Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ >>  Đoản Khúc

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Nhân đọc bài viết của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang : “Lê Thị Công Nhân, bông hồng có ánh thép.” Và bài: “Ôi Viết Nam Xứ Sở Mù Lòa” của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy (tù nhân dự khuyết số 1 của đảng cộng sản Việt Nam) viết vào đêm 8-4-2007, và cũng được tin cha Lý, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân vào tù, Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giam. Tôi súc động và bàng hoàng trước những biến cố sẩy đến đột ngột và tàn bạo do đảng cộng sản Việt Nam gây ra, khi bỏ tù, bắt giam những nhà tranh đấu cho lý tưởng tự do. Cảm súc mãnh liệt trước những lời nói đầy khí tiết và dũng cảm của Công Nhân khi cô cương quyết bảo vệ tới cùng lý tưởng mà cô đang ôm ấp và theo đuổi. Tôi lại vô cùng ngưỡng mộ lòng dũng cảm bất khuất có môt không hai của Thanh Thủy, khi cô can đảm vạch trần sự thật về Hồ Chí Minh, một việc làm mà từ trước tới nay không một nhà văn nào trong nước dám viết. Cô còn viết nhiều bài vạch trần tội ác của việt cộng mà nhiều người không hay biết, làm tôi phải ngỡ ngàng tự hỏi tại sao một phụ nữ như cô suốt đời sống dưới ách độc tài của cộng sản và lớn lên trong sự bưng bít và nhồi sọ lý thuyết cộng sản mà làm cách nào một người như cô lại có một sự hiểu biết sâu sắc về sự tàn ác thâm độc của việt cộng đến thế. Vì thế tôi tin tưởng rằng cộng sản dù gian manh tàn ác đến đâu chúng cũng không thể thắng được ý muốn của toàn dân và ngày tàn của chúng đã gần kề. Hôm nay, trên đất nước tạm dung này, tôi ngậm ngùi ghi những cảm nghĩ ở đây và trong những dòng thơ, để chia sẻ tâm tư với những người cùng lý tưởng mà tôi kính mến và nhất là để vinh danh họ - những người con anh hùng của tổ quốc -coi thường cuộc sống cá nhân yên ổn để dấn thân tránh đấu cho tự do, công bằng, hạnh phúc của chính mình và đồng bào. Riêng đối với Lê Thị Công Nhân, để thân thương tôi xin được gọi cô bằng con, vì cô đúng bằng tuổi con gái thứ hai của tôi. Cũng xin mượn tựa đề bài viết trên để làm tên gọi cho bài thơ của tôi. Những “Bông Hồng Có Ánh Thép” Cảm ơn Thượng Đế, bởi đất thiêng này đã tạo nên con. Cha mẹ nào phúc đức đã cưu mang. Đất Gò Công miền Nam danh tiếng, nơi anh hùng Trương Công Định đã sinh ra, mà chốn này cũng lại có con. Tuổi còn nhỏ mà sao dũng cảm tuyệt vời. Thân xác mảnh mai, mà sao ý chí thật kiên cường ! Con ngửng đầu, mà bao người cúi mặt chịu đọa đầy bởi lũ vô nhân. Người ta gọi con là:“ Bông hồng có ánh thép.” Nhưng ta tuyên xưng con: “anh hùng liệt nữ của Việt Nam.” Nơi đầy rẫy bất công và cùm kẹp. Con biết rõ, nhưng con không hề khiếp đảm. Giặc nội thù này, mưu mô đầy hiểm độc, gấp ngàn lần, giặc Tầu, giặc Pháp, giặc Nhật xưa. Dân ta thường bảo: “Đỏ đầu làm tội đã qua, trắng răng làm tội gấp ba đỏ đầu.” Ngày nay, trắng răng tàn bạo thua xa ngàn lần mã tấu răng đen hiện thời. Xảo quyệt hơn nữa là: Chúng nêu cao ảo vọng hão huyền độc lập, tự do, hạnh phúc, âm no. Độc lập thì chúng cúi đầu cắt dâng đất biển, hiến cho Tầu để làm quà, đút lót kẻ chở che. Còn tự do, chúng giữ độc quyền, phát ngôn những truyện tức cười làm cho thế giới muôn người cười chê. Ấm no thì đâu chẳng thấy, khắp phố phường đầy rẫy kẻ ăn xin. Hạnh phúc, người dân đâu có được để đến nỗi cột đèn cũng muốn trốn đi. Ôi! nhan hiểm nhất là: khi sua quân tấn chiếm miền Nam, lừa quân, cán chính vào lao tù, cải tạo, để lấy đi sức sống mãnh liệt của miền Nam và che lấp đi tội ác tầy trời, là làm cho miền Bắc tan hoang, nghèo đói. Chúng thấy rõ, mức sống miền Nam thật vô cùng sung túc, và khác biệt vô vàn so với cảnh đói ăn của nhân dân miền Bắc. Ngay chỉ gia đình lính chiến miền Nam cũng âm no bội phần, hơn hẳn cảnh gia đình miền Bắc sĩ quan. Bởi thế, bọn bạo tàn chóp bu miền Bắc sợ rằng, toàn dân nhìn ra sự thật, cái ngu xuẩn lộng hành của chúng, cùng đứng dậy, đòi quyền được sống: tự do, hạnh phúc, âm no. Để dẹp tan khát vọng đòi tự do, đang bùng cháy trong lòng dân đất Việt. Chúng bày trò, bắt giam, tra tấn, đọa đầy, toàn quân dân cán chính miền Nam. Thay vì để họ tự do, đem tài sức đắp xây, một Việt Nam hạnh phúc phú cường, thì đâu đến nỗi ngày nay, cảnh đói nghèo lạc hậu nhất năm châu. Chúng hiểu rõ nếu toàn dân ,có hạnh phúc âm no, thì bọn chúng đầu to mà vô tiền bạc. Bởi chúng lòng lang dạ thú, chỉ biết có mình, mà chẳng nghĩ đến dân. Thay vì cố nâng mức sống của toàn dân ngoài Bắc, để ngang bằng mức sống miền Nam, cho tổ quốc ngửng đầu với năm châu bốn bể. Nhưng chúng sợ làm như thế, địa vị chúng đâu còn, để cưỡi đầu cưỡi cổ người dân. Vì thế Mưu sâu kế độc của chúng là: cho vào tù hết, những tinh hoa đất nước của miền Nam để dìm họ xuống tận cùng sâu vực thẳm, rồi đến lúc ngóc được đầu lên, cũng chẳng bằng người dân nghèo đói nhất của chủ nghĩa chúng tạo ra. Rồi chúng tự hào trong ngu dốt rằng: Xã hội mà chúng quản gia gấp nhiều lần hơn xã hội Quốc Gia . Mưu đồ chúng, toàn dân đâu hiểu thấu. Thật thâm hiểm bạo tàn hơn phát xít thực dân. Trò hề nhất là việc chúng bày ra, đảng cử dân bầu. Làm như thế, dân đâu có quyền lựa chọn. Bỏ thằng nào, cũng vẫn là người của nó. Mưu đồ dối gạt lưu manh, mà sao đa số người dân, đâu có hiểu? Bởi chính sách của chúng hóa người dân thành, liệt kháng trí năng, chai đá con tim, để chúng dễ bề thao túng. Những điều trên mà tôi vừa kể, chỉ là một trong muôn ngàn tội ác của cộng nô. Giấy mực nào chép hết, tội của lũ côn đồ. Xin chắp tay nguyện cầu, đấng Chí Tôn, sao cho toàn dân hiểu thấu phần nào mánh khoé bịp lừa của một lũ chóp bu một phường múa rối lưu manh, để cùng nhau nối bước, Lê Thị Công Nhân đứng lên đòi lại quyền sống, tự do, công bằng và hạnh phúc. Vì quyền này đâu phải, tự chúng có quyền cho mà là quyền thiêng liêng tối thượng từ trên trời ban xuống, tới mọi muôn dân trên khắp hạt địa cầu. Nếu chúng dùng, công an cấm cản, hoặc bịt miệng lại, như nghe lời cha Lý hô: “đả đảo cộng sản”. Hay còng tay trái phép, bắt giam người phụ nữ yếu đau, Lê Khải Thanh thủy. Chỉ vì cất tiếng nói đòi, tự do, dân chủ, âm no cho đồng bào mà cô thương mến. Khán phục nhất, bài viết gần đây Đêm mồng Tám tháng Tư năm lẻ Bẩy với tựa đề: “Ôi Việt Nam Xứ Sở Mù Lòa.” Mà trong đó cô nêu tội ác bác gìa Hồ “xảo quyệt, dâm ô, giết dân, phá nước.” Cô nói thật hay cô đùa với lửa, mà cô dám viết bác Hồ dâm. Bác sống mãi trong quần chúng ta mà. Đâu xác bác còn nằm yên trong lăng đá, để làm bùa cho bè lũ hại dân. Bài viết cô tựa gươm đao sắc bén, Chém bay đầu thần thoại Hồ chi Minh, cho hết thiêng khi đưa bác ra hù và một lần cho tuyệt giống tham tàn hại nước. Bắt giam cô là việc làm thật vô cùng khiếp đảm. Vì chúng sợ tiếng nói của lương tâm. Tiếng nói vô cùng mãnh liệt tỏa hào khí của non sông của hồn thiêng sông núi chứa trong lòng, đã tới lúc bùng ra như lửa cháy, mãnh liệt hơn sóng thần hay hỏa diệm sơn xóa tan đi nỗi sợ hãi bao trùm. Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy Hai nữ anh hùng cho tiếng nói của lương tâm dẫn đầu trong cuộc chiến hôm nay, quyết liệt đòi cho bằng được tự do dân chủ. Xin cúi đầu, cầu Thượng Đế xuống ban cho dân con nước Việt kết hợp một lòng, Không khiếp sợ, chẳng cúi đầu như hai anh hùng liệt nữ dũng cảm của non sông. Campbell, Ngày 24 tháng 5 năm 2007 Hoàng Nông Phu Ghi chú Đỏ đầu chỉ người Pháp trong thời gian đô hộ Việt Nam. Trắng răng chỉ người Nhật khi cai trị Việt Nam hồi 1945. Răng đen mã tấu nói việt cộng ngày naỵ

 

