


===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.
Thực hiện sứ mạng đầy cường độ ( Lc 6, 17-9, 19) ( 2 ) c) Một vài so sánh ( Lc 6, 39-49). Phần thứ ba của Bài Giảng Dưới Đồng Bằng là đoạn thu tóm một vài so sánh: việc so sánh thứ nhứt gọi là " dụ ngôn " ( Lc 6, 39). Những câu chuyện so sánh vừa đề cập không có liên hệ chặt chẽ vói bản văn trước đó, ngay cả cũng không liên hệ mật thiết các so sánh đó với nhau. Đó là những gì được nói lên tách biệt nhau, được Chúa Giêsu huấn dạy trong nhiều dịp khác nhau, được Thánh tác giả Phúc Âm ghi vào đây, bởi vì là những điều huấn dạy cắt nghĩa rõ ràng hơn lề luật mới và thái độ phải có của người môn đệ đích thực. Dần dần chúng ta tìm hiểu qua từng điểm một. * a - Mẫu gương so sánh thứ nhứt ( Lc 6, 39-40 ): nếu một người mù dắt một người mù khác đi, cả hai đều rơi xuông hố. Đôi với Thánh Matthêu, Chúa Giêsu nêu lên câu chuyện đó, Người có ý ám chỉ đến các người Pharisêu đương thời: " khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng ! " ( Mt 23, 16 ) Trái lại đối với Thánh Luca, lời so sánh không phải chỉ nhằm đến các người Pharisêu đương thời với Chúa Giêsu, mà còn trực tiếp áp dụng cho các người môn đệ sau nầy, các vị sư phụ của ngày hôm nay, không được là những kẻ dẫn đường mù quáng, mà phải là những môn đệ Lời của Vị Thầy Duy Nhứt. Chân lý lời huấn dạy của các môn đệ không hệ tại ở cách ăn nói khéo léo của cá nhân các ngài , mà trong tư cách trung thành của các ngài đối với Lời Người dạy bảo cho. * b - Mẫu gương so sánh thứ hai ( Lc 6, 41-42 ): cái rác và cái xà. Đem lời Chúa Giêsu ra thực hiện cũng có nghĩa là có can đảm thân tình sửa sai lỗi của anh em. Nhưng hành động đó lắm khi không tránh khỏi các thái độ nguy hiểm, đó là thái độ dùng hai trọng lượng và hai tầm mức khác nhau, nghiêm khắc đối với người khác và rộng lượng dễ dãi hơn đối với mình. Lời kết của mẫu gương so sánh là cần ý thức bằng khởi đầu tự xét và phê bình chính mình trước đã, đặt mình trong vị trí của anh em: - " Sao anh thấy cái rác trong con mắt anh em, mà cái xà trong conmắt của chính mình thì lại không để ý tới ?" ( Lc 6, 41). Chính trong tự xét phán đoán đối với chính mình, mà chúng ta ìm được mức độ chính đáng trên đó cân nhắc lời phê bình đối với người khác. * Mẫu gương so sánh thứ ba ( Lc 6, 43-45 ): cây tốt và cây xấu. Cảm tưởng đầu tiên đọc bản văn là dường như Chúa Giêsu đang kêu gọi hãy lưu tâm đến hành động. Chúng ta cảm nhận như Người muốn nói: anh em sẽ phải chịu phán xét không dựa trên sứ điệp loan truyền, cho bằng dựa trên dấu chứng mà anh em biết chứng tỏ ra được. Nhưng mẫu gương so sánh còn có một ý hướng khác, đó là các động tác thoát xuất tù tâm địa, tùy theo nội tâm tốt hay xấu. Như vậy, vấn đề chính yếu là phải thay đổi nội tâm, nguồn mạch khởi thủy và hướng dẫn định hướng động tác. Đó chính là điều ( Lc 6, 45 ) nhắc lại cho chúng ta rằng các động tác thoát xuất từ nội tâm: - " Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình, kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệnh mới nói ra ". Kết thúc lời huấn dạy, Chúa Giêsu ( Lc 6, 46-49) còn lưu ý chúng ta đến mẫu gương so sánh cuối cùng: ngôi nhà xây trên đá và ngôi nhà xây trên cát. Là một mẫu gương so sánh đầy liên tưởng đến Cựu Ước. Tảng đá, nền tảng bảo