Untitled Document
User:
Pass:

Quan Điểm >>  Quan Điểm

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Vào ngày 4-6 vừa qua, trong một lá thư gửi cho ba vị giám mục Việt Nam, ĐHY Phạm minh Mẫn loan báo sẽ đi tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức tại Úc. Tuy nhiên ĐHY đã có những luận điệu phản đối sự hiện diện của lá cờ quốc gia màu vàng ba sọc đỏ tại lễ hội quốc tế này và cho rằng: “ lá cờ làm tắc nghẽn hiệp thông giữa các bạn trẻ ..” và miệt thị lá cờ vàng khi nói “…có lúc lá cờ là biểu tượng cho một thói đời mang tính đối kháng..” Những lời sỉ nhục quốc kỳ VNCH như trên cũng như toàn bài viết đã gây nên sự bất bình và phẫn uất cho giáo dân Việt Nam nói riêng và toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung. Tổ chức Lương Tâm Công Giáo tại San Jose nhận định như sau: 1- Lá cờ nền vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của Việt Nam Tự Do từ năm 1948, biểu tượng cho tự do dân chủ với tinh thần nhân bản của Việt Nam Cộng Hòa, là lá cờ mà người Việt quốc gia trong nước cũng như người Việt tỵ nạn cộng sản trên toàn thế giới luôn mến yêu, trân trọng và giương cao mỗi khi có dịp. 2- Người công giáo Việt Nam cũng như toàn dân Việt yêu tự do, trọng nhân quyền không bao giờ chấp nhận lá cờ máu là đại diện cho chế độ cộng sản vô thần phi nhân đang thống trị quê hương, đàn áp nhân dân , đang khống chế và lũng đoạn các giáo hội trong nước. 3- Người giáo dân luôn gìn giữ căn cước tỵ nạn cộng sản của mình, và sát cánh cùng toàn thể người Việt hải ngoại để yểm trợ cuộc đấu tranh đòi dân chủ cho Việt Nam ngõ hầu đất nước được phú cường thực sự và đồng bào chúng ta có được cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người. Lương Tâm Công Giáo chúng tôi kính mời quý giáo dân Công Giáo cũng như quý đồng hương đến nhà thờ Maria Goretti trên đưòng Senter lúc 6:30 chiều thứ Bảy 5 tháng 7 và nhà thờ Saint Patrick trên đường Santa Clara lúc 8:45 sáng Chúa Nhật để biểu dương tinh thần tôn trọng Cờ Vàng của người Việt tỵ nạn cộng sản tại Bắc Cali này. Xin quý vị tuyệt đối giữ thái độ ôn hoà, im lặng và bất bạo động. Làm tại San Jose ngày 2 tháng 7 năm 2008 Lương Tâm Công Giáo

 

Khối 8406 Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 Web: http://khoi8406vn.blogspot.com/ Email: vanphong8406@gmail.com Kháng thư số 20 Phản đối cuộc rước đuốc Thế vận qua Sài Gòn và Tẩy chay Thế vận hội Bắc Kinh 2008 Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam và Quý Thân hữu quốc tế Nhận định: 1- Xét rằng từ bao năm nay, nhân loại khắp hành tinh đều đã và đang thấy rằng nhà cầm quyền Trung Hoa Cộng sản, ngoài việc đàn áp khốc liệt dân tộc Tây tạng và Uighur vốn đã bị họ sáp nhập, còn tước đoạt mọi tự do của chính người dân Trung Quốc dưới một chính thể độc tài đảng trị, tàn sát dã man giáo phái Pháp luân công, giam giữ khoảng 7 triệu người trong các trại cải tạo, mỗi năm xử tử hình vài ngàn người và vẫn còn cầm tù 60 công dân Trung Quốc hoạt động dân chủ đã bị bắt trong biến cố Thiên An Môn 1989 cho tới nay. Nhà cầm quyền Trung cộng cũng đang hỗ trợ chính quyền Quân phiệt Rangoon đàn áp nhân dân Miến, hỗ trợ chính quyền Soudan tàn sát người dân tại Darfur, đang tàm thực tại Lào và Cambodia, đang đe dọa thôn tính Đài Loan bằng vũ lực. Giấc mộng bá quyền, chủ nghĩa Đại Hán của Trung cộng ngoài ra còn nhắm bao phủ toàn cầu, qua nhiều lời tuyên bố hiếu chiến và ngạo mạn của các bộ trưởng quốc phòng, qua kế hoạch xây dựng một quân đội hùng mạnh nhất thế giới nhằm chiếm thế thượng phong trên đất liền lẫn biển cả, cũng như qua kế hoạch đào tạo một đội ngũ chuyên viên tin học thành thạo nhằm khống chế toàn bộ mạng lưới điện toán an ninh quốc phòng của mọi quốc gia, nhất là Hoa Kỳ !!! Giấc mộng bá quyền, chủ nghĩa Đại Hán đó không chỉ là hiểm họa đối với các quốc gia lân bang Trung Quốc mà còn là hiểm họa của toàn nhân loại trong tương lai không xa. Vì vậy Thế vận hội 2008, khai diễn tại Bắc kinh sẽ làm lu mờ ý nghĩa là một ngày hội thể thao của toàn nhân loại vì hòa bình, hữu nghị và đoàn kết giữa các quốc gia, các lãnh thổ và các dân tộc. Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy cứ mỗi lần đạt được một thắng lợi nào đó về chính trị, quân sự, kinh tế hay ngoại giao, Trung cộng lại tăng cường tham vọng bành trướng, tìm cách thôn tính những nước yếu thế chung quanh. Do đó, giúp cho Trung Quốc thành công trong Thế vận hội 2008 chính là gián tiếp giúp Trung Quốc thực hiện thêm kế hoạch bành trướng của họ. Thành thử kể từ ngày bắt đầu rước đuốc Thế vận Bắc Kinh, nhiều sắc dân, chính phủ và quần chúng trên thế giới đã mạnh mẽ tẩy chay cuộc rước đuốc này hay từ chối tham dự Thế vận hội. 2- Xét rằng đối với Việt Nam, qua giòng lịch sử, Trung Quốc luôn là kẻ thù xâm lược, đã bao lần tìm cách thôn tính đất nước chúng ta. May nhờ các vị anh hùng dân tộc và nhân dân đã giữ yên bờ cõi suốt mấy ngàn năm. Tiếc thay, đến thời đảng Cộng sản lên nắm chính quyền ở miền Bắc rồi tòan cõi đất nước, nhờ sự đồng lõa của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản VN vốn nô lệ đàn anh và có tư tưởng vong bản, vô tổ quốc, Trung Quốc đã tiến những bước dài trên con đường xâm chiếm Việt Nam về lãnh thổ, chính trị, chủng tộc, kinh tế, văn hóa. Qua công hàm bán nước ngày 14-09-1958, đến Hiệp định biên giới Việt-Trung ngày 30-12-1999 rồi Hiệp định lãnh hải Việt-Trung ngày 25-12-2000, đất đai tiên tổ bị mất dần dần vào tay kẻ thù truyền kiếp, khiến toàn thể dân Việt đều căm hờn lũ cướp nước và lũ bán nước. Giọt nước làm đầy ly phẫn nộ của đồng bào, đồng thời là ngọn giáo đâm vào tâm can của dân tộc chính là việc Trung Quốc công bố quyết định sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc hôm 02-12-2007. Ý đồ này đang được thể hiện rất rõ nét qua bản đồ rước đuốc Thế vận do nước này trình bày hầu lừa gạt thế giới. Trung Quốc quả là một hiểm họa ngày càng lớn lao đối với dân tộc. Thế mà tập đoàn lãnh đạo CSVN hiện nay phản ứng hết sức yếu ớt, nếu không muốn nói là đồng lõa với ngoại thù của Tổ quốc. 3- Xét rằng trước nguy cơ mất nước và mối nhục quốc thể như thế, nhà cầm quyền CSVN lẽ ra phải mạnh mẽ lên tiếng phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa; phải noi gương Đài Loan từ chối rước đuốc Thế vận qua lãnh thổ mình và từ chối tham gia Thế vận hội Bắc Kinh, và phải noi gương Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật.... để cho nhân dân nước mình tự do bày tỏ thái độ phản đối một cường quốc đang có những lối hành xử nước lớn hung bạo, đang nuôi những cuồng vọng bành trướng nguy hiểm. Thế nhưng, vẫn thói khiếp nhược Bắc triều và tâm địa đặt quyền lợi đảng trên quyền lợi tổ quốc, nhà cầm quyền CSVN đã và đang tìm mọi cách dập tắt các tiếng nói báo động và phản kháng về vấn đề Trung Quốc, như: – đàn áp các cuộc biểu tình của sinh viên học sinh đã biểu lộ lòng yêu nước phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, – không cho báo chí loan tải các cuộc biểu tình trên khắp thế giới phản đối cuộc rước đuốc Thế vận, – truy tìm, thẩm vấn và hăm dọa các thành viên những trang mạng dân chủ quốc nội hay những ai đang chuẩn bị để biểu tình phản kháng cuộc rước đuốc qua Sài Gòn ngày 29-04 tới. Tệ hơn nữa, nhà cầm quyền CSVN đang để cho công an Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ với lý do bảo vệ cuộc rước đuốc, còn ra lệnh cho công an và cả quân đội Việt Nam phối hợp với lực lượng ngoại bang này để đàn áp cuộc biểu tình phản kháng rất chính đáng của nhân dân vốn căm hận vì mối nguy và mối nhục mất đất mất biển. Tuyên bố: Khối 8406 chúng tôi, trong tinh thần sát cánh cùng nhân dân và chia sẻ nỗi đau của đồng bào, long trọng tuyên bố: 1- Cực lực phản đối cuộc rước đuốc Thế vận qua Sài Gòn ngày 29-04-2008. Đây là một sự ô nhục cho toàn thể tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Vì cuộc rước đuốc đó tạo dịp cho kẻ thù truyền kiếp phô trương thanh thế, bày tỏ bá quyền, ra tay thị uy trên cả đất nước chúng ta. 2- Mạnh mẽ tẩy chay Thế vận hội Bắc Kinh, vì đó là Thế vận hội quảng cáo cho một chế độ đang đạt những thành tích kinh tế và sự «ổn định chính trị» bằng cách đàn áp nhân dân, bóc lột quần chúng, tàn phá môi sinh, hỗ trợ khủng bố, hăm doạ và thôn tính các nước láng giềng, nuôi ý đồ thống trị cả hoàn vũ... 3- Tha thiết kêu mời các vận động viên được chỉ định tham gia cuộc rước đuốc qua Sài Gòn và được tuyển chọn tham gia tranh tài Thế vận hội tại Bắc Kinh hãy vì lòng yêu nước, nỗi quốc nhục và mối nguy dân tộc, mà từ chối cái «vinh dự» này vốn chỉ là một vết nhơ cho chính đất nước nói chung và cho bản thân Quý vị nói riêng. Chúng tôi cũng tha thiết kêu mời mọi người dân trong nước đừng đi du lịch qua Trung Quốc để tham dự Thế vận hội. 4- Nhiệt liệt kêu gọi toàn dân Việt Nam trong nước hãy can đảm và mưu trí tham gia cuộc biểu tình ngày 29-04. Chúng ta không thể để cho một tập đoàn lãnh đạo thần phục ngoại bang và coi thường sinh mệnh lẫn danh dự dân tộc tiếp tục làm mưa làm gió, chà đạp lên ý nguyện của nhân dân và ngang nhiên phục vụ quyền lợi của quân xâm lược. Chúng tôi cũng kêu gọi đồng bào Việt Nam ngoài nước hãy tìm mọi cách hỗ trợ cho đồng bào trong nước nhân cuộc biểu tình rửa nhục này. 5- Chân thành biểu dương tất cả những công dân yêu nước tại quốc nội, đặc biệt các bạn trẻ sinh viên học sinh, đã và đang nghĩ ra nhiều sáng kiến, vượt qua nhiều trở ngại, chấp nhận nhiều gian khổ để bày tỏ lòng yêu nước trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa trước đây, và đang chuẩn bị biểu tình phản đối việc rước đuốc thế vận hội qua lãnh thổ Việt Nam những ngày tới. Chúng tôi cũng chân thành biểu dương tất cả các cộng đồng người Việt hải ngoại đã và sẽ tham gia các cuộc biểu tình trên toàn thế giới chống cuộc rước đuốc Thế vận và qua đó chống Trung cộng cướp đảo, chống Việt cộng dâng đảo ! Làm tại Việt Nam ngày 21-04-2008 Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang vận động tại hải ngoại) 3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình 4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế 5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng.

 

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 Bloc 8406-Supporters of Manifesto on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006 vanphong8406@gmail.com Kháng thư số 19 Tố cáo những thành tích phản nhân quyền của nhà cầm quyền CS Việt Nam 3 tháng đầu năm 2008 Việt Nam, ngày 12 tháng 03 năm 2008 Kính thưa toàn thể Đồng bào VN trong và ngoài nước cùng các Thân hữu quốc tế, Trong chuyến công du đầu tháng 3 tại các nước Anh, Ai-len và Đức, ông Nguyễn Tấn Dũng đã mạnh miệng tuyên bố với chính giới và báo giới Âu châu rằng tại Việt Nam, nhân quyền ngày càng được cải thiện, không có tù nhân chính trị mà chỉ chỉ có tù nhân hình sự, và nhà nước đang xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh... Thế nhưng, nhiều sự kiện trong quý I năm 2008 đã cho thấy đó là những lời lường gạt, dối trá. Nhà cầm quyền CSVN tiếp tục đàn áp toàn xã hội, không ngừng lập những “thành tích phản nhân quyền”. Sau đây là những vụ việc tiêu biểu: 1- Đối với dân tộc. - Dịp kỷ niệm 40 năm cuộc thảm sát Mậu Thân (1968-2008) lẽ ra là cơ hội cho đảng CSVN sám hối trước nhân dân, đặc biệt nhân dân miền Nam, vì đã tàn sát dã man cả vạn thường dân vô tội trong những ngày tết thiêng liêng của dân tộc. Thế nhưng, CSVN vẫn cứ lòng chai dạ đá, xuyên tạc lịch sử, đầu độc dư luận, ngang nhiên trình bày biến cố Tết Mậu Thân như “cuộc tổng tấn công và nổi dậy của nhân dân miền Nam”, như một “chiến thắng lẫy lừng và đầy sáng tạo của Cách mạng” qua những chương trình phát thanh truyền hình, những cuộc “hội thảo khoa học”, những buổi gặp mặt ăn mừng, và nhất là qua cuộc diễu hành tại Dinh Thống Nhất sáng ngày 1-2-2008. - Dịp Trung Cộng hợp thức hóa việc xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 2-12-2007 lẽ ra là cơ hội cho đảng CSVN tạ tội với dân tộc (vì đã bán đất dâng biển cho ngoại bang kể từ năm 1958) bằng cách vận động đoàn kết đồng bào mọi nơi và mọi giới giành lại gia sản của tiên tổ. Thế nhưng, với tâm hồn nô lệ Bắc triều, CSVN lại đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của học sinh, sinh viên, nhà báo, dân oan, chiến sĩ dân chủ… vốn đã liên tục xảy ra cho đến hôm 19-1 (kỷ niệm 34 năm hải chiến Hoàng Sa). Mới đây, bất chấp niềm đau mất đảo vào tay Trung Cộng, CSVN lại điềm nhiên tham gia vào thế vận hội Bắc Kinh bằng cách tổ chức cuộc rước đuốc ô nhục qua Sài Gòn ngày 29/30-4 trước khi ngọn đuốc này rước qua Hoàng Sa. Đây là hành vi mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên 2 quần đảo của đất nước. - Với đường lối quản lý xã hội, điều hành kinh tế ngu dốt, đầy cưỡng bức, kiểu bóc lột, CSVN đang đẩy toàn bộ đất nước vào cơn khủng hoảng lạm phát trầm trọng (tháng 1 tăng 14% và tháng 2 tăng 16%), khiến điện, nước, xăng dầu tăng 17 % và giá thực phẩm nhảy vọt tới 24 % (theo Roger Mitton). Ngoài ra, việc đề ra những chính sách thất nhân tâm như cấm bán hàng rong, dẹp xe ba gác, gia tăng học phí đã đẩy hàng chục triệu người nghèo vào bước đường cùng, khiến cho hơn 114.000 học sinh bỏ học tính đến tháng 12-2007 (theo số liệu của Bộ GD-ĐT, Tuoitre online ngày 10-03) và nay đã lên tới 150.000. Việc ấy còn khiến cho nông dân và sinh viên trở thành những con nợ của nhà nước, từ đó bị khống chế về mặt tư tưởng và quan điểm chính trị. - Việc khống chế tư tưởng và quan điểm này còn được CS áp đặt lên toàn xã hội qua cái gọi là “cuộc vận động học tập tư tưởng và đạo đức của Hồ chủ tịch” vốn phổ biến sâu rộng từ 3-2-2007, sơ kết mỗi 19-5 hàng năm, tổng kết ngày 3-2-2011, trên các phương tiện truyền thông, trong các học đường từ nhỏ tới lớn, trong các cơ quan nhà nước từ địa phương tới trung ương, trong các đoàn thể nhân dân thuộc Mặt trận Tổ quốc VN, trong công an, quân đội, báo giới và tôn giáo quốc doanh… Đây là một sự đầu độc tinh thần đối với nhân dân, vì Hồ Chí Minh chẳng có tư tưởng nào ngoài việc mù quáng chạy theo học thuyết sai lầm tai hại và áp dụng chế độ gian dối bạo tàn của Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông, chẳng hề có đạo đức trong cuộc sống riêng tư (giết vợ, bỏ con, phản bội bạn bè) lẫn trong cuộc sống xã hội (gây ra bao lụn bại suy tàn, oan khiên khốn khổ, thảm sát tru diệt cho dân tộc kể từ Cải cách ruộng đất đến hôm nay). 2- Đối với dân oan. - Sau cuộc đàn áp tàn khốc đêm 18-07-2007 đối với dân oan 19 tỉnh thành miền Nam vốn đã biểu tình khiếu kiện kể từ ngày 22-06-2007 trước Văn phòng 2 Quốc hội tại Sài Gòn, CSVN đã tuyên bố sẽ giải quyết rốt ráo mọi oan khuất tại địa phương. Thế nhưng, đó vẫn chỉ là hứa hẹn hão, lường gạt thật. Dân oan, đặc biệt tại Tiền Giang, vẫn tiếp tục cơm đùm gạo bới lên Sài Gòn, ra Hà Nội để rồi trở về tay không sau khi đã chịu cảnh màn trời chiếu đất, dầm mưa dãi nắng, cửa quan im lìm và bị công an đầu gấu hành hạ. Riêng cụ Ngô Lướt, 72t, dân oan Bình Thuận, bị kết án 9 tháng tù giam vào ngày 27-12-2007. - Gần đây, nhà cầm quyền CSVN tiếp tục đàn áp người dân để cướp đất của họ hòng xây dựng các khu công nghiệp hay bán cho các công ty ngoại quốc. Trường hợp cụ thể xảy ra tại Khu Công nghệ cao quận 9, thành phố Sài Gòn. Vào khuya ngày 02-03-2008, hàng trăm công an đã đột nhập gia cư, bắt giam mười người dân đã dám lên tiếng phản đối chính quyền địa phương tham nhũng hôm 22-11-2007. Đó là các dân oan Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Nam Điền, Kiều Văn Hòa, Lưu Minh Luân, Đỗ Thị Mai, Nguyễn Văn Năng, Nguyễn Thị Thơ, Dương Thị Trúc Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Mỹ Vân. Họ đã bị vây bắt như những tội phạm nguy hiểm và đang bị giam giữ, chờ ngày ra tòa vì tội “gây rối trật tự”. (Theo Blog Tiếng Dân Rên). 3- Đối với công nhân. - Để đương đầu với những cuộc đình công ngày càng sâu rộng và đông đảo của công nhân nhằm phản đối chủ nhân bóc lột, công đoàn cấu kết và nhà cầm quyền đồng lõa, ngày 30-1-08, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký hai Nghị định số 11 và 12/2008 bắt công nhân phải “bồi thường thiệt hại” cho chủ nhân trong các cuộc đình công mà NTD gọi là “bất hợp pháp” và phải bị đem ra tòa án xét xử như những tội phạm. Với hai nghị định bất công và vô luật này, mặt nạ “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân” của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản lại rơi xuống và nhóm cầm đầu chế độ toàn trị một lần nữa tỏ ra là những kẻ đang ra sức bảo vệ chủ nhân, đặc biệt các chủ nhân tư bản ngước ngoài, tiếp tay cho họ bóc lột và đày ải hàng triệu công nhân đồng bào ruột thịt. - Đang khi đó, theo báo chí trong nước (tờ Pháp Luật ngày 27-2), từ năm 2002 đến nay, có tất cả 315 lao động Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia bị chết, riêng năm qua có 107 người đột tử. Bản tin ngày 18-02 của Ủy ban Cứu người Vượt biển lại cho biết: “Năm 2007, công ty Esquel đã tuyển 1.300 người Việt đưa sang Malaysia làm việc với lời hứa mỗi tháng sẽ nhận được khoảng 245 Mỹ kim. Tuy nhiên, sau đó họ chỉ nhận được khoảng 60 Mỹ kim một tháng, do đấy không thể nào sống nổi”. UBCNVB cũng cho biết: cách đây nửa năm, trên 200 công nhân đã được đưa qua Jordan để làm việc cho công ty may mặc W&D Apparel Jordan Corp. Chủ nhân cam kết trả 220 Mỹ kim một tháng, nhưng trên thực tế họ chỉ nhận được từ 80 đến 120 Mỹ kim. Hôm 20-02-08, vì đồng loạt đình công, họ đã bị nhân viên và cảnh sát đánh đập, khiến 5 công nhân phải nhập viện. Tất cả các thảm trạng trên xảy ra là do thái độ vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN và đại diện sở tại, vốn quen thói đem con bỏ chợ, sống chết mặc bây, phủi tay sau khi thu tiền! 4- Đối với các nhà dân chủ. - CSVN tiếp tục giam cầm không xét xử nhiều nhà dân chủ quốc nội lẫn hải ngoại, chẳng hạn 4 thành viên của đảng Việt Tân là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, ông Somsak Khunmi, các anh Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Viết Trung (bị bắt ngày 17-11-2007, thậm chí không cho gia đình thăm gặp), 3 thành viên Khối 8406 là chị Hồ Thị Bích Khương (bị bắt ngày 25-4-2007), Ký giả Trương Minh Đức (cũng là thành viên Đảng Vì Dân, bị bắt ngày 05-05-2007), anh Lương Văn Sinh (bị bắt ngày 10-01-2008) và nhiều người khác nữa. Tất cả họ chỉ có mỗi tội là tranh đấu bất bạo động để đòi hỏi nhân quyền cho đồng bào hay đòi lại tài sản cho dân oan. Riêng anh Lê Trí Tuệ, một thành viên Khối 8406 khác, đã trốn sang lánh nạn tại Cambodia giữa tháng 4-2007, nhưng đến tháng 5 thì bị mất tích cách bí hiểm, có thể do công an CSVN bắt cóc. - Nhiều nhà dân chủ khác tiếp tục bị đem ra xét xử trong những phiên tòa vô luật để lãnh những bản án bất công, như hai thành viên Khối 8406 là anh Trương Quốc Huy và anh Hàng Tấn Phát bị tuyên án mỗi người 6 năm tù giam về tội "chống phá nhà nước" ngày 29-1-2008; như 5 thành viên Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam cũng là đảng viên Đảng Dân chủ Nhân dân đã bị xử y án trong phiên tòa phúc thẩm ngày 25-02-2008: ông Đoàn Văn Diên (4 năm 6 tháng), chị Trần Thị Lệ Hồng (3 năm), anh Đoàn Huy Chương (1 năm 6 tháng), chị Nguyễn Thị Tuyết (1 năm 6 tháng), ông Phùng Quang Quyền (1 năm 6 tháng). Phiên tòa này đã diễn ra một cách lén lút, chẳng thông báo cho thân nhân. Ký giả Trương Minh Đức cũng sẽ bị đưa ra toà án tỉnh Kiên Giang ngày 18-3-2008 sắp tới với cáo buộc vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự. - Dịp nhà dân chủ lão thành, sáng lập viên Khối 8406, cựu đảng viên CS Hoàng Minh Chính ra đi, CSVN đã tìm mọi cách để phá đám tang lễ của nhà đấu tranh chân chính và đáng ngưỡng mộ này, với những hành động lỗ mãng và tàn bạo. Trước hết họ tìm cách thao túng lèo lái việc tổ chức tang lễ nhưng không thành, sau đó ngăn cản những ai có tinh thần dân chủ đến phúng điếu, kể từ Hòa thượng Thích Không Tánh là chủ lễ cầu siêu (song thất bại), đến các nhà đối kháng khác như kỹ sư Đỗ Nam Hải, ông Nguyễn Bá Đăng, cựu đảng viên Vi Đức Hối, giáo viên Vũ Hùng, giáo sư Nguyễn Thượng Long, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ký giả Nguyễn Khắc Toàn, kỹ sư Phạm Văn Trội… Tất cả đều bị phong tỏa tại gia. Công an còn ngang nhiên giật các vòng hoa phúng điếu của các tập thể hay cá nhân dân chủ từ trong lẫn ngoài nước. - Nhiều nhà dân chủ khác tiếp tục bị sách nhiễu quản chế như Thượng tọa Thích Thiện Minh, Kỹ sư Đỗ Nam Hải (3 lần bị cấm ra Hà Nội), cựu chiến binh Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa (bị hăm dọa giết chết), nhà văn Hoàng Tiến, ký giả Nguyễn Khắc Toàn, các nữ chiến sĩ dân chủ như Dương Thị Xuân, Vũ Thanh Phương, Lê Thị Kim Thu, Lư Thị Thu Duyên, Phạm Thanh Nghiên… Thành viên Câu lạc bộ Nhà báo tự do như anh Hoàng Hải (Điếu Cày) và Luật gia Phan Thanh Hải thì bị gây rối đủ cách trong công ăn việc làm. Đặc biệt có Luật sư Bùi Kim Thành, nhà tranh đấu nhiệt tình cho dân oan, đã bị công an dùng vũ lực đưa vào bệnh viện tâm thần Biên Hòa sáng ngày 6-3-2008 vừa qua, dù bà chẳng hề điên loạn. Sau đó bà bị tiêm thuốc cho mê man và bị phong tỏa không cho gặp thân nhân bằng hữu. Đây là lần thứ hai vị luật sư riêng của Tập thể dân oan này bị CSVN đối xử một cách man rợ như thời bạo chúa Staline bên Liên xô. Lần thứ nhất là từ ngày 2-11-2006 đến ngày 16-7-2007, cũng tại nhà thương điên Biên Hòa. 5- Đối với các tôn giáo. - Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp tục là nạn nhân của nhà cầm quyền CS. Hàng lãnh đạo của Giáo hội như các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh, Không Tánh… vẫn mãi bị quản chế hay sách nhiễu. Nhiều tịnh thất bị phân biệt đối xử như tịnh thất Hồng Liên ở An Giang. Nhưng nổi bật nhất là sự kiện nhà cầm quyền Cộng sản vừa trao khu đất Việt Nam Quốc tự của Viện Hoá Đạo ở quận 10 Sài Gòn cho Công ty Berjaya Land Bhd (B-Land) thuộc Tập đoàn Berjaya (Malaysia) hôm 23-2-2008, để công ty này xây dựng Trung tâm Tài chính Việt Nam, từ đó kéo theo việc phá sập ngọn tháp Việt Nam Quốc tự cao bảy tầng tại đó (Phòng Thông tin PGQT, Thông cáo báo chí ngày 5-3-2008). Sự kiện thứ hai là nhà cầm quyền CS, qua tay chân của mình là Giáo Hội Phật giáo VN, sẽ tổ chức Đại lễ Phật Đản Tam hợp quốc tế (hay Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2008) vào trung tuần tháng 5 năm tới tại Hà Nội, với âm mưu biến Đại lễ này thành một màn kịch nhằm đạt tới những mục tiêu chính trị của họ, những mục tiêu hoàn toàn xa lạ với ý nghĩa văn hoá và tôn giáo của Đại lễ. Nhưng làm sao tôn vinh Đức Phật và Phật giáo khi Nhà nước Cộng sản không ngừng đàn áp Giáo hội lịch sử và dân lập là GHPGVNTN và tiếp tục quản chế khắt khe hàng lãnh đạo cao cấp của GH này? - Giáo hội Công giáo cũng tiếp tục được nhà cầm quyền “chiếu cố” qua việc cướp thêm hay không hoàn trả đất đai của Giáo hội, như tại Sài gòn (đại chủng viện thánh Giuse, giáo xứ Thánh Cẩm), tại Huế (đan viện Thiên An, trung tâm Thánh mẫu La Vang Quảng Trị), tại Hà Nội (các giáo xứ Thái Hà, Hà Đông). Nhưng nổi bật nhất là vụ Tòa Khâm Sứ vốn đã nổi lên từ cuối năm rồi qua việc giáo dân Hà Nội tụ tập cầu nguyện tại nơi tranh chấp và suýt bị đàn áp. Sau khi Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra văn thư ngày 01-02-2008, kêu gọi giáo dân ngưng cầu nguyện tại nơi này để tỏ thiện chí, người ta tưởng sau tết Nguyên đán nhà cầm quyền sẽ đáp lễ mà giải quyết vụ việc đúng luật. Thế nhưng, CSVN vẫn ngoan cố bày mưu chước khác để đối phó. Đó là nhờ tay chân trong Giáo hội Phật giáo VN và trong nhóm Giao điểm ở hải ngoại ra văn thư, viết bài vở tuyên bố khu đất Tòa Khâm sứ nguyên là tài sản của Phật giáo vì trên đó từng có một ngôi chùa và một bảo tháp mang tên Báo Thiên nhưng rồi đã bị Công giáo, được chính quyền Thực dân Pháp hỗ trợ, đã cướp lấy, đập phá để xây cơ sở của mình. Dẫu lập trường này sai lầm về lịch sử lẫn pháp lý, CS vẫn dùng nó để mong chia rẽ các tôn giáo, xúi đôi bên đánh nhau để mình ở giữa trục lợi, trước mắt là khỏi trả Tòa Khâm sứ rồi hàng ngàn cơ sở đất đai tôn giáo khác nữa. - Giáo hội Tin Lành tiếp tục chịu nhiều thống khổ. Như Hội thánh Tin Lành Việt Nam, chi hội Trà Vinh, ở xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, vừa bị hành hung vừa bị cấm nhóm họp thờ phượng (đài RFA, ngày 07-03-2008). Như một tín đồ người Thượng ở Tây Nguyên tên Kpa Kloh, 41 tuổi, đã qua đời trong một trại tù ở Phú Yên ngày 20-02 vì bị công an CSVN tra tấn đến chết (Hãng thông tấn Tin Lành Bos News Life). Như một tín đồ người Thượng khác cũng ở Tây Nguyên, buôn De Ar là bà Haner đã bị bắt và bị thẩm vấn trong nhiều giờ. Sau đó, ngôi nhà của bà đã bị công an đốt cháy trụi, khiến bà và 3 con nhỏ không còn chỗ nương náu (Tổ chức Montagnard Foundation tại Hoa Kỳ). Mới đây, chuyến viếng thăm các tù nhân lương tâm tại Hà Nam và Thanh Hóa của đoàn mục sư và tu sĩ Tin lành Mennonite gồm 23 người từ ngày 26-01 đến ngày 04-02 đã gặp không ít trở ngại từ phía nhà cầm quyền CSVN (xem Bản tường trình ngày 25-02-2008 của mục sư Nguyễn Hồng Quang). Từ những vụ việc đàn áp kể trên, vốn là phản chứng của bao lời tuyên bố láo lường của nhà cầm quyền CSVN, toàn thể Khối 8406 chúng tôi, gồm hàng chục ngàn thành viên trong lẫn ngoài nước, nay đồng thanh lên tiếng: 1- Đòi hỏi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải biết sám hối lỗi lầm, thành tâm phục thiện, công nhận sự thật về tội giết người đã gây ra cho nhân dân, đặc biệt trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, về tội bán nước đã gây ra cho dân tộc, đặc biệt trong vụ dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc kể từ năm 1958. Đòi hỏi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải từ bỏ chế độ độc tài độc đảng, thần tượng giả trá Hồ Chí Minh, trả lại quyền làm chủ đất nước cho toàn dân, quyền làm người cho mỗi cá thể, quyền sinh hoạt độc lập cho mỗi tôn giáo, quyền tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm và các nhà dân chủ đối lập (trong đó có linh mục Nguyễn Văn Lý cùng các thành viên lãnh đạo đảng Thăng Tiến VN), để cùng tất cả đồng bào trong lẫn ngoài nước giải quyết những cơn khủng hoảng đủ loại của quốc gia, đương đầu với hiểm họa Bắc phương xâm lược. 2- Kêu gọi sự đoàn kết giữa các tôn giáo, giữa mọi thành phần xã hội tại VN để đối phó với âm mưu chia rẽ của CS, để gỡ bỏ ách thống trị lâu dài của thiểu số cầm quyền hung hiểm và tàn bạo, để áp lực lên tập đoàn lãnh đạo CS hầu buộc họ trả lại mọi tài sản vật chất (đất đai, cơ sở) và mọi tài sản tinh thần (các nhân quyền và dân quyền), để thúc đẩy nhà cầm quyền CS phải cấp tốc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ quốc gia đang tranh chấp với Trung Cộng theo Công pháp quốc tế. Trước mắt, chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào quốc nội liên tục biểu tình chống Trung Cộng cướp nước và Việt Cộng bán nước, tẩy chay cuộc rước đuốc thế vận hội qua Sài Gòn ngày 29/30-4 sắp tới, kêu gọi các lực sĩ và các du khách Việt Nam không tham dự thế vận hội Bắc Kinh là một thế vận hội ô nhục vì được tổ chức bởi một nhà cầm quyền đàn áp mà nay vừa bị tái bêu danh trong Báo cáo thường niên về Nhân quyền của bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 3- Kêu gọi đồng bào hải ngoại và thân hữu quốc tế tiếp tục ủng hộ phong trào dân chủ tại quốc nội, bằng cách thông báo đầy đủ tin tức về nhân quyền tại VN ra khắp năm châu, bằng cách thực hiện liên tục những hoạt động đấu tranh dưới mọi hình thái để nhắc nhở ý thức của đồng hương và đánh động lương tâm của thế giới về bao thảm trạng tại quốc nội, bằng cách vận động các chính phủ, các tổ chức, các cơ quan quốc tế ủng hộ đại cuộc đòi tự do cho dân tộc, bằng cách chuẩn bị nhân lực, tài lực và vật lực cho ngày trở về xây dựng lại quê hương một khi chế độ độc tài CS bị xóa sổ. 4- Ủng hộ Lời Kêu gọi 8 điểm cho dân chủ Việt Nam của Hòa thượng Thích Quảng Độ, Lộ trình 9 điểm dân chủ hóa Việt Nam của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, vì hai sáng kiến này phù hợp với Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam và Tiến trình dân chủ hóa Việt Nam gồm 4 giai đoạn 8 bước của Khối chúng tôi (xin xem phụ lục đính kèm). Chúng tôi cũng ủng hộ những Dự tính đưa ra ngày 15-03-2008 của Ủy ban Vận động Liên kết Đấu tranh Tự do cho Việt Nam, ủng hộ chiến dịch “Hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp” và “Khiếu kiện điều 4 Hiến pháp trước LHQ” do Phong trào Hiến chương 2000 (tiến sĩ Nguyễn Bá Long điều hợp) và Đảng Thăng Tiến Việt Nam (tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng làm văn phòng trưởng) phát động. Chúng tôi chào mừng sự trở về giữa phong trào dân chủ của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một thành viên nổi bật của Khối 8406. Cuối cùng, Khối 8406 tại quốc nội lẫn hải ngoại chân thành cảm ơn mọi hỗ trợ của Đồng bào khắp nơi và của Thân hữu quốc tế, đồng thời tha thiết và long trọng kính mời toàn thể Quý vị hướng về kỷ niệm 2 năm ngày thành lập Khối chúng tôi (08-04-2006) bằng những hoạt động tùy sáng kiến với áo trắng tự do dân chủ. Chúng tôi chân thành cảm ơn toàn thể Quý vị. Làm tại Việt Nam ngày 12-03-2008 Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 : 1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang vận động tại hải ngoại) 3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình 4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế 5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng. (*) Hôm nay cũng là ngày bộ Ngoại giao Hoa kỳ công bố Phúc trình thường niên về Nhân quyền trên thế giới năm 2008 TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam Việt Nam, 8-4-2006 Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước, Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng : I. Thực trạng của Việt Nam 1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc và Khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945 và quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945). Rõ ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị đảng Cộng sản Việt Nam đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng định Quyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản Việt Nam tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp ! 2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…”. (trích Tuyên Ngôn Độc Lập 2-9-1945). Thế nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của dân tộc đều bị chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền cộng sản được dựng lên. 3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin”. Và trong Điều Lệ, phần Mục Đích và Tôn Chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ǎngghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…”. Kể từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975 thì bóng ma của chủ nghĩa cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam. II. Qui luật phổ biến toàn cầu 1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù cộng sản hay không cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện hành, rằng : “Đảng cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi ! 2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử thì toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ. 3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danh chút nào! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam. Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước : III. Mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa cuộc đấu tranh 1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được “đổi mới” từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu. Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây : - Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2 : “Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình”. Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền. - Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn”; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính. - Quyền Tự do hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966, điều 7 và 8 : “Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…”. Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền. - Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 18 : “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo”. Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền. 2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đã có nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả. 3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chốn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc “lẽ phải toàn thắng” sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn. Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay. Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006 1. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 2. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 3. Gv Đặng Văn Anh, Huế 4. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 5. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 6. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 7. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 8. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 9. Gv Lê Cẩn, Huế 10. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 11. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 12. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 13.Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 14. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 15.Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 16. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 17. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 18. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 19. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 20. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 21. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 22. Gs Trương Quang Dũng, Huế 23. Bs Hà Xuân Dương, Huế 24. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 25. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 26. Ktv Trần Văn Đón, Phan Thiết 27. Bs Hồ Đông, Vĩnh Long 28. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 29. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 30. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 31. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 32. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 33. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 34. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 35. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 36. Ktv Trần Việt Hải, Vũng Tàu 37. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 38. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 39. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 40. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 41. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 42. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 43. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 44. Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh 45. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 46. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 47. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 48. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 49. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 50. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 51. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 52. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 53. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 54. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 55. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 56. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 57. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 58. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 59. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 60. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 61. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 62. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 63. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, S.Gòn 64. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 65. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 66. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 67. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 68. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 69. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 70. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 71. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 72. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 73. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 74. Gv Phan Văn Mậu, Huế 75. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 76. Gv Ma Văn Minh, Huế 77. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 78. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 79. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 80. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 81. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 82. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 83. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 84. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 85. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 86. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 87. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 88. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 89. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 90. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 91. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 92. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 93. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 94. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 95. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 96. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 97. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 98. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 99. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 100. Gv Nguyễn Bình Thành, Huế 101. Gv Văn Bá Thành, Huế 102. Cư sĩ PGHH Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 103. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 104. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 105. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 106. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội 107. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 108. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 109. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 110. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 111. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 112. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 113. Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng 114. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 115. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 116. Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 117. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 118. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM GỒM 4 GIAI ĐOẠN, 8 BƯỚC CỦA KHỐI 8406 Việt Nam, ngày 22 tháng 8 năm 2006 GIAI ĐOẠN I THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ. 1- Bước 1 : Vài chục năm nay, từ nội bộ đảng Cộng sản đến những nhà hoạt động dân chủ, nhiều Công dân Việt Nam đã lên tiếng - bằng nhiều cách - mạnh mẽ đòi nhân quyền, dân chủ, tự do, tự do thông tin ngôn luận, tự do thành lập công đoàn, tự do thành lập đảng phái, tự do tôn giáo,…cho Đất nước. Ngày 20-2-2006, 4 Linh mục công bố Lời Kêu Gọi Cho Quyền Tự Do Thông Tin Ngôn Luận “Chúng Ta Không Sợ Hãi Nữa. Chúng Tôi Phải Biết Sự Thật”, thì đến ngày 23-2-2006 lần đầu tiên hàng trăm Công dân quốc nội Việt Nam đã đồng loạt ký tên vào bản Tuyên Bố về Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận của người Dân Việt Nam. 2- Bước 2 : Ngày 8-4-2006, Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 được long trọng công bố trước Quốc dân Việt Nam và Cộng đồng Quốc tế. Trên cơ sở Tuyên ngôn ấy, Khối 8406 được hình thành, ngày càng phát triển nhanh chóng và được Đồng bào quốc nội, hải ngoại cũng như Cộng đồng Quốc tế ủng hộ mạnh mẽ. - Ngày 15-4-2006, Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận ra số đầu tiên đồng loạt tại nhiều thành phố ở Việt Nam. - Ngày 15-8-2006, Đặc san Tự Do Dân Chủ quyết tâm ra số đầu tiên tại Hà Nội. - Tăng cường đấu tranh để toàn Dân Việt Nam tự giành lại quyền Tự do Thông tin Ngôn luận đã bị mất hẳn dưới chế độ Cộng sản Việt Nam từ hơn 50 năm qua ; khuyến khích các Cá nhân, Tổ chức mạnh dạn công khai sử dụng báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phổ cập khác ; nỗ lực để các tài liệu thông tin được bày bán công khai trong các sạp báo - tiệm sách. GIAI ĐOẠN II PHỤC HOẠT, THÀNH LẬP & PHÁT TRIỂN CÁC CHÍNH ĐẢNG DÂN CHỦ KHÔNG CỘNG SẢN. 3- Bước 3 : Không kể các Chính đảng Dân chủ không Cộng sản từ lâu đã âm thầm hoạt động ngay tại Việt Nam, sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh cho nhân quyền, dân quyền, dân chủ trong Nước và sự ra đời của Khối 8406 đã thúc đẩy Đảng Dân chủ Việt Nam XXI công bố phục hoạt ngày 1-6-2006 và các Đảng Dân chủ không Cộng sản khác lần lượt công khai xuất hiện với trụ sở, văn phòng, cơ quan ngôn luận và các phương tiện truyền thông đại chúng bình thường khác. 4- Bước 4 : Các Chính đảng phục hoạt và các Chính đảng mới được thành lập đưa ra cương lĩnh, đường lối, mục tiêu của mình với Quốc dân, thu phục Quần chúng ủng hộ, kết nạp đảng viên, gây dựng cơ sở, phát triển và kiện toàn tổ chức. Khối 8406 sẽ chấm dứt vai trò của mình nhường bước cho các Chính đảng hoạt động. GIAI ĐOẠN III SOẠN THẢO HIẾN PHÁP MỚI & TRƯNG CẦU Ý DÂN. 5- Bước 5 : Các Chính Đảng tập hợp thành một hoặc nhiều Liên minh đồng loạt cùng gây sức ép lên Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam để thành lập Hội đồng soạn thảo Hiến pháp Tạm Thời gồm Đại diện của tất cả các Chính đảng, các Tổ chức xã hội và các Tôn giáo nào muốn cử Đại diện tham gia. 6- Bước 6 : Đưa Dự thảo Hiến Pháp Mới ra trưng cầu ý Dân và công bố Hiến Pháp Mới Tạm Thời. GIAI ĐOẠN IV HOÀN TẤT TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM. 7- Bước 7 : Thành lập Hội đồng thi hành Hiến Pháp Mới Tạm Thời đã được toàn Dân đồng thuận. Thành lập Hội đồng Tổ chức Bầu Cử Quốc Hội Dân Chủ Khoá I, gồm các Uỷ ban : Uỷ ban biên soạn Luật Bầu cử, Ủy ban Tổ chức các Chính đảng đăng ký ứng cử viên, Uỷ ban Tổ chức bầu cử, kiểm phiếu, Uỷ ban Quốc tế giám sát,…Tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội công bằng, tự do, văn minh khoá I. 8- Bước 8 : Quốc Hội đầu tiên họp để thông qua Hiến Pháp Chính Thức, chọn Quốc hiệu, Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca,… ; đưa Hiến Pháp đi vào cuộc sống của toàn Dân. Đại diện lâm thời Khối 8406 gồm 1.872 Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình & hàng vạn Công dân quốc nội : Đỗ Nam Hải, Kỹ sư, Sài Gòn. Trần Anh Kim, Cựu Sĩ quan, Thái Bình. Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo, Huế. **********************************************************************

 

Thư hiệp thông với Tổng Giáo phận Hà Nội Kính gởi: - Đức Tổng Giám mục Giáo phận Hà Nội, Đồng kính gởi: - Đức Giám mục Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, các Đức Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột, Lạng Sơn, Thái Bình và toàn thể các Đức Giám mục. - Quý Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân Tổng Giáo phận Hà Nội. Kính thưa Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu sĩ cùng Quý Anh Chị Em giáo dân. Chúng con ký tên dưới đây là đại diện cho một nhóm linh mục nguyện sống theo tinh thần Đức Cố Tổng Giám mục tử đạo Philipphê Nguyễn Kim Điền, gọi tắt là nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền, vốn đã dấn thân cùng với dân tộc tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền từ đầu năm 2001 đến nay, xin có đôi lời gởi đến toàn thể Quý vị: 1- Trước hết, chúng con chân thành hiệp thông với Đức Tổng Giám mục cùng toàn thể Dân Chúa tại Tổng Giáo phận Hà Nội, đặc biệt tại Giáo xứ Chánh tòa, Giáo xứ Thái Hà và Giáo xứ Hà Đông. Chúng con hoan nghênh việc Đức Tổng Giám mục đã gởi văn thư ngày 15-12-2007 cho nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam để dứt khoát đòi lại đất đai cơ sở của Tòa Khâm sứ vốn là tài sản lâu đời và chính đáng của Tổng Giáo phận Hà Nội. Chúng con hoàn toàn nhất trí với việc cộng đoàn Tổng Giáo phận bày tỏ thái độ đồng lòng với vị Chủ chăn qua việc đặt lại tượng Đức Mẹ trong sân tòa Khâm sứ, lấy chữ ký giáo dân 5 tỉnh thành thuộc Giáo phận và kiên trì cầu nguyện trước tòa Khâm sứ cho đến khi đạt được mục đích. Chúng con cũng hoàn toàn nhất trí với Cha Quản xứ và giáo dân Giáo xứ Thái Hà lẫn Giáo xứ Hà Đông trong việc bày tỏ sự phản kháng hành vi xâm chiếm tài sản Giáo xứ bằng cách liên tục cầu nguyện, đặt tượng và dựng lều quanh khu vực bị cưỡng đoạt. Đây là thái độ phản ứng, cung cách đấu tranh đầy tinh thần Kitô giáo. Cùng với Tổng Giáo phận, cụ thể với Tòa Tổng Giám mục và Cha Chánh xứ Thái Hà, chúng con hoàn toàn phản đối văn thư ngày 11-01-2008 của Ủy Ban Nhân Nhân Dân thành phố Hà Nội. Không ai được quyền ngăn cấm, hăm dọa, vu khống “vi phạm pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng” đối với các Kitô hữu tụ tập cầu nguyện cách trật tự, ôn hòa tại nơi đang bị chiếm đoạt bất công để nói lên quyết tâm đòi lại công lý cho mình. Không ai được quyền biện hộ, bao che cho những cá nhân, tập thể, tổ chức cướp giật đất đai của người khác. Chúng con xin hiệp lòng với Đức Giám mục Giáo phận Đà Lạt, Chủ tịch Hội đồng Giám mục VN, các Đức Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột, Lạng Sơn, Thái Bình cùng mọi tín hữu trong Giáo phận của các ngài; chúng con xin hiệp lòng với toàn bộ Dòng Chúa Cứu Thế và nhiều cộng đồng lẫn cơ quan Công giáo VN khắp năm châu đã mau mắn hiệp thông với Tổng Giáo phận Hà Nội, với 3 Giáo xứ Chánh tòa, Thái Hà và Hà Đông bằng cầu nguyện, gởi thư, mở chiến dịch vận động chính khách quốc tế… Đây là tấm gương đáng được toàn thể hàng Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân Việt Nam trong và ngoài nước noi theo, trong tinh thần Hiệp thông Hội thánh. 2- Tuy nhiên, chúng con cũng buồn lòng phân ưu khi biết tin các Chủ chăn Tổng Giáo phận Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà đã khiếu kiện nhà cầm quyền về chuyện đất đai từ hơn 10 năm qua nhưng vẫn không thấy một hồi âm đáp trả hay thiện chí giải quyết. Chúng con cũng buồn lòng khi thấy hành động đi không mà xem ra lại về không của Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám mục VN đã lặn lội từ Đà Lạt ra Hà Nội để gặp giới lãnh đạo chính trị cao cấp; khi đọc những lời tâm sự đầy ão não của Đức Giám mục Giáo phận Thái Bình qua hai bài viết “Niềm vui chưa qua, nỗi buồn đã tới!” và “Bước đầu Hòa giải... đã sớm thất bại”, trong đó Đức Cha không thấy lóe lên hy vọng về việc giải quyết chẳng những các cơ sở đất đai to lớn mà còn vô số các đất đai cơ sở nhỏ của Giáo hội VN. Chúng con cũng buồn lòng khi biết Cha Bề trên Dòng Chúa Cứu Thế và một số linh mục trong Dòng tại Giáo xứ Thái Hà vẫn bi quan, chán nản vì chỉ sợ mình có thiện chí tuân giữ các điều kiện nhưng về phía bên kia thì sẽ lợi dụng để làm tới, như họ đã từng làm. Chúng con hết sức cảm phục Quý Đức Cha và Quý Cha đã luôn nhẹ nhàng kiến nghị, thành tâm đối thoại và kiên nhẫn đợi chờ, dù vấn đề luôn cấp bách và dù thái độ của nhà cầm quyền và những kẻ chiếm đoạt luôn thiếu thiện chí. Cùng với tất cả mọi người, chúng con công phẫn trước việc nhà cầm quyền CSVN đã có những hành vi vô luật như dùng lực lượng công an đông đảo bao vây, hăm dọa, đàn áp những người cầu nguyện, như ghi hình, quay phim, phỏng vấn giả, dựng hiện trường giả để lèo lái dư luận theo một hướng khác, như bao che cho những người xâm chiếm tiếp tục xây dựng hay biến dạng hiện trường trên những mảnh đất và cơ sở đang tranh chấp. Chúng con công phẫn trước việc Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra văn thư số 273 ngày 11-01-2007 với giọng điệu kẻ cả, ban ơn, với lời lẽ hăm dọa, trù dập, với lập luận thóa mạ, vu khống hết sức vô lý, phi pháp và thiếu văn hóa nữa. Chúng con công phẫn trước lời tuyên bố ngang ngược của ông Trưởng ban Tôn giáo chính phủ cho rằng chẳng có chuyện “trả lại hay không trả lại”, bởi vì theo ...Luật thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý, nên nhà nước sẽ từ từ “xem xét” Giáo Hội “có nhu cầu” bao nhiêu, thế nào thì sẽ “giải quyết” và “ban cho” mà thôi !?! Những sự kiện, hành động và thái độ đôi bên như vừa nói nằm trong một vấn đề lớn của xã hội Việt Nam hiện thời là vấn đề đất đai. Từ hơn nửa thế kỷ nay, biết bao cơ sở, cửa nhà, đất đai, tài sản của tư nhân lẫn các tập thể, trong đó có tập thể tôn giáo, đã bị nhà cầm quyền Cộng sản VN cưỡng chiếm tịch thu theo một nguyên tắc cai trị hết sức vô lý và tàn bạo: thu tóm vào tay đảng CS mọi quyền lợi và giá trị vật chất lẫn tinh thần của toàn xã hội để bảo đảm sự phục tòng của nhân dân, sự trường trị của đảng CS và sự vĩnh tồn của chế độ. Từ khi đất nước tiến vào kinh tế thị trường, hội nhập thương mãi thế giới, thì việc cướp đất của hàng triệu nông dân, thị dân và của mọi tôn giáo lớn nhỏ dưới chiêu bài “quy hoạch xã hội” “phát triển đất nước” càng gia tăng. Thực chất là để làm giàu cho giới tư bản trắng nước ngoài và giới tư bản đỏ nội địa, tức các đảng viên, cán bộ CS cao cấp cùng thân nhân bằng hữu của họ. Thành ra đây không phải là vấn đề bất ổn dân sinh, bất công địa phương, nhưng là một vấn đề chính trị lớn lao và cơ bản, phát xuất từ chính bản chất độc tài và toàn trị của chế độ CS. Chuyện đất đai nhà cửa của Giáo hội và của người dân (mà hàng triệu đang bị đẩy ra đường) chỉ có thể giải quyết rốt ráo và trọn vẹn khi chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị này bị xóa sổ trên đất nước mà thôi. 3- Việc các Giáo hội và các Giáo phận đòi đất cho đạo, việc các thị dân và nông dân đòi đất cho nhà không thể không gợi nhớ việc toàn dân và xã hội đòi đất cho nước đang bị mất vào tay Trung Quốc do sự đồng lõa của nhà cầm quyền Cộng sản VN. Như Quý Đức Cha, Quý Cha, Quý Tu sĩ và Anh Chị Em đều biết, kể từ tháng 12 năm rồi và tháng 01 năm nay, đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước đã rúng động vì việc Trung Quốc đã chính thức biến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (cùng với quần đảo Trung Sa) thành huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của họ. Biến cố này đã khơi lại và vạch trần cả một quá trình dâng đất dâng biển cho Bắc triều Đại Hán của chính đảng Cộng sản VN qua công hàm bán nước ngày 14-09-1958, qua hai hiệp định Việt Trung về biên giới năm 1999 và về lãnh hải năm 2000, khiến cho đất nước mất đi gần 1000 km trên đất (trong đó có ải Nam quan và thác Bản Giốc), hơn 10.000 km trên vịnh Bắc bộ và nay là hai quần đảo Hoàng Trường Sa vốn rất quan trọng về an ninh lãnh thổ, an ninh kinh tế và an ninh lương thực. Nguy cơ đất Việt mất đi, dân Nam bị đồng hóa và Tổ quốc biến thành một Tây Tạng thứ hai là chuyện gần kề! Suốt mấy tuần lễ vừa qua, đã có nhiều cuộc biểu tình trong nước của nhiều giới đồng bào nhưng đều bị nhà cầm quyền ngăn cản, cấm đoán hay đàn áp thô bạo; đã có nhiều tuyên cáo lên án Cộng sản Trung quốc cướp nước và Cộng sản Việt Nam bán nước của không ít cá nhân và tập thể đạo đời nhưng đều bị các cơ quan truyền thông quốc nội im lặng không đăng tải (đang lúc tại hải ngoại thì đồng bào biểu tình, hội thảo… phản kháng cách sôi sục). Đây cũng là nằm trong bản chất và đường lối của một chính đảng chỉ biết giữ quyền lực và quyền lợi cho mình, bất chấp sự tồn vong của đất nước, sự an vui hạnh phúc của toàn dân và sự phát triển chân chính của mọi tập thể dân sự và tôn giáo trong xã hội. Chúng con nghĩ rằng lấy lại việc đất cho nhà, đất cho đạo và đất cho nước là ba bổn phận đi liền với nhau và ba giới đòi đất cần hỗ trợ và phối hợp với nhau. Nước mất thì nhà tan và đạo diệt !!! Trong tâm tình mến yêu Mẹ Giáo hội và kính trọng Quý Đức Cha và Quý Cha là lãnh đạo dân Chúa, cũng như trong tâm tình mến yêu Mẹ Tổ quốc và kính trọng Nhân dân là chủ nhân đích thực của Đất nước mà chúng con viết lên Thư hiệp thông này. Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của các thánh nhân tử đạo và các anh hùng tử sĩ, xuống cho Quý Đức Cha và Quý Cha nhiều ơn khôn ngoan và can đảm. Làm tại Việt Nam ngày 19-01-2008, kỷ niệm 34 năm Tổ quốc mất quần đảo Hoàng Sa và tưởng nhớ 58 chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa vị quốc vong thân trong lòng biển cả. Đại diện nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền - Linh mục Têphanô Chân Tín, dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn - Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế (đang bị theo dõi tại xứ) - Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế (đang bị giam giữ tại tù) - Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh (đang bị quản chế tại gia) * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * V/v vi phạm của Tòa Tổng Giám mục Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2008 Giáo hội công giáo Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng hoặc qua các bản văn chính thứ đòi lại các tài sản bị cưỡng chiếm. Đòi lại có nghĩa là được trả lại những gì đã bị cưỡng chiếm. Đòi lại có chính danh của một hành vi thuận đạo lý và hợp pháp chứ không phải là một hình thức quỵ lụy xin xỏ. Sau cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền năm 1945, một nhà nước ra đời với quốc hiệu Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhà nước được lãnh đạo bởi “Đảng Lao Động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi hành động” (Điều lệ ĐLĐVN năm 1951), thì có nhiều thay đổi trong việc quản lý sử dụng đất đai cho đến nay. Nhiều sự thay đổi trong đó làm người ta thấy nó lạ lùng. Lạ bởi điều đơn giản là không giống những phương pháp, những cách thông thường của sự dịch chuyển sở hữu, mua bán, trao đổi phải dựa trên sự công bằng có thể để xã hội chấp nhận được. Với đất đô thị, từ chỗ là đất đai, tài sản của tư nhân, tổ chức qua quá trình cải tạo tư bản, cải tạo công thương… phần lớn các tài sản đó đã biến thành của nhà nước, tài sản quốc gia với cụm từ “sở hữu toàn dân”. Sau khi biến thành tài sản “sở hữu toàn dân” lại dần dần vào tay những quan chức, cán bộ đảng viên bằng nhiều hình thức. Từ chỗ cấp theo căn hộ tập thể, đến việc cấp theo chế độ quan chức. Từ chỗ một căn hộ khi đến Hà Nội và các thành phố để tạm dung những ngày đầu, sau một thời làm quan chức với đồng lương có hạn và luôn thiếu, bằng cách nào đó ai cũng hiểu, các quan chức mua thêm những căn hộ mới, thậm chí có nhiều căn hộ bỏ không hoặc để đầu cơ kinh doanh. Sự cố tình không đáp ứng này không thể quy trách cho những lỗi lầm hay trì trệ của hệ thống hành chánh nhưng là một họach định và có thể coi đó là đường lối và sách lược của Nhà Nước. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng sự kiện lấy chữ ký của giáo dân bao gồm 5 tỉnh thành thuộc Giáo Phận Hà Nội đã có tiếng vang lớn và chắc chắn đã tác động lên tiến trình giải quyết vu việc Toà Khâm Sứ. Chiến dịch cầu nguyện đòi lại Tòa Khâm Sứ bên cạnh Nhà Chung Hà Nội do Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt khởi xướng đã bắt đầu từ ngày 18 tháng 12 vừa qua và được dư luận đặc biệt chú ý, vì mỗi buổi xuống đường cầu nguyện đã có nhiều ngàn giáo dân tham sự. Nay với sự lên tiếng ủng hộ của Giám Mục Nguyễn Văn Hòa từ Ban Mê Thuật, phong trào cầu nguyện có thể không còn giới hạn ở Hà Nội, mà sẽ lan tới vùng cao nguyên. Việc cầu nguyện xưa nay vẫn cứ diễn ra. Từ khi đất nước vào tay Cộng sản, đất đai tài sản Giáo hội bị chiếm đoạt thì “Đơn xin lại” vẫn cứ đều đều đến hẹn lại lên ở các cơ quan công quyền. Còn hồi âm hay không, phụ thuộc vào ý thích của cơ quan đó, trả lời hay không, cứ… chờ nhé. (Điển hình là mới đây, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn mới nhận được công văn trả lời văn thư gửi cách đây mới có… 3 năm, thế đã là may mắn chán). Dù luật định về khiếu nại, tố cáo… vẫn đầy đủ và tốn nhiều giấy mực qui định thời gian nhận đơn, trả lời và trách nhiệm các cơ quan thế nào. Ở Việt Nam, văn bản luật không thiếu, nhưng nếu thực thi đầy đủ, may ra chỉ có luật rừng. Mọi việc, giải quyết hay không, cách nào, phụ thuộc vào ý muốn của đảng Cộng sản. Ngay cả trước khi mở Tòa án, còn phải xin ý kiến bên đảng, và mấy ngành nội chính ngồi họp với nhau xem xét xử thế nào? Và khi đã thống nhất, có nghĩa là vụ án đã xong phần kết luận, án đã bỏ túi, ra tòa trình diễn là xong. Trước hết, Tòa Khâm sứ Hà Nội, cũng như hàng loạt công trình, đất đai của Giáo hội không phải mới bị chiếm gần đây, mà đã hơn nửa thế kỷ nay. Việc sử dụng những nơi đó làm chốn ăn chơi vẫn cứ diễn ra đều đều bất chấp sự phản ứng của giáo dân và Giáo quyền. Hàng năm, việc đơn từ xin lại không có nơi nào giải quyết vẫn cứ là bài ca muôn thuở. Nhưng với bản tính nhẫn nhục, khiêm hạ của mình, Giáo hội Công giáo vẫn kiên nhẫn chờ đợi một sự thiện chí, một đường lối hướng thiện khi Việt Nam bước vào sân chơi thế giới, sẽ nhìn ra lẽ phải, biết tôn trọng phẩm giá con người, để tiếng kêu của giáo dân sẽ được chấp nhận. Việc đó đã thật sự là một cú đánh thẳng vào mặt Giáo hội và giáo dân. Văn thư phản đối quyết liệt, vẫn chỉ nhận được sự im lặng đáng sợ. Hình như qua đó, họ muốn thể hiện thái độ của mình: “Không chấp” với những người mà họ cho là luôn luôn sợ hãi, bạc nhược. Những phản ứng của Hàng Giáo phẩm và giáo dân Hà Nội thật ôn hòa, thật hòa bình, bằng phương châm: “…đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, …” thật là một sự khôn ngoan sáng suốt. Họ là những người dân hiền lành, chất phác, nhưng khi họ hiệp thông cầu nguyện, sức mạnh của họ đã làm cho lắm kẻ kinh sợ, và không một thế lực nào có thể đè bẹp, kể cả cái chết. Điều đó phản ánh một nội bộ không thống nhất, sự chỉ đạo không có tính kiên định hướng thiện của hệ thống công quyền Hà Nội, thể hiện não trạng quá lạc hậu với thời cuộc, lạc hậu ngay với chính những nhận thức của giáo dân Hà Nội nói riêng, cũng như nhân dân Việt Nam nói chung. Với giáo dân và Giáo hội, đến nay, đã vượt qua giới hạn chịu đựng cuối cùng từ lâu, nên chắc chắn họ sẽ không dừng lại ở chỗ chỉ để giữ nguyên hiện trạng bị cướp đoạt như trước. Người dân, nhất là giáo dân, họ đã ý thức được những giá trị của chính con người: Tất cả mọi con người, được Thiên Chúa dựng nên, đều bình đẳng và cần được yêu thương. - Theo lời ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Việt Nam thì không có chuyện “trả lại hay không trả lại”, bởi vì theo Luật đất đai thì... đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân do nhà nước quản lý, nên để từ từ nhà nước xem Giáo Hội “có nhu cầu” dùng hay không thì nhà nước sẽ “xem xét” và “giải quyết cho”, chứ không có chuyện trả hay không trả! Vào ngày 11 Tháng Giêng, VietCatholic News cho biết: “Chúa Nhật vừa qua (6 Tháng Giêng), đông đảo anh chị em giáo dân đã tổ chức một buổi cầu nguyện đông đảo trước Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Ðông để yêu cầu nhà nước sớm hoàn trả nhà xứ của giáo xứ Hà Ðông mà nhà nước đã chiếm dụng làm trụ sở. Giáo xứ Hà Ðông, nơi đang diễn ra cuộc tranh chấp, thuộc Hạt Hà Tây, Tổng Giáo Phận Hà Nội. Từ 20 năm nay, giáo xứ Hà Ðông đã liên tục làm đơn đòi lại nhà xứ bị chính quyền chiếm dụng làm trụ sở ủy ban nhân dân từ năm 1977”. Cơ sở của Dòng Chúa Cứu Thế ở giáo xứ Thái Hà đã bị nhiều cơ quan nhà nước chiếm dụng. Trong đó có công ty may Chiến Thắng của thành phố Hà Nội và công ty này đã cắt phần đất không phải của mình thành nhiều lô nhỏ để bán cho những người khác xây nhà. Theo VietCatholic News, gần đây, nhà nước đã cử một số viên chức đến điều đình nhằm giải quyết yêu cầu trả lại tài sản của Tổng Giáo Phận Hà Nội, trong đó có Tòa Khâm Sứ và phần nhà đất của Dòng Chúa Cứu Thế đang bị chiếm dụng. Tuy nhiên từ diện tích ban đầu 60,000 mét vuông, nhà dòng chỉ còn giữ được 2,700 mét vuông là nhà thờ hiện nay. Hầu hết các cơ sở và đất của dòng đã bị nhiều cơ quan khác nhau từ trung ương tới địa phương chiếm dụng. * * * * * * * * * * * * * TÒA TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI Số: 08-VP/TGM 003 V/v. Phản bác Văn thư UBND/HN Ngày 14 tháng 01 năm 2008 Kính gửi: Bà Ngô thị Thanh Hằng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà nội Thực ra việc giáo dân cầu nguyện rất trang nghiêm không hề làm mất trật tự. Không có hô hoán cũng không có một lời phản đối chính quyền hay một biểu ngữ. Chỉ là cầu nguyện thuần túy. Cầu nguyện vì bị đối xử thiên lệch. Muốn giải quyết vấn đề phải giải quyết từ gốc chứ không phải từ ngọn. Gốc đó phải là sự công bằng. Chúng tôi không mong gì hơn là chính quyền công minh để người dân yên tâm sống an vui hạnh phúc. Chiến dịch Vận động với Nghị sĩ và Dân biểu Hoa Kỳ nhằm hỗ trợ Giáo Hội tại Việt Nam VietCatholic News (Thứ Bảy 12/01/2008) Bản đề nghị Call to Action cho qúi vị sử dụng tiếng Anh Kính Thưa Quý Vị: Trong tinh thần hiệp thông một cách tích cực và liên đới với những người Công Giáo, Hà Nội và với Giáo Hội Mẹ tại Việt Nam, chúng ta – những người Công Giáo Việt Nam, (và các các tín hữu các tôn giáo bạn nữa) – hiện đang sống tại Hoa Kỳ, Đã đến lúc chúng ta phải cùng nhau ra tay và hành động để yểm trợ thêm khí thế cho các tín hữu Công Giáo tại Tổng Giáo Phận Hà Nội, qua những công việc tích cực cụ thể, thiết thực, và can trường hơn nữa. Ngoài việc hiệp thông qua lời cầu nguyện mỗi ngày, còn cần trực tiếp liên lạc với các Ông/Bà Thượng Nghị Sĩ, hay các vị Dân Biểu Hoa Kỳ của chúng ta, để nhờ họ gây áp lực với chính phủ Cộng Sản đương thời ở Việt Nam để chính quyền nước này phải tôn trọng luật pháp mà họ đã đề và áp đặt ra cho công chúng. Tuy nhiên cũng có người lo sợ và phản ánh nỗi búc xúc rằng giả như trường hợp Đức Cha Nhơn không đạt được một giải pháp toàn diện với chính quyền về vụ tài sản và cơ sở của Giáo Hội --không riêng gì Giáo hội Công giáo, mà là tất cả tài sản và cơ sở của các Tôn giáo khác nữa-- có nghĩa là chỉ đồng ý việc trả lại một vài cơ sở trọng yếu của Giáo hội mà quên đi vấn đề của các giáo phận, các giáo xứ khác, thì "vấn đề sẽ trở nên trầm trọng hơn và chưa chắc gì vụ việc này sẽ làm tăng hay sẽ làm giảm đi uy thế và vai trò của vị Tân Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Đó là lời phát biểu của một linh mục Dòng Chúa Cứu Thế về tham dự buổi lễ khánh thành hôm nay nhận định như vậy. Trước khi kết thúc thánh lễ, Cha Cao Đình Trị, Giám Tỉnh DCCT giải trình cho quan khách biết đại khái rằng: "Khu đất đang tranh chấp không phải do nhà thờ hiến cho nhà nước, nhà nước cũng không có quyết định trưng dụng, hay tịch biên tài sản của nhà thờ. Thời chuyên chính vô sản nhà nước lấy nhà và đất ở đây giao cho Xí nghiệp Dệt Thảm len sử dụng. Đấy là vấn đề lịch sử quá khứ, còn nay là thời đổi mới, thời xây dựng một đất nước công bằng, dân chủ và văn minh, cho nên đã đến lúc chính quyền phải trả lại khu đất này". Trong khi đó, ba anh khác đang đứng trước cửa lều bạt nói chuyện với một linh mục và một nhóm giáo dân. Một anh nói: “Xin cha sớm kết thúc cho chúng con được về với vợ con, năm hết tết đến lại rét mướt thế này!” Vị linh mục nói: “Mau hay chóng là tuỳ thuộc ở chính quyền chứ đâu phải ở giáo xứ chúng tôi, chính quyền có bộ máy quyền lực, có luật pháp, có quân đội, có công an... Còn chúng tôi cũng chỉ là nạn nhân”. Một bà khác nói: “Chúng con sẽ ở đây cho đến khi nào đòi được công bằng thì thôi!” Liệu việc huy động tới hơn 300 công an cảnh sát đến uy hiếp giáo dân Thái Hà có phải là yêu dân? Đáng tiếc là ngày 11-1 vừa qua, trong Công văn Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội gửi Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Giám mục Hà Nội, bà Phó Chủ tịch UBND HN Ngô Thị Thanh Hằng đã không chịu lắng nghe và đáp ứng nguyện vọng của người dân Công giáo, mà lại kẻ cả quy kết cho việc cầu nguyện đòi công lí của người dân là lợi dụng tôn giáo. Rồi bà Phó chủ tịch còn đe dọa xử lí theo pháp luật. Khi người dân Công giáo Việt Nam cầu nguyện đòi lại tài sản của Giáo hội thì không chỉ có nghĩa là họ đấu tranh cho quyền lợi của riêng Giáo hội. Nghĩ như thế sẽ dễ tạo nên cảm giác đối đầu giữa Giáo hội và Nhà nước. Tôi muốn khẳng định, khi giáo dân cầu nguyện đòi lại tài sản của mình hay người dân đấu tranh chống lại những bất công là họ đang hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và chính phủ xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Theo tin “hành lang” tôi được biết: ngày 14-01-2008, Thủ Tướng chính phủ, ngài Nguyễn Tấn Dũng, đã cho mời Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn - Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) và Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt - Tổng Thư ký HĐGMVN tới Phủ thủ tướng để bàn về đất đai mà HĐGMVN đã xin sở hữu lại. Và yêu cầu HĐGM ra lệnh cho các nơi đang có đất tranh chấp phải ngừng các buổi cầu nguyện. Chính phủ hứa sẽ lập một Ủy ban gồm các bên hữu quan để cứu xét và mau chóng giải quyết các nơi tranh chấp. Đứng trước những đề nghị trên, các vị Giám mục có mặt chắc đã hoan nghênh và cảm tạ thiện chí của Nhà nước, song không dám cam đoan ra lệnh cho các địa phương ngừng cầu nguyện • Những khu vực đã được nhà nước hứa trao trả (mà nên nhanh chóng thực hiện) phải giữ nguyên hiện trạng, không được thay đổi, xây cất hoặc lấn chiếm. • Tạo điều kiện cho những người có liên quan tới các buổi cầu nguyện có được cuộc sống bình thường như trước (như cho họ tạm trú, nghỉ trọ… ). Không nên tiếp tục điều tra, thẩm vấn hay có thái độ kỳ thị đối với những người này. Đàng khác việc họ không diễu hành qua các đường phố khác mà chỉ cùng nhau hội tụ khỏang 1 giờ trong phạm vi khu bất động sản đang bị chiếm giữ độc đoán trong thời điểm quá khứ lịch sử đau buồn, không thể quy trách làm mất trật tự công cộng. Việc tụ tập cầu nguyện và hát thánh ca để mong mở lòng những người có trách nhiệm có được những quyết định công bằng và hợp lý, đâu phải là điều cấm kị hay vi phạm pháp luật. Từ Hồng Y tới Các Giám Mục thuộc các giáo phận khác nhau từ nhiều năm nay vẫn kiên nhẫn chờ đợi sự hợp tác và thiện chí của chính quyền giải quyết nguyện vọng chính đáng của các Cộng Đồng Công Giáo do các vị đại diện. Các Ngài đã chứng tỏ mềm mỏng, bao dung đầy tình nghĩa và cảm thông so vơí cung các hành xử có tính cánh đối đầu của Uỷ Ban Nhân Dân Hà Nội ? Sự việc Đức Cha Chủ tịch rời Hà Nội mà không có lời tuyên bố hay trình bầy về kết quả nào chính thức và diễn biến ra sao, điều này có thể xem như tình hình giải quyết vấn đề nhà đất Toà Khâm Sứ chưa có gì dứt điểm và rõ ràng. Điều này cũng cho thấy là sứ mạng của Đức Cha Chủ Tịch có thể đã không đạt được kết quả như Giáo hội hay Chính quyền mong muốn, hay cũng có thể là đã đạt được một số những điểm chính nào đó nhưng còn tồn đọng lại một số những điểm khác mà còn cần thời giờ thêm để bàn hỏi. Chúng ta không biết được kết quả như thế nào. Linh mục Trần Công Nghị: Vâng. Cái thư của bà Ngô Thị Thanh Hằng, Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân Hà Nội, rất là sai trái, bởi vì trong thư đó bà ta có vẻ trách Hội Đồng Giám Mục và đặc biệt là Đức Tổng Giám Mục cũng như giáo dân Hà Nội đến cầu nguyện ở trước Toà Khâm Sứ là trái luật, không có một cái luật nào trong chính quyền nói rằng không được phép cầu nguyện cả. Hà Nội là Đức Cha Kiệt đã vào gặp, và cũng đưa ra một số đề nghị để giải quyết vấn đề. Nhưng mà kết quả thì chưa đi tới, bởi vì nó cũng phải tuỳ thuộc các giáo phận khác ở Việt Nam nữa, bởi vì những phần đất chính quyền đã sáp nhập hoặc là mượn tạm của Giáo Hội rất là nhiều, cho nên vấn đề giải quyết về đất đai thì chắc chắn phải sâu rộng hơn. “Trong vấn đề này chúng tôi ủng hộ các cụ và mong sớm được giải quyết, nhưng còn vướng mắc một vài vị lãnh đạo cấp cao ở bên phía thành phố, mà các vị cán bộ cao cấp đó lại có “chân” trong Bộ Chính trị… Chúng tôi chỉ là cấp dưới, làm sao có thể “qua mặt” họ được ?” Thì ra câu nói: “Dân làm chủ, nhà nước quản lý, Đảng lãnh đạo” ở đây đã rõ nghĩa. Anh ta cũng chỉ là một cán bộ “nhỏ” trong bộ máy quản lý của Nhà nước, còn Đảng mới là người lãnh đạo mọi đường hướng. “Lực bất tòng tâm”, biết làm sao được?! Nghĩ như vậy, tôi đứng lên từ biệt vị cán bộ ra về mà lòng nặng trĩu nỗi buồn của một người với vai trò trung gian – đã bước đầu thất bại…

 

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 Bloc 8406-Supporters of Manifesto on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006 Kháng thư số 18 Phản đối nhà cầm quyền CS Trung Quốc cướp nước và nhà cầm quyền CS Việt Nam bán nước Việt Nam, ngày 20 tháng 12 năm 2007 Kính thưa toàn thể Đồng bào VN trong và ngoài nước cùng các Thân hữu quốc tế, Những diễn biến trong thời gian gần đây tại Việt Nam, kể từ vụ việc Trung Quốc công bố quyết định sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc hôm 02-12-2007, đã cho nhân dân VN và Quốc tế hiểu rõ hơn bản chất của hai đảng và hai nhà cầm quyền Cộng sản này qua nhiều sự kiện lịch sử: I- Những văn kiện chiếm dần của Trung Quốc - Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung Quốc ra Tuyên bố xác định “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý” bao gồm trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. - Ngày 14-9-1958, ông Hồ Chí Minh ra lệnh cho ông Phạm Văn Đồng (thủ tướng VN Dân chủ Cộng hòa) gửi ông Chu Ân Lai (tổng lý quốc vụ viện CHNDTQ) bức Công hàm tán thành Tuyên bố trên. - Ngày 30-12-1999, Hiệp định biên giới Việt-Trung được đảng CSVN bí mật ký kết đã làm VN mất hơn 700 km2 đất liền (lớn hơn diện tích của Singapore chỉ có 647 km2). - Ngày 25-12-2000, Hiệp định lãnh hải Việt-Trung cũng được đảng CSVN bí mật ký kết đã làm VN mất thêm khoảng 10.000 km2 biển. Nếu so với Hiệp định Patenôtre mà Pháp ký với nhà Thanh năm 1885 thì VN mất 9% diện tích biển Đông (VN/TQ = 62/38% xưa, so với 53/47% nay). II- Những hành động leo thang của Trung Quốc - Ngày 19-1-1974, hải quân Trung Quốc đã dùng nhiều chiến hạm và phi cơ cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Trong trận hải chiến lịch sử không cân sức này, 58 binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã ngã xuống. Hoàng Sa từ ấy rơi vào tay Trung Quốc. - Từ ngày 17-2 đến 26-3-1979, Trung Quốc tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam khiến cho hàng chục ngàn người Việt bị thương vong. Sau khi triệt thoái, Trung Quốc đã nới rộng biên giới ở những cao điểm chiến lược và một số khu vực có giá trị chiến thuật cao. - Ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Trường Sa, bắn chìm ba tàu vận tải và giết chết 74 chiến sĩ của Quân đội Nhân dân VN. Một số đảo ở Trường Sa rơi vào tay Trung Quốc. - Ngày 8-1-2005, hải quân Trung Quốc bắn vào tàu đánh cá của một số ngư dân Thanh Hóa, giết chết 9 người và bắt 8 người. Ngày 28-02-2007, 12 ngư dân Quảng Ngãi đang khi đánh cá gần Hoàng Sa đã bị Trung Quốc bắt giữ đòi tiền chuộc mạng. Ngày 27-06-2007, 13 ngư dân Quảng Ngãi khác đến tránh bão cũng gần Hoàng Sa đã bị Trung Quốc bắn gây thương tích và cướp luôn tàu. Gần đây nhất, ngày 9-07-2007 TQ lại bắn vào thuyền đánh cá của họ gần Trường Sa, khiến một ngư dân bị giết và nhiều người bị thương. - Tháng 04-2007, Trung Quốc lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm chủ quyền của họ khi ký hiệp đồng khai thác dầu và khí đốt với công ty British Petroleum ở vùng biển quanh đảo Trường Sa thuộc biển Nam Hải, khiến BP phải rút đi. TQ còn phản đối công ty BP đặt ống dẫn khí đốt từ Côn Sơn vào đất liền và buộc BP từ bỏ dự án đã ký với VN. - Ngày 10-8-2007: Trung Quốc đã quyết định sẽ mở tour du lịch ở hai vùng đảo Trường Sa và Hoàng Sa, một hình thức công khai tiếm dụng lãnh thổ Việt Nam. Theo một thống kê tìm thấy được thì vào thời điểm tháng 4-1975, có 102 đảo nhỏ thuộc Trường Sa & Hoàng Sa do VNCH quản lý. Năm 1988, còn lại 90 đảo, và đến năm 2007 chỉ còn 21 đảo thuộc chủ quyền VN. Các đảo còn lại đang có khuynh hướng bị Trung Quốc chiếm dần. III- Những phản ứng bạc nhược của nhà cầm quyền CSVN: - Sau lời Tuyên bố của Trung Quốc ngày 4-9-1958, nhà cầm quyền CSVN đã gian trá dâng cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc Việt Nam Cộng Hòa chiếu theo Hiệp định Genève 1954. - Tháng 02-1972, Cục bản đồ trực thuộc phủ thủ tướng CSVN đã phổ biến một ấn bản họa đồ thế giới, trên đó tên Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bị thay bằng tên Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc. Rồi từ đó, trong các sách giáo khoa môn Ðịa lý do nhà nước in, CSVN đã viết rằng “các hòn đảo từ quần đảo Nam Sa, Tây Sa, qua Hải Nam, Ðài Loan, là một bức trường thành bảo vệ Trung Quốc”. - Năm 1974, khi TQ tấn công hải quân VNCH năm 1974 để chiếm trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa, CSVN đã hoàn toàn im lặng, sau đó lại còn cấm phổ biến các công trình nghiên cứu về chủ quyền VN trên hai quần đảo này của nhiều tác giả trong nước. - Trước khi ký với TQ hai hiệp định về biên giới và lãnh hải năm 1999 rồi 2000, nhà cầm quyền CSVN đã không tham vấn nhân dân lẫn quốc hội, sau đó lại chẳng dám công bố toàn văn hai tài liệu, thậm chí còn đàn áp những ai lên tiếng vạch trần sự thật hay đòi hỏi được biết sự thật về hai hiệp định bất bình đẳng này. - Từ năm 2005 đến nay, nhà cầm quyền CSVN luôn im lặng chẳng dám phản kháng việc hải quân Trung Quốc ngăn chận, bắt giữ, đòi tiền chuộc mạng, tịch thu tài sản hay thậm chí bắn chết ngư dân VN hành nghề trên lãnh hải Việt Nam. - Gần đây nhất, sau khi Trung Quốc đã công khai và chính thức hóa hành động lén lút bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc của CSVN bằng việc công bố quyết định sáp nhập hai quần đảo này của Việt Nam vào huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc vào ngày 02-12-2007, thì chỉ có những tuyên bố yếu ớt của Lê Dũng, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao nhà nước CSVN, thay vì sự lên tiếng của thủ tướng, chủ tịch nước hay chủ tịch quốc hội CSVN, thay vì phải triệu đại sứ TQ tại Hà Nội đến để trao công hàm phản đối, thay vì phải cấp tốc đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, ra Liên Hiệp Quốc. - Đến ngày 09 rồi 16-12-2007, nhiều sinh viên, dân oan, nhà báo, trí thức, văn nghệ sĩ tại Sài Gòn và Hà Nội đồng loạt biểu tình phản đối hành động trên của Trung Quốc xâm lược, thì Công an đủ mọi loại, Giám hiệu đủ mọi trường và Lãnh đạo Đoàn Thanh niên CS đủ mọi cấp đã tìm cách trước là ngăn cấm, hăm dọa, cho rằng đó là “âm mưu của các thế lực phản động” “trái với pháp luật VN”, sau là cản trở, đàn áp, bắt bớ, thẩm vấn, đuổi việc. Thậm chí Bộ ngoại giao còn trắng trợn tuyên bố: “Đây là việc làm tự phát chưa được phép của các cơ quan chức năng Việt Nam”. - Ngày 11-12-2007, bộ ngoại giao Trung Quốc răn đe nhà cầm quyền CSVN rằng các cuộc biểu tình 09-12-07 tại Việt Nam “có hại đến quan hệ hữu nghị giữa hai nước Trung Việt” rồi ngạo mạn tuyên bố: “Trung Quốc đang quan chú cao độ và hy vọng chính phủ Việt Nam có thái độ đầy trách nhiệm, làm những hành động thiết thực, ngăn chặn những diễn tiến, để tránh tổn hại quan hệ giữa hai nước”. Thế mà CSVN vẫn không dám hé răng phản đối một lời. IV- Nhận định của Khối 8406 chúng tôi 1- Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam: quá khứ đã vậy, hiện tại và tương lai muôn đời vẫn vậy! Dân tộc VN không bao giờ chấp nhận những Tuyên bố & Công hàm, Thỏa ước & Hiệp định cướp nước & bán nước nêu trên. Một trong những việc làm đầu tiên của Quốc hội VN mới, với nền dân chủ mới có tính đa nguyên, đa đảng trong tương lai, sẽ là tuyên bố hủy bỏ những văn kiện pháp lý sai trái này. 2- Ngày nay dân tộc VN ta hoàn toàn có thể tự mình gìn giữ trọn vẹn giang sơn gấm vóc mà cha ông đã bỏ bao mồ hôi, xương máu dựng xây và để lại tự ngàn đời. Những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa,… là những bằng chứng hùng hồn biện minh cho nhận định ấy. Ngoài ra, dân tộc ta hôm nay còn có những điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nhiều so với thời cha ông xưa trong việc giữ gìn vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc thông qua những giải pháp chính trị mà chưa cần phải tính đến giải pháp quân sự. 3- Dân tộc mất đất, mất biển về tay TQ là vì đã và đang bị dẫn dắt bởi một chính đảng, một nhà nước độc tài, phản dân tộc và phản dân chủ. Một đàng họ luôn đặt quyền lợi của tập đoàn cầm quyền lên trên quyền lợi của dân tộc. Đàng khác, họ lại chẳng biết, chẳng dám, chẳng thể dựa vào lòng dân và sức dân, vì nhân dân đã chẳng bao giờ trao ban và công nhận quyền lực của họ. Tội lỗi này của họ, nói như đức thánh Trần Hưng Đạo đã viết trong bài “Hịch tướng sỹ” là: “Nghìn năm sau tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu”! Luận điệu cho rằng “Quyền lợi của Đảng gắn liền với quyền lợi của dân tộc” và “Nhân dân luôn đứng sau lưng Đảng” là một luận điệu ngụy biện, giả trá. 4- TQ chỉ hành động khi biết chắc VN không có những đồng minh mạnh hậu thuẫn hay chỉ có một tập đoàn lãnh đạo bạc nhược. Bằng chứng là Lời Tuyên bố về bề rộng lãnh hải TQ tháng 9-1958 được đưa ra khi CSVN đang khiếp sợ Mao và cần TQ chi viện hoàn toàn để đánh miền Nam; hành động chiếm Hoàng Sa tháng 1-1974 xảy ra sau khi Hiệp định Paris về VN được ký một năm (1-1973) và lúc ấy quân đội Mỹ đã rút khỏi nước; hành động đánh Trường Sa tháng 4-1988 xảy ra khi Liên Xô cũ đang tích cực thực hiện lộ trình do Tổng bí thư Mikhail Gorbachev vạch ra từ năm 1986 nhằm giảm gánh nặng của những “nghĩa vụ quốc tế vô sản”, trong đó có VN… V- Tuyên bố của Khối 8406 chúng tôi: 1- Thành kính biểu dương và tri ân sự hy sinh vì Tổ quốc của các chiến sĩ Việt Nam đã bảo vệ Hoàng Sa tháng 1-1974 và bảo vệ Trường Sa tháng 3-1988. Dẫu thuộc về hai chế độ khác nhau, đây vẫn là các anh hùng dân tộc và họ cần phải được dựng bia tưởng niệm, ghi công sử sách. 2- Nhiệt liệt ca ngợi lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc và tinh thần bất khuất của đồng bào, học sinh, sinh viên, dân oan, trí thức, văn nghệ sỹ… đã biểu tình trước Tòa Đại sứ và Tòa Lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội và Sài Gòn hai ngày chủ nhật 9 và 16-12-2007 vừa qua để trực tiếp lên án hành vi cướp nước của Cộng sản Trung Quốc và gián tiếp lên án hành vi bán nước của Cộng Sản Việt Nam. 3- Mạnh mẽ tố cáo những hành động của nhà cầm quyền CSVN trong quá khứ là gian trá bán đất, lén lút dâng biển, khiếp nhược trước kẻ thù, thỏa hiệp với ngoại xâm; trong hiện tại là ngăn cản, hăm dọa, bao vây, bắt bớ những công dân bày tỏ lòng yêu nước, là đầu độc tâm trí, giấu nhẹm sự việc, xuyên tạc ý nghĩa khiến lòng yêu nước của đại đa số nhân dân không được bày tỏ. Nhà cầm CSVN phải chấm dứt ngay những hành động đó, những hành động xuất phát từ mối lo sợ nhân dân trong nước ngày càng biết rõ “sự nghiệp bán nước” của họ, lo sợ sự đoàn kết ngày càng phát triển của đồng bào quốc nội và hải ngoại, lo sợ cuộc xuống đường đòi đất biển cho Tổ quốc hôm nay sẽ biến thành cuộc xuống đường vĩ đại đòi lại tự do dân chủ cho Dân tộc ngày mai. 4- Khẩn cấp đòi buộc nhà cầm quyền CSVN phải công bố đầy đủ những văn kiện và sự kiện nói trên qua các phương tiện thông tin đại chúng cho nhân dân biết, phải hủy bỏ những hiệp định 2 nhà nước CS đã ký kết với nhau, đồng thời lấy lại và tôn trọng Hiệp định Patenôtre giữa chính phủ Pháp với triều đình Thanh năm 1885. Yêu cầu Quốc hội nước CHXHCNVN họp khẩn để ra Nghị quyết tố cáo bản chất xâm lược của nhà cầm quyền CS Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa & Trường Sa và bản chất bán nước của đảng CSVN. Nhắc nhở quân đội và công an hãy đứng về phía nhân dân để bảo vệ Tổ quốc. 5- Tha thiết mời gọi đồng bào Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, tiếp tục tổ chức những cuộc biểu tình ôn hòa, bất bạo động nhưng rất kiên quyết & bền bỉ tại các Tòa đại sứ, lãnh sự TQ và VN trên khắp thế giới để bảo toàn đất tổ; vận động quốc tế ủng hộ quyền lợi hợp pháp và chính nghĩa cao quý của dân tộc; phổ biến những tài liệu lịch sử đích thực về Hoàng Sa Trường Sa cho đồng bào, nhất là quốc nội; tẩy chay hàng hóa, dịch vụ của Trung Quốc cũng như Thế vận hội Bắc Kinh 2008. 6- Thành khẩn kêu gọi sự ủng hộ của thế giới tiến bộ, cơ quan Liên Hiệp Quốc, của các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền, các sử gia chân chính… Đề nghị Quý vị mở 1 Hội nghị quốc tế về biển Đông do LHQ đứng ra tổ chức để giải quyết tranh chấp xung đột theo luật pháp và thông lệ quốc tế hiện hành. Cuối cùng, nhân dịp Giáng sinh và Năm mới, Khối 8406 chúng tôi xin chân thành mừng lễ, chúc tết cũng như tri ân, cảm tạ đồng bào trong ngoài nước và bạn bè quốc tế đã ủng hộ Khối 8406 chúng tôi trong thời gian qua. Làm tại Việt Nam ngày 20-12-2007 Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 : 1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang vận động tại hải ngoại) 3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình 4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế 5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng.

 

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 Bloc 8406-Supporters of Manifesto on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006 Nhận định nhân Ngày Quốc tế Nhân quyền 10-12-2007 về một số vấn đề chính trị xã hội thời gian gần đây tại Việt Nam Trong thời gian qua, tại Việt Nam, đã diễn ra một số sự kiện gây nên một số vấn đề có liên hệ tới cuộc đấu tranh giành lại các quyền tự do, dân chủ cho dân tộc. Dưới đây là những nhận định của Khối 8406 về 3 sự kiện và vấn đề chính: 1) Phiên tòa phúc thẩm xử hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân ngày 27-11-2007 vừa qua tại Hà Nội. Qua phiên xử chớp nhoáng, vừa đầy tính khôi hài vừa đầy tính man rợ này (từ trong ra tới ngoài tòa án), với bản án của tòa: giảm 1 năm tù cho mỗi luật sư, trong khi thời hạn quản chế vẫn giữ y như án tòa sơ thẩm, Khối 8406 chúng tôi cho rằng: - Chủ trương của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam: đàn áp những con người đang dũng cảm đứng lên đấu tranh, quyết giành lại các quyền tự do, dân chủ cho dân tộc, chủ trương đó không hề thay đổi. Việc họ giảm án cho 2 luật sư như nói trên là do áp lực nặng nề của công luận quốc nội và quốc tế. Đặc biệt là áp lực trực tiếp đến từ chính giới của các nước dân chủ, có nền kinh tế phát triển cao và tầm ảnh hưởng mạnh đối với nền kinh tế èo uột của Việt Nam. Động thái trên của nhà cầm quyền cộng sản chỉ nhắm giảm thiểu những áp lực đó và tiếp tục đánh lừa quốc nội lẫn hải ngoại. Nó dứt khoát không phải là kết quả của lòng phục thiện, tôn trọng công lý, cũng chẳng “xuất phát từ chính sách khoan hồng và nhân đạo của chế độ ta”, như họ vẫn thường rêu rao. Vì hai tù nhân lương tâm này không đáng bị tù một ngày nào cả! - Thái độ bình thản, kiên cường của 2 luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân trước cả 2 phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm cũng như hành động đấu tranh ôn hòa nhưng cương quyết của những người ủng hộ hai luật sư bên ngoài tòa án đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: cho dù bị sách nhiễu, bao vây, ngăn chặn, cho dù bị bắt bớ, bỏ tù, xét xử bất công… tất cả các chiến sĩ dân chủ vẫn không vì thế mà run sợ. Họ chính là những người con ưu tú của đất nước, là những ngọn đuốc sáng soi con đường của dân tộc hôm nay. Họ không hề mắc tội! Ngược lại, chính những kẻ đã và đang đàn áp phong trào dân chủ Việt Nam mới là những kẻ mang tội nặng trước dân tộc và lịch sử. Những kẻ này đang run sợ, vì họ hiểu rằng ngày tàn của bạo lực gian trá, của độc tài độc đảng đang đến gần. - Tinh thần dũng cảm, lương tâm nghề nghiệp và khuynh hướng ngày càng đậm nét dân chủ của 5 luật sư đã tham gia bào chữa cho 2 thân chủ mà cũng là đồng nghiệp trước phiên tòa xử phúc thẩm trên, rất đáng biểu dương và ca ngợi. Đây là dấu hiệu cho thấy ngành tư pháp ngày càng muốn thoát ra khỏi bàn tay công cụ hóa của đảng CSVN để trở nên một thế lực độc lập, chỉ biết đứng về phía sự thật và lẽ phải. Nhân cơ hội này, Khối 8406 chúng tôi - Đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho tất cả những vị đang bị cầm tù vì đấu tranh cho tự do, dân chủ bằng con đường hòa bình, bất bạo động. Đồng thời chấm dứt ngay những hành động đàn áp các nhà đấu tranh khác, như đuổi việc, tịch thu tài sản, xử phạt hành chính, theo dõi hành hung, như gây muôn vàn khó khăn trong việc cư trú, đi lại, sinh nhai, liên lạc (khóa điện thoại, cắt điện thư), như cưỡng bức thẩm vấn họ, khủng bố tinh thần thân nhân họ bằng nhiều đòn phép thâm độc, hèn hạ và bất lương… của công an Việt Nam. (Danh sách đính kèm). - Kêu gọi các lực lượng Công an, Tòa án, Viện kiểm sát… không vì vâng lệnh đảng và nhà cầm quyền CS mà đàn áp những người yêu nước, thương nòi, không một tấc sắt trong tay. Quý vị hãy biết rằng Quý vị ăn lương của nhân dân nên có nghĩa vụ bênh vực nhân dân, nhất là bênh vực những ai đang tranh đấu vì nhân dân, cho nhân quyền, có nghĩa vụ hành xử theo lương tâm và luật pháp chứ không phải theo mệnh lệnh. - Kêu gọi tất cả những người làm báo, đặc biệt các phóng viên, không vì đồng lương danh vọng, không vì sợ hãi khiếp nhược mà cung cúc vâng lời Đảng, dùng ngòi bút và các phương tiện truyền thông của mình để lăng nhục, khủng bố, khép tội những người đấu tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam. Xin hãy nhớ vinh dự của Quý vị là trở thành tôi tớ của Sự thật chứ không phải là nô bộc cho độc tài! - Kêu gọi những ai đang làm việc trong các ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp và truyền thông… hãy công khai tố cáo tên tuổi, địa chỉ, cấp bậc, chức vụ… của những kẻ chủ mưu thâm hiểm cũng như những kẻ thừa hành mù quáng cho chế độ độc tài, độc đảng hiện nay. Đồng thời kêu gọi mọi ai đang trực tiếp hoặc gián tiếp gây tội ác với những người đấu tranh hãy sớm thức tỉnh mà dừng tay lại. Quý vị hãy nhớ rằng: những kẻ đang ra lệnh cho Quý vị sẽ tìm cách bỏ chạy ra nước ngoài hết khi dân tộc chuyển mình, bởi lẽ thành phần này hiện đã chuẩn bị tài sản, nhà cửa, con cháu… của họ ở ngoại quốc. Còn Quý vị thì không có những điều kiện đó nên chắc chắn sẽ phải ở lại Việt Nam để đối diện với công lý trong tương lai gần. 2) Ba thành viên của Khối 8406 và của phong trào dân chủ Việt Nam vừa vinh dự nhận Giải thưởng Nhân quyền năm 2007 của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam hôm 7-12. Khối 8406 xin chúc mừng ba vị là giáo sư Hoàng Minh Chính, luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị Công Nhân, niềm hãnh diện chung của toàn Khối và của Phong trào dân chủ. Chúng tôi ca ngợi tấm gương đấu tranh kiên cường, không hề sờn lòng nản chí, chẳng chút e dè run sợ trước chế độ độc tài cộng sản Việt Nam của giáo sư Hoàng Minh Chính, người đã dành chọn cuộc đời mình vì sự nghiệp dân chủ hoá đất nước. Chúng tôi hết lòng biểu dương hai vị luật sư nhân quyền trẻ tuổi, hậu duệ xứng đáng của Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Quốc Toản, Nguyễn Thái Học… tấm gương cho các thế hệ trẻ Việt Nam hiện giờ noi theo. Nhân dịp này, và cũng nhân ngày Quốc tế Nhân quyền mồng 10 tháng 12, Khối 8406 xin nhiệt liệt biểu dương Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam tại hải ngoại đã có sáng kiến trao Giải Nhân quyền hàng năm nhằm vinh danh, cổ vũ những nhà đấu tranh can đảm tại quốc nội. Chúng tôi xin cảm ơn sự hiệp thông, ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình, bất vụ lợi của các chính khách, các tổ chức nhân quyền Việt Nam và quốc tế, các Nhóm hải ngoại Yểm trợ quốc nội cũng như các cá nhân lẫn tập thể mong ước tự do cho dân Việt vốn đã luôn sát cánh cùng phong trào dân chủ Việt Nam nói chung và Khối 8406 nói riêng suốt bao năm qua. 3) Chiến dịch rộng lớn của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nhằm quy chụp tội danh “phản động, khủng bố” cho một số cá nhân, tổ chức, đảng phái trong lẫn ngoài nước. Thời gian qua, hầu như toàn bộ hệ thống thông tin đại chúng ở Việt Nam đã được tổng huy động vào chiến dịch trên, hòng chụp mũ cho một số cá nhân và tổ chức như đảng Vì Dân, đảng Dân Chủ Nhân Dân, đảng Việt Nam Canh Tân Cách Mạng (Việt Tân)… là “phản động, khủng bố” dù họ đấu tranh cách ôn hòa. Nhưng trong điều kiện thông tin ngày nay và với những người có suy nghĩ độc lập thì thủ đoạn quy chụp trên (được tăng cường thậm chí bằng việc nhét vũ khí vào hành lý Việt kiều) đã bị vạch trần trước công luận. Ví dụ ngày 31-5-2007 vừa qua, đích thân Tổng thống và phó Tổng thống Hoa Kỳ đã tiếp đại diện của hai đảng “khủng bố” là Việt Tân và Dân Chủ Nhân Dân tại Nhà trắng ở thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Chẳng lẽ các cơ quan an ninh, tình báo của Mỹ như F.B.I, C.I.A… lại mù quáng, ngu muội hay sao mà lại đồng ý cho các đảng “khủng bố” này vào Nhà trắng? Vậy chiến dịch quy chụp đó mang bản chất gì? Khối 8406 cho rằng đây rõ ràng là một âm mưu đen tối, thâm độc xuất phát cả từ phía lực lượng Công an Việt Nam cả từ phía nhà cầm quyền cộng sản. a) Từ phía Công an Việt Nam: - Với chiêu bài “bảo vệ an ninh quốc gia”, lực lượng này đã cố tình tạo ra những chiến công ảo để báo công, mừng công và đòi được nhà cầm quyền thưởng công thật. Đã có rất nhiều kẻ được thăng quan, tiến chức từ những chiến công ảo này. Qua đó, họ nhắm mục tiêu lấn át các ngành, các lực lượng khác trong bộ máy cầm quyền cộng sản, kể cả lực lượng quân đội; đồng thời buộc nhà cầm quyền phải duy trì bộ máy công an cồng kềnh, đồ sộ hiện nay. Bộ máy này đang từng ngày, từng giờ ngốn một khoản tiền lớn của ngân sách quốc gia, vốn là tiền thu nhập từ việc khai thác nguồn tài nguyên của Tổ quốc và việc đóng thuế rất nhiều thứ của nhân dân; để rồi sau đó quay lại hoành hành, tác oai tác quái lên chính nhân dân. - Thủ đoạn xấu xa này đã được lực lượng công an Việt Nam áp dụng triền miên suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhà cầm quyền cộng sản biết rõ thủ đoạn ấy nhưng vẫn cứ nuông chiều họ. Bởi vì hơn ai hết, các lãnh tụ cộng sản hiểu rằng: nếu buông súng đạn, nhà tù và sự lừa mỵ nhân dân ra thì cái chế độ độc đảng, với sự độc quyền thống trị đất nước này của họ nhất định sẽ sập nhanh như 2 nhịp cầu Cần Thơ mới rồi. Đó cũng là lý do tại sao ngày 27-8-2007, ông Nguyễn Minh Triết, Uỷ viên bộ chính trị, chủ tịch nước CHXHCNVN đã phải hốt hoảng tuyên bố: “…Dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ điều 4 hiến pháp đi nữa thì cũng không có chuyện đó. Bỏ cái đó đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát…”. Đúng! Ông Triết có thể lừa dối dân tộc và thế giới nhiều điều nhưng riêng điều này thì ông ta đã nói thật. b) Từ phía Nhà cầm quyền cộng sản: - Muốn tạo ra một con ngoáo ộp để đe dọa nhân dân, qua lối ngụy biện rằng: nếu Việt Nam mà có biến động chính trị thì nhất định sẽ rơi vào hỗn loạn, bạo lực… do bọn “phản động, khủng bố câu kết với các thế lực thù địch trong và ngoài nước” gây ra. Qua đó có cớ để khước từ đổi mới chính trị và ép buộc dân tộc Việt Nam tiếp tục nằm trong bàn tay sắt của “Đảng vô cùng sáng suốt, chỉ một lòng vì nước vì dân” (!?) - Hướng sự phẫn nộ của nhân dân và quốc tế sang một phía khác nhằm khỏa lấp sự yếu kém, thối nát trong việc quản lý và điều hành đất nước của họ. Sự phẫn nộ này đến từ tất cả mọi thành phần dân tộc cả trong lẫn ngoài nước, bao gồm các tầng lớp trí thức, tu sĩ, sinh viên, học sinh, công nhân, nông dân, tiểu thương, doanh nhân, công chức, cựu chiến binh… kể cả đa số người hiện phục vụ trong lực lượng công an và quân đội. Hết thảy đều thuộc tầng lớp bị trị và đang chịu cảnh đè đầu cưỡi cổ bởi một thiểu số nắm đặc quyền, đặc lợi trong đảng cộng sản Việt Nam. - Dễ dàng qui chụp những người đấu tranh trong nước cũng là “thành phần khủng bố” khi họ liên minh, liên kết với những cá nhân, tổ chức nói trên để thực hiện việc dân chủ hóa đất nước bằng con đường bất bạo động. Ngoài ra, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng muốn qua chiến dịch này tìm kiếm sự đồng thuận của quốc tế. Bởi vì, theo cách tính toán ma mãnh của họ, chống khủng bố thì sẽ được cả thế giới ủng hộ. - Thủ đoạn cố ý tạo ra kẻ thù như trên cũng đã được tất cả các chế độ độc tài cộng sản thực hành một cách triệt để và nhất quán suốt gần 1 thế kỷ qua (1917–2007). Stalin từng tuyên bố: “Chỉ có khủng hoảng mới cho phép đòi hỏi và tận dụng sự phục tùng tuyệt đối và sự hi sinh to lớn của công dân”. Không cần che giấu, Fidel Castro, lãnh tụ cộng sản Cuba gần 50 năm, cũng đã phụ họa: “Để phát triển, Cách mạng cần có phản đề, cần có kẻ thù, cụ thể là cần phải có phản cách mạng”. Họ đã làm điều này là vì hơn ai hết, họ biết rất rõ sự phẫn nộ của đại đa số nhân dân đối với chế độ bất nhân của họ. Đúng như Yuri Andropov, người từng lãnh đạo Uỷ ban An ninh nhà nước Liên Xô (K.G.B) trong nhiều năm rồi làm Tổng bí thư ĐCS LX năm 1982, đã cảnh báo các đồng chí của mình rằng: “Ở nước ta có rất nhiều nhóm dân chúng bị áp bức. Nếu ta mở ngay tất cả các van chặn và dân chúng bắt đầu nói về những nỗi khổ đau của họ thì sẽ có một cuộc đại hồng thuỷ mà ta không thể nào ngăn chặn nổi”. Từ những trình bày trên, Khối 8406 chúng tôi một lần nữa khẳng định rằng: - Mục tiêu cuộc đấu tranh của chúng tôi là phải triệt để thay thế thể chế chính trị độc tài, độc đảng, bất công, phi dân chủ, phản dân tộc hiện nay bằng thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, công bằng và tiến bộ trong tương lai, nhằm khôi phục các quyền tự do, dân chủ cho dân tộc. - Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Chúng ta có quyền tin tưởng rằng phương pháp ấy nhất định sẽ dẫn tới thành công. Trong suốt hơn 20 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự toàn thắng của hàng loạt các cuộc cách mạng dân chủ bằng con đường này. Đó là trường hợp các quốc gia Đông Âu, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, nhiều nước vùng Ban-căng như Nam Tư và Slovenia, nhiều nước ở Đông Nam Á như Philippin và Indonesia… vốn đã chuyển đổi được các chế độ từ độc tài sang dân chủ. Rõ ràng, hôm nay của các quốc gia ấy sẽ là ngày mai của Việt Nam! - Những kẻ khủng bố dân tộc chính là tập đoàn quyền lực trong đảng cộng sản Việt Nam qua nhiều thế hệ, suốt từ ngày 2-9-1945 đến nay chứ không phải ai khác! Những việc làm có tính toán và hệ thống như: tiêu diệt các đảng phái đối lập, mở các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân miên trường, thi hành Cải cách ruộng đất nông dân, đàn áp văn nghệ sĩ và cán bộ đảng viên qua vụ Nhân văn Giai phẩm rồi Xét lại chống đảng, cướp bóc nhân dân qua chính sách Cải tạo công thương nghiệp, Hợp tác hóa, Tập đoàn hóa, Quốc hữu hóa, trả thù kẻ thua trận qua việc Học tập cải tạo, bức bách hàng triệu người Việt phải lao ra biển Đông với 2 bàn tay trắng, trên những con thuyền mong manh, định mệnh… Tất cả đều nằm trong chiến dịch đại khủng bố dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam. Và hôm nay, họ vẫn tiếp tục khủng bố dân tộc thông qua việc đàn áp các phong trào của quần chúng nhân dân đòi dân sinh, dân quyền, dân chủ… Nhân dịp này, Khối 8406 - Kêu gọi các lực lượng dân tộc, dân chủ, nhân quyền cả trong lẫn ngoài nước hãy đoàn kết, siết chặt đội ngũ hơn nữa. Kiên quyết không để bị mắc mưu chia rẽ, phân hóa của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Đồng thời đề nghị các cá nhân, tổ chức có điều kiện hãy phiên dịch và phổ biến những bài báo, những tuyên bố của giới lãnh đạo, người phát ngôn… ở Việt Nam có nội dung xuyên tạc, vu cáo các cá nhân, các tổ chức, các chính trị gia nước ngoài, để thế giới biết được thói gian trá này của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam: ai ủng hộ họ mà không đặt vấn đề dân chủ, nhân quyền thì được họ hết lời ca ngợi. Ngược lại, nếu ai dù ủng hộ họ nhưng lại đặt điều kiện về nhân quyền, dân chủ, nhân quyền thì ngay lập tức họ nổi đóa lên và sau đó bôi nhọ, phỉ báng không tiếc lời. - Phát động ra toàn thế giới chiến dịch hủy bỏ điều 4 hiến pháp nước CHXHCNVN. Xin các cá nhân, tổ chức, chính đảng, cộng đồng người Việt hải ngoại quảng bá và ủng hộ cho chiến dịch này ngay giữa đồng bào và khắp quốc tế. Vì điều 4 ấy thừa nhận cho đảng CSVN được quyền độc tài độc đảng độc trị vĩnh viễn; một cái quyền phi lý, phi pháp, nguồn gốc và nguyên nhân đầu hết của mọi sa sút, tụt hậu, bất công, đàn áp, thống khổ, cơ cực mà dân tộc và đất nước Việt Nam đang phải gánh chịu. Xin đề nghị khẩu hiệu: “Bỏ điều bốn! Chôn độc tài!” Khối 8406 chúng tôi xin chân thành cảm ơn. Làm tại Việt Nam nhân Ngày Quốc tế Nhân quyền 10-12-2007 Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 : 1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang vận động tại hải ngoại) 3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình 4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế 5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng. DANH SÁCH CÁC NẠN NHÂN LƯƠNG TÂM TẠI VIỆT NAM (Cập nhật ngày Quốc tế Nhân quyền 10-12-2007) I- BỊ GIAM CẦM CHƯA XÉT XỬ 1- Đoàn Huy Chương; 2- Đoàn Văn Diên; 3- Hồ Thị Bích Khương; 4- Huỳnh Tấn Phát; 5- Lê Bá Triết; 6- Lê Phan Văn; 7- Lê Trung Hiếu; 8- Nguyễn Ngọc Quang; 9- Nguyễn Quốc Quân; 10- Nguyễn Tấn Hoành; 11- Nguyễn Thế Vũ; 12- Nguyễn Thị Thanh Vân; 13- Nguyễn Thị Thanh; 14- Nguyễn Thị Thịnh; 15- Nguyễn Thị Thùy Trang; 16- Nguyễn Thị Tuyết; 17- Nguyễn Tuấn; 18- Nguyễn Văn Ngọc; 19- Nguyễn Viết Trung; 20- Phạm Bá Hải; 21- Somsak Khunmi; 22- Trần Khải Thanh Thủy; 23- Trần Thị Lệ Hằng; 24- Trần Tuân; 25- Trịnh Quốc Thảo; 26- Trương Quốc Huy; 27- Trương Văn Ba; 28- Vũ Hoàng Hải; 29- Vương Quốc Hoài; 30- Vũ Văn Hùng. II- BỊ GIAM TÙ ĐÃ CÓ ÁN * Dưới 7 năm 1- Dương Thị Tròn; 2- Huỳnh Nguyên Đạo; 3- Lê Nguyên Sang; 4- Lê Thị Công Nhân; 5- Lê Văn Sóc; 6- Mai Thị Dung; 7- Nguyễn Bắc Truyễn; 8- Nguyễn Bình Thành; 9- Nguyễn Phong; 10- Nguyễn Thanh Phong; 11- Nguyễn Thị Hà; 12- Nguyễn Văn Đài; 13- Nguyễn Văn Thơ; 14- Nguyễn Văn Thùy; 15- Phan Văn Bản; 16- Tô Văn Mãnh; 17- Trần Quốc Hiền; 18- Trần Thanh Phong; 19- Võ Văn Bửu; 20- Võ Văn Thanh Liêm; 21- Võ Văn Thanh Long. * Trên 7 năm 1- Bùi Đăng Thủy; 2- Bùi Rê; 3- Đinh Quang Hải; 4- Đỗ Hữu Nam; 5- Đỗ Thanh Vân; 6- Hồ Long Đức; 7- Huỳnh Anh Trí; 8- Huỳnh Anh Tú; 9- Huỳnh Bửu Châu; 10- Lại Phú Thuận; 11- Lâm Kiên; 12- Lâm Quang Hải; 13- Lê Đông Phương; 14- Lê Kim Hưng; 15- Lê Văn Chương; 16- Lê Văn Tính; 17- Mai Xuân Khánh; 18- Ngô Thanh Sơn; 19- Ngô Văn Ninh; 20- Nguyễn Anh Hảo; 21- Nguyễn Anh Hào; 22- Nguyễn Hoàng Giang; 23- Nguyễn Hữu Cầu; 24- Nguyễn Hữu Phu; 25- Nguyễn Minh Mẫn; 26- Nguyễn Ngọc Phương; 27- Nguyễn Sĩ Bằng; 28- Nguyễn Sinh Nhặt; 29- Nguyễn Thanh Vân; 30- Nguyễn Tuấn Nam; 31- Nguyễn Văn Chung; 32- Nguyễn Văn Điền; 33- Nguyễn Văn Hậu; 34- Nguyễn Văn Hoa; 35- Nguyễn Văn Hưởng; 36- Nguyễn Văn Lý; 37- Nguyễn Văn Minh; 38- Nguyễn Văn Nhựt; 39- Nguyễn Văn Phương; 40- Nguyễn Văn Sĩ; 41- Nguyễn Văn Thân; 42- Nguyễn Văn Trại; 43- Nguyễn Văn Xuân; 44- Nguyễn Viết Huân; 45- Phạm Minh Trí; 46- Phạm Minh Tuấn; 47- Phạm Văn Mười; 48- Phạm Xuân Thân; 49- Phan Quốc Dũng; 50- Phan Văn Trước; 51- Phương Văn Kiếm; 52- Sơn Nguyễn Thanh Điền; 53- Tô Thanh Hồng; 54- Trần Công Minh; 55- Trần Văn Bửu; 56- Trần Văn Bửu; 57- Trần Văn Đức; 58- Trần Văn Mát; 59- Trần Văn Thái; 60- Trần Văn Thiêng; 61- Trương Văn Duy; 62- Trương Văn Sương; 63- Võ Sĩ Cường; 64- Võ Văn Ngọc; 65- Võ Văn Xúc; 66- Vòng Sĩ Hồng. III- BỊ QUẢN CHẾ TẠI GIA 1- Bùi Quang Định; 2- Bùi Văn Hách; 3- Hà Văn Di Hồ; 4- Hồ Văn Trọng; 5- Lê Chí Quang; 6- Lê Thị Hồng Liên; 7- Mã Văn Bảy; 8- Nguyễn Đan Quế; 9- Nguyễn Đình Huy; 10- Nguyễn Hồng Quang; 11- Nguyễn Khắc Toàn; 12- Nguyễn Phước Hậu; 13- Nguyễn Thị Ngọc Lan; 14- Nguyễn Văn Vinh; 15- Nguyễn Vũ Bình; 16- Phạm Hồng Sơn; 17- Phạm Ngọc Thạch; 18- Phạm Quế Dương; 19- Thích Huyền Quang; 20- Thích Quảng Độ; 21- Thích Thiện Minh; 22- Tống Văn Chinh; 23- Trần Nguyên Hưỡn; 24- Trần Văn Lương; 25- Trương Văn Đức; 26- Võ Thị Gấm; 27- Y’ Oal Nie IV- BỊ SÁCH NHIỄU HAY THEO DÕI 1- Bạch Ngọc Dương; 2- Chân Tín; 3- Đỗ Nam Hải; 4- Dương Thị Xuân; 5- Hà Sĩ Phu; 6- Hồ Hoàng Duy; 7- Hoàng Minh Chính; 8- Hoàng Tiến; 9- Lê Ái Quốc; 10- Lê Hồng Hà; 11- Lê Quốc Quân; 12- Lê Thị Kim Thu; 13- Lê Trí Tuệ; 14- Lê Văn Sỹ; 15- Lư Thị Thu Duyên; 16- Lư Thị Thu Trang; 17- Lương Văn Sinh; 18- Ngô Hoài Nở; 19- Nguyễn Chính Kết; 20- Nguyễn Công Chính; 21- Nguyễn Hữu Giải; 22- Nguyễn Khắc Toàn; 23- Nguyễn Phương Anh; 24- Nguyễn Thanh Giang; 25- Nguyễn Xuân Nghĩa, 26- Phạm Thanh Nhiên; 27- Phạm Văn Trội; 28- Phan Thế Hải; 29- Phan Văn Lợi; 30- Tân Vĩnh Phát; 31- Thích Không Tánh; 32- Trần Anh Kim; 33- Trần Đình Nguyên; 34- Trần Thị Lệ; 35- Trần Văn Hòa; 36- Trương Quốc Tuấn; 37- Vi Đức Hồi; 38- Võ Thanh Chương; 39- Võ Văn Nghệ, 40- Vũ Hùng; 41- Vũ Minh Khánh; 42- Vũ Thanh Phương; 43- Y Beo; 44- Y-Dik; 45- Y-Kor; 46- Y-Phương; 47- Y-Yan. *****************************

 

TỰ DO TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM Bản trình bày của hai linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và Phêrô Phan Văn Lợi cho Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế ngày 27-10-2007 Tại Việt Nam hiện nay, các nhân quyền và dân quyền cơ bản đều được liệt kê đầy đủ trong Hiến pháp. Nhưng chúng hầu hết đều được định nghĩa cách mơ hồ hay thiếu sót, bị hạn chế hay hủy bỏ bởi các đạo luật, sắc lệnh, nghị quyết.... Nói cách khác, chúng không hiện hữu trong thực tế cho những công dân thực sự. 1- Trên lý thuyết Trong vấn đề tôn giáo, Quý vị có thể thấy tại VN hiện giờ, nhiều nơi thờ phượng được xây dựng, nhiều nghi lễ được tổ chức, nhiều đại diện của thẩm quyền tôn giáo tối cao được vào hay ra ngoại quốc để học hành hay tham dự các hội nghị, nhiều học viện tôn giáo được mở cửa. Dĩ nhiên tất cả những điều này đều có giấy phép và dưới sự kiểm soát của nhà cầm quyền. Nhưng theo quan niệm của chúng tôi, tự do tôn giáo không hệ tại việc xây dựng nhà thờ hay chùa chiền, việc tổ chức các lễ hội tôn giáo, việc đón chào các chức sắc trong đạo, việc đi ra nước ngoài, thậm chí mở các chủng viện (như chế độ CSVN vẫn tuyên truyền). Tất cả những tự do ấy đều là ngoại diện và phụ tùy. Chúng tôi nghĩ rằng tự do tôn giáo đích thực chủ yếu hệ tại những điều sau đây : a- sự tự do thành lập tôn giáo, giáo hội hay cộng đoàn, không với sự cho phép hay chuẩn thuận mà chỉ với sự thừa nhận của chính quyền, vốn phải thừa nhận tôn giáo hay giáo hội hay tổ chức tôn giáo đó sau khi họ đã đăng ký. b- sự độc lập của các giáo hội trong việc thiết lập, dựng lên các cơ cấu của mình; tuyển mộ huấn luyện nhân sự của mình; truyền chức, tấn phong, thuyên chuyển giáo sĩ của mình; bổ nhiệm, đề cử giáo phẩm hay lãnh đạo của mình. c- việc truyền bá tôn giáo đến nhân dân, việc tham gia của các giáo hội vào đời sống xã hội, bằng cách thành lập và điều hành các trường học đủ mọi cấp, từ nhà trẻ đến đại học, sở hữu và điều hành báo chí, phát thanh, truyền hình, trang mạng, nhà xuất bản riêng, thành lập và điều hành các cơ sở hoạt động từ thiện, chẳng hạn trạm xá và bệnh viện. Tiếc thay, mọi giáo hội tại VN không được hưởng những thứ tự do này. Chúng bị thủ tiêu bởi Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng ra đời tháng 11-2004, bởi Nghị định áp dụng Pháp lệnh ra đời tháng 3-2005, bởi 15 Thủ tục hành chính ra đời tháng 7-2007 và bởi ý muốn tùy tiện của chính quyền địa phương mà tất cả đều vô thần và chống tôn giáo. Các văn bản pháp luật ấy kiểm soát, đe dọa và hạn chế các tôn giáo trong năm yếu tố chủ chốt: quy chế, nhân sự, hoạt động, tài chánh và liên lạc. Đối với chúng tôi, các bản văn ấy làm nên một biện pháp để đàn áp tôn giáo bằng pháp luật. Chúng dễ dàng biến thành bất hợp pháp mọi hoạt động của chúng tôi và dần dần làm biến chất tôn giáo của chúng tôi. Theo Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn, Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng không phải để cho các giáo hội mà là để cho đảng cộng sản. 2- Một vài thí dụ a- Hiện thời, chính quyền CSVN chỉ công nhận 16 tổ chức tôn giáo thuộc về 6 tôn giáo chính (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo, Hồi giáo) trong lúc số tổ chức tôn giáo đăng ký thì lớn hơn nhiều. Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất của Hòa thượng Thích Quảng Độ, Giáo hội Phật giáo Hòa hảo thuần túy của Cụ Lê Quang Liêm, Hội thánh Tin lành Mennonite của Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Hiệp hội Thông công Tin lành của Mục sư Nguyễn Công Chính… đều ở “ngoài vòng pháp luật” và thường xuyên bị bách hại. b- Ngày 8-06-2007, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết-định số 83/2007 QĐ-TTg chủ-trương sẽ huấn luyện khoảng 22 nghìn cán bộ chuyên trách vấn đề tôn giáo. Phận sự của các cán bộ này sẽ là theo dõi, báo cáo, xâm nhập, lũng đoạn và kiểm soát các Giáo hội. Nhà cầm quyền CS muốn làm tê liệt hay làm suy yếu khả năng đề kháng của các tôn giáo trước tội ác, trước bất công xã hội do chế độ gây nên và cuối cùng biến tôn giáo thành công cụ cho chế độ độc tài. c- Sử dụng ý thức hệ cộng sản để huấn luyện các lãnh đạo tôn giáo tương lai, nhà cầm quyền cộng sản buộc các chủng sinh (linh mục tương lai) phải học thuyết Mác-xít, lịch sử đảng CS và pháp luật nước CHXHCNVN. Các môn này thuộc số những môn học quan trọng nhất trong chủng viện, và điểm cao về các môn ấy là điều kiện để được truyền chức linh mục. Việc học lý thuyết duy vật vô thần song song với việc học lý thuyết hữu thần nhân bản sẽ làm tê liệt hay biến thoái lương tâm của các lãnh đạo tinh thần tương lai. Trong thực tế, rất ít linh mục VN dấn thân vào cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. d- Nhà cầm quyền CS còn thâm độc can thiệp vào việc bổ nhiệm các chức sắc cao cấp. Điều này dẫn tới việc tuyển chọn và tấn phong nhiều giám mục trong GH Công giáo không hoàn toàn theo tiêu chuẩn của Giáo hội. Hậu quả tai hại là có hai giám mục đương nhiệm đã phải từ chức mục tử. Đó là trường hợp của Giám mục Nguyễn Văn Yến, Giáo phận Phát Diệm và Giám mục Nguyễn Tích Đức, Giáo phận Ban Mê Thuột. Điều này đã không hề xảy ra trong Giáo hội Công giáo trước năm 1975. Nói chung, các Tổng giám mục và Giám mục tỏ ra khá dửng dưng trước nhiều bất công độc ác trong xã hội. e- Thư Chung mới đây của Hội đồng Giám mục Việt Nam (ngày 12-10-2007) phàn nàn rằng: “Đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt: tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. Dù vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những gì được phép để thể hiện sứ mệnh nhập thế, như mở lớp tình thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật, Giáo Hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt nam và, vì không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ”. Lời này tố cáo một sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Các tôn giáo có vai trò mang lại những giá trị đạo đức, tâm linh, tinh thần cho xã hội qua việc rao giảng và giáo dục. Việc ngăn cản các Giáo hội tham gia vào giáo dục là một trong những nguyên nhân khiến nền giáo dục VN sa sút và giới trẻ VN băng hoại. f- Nhiều chức sắc tôn giáo tiếp tục bị giam tù (như linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Văn Đài [mới tấn phong]), bị quản chế (như các Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Thiện Hạnh, Hội trưởng Lê Quang Liêm, Linh mục Phan Văn Lợi…), bị sách nhiễu (như các Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Công Chính, các Thượng tọa Không Tánh, Minh Nguyệt…). Nhiều tín đồ tôn giáo đang bị cầm tù (như các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo sau đây: Lê Văn Tính, Bùi Tấn Nhã, Nguyễn Văn Điền, Võ Văn Thanh Liêm, Võ Văn Bửu, Mai Thị Dung, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Hà, Tô Văn Mảnh, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Thùy, Nguyễn Văn Thơ, Dương Thị Tròn, Lê Văn Sóc…). Tổ chức Quỹ Người Thượng tại Hoa Kỳ, trong một bản tin ngày 20-10-2007 nhan đề “Cái chết mới đây của một Tín đồ Hội thánh Degar tại gia”, đã thông báo rằng: “Hôm 01-10-2007, một Truyền đạo Hội thánh Cơ đốc Degar tại gia tên là Siu Blok đã chết vì bị giới chức VN tra tấn. Ông đang làm một cuộc lễ chúc lành bất hợp pháp thì bị ghi hình và bị báo cáo cho công an bởi một nhóm tôn giáo khác được nhà cầm quyền chuẩn nhận. Đây là kế hoạch của VN nhằm “chia để trị” các Hội thánh tại gia độc lập” (xem tài liệu đính kèm). g- Các Giáo hội không có được báo chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình của riêng mình. Tuần báo Công giáo và Dân tộc hay tuần báo Người Công giáo VN là những cơ quan thông tin của đảng CS. Bản tin của Hội đồng GMVN mang tên “Hiệp Thông” mỗi năm chỉ được phát hành 6 số, mỗi số 100 bản, dày khoảng 250 trang, cho 6 triệu người Công giáo. Sách Công giáo được in ra là dưới 100 cuốn mỗi năm mà phải đưa in tại Nhà xuất bản của chính quyền. Tài liệu thông tin cơ bản của Giáo hội Công giáo (“Niên giám Giáo hội Công giáo VN” xuất bản năm 2005) đã bị chính quyền kiểm duyệt chặt chẽ, đến nỗi nó đã không hoàn toàn được đón chào và tin tưởng bởi các tín đồ và các nhà nghiên cứu. h- Các tài sản của các tôn giáo (đất đai, cơ sở như đại học, trung tiểu học, viện mồ côi, trạm y tế…) bị nhà cầm quyền tịch thu từ năm 1975, thậm chí từ mấy năm gần đây, đều không được trả lại cho các sở hữu chủ (xem tài liệu đính kèm). 3- Đề nghị với Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ Từ George Washington tới Abraham Lincoln, từ Thomas Jefferson tới George W. Bush, dân chủ là lý tưởng của nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ. Vì thế, chúng tôi mong ước rằng đang khi tìm kiếm những cơ hội làm ăn tại quê hương chúng tôi, chính phủ Hoa Kỳ nên luôn thúc đẩy quá trình dân chủ hóa tại VN. Đối với chúng tôi, phúc lợi lớn lao mà quý vị có thể mang đến cho nhân dân chúng tôi là việc dân chủ hóa hơn là tư bản hóa. Hiện nay, quá trình tư bản hóa đang tạo ra nhiều nhà tư bản đỏ và vô số người cơ cực. Không có việc dân chủ hóa, chúng tôi mãi mãi không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do hội họp lập hội và các tự do dân chủ khác. Và vì thế, không có phát triển kinh tế đích thực. Việc tiếp tục chỉ định Việt Nam như một nước cần quan tâm đặc biệt là điều đúng đắn và đáng khen ngợi. Chúng tôi hy vọng rằng nhiều biện pháp sẽ sớm được áp dụng để cổ võ tự do tôn giáo cũng như tự do chính trị tại Việt Nam

 

Hiện nay, tại VN, người ta nhận thấy trên phương diện tôn giáo, có nhiều nơi thờ tự được xây dựng, nhiều lễ hội tôn giáo và tín ngưỡng (nhân gian) được tổ chức, nhiều chức sắc trong nước được xuất ngoại hay chức sắc ngoài nước được nhập cảnh. Có người nghĩ rằng đó là dấu chỉ cho thấy tự do tôn giáo được mở rộng. Thật ra, đấy là những thứ tự do tôn giáo ngoại diện. Các quyền tự do tôn giáo đích thực và cơ bản nằm chỗ khác. 1- Trên phương diện lý thuyết (pháp luật). Sau khi đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo 18-06-2004, và Nghị định số 22/2005/NDD- CP, đầu năm nay, nhà cầm quyền CSVN, tháng 7-2007, lại phổ biến cho các tôn giáo hai tập “Thủ tục hành chính về tôn giáo thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường xã” và “Thủ tục hành chính về tôn giáo thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố” để áp dụng Pháp lệnh. a- Trong “Thủ tục hành chính về tôn giáo thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường xã” có những thủ tục (giấy xin phép) sau đây: 1- Bản đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm của tổ chức tôn giáo cơ sở. 2- Bản thông báo tổ chức lễ hội tín ngưỡng. 3- Bản đăng ký người vào tu. 4- Bản thông báo việc sửa chữa nhỏ của cơ sở tôn giáo. 5- Bản thông báo tổ chức quyên góp. b- Trong “Thủ tục hành chính về tôn giáo thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố” có những thủ tục (giấy xin phép) sau đây: 1- Bản đăng ký hoạt động hội đoàn tôn giáo. 2- Bản thông báo về việc thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành. 3- Bản đăng ký thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành. 4- Bản thông báo tổ chức quyên góp. 5- Đơn đề nghị hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đăng ký. 6- Đơn đề nghị tổ chức hội nghị thường niên, đại hội. 7- Đơn đề nghị tổ chức các cuộc lễ diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo. 8- Đơn đề nghị giảng đạo, truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo. 9- Đơn đăng ký hoạt động dòng tu, tu viện. 10- Đơn xin cấp giấy phép xây dựng. Dù là “ddăng ký”, “thông báo”, “ddề nghị”, tất cả đều có ý nghĩa “xin phép” và nhà cầm quyền có toàn quyền cho hay không. c- Theo “Tài liệu hỏi-đáp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo” của Ban tôn giáo chính phủ phát hành tháng 6-2006, câu 16, thì hiện nay Nhà nước CSVN mới công nhận 16 tổ chức tôn giáo thuộc 06 tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo và Hồi giáo), đó là: - Giáo hội Phật giáo Việt Nam. - Giáo hội Công giáo Việt Nam. - Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). - Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). - Hội thánh Cao đài Tây Ninh. - Hội thánh Cao đài Tiên Thiên. - Hội thánh Cao đài Minh Chơn đạo. - Hội thánh truyền giáo Cao đài. - Hội thánh Cao đài Ban Chính đạo. - Hội thánh Cao đài Bạch Y. - Hội thánh Cao đài Chiếu Minh Long Châu. - Hội thánh Cao đài Chơn lý. - Hội thánh Cao đài Cầu Kho – Tam quan. - Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa hảo. - Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo thành phố Hồ Chí Minh. - Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang. Nhìn danh sách được công nhận trên đây, ta thấy thiếu vắng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (của Hòa thượng Huyền Quang), Phật giáo Hòa hảo Thuần túy (của Hội trưởng Lê Quang Liêm), Tin lành Mennonite (của Mục sư Nguyễn Hồng Quang), Hiệp hội Thông công Tin Lành (của Mục sư Nguyễn Công Chính). Các Giáo hội này tiếp tục bị bách hại. Và còn rất nhiều tổ chức tôn giáo như Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bà La Môn, Ba hai, Cơ đốc Phục Lâm, Cơ đốc truyền giáo, Báp tít… đã đăng ký từ lâu nhưng vẫn không được nhà cầm quyền CS công nhận. d- Năm 2007, nhà nước bắt các giáo hội làm “Phiếu thu thập thông tin về các cơ sở tôn giáo” (áp dụng đối với cơ sở là đền, chùa, nhà thờ…). Trong phiếu này, có các mục (1) tên cơ sở, (2) địa chỉ của cơ sở, (3) thông tin về người đứng đầu cơ sở, (4) năm thành lập, năm bắt đầu hoạt động, (5) số người làm việc thường xuyên tại cơ sở có đến 01/07/2007, (6) kết quả thu chi của cơ sở, (7) ứng dụng công nghệ thông tin. e- Ngoài ra, mọi quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc đều phải qua sự kiểm soát và cho phép của Ban Tôn giáo Chính phủ. Như vậy ta thấy, trên phương diện lý thuyết (luật pháp), CS vẫn khống chế, kiểm soát và hạn chế các tôn giáo về mặt (1) quy chế, (2) nhân sự, (3) sinh hoạt, (4) tài chánh và (5) liên lạc là 5 yếu tố làm nên tôn giáo. 2- Trên phương diện thực tế a- Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng hôm 8-6-2007 vừa ký Quyết-định số 83/2007 QDD-TTg chủ-trương sẽ huấn luyện khoảng 22 nghìn cán bộ chuyên trách xử lý các vấn đề liên quan tới các tôn giáo dựa theo chương trình của Bộ Nội vụ và Học viện Chính trị Hành chánh Quốc gia Hồ Chí Minh (hai tổ chức công an mật vụ của đảng CSVN). Mấy chục ngàn cán bộ tôn giáo này có nhiệm vụ chủ yếu là theo dõi, kiểm soát, báo cáo và lũng đoạn và gây cản trở cho các tôn giáo. b- Nhà cầm quyền CS can thiệp vào việc bổ nhiệm các chức sắc cao cấp trong GH Công giáo là các Giám mục, chứ Tòa Thánh Vatican không có toàn quyền. Điều đó đã dẫn tới việc tấn phong nhiều Giám mục không hoàn toàn theo tiêu chuẩn của Giáo Hội và Giáo Luật. Hậu quả là có hai giám mục đã xin từ chức khi đang thi hành nhiệm vụ: Giám mục Nguyễn Văn Yến (Phát Diệm) và Giám mục Nguyễn Tích Đức (Ban Mê Thuột). Trước năm 1975, tại VN không hề xảy ra chuyện từ chức như vậy. c- Nhà cầm quyền CS buộc các chủng viện (là nơi đào tạo các linh mục quản xứ tương lai) phải học chủ nghĩa Mác xít, lịch sử đảng CS và pháp luật nước CHXHCNVN và phải thi với hệ số điểm cao. Điểm thi này sẽ là căn cứ để nhà cầm quyền cho chủng sinh chịu chức linh mục hay không. Việc học lý thuyết duy vật vô thần song song với giáo lý nhân bản hữu thần đã làm cho lương tâm các chủng sinh ra tê liệt, chẳng còn biết đề kháng trước cái chủ nghĩa và chế độ, các chức sắc tôn giáo này chỉ còn thuần túy lo việc lễ nghi, hay nếu có làm việc từ thiện bác ái, thì chỉ cho các nạn nhân của thiên tai, chứ không phải cho các nạn nhân của nhân tai (tức là những kẻ bị áp bức, bóc lột bởi các cán bộ và đảng viên cộng sản). Bằng chứng là các linh mục dấn thân tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền chỉ đếm trên đầu ngón tay! d- Thư Chung năm 2007 (ra ngày 12-10) của Hội đồng Giám mục Việt Nam, có viết ở số 19: “DDáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn còn khép chặt: tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. Dù vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những gì được phép để thể hiện sứ mệnh nhập thế, như mở lớp tình thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật, Giáo Hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt nam và, vì không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ”. Lời này tố cáo một sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Các tôn giáo có vai trò mang lại những giá trị đạo đức, tâm linh, tinh thần cho xã hội qua việc rao giảng (cho quần chúng) và giáo dục (các thế hệ trẻ). Đồng thời đó cũng là cách tôn giáo phát triển chính mình. Chính việc ngăn cản tôn giáo tham gia vào giáo dục là một trong những nguyên nhân khiến nền giáo dục VN sa sút cách thê thảm và giới trẻ VN băng hoại cách trầm trọng. e- Nhiều chức sắc tôn giáo tiếp tục bị giam tù (như linh mục Nguyễn Văn Lý), bị quản chế (Hòa thượng Huyền Quang, Hòa thượng Quảng Độ, Linh mục Phan Văn Lợi…), bị sách nhiễu (Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Mục sư Nguyễn Công Chính, Thượng tọa Không Tánh, Thượng tọa Minh Nguyệt…), nhiều tín đồ tôn giáo đang bị cầm tù (như các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo sau đây: Lê Văn Tính, Bùi Tấn Nhã, Nguyễn Văn Điền, Võ Văn Thanh Liêm, Võ Văn Bửu, Mai Thị Dung, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Thị Hà, Tô Văn Mảnh, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Thùy, Nguyễn Văn Thơ, Dương Thị Tròn, Lê Văn Sóc…). f- Các tôn giáo vẫn không có được báo chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình của riêng mình. Tuần báo Công giáo và Dân tộc hay tuần báo Người Công giáo VN vẫn là những cơ quan thông tin của đảng CS đội lốt tôn giáo, được những linh mục và giáo dân Công giáo theo tinh thần CS và trung thành với đảng CS điều hành. Bản tin của Hội đồng GMVN mang tên “Hiệp Thông” mỗi năm chỉ được phát hành 6 số, mỗi số 100 bản, dày khoảng 250 trang, cho 6 triệu người Công giáo. Số đầu sách Công giáo được in chỉ đếm trên đầu ngón tay và phải đưa in tại Nhà xuất bản Tôn giáo do nhà nước quản lý. Tài liệu thông tin cơ bản của Giáo hội Công giáo (“Niên giám Giáo hội Công giáo VN” xuất bản năm 2005) đã chỉ được in ra với rất nhiều sự kiểm duyệt. Chẳng hạn phải dùng từ “thánh chứng nhân” thay cho từ “thánh tử đạo”; trong số 27 Thư Chung, chỉ được in Thư Chung của năm 1980 và năm 2001 (là hai Thư Chung đẹp lòng Nhà nước hơn cả); phần viết về 5 tôn giáo bạn (Tin lành, Phật giáo, Hòa hảo, Cao đài, Hồi giáo) thì do chính các chức sắc thuộc các Giáo hội quốc doanh biên soạn. g- Đất đai cơ sở của các tôn giáo bị CS chiếm đoạt (tạm kể từ 1975), đến nay vẫn chưa được trả lại. Hãy nghe lời của Hòa thượng Quảng Độ nói trước tập thể Dân oan khiếu kiện tại Văn phòng 2 Quốc hội CS (ở Sài Gòn) ngày 17-7-2007: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng là nạn nhân của chế độ như đồng bào. Giáo hội chúng tôi cũng bị cướp đoạt tất cả mọi cơ sở, từ giáo dục, từ thiện cho đến chùa viện….. Giáo hội chúng tôi cũng đã từng khiếu kiện suốt ba mươi năm qua. Cho đến nay đã có cả nghìn bức văn thư khiếu kiện, mà họ không hề phản hồi một văn thư nào, không giải quyết gì cả. Họ coi dân như cỏ rác”. Riêng Công giáo, thì Nhà nước CS vẫn tiếp tục cướp 102/107 ha của đan viện Thiên An, Huế, cướp 17/23.5 ha của linh địa La Vang, Quảng Trị cùng hàng ngàn cơ sở (tu viện, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, viện mồ côi…) Mới đây, ngày 01-09-2007, Đức Giám mục Phanxicô Lê Văn Hồng, tổng giáo phận Huế, đã ra “Thông báo v/v làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền đất đai tôn giáo” gởi cho mọi giáo xứ và mọi dòng tu, để đòi lại các đất đai và cơ sở đang bị cộng sản chiếm đoạt. Hạn chót để nộp hồ sơ cho chính quyền địa phương là 01-11-2007. Việc nhà nước CS tự ý định hạn chót này (không biết dựa trên lý do gì) đã cho thấy CS có ý đồ muốn chiếm hẳn những gì họ đã giữ của Công giáo suốt 32 năm qua. Người ta suy đoán rằng nhà cầm quyền muốn áp dụng một điều khoản trong luật đất đai (“Ai giữ tài sản vô chủ sau 30 năm thì có quyền sở hữu tài sản đó”) vào trường hợp đất đai tài sản của các tôn giáo. Trên đây là vài nét đại cương về hiện tình tôn giáo, đặc biệt phía Công giáo, tại Việt Nam. Huế ngày 22-10-2007

 

Kính thưa Đức Giám Mục Chủ Tịch HĐGMVN, Kính thưa Đức Hồng y, hai Đức Tổng Giám mục và các Đức Giám mục Chúng con là một số linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam trong lẫn ngoài nước ưu tư về tình hình Quê hương và Giáo hội Việt Nam cũng như bức xúc về bao vấn đề nhức nhối đang xảy ra trên đất nước và cho dân tộc. Chúng con kính gởi đến Hội đồng Giám mục một vài ý kiến đóng góp nhân Đại hội Thường niên của Quý Đức Cha sẽ được tổ chức ở Hà Nội từ ngày 08 đến 12-10-2007. Được biết Thư Chung 2008 sẽ mang chủ đề “Giáo dục Kitô giáo”, chúng con rất lấy làm vui mừng, vì đây là một vấn đề quan trọng và càng quan trọng hơn trong xã hội Việt Nam hiện thời vốn đang chịu sự cai trị của đảng cộng sản vô thần và sự thống lĩnh của ý thức hệ duy vật Mác xít. 1- Nói đến Giáo dục Kitô giáo, chúng con thiết tưởng trước hết cần nói đến Giáo dục dân sự, Giáo dục học đường, vốn là nền tảng nhân bản để xây dựng con người trước khi hình thành con Chúa. Nền Giáo dục dân sự trong chế độ cộng sản VN hiện nay, như Quý Đức Cha đều biết, dựa trên nguyên tắc đã được nêu lên trong Luật Giáo dục năm 2005 (còn hiệu lực) ở Điều 3 (Tính chất, nguyên lý giáo dục): “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. Nói thẳng ra, đây là nền giáo dục bị chính trị hóa ngay từ bản chất và từ khởi điểm; nó thay vì đào tạo những công dân tự do cho Đất nước thì lại nặn ra những thần dân mù quáng vâng phục đảng Cộng sản, thấm nhuần cái chủ nghĩa phi nhân sai lạc đã bị nhân loại vứt bỏ và học đòi bắt chước tấm gương ông Hồ Chí Minh, một con người mà theo sử liệu khách quan là một kẻ gian hùng hơn là một vị anh hùng dân tộc, nói thẳng ra là một kẻ đã gây ra bao tội ác trên đất nước và bao tang thương cho giống nòi. Chúng con rất đau lòng khi đọc lá thư mới đây mà Đức Hồng y Tổng giám mục Giáo phận Sài gòn gởi cho Câu lạc bộ Nguyễn Văn Bình ngày 22-07-2007: “Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế thì còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay, tỷ lệ ăn gian nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu? ”. Điều này không có gì lạ, vì chủ nghĩa và chế độ CS tự bản chất là gian dối lừa gạt, như lịch sử chứng minh rành rành. Ngoài thói dối gian, trường học Nhà nước CS còn giáo dục cho giới trẻ lòng căm thù. Xưa kia là căm thù giai cấp, rồi đến căm thù đế quốc, nay là căm thù “bọn phản động”, nghĩa là tất cả những cá nhân hay tổ chức nào trong lẫn ngoài nước đe dọa quyền thống trị của đảng Cộng sản. Điều này được dạy ngay trong nhà trường (tiểu, trung lẫn đại học), đặc biệt mỗi khi nhà cầm quyền chuẩn bị tấn công một tổ chức hay cá nhân tranh đấu cho dân chủ nhân quyền nào đó. Ấy là chưa kể việc đoàn viên thanh niên thường có mặt bên cạnh công an và dân quân trong các cuộc đàn áp dân oan khiếu kiện, công nhân đình công hay các nhà dân chủ đối kháng bất bạo động. Điều tai hại hơn cả là Cộng sản làm cho quần chúng nhân dân, đặc biệt giới trẻ, học sinh sinh viên mất tất cả ý chí khí lực, luôn sống trong sợ hãi, không còn dám trình bày quan điểm cá nhân, phản biện những gì đã thu nhận học hỏi, không còn dám nói lên sự thật, tố cáo bất công, vạch trần sai lầm hay tội ác của nhà cầm quyền, dấn thân bênh vực kẻ bị cường hào ác bá, đảng viên cán bộ áp bức bóc lột. Vậy chúng con xin Quý Đức Cha tiên vàn hãy đòi hỏi nhà cầm quyền hủy bỏ điều 3 Luật giáo dục nói trên, đòi hỏi phi chính trị hóa nền giáo dục học đường và đòi lại trọn vẹn quyền giáo dục giới trẻ cho Giáo hội Công giáo nói riêng và mọi Giáo hội nói chung. Đây là những nhân quyền cơ bản làm nền tảng cho việc xây dựng con người. Bằng không thì việc giáo dục tinh thần Kitô giáo sẽ ra vô ích và uổng công như thực tế đã và đang minh chứng. 2- Giáo dục Kitô giáo, như chúng con hiểu, là làm sao cho mọi Kitô hữu biết hành xử và phản ứng theo tinh thần Tin Mừng khi sống giữa đời, đối diện với các thực tại và vấn đề xã hội. Nghĩa là cần nhấn mạnh việc thực hành bí tích, tham gia phụng vụ, học hỏi giáo lý, đóng góp xây dựng nhà thờ… phải sinh hoa quả là việc dấn thân thực thi công bằng và bác ái trong cuộc sống cá nhân và xã hội, cốt tủy của Tin Mừng và của luân lý Kitô giáo (x. Mt 23,23b). Một việc thờ phượng Thiên Chúa không dẫn tới việc xả thân cho con người, nhất là người bị áp bức, sẽ chỉ là một lối sống đạo hình thức bề ngoài, trống rỗng bề trong. Qua biên bản của Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục ngày 20-6-2007, chúng con được biết Đại hội của Quý Đức Cha sẽ “lập thêm Uỷ ban Giáo dục chuyên lo về Giáo dục Kitô giáo cho Hội đồng Giám mục”, sẽ “xin Uỷ ban Bác ái Xã hội theo dõi các hoạt động thời sự, tình hình xã hội để giúp cho Hội đồng Giám mục có thể lên tiếng trước những vấn đề xã hội” và sẽ đặt ra chức “phát ngôn viên chính thức của Hội đồng Giám mục”. Chúng con hân hoan trước diễn biến mới và cơ cấu mới này, vì quả là cần có một Ủy ban chuyên trách giáo dục Kitô hữu sống Tin Mừng trong xã hội mác-xít, dưới chế độ cộng sản đặc biệt nguy hại này, một Ủy ban thường xuyên nghiên cứu những vấn đề xã hội, nhất là vấn đề công lý hòa bình, như pháp chế đàn áp, chính sách kỳ thị, tham nhũng bóc lột, cường hào ác bá, dân oan khiếu kiện, công nhân đình công, lao nô xuất khẩu… vốn đang nổi cộm và gây bức xúc lòng người cũng như xáo trộn xã hội từ cả mấy thập niên nay. Ngoài ra, việc có một phát ngôn viên chính thức để cấp thời lên tiếng nhân danh Công giáo và đại diện Hội đồng Giám mục trước mọi vấn đề đất nước là điều khẩn thiết, vì ngày càng nổi lên trong xã hội Việt Nam hôm nay nhiều chuyện bất công phi lý không biết giải thích và giải quyết thế nào cho ổn. Tuy nhiên, như Tòa thánh Vatican có hai tổ chức phân biệt rõ ràng là Cơ quan Đồng Tâm lo vấn đề bác ái cứu trợ và Hội đồng Giáo hoàng Công lý Hòa bình lo vấn đề chính trị nhân quyền trên thế giới, chúng con thiết nghĩ Hội đồng Giám mục cần có riêng Ủy ban Công lý Hòa bình (mà đáng lẽ phải có từ lâu như mọi Hội đồng GM trên thế giới) để đặc trách các vấn đề phát sinh do nạn độc tài, cường quyền, tham nhũng, bóc lột… vốn là căn bệnh trầm kha của chế độ cộng sản. Có được một phát ngôn nhân khôn ngoan và can đảm, thông minh và nhanh nhạy cũng như một Ủy ban Công lý Hòa bình sâu sắc và thấu đáo, dũng cảm và năng động để khai sáng lương tri và hướng dẫn lương tâm dân Chúa cùng dân tộc trước hiện tình xã hội VN thì quả là một lối giáo dục Kitô giáo hết sức hữu hiệu, ngoài ra còn giúp cho việc truyền giáo đạt nhiều thành quả, vì làm cho Giáo Hội nổi bật lên như ngôn sứ của chân lý và chiến sĩ của công bằng. 3- Cụ thể trước mắt, có một vấn đề thời sự khả dĩ nổi cộm trong Xã hội và Giáo hội Việt Nam mà Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục có nhắc tới ngày 20-6-2007 và sẽ đưa vào chương trình nghị sự của Đại hội. Đó là vụ việc linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, một chiến sĩ Phúc Âm đấu tranh cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền từ năm 1983 đến giờ và đã bốn lần bị bắt vào tù Cộng sản. Vụ việc cha Lý đã gây tranh cãi và ly tán lòng người từ nhiều năm nay trong cộng đồng Giáo hội, đặc biệt từ sau phiên tòa “bịt miệng” ngày 30-3-2007 tại Huế và sau chuyến công du của chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết sang Hoa Kỳ. Thành thử chúng con hy vọng vụ đó sẽ được Quý Đức Cha đem bàn rốt ráo cặn kẽ để đưa ra cho dân Chúa cũng như công luận một phán quyết dứt khoát, đúng đắn, xua tan mọi dư luận bất lợi cho Giáo hội Công giáo cũng như cho chính Hội đồng Giám mục từ bấy lâu nay. Liên quan đến vụ việc cha Lý mà một vài người trong Giáo hội cho là “làm chính trị, vi phạm Giáo luật, không vâng lời bề trên”, có vụ việc nhiều linh mục từ bấy lâu nay tham gia Mặt trận Tổ quốc là cơ quan ngoại vi của đảng Cộng sản, tham gia các Hội đồng nhân dân huyện, thành, tỉnh, nước (Quốc hội) là những cơ quan của chính quyền Cộng sản. Đây là một điều mà ai cũng thấy đi ngược với Giáo luật khoản 278§3 và 285§3 đồng thời trái với tinh thần bức thư mà Đức Hồng y Quốc vụ khanh Angelo Sodano đã gởi riêng cho Giáo hội VN qua Đức Cha Nguyễn Minh Nhật, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam ngày 20-05-1992. Thế nhưng, việc tham gia các tổ chức và cơ quan nhà nước thể ấy đã kéo dài rất nhiều năm, thậm chí mới đây còn có hai linh mục được “đảng cử” vào Quốc hội. Vậy mà chúng con chưa hề nghe đấng bậc nào trong Giáo Hội VN lên tiếng phê phán những vị đó là “làm chính trị, vi phạm Giáo luật, không vâng lời bề trên” mà chỉ thấy phê phán một mình cha Lý! Đã thế, chúng con còn thấy nhiều đấng bậc xem ra đồng tình đồng thuận với những sự kiện đó (linh mục tu sĩ tham gia tổ chức và cơ quan chính quyền) qua việc tiếp tục xử dụng và cất nhắc “các chức sắc cả đạo lẫn đời” này vào những trách vụ mục tử quan trọng trong Giáo Phận và Giáo Hội! Chúng con cảm thấy như vậy là quá bất công nên mong ước Quý Đức Cha cần có thái độ công minh, dứt khoát, rõ rệt về vấn đề này. Dân Chúa đang mong chờ các Thầy dạy của đức tin, luân lý và sự thật -thông qua những vụ việc nêu trên- biện phân thấu đáo thế nào là làm chính trị và không làm chính trị; thế nào là có lập trường chính trị và có hoạt động chính trị, thế nào là chính trị công dân và chính trị đảng phái; biện phân thấu đáo giữa việc thực thi luật yêu thương của Chúa trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước và việc tuân thủ những quy luật của Giáo Hội liên quan đến vấn đề làm chính trị (đôi khi bị hiểu cách phiến diện hoặc sai lạc), cái nào quan trọng hơn. Đây là điểm giáo dục Kitô giáo mà Kitô hữu tại Việt Nam đang cần quán triệt, bởi lẽ nó liên can mật thiết đến nhân quyền, đến cuộc sống hiện tại. 4- Nói đến nhân quyền cho nạn nhân còn sống, không thể không nghĩ tới nhân quyền cho nạn nhân đã chết. Năm 2008 tới đây là thời điểm kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân (1968) , một đại tang đau đớn cho toàn thể dân tộc và là một tội ác tầy trời trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt, gần 5000 đồng bào tại Huế, đa phần là viên chức, giáo sư, linh mục, tu sĩ, sinh viên, học sinh, dân thường vô tội đã phải chịu một cái chết hết sức oan ức, khủng khiếp, rùng rợn không ai tưởng tượng nổi (như chôn sống, đâm bằng lưỡi lê, dùng cuốc xẻng đập bể sọ, thảy lựu đạn hay xả súng liên thanh vào giữa đám người bị trói…), do bàn tay những đảng viên, cán bộ, bộ đội Cộng sản. Việc tưởng nhớ, cầu nguyện, minh oan cho họ để linh hồn họ được giải thoát, gia đình họ được an ủi là căn cốt trong truyền thống của mọi tôn giáo và nhất là của Kitô giáo. Đây cũng là cơ hội để các đao phủ thảm sát đồng bào bày tỏ thành tâm thiện chí, thống hối lỗi lầm, dọn đường cho việc hòa giải dân tộc cách đích thực. Nhớ lại năm 2002, nhân kỷ niệm 30 năm biến cố Đại lộ kinh hoàng Quảng Trị (1972), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã làm lễ cầu siêu cho các nạn nhân. Chúng con thiết tưởng Công giáo chúng ta cũng nên nhân cơ hội tưởng niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân để làm nghĩa cử đối với các oan hồn uổng tử đồng bào đồng đạo. Vậy chúng con kính xin Quý Đức Cha và Hội đồng Giám mục can đảm tổ chức lễ cầu nguyện khắp nơi cho các nạn nhân vô tội, đặt ra một ngày tạm gọi là “ngày nhớ Mậu thân”. Đồng thời yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản dựng một tấm bia mới tại nghĩa trang Ba Tầng (thành phố Huế), nơi chôn cất hài cốt của hơn 300 nạn nhân, vì tấm bia cũ đã bị phá hủy ngay sau năm 1975. Đề xuất và thực hiện việc tưởng nhớ các nạn nhân Mậu Thân như vậy là một bài học tuyệt vời trong việc giáo dục tinh thần Kitô giáo, kính thưa Quý Đức Cha! 5- Sau cùng, chúng con nhớ lại lời Đức đương kim Chủ tịch Hội đồng GMVN nói trong cuộc phỏng vấn của mạng lưới thông tin VietCatholic ngày 22-04-2007: “Đối với nhà nước thì hằng năm chúng tôi vẫn có cuộc gặp gỡ hoặc có những đề nghị với nhà nước về các vấn đề tự do tôn giáo, văn hóa, đạo đức, luân lý, giáo dục giới trẻ, vấn đề công bằng sự thật. Có khi chúng tôi là đơn vị duy nhất dám nói lên điều đó với nhà nước và chúng tôi vẫn còn tiếp tục nói những điều như vậy”. Việc này là đúng đắn, cần thiết và tốt đẹp. Chúng con cũng biết thêm rằng nhà nước CSVN đã luôn yêu cầu Quý Đức Cha nói riêng với họ, không tiết lộ nội dung ra ngoài. Lý do là họ luôn muốn bưng bít mọi thông tin có thể làm phương hại đến uy danh lẫn quyền lực của đảng và luôn tự cho mình cái quyền đáp trả hay không đáp trả nguyện vọng của dân chúng. Nhưng chúng con cho rằng Quý Đức Cha nói nhân danh toàn thể Giáo hội Việt Nam, vì ích lợi của cộng đồng dân Chúa cũng như cộng đồng dân tộc, chứ không nói với tư cách cá nhân riêng lẻ. Thành thử cách lên tiếng này cần phải công khai, rộng đường dư luận, tín hữu cũng như đồng bào có quyền được biết rõ. Có như thế thì mới quang minh chính đại cho cả đôi bên và mới hy vọng hữu hiệu cho cả Giáo hội và Dân tộc. Còn nếu hàng năm Quý Đức cha cứ viết thư yêu cầu hay đề nghị nhà nước một cách chiếu lệ mà khi viết thì đã biết chắc không có mấy hy vọng hồi đáp, thì đức nhẫn nại suốt mấy thập niên như thế thực là công dã tràng! Chúng con thiết nghĩ cần có phương cách hữu hiệu hơn để Quý Đức cha và quan trọng hơn nữa là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam không bị mang tiếng là đã dửng dưng vô tình hay làm thinh đồng lõa trước muôn vạn sai lầm và tội ác có hệ thống đang diễn ra hàng ngày hàng giờ giữa thanh thiên bạch nhật trong chế độ cộng sản vô thần độc tài toàn trị hiện tại. Kính thưa Quý Đức Cha Đấy là những ưu tư tâm huyết chúng con mạo muội đệ trình lên Quý Đức Cha, trong niềm thiết tha yêu mến Giáo hội và Tổ quốc, trong sự quyết tâm sống đức tin Công giáo giữa lòng dân tộc, trong niềm mơ ước Giáo hội trở thành men trong bột, muối cho đời, ngôn sứ cho sự thật, chiến sĩ cho lẽ phải và chứng nhân của tình thương giữa lòng xã hội VN hôm nay. Nguyện xin Chúa Thánh Thần ở cùng Quý Đức Cha suốt Đại hội thường niên và suốt cuộc đời làm mục tử chăn dắt đoàn chiên của Chúa. Chúng con xin được phép phổ biến rộng rãi Thỉnh nguyện thư này sau Đại hội Thường niên của Quý Đức Cha. Làm tại quốc nội và hải ngoại ngày 29-09-2007 Lễ các Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-en, Gáp-ri-en, Ra-pha-en Chúng con đồng ký tên 1- Têphanô Chân Tín, Linh mục, Sài gòn, Việt Nam 2- Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Linh mục, Huế, Việt Nam 3- Phêrô Phan Văn Lợi, Linh mục, Bắc Ninh, Việt Nam 4- Gioan Đinh Xuân Minh, Linh mục, Mainz, Đức Quốc 5- Phêrô Nguyên Thanh, Linh mục, California, Hoa Kỳ 6- Phaolô Trần Xuân Tâm, Linh mục, Washington DC, Hoa Kỳ 7- Simon Nguyễn An Quý, Nhà văn, Seattle, Hoa Kỳ 8- Gioan Nguyễn Chính Kết, Giáo sư, Sài gòn, Việt Nam 9- Gioan Nguyễn Tri Hồng Ân, Úc châu. 10- Tôma Thiện Cao Trí Dũng, Nhà thơ, Indianapolis, Hoa Kỳ 11- Sebastianô Vũ Linh Huy, Bác sĩ, Boston, Hoa Kỳ 12- Anna Nguyễn Thị Thanh Hà, Sydney, Úc châu. 13- Giuse Trần Văn Cảo, Bác sĩ, Orange, Hoa Kỳ 14- Giuse Nguyễn Xuân Tùng, Nhà văn, Orange, Hoa Kỳ 15- Tooma Trần Việt Yên, Chuyên viên, San Jose, Hoa Kỳ 16- Micae Lê Văn Ý, Lương Tâm Công Giáo, San Jose, Hoa Kỳ 17- Maria Cao Thị Tình, Lương Tâm Công Giáo, San Jose, Hoa Kỳ 18- Phêrô Nguyễn Chính, Nhà văn, Hoa Kỳ 19- Đa Minh Hoàng Văn Thọ, Chuyên viên, Úc châu 20- Maria Ngô Thị Hiền, UB Tự do Tôn giáo cho VN, California, Hoa Kỳ 21- Vinhsơn Việt Sĩ, Chuyên viên điện toán, California, Hoa Kỳ 22- Anphong Bùi Xuân Quang, ký giả, Paris, Pháp Quốc 23- Nguyễn Minh Tuấn, Kiến trúc sư, Oslo, Na Uy 24- Đaminh Hà Tiến Nhất, Nhà văn, San Jose, Hoa Kỳ 25- Micae Lê Văn Ấn, Nhà văn, San Jose, Hoa Kỳ 26- Alex Huỳnh Viết Diệu, Lương Tâm Công giáo, San Jose, Hoa Kỳ 27- Phaolô Nguyễn Long, Chuyên viên, San Jose, Hoa Kỳ 28- Phêrô Nguyễn Quế, Lương Tâm Công Giáo, San Jose, Hoa Kỳ 29- Lôrensô Đặng Đình Hiền, Chủ Tịch Luơng Tâm Công Giáo, San Jose, Hoa Kỳ 30- Giuse Phạm Hinh, Chuyên viên, San Jose, Hoa Kỳ 31- Phêrô Nguyễn Hữu Phương, Seattle, Hoa Kỳ 32- Maria Phùng Ngọc Hiếu, Seattle, Hoa Kỳ 33- Gioan Nguyễn Hữu Hoa, Seattle, Hoa Kỳ 34- Phêrô Nguyễn Hữu Vương, Seattle, Hoa Kỳ 35- Phêrô Nguyễn Hữu Hùng, Seattle, Hoa Kỳ 36- Phêrô Nguyễn Hữu Quốc, Seattle, Hoa Kỳ 37- Phêrô Nguyễn Đức Quảng, Seattle, Hoa Kỳ 38- Maria Nguyễn Xuân Đoài, Seattle, Hoa Kỳ 39- Nguyễn Thị Tuyết Hoa, Bác sĩ, Seattle, Hoa Kỳ 40- Matta Nguyễn Ánh Loan, Seattle, Hoa Kỳ 41- Matta Nguyễn Diệp Anh, Seattle, Hoa Kỳ 42- Anna Nguyễn Thị Quyên, Seattle, Hoa Kỳ 43- Maria Nguyễn Thị Anh Đào, Seattle, Hoa Kỳ 44- Matta Nguyễn Thị Thu Vân, Seattle, Hoa Kỳ 45- Phêrô Nguyễn Đức, Bác sĩ, Seattle, Hoa Kỳ 46- Maria Nguyễn Thị Nghi, Seattle, Hoa Kỳ 47- Phêrô Nguyễn Dư, Seattle, Hoa Kỳ 48- Phêrô Nguyễn Hồng Duy, Seattle, Hoa Kỳ 49- Phêrô Nguyễn Hồng Diệp, Seattle, Hoa Kỳ 50- Phêrô Nguyễn Mẹo, Seattle, Hoa Kỳ 51- Phêrô Nguyễn Hữu Nghiêm, Seattle, Hoa Kỳ 52- Phêrô Nguyễn Hữu Ngô, Seattle, Hoa Kỳ 53- Phêrô Nguyễn Hữu Thanh, Seattle, Hoa Kỳ 54- Giuse Nguyễn Minh, Seattle, Hoa Kỳ 55- Matta Nguyễn T.Tuyết Nhung, Seattle, Hoa Kỳ 56- Đaminh Bùi Hoàng Thư, Seattle, Hoa Kỳ 57- Maria Goretti Trần Thị Vân, Santa Ana, Hoa Kỳ 58- Micae Viễn Việt, Garden Grove, Hoa Kỳ 59- Gioan Giáp Phúc Đạt, Bác sĩ, Seattle, Hoa Kỳ 60- Gioan Baotixita Vương Kỳ Sơn, Nhà văn, New Orleans, Louisiana 61- Antôn, Đỗ Như Điện, Kỹ sư, San Diego, Hoa Kỳ 62- Gioan Baotixita Phạm Hồng Lam, Cố vấn xã hội, Augsburg, Đức 63- Gioakim Lê Tinh Thông, Giáo sư, Westminster, Hoa Kỳ 64- Anê Phạm Liễu Chi, Chuyên viên, California, Hoa Kỳ 65- Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Ích, Kỹ sư, California, Hoa Kỳ 66- Giuse Mặc Giao, Nhà văn, Calgary, Canada 67- Phaolô Nguyễn Ngọc Liên, Cựu Đốc sự, Irvine, Hoa Kỳ 68- Augustinô Ngô Đức Diễm, Giáo sư, San Jose, Hoa Kỳ 69- Maria Trương Thị Mỹ Nam, Cựu giáo chức, Berala, Úc châu 70- Anrê Đỗ Anh Tài, Cựu giáo chức, California, Hoa Kỳ 71- Maria Têrêxa Lê Phạm Mai, Westminster, Hoa Kỳ 72- Gioan Nguyễn Đức Tuynh, San Jose, Hoa Kỳ 73- Phaolô Nguyễn Văn Tánh, Cán bộ nghiệp đoàn, Bruxelles, Bỉ 74- Tađêô Cao Viết Lợi, Cựu Đốc sự, Orange, Hoa Kỳ 75- Elizabeth Phạm Ngọc Mỹ Lan, Aix-en-Provence, Pháp 76- Phaolô Hoàng Đức Hậu, California, Hoa Kỳ 77- Giuse Viễn Việt, California, Hoa Kỳ 78- Catarina Ngô Túy Phương, Folsom, California, Hoa Kỳ 79- Placidous Đặng Công Thành, Folsom, California, Hoa Kỳ 80- Phêrô Nguyễn Tuân, Sacramento, California, Hoa Kỳ 81- Anna Hứa Thị Bạch Ngọc, Sacramento, California, Hoa Kỳ 82- Phêrô Huỳnh Hoa, Sacramento, Hoa Kỳ 83- Maria Võ Thanh Phong, Sacto, Hoa Kỳ 84- Mátta Vivian Huynh, Elk Grove, Hoa Kỳ 85- Huỳnh Quyên, Sacto, Hoa Kỳ 86- Maria Trần Thị Mai, Chicago, Hoa Kỳ 87- Giuse Vũ Văn Thao, Sacramento, Hoa Kỳ 88- Maria Nguyễn Thị Tú, Sacto, Hoa Kỳ 89- Giuse Vũ Văn Điền, Sacto, Hoa Kỳ 90- Maria Nguyễn Thị Phú, Sacto, Hoa Kỳ 91- Giuse Vũ Văn Long, Sacto, Hoa Kỳ 92- Giuse Vũ Văn Linh, Sacto, Hoa Kỳ 93- Giuse Vũ Văn Dũng, Sacto, Hoa Kỳ 94- Giuse Vũ Văn Thăng, Sacto, Hoa Kỳ 95- Maria Vũ Thị Hương, Sacto, Hoa Kỳ 96- Maria Vũ Thị Liễu, Sacto, Hoa Kỳ 97- Maria Vũ Thị Thúy, Sacto, Hoa Kỳ 98- Antôn Đoàn Sĩ Hảo, Folsom, Hoa Kỳ 99- Maria Nguyễn Thị Hạnh, Folsom, Hoa Kỳ 100- Đoàn Thị Hồng Hoa, Folsom, Hoa Kỳ 101- Đoàn Thị Anh Hồng, Folsom, Hoa Kỳ 102- Đoàn Thị Tuyết Hương, Folsom, Hoa Kỳ 103- Trần Văn Nhân, Folsom, Hoa Kỳ 104- Tạ Lộc, Folsom, Hoa Kỳ 105- Đoàn Thị Ánh Tuyết, Folsom, Hoa Kỳ 106- Nguyễn Quý, Folsom, Hoa Kỳ 107- Đoàn Trọng Khanh, Folsom, Hoa Kỳ 108- Têrêxa Nguyễn Trang, Folsom, Hoa Kỳ 109- Nguyễn Lương, Folsom, Hoa Kỳ 110- Đoàn Thị Liên, Folsom, Hoa Kỳ 111- Đoàn Sĩ Thanh, Folsom, Hoa Kỳ 112- Nguyễn Thanh Hùng, Milpitas, Hoa Kỳ 113- Rosa Nguyễn Thị Xuân Hương, Milpitas, Hoa Kỳ 114- Đoàn Sĩ Tâm, San Jose, Hoa Kỳ 115- Đoàn Anh Dũng, San Jose, Hoa Kỳ 116- Đoàn Hoàng Nga, San Jose, Hoa Kỳ 117- Đaminh Bùi Hoàng Thư, Seattle, Hoa Kỳ 118- Đaminh Trần Phong Vũ, Nhà văn, San Jose, Hoa Kỳ 119- Đỗ Thế Kỷ, luật sư, Na Uy 120- Hoàng Duy Hùng, luật sư, California, Hoa Kỳ 121- Mátthêu Trần, Chủ nhiệm Homebound Newsletter Network, Houston, Hoa Kỳ 122- Lorensô Nguyễn Học Tập, Luật sư, Italia. 123- Gioan Nguyễn Phúc Liên, Giáo sư, Geneva, Thụy Sĩ 124- Gioan Baotixita Đoàn Thanh Liêm, Luật sư, California, Hoa Kỳ 125- Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Cảnh, Bác sĩ, Florida, Hoa Kỳ 126- Augustinô Phạm Văn Niên, hưu trí, Seattle, Hoa Kỳ

 

Kính thưa Quý vị, Nhân cuộc họp mặt hôm nay, tôi muốn đề cập đến tình hình tranh đấu cho Nhân quyền tại Việt Nam. Sau bản Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ năm 1948, thế giới đã có các Công ước quốc tế về Nhân quyền, buộc các nước trong LHQ phải tuân theo. Thế nhưng thực tế là LHQ bất lực không có cách nào thi hành luật này, ngoài việc khuyến cáo hay gây áp lực hời hợt bề ngoài không có kết quả. Về mặt áp lực, đã có những tổ chức quốc tế ngoài chính quyền luôn luôn hô hào, vận động, nhưng kết quả cũng chẳng có bao nhiêu. Về mặt ngoại giao, nước này cũng có thể làm áp lực với nước khác để đòi hỏi tôn trọng nhân quyền, nhưng điều đáng buồn là những sức ép đó thường chỉ là thủ đoạn “mua bán đổi chác”, nghĩa là chỉ nhằm kiếm lợi riêng theo kiểu ông mất của kia bà chìa của nọ vì nhu cầu hợp tác kinh tế hay chiến lược quân sự toàn cầu. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là nhân quyền bao gồm quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và tự do dân chủ ở một nước không phải từ bên ngoài đem lại mà phải do chính dân tộc nước đó đứng lên tranh đấu mới có thể thành đạt được. Ở Việt Nam phong trào tranh đấu cho nhân quyền đã dấy lên từ lâu sau khi chế độ Cộng sản để lộ bộ mặt độc tài độc đảng, đàn áp những người khác chính kiến đòi phải có một chế độ dân chủ đa nguyên đa đảng. Trong một buổi nói chuyện ngắn ngủi, tôi không thể kể ra hết những bước tiến cũng như biết bao nỗi gian truân của các phong trào tranh đấu đó. Nhưng mới đây tình cờ tôi được đọc bức Tâm thư của Khối 8406 phổ biến nhân ngày Quốc nạn 02-09-2007. Trong Tâm thư này, Khối đã lên án nhà cầm quyền CSVN đã và đang sách nhiễu vô cớ, bắt bớ tùy tiện, xét xử phi pháp và giam cầm trái luật các nhà đối kháng dân chủ, vốn là những công dân chân thành yêu nước, và muốn đóng góp thực sự cho quê hương xã hội. Bức Tâm thư đã kể ra một số những trường hợp cụ thể của sự đàn áp khá dài bao gồm những thành phần thuộc đủ mọi tổ chức tranh đấu. Danh sách rất nhiều tôi không thể liệt kê ra đây, nhưng tôi nghĩ phần đông quý vị cử tọa có mặt ở đây đã biết đến Khối 8406 từ lâu và cũng có vị đã được đọc Tâm thư đó. Tôi chỉ muốn nêu ra ở đây một đoạn kết luận của Tâm thư vì đó cũng là lý do tại sao tôi chú ý đến Khối này: “Tiến trình dân chủ hóa đất nước qua 4 giai đoạn 8 bước, mà Khối 8406 đã công bố vào ngày 22-8-2006 thể hiện rõ tinh thần nhận thức và vận dụng các quy luật một cách khách quan và khoa học, thận trọng và nghiêm túc. Qua đó cho thấy rằng: Những nguời khởi xướng, tham gia và ủng hộ Khối 8406 không hề chủ quan, nóng vội. duy ý chí...trong những việc làm của mình”. Tôi thấy ở mấy câu trên, quan trọng nhất là tình thần kêu gọi đoàn kết đã nổi bật. Nhưng trong biết bao năm tháng tranh đấu gian khổ đã qua, các phong trào đối kháng đã đạt được kết quả như thế nào? Hãy nhìn thời sự nóng bỏng mới đây. Đó là những cuộc biểu tình ôn hòa có trật tự của hàng trăm người dân khiếu oan thưa kiện hồi tháng 7 vừa qua về những sự hà lạm bóc lột của các cán bộ đảng và nhà nước. Từ nhiều năm trước, nhà nước muốn thoa dịu mầm mống chống đối này nên đưa ra chủ trương cho dân được khiếu oan. Nhưng các cuộc biểu tình lần này mỗi ngày một lớn, rút cuộc bị Công an chụp mũ là gây bạo loạn, và dùng võ lực giải tán, bắt bớ một số người. Vấn đề dân khiếu kiện thật ra đã nổi lên từ hàng chục năm qua, lúc đầu rời rạc âm thầm ở các miền thôn quê hẻo lánh. Nhưng lâu dần đã lan rộng và dân quê đã đến biểu tình ngay ở các thành phố lớn như Hà Nội và Saigon. Và gần đây nhất phần đông chúng ta đã được đọc những tin khẩn báo từ trong nước gửi ra ngoài, trong những ngày 12. 13 và 15 tháng 9, có cả trăm dân chúng từ các tỉnh như An Giang, Long An đến tập trung trước số nhà 210 đuờng Võ Thị Sáu Saigon, tay cầm biểu ngữ tố cáo chính quyền địa phương cướp đoạt đất đai không bồi thường thỏa đáng. Riêng tại tỉnh Tiền Giang xẩy ra một vụ đánh đập rất nghiêm trọng vào ngày 15-9 tại quán nước của ông Nguyễn Văn Trinh, ấp Tân Phú, xã Phú Thuận, huyện Gò Công Tây, xuất hiện khoảng 20-30 thanh niên và phụ nữ với bộ mặt dữ dằn như băng nhóm xã hội đen đã xông vào nhà ông Ba Trinh vô cớ đánh đập vợ ông bị thương nặng khiến lối xóm phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Cô con gái ông Ba Trinh cũng bị đánh đập tàn nhẫn. Bọn chúng vừa đánh vừa la hét: “Chúng ta đánh cả nhà bay cho hết đấu tranh biểu tình, thưa kiện nghe chưa!” Bản tin còn cho biết ông Ba Trinh chính là người đàn ông nông dân đã tham gia cuộc biểu tình, gọi loa tích cực cùng các bà con tỉnh Tiền Giang đấu tranh suốt 27 ngày đêm tại Saigon hồi tháng 7. Ông là người đội mũ trắng đứng gần vị Sư Phật giáo là Thượng Tọa Thích Không Tánh sáng ngày 17-7, khi phái đoàn Phật giáo làm việc thiện đem đồ tiếp tế đến cho đám người biểu tình khiếu oan. Những tin sơ khởi như vậy làm chúng tôi cảm thấy một ý nghĩa đặc biệt: dân chúng Việt Nam ngày nay, nhất là dân nghèo bị áp bức ở thôn quê không còn sợ Công An, họ đã bất chấp bạo lực đàn áp để nói lên tiếng nói bất khuất của họ. Họ đã có nhiều kiến thức hơn trước nhờ sự phổ biến của kỹ thuật truyền thông hiện đại. Tình thế đó có nghĩa là những cuộc biểu tình kêu oan, tố cáo nạn hà lạm của chính quyền đia phương có thể còn lan rộng trong thời gian tới. Có vẻ như đã ước lượng trước tình thế gay cấn này, báo chí đảng và nhà nước CSVN đã được lệnh đánh phủ đầu, ngày 25-8 vu cáo Thượng Tọa Thích Không Tánh và các vị sư khác “cấu kết với các thế lực thù nghịch và bọn phản động lưu vong ở nước ngoài lợi dụng tôn giáo và một số phần tử cơ hội chủ nghĩa trong nước đã âm mưu dụ dỗ mua chuộc những người khiếu kiện, kích động họ tham gia biểu tình”. Trước những số người vài chục hay trăm, tay không biểu tình khiếu oan, xuất phát từ những địa phương nhỏ bé, tại sao chế độ CS phải dùng đao to búa lớn của ngành truyền thông toàn quốc để chụp mũ đánh phá? Các chiến lược gia từ cổ chí kim đã có câu nói: Hễ kẻ thù phản ứng mạnh nhất ở nơi đâu, đó là vì chúng bị đòn đau nhất ở nơi đó. Nhưng các màn đánh bằng báo chí của Cộng sản chỉ là mặt nổi bề ngoài để hăm dọa, về mặt chìm sự đánh phá mới thật nguy hiểm, cần phải nhìn cho rõ. Từ bao lâu nay chế độ CSVN đã bắt giam và đem ra xét xử những người tranh đấu cho tự do dân chủ ở Việt Nam buộc cho họ đủ tội như gây bạo loạn, âm mưu lật đổ chế độ, mặc dù những người đó không chủ trương gây bạo lực, không hề có võ khí trong tay. Thế giới bên ngoài vẫn thường gọi đó là những tù nhân lương tâm, vì lương tri mà nói lên tiếng nói phê phán việc làm sai trái của CS. Cho đến nay vẫn còn gần 100 tù nhân lương tâm bị giam trong tù hay giam lỏng tại gia. Nhưng CS sợ nhất là đức tin tôn giáo, đây cũng là chỗ yếu nhất của họ. Từ hơn một thế kỷ trước đây khi chủ nghĩa Mác-Xít bắt đầu xuất hiện trên Trái Đất này, CS đã coi tôn giáo là khắc tinh nên đã bao lần ra tay đàn áp, trừng trị để tiêu diệt các tôn giáo đã có từ hàng ngàn năm trước trong lịch sử loài người, nhưng rút cuộc CS vẫn thất bại. Chủ nghĩa Mác-Lê chết, tôn giáo vẫn còn. Giữa lúc tình hình thế giới rối ren như ngày nay, tôn giáo đã mạnh hơn bao giờ hết trong lương tri con người. Bởi vậy trước nguy cơ của các làn sóng biểu tình dân oan và trước sự soi bói của công luận thế giới, chế độ CSVN tìm cách đánh phá tôn giáo qua mặt chìm, nghĩa là âm thầm tìm cách chia rẽ các tôn giáo. Nguy hiểm nhất, họ dùng các đòn đánh ngầm rất tinh vi để gây rạn nứt, phân tán ngay trong nội bộ của mỗi tôn giáo. Chính vì thế điều kiện tất yếu hàng đầu để bảo vệ các tôn giáo chống những âm mưu hiểm ác của CS là cần phải có tinh thần đoàn kết của các tập thể, các cộng đồng tranh đấu cho tự do dân chủ, tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam. Từ ngữ đoàn kết có ý nghĩa rộng lớn, suy diễn tùy theo thời thế. Thời nay với kiến thức mở rộng và sự thức tỉnh của lương tri nhân loại, đoàn kết không có nghĩa là tập hợp sức mạnh dưới một sự lãnh dạo duy nhất, mà chỉ là sự hợp tác của nhiều tập thể khác nhau về nguồn gốc hay lãnh đạo, cùng theo đuổi một chí hướng lấy lương tri và tình người làm kim chỉ nam. Các tôn giáo không thể hòa nhập với nhau nhưng vẫn có thể nương tựa lẫn nhau để tìm cách tự vệ và phát triển. Tôi đã từng nói và viết khoa học và tôn giáo là hai con đường khác nhau của tư duy nhân loại, bề ngoài tuy trái nghịch nhưng vẫn có thể cộng năng, nghĩa là cộng tác sức mạnh để giúp lẫn nhau cùng tiến. Chính trong ý niệm đó, tôi nhấn mạnh đến sự hợp tác giữa các tôn giáo để giúp nhau tự bảo vệ trước những đòn đánh phá của Cộng sản. Tôi hoàn toàn ủng hộ những tập thể nào chủ trương một sự hợp tác hay liên minh như vậy. Tôi hài lòng nhận thấy tổ chức Lương Tâm Công Giáo mà chúng ta dự lễ kỷ niệm hôm nay đã đi theo con đường đó. Tôi không phải là người theo đạo Chúa, nhưng tôi kính trọng Thiên chúa giáo, cũng như kính trọng mọi đức tin tôn giáo khác. Các tôn giáo lớn đã tồn tại qua hàng ngàn năm trên thế giới, đó là vì tôn giáo nào cũng rao giảng tình thương, lòng bác ái, đức từ bi hỉ xả và tính thiện lương. Nếu không có đức tin tôn giáo, loài người đã chém giết lẫn nhau và tự tiêu diệt từ lâu rồi. Từ thời tiền sử, cuộc sống của con người đã gặp quá nhiều hoạn nạn, thiên tai, chiến tranh và không ít những bệnh nan y do sự tiến bộ của một nền văn minh quá thiên về vật chất gây ra. Thiên Chúa đã sáng tạo ra loài người, tại sao Người không cho con người được sống an nhàn và hạnh phúc mà bắt chúng ta phải chịu biết bao tai ương thống khổ như vậy? Từ nhiều năm trước tôi đã viết đó là những thử thách Thượng Đế đặt ra để xem con người có xứng đáng được tồn tại trên cõi thế này hay không. Tôi đã trả lời như vậy không phải qua kinh điển nào mà do sự suy luận riêng tư của cá nhân tôi. Bởi vậy lòng riêng tôi vẫn băn khoăn không biết nói như vậy có phạm tội báng bổ đến Đức Tối cao hay không? Tình cờ làm sao vừa đúng 10 ngày trước đây (ngày 20-9-07) xem tin tức trên Internet, tôi chợt nhìn thấy tựa đề một bản tin của AP, có hàng chữ như sau: “Chúa bị thưa kiện trước Tòa...”, tôi hiểu ngay đó là loại tin tếu, bịa ra để chọc cười hay chế diễu thiên hạ, nên định lật qua trang, nhưng thoáng thấy hàng chữ kế tiếp “và Chúa đã trả lời vụ kiện”. Chữ Chúa ở đây là chữ Anh “God” có hai ngoặc kép. Tôi tò mò ngừng tay để dọc kỹ bản tin. Thì ra đây là tin thật! Người công khai nói đi kiện Chúa là ông Ernie Chambers, Thượng nghị sĩ Nghị viện ở Omaha, ông đã chính thức nói như vậy vì ông cho rằng Chúa đã để cho bọn khủng bố lộng hành gây chết chóc và tàn phá trên thế giới. Ông vốn là người theo chủ trương vô thần, nhưng đã chữa lại rằng ông nói thế không phải để đả phá tôn giáo mà thật ra vì những mối kiện tụng bình thường hàng ngày, ông muốn minh chứng ai cũng có quyền thưa kiện ai. Nhưng kỳ diệu nhất là “Chúa” đã trả lời, một người tự xưng là Friend đã sao chép lại nguyên văn lời của “Chúa” như sau: “Ta đã tạo ra loài người với khả năng tự quyết định (free will) và kế đó ta đã hứa ban cho cuộc sống vĩnh cửu. Quyền tự quyết là quà tặng lớn nhất ta đã ban cho loài người các con”. Chỉ một câu đó đã làm đầu óc tôi bừng sáng. Tôi không cần biết người nghe là ai, chứng nhân là người nào, tôi cũng không biết Kinh điển có lời lẽ ra sao, tôi chỉ thấy ở đây Chúa trên Trời đã ban cho loài người một quyền quý giá nhất là quyền được tự do lựa chọn. Những người tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam thường hay nói đến dân chủ đa nguyên, tôi nghĩ đến kiến thức đa nguyên, và giờ đây cũng nên nói đến tôn giáo đa nguyên. Sức mạnh vô địch của đức tin tôn giáo là ở chỗ này. Bởi vì một trong những quyền hàng đầu của dân chủ là gì nếu không phải là quyền tự quyết tức là quyền được tự do lựa chọn. Nhưng ngộ lỡ con người chọn lầm thì sao? Đây mới là chỗ vi diệu nhất của ý Trời. Muốn tránh khỏi sự lựa chọn nhầm lẫn, con người phải luôn luôn mở rộng kiến thức qua sự học hỏi để tiến lên chớ không ù lì dậm chân đứng nguyên một chỗ trong mù quáng dễ bị kẻ ác lợi dụng. Nhưng có nhiều kiến thức cũng chưa đủ, con người còn cần phải phải mở rộng lương tri để phân biệt thiện ác. Lương tri bắt nguồn từ đức tin tôn giáo. Nếu có kiến thức mà không có tôn giáo cũng hỏng. Ngược lại nếu chỉ có tôn giáo mà không có kiến thức cũng không xong. Đây chính là một thử thách sống còn Thượng Đế đã ban cho loài người chúng ta. Nếu không vượt qua khỏi thử thách này, con người sẽ bị đào thải. Trong quá khứ con nguời đã vuợt qua nhiều thử thách để tồn tại đến ngày nay. Vậy tương lai thì sao? Sự thật tôi thích nhìn đến tương lại hơn nhìn đến quá khứ. Nhưng nếu không biết những kinh nghiệm của quá khứ làm sao định rõ được tương lai. Tôi tin rằng loài người sẽ có đủ bản năng vượt qua mọi thử thách trong tương lai để tiến đến mảnh đất của một ngày mai an lành, hạnh phúc, một cuộc sống hoan lạc, đầy tình người vĩnh cửu và bất diệt. Nói loài người là nói chung cho cả thế giới, cũng như nói đến mỗi dân tộc đang sống trên Địa Cầu, trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta đang chịu bao thử thách đau thương. Tôi tin dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai an lành và hạnh phúc, thiện sẽ thắng ác. Nhưng tương lai đó là bao giờ, sớm hay muộn, hay một tương lai xa mãi vô cùng tận? Sự thật, xa hay gần cũng do chúng ta tự lựa chọn, Chúa không quyết định cho chúng ta. Người dân Việt trong nước, các tập thể và các cá nhân đấu tranh cho nhân quyền đang nhìn về phía chúng ta ngóng chờ. Họ chờ cái gì? Chờ chúng ta biết ngồi lại với nhau trong bối cảnh đa nguyên đa dạng phúc tạp ở nước ngoài để đạt được một sự đoàn kết trong đồng thuận để cho họ được nhờ. Hôm nay trong khung cảnh của lễ Kỷ niệm Đệ Lục Chu Niên thành lập Lương Tâm Công Giáo, tôi muốn nhìn đến một tương lai rất gần nội trong năm nay. Chỉ còn non 3 tháng nữa chúng ta sẽ đến ngày lễ Giáng Sinh. Giáng Sinh là mùa của tình thương, mùa của hy vọng, và từ nhiều năm qua tôi đã nghe các bản nhạc hoan ca mừng ngày Chúa sinh ra đời. Năm nay không hiểu tại sao tôi chợt nhớ đến một bản nhạc tôi đã nghe từ nhiều năm trước cũng trong dịp lễ này. Điệu nhạc thật hay, lời ca thật thấm thía, tôi đã quên tên bài ca, nhưng tôi nhớ mãi hai chữ “tomorrow land” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vào đoạn cuối của bản nhạc, ý nói đến niềm hy vọng được tới miền đất ngày mai mà Chúa đã hứa hẹn cho loài người. Giờ đây trước quý vị, tôi muốn đổi hai chữ đó thành “tomorrow Viet Nam”. Việt Nam Ngày Mai. Việt Nam Ngày Mai cũng là lời kết của bài nói chuyện của tôi hôm nay. Cám ơn quý vị đã lắng nghe.