Tự do yêu mến thiết tha! Mà sao tù ngục hết ra lại vào? Anh Lý thân kính Lời thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sao mà ứng vào Anh đúng thế! Cách đây 32 năm, trong lúc dân chúng Tây Nguyên kinh hoàng bỏ chạy xuống vùng duyên hải, dân chúng miền Trung hớt hoảng tuốn vào miền Nam từ những ngày đầu tháng 2 và 3-1975, rời bỏ cái nơi mà họ linh cảm sẽ là một nhà tù vĩ đại, thì Anh lại ngược đường từ Sài gòn ra Huế, dẫu trắc trở giăng đầy và nguy hiểm rình rập. Chiều ngày 25-3-1975 Anh đã có mặt tại thành phố Huế đang rơi dần vào tay cộng quân. Thấy Anh có tinh thần quả cảm như thế, rất cần thiết để sống trong chế độ cộng sản, lại thêm trí thông minh bén nhạy, Đức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền đã bổ nhiệm Anh vào chức vụ thư ký Toà Giám mục, phụ tá cho ngài. Nhưng đến ngày 7-9-1977 thì Anh đã bị bắt. Lý do là Anh đã phổ biến rộng rãi 2 bài phát biểu thời danh của Đức Tổng, một vào ngày 15 và một vào ngày 22-04-1977. Trong hai bài đó, Đức Cha đã thẳng thắn tuyên bố “chưa có tự do tôn giáo tại VN” và “người Công giáo bị xem như công dân hạng nhì”. Cộng sản đã lồng lộn lên, tuyên án Anh 20 năm tù với tội danh “tuyên truyền chống chế độ XHCN” trong một tòa án nhân dân đặc trưng của chế độ, nhưng đến ngày 24-12-1977 thì phải thả Anh ra, nhờ việc Việt Nam vừa được gia nhập Liên Hiệp Quốc, và sau đó quản chế Anh tại Nhà Chung đến tháng 8-1978. Thế là Anh bắt đầu nếm mùi ngục tù và quản thúc của chế độ. Sau đó cộng sản áp lực để Anh bị đổi tới Đốc Sơ cai quản giáo xứ. Tại đây, sống giữa nhân dân nhưng trong vòng kềm tỏa, Anh thấm thía được nỗi đau của đồng bào, của tín đồ dưới chế độ mới, do đó Anh liên tục gởi tới nhà cầm quyền 7 kháng thư, thường xuyên bắc loa trên tháp nhà thờ mở đài Chân lý châu Á, coi khinh các quy định “xin phép” vô lý của bạo quyền cộng sản. Thế là ngày 18-5-1983, Anh bị bắt lần thứ hai rồi bị cái gọi là Tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) xử phạt 10 năm tù về tội “phá rối an ninh trật tự và phá hoại khối đoàn kết toàn dân”, một tội danh quái đản mà chỉ pháp chế cộng sản mới có. Anh trở thành chứng nhân trong ngục thất tới ngày 31-7-1992 tại cái gọi là “Trại cải tạo” tỉnh Hà Nam. Tại đây Anh đã sống cùng thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Hai tâm hồn hết sức tự do gặp nhau giữa 4 bức tường nhà tù! Trở về Nhà Chung Huế, Anh lại tiếp tục bị quản chế. Cộng sản tưởng tù giam và quản chế đã làm Anh quy thuận và ngoan ngoãn, từ nay sẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đùng một cái, ngày 24-11-1994, lễ các Thánh tử đạo Việt Nam, “Tuyên ngôn 10 điểm về thực trạng Giáo hội Công giáo tại Giáo phận Huế” được Anh công bố và phát tán rộng rãi. Bài viết chứng minh toàn thể Giáo hội VN nói chung bị chế độ kềm kẹp, đàn áp. Muốn trói tay Anh, Cộng sản lại áp lực khiến Anh bị đưa tới giáo xứ Nguyệt Biều ngày 30-7-1995, không phải để làm mục vụ nhưng để bị quản chế: ở trong nhà xứ nhưng chẳng được làm lễ một mình cho giáo dân và giảng dạy họ. Nhiều năm trôi qua trong âm thầm chuẩn bị, ngày 14-11-2000, Anh và giáo dân Nguyệt Biều đã căng lên biểu ngữ “Chúng tôi cần Tự do Tôn giáo” rồi biểu ngữ “Tự do tôn giáo hay là chết!” vốn sẽ đi vào lịch sử như một hiệu lệnh. Tiếp đó, từ 03-12-2000 đến 26-2-2001, tự lồng ngực của Anh, hai từ “tự do” tha thiết ấy đã trào tuôn thành 9 Lời Kêu gọi có tính cách toàn diện hơn, kêu gọi hàng Lãnh đạo lẫn tín đồ mọi Giáo hội đòi lại quyền tự do tôn giáo đang bị tước đoạt (LKG 1-4), kêu gọi giáo chức và sinh viên học sinh tẩy chay chủ nghĩa và chế độ CS, hai ngục tù ghê gớm (LKG 6), kêu gọi đồng bào quốc nội lẫn hải ngoại chung lòng đoàn kết, chung tay xây dựng một tổ quốc không có xiềng xích độc tài (LKG 7), kêu gọi thế giới đừng dễ dàng cho chế độ CSVN áp bức tham gia các công ước quốc tế (LKG 5), kêu gọi quốc hội bỏ điều 4 Hiến pháp là vòng kim cô, và kêu gọi đảng CS là tên cai ngục hãy tự giải thể chính mình (LKG 8). Anh cũng đã kết hợp với nhiều chức sắc khác đạo ra “Lời Tuyên bố của Đại diện các Tôn giáo tại Việt Nam ngày 27-12-2000”, với 5 đòi hỏi rất quyết liệt. Trước đó, ngày 25-1-2001, Anh đã tung ra một chứng từ đầy cảm kích về cái chết của Đức TGM Nguyễn Kim Điền, vị lãnh đạo tinh thần đầu tiên sau 75 đấu tranh và bị sát hại vì tự do và nhân phẩm. Thế là CS lại làm áp lực để Anh bị chuyển về một giáo xứ xa hơn, giữa đồng trống trải, khó liên lạc điện thoại và điện thư, lại chỉ có một đường độc đạo đi vào, tức giáo xứ An Truyền. Tại đây, từ ngày 05-02-2001 đến ngày 15-05-2001 là hôm bị bắt, Anh đã viết Lời Chứng thứ 1 rồi Lời Chứng thứ 2 gởi Quốc hội Hoa Kỳ để trình bày thực trạng mất nhân quyền dân chủ ở Việt Nam. Cũng chính tại An Truyền, ngày 26-2-2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên đã ban hành quyết định quản chế Anh hai năm. Anh chỉ mỉm cười khinh bỉ, coi đó như tờ giấy lộn. Từ ngày 27-2 trở đi, CS bắt đầu đàn áp Anh và giáo xứ. Thế là Anh nảy sinh một sáng kiến chưa từng có trong chế độ: lập biên bản về các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CS địa phương (tất cả có 19 biên bản, được lập từ ngày 11-3-2001 đến ngày 09-5-2001), để biến những tên đồ tể thành tội phạm. Trong các biên bản này, cụm từ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” được Anh đổi thành “Thiếu độc lập - Mất tự do - Không hạnh phúc”!!! Ngày 19-10-2001, Anh bị Tòa án nhân dân tỉnh xử phạt 15 năm tù về 2 “tội”: không chấp hành quyết định quản chế hành chính và phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, một tội danh quái gở mà chỉ CS mới nghĩ ra và dám ghép càn! Thế là Anh lại lên đường vào tù ngục, ở trại Ba Sao, Nam Hà cho đến hết tháng 01-2005. Tại đây, Anh đã gặp nhiều chiến sĩ dân chủ khác như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn.... Tất cả đã giúp nhau hun đúc tinh thần tự do. Và hiện nay, ra khỏi tù, họ vẫn tiếp tục tinh thần đó. Anh lại thi hành án phạt quản chế lần thứ sáu tại Nhà Chung. Và tại đây, như không ngơi nghỉ, kể từ cuối năm 2005, cùng với nhiều chiến hữu, Anh tái phát động cuộc đấu tranh. Lần này quy mô hơn, không chỉ cho tự do tôn giáo mà còn cho tự do dân sự, không chỉ cho quyền tín hữu mà cả quyền công dân, bởi lẽ đấy là hai mặt của cùng một thực thể: nhân quyền. Là linh mục Công giáo đồng thời là con dân đất Việt, Anh thấy không thể chỉ đấu tranh cho quyền lợi của Giáo hội mà còn cho quyền lợi của mọi đồng bào: tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại, tự do lập hội, tự do bầu cử... là những thứ mà chính tôn giáo cũng phải cần đấy chứ! Thế là lần lượt ra đời “Lời kêu gọi bầu cử Quốc hội đa đảng” ngày 17-10-2005, “Lời Kêu gọi cho quyền thông tin ngôn luận” ngày 20-02-2006, “Lời Kêu gọi cho quyền Công nhân” ngày 19-03-2006, “Lời Kêu gọi cho quyền thành lập đảng phái” ngày 06-04-2006 mà ban đầu Anh cùng ký tên chung với nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền rồi với hàng trăm nhà dân chủ quốc nội. Ngày 08-04-2006, Tuyên ngôn Dân chủ Tự do cho Việt Nam chào đời để rồi đi vào lịch sử, hình thành nên Khối 8406 mà Anh là một trong những tác nhân chủ yếu và đại diện chính thức. Một tuần sau (15-04-2006), tờ báo độc lập đầu tiên trong chế độ CS xuất bản không giấy phép là bán nguyệt san Tự do Ngôn luận mà Anh là thành viên ban Biên tập. Ngày 20-06-2006, Khối 8406 đưa ra 10 Điều kiện cơ bản thiết yếu để cuộc Bầu cử Quốc hội 2007 được đa đảng, tự do, dân chủ. Ngày 22-08-2006, Khối 8406 công bố Tiến trình Dân chủ hóa VN gồm 4 giai đoạn & 8 bước mà nay đã thực hiện được phần cơ bản của 2 giai đoạn đầu (sử dụng quyền Tự do Ngôn luận làm nền tảng cho các Nhân quyền khác; phục hoạt, thành lập và phát triển các Chính đảng Dân chủ phi Cộng sản). Ngày 08-09-2006, Đảng Thăng Tiến Việt Nam -mà Anh cùng với nhiều bạn linh mục khác là cố vấn- công bố tự thành lập tại Việt Nam, trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng CSVN. Ngày 16-10-2006, Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam –mà Anh cũng là một trong những cố vấn quan trọng- đã được hình thành, quy tụ các Lực lượng Dân tộc đấu tranh vì Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho Việt Nam trong vài ngoài nước. Ngày 25-11-2006, do sáng kiến của Anh, Khối 8406 đã phát động “Ngày Dân chủ cho Việt Nam, Ngày Toàn Dân Mặc Áo Trắng mỗi 15 và mồng 01”. Anh trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh quyết liệt, toàn diện, triệt để với mục tiêu hạ bệ thần tượng giả tạo Hồ Chí Minh, giải thể chế độ cộng sản độc tài, bằng phương pháp hòa bình bất bạo động, khôi phục mọi tự do cơ bản. Điều này đã gây phẫn nộ và hoảng hốt cho chế độ. Cuộc ra mắt liên đảng Lạc Hồng –mà Anh vẫn là cố vấn- trong đêm giao thừa tết Đinh Hợi là giọt nước làm tràn ly giận dữ của CS, thế là chúng ra tay khử trừ Anh ngay đêm hôm sau (18-02-2007). Chỉ hơn một tháng sau, ngày 30-3, qua một phiên tòa cũng quái đản như hôm 19-10-2001, nghĩa là không thân nhân và đại diện giáo quyền hiện diện, không có biện hộ của luật sư và tự biện hộ của chính mình, cộng sản đã khoác lên Anh và bốn chiến sĩ dân chủ những bản án bất công, nặng nề. Đặc biệt nhất là CS đã bịt miệng Anh trước tòa, một hình ảnh đã gây chấn động toàn cầu, đánh thức hầu hết mọi lương tâm và mãi mãi đi vào lịch sử. Trung tướng Trần Độ, nhà ly khai phản tỉnh từng nói: “Giết một con người thì dễ, nhưng người ấy có chết không lại là một chuyện khác!” Nay cũng thế, bịt miệng một nhà đấu tranh như Anh thì dễ, nhưng có làm im tiếng của Anh không lại là chuyện khác. Giờ đây, với sự xuất hiện trên hàng trăm, hàng ngàn tờ báo, đài truyền hình quốc tế, với lượng xuất bản tới hàng triệu tấm rải khắp năm châu, bức hình “Bịt miệng” lịch sử ấy đã, đang và sẽ là một tiếng nói vang rền thế giới, ngân nga trong lịch sử và rung động hàng triệu con tim. Nó trở thành lời tố cáo hùng hồn cái chế độ vốn độc tài, dối gian và tàn ác nhưng vẫn ngoác miệng tự xưng là “dân chủ triệu lần” và “ưu việt nhân đạo” !?! Giờ đây Anh đang im lặng trong bốn bức tường nhà ngục, sống kiếp tù lần thứ tư tại trại Ba Sao Nam Hà, nhưng tiếng nói của Anh vang động hoàn vũ và tấm gương của Anh tỏa sáng năm châu, ít nhất nơi các cộng đồng dân Việt. Anh vẫn là một trong những con người tự do nhất của dân tộc, bởi lẽ “bầu trời tự do trong trái tim ta!” Biết bao người vẫn nhớ hình ảnh Anh cương nghị và bình thản trước tòa, không thèm đứng dậy lắng nghe và trả lời những thẩm phán nô bộc hèn hạ, miệng hô đả đảo đảng Cộng sản nhiều lần, hai ngón tay của mỗi bàn tay bị cùm giơ lên hình chữ V (Victory, chiến thắng), miệng cười tươi từ giã khi từ tòa án bước lên xe bít bùng của nhà ngục!!! * * * Tuy nhiên, ngay từ hôm bị nhốt chặt trong căn phòng ở Nhà Chung và thấy tòa Giám mục Huế bị cộng sản ngang nhiên biến thành trại tù (ít nhất trong vài ngày) mà rồi chẳng có vị hữu trách nào lên tiếng, lòng Anh đã se thắt lại. Đến khi nhà xứ Bến Củi bị hóa thành nhà giam -với mấy chục lính canh- để giữ Anh hơn cả một tháng trời (24-2 đến 29-3) mà ngay cả vị quản xứ dù phản đối vẫn vô hiệu, Anh đã đau đớn thốt lên: “Nhượng bộ, hợp tác hay đồng lõa? Ai xui nên cảnh trớ trêu này??” Từ hải ngoại, một giáo hữu tên Jean-Baptiste Thanh lúc ấy đã gởi cho bề trên của Anh một tâm thư ngắn gọn : “Cha Nguyễn Văn Lý đã bị CSVN đàn áp tàn bạo và sức khỏe của ngài đang nguy kịch do tuyệt thực lâu ngày. Chúng con chờ đợi Đức TGM lên tiếng với nhà cầm quyền CSVN để họ thả ngay Cha Lý, chứ không phải muốn nghe Đức TGM trả lời Đài Á Châu Tự Do rằng Cha Lý được y tá săn sóc (tại Bến Củi) và sức khỏe vẫn bình thường...” Ngày Anh bị xử tòa, bị bịt miệng, bao tiếng thét đủ nhiều ngôn ngữ đã vang lên ngay tại phòng cách ly của các phóng viên và nhà ngoại giao: “Không ! Không thể được! Ngừng tay! Ngừng ngay lại! Khó tưởng tượng nổi! Quái gở! Ô nhục! Thật đáng xấu hổ! Đồ vô nhân đạo!”. Rồi hàng triệu tiếng thét tương tự đã vang lên trên hành tinh từ đó đến giờ và chắc sẽ còn ngân mãi! Nhưng khổ thay, nơi mà người ta chờ đợi nhất tiếng kêu xúc cảm ấy thì lại chỉ thấy một sự im lặng khó hiểu nặng nề, y như dạo phiên tòa ngày 19-10-2001. Mới đây, cũng có đôi ba tiếng chẳng đặng đừng phải cất lên vì được phỏng vấn: “Ý kiến của Hội đồng Giám mục Việt Nam thế nào về việc cha Lý bị bắt và kết án? - Trả lời: HĐGMVN đến tháng 10-2007 mới họp mặt. Nội dung chương trình do các Giám mục đề xuất. Cha Lý thuộc giáo phận Huế. Đức Tổng Giám mục có đề xuất vấn đề hay không? Tôi nghĩ rằng tùy thuộc vào sự góp ý của cộng đồng dân Chúa tại Huế. Vì lẽ, từ xa tôi không hiểu rõ nguyên nhân cũng như ý nghĩa thâm sâu của những nghịch lý trong cuộc sống của cha. Có lẽ chỉ có Huế mới thấu hiểu”. Anh Lý ơi, vậy thì hãy ráng sống, ráng đợi, ráng cầu nguyện và ráng hy vọng vấn đề của Anh được nêu lên và những “nghịch lý” của Anh được giải thích trong vài tháng nữa nhé! Rồi theo chiều hướng nào lại là chuyện khác nữa! Sao người ta lại không thể lên tiếng ngay để bênh vực Anh ít nhất trong tư cách kẻ bị bạo quyền Cộng sản đàn áp? “Trong ngày tháng vừa qua chắc Đức Cha đã nghe về tin cha Lý bị kết án 8 năm tù mới đây, và rất nhiều người Việt ở hải ngoại đã xôn xao về tình trạng này. Nhiều người đã tố cáo HĐGMVN muốn bảo vệ thế đứng riêng tư của mình, lợi ích về vật chất cho nên đã không có phản ứng. Vậy Đức Cha suy nghĩ như thế nào về trường hợp của cha Nguyễn Văn Lý? - Trả lời: Việc cha Lý hay bất cứ ai bị ra tòa và bị đi tù thì đó là trường hợp thương tâm. Riêng hình ảnh bịt miệng thì tự nó nói lên rất nhiều điều!”. Đúng, hình ảnh đó đã nói lên rất nhiều điều và đã thúc đẩy rất nhiều việc nơi cả thế giới, nhưng nơi vị phát biểu câu này thì e rằng Anh sẽ phải chờ đợi trong tuyệt vọng Anh Lý ạ! Bởi lẽ tiếp theo sau đó: “Vậy, thưa Đức Cha nghĩ gì về vấn đề linh mục làm chính trị hay Giáo hội dấn thân vào vấn đề chính trị? Đức Cha có thể chia sẻ với chúng con được không? - Trả lời: Theo chúng tôi, ai cũng có quyền phát biểu về công bằng, về sự thật, về các quyền lợi xã hội, nhưng (các linh mục) tham gia vào chính trị đảng phái thì sẽ gây chia rẽ. Lý do là thế này: đảng chỉ là một phần thôi, theo phần này bỏ phần kia, và mỗi một phần đó lại thay tuỳ theo nhu cầu tuỳ theo trường hợp, mà chân lý của Chúa thì không có thể xoay như cái chong chóng như vậy được đâu. Chúa muốn sai linh mục tới làm việc cho mọi người, chứ không phải cho nhóm này chống lại nhóm kia. Thành ra, nếu linh mục làm chính trị thì thay vì gây sự đoàn kết, thì gây thêm sự chia rẽ. Tôi cũng được biết thêm nữa là linh mục Nguyễn Văn Lý, sau khi ra tù lần thứ hai, thì được Đức tổng Giám mục Huế đưa tới xứ An Truyền giới thiệu với cộng đồng dân Chúa ở đó. Và trong khi đáp từ thì cha Lý đã xin lỗi và cũng nói lên ý rằng sẽ vâng lời Đức Tổng trong mọi sự ngoại trừ công việc chính trị thì cha Lý xin phép là không vâng lời Đức Tổng. Đây là điều không những tôi mà nói chung là các Giám mục không thể hiểu được”. Thì ra đây là lý do để các bề trên không can thiệp cho Anh! Thế nhưng, hãy xem lại đoạn video và bài tường thuật lễ nhậm chức quản xứ An Truyền của Anh ngày 05-12-2001, thì có đúng là Anh đã nói “sẽ vâng lời Đức Tổng trong mọi sự ngoại trừ công việc chính trị” chăng, đã chống lại bề trên của Anh chăng? Hãy soi kỹ mọi văn kiện của đảng Thăng Tiến Việt Nam, người ta có thấy Anh là sáng lập viên và là thành viên của đảng chăng? Hãy đọc lại Lời minh định của nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền (là những “người trong cuộc” đích thực với Anh) ngày 02-03-2007 thì có thấy “Hoàn cảnh thực sự của Cha Nguyễn Văn Lý, cái cách mà ngài dấn thân để lo việc đó, nó không phải là cương vị một Linh mục, mà là của những người làm chính trị” (lời một vị bên Hoa Kỳ) hay là sẽ thấy: “1- Linh mục Nguyễn Văn Lý không hề làm chính trị đảng phái, nghĩa là không đứng tên thành lập và tham gia một đảng hay liên đảng nào, nghịch với sứ mạng của một linh mục và với luật Hội thánh Công giáo hiện hành. 2- Linh mục Nguyễn Văn Lý chỉ làm chính trị công dân, nghĩa là thực hiện các quyền công dân cơ bản, như ra báo độc lập, đòi quyền tự do ứng cử và bầu cử cho nhân dân, hô hào và ủng hộ sự xuất hiện và hoạt động của các đảng phái chính trị bất bạo động tại Việt Nam để hóa giải tình trạng chính trị độc đảng vốn đã dẫn tới nạn độc tài, chà đạp các quyền tự do dân chủ (như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập đảng, tự do bầu cử, nhất là tự do tôn giáo...) tại Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay”. Phải chăng chính nhờ im lặng như thế (cũng như từng im lặng trước vô vàn sự kiện đau thương chấn động mà bao đồng bào trong và ngoài nước cũng như quốc tế đã mạnh mẽ lên tiếng: đảng CSVN ký hai hiệp dâng đất dâng biển đầy ô nhục năm 1999+2000, nô lệ tình dục và nô lệ lao công bị bán ra nước ngoài mỗi năm mấy trăm ngàn, thai nhi bị tàn sát một triệu rưỡi sinh mạng thường niên, ngư dân bị Trung cộng bắn chết ở vùng biển Thanh Hóa và Đà Nẵng, nông dân nổi loạn bị dẹp tan ở Thái Bình, người thượng Tây nguyên bị đàn áp tại Ban Mê Thuột, công nhân bị bóc lột xương máu ở Sài Gòn Đồng Nai và nhiều tỉnh, dân oan khiếu kiện sống vất vưởng tại Hà Nội, Đức ông Đào Đức Điềm bị ám sát tại Huế, dân Hmông bị đàn áp tại Lạng Sơn, tượng Mẹ Sầu bi bị đập nát tại Phát Diệm, Phật giáo Hòa Hảo bị bách hại ở An Giang, Phật Giáo Thống nhất và Tin Lành bị bắt bớ tại nhiều nơi trong nước, hàng trăm nhà dân chủ bị quản chế, cầm tù...), mà người ta thấy ngay sau vụ án của Anh ngày 30-3 và trong mùa Quốc hận 30-4 này, một số vị được CS tiếp tục cho giấy đi nước ngoài để quyên góp tiền bạc. Khiến nhiều giáo dân phải đem hình Mẹ bị nát đầu, Anh bị bịt miệng đến tại tiệc ăn mừng hay tiệc gây quỹ của các vị như một thứ bùa yểm để phản đối và khơi gợi lương tâm !!! Thật ra, cho dù Anh có làm chính trị đảng phái chăng nữa, nhưng dám làm như thế (nghĩa là tranh đấu cho nhân quyền và dân quyền, khôi phục một nền chính trị đúng nghĩa và một chính quyền xứng danh) giữa chế độ cộng sản chỉ thuần là tà quyền và tà trị, thì Anh cũng đáng ủng hộ; và khi bị bắt bớ xử tòa như hôm 30-3 mới rồi, thì Anh cũng đáng được bênh vực che chở! Chính vì thế mà hầu như cả thế giới (ngoại trừ các kẻ chủ trương độc tài cộng sản và đám người thỏa hiệp với họ) đều đứng bên cạnh Anh, đều không cần phân biệt Anh làm chính trị đảng phái hay chính trị công dân, theo hay không theo luật Giáo hội. Tên công an Nguyễn Minh Tâm đã dùng tay bịt miệng Anh trước tòa án, nhiều vị hữu trách cũng bịt miệng Anh thêm vì những kiểu phát biểu nhận định như trên. Anh đang bị giam nhốt trong nhà tù, nhưng tâm hồn Anh vẫn tự do. Ngược lại, có nhiều kẻ đang tự do và thoải mái đi ra nước ngoài, tổ chức lễ hội, xây dựng cơ sở, nhưng xem ra họ đang sống trong nhà tù của sợ hãi: sợ Cộng sản phanh phui lỗi lầm ô nhục quá khứ, sợ CS gây mất an nhàn cho cuộc sống hay thậm chí thủ tiêu sinh mạng như vị bề trên đáng kính của Anh, Đức cố TGM Philipphê, sợ Cộng sản không cấp những giấy phép cho họ làm “được việc”, việc này việc nọ, hầu chứng tỏ bản thân họ nhiều tài năng, cuộc đời họ đầy thành tựu!?! Anh Lý thân kính, Anh đã trải qua những năm tháng đẹp đẽ nhất, trẻ trung nhất, năng động nhất của đời linh mục không phải trong một xứ đạo yên bình, tha hồ tổ chức xây dựng, nhưng là ở trong tù ngục, với thân xác bất động, sức khỏe hao mòn và tài năng bỏ phế. Nhưng đó chẳng phải là thân phận của cây nến tàn lụi, nhúm men trầm lắng, hạt muối tan hòa để tỏa sáng, làm dậy và ướp mặn sao? Đó chẳng phải là thân phận của những chứng nhân anh hùng, tù giam tử đạo, để trở thành hạt giống mọc lên bao kitô hữu sao? Hôm nay, ngày Quốc hận 30-4, toàn thể con dân đất Việt ở bất cứ phương trời nào đều nghẹn ngào xúc động vì Quê hương vẫn mãi là một nhà tù lớn bao gồm nhiều nhà tù nhỏ mà một đang giam nhốt Anh, vì Đồng bào Quốc nội vẫn tiếp tục bị đọa đày mà Anh là nhân vật điển hình hơn cả. Hôm nay cũng là kỷ niệm 33 năm Anh chịu chức linh mục, 30-4-1974, dấn thân vào cuộc đời hiến tế bản thân cho chân lý, công bình, tình thương và tự do. Thầy Chí Thánh của Anh, đã kỷ niệm 33 năm đời dương thế bằng cái chết trên thập giá, Anh cũng kỷ niệm 33 năm đời linh mục bằng bản án trong nhà tù. Sao trùng hợp vậy? Phải chăng là vì “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ là đã khá lắm!” (Mt 10,24-25)? Thân chào Anh trong tình huynh đệ linh mục. Người bạn tranh đấu của Anh: Phêrô Phan Văn Lợi KÍNH NHỜ CHUYỂN TIN VỀ VIỆT NAM -------------------------------------------------------------------- Gởi lại “Ra đi!” hay tâm tình của Lm Phan Văn Lợi ngỏ với Lm Nguyễn Văn Lý. “Tổng Giáo phận Huế, ngày 15-05-2002 Anh Lý thân kính, - Thế là đã một năm Anh giã từ chúng tôi ra đi. Không phải với bàn tay vẫy chào nhưng với đôi cổ tay bị chiếc còng số 8 xích lại. Không phải để lên đường cai quản giáo xứ mới - anh nhận xứ An Truyền mới 100 ngày thôi mà- nhưng đi vào chốn lao tù, nơi Anh đã hai lần có mặt với hơn 10 năm trời cả thảy. Không phải giữa thân nhân bạn bè đưa tiễn nhưng giữa vòng vây trùng điệp của 600 công an đằng đằng sát khí, mà một số thì án ngữ các ngõ ngách trong làng Truyền Nam để ngăn chận giáo hữu đến thánh đường, một số quất roi điện, dộng báng súng và đè giày đinh lên những con chiên của anh có mặt tại nhà xứ đang tức tưởi bất lực chứng kiến bầy sói hằm hè vây lấy chủ chăn của họ. Anh đã ra đi khi trời còn tối, mắt sáng đầu cao, thái độ bình thản y như lên đường nhận một nhiệm sở. Những lời cuối cùng Anh để lại An Truyền là những lời an ủi đàn chiên chứ không phải là những lời thù oán các công cụ của bạo lực. Và khi cưỡng bức Anh ra đi, hai tiểu đoàn vũ trang tận răng để khống chế vị linh mục không một tấc sắc cũng tống khứ luôn cả thần công lý.Vậy là sau khi kềm giữ bước chân Anh tại An Truyền và ngang nhiên cấm anh thi hành bổn phận linh mục bằng lệnh quản chế vi hiến quái đản hôm 26-02-2001, nay người ta muốn bịt miệng Anh mãi mãi trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này. Thế nhưng, trước đó một tuần, Lời Chứng thứ hai của Anh trước Quốc hội Hoa Kỳ -mà Anh phải viết bằng tay- cũng đã kịp ra đi, thấu đến Hiệp chủng quốc, thậm chí có mặt trên các diễn đàn internet khắp năm châu trước lúc được người đại diện chính thức đọc tại Hạ viện Mỹ, vào đúng lúc Anh bị còng tay bịt miệng. Một lời chứng hùng hồn, tối hậu Anh muốn ngỏ với lương tâm nhân loại, trước là tố cáo Cộng sản chà đạp nhân phẩm và dùng bạo lực lẫn gian dối để công cụ hóa và hủ bại hóa tôn giáo tại Việt Nam, sau là lên tiếng đòi lại mọi quyền chính đáng cho con người và cho các giáo hội ở quê nhà. Vậy là qua 1 Tuyên ngôn, 2 Lời Chứng, 9 Lời Kêu Gọi, 19 Biên Bản và vô số điện thư cũng như phỏng vấn trên điện thoại, tiếng nói thẳng thắn, rõ ràng, can đảm, trung thực của Anh đã vang khắp vũ hoàn, ra đi đến tận chân trời góc bể, và chắc sẽ tồn tại trong lịch sử như những chứng từ bất khuất, mở ra một đường hướng đấu tranh dứt khoát, toàn diện, trọn vẹn trong tinh thần bất bạo động của kitô hữu. Người ta có muốn ngăn chận tiếng nói ấy cũng chẳng kịp nữa. Tuy nhiên, dù can đảm ra đi, lòng Anh vẫn buồn rười rượi vì đã không thể có mặt bên cạnh thân mẫu đang hấp hối tại giáo xứ Quảng Biên, do sự ngăn chận của những kẻ thống trị quên hết đạo lý làm người. Và chỉ một ngày sau đó (18-05-2001), bà cụ cũng từ giã cõi tạm để ra đi về Nước Chúa. Lòng cụ cũng buồn bã héo hắt vì không được gặp mặt người con út quý yêu mà cụ đã nóng lòng chờ đợi trong cơn hấp hối kéo dài cả tuần lễ, người con đã một lần vắng mặt bên giường chết của cha do cũng bị nhốt lao tù ngày ông cụ giã từ cõi thế. Nỗi buồn của bà còn tăng gấp bội vì sự vắng mặt của hai linh mục bạn đấu tranh của con bà, vốn cũng bị người ta chặn ngay ngoài ngõ, và thê thảm hơn nữa, vì sự vắng mặt -vô tình hay hữu ý?- của đại diện giáo phận Huế, nơi Anh đang phục vụ và chịu đau khổ. Dẫu sao bà cụ cũng ra đi trong thanh thản an bình, vì đã một đời cố gắng làm kitô hữu, cố gắng giáo dục đàn con nên những kitô hữu, nhất là đã dâng hiến đứa con út mà lúc này đây đã thành một linh mục quyết liệt dấn thân trên đường khổ giá vì đại cuộc đấu tranh cho quyền con Chúa và quyền con người. Thân mẫu của Anh đúng là mẹ Việt Nam anh hùng đích thực ! Than ôi, chỉ một tháng sau đó, ba người cháu ruột của Anh cũng ra đi vào tù, mãi đến hôm nay vẫn chưa được thả, chỉ vì một tội duy nhất là có ông chú tranh đấu. Làm người Việt Nam hôm nay quả là bất hạnh, vì có thể bị tống ngục với bất cứ lý do gì, và người ta muốn giam đến bao lâu cũng được. Tình nghĩa đồng bào, niềm tôn trọng nhân phẩm, sự động lòng trước nỗi khổ tha nhân đã cuốn gói ra đi rồi chăng? - Thế nhưng, ngoài mấy cuộc ra đi đầy ý nghĩa nói trên, còn có sự ra đi nào nữa chăng trong những ngày đáng nhớ ấy hỡi Anh Lý? Còn có đấy! Trước đó một tuần, vào ngày 11-5-2001, một điện thư từ Huế đã đi sang Mỹ. Một bức thư không ai có thể ngờ nổi: ngờ nổi tác giả, ngờ nổi giọng điệu, ngờ nổi nội dung. Một bức thư -buồn thay- đã mạt sát Anh với những lời lẽ, luận điệu chẳng khác gì những cái loa tuyên truyền trên báo chí, phát thanh, truyền hình Cộng sản VN trong chiến dịch tổng tấn công con người và việc làm của Anh suốt gần nửa năm trời. Một bức thư được gởi cho một tay bồi bút, đầu lĩnh trong chiến dịch đánh phá Anh, đánh phá công cuộc đấu tranh vì tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền ở quê nhà. Có người nói bức thư ấy đã góp phần phổ biến, nhân rộng ra hải ngoại chiến dịch phá hủy thanh danh và công cuộc của Anh mà Cộng sản đã chủ xướng và khai mào tại quốc nội. Điều đó không ai biết. Chỉ biết là sau một thời gian ngắn, trong cộng đồng Công giáo Việt Nam hải ngoại, đặc biệt giữa đồng nghiệp của Anh, buồn thay đã có những dư luận động trời về Anh, hoàn toàn y như dư luận mà CS đã tung ra tại Việt Nam không một bằng chứng, chẳng một dấu tích! Sao người ta lại dễ tin như vậy? Thậm chí có chức sắc nước ngoài từng bênh vực cho Anh đã đột nhiên quay ngoắt 180 độ sau khi nghe một tiếng nói thế giá bảo Anh có lắm tỳ vết trong cuộc đời và không tranh đấu cho tự do tôn giáo mà chỉ cho tự do ngôn luận. Người ta có thể lèo lái như vậy được sao? Chúng tôi đau lòng tự hỏi phải chăng câu nói “Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã trở nên một thứ Kinh Tin Kính cho những con người này? Rồi sau khi Anh bị gô cổ cách tàn ác và giáo dân của Anh bị đàn áp cách tàn nhẫn, người người đã chờ mong bậc hữu trách lên tiếng phản kháng bạo quyền, bênh vực thuộc cấp, nhắn lời hỏi han, gởi sự giúp đỡ, đích thân thăm viếng những giáo dân của Anh đang bàng hoàng, bơ vơ, hớt hải hay đang liệt giường vì roi điện vụt xuống lưng, giày đinh đạp lên ngực. Thế nhưng chỉ thấy một sự im lặng nặng nề, khó hiểu. Mãi lâu về sau mới xuất hiện vài cử chỉ xoa dịu nhỏ nhặt... Ngày Anh bị xử tòa 19-10-2001, thái độ bất động lặng im đó càng nặng nề khó hiểu hơn nữa. Lòng bác ái mục tử đã ra đi rồi sao? Cũng ra đi nốt, chìm xuồng hẳn một dự tính mà người ta bảo là sẽ làm, làm cách tập thể, có đủ trên dưới, sau khi một số bạn bè của Anh, nhân dịp tĩnh tâm linh mục đoàn Huế giữa tháng 3-2001, nảy sinh ý định đưa ra một bản lên tiếng nhằm phản đối chuyện nhà nước quản chế Anh. Thế nhưng, mặc bao chờ đợi, người ta chẳng động tĩnh gì. Đến lúc Anh bị bạo quyền bứng khỏi nhiệm sở, tống vô lao tù, bạn bè Anh càng trông ngóng đây là một dịp để cùng nhau lên tiếng quyết liệt, mạnh mẽ. Than ôi, càng ngóng trông, càng biền biệt... - Hôm nay là giáp một năm ngày Cộng sản nhốt thân Anh, bịt miệng Anh để Anh thôi vùng vẫy, khỏi lên tiếng. Thế nhưng họ đã đạt được gì ? Có lẽ họ đã thành công phần nào qua việc bịt miệng, nhốt tim của nhiều kẻ có trách nhiệm bày tỏ tình thương đối với Anh và đàn chiên của Anh, có nghĩa vụ bênh vực con người Anh hay ít nhất công cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của Anh. Thế nhưng tiếng nói của Anh vẫn âm vang và ngày thêm mãnh liệt. Tiếng nói đó đã rền khắp các diễn đàn quốc tế, các cơ quan nhân quyền, các quốc hội chính phủ. Tiếng nói đó đã đi vào tâm can của đồng bào Việt Nam hải ngoại bất kể lương giáo, vào tâm can của những chiến sĩ ngoại quốc đang tranh đấu cho nhân quyền khắp hoàn vũ. Tiếng nói đó đã gây nên niềm cảm phục, khơi gợi tinh thần đấu tranh, thổi bùng ngọn lửa dân chủ, gieo niềm hy vọng cho những ai đang mong chờ một Việt Nam có đầy đủ tự do tôn giáo và tự do nhân quyền. Anh Lý, Anh hãy an lòng ra đi trong bàn tay của Thiên Chúa. Vì phong trào đấu tranh cho quyền con người và quyền con Chúa trên đất Việt cũng đã ra đi, đã lên đường và đang bước những bước mạnh mẽ. Thân chào Anh trong tình huynh đệ linh mục. Người bạn tranh đấu của Anh: Phêrô Phan Văn Lợi KÍNH NHỜ CHUYỂN TIN VỀ VIỆT NAM

 

Năm nay ngày Quốc Hận thứ 32 lại tới trong không khí căm phẫn vì dư âm và hình ảnh ô nhục của một phiên toà bịt miệng man rợ, chỉ có thể xảy ra ở đất nước VN mà thôi. Người bị bịt miệng vì giữa chốn công đường đã dũng cảm hô lớn “đả đảo đảng CSVN” là một linh mục bất khuất mà tên của ông rất quen thuộc với các tổ chức quốc tế, với các vị dân cử của những quốc gia văn minh từ Âu sang Mỹ, và với tòan thể người Việt yêu chuộng dân chủ tự do: Linh Mục Tađêo Nguyễn văn Lý. Ba mươi hai năm trước, theo Nguyệt Biều An Truyền Lưu Tập do bà Ngô thị Hiền của Uỷ ban Tự do Tôn giáo cho VN thì “trong những ngày sôi bỏng tháng 4-1975, đang lúc ai nấy tất tả tháo chạy vào Nam hay ra ngoại quốc thì LM NVL theo tiếng Chúa, qua lời mời gọi của Đấng Bề Trên là Đức Tổng Giám Mục Nguyễn kim Điền, lại xấn người đi tới, về lại thành phố Huế đang hấp hối, đi ngược con đường của mọi người. Đây là một thành tích “lẫy lừng” hiếm có, tiên báo và chuẩn bị cho những bước dấn thân về sau. Không tìm được một chuyến xe đò, một chuyến máy bay, một chuyến xe lửa, một chuyến tàu thuỷ..cha đành quá giang từng chặng. Một đoạn xe hơi, một đoạn xe thồ, một đoạn xe ngựa, một đoạn ghe máy..cứ vậy rồi Chúa cũng đưa cha về đến chỗ Chúa muốn Cha phục vụ.” Linh mục Lý trở thành thư ký toà Tổng Giám Mục Huế vào những ngày đổi đời bi thảm nhất của quê hương Việt Nam. Quả thật, từ đấy trở đi như một định mệnh đã an bài, cuộc đời cha Nguyễn văn Lý, bắt đầu từ đức Vâng Lời, là một chuỗi những hoạt động đầy gian truân, tù tội trong tinh thần hy sinh, quên mình để phục vụ tha nhân, giáo hội và đất nước. LM NVL đã thực hành lời của Thầy Chí Thánh là Đức Chúa Kitô: "Không có tình yêu nào trọng đại bằng hy sinh mạng sống cho người mình yêu” . Vì yêu thương giáo hội, LM đã cương quyết chống lại sự lũng đoạn khống chế của chế độ vô thần trên Giáo hội Công Giáo VN cho dù phải trả giá bằng những sách nhiễu, vu khống, tù tội và bị hiểu lầm, bị chỉ trích, bị bỏ rơi, từ các Bề Trên và một số những người đồng đạo với cha. Ngay từ tháng 9 năm 1977, LM Lý bị công an bắt giam và kết án 20 năm tù vì đã phổ biến 2 bài tham luận của Đức Giám Mục Philiphê Nguyễn kim Điền lên án chủ trương tiêu diệt tôn giáo một cách tinh vi của ĐCSVN. Tuy nhiên lúc ấy, csVN đang nộp đơn xin gia nhập Liên hiệp quốc nên bọn chúng chỉ giam ngài vài tháng rồi thả về, được bài sai của ĐTGM NKĐ về làm quản xứ Đốc Sơ, Thừa Thiên, Huế. Tại đó chính quyền Cs đã không cho phép ngài được bầu Hội đồng Giáo xứ mới, nhưng vì là việc cần thiết phải làm, LM Lý bất chấp và đã âm thầm cho bầu HĐ trước lễ Giáng Sinh. Vào khoảng năm 1981, khi tình hình tôn giáo vẫn còn căng thẳng và việc tụ tập thờ kính vẫn còn bị ngăn cấm nghiêm nhặt, LM Lý tổ chức hành hương La Vang dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời với nhiều giáo xứ khác nhau bằng xe đạp, dù bị công an tìm cách ngăn cản nhưng với sự khôn khéo và can đảm ngài đã hoá gỉai đưọc để tiếp tục cuộc hành hương. Bạo quyền cộng sản rất tức tối trước sự kiên cường bất khuất của Lm Lý nên chỉ chờ cơ hội thuận tiện để bắt ngài lần nữa. Tháng 1-1983 lấy cớ cha đã cưỡng lại lịnh cấm dạy giáo lý cho giáo dân, cs trục xuất ngài ra khỏi giáo xứ Đốc Sơ và buộc phải về ở với cha mẹ ở xứ Quảng Biên tỉnh Đồng Nai nhưng cha Lý với sự yểm trợ của giáo dân cương quyết không tuân theo, vài tháng sau công an đưa một lực lượng hùng hậu đến bắt cha đi biệt giam. Lần ra tòa này ngài lại bị bản án 10 năm tù giam tại các trại giam khắc nghiệt như Thanh Cẩm, Thanh Hoá và Ba Sao, Nam Hà ở miền Bắc. Những trại tù khủng khiếp này đã được người tù 27 năm Nguyễn chí Thiện diễn tả bằng 2 câu thơ: Những trường bắn im lìm không tiếng súng Những lò thiêu không cần lửa điện than. Chính trong trại Nam Hà, cha Lý đã sống cùng phòng với ngục sĩ hơn một năm. Khi cha Lý đang thọ án tù thì CSVN đầu độc chết Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn kim Điền, người đã được đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị ca ngợi là ý “Vị Giám Mục Uy Dũng”. Được trả tự do ngày 31-7-1992 và phải về ở Nhà Chung mà không được thi hành thánh chức Linh Mục. Bất bình trước sự khống chế và can thiệp thô bạo vào sinh hoạt của Giáo Hội Công Giáo VN, vào ngày 24-11-1994 linh mục Lý ra “ Tuyên Ngôn Về Thực Trạng Công Giáo tại Giáo Phận Huế”. Công an cộng sản điên tiết lập tức kêu ngài lên hỏi cung và “làm việc” liên tục trong 2 tháng nhưng cha Lý không bị khuất phục, vẫn dứt khoát đòi Tự do Tôn Giáo cho VN. Năm sau 1995, Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn như Thể đưa LM Lý về trông coi giáo xứ Nguyệt Biều, một nơi nhỏ bé , hẻo lánh và nghèo nàn. Năm 1999 một trận lụt kinh hoàng xảy ra tàn phá nặng nề vùng Nguyệt Biều, đây là lúc LM NVL tận tình lo lắng săn sóc cho bà con không phân biệt lương giáo và sốt sắng quyên góp tiền bạc để tu bổ sữa chưã những hư hại lớn lao trong xã. Ngài còn mở lớp dạy Anh văn, dạy vi tính, dạy nhạc cho giới trẻ trong vùng. Chính sự hy sinh và lòng bác ái đã khiến dân Nguyệt Biều đem lòng kính phục thương mến cha hết lòng. Tháng 12 năm 2000 cha Lý cho phổ biến Lời kêu gọi số 1 đòi Tự do Tôn giáo cho Việt Nam , để bảo vệ tài sản của giáo xứ Nguyệt Biều LM đã cùng giáo dân kiên quyết xác định chủ quyền của mình trước sự chiếm đoạt trắng trợn của nhà nước. Cha Lý đã nổi danh với tấm hình chụp trước cửa nhà thờ NB với khẩu hiệu Tự Do Tôn Giáo hay là Chết. Bản Tuyên Ngôn về Thực Trạng Công Giáo tại Giáo Phận Huế và 9 Lời Kêu Gọi cũng như 2 Lời Chứng về sự vi phạm quyền Tự do Tôn giáo của CSVN do cha Nguyễn văn Lý gửi ra để đọc trong buổi Điều Trần tại Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện Hoa Kỳ đã được đưa lên mạng lưới toàn cầu và cũng được giới truyền thông loan tin rộng rãi. Dù không bưng bít được cuộc đấu tranh của LM Lý nhưng csVN chưa dám mạnh tay vì lo ngại quốc tế chỉ trích, lên án. Đầu năm 2001 Đức TGM NNT lại thuyên chuyển cha Lý về giáo xứ An Truyền, nơi đây dù bị đặt dưới lệnh quản chế nhưng vị linh mục kiên cường này nhất quyết không tuân thủ. Một chiến dịch bôi nhọ và vu khống ngài được csVN phát động trong nước với sự tiếp tay của một số tay sai tại hải ngoại để xuyên tạc cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của một vị LM, dù đã mấy phen tù tội vẫn một lòng bền gan tranh đấu cho quyền lợi của Giáo hội mà ông tận tình yêu mến và phục vụ hết lòng. Tháng 5-2001 hơn 600 tên công an vũ trang tới nhà xứ An Truyền đánh đập hành hung giáo dân tàn nhẫn bằng roi điện khi họ ngăn cản bọn côn đồ đến bắt cha Nguyễn văn Lý về nhốt ở nhà lao Mang Cá, Huế. Ngày 19-10-2001 chúng vội vàng đưa cha ra một phiên tòa được bí mật dàn dựng và kết án LM Lý 15 năm tù giam và 5 năm quản chế. Một lần nữa Ngài bị đưa ra trại giam Ba Sao, Nam Hà. Năm 2005, trước áp lực của các tổ chức quốc tế như Human Rights Watch, tổ chức Ân xá Quốc Tế, nhiều vị dân cử Hoa Kỳ và Âu Châu qua sự vận động của người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới, CSVN đã phải giảm án và cuối cùng trả cha NVL về quản chế ở nhà Chung thuộc Tổng Giáo Phận Huế. Chúng tưởng rằng sau bao nhiêu năm tù đày chắc linh mục đã chịu khuất phục, tuy nhiên LM Tađêo chẳng hề vị kỷ cầu an mà bưng tai nhắm mắt trước những sự bất bình. Vì lòng yêu mến Giáo Hội, vì yêu mến tha nhân, cha Lý không thể làm ngơ trước những thống khổ, những bất công, những sự đàn áp của nhà nước hầu tước đoạt đi các quyền làm người căn bản mà người dân có quyền được hưởng để có cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người. Nên ngài đã nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới và triệt để lợi dụng những tiến bộ của ngành Tin Học để đưa những hoạt động của ngài đi xa hơn, khắp miền Bắc Trung Nam, lôi cuốn và khuyến khích sự tìm tòi học hỏi về tự do, dân chủ, nhân quyền nơi các tầng lớp dân chúng trong xã hội VN. Với sự cộng tác tích cực và hữu hiệu của các anh em linh mục trong nhóm Linh Mục Nguyễn kim Điền như quý cha Phêro Phan văn Lợi, Têphanô Chân Tín, Phêro Nguyễn hữu Giải cùng nhiều chiến hữu khác trong đó có anh Đỗ Nam Hải, Ls Nguyễn văn Đài, Ls Lê thị Công Nhân, Gs Nguyễn chính Kết v.v. đẩy mạnh phong trào đòi dân chủ hóa Việt Nam, kêu gọi có một cuộc bầu cử quốc hội đa đảng chứ không phải “đảng cử dân bầu” như hiện nay. Ngài đã là một trong những sáng lập viên Khối 8406, sáng lập viên tờ báo “chui” Tự do Ngôn luận, là cố vấn của đảng Thăng Tiến VN.v.v... Cái tên Nguyễn văn Lý đã trở thành quen thuộc, được ngưỡng mộ và cũng là mục tiêu của csVN và tay sai bôi nhọ vu khống, dựng chuyện phỉ báng v..v.. Và kết cuộc chúng ta đã biết số phận tù đày lại đến với Ngài lần thứ tư ở tuổi 60, nhưng trước khi vào tù cha Nguyễn văn Lý đã giáng cho CSVN một đòn chí tử qua thái độ dũng cảm khẳng khái trước toà, không đứng lên, không trả lời, lại còn hô to Đả đảo CSVN để đưa đến bức hình độc đáo có một không hai là Bức hình Ô nhục hay Bức hình Bịt miệng đã nhanh chóng lan tràn khắp thế giới khiến nhân loại vừa phẫn nộ vừa ghê tởm cho chế độ bạo tàn, phi nhân và man rợ của CSVN. Dù nay chúng khống chế giam hãm thể xác cha Lý trong tù nhưng tinh thần bất khuất của cha tỏa sang khắp năm châu, là tấm gương sáng của “Ngôn Sứ Thời Đại Mới” như Giáo Sư Đỗ mạnh Tri từng ca tụng. Hơn nữa, cha Tađêo NVL chính là chứng nhân của Tình Yêu, một tình yêu quê hương, giáo hội và đồng bào rất chân thành và đầy nhiệt huyết để sẵn sàng chấp nhận hy sinh, tù đày và ngay cả đem sinh mạng của mình để làm chứng cho Tình Yêu Cao Cả đó. Nguyện cầu Thiên Chúa gìn giữ LM Nguyễn văn Lý trong cánh tay quan phòng của Ngài để phù hộ ban ơn cho cha sớm thoát vòng lao lý, trở về tiếp tục cuộc sống Chứng Nhân Cho Tình Yêu trong lòng xã hội Việt Nam. Mùa Quốc Hận 2007 NTQB

 

Tôi bàng hoàng xúc động thật lâu khi nhận được điện thoại của một người bạn học gọi từ Pennsylvania báo tin thầy cũ của chúng tôi là thầy N. mới từ Việt Nam qua Mỹ du lịch và thầy rất mong được gặp lại tôi. Thầy tôi đang ở nhà của một người cháu ở vùng Tây Nam tiểu bang Virginia , cách nhà tôi gần 3 giờ lái xe. Tôi gọi điện thoại xuống để chào thầy và hẹn cuối tuần sẽ xuống đón thầy về nhà nhưng thầy bảo cứ để thầy đi xe lửa lên Hoa Thịnh Đốn rồi đón thầy ở nhà ga, và“đó là mệnh lệnh” nên tôi đành phải vâng lời. Sau khi nói chuyện điện thoại với thầy, tôi đã ngồi thẫn thờ cả tiếng đồng hồ tưởng nhớ lại kỷ niệm hơn bốn năm về trước, lúc trở về Việt Nam thăm gia đình, tôi đã hỏi thăm và tìm cách đến thăm Thầy sau gần 30 năm cách biệt. Nếu không có một người bạn học dẫn tới, chắc chắn tôi không thể nào nhận ra thầy cũ của mình... Tôi chỉ nấc lên được một tiếng “thầy” rồi ôm chầm lấy thầy mà khóc òa trong tức tưởi! Thầy tôi đó, một ông lão gầy gò ốm yếu, tóc chỉ còn lơ thơ vài sợi trắng như tuyết, và vẫn chưa được “trả quyền công dân” sau bao nhiêu năm bị tù đày vì đã làm thầy của bao nhiêu người “quyền cao chức trọng” trước năm 1975. Thầy tôi chỉ là một nhà giáo dạy trường tư nhưng đã bị giam cầm và quản chế lâu hơn rất nhiều sĩ quan và công chức khác vì lúc nào thầy cũng “ngẩng cao đầu và đứng thẳng lưng” để không mất đi tư cách của một nhà giáo. Thầy tôi đã quyết định không đi Mỹ theo diện đoàn tụ, cũng chẳng nộp đơn theo diện H.O. , chỉ muốn đi du lịch một lần cho biết trước khi về với ông bà tổ tiên. Sáng Thứ Bảy tôi thức dậy rất trễ vì tối hôm trước ngồi chuyện trò với thầy mãi tới gần 2 giờ sáng mới đi ngủ. Vừa bước xuống nhà tôi đã thấy thầy đang ngồi uống trà vàđọc báo ở phòng khách. Nghe tôi chào, thầy tháo cặp kiếng lão rồi nói: - Đúng là “đi một ngày đàng học một sàng khôn” con ạ.? Mới đọc vài tờ báo đã học được nhiều chuyện hay về đời sống của người Việt mình bên Mỹ… Con uống trà hay cà phê? Vợ con đã để sẵn phích nước sôi, hộp trà, và càphê trên bàn. Chắc thầy làm ồn nên con giật mình hả? - Dạ không ạ. Bình thường con dậy sớm lắm. Thầy dậy lâu chưa ạ? - Mỗi đêm thầy ngủ có vài ba tiếng thôi. Con mệt cứ lên ngủ tiếp đi. - Con ngủ thẳng giấc rồi thầy ạ. Để con pha vội ly cà phê rồi chở thầy ra Eden chơi. Gần 10 giờ sáng rồi, thầy trò mình ra trễ khó tìm chỗ đậu xe lắm... Buổi chiều vợ chồng con vàcác cháu sẽ đưa thầy lên DC chụp hình và thăm NhàTrắng, Quốc Hội, Tháp Bút Chì, Viện Bảo Tàng và những đài kỷ niệm khác. - Tuỳ con. Nhưng thầy không muốn gia đình con phát bịnh vì phải lo tiếp đãi thầy. * * * * * Trong lúc chờ vắng xe để quẹo trái vào “Cổng Tam Quan” trước trung tâm Eden , thầy tôi hỏi lớn: - Đường này họ đặt tên là “Đại Lộ Sàigòn” hả con? - Dạ. Hồi đầu năm Thành Phố Falls Church cho phép cộng đồng Việt Nam để thêm tên “ Saigon Boulevard ” song song với tên đường chính thức là “ Wilson Boulevard ”. Còn bên trong khu Eden , tất cả các đường ngang dọc đều mang tên Việt Nam hết đó thầy. - Người Việt mình bên này hay thật! - Mai mốt thầy sang California hay Texas sẽ thấy nhiều trung tâm lớn hơn Eden nữa, và sinh hoạt người Việt dưới đó còn mạnh gấp mấy lần trên này thầy ạ. Tôi vừa quẹo xe vào cổng, thầy tôi đã nghẹn ngào thốt lên: - Ôi! Đẹp quá. Lá cờ… Lá Cờ Vàng… Ôi! Mấy chục năm rồi… Con nhớ chụp cho thầy mấy tấm hình dưới cột cờ nhé. - Dạ… Mà thầy không sợ gặp rắc rối lúc trở về Việt Nam sao?? Mấy người “du lịch” khác họ sợ liên luỵ lắm nên… - Ăn thua chi con. Ai sao kệ họ. Phần thầy đã nếm đủ rồi, chẳng có gì phải sợ hãi! Con lái xe tới gần chỗ cột cờ đi. - Dạ… nhưng phải đứng xa xa mới chụp được thầy ạ. Cây cột cờ cao quá. - Ừ nhỉ. Mà con nhớ chờ lúc gió nó bay bay rồi mới chụp cho đẹp nhé. Nhìn hai lá cờ Việt – Mỹ tung bay trong gió màthấy lòng quặn đau con ạ.? Ôi! Mấy chục năm rồi! Tôi nghe giọng thầy nghèn nghẹn như không muốn thoát ra khỏi đầu môi. Tôi biết thầy mình đang xúc động lắm. Hình như đôi mắt của thầy cũng long lanh ngấn lệ… Sau khi chụp mấy tấm hình với nhiều góc độ khác nhau, thầy cầm tay tôi nói nhỏ: - Con đi với thầy tới chỗ cột cờ nhé. - Dạ. Tôi theo thầy đến bên cột cờ. Thầy tôi trịnh trọng đưa tay sờ vào cột cờ như một cái gì linh thiêng lắm, rồi từ từ ngửa mặt, nheo mắt ngắm hai lá cờ đang tung bay phần phật dưới nắng ban mai. Mãi một lúc lâu thầy mới quay lại thầm thì bên tai tôi: - Thầy trò mình đứng im cầu xin cho những người đã hy sinh bỏ mình vì quê hương con nhé. - Dạ. Một phút mặc niệm phải không thầy? - Đúng. Đã có hàng trăm, hàng ngàn người bỏ mình dưới Lá Cờ này đó, con còn nhớ không? Ta bắt đầu cầu nguyện cho họ nhé. - Dạ. Sau mấy phút im lặng dưới cột cờ, tôi nhận ra sự thay đổi khác thường trên khuôn mặt già nua vì tuổi tác của thầy.? Tôi biết biết chắc chắn đằng sau đôi mắt u uẩn đau buồn của thầy còn chất chứa bao nhiêu tâm sự không biết giãi bày cùng ai. Tôi đưa thầy dạo qua một vài cửa tiệm nhưng thầy tôi cứ lững thững đi theo như một kẻ mất hồn! Tôi dừng lại bên “quầy báo” trước cửa tiệm Phở Xe Lửa. Mặc dầu “người bán báo” hôm nay không phải là “chú thương phế binh” quen biết nhưng tôi cũng lên tiếng theo thói quen: - Chú cho cháu xin mỗi thứ một tờ. - Có ngay. Có ngay. 15 Đô tất cả. Thầy cầm tay tôi giặc giặc: - Ở nhà có mấy tờ Hoa Thịnh Đốn, Phố Nhỏ… rồi đó con. Sáng nay thầy đã đọc. - Dạ. Không sao thầy ạ. Con mua ủng hộ các chú gây “quỹ thương phế binh”. - Ồ. Quý hóa quá! Chờ lúc tôi nhận lại tiền thối và xếp báo xong xuôi, thầy tôi trao cho “chú bán báo” tờ giấy 5 Đô và nói nhỏ: - Ông cho tôi góp mấy đồng nhé. - Dạ… Dạ… Cám ơn. Xin lỗi ông đây là… Tôi đỡ lời: - Thưa chú đây là thầy cũ của cháu mới từ Việt Nam qua chơi. Không để tôi nói thêm, thầy tôi lên tiếng: - Tình chiến hữu! Tình chiến hữu! Đẹp thật! Đẹp thật! Các ông làm hay quá. Rồi quay sang tôi, thầy tiếp tục: - Con chụp cho thầy một tấm hình với ông anh đây. Con chụp cẩn thận để lấy hết hình cái sạp báo nhé. - Dạ. Không biết thầy tôi và “ông bạn mới” to nhỏ những gì mà chú ấy phải chạy nhờ người trông dùm sạp báo để đi theo thầy tôi chụp chung một số hình dưới “sân cờ” với những nụ cười thật rạng rỡ trên khuôn mặt của cả hai người. Sau đó, thầy tôi nhất định không chịu vào tiệm ăn sáng, cứ nằng nặc bắt tôi chở về nhà để đọc báo và “con đi in ngay cho thầy mấy tấm hình!” Cũng may vợ vàcác con tôi đã dậy, và đang chuẩn bị bữa trưa trước khi chở thầy đi thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn. * * * * * Thầy kính yêu, Bao nhiêu năm ở Mỹ, hầu như tuần nào con cũng ghé Eden , và đã hơn một lần con đậu xe sát bên cột cờ, nhưng chưa bao giờ con xúc động như mấy phút cùng thầy cầu nguyện dưới cột cờ buổi sáng hôm đó. Đúng như cha ông đã nói — “không thầy đố mầy làm nên” — con đã quên mất ý nghĩa linh thiêng của Lá Cờ nếu như con không được một lần chứng kiến “cảnh đoàn viên” của thầy và Lá Cờ Vàng ở Eden sau bao nhiêu năm cách biệt. Mãi mãi con vẫn là đứa học trò bé nhỏ của thầy. Thầy không những đã dạy con qua sách vở và bài giảng mà còn qua chính gương sống của thầy. Con cầu xin để bài học về “Lá Cờ” không phải là bài học cuối cùng thầy dạy cho con.

 

Đêm xứ người, trời bỗng nhiên trở lạnh. Chập chờn qua khói thuốc còn đọng lại trong căn phòng âm u, tôi nghe tiếng nấc của bà quả phụ Thiếu Tướng Lê Văn Hưng thoát ra từ cuộn băng ghi âm: “Xin mình cho em chứng kiến giây phút cuối cùng của mình…” . Một tiếng đạn nổ, khô khắc vang lên từ ống loa hay từ một thuở nào trong cơn biến loạn. Có lẽ cũng từ lòng tôi. Ngậm ngùi, tôi đứng dậy tắt máy. Nhìn ra khung cửa mù sương, trí tưởng nhạt nhòa lại đưa tôi về một vùng trời hẻo lánh Tiền Giang với khu đồn Giồng Riềngbó rọ trong mấy vòng kẽm gai hoen rỉ và mười sáu quả lựu đạn cuối cùng. Nghĩa Quân Lê Văn Hùng và người vợ lính Phạm Thị Thàng.... Hơn 30 năm về trước, thuở tóc tôi chưa đau từng sợi bạc. Tôi đã dẫn quân tăng viện, chiếm lại khu đồn sau trận tiến công biển người của địch. Trong khói lửa ngập vùng, hỏa châu bừng sáng, tiếng nấc của thương binh và tiếng vặn mình của gỗ sắt hòa lẫn với tiếng nổ rời rạc của vài viên đạn gặp lửa bùng lên. Nghe anh phó đồn cụt chân kể lại: "Sau khi chồng bị tử thương, chị Thàng ẵm hai con nhỏ núp sau ụ đất với một thùng lựu đạn 16 quả. Cánh tay của người vợ lính vung lên, từng tiếng nổ ầm, át cả tiếng khóc trẻ thơ. Mười lăm quả lựu đạn vút đi, ngăn chân biển địch. Thùng lựu đạn chỉ còn đây một quả Em dâng anh với cả tình yêu … Chị Thàng đã tự sát cùng hai con để đi theo chồng là Nghĩa Quân Lê Văn Hùng vào cõi vĩnh hằng, cô đơn, côi cút và âm thầm trong cuộc chiến. Người vợ lính đã nuôi con bằng gạo Quân Tiếp Vụ, hạnh phúc bình thường qua bữa cơm với cua đồng cá nội. Ảnh của chị đã được treo lên tại góc đường Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt ở Saigon một thuở nào giữa dòng người thờ ơ qua lại. Người phụ nữ miền Nam với nụ cười đơn sơ chất phác, e ấp qua mảnh khăn rằn.Từ Bến Hải đến Cà Mau, bước chân của người vợ lính ẵm con đã đi theo chồng khắp bốn vùng chiến thuật. Không có những móng chân đỏ hồng nhưng đã tạo nên những vần Thơ dường như huyền sử. Tôi quay lại bấm máy. Tiếng của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn vang lên qua từng loạt đạn nổ … “Thiếu Tướng biểu y lệnh hả Chị? Dạ, tôi sẵn sàng…” Tôi lại tắt máy, không dám nghe nữa, có lẽ vì mặc cảm tự ti, thấy mình quá nhỏ bé trước những tiếng vọng anh hùng. Lại châm thêm điếu thuốc, ngọn đồi Chu-Prao hiện về. Người nữ sinh sắc tộc Thái Trắng, Đơn Dương, hoa khôi Đà Lạt một thời với tên Đèo-Nàng-Hoa. Lấy chồng là trung sĩ Biệt Kích Trường Sơn, tên Neo-Krông, da sạm đen với bắp tay cuồn cuộn như một nhánh cây rừng. Trong một lần đi toán, Neo-Krông đã không về lại. Tặng tiền tử của chồng cho một viện mồ côi, Đèo-Nàng-Hoa đã đi tu và xin chuyển ra làm việc trong trại cùi ở Qui Nhơn. Có một lần tôi gặp lại nàng khi tôi đến thăm mộ Hàn Mặc Tử. Người nữ sinh vợ lính thuở nào như bóng của huyền thoại đã trở thành Dì Phước. Nhìn cặp mắt đen mà nghe cả tiếng thông reo. Bàn tay của Dì Phước Đèo-Nàng-Hoa đã bắt đầu ửng đỏ bệnh phong, sự thật hay do tôi tưởng tượng? Khi ra khỏi trại cùi, tôi không dám quay nhìn lại, tâm hồn của người vợ lính bình thản đã nạm vàng trong khi bóng tôi bên đường chỉ là hạt bụi. Tiếng thơ của Hàn Mặc Tử lại vọng qua gió thổi rì rào:Run như run hơi thở chạm tơ vàng... Tiếng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm buồn nhưng cương quyết: “Làm tướng mà không giữ được nước được thành thì phải chết theo thành theo nước …” . Tôi nghe mủi lòng rưng rưng. Hình ảnh của người vợ lính ven sông Thu Bồn dắt con qua bao chuyến tàu chợ từ Quảng Nam ra miền Bắc tìm chồng trong tù cải tạo. Nước mắt âm thầm chảy xuống dặm đường cay nghiệt, chân giẫm lên sỏi đá hận thù. Một gói đường phèn, một lon muối ớt, với tất cả tình thương mộc mạc, đơn sơ như thửa ruộng bờ đê, chắt chiu từng đồng, lặn lội suốt gần tháng trường gian khổ để chỉ được vài ba tiếng đồng hồ im lặng nhìn con, nhìn chồng tả tơi trong manh áo tù không án. Tù của một giai đoạn lịch sử oan khiên, tù của một chế độ bạo tàn, mà người mẹ và vợ lính không bao giờ hiểu nghĩa. Gần suốt đời cam phận bóng mờ di chuyển theo chồng qua bao trại gia binh, sinh con trong những khu đồn hẻo lánh, để rồi hôm nay bên cạnh tên cúng cơm lại bị ghi thêm hai từ Vợ Ngụy! Từ ngữ sao mà cay nghiệt, nặng trĩu hận thù! Người vợ lính cũng chẳng hiểu vì sao? Có người cầm tấm thiệp mời dự Ngày Quân Lực, hai mươi bảy năm rời xa Tổ Quốc, nhếch môi phán rằng : “Quân với Lực làm gì nữa, phí một ngày đi chơi cuối tuần!!!” Tôi cũng cầm tấm thiệp, vặn máy tăng âm cho tiếng vang từ cuộn băng bừng lên, căn phòng dồn dập tiếng đạn xa xưa… Tôi ôm đầu, quặn đau cả lòng. Từ trong tâm tưởng, tôi nghe có tiếng bước chân âm thầm của những người mẹ và vợ lính. Phạm Thị Thàng, Đèo-Nàng-Hoa, … và hàng triệu bóng dáng phụ nữ Việt Nam một thời khói lửa, son sắt thủy chung, đang nhìn tôi qua màn sương lạnh. Nỡ nào quên tình đồng đội, quên những người mẹ và vợ lính đạm bạc, không cần lịch sử ghi danh, đã và đang khóc, thương con thương chồng cùng thương Nước với tấm lòng biển rộng trời cao! Hình ảnh của người mẹ và vợ lính sống mãi trong Hồn Dân Tộc với niềm hãnh diện cô đơn. Rồi một ngày không xa, tôi sẽ được vô vàn diễm phúc đứng bên cạnh đường lịch sử vinh quang rợp bóng cờ vàng để ngắm nhìn các mẹ, các chị, các em, mỉm cười trong ân nghĩa Tình Người: Gặp nhau biết nói gì hơn Cười vui trong gió tóc vờn cờ bay!

 

Như mọi đứa trẻ ở Việt Nam khác tôi sinh ra chỉ biết có bác Hồ, lên 2 đã nghe các bài hát véo von trên đài: Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng, Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên Việt Nam, rồi: Bác chúng em dáng cao cao người thanh thanh, bác chúng em mắt như sao, râu hơi dàị Bác chúng em thề cứu nước trả thù nhà. Hồ Chí Minh bác Hồ Chí Minh sống muôn năm... Lại: Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ v.v. Nghiã là có cả một phong trào sáng tác các bài hát về bác, để bọn trẻ chúng tôi tha hồ được nhồi sọ, tha hồ ê a hát theo... Lên 5, tôi theo gia đình đi sơ tán, giữa vùng quê nghèo đói, người dân coi giấc ngủ bữa ăn, củ khoai, cây lúa quan trọng hơn việc nhồi nhét chữ nghiã trong đầu, tôi nhanh chóng nổi bật lên chinh phục bọn trẻ làng; vừa là con cán bộ sơ tán, đi học có áo trắng, quần lửng để mặc, trong khi bọn trẻ quê đi học còn phải mặc áo rách, hở khuy, tòi ra cả một đống bụng màu nâu xỉn. Chỉ riêng việc ấy thôi cũng đủ để tôi được các thầy cô cảm tình trở thành cháu ngoan Bác Hồ, tôi lấy làm kiêu hãnh về điều ấy lắm. Khi trở lại Hà Nội, tuy danh hiệu cháu ngoan không còn vì có vô vàn đứa trẻ khác giỏi và ngoan ngoãn hơn tôi, nhưng hình ảnh bác vẫn còn in dấu mãi trong tôị Mở mắt là nghe tiếng thơ phát trên đài: Nhà em treo ảnh bác hồ, Bên trên là một lá cờ đỏ tươi Ngày ngày bác mỉm miệng cười Bác nhìn các cháu vui chơi trong nhà... Mười năm học phổ thông, tôi bị đúc khuôn nhồi sọ bởi đủ thứ tư tưởng nội quy, quan điểm, lập trường, đúng như lời nhận định của nhà bác học Tôn Thất Tùng: Trẻ em Việt Nam là một sinh vật ngủ đêm quá ngắn còn ban ngày phải đối phó với đủ mọi quy định nghiệt ngã của nhà trường. Nào nội quy, quy chế, nào thi cử nặng nề, rồi chương trình dài lê thệ Suốt 15 năm học (từ vỡ lòng đến khi tốt nghiệp Đại học), chúng tôi chỉ biết có "Học, học nữa, học mãi" theo lời dạy của Lê Nin. Không ít đứa trẻ trong số chúng tôi học đến mức... đau tim, hộc máu chỉ vì muốn đua chen một chỗ đứng trên giải đường đại học. 15 năm học với tôi như một cực hình tra tấn, trong khi nhà nước cho tiêu chuẩn mỗi tháng 13 kg gạo, một lạng thịt, dăm bìa đậu, mà chúng tôi phải đạp xe 8-10 cây số tới trường xa lơ lắc, người vêu vao như những đon mạ còi không lớn nổi vì thiếu dinh dưỡng. Nhiều đứa trong bọn tôi nói vui nhưng cũng đầy ngậm ngùi cay đắng: Hình như nhà nước càng hạn chế bán gạo, tớ càng ăn khỏẹ Ba bát cơm một bữa chả là cái quái gì, mà ăn hơn thì bố mẹ lại phải nhìn nhau, nhịn ăn để nhường phần chọ Thật không biết sau khi ra trường có nên ông nên bà gì không mà nhìn ánh mắt mẹ buồn buồn trong bữa ăn, tế nhị nhắc các em trong nhà bớt ăn thức ăn đi một chút vì anh nó sắp thi học kỳ là thấy thương quá. Không biết sau này phải trả nghiã bố mẹ ra saỏ Tốt nghiệp ra trường với số điểm ưu, tôi những tưởng sẽ được trọng dụng, ai ngờ nhận quyết định đi Lai Châu, mẹ ôm lấy tôi, nước mắt lã chã: ở nhà thôi con ạ, lên trên ấy nước độc, rừng thiêng, không sống nổi đâụ Nhà nghèo 4 năm trời tôi vẫn không xin được việc, rồi không thể ăn bám bố mẹ trong khí túi tiền bị Đảng "bao" nhiều "cấp" ít, tôi đành phải trốn mẹ ra đị Mẹ tôi khóc còn hơn ngày ông ngoại bị đội trưởng đội cải cách đến bắt, phải rạch ruột bằng mắt kính bẻ đôi để tử tư.. Lên rừng đang thời điểm 1986, cả nước ngắc ngoải trong cơn đói, tầng lớp trí thức chúng tôi được Đảng ưu tiên chỉ đạo tự túc lương thực 3 tháng. Hết ba tháng này lại ba tháng khác, quả thật tôi không hiểu làm sao mình qua được những ngày dài đói lả ấỵ Câu thơ của nhà thơ Duy Phi cứ khoan sâu trong óc: Đời ông lặp lại đời cha Đời con cháu nối mãi đời cụ kỵ Quý khoai sắn hơn là sâm với quế Rau muống ơi, xin hãy muộn mùa hoạ Anh chủ nhà, quê Ninh Bình, lên khai hoang kinh tế mới, nơi chúng tôi thường xuyên qua lại để trò chuyện, giải thích: - Mong rau muống muộn mùa hoa để làm bánh đấy các cô chú a.. Có lẽ chúng tôi sống được là nhờ bà con - những phụ huynh học sinh gốc kinh lên nông trường theo tiếng gọi của Đảng, đùm bọc bằng tất cả tấm lòng trân quý nhất. Mở cửa ra, thấy nặng tay, cố ảy, chợt có vài trái bí mán lăn long lóc xuống tận chân đồị Tử tế hơn là cân sắn, cân khoai, nải chuối, quả đu đủ rừng. Học bác sĩ Tôn Thất Tùng trong những ngày theo kháng chiến, có ngày tôi phải ăn 20-30 quả chuối thay cơm. Đói cồn cào xót ruột đến mức nhìn thấy chuối là sợ nhưng nhà nước đã cố tình cắt cơm chúng tôi thì biết làm thế nàỏ Chả lẽ lại vác cái dạ dày thõng thẹo hình dấu phẩy lên sở giáo dục mà bảo: Chúng tôi đói lắm, trả lương, cấp gạo cho chúng tôi ăn đi, đừng bắt tự túc lương thực mãi thế? Vì kế hoạch trăm năm chúng tôi phải lên rừng trồng người rồi, đừng bắt chúng tôi phải vì kế hoạch 1 năm trồng lúa nữạ Bao nhiêu thầy cô giáo chúng tôi đói quá phải bỏ qua cả "lợi ích một đêm" là... làm tình rồị Trước ba đêm không gặp nhau một lần thì khí dồn lên não, bây giờ ba tháng tự túc lương thực, đói cơm, rét cật làm sao chúng tôi "dậm dật" đươc? Trong tôi lúc ấy không hề có khái niệm nổi loạn, đêm đêm chong mắt chấm bài cho học trò, rồi vẩn vơ nghĩ về nhân tình thế tháị Sáng ra nghe tiếng ru của anh chủ nhà vọng sang mà thêm nẫu ruột: Con ơi con ngủ cho lâu, Mẹ mày đi chợ cơm đâu mà đòi Đói no thì đã tỏ rồi Cha đành lấp lửng những lời ru suông. Thằng bé con út của anh chị mới được hai tháng mà bố mẹ đã lăn lê ngoài đồng bãi nương rẫy kiếm ăn. Thức ăn duy nhất là nước đường loãng đựng trong chai thay sữa giao cho bà nội cứ mút chùn chụt. Cả ngày chỉ được ăn thêm 2 đĩa bột muốị Không hiểu sao nó vẫn cứ lớn lên được? Buồn, đói, chả còn cách nào giải khuây, trong khi hội bạn lao vào chơi "tú lơ khơ" giết thời gian thì tôi lao vào những mê cung rắc rối của ngôn từ. Không ngờ những vần thơ đầu tiên về Đảng cộng Sản thân yêu của tôi lại là những vần thơ tiên đoán về thời thế: Nhầm lẫn rồi hỡi bác kính yêu Chủ nghĩa xã hội đang trên đường tắt lụi Giữa đất nước của Lê nin vĩ đại Cách mạng Nga làm Lịch sử thụt lùi Thế kỷ nghèo sinh sản bác vĩ nhân Bày con cháu gắng gánh tròn hậu quả Là ngư dân bác chỉ lo được thế Đất nước đói nghèo nhờ di chúc thiêng liêng. Bài thơ dài 11 khổ, giữa tuổi đời 29, tưởng tràn căng sức sống mà lại nặng trĩu những âu lọ Lúi húi chép lại thành 5, 7 bản để tặng cho những người thân yêu nhất không ngờ, đáp lại thái độ chân tình của tôi họ xua tôi như đuổi tà: - Thôi thôi, tôi không nghe cái thứ thơ chính trị, chính em ấy đâụ Bạn không định biến tôi thành thằng phản động chứ? Trong khi bao bài thơ trữ tình trước đó, hầu như bài nào tôi cũng được khen, có chị còn nghiện thơ của tôi, mượn về nhà cho con cái chép lại vào sổ taỵ Bây giờ nó nằm trong tình trạng "im lặng đáng sợ" với ai cũng chỉ có một thái độ duy nhất "không biết, không nghe, không thấỵ" - Cái gì phải đến đã đến, 3 năm sau toàn bộ hệ thống đông âu sụp đổ. Điều mà tôi dự đoán trong thơ đã hoàn toàn linh nghiệm. Bạn bè bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác, dè dặt hơn, thận trọng hơn, như thể tôi là một kẻ nổi loạn thực sự và nếu chơi với tôi sẽ có ngày mất đoàn, mất Đảng như chơi Năm 1994 tôi mới được về Hà Nội lo chuyện lập gia đình. Đám cưới của hai trí thức nghèo cùng làm nghề gõ đầu trẻ chỉ toàn ảnh đen trắng. Khi hạch toán, toàn bộ số tiền mừng vừa khoẳn các khoản thuệ Cho dù phải ngửa tay xin mẹ tiền mua xe đạp nhưng tất nhiên tôi vui lắm, rốt cục tôi cũng biết thế nào nghiã vợ tình chồng, là áo đơn, áo kép không bằng da nọ nép da kia, là vợ chồng hoà thuận là tiên trên trần (Ban ngày) còn ban đêm ắt hẳn phải thành "tiên ở trần" rồị Sự nghèo đói cứ lẽo đẽo theo chân chúng tôi từng bước, thay vì gõ đầu trẻ chúng tôi bắt đầu gõ vào đầu nhau chan chát (như chó đốm với mèo khoang). Vì đồng lương chết đói không thể nào bôi đủ cho ba người từ đầu đến cuối tháng. Trong khi còn mẹ già, em dạị Quả là kiếp trí thức trong thời đại Hồ Chí Minh - nơi thiên đường xã hội chủ nghĩa do bác du nhập từ Nga về khổ hơn kiếp lợn, kiếp chó. Suốt thời sinh viên và thời lên rừng khai sáng văn minh cho đồng bào dân tộc, cho đến tận lúc này chúng tôi vẫn bị Đảng bỏ quên. Không "đào tận gốc trốc tận rễ" như khẩu hiệu năm 1930, 1931 là còn may chán.\ Nhờ thừa hửơng hệ gien của dòng họ: "Trứng rồng lại nở ra rồng" tôi được chuyển nghề, từ gõ đầu trẻ sang gõ đầu mình. Rồi thường xuyên có mặt trong đội ngũ viết thuê cho các nhà xuất bản. Nhờ vinh dự đặc biệt này, mà tôi thường xuyên được tiếp xúc với các nhà văn nhà báo lão thành, những cây đa cây đề, bậc tiên chỉ trong làng báo và làng văn xã hội chủ nghĩạ Tuổi già là kho báụ Tiếp cận với họ tôi thực sự được tắm trong suối nguồn hào phóng của tri thức, trong đó có cả đề tài về bác. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy họ có những nhận định táo bạo về vị cha già dân tộc, chẳng hề tôn kính chút nào như nhà nước và Đảng đã đầu độc ho.. Không hề sợ phạm huý, giữa những người cầm bút với nhaụ Họ bộc lộ thẳng thắn: "xì ông cụ nhà mình toàn đạo trích, giỏi giang cái đếch gì". Để chứng minh, họ lôi ra tràng giang đại hải những tiếng Nôm tiếng Hán, tôi nghe mà ù cả tai, rồi người khác tiếp tục khẳng định: Cả tập ngục trung nhật ký có phải của cụ đếch đâu, trình độ cụ biết chó gì mà đòi làm thơ chữ Hán, chẳng qua cụ ăn cắp của người khác thôi, điều này thì có ông Từ Mục hay Hữu Mục gì đó ở Hải Ngoại chứng minh rồi... Và: Sao cái lớp trẻ dễ tin thế nhỉ, người như cụ Hồ mà giản dị, độc thân sao được? Rồi: Thằng bé Trung, con ông cụ không biết giờ này sao rồị Đảng mình ác thật... Những lời tiên tri ấy lập tức găm sâu vào đầu óc tôi như rêu xanh bám chặt vào tảng đá.Suốt cả đêm tôi lúi húi chép lại từng lời từng chữ vào trang sổ của mình, sáng ra có điều gì không rõ lại phải làm như vô tình hỏi lại để tăng tính xác thực cho tư liệu... Trước đó qua số bạn bè cùng dạy, tôi may mắn gặp nhà viết chèo Tào Mạt, nổi tiếng với "bài ca giữ nước", sau khi mối quan hệ trở nên thân mật, ông bộc lộ: Tôi được trung ương giao cho viết một vở chèo về bác, thú thật lúc đầu tôi thấy vinh dự lắm liền vào ngay thư viện ôm một đống sách về để nghiềm ngẫm, vào tận quê ông cụ để lấy thêm tư liệu, đọc cả sách nước ngoài ca ngợi cụ, rồi để cả năm trời kiểm chứng, cuối cùng phải bỏ, vì cụ Hồ là người người hoàn toàn không tin được, đầy gian giảo, xảo quyệt, khác hẳn với những điều bịa đặt trong sách. Bây giờ để có tác phẩm thay thế, tôi phải chuyển sang viết về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Tôi ngỡ ngàng nhìn ông như nhìn một tên nghịch tặc, nhưng tôi tin trong ông phải có ẩn ức sâu sa lắm mới nói được những lời nguy hiểm chết người như thế. Không bao lâu sau tôi nghe tin ông bị người của Đảng rình bắt tại khu vực 51 Trần Hưng Đạo, 65 phố Nguyễn Du, 9 Nguyễn Đình Chiểu, 19 Hàng Buồm (1) những nơi ông thường xuyên lui tới để gặp gỡ anh chị em trong giới "tối" tác. Cũng may bà Trần thị Bát, một người đàn bà vô cùng quê mùa nhưng lại rất "tỉnh đòn" trong những việc bắt bớ, rình rập này đã lăn xả vào giữ chân chồng suốt một thời gian dài không cho ông ra Hà Nội, nên vụ vây bắt không thành. Sau đó không bao lâu ông bị bệnh và chết, nhưng ấn tượng từ câu nói của ông về bác Hồ làm tôi không thể nào quên. Tết 2003 tôi đến nhà bác Chương Thâu, người bỏ tiền của sang Nhật, tìm tư liệu để viết 14 tập về nhà yêu nước Phan Bội Châụ Ông không nói lộ ra ngoài nhưng đọc trong mắt ông, tôi biết ông chẳng ưa gì người cha già của dân tộc mình. Ông bảo: Nếu cho phép treo ảnh lãnh tụ, ông chỉ treo ảnh một mình cụ Phan Bội Châu thôị Tôi nghĩ phải có lý do gì thôi thúc lắm ông mới bỏ gần cả cuộc đời để nghiên cứu và hoàn thành một tác phẩm kinh điển 14 tập về cụ Phan như thế. Dày dặn và trang trọng hơn tác phẩm Tư bản luận của Mác hay "Chước tác" Hồ Chí Minh. Tôi tin trong quá trình nghiên cứu Phan Bội Châu ông thừa biết tội của cha già đã bán đứng nhà yêu nước họ Phan cho thực dân Pháp lấy tiền như thế nàọ Vì thời thế ông không tiện bộc lộ, mà bắt chúng tôi phải tự mò mẫm tìm hiểu lấy mà thôị Năm 2005, tình cờ tập nhật ký trong tù rơi vào tay tôị Trước đó tuy phải học, phải nhồi sọ về bác nhưng tôi chẳng nhớ điều gì cụ thể ngoài nỗi đắng cay vì thi tốt nghiệp bị 2 điểm môn văn (suýt trượt) trong khi phân tích bài "Giải đi sớm" của ngườị Lần này tôi đọc kỹ lưỡng hơn, như sợi tóc chẻ làm tư, một khối quay ru bích quay đủ 7 mặt. Tôi ngạc nhiên vì một câu bác nhận xét tập thơ của Cù Huy Cận lại rất đúng trong trường hợp này: Bài hay xen lẫn với bài thường. Như thơ của hai người khác nhau cùng làm vậỵ Cái hay thì vượt trội hẳn lên, còn bài thường thì ngô ngọng, chả có vẻ gì là thơ cả. Trong tôi loé lên sự nghi ngờ và quyết định phải làm rõ sự nghi ngờ của mình dù phải mất bao nhiêu thời gian đi chăng nữạ Nhìn một cây không thể thấy cả cánh rừng, tôi mò vào thư viện mượn hai cuốn: Thơ Hồ Chí Minh và Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cùng rất nhiều tác phẩm của các nhà thơ lớn viết về người như Tố Hữu, Chế lan Viên... Càng đọc tôi càng tin vào nhận định sắc sảo của những ông bạn già. Đúng là thơ văn đích thực của cụ chả có gì đáng nói cả, nếu so với những bài thơ của người dân oan bị mất đất mất nhà thì thơ họ làm còn hay hơn vạn lần (cho dù đa phần là mù chữ), ít nhất nó cũng có tâm trạng buồn phiền đau xót, có sự việc cụ thể mà tôi tin dưới bầu trời mặt đất này không nơi nào còn tồn tại những cảnh đời khổ ải như ở Việt Nam, vì thế mà lay động tâm trí, lương tâm người đọc (trừ bọn quan tham, vua điếc) điều khiến tôi phẫn nộ là cụ rất ảo tưởng về mình, trừ mảng thơ chúc tết mà tôi đã mạo muội dự đoán: Lượng thơ không đáng kể, tầm nhìn xa không quá bản thân mình. Và: Thật là một sự xúc phạm ngôn từ quá lớn nếu gọi đó là thơ vì lổn nhổn các lời chúc khẩu hiệu gói trong nền cờ cách mạng v.v và v.v, còn một mảng thơ tuyên truyền gồm 30 bàị Quả thực chưa lần nào đọc thơ (kể cả thơ của tác giả nghiệp dư, đem đến nhờ tôi đọc để nâng cấp hy vọng được xuất hiện trên văn đàn) tôi phải phẫn nộ như lần nàỵ Thơ như đấm vào lỗ tai như thế mà bắt anh chị em dân vận phải học thuộc lòng rồi đi tuyên truyền vận động bà con. Cụ còn bảo hễ ai thuộc nhiều sẽ được trọng thưởng. Chả trách lớp lãnh đạo đàn em cụ đều thuộc diện khinh học cả,vẫn lãnh đạo đất nước như thường, khiến 81 triệu dân Việt Nam được thể thiến nhanh, thiến thẳng thiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội (bỏ qua giai đoạn giãy chết là chủ nghĩa tư bản) Nghĩa là bị đảng thiến là sẽ chết ngay chứ không cần giẫy chết như kiểu thiến của chế độ tư bản chủ nghĩa... Trong nỗi bức xúc tột cùng ấy tôi bắt tay vào viết bài đầu tiên: "Phát hiện thêm về Hồ chủ tịch", tuy được bạn đọc hưởng ứng hết sức nhiệt tình, nhưng tôi tâm đắc với một nhận xét chẳng ưu ái gì về đứa con tinh thần của mình "Gọi là phát hiện thêm nhưng thực chất chẳng có gì mới cả, quan trọng chỉ là một tiếng nói trung thực ở trong nước". Thú thực lúc đầu tôi hơi tự ái, vì 20 năm cầm bút, kể cả khi còn phải lấp ló sau cánh màn sân khấu, tôi chưa khi nào bị nhận xét theo kiểu kỳ cọ, coi thường như thế. Sau khi sục sạo vào cả kho tư tưởng, xưởng ý kiến của tất cả 256 người, đặc biệt là bản di chúc cuối cùng của cụ do báo Thức Tỉnh San Jose đăng lại từ tờ Con Ong ở Pháp, tôi hiểu là tác giả những lời nhận định cực đoan đó hoàn toàn có lý. Chỉ là mới và thêm so với những người trong nước bị Đảng kìm kẹp, đầu độc tư tưởng thôi, còn với độc giả Hải Ngoại thì họ biết tỏng ra rồị Thế mà tôi nhớ trước khi lên mạng, tôi bí mật cho một vài người bạn thân thiết trong nước đọc, họ rất lo ngạị Người bảo tôi sinh phải giờ liều, gan to hơn trái núi, người dặn cẩn thận với cánh PA25 đấỵ Họ quan niệm "bắt nhầm hơn bỏ sót". Bắt một người để cả triệu phải khiếp lây rồi ai nuôi con v.v và v.v. Chứng tỏ với người Việt Nam thế hệ trung niên như chúng tôi - tất cả những mặt trái của tấm huân chương (trong đó có bác) đều bị bưng bít, ai nói khác đi một chút là bị kẹp chì ngay, kẹp tư tưởng không được thì tổ chức cho kẹp xe để kẹp đầu luôn. Nhờ các tư liệu quý báu mà bạn đọc Hải Ngoại cung cấp (gấp trăm nghìn lần những điều tôi nghe lỏm từ các lão làng hôm nào), tôi quyết định phải dựng lại chân dung Hồ Chí Minh, để thế hệ cháu con không bao giờ bị đầu độc nữạ Có sách mới áo hoa là nhờ ơn ông bà bố mẹ chứ Đảng bóc lột con dân còn hơn tư bản, thiến dân theo kiểu thiến nhanh, thiến mạnh, thiến vững chắc lên địa ngục xã hội chủ nghĩa thì không chết là may rồi lấy đâu ra mà "vui tung tăng em ca có đảng cuộc đời nở hoa". Trong vương quốc tối tăm này tiền bạc của cải chỉ giành cho những kẻ độc tài, mù loà về đạo lý, lương tâm, kiến thức, còn tầng lớp trí thức chúng tôi, những người may mắn sinh ra từ những quả trứng rồng lại phải chịu cảnh thất nghiệp, tù túng, chết mòn trong vây, nhục hơn cả Từ Hải chết đứng. Như câu thơ tôi đã viết: Đất nước chìm trong cảnh mù loà Bao nhiêu Từ Hải chết trong vây Trời xanh biển rộng đâu mà vẫy Đành làm mọi tôi ở xứ nàỵ Nghiã là làm mọi tôi cho những kẻ xuất thân từ dòng giống liu điu khác như Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn An v.v. Suy xét cả bốn đời từ đời ông bà nội ngoại đến đời bố mẹ rồi đời tôi và đời con tôi, chúng tôi không những không hề được lợi lộc gì từ Đảng mà còn bị Đảng bóc lột đến trắng mắt, trắng taỵ Ông nội tôi xuất thân trong một gia đình giàu có ở thôn quê, 2 tháng rưỡi đã được bố mẹ bế lên Hà Nội ở, được nuôi ăn học đầy đủ, sau khi tốt nghiệp trường hậu bổ trở thành quan thông ngôn, chuyên phiên dịch tiếng pháp cho nhà nước Đại Pháp. Nếu các cụ tôi còn bao nhiêu cánh đồng thẳng cánh cò bay ở quê, thì ông nội tôi cũng giàu ức vạn. Trong nhà có tới 13 gia nhân, người ở, từ vú nuôi, con sen, đến người ở, người giúp việc bán hàng, người kéo xe tay, tài xế chuyên buôn vải và gạo tấm từ Nam Định lên cho bà tôi bán tại cửa hàng riêng của gia đình. Vào tay cách mạng, ông tôi mới 48 tuổi bị đột quỵ mà chết, cả nhà lẫn xe hiến hết cho nhà nước. Bác tôi học trường An-Ba-se-ro không chịu nổi cảnh mấy con mẹ bán xôi ngoài cửa trường mình hôm trước một điều cậu hai điều con, nay lên làm tổ trưởng dân phố, mặt vênh như bánh đa nướng chuyên săm soi vào tận gầm giường người khác để tìm vàng tâng công, liền bỏ vào Nam. Bố tôi học trường Bưởi được "giác ngộ" cách mạng từ bé. Nên khi 14, 15 tuổi đã lên giọng chửi bố và anh là bám đit đế quốc đòi từ để một lòng một dạ theo Cách mạng. Sinh ra là con quan, có gia nhân theo hầu từng li từng tí mà khi trở thành anh bộ đội cụ hồ khổ hơn trâu, chó. Từ một thư sinh trắng trẻo khôi ngô thành khỉ Trường Sơn, rồi chết trong mòn mỏi kiệt quệ, trong ngờ vực đớn đau giữa mùa hè 1986. Thời kỳ khốn khó nhất của Việt Nam, sau mười năm phỏng giái, lãnh đạo miền Bắc tiếp quản, thu gom hết tài sản của miền Nam trù phú cho riêng mình nên cả nước ôm nhau ngắc ngoải trong từng ô tem phiếụ Từ lúc theo cách mạng không được ăn no lấy một ngày, ngược hẳn với quãng đời trước đó. Bà ngoại tôi dù có công nuôi cả đại đội trong nhà vẫn bị quy thành địa chủ. Goá chồng lúc 55 vì ông tôi tự tử trong trại giam, 9 đứa con mạnh đứa nào đứa ấy chạỵ Cứ chị cả tha em út, anh hai cõng em 5 v.v. người lên rừng, người xuống biển người vô Nam. Bác cả tôi, vì muốn gặp lại ông bà và các em nên sau khi giải phóng Miền Nam, kiên quyết không di tản, dù có 6 người con là lính cộng hoà, cấp bậc trung tướng, thiếu tá, đem xe về tận nhà rước má... cuối cùng phải trả bằng cái giá đớn đau nhất: Chết trong nghèo đói bệnh tật, con cái thất nghiệp, nhà cửa tiêu điều xơ xác. Chị họ tôi đỗ thủ khoa, từng được bà Trần Lệ Xuân vợ của ông cố vấn Ngô Đình Nhu đội vương miện trên đầu, 8 lần vượt biển cùng người yêu không thành, cuối cùng đành để anh ra đi trước, nếu còn sống thì thu xếp đón vợ mới cưới sang sau... vậy mà cho đến năm 47 tuổi ước mơ mới thành hiện thực. Sống bên nhau vì nghiã thôi còn tình thì quá date rồi, đúng như bài hát mà các thành viên trong trại tù của chị vẫn nghêu ngao hát: Tù lâu quá đi thôi, L... tôi teo hết rồi, Đảng ơi (2). Mẹ tôi 16 tuổi đã phải ra khỏi nhà trở thành Thanh niên xung phong. Làm đường tàu, tuyến đường Hà Nội Thái Nguyên, dưới bóng tối của Đảng, lại dính thêm thành phần là con đại địa chủ, cho dù có là địa chủ kháng chiến đi chăng nữa cũng khổ và nhục hơn triệu triệu lần thời thực dân Pháp xâm lược. Tôi được học hành nhờ mẹ thắt lưng buộc bụng, cộng thêm những cẳng cải già, cuống súp lơ, bắp cải trước nhà của bếp trường đại học thải ra, mẹ tôi tiếc rẻ nhặt lại, lược bỏ hết phần xơ phía ngoài lấy lõi bên trong làm rau ăn quanh năm. 15 năm học không một ngày học thêm, toàn vịn câu nói của bố mà vươn lên: Khả năng con người là vô tận, hãy biết khai thác bản thân mình con a.. Thế là từ lúc lên 9, lên 10 đã biết gõ vào đầu mình để nắm bắt kiến thức và bây giờ liên tục gõ vào đầu mình để viết, lặn ngụp trong câu chữ kiếm ăn, nuôi con và nuôi gia đình nhỏ của mình, không hề nhận được bất cứ đặc ân nào của Đảng, vì ngay sau khi chuyển từ miền núi về Hà Nội đã bị người của Đảng tống ra khỏi biên chế để thế chân con em cháu cha vàọ Bắt đầu có chút của ăn của để là nhờ sự giới thiệu, dẫn dắt, kê chỗ đứng của các nhà dân chủ và bây giờ hoàn toàn trông vào tấm lòng của bà con anh em Hải Ngoại, những người biết được cái tài của tôi mà trọng du.ng. Nếu không hẳn tôi đã chết rũ trong ngôi nhà xã hội chủ nghĩa tồi tàn vì không công ăn việc làm hoặc phải tự thiêu như bà Phạm thị Trung Thu để đòi lại quyền lợi cho con cáị Vì thế bắt tôi ơn Đảng, ơn bác sao được? Nhà bác học Lê Quý Đôn người đi trước Mác 300 đã nói: Người tài không dùng, sĩ phu ngoảnh mặt kia mà. Nếu Đảng kết tội tôi ngoảnh mặt với Đảng cũng là lẽ đương nhiên. Hơn nữa Đảng nào có tốt đẹp gì, bắt tôi phải đồng loã với cái ác, cái xấu của Đảng sao được? Ngay Hồ Chí Minh trong di chúc của mình cũng nói rõ sự sai lầm của mình vì đã đưa đất nước đi theo con đường của Liên Xô, Trung cộng cơ mà. Ngày 14-8-1969, trước khi đi tìm Lê Nin Các Mác để hỏi tội, cụ đã từng tuyên bố trong di chúc cho cô con gái lai Pháp của mình rằng: Chủ nghĩa này chẳng qua chỉ là giả bô.. Họ lừa dối nhân dân để chiếm lấy chính quyền cho nước Nga khi đó". Trước khi biết mình bị đầu độc bằng mũi tiêm của bác sĩ Tôn Thất Tùng, cụ đã mong ước cho nước ta và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa sớm ra khỏi ách cộng sản. Nhưng thôi tội của Đảng kể muôn năm không hết, mình tôi kể chỉ là giọt nước trong biển cả, sẽ đến ngày 81 triệu dân Việt Nam vùng lên kể tội Đảng, trả Đảng về đúng nơi mà Đảng đã chui rạ Đó là bóng đêm, là hang tối, là khe sâu, vực cao... không khác được. Hà Nội cuối 2005 Nguyễn Thái Hoàng Ghi chú: 1- Trụ sở hội liên hiệp văn hoá nghệ thuật, nhà xuất bản tác phẩm mới hội nhà văn Hà Nội và hội nhà Văn Việt Nam. 2. Nhại lời bài: Mặt trời bé thơ của Trần Tiến.

 

Câu chuyện "Thằng ăn cắp . . " nguyên văn của người kể như thế này: Năm 12 tuổi, tôi đọc ở đâu đó một chuyện cổ tích Ấn Ðộ. Truyện rất ngắn, ít tình tiết, kể về một thằng ăn cắp. Hồi đó tôi không hiểu ý nghĩa. Ðem hỏi cha tôi thì chỉ nói: "Lớn lên con sễ hiểu. Người nào không có lòng công chính, không là người chân thật thì cũng không hiểu". Thường bọn móc túi nơi đám đông, quân đào tường, khoét vách nhà người ta để trộm tiền bạc, đồ đạc... là những vật cụ thể, hữu hình, gọi là thằng ăn cắp. Ðiều đó dễ hiểu. Còn lòng danh dự, sự công chính, lương tâm là những thứ trừu tượng, những ý niệm, thảy đều có thể bị ăn trộm hay sao? Truyện cổ tích thường vô lý. Cốt lấy ý bỏ lời. Truyện đã đọc gần nửa thế kỷ rồi, nay kể lại ắt không thể đúng theo nguyên văn. Chi tiết thì có thêm thắt, lời văn có thể rườm rà nhưng tuyệt nhiên ý nghĩa vẫn được giữ nguyên. Ở một làng nào đó bên Ấn Ðộ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đã xế, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng đã mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải dấu trong gói hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương. Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nướcát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm. Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngàng qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian.ễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa. Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghỉ thầm: "Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta". Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói: - Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta. Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con: - Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nẩy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!, bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại. Người thương gia rảo bước về gấn đến làng. Nhìn xa xa trông ráng chiều tươi êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên những rặn tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách. Về đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu: - Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp tích tụ từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa! Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên. Ðến chùa, cảnh vẫn vắng tanh. Trong chùa có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi: - Gói đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu? Cụ già ngạc nhiên: - Gói đồ nào của bác? Vàng nào của bác? - Thì cái gói đồ tôi để quên hồi xế trưa trong chùa nầy! Cụ già vẫn bình thản: - Quả thật lão không thấy gói đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Gói đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao? Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tôi mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt. Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp mười năm tích tụ của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi, mặc gió đưa đi biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ, may rủi. Cuối làng. giữa một khoảng vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bản đen, nổi bật một hàng chữ trắng viết to: "Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại". Người thương gia mừng quýnh đập cửa xin vào. Người nông phu ra mở cửa, hỏi: - Bác là chủ gói đồ bỏ quên trong chùa? - Vâng, chính tôi. Tôi đã để quyên trong chùa khoảng xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại. - Nhưng trước hết bác phải cho tôi biết rõ gói đồ như thế nào? Trong đựng những gì? Người thương gia trả lời: Ðó là gói vải, trong đựng một ít lương khô đi đường. Người nông phu nói: - Thế thì không phải gói đồ của bác. Người nông phu nói. - Thú thật với bác, cũng còn một số vàng, gói trong một túi vải khác màu đỏ. Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia: - Quả thật gói đồ của bác. Xin mời vào nhận. Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác xé nửa số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói: - Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn. Người nông dân ngạc nhiên: - Trả lại một vật không phải là của mình là một việc bình thường, có gì đâu mà bác phải đền ơn? - Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là phải lẽ. - Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Xưa nay vẫn vậy. Không phải là cái cớ để đòi tiền thưởng. Cũng như lòng yêu quê hương, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác, do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đấy mà được chia phần? Thôi tôi xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống trong giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp. Người thương gia không biết nói gì hơn bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất túi vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy, với ý định bắt buộc người nông dân phải nhận sự trả ơn. Người nông dân vội nhặt gói vàng đuổi theo, miệng hô hoán: - Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp. Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt người nông dân, hỏi: - Nó đã ăn cắp vật gì của bác? - Nó muốn ăn cắp cái tâm công chính và chân thật của tôi từ ngày tôi theo Phật! Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện vì tư lợi, những nguời yêu nước để mong được địa vị... thảy đều không hiểu chuyện.

 

Làng Phật Giáo Mã Châu, nơi tôi sinh ra, cách làng Công Giáo Trà Kiệu, nơi Th., bạn tôi, sinh ra, khoảng mười cây số và một con sông. Trong làng tôi, ngoài trừ gia đình người chú họ, sau khi đi làm ăn xa trở về làng cũ, trong hành trang của chú còn có thêm một cây Thánh Giá và bức hình Đức Mẹ, tất cả bà con còn lại đều là Phật Tử. Đoạn đường từ trạm Nam Phước lên đến quận Duy Xuyên chỉ dài hơn năm cây số nhưng đã có đến bốn ngôi chùa. Các ngôi chùa làng rất nhỏ, mái ngói cong, thường xây cạnh những cây đa già. Tuổi thơ tôi lớn lên trong một môi trường Phật Giáo và dưới bóng mát của hồn quê hương đơn sơ chất phác đó. Phần lớn bạn học các lớp trung học đệ nhất cấp ở trường quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, trong đó có cả Th., và Diệp đều là người Trà Kiệu. Ba của Diệp lái xe Lam ba bánh. Cuối tuần tôi thường ra Chợ Quận đứng chờ xe của bác đi ngang là tôi đi theo lên Trà Kiệu chơi với đám bạn. Từ Mã Châu đi Trà Kiệu không xa nhưng phải qua Cầu Chìm, một chiếc cầu nhỏ bắc ngang một trong những nhánh sông Thu Bồn chảy ra hướng Cửa Đại. Vì được xây quá gần với mặt nước nên mỗi khi trời mưa lớn là xảy ra cảnh nước chảy qua cầu. Đám học sinh bên kia sông buổi sáng đi bộ đến trường nhưng buổi chiều nhiều khi phải đi đò về nhà. Bên chân cầu là một chiếc lô-cốt bằng xi-măng, tàng tích của chế độ Thực Dân còn để lại và cũng là một nhắc nhở của vết thương hằn sâu trên da thịt quê hương tôi, làm nhức nhối bao nhiêu thế hệ đã qua và còn mưng mủ cho đến bây giờ. Trà Kiệu, với diện tích khoảng một cây số vuông, đẹp một cách hùng vĩ và linh thiêng. Phía Tây Trà Kiệu là rặng núi Kim Sơn chạy dài, hút sâu vào dải Trường Sơn trùng điệp. Phía Nam là di tích thành lũy và hoàng cung của một thời vàng son trong lịch sử Chiêm Thành. Theo sử sách ghi lại, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu phần lớn từ miền Bắc di cư vào miền Trung, bắt đầu là người ở Kẻ Chợ Hà Đông vào khoảng năm 1684. Họ sống tập trung nhau để dễ bề giữ đạo và giúp đỡ cho nhau. Trong tôi vẫn còn in lại hình ảnh những bậc tam cấp bằng đá của nhà thờ Trà Kiệu, nơi chúng tôi đã ngồi trong những buổi chiều vàng nhìn xuống xóm nhà của các bạn tôi, được dựng bên những thửa ruộng xanh bao vòng quanh chân núi. Thế nhưng, không phải ai ở quê tôi cũng đối xử với nhau một cách vô tư, hồn nhiên và hòa đồng như tôi và đám bạn Trà Kiệu của tôi. Không ít người dân Quảng, vốn rất tự hào về truyền thống cách mạng, chống Thực Dân Pháp, Địa Linh Nhân Kiệt, Ngũ Phụng Tề Phi, thường nghĩ về Trà Kiệu như là một làng Công Giáo biệt lập. Càng tự hào với truyền thống chống Thực Dân bao nhiêu thì họ lại càng dễ có thái độ khắt khe, xa cách với đồng bào Trà Kiệu bấy nhiêu. Với những người mang nặng định kiến, hẹp hòi và bảo thủ, đồng bào Trà Kiệu, dù sống trên cùng một quê hương nhưng không cùng chung nhau trọn vẹn một chiều dài lịch sử. Sự xa cách đó không phải tự nhiên mà có, cũng không phải chỉ đơn giản là sự cách biệt lương giáo chung chung mà thôi, nhưng những chia rẽ giữa những người đã chôn khúc nhau trên cùng mảnh đất, bắt đầu bằng máu, đổ xuống trong đêm 1 tháng 9 năm 1885 và chảy dài suốt thời kỳ thực dân đầy thù hận, khổ đau, tang tóc. Đêm đó nghĩa quân thuộc phong trào Văn Thân tỉnh Quảng Nam với khẩu hiệu Bình Tây Sát Tả đã mở liên tục các cuộc tấn công vào làng Công Giáo Trà Kiệu lúc bấy giờ đặt dưới sự lãnh đạo tinh thần của Linh Mục Bruyere, được gọi bằng tiếng Việt là Cố Nhơn, thuộc Hội Thừa Sai Pháp. Trong làng thời đó chỉ có khoảng 370 thanh niên có thể chiến đấu với vỏn vẹn 5 khẩu súng. Họ phải tự rèn gươm giáo, đúc súng đạn, dành dụm từng chút lương khô trong cuộc chiến tranh tự vệ khó khăn và quyết liệt. Sau lưng là núi, trước mặt là con đường độc nhất dẫn ra tỉnh đã bị bao vây. Họ không có đường lui và cũng không còn đường tiến. Cuộc chiến đấu của họ mang trọn vẹn ý nghĩa của "tự do tôn giáo hay là chết". Sau 21 ngày tấn công và chống đỡ đẫm máu giữa người Quảng và người Quảng, giữa người Việt và người Việt, giữa những tín đồ Thiên Chúa Giáo và các đơn vị Văn Thân Bình Tây Sát Tả, đã gây ra rất nhiều thiệt hại, mất mát cho cả hai bên. Máu người dân Quảng đã chảy trên đồi Bửu Châu thiêng liêng, xương người dân Quảng đã phơi trên cố đô Chiêm Thành huyền bí. Cuối tháng 9 năm 1885, sau gần một tháng tấn công không thành công, các đơn vị Văn Thân rút lui. Đồng bào Công Giáo Trà Kiệu tin rằng Đức Mẹ đã hiện ra trong những đêm 10 và 11 tháng 9 năm 1885 để che chở cho con cái của Mẹ và giúp đẩy lui quân đội của cả một phong trào Văn Thân rộng lớn của tỉnh Quảng Nam đông gấp trăm lần. Từ đó, hằng năm vào ngày 31 tháng 5, ngày cuối của tháng Hoa, người dân Công Giáo Trà Kiệu tổ chức lễ cung nghinh Đức Mẹ để ghi ơn Mẹ đã cứu giúp Trà Kiệu thoát khỏi bị tận diệt. Năm nay, dù trong điều kiện khó khăn, hơn 16 ngàn tín đồ Công Giáo khắp nơi đã hành hương về Trà Kiệu để vinh danh Đức Mẹ Trà Kiệu. Trong cái nhìn của riêng tôi, đồng bào Trà Kiệu thời bấy giờ không có một chọn lựa nào khác. Họ đã phải chiến đấu trong một hoàn cảnh tự vệ, không những để bảo vệ niềm tin Thiên Chúa mà còn vì mạng sống của chính họ và gia đình họ. Nhiều trong số họ đã ngã xuống cho niềm tin mà họ tôn thờ. Nếu họ thua, có thể làng Công Giáo Trà Kiệu không còn hiện diện trên bản đồ như ngày nay nữa. Niềm tin đã giúp Trà Kiệu đứng vững. Ngày 31 tháng 5, trong bình diện tôn giáo, vì thế, phải được hiểu như là ngày của Niềm Tin hơn là một chiến thắng quân sự chống lại Văn Thân. Niềm tin tôn giáo đó vô cùng cao cả và trong sáng. Đồng bào xứ Quảng thời đó đã sống có niềm tin và đã chết vì niềm tin. Những hy sinh của họ xứng đáng được kính trọng và phải được nhìn từ khía cạnh thuần túy tâm linh. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc ít may mắn. Rất hiếm hoi trong mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta có được một thời bình yên và ổn định đủ dài để xây dựng đất nước hay ít ra đủ kết hợp một tiềm năng, như trường hợp Nhật Bản, đủ sức chống chỏi với các áp lực từ bên ngoài. Sau suốt cả ngàn năm Bắc thuộc là Trịnh Nguyễn phân tranh. Khi cuộc nội chiến vừa yên thì các chiến hạm Pháp cũng vừa thả neo dòm ngó ngoài cửa biển. Nói ra có vẻ cải lương nhưng quả thật dân tộc Việt Nam đúng là một dân tộc đã trưởng thành trong khói lửa. Tôn giáo tại Việt Nam đã chia xẻ trọn vẹn những bất hạnh chung của dân tộc. Phần lớn các tôn giáo lớn được truyền vào Việt Nam cùng lúc với những biến động lịch sử lớn của đất nước. Theo các quy luật kinh tế đã được các nhà kinh tế thuộc mọi trường phái thừa nhận, chủ nghĩa thực dân là một bệnh chứng tất yếu trong quá trình tiến hóa của nhân loại. Với hệ thống giáo dục lỗi thời và chính sách đối ngoại vô cùng thiếu ngôn ngoan của triều đình nhà Nguyễn cộng với các kỹ thuật chiến tranh cách biệt quá xa về kỹ thuật giữa tây phương và của các quốc gia khu vực Nam Á thời bấy giờ, dù có hay không có sự xuất hiện của Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam trong giai đoạn đó thì nước ta vẫn mất, nhà ta vẫn tan. Chỉ tiếc là chúng ta không có những ông vua sáng suốt như Minh Trị Thiên Hoàng (1852-1912) biết nhìn xa hiểu rộng, kịp thời canh tân đất nước. Chúng ta cũng không có được những ông vua như Rama IV (1851-1868) của Thái đủ khôn ngoan để thấy được xu thế chính trị kinh tế của thời đại, ngõ hầu dung hóa các ngoại lực. Thay vào đó, các vua nhà Nguyễn đã theo đuổi chính sách bế môn tỏa cảng để rồi cuối cùng dẫn đến mất nước. Tiếng súng của Đô Đốc Perry đã đánh thức nước Nhật nhưng tiếng đại bác của viên sĩ quan Pháp, Le Lieur, bắn vào Đà Nẵng năm 1856 không lay tỉnh một triều đại ngủ quên trong cái học từ chương, thi phú cung đình. Những bản điều trần của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điều ... chỉ là vài giọt nước tan loãng vào biển hủ nho phong kiến. Tương tự, những lời can gián cương trực của hai danh sĩ Quảng Nam, Phó Sứ Phạm Phú Thứ và Binh Bộ Thượng Thư Lê Đĩnh, chẳng đủ công hiệu để giết hết được loại vi trùng định kiến, hoài nghi, bảo thủ, lo sợ mất quyền, mất nước truyền trong máu từ bao đời trước. Thế nhưng, nói như thế, cũng không có nghĩa, tôi đang trách tổ tiên ông bà chúng ta trong phong trào Văn Thân, Cần Vương kháng Pháp. Thảm cảnh, trong đó hàng vạn người Việt Nam được trang bị bằng dao mác, tầm vông, đã gục xuống như rơm rạ trước nòng đại bác thực dân, đã làm sục sôi máu hờn căm của những người dân Việt đang đau vì vận nước. Ông bà chúng ta thời đó, ngoài giặc Pháp, chẳng còn một nơi nào hay một ai để trút lòng phẩn uất, lửa căm thù của họ, khác hơn là các giáo sĩ tây phương và những người theo đạo từ tây phương truyền đến. Và để nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không thể trách các vua nhà Nguyễn đã bế quan trong bốn bức tường thành. Làm sao các vị đó hiểu được những gì đang xảy ra trên thế giới và cho vận nước, khi cả đời vùi mài trong tứ thư ngũ kinh. Làm sao các vị đó có được chọn lựa sáng suốt hơn khi mang trong người dòng máu sợ người ngoài như sợ thú dữ, truyền lại từ suốt ngàn năm lệ thuộc Bắc phương. Trở lại với Trà Kiệu, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu thời bấy giờ đã dù bị bạc đãi, dù chịu đựng trấn áp nhưng đã không vì thế mà bỏ rơi đất nước. Các tín đồ Thiên Chúa Giáo Quảng Nam đã không nghe lời Giám Mục Pellerin làm nội gián cho quân của tướng Rigault De Genouilly khi viên tướng nầy đem quân đánh Đà Nẵng vào ngày 1 tháng 9 năm 1857. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Phạm Văn Sơn: "Viên Trung Tướng nầy [Rigault De Genouilly] còn thất vọng thêm ở chỗ không thấy có giáo dân nổi lên hưởng ứng nên đã kỳ kèo giám mục Pellerin vì trước đây giám mục đã đoan quyết như vậy. Lúc nầy giám mục cũng theo quân đội (Pháp) và có mặt trên chiếc tàu Némésic. Giám mục vừa xấu hổ vừa tức giận nên bỏ về ở nhà tu Pinang tại Mã Lai". Hẳn nhiên không phải ở đâu cũng có những người Việt Nam như thế, không phải nơi nào dân tộc ta cũng may mắn có được nhừng người con biết làm ngơ trước vinh hoa để bảo vệ sự sống còn lâu dài của dân tộc như thế. Trong suốt 40 năm chiến đấu trong gian nan tuyệt vọng để ngăn chận bước chân của thực dân Pháp (1847-1887), bao nhiêu mẫu chuyện đầy bẽ bàng chua xót, bao nhiêu việc làm đáng trách của một số người Việt còn ghi lại trong sử sách. Nhắc lại những điều đáng ca ngợi hay nêu lên đôi điều đáng trách đó, tôi không có ý định đào sâu những vết thương đã một thời lở lói trong lòng dân tộc. Nhưng để chúng ta cùng nhìn về quá khứ một cách khách quan, chân thành, bao dung và trân trọng, để từ đó biết tránh xa những ổ gà, những hầm hố, những vết xe đổ, trên đường đi tới một tương lai tươi sáng cho đời sau. Không ai muốn giết nhau. Không ai muốn tàn sát nhau. Định mệnh lịch sử đã bẫy dân tộc ta vào một căn hầm không lối thoát, trong đó, các thành phần dân tộc vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng, vừa là đồng lõa và nhiều khi cũng vừa là tội phạm. Đọc lại lịch sử Việt Nam các thế kỷ 17, 18 để thấy ông bà chúng ta đáng thương và tội nghiệp biết bao nhiêu. Cả dân tộc, thời bấy giờ, như một bầy cừu non, không hề chuẩn bị, trước nanh vuốt của Thực Dân Pháp. Tôi chỉ mong có một ngày những người dân Quảng sẽ cùng về lại Trà Kiệu, cùng nhau lau sạch những bậc đá trên đồi Bữu Châu như lau đi những vết thương hằn sâu nhiều thế kỷ. Tôi vẫn mơ có một ngày cùng nhau xây lại đình làng Ngũ Xã Hoàng Châu và các làng mạc chung quanh Trà Kiệu, nơi đã từng là bãi chiến trường, là biên giới của phân ly, hoài nghi, xa cách. Trà Kiệu, Mã Châu, Thi Lai, Hà Mật, Kỳ Lam, Giao Thủy, Đà Nẵng, Hội An....là những phần thân thể đáng yêu và bất khả phân ly của xứ Quảng. Tôi yêu Trà Kiệu như yêu chính ngôi làng Mã Châu nhỏ bé của tôi. Chiều hôm qua, đọc bài viết công phu của linh mục Trần Quý Thiện về nhà thơ Công Giáo Hàn Mặc Tử, tôi xúc động và hãnh diện khi biết rằng mẹ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, cụ bà Nguyễn Thị Duy, sinh năm 1881, là người Trà Kiệu. Thân phụ của tác giả Đây Thôn Vỹ Dạ nổi tiếng, cụ Vinh Sơn Phaolô Phạm Toản (1882-1926) vì chống Pháp phải thay đổi họ từ Phạm sang họ Nguyễn. Giọt sữa mẹ và hùng khí quê ngoại Quảng Nam đã góp phần tạo nên Hàn Mặc Tử, nhà thơ lớn của Việt Nam đầu thế kỷ 20. Chúng ta không thể sửa lại quá khứ, chúng ta không thể làm lại lịch sử, chúng ta không thể xoay ngược bánh xe thời gian, chúng ta cũng không thể nào quên đi quá khứ. Nhưng xin hứa với nhau, chúng ta sẽ không sống bằng quá khứ. Chúng ta sẽ học những bài học đắng cay của cha ông chúng ta một cách nghiêm túc, chân thành và trân trọng. Nhưng không phải học để rồi khóc than thương tiếc, mà để từ đó xây dựng một Việt Nam thương yêu, đoàn kết trong tương lai, kính Chúa nếu là con cái Chúa, kính Phật nếu là đệ tử Phật, tương kính đạo của nhau giữa những người khác đạo, và biết vượt qua mọi khó khăn để gìn giữ căn nhà chung của mẹ Việt Nam. Các tôn giáo sẽ mãi mãi là những giòng suối của tình thương, những giòng sông của bác ái, hòa vào mạch sống chung của dân tộc, đem lại dòng sinh khí cho quê hương vốn đã bao năm chìm đắm trong hận thù tang tóc. Các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo trong Việt Nam tương lai sẽ là những cột kèo, mái vách gìn giữ cho căn nhà đạo đức Việt Nam mỗi ngày một thêm bền vững. Các ngài sẽ là những bậc thầy đáng kính dạy dỗ cho các thế hệ Việt Nam mai sau được lớn lên trong tình đồng bào ruột thịt, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau. Khoảng cách không phải một sớm một chiều mà xóa hết nhưng vẫn còn đó trong mỗi chúng ta chung một niềm hy vọng. Xin cầu nguyện.