đảm cho ngôi nhà vững chắc là Thiên Chúa, là lời Chúa, là đức tin, là Chúa Kitô. Liên tưởng tràn ngập ngôn từ Thánh Kinh thường biểu thị cuộc phán xét của Chúa. Qua mẫu gương so sánh nầy, Thánh tác giả Phúc Âm muốn chỉ dẫn cho chúng ta thấy những điều kiện cần thiết để có được một cuộc sống Kitô hữu bền vững và trung thành. Điều kiện tiên quyết là phải biết nương tựa vào Chúa Kitô ( tảng đá), chủ thể duy nhứt làm cho đức tin của người môn đệ khỏi bị siêu ngã, vượt thoát được tính cách yếu đuối mỏng dòn cua con người. Điều kiện thứ hai là phải thi hành theo ý muốn của Thiên Chúa. Tiếp theo tầm mức của đức tin là tầm mức của luân lý. Người tín hữu Chúa Kitô đích thực được Thánh Luca diễn tả bằng ba động từ: đó là đến, lắng nghe và thực hành: - " Ai đến với Thầy và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví như ai: Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên tảng đá... " ( L 6, 47-48). Điều quan tế nhị và quan trọng quyết định là động từ thứ ba, đó là biến lời nói được lắng nghe thành lời nói trở thành thực thể, bằng những tác động thiết thực. Câu hỏi với ý trách móc của Chúa Giêsu: - " Tại sao anh em gọi Thầy: " Lạy Chúa, lạy Chúa, mà anh em không làm điều răn Thầy dạy " ( Lc 6, 46 ) có lẽ là câu hỏi xác nhận chống đối với cách hành xử hình thức, chỉ nói mà không làm, bỏ qua giới răn bổn phận bác ái phải có. Điều vừa kể cho thấy những sự kiện xảy ra tiếp liền theo Bài Giảng Dưới Đồng Bằng , được Thánh Luca ghi lại nhằm nói lên chân lý những gì Chúa Giêsu vừa huấn dạy. Đó là những lời huấn dạy được minh chứng bằng quyền năng của Thiên Chúa, như - biến cố chữa người đầy của viên đại đội trưởng ( Lc 7, 1-10), - biến cố chữa cho sống lại của con trai bà goá thành Nain ( Lc 7, 11-17). Nhưng tư tưởng chính có lẽ là một ý định khác: Chúa Giêsu tuyên bố giới răn trọng đại về tình yêu và chính Người là người đứng ra thi hành trước tiên, dùng quyền năng của Người để thực hiện những tác động của lòng bác ái tốt lành: Người - chữa lành, ban lại đời sống, chứng tỏ cho các sứ giả của Gioan Tẩy Giả thấy các động tác cứu độ của Người ( Lc 7, 18-30), - đón nhận lòng thống hối của người thiếu phụ tội lỗi ( Lc 7, 36-50), - kêu gọi cả một vài phụ nữ khác theo Người ( Lc 8, 1-3). d ) Người đầy tớ của viên đại đội trưởng ( Lc 7, 1-10). Theo luật Do Thái giáo, đi vào nhà của dân ngoại đạo là nhiễm lấy nhơ bẩn, làm cho mình bị cấm không được cầu nguyện ít nhứt trong một thời gian. Có lẽ đó là lý do tại sao viên đội trưởng không kỳ vọng được Chúa Giêsu vào nhà mình. Nhưng đức tin mạnh mẻ và đầy kính nể của ông được trọng thưởng. Người đầy tớ được chữa khỏi bằng quyền năng của lời Chúa Giêsu và bằng đức tin của viên đội trưởng. Một đặc tính chung của các tác giả Phúc Âm đó là phương thức mà qua đó, mặc dầu Chúa Giêsu vắng mặt, Người cũng có thể chữa khỏi cho những người gặp phải khó khăn,bằng cách chỉ dùng lời nói của mình. Điều vừa kể, một cách đặc biệt, được làm cho thể hiện nổi bậc trong Phúc Âm Thánh Luca. Điều làm cho chúng ta đặc biệt chú ý trong phép lạ nầy là nhân vật khẩn xin phép lạ là viên đội trưởng, tức là một quân nhân của đế quốc Roma, dân ngoại đạo đối với Do Thái giáo. Nhưng dĩ nhiên ông ta là người có thiện cảm với dân Do Thái, bởi lẽ chính ông là người đứng ra chỉ thị và huy xây cất hội đường, bởi lẽ ông là một trong những người dân ngoại thất vọng đối với quan niệm cuộc đời của tư tưởng Hy Lạp và Roma, cũng như mức thông thái " đỉnh cao trí tuệ " của các triết gia. Chính những người nầy, dân Hy Lạp, Roma cũng như các triết gia ngoại đạo chú tâm quy hướng về niềm tin của Do Thái giáo: họ đến cầu nguyện trong các hội đường và tham gia vào các động tác bác ái đối với người nghèo, mặc dầu họ không phải là những người thuộc dòng tộc Do Thái. Họ là dân ngoại, thuộc các dân tộc khác, không phải là dân được Chúa chọn trong Cựu Ước. Nhưng rồi Chúa Giêsu đến, không còn phân biệt dòng giống họ tộc nào nữa đối với đức tin. Đức tin không trùng hợp với tổ chức cơ chế Quốc Gia, dòng tộc . Một người dân ngoại cũng có thể có đức tin như các người Do Thái, hay cả hơn người Do Thái. e ) Người con trai của bà goá thành Naim ( Lc 7, 11-17). Truyền thống Phúc Âm nhắc lại cho chúng ta ba phép lạ làm cho sống lại: đó là - phép lạ cho con trai bà goá thành Naim ( Lc 7, 11-17), - cho con gái ông Jairo ( Lc 8 , 50-56) - và cho Lazzaro ( Jn 11, 1-43). Các phép lạ được kể trước tiên không phải là để chứng tỏ quyền năng phi thường của Chúa Giêsu, cho bằng cho thấy Người chính là sự sống. Có lẽ Thánh Luca đặc các phép lạ ở vị thế nầy trong Phúc Âm để chuẩn bị cho câu trả lời của Chúa Giêsu đối những người được Gioan Tẩy Giả sai đến hỏi Người có dấu chứng nào cho thấy Người là Đấng Cứu Thế. Giữa những dấu chứng được Chúa Giêsu trả lời, có cả dấu chứng cho sự sống lại.Đó chính là lý do tại sao Thánh Luca đặt lập tức ở đây biến cố phép lạ chữa cho con bà goá sống lại. Đoạn tường thuật của Thánh Luca chứa khắp đó đây nhiều chi tiếc có ý nghĩa rất sâu xa. Cậu con trai chết đi là cậu con duy nhứt của một bà goá. Khi vào thành phố Naim, Chúa Giêsu gặp phải đám táng của cậu: - " Khi Chúa Giêsu đến gần cửa, thì thình lình đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người nầy là cậu con trai duy nhứt, và mẹ của anh lại là một bà goá " ( Lc 7, 11). Chúa Giêsu có nhiều môn đê đi theo và đám táng có nhiều người cùng đưa đám: - " Có đám đông trong thành cùng đi với bà " ( Lc 7, 12). Như vậy phép lạ được thực hiện trước mặt nhiều nhân chứng. Chúa Giêsu cảm động cho người mẹ và bảo bà đừng khóc: - " Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: " Bà đừng khóc nữa " ( Lc 7, 13). Sáng kiến hoàn toàn phát xuất từ Chúa Giêsu và được thực hiện nhưng không. Người mẹ không hề van xin gì, chỉ làm cho mọi Người thấy bà đang khóc trong nỗi đau đớn của mình. Như vậy tình cảm thúc đẩy Chúa Giêsu là lòng thương hại của Người, được diễn tả bằng ngôn từ Hy Lạp với động từ " splanchnizein ", nói lên ý nghĩa lòng thương yêu của tình mẹ con, thoát xuất từ tâm dạ. Động từ vừa kể cho thấy tâm tình của Chúa Giêsu là nỗi xúc động sâu đậm và tình liên đới con người với người thiếu phụ bị mất con. Chúa Giêsu để cho mình hệ lụy xúc động bởi nỗi đau khổ của người thiếu phụ, không cần biết bà phải được đáng thương đến mức nào. Người thiếu phụ đương cuộc đã làm gì để đáng được một phép lạ cao cả như vậy ? Thánh Luca không hề đề cập đến và cũng không thêm một lời giải thích nào khác. Chúa Giêsu đã trực giác nhận ra nỗi đau khổ của người thiếu phụ phải mất đi đứa con duy nhứt và chỉ cần điều đó