Untitled Document
User:
Pass:

Quan Điểm >>  Quan Điểm

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

1-Nhận lỗi giả Khi Tổng bí thư đảng CS Nguyễn Phú Trọng, trong ngày 15-10-2012, bắt đầu tụng lên câu: «Các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều hết sức thấm thía, day dứt trước những thiếu sót, khuyết điểm, tự nhận thấy phải nghiêm khắc với mình hơn, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ hiểu biết, đổi mới lề lối làm việc; gương mẫu giữ gìn đạo đức, lối sống; đoàn kết, gắn bó hơn trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao...», khán giả truyền hình toàn quốc thấy giọng ông có vẻ thổn thức, xúc động. Tới câu «Và để giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng, góp phần giữ gìn uy tín, hình ảnh thiêng liêng của Đảng và làm gương trong toàn Đảng, Bộ Chính trị đã thống nhất 100% đề nghị Ban Chấp hành Trung ương cho được nhận một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị»>, nhiều người đã xuýt xoa : «Có thế chứ! Ít nhất thì đảng phải một lần phục thiện! Phen này tay Nguyễn Tấn Dũng đi đong rồi!» Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Bởi lẽ Trọng -với khuôn mặt trở lại bình thường- đã dội ngay vào mặt nhân dân một gáo nước lạnh : «Về việc đề nghị xem xét kỷ luật, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị». Thế là xong! «Hình ảnh thiêng liêng của đảng» đã được bảo toàn! «Tình đoàn kết, thương yêu đồng chí» đã được giữ trọn! Trước sự nguyền rủa lẫn chê cười, phẫn nộ lẫn khinh bỉ của toàn dân! Đúng là trò nhận lỗi đểu chưa từng có trong lịch sử dân tộc! Hai hôm sau, ngày 17-10, trong cuộc tiếp xúc với cử tri tại Sài Gòn, chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng tiếp tục màn kịch nhận lỗi : «Khi thấy mình nhu nhược thì tôi sẽ làm đơn xin nghỉ. Thậm chí khi về quê, tôi sẽ trả lại nhà cho Đảng.... Nhân dân đã giao nhiệm vụ thì phải hoàn thành, còn thấy mình không hoàn thành thì rút lui» . Cử tri nghe cũng cảm động! Tuy nhiên lúc nói về quyết định không kỷ luật một ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước cũng ngụy biện chẳng thua gì Tổng bí thư: «Chỉ có cân nhắc tình hình hiện nay, cân nhắc lợi hại thì quyết nghị là không thi hành kỷ luật» , rồi vớt vát : «Như vậy không có nghĩa là Bộ Chính trị không có lỗi, không phải cá nhân đồng chí ‘X’ không có lỗi». Câu nói “không hoàn thành nhiệm vụ thì rút lui” chắc chắn sẽ bị ông Sang đạp dưới chân, chôn vào mồ cùng với câu của ông Dũng vào năm 2006 khi nhận chức Thủ tướng nhiệm kỳ 1: “Tôi quyết liệt chống tham nhũng. Nếu không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay” . Còn cái kiểu gọi trại tên của tay đại tham nhũng này thành “đồng chí X” vừa là quán tính bao che, bảo vệ “tình đồng chí” (đúng ra «tình đồng lõa») trong đảng, vừa là thái độ hèn nhát, bất lực trước kẻ mình đã không hạ đo ván nổi! Thế thì làm sao còn dám kêu gọi «người dân đừng sợ hãi, đừng sợ trù úm để cùng đảng chống tham nhũng» trước đó mấy phút? Màn kịch nhận lỗi thứ ba là của chính «đồng chí X» này, diễn ra vài hôm sau nữa (22-10) trong báo cáo trước Quốc hội: «Với trọng trách Thủ tướng Chính phủ, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, nhất là những yếu kém, khuyết điểm trong kiểm tra, giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; một số tập đoàn, tổng công ty, điển hình là Vinashin, Vinalines, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, có nhiều sai phạm, gây tổn thất và hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt...» . Trước diễn đàn Quốc hội, với tư cách Thủ tướng, thì chỉ có trách nhiệm hành chính thôi ông ơi! Tại sao ngụy biện, không thừa nhận lỗi hành chính của mình và của Chính phủ mà lại quay sang xí nhận trách nhiệm chính trị? Theo nguyên tắc quy định trong luật pháp: phạm lỗi lĩnh vực nào, mức độ nào thì phải khắc phục và chịu hình phạt trong lĩnh vực đó; ai vi phạm, để những sai phạm trong lĩnh vực hành chính mà mình chịu trách nhiệm thì phải xử hành chính; nếu sai phạm hình sự thì phải xử lý hình sự… Làm mất, hỏng thì phải bồi thường thiệt hại; không bồi thường thiệt hại được thì sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc hình sự… Qua việc nhận “trách nhiệm chính trị cao nhất” trước Quốc hội, rõ ràng Nguyễn Tấn Dũng chỉ nhận lỗi trước Đảng chứ không chịu thừa nhận những sai phạm của bản thân và Chính phủ, gieo tai họa khôn lường cho dân cho nước (cụ thể là làm mất hàng trăm ngàn tỷ đồng công quỹ, mồ hôi nước mắt của nhân dân). Và như thế thì phải gánh trách nhiệm hình sự, hình sự rất nặng! Cả ba màn hài kịch không che giấu được một điều bi đát: Những kẻ cầm đầu đảng và nhà nước ai cũng long trọng nhận lỗi, nhưng chẳng ai hề hấn gì! Một kiểu nhận lỗi suông đầy trịch thượng và ngạo mạn : «Tôi nhận lỗi đấy! Được chưa?» Ngoài ra, việc đảng xí xóa tội lỗi cho nhau chính là việc khinh rẻ quyền, lạm vào quyền của Viện kiểm sát lẫn Tòa án Nhân dân tối cao, của Thanh tra chính phủ, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, của các Ủy ban tư pháp, kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục Quốc hội! Đảng là ai mà có thể tự tha tội cho nhau? Tóm lại là một trò diễn rẻ tiền! Cũng trong bài phát biểu bế mạc, Nguyễn Phú Trọng còn trâng tráo nói : «Kinh nghiệm lịch sử Đảng ta cho thấy : một khi Đảng tự nhận ra sai lầm, khuyết điểm và tự nghiêm khắc, quyết tâm khắc phục, sửa chữa thì sức mạnh của Đảng càng được nâng lên». Với lối xí xóa, xáo bài, huề cả làng, không bị luật pháp và nhân dân xử lý như thế thì sức mạnh của Đảng được nâng lên thật. Nâng lên để tiếp tục phạm những sai lầm mới hơn và nặng hơn mà chẳng ai động tới cọng lông nổi, để tiếp tục coi tổ quốc như một món hàng, thống trị nhân dân như một nô lệ. 2- Đàn áp thật : Quả thế, ngay bài phát biểu bế mạc đã tiên báo những biện pháp đàn áp rồi. Với việc «tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt của doanh nghiệp nhà nước» và «cấu trúc lại các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty quốc doanh» , nghĩa là tiếp tục bơm tiền thuế của nhân dân, tiền vay của nước ngoài cho chúng, dẫu các định chế kinh tế này đã gây bao thất thoát và thất bại, tham nhũng và đổ nợ, đảng tiếp tục coi các công ty tư nhân, tư doanh như con ghẻ và sẽ bỏ mặc cho chúng tự xoay xở, tự vay ngân hàng với lãi khủng (20-30%). Chúng có chết hàng loạt cũng chẳng cần ra tay hỗ trợ, vì chúng đâu phải là bầu sữa béo để đảng viên cao cấp và gia đình có thể bâu vào nút cạn như nơi các công ty tập đoàn nhà nước. Nghĩa là đảng tiếp tục mù quáng lao vào chính sách kinh tế «quốc doanh chủ đạo» hết sức tai hại cho đất nước và toàn dân. Với việc «tiếp tục khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu... » rồi «không để các nhà đầu tư trực tiếp thoả thuận với người sử dụng đất về giá đền bù, chuyển nhượng quyền sử dụng đất... » , đảng nhất định không giải quyết bao vụ việc đau lòng gây ra cho nông dân và bao vấn đề khó khăn gây ra cho nông nghiệp trong 2 chục năm rồi, kể từ khi có bộ luật đất đai đầy bất công và phi lý. Nông dân sẽ tiếp tục kiếp sống nông nô, đi thuê đất của những đại địa chủ đỏ, sản xuất lúa cho đất nước đứng nhất nhì thế giới mà vẫn đói nghèo, và chẳng biết lúc nào bị đuổi khỏi mảnh ruộng, khu vườn, ao cá mà chẳng được đền bù công sức, định cư chỗ mới với nghề nghiệp, thậm chí chẳng được gặt lấy thành quả lao động. Nhiều Đoàn Văn Vươn sẽ tiếp tục tán gia bại sản, bản thân tù đày để đảng tiếp tục làm đại địa chủ! Với việc «tiếp tục quán triệt các quan điểm, chủ trương của Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá IX và các kết luận, quyết định của Bộ Chính trị» trong việc giáo dục, nghĩa là «đào tạo con người Việt Nam... trung thành với lý tưởng chủ nghĩa xã hội», quan niệm «nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa... lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng» như điều 3 và 3 (?) của Luật Giáo dục năm 2005, đảng cương quyết đầu độc thế hệ trẻ bằng thứ chủ nghĩa duy vật vô thần đã bị thế giới phỉ nhổ và bằng tấm gương của một tên gian hùng đã bị lịch sử ngày càng vạch mặt; đảng cương quyết tạo ra những thần dân nô lệ cho mình (bị ru ngủ với mỹ từ «có bản lĩnh chính trị», nhẫn tâm ngăn chận bạn bè bày tỏ lòng yêu nước, sẵn sàng đứng sau hàng rào sắt bảo vệ dinh lũy bọn xâm lược) hơn là những công dân tự do cho xã hội. Nguyễn Tấn Dũng mới đây đã lưu ý như vậy khi tới phát biểu tại lễ khai khóa 2012 của Đại học Quốc gia thành Hồ sáng ngày 21-10: «Ngoài việc trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn, cần quan tâm đến giáo dục chính trị và phẩm chất đạo đức cho học sinh, sinh viên» (dĩ nhiên là «đạo đức bác Hồ», «đạo đức cách mạng») Trong thực tế, các cuộc đàn áp chính trị khốc liệt tiếp tục xảy ra quanh cái «Hội nghị nhận lỗi đểu» của đảng. Trước đó một tuần (24-09) là phiên tòa chớp nhoáng, khinh bỉ luật sư, bịt miệng bị can, giam nhốt thân nhân, hành hung bằng hữu, rồi ra những bản án nặng -mang tính trả thù công dân, tâng công với giặc- giáng lên những con người yêu nước làm phẫn nộ cả toàn cầu. Đến hôm 14-10, một ngày trước khi bế mạc hội nghị Trung ương, lại bắt cóc biệt tăm một nữ sinh viên hồn nhiên 20 tuổi, ủy viên Ban Chấp hành chi đoàn Thanh niên CS/HCM của lớp, thuộc Đại học Công nghiệp Thực phẩm Sài Gòn, vì «tội» làm truyền đơn chống Tàu cộng. Đảng phẫn nộ vì công lao «trồng người » kiểu đào tạo rôbốt vô trí vô tâm xem ra phá sản. Phải bắt cho trọn bọn «Tuổi Trẻ Yêu Nước » vì chúng chẳng theo đảng thờ Tàu! Gần đây nhất (30-10) là phiên tòa xử hai nhạc sĩ đã sáng tác những ca khúc cảm thán số phận bi đát của nhân dân, tương lai đen tối của dân tộc, kêu gọi con cái Mẹ Việt đứng lên đáp lời sông núi, chống bè bắc phương xâm lược và lũ bán nước nhu nhược. Vẫn là thứ phiên tòa rừng rú, với kiểu quy kết ngụy biện và tàn độc : nguy hại nghiêm trọng an ninh quốc gia, với kiểu khủng bố tinh thần bị cáo : không cho thân nhân và báo chí có mặt trong phòng xử, sau khi đã cách ly họ với gia đình và luật sư suốt cả năm trời! Tỉnh ngộ chưa, hỡi những ai còn ngây thơ tin rằng đảng CS sẽ sửa đổi và kiên nhẫn đối thoại đợi chờ nó sửa đổi!!! BAN BIÊN TẬP

 

Tuyên bố chung nhân các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của Đồng bào Việt Nam trong tháng 06-2011 (Khối Tự do Dân chủ 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền) Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam Trong tháng 6 năm nay, nhà cầm quyền Trung Cộng đột nhiên gia tăng gây hấn với Việt Nam trên Biển Đông, cụ thể và đặc biệt là đã đi vào lãnh hải đất nước để cắt cáp ngầm tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ngày 26-05 rồi 09-06-2011. Hành động ngang ngược này lập tức khơi dậy lòng ái quốc của nhân dân. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra sôi nổi tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn cũng như đã bị cấm cản tại Hải Phòng, Vinh và Đà Nẵng vào các Chủ nhật 05, 12 rồi 19-06-2011. Thế nhưng, y như trong các cuộc xuống đường năm 2007-2008, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, thay vì tỏ lòng biết ơn và tạo điều kiện thuận lợi cho các hành động của nhân dân chống hiểm họa ngoại bang xâm lược, tương tự tại bao quốc gia khác, lại dùng vô số thủ đoạn, thậm chí đểu cáng và hung bạo để trấn áp lòng ái quốc. I- Trước tình thế đó, Khối 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền nhận định: Như cụ Nguyễn Trãi từng nói: “Mọi chuyện đều có nguyên nhân của nó, nhưng không phải việc của một ngày”, thái độ lạ lùng của nhà cầm quyền CSVN nói trên bắt nguồn từ lâu trong quá khứ, qua một tiến trình dài như sau: 1- Khi người Pháp sắp rút khỏi Đông Dương, với tinh thần Đại Hán tăng cường bởi tinh thần Cộng sản, Trung Hoa tiếp tục dòm ngó Việt Nam và họ đã tìm thấy một trợ thủ đắc lực. Đó là ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động (tiền thân đảng Cộng sản), vốn rất sùng bái, hãi sợ và luôn học đòi Mao Trạch Đông. Trước hết, ông Hồ đã đê hèn chấp nhận sự buôn bán chính trị giữa Trung Cộng với các cường quốc (thông qua vai trò xấu xa của Chu Ân Lai) tại Hội nghị Genève (1954) trên lưng dân Việt. Điều này khiến cho đất nước bị phân đôi và cuộc chiến tranh Đông Dương lần 2 (1954–1975) nổ ra (trong khi các nước trong khu vực có cùng điều kiện địa chính trị như Đông Dương đã tránh được). Đây chính là tội ác lớn nhất đối với Dân tộc. Tiếp đến, dưới sự chỉ đạo của Mao, rập khuôn mẫu Trung Cộng và được các cố vấn Trung Cộng trợ giúp, Hồ Chí Minh đã tàn hại đạo đức phong hóa nông thôn, cơ cấu làng xã họ tộc truyền thống, tiềm lực nhân sĩ lãnh đạo qua vụ Cải cách Ruộng đất, đã tiêu diệt bao tài năng nhiệt huyết trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm và vụ Chỉnh đốn Tổ chức. Đây là một sự xâm hại sinh khí và nền văn hóa Dân tộc rất nghiêm trọng. 2- Khi Mao Trạch Đông tiến hành kế hoạch mở rộng đế quốc Cộng sản và nhất là lãnh thổ Trung Hoa xuống Đông Nam Á qua việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ xâm chiếm Việt Nam Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã dâng cho Trung Cộng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên danh nghĩa (qua công hàm bán nước do Phạm Văn Đồng ký năm 1958), đã để cho Trung Cộng chiếm cứ đồn biên phòng yếu huyệt ngàn năm là Nam Quan ải, đem quân xâm nhập sâu vào miền Bắc gọi là giữ giùm hậu phương, len lỏi vào tận hàng lãnh đạo của đảng CSVN để gọi là bảo đảm sự đoàn kết giữa hai chính đảng và chính thể. Đây là một sự xâm hại nền chính trị quốc gia hết sức nguy hiểm. 3- Khi cuộc thôn tính miền Nam kết thúc, do bị Trung Cộng đòi nợ chiến phí bằng đất đai Tổ quốc và quyền lợi kinh tế trên đất Việt, do mù quáng tin tưởng vào tình hữu nghị TrungViệt (16 chữ vàng và 4 tốt) cũng như do yếu nhược phải cậy dựa vào đàn anh duy nhất hùng mạnh còn lại, đảng CSVN đã nhượng cho Trung Quốc gần cả ngàn km2 lãnh thổ (trong đó có nhiều điểm chiến lược) qua Hiệp định biên giới năm 1999, gần 10.000 km2 lãnh hải qua Hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, cả vùng Tây Nguyên yếu huyệt qua Quyết định năm 2007 cho Trung Cộng khai thác bauxite; đã cho Trung Cộng thuê hơn 300.000 hecta rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ, xây nhiều làng mạc và đô thị Trung Cộng từ Nam chí Bắc, đi vào đất Việt không cần thị thực nhập cảnh, trúng thầu phần lớn các công trình xây dựng, kinh tế lớn trong đất nước, tuôn tràn vào Việt Nam các sản phẩm văn hóa, kỹ thuật, ẩm thực (đa phần kém chất lượng hay độc hại)… Đây là một sự xâm hại nền kinh tế và quốc phòng đất nước rất đáng lo âu. 4- Khi Trung Cộng quyết định mở rộng chủ quyền trên Biển Đông những năm gần đây qua yêu sách “Đường lưỡi bò 9 đoạn”, Hà Nội tiếp tục theo đuổi chính sách ngoại giao ngây thơ (dựa trên bảng phân loại các nước thành bạn hay thù, chứ không phải trên quyền lợi quốc gia lẫn tương quan lợi quyền quốc tế) và thái độ ngày càng khiếp nhược trước Trung Cộng dưới mỹ từ “hiếu hòa hữu nghị”, do đó đã bị Trung Cộng ngày càng lấn lướt trên Biển đông: cấm cản, xua đuổi, bắt tù, cướp bóc, bắn giết ngư dân Việt; thúc giục, bảo vệ ngư dân Tàu vào đánh cá ngay trong thềm lục địa nước Việt; hăm dọa các công ty khai thác dầu hỏa ngoại quốc muốn làm ăn với Hà Nội; và mới nhất là xâm phạm lãnh hải Việt Nam để hăm dọa và phá hoại những tàu thăm dò khoáng sản của Việt Nam. Đây là một sự xâm hại chủ quyền quốc gia rất trắng trợn. Thế mà nhà cầm quyền CSVN lại phản ứng bằng cách bỏ mặc ngư dân bơ vơ trước sói dữ, lấy cớ tàu quân sự không xen vào chuyện dân sự; bằng cách tiếp tục hợp tác toàn diện với lân bang luôn nuôi mộng Đại Hán xâm lược; bằng cách từ khước liên minh với lực lượng hùng mạnh của các quốc gia văn minh dân chủ; bằng cách giấu nhẹm thông tin về vụ việc trước quốc dân và không trình vụ việc lên tòa án quốc tế; bằng cách ngăn cản, sách nhiễu, hăm dọa hoặc bỏ tù những ai lên tiếng chống Trung Cộng xâm lược qua các bài viết hay các cuộc biểu tình. Những phản ứng gần đây như cho phát ngôn viên bộ Ngoại giao lên tiếng, như tới gặp đại sứ Trung Cộng trao công hàm đều chứng tỏ tinh thần yếu nhược; như mua thêm khí tài quân sự, như tập trận bắn đạn thật trên biển Đông chỉ là trò đánh lừa dư luận, hóa giải sự phẫn nộ của nhân dân, chẳng mảy may hiệu quả gì. 5- Những động thái trên cho thấy Trung Cộng ngày càng trở thành hiểm họa xâm lăng đối với Việt Nam, nguy cơ Bắc thuộc lần thứ 5 đang đến gần; cũng như cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội ngày càng lộ rõ bộ mặt phản dân hại nước, đặt quyền lợi của đảng và phe phái trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc, sẵn sàng bán đất biển, nhường quyền lợi để giúp Trung Cộng có điều kiện tiến lên địa vị siêu cường, bá chủ thế giới, hầu Việt cộng tiếp tục cai trị trên một Việt Nam sẽ trở thành Giao chỉ quận. II- Trước nguy cơ ấy, Khối 8406 và Nhóm Lm Nguyễn Kim Điền tuyên bố: 1- Lên án thái độ đồng lõa với giặc - gian ác với dân, lụy phục ngoại thù - phản bội tổ quốc của đảng Cộng sản Việt Nam. Một thái độ không bao giờ thay đổi kể từ khi Hồ Chí Minh và đảng CS cầm quyền trên đất nước. Lên án thái độ dửng dưng của tân Quốc hội, vốn chẳng có thành viên nào tham gia các cuộc biểu tình bày tỏ tấm lòng yêu nước và ý chí chống giặc nói trên. Điều đó tiếp tục chứng tỏ Quốc hội chỉ là công cụ đê hèn trong tay Cộng đảng khiếp nhược. 2- Đòi hỏi đảng CSVN, nếu muốn có đường sống và chỗ đứng trên đất nước Việt Nam, hãy trở về với nhân dân bằng cách thả hết các tù nhân chính trị vốn đã bị giam giữ vì lòng ái quốc, chấm dứt chế độ chuyên chế độc tài, bãi bỏ quan niệm “chỉ đảng mới có quyền lo việc nước”, phủ nhận Công hàm bán nước 1958 và các Hiệp ước bất bình đẳng với Trung Cộng, kiện Trung Cộng trước tòa án Liên Hiệp quốc, quyết liệt truy đuổi tàu Trung Cộng xâm phạm lãnh hải (như gương Philippin, Hàn Quốc, Nhật Bản…), hủy bỏ các tô giới Trung Cộng trên đất liền, thôi trấn áp lòng yêu nước biểu lộ qua những cuộc biểu tình hay những lời lên tiếng chống quân xâm lược, trả lại mọi nhân quyền cho toàn dân để có thể thực hiện đại đoàn kết theo tinh thần Hội nghị Diên Hồng. 3- Hoan nghênh và ủng hộ các cuộc biểu tình bất bạo động mà Đồng bào khắp cả nước (đặc biệt các bạn trẻ sinh viên, các trí thức nhân sĩ và các bậc trưởng thượng vị vọng) đã, đang và sẽ còn tiến hành để bày tỏ tấm lòng ái quốc, sức mạnh dân tộc, tinh thần đoàn kết và thái độ sẵn sàng hỗ trợ cho một chính phủ biết đặt quyền lợi Tổ quốc lên hàng đầu. Yêu cầu lực lượng công an quân đội chớ để mình hay tự mình biến thành kẻ thù của nhân dân bằng cách đàn áp những tấm lòng yêu nước theo lệnh các lãnh đạo CS. Bằng không anh em sẽ đắc tội trước lịch sử và sẽ trực tiếp hứng chịu sự trừng phạt của nhân dân khi những kẻ sai khiến anh em bỏ chạy ra nước ngoài. 4- Kêu gọi giới lãnh đạo tinh thần (trí thức dân sự và chức sắc tôn giáo) thể hiện tinh thần sĩ phu yêu nước, đoàn kết nên một, đứng ra lãnh đạo toàn dân, điều hướng sức mạnh của mọi lực lượng quần chúng chống lại nội thù bán nước và ngoại thù cướp nước. Kêu gọi các tôn giáo liên tục tổ chức những buổi cầu nguyện cho Quê hương, cho các tù nhân lương tâm, cho các nạn nhân bị bóc lột, để khơi gợi ý thức và củng cố tinh thần cho tín đồ. 5- Thỉnh cầu Đồng bào hải ngoại tiếp tay với quốc nội bằng cách hỗ trợ các cuộc xuống đường biểu tình của quốc nội, bằng cách xiển dương chính nghĩa cuộc đấu tranh chống ngoại thù và nội thù của Dân tộc trước thế giới, bằng cách vận động quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh này qua việc giúp nhân dân Việt Nam giải thể cho được chế độ độc tài toàn trị Cộng sản… Làm tại Việt Nam ngày 25 tháng 06 năm 2011 Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. 1. Linh mục Chân Tín, Dòng Chúa Cứu thế Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng, Sài Gòn, Việt Nam 2. Kỹ sư Đỗ Nam Hải, 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam. 3. Linh mục Nguyễn Hữu Giải, Giáo xứ An Bằng, Vinh An, Tổng Giáo phận Huế. 4. Linh mục Phan Văn Lợi, 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam. 5. Linh mục Nguyễn Văn Lý, bị quản thúc tại 69 Phan Đình Phùng, Tp Huế, Việt Nam. 6. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại. Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

 

Khối 8406 Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 Web: http: //khoi8406vn. blogspot. com/ Email: vanphong8406@gmail. com Tuyên bố về Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Kính thưa Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đang tưng bừng chuẩn bị Đại lễ kỷ niệm việc vua Lý Thái Tổ, cách đây 1000 năm, đã chọn đất Thăng Long (Hà Nội hiện giờ) làm thủ đô của nước Việt, khai mở một thời đại trong đó dân Việt thoát khỏi vòng lệ thuộc Trung Hoa, sống độc lập tự chủ. 1- Theo chính sử của Dân tộc như Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn và Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim , thì việc xây cất thành Thăng Long khởi sự vào tháng 7 (âm lịch) đầu thu năm Canh Tuất (1010), tương đương với ngày 10 tháng 08 dương lịch. Như thế Đại lễ kỷ niệm phải mừng vào mồng 10 tháng 08 năm 2010. Thế nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã tự ý chọn thời điểm khai mạc đại lễ vào ngày 01 tháng 10 là quốc khánh của Trung Hoa Cộng sản và bế mạc vào ngày 10 tháng 10 là quốc khánh của Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Đây vừa là hành vi xúc phạm biểu tượng thiêng liêng của Thăng Long, một biểu tượng nói lên tinh thần tự chủ độc lập của đất nước, ý thức bảo vệ lãnh thổ của Dân tộc suốt 1000 năm qua, vừa là thái độ sỉ nhục anh linh của hàng triệu con Hồng cháu Lạc đã đem xương máu chống quân xâm lược Bắc phương suốt dòng lịch sử để bảo vệ nền độc lập Tổ quốc cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ, vừa là ý đồ của đảng CSVN muốn Dân tộc và Đất nước lệ thuộc Trung Quốc hơn nữa, như đã lệ thuộc kể từ thời đảng Lao động chịu sự điều khiển của Mao Trạch Đông. 2- Dù là chế độ Phong kiến rồi chế độ Pháp thuộc, 1000 năm qua cũng là thời đại trong đó Dân tộc Việt Nam chúng ta : - đã luôn đoàn kết trên dưới một lòng chống ngoại thù xâm lược (tiêu biểu là Hội nghị Diên Hồng triều Trần), - đã nỗ lực xây dựng được một nền luật pháp tương đối công minh và nhân bản mà vua dân đều phải tuân giữ (tiêu biểu là Luật Hồng Đức triều Lê), - đã biết quý chuộng chữ nghĩa thánh hiền, tuyển chọn nhân tài từ mọi tầng lớp, thường xuyên theo chính sách chiêu hiền đãi sĩ (tiêu biểu là Văn miếu và Quốc Tử giám từ triều Lý), - đã tạo một môi trường thuận lợi cho bao tác phẩm văn chương xuất hiện (tiêu biểu như Truyện Kiều của Nguyễn Du), - đã xây dựng được một số định chế để ngăn chặn khuynh hướng chuyên quyền độc tài của quân vương và triều đình (tiêu biểu là chức quan ngự sử và cơ cấu làng xã họ tộc với ngạn ngữ “Phép vua thua lệ làng”), - đã tôn trọng các tôn giáo và duy trì tinh thần tôn giáo hòa đồng (tiêu biểu là sự du nhập và phát triển của Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Công giáo, Hồi giáo, Tin lành…; sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa như Cao đài, Hòa hảo, Bửu sơn Kỳ hương…), - đã luôn tôn trọng quyền tư hữu đất đai của nhân dân, dù mỗi chế độ hay mỗi triều đại có những chính sách điền địa khác biệt (tiêu biểu là Luật Người cày có ruộng thời Đệ nhị Cộng hòa), - đã bắt đầu phát huy tinh thần dân chủ trong chế độ Pháp thuộc và chế độ Việt Nam Cộng hòa (tiêu biểu là quyền ngôn luận và nền báo chí tương đối tự do trong hai chế độ này). - đã luôn vui sống tại nơi chôn nhau cắt rốn, trên mảnh đất hình chữ S mà Tổ tiên đã để lại trong niềm tôn trọng tình nghĩa đồng bào, bảo vệ môi trường thiên nhiên. • Lẽ ra, trong tinh thần chuẩn bị xa và chuẩn bị gần cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, các giá trị văn minh nhân bản mà bao thế hệ Việt tộc đã dày công xây dựng đó phải luôn được tưởng nhớ, đề cao và thể hiện. • Thế nhưng, qua hơn nửa thế kỷ dưới chế độ Cộng sản, Dân tộc Việt đã đau đớn nhìn thấy: - lãnh thổ và lãnh hải mất từng mảng lớn vào tay quân bành trướng Đại Hán, lãnh đạo CS (VN) chưa bao giờ đoàn kết thực sự với nhân dân để chống ngoại bang xâm lược. - luật pháp chỉ được áp dụng và áp dụng khắt khe cho thường dân, còn đảng và nhà nước thì được miễn trừ, đảng viên và cán bộ thì được nhẹ tay, châm chước hay thoát khỏi. - giáo dục loại trừ người nghèo (vì đủ thứ học phí và phụ phí), phân biệt chính kiến (hồng hơn chuyên); việc tuyển chọn nhân tài và viên chức nhà nước thì theo tiêu chuẩn đảng tịch, thân thích và tiền bạc; nhiều trí thức của đất nước bị bỏ phế hay cầm tù vì bất đồng quan điểm với đảng. - văn chương, nghệ thuật nằm dưới vòng kim cô của đảng, phải phục vụ mục tiêu chính trị do đảng đề ra; chẳng có tác phẩm giá trị nào xuất hiện ngoại trừ những tác phẩm mang tính đối kháng hay phê bình chế độ. - cơ chế chính trị đảng quyền, độc tài và toàn trị tiêu diệt hết mọi nhân quyền và dân quyền, biến tam quyền phân lập thành tam quyền phân công dưới sự chỉ đạo hoàn toàn của đảng; công an và quân đội trở thành công cụ trong tay đảng và chỉ phục vụ đảng; bàn tay sắt của đảng áp đặt từ trung ương tới địa phương. - các tôn giáo bị đảng và nhà cầm quyền tìm cách kiểm soát, khống chế, xâm nhập, lũng đoạn và làm thoái hóa bản chất: trở thành đồ trang trí hay biện hộ viên cho chế độ; các tín hữu đấu tranh cho tự do tôn giáo, công bằng xã hội hay dân chủ nhân quyền thì bị đàn áp. - toàn bộ đất đai đều thuộc quyền quản lý (thực chất là quyền sở hữu) của nhà nước (thực tế là của đảng viên cán bộ có chức quyền); nhân dân (cá nhân, dòng tộc, giáo hội) chỉ còn quyền sử dụng, thành thử phải chịu bao điêu đứng trong sinh sống và hoạt động. - quyền tự do ngôn luận, vốn là quyền đầu tiên, bị hoàn toàn triệt tiêu; báo chí và các phương tiện truyền thông khác đều nằm trong tay đảng và nhà nước; các nhà dân báo độc lập bị sách nhiễu, ngăn chận, cầm tù. - hơn ba triệu người đã đau đớn rời bỏ quê cha đất tổ, đứt ruột từ giã nơi chôn nhau cắt rốn vì không chịu nổi chế độ phi nhân hà khắc, gian dối tàn bạo. Trong đó, một nửa đã thành công đến được bến bờ tự do, nhưng một nửa đã phải trả giá cho việc tìm tự do bằng cái chết hoặc bằng thảm nạn: bị cướp bóc, hãm hiếp, đánh đập trên biển, giữa rừng, trong tù (khi bị bắt lại)… Xã hội Việt Nam thì thiếu vắng tình nhân loại nghĩa đồng bào, đánh mất ý thức bảo vệ môi trường sống... • Đang khi đó, Tuyên ngôn Thiên niên kỷ (cũng lại 1000 năm) của Liên Hiệp Quốc (1) mà Việt Nam đã phê chuẩn, có nêu một số giá trị căn bản giữ vai trò thiết yếu trong quan hệ quốc tế của thế kỷ 21 (để thế giới cùng nhau phát triển theo chiều hướng toàn cầu hóa) là: - Về tự do: Điều hành đất nước theo nguyên tắc dân chủ, có sự tham gia của người dân và trên căn bản ý chí của người dân. - Về bình đẳng: Không được phép tước đoạt cơ hội thụ hưởng kết quả từ hoạt động phát triển của bất cứ cá nhân nào hoặc Dân tộc nào. - Về khoan dung: Con người phải tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa và ngôn ngữ. Tuyên ngôn Thiên niên kỷ còn nêu rõ ý thức và hành động cho hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị, cho việc phát triển và xóa đói giảm nghèo, cho việc bảo vệ môi trường sinh sống, nhân quyền dân chủ và bảo vệ những người dễ bị tổn thương… Thế nhưng, trong tất cả những ghi nhận trên của văn kiện quốc tế này, Việt Nam cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được điều gì cả, trái lại đảng thống trị và nhà cầm quyền CS còn làm cho đất nước, xã hội Việt Nam ngày càng tệ hại và cuộc sống nhân dân ngày càng khốn khổ. 3- Thông tin lại cho biết nhà cầm quyền đã bỏ ra một số tiền khổng lồ là 4 tỷ rưỡi đôla (tiền thuế do nhân dân đóng góp, gần tương đương 10% ngân sách quốc gia) để chi tiêu hoang phí (và để tha hồ tham nhũng) vào việc tổ chức với những hình thức phô trương hết sức vô ích, như làm 101 trống đồng, 1000 trống da, 1000 bức tượng rồng thời Lý, những cổng chào, những phù điêu phi nghệ thuật và vô ý nghĩa, như sơn lại phố cổ Hà Nội, làm mới thay vì phục dựng các di tích, như tổ chức lễ khai mạc với diễu binh, diễu hành, biểu diễn trực thăng với khoảng 10 ngàn người tham dự, chi hàng trăm tỷ để đóng những cuốn phim lịch sử, chi hàng chục tỷ cho một số báo đưa tin đại lễ. Đang lúc đó, nhân dân trong nước thiếu thốn mọi bề, đặc biệt là thiếu trường học, bệnh viện, cầu qua sông…. Ngoài ra, việc đóng những cuốn phim lịch sử với đạo diễn Tàu, trường quay Tàu, phong cách Tàu, diễn viên phụ Tàu; việc lợi dụng Đại lễ kỷ niệm để tuyên truyền cho đảng Cộng sản Việt Nam lẫn Trung Quốc, để lập dự án ăn cướp đất đai nhà cửa của nhân dân, tất cả chỉ làm cho dân tình càng thêm ngao ngán, phẫn nộ và cùng cực. 4- Do đó Khối 8406 chúng tôi tuyên bố: - Đảng và nhà cầm quyền độc tài toàn trị CS hiện đang làm những việc rất lố bịch và tệ hại, trái với ý chí của Tiền nhân, tinh thần của Đại lễ và ý nghĩa của biểu tượng Ngàn năm Thăng Long. - Qua Đại lễ Ngàn năm Thăng Long mang đậm dấu ấn Trung Cộng như thế, Đảng và nhà cầm quyền độc tài toàn trị CS ngang nhiên xác nhận: thời kỳ Bắc Thuộc kiểu mới thế kỷ XXI đang ngày càng rõ ràng hiện thực, với tình hình đất, rừng, biển và nhiều nguồn lợi kinh tế khác của Tổ quốc Việt Nam mất dần vào tay Trung Cộng, với tình trạng Đất nước ngày càng lệ thuộc Trung Cộng về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, an ninh quốc phòng. - Đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hiện nay cũng như trong quá khứ do đó phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Dân tộc và lịch sử về những hành động cực kỳ tai hại và mù quáng gây nên nguy cơ mất nước kiểu mới này (2). - Kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long cần phải được mừng không phải với việc tổ chức những lễ lạc hoành tráng, những hội hè rỗng tuếch, những trình diễn lãng phí, mà là với việc tưởng niệm, đề cao và khôi phục những giá trị văn hóa đầy nhân bản của Dân tộc nói trên xoay quanh tâm điểm là con người. Việt Nam, ngày 12 tháng 09 năm 2010. Ban Đại diện Lâm thời Khối 8406 1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam. 2. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận động dân chủ tại hải ngoại. 3. Linh mục Nguyễn Văn Lý - đang điều trị bệnh dưới dạng quản thúc tại Nhà Chung Tòa Tổng Giám mục Huế, 69 Phan Đình Phùng, Huế, Việt Nam. 4. Linh mục Phan Văn Lợi - đang bị quản chế tại gia ở 16/46 Trần Phú, Huế, Việt Nam. Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản. Phụ lục Tuyên bố của Khối 8406 nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày thành lập (8/4/2006 – 8/4/2010). Kính gửi: ‒ Toàn thể đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước. ‒ Các quốc hội và chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ. Khối 8406 được thành lập vào ngày 8-4-2006, là ngày mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 (gọi tắt Tuyên ngôn 8406) được phổ biến rộng rãi. Với số thành viên ban đầu là 118 người dân trong nước, chỉ một thời gian ngắn sau đó, Khối 8406 đã nhận được sự ủng hộ và tham gia mạnh mẽ của hàng ngàn, rồi hàng chục ngàn đồng bào Việt Nam ở quốc nội lẫn hải ngoại. Đồng thời, nhiều nhà hoạt động chính trị, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, nhiều tổ chức phi chính phủ và công dân bình thường thuộc nhiều quốc gia trên thế giới như: Anh, Ba Lan, Đức, Gia Nã Đại, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Tiệp Khắc, Úc… cũng đã nhiệt liệt chào mừng và ủng hộ tinh thần lẫn nội dung bản Tuyên ngôn 8406; ca ngợi lòng dũng cảm của các thành viên Khối 8406 đã dám vượt qua mọi nỗi sợ hãi, quyết đứng lên đương đầu trực diện với chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam, nhằm đấu tranh giành lại các quyền tự do dân chủ thực sự cho dân tộc. Trong lá Thư Ngỏ ngày 23-5-2006 của các nhân sĩ, trí thức, chính trị gia,… thuộc nhóm Hiến Chương 77 Tiệp Khắc, gửi đi từ thủ đô Praha cho Khối 8406, có đoạn viết: “Chúng tôi đã được biết đến "Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” của các bạn. Chúng tôi rất trân trọng sự can đảm của các bạn trong hoàn cảnh chính trị tương tự như ở nước chúng tôi năm 1977, khi văn kiện cơ sở của Hiến Chương 77 được công bố. Chúng tôi biết rằng các bạn đang phải hứng chịu nguy cơ bị các cơ quan chính quyền truy nã, và chúng tôi hy vọng rằng mỗi biểu hiện đoàn kết sẽ là sự khích lệ và tăng cường sức mạnh cho các bạn. (…) Chúng tôi không thờ ơ trước vận mệnh đất nước Việt Nam. Chúng tôi tin rằng tiếng nói của các bạn sẽ không bị bóp nghẹt. Cho dù về mặt hình thức thì Hiến Chương 77 đã ngừng hoạt động sau tháng 11-1989, nhưng chúng tôi rất lấy làm vui mừng được bày tỏ sự ủng hộ đối với các bạn trên tư cách những cá nhân. Chúng tôi xin chúc cho nỗ lực của các bạn sẽ dẫn đến việc thiết lập nền tự do trong khoảng thời gian ngắn hơn là chúng tôi đã đạt được trong phong trào Hiến Chương 77…” Trong lá thư gửi ngày 30-5-2006 từ thủ đô Washington, do 50 vị dân biểu Hoa Kỳ cùng ký tên có đoạn: “…Chúng tôi hy vọng lá thư này sẽ nhắc nhở cho những ai có ý đồ muốn bóp nghẹt những tiếng nói đòi tự do hoặc toan tính đe dọa hay đàn áp những người dân đã bày tỏ quan điểm của họ một cách bất bạo động là: mọi sự vi phạm nhân quyền sẽ mâu thuẫn với một hình ảnh ổn định và tiến bộ mà chính quyền Việt Nam đang muốn có. Đây là điều toàn thể thế giới đang theo dõi. Với tất cả những ai đang sống tại Việt Nam đã ký tên vào những văn kiện lịch sử này, sự can đảm và quyết tâm của quý vị để bảo vệ tự do của con người bằng phương pháp bất bạo động là tấm gương sáng cho đồng bào cả nước, cho chính chúng tôi và cho toàn thế giới. Chúng tôi cam kết sẽ sát cánh cùng quý vị trong cuộc đấu tranh này…” Cũng với một tinh thần đó, ngày 6-12-2006, tại phòng họp Quốc hội Liên bang ở thủ đô Canberra đã có 36 Dân biểu và Thượng Nghị sĩ Australia cùng ký tên vào một bức thư chung như sau: “...Chúng tôi ký tên dưới đây là những Dân biểu và Thượng nghị sĩ Australia muốn bày tỏ sự ủng hộ và ngưỡng mộ của chúng tôi đối với 118 công dân Việt Nam can đảm, được biết dưới tên Khối 8406 đã đồng ký tên vào bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam, ngày 8-4-2006 để kêu gọi cuộc vận động ôn hòa cho một tiến trình dân chủ hóa và đa đảng ở Việt Nam. (...) Sự góp mặt của phong trào dân chủ này chứng tỏ rằng khát vọng cho tự do và dân chủ là quy luật phổ quát cho tất cả các Dân tộc trên thế giới và phù hợp với những nguyên tắc được Quốc hội Australia tôn trọng. Là những đại diện được dân chúng bầu lên trong một nền dân chủ, chúng tôi có bổn phận phải lên tiếng thay cho những người mà tự do dân chủ của họ bị tước đoạt. Chúng tôi kêu gọi chính phủ nước CHXHCN Việt Nam hãy lắng nghe tiếng nói của Dân tộc mình và hãy có những bước tiến thích hợp để thay đổi và hướng về một xã hội tự do dân chủ, hội nhập hoàn toàn vào cộng đồng Quốc tế và thị trường toàn cầu. Thế giới đang theo dõi những gì đang diễn ra ở Việt Nam...”. Nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Khối 8406 (8/4/2006 – 8/4/2010), chúng tôi một lần nữa xin chân thành cảm ơn mọi sự ủng hộ, giúp đỡ đầy nhiệt tình và hiệu quả của đồng bào Việt Nam trong lẫn ngoài nước; của bạn bè quốc tế khắp 5 châu đối với Khối 8406 nói riêng và phong trào dân chủ Việt Nam nói chung, trong những năm qua. Chúng tôi nguyện sẽ luôn luôn xứng đáng với lòng tin yêu đó của mọi người và khẳng định rằng: cho dù chặng đường trước mặt còn phải trải qua khó khăn, gian khổ khốc liệt đến mấy, chúng tôi vẫn tiếp tục dấn thân, quyết cùng với dân tộc và thế giới tiến bộ đấu tranh giành lại các quyền tự do dân chủ thực sự cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu! Cũng nhân dịp này, Khối 8406 xin tuyên bố với đồng bào Việt Nam và cộng đồng thế giới như sau: 1) Trung thành tuyệt đối với tinh thần và nội dung Tuyên ngôn 8406 qua các điểm: - Mục tiêu đấu tranh là thay thế triệt để thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, phi dân chủ, phản dân tộc, không chấp nhận sự cạnh tranh của các chính đảng khác trên chính trường hiện nay bằng thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ. - Phương pháp đấu tranh là mọi phương pháp mà các cá nhân, tập thể, tổ chức bất bạo động đã sử dụng kiến hiệu từ lâu nay trên thế giới, đặc biệt nơi thánh Gandhi, luật sư Martin Luther King, phong trào dân chủ tại Đông Âu các năm 1989-1991 và phong trào dân chủ tại Việt Nam hiện giờ. - Lực lượng của cuộc đấu tranh là đại bộ phận dân tộc Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước, bao gồm mọi giới : trí thức, viên chức, văn nghệ sĩ, thương nhân, công nhân, nông dân, cựu chiến binh, sinh viên, học sinh… và cả 2 lực lượng quân đội lẫn công an mà hiện nay cũng thuộc tầng lớp bị trị. Ngoài ra còn có cộng đồng thế giới dân chủ tiến bộ. Tất cả làm thành sự kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. - Động lực đồng thời là khối tiên phong của cuộc đấu tranh là tầng lớp sĩ phu chân chính trong giới trí thức và giới tu hành vốn không chịu thờ ơ, vô cảm trước khổ đau của đồng bào và đồng loại để chỉ chăm lo cho bản thân hay cộng đồng mình. - Đối tượng của cuộc đấu tranh là các thế lực độc tài, phản dân chủ đang nắm thực quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay và những thành phần cấu kết với họ để chia chác quyền lực và quyền lợi. Thế lực này đang thiết lập và duy trì ách thống trị của họ một cách hết sức bất lương và tàn ác lên đầu lên cổ dân tộc, đang vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn mình mà chà đạp thô bạo quyền lợi chính đáng của tuyệt đại đa số nhân dân! Chính họ đang bất chấp sự tụt hậu của quốc gia, sự suy vong của giống nòi mà phớt lờ ý chí và nguyện vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam hôm nay là thực sự dân chủ hoá đất nước! Vì vậy, trong lòng dân tộc hiện thời, đang có mâu thuẫn lớn lao và cơ bản giữa giai cấp thống trị thiểu số cực kỳ tham lam, tàn ác, sống xa hoa phè phỡn, với giai cấp bị trị chiếm đại đa số đang sống rên xiết lầm than như nô lệ. - Ý nghĩa của cuộc đấu tranh là chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, tiến bộ nhất định thắng lạc hậu và chí nhân nhất định thắng bạo tàn! 2) Khẳng định dựa trên tất cả những gì đã và đang diễn ra, rằng: Dứt khoát không thể xây dựng một Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong tình trạng vẫn còn tồn tại chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị hiện nay! Chế độ này không thể gìn giữ đạo đức xã hội đang ngày càng xuống cấp, không thể chống được quốc nạn tham nhũng đang ngày càng hoành hành, không thể bảo vệ sự an toàn của mỗi công dân và mỗi gia đình đang ngày càng bị xâm phạm, không thể bảo toàn nền an ninh quốc gia đang ngày càng bị đe dọa… Nguy hiểm hơn, chế độ ấy đang đẩy dân tộc ta vào một nguy cơ mất nước kiểu mới đến từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Về vấn đề này, Khối 8406 chúng tôi nhận định rằng: Trong điều kiện, hoàn cảnh quốc tế ngày nay, việc Trung Quốc đem quân xâm lược toàn bộ Việt Nam có khả năng rất thấp. Thế nhưng, việc Trung Quốc tìm mọi cách mua chuộc và khống chế một số thành phần lãnh đạo trọng yếu trong bộ máy cầm quyền Hà Nội, để số này răm rắp phục tùng chiếc gậy chỉ huy của Bắc Kinh là điều hoàn toàn có thể và khả năng này rất cao. Thực chất, đây là cách dùng người Việt cai trị người Việt theo kiểu thái thú mà không cần xâm lược bằng quân sự theo kiểu cổ điển. Nói cách khác, đây là thủ đoạn “Polpot hoá”, “Khơme đỏ hoá” Việt Nam, mà Trung Quốc từng sử dụng tại nước gọi là “Campuchia dân chủ” trong giai đoạn 1975–1979, đẩy dân tộc hiền hòa này vào thảm họa diệt chủng kinh hoàng. Những biểu hiện của chủ trương đó là Trung Quốc đã chiếm đoạt hàng ngàn km2 lãnh thổ biên giới và hàng chục ngàn km2 lãnh hải biển Đông; đã nhiều phen ngang nhiên cấm cản hay bắn thẳng vào ngư dân Việt Nam khi họ ra khơi đánh cá trong lãnh hải Tổ quốc; đã trúng thầu dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên và hàng trăm dự án xây nhà máy, xây xa lộ trên khắp cả nước; đã được “thuê miễn phí” 50 năm hàng trăm ngàn hécta rừng quốc phòng, rừng phòng hộ từ Bắc chí Nam; đã thiếp lập nhiều khu cư dân Trung Quốc bất khả xâm phạm tại nhiều tỉnh thành; đã du nhập ồ ạt vào Việt Nam vô số sản phẩm tàn hại nền văn hóa và kinh tế quốc gia cũng như tai hại cho sức khỏe đồng bào… Tất cả đều có sự dung túng, nhượng bộ, đi đêm hay đồng lõa của đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, mọi ý kiến cảnh báo nguy cơ Bắc triều, mọi hành động phản đối lân bang xâm lược đều đã bị Hà Nội coi khinh hay đàn áp. 3) Đòi hỏi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam + Tôn trọng các quyền tự do của mọi công dân, tôn trọng quyền tự quyết của toàn thể Dân tộc. + Thả khỏi tù ngay tức khắc và vô điều kiện tất cả những công dân yêu nước vì đấu tranh cho tự do dân chủ mà phải bị tống ngục. (Danh sách chưa đầy đủ được đăng ở phần Phụ lục, đính kèm với bản Tuyên bố này.) + Chấm dứt ngay mọi hành động vi phạm nghiêm trọng quyền con người, vi phạm chính Hiến pháp, luật pháp của CHXHCN Việt Nam đối với những người đấu tranh dân chủ như: theo dõi canh gác, quản chế tại gia, buộc đi thẩm vấn, nghe trộm điện thoại, đọc trộm bưu thư điện thư, cắt điện thoại và internet; nhục mạ khi tiếp xúc, vu cáo trên phương tiện truyền thông; khám tư gia, tịch thu tài sản, xử phạt hành chính; đuổi việc, bao vây kinh tế, sách nhiễu thân nhân; sử dụng côn đồ hành hung, ném chất bẩn vào nhà; ngăn cản những người đấu tranh dân chủ trong lẫn ngoài nước gặp gỡ nhau; tạm giam trái phép, xét xử và kết án nhiều năm tù với những tội danh vu vơ, ngụy tạo, v.v… Tất cả những hành động xấu xa, bỉ ổi này của công an và tòa án Việt Nam, dưới sự điều khiển của đảng cộng sản địa phương hoặc trung ương, đều được khoác lên cụm mỹ từ “bảo vệ an ninh quốc gia và ổn định trật tự xã hội!”. 4) Nhiệt liệt chào mừng sự trở lại với xã hội bình thường , trong tự do hạn chế, của 2 thành viên ưu tú thuộc Khối 8406 là linh mục Nguyễn Văn Lý và luật sư Lê Thị Công Nhân. Đồng thời thiết tha tưởng nhớ hàng chục thành viên khác đang hy sinh cho đại cuộc trong lao tù cộng sản. 5) Chân thành cảm ơn và hoàn toàn ủng hộ vô số nỗ lực của đồng bào lẫn thân hữu quốc tế nhằm hỗ trợ cho các tù nhân lương tâm, nhất là những bản tuyên bố mới đây của các tổ chức: Văn Bút Quốc tế, Ân Xá Quốc Tế, Cao Trào Nhân Bản và một số Cộng đồng người Việt hải ngoại về việc đòi trả tự do hoàn toàn, vĩnh viễn cho linh mục Nguyễn Văn Lý và chấm dứt ngay việc quản chế, xách nhiễu đối với luật sư Lê Thị Công Nhân. 6) Hết lòng ca ngợi đức dũng cảm, chí bất khuất, sự mưu trí và tinh thần bền bỉ đấu tranh bất chấp khó khăn, nguy hiểm… của mọi thành viên Khối 8406 trong lẫn ngoài nước. Sự hy sinh của quý Anh Chị Em là vô cùng quý giá và rất đáng trân trọng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của Khối 8406 nói riêng và phong trào dân chủ Việt Nam nói chung. 7) Nhân việc tái phát động trong dịp này chiến dịch “MẶC ÁO TRẮNG VÀO NGÀY MỒNG 01 VÀ 15 MỖI THÁNG, ĐỂ ỦNG HỘ DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM” , chúng tôi xin kêu gọi toàn thể đồng bào trong lẫn ngoài nước vui lòng hưởng ứng mạnh mẽ, và các trang mạng đấu tranh vui lòng phổ biến rộng rãi chiến dịch đó. Sau cùng, chúng tôi kêu mời cộng đồng thế giới tiến bộ hãy cùng đồng tâm hiệp sức với chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp dân chủ hóa Việt Nam cho đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn! Làm tại Việt Nam ngày 3 tháng 4 năm 2010. Ban Đại diện lâm thời Khối 8406: 1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam. 2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam. 3. Linh mục Nguyễn Văn Lý - đang bị quản thúc tại 69 Phan Đình Phùng Tp Huế. (Nhà Chung Tổng giáo phận Huế), 4. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận động dân chủ tại hải ngoại. Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản.

 

TUYÊN CÁO CỦA LƯƠNG TÂM CÔNG GIÁO PHẢN ĐỐI CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ CHO TRUNG CỘNG KHAI THÁC BOUXITE TẠI VÙNG CAO NGUYÊN VIET NAM. Nhận định rằng: Đất nước Việt Nam trải qua hơn 4 ngàn năm lịch sử, tổ tiên anh hùng của chúng ta đã hy sinh biết bao xương máu để dựng Nước và giữ Nước, bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ Quốc Gia. Nhưng kể từ khi cộng sản nắm quyền ở miền Bắc năm 1954 và cưởng chiếm miền Nam năm 1975, tập đoàn cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ thái độ hèn nhát làm tay sai cho quan thầy Trung cộng của chúng. Với chủ trương mãi quốc cầu vinh, Việt cộng đã dâng cho Trung cộng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, một phần lãnh hải thuộc vịnh Bắc Việt và một phần đất liền tại các tỉnh biên giới phiá Bắc Việt Nam. Nhận định rằng: Hiện nay CSVN đã bất chấp mọi phản kháng và chống đối của đồng bào và các giói trí thức, thanh niên, sinh viên, các bậc khoa bảng, các nhà bất đồng chính kiến, các vị lãnh đạo tinh thần trong quốc nội cũng như ở hải ngoại về việc ngang nhiên để Trung Cộng đem chuyên viên, bộ đội và công nhân sang khai thác quặng Bauxite tại Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam. Nhận định rằng: Việc khai thác quặng Bauxite sẽ gây ô nhiểm và ảnh hưởng nặng nề đến môi trường sinh thái và cuộc sống của người dân . Quan trọng hơn nữa là bọn bành trướng Trung Cộng sẽ biến Vùng Cao Nguyên trù phú của Việt Nam thành căn cứ quân sự vững chắc để làm bàn đạp thôn tính Việt Nam theo dã tâm xâm lược truyền kiếp của chúng. Trước cơn nguy mất nước của Việt Nam hiện nay, Tổ Chức Lương Tâm Công Giáo tuyên cáo : 1- Cực lực tố cáo trước dư luận quốc tế âm mưu bá quyền bành trướng của cộng sản Trung quốc nhằm xâm chiếm lãnh thổ VN một cách tinh vi và thâm độc. 2- Quyết liệt đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải chấm dứt ngay hành động phản quốc, dùng đất nước làm món hàng trao đổi để giữ vững độc quyền thống trị nhân dân một cách độc tài, toàn trị và phi nhân. 3- Khẩn thiết kêu gọi người Việt khắp nơi một lòng đoàn kết ủng hộ các nhà đối kháng, quý vị lãnh đạo tinh thần các Tôn Giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước đang kiên cường tranh đấu đòi CSVN phải chấm dứt khai thác Bauxite tại Cao Nguyên Trung phần và buộc Trung Cộng phải triệt thoái toàn bộ lực lượng của chúng khỏi Việt Nam. 4- Khẩn thiết yêu cầu Hội Đồng Giám Mục VN cùng giáo dân Công giáo hãy lên tiếng yểm trợ Lời kêu gọi của Hòa Thượng Thích quảng Độ, đồng thời hưởng ứng và tham gia ký tên lời kêu gọi “Hãy cứu lấy Tây nguyên khỏi thảm họa bauxite đỏ” của Linh mục Quang Uy, DCCT . Làm tại San Jose , California, Hoa Kỳ ngày 14 tháng 5 năm 2009. TM. LƯƠNG TÂM CÔNG GIÁ0 Chủ Tịch Cao Thị Tình.

 

Khi thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, vào ngày 01-11-2007, ký quyết định số 167 cho phép các nhà thầu Trung Quốc khai thác quặng bauxite và sản xuất nhôm tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông), trong một dự án kéo dài từ 2007 đến 2015, nhiều nhân vật trong bộ máy cai trị của CSVN đã hết sức thắc mắc. Thắc mắc vì lẽ họ nghe biết ông ta trước đó không ủng hộ chuyện này. Ý tưởng của dự án có từ thời người tiền nhiệm Phan Văn Khải, nhưng Phan Văn Khải cũng đã chẳng thúc đẩy cho nó thực hiện. Cả hai vẫn nhớ lời cảnh báo của Khối COMECON (Khối Tương trợ kinh tế giữa các nước CS) vào thập niên 1980. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, Khối này đã khuyến nghị nhà cầm quyền CSVN chớ nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được, chẳng những đối với cư dân địa phương mà còn với cả cư dân vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Thành ra khi ấy, CSVN đã quyết định không khai thác thứ quặng bẩn này, trái lại gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên. Vậy mà đùng một cái, Nguyễn Tấn Dũng đã xoay một góc 180 độ, khiến cho nhiều người ưu tư về đất nước đã nhảy vào cuộc để nghiên cứu cặn kẽ vấn đề. Gần một năm sau, qua báo cáo của tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn “Những sai lầm chiến lược và những rủi ro hiện hữu trong việc phát triển các dự án bauxite trên Tây Nguyên của Việt Nam” , qua tham luận của nhà văn kiêm nhà văn hóa Nguyên Ngọc và nhiều tham luận khác tại hội thảo Gia Nghĩa - Đắc Nông ngày 22 và 23-10-2008, rồi qua Kiến nghị ngày 05-11-2008 của một số khoa học gia và nghiên cứu gia gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước CSVN đề nghị tạm dừng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, người ta thấy rõ công luận đã lên tiếng cảnh báo về những hiểm họa có thể xảy đến cho vùng Tây Nguyên và cho cả nước. Thế nhưng, bất chấp những tiếng nói có uy tín trong lãnh vực khoa học, môi trường, văn hóa, xã hội… bất chấp tiếng nói đòi quyền sống của nhân dân, đặc biệt các Dân tộc thiểu số bản địa, trong cuộc họp báo đầu năm nay vào ngày 04-02-2009, thủ tướng CSVN vẫn tuyên bố rằng việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” ! Ông ta còn hứa hẹn rằng “chính phủ sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về các phương án khai thác nguồn tài nguyên to lớn này một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái…” . Thế rồi, các công việc nghiên cứu đề xuất của các cơ quan chức năng đã nhanh chóng được hoàn thành một cách sơ sài với đa số ý kiến đồng thuận. Chính phủ trình ngay dự án lên cho Bộ chính trị và nó được biểu quyết thông qua với đa số tuyệt đối. Ủy ban Thường vụ Quốc hội CS cũng cho ý kiến ủng hộ mà chẳng thông qua Quốc hội chút nào. Rồi những tay chân trong bộ máy cai trị lại phụ họa theo: Bộ trưởng Tài nguyên-Môi trường đã trả lời khi bị chất vấn: “Trước đây ta nhìn nhận tài nguyên bauxite không như hiện nay, ít quan tâm từ khai thác đến nhập khẩu. Gần đây do bauxite có giá trị cao nên các nước, nhất là doanh nghiệp trong nước mới quan tâm như vậy”. Lãnh đạo tỉnh Đắc Nông thì cho rằng nguy cơ môi trường trong các dự án bauxite là có thật nhưng không lớn lắm. Đổi lại, bauxite sẽ đem đến tăng trưởng kinh tế và việc làm cho người dân địa phương: "Mình không làm thì bauxite vẫn chỉ là đất thôi". Những kẻ hỗ trợ kế hoạch khai thác quặng này còn cho rằng nó sẽ giúp phát triển kinh tế trong khu vực và công tác khai thác sẽ sử dụng kỹ thuật hiện đại để giảm thiểu tối đa những hậu quả đối với môi sinh !?! Thế nhưng tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, thuộc Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản Việt Nam (TKV) vốn là chủ đầu tư, đã cùng với Tiến sĩ Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc, đã chứng minh qua bài viết “10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bauxite Tây Nguyên” ngày 13-01-2009 rằng (1) việc triển khai các dự án bauxite là không cần thiết, (2) không làm tăng ngân sách địa phương, (3) không hề có hiệu quả kinh tế, (4) phải đầu tư xây dựng một hệ thống đường sắt và cảng biển lãng phí, (5) không an toàn về môi sinh, (6) không phù hợp với năng lực của Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản Việt Nam, (7) không đảm bảo sinh kế cho các đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, (8) không phát triển bền vững Tây Nguyên, (9) không mang tính công khai minh bạch, (10) không tuân thủ Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường. Tóm lại là việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên chẳng có lời mà chỉ có lỗ, lỗ lớn về mặt kinh tế, môi sinh, văn hóa, xã hội, chính trị cho toàn vùng và toàn nước. Thế nhưng, qui hoạch khai thác bauxite ở Tây Nguyên mới được nhà cầm quyền CSVN phê duyệt, luận chứng kinh tế kỹ thuật vẫn đang soạn thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bauxite ở đó, vậy mà công dân Trung Quốc, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã sục sạo ở Tây Nguyên... “Chủ trương lớn của đảng và nhà nước”“Quốc hội của dân” chưa được phép bàn định thì Hoa dân đã xắn tay áo thực hiện nó rồi! Thư của tướng CS Võ Nguyên Giáp ngày 05-01-2009 đã báo động: “Trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đến Tây Nguyên để bắt tay vào việc khai thác bauxite. Mỗi công trường bauxite sẽ có tới hàng ngàn công nhân như vậy”. Và nay thì họ đã đặt tổng hành dinh điều hành khai thác bauxite ở Lâm Đồng. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: Thị trấn Lộc Thắng - xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm. 500 người Trung Quốc gồm chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và họ cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 con cháu Đại Hán làm việc tại đây. Các chuyên gia Trung Quốc cư trú ngoài thị trấn Lộc Thắng, trong khu cao cấp biệt lập nằm bên một hồ nước thơ mộng. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì sống trong những khu nhà tập thể mà người Việt chẳng được phép vào. Họ làm gì trong đó thì chỉ có trời biết! Sự xuất hiện ồ ạt của người Trung Quốc tại một nơi từng được các nhà địa lý, chính trị và chiến lược mệnh danh “nóc nhà Đông dương” là một điều hết sức đáng lo ngại, nhất là khi người ta nhớ lại rằng Thống chế Pháp de Lattre de Tassigny (cao ủy và tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông dương 1950-1952) từng nói về nó như sau: “Ai làm chủ được vùng cao nguyên Trung Phần (tức Tây Nguyên) và Hạ Lào thì sẽ làm chủ được chiến trường Đông Dương”. Chính nhờ khống chế được Tây Nguyên dễ dàng vào đầu năm 1975 mà chiến dịch mùa xuân của CSVN sau đó đã kết thúc nhanh chóng vào cuối tháng Tư đen năm ấy. Thành thử chẳng lạ gì mà thiếu tướng hồi hưu CS Nguyễn trọng Vĩnh, cựu đại sứ tại Bắc Kinh (1974 -1989), trong thư gởi bộ Chính Trị khoảng tháng 02-2009, sau khi nhắc lại những tai hại về môi trường, văn hóa, xã hội không những cho đồng bào dân tộc người Thượng, mà còn cho cư dân Nam Bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, đã nghiêm trọng cảnh báo: “Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết Trung Quốc đã xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam… không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là để đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển, (TQ) có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (TQ) có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ, thì độc lập chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” . Ngoài viên tướng này, còn nhiều sĩ quan trong Quân đội nhân dân còn lòng yêu nước cũng hết sức băn khoăn, hãi sợ. Rõ ràng vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên hiện nay chỉ là “diện” , là cái cớ bên ngoài, còn việc Trung Cộng chiếm hữu vùng đất đó làm căn cứ để thanh toán Việt Nam trong tương lai gần là “điểm” , là thực chất bên trong. Các nhà nghiên cứu chiến lược Trung Cộng cũng từng nói đến điều đó. Trôi nổi trên các trang mạng Trung Quốc đã có người viết: việc dập gẫy xương sống Việt Nam có thể dễ dàng chia cắt và thôn tính Việt Nam, mà làm chủ được Tây Nguyên chính là thực hiện được điều đó. Kinh nghiệm đau thương của VNCH đã chứng minh như vậy. Vậy là ta có thể nói như blogger Người Buôn Gió trong một bài viết hôm 11-03: “Cuối cùng người Trung Quốc thông qua Tây Nguyên đã rửa sạch những món nợ tích lũy qua bao nhiêu thế kỷ từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Muôn vàn những trận đánh oai hùng của quân dân Việt Nam từ xưa đến nay đều bị lu mờ bởi một trận đánh cực lớn trên Tây Nguyên mà người Trung Quốc dùng bauxite làm chủ công. Chiến thắng này của người Trung Quốc trên đất Việt là một chiến thắng vĩ đại để rửa hờn cho bao thế hệ đi trước của họ đã bị thất bại ở Việt Nam. Bởi vì đám con cháu của Mã Viện ngày nay ngồi ở Bắc Kinh muốn dứt điểm cái dân tộc suốt mấy nghìn năm ngo ngoe chống đối Thiên triều… Trung ương Bắc Kinh thấy thời cơ để rửa các món nhục đã chín muồi. Khi phần đông lãnh đạo Việt Nam đã không còn nghĩ đến lợi ích dân tộc, đất nước, lúc mà chủ nghĩa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang phổ biến thành tư tưởng hàng đầu ưa thích ở Việt Nam, thì chỉ cần chút mồi, hứa hẹn cuộc sống sau này cho vài cá nhân và gia đình họ là người Trung Quốc dễ dàng thực hiện mọi kế sách như đã định”. Hỡi dân tộc Việt Nam, đứng trước bọn ngoại xâm Tàu cộng hung hãn và bọn nội gián Việt cộng đê hèn này, chúng ta còn đợi gì mà không đứng lên quét sạch chúng?? BAN BIÊN TẬP

 

1- Ngay sau tháng Tư đen 1975, với phương châm “vội vã vào vơ vét”, từng đoàn đảng viên, cán bộ, cơ quan CS từ Bắc vô Nam, chiếm đoạt cơ ngơi nhà cửa rồi ở hẳn hoặc kìn kìn chở ra những tài sản cướp được của phe bại trận. Thế nhưng đa phần đều nói đó là quà tặng của “nhân dân miền Nam anh hùng”, là bằng chứng của tình dân mênh mông đối với “cách mạng”!?! Còn hiện nay, đầy dẫy trên đường phố cả nước những câu khẩu hiệu hết sức đểu giả, khốn nạn và nực cười: “Lòng dân, ý đảng!”, “Dân tin đảng, đảng tin dân!”, “Dân một lòng theo đảng, đảng một lòng vì dân!”... Cuối năm rồi, trong một cuộc gặp gỡ với quốc tế, thủ tướng CSVN còn trâng tráo tuyên bố : “Mọi người dân Việt luôn nhất trí với đường lối và chính sách của đội ngũ lãnh đạo của chúng tôi và 87 triệu dân VN đồng lòng với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ VN” !?! Mới đây, trên mạng toàn cầu lại xuất hiện cả loạt hình ảnh do một đoàn đồng hương Thanh Hóa chụp về tư gia của cựu tổng bí thư CSVN Lê Khả Phiêu, kẻ đầu sỏ trong việc ký kết hai hiệp định bán nước năm 1999 và năm 2000. Sau khi cho phái đoàn xem thấy ngôi nhà xa hoa tráng lệ của mình, Lê Khả Phiêu đã tặng cho mỗi người khách một cuốn “Mênh mông tình dân” do ông ta viết. Báo Thanh Hóa điện tử (www.baothanhhoa.com.vn/news/43408.bth) trong một bài đăng hôm 17-01-2009, đã giới thiệu về tác giả và tác phẩm đó kiểu bồi bút như sau (trích): “Đồng chí LKP được coi là một trong những nhà lãnh đạo luôn gần dân, lắng nghe ý kiến của dân để cùng Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đề ra những quyết sách đúng đắn mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, cho nhân dân… Đồng chí luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hết lòng vì dân, lo cho dân, nhất là lúc dân gặp khó khăn. Đồng chí luôn tâm niệm: Đảng lo cho dân lúc khó khăn vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa cử đền ơn đáp nghĩa… Bản thân đồng chí là tấm gương sáng về người lãnh đạo gắn bó, gần gũi với nhân dân, quan tâm, chia sẻ với niềm vui, nỗi buồn của nhân dân...” Dĩ nhiên trước thành tích phản dân hại nước trong quá khứ và cuộc sống đế vương xa xỉ hiện giờ của cựu TBT này cũng như của mọi lãnh đạo CS lớn bé, đặc biệt những tay thuộc Trung ương đảng và bộ Chính trị, qua hình ảnh nhà lưu niệm Phạm Văn Đồng, nhà thờ họ Nguyễn Tấn Dũng, biệt thự Nguyễn Thị Bình và của bao bí thư tỉnh ủy, huyện ủy to đùng khắp cả nước…, được xây bằng mồ hôi xương máu nhân dân, đồng bào Việt Nam đã phải cay đắng đổi “4 chữ vàng: mênh mông tình dân” ấy thành “lộng hành thói đảng”!!! 2- Quả thế, chỉ cần nhìn vào một số biến cố gần đây là đủ thấy toàn thể dân Việt ngày càng không thể chịu nổi sự lộng hành của đảng viên cán bộ CS ở mọi nơi, mọi cấp, mọi lãnh vực. Trên lãnh vực văn hóa là vụ Phố ông Đồ được tổ chức tại đường Văn Miếu - Quốc Tử Giám từ ngày 19-1 đến 9-2-2009, do UBND thành phố Hà Nội và Công ty Bảo tồn Di sản Văn hóa Việt… Theo truyền thống ngàn xưa, các cụ đồ ngồi vỉa hè dùng tài hoa vẽ lên hồn dân tộc, “cho chữ” khách du xuân. Thế nhưng ban tổ chức lại có ý tưởng khác lạ là buộc họ phải vào ngồi nơi bàn ghế, có nhà dù che nắng để “bán chữ” và nhà nước hưởng 50% (một giá bảo kê còn đắt hơn cả trùm băng đảng Năm Cam vốn lấy "tứ lục" theo đạo giang hồ). Thế là các cụ đồ già trẻ phản đối, chủ yếu không phải vì chuyện tiền nong, nhưng vì cách đối xử thiếu văn hóa với những người đang lưu giữ hồn dân tộc. Vậy thì chơi vô văn hóa luôn! Công an đã đến chửi rủa các cụ, gọi họ là đồ “bán chữ kiếm sống, lấn chiếm lề đường” rồi cướp mực tàu, bút lông, giấy đỏ vất lên xe. Thái độ lộng hành đáng xấu hổ này xảy ra ở chính nơi là biểu tượng số một của văn hóa dân tộc, và đằng sau nó thấp thoáng hai khuôn mặt đứng đầu UBND Hà Nội, vốn cũng tự xưng có bằng tiến sĩ như ai (nghĩa là dấu có học) là Phạm Quang Nghị (nguyên bộ trưởng văn hóa) và Nguyễn Thế Thảo!?! Trên lãnh vực y tế là vụ sữa bột trẻ em thiếu chất dinh dưỡng bị Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng VN phát giác cuối năm 2008. Theo tin của báo chí, “gần 100% mẫu sữa ở Sài Gòn có hàm lượng đạm thấp”, “sữa quảng cáo có 24% đạm, thực tế chỉ có 0,5%”. Nạn sữa giả như vậy đã có từ nhiều năm nay và xảy ra khắp cả nước. Thành ra chẳng lạ gì mà theo kết quả nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng LHQ năm 2008, mỗi năm trung bình tại VN, hơn 26 ngàn trẻ em chưa tròn 5 tuổi bị tử vong vì một số bệnh gồm sởi, viêm phổi, sốt rét, tiêu chảy… và tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ độ tuổi ấy đến giờ vẫn còn rất cao. Số trẻ này chiếm tới 25% tổng số trẻ cả nước, tức cứ 1/4 em đã không được cung cấp đầy đủ lượng chất đạm cần thiết để phát triển đúng mức trong những năm đầu đời về thể chất cũng như trí tuệ. (Phóng sự của RFA từ 8 đến 11-02-2009). Điều đáng nói là như vụ nước tương chứa chất gây ung thư 3-MCPD trước đây (6-2007), bộ Y tế CS từ lâu đã biết gần như tất cả sữa sản xuất ở VN đều không đủ tiêu chuẩn, nhưng vì thói vô trách nhiệm (quán tính CS), khả năng kém (hầu hết do mua chỗ), cộng với lòng tham lam (các công ty sữa “đấm mõm” là xong), Bộ Y tế đã ém nhẹm những thông tin đáng sợ này, gây tai hại khôn lường không những cho bao trẻ thơ vô tội mà còn cả cho giống nòi. Quả là một sự lộng hành quyền lực! Trên lãnh vực dân sinh xã hội là vụ ăn chặn tiền Tết Kỷ Sửu của dân nghèo. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho biết (trên www.cpv.org.vn ngày 04-02-2009) như sau: “Tết này đã có 2,4 triệu hộ nghèo với hơn 10 triệu nhân khẩu được nhận tiền hỗ trợ của Chính phủ với tổng số khoảng 2.500 tỷ đồng. Tại các tỉnh đồng bằng, những tỉnh giao thông thuận tiện thì 100% số hộ nghèo đã nhận được tiền hỗ trợ của Chính phủ trước ngày 30 Tết. Các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa đã cơ bản thực hiện kịp thời việc cấp tiền cho hộ nghèo. Đông đảo người dân coi đây là việc làm đột phá có ý nghĩa, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Chính phủ chăm lo cho người nghèo có Tết đầm ấm, thiết thực”. Khốn thay thực tế lại hoàn toàn khác hẳn! Những ngày vừa qua, báo chí vẫn đưa tin về các chuyện xà xẻo, ăn chặn, sử dụng sai mục tiêu, thậm chí lắm gia đình nghèo vẫn chưa nhận được tiền. Nào là “Chuyện khó tin về hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết: mỗi người nghèo chỉ được nhận… 19.000 đồng” (Tuổi trẻ 6-2), “Người nghèo bức xúc về việc phát tiền hỗ trợ Tết” (Công an nhân dân 10-2). Nào là “Dân nghèo mỏi mắt chờ tiền hỗ trợ” (CAND 9-2), “1001 cách bớt tiền người nghèo” (Tiền phong 11-2)… Báo chí còn nêu đích danh các tỉnh thành đã làm sai lệch việc hỗ trợ tiền Tết ấy: Bắc Ninh, Bình Định, Cà Mâu, Cần Thơ, Gia Lai, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hậu Giang, Huế, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Sài Gòn, Sóc Trăng, Thanh Hóa, Trà Vinh… Có thể nói kiểu “cướp cơm chim, ăn hớt đáy” này là sự lộng hành thói đảng ở tận địa phương!!! Trên lãnh vực luật pháp là vụ Huỳnh Ngọc Sỹ bị bắt giam, khám nhà và khởi tố ngày 12-2-2009 với tội danh "lợi dụng chức vụ và quyền hạn trong khi thi hành công vụ". Nhà cầm quyền công bố tội lỗi của bị cáo là đã lấy mấy buồng của cơ quan cho Công ty Nhật bản CPI thuê mướn, mỗi tháng thu 5.000 đô Mỹ rồi chia nhau giữa 86 người trong cơ quan. Số tiền chia nhau lên đến 1.196 triệu đồng, đã thu hồi được 789 triệu, còn thiếu 406 triệu! Vụ án CPI xem như đã có chiều hướng giải quyết, giải tỏa cho cả 2 phía Việt - Nhật. Thật ra, Hà Nội đã có "sáng kiến" táo tợn, đưa ra một vụ án khác, không liên quan gì đến vụ án do phía Nhật đã nêu lên, đã kết án, đã bỏ tù 4 nhân vật cấp cao của họ (là CPI đưa hối lộ cho quan chức VN để được trúng những gói thầu lớn). Số tiền hối lộ của CPI lên đến 2 triệu 6 đô, trong khi vụ án phía VN cho CPI thuê nhà chỉ có chừng 1,2 tỷ, nghĩa là chừng 70.000 đô! (1/30). Đây là một trò ma giáo, xử một vụ án rất nhẹ thay cho một vụ án khác nặng hơn nhiều; một trò ảo thuật xảo quyệt có phối hợp giữa hành pháp, lập pháp, tư pháp, thanh tra, kiểm sát, kiểm tra, công an, tư tưởng, văn hoá, do bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo và cầm trịch (theo Bùi Tín, Cuộc đánh tráo ranh ma). Đó chẳng phải một vụ lộng hành mới nhất của Bộ chính trị trên phương diện pháp luật hay sao??? Cuối cùng, trên lãnh vực an ninh và kinh tế là vụ khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Đây là sự lộng hành nghiêm trọng nhất. Số là hôm 5-1-2009, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư đề nghị Thủ tướng CS ngưng dự án khai thác này mà ông đã phê duyệt ngày 1-11-2007. Là người từng theo dõi việc khảo sát quặng bauxite ở Tây Nguyên hồi những năm 1980, ông Giáp nêu quan ngại về "nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội" do dự án gây ra. Đây cũng là nỗi lo của nhiều người. Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý tên tuổi đã gửi kiến nghị để nghiên cứu, xem xét việc khai thác bauxite Tây Nguyên một cách toàn diện. Họ cho rằng dự án này không có hiệu quả lớn về kinh tế đối với khu vực. Ngoài ra, tướng Giáp còn nêu lên một thực tại: "Trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến sẽ lên tới vài nghìn và hơn nữa)". Người ta nghi rằng họ thuộc giới quân sự và gián điệp. Đây có thể là việc Trung Cộng chuẩn bị xâm chiếm mảnh đất chiến lược mà người nắm quyền kiểm soát sẽ khống chế toàn cõi Đông Dương. Thế nhưng cho đến nay, bộ Chính trị CSVN vẫn quyết tâm tiến hành dự án nguy hiểm, đặc biệt cho an ninh Tổ quốc này. Phải chăng sau khi để cho lân bang chiếm giữ tiền đồn phía Bắc (Ải Nam quan), tiền đồn phía Đông (Hoàng Trường Sa) và đang mon men chiếm tiền đồn phía Nam (Côn Sơn và Phú Quốc), lũ vô tổ quốc này định dâng nốt tiền đồn phía Tây cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc? 3- Nhưng sở dĩ đảng CSVN lộng hành như thế cũng chỉ vì từ lâu chịu sự lộng hành của đảng CSTQ. Đây vừa là phản ứng vừa là hậu quả của quán tính thần phục ngoại bang chỉ vì tư lợi của Hồ Chí Minh và đám đồ đệ. Chúng sẵn sàng bán đứng Tổ quốc! Đất nước quả lâm nguy lắm rồi! BAN BIÊN TẬP

 

Khối 8406 Web: http://khoi8406vn.blogspot.com/ Email: vanphong8406@gmail.com Tuyên bố 9 điểm về tình hình Việt Nam hiện nay Việt Nam ngày 12 tháng 02 năm 2009 Kính gửi: Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước. Đồng kính gửi: Cộng đồng thế giới dân chủ. Sau khi bản Tuyên ngôn tự do dân chủ cho Việt Nam được công bố trên toàn thế giới vào ngày 8-4-2006, Khối 8406 (tên gọi theo ngày này) đã được thành lập như một tổ chức quần chúng đấu tranh gồm hàng chục ngàn người Việt Nam trong và ngoài nước, nhằm mục tiêu giành lại các quyền tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam bằng con đường hòa bình bất bạo động. Những quyền thiêng liêng này đã bị các thế hệ lãnh đạo trong đảng cộng sản Việt Nam ngang nhiên tước đoạt của dân tộc trong suốt hơn 63 năm qua (2/9/1945 – tháng 2/2009). Trong năm 2008 vừa qua, tình hình quốc tế đã trải qua rất nhiều biến động, có ảnh hưởng lớn đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng,… của Việt Nam. 1) Về kinh tế: + Lạm phát gia tăng, sản xuất và dịch vụ đi xuống, đời sống của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam gặp khó khăn chồng chất. Nhiều người lao động bị mất việc làm và không còn thu nhập. Việt Nam lại chẳng có hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thất nghiệp, cho những kẻ nghèo không nơi nương tựa. Họ đã và đang bị bần cùng hóa một cách thê thảm. + Tình trạng khốn khổ này không những xảy ra với dân thường mà còn với cả những người ngay chính, không chịu làm trái lương tâm trong hệ thống công quyền, kể cả trong lực lượng công an và quân đội. Tất cả họ - vốn chiếm đa số trong xã hội - đều thuộc tầng lớp bị trị mà quyền lợi đã và đang bị một thiểu số thống trị trong bộ máy cầm quyền ở Việt Nam hôm nay tham muốn nuốt trọn. + Những giải pháp chống lạm phát, chống suy thoái kinh tế do nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đưa ra, tuy bước đầu đạt được vài kết quả nhất định. Thế nhưng xét về thực chất, đó chỉ là những kết quả nửa vời, thiếu căn bản, không giải quyết được tận gốc vấn đề. Các tệ trạng nhất định sẽ bùng phát trở lại ngay trong năm 2009 này. Bởi vì, nguyên nhân sâu xa của chúng là thể chế chính trị độc tài toàn trị vốn vẫn còn y nguyên. + Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong năm 2008 vừa qua cũng đã tác động xấu đến Việt Nam. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng: sự yếu kém toàn diện của bản thân nền kinh tế Việt Nam mới là nguyên nhân chính và đã tiềm ẩn trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra, bởi lẽ đó là sự pha trộn kỳ quặc giữa tính chất thị trường cạnh tranh với tính chất “xã hội chủ nghĩa”. 2) Về chính trị: + Thế kỷ 21 đã bắt đầu được hơn 8 năm với sự nở rộ của nền dân chủ trên toàn thế giới, nhưng dân tộc Việt Nam vẫn còn phải chịu ách áp bức, bóc lột của một thể chế chính trị độc tài toàn trị, phi nhân bản, phản dân tộc và đi ngược lại các quy luật khách quan. Suốt hơn 63 năm qua, chế độ này luôn tập trung quyền lực vào tay một thiểu số lãnh đạo chính trị bất lương trong đảng cộng sản Việt Nam. Điều này đã triệt tiêu mọi khả năng cống hiến cho quốc gia dân tộc của rất nhiều con dân ưu tú, của những lực lượng chính trị tốt hảo, trong từng giai đoạn xây dựng và phát triển của đất nước. Chế độ này vẫn đang tiếp tục thực thi một chính sách khủng bố khốc liệt nhằm trói tay, bịt miệng tất cả những người Việt Nam yêu nước dám dũng cảm đứng lên đấu tranh giành lại các quyền tự do dân chủ. Nó không hề lấy sự ủng hộ của lòng dân để xây dựng và phát triển đất nước mà lại lấy bạo lực và lừa bịp làm phương tiện để tồn tại. Những biểu hiện ra bên ngoài của nó là nạn tham nhũng, lãng phí và hủy hoại môi trường rộng khắp; là cảnh áp bức, bất công, đói nghèo và tụt hậu đầy dẫy; là thói mua quan, bán chức nhan nhản, là sự giảm thiểu đạo đức xã hội và gia tăng đủ loại tội ác; là sự xâm phạm ngày càng nghiêm trọng đến an ninh cá nhân và xã hội, đến an ninh dân tộc và quốc gia (biên giới đất và biên giới biển). Tóm lại, những hệ quả xấu xa và nguy hiểm của chế độ này chẳng những là sự tụt hậu về kinh tế mà còn là sự suy đồi về tất cả các mặt của đời sống đất nước như: đạo đức, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, v.v… Tất cả đang đẩy dân tộc ta vốn có nền văn hiến hàng ngàn năm vào sự suy vong khó tránh khỏi. Điều này thật dễ hiểu, khi mà tập đoàn cầm quyền luôn đặt quyền lợi của họ lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Tập đoàn ấy, với Điều 4 của Hiến pháp hiện hành, đã tự quy định cho họ được độc quyền lãnh đạo đất nước vô thời hạn và không hề bị một cơ chế kiểm soát và giám sát nào. Vì vậy họ đã và đang ngày càng tác oai tác quái, đè đầu cưỡi cổ dân tộc. Điều này giải thích vì sao ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, từng phát biểu vào ngày 27-8-2007 rằng: “Dù ai có nói ngả nói nghiêng, dù ai có muốn bỏ điều 4 Hiến pháp thì cũng không có chuyện đó được. Bỏ cái đó đồng nghĩa với chúng ta tuyên bố chúng ta tự sát...”. Hậu qủa là: Trong xã hội Việt Nam nhiễu nhương và suy đồi hôm nay, những cái cần mất thì lại còn (do dã tâm muốn duy trì) và những cái cần còn thì lại mất (do dã tâm muốn loại bỏ) của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam! • Trước tình hình trên, Khối 8406 chúng tôi kêu gọi mọi người Việt Nam còn yêu nước thương nòi, không phân biệt già trẻ trai gái, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, hoàn cảnh xuất thân, giai tầng xã hội, địa điểm sinh sống, v.v… hãy cùng đoàn kết đứng lên đấu tranh để thay thế triệt để chế độ độc đảng, độc tài và phản dân tộc này bằng một chế độ dân chủ, đa nguyên đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai, bằng những việc làm cụ thể sau đây: 1) Tiếp tục vạch trần sự thối nát, mục ruỗng toàn diện của chế độ độc tài toàn trị hiện nay; vạch trần sự lũng đoạn bất lương của một thiểu số cầm quyền, đặc biệt là của 15 ủy viên Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đương chức, đang hàng ngày hàng giờ tàn phá đất nước, dân tộc này! 2) Ủng hộ sáng kiến mở chiến dịch khiếu kiện trước Liên Hiệp Quốc về những vi phạm nhân quyền của NCQ CSVN. Đòi họ phải cho đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam 3 văn kiện quan trọng (xin xem phần phụ lục). Đó là: + Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hiệp quốc (1948). + Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (1966). + Công ước quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966). Nội dung của 3 văn kiện đó chứa đựng những quyền tự do căn bản, mà mọi người trên khắp thế giới đều được hưởng. Nhà nước CHXHCNVN đã ký tất cả 3 văn kiện này vào năm 1982 để lừa mị thế giới tiến bộ, nhưng họ lại luôn cố tình vi phạm chúng ở Việt Nam. Thậm chí tuyệt đại đa số người dân trong nước cũng không hề biết là có chúng. Do đó, trên tinh thần tích cực và chủ động, Khối 8406 kêu gọi các thành viên của mình và mọi người Việt Nam yêu nước ở khắp nơi, bằng tất cả khả năng của mình, hãy chuyển tải được càng nhiều càng tốt 3 văn kiện trên đến với người dân Việt Nam trong nước (thành thị, nông thôn, trung du, sơn cước lẫn đồng bằng). Cần coi đây là một chiến dịch trọng điểm của năm 2009, gắn chặt nó với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa nhằm giành lại tự do dân chủ cho Dân tộc! 3) Lên án các cuộc đàn áp, theo dõi, bắt bớ, đánh đập, khám nhà, gọi thẩm vấn, tịch thu tài sản, đuổi việc, xử phạt hành chính, giam tù,… của NCQ CSVN đối với những tiếng nói đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ. Đòi họ phải thả các tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo; phải để cho những người đấu tranh dân chủ tự do gặp gỡ, hội họp với nhau và với các nhà hoạt động nhân quyền, lãnh đạo chính trị trên thế giới. Tiếp tục khẳng định và chủ động thực thi các quyền tự do căn bản của con người như: tự do tôn giáo tín ngưỡng, thông tin ngôn luận, lập hội lập đảng, biểu tình để đòi các quyền dân sinh, dân chủ, đòi quyền tự quyết cho dân tộc,… 4) Lên án các cuộc đàn áp của NCQ CSVN đối với các cá nhân và tập thể dân sự lẫn tôn giáo đấu tranh đòi lại đất đai bị NCQ CSVN cướp đoạt trên khắp đất nước. Ca ngợi sự ủng hộ của quốc tế đối với cuộc đấu tranh này. Đồng thời, chủ động xây dựng một bản dự thảo Hiến pháp đa đảng, trong đó quyền tư hữu tài sản của công dân, đặc biệt quyền tư hữu về đất đai được tôn trọng và chế độ hộ khẩu bị dứt khoát bãi bỏ. 5) Lên án công hàm bán nước do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 và 2 Hiệp định ký trong 2 năm 1999 - 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc (về đất và biển). Đòi NCQ CSVN phải đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng 3 văn kiện này cùng những bản đồ và biên bản về các cột mốc biên giới hiện nay song song với Hiệp ước Thiên Tân Pháp - Thanh ký vào năm 1885, để nhân dân Việt Nam có cơ sở so sánh, xem dân tộc đã bị thiệt hại như thế nào. Đòi NCQ CSVN phải cảnh giác và phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về các âm mưu xâm nhập gặm nhấm, cắm dân cài người của nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc ở các tỉnh biên giới phía Bắc, ở vùng Tây Nguyên và ở bất cứ vùng đất, vùng trời và vùng biển nào của Tổ quốc Việt Nam! 6) Tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ về mọi mặt của thế giới dân chủ. Đề nghị họ hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, an ninh, văn hóa, giáo dục v.v… với Việt Nam song song với việc yêu cầu và áp lực NCQ CSVN phải tôn trọng các quyền tự do cơ bản của người dân. 7) Lên án cuộc thảm sát Thiên An Môn năm 1989 và những cuộc đàn áp gần đây của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với phong trào dân chủ và dân sinh ở Trung Quốc. Ủng hộ bản Hiến chương 08 (Linh bát Hiến Chương) của các nhà dân chủ nước này được công bố vào ngày 10-12-2008). Đồng thời, kêu gọi sự liên minh, liên kết của các lực lượng đấu tranh dân chủ trong lòng các chế độ độc tài còn sót lại trên thế giới như: Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Hàn. 8) Xây dựng và tăng cường sự đoàn kết đích thực trong nội bộ phong trào dân chủ, với nguyên tắc hợp nhất trong đa diện (nghĩa là chung mục tiêu xóa bỏ chế độ độc tài, xây dựng tự do dân chủ với những phương cách khác biệt). Đồng thời, đấu tranh mạnh mẽ và sáng suốt với âm mưu lũng đoạn thao túng, chia rẽ phá hoại của bộ máy công an cộng sản giữa lòng phong trào dân chủ. 9) Mời gọi Đồng bào Việt Nam ở ngoài nước khi có điều kiện hãy về sát cánh với đồng bào trong nước để cùng đấu tranh cho dân chủ. Xin Đồng bào đừng để mình bị Nghị quyết 36 của bộ chính trị đảng CSVN lừa gạt. Việt Nam ngày 12 tháng 2 năm 2009. Ban điều hành lâm thời Khối 8406. 1) Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Sài Gòn – Việt Nam. 2) Trung tá Trần Anh Kim – Thái Bình – Việt Nam. 3) Linh mục Phan Văn Lợi – Huế – Việt Nam. 4) Giáo sư Nguyễn Chính Kết (đang vận động dân chủ tại hải ngoại) (trong sự hiệp thông của linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều chiến sĩ dân chủ khác, hiện còn đang bị giam cầm trong lao tù cộng sản.) ------------------------------- Phụ lục 1------------------------------- Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (1948) Được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217 (III), ngày 10 tháng 12 năm 1948. LỜI MỞ ĐẦU Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới, Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người, Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền, Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia, Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn, Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản, Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy. Vì vậy, ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ. Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái. Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác. Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền. Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể. Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm. Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu. Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này. Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận. Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán. Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc. Điều 11: 1) Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ. 2) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp. Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy. Điều 13: 1) Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia. 2) Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương. Điều 14: 1) Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác. 2) Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc. Điều 15: 1) Ai cũng có quyền có quốc tịch. 2) Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán. Điều 16: 1) Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn. 2) Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn. 3) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ. Điều 17: 1) Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác. 2) Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán. Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Điều 20: 1) Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình. 2) Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn. Điều 21: 1) Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn. 2) Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước. 3) Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự. Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia. Điều 23: 1) Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp. 2) Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử. 3) Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác. 4) Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình. Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghỉ định kỳ có trả lương. Điều 25: 1) Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn. 2) Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau. Điều 26: 1) Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn. 2) Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình. 3) Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con. Điều 27: 1) Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy. 2) Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình. Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ. Điều 29: 1) Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ. 2) Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn. 3) Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc. Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này. Bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền, với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền ------------------------------- Phụ lục 2------------------------------- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) LỜI MỞ ĐẦU Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước này: Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới. Nhìn nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người. Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con người tự do được hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng như được giải phóng khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền dân sự và chính trị cũng như những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Xét rằng nghiã vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người. Nhận định rằng con người có nghiã vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này. Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây: PHẦN I Điều 1: 1. Các dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. 2. Để đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghiã vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước đoạt. 3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. PHẦN II Điều 2: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được nhìn nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác. 2. Trong trường hợp những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết Công Ước cam kết sẽ ban hành các đạo luật theo thủ tục luật pháp quốc gia và theo các điều khoản của Công Ước để các quyền này có hiệu lực. 3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết: a. Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được đền bù hay đòi bồi thường thỏa đáng khi những quyền tự do của họ bị vi phạm, dầu rằng người vi phạm là một viên chức chính quyền. b. Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được khiếu nại tại các cơ quan tư pháp, hành chánh hay lập pháp quốc gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền và phát triển quyền khiếu tố trước toà án. c. Bảo đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành nghiêm chỉnh những sự đền bù hay bồi thường đã tuyên Điều 3: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong Công Ước. Điều 4: 1. Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn trương công cộng vì lý do quốc gia bị đe doạ, Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này có thể ban hành một số biện pháp đình chỉ thi hành các nghiã vụ của quốc gia ấn định trong Công Ước này. Tuy nhiên những biện pháp này phải có tính cách thật cần thiết vì nhu cầu của tình thế, và không vi phạm các nghiã vụ của quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc tế, và cũng không được dùng để kỳ thị chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo hay nguồn gốc xã hội. 2. Trong mọi trường hợp những quyền dân sự và chính trị ghi trong các điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), và trong các điều 11, 15, 16, 18 của Công Ước không thể bị đình chỉ thi hành. 3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải lập tức thông báo qua vị Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cho các quốc gia hội viên kết ước khác hay biết những điều khoản nào trong Công Ước đã bị đình chỉ thi hành, và vì lý do gì. Ngay sau khi chấm dứt tình trạng khẩn trương công cộng, họ cũng phải thông báo theo thủ tục nói trên. Điều 5: 1. Không một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền giải thích các điều khoản trong Công Ước này để cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu diệt những quyền tự do đã được Công Ước thừa nhận, hoặc để giới hạn những quyền tự do này quá mức ấn định trong Công Ước. 2. Các quốc gia hội viên kết ước nào đã thừa nhận một số nhân quyền căn bản trong luật pháp quốc gia, công ước, quy chế hay tục lệ, sẽ không được quyền giới hạn hay đình chỉ thi hành các nhân quyền căn bản đó, viện cớ rằng Công Ước này không thừa nhận những nhân quyền đó, hay chỉ thừa nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn. PHẦN III Điều 6: 1. Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán. 2. Trong các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, toà án chỉ được tuyên án tử hình đối với những tội hình sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với những điều khoản của Công Ước này và của Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng. Hình phạt tử hình chỉ có thể được thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một tòa án có thẩm quyền. 3. Điều luật này không cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này được giải trừ các nghiã vụ ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng. 4. Các bị cáo bị tuyên án tử hình có quyền xin ân xá hay ân giảm hình phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm hình phạt có thể được ban hành trong mọi trường hợp. 5. Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng không được thi hành đối với các phụ nữ mang thai. 6. Điều luật này không thể được viện dẫn để trì hoãn hay ngăn cản việc bãi bỏ hình phạt tử hình tại các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này. Điều 7: Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt là, nếu không có sự ưng thuận tự do của đương sự, không ai có thể bị dùng vào những cuộc thí nghiệm y học hay khoa học. Điều 8: 1. Không ai có thể bị bắt làm nô lệ; chế độ nô lệ và mọi hình thức buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ. 2. Không ai có thể bị bắt làm nô dịch. a. Không ai có thể bị cưỡng bách lao động. b. Khoản 3 (a) nói trên không được áp dụng tại các quốc gia trong đó luật pháp cho phép toà án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai. c. Trong phạm vi khoản này, không được coi là "lao động cưỡng bách": i. Ngoài trường hợp nêu ở khoản (b) trên đây, những công tác hay dịch vụ mà các tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ chiếu theo một bản án hợp pháp của toà án, hay phải làm trong thời gian được phóng thích có điều kiện. ii. Nghiã vụ quân sự, hay nghiã vụ quốc gia áp dụng cho những người được luật pháp cho miễn thi hành nghiã vụ quân sự vì lý do lương tâm. iii. Nghiã vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe doạ đời sống hay sự an lạc của cộng đồng. iv. Những nghiã vụ dân sự thông thường. Điều 9: 1. Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định. 2. Khi bị bắt giữ, bị cáo phải được tức thì thông báo về lý do bắt giữ, và phải được thông báo không chậm trễ về tội trạng bị cáo buộc. 3. Bị cáo bị bắt giữ hay giam cầm về một tội hình sự phải được dẫn giải không chậm trễ tới một vị thẩm phán (hay một viên chức có thẩm quyền tư pháp theo luật), để được xét xử trong một thời hạn hợp lý hay được phóng thích. Theo thông lệ, không nhất thiết phải câu lưu bị cáo trước ngày toà xử. Tuy nhiên để bảo đảm sự hiện diện của bị cáo trong phiên xử hay trong các giai đoạn thẩm vấn, và để thi hành bản án, nếu cần, sự phóng thích tạm bị cáo đòi hỏi phải có bảo đảm. 4. Những người bị bắt giữ hay giam cầm đều có quyền yêu cầu toà án thụ lý không chậm trễ về tính hợp pháp của sự giam giữ, và phải được phóng thích nếu sự giam giữ được xét là bất hợp pháp. 5. Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ hay giam cầm bất hợp pháp có quyền khiếu tố đòi bồi thường thiệt hại. Điều 10: 1. Những người mất tự do vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm. a. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, các bị cáo chưa được xét xử phải được giam giữ cách biệt với những người đã can án, và phải được đối xử theo quy chế của những người không can án. b. Các bị cáo thiếu nhi phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được xét xử trong thời hạn sớm nhất. c. Chế độ lao tù phải đặt trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ hội cải hoá và hội nhập vào đời sống xã hội. Các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn, và phải được đối xử tuỳ theo tuổi tác và tình trạng pháp lý của chúng. Điều 11: Không ai có thể bị giam giữ chỉ vì không có khả năng thi hành một nghiã vụ khế ước. Điều 12: 1. Những người cư trú hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong lãnh thổ. 2. Mọi người đều được quyền tự do rời khỏi một quốc gia, kể cả quốc gia của mình. 3. Những quyền tự do ghi trên không thể bị giới hạn, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác, và nếu không trái với những quyền tự do khác được thừa nhận trong Công Ước này. 4. Không ai có thể bị tước đoạt quyền hồi hương một cách độc đoán. Điều 13: Ngoại kiều cư trú hợp pháp trong lãnh thổ các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này chỉ có thể bị trục xuất do một quyết định hợp pháp. Trừ trường hợp có lý do cưỡng thúc về an ninh quốc gia, người bị trục xuất có quyền trình bày lý do để chống lại quyết định trục xuất, và có quyền nhờ người biện hộ nạp đơn xin tái xét hồ sơ trục xuất tại các cơ quan hay người đại diện cơ quan có thẩm quyền. Điều 14: 1. Mọi người đều bình đẳng trước toà án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghiã vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con. 2. Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật. 3. Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây: a. Được tức thì thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu. b. Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị sự biện hộ và được quyền liên lạc với luật sư do mình lựa chọn. c. Được xét xử mau chóng, không diên trì quá đáng. d. Được hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ hay nhờ luật sư biện hộ do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này trong trường hợp tự biện hộ; và được quyền có luật sư biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật sư. e. Được đối chất với các nhân chứng buộc tội và được quyền đòi nhân chứng và chất vấn các nhân chứng gỡ tội cho mình, theo cùng một thủ tục. f. Được quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không hiểu ngôn ngữ của toà. g. Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng. 4. Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm. 5. Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên toà trên theo thủ tục luật định. 6. Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu huỷ hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đã bị phạt oan uổng, người bị kết án có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết, sở dĩ sự kiện mới này không được phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn tại vì bị cáo. 7. Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đã được toà án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục hình sự hiện hành. Điều 15: 1. Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế áp dụng hồi đó; mà cũng không bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được quyền hưởng hình phạt khoan hồng hơn chiếu theo luật mới ban hành sau ngày phạm pháp. 2. Điều luật này không có tác dụng ngăn cản việc xét xử hay tuyên phạt một bị cáo vì đã làm hay không làm những hành vi cấu thành tội hình sự chiếu theo những nguyên tắc luật pháp tổng quát được thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia trong thời gian đương sự phạm pháp. Điều 16: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu. Điều 17: 1. Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xúc phạm trái phép đến danh dự và thanh danh. 2. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy. Điều 18: 1. Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. 2. Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng. 3. Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác. 4. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ. Điều 19: 1. Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. 2. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia. 3. Việc hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác. b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý. Điều 20: 1. Mọi hình thức tuyên truyền, cổ võ chiến tranh phải bị luật pháp cấm chỉ. 2. Mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc hay các tôn giáo phải bị luật pháp cấm chỉ. Điều 21: Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều 22: 1. Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình. 2. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử quyền tự do lập hội của các giới quân nhân và cảnh sát. 3. Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế. Điều 23: 1. Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản trong xã hội và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ. 2. Thanh niên nam nữ đến tuổi thành hôn có quyền kết hôn và lập gia đình. 3. Hôn thú chỉ được thành lập nếu có sự ưng thuận hoàn toàn tự do của những người kết hôn. 4. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải ban hành những biện pháp để bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm của vợ chồng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú, cũng như khi ly hôn. Trong trường hợp ly hôn phải quy định những biện pháp bảo vệ quyền lợi của các con. Điều 24: 1. Không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản hay dòng dõi, các trẻ em, với tư cách vị thành niên, phải được gia đình, xã hội và quốc gia bảo vệ. 2. Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi sinh, và được đặt tên họ. 3. Trẻ em có quyền thủ đắc quốc tịch. Điều 25: 1. Không bị kỳ thị (như đã quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lý, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội: a. Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn. b. Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri. c. Được quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước. Điều 26: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào. Điều 27: Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ. Trích từ cuốn "LUẬT QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN" do Luật sư Nguyễn Hữu Thống dịch và diễn giải, với sự tu chính của Ủy ban Phối hợp Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam. Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam xuất bản năm 1998 (http://www.vietnamhumanrights.net) ------------------------------- Phụ lục 3------------------------------- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966). Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước này: Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới. Nhìn nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người. Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con người tự do được giải phóng khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, cũng như những quyền dân sự và chính trị. Xét rằng nghiã vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người. Nhận định rằng con người có nghiã vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này. Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây: PHẦN I Điều 1: 1. Các dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá. 2. Để đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghiã vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước đoạt. 3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. PHẦN II Điều 2: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết, sẽ tự mình và do sự tương trợ và hợp tác quốc tế, đặc biệt về kinh tế và kỹ thuật, ban hành những biện pháp tận dụng những nguồn lợi quốc gia vào mục đích thực thi lũy tiến và đầy đủ những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này bằng những phương pháp thích nghi, đặc biệt là bằng việc ban hành các đạo luật. 2. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm thực thi các quyền liệt kê trong Công Ước này không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác. 3. Trong chiều hướng tôn trọng nhân quyền và căn cứ vào khả năng kinh tế trong nước, các quốc gia đang phát triển có thể ấn định những quyền kinh tế nào trong Công Ước này sẽ được bảo đảm áp dụng cho những người không có tư cách công dân. Điều 3: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá liệt kê trong Công Ước này. Điều 4: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này nhìn nhận rằng, về việc hành xử những quyền ghi trong Công Ước, họ chỉ có thể ấn định các giới hạn luật định phù hợp với bản chất của những quyền này và chỉ nhằm mục đích phát huy sự an lạc chung trong một xã hội dân chủ. Điều 5: 1. Không một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền giải thích các điều khoản trong Công Ước này để cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu diệt những quyền tự do đã được Công Ước thừa nhận, hoặc để giới hạn những quyền tự do này quá mức ấn định trong Công Ước. 2. Các quốc gia nào đã thừa nhận một số nhân quyền căn bản trong luật pháp quốc gia, công ước, quy chế hay tục lệ, sẽ không được quyền giới hạn hay đình chỉ thi hành các nhân quyền căn bản đó, viện cớ rằng Công Ước này không thừa nhận những nhân quyền đó, hay chỉ thừa nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn. PHẦN III Điều 6: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận cho mọi người quyền làm việc và cam kết sẽ ban hành những biện pháp để bảo đảm quyền này. Quyền làm việc bao gồm quyền co cơ hội sinh sống nhờ công việc, quyền tự do nhận việc hay lựa chọn việc làm. 2. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này sẽ ban hành những biện pháp để thực thi đầy đủ quyền làm việc, như những chương trình huấn luyện, hướng dẫn kỹ thuật và hướng nghiệp, những chính sách và kỹ thuật để phát triển đều đặn về kinh tế, xã hội và văn hoá, cùng sự toàn dụng nhân công vào việc sản xuất trong điều kiện những quyền tự do chính trị và kinh tế căn bản của con người được bảo đảm. Điều 7: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này nhìn nhận cho mọi người quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt với những bảo đảm sau đây: 1. Về việc trả lương cho các công nhân, tối thiểu phải có: a. Tiền lương tương xứng và công bằng cho các công việc có giá trị ngang nhau không phân biệt đối xử. Đặc biệt phụ nữ được bảo đảm có những điều kiện làm việc tương xứng như nam giới, làm việc ngang nhau được trả lương ngang nhau. b. Một mức sống xứng đáng cho bản thân và gia đình phù hợp với những điều khoản của Công Ước này. 2. Có điều kiện làm việc an toàn và không hại đến sức khoẻ. 3. Có cơ hội thăng tiến đồng đều cho mọi người và chỉ căn cứ vào thâm niên và khả năng. 4. Có quyền nghỉ ngơi và giải trí; được ấn định hợp lý số giờ làm việc, kể cả những ngày nghỉ định kỳ có trả lương và những ngày nghỉ lễ có trả lương. Điều 8: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm: a. Quyền tự do thành lập nghiệp đoàn và tham gia nghiệp đoàn (theo nội quy và điều lệ), để bảo vệ và gia tăng quyền lợi kinh tế và xã hội của mình. Sự hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu sinh hoạt trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, hay sự hành xử quyền tự do của người khác. b. Quyền của các nghiệp đoàn được kết hợp thành các tổng liên đoàn quốc gia, và từ đó thành lập hay gia nhập các tổ chức tổng liên đoàn quốc tế. c. Các nghiệp đoàn được quyền tự do hoạt động và chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vi nhu cầu sinh hoạt trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, hay sự hành xử quyền tự do của những người khác. d. Quyền đình công được hành xử theo luật quốc gia. 2. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử những quyền này của các giới quân nhân, cảnh sát và công chức quốc gia. 3. Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội được ban hành những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế. Điều 9: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội. Điều 10: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này nhìn nhận rằng: 1. Vì gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản trong xã hội nên phải được bảo vệ và hỗ trợ mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong giai đoạn thành lập và trong khi thi hành nghiã vụ chăm sóc và giáo dục các trẻ em. Hôn thú được thành lập do sự ưng thuận tự do của những người kết hôn. 2. Xã hội phải đặc biệt giúp đỡ các sản phụ trong một thời gian hợp lý trước và sau khi sinh nở. Trong thời gian này, các bà mẹ đi làm được nghỉ phép có trả lương hay được hưởng trợ cấp an sinh xã hội cần thiết. 3. Quốc gia phải ban hành những biện pháp đặc biệt để bảo vệ và hỗ trợ các trẻ em và thiếu niên không phân biệt tình trạng phụ hệ hay bất cứ thân trạng nào khác. Trẻ em và thiếu niên phải được bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột về kinh tế và xã hội. Các thiếu niên không được tuyển dụng vào các công việc nguy hiểm đến đời sống hay phương hại đến đạo lý, sức khỏe hay đến sự phát triển bình thường của tuổi trẻ. Vi phạm điều này phải bị truy tố theo luật. Quốc gia cũng phải ấn định số tuổi tối thiểu cho các thiếu niên làm việc lao động có trả lương. Tuyển dụng các thiếu niên dưới tuổi luật định phải bị cấm chỉ và truy tố theo luật. Điều 11: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận cho mọi người quyền được hưởng một mức sống khả quan cho bản thân và gia đình, đủ cơm ăn, áo mặc và nhà ở. Mức sống này phải được nâng cao liên tục. Các quốc gia hội viên kết ước sẽ ban hành những biện pháp thích nghi để quyền này được thực hiện, ý thức rằng sự hợp tác quốc tế trên căn bản tự nguyện giữ vai trò thiết yếu trong việc này. 2. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận cho mọi người quyền căn bản được giải thoát khỏi sự đói khổ, và cam kết sẽ ban hành những biện pháp do quốc gia và do sự hợp tác quốc tế, để thực hiện những chương trình đặc biệt cần thiết như: a. Cải tiến những phương pháp sản xuất, tồn trữ và phân phối thực phẩm bằng cách tận dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật, phổ biến các kiến thức về dinh dưỡng, phát triển hay canh tân nông nghiệp để đạt được năng suất tối đa về phát triển và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. b. Trên phạm vi toàn cầu, phải tiến tới sự phân phối công bằng và hợp lý các thực phẩm trên thế giới tùy theo khả năng của các quốc gia xuất cảng thực phẩm và nhu cầu của các quốc gia nhập cảng thực phẩm. Điều 12: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận cho mọi người quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe thể chất và tâm thần. 2. Để quyền này được thực thi đầy đủ, các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này sẽ ban hành những biện pháp cần thiết sau đây: a. Giảm bớt tỷ lệ tử vong của thai nhi và hài nhi, bảo vệ sức khỏe và sự phát triển của trẻ em. b. Cải thiện những điều kiện vệ sinh trong môi trường sinh thái và môi trường kỹ nghệ. c. Ngăn ngừa, điều trị và kiểm soát các bệnh dịch, các bệnh đặc biệt tại một địa phương hay tại một loại nghề nghiệp, cũng như các bệnh khác. d. Tạo điều kiện để bảo đảm việc cung cấp các dịch vụ y tế và chăm sóc bệnh nhân khi đau yếu. Điều 13: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận cho mọi người quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách và nhân phẩm, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; cho mọi người được thực sự tham gia sinh hoạt trong một xã hội tự do, đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo, và yểm trợ các hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình. 2. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này nhìn nhận rằng, đường hướng sau đây sẽ giúp vào việc thực hiện đầy đủ quyền giáo dục: a. Giáo dục tiểu học phải có tính cách cưỡng bách và miễn phí cho tất cả mọi người. b. Giáo dục trung học kể cả các ngành phổ thông, kỹ thuật và hướng nghiệp phải được phổ cập cho tất cả mọi người bằng những phương pháp thích nghi và đặc biệt phải tiến dần đến miễn phí. c. Giáo dục đại học phải được phổ cập bình đẳng cho mọi sinh viên bằng những phương pháp thích nghi, căn cứ vào khả năng, và đặc biệt phải tiến dần đến miễn phí. d. Giáo dục căn bản tráng niên được khuyến khích và tăng cường tối đa cho những người chưa tốt nghiệp tiểu học. e. Hệ thống giáo dục các cấp phải được tích cực phát triển, hệ thống học bổng tu nghiệp phải được thiết lập và điều kiện vật chất của các nhân viên giảng huấn phải được cải thiện liên tục. f. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền tự do của phụ huynh học sinh hay người giám hộ, được lựa chọn trường cho con em ngoài hệ thống giáo dục công lập, nếu trường này hội đủ những tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu do quốc gia ấn định. Các phụ huynh hay người giám hộ cũng được quyền phụ trách về giáo dục tôn giáo và đạo lý cho con em theo tín ngưỡng của họ. 3. Điều luật này không có tác dung can thiệp vào quyền tự do của các cá nhân hay tổ chức trong việc thiết lập và điều hành các định chế giáo dục tư thục với điều kiện cùng theo đuổi những mục tiêu giáo dục nêu ở khoản 1 điều này, và nếu hội đủ tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu do quốc gia ấn định. Điều 14: Trong thời gian ký kết hay gia nhập Công Ước này, nếu các quốc gia hội viên nào chưa tổ chức được hệ thống tiểu học cưỡng bách và miễn phí trong quản hạt quốc gia (hay trong các lãnh thổ mà họ bảo hộ hay giám hộ), họ cam kết sẽ thiết lập trong vòng 2 năm một chương trình hành động với đầy đủ chi tiết để tuần tự ban hành trong một thời gian hợp lý có ghi rõ trong chương trình, một hệ thống giáo dục cưỡng bách và miễn phí cho tất cả các học sinh tiểu học Điều 15: 1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này thừa nhận quyền của mọi người: a. Được tham gia vào đời sống văn hoá; b. Được hưởng các lợi ích của những tiến bộ và sáng chế khoa học. c. Được bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình. 2. Để thực thi đầy đủ quyền này, các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết sẽ ban hành những biện pháp cần thiết trong việc bảo tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hoá. 3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền tự do cần thiết cho việc nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật. 4. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này ghi nhận những lợi ích trong việc khuyến khích và phát triển những liên lạc và hợp tác quốc tế trên lãnh vực khoa học và văn hoá. Trích từ cuốn "LUẬT QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN" do Luật sư Nguyễn Hữu Thống dịch và diễn giải, với sự tu chính của Ủy ban Phối hợp Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam. Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam xuất bản năm 1998 (http://www.vietnamhumanrights.net)

 

Đó là hai thành ngữ mà ông Marco Pannella, dân biểu Quốc hội Châu Âu đã dùng đến để nói về nhà cầm quyền CSVN trong cuộc phỏng vấn của đài Á châu Tự do ngày 24-12-2008. Đây là cuộc phỏng vấn về việc ông cùng nghị sĩ Quốc hội Ý Marco Perduca đã bị cấm vào VN, dù rằng Sứ quán nước này tại Roma đã cấp chiếu khán cho hai vị hôm 19-12 và chấp thuận lộ trình của hai vị từ Nam Vang đến Sài Gòn rồi Hà Nội vào ngày 23-12 để gặp gỡ các đồng nghiệp tại Quốc hội Việt Nam theo lời mời của họ. Nguyên văn câu nói của vị dân biểu là: “…Tôi có cảm tưởng dù sao đây cũng là một thứ điên cuồng quyền lực. Có cái gì gần như một trò cười. Trong khi các chính quyền ở Tây phương, vốn chỉ nghĩ đến chuyện làm ăn, mà có khi lại làm ăn tồi tệ, nói rằng Việt Nam đang có tiến bộ. Còn Hà Nội thì lại biểu tỏ thứ tâm thần phân liệt...” Theo các nhà tâm lý học, trong con người có ba bản năng phục vụ cho cuộc sống, đó là sinh tồn, truyền sinh và quyền lực. Nếu không được lý trí điều khiển, ba bản năng này sẽ tung hoành, nổi loạn, trở nên cuồng dại, nhất là bản năng thứ ba. Điều này thấy rõ qua các tên bạo chúa và độc tài trong lịch sử, chẳng hạn Néron, Tần Thủy Hoàng, Hitler, Hussein… Chế độ Cộng sản, với chủ trương độc đảng toàn trị, là mảnh đất màu mỡ nhất cho bản năng quyền lực. Lòng ham muốn thống ngự, đè đầu cưỡi cổ thiên hạ, nhất là đồng bào ruột thịt (để từ đó cũng thỏa mãn cách thái quá bản năng sinh tồn [hưởng thụ xa hoa] và bản năng truyền sinh [hoang dâm vô độ]), đã sản sinh ra những tay giết người (có khi còn “hái hoa”) khét tiếng lịch sử như Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Pôn Pốt, Ceaucescu, Tito, Hồ Chí Minh… Bất hạnh cho nhân loại và cho nhiều dân tộc là những tên đồ tể CS này cũng để lại những môn đệ và đồng đảng ngày càng mù quáng tin tưởng và thản nhiên sử dụng bạo lực lẫn dối trá để duy trì quyền lực, bất chấp công lý công luận, lòng dân lòng người. Cách hành xử này cũng là dấu hiệu của chứng tâm thần phân liệt (schizophrénie) vốn chỉ sự tha hóa sâu xa và tiệm tiến của nhân cách, khiến đương sự tự tách khỏi mối thông hiệp với người khác để chìm đắm trong thế giới hoang tưởng của riêng mình. Xin lấy những thí dụ gần đây tại Việt Nam. Đầu tiên là thái độ ngông cuồng quyền lực của Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. Sau lần bị công luận thế giới lên án vì đã vô liêm sỉ cắt xén rồi xuyên tạc trắng trợn câu nói của Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt ngày 20-09, những tưởng Nguyễn Thế Thảo đã biết câm họng xấu hổ. Thế nhưng ông ta vẫn tiếp tục thói thị uy vượt quá quyền hạn và trách nhiệm qua đề nghị hỗn láo xấc xược đòi trục xuất Đức TGM ra khỏi nhiệm sở trong cuộc triệu tập ngoại giao đoàn cách rất ngang nhiên ngày 15-10. Mới đây là qua văn thư ngày 12-12-2008 gửi vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và vị Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế, đòi thuyên chuyển 4 linh mục ở Thái Hà ra khỏi thành phố, vì tội gọi là “đã có những hành động mạ lỵ hệ thống tư pháp Việt Nam lẫn nhạo báng tòa án nhân vụ xử 8 giáo dân Thái Hà” (thật sự cả hai cái này đều đáng cười chê phỉ nhổ cả)! Thứ đến là những câu trả lời ngông nghênh của phái đoàn “Quốc hội bù nhìn Việt cộng” trong cuộc gặp gỡ các vị Dân biểu Quốc hội Âu Châu ngày 18-12 vừa qua tại thành phố Strasbourg, nước Pháp. Đứng trước các chuyên gia hàng đầu thế giới về nhân quyền này, thế mà những “đảng biểu” như Nguyễn Viết Thịnh, Nguyễn Văn Son, Ngô Anh Dũng, Phạm Phương Thảo, Lê Thị Dung vẫn lố bịch khẳng định: “Nhân quyền là những giá trị chung, nhưng sự áp dụng nhân quyền tùy thuộc mức độ kinh tế của quần chúng: đối với dân chúng nghèo họ không quan tâm đến tự do ngôn luận mà quan tâm về ăn uống, đói no... (Rõ ràng là một sự mạ lỵ dân tộc)… Việt Nam có những qui tắc bắt buộc các người đi mô tô phải mang mũ bảo hộ mà những quốc gia khác không có (Nhân quyền duy nhất đáng tự hào của Việt cộng)… Dân chủ tại Việt Nam được quan niệm theo tinh thần cộng đồng, nên cá nhân phải tự mình khế hợp với cộng đồng (Tinh thần cộng đồng đây phải hiểu là ý đảng)… Đất đai của Công Giáo bị tịch thu là để hoàn trả cho nhân dân (Chia nhau của ăn cướp không được phải đem làm trò mỵ dân giả dối), và cũng chẳng hề có một sự đàn áp nào đối với người Thượng Tây nguyên (Tưởng thế giới không nắm được bằng chứng nào)”. Rõ ràng là một kiểu phân liệt tâm thần, một thứ não trạng quyền lực vừa ngông cuồng vừa ngốc nghếch, tưởng bưng bít được tai mắt và áp đặt được lên tâm trí thiên hạ! Tiếp nữa là Thông tư mang số 07/2008/TT của Bộ Thông tin và Truyền thông CSVN ra ngày 18-12-2008, chính thức cấm các blogger trong nước loan tải hay nối kết những đường truyền liên quan tới các nội dung gọi là “chống lại nhà nước, phương hại an ninh quốc gia, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, tiết lộ bí mật nhà nước, đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín tổ chức (phải hiểu là đảng CS!)... theo Điều 6 Nghị định số 97” hoặc “thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; truyền bá các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, nghệ thuật, các xuất bản phẩm vi phạm các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản… (một thứ luật rừng!)” (x. Thông tư điều 3). Dựa trên quan niệm độc đoán áp đặt, xuất phát từ não trạng quyền lực điên cuồng, cho rằng “blog là hoạt động mang yếu tố cá nhân, không đại diện cho một tổ chức hay thông tin chính thống nào, thành ra những blogs vượt quá thông tin cá nhân mà dám bày tỏ và chia sẻ quan điểm về các vấn đề chính trị, xã hội là sai quy định, trái pháp luật !" (lời Đỗ Quý Doãn), CSVN đã ngang nhiên đi ngược định nghĩa chung của thế giới vốn dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà coi blog “là một trang mạng cá nhân hoặc của một nhóm các cá nhân, là nơi để mỗi cá nhân tự do bày tỏ suy nghĩ, tình cảm, thái độ, quan điểm; là tờ báo mạng của cá nhân hoặc nhóm, được thường xuyên cập nhật” và coi blogger “là nhà báo công dân” (Wikipedia). Với những từ ngữ lẫn quan niệm hết sức mơ hồ và với thâm ý chống lại nguyên tắc luôn được tuyên truyền ầm ỹ “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, Thông tư 07 thật ra là phương tiện pháp lý ngăn chận tiếng nói của nhân dân, của những nhà báo độc lập không chịu ngoan ngoãn đi “lề bên phải” (như hơn 600 tờ báo công cụ nô lệ) để vạch trần vô số tội ác và sai lầm trong quá khứ lẫn hiện tại của đảng CS, đặc biệt là chuyện cướp bóc đất đai tài sản của nhân dân để căng phồng túi tham và chuyện tiến cống đất đai tài nguyên của đất nước để củng cố ghế quyền lực! Quả thế, một dấu hiệu và bằng chứng nữa về thói điên cuồng quyền lực của CSVN chính là những vụ cướp bóc đàn áp dân oan mà ngày càng gia tăng số lượng lẫn mức độ táo tợn và bạo tàn. Chẳng hạn hôm 17-12-2008 mới rồi, tại nông trường 42 thuộc tỉnh ủy Kiên Giang, gần 500 người, đại diện cho 1064 hộ, đã biểu tình để cực lực phản đối việc chính quyền chiếm đất đai, là phương tiện sinh nhai chính của họ (Bản tin RFA ngày 18-12-2008). Để đàn áp đám dân oan này, hàng trăm công an đã kéo đến, thả chó săn, ném lựu đạn cay và dùng súng bắn vào họ, gây thương tích trầm trọng cho một số người. Cũng tại Kiên Giang, hôm 19-12, chính quyền thành phố Rạch Giá và ban quản lý dự án “Lấn biển Kiên Giang” đã đưa lực lượng công an xuống cưỡng chế đất đai của nhân dân ở 3 phường Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc và An Hòa với tổng cộng 47 hộ. Bầy “chó săn của đảng” (CSCĐ) đã dùng roi điện tấn công 3 phụ nữ, trong đó có một bà 77 tuổi bị xỉu, phải đưa đi bệnh viện. Ngoài ra, trả cho dân 8.000 đồng/m2, lũ cướp ngày bán lại với giá từ 500.000 tới 2 triệu đồng/m2! (Bản tin RFA ngày 19-12-2008). Ngày 25-12-08, tại xóm 3 thôn Sơn Trung, xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội lại xẩy ra vụ cưỡng chế đất đai của dân trái pháp luật dưới sự chỉ đạo của UBND huyện và xã. Khi lực lượng cưỡng chế đến, người dân đòi xem quyết định thu hồi đất, lệnh cưỡng chế… nhưng đều bị chối từ. Các ông bà già, phụ nữ và trẻ em liền dàn hàng để bảo vệ đất đai và tài sản của mình thì đã bị đánh đập dã man, kéo xách quăng ném như con vật. Sáng ngày 29-12, cái gọi là tòa án nhân dân huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên lại đưa ra sơ thẩm “vụ án chống người thi hành công vụ lớn nhất tại địa phương” với 21 bị cáo vốn là những nông dân đã phản đối việc nhà cầm quyền cướp đất của họ để xây dựng nhà máy kéo sợi và nhà máy may sản phẩm dệt kim chất lượng cao tại xã Tân Dân, huyện Khoái Châu. Chính cái tội danh “chống người thi hành công vụ” hiểu theo nghĩa này càng bộc lộ não trạng quyền lực tột độ của CS! Cuối cùng, y như đã vội vã hoàn thành Hiệp định biên giới Việt-Trung vào cuối năm 1999 (ngày 30-12) với những thiệt hại khổng lồ đầy ô nhục cho Việt Nam, Việt cộng cũng đang theo lệnh đàn anh Trung cộng hoàn thành việc cắm gần 2000 cột mốc (gồm 1533 cột mốc chính và gần 400 cột mốc phụ) dọc 1400 km biên giới Việt-Trung trên bộ trong những ngày cuối năm 2008 này, dựa theo Hiệp định bất công nói trên, và như thế là hoàn thành màn cuối của một cuộc triều cống và xâm lược. Đây cũng là một hành vi điên cuồng quyền lực, vừa theo nghĩa đảng CSVN đã bất chấp nhân dân và Quốc hội (dù là Quốc hội bù nhìn) để tự tiện quyết định chuyện nhượng đất cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, vừa theo nghĩa bất chấp lời di huấn của tổ tiên, bất chấp mối hiểm họa cho Tổ quốc đồng bào, đảng CSVN đã đem tài sản quý giá nhất của đất nước để mua lấy sự bảo vệ cho quyền lực của mình từ một đảng -khốn nạn thay- ngày càng tỏ ra ham hố và ngạo mạn. Quyền lực điên cuồng sẽ dẫn đến kết cục bi thảm! Bài học lịch sử muôn đời vẫn còn đó. Dân biểu Marco Pannella, cũng trong bài phỏng vấn trên, đã nói tiên tri rồi: "Xin đừng tin rằng cái chính phủ đang ngự trị qua nhiều thập niên sẽ còn tồn tại vĩnh viễn”. Những hành vi cấm cản phi lý, nói năng lếu láo, ăn cướp táo tợn, triều cống khiếp nhược như thấy trên chỉ là những vùng vẫy cuối cùng của một con thú dữ đang cơn giẫy chết! BAN BIÊN TẬP

 

Kính gởi: Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Cộng sản Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Đồng Kính Gởi (để kính tường và xin can thiệp): - Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam - Toà Thánh Vatican - Chính phủ các Quốc gia yêu chuộng Tự Do - Các tổ chức Nhân Quyền thế giới. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Thưa Ông Thủ Tướng, Chúng tôi ký tên dưới đây đại diện một số đoàn thể và người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản sinh sống tại hải ngoại, viết thư này gởi đến ông để bày tỏ sự phản kháng của chúng tôi trước sự việc một số cơ quan, cán bộ thuộc quyền ông đã trắng trợn vi phạm luật pháp do chính các ông ban hành qua việc cho công an đàn áp, khủng bố giáo dân, tu sĩ và linh mục thuộc giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, chỉ vì họ đi tìm công lý và đòi lại tài sản chung bị nhà nước chiếm đoạt trái phép bằng quyền lực. Chẳng những các ông đã không trả mà còn dùng bạo lực để đàn áp dân lành vô tội không một tấc sắt trong tay. Tưởng cũng cần nhắc lại nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình hình khiếu kiện đất đai, tài sản các giáo hội bị chiếm đoạt hiện nay là bởi vì chính cái chủ trương nhằm tiêu diệt tôn giáo đã nhất quán từ khi khai sinh chế độ cộng sản tại Việt Nam. Các ông đã dùng mọi thủ đọan từ o ép, đe dọa, lừa bịp đến ve vuốt, hứa hẹn để chiếm đọạt tài sản của các giáo hội nói chung và giáo hội Công giáo nói riêng. Một thửa đất 60.000m2 (sáu mươi ngàn mét vuông) đã được Dòng Chúa Cứu Thế tạo mãi năm 1928, nay chỉ còn vỏn vẹn 2700m2 (hai ngàn bảy trăm mét vuông). Các ông bảo Nhà Dòng đã hiến tặng nhưng không trưng ra được một chứng cớ nào. Các ông bảo tài sản nọ thuộc quyền xử dụng của chính quyền, nhưng không viện dẫn ra được một lệnh trưng thu, do ai ký ở thời điểm nào. Nay vì nhu cầu mục vụ khẩn dụng, Nhà Dòng muốn nhà nước trao trả lại quyền xử dụng thửa đất trên thì nhà nước không trả, mặc dù Nhà Dòng đã làm đơn trình nhu cầu và xin giải quyết từ hơn 12 năm qua (năm 1996). Ngày nay giáo dân vì quá bất mãn, nóng lòng vì sự trì hoãn của nhà nước, nên đã kéo nhau đến khu đất trên để cầu nguyện bất bạo động, xin cho nhà nước động lòng mau giải quyết, thì nhà nước đã cho công an và thuê côn đồ xã hội đen đến đàn áp và hành hung, đánh đập giáo dân đến đổ máu, ngất xỉu. Năm 2007, nhà nước đã dối gạt và dùng bạo lực giải tán người dân oan khiếu kiện đông đảo tại Văn Phòng 2 Quốc Hội Cộng sản ở Sài gòn, bây giờ, năm 2008, lại đàn áp dã man Giáo Dân Thái Hà đi tìm công lý, chứng tỏ chế độ cầm quyền hiện nay không tôn trọng người dân và vẫn hành xử như một băng đảng tội phạm. Hình ảnh đàn áp tồi tệ đó đã được phổ biến khắp nơi. Thế giới văn minh sẽ đánh giá các ông ra sao? Làm thế nào các ông có thể kêu gọi các nước trên thế giới đến để đầu tư vào Việt Nam, làm thế nào đồng bào Việt tại hải ngoại có thể nghe lời chiêu dụ của các ông để về nước tham gia xây dựng! Là những người tỵ nạn cộng sản đang sống tại hải ngoại, nhưng vẫn đồng cảm với nỗi thống khổ của người dân Việt trong nước, chúng tôi viết thư này để yêu cầu nhà cầm quyên Việt Nam phải ngưng ngay các hành động đàn áp đánh đập dã man, phải chấm dứt các thái độ thù nghịch, sách nhiễu, tuyên truyền vu khống đối với giáo dân, tu sĩ và các linh mục thuộc giáo xứ Thái Hà, quận Đống Đa, Hà Nội. Lập tức trả lại tài sản mà nhà nước đã đoạt chiếm của Dòng Chúa Cứu Thế và giáo xứ Thái Hà. Chúng tôi yêu cầu ông truy tố và trừng phạt các công an đã thực hiện những vụ đánh đập dã man người dân vô tội. Các cơ quan truyền thông nhà nước phải bị nghiêm trị vì tội mạ lỵ phỉ báng. Bằng cách thực hiện luật pháp nghiêm minh, nhà cầm quyền mới có thể chứng tỏ với nhân dân và thế giới rằng Việt Nam là một quốc gia văn minh, pháp trị đáng được nể vì trên trường quốc tế. Làm tại San Jose, ngày 30 tháng 8 năm 2008. Đồng ký tên : 1- Tổ chức Lương Tâm Công Giáo Bà Cao Thị Tình và Ông Đặng Đình Hiền, đại diện. 2- Hội Ái Hữu Tổng Giáo Phận Huế, Ông Kiêm Ái và Ông Nguyễn Văn Châu, đại diện. 3- Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, Chủ Tịch Giáo dân Miền Đông Nam Hoa Kỳ. 4- Nguyễn Ngọc Tiên, Chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Bắc California. 5- Giáo sư Nguyễn Học Tập, Ý Đại Lợi 6- Phong Trào Vận Động Dân Chủ Cho Việt Nam/CTPT Tự Do Dân Chủ YT Khối 8406 Ông Quốc Việt và Ông Trần Việt Yên, đại diện. 7- Ông Trường Giang và gia đình 6 người. 8- Ông Việt Sĩ (Phong Trao Dan Chu & Nhan Quyen cho Viet Nam/ International Movement of Democracy & Human Rights for Vietnam). 9- Bác sĩ Vũ Linh Huy, Caritas Carney Hospital, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ 10- Ông Nguyễn Hữu Dõng, Nhóm tranh đấu dân chủ Âu Châu 11- Bà Ngô Minh Hằng, Hoa Kỳ. 12- Nguyễn Văn Thi, Cao niên, Birmingham, Anh Quốc. 13- Nguyễn Thị Thanh Xuân, Cao niên, Birmingham, Anh Quốc. 14- Thomas Nguyễn, Cao niên, Sydney, Úc. . . . . . Quý vị muốn ghi tên xin gởi email về địa chỉ : - "Henry Dang" henryddang@yahoo.com, - "Y Le" trungtin_48@yahoo.com - "Kiem ai" kiemai36@sbcglobal.net - "Viet Quoc" quocviet1717@yahoo.com - "yen tran" Tranvietyen101@yahoo.com Chúng tôi sẽ cập nhật danh sách này mỗi ngày. Đa tạ.

 

Khối 8406 Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 Web: http://khoi8406vn.blogspot.com/ Email: vanphong8406@gmail.com Kháng thư số 22 Phản đối những hành động đàn áp của nhà cầm quyền CS và ca ngợi những thành tích tranh đấu của đồng bào VN Việt Nam ngày 1 tháng 8 năm 2008 Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam và Quý Thân hữu quốc tế. Trong tư cách thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Việt Nam được giữ chức chủ tịch luân phiên của Hội đồng này suốt tháng 07 năm 2008. Lẽ ra vai trò “bình thiên hạ” đó phải được chuẩn bị bằng hay song hành với những thành tích tốt đẹp trong việc “trị quốc”. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh hoàn toàn ngược lại. Nhìn lại thời gian qua, đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã có những “thành tích” rất tồi tệ về mặt nhân quyền ở trong nước, đối với mọi giới đồng bào. Chính vì thế, I. Toàn thể Khối 8406 chúng tôi thẳng thắn tố cáo và cực lực kết án các hành vi tiêu biểu sau đây của đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam: 1- Đối với dân lành: - Bằng việc quản lý xã hội và điều hành nền kinh tế vừa yếu kém ngu dốt, vừa gian tham độc đoán, vừa vô lương tâm vô trách nhiệm, Cộng sản VN đã đẩy đất nước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng: thâm thủng mậu dịch trong 6 tháng đầu năm 2008 là 14.7 tỷ Mỹ kim, lạm phát trong tháng 6 lên mức 26.8% là mức cao nhất trong vòng 1 thập niên qua. Thị trường bất động sản đứng chững, chỉ số chứng khoán VN Index mất trên một nửa từ 800 điểm xuống còn 384 điểm, giá thực phẩm từ đầu năm tới nay tăng lên 74.3%. Nợ nước ngoài lên đến 34.6% GDP. Trong khi đó thì lương công nhân, viên chức và thu nhập của nông dân tăng không tương xứng, khiến nhân dân lao động ngày càng rơi vào cảnh bần cùng. Hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương khoá 10 lần thứ 7 (từ 9 đến 17-07-2008) đã không đưa ra được lối giải quyết nào thỏa đáng và hữu hiệu cho tình trạng khủng hoảng đó của đất nước, ngoài những biện pháp vá víu, mỵ dân, vô tác dụng. - Ngày 22-07-2008, “Tòa án nhân dân” quận 9 Sài Gòn đã mở phiên sơ thẩm xét xử công khai những dân oan khiếu kiện đất đai tại dự án khu Công nghệ cao, nằm trên địa bàn quận, với tội danh cáo buộc cho họ là "gây rối trật tự công cộng", theo điều 245 của Bộ luật hình sự. Sau một phiên toà không có nhân chứng vật chứng, không có luật sư biện hộ và không được quyền tự bào chữa, 9 nạn nhân bị cướp đất đã bị biến thành 9 phạm nhân mắc tội hình sự, với mức án từ 12 tháng tù treo đến 2 năm tù ở, kèm theo việc tước đoạt tài sản của họ. - Cũng trong ngày 22-7-2008, hơn 200 người dân thuộc huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) đã tới Trung ương để khiếu kiện chuyện đất đai, kiên quyết không cho Nhà cầm quyền địa phương lấy đất làm khu chế xuất công nghiệp, vì giá đền bù bất hợp lý (chỉ chi trả cho dân 27 triệu VNĐ/1 sào Bắc bộ = 360 m2). Cả đoàn người đã bị một lực lượng lớn công an ngăn chặn. Tóm lại, cuộc biểu tình đòi công lý đã sớm bị dập tắt hoàn toàn. - Trong khi đó, những công nhân đi lao động nước ngoài, cụ thể là 130 ngàn người trẻ Việt Nam tại Malaysia đang đổ mồ hôi và nước mắt ở đất nước Hồi giáo này. Ra đi với ước mong cải thiện cuộc sống cho bản thân và gia đình, nhưng bất hạnh thay, họ đã trở thành nạn nhân của sự lừa đảo, bóc lột, bị buôn bán và trao đổi như một món hàng. Nhân phẩm của họ bị vùi xuống bùn đen. Chẳng những không được trả lương đúng theo hợp đồng, họ còn phải chịu những điều kiện sống rất tồi tệ, phải làm những công việc nặng nhọc và đầy nguy hiểm. Nhiều công nhân đã bị thương tích trở thành tàn phế, thậm chí bị bỏ mạng nơi đất lạ xứ người. Họ bị tước bỏ mọi quyền con người và không hề nhận được sự bảo vệ của toà đại sứ Việt Nam hay sự bênh vực của các công ty tuyển thợ trong nước. 2- Đối với các nhà tu hành: - Kể từ ngày 08-05-2008, mục sư Nguyễn Công Chính, Chủ tịch Hiệp hội Thông công Tin Lành các Dân tộc Việt Nam tại Gia Lai đã bị công an buộc đi “làm việc” liên tục. Ngày 29-5-2008, họ lại đột nhập xét nhà, tịch thu ổ cứng máy vi tính và nhiều tài liệu của ông, nhưng không hề trao cho ông một biên bản nào về việc lục soát và tịch thu đó. Đặc biệt, hôm 12-07-2008 vừa qua, Ms Chính đã bị công an hành hung ngay tại tư gia; ông bị đánh vào bụng, đâm vào tay và đấm vào mắt, khiến máu chảy thành dòng trên mặt. - Ngày 03-06-2008, công an VN đã phối hợp với công an Cambodia bắt Truyền đạo A Đung, dân tộc Hà Lăng, Kontum, thuộc giáo phái Tin Lành Mennonite, cùng với 4 người Việt khác đang tìm cách trốn sang Thái Lan. Vốn thuộc dân tộc thiểu số Tây Nguyên, nhưng do bị công an sách nhiễu và đàn áp vì đã lên tiếng đấu tranh chống lại chính sách tiêu diệt tôn giáo của CS, họ đã trốn sang Cambodia và được đón nhận vào trại tị nạn của Liên Hiệp Quốc. Nhưng sau khi thấy chốn tỵ nạn này vừa khổ sở vừa không an toàn, họ đã tìm cách trốn sang Thái Lan, nhưng chưa trốn được thì đã bị công an CSVN bắt trở về Việt Nam. Truyền đạo A Đung đã bị đem ra đấu tố rồi lãnh bản án quản thúc tại gia. - Ngày 17-6-2008, tại trụ sở công an thị trấn Cầu Diễn, Hà Nội, Truyền đạo Tin lành trẻ tuổi Lê Duy Bắc ở huyện Ba Vì, Hà Tây đã bị 5 công an bu lại đánh hội đồng làm anh Bắc gãy lìa tay trái. Họ viện cớ anh không đội mũ bảo hiểm lúc đi xe gắn máy, trong khi thực chất vấn đề là vì anh là một nhà hoạt động tôn giáo nhiệt thành và năng động. - Trong tang lễ Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất từ ngày 5 đến 11-07-2008 vừa qua tại tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định, nhà cầm quyền CSVN thay vì tỏ lòng tôn trọng một đại chức sắc tôn giáo đã hết lòng vì đạo pháp và dân tộc, vì tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền, thì trái lại họ đã tìm mọi cách phá hoại tang lễ này bằng việc loan tin thất thiệt, mạ lỵ vu khống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, theo dõi kiểm soát và gây rất nhiều khó khăn cho những người đến phúng điếu, khiến nhiều tổ chức nhân quyền, nhiều chính khách quốc tế… đã phải lên tiếng phản đối, nhắc nhở. 3- Đối với các nhà dân chủ: - Ngày 29-04-2008, một số người đã bị công an bắt giữ và đánh đập, thẩm vấn liên tục nhiều giờ đồng hồ chỉ vì họ biểu tình ôn hòa, chống hành động xâm lược của chính quyền Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Trong thời gian bị bắt giữ, những người này đã bị tước đoạt tài sản cá nhân, chủ yếu là các phương tiện liên lạc. Đó là các ông: Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Anh Sơn - Hải Phòng, Vi Đức Hồi - Lạng Sơn, Vũ Hùng - Hà Tây; các anh Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Nhất - Bắc Giang, Nguyễn Tiến Nam - Yên Bái, và chị Lê Thị Kim Thu - Đồng Nai. - Ngày 27-06-2008 toà án tỉnh thành phố Vinh, Nghệ An đã mở phiên toà xét xử phúc thẩm chị Hồ Thị Bích Khương, thành viên Khối 8406 (bị bắt giam ngày 25-4-2007) và đã giữ nguyên bản án 2 năm tù của tòa sơ thẩm, với tội danh khôi hài “Nói xấu đảng và nhà nước, lợi dụng khiếu kiện để lôi kéo người chống chế độ XHCN...”. Trong khi thực chất vấn đề là vì chị Hồ Thị Bích Khương là một chiến sĩ kiên cường đấu tranh cho công bằng xã hội và cho tự do, dân chủ, nhân quyền. - Ngày 28-06-2008, hai anh Phạm Văn Trội, Ngô Quỳnh và ngày 02-07-2008, ông Phạm Đức Chính đều đã bị công an đến gây khó dễ và giả trang thành xã hội đen hành hung gây thương tích tại Lạng Sơn, khi họ đi thăm mẹ của anh Vi Đức Hồi đang bị bệnh nặng. - Ngày 03-07-2008 toà án huyện Hàm Tân, Bình Thuận đã đưa anh Lương Văn Sinh là dân oan, đồng thời là thành viên Khối 8406 ra xét xử. Công cụ của chế độ CSVN tại tỉnh này đã cáo buộc anh các tội danh: “bôi nhọ các cấp chính quyền và tụ tập khiếu kiện, gây rối trật tự công cộng”, rồi kết án anh 2 năm tù giam, tính từ ngày bị bắt hôm 10-01-2008. - Ngày 04-07-2008, cô Phạm Thanh Nghiên, một nhà đấu tranh Dân chủ trẻ tuổi ở Hải Phòng cũng bị công an giả danh côn đồ hành hung giữa đường phố, sau đó cô bị quản thúc tại gia nhiều ngày bằng lệnh miệng của công an, không có một văn bản pháp luật nào. Cùng với cô, các ông Vũ Cao Quận, Nguyễn Xuân Nghĩa cũng bị quản thúc tại gia bằng lệnh miệng, sau khi họ viết đơn xin biểu tình và bị nhà cầm quyền từ chối. - Ngày 18-07-2008, Toà án Nhân dân tỉnh Kiên Giang đã xử phúc thẩm ký giả Trương Minh Đức, thành viên Khối 8406 và đảng viên của đảng Vì Dân 5 năm tù giam (y án sơ thẩm ngày 28-3-2008). Dù luật sư Lê Trần Luật đã trình bày Biện minh trạng một cách rõ ràng súc tích, yêu cầu Hội đồng xét xử “hãy dũng cảm tuyên bố bị cáo không phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” như cáo buộc của bản án sơ thẩm.”. Nhưng cuối cùng, bất chấp công lý, tòa án Kiên Giang vẫn cho các hoạt động dân chủ chính đáng và hợp hiến của ký giả Minh Đức là tội phạm. - Tại Sài Gòn, ngày 24-07-2008, kỹ sư Đỗ Nam Hải, thành viên Ban điều hành Khối 8406 và Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam đã viết Thư ngỏ gửi giới truyền thông, để phản đối cách hành xử phi pháp của nhà cầm quyền CSVN. Cách hành xử đó là: từ cuối năm 2005 đến nay, họ đã tống đạt cho ông 4 Quyết định xử phạt hành chính, với tổng số tiền phạt là 51,5 triệu VNĐ (khoảng 3000 USD). Công an địa phương đã nhiều lần xông vào khám xét nhà và cưỡng đoạt tài sản của ông. Cho đến nay, công an vẫn luôn luôn đặt chốt gác xung quanh nhà ông cả ngày lẫn đêm, quanh năm suốt tháng, kể cả trong những dịp lễ, tết cổ truyền của dân tộc. II. Cũng nhân dịp này, Khối 8406 chúng tôi nhiệt liệt ca ngợi những thành tích tranh đấu cho nền tự do dân chủ Việt Nam của đồng bào ta thuộc mọi giới, từ quốc nội ra tới hải ngoại trong thời gian qua. - Trước hết, chúng tôi nhiệt liệt chúc mừng 8 nhà dân chủ trong nước mới được Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (Human Rights Watch) của Hoa Kỳ trao tặng giải thưởng Hellman-Hammett năm 2008 vào ngày 22-7-2008 vừa qua, “vì ngòi bút dũng cảm của họ trước những đàn áp chính trị”. Tám vị đó là: kỹ sư Nguyễn Phương Anh, linh mục Nguyễn Văn Lý, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, luật sư Lê Thị Công Nhân, tiến sĩ Hà Sĩ Phu, luật sư Lê Quốc Quân, bác sĩ Phạm Hồng Sơn và một vị khuyết danh. Khối 8406 rất lấy làm vinh dự vì trong số 8 vị được nhận giải thưởng cao quý ấy có 5 thành viên của mình. - Chúng tôi nhiệt liệt biểu dương chí khí đấu tranh kiên cường của ký giả Trương Minh Đức đã dũng cảm tuyên bố trước tòa án cộng sản: “Tôi hoàn toàn phản đối bản án phi lý này của đảng cộng sản Việt Nam”, đồng thời hô to: “Đả đảo cộng sản tham nhũng cướp đất của người dân”! Bất chấp hậu quả là ngay sau đó, một đám đông công an đã xông tới còng tay chân và kéo lê ông ra ngoài, đẩy lên xe tù, mặc dù cánh tay ông vừa được giải phẫu vẫn còn trong tình trạng bị băng bó. - Chúng tôi nhiệt liệt ca ngợi sáng kiến đầy can đảm của nhóm các nhà dân chủ ở Hà Nội đã thản nhiên giăng một biểu ngữ đấu tranh ngay trên cầu vượt Nam Thăng Long, Nội Bài vào sáng ngày 28-7-2008 giữa lúc hàng chục ngàn cư dân qua lại đang trong giờ đi làm. Biểu ngữ có nội dung rất ý nghĩa: “Tham nhũng là hút máu nhân dân. Lạm phát, giá cả tăng cao là giết dân. Mất đất, biển, đảo là có tội với tổ tiên. Yêu cầu Đảng Cộng sản thực hiện ngay dân chủ hóa đất nước, đa nguyên đa đảng”. - Chúng tôi nhiệt liệt biểu dương tinh thần đấu tranh bền bỉ, kiên cường, đầy hy sinh vì tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam của đồng bào hải ngoại tại khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt là tại Hoa Kỳ, mỗi khi có các đoàn đại biểu cao cấp của Cộng sản VN sang làm việc, và mới đây là tại thành phố Sydney, Australia trong Đại hội Giới trẻ Công giáo Thế giới, được tổ chức từ ngày 15 đến 20-7-2008. Tinh thần đấu tranh vì nghĩa lớn của đồng bào là nguồn động viên mạnh mẽ và sự hỗ trợ quý báu đối với Khối 8406 chúng tôi nói riêng và phong trào đấu tranh giành lại nền tự do dân chủ cho dân tộc nói chung. - Chúng tôi cũng nhiệt liệt ca ngợi tinh thần đoàn kết toàn dân trước hiểm họa xâm lăng đất nước, mà hơn 70 đoàn thể quốc nội lẫn hải ngoại đã biểu lộ qua việc cùng ký tên vào bức Thư Ngỏ ngày 16-07-2008 gửi Liên Hiệp Quốc. Một bức Thư ngỏ tố cáo trước dư luận quốc tế việc Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam đồng thời đòi nhà cầm quyền CSVN phải có thái độ rõ ràng đối với việc ngoại bang ngang ngược cướp đoạt đất đai của Tổ quốc, bằng cách chủ động đưa vấn đề này ra Liên Hiệp Quốc, nhân dịp Việt Nam đang làm Chủ tịch luân phiên của Hội đồng Bảo an trong tháng 7-2008 này. Làm tại Việt Nam ngày 1 tháng 8 năm 2008. Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 1- Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Sài Gòn. 2- Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn (đang công tác tại hải ngoại). 3- Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái Bình. 4- Linh mục Phan Văn Lợi, Huế. 5- Văn sĩ Nguyễn Xuân Nghĩa, Hải Phòng.