và những người yếu kém có quyền được giáo dục và huấn nghệ. Các quyền vừa được liệt kê trong điều khoản nầy sẽ được giao cho các cơ quan và tổ chức được thiết lập để thực thi hoặc được Quốc Gia bổ khuyết "( Điều 38, đoạn 1và4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). g) Quyền mọi người được bảo vệ sức khoẻ: - " Nền Cộng Hoà bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản cá nhân và lợi ích cho cộng đồng xã hội, và chửa trị miễn phí cho cho những ai thiếu phương tiện" ( Điều 32, đoạn 1, id.) 3) Tự do tiêu cực và tự do tích cực. Đọc bất cứ Hiến Pháp nào, chúng ta cũng thấy quyền và tự do con người hay người dân được tuyên bố dưới hình thức tiêu cực: - " Tự do cá nhân là quyền bất khả xâm phạm…” ( Điều 13, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). “- " Gia cư bất khả xâm phạm " ( Điều 14, id.) - " Tự do và bí mật thư tín cũng như tất cả các hình thức truyền thông khác là những quyền bất khả xâm phạm…” ( Điều 15, id.). Tuyên bố các quyền và tự do dưới hình thức tiêu cực có nghĩa là người dân được tự do khỏi ( liberté de...) sự can thiệp không chính đáng của Quốc Gia đối với các quyền được Hiến Pháp công bố. Tuyên bố dưới hình thức tiêu cực các quyền và tự do của người dân hàm chứa bổn phận phía bên kia, cá nhân, tổ chức xã hội trung gian hay phía bên chính quyền có bổn phận tôn trọng.” " Tự do cá nhân là quyền bất khả xâm phạm" ( Điều 13, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) có đồng nghĩa với việc, phía bên kia, nhứt là " chính quyền không được " xâm phạm tự do cá nhân. Đó là tinh thần “" Quốc Gia Pháp Trị " ( État de droit ) phát xuất từ Cách Mạng Pháp Quốc 1789 hay hơn nữa, trong tinh thần Common Laws của người Anh. Nhưng Hiến Pháp nhân bản Tây Âu không phải chỉ có vậy. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân của Cách Mạïng Pháp 1789 đã qua trên 200 năm nay. Từ đó đến nay, tinh thần dân chủ và nhân bản của người Tây Âu đã tiến xa hơn nhiều đối với những gì người ta quan niệm Hiến Pháp chỉ như là văn bản bảo chứng: - "Trước hết Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng ( garantismo). Ở Tây Âu người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản luật pháp nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ bản, thể hiện một thể chế tổ chức Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một chính quyền có giới hạn".( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III ed., Bologna, Il Mulino, 1995,p.18). Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng để bảo vệ người dân " giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một chính quyền có giới hạn " như Gs Giovanni Sartori vừa định nghĩa. Nhưng Hiến Pháp nhân bản Tây Âu không phải chỉ có vậy. Hiến Pháp Tây Âu còn nêu lên những gì tích cực hơn là những câu tuyên bố " chính quyền không được ". Điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, sau khi tuyên bố dưới hình thức tiêu cực quyền tự do gia nhập hội của người dân: - " Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập vào chính đảng " , Hiến Pháp liền thêm vào " để cộng tác với phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị quốc gia " ( Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Cũng vậy ở điều 3, sau khi xác quyết rằng " mọi công dân đều có địa vị xã hội bình đẳng như nhau và đều bình đẳng truớc pháp luật ", cũng như cấm mọi kỳ thị bất cứ từ đâu đến và vì lý do gì, Hiến Pháp đứng ra đảm nhận tạo điều kiện thuận lợi để người dân có tự do và bình đẳng - " phát triển hoàn hảo con người của mình - và tham dự thiết thực vào đời sống chung của đất nước ": “ Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật trong khi giới hạn trên thực tế tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở toàn vẹn con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở” ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Cũng vậy ở điều 35 của cùng một Hiến Pháp, không những Quốc Gia tuyên bố mọi công dân đều có quyền làm việc, mà còn quy trách cho mình đứng ra tạo điều kiện thích hợp để người dân có thể thực thi quyền của mình: " Nền Cộng Hòa bảo vệ việc làm dưới tất cả mọi hình thức và áp dụng,chăm lo và thăng tiến chương trình huấn nghệ cho những ai làm việc. Nền Cộng Hoà phát huy và dành mọi dễ dãi cho các hiệp ước cũng như các tổ chức quốc tế nhằm hợp thức hoá và điều hợp mọi quyền làm việc" ( Điều 35, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Qua những gì vừa trình bày, chúng ta thấy rằng Hiến Pháp nhân bản Tây Âu không những chỉ giới hạn ở các tư tưởng sơ khởi về " Quốc Gia Pháp Trị " của thời Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789 với các điều khoản tuyên bố về nhân quyền dưới hình thức tiêu cực, hay " tự do khỏi " ( liberté de…). Hiến Pháp của các Quốc Gia Tây Âu là Hiến Pháp nhân bản tích cực. Quyền lực Quốc Gia không những chỉ bị Hiến Pháp giới hạn bằng những lời tuyên bố tiêu cực " tự do khỏi ", Hiến Pháp còn quy trách cho Quốc Gia có nhiệm vụ tạo các điều kiện thuận lợi giúp người dân tích cực xử dụng quyền và tự do của mình để ( liberté à...) hoạt động - " triển nở toàn vẹn con người của mình - và tham dự mọt cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở " góp phần phát triển xứ sở, tạo tiến bộ và thịnh vượng cho đồng bào mình: - " Mỗi công dân có quyền gia nhập chính đảng để cộng tác với phương thức dân chủ, góp phần thiết định đường lối chính trị Quốc Gia " . - " Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự cản trở tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở toàn vẹn con ngưòi của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " . - " Cộng Hoà Ý bảo vệ việc làm, chăm lo và thăng tiến chương trình huấn nghệ, phát triển và dành mọi dễ dãi cho các hiệp ước cũng như tổ chức quốc tế nhằm hợp thức hóa và điều hợp mọi quyền làm việc " . 4 ) Bảo vệ nhân quyền. Hiến Pháp nhân bản Tây Âu xác nhận con người ở địa vị trung tâm điểm và tối thượng của mọi tổ chức quyền lực Quốc Gia. Hiến Pháp đã tiên liệu những điều khoản luật có hiệu lực bắt buộc phải thực thi, mỗi khi tuyên bố quyền và tự do của người dân. Hiến Pháp nhân bản Tây Âu là Hiến Pháp nhân bản tích cực, quy trách cho Quốc Gia có bổn phận phải đứng ra tạo điều kiện thuận lợi để người dân dùng quyền và tự do mình một cách tích cực ( liberté à...) để triển nở hoàn hảo con người của mình và góp phần xây dựng một Quốc Gia thịnh vượng, tiến bộ cho đồng bào mình. Nhưng với những kinh nghiệm qúa đau thương trong quá khứ về việc con người bị coi như súc vật của thời Benito Mussolini và Rudolf Hitler, bóng ma chập chờn của những con người hành xử uy quyền Quốc Gia một cách bạo trợn lúc nào cũng có thể xuất hiện, các vị soạn thảo Hiến Pháp Tây Âu không thể ngủ yên, nếu không tìm được phương cách “- " ...nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một chính quyền có giới hạn” ( Giovanni Sartori, op.cit., id.). Đó là điều chúng ta cần bước theo tâm tư của các vị, trong viễn ảnh tạo ra một Hiến Pháp nhân bản thoả đáng cho đất nước chúng ta trong tương lai. a) Hiến Pháp cứng rắn. Đọc các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu, đặc tính đầu tiên ai trong chúng ta cũng thấy được, đó là tính cách cứng rắn ( rigide) của Hiến Pháp. Điều đó có nghĩa là muốn tu chính một hay nhiều điều khoản của Hiến Pháp, chúng ta cần hội đủ những điều kiện gia trọng mà Hiến Pháp đã tiên liệu. Sở dĩ Hiến Pháp đặt ra các điều kiện gia trọng là để cho ai muốn sửa đổi, cắt bỏ hơặc thêm thắt vào Hiến Pháp sẽ gặp phải những điều kiện khó khăn. Điều đó khiến cho Hiến Pháp khó sửa đổi và như vậy Hiến Pháp được bền vững, để bảo đảm hữu hiệu những gì Hiến Pháp xác tín như là lý tưởng và không muốn bị cắt xén, sửa đổi, thêm bớt. Điều kiện gia trọng vừa kể để có thể sửa đổi Hiến Pháp được Hiến Pháp 1949 CHLBĐ tuyên bố: - " Một đạo luật như vừa kể ( đạo luật về tu chính Hiến Pháp) phải được sự đồng thuận của 2/3 thành viên Hạ Viện và 2/3 thành viên Thượng Viện" ( Điều 79, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Con số tỷ lệ vừa nói, chúng tôi nghĩ rằng không phải là con số dễ thực hiện. Chúng ta thử so sánh với điều kiện chỉ cần đa số tuyệt đối ( 50%+ 1 phiếu) là Hạ Viện có đủ túc số chọn vị Thủ Tướng ( Kanzler) mới, để thành lập Tân Nội Các và điều khiển Hành Pháp, không cần có sự đồng thuận của Thượng Viện: - " Được tuyển chọn ( Thủ Tướng) ai có khả năng quy tựu về phía mình số phiếu của đa số thành viên Hạ Viện" ( Điều 63, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Và trong trường hợp bất khả kháng, ngay cả ai chỉ thu thập được đa số tương đối của Hạ Viện, trong vòng 7 ngày sau cũng có thể được Tổng Thống Liên Bang bổ nhiện Thủ Tướng: - " Nếu người được tuyên chọn không đạt được đa số vừa kể ( đa số tuyệt đối), trong vòng 7 ngày kế tiếp, Tổng thống Liên Bang có thể bổ nhiệm ông hoặc giải tán Hạ Viện " ( Điều 63, đoạn 2, id.). b) Tính cách bất di dịch một số nguyên tắc. Ngoài ra tính cách cứng rắn vừa kể của Hiến Pháp, các vị soạn thảo cũng tiên liệu tính cách bất di dịch của một số điều khoản mà các vị cho là cột trụ của cả toà nhà Quốc Gia. Xóa bỏ đi những nguyên tắc căn bản cột trụ đó, tòa nhà Quốc Gia của Cộng Hoà Liên Bang Đức sẽ không còn nữa, như Hiến Pháp đã từng tuyên bố: - " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới " ( Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Tính cách bất di dịch , không ai có thể sửa đổi, với bất cứ điều kiện nào, được Hiến Pháp tuyên bố: - " Không thể chấp nhận bất cứ một sự thay đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến sự tương quan giữa Cộng Hoà Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender), nhứt là liên quan đến việc tham gia của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp hoặc liên hệ đến các nguyên tắc đã được tuyên bố nơi các điều khoản 1 và 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Và như chúng ta đều biết điều 1 của Hiến Pháp đề cập đến địa vị và các quyền bất khả xâm phạm của con người, chúng ta đã có dịp đọc qua ở trên, và điều 20 là điều định nghĩa về thể chế chính trị của Quốc Gia Đức: " Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Liên Bang Dân Chủ và Xã Hội "( Điều 20, id.). Qua những điều vừa kể, chúng ta thấy rằng hai nguyên tắc căn bản về - địa vị tối thượng, bất khả xâm phạm của con người - và thể chế liên bang, dân chủ và xã hội của Quốc Gia Đức là những nguyên tắc bất di dịch của toà nhà Quốc Gia Đức. Nêu lên điều khoản bất di dịch vừa kể là xác định nền tảng bảo chứng để thực thi và bảo vệ địa vị tối thượng bất khả xâm phạm của con người trong tổ chức Quốc Gia Đức. c) Dành quyền hạn chế cho luật pháp. 1) Một phương thức khác để bảo đảm cho nhân quyền được tôn trọng, đó là hình thức dành quyền hạn chế cho luật pháp ( riserva di legge). Vì Hiến Pháp là văn bản luật pháp tiên khởi trên đó Quốc Gia được xây dựng, nên Hiến Pháp không thể nào dự đoán được tất cả mọi điều khoản luật pháp cần thiết để điều hành cuộc sống Quốc Gia. Do đó ngoài việc nêu lên những nguyên tắc nền tảng và phương thức để xây dựng thể chế và cơ chế Quốc Gia, Hiến Pháp giao lại cho luật pháp sau nầy, giao cho Quốc Hội, cơ quan lập pháp, xác định những điều khoản liên hệ trực tiếp đến cuộc sống thiết thực. Đó là điều mà chúng ta thường đọc thấy qua các thành ngữ. " do luật lệ ấn định, theo luật lệ hiện hành..." : - " Tự do cá nhân bất khả xâm phạm. Không thể chấp nhận bất cứ việc bắt giữ, khám xét, lục soát nào đối với cá nhân, cũng như mọi giảm thiểu tự do cá nhân nào, nếu không do án trác có lý do của quyền lực tư pháp và theo các trường hợp và thể thức đã được luật pháp tiên liệu trước ( Điều 13, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Mọi người Đức đều có quyền hội họp tự do và không võ trang, không cần báo trước và cũng không cần phải xin phép. Các cuộc hội họp ở những nơi công cộng, quyền tự do hội họp có thể bị luật pháp giới hạn hoặc phải tuân theo luật lệ hiện hành ( Điều 8, đoạn 1-2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). " Được luật pháp tiên liệu trước " hay " tuân theo luật lệ hiện hành ", nghĩa là chỉ có Quốc Hội mới có quyền " chuẩn y " biến các dự án luật, nghi định, sắc luật, sắc lệnh...thành điều khoản luật thực định. Như vậy " dành quyền hạn chế cho luật pháp " là dành quyền cho Quốc Hội. Chỉ có Quốc Hội dân cử mới là cơ quan chính danh để " chuẩn y " biến các dự án luật thành điều luật thực định, có giá trị bắt buộc phải thi hành. Nói thì nói vậy chớ không phải vậy. Mặc dầu các vị soạn thảo Hiến Pháp ủy thác cho " do luật lệ ấn định" , " theo luật lệ hiện hành", nhưng các vị soạn thảo Hiến Pháp Tây Âu cũng chưa ngủ yên, nhớ đến bóng ma độc tài của Benito Mussolini và Rudolf Hitler. 2 ) Bởi đó các vị còn dùng đến kỷ thuật luật pháp thứ hai, đó là cách dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge). Đành rằng đối với cuộc sống thiết thực thường nhật mọi việc đều " do luật lệ ấn định..., theo luật lệ hiện hành...". Nhưng pháp luật không thể " ấn định " và " hiện hành" thế nào tùy hỷ. Mussolini và Hitler cũng đả tùy hỷ " ấn định và hiện hành" quá nhiều, với hàng triệu người bị thảm sát trong các lò sát sinh hoặc dưới các trong các mồ chôn tập thể. Bởi đó qúy vị phải đứng ra tự mình " ấn định... và hiện hành " thế nào pháp luật trong tương lai phải " ấn định ": - " ( Luật pháp) phải có giá trị phổ quát, chớ không riêng cho từng trường hợp cá biệt. ...phải đề cập rỏ ràng đến quyền căn bản và trích dẫn điều khoản của Hiến Pháp liên hệ. Không thể có trường hợp giới hạn nào, trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của mình...” ( Điều 19, đoạn 1-2-3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). 3) Và trong các trường hợp liên quan đến tự do cá nhân, ngoài ra phương thức dành quyền hạn chế cho luật pháp ( riserva di legge ), Hiến Pháp còn tăng thêm điều kiện gia trọng, đó là phương thức dành quyền tuyệt đối cho tư pháp ( riserva assoluta al potere giudiziario): " nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp ", tức là chỉ khi nào tư pháp ra án trác có lý chứng, nhân viên công lực mới được can thiệp, nếu không muốn bị người dân tố cáo là lạm quyền, hành xử tùy hỷ luật pháp Quốc Gia: - " Không thể chấp nhận bất cứ một cuộc khám xét, lục soát, trưng thu nào trên thân thể cá nhân, cũng như mọi cuộc giảm thiểu tự do cá nhân nào, nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp và chỉ trong các trường hợp và theo thể thức luật định" ( Điều 13, đoạn 2, id.). d) Áp dụng thực tế. Ap dụng vào thực tế, khi người dân có thể bị giới hạn quyền tự do của mình, đây là thể thức phải tuân hành: - " Tự do cá nhân chỉ có thể bị giới hạn do một điều luật phổ quát quy định và luôn tuân theo thể thức được ghi trong điều luật đó. Người bị bắt giữ không thể bị ngược đãi về tinh thần cũng như thể xác. Tính cách có được chấp nhận và thời gian kéo dài của việc truất hữu quyền tự do chỉ có vị thẩm phán có quyền định đoạt. Trong trường hợp quyền tự do bị truất hữu không do tư pháp ra lệnh, cần phải cấp bách yêu cầu quyết định của tư pháp. Cảnh sát tự mình không có quyền cầm giữ ai quá ngày hôm sau khi bị bắt.Các chi tiếc sẽ được luật pháp quy định. Bất cứ ai bị cầm giữ, vì nghi ngờ phạm pháp, có cùng lắm là ngày hôm sau khi bị bắt, phải được dẫn đến trước thẩm phán. Vị thẩm phán phải báo cho đương sự biết lý do bị buộc tội, nghe bị cáo trình bày các lý do của mình. Thẩm phán sau khi nghe tường trình phải ra trác án tống giam hoặc trả tự do tức khắc" ( Điều 104, đoạn 1-2-3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Và trong trường hợp ngưòi dân cần được xét xử: - " Không thể chấp nhận các tòa án đặc biệt. Không ai có thể bị thuyên chuyển ra khỏi thẩm quyền xét xử của vị thẩm phán được luật pháp tiên liệu. Tòa án dành riêng cho các vấn đề đặc biệt chỉ có thể được thiết lập do luật lệ định sẳn”.(Điều 101, đoạn 1-2 , id.). Bởi đó hình thức toà án nhân dân, lôi người bị cáo ra công trường, rồi xúi giục dân chúng " ùa theo " để lên án là hành vi của một Quốc Gia mọi rợ. Và đối với các vị thẩm phán có nhiệm vụ xét xử: - " Các thẩm phán được độc lập và chỉ phải tuân theo luật lệ. Các thẩm phán đã nhập ngạch vĩnh viễn và các thẩm phán chuyên nghiệp chỉ bị giải nhiệm trước định kỳ, hoặc bị cấm hành nghề vĩnh viễn hay tạm thời, thuyên chuyển đi nơi khác hoặc cho về hưu trái với ý muốn của họ, do tư pháp quyết định và vì những lý do được luật pháp định trước " ( Điều 97, đoạn 1-2 , id.). Điều vừa kể được nêu ra để tránh viêc bải nhiệm hay thuyên chuyển vị thẩm phán sở quyền là cách hành xử quyền lực tùy hỷ hay theo lợi thú của phe phái, bất công. Về phía người dân: - " Ai bị cơ quan công quyền vi phạm đến các quyền của mình, có thể đệ đơn thưa cơ quan đó lên cơ quan tư pháp. Bởi lẽ không cần phải có một cơ quan nào khác. Đó là thẩm quyền của cơ quan tư pháp thường nhiệm” ( Điều 19,đoạn 3, id). Ngoài ra cơ quan tư pháp, người dân cũng có thể tường trình các oan ức của mình đến Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Quyền( Wehrbeauftragte) của Hạ Viện, để xin Hạ Viện can thiệp: - " Mỗi người có quyền viết thỉnh nguyện thư hay thư tố giác, đơn phương hay chung với người khác, đến giới có thẩm quyền hay đến các vị đại diện dân cử” ( Điều 12, id.) -" Để bảo vệ các quyền căn bản và để có được một cơ quan trợ giúp Hạ Viện trong việc kiểm soát, một Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Quyền( Wehrbeauftragte) được Hạ Viện thiết lập. Mọi chi tiếc được tiến hành theo luật định ".( Điều 45b, id). e) Đối với các lực lượng chính trị. Hiến Pháp quyết định bảo vệ địa vị con nguời với các quyền bất khả xâm phạm của mình và thể chế Quốc Gia, phương tiện và môi trường vững chắc trong đó con người được bảo vệ có đước cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm của mình. Bởi đó Hiến Pháp không ngần ngại đặt ra ngoài vòng pháp luật bất cứ lực lượng chính trị nào, giới đương quyền, lực lượng đối lập cũng như những lực lượng thù nghịch ( từ phía Đông Đức), có mưu đồ tiêu diệt thể chế chính trị hiện hữu của Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Các chính đảng hoặc do chủ đích hoặc do hành vi của các đảng viên thuộc hạ nhằm tấn công tiêu diệt thể chế dân chủ tự do, hoặc đe dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng bất hợp hiến. Vấn đề bất hợp hiến sẽ được Viện Bảo Hiến quyết định" ( Điều 21, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Phương thức vừa được điều 21 tuyên bố, được các nhà hiến pháp học ( constitutionalistes) gọi là " dân chủ tự bảo vệ" ( streibare Demokratie). Điều đó cho thấy dân chủ là lối sống thuận hòa, hòa bình giữa người và người. Nhưng dân chủ không có nghĩa nhu nhược, không xương sống, nhứt là khi cần để bảo vệ con người và lẽ phải. Thể chế dân chủ biết cứng rắn để tự vệ và đặt ra ngoài vòng pháp luật những ý đồ bất chính. Và sau cùng tinh thần dân chủ và nhân bản cao độ của Hiến Pháp cũng được thể hiện qua phương thức Hiến Pháp dành cho thành phần đối lập có thực quyền kiểm soát, cắt tỉa, ngăn chận những hành động lạm quyền