khiến cho Người phải can thiệp. Ngoài ra phép lạ được hiến tặng cho nhưng không, còn một đoạn khác cho thấy đặc tính cá biệt của phép lạ. Chúa Giêsu thực hiện phép lạ bằng một câu nói, được thốt lên như là một mệnh lệnh: - " Nầy cậu trẻ, Ta truyền cho anh hãy chỗi dậy " ( Lc 7, 14 ). Không có một lời khẩn xin nào với Chúa, không có một lời cầu nguyện nào, không có một cử chỉ động tác nào, mà chỉ có một lời được nói của Chúa Giêsu được phán ra với tính cách chủ thể ngôi thứ nhứt ( Ta ) và dưới hình thức mệnh lệnh tính ( impératif ) : - " Ta bảo cậu...". Có lẽ đó là mục đích mà Thánh Luca nhằm nói lên cho chúng ta. Chúa Giêsu không có một động tác nào, mà chỉ nói lên một lời dưới thể thức lệnh truyền ( impératif ), " Ta bảo cậu ...". Điều đó có ngĩa là lời nói của Chúa Giêsu là lời nói cứu thoát, lời nói hằng sống. Điều đáng lưu ý cuối cùng, đó là thái độ thán phục của dân chúng, trước phép lạ cho sống lại của Chúa Giêsu. - " Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: " Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người " ( Lc 7, 16), liên tưởng đến biến cố tiên tri Elia. Nhưng đoạn tường thuật của Thánh Luca khác với mẫu gương được kể lại trong Cựu Ước. Trong khi tiên tri Elia, để chữa khỏi cậu con trai của bà goá phụ, tiên tri đã phải nằm rạp mình xuống 3 lần trên thân xác cậu, trái lại Chúa Giêsu không cần có một động tác nào, Người chỉ dùng lời nói và sai bảo " Ta truyền cho anh hãy chỗi dậy ".
Thực hiện sứ mạng đầy cường độ ( Lc 4, 17 - 9, 9) ( 1 ). Phúc Âm Thánh Luca tường thuật lại theo thứ tự sứ mạng được thực hiện ở Galilea ( Lc 4, 14-9, 50) đã được khởi đầu bằng hai biến cố cá biệt: - biến cố trong bối cảnh Nazareth để nói lên thái độ khước từ của những người đồng hương chống lại Chúa Giêsu ( Lc 4, 14-30), - và một biến cố khác ở Capharnaum, tượng trưng cho thái độ niềm nỡ tiếp đón Người của các dân ngoại, trong một thị trấn mà chính Chúa Giêsu cũng là người ngoại quốc ( Lc 4, 31 - 44 ). Kế đến, Thánh Luca vẫn tiếp tục công việc tường thuật của mình, bằng cách thêm vào những chi tiếc quan trọng khác nhằm xây dựng Nước Thiên Chúa với - việc kêu gọi Phêrô, - sứ mạng của Mười Hai Tông Đồ - và một vài cuộc tranh cãi với những nhóm người bất thân thiện. Qua những gì vừa kể, chúng ta hiểu được bối cảnh thượng đỉnh để trình diện sứ mạng ở Galilea đã được chuẩn bị sẵn sàng. a ) Tám mối phước thật ( Lc 6, 17-26 ). Bài giảng nầy của Chúa Giêsu được đặt trong một bối cảnh thật long trọng: - " Chúa Giêsu đi xuống cùng với các Tông Đồ. Người dừng lại ở một chỗ đất bằng, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giudea, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tiro và Sidone, đến để nghe Người và được chữa lành bệnh tật " ( Lc 6, 17-18). Trong Phúc Âm Thánh Luca, như vừa kể, Chúa Giêsu từ trên núi xuống một nơi ở đồng bằng ( trong khi đó thì Phúc Âm Thánh Matthêu kể lại Người lên núi ). Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy, được bao quanh bởi nhóm các Môn Đệ, các Tông Đồ và dân chúng đến từ khắp nơi, cả từ những miền dân ngoại đạo như Tiro và Sidone. Bài huấn dạy được cất tiếng lên trước mặt mọi người, chớ không phải chỉ nói cho nhóm Mười Hai Tông Đồ và cho người Do Thái, mà cho tất cả. Mặc dầu bài huấn dạy có ý một cách đặc biệt dