Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ >>  Truyện Vui

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Năm 12 tuổi, tôi đọc ở đâu đó một chuyện cổ tích Ấn Ðộ. Truyện rất ngắn, ít tình tiết, kể về một thằng ăn cắp. Hồi đó tôi không hiểu ý nghĩa. Ðem hỏi cha tôi thì chỉ nói: "Lớn lên con sễ hiểu. Người nào không có lòng công chính, không là người chân thật thì cũng không hiểu". Thường bọn móc túi nơi đám đông, quân đào tường, khoét vách nhà người ta để trộm tiền bạc, đồ đạc... là những vật cụ thể, hữu hình, gọi là thằng ăn cắp. Ðiều đó dễ hiểu. Còn lòng danh dự, sự công chính, lương tâm là những thứ trừu tượng, những ý niệm, thảy đều có thể bị ăn trộm hay sao? Truyện cổ tích thường vô lý. Cốt lấy ý bỏ lời. Truyện đã đọc gần nửa thế kỷ rồi, nay kể lại ắt không thể đúng theo nguyên văn. Chi tiết thì có thêm thắt, lời văn có thể rườm rà nhưng tuyệt nhiên ý nghĩa vẫn được giữ nguyên. “Ở một làng nào đó bên Ấn Ðộ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đã xế, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng đã mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải dấu trong gói hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương. Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nướcát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm. Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngàng qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian.ễ xong, ngườ i thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa. Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghỉ thầm: "Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta". Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói: - Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta. Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con: - Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nẩy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!, bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại. Người thương gia rảo bước về gấn đến làng. Nhìn xa xa trông ráng chiều tươi êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên những rặn tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách. Về đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu: - Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp tích tụ từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa! Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên. Ðến chùa, cảnh vẫn vắng tanh. Trong chùa có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi: - Gói đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu? Cụ già ngạc nhiên: - Gói đồ nào của bác? Vàng nào của bác? - Thì cái gói đồ tôi để quên hồi xế trưa trong chùa nầy! Cụ già vẫn bình thản: - Quả thật lão không thấy gói đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Gói đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao? Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tôi mN 63;t lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt. Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp mười năm tích tụ của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi, mặc gió đưa đi biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ, may rủi. Cuối làng. giữa một khoảng vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bản đen, nổi bật một hàng chữ trắng viết to: "Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại". Người thương gia mừng quýnh đập cửa xin vào. Người nông phu ra mở cửa, hỏi: - Bác là chủ gói đồ bỏ quên trong chùa? - Vâng, chính tôi. Tôi đã để quyên trong chùa khoảng xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại. - Nhưng trước hết bác phải cho tôi biết rõ gói đồ như thế nào? Trong đựng những gì? Người thương gia trả lời: Ðó là gói vải, trong đựng một ít lương khô đi đường. Người nông phu nói: - Thế thì không phải gói đồ của bác. Người nông phu nói. - Thú thật với bác, cũng còn một số vàng, gói trong một túi vải khác màu đỏ. Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia: - Quả thật gói đồ của bác. Xin mời vào nhận. Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác xé nửa số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói: - Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn. Người nông dân ngạc nhiên: - Trả lại một vật không phải là của mình là một việc bình thường, có gì đâu mà bác phải đền ơn? - Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là phải lẽ. - Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Xưa nay vẫn vậy. Không phải là cái cớ để đòi tiền thưởng. Cũng như lòng yêu quê hương, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác, do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đấy mà được chia phần? Thôi tôi xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống trong giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp. Người thương gia không biết nói gì hơn bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất túi vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy, với ý định bắt buộc người nông dân phải nhận sự trả ơn. Người nông dân vội nhặt gói vàng đuổi theo, miệng hô hoán: - Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp. Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt người nông dân, hỏi: - Nó đã ăn cắp vật gì của bác? - Nó muốn ăn cắp cái tâm công chính và chân thật của tôi từ ngày tôi theo Phật!” Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện vì tư lợi, những nguời yêu nước để mong được địa vị... thảy đều không hiểu chuyện.

 

Khi học về lịch sử Việt Nam, gã còn nhớ một trong những nguyên nhân khiến người Pháp đem quân chiếm đóng và dày xéo quê hương này, đó là chính sách “bế môn tỏa cảng” của vua chúa triều Nguyễn. Thời bấy giờ, người Pháp đang cần thị trường để tiêu thụ hàng hóa, mở rộng bờ cõi, phát huy quyền lực và ảnh hưởng của mình. Thế nhưng, luật “cấm vận” và nghỉ chơi của triều đình Huế đã làm cho người Pháp đánh rơi bổn tính ga lăng của dân Gô loa, để rồi nổi máu yêng hùng “Tạc dăng”, biểu lộ ý đồ xâm lăng đen tối của mình. Và dân tộc Việt Nam khốn khổ đã bị tròng vào cổ cái ách một-trăm-năm-nô-lệ-giặc-Tây. Thế nhưng, các cụ ta ngày xưa hình như rất khoái món bế môn tỏa cảng và cấm vận này, nên đã bê nguyên con mà ấp dụng trong lãnh vực tình yêu. Thực vậy, hồi đó khi con trai và con gái mới lớn lên thì bị cấm tiệt, không được giao du quen biết nhau, theo khẩu hiệu từ ngàn xưa đã để lại : - Nam nữ thọ thọ bất thân. Khi đến tuổi đi lập gia đình, thì phải tuyệt đối vâng lời quí vị phụ huynh : - Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó. Và tiêu chuẩn quí vị phụ huynh thường đặt ra để cho con cái mình được ngoi vào, đó là môn đăng hộ đối : phải cân bằng về tuổi tác, về địa vị, về kinh tế…Vì vậy, nhiều lúc đã xảy ra những chuyện thật chéo cẳng ngỗng : - Mẹ em tham thúng xôi rền, Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh hưng. Em đã bảo mẹ rằng đừng, Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào. Bây giờ chồng thấp vợ cao, Như đôi đũa lệch so sao cho vừa. Lắm khi hai ông bố ngồi chén thù chén tạc, rồi kết tình xui gia mí nhau, ngay cả lúc hai trẻ chưa mở mắt chào đời, vì thế mới xảy ra cái cảnh : - Bồng bồng cõng chồng đi chơi, Đi đến chỗ lội đánhrơi mất chồng. Cho tôi mượn chiếc gàu sòng, Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên. - Lấy anh từ thuở mười ba, Đến năm mười tám, thiếp đà năm con, Ra đường thiếp hãy còn son, Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng. Luật bế môn tỏa cảng này còn được biểu lộ một cách rõ rệt nhất qua chủ trương : - Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy. Hay : - Ta về ta tắm ao ta, Dầu trong dầu đục, ai nhà vẫn hơn. Hồi đó, hẳn chưa có lý lịch trích ngang để nắm vững đối tượng, nhưng nhờ chủ trương này, các cụ vẫn biết rõ kẻ mình định chọn. Hơn nữa, sau khi gả bán, các cụ còn mua đứt đường về và tình nghĩa cho con cái : - Có con mà gả chồng xa, Trước là mất nghĩa sau là mất con. Hay là kiếm chác tí đỉnh lợi lộc để bù lỗ : - Có con mà gả chồng gần, Có bát canh cần nó cũng đem cho. Đến thời Pháp thuộc, hay Mỹ thuộc chăng nữa, lập trường này vẫn còn được tuân giữ nghiêm chỉnh. Những cuộc hôn nhân “dị chủng” hay “đa quốc gia” năm thì mười họa mới xảy ra và những kẻ trong cuộc đều bị thiên hạ coi khinh bằng nửa con mắt với tên gọi là “me tây” hay “me mẽo”, cho dù đôi lúc những cuộc hôn nhân này cũng đã thành công. Thực vậy, có những anh chàng mẽo phong nhã cũng xơi tiết canh lòng lợn như điên, cũng nhậu thịt chó riềng mẻ và nhâm nhi ly rượu đế đến say khướt có bợ mà mồm thì vẫn cứ ngân nga : -Sống trên đời ăn miếng dồi chó, Xuống âm phủ biết có hay không ? Cũng ăn cà ghém và khi ăn còn quết mắm tôm thật đậm, đến như gã, dân ghiền mắm tôm hạng nặng cũng đành phải chào thua. Có những chàng hoàng tử mắt xanh mũi lõ tỏ ra hào hoa “mí” người tình bé bỏng an nam mít, đến độ nhớ nhung phát ốm tương tư : - Dê cờ ri tình thơ uyn lét, Để cho nàng con nét mông cơ. Nghĩa là : - Viết lên một bức thư tình Để nàng biết rõ lòng mình đắm say. Có một ông chồng tây chính hiếu con nai vàng, ngày kia dẫn bà vợ an nam mít đi sắm đồ. Thấy vợ kêu : -Tré sô (tres chaud), nghĩa là quá nóng Ông chồng dư máu ga lăng liền vội vàng mua lấy mua để kẻo bà vợ mi nhon bị cái nắng nhiệt đới hành hạ. Thế những khi về đến nhà, ông chồng tây liền bị bà vợ việt xài xể cho một trận tơi bời hoa lá: - Ối giời ơi, ngu chi ngu lạ, người ta bảo “ tré sô” thì phải hiểu là “trố se” (trop cher) nghĩa là quá đắt. Nói lóng đấy… bò ạ. Và ông chồng tây chỉ còn nước trố mắt ngạc nhiên, tay giơ lên trời và miệng thì không ngừng kêu: - Ố là là, ố là là. Nếu lỡ bị nàng cho leo cây hay đá dăng cu lơ thì cũng đắng cay chua xót : - Từ ngày lủy kít tê dơ Bon nơ cũng lắm, ma lơ cũng nhiều. Nghĩa là : Từ ngày mình bỏ rời nhau, Mừng vui cũng lắm, khổ đau cũng nhiều. Sau ngày giải phóng, đất nước mình được hoàn toàn độc lập tự do, nhưng tinh thần cấm vận, nghỉ chơi vẫn được thi hành một cách triệt để, nhất là đối với dân tư bản. Cũng dễ hiểu thôi, bởi vì ta phải đề cao cảnh giác, kẻo địch lợi dụng những sơ hở để chống phá cách mạng. Bởi đó, việc đầu tiên cần phải làm ngay là xin mời quí vị ngoại quốc về quê ngồi chơi xơi nước để ta ổn định việc nhà, vì có tề gia thì mới trị quốc và bình thiên hạ. Tiếp đến là phải dè chừng những kẻ có liên hệ với nước ngoài. Gã còn nhớ hồi bấy giờ gã đang cắm dùi tại một vùng vừa sâu lại vừa xa, thư từ liên hệ với bạn bè thật là khó khăn. Thư về đến xã thì bị mất tích, phiêu diêu miền cực lạc, hay được những bàn tay tò mò tọc mạch ưu ái mở ra xem trước. Buồn tình, gã mới nhờ địa chỉ của một người thân trên tỉnh, thế mà cũng được công an sờ gáy : - Anh có một hòm thư bí mật trên tỉnh. Anh liên hệ với ngoại quốc. Anh là người được Xịa cài lại hả ? Hồi bấy giờ vượt biên bị coi là phản quốc, phản dân tộc và những gia đình có thân nhân ra nước ngoài lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị công an chiếu cố hỏi thăm, vì dù sao mình cũng mang lấy mặc cảm tội lỗi. Trong thời gian này, đốt đuốc đi giữa ban ngày cũng chả tìm thấy một cuộc tình đa quốc gia. Nhưng rồi con tạo xoay vần. Nhà nước đã chơi một cú ngoạn mục, đá “vô lê” quay phắt 180 độ với chủ trương mở cửa, đổi mới. Việt kiều trở về được coi là yêu nước, được cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Họ rót đô la cho thân nhân xây nhà xây cửa, góp vốn mần ăn. Người nước ngoài ào ào tới Việt Nam như tới miền đất hứa. Nào công ty này. Nào xí nghiệp nọ. Đất cát ven đô rơi vào một cơn xốt cấp tính. Bác nông dân ngày nào còn nghèo rớt mùng tơi, nay chỉ cần bán đi vài công ruộng là khẻo re, đủ phương tiện làm le “mí” thiên hạ. Trong bối cảnh đó, tình yêu thời mở cửa mang lấy tính cách toàn cầu hóa. Nhưng cuộc tình đa quốc gia hay xuyên lục địa, những cuộc hôn nhân dị chủng nở rộ như lúa hè thu nảy mầm sau trận mưa dầm dề. Thế nhưng, ăn theo vào đó, biết bao nhiêu chuyện hỉ nộ ái ố đã phát sinh. Gã xin ghi nhanh qua mấy tờ báo thường đọc như Tuổi trẻ Chủ nhật, Công an thành phố… rồi “cọp dê” để chiềng làng, báo cáo với bàn dân thiên hạ, hầu mua vui lấy “một vài chống canh”. Thảng hoặc có dư chút thời giờ chả biết làm gì, thì thử vắt tay lên trán, ngẫm nghĩ sự đời mà cười cho hai chữ nhân tình éo le. Trước hết là cảnh tỉnh ‘’hờ’’ theo sự tính toán cho cả hai cùng có lợi, nhưng rốt cuộc bị bể mánh, chẳng ‘’nước mẹ’’ gì cả. Số là vì nuôi mộng ước không bình thường được ra ngoại quốc và trở về làm việt kiều, một cô nường ở Sài gòn đã ưng thuận kết hôn giả với một cống dân Pháp chính gốc con gà trống ‘’Gô-loa’’ vừa chẵn băm lăm tuổi. Theo sự thỏa thuận, hai người là vợ chồng trên giấy tờ pháp lý, nhưng không được sống chung ‘’mí’’ nhau. Khi đã định cư ở nước ngoài rồi, thì lập tức ly dị liền tù tì. Nếu mọi sự êm xuôi tốt đẹp, anh chồng hờ được hưởng ba ngàn đô, còn chị vợ hờ thì được phe phẩy ở nước ngoài. Cuộc tình hờ này được trình tòa và được chính quyền thành phố ký nhận. Cứ tưởng mọi sự đã thuận chèo mát mái, ai dè vào phút chót anh chàng ‘’phú lãng sa’’ này lại nhảy rào, xé hợp đồng, đòi làm chồng thiệc, chứ không chịu đóng vai chồng hờ, khiến cho cô nường tóa hỏa tam tinh, chạy vội đến ba tòa quan lớn để xin can thiệp một phen, vì thà chịu vỡ mộng còn hơn là tàn một kiếp …hoa. Dù sao chuyện tình hờ kể trên, thực chất chỉ là một loại tình dổm, dựa trên sự tình toán cân đo đong điếm. Bây giờ, gã xin đi vào những cuộc tình nặng đô hơn và cũng day dứt hơn. Dân Việt Nam ta vốn bản chất dễ hòa đồng và đón nhận cái mới. Chả thế mà ngày xưa Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo đã sống chung hòa bình với nhau một cách rất đề huề trong xã hội. Dưới thời Pháp thuộc, chúng ta đã xơi ngay phần tình túy của nền văn minh phương tây và đã mượn đỡ mẫu tự La tinh mà chế biến thành chữ quốc ngữ. Vì thế, chuyện những cô gái thích lấy chồng ngoại âu cũng chỉ là một chuyện hết sức bình thường. Ấy là gã chưa nói tới xu hướng toàn cầu hóa đang xâm lấn vào mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực tình yêu. Bởi vì như chúng ta thường bảo : - Biên giới của yêu thương là thương yêu không biên giới. Một khi đã ‘’chịu đèn’’ và ‘’phê’’ mí nhau rồi , người ta sẵn sàng vượt qua mọi ngăn cách về màu da, về ngôn ngữ, về thổ địa… để được sống cùng nhau. Ngày xưa cũng như hôm nay, vẫn có những cặp vợ chồng hai quốc tịch rất hạnh phúc và chuyện tình của họ đẹp như một huyền thoại. Có một cô hàng bán nước giải khát ở bến Bạch Đằng. Cuộc đời đang phẳng lặng, thì bỗng một anh chàng si tình xuất hiện. Ngày nào anh chàng mắt xanh da trắng này cũng đến nhấm nháp một con mực khô, uống hai long bia và ‘’bám trụ’’ tại quán suốt hai tiếng đồng hồ để được ngắm nghía cô hàng nước xinh đẹp một cách đăm đăm. Và thế là tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, liên tục phát triển theo số tiền bo hậu hĩnh và số quà cáp mỗi ngày một tăng. Rồi sự gì phải đến đã đến. Anh chàng gà trống Gõ loa đã tỏ tình thẳng đét ‘’mí’’ chị gà mái an nam mít: - Tôi yêu em, tôi muốn cưới em làm vợ. Em trả lời tôi đi. Riêng cô nàng đã bật mí cho biết : - Yếu tố hớp hồn và hấp dẫn của con gái Việt Nam là nét thùy mị, dịu dàng, kín đáo và đặc biệt là sự bẽn lẽn, e thẹn. Rồi tà áo dài chiếc nón lá… đều là những cái thật dễ thương và đáng yêu. Tuy nhiên, hiện tượng lấy chồng ngoại không thể không xảy ra những bất trắc, những bi kịch hụt hẫng bởi những mưu tính vụ lợi nhỏ nhen của cả đôi bên, đặc biệt lo ngại là những cô gái lấy chồng Đài Loan. Bất chấp những trớ trêu từ các cuộc hôn nhân, mai mối chẳng khác chi mua bán nô lệ, đổi chác hàng hóa. Đó là chưa ai để ý đến số phận của những cô gái phải theo chồng về xứ lạ đang hối hả nộp đơn xin ly dị, tìm đường về nước, còn nóng vội hơn cả hôm xuất ngoại theo chồng. Những trục trặc đắng cay xảy ra đều do bởi những cái không biết sau đây. Cái không biết thứ nhất là về bản thân của đối tượng. Các cụ ta ngày xưa đã dạy : - Lấy vợ xem tông, Lấy chồng xem giống. Nhiều khi phải thẩm tra ngược dòng thời gian tới ba bốn đời xem có chi bất ổn. Đằng này người ta sờ mó và chọn mình, chứ mình đâu được quyền chọn người ta. Phận gái lấy chồng ngoại giống như giọt mưa sa. May thì rơi vào chỗ nước trong. Chẳng may thì rơi vào vũng bùn hay đống phân trâu thì cũng đành phải chịu vậy. Có chàng sang Việt Nam với mác kỹ sư, nhưng thực chất chỉ là tay thợ hồ hay bốc vác, không hơn dân cu li cu leo là mấy. Có chàng vì tai nạn bị phỏng nặng, toàn thân đầy sẹo to sẹo nhỏ nhưng được che phủ bằng những bộ quần áo đắt giá, nhưng khi về đến nhà thì… hỡi ôi. Cô nàng kia vớ được anh chồng tướng tá cao ráo, đi đứng lúc nào cũng từ tốn chập chạp. Đến tân hôn, từ phòng tắm bước ra, cô nàng suýt hét lên bởi vì trước mặt cô là một anh chàng chỉ có ‘’một khúc mà thôi’’.hai chân giả quá khéo được lấy ra, kể ngay đầu giường. Thế là kể từ đó, anh chàng ‘’thiếu chân đứng’’ này luôn hành hạ cô nàng, bắt cô nàng phải cõng đi ăn, phải bế đi tắm… chỉ khi ra đường mới chịu gắn chân giả. Cái không biết thứ hai là về mục đích. Các cụ ta ngày xưa đã bảo : - Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng. Thế nhưng, khi lấy chồng ngoại, người con gái lại mù tịt về chồng cũng như về nhà chồng, thì làm sao mà gánh vác ? Hơn nữa, phần lớn những cuộc hôn nhân này lại diễn ra theo nhịp điệu của mua bán. Người con gái không biết mình được mua để làm gì ? Có những kẻ cưới vợ là để vợ làm những việc đồng áng nặng nhọc như những người làm thuê. Có những kẻ cưới vợ là để vợ chu toàn những công việc bếp núc trong nhà như một người đầy tớ. Có những kẻ cưới vợ là để thỏa mãn những đòi hỏi thân xác. Báo Công an kể lại : Một cô gái trẻ Việt nam lấy một ông chồng già Đài loan bằng tuổi ông ngoại. Ai