Untitled Document
User:
Pass:

Quan Điểm >>  Quan Điểm

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

TRI - HÀNH - HIỆP - NHẤT Cha ông ta thường dạy, và ngay từ ngày mới cắp sách đến trường buổi đầu tiên, thày cô cũng đã căn dặn: “Có Học phải có Hành ”. Điều này thật hiển nhiên và hữu lý. Học bụng đầy chữ, bằng cấp đầy người, nhưng không đem sở trường ra để hoàn hảo bản thân và giúp đời giúp nước, cải tạo xã hội, cộng đoàn hoặc giáo hội của mình thì cái học đó cũng trở thành vô dụng. Nhưng thực hành ra sao và thế nào thì tùy thuộc địa vị của mỗi người. Người dân thường có hoàn cảnh của người dân thường; người trí thức có hoàn cảnh của người trí thức; người tín hữu có trách nhiệm của người tín hữu. Không ai có thể biết hết mọi sự của mọi người trong mỗi giai tầng khác nhau. Do đó mọi người cần phải phối hợp hỗ tương bổ túc cho nhau. Đảng CSVN rất rành tâm lý. Nghề của họ là bịp bợm với mục đích thống trị con người cả hồn lẫn xác nên đã có những kế hoạch tuyên truyền rất tinh vi, đặc thù cho mỗi giai tầng xã hội. Với giới bình dân, chúng đưa ra những câu chuyện rất đơn giản, hợp với tầm hiểu biết nên người dân rất dễ bị mê hoặc và nghe theo. Như câu chuyện xe tăng địch bằng rơm / rạ. Hoặc khi máy bay địch tới, bộ đội ta bắn bông gòn đầy trời làm nghẹt ống khói và kẹt cánh quạt là máy bay địch phải rơi. Hay phi công ta lái máy bay lên trời rồi nấp sau đám mây, tắt máy đợi máy bay địch tới là nhào ra bắn....Ấy vậy mà có rất nhiều dân quê nghe tin một cách tuyệt đối và kể lại một cách hồn nhiên. Trái lại, đối với lớp người trí thức, CS rất khôn khéo ngon ngọt tỏ ra hợp lý và hiểu biết hơn. Điều gì ta nói, đòi hỏi họ đều cho là đúng là hay cả, không bao giờ tỏ vẻ phản đối khiến ta tin tưởng hoàn toàn vào đảng lãnh đạo. Nhưng khi nhận ra sự thật thì “cá đã cắn câu”. Đảng CSVN diễn kịch với 3 loại bịp khác nhau: bịp cho người bình dân quê mùa ít học, bịp dành cho lớp trung bình nơi thị thành và bịp cho loại trí thức. Ngày nay lớp màn sắt đã sụp, mọi sự thật đã phơi bày ra ánh sáng, chẳng ai còn tin vào những lời CS nói nữa. Nhưng chúng không chịu thua. Chúng lại có nhiều quỉ kế khác, nhất là về mặt đàn áp tôn giáo. Mục đích của chúng là làm tê liệt hoàn toàn khả năng đối kháng của cả giáo sĩ lẫn giáo dân bằng cả hai chiêu thức cương và nhu với những ảo thuật có tác dụng ru ngủ làm mất khả năng nhận thức chính xác của con người để phá vỡ phương trình TRI – HÀNH của ta mà ta không hay biết. Nhưng CSVN không thể triệt tiêu khả năng ấy của tất cả mọi người. Có nhiều người vẫn nhận biết sự việc nhưng không hoặc chưa hành động đấy thôi. Người công giáo chúng ta có một lương tâm ngay thẳng, một niềm tin phó thác không thể lay chuyển, nhưng hình như lại đang ngủ yên trước sự đàn áp tôn giáo của Cộng Sản Việt Nam. Nếu ta cứ tiếp tục ngủ yên là ta đã thua sự ác ( Mt.7, 26-27) hoặc đi ngược với lương tri và đồng lõa với tội ác ( Ez:33-7,8 ). Trong các xứ đạo chúng ta có biết bao nhiêu là hội đoàn, mục đích là để sống đạo và truyền đạo. Dĩ nhiên ai cũng hiểu sống đạo không phải chỉ là đọc kinh đi nhà thờ xem lễ...Truyền đạo không phải cứ nói cho người ta rằng Chúa Giêsu chịu chết dang tay trên thập giá, hoặc chỉ giảng thuyết trên tòa giảng, trong nhà thờ mà phải mang Đạo vào Đời, sống với Tin Mừng Chúa, gắn bó sinh tử với Đức Tin của mình. Đi đường gặp người hoạn nạn ta ra tay cứu giúp (Mt.25, 35-40), thấy bạn bè, người đồng hương, những người anh em huynh đệ bị ức hiếp, trà đạp nhân phẩm nhân quyền, bác ái và công bằng bị xâm phạm ta lên tiếng can thiệp là ta đã thi hành sứ mạng môn đệ Chúa Kito (Mt.7, 21-27). Chúng ta ăn ngay ở lành, thi hành bác ái và công bằng một cách chân tình cương quyết là chúng ta đã Sống Đạo và Truyền Đạo. Người ngoài có thể nhìn thấy Chúa ở trong chúng ta (Mt.5,13 16 / Cr.10,31). Xã hội tội lỗi, tha hóa. Đảng phái hận thù ghen ghét nhau. Chính trị gian ác. Tất cả đều đã đi trái với Tin Mừng của Chúa. Chúng ta là người Công Giáo, đặc biệt các đoàn thể công giáo, có bổn phận phải cải hóa (Mt.5,13-16). Chúng ta có biết bao nhiêu là đoàn thể hoạt động rước sách sinh hoạt nội bộ rất ồn ào náo nhiệt, nhưng hình như chưa có một đoàn thể nào chuyên trách tích cực mang Tình Thương Bác Ái, Công Lý & Hòa Bình lan rộng ra ngoài xã hội vào môi trường chính trị (2) để làm đẹp xã hội làm đẹp con người. Vatican có cả một bộ Công Lý & Hòa Bình, tại sao các xứ đạo lại không có lấy một đoàn thể chuyên biệt tương tự ? Ta không thích làm chính trị vì chính trị là bá đạo và dơ bẩn, nhưng không thể để mặc cho chính trị ngày càng sa lầy lún sâu vào tội ác. Trách nhiệm đối với Tin Mừng / Đức Tin và lương tâm buộc chúng ta phải dấn thân. Để yên 99 con chiên lành trên núi mà đi tìm một con chiên lạc (Mt.18, 12-14). Đem Đạo vào Đời. BIẾT thì phải LÀM. Có HỌC phải có HÀNH. TRI – HÀNH - HIỆP - NHẤT. Mỗi xứ đạo nên có một đoàn thể chuyên biệt để mang Tin Mừng cải hóa môi trường chính trị bá đạo thành vương đạo. Florida, tháng 9, Thuyết TRI-HÀNH-HIỆP-NHẤT của Vương dương Minh (Triết gia Trung Hoa cận đại) đòi hỏi con người phải thực hành cái mệnh lệnh của lương tri mình. “....Tri nhi bất hành, chỉ thị vi tri” (Biết mà không làm là chưa biết) (2) CHÍNH TRỊ nói ở đây là loại chính trị bá đạo kiểu Cộng Sản.

 

KỶ NIỆM MỘT NĂM BIẾN CỐ ĐAU THƯƠNG KHỦNG BỐ “NÓNG” 9/11 TẠI HOA KỲ, SUY NGHĨ VỀ SỰ KHỦNG BỐ ‘LẠNH’ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRÊN DÂN TỘC VIỆT NAM. Dân chúng Hoa Kỳ, cách riêng dân chúng New York, đang bồi hồi tưởng niệm biến cố đau thương đã xảy ra vừa tròn một năm. Đúng 8 giờ 46 ngày 11 tháng 9 năm 2001, bọn không tặc đã cướp một chiếc Boeing 747 với hàng trăm hành khách trên đó. Bọn chúng đã cảm tử lái chiếc máy bay khổng lồ lao vào tầng thứ 73 của tháp phía Bắc của toà nhà tháp đôi World Trade Center (WTC) giữa thành phố New York, phút chốc khỏi lửa bừng lên khi hàng trăm ngàn gallon nhiên liệu của chiếc máy bay bị cháy nổ bùng. Khoảng 30 phút sau một chiếc máy bay khác cũng bị không tặc lao vào toà tháp còn lại, thế là cả hai tòa tháp cháy bùng lên trong mù mịt khói lửa và bụi tro. Trên màn ảnh nhỏ người ta chiếu đi chiếu lại cảnh hai chiếc máy bay lao vào toà tháp, rồi cảnh đòan người lũ lượt hoảng hốt túa chạy trong khói và bụi, cảnh toà tháp đôi đổ sụm xuống, người xem có cảm tường như cảnh dàn dựng trong phim ảnh, nhưng đáng buồn thay đó lại là sự thực. Tấn thảm kịch không chỉ dừng lại ở đó, tại Ngũ Giác Đài (Pentagon) của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, một chiếc máy bay khác nữa cũng bị không tặc lao vào góc phía Đông của toà nhà đồ sộ này, nơi thường có khoảng 23.000 người đến làm việc hàng ngày. Lần đầu tiên cảnh tượng chiến tranh, chết chóc, tàn phá xảy ra ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ, ở một thành phố tiêu biểu cho siêu cường Hiệp Chủng Quốc. Kết qủa tại New York, cuộc khủng bố “nóng” đã gây ra cái chết cho 2801 thường dân Hoa Kỳ, 343 người lính Cứu Hỏa và 23 cảnh sát viên của thành phố New York đã can đảm cứu thường dân mắc kẹt trong toà tháp và đã hy sinh vì nhiệm vụ. Trong đó ta không thể quên được cha Mychal F. Judge, vị linh mục Tuyên úy của đội cứu hỏa thành phố New York. Khi hay tin có khủng bố, và với nhiệm vụ tông đồ của mình, cha đã theo chân những người lính cứu hỏa xông vào hành lang của Tháp thứ nhất để hòng cứu rỗi các linh hồn của những nạn nhân đang hấp hối. Cuối cùng chính ngài lại là nạn nhân đầu tiên được mang ra ngoài... Toà tháp đôi trị giá hàng nửa tỉ đô la phút chốc đổ sụm. Riêng tại Ngũ Giác đài có 184 người chết và 380 bộ (feet) của tòa nhà bị phá hủy. Thêm vào đó là 45 người có mặt trên chuyến bay 93 trên đường từ Newark, N.J, đến San Francisco, CA, đã đâm đầu xuống gần một khu rừng tại Pittsburg, bang Pensylvania. “LET’S ROLL” (NÀO RA TAY). Đó là những lời cuối của hai hành khách Mark Bingham và Todd Beamer khi đã quyết định phải tấn công chống lại bọn khủng bố không tặc 4 người. Người ta tin rằng hai người này đã tông vào phòng lái, vật lộn với không tặc để chiếc phi cơ không thể bay đến mục tiêu là tòa Bạch Ốc (White House) hay tòa nhà Quốc Hội (Capitol). Ai cũng cho rằng đó là hành động hợp lý, đúng lúc, rất nhiệt tình yêu nước và anh hùng. Họ đã quên thân mình để cứu được bao nhiêu mạng người khác trên mặt đất, tại một trong hai tòa nhà nói trên. Phản ứng của dân chúng Hoa Kỳ hết sức tức giận vì hành vi tàn bạo dã man của những kẻ chủ trương, do đó chỉ hai tháng sau, mạng lưới Al-Qaida của Osama Bin Laden và đồng minh chứa chấp là Taliban của Afghanistan đã bị sức mạnh cuả không lực Hoa Kỳ xoá bỏ. Mạng lưới khủng bố bị truy tầm và tận diệt khắp nơi. Cả thế giới lên án khủng bố và hợp tác với Mỹ để tiêu diệt khủng bố “nóng” do các phần tử Hồi giáo quá khích chủ trương. Kỷ niệm một năm ngày tang tóc, Hoa kỳ và thế giới hướng về New York để tưởng niệm các nạn nhân vô tội để nhắc nhở và cảnh giác với hiểm họa khủng bố “ nóng” dù đã bị đập tan nhưng chưa hẳn đã chấm dứt. Trùm khủng bố Osama Bin Laden vẫn còn là một ẩn số bí mật mà Hoa Kỳ và thế giới đang ngày đêm cố công tìm cho được “ dù sống hay chết” như lời khẳng quyết của Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush. Nước Mỹ với hơn 200 năm lập quốc, đây là lần đầu tiên có một kẻ thù từ bên ngoài dám tìm đến ngay tại nơi trọng yếu để thực hiện ý đồ khủng bố tàn bạo, một cuộc sát nhân tập thể, thật dã man. Nó đã dấy lên một cao trào yêu nước trong mỗi người dân Hoa Kỳ và sự đồng lòng rằng kẻ ác phải bị trừng trị. Cộng đồng người Việt Tỵ nạn Cộng sản định cư tại Hoa Kỳ cùng chia xẻ niềm đau thương mất mát với dân chúng Hiệp Chủng Quốc. Kỹ sư Nguyễn ngọc Khang người Mỹ gốc Việt cũng đã thiệt mạng khi đang làm việc với tư cách nhân viên dân sự thuộc Bộ Quốc Phòng HK. Trong niềm chia xẻ nỗi bất hạnh với dân tộc Hoa Kỳ, người Việt chúng ta bùi ngùi nhìn về quê nhà nơi dân chúng Việt Nam đang lầm than cơ cực trong gọng kềm “khủng bố trắng” của đảng Cộng sản Việt nam, một hạng người vong bản tôn thờ chủ nghĩa ngoại lai. Lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ và thế giới đang bận tâm với bọn khủng bố Al- Qaida nên chúng đã gia tăng đàn áp, khủng bố trắng trợn và tàn bạo thêm đối với những ai đòi tự do và nhân quyền. Thật thế, với bản chất khát máu dã man, Công sản Việt Nam càng siết chặt thêm gọng kềm khủng bố “lạnh” trên các vị lãnh đaọ tinh thần các tôn giáo. Thấy thế giới phản ứng không đủ quyết liệt khi chúng giam lỏng Hoà Thượng Thích Quảng Độ chúng bèn đem Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý ra trước một phiên toà quái đản, kết án người 15 năm tù giam và 5 năm quản chế. Cộng sản còn đi xa hơn qua hành động cướp đất đoạt tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam như vụ nhà thờ Chính toà Hà Nội, nhà thờ Thái Hà Hà Nội, nhà thờ Loan Lý, nhà thờ Bàu Gốc, Dòng Thiên An, Thánh địa La Vang, Thánh địa Trà Kiệu, đàn áp các giáo dân nhỏ bé khốn khổ đáng thương ở An Truyền và Nguyệt Biều để trả thù vì họ đã dám đứng lên ủng hộ Cha Lý đòi Tự do Tôn giáo và đòi lại miếng đất của nhà thờ Nguyệt Biều đã bị chúng cướp trắng. Điều đáng buồn là dù bị đàn áp dã man như thế, trắng trợn như thế, con cái bị trù dập khủng bố như thế, tài sản bị cướp bóc như thế, nhưng HĐGMVN vẫn chọn lấy thái độ im lặng, dù các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô Đệ nhị khuyến khích hãy can đảm “ra khơi”. Không biết các ngài có khi nào chạnh nhớ đến những đàn chiên đang bơ vơ giữa giông tố bách hại không, có khi nào các ngài nhớ đến người tù lương tâm Nguyễn Văn Lý đang cô đơn trong bốn bức tường nhà tù lạnh lẽo nơi xứ Bắc xa xôi không? Hay các ngài thấy cộng sản cho các ngài được dự các buổi lễ lạy đông đảo hào nhoáng bên ngoài, được thong dong đi ra nước ngoài gặp gỡ con chiên lưu lạc, để quyên góp về mua xe đời mới sang trọng, quyên góp xây nhà thờ đồ sộ, vô tình hay hữu ý làm bằng chứng cho CS tuyên truyền rằng đã có tự do tôn giáo ở Việt Nam rồi. Các vị quên đi những tài sản CS đã cướp đoạt, đang cướp đoạt thêm và lăm le cướp đoạt nốt, để quên đi những thủ đoạn CS hèn hạ cho xây nhà thờ đồ xộ rồi kiếm cớ vận động thuyên chuyển cha xứ này đi, đưa cha khác mà chúng ưa thích về chiếm ngụ, quên đi những bác bỏ thẳng thừng của cộng sản mỗi khi các ngài cầu xin chúng để được đi đến các giáo xứ hẻo lánh để làm mục vụ. “Trước những tấn công tàn bạo của nhóm võ trang Hồi giáo, Đức Tổng Giám Mục Henri Tessier của giáo phận Algers, kêu gọi dân chúng hãy đứng dậy đối kháng Bạo lực”. Đó là những dòng đầu tiên trong bản tin mà Vietcatholic News (ngày 24/8/2002) đã loan dưới tựa đề: Tại Algeria, Giáo Hội kêu gọi dân chúng hãy đối kháng Bạo lực. Ngày 21 tháng 5 năm 1996, 7 đan sĩ Công giáo bị giết chết ở Tibhirine và tiếp theo vào ngày 1 tháng 8 thì Đức Giám mục Claverie bị ám sát. Chịu đựng hết nổi, Đức TGM phải kêu gọi giáo dân đối kháng với người Hồi giáo quá khích. Con giun xéo mãi cũng oằn. Còn Việt Nam ta thì sao? Thái độ im lặng trong hoàn cảnh như hiện nay, dù biện bạch cách nào thì cũng chỉ thể hiện một thái độ khiếp nhược, một thái độ đồng loã với sự ác. Hình ảnh HĐGMVN hiện nay chẳng khác nào có một bọn cướp xông vào nhà phú hộ kia, trói con cháu thanh niên trai tráng trong nhà, rồi ra tay cướp bóc từ đồ tế nhuyễn đến của riêng tây, cụ già phú hộ vì già yếu được chúng để ngồi trên ghế không cần trói tay hay bịt mắt. Cụ phú hộ cho đó là đặc ân và cám ơn rối rít vì cho là bọn cướp còn nhân đạo chán! Thế rồi có một vài thanh niên con cháu cụ thì thầm muốn xông ra đối địch với quân cướp để lấy lại tài sản thì bị cụ giả lơ không nghe, không thấy và đôi khi còn mắng át con cháu rằng đừng làm gì để rồi chúng lấy chán thì chúng sẽ trả lại, chống cự chúng lỡ chúng giết cả ta thì sao?!! Đó, cái nhân đạo có điều kiện của cộng sản là như thế đó, sự khủng bố lạnh của cộng sản đã từ lâu tiến hành khiến nhiều đấng bậc đang trong vòng dây oan nghiệt mà cứ tưởng được thong dong không vướng bận, không trở ngại nào, các vị cứ im lặng thì bản thân được thong dong nhưng cuối cùng tài sản của cụ còn gì? Con cháu sau này sinh sống ra sao? Có lẽ đó không phải là trách nhiệm của cụ, của bậc chủ gia đình hay sao? Trong bối cảnh thế giới chống khủng bố “nóng” như hiện nay, thật khó cho chúng ta lên tiếng đánh động chú ý của thế giới đối với sự khủng bố “lạnh” của CSVN, nhưng khó cách mấy chúng ta vẫn phải làm, chúng ta phải làm bằng hết cả tâm huyết, bằng hết cả trí óc và bằng lương tâm công giáo của mình, chúng ta cứ làm và dâng lên Thiên Chúa với tất cả tấm lòng, chắc chắn Ngài sẽ không nỡ chối từ, màsẽ can thiệp như khi xưa Ngài đã ban cho dân Israel một vị cứu tinh là Mai-sen, để đưa dân tộc Do thái thoát khỏi Ai Cập, vượt qua eo biển và đến được đất hứa. Bao giờ ta mới có được một cha “Mychal F. Judge” của Việt Nam, dám xông vào lửa đỏ chỉ để cứu người, mà không màng đến thân mình. Một Todd Beamer hay Mark Bingham, quên đi mạng sống của mình, vật lộn với Cộng sản vô thần để không cho chúng thực hiện được ý đồ tiêu diệt Tôn giáo, nhất là Giáo hội Công giáo VN. Biết tìm đâu cho được một Tổng Giám Mục Tessier cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, là người dám hô hào giáo dân đòi lại Tự do Tôn giáo và Nhân quyền đích thực cho Việt Nam. Viết cho LTCG nhân ngày kỷ niệm biến cố 9-11.