của giới đương quyền, bằng việc kiểm soát tính cách hợp hiến hay vi hiến các hoạt động của giới đương quyền. Ở một Quốc Gia Liên Bang như Cộng Hoà Liên Bang Đức, thành phần đa số đang chiếm lập pháp và hành pháp ở cấp độ Liên Bang ( Bund). Nhưng thành phần thiểu đối lập có thể đang điều hành một hay nhiều Chính Phủ các Tiểu Bang ( Laender). Cũng vậy, đa số đương quyền có thể đang chiếm đa số tuyệt đối trong Hạ Viện (Bundestag) nhưng việc thành phần đối lập chiếm được 1/3 số ghế ở Hạ Viện là điều có thể xảy ra dễ dàng. Hiểu được như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng ở điều khoản dưới đây Hiến Pháp dành cho thành phần thiểu số đối lập có thực quyền kiểm soát, cắt tỉa, chận đứng và phản kháng đường lối hành xử của giới đương quyền để bảo vệ dân chủ và nhân bản, cũng như lợi ích chung của Quốc Gia: - " Viện Bảo Hiến sẽ quyết định, trong trường hợp bất đồng ý kiến hay nghi vấn về vấn đề hợp hiến hay không giữa luật pháp Liên Bang hoặc luật pháp Tiểu Bang đối với Hiến Pháp nầy..., nếu được Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ Hạ Viện Liên Bang yêu cầu” ( Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Và một khi vấn đề được đệ trình Viện Bảo Hiến, thành phần đa số đương quyền không còn có cơ hội xử dụng thái độ " cả vú lấp miệng em" , dựa vào thế lực đa số đàn áp thiểu số. Bởi lẽ Viện Bảo Hiến được Hiến Pháp tiên liệu là một Viện hành xử quyền phán quyết của mình một cách hết sức vô tư có thể. Thành Viên của Viện Bảo Hiến gồm các vị thẩm phán - 1/2 do Thượng Viện( Bundesrat) cắt đặt, - 1/ 2 do Hạ Viện ( Bundestag). Và như chúng ta biết Hạ Viện có thể gồm thành phần đa số của giới đương quyền, nhưng Thượng Viện là Viện Quốc Hội gồm các Thượng Nghị Sĩ là thành viên của chính quyền các Tiều Bang,có thể thuộc các chính đảng có chính kiến đối lập: " ...Các thành viên của Viện Bảo Hiến được tuyển chọn phân nửa do Hạ Viện và phân nửa do Thượng Viện. Các thành viên của Viên Bảo Hiến không thể là thành viên của Hạ Viện, của Thượng Viện, của Chính Quyền Liên Bang cũng như của các cơ quan tương tợ của Tiểu Bang” ( Điều 94, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). f) Phương thức tản quyền. Phương thức phân quyền cổ điển ai trong chúng ta cũng biết, phân chia quyền lực Quốc Gia theo hàng ngang thành cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp để các quyền lực " kiểm soát và cân bằng” nhau ( checks and balances), bảo vệ con người và các quyền bất khả xâm phạm của mình. Ngoài ra phương thức quen thuộc vừa kể, các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu còn dùng phương thức tản quyền theo hàng dọc, từ trung ương đến địa phương để thực hiện cùng một mục đích trên: Hiến Pháp dành cho các cấu trúc ngoại vi, các công đồng địa phương, vùng, tỉnh, quận, các tổ chức kinh tế, lao động, giáo dục và tôn giáo nhiều quyền hạn rộng rải trong cuộc sống Quốc Gia. Để tiện việc xưng hô, chúng tôi xin tạm gọi các tổ chức và cơ chế ngoại vi đó ( sánh với tổ chức quyền lực trung ương) là các Cộng Đồng Địa Phương. Trong tâm thức các nhà soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, các Cộng Đồng Địa Phương - không phải chỉ là tiếng nói của dân chúng tại địa phương, nói lên những nhu cầu và ước vọng của họ liên quan đến các vấn đề địa phương, - mà cũng có thể là tiếng nói của dân chúng địa phương liên quan đến nhu cầu và ước vọng cho cả đất nước ( E. Spagna Musso, Titolarità diffusa, aperta ed integrativa, in L'iniziativa nella formazione delle leggi italiane, Napoli, 1958,24). Giao nhiều quyền rộng rãi cho các Cộng Đồng Địa Phương, Hiến Pháp 1947 Ý không những cho chúng ta thấy tính cách đa nguyên của nền dân chủ Quốc Gia họ, - không những Dân Chủ có nghĩa là chủ quyền thuộc về dân, - mà là chủ quyền Quốc Gia tản mác trong dân chúng, từ trung ương đến địa phương. Mỗi địa phương, mỗi tổ chức có những sắc thái, suy tư , quan niệm cá biệt, có thể " khác biệt trong hợp tác, hướng về một mục đích, phong phú đa dạng trong hợp nhất " ( V. Crisafulli, La Sovranità popolare nella Costituzione Italiana, in Studi in memoria di Orlando, 1957, vol.I, 418). Trái lại độc tài đảng trị là đồng nhất đơn điệu, cùn uẩn và bịt mắt để chỉ nhìn thấy một chiều. Sau khi trình bày những tư tưởng vừa kể về giá trị cộng tác của Cộng Đồng Địa Phương vào cuộc sống Quốc Gia, chúng ta có thể liệt kể ngắn gọn các vai trò mà Hiến Pháp 1947 Ý dành cho Cộng Đồng Địa Phương và hẹn gặp lại qúy độc giả trong một bài nghiêng cứu xâu xa hơn ở lần khác: 1) quyền đề xướng đự án luật Quốc Gia: - ( Nền Cộng Hoà) trong các ngành phục vụ Quốc Gia, thực thi cách thức tản quyền ( decentramento) quản trị rộng rãi hết sức có thể, thực thi nguyên tắc và cách thức lập pháp của mình phù hợp với nhu cầu tự lập và phân phối quyền lực" ( Điều 5, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Quyền đề xướng luật pháp thuộc về Chính Quyền, mỗi thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội , các cơ quan và tổ chức được Hiến Pháp giao phó. Dân chúng hành xử quyền đề xướng luật pháp, qua sự yêu cầu của ít nhứt là 50.000 cử tri, bằng một dự thảo luật viết thành điều khoản ( Điều 71, id.). - " Hội đồng Quốc Gia về Kinh Tế và Lao Động có quyền đề xướng luật pháp và có thể góp phần vào việc thành lập luật pháp về kinh tế và xã hội theo các nguyên tắc và trong giới mức pháp định” ( Điều 99, id.). - Hội Đồng Địa Phương ( Vùng) hành xử quyền lập pháp và thiết định quy chế được giao cho địa phương và các vai trò khác do Hiến Pháp và luật pháp quy trách cho: - " Hội Đồng Địa Phương có quyền đề xướng các dự thảo luật dến Lưỡng Viện Quốc Hội” (Điều 121, đoạn2, id.). 2) quyền đề xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ luật Quốc Gia. - " Trưng cầu dân ý để bãi bỏ toàn diện hay một phần điều khoản luật pháp hoặc sắc lệnh có hiệu lực pháp định sẽ được đề xướng, khi có 50.000 cữ tri hoặc 5 Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng) yêu cầu ( Điều 75, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). 3) Cộng Đồng Địa Phương tham dự bầu cử Tổng Thống. - " Tổng Thống Cộng Hoà được Quốc Hội Lưỡng Viện bầu ra trong phiên hợp chung của các thành viên. Mỗi Cộng Đồng Địa Phương có 3 đại diện được Hội Đồng Vùng tuyển chọn tham dự bỏ phiếu, thế nào cho các thành phần thiểu số cũng được đại diện” ( Điều 83, đoạn 1 và 2, id.). Ai trong chúng ta cũng biết rằng Tổng Thống trong Đại Nghị Chế chỉ là vị nguyên thủ Quốc Gia. Ông không có quyền tham dự vào quyền lực của hành pháp, càng không có quyền " chuẩn y hay bác bỏ " của lập pháp. Tuy nhiên vai trò - đứng trên mọi phe phái để phối hợp, - điều hòa và cảnh cáo là những quyền lực tối quan trọng cho đời sống Quốc Gia. Do đó quyền Các Cộng Đồng Địa Phương ở Ý được tham gia vào việc tuyển chọn Tổng Thống là quyền tối quan trọng liên quan đến việc lựa chọn chính hướng và hoạt động Quốc Gia. Còn nữa, nếu chúng ta để ý, chúng ta sẽ thấy rằng các thành viên của Viện Bảo Hiến gồm - 1/ 3 do Tổng Thống chỉ định, - 1/3 do Quốc Hội Lưỡng Viện - và 1/3 do Tối Cao Pháp Viện: - " Viện Bảo Hiến gồm có 15 thành viên, 1/3 do Tổng Thống chỉ định, 1/3 do Lưỡng Viện Quốc Hội và 1/3 do Tối Cao Pháp Viện và các thẩm phán hành chánh” ( Điều 135, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy quyền được tham dự chọn Tổng Thống của Cộng Đồng Địa Phương là quyền kiểm soát hợp hiến hay bất hợp hiến các hoạt động và luật lệ Quốc Gia, qua các thành viên Viện Bảo Hiến được Tổng Thống của mình chọn chỉ định. Đó là một nút chặn khác chống lại những ai có khuynh hướng độc tài, hành xử quyền lực Quốc Gia tự tung tự tác tùy hỷ, bè phái, đảng