ngờ khi về nước, lão viên ngoại đốn mạt này bắt cô phải phục vụ “chuyện ấy” cho em trai, rồi con trai, rồi cháu trai của lão cho đáng đồng tiền bát gạo lão đã bỏ ra để mua cô về. Bất hạnh hơn nữa phải kể đến những cô gái lâm vào thế đường cùng nơi đất khách, bị lọt vào những tổ chức mại dâm quốc tế. Những tổ chức này tại Việt nam có thể được mang những vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ, như môi giới hôn nhân, lao động ở nước ngoài… những thí sinh được tuyển chọn, khi đi hăm hở bao nhiêu, thì khi về cũng vội vã bấy nhiêu. - Khi đi thì dệt mộng vàng, Đến khi về nước thì ngậm bồ hòn đắng cay. Cái không biết thứ ba là về ngôn ngữ. Ngôn ngữ và tiếng nói là phương tiện Thượng đế trao ban để chúng ta chuyền đạt những tư tưởng, những ý nghĩ cho người khác hầu xích lại gần nhau và bắc được một nhịp cầu cảm thông. Thế nhưng, vì bất đồng ngôn ngữ, không hiểu nhau, không cảm thông cùng nhau, thì cũng khó mà hạnh phúc với nhau. Để chứng thực điều trên, gã xin kể lại một câu chuyện cho tất cả cùng… cười. Thấy thiên hạ có con gái lấy chồng Đài loan, chẳng khác nào đào trúng mở vàng. Nhà cửa vinh vang. Xe cộ đổi đời liên tục. Ông hai Nhơn nôn nóng. Ngó đi ngó lại chỉ còn mỗi cô gái út tên là Mén. Kể ra Út Mén cũng hiền lành lại đẹp gái, vì thế ông kiên quyết phải cho con gái mình lấy chồng ngoại, chứ không cho lấy chồng nội. Chẳng bao lâu mơ ước của ông đã thành sự thật. Một chàng rể Đài loan to con tốt tướng, tóc húi cao và tuổi sấp xỉ bằng ông xuất hiện. Lối xóm xì xào bàn tán. Ông bỏ ngoài tai, ông rất hài lòng và hãnh diện vì Út Mén đã có chồng ngoại. Hôm bà mối dẫn anh chàng Đài loan về ra mắt ông Hai Nhơn và coi mặt Út Mén, thiên hạ cứ tưởng rằng bạn ông ghé thăm. Đến khi gia đình làm tiệc chiêu đãi, muốn biết khẩu vị của anh chàng rể tương lai thì được bà mối giải thích : - Hễ anh chàng Đài loan kêu “ột ột” là thích ăn thịt heo, kêu “hùm bò” là thích ăn thịt bò, kêu “cạp cạp” là thích ăn thịt vịt, kêu “ò ó o” là thích ăn thịt gà. Khi ăn no thì ôm bụng xua tay. Và thế là cả nhà đều vui vẻ. Một tháng sau, anh chàng rể Đài loan đột xuất về thăm bố vợ và cô vợ sắp cưới. Có lẽ vì đột xuất nên chỉ đi với bác tài xế mà không có bà mối kèm theo. Bác tài xế thì tiếng anh mới chỉ lõm lõm, thích nói bằng tay hơn bằng mồm, còn tiếng tàu thì hoàn toàn mù tịt. Vì thế khi vô nhà, mọi người đều chào nhau, nhìn nhau, cười nhau và chẳng nói với nhau được sự gì. Sau khi nhận quà cáp, ông Hai Nhơn bảo vợ và con gái làm tiệc đãi anh chàng rể quí. Những do không biết món gì hợp khẩu với anh chàng rể, ông bèn nhớ đến mấy ngôn ngữ bà mối đã méc lần trước. Ông bèn đưa tay khều anh chàng rể một cái và nói : - Cạp cạp cạp. Anh chàng rể gật đầu. Ông khều cái thứ hai và nói : - Ò ó o. Anh chàng rể cũng gật đầu. Ông tiếp tục khều cái thứ ba và nói : Ột ột ột Anh chàng rể cười cười, rồi gật đầu. Thế là ông Hai Nhơn cùng Út Mén làm thịt một cặp vịt, một con gà và một con lợn bốn chục ký. Trong khi ăn, anh chàng rể quẳng một mẩu xương gà xuống đất. Hai con chó chạy lại giành : - Gừ gừ… Gâu gâu. Có lẽ vì lạ tai vui mắt, chàng rể bèn buông đũa, bỏ bát, tay chỉ hai con chó, miệng mỉm cười và: - Gừ gừ… Gâu gâu. Ông Hai Nhơn tưởng anh chàng rể đòi ăn thịt chó, nên lập tức truyền cho con gái đun nước sôi và đích thân ông ra tay hạ thủ hai chú chó vô tội. Nấu thịt cầy xong và dọn lên. Anh chàng rể và bác tài xế ngơ ngác. Vợ chồng ông Hai Nhơn cũng ngơ ngác. Cô Út Mén lại càng ngơ ngác hơn. Vì ham chồng ngoại, rể ngoại, không ít người đã liều nhắm mắt đưa chân, phớt tỉnh ăng lê những chuyện không biết kể trên, để rồi đã phải lãnh đủ những hậu quả dở cười dở khóc. Mà chắc chắn, khóc phải nhiều hơn cười rồi.

 

Khám bịnh xong bác sĩ nói với cô bệnh nhân trẻ: - Cô cho tôi xin số điện thoại của cô để khi nào có kết quả khám sức khoẻ thì tôi sẽ gọi điện báo cô hay. Cô gái trẻ trả lời: - Dợ, hai ba bửa tém một bửa ! Bác sĩ lắc đầu: - Không! chuyện tắm rửa của cô thì tôi không cần biết. Số điện thoại của cô á ! Cô gái trẻ trả lời: -Dợ, hai ba bửa tém một bửa! Bác sĩ lắc đầu mạnh hơn: - Cô tắm mỗi ngày 2, 3 bận hay là 2,3 tuần cô tắm một lần thì tôi không cần biết.....Số điện thoại của cô kìa.. Cô gái trẻ tức tối trả lời: - Dợ! em đẻ nó số của em lừa hai ba bửa tém một bửa - là số ĐT(237-817) Cảnh 2 Vài ngày sau, cũng trong phòng mạch bác sĩ hỏi nữ bệnh nhân tái khám: -Tại seo tui kiu cho cô wài hỏng được? Cô đổi số điện thọi rồi sao? Cô gái: -Dợ, em đã đủi gùi, Bi giờ là năm séo bửa, không tém, không tém! (567-0808)! Bác sĩ: -Chời đét !!! Cảnh 3 Bác sĩ: Vẫn không gọi được thế là thế nào ? Cô gái: dợ , tại thèng chồn em nớ kiu đổi.Bs thông cẻm, lèn nì là lèn đổi cúi gùii: lè tém chín bửa một năm không tắm ( 897-1508) Bác sĩ : ẹc ! 1 năm ko tắm thì cô đi ra dùm tui !

 

Nếu sống ở nước cộng hòa xã hộïi chủ nghĩa tôi đang sống, bạn hãy coi chừng, bạn có thể bị ghép vào tội coi thường lãnh tụ, chẳng có thế mà người ta kể rằng có một anh chàng, không hiể u đè nén sự căm thù đến thế nào mà một ngày kia, anh ta không chịu nổi nữa, anh ta chạy ra giữa đường la lớn: HCM là tên giảo quyệt, gian tr'a, lưu manh, chính nó đã tiêu diệt hàng triệu người dân vô tội, chính nó đã tàn sát những người yêu nước, cướp công của họ, một tên thủ đoạn, vô học, đưa cái chủ nghĩa khốn kiếp ở đâu vềđể đất nước lụn bại, nhận kẻ thù của nhân loại làm tổ tiên.... Dĩ nhiên anh ta bị đem ra tòa, người ta định ghép anh vào tội nói xấu lãnh tụ, nhưng công tố viên nói tội ấy chỉ bị tối đa là 3 năm, thế thì nhẹ qúa, và đề nghị ghép anh ta vào tội nào nặng nhất, cuối cùng, một người kêu lên....hồ hởi :" ghép anh ta vào tội tiết lộ bí mật quốc gia" Và rồi, đi gác cho cái lăng của bác, cái xác chết không chôn , cái xác hàng năm dân dói nghèo phải nhịn cả khoai cơm để cung phụng, ấy là một vinh dự vô cùng lớn lao, không dễ gì mà được, vì ít nhất cũng phải con của bọn...liệt tổ liệt tông, hoặc có công với cách mạng ( tức là có tội tày đình với nhân dân), người lính canh lăng lúc nào cũng phải tuyệt đối nghiêm trang, không được nhúc nhích, phải như một bức tượng. Thế mà một ngày kia, anh lính được hưởng vinh dự lớn lao ấy lại bỏ chạy cuống cuồng. Dĩ nhiên anh ta bị ra tòa. Sau khi luận tội, tên chánh án hỏi: - Bị cáo còn muốn nói gì nữa không? Hắn trả lời: - Tôi hiểu thật vô cùng vinh dự tôi mới được đư’ng canh lăng, cho nên lúc nào tôi cũng hết sức nghiêm trang. Co’ một lần, đang phiên gác, tôi chợt thấy người chú ruột của tôi ra khỏi lăng, người chú bị thất lạc đã bao nhiêu năm, ba tôi nhờ tìm khắp nơi, thế mà tôi cư’ đứng im nghiêm trang vậy không dám gọi. Một lần khác, cũng đang đứng gác, chợt tôi thấy mẹ tôi bị trúng gió, ngã ngay gần chân tôi, và tôi vẫn cư’ đư’ng nghiêm trang vậy, chờ đến hết phiên mới dám về hỏi thăm, thế thì đủ biêt tôi kỷ luật chừng nào?. Thế rồi một hôm, tôi cũng đứng nghiêm trang, nhìn thẳng phiá trước, bỗng tôi thấy 2 con sóc chơi đùa đằng xa, rồi chúng lại gần sát chân tôi, tôi cư’ đứng nghiêm trang vậy, rồi chu’ng bắt đầu chui vào ống quần tôi, tôi cư’ đư’ng nghiêm trang vậy, rồi chúng...đánh đu, tôi cư’ đứng nghiêm trang vậy, rồi chúng bắt đầu ...bới, tôi cũng cư’ đứng nghiêm trang vậy, bỗng tôi nghe một con hỏi: - Có 2 trái, em ăn trái nào? - Thế là, dù co’được vinh dự ca’ch mấy tôi cũng phải bỏ chạy te. Và nếu là quan tòa, quan tòa cũng phải vậy thôị. (Chuyện kể cho nhau nghe)

 

Nếu gã nhớ không lầm, thì hình như Phạm Quỳnh có viết trên “Nam Phong Tạp Chí” như sau: - Dân An Nam ta cái gì cũng cuời. Vui cũng cuời, mà buồn cũng cuời. Ăn theo chiều hướng ấy, gã bèn suy ra rằng : - Dân An Nam ta cái gì cũng cười. Động một tí là vén môi cuời tồ tồ. Đây cũng có thể là một điểm khác biệt giữa ta và tây. Ngày nọ, có một linh mục người Canada trịnh trọng thông báo cho đám học trò của mình như sau : - Tôi rất lấy làm đau buồn báo tin cho các anh hay, cha Bolumburu của chúng ta mới qua đời… Vừa nghe tới đây đám học trò bèn cười ồ lên, khiến cho vị linh mục người Canada ấy giận tới mức đỏ mặt tía tai, bỏ cái một về phòng của mình : - Tôi không hiểu được tại sao các anh lại vô duyên đến thế. Trong khi tôi báo một tin buồn thì các anh lại cười ồ. Đám học trò bèn phải cả tiếng lại dài hơi cắt nghĩa cho vị linh mục người Canada ấy hiểu rằng: - Chúng con cười, không phải vì tin buồn được cha loan báo, nhưng chúng con cười chỉ vì tên gọi Bolumburu nghe kỳ quá… Miết rồi vị linh mục người Canada ấy mới hiểu và cảm thông cho cái cười của người An Nam mình. Mở tự điển tra cứu, gã ghi nhận được hai nghĩa chính của động từ cuời : Nghĩa thứ nhất theo “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức, thì cười là động tác nhích môi, hé miệng, nhe răng, phát ra tiếng hay không phát ra tiếng, để bày tỏ sự vui mừng hay một một ý tứ gì đó. Tuy nhiên, hai chữ “nhe răng” ở đây xem ra bất ổn vì còn đâu nữa vẻ đẹp của những nụ cười mỉm chi, chẳng hạn như cái mỉm cười đầy vẻ bí ẩn đã được Léonard de Vinci diễn tả qua tác phẩm “La Joconde”. Gã thấy nàng Monna Lisa đâu có…nhe răng. Còn theo tự điển “Larousse” của Pháp, thì cười là hành vi biểu lộ niềm vui bằng cách chuyển động môi miệng và thường phát ra tiếng. Tiếng Việt Nam của chúng ta rất phong phú, để diễn tả ý nghĩa thứ nhất này, gã đếm được cả thảy 80 kiểu cuời khác nhau, như cười duyên, cười giòn, cười khúc khích, cười chúm chím, cười ruồi, cười toe toét, cười tủm tỉm, cười xòa… Nghĩa thứ hai cũng theo “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức, thì cười là chê bai, chế nhạo, khinh khi, đe dọa, thái độ có khi tỏ ra bên ngoài bằng tiếng cười và vẻ mặt, có khi lại dấu kín trong lòng : - Cười người chớ có cười lâu, Cười người hôm trước, hôm sau người cười. Cũng trong ý nghĩa thứ hai này, gã đếm được gần hai mươi kiểu cười khác nhau, như cười gằn, cười khảy, cười mỉa, cười nhạo, cười thầm… Trong khuôn khổ bài viết hôm nay, gã chỉ xin bàn tới hành động cười với ý nghĩa thứ nhất mà thôi. Trong một bài viết mang tựa đề “Chuyện lạ về cười” được đăng trên báo “Kiến thức ngày nay”, tác giả cho biết : Vào ngày 03 tháng 01 năm 1962, một dịch cười kỳ lạ đã bộc phát trong một trường học do các nhà truyền giáo phụ trách tại một ngôi làng gần Bukoba, thuộc nước Tanzanie, gần hồ Victoria. Những triệu chứng đầu tiên là cười và khóc xuất hiện ở những học sinh nam và nữ trong độ tuổi thiếu niên. Bệnh phát ra đột ngột với những tràng cười dài từ vài phút đến nhiều giờ, thậm chí kéo dài đến 16 ngày, bị ngắt quãng bởi những đợt lắng dịu tạm thời. Ngay cả khi không cười, các bệnh nhân cũng tỏ ra kích động, không thể tập trung ý chí. Những tiếng cười cuồng loạn gây xáo trộn đến độ trường học phải đóng cửa vào cuối tháng sáu. Khi trở về làng, các bệnh nhân nữ lây truyền bệnh cười cho bạn bè và người thân. Chỉ những người đàn ông trưởng thành và dân làng có học vấn cao mới chống lại được sự lây nhiễm này. Dù không làm chết người, căn bệnh cười ấy lan tràn khắp vùng trong khoảng hai năm rưỡi. Do không tìm ra một triệu chứng nào thuộc về thể xác, những viên chức thuộc cơ quan y tế công cộng loại bỏ nguyên nhân nhiễm trùng và đầu độc qua thực phẩm. Họ kết luận cơn bệnh mang nguồn gốc tâm lý : có thể đây là trường hợp cuồng loạn tập thể. Những bệnh dịch tương tự từng bộc phát vào thời trung cổ ở châu Âu. Liệu chúng ta có được miễn dịch chống lại sự lây nhiễm của tiếng cười ? Hầu như không ai có thể nín cười trước một màn trình diễn hài hước hay một vở kịch vui trên truyền hình. Cái cười tước đi lớp vỏ bọc xã hội và văn hóa, khiến chúng ta để lộ ra nền tảng sinh học đầu tiên trong những họat động xã hội. Những “dịch cười” như trên thật là họa hiếm và rất ít khi xảy ra. Trong đời thường, hằng ngày chúng ta vẫn cười và vẫn chiêm ngắm những nụ cười của bàn dân thiên hạ. Vậy nụ cười đem lại những hậu quả nào và chúng ta phải cười ra