 

Tín Ngưỡng Có Vai Trò Trong Sinh Hoạt Xã Hội * Văn Hiền dịch Vào tháng trước, Tòa Bạch Ốc vừa bổ nhiệm Tổng Giám Mục Chaput, thuộc giáo phận Denver, làm Chủ Tịch Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới với nhiệm kỳ 1 năm. Hôm nay, tại Denver, Đức Tổng Giám Mục chia sẻ một số quan tâm chính của Ngài. Hỏi : Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới có vai trò gì và tác động thế nào đến thế giới ? Tổng Giám Mục Chaput (TGM) : Chiếu theo đạo luật về Tự Do Tôn giáo Thế Giới, ban hành năm 1998, Ủy ban sẽ cố vấn cho bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về những vấn đề liên hệ đến Tự do Tôn giáo, nhưng Ủy ban cũng có tiếng nói độc lập của mình. Như thế thì Ủy ban có hai lãnh vực trách nhiệm. Một mặt, Ủy ban giúp đỡ bộ Ngoại giao đề cao vấn đề Tự do Tôn giáo trong chính sách ngoại giao của chính phủ Hoa Kỳ. Mặt khác, Ủy ban, với tư cách độc lập, tự điều tra các vi phạm quyền Tự do Tôn giáo trên thế giới và tìm cách đánh động công luận về những chính phủ đang vi phạm quyền tự do nầy. Ủy ban tổ chức những buổi điều trần và ấn hành bản báo cáo hàng năm bao gồm những Quốc Gia Phải Quan Tâm Đặc Biệt. Không nước nào muốn bị ghi tên vào danh sách này cả. Ủy ban cũng soạn thảo những báo cáo riêng về những khó khăn cản trở tự do tôn giáo tại những nơi như Sudan hay Việt Nam. Với tầm mức ảnh hưởng của Ủy Ban lên Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội, và Bộ Ngoại Giao, Ủy Ban có thể tạo nhiều tác động rất đáng kể. Hỏi : Ngài có nghĩ rằng các quốc gia trên thế giới hiểu rõ quan niệm Tự do Tôn giáo không? TGM : Không. Sự bảo đảm quyền Tự do Tôn giáo được tuyên xưng tuyệt vời trong điều 18 của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền, nhưng nhiều quốc gia không đếm xỉa tới, hay diễn dịch một cách rất méo mó. Có hai hình thức trù dập Tự do Tôn giáo : Những chính phủ thế-quyền như tại Bắc Hàn, coi niềm tin tôn giáo như là một sự cạnh tranh về ý thức hệ, một quan niệm đối chọi về con người; hay những chế độ thần-quyền cực đoan như tại Iran muốn đẩy những tôn giáo nhỏ ra khỏi (xã hội). Niềm tin tôn giáo là một lực rất mạnh trong việc uốn nắn cách hành xử từ cá nhân đến cả xã hội rộng lớn. Vì vậy, đối với những chính quyền có mục tiêu duy trì và mở rộng tầm kiểm soát của họ lên xã hội, thì tự do tôn giáo có thể bị xem là rất nguy hiểm. Hỏi : Một số người coi việc bảo vệ quyền Tự do Tôn giáo là sự cố tình can dự của các giáo hội, đặc biệt là Giáo hội Công giáo, vào chính trị và những vấn đề toàn cầu. TGM : Cách chỉ trích phê bình đó chỉ nhằm một mục đích, đó là hù dọa người Công giáo và tín đồ các tôn giáo khác phải im lặng khi mà đúng ra họ phải lên tiếng. Con người phải biến thành hành động những điều mình tin, đặc biệt là niềm tin tôn giáo. Nếu không, ngay cả những điều mình tin rồi sẽ biến mất. Chính trị là việc áp dụng quyền lực vào những vấn đề của con người. Việc xử dụng quyền lực luôn luôn dấy lên những câu hỏi luân lý, và dẫn đến những câu hỏi tôn giáo, về bản chất của lằn ranh đúng sai và cái gì được kể là lợi ích chung. Do đó, nếu Giáo hội không tích cực đề cao quyền Tự do Tôn giáo, thì quả là Giáo hội rất dại dột – và đúng ra, là không trung thành với sứ mạng của mình. Quan niệm của một xã hội về Thượng đế sớm muộn gì cũng sẽ ảnh hưởng lên cách xã hội đó đối xử với con người. Hỏi : Ý nghĩa đúng của câu nói "Tách biệt Giáo hội ra khỏi Chính quyền" là gì và câu đó có liên quan đến Tự do Tôn giáo như thế nào ? TGM : Tự Do Tôn Giáo không nhất thiết đòi hỏi một nhà nước thuần túy vô tôn giáo. Tôi nghĩ rằng, một quốc gia có thể cho một tôn giáo nào đó tư cách đặc biệt, nhưng không đương nhiên bách hại những tôn giáo khác. Tuy nhiên, phải vào chi tiết mới biết dở hay. Nhiều tín đồ Hồi giáo tuyên xưng bộ luật Shariah của họ có bao gồm khoản biệt đãi Hồi giáo nhưng vẫn bảo đảm một số quyền hạn cho tín đồ Do Thái giáo hay Thiên Chuá giáo. Nhưng dữ kiện lịch sử cho thấy ngược lại : luật Shariah thực ra đã gạt ra và áp bức tín đồ Công Giáo và những tôn giáo khác, cũng như ngăn trở họ tham gia trọn vẹn vào sinh hoạt của quốc gia. Tại Saudi Arabia, một người Hồi giáo trở sang Thiên Chúa giáo có thể chịu nguy hiểm tính mạng, và tất cả những sinh hoạt tín ngưỡng không phải Hồi giáo đều bị cấm. Đây là những vi phạm rất căn bản điều 18, những vi phạm rất nghiêm trọng đối với quyền của con người về tự do tín ngưỡng. Một niềm tin thật sự vào Thượng Đế phải luôn luôn dẫn chúng ta đến sự tôn trọng quyền của mỗi con người ngày một sâu thẳm hơn, kể cả những người không cùng tôn giáo với mình, bởi vì chúng ta tất cả đều được tạo thành bởi cùng một Cha (trên trời). Cho nên, Hoa Kỳ có một cơ hội thuận lợi và ơn kêu gọi đặc biệt. Hoa Kỳ có thể trình trước thế giới một thí dụ cao đẹp về sự chung sống hài hòa của nhiều tôn giáo khác nhau, cộng tác cho những điều tốt đẹp chung. Điều nầy dĩ nhiên chỉ có thể xảy ra nếu những tín đồ biết mang tín ngưỡng của mình một cách ôn hòa nhưng tích cực vào lòng xã hội – kể cả tại những phòng đầu phiếu. Câu nói: "Tách biệt Giáo hội ra Chính quyền" không bao giờ có nghĩa là loại bỏ tín ngưỡng ra khỏi sinh hoạt công cộng. Hiến pháp nghiêm cấm việc việc thành lập một quốc giáo. Nhưng Hiến pháp không ngăn cấm, và các nhà lập quốc cũng không hề có ý định ngăn cấm, sự tham gia hoạt động tích cực của tôn giáo vào sự bàn thảo những vấn đề của quốc gia. Hỏi : Quan niệm của Thiên Chúa giáo về việc người Công Giáo tham gia vào chính trị như thế nào ? TGM : Chính trường là nơi thực thi những việc làm cụ thể để bảo đảm quyền lợi chung và nhân phẩm của từng cá nhân. Do đó, người Công Giáo cần phải tham gia rất tích cực. Họ cần phải hiểu về đức tin Công Giáo và dùng sự hiểu biết đó làm hướng dẫn cho những quyết định chính trị của mình. Hướng dẫn của Công Đồng Vatican II về vai trò của Giáo hội trong thế giới hiện đại (Gaudium et Spes), bản Tuyên Ngôn Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis Humanae) và các thư luân lưu về các vấn đề xã hội, kể cả văn kiện Evangelium Vitae là những nguồn tài liệu tham khảo vô cùng súc tích. Người Công Giáo nên hân hoan chào đón sự hợp tác với những người thuộc tôn giáo khác, hoặc những người không theo tôn giáo nào nhưng mang đầy thiện ý. Chỉ có một điều người Công Giáo không được làm, đó là tự xưng mình là người Công Giáo và rồi tách rời đức tin của mình ra khỏi những hành động chính trị. Quí vị không thể cùng lúc tin vào nhân vị của một hài nhi trong bụng mẹ nhưng lại đi bỏ phiếu ủng hộ cho điều luật cho phép giết đứa bé đó. Bạn không thể cùng lúc ủng hộ tự do tín ngưỡng nhưng lại im lặng khi một "nước đồng minh" bách hại những tôn giáo nhỏ khác (tại nước đó). Đó là một dạng giả hình dối trá.

 

CHIA SẺ TIN MỪNG Lễ cầu nguyện cho các linh hồn (2-11-2003) ĐỌC LỜI CHÚA • Is 25,6-9: (8) Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. • Rm 6,3-11: (8) Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, đó là niềm tin của chúng ta. • TIN MỪNG: Lc 23,33-34.39-43 Đức Giê-su chịu đóng đinh thập giá – Người gian phi sám hối (33) Khi đến nơi gọi là «Đồi Sọ», họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. (34) Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng: «Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm». Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm. (39) Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người, «Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!» (40) Nhưng tên kia mắng nó: «Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! (41) Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!» (42) Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: «Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!» (43) Và Người nói với anh ta: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». CHIA SẺ Câu hỏi gợi ý 1. Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, tại sao Ngài lại bắt linh hồn người chết phải thanh luyện cho hoàn hảo mới được vào thiên đàng? 2. Chịu thanh luyện để nên hoàn hảo, Bản chất của sự hoàn hảo này là gì? Là tình yêu? đức tin? sự trong sạch? hay sự tôn trọng lề luật? hay sự gì khác? 3. Người gian phi đầy tội lỗi trong bài Tin Mừng, tại sao lại được Đức Giêsu cho vào thiên đàng ngay? Vậy yếu tố cốt yếu nhất để vào thiên đàng là gì? Đọc kinh? cầu nguyện? dâng lễ? bố thí? giữ luật? hay tình yêu? lòng vị tha? Suy tư gợi ý 1. Niềm tin của người Công giáo về luyện ngục Hôm nay và suốt tháng 11 này, người Công giáo chúng ta đặc biệt quan tâm cầu nguyện cho những người quá cố. Chúng ta thường nghĩ họ đang phải chịu thanh luyện bằng đau khổ để trở nên hoàn hảo. Sự thanh luyện đó được Giáo Hội định tín: «Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là “Thanh Luyện”» (DS 856/464). Mục đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị tha, đầy tình thương, không còn một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào nữa. Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lý, vì đó là một «nơi» hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời. (Gọi là «nơi» thì chỉ là tạm gọi, vì thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục không phải là nơi chốn, là không gian vật lý cho bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn: Thiên Đàng là tình trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện. Còn Hỏa Ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ...) 2. Thiên đàng đòi hỏi người trong đó phải thật hoàn thiện Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi rằng: để vào Thiên Đàng thì phải thật trọn hảo. Thật vậy, thử hỏi, khi trở về «nơi» lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không? Nếu người ở thiên đàng mà còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì chính bản thân họ sẽ đau khổ, đồng thời còn gây nên đau khổ cho người khác nữa. Chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền của Thiên Đàng, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành, nếu còn chút gì xấu xa thì phải thanh luyện cho hết. Tình trạng thanh luyện ấy được gọi là «luyện ngục». 3. Tội lỗi hay tính vị kỷ là đầu mối gây đau khổ Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải đau khổ. Việc Ngài sai Con Một mình xuống chịu chết một cách thảm thương để cứu nhân loại chứng tỏ điều ấy. Nhưng Ngài không thể trực tiếp cứu chúng ta khỏi đau khổ, mà chỉ có thể cứu chúng ta khỏi những nguyên nhân gây nên đau khổ là tội lỗi. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan viết: «Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta» (Kh 1,5). Đau khổ chỉ là ngọn, còn tội lỗi mới là gốc. Muốn tránh khổ thì phải tránh tội lỗi. Diệt khổ thì chỉ là diệt ngọn, khổ vẫn có thể tiếp tục phát sinh. Diệt tội lỗi mới là diệt khổ tận gốc. Nhưng con người vì còn u mê nên thường sợ khổ chứ không sợ nguồn gốc phát sinh ra đau khổ là tội lỗi, là tính ích kỷ. Họ vẫn cứ tiếp tục phạm tội, sống ích kỷ. Vì thế, dù tìm đủ mọi cách để tránh khổ, con người vẫn cứ rơi vào đau khổ, hết khổ này đến khổ khác. Trong việc cứu khổ cho người khác, cho các linh hồn được thanh luyện, con người cũng chỉ nghĩ tới việc cứu họ khỏi đau khổ, chứ không nghĩ tới việc cứu họ khỏi những nguyên nhân gây đau khổ. Nguồn gốc của tội lỗi chính là tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ tới đau khổ và hạnh phúc của mình, mà không quan tâm hay biết đến đau khổ và hạnh phúc của người khác. Vì thế, nguyên nhân sâu xa hơn của đau khổ chính là tính ích kỷ. 4. Tình yêu hóa giải đau khổ và đem lại hạnh phúc Nếu ích kỷ là nguồn gốc phát sinh đau khổ, thì ngược lại, tính vị tha hay tình yêu chính là nguồn tạo nên hạnh phúc. Do đó, người ta chỉ có thể vào được thiên đàng khi họ có đầy tràn tình yêu và không còn chút tính ích kỷ nào nữa. Nắm vững điều này, ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa câu nói Đức Giêsu, khi có người – vốn đã giữ rất chu đáo các lề luật – hỏi Ngài về cách đạt được sự sống đời đời: «Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mc 10,21). Điều đó có nghĩa là phải biết yêu thương và thật sự thể hiện tình yêu ấy thì mới được sự sống đời đời, tức được hạnh phúc đích thực. Kho tàng ở trên trời mà mọi người muốn lên đó phải sắm cho mình chính là kho tàng tình yêu. Người trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay đã thể hiện được tinh thần vị tha và tình yêu ấy. Trong cảnh khổ như thế mà anh không hề nghĩ tới đau khổ của bản thân mình, mà chỉ nghĩ tới đau khổ của Đức Giêsu, thương cho Ngài bị hàm oan: «Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!». Chính vì thế, anh đã được Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». Người trộm lành tuy đầy tội lỗi, nhưng cuối cùng anh đã phát tâm yêu thương, và tình yêu đã biến anh thành người tốt lành, xứng đáng với hạnh phúc thiên đàng. Đúng như câu nói của thánh Phaolô: «Tình yêu che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8). 5. Chấp nhận đau khổ vì tình yêu là bí quyết của hạnh phúc Câu chuyện về người trộm lành trên làm tôi nghĩ đến một câu chuyện của Đức Phật. Trong một tiền kiếp nọ của ngài, ngài đã phạm một trọng tội khiến ngài bị đọa vào địa ngục. Tại đó, ngài cùng nhiều người khác bị đau khổ ghê gớm. Khi nhìn thấy những người trong đó đang quằn quại với những cực hình vô cùng đau đớn như mình, ngài thương họ vô cùng. Tình thương ấy khiến ngài phát tâm nguyện rằng: Tôi nguyện sẵn sàng chịu thay cho mọi người trong địa ngục này tất cả những đau khổ mà họ đang phải chịu, để họ thoát khỏi những cực hình ghê gớm này! Vừa nguyện như thế xong thì lập tức ngài tự nhiên thoát khỏi cảnh đau khổ ấy. Còn những người kia thì vẫn tiếp tục ở lại đấy chịu đau khổ. Tôi chỉ coi chuyện trên như một dụ ngôn. Tuy không có thực, nhưng nó nói lên một chân lý mà chính tôi đã thực nghiệm thấy rất đúng. Khi tôi chỉ quan tâm chú ý tới những đau khổ tôi đang phải chịu, thì tôi thấy đau khổ ấy – một cách chủ quan – tăng lên gấp bội. Nhưng khi tôi quan tâm tới những đau khổ của người khác đang phải chịu, khi tôi muốn làm giảm bớt đau khổ cho họ, khi tôi chấp nhận chịu đau khổ thay cho họ, hay chịu khổ nhiều hơn nữa để họ bớt khổ hay để họ được hạnh phúc, thì lập tức tôi cảm thấy tâm hồn mình mạnh mẽ lên. Lúc ấy những đau khổ tôi đang chịu – tuy dù một cách khách quan không hề thay đổi, mà có thể còn tăng lên – bỗng nhiên mất đi tính dữ dội hay thảm khốc của chúng đối với tôi. Chúng không còn làm tôi đau khổ được như trước. Áp dụng kinh nghiệm này vào đời sống gia đình, tôi nhận thấy: khi tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, mọi đau khổ, mọi buồn phiền để làm những người thân yêu của tôi bớt khổ và được hạnh phúc, thì điều lạ lùng tôi cảm nghiệm được là tôi không hề đau khổ mà lại thấy hạnh phúc hơn. Tôi hạnh phúc hơn vì tôi thấy nhờ hành động ấy của tôi mà những người tôi yêu thương được hạnh phúc hơn. Điều làm họ hạnh phúc nhất là thấy tôi yêu thương họ, hết mình với họ. Và chính vì thế, họ cũng chẳng để tôi phải vất vả hay chịu đau khổ thay cho họ, ngược lại họ lại sẵn sàng chịu đau khổ thay cho tôi. Và thế là cả gia đình tôi – trong đó có tôi – đều cảm thấy hạnh phúc trong bầu khí đầm ấm yêu thương. Thế là chỉ vì tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, cực nhọc, đau khổ thay cho những người thân yêu, mà tôi biến gia đình tôi thành một gia đình hạnh phúc. So với nhiều người chủ gia đình khác, tôi thấy mình hạnh phúc hơn họ nhiều, xét cả mặt khách quan lẫn chủ quan. Tôi nhận thấy: không phải khi mình sẵn sàng chịu đau khổ thay cho người khác thì tất nhiên mình sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn đâu! Mà ngược lại, thái độ quên mình ấy lại đem lại hạnh phúc cho cả tôi lẫn những người chung quanh tôi. Đó là kinh nghiệm của tôi trong gia đình. Và tôi đang áp dụng kinh nghiệm này ra ngoài gia đình, trong xã hội… và tôi vẫn thấy nó đúng. Xin chia sẻ với mọi người kinh nghiệm có thật này để may ra hữu ích cho ai đó! CẦU NGUYỆN Lạy Cha, thánh Gioan nói: «Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo» (1Ga 4,18). Con cảm thấy chính khi con thật sự có tình yêu thì con không sợ đau khổ, mà sẵn sàng đón nhận đau khổ để người khác được hạnh phúc. Và khi con không sợ đau khổ, thì đau khổ không còn tác oai tác quái trên con nữa. Nó không còn khả năng làm con mất bình an hạnh phúc được nữa. Và con cảm thấy bình an và hạnh phúc do tình yêu đem lại chính là thiên đàng. Một thiên đàng mà con có thể cảm nghiệm trước ở ngay trần gian này. (JK)