trị, bất chấp luật Hiến Pháp. Nói cách khác, kiểm soát tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến chính hướng, chương trình và hành động của giới đương quyền là một bảo chứng thêm nữa cho việc bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, mà Hiến Pháp tuyên bố ở phần đầu của thân bài như là những điều khoản luật bắt buộc. 4 ) * quyền thay đổi và bổ túc Hiến Pháp. Bất cứ một Hiến Pháp nào cũng là một văn bản được soạn thảo trong một hoàn cảnh lịch sử , môi trường sống và những điều kiện cá biệt. Thời gian trôi qua, những yếu tố trên thay đổi. Uớc vọng và nhu cầu của dân chúng có thể thay đổi để đáp ứng với tình thế. Tình thế và hoàn cảnh xã hội mới hay " Hiến Pháp Thể Chất " ( Costituzione Materiale) đã đổi khác so với những gì được nêu ra trên Hiến Pháp Văn Bản ( Costituzione Scritta), nói theo ngôn ngữ của các nhà Hiến Pháp Học (Costituzionalista). Do đó Hiến Pháp đã được viết ra cần được thay đổi hay bổ túc để đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của người dân. Tiên đoán trước nhu cầu cần thiết vừa kể, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, ngoài ra việc giao phó cho nhũng ai có trách nhiệm phải lo liệu, các vị còn giao trọng trách trên cho cả Cộng Đồng Địa Phương, để cho nhu cầu và ước vọng của mọi thành phần dân chúng ở mọi phần đất trên lãnh thổ Quốc Gia đều có tiếng nói của mình, góp phần định hướng và lãnh đạo Quốc Gia: - " Các luật pháp về sửa đổi Hiến Pháp và các luật hiến pháp khác được mỗi Viện Quốc Hội áp dụng, đều phải được Quốc Hội bỏ phiếu tán đồng qua hai cuộc bỏ phiếu trong thời gian không duới ba tháng. Các luật vừa kể phải được tán đồng của mỗi Viện Quốc Hội với đa số tuyệt đối ( 50%+1 phiếu) ở lần bỏ phiếu thứ hai. Các luật trên có thể dược đưa ra trưng cầu dân ý, nếu trong vòng 3 tháng sau ngày công bố có 1/5 số Nghị Sĩ của một Viện Quốc Hội, 50.000 cử tri hoặc 5 Cộng Đồng Địa Phương (Vùng) yêu cầu. Điều luật bị đưa ra trưng cầu dân ý sẽ không được công bố, nếu không được đa số chấp thuận...” ( Điều 138, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). 5 ) * quyền của Chủ Tịch Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng) tham dự các phiên họp Hội Đồng Nội Các. Vị Chủ Tịch Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng) đại diện cho dân chúng trong phần đất của mình, được Hiến Pháp trao cho quyền tham dự các phiên họp Hội Đồng Nội Các Chính Phủ để nói lên tiếng nói của dân chúng trong lãnh thổ mình cho lợi ích Quốc Gia. Vị Chủ Tịch của mỗi Vùng có vai trò đại diện đối ngoại cho Cộng Đồng Điạ Phương, là người đại diện không phe phái, có nhiệm vụ - " nói lên một cách trung thực các nhu cầu liên hệ đến quyền tự lập của Cộng Đồng Địa Phương vùng mình, như là chủ thể sở hữu chủ quyền lực" ( T. Martines, Lineamenti di Diritto Regionale, Milano, 1977, 99). Và Nội Quy của vùng Sicilia còn di xa hơn: “ Vị Chủ Tich Vùng, vói tư cách như là Bộ Trưởng tham dự cuộc họp các Bộ Trưởng, với quyền bỏ phiếu quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống của Vùng” ( E Spagna, Il Presidente della Regione, Napoli, 1966, 18). Qua những gì chúng ta trình bày, các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu dành cho con người - địa vị tối thượng trong tổ chức Quốc Gia, - tiên liệu các lời tuyên bố của Hiến Pháp thành luật lệ, - tiên liệu các điều khoản để thực hành các quyền căn bản, bất khả nhượng mà mình tuyên bố - và tiên liệu nhiều phương thức để bảo vệ con người tránh lạm quyền. - " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm " ( Điều 1, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Những điều khoản của các Hiến Pháp nhân bản Tây Âu vừa trích dẫn, phải chăng lànhững bài học quý giá cho phép chúng ta mơ ước một đất nước nhân bản trong tương lai cho dân tộc Việt Nam?