làm sao ? Đó là những vấn đề gã xin đề cập đến. Trước hết, gã có thể xác quyết được rằng : - Người là một con vật biết cười. Hay như Rebelais đã nói : - Cười là đặc tính của con người. Thực vậy, để biểu lộ những tình cảm, con vật thường sủa, thường hót, thường gầm gừ, thường vẫy đuôi hay thường…nhảy cẫng lên. Chỉ con người mới biết biểu lộ tình cảm của mình qua tiếng cười mà thôi. Cũng trên báo “Kiến thức ngày nay”, thì cách đây không lâu, Jaak Pansepp và Jeffrey Burdorf, hai nhà tâm lý tại trường đại học Bowling Green State, bang Ohio bên Mỹ, đã dành phần lớn thời giờ để làm một công việc khá ngộ nghĩnh, đó là gãi nhẹ lông các chú chuột ở phòng thí nghiệm để làm cho chúng…cười. Họ đã sử dụng một máy khả dĩ ghi lại được những âm thanh có tần số cao như của loài dơi và họ sửng sốt khi thấy con chuột được “cù léc” thoạt đầu phát ra một tiếng kêu la như khi bị kích thích tình dục. Nhưng sau khi cù hàng trăm lần và ghi lại thì họ lại cho rằng đó là tiếng cuời khúc khích vì khoái trá và vui thích. Sở dĩ như vậy vì họ muốn chứng minh cho bàn dân thiên hạ thấy rằng loài chuột cũng biết cười rúc rích. Thế nhưng, báo chí và mọi người thì lại cho đó là một trò đùa để cười cợt. Vì thế cho tới bây giờ, nụ cười và tiếng cười vẫn là một nét đặc sắc của con người, bởi vì chỉ con người mới biết cười mà thôi. Tiếp đến là giá trị của nụ cuời. Người xưa đã bảo : - Nhất tiếu thiên kim. Một nụ cuời đáng giá ngàn vàng. Câu nói này bắt nguồn từ một điển tích cũ như sau : U Vương đời nhà Châu là một ông vua hoang dâm vô độ, lại rất say mê nhan sắc của Bao Tự. Thế nhưng, Bao Tự suốt ngày buồn bã, chẳng bao giờ cười lên được một tiếng. Vì thế, ông rất băn khoăn lo lắng, sẵn sàng làm đủ mọi trò và mọi cách cốt sao đem lại cho Bao Tự một nụ cười. Nghe nói Bao Tự thích nghe tiếng lụa xé. Thế là ông liền truyền cho nội thị mở kho và mỗi ngày lấy ra hàng trăm tấm lụa mà xé cho Bao Tự nghe, nhưng Bao Tự vẫn chẳng cười. Thất bại nhưng không tuyệt vọng, ông truyền cho bá quan văn võ trong triều, ai có cao kiến chi làm cho Bao Tự cười, dù chỉ một lần mà thôi, cũng sẽ được trọng thưởng ngàn vàng. Quách Công bèn hiến kế : đốt lửa ở Ly Sơn và nổi trống dối gạt các chư hầu, thế nào Bao Tự cũng cười. Số là để phòng ngừa giặc Hung nô và rợ Khương Nhung ở phía bắc tràn xuống kinh thành quấy nhiễu, các đời vua trước đã cho xây những phong hỏa đài ở Ly Sơn và đặt những cỗ trống lớn. Mỗi khi thấy lửa ở phong hỏa đài đốt lên và nghe tiếng trống nổi dậy, các chư hầu biết đó là hiệu lệnh báo động ở kinh đô có loạn, phải đến tiếp cứu. Nghe theo lời Quách Công, U Vương đã phế bỏ cả luật lệ của cha ông ngày trước, làm nhục chư hầu, để cốt được tiếng cười của Bao Tự, lại còn đem ngàn vàng thưởng ban cho Quách Công, kẻ đã bày kế giúp cho Bao Tự cười. Nhưng rồi sau này, khi bị rợ Khương Nhung tấn công, U Vương truyền đốt lửa và nổi trống ở Ly Sơn, nhưng chẳng chư hầu nào chịu đến tiếp cứu. U Vương bị giết, còn Bao Tự thì bị bắt. Có lẽ rút ra từ chuyện trên mà người xưa còn bảo : - Nhất tiếu khuynh thành, tái khuynh quốc. Có nghĩa là cười…một phát thì nghiêng thành, cười thêm…một phát nữa thì nghiêng nước, để nói lên rằng đờn bà đẹp thường làm cho hư nhà hại nước là thế !!! Nói như vậy thì chắc chắn sẽ bị coi là tiêu cực và bôi bác, nếu không muốn nói là sẽ bị kết án là báng bổ phe đờn bà con gái. Thế nhưng, kinh nghiệm cũng cho thấy nụ cười có khi còn đáng giá hơn cả ngàn vàng. Vì thế, người ta đã mở những trường lớp để dạy…mỉm cười, để dạy…mần duyên. Một thiếu nữ dự thi hoa hậu, nếu không có được một nụ cuời tươi như nụ hồng thì khó mà được lọt vào những cặp mắt cú vọ của ban giám khảo. Một cô gái phục vụ tại siêu thị, mặt mũi lúc nào cũng nhăn nhó, không biết chiêu đãi “các thượng đế” bằng những nự cuời của mình, thì làm sao bán được hàng. Một trong những lý do khiến Thái Lan hấp dẫn được du khách vì người Thái nào cũng sẵn sàng mỉm cười trước những người ngoại quốc và đất nước họ thường được tuyên truyền và quảng cáo là “Xứ sở của những nụ cười”. Một kinh nghiệm khác cụ thể hơn đã được cha ông chúng ta phát biểu như sau : - Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ. Kinh nghiệm này đã được giới y khoa từ cổ chí kim, từ đông sang tây xác nhận. Thực vậy từ thời cổ đại, nụ cười đã được coi như là một liệu pháp, một phương pháp trị liệu. Hippocrate, ông tổ của ngành tây y, đã dùng nụ cười để chữa trị cho những cái đau của thể xác và tinh thần. Vào thế kỷ thứ hai, danh y Galien đã nhận xét : - Những phụ nữ vui tính lành bệnh nhanh hơn những phu nữ u sầu. Vào thời trung cổ Henri de Mandeville cũng dùng nụ cười để chữa bệnh. Ông đánh giá nụ cười làm tăng thêm sức khỏe cho cơ thể, trong khi sự buồn phiền làm cho sức khỏe bị suy yếu. Hiện nay, những nhà sinh lý học thừa nhận một số tác dụng tích cực của tiếng cười như thư giãn, xoa bóp nội tạng…Vì vậy, “liệu pháp cười” có thể giúp các bệnh nhân tìm lại sức khỏe thể chất và tinh thần. Bác sĩ người Pháp Pierre Vachet dùng nụ cười làm phương pháp chữa bệnh cho các thân chủ của mình và ông nhận thấy họ mau khỏi hơn những bệnh nhân khác. Thời xưa, những anh hề thường chiếm một vị trí quan trọng bên cạnh các vị vua. Vai trò của họ là mua vui cho triều đình. Gần đây, nhà báo Mỹ Norman Cousins, tổng biên tập tờ Saturday Riview, khẳng định nhờ những màn hài hước. ông được chữa khỏi bệnh viêm khớp đốt sống, một chứng bệnh được coi như không chữa được. Ông nhận thấy rằng 10 phút cười giòn mang lại cho ông 2 giờ ngủ ngon không đau đớn và ông đã kết luận : - Nụ cười là một liều thuốc mạnh tác động tích cực đến tinh thần, thể xác và cảm xúc của chúng ta. Người ta cũng thừa nhận một cách khoa học rằng nụ cười kích thích các endorphine, một thứ morphine tự nhiên sinh ra từ hệ thần kinh của chúng ta và có tác dụng chống đau nhờ vào hậu quả gây tê…Ngoài ra, nụ cười còn ảnh hưởng tới việc hô hấp, làm giãn nở phế nang, kích thích sự tiêu hóa, trừ tiệt chứng táo bón. Nụ cười làm phát sinh adrénaline, giúp chúng ta nhanh nhẹn và nhạy cảm, chống lại chứng trầm uất và mất ngủ… Ngày no, gã đi khám bệnh và phát hiện mỗi trái thận đều có một cục sạn nhỏ. Gã bèn hỏi : - Liệu có phải mổ để lấy ra hay không ? Bác sĩ trả lời : - Vì nó nhỏ, nên không cần phải mổ. Gã hỏi thêm : - Vậy tôi phải làm gì ? Bác sĩ trả lời : - Có ba việc cần phải làm ngay : Thứ nhất là uống thuốc theo toa, thứ hai là uống nhiều nước vì nước chảy đá mòn, thứ ba là đừng lo nghĩ nhưng hãy…cười nhiều. Chính vì thế có người đã nói : - Một ngày không cười là một ngày vô ích nhất. Và : - Người hay vui cười mới thực sự là người hiền lành. Gã xin kể ra những lợi ích của nụ cười bằng một sưu tầm như sau : 1- Cười là một thần dược trị được cả bệnh thể xác lẫn bệnh tâm hồn. 2- Cười làm cho ta cởi mở bao dung và có một tinh thần lạc quan yêu đời. 3- Cười làm tăng hồng huyết cầu và lá lách hoạt động tích cực hơn. 4- Cười làm tăng sinh lực, khiến ta vui vẻ lanh lợi và thêm lòng yêu thương. 5- Cười làm cánh cửa cảm thông rộng mở thật dễ dàng với mọi người. 6- Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn. 7- Cười làm thư giãn các bắp thịt trên mặt, tan biến những căng thẳng. 8- Cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, thư thái và an lạc. 9- Cười giúp ta tránh được tâm trạng cay đắng khổ đau, phản ứng kịp thời. 10- Cười giúp cho tâm hồn lành mạnh và thêm khả năng sáng tạo mọi việc. 11- Cười nhiều giúp ta biết tự kỷ có trách nhiệm và thực tế hơn. 12- Cười nhiều tránh được buồn nản, dễ thành công vì tiếng cười là trí tuệ. 13- Cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, là biết nghệ thuật sống. 14- Cười dễ vui theo cái vui của người khác, hoan hỉ như mình thành đạt vậy. 15- Cười có thể làm tan di nỗi bực mình, buồn phiền của người đối diện. 16- Cười giúp ta vui sống hiện tại, quên hết quá khứ và lo lắng về tương lai. 17- Cười giúp ta trở về với chính mình, tức là thực sự trở về đời sống mới. 18- Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh. 19- Cười giúp hồn nhiên tươi sáng,có nhiều khả năng chống lại bệnh tật. 20- Cười giúp các tế bào loại T trong máu tăng lên, có sức đề kháng mạnh. 21- Cười làm giảm phong thấp, các khớp xương đỡ bị sưng và chống sưng. 22- Cười làm giảm các chất hóc môn (Cortisone) trong thận, sẽ sống khỏe hơn. 23- Cười tránh được nhức đầu, đau tim, cao huyết áp và mỡ trong máu. 24- Cười giúp tống khứ các khí dơ, thêm nhiều dưỡng khí cho bộ não thông minh. 25- Cười làm tăng máu, chống viêm khớp, làm con người luôn tỉnh táo. 26- Cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, thấu suốt mọi sự vật. 27- Cười giúp những nét phiền muộn tan biến, gương mặt trở nên tươi trẻ ra. Cũng trong chiều hướng ấy mà rải rắc khắp nơi trên thế giới, người ta đã bắt đầu tổ chức những “festival cười”. Tại Đan Mạch, cứ đến Chúa nhật thứ hai của tháng giêng là mọi người lại tụ tập về quảng trường Town Hall của thành phố Copenhagen để…cười sảng khóai. Câu lạc bộ cười lần đầu tiên được sáng lập ở Bombay năm năm trước đây bởi bác sĩ tâm lý Ấn Độ Madan Kataria. Tiếng tốt về câu lạc bộ này đã nảy sinh ra một ý tưởng tương tự ở anh công nhân quảng cáo thất nghiệp Đan Mạch, Jan Thygesen Poulsen. Và anh ta đã trở thành người khởi xướng câu lạc bộ cười ở đất nước này. Tại Québec bên Canada, từ nhiều năm nay đã xuất hiện “festival chỉ để cười”. Tại festival này, mọi người đều có đủ thời giờ để lập cho mình một kiểu cười chẳng giống ai. Tại Pháp cũng rộ lên “Festival hóm hỉnh” ở Seine-et-Marne. Và mới đây hồi cuối tháng 6 năm 2005 tại Hồng Kông, người ta cũng đã tổ chức đại hội…cười. Tuy nhiên, có một điều khác cũng không kém phần quan trọng, đó là hãy đem lại cho người khác những nụ cười lành mạnh, bởi vì chính những nụ cười này sẽ đem lại cho họ niềm an ủi trong những khi đau khổ và niềm khích lệ trong những lúc tuyệt vọng. Trong một trại phong nọ, các bệnh nhân hầu như bị quên lãng. Họ sống lầm lũi trong đau khổ cả thân xác lẫn tâm hồn. Những tháng ngày còn lại trên trần gian chỉ là khoảng thời gian vô vọng, buồn tẻ và cô đơn. Duy chỉ có một người đàn ông luôn mỉm cười vui tươi. Vị nữ tu chăm sóc bệnh nhân hết sức ngạc nhiên và cố tìm hiểu nguyên nhân. Cuối cùng vị nữ tu này cũng khám phá ra được lý do, đó là mỗi ngày đều có một phụ nữ thập thò ngoài hàng rào chờ người đàn ông đến và bà nở một nụ cười thân ái, trìu mến, đầy yêu thương dành cho ông. Người đàn ông ngày ngày ra gần đó để đón nhận nụ cười ban sức mạnh và tạo niềm hy vọng như hoa xuân đón ánh mặt trời, như cây cỏ hứng giọt sưong mai. Khi vị nữ tu đến gần, người đàn ông nói : - Vợ tôi đấy. Sau một lúc yên lặng, ông ta nói tiếp : - Trước khi vào đây, cô ấy đã cố chạy chữa cho tôi. Một thầy lang đã cho tôi một loại dầu và mỗi ngày cô ấy thoa lên mặt tôi. Cô ấy cũng không quên chừa lại một khoảng nhỏ để đặt vào đó một nụ hôn. Nhưng rồi tất cả đều vô hiệu, người ta đã đưa tôi vào đây. Cô ấy đã không bỏ tôi đơn độc, trái lại mỗi ngày cô ấy đều đến để mỉm cười với tôi, mang lại cho tôi sinh khí để sống. Nhờ thấy cô ấy mỗi ngày mà tôi còn ham sống và như sơ đã thấy đấy, tôi đã sống rất vui tươi. Để kết luận gã xin kể lại một mẩu chuyện nho nhỏ : Có một anh hề chết đi và được đưa lên trước tòa Chúa để chịu phán xét. Chúa hỏi : - Anh đã làm được những gì trong cuộc sống ở trần gian. Anh ta lo toát cả mồ hôi hột vì thấy mình chẳng làm nên trò trống chi cả. Anh ta bèn thưa lên : - Lạy Chúa, con chỉ làm cho người ta cười mà thôi. Chúa liền phán : - Này con, hãy vào lãnh nhận phần thưởng đã được sắm sẵn cho con, vì khi con làm cho người ta cuời và vui sướng, thì đó là con đã làm cho chính Ta cười và vui sương rồi đó. Như vậy, muốn được hạnh phúc ở đời này cũng như ở đời sau, chúng ta hãy cười… và cười luôn mãi, đồng thời cũng đừng cố gắng đem lại cho người khác những nụ cười trong sáng.