 

Phong lom khom đứng dậy bước ra mũi thuyền. Trời tháng tám không một hơi sương. Trận mưa ngâu rữ rội chiều qua đuổi bạt những đám mây đục tụ hội trên đỉnh núi xanh mờ phía trời Tây. Vài ánh sao chiếu mệt nhọc trên nền trời xám một buổi canh tà. Những ngọn gió sớm mai vẫn chưa tỉnh giấc. Con Sông Nhuệ đục ngầu hòa trộn nước phù sa của giòng Sông Đáy đổ tràn vào dâng ngập mênh mông, mặt nước mon men tới đỉnh những luống khoai tàn úa. Phong chống tay trái vào cột mái chèo, nghiêng mình nhìn đám rơm rác củi bè trôi theo giòng nước chạy ngược bên ván thuyền. Mái chèo không khuấy lên những ánh nước bạc như những đêm đi thuyền dưới trăng. Có lẽ nước sông còn dâng lên nữa vì sườn đê vẫn chưa hàn kín. Mặt nước ngang bằng ngọn lúa, vài nhánh lúa lay động khoe hơi sống trong cảnh đắm chìm. Nếu không có những ruộng khoai vươn cao hai bên bờ có lẽ con thuyền sẽ đi lạc vào những cánh đồng ngập lụt mênh mông. Phong ngoái cổ nhìn vào khoang thuyền. 12 người đồng chí nằm ngổn ngang trên hai chiếc chiếu giải liền lại, áo đen quần đen, họp thành những khối hình thù hỗn độn, hai giẫy mã tấu xếp gọn ghẽ bên thành thuyền. Cảnh 12 người thanh niên trai tráng ngủ ngon lành trên chiếc thuyền lưu động đưa họ về nơi chiến đấu súng đạn gây cho Phong niềm xúc cảm nao nao. Anh hồi tưởng lại những ngày tang tóc dạo tháng Ba... Một buổi tối Phong thẫn thờ ngồi trên Đống Cam giữa cánh đồng đầy mả mới, để cố quên, dầu chỉ trong giây lát, cảnh chết chóc bi thảm của lớp người đói khổ trong xóm. Một manh chiếu rách, một chiếc mai cùn và 3 tấc đất nông vùi chôn số kiếp người dân bất hạnh. Thần Chết lảng vảng trong thôn. Một hạt gạo là một hạt vàng. Rau mơ, rau má, rau sam đã bị nhổ nhẵn nhụi bên bờ ruộng. Những thân chuối lá già cỗi, héo hon bị đẵn trơ trụi, gốc chuối rỉ ra một chất nhựa cằn. Mẹ anh kể rằng đây là lần đầu tiên cảnh chết đói diễn ra hãi hùng như vậy. Có cả một xóm chết sạch chẳng còn một ai! Phu đòn trong họ lục xoát những căn vườn hoang tìm ra những tử thi đã trương mùi khăn khẳn. Trước cảnh chết chóc nhục nhã Phong bực tức điên cuồng. Anh oán hờn tất cả, ghét bỏ hết cả. Anh không muốn nghe cả những lời cầu kinh sám hối của mẹ hiền. Trong lúc tâm trạng sôi nổi, Phong gặp Cả Bằng, anh Cả bán sách ngày trước bên xóm Hạnh đã bỏ làng đi biệt tích khi quân Nhật vào làng bắt mấy người Tầu làm nghề trang kim suốt ngày đập búa giọt đồng thành giấy. Đêm hôm đó Cả Bằng và Phong ngồi chong đèn suốt sáng, đĩa dầu lạc phải thay bấc mấy lần. Phong chăm chú nghe anh Cả nói đến những ruộng đay, những vụ đốt gạo làm than, những chuyến tầu nặng chìm chở đầy gạo nhổ neo rời Hải Cảng. Mắt Phong sáng lên khi anh Cả kể lại những vụ cướp thóc, phá thuế tại Hưng Yên, Bắc Ninh. Lần đầu tiên trong đời, Phong nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần hai chữ Phát Xít, Đế Quốc. Và cũng là lần đầu tiên Phong lẩm nhẩm như lời cầu nguyện thiêng liêng những danh từ Độc Lập, Hy-Sinh. Sáng hôm sau Phong lên tỉnh xin rút học bạ, bỏ học đi theo Cách-Mạng. Anh thương cử chỉ ngơ ngác của ông thầy trước dáng điệu cương quyết của anh. Trong cuộc gặp gỡ cuối cùng với các bạn, suýt nữa thì Phong đã không kìm được câu “đánh đuổi Nhật Pháp”. May thay điều đó anh đã ghi vào đầu óc, vì “chúng ta còn ở trong bóng tối”, anh Cả đã căn dặn Phong như vậy khi tiễn chân Phong ra tận cổng làng. Trưa học chính trị, tối tập quân sự, chỉ trong vòng một tháng, nhờ trình độ văn hóa, sức lực vạm vỡ và nhất là tinh thần cao, Phong nghiễm nhiên trở thành một du kích quân kiểu mẫu. Một đêm không trăng, cũng trên Đống Cam giữa cánh đồng ngùn ngụt tử khí, vì mả mới ngày càng nhiều và càng đào nông, anh Cả long trọng phủ lá cờ trên tấm bia cao, nhìn thẳng vào cặp mắt long lanh của Phong chậm rãi nói: “Nhân danh Đoàn Thanh Niên Du Kích Cứu Quốc tỉnh Nguyễn Trãi, tôi long trọng tuyên bố phong đồng chí Phong làm đội trưởng thanh niên du kích liên xã Tây Ba”. Phong nghiêm trang tuyên thệ trong sự khâm phục của 5 du kích quân đồng đội. Rồi Ngày Khởi Nghĩa cuốn đến như trận sóng. Cách mạng đã chín mùi, đế quốc và phát xít rẫy chết. Mặt Trận tổ chức mít-tinh khắp nơi. Phong hãnh diện giơ cao cán cờ, ngọn cờ đỏ chạm ngọn cây bàng trong sân đình. Và Phong cùng các đồng chí dõng dạc hát vang: “Anh em trong đoàn quân du kích, “Cùng vác súng lên nào ! “ Đi lên ! Đi lên !... “Ta hiệp cùng dân chúng, “Cướp lấy phần chiến thắng, “Giải phóng giống nòi ! “Đoàn du kích quân... Có điều Phong không ngờ - mà chẳng đời nào anh dám ngờ - là thằng Sâm, em Phong, cũng thấy đứng trong hàng ngũ thiếu niên tiền phong. Và lạ hơn nữa con Nhung cũng thấy xếp hàng trong đoàn thiếu nữ tiền phong. Phong càng kinh ngạc khi cả hai đứa cùng đứng nghiêm chỉnh như những chiến sĩ và hát trọn bài Du Kích Quân. Phong trào Cách Mạng dâng lên như sóng cuốn. Đâu đâu cũng thấy cờ đỏ, đâu đâu cũng bàn tán về Cách Mạng, về Mặt Trận. Những khẩu hiệu ái quốc kẻ la liệt trên bờ tường bao quanh trường và ngay cả trên tường trong lớp. Dân chúng hầu như quên hẳn vụ đói khổ dạo tháng Ba, say sưa với Độc Lập. Thì trận lụt ùa đến ! Bờ đê sông Đáy gần mạn chùa Hương nứt vỡ một đoạn, nước sông tràn vào như thác. Nước đỏ chạy như bay qua những cánh đồng xanh vừa cấy lúa vụ mùa. Nước băng đến những con đường đất trong xóm, che lấp những bụi dâm bụt vừa trổ hoa. Từng nóc nhà lá ọp ẹp trôi lềnh bềnh theo giòng nước cuốn. Các đoàn thể xung phong đi đắp đê. Mã tấu sáng loáng ngày khởi nghĩa nay lấm nhem những bùn. Tre làng đẵn từng giẫy xếp lại chờ đò chở đến chân đê. Nhưng giòng nước soáy đang hăng đã đập tan những ống bương to bản nhất. Mặt Trận đã cướp được chính quyền, các trại lính khố xanh, khố đỏ đều quy hàng giải phóng quân. Duy còn một cái gai cuối cùng phải nhổ nốt: Quản Dưỡng vẫn kháng cự và chiếm giữ trại lính khố xanh tỉnh Hà Đông. Phong bồi hồi sung sướng nghĩ đến vinh hạnh của chuyến đi đêm nay. Đi giải phóng cho tỉnh anh, đi kiện toàn sự thành công của Cách Mạng. Phong mường tượng thấy bóng Quản Dưỡng thấp thoáng bên kia sông. Anh thét: ”Xung phong!” 12 thân hình bật dậy như 12 cái máy, 12 cái đầu đen đụng mạnh vào mui thuyền làm nghiêng ngả 12 con người còn ngái ngủ. Năm, ủy viên tỉnh bộ từ Côn Lôn về, nói lên sự hoảng hốt chung: ”Có giặc à?” Phong giật mình tỉnh mộng: “ Xin lỗi các đồng chí, tôi cứ tưởng là thằng Quản Dưỡng”. Anh em du kích thở phào... Họ lom khom chui ra mũi thuyền, hít mạnh khí trời buổi rạng đông. Vì mặt trời vừa nhô lên khỏi mặt nước. Ánh nắng hồng chạy song song trên cánh đồng ngập lụt, ráng đỏ của vừng Đông in bật lên nền trời xanh thẫm, mầu xanh của mùa Thu, mùa Cách Mạng. Mười một đội viên trong tiểu đội Tây Ba, tay cầm mã tấu, lưng đeo dao găm, đứng lăm lăm trên khoang thuyền (mui thuyền đã được hạ xuống). Thuyền lặng lẽ bơi về phía Đầu Cầu. Theo sau hàng chục con thuyền đinh nặng nề tiến tới. Gươm đao lố nhố trên sông. Một bầu không khí uy-nghiêm trước giờ lâm trận. Khi đoàn thuyền thứ nhất lái về phía Vạn Phúc để dàn quân theo thế gọng kìm, Phong thấy hàng chục con thuyền đã đậu sẵn dưới gầm cầu. Hàng trăm giải phóng quân đã gươm súng tề tựu bên bờ sông. Có cả hàng trăm du kích quân hậu thuẫn, cũng tay đao tay mác, đứng nhấp nhô sau rặng tre bao quanh làng Vạn-Phúc. Bỗng Năm cất tiếng hát hùng dũng, 12 du-kích quân chăm chú nghe như lời huấn dụ: Anh em trong đoàn quân du-kích. Cùng vác súng lên nào, Đi lên! Đi lên! ... Anh em cùng tiến tới, Theo lá cờ phấp phới, Mầu đỏ ... búa liềm. Phong giật mình đánh thót! Anh kêu lên :”Đồng chí Năm! sao đồng chí lại hát thế? Sao lại búa liềm?” Anh em du kích ngơ ngác nhìn nhau. Họ không hiểu búa liềm là gì, nhưng họ đoán thấy trong vẻ mặt kinh hãi của đồng chí Phong một điều gì vô cùng quan trọng. Mặt rắn như đanh, Năm cười như thương hại: ”đồng chí thiếu ý thức chính trị. Sao vàng chỉ là hình thức, đối với Đảng phải là búa liềm”. Phong tê dại người, lưỡi anh ngọng nghịu, nước bọt khô quanh, cổ họng đắng chát. Anh cúi đầu, hổ thẹn. Anh bối rối, luống cuống suýt đánh rơi khẩu mút-cơ-tông duy nhất của tiểu đội. Tinh thần anh rã rời, bao nhiêu mệt nhọc một đêm không ngủ kéo đến làm anh thẫn thờ. Phong như sống trong giấc mộng, mắt dại hẳn đi, người như mất trí. Anh cúi gầm mặt xuống giòng nước... Bao nhiêu hăng hái từ ngày tham gia cách mạng trong khoảnh khắc đều tan biến đi. Phong buồn bã nhìn nét mặt ngây dại của mình dưới bóng nước. Anh tự thương cho mình, thương cho 11 đội viên đứng trên khoang thuyền, ngây thơ tin tưởng vào bóng cờ quyến rũ, bóng cờ đầy sắt máu từ nơi thiên đường Cộng Sản xa xôi. Bóng cờ liềm búa kinh hoàng được hòa dịu bằng một ngôi sao. Nhưng trong lòng ngôi sao là một cặp búa liềm, trong lòng Mặt Trận là một “Đảng” bí mật. Anh đoán Cả Bằng chưa chắc đã biết điều đó. Cả Bằng cũng cứ tưởng lầm như anh. Cả Bằng mới tham gia có dăm tháng trước anh thì làm gì đã được vào “Đảng” ? Cả Bằng chưa đi Côn Lôn thì chưa thể biết được. Anh thương cho Cả Bằng. Cả Bằng và Phong và 11 đội viên đều bị lợi dụng, bị lừa gạt. Anh thương cho cả một thế hệ thanh niên bị lừa như con trẻ. Anh uất ức nghẹn ngào... Những tiếng hôø vang dậy làm Phong bừng tỉnh. Bên kia đường, hàng trăm giải phóng quân, nhẩy ra khỏi thuyền, chạy xô vào cổng trại. Họ vừa hò hét vừa xông lên bờ hè ngập nước đến đầu gối. Những tiếng súng trường nổ liên hồi phía sau. Lập tức hàng tràng đạn trung liên nổ vang như sé không gian từ chòi cao. Mấy tên lính khố xanh nằm rạp trên sàn chòi, mũi súng 12,7 quay tới tấp về tứ phía. Những tiếng rú hãi hùng, từng thây đổ xuống, nước bắn tung tóe, máu đỏ thấm qua làn áo đen hòa vào nước đục. “Xung phong! Sát!” Đoàn giải phóng quân, du kích quân hò la vang lừng, phần vì say máu, phần vì tức giận. Mã tấu loang loáng trong tay, họ chém phăng người lính khố xanh đang muốn xin hàng. Một anh giật lấy súng, chĩa lên chòi bắn cho kỳ hết đạn. Rồi cùng nhau phá tan tấm cửa gỗ, ùa vào sân trại. Bị lôi cuốn trong làn sóng người chiến đấu, tiểu đội Tây Ba chạy theo, ngã xiêu ngã vẹo. Áo quần ướt sũng, đầu tóc tả tơi, miệng gào khản tiếng. “Anh em tiến lên chòi ! Sát! Sát!” Từng tràng liên thanh đáp lại tiếng hô quân. Hàng chục du kích ngã dưới tầm súng, đao quăng đi mọi ngả. Phong bị làn sóng người xô đẩy vào góc tường. Mắt anh đỏ ngầu, thấy máu khắp nơi, máu tươi tóe lên vách tường, máu hòa đỏ khắp sân. Hàng trăm du kích cũng vừa kéo đến tiếp quân. Tiếng hò hét vang trời. Sân trại chật ních những người. Bỗng họng súng trung liên câm bặt. Hàng chục du kích đã chèo lên cướp được khẩu 12,7. Họ nhẩy lên:” Cướp được đui xết rồi! Sát! Sát!” Phong băng người qua sân. Anh chạy theo lá cờ của người đồng đội lăm lăm tiến vào trại trưởng đồn. Từng tràng tiểu liên bắn tới. Phong rú lên, ôm bụng ngã xuống nước. Đoàn người theo sau cờ chạy nháo nhác về phía chân tường. Hai du kích quân Tây Ba dìu Phong vào chân chòi canh. Họ đặt Phong dựa vào bức tường gạch, hoảng hốt kêu: “Đồng chí đội trưởng trúng đạn rồi!”. Mặt tái nhợt Phong ngả đầu vào vai anh du kích, máu từ bụng trào ra, máu chẩy qua kẽ tay, run rẩy, đỏ tươi. Anh cố thu hết tàn lực ngoảnh nhìn về phía trại binh. Tiếng súng đã im nhưng tiếng hô quân còn vang dội. Bỗng anh du kích bỏ Phong, vùng dậy: “Quân ta chiếm được đồn rồi! Kìa quốc kỳ! đồng chí Phong! quốc kỳ!” Phong ngước mắt nhìn lên chòi canh, phong cảnh mờ như sương khói. Anh cố mở to đôi mắt. Bỗng nhiên Phong bật dậy, nét mặt kinh hãi đến cùng cực. Anh thét lên: ”Trời ơi! cờ đỏ búa liềm.!” rồi ngã vật khỏi tay người đồng chí.

 

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe "thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ" Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim. Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc. Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mãi mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm. Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc: Ví mà tôi đổi thời gian được Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười. Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này: Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai như tiếng lá thu rơi Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê Mười năm tóc mẹ màu tang trắng Trắng cả lòng con lúc nghĩ về Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn Con đi góp lá nghìn phương lại Đốt lửa cho đời tan khói sương Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao Mẹ xa xôi quá làm sao vói Biết đến bao giờ trông thấy nhau Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ Đau thương con viết vào trong lá Hơi ấm con tìm trong giấc mơ Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi Ví mà tôi đổi thời gian được Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười. Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống 8 năm. Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng "con đi nghe". Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội. Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi "Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi", và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là "Lên đường bình an nhé." Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu? Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi. Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa. Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn "USA, USA" và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương. Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ. Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang. Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này. Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến. Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm. Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuổi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến. Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối. Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra. Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông. Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa. Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình. Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nổi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh. Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẻ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. "Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười" trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử. Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình. Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.