 

Trong cuộc gặp gỡ trùm cộng sản Phan Văn Khải ở toà Bạch ốc , có một lần Tổng Thống Bush đã kéo tay Khải dẫn ra đàng trước toà nhà trằng mở cửa và chỉ ra ngoài đường phố , khi đó đồng bào Tỵ nạn cộng sản đang hăng say biểu tình chống trùm đồ tể Phan Văn khải với rừng cờ vàng rực rỡ trong ánh nằng ban mai Tổng Thống Bush nói : - Này ông thủ tuớng, ra đây tôi chỉ cho ông xem , Ở ngoài kia họ đang la ó chống đối ông đó, ông nghĩ sao? . - Thưa ngài Tỗng thống, thật là nhục nhã cho Tổng Thống, Khải trả lời . Tổng thống Bush ngạc nhiên: - Họ chống ông đả đảo ông thì ông nhục chứ sao ông lại nói ngược là tôi nhục!! Khải cười mím chi : - Thưa ngài, ngài là một Tổng thống của một đại cường quốc, thế mà đám dân kia dám đến đây biểu tình la ó, làm mất thể diện Tổng Thống trước mặt chúng tôi là những khách mời của ngài, như thế thì ngài bị nhục chứ tôi nào có hề hấn gì - Ồ ông hiểu sai rồi ông thủ tướng ơi, ở xứ tôi, người dân đóng thuế họ có quyền phát biểu tự do tư tưởng của họ họ thấy cái gì sai cái gì không tốt là họ có quyền biểu tình phản đối . . . . - Nhưng ngài là tổng thống , ngài có quyền bắt họ phải im để ngài đón tiếp khách của ngài cơ mà, Khải cắt ngang lời tổng thồng Bush, Ông Bush cười xoà: - Ngay như hôm lễ Nhậm chức của tôi có người còn cầm khẩu hiệu biểu tình chống tôi huống chi là bữa nay tôi tiếp ông, ông vốn là người đã gây ra bao nhiêu thảm cảnh cho họ, họ có quyền phát biểu chứ , - Chuyện đó là quá khứ rồi thưa Tổng thống, chúng tôi đã khép lại quá khứ, bây giờ không còn coi họ là thành phần đĩ điếm, bọn phản động chạy theo ôm chân đế quốc, mà gọi họ là khúc ruột ngàn dặm xa . - Phải rôi, các ông phải đổi lối xưng hô là đúng quá rồi, bây giờ thì ông sang đây chẳng phải là cầu cạnh chúng tôi sao ? Nhưng tôi hỏi ông ông nghĩ thế nào về họ kia, ông chưa trả lời tôi - Họ là những thành phần bất hảo ở xứ tôi, sang xứ ngài họ là những thành phần bất trị sao Tổng thống không cho cảnh sát hốt trọn bọn họ nhốt vào các trại cải tạo, ý quên, trại tù có được việc hơn không? - Họ đâu có làm gì trái pháp luật đâu ông họ chỉ biểu tình phát biểu tư tưởng của họ thôi mà, cứ cho họ nói, làm sao bưng bít được những uất ức của họ - Nhưng họ làm nhục Tổng thống thưa ngài, - Tôi chả thấy có gì là nhục cả, họ có quyền phát biểu tôi có quyền tiếp ai thì tiếp - Họ làm tổn thương danh dự tổng thống, phạm đến uy quyền quốc gia . - Chúng tôi nghĩ khác, họ đang biểu dương uy quyền quốc gia đó thưa ông,dân chủ mà - sao lại như thế được thưa Tổng thống ? - Bởi vì họ đóng thuế và họ có lá phiếu,họ có quyền kiểm soát việc làm của chính phủ - Dân nước tôi cũng đóng thuế và cũng có lá phiếu . - Thế dân nước ông họ có quyền đòi coi chính phủ chi tiêu thuế họ đóng không, họ có quyền bầu ai thì bầu không thưa ông . - Chuyện thuế má ngân sách là bí mật quốc gia, làm sao cho họ coi công khai được, còn chuyện bầu cử đảng chúng tôi lo dùm cho họ, chúng tôi giúp ai đề cử ai ra úng cử chức vụ gì thì đã được đảng chủ trương cả rồi , người dân nước tôi họ chỉ việc đi bầu thôi, khoẻ re, bầu ai cũng được, ai cũng là người do đãng chúng tôi uốn nắn hết. Cho nên chúng tôi thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của đảng anh minh, chỉ đạo, - Nhưng mà đảng các ông phạm nhiều sai lầm lắm mà nào là cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, đốt sách giết học trò giống hệt thời Tần Thuỷ Hoàng bên Tàu xưa đó. - Cái đó là quá khứ rồi thưa tổng thống, chúng tôi đã sửa sai, - Nhưng mà nghe nói sửa rồi còn sai hơn nữa có phải không thưa ông - Sai nữa sửa nữa đảng chúng tôi vẫn anh minh sáng suốt quyết tâm sữa sai sai sửa sửa cho đến khi nào hết sai thì thôi, - Thí dụ trước kia các ông chống Mỹ là sai nên nay sang đây với chúng tôi là sửa phải không ông thủ tướng. - Vâng đúng thế thưa Tổng Thống, - Thế còn dân chúng và binh lính hai miền Việt Nam lẫn 58 ngàn tử sĩ Hoa kỳ chúng tôi các ông có thể sửa cho họ sống dậy cả được không thưa ông thủ tướng. - Cái đó là quá khứ rổi thưa Tổng Thống, chúng ta đã thoả thuận hãy quên đi quá khứ, mà hướng về tương lai. - Ông Thủ Tướng à, Tổng thống Bush cắt ngang, có quá khứ mới có tương lai, ở xứ Mỹ này, nếu ai bị Bad credit thì khó mà mua nhà tậu xe lắm, đãng của ông đã bị bad credit quá nhiều, sao vẫn còn tồn tại vậy ông, - Chúng tôi có quân đội, có công an, - Ông không biết rằng công an ở đâu ra quân đội ở đâu ra à, ở dân mà ra đấy . - Dân hả lôi thôi là chúng tôi cho đi tập trung cải tạo là xong ngay - Á bây giờ nhờ nói chuyện chúng tôi mới biết dân chủ tập trung của các ông là gì . Tổng thốmg Bush gật gù, là tập trung dân chủ cho đi cải tạo, thì ra thế, vậy mà cái anh chàng bác sĩ Phạm Hồng Sơn hay Sơn Hồng Phạm gì đó ở xứ các anh dốt quá, tù là phải, Phan Văn Khải đắc ý -Tổng thống thông minh lắm, hiểu cả lối nói lái của chúng tôi nữa, đáng khâm phục đáng khâm phục . Tổng thống Mỹ ngơ ngác : thế nhưng mà còn phiếu bầu, còn phiếu bầu cử Phan Văn Khải cười đểu : - Thì bầu phiếu, phiếu bầu chứ sao thưa ngài Tổng thống . . . San Jose ngày 21 tháng 6 năm 2005 (Ghi lén lại cuộc đối thoại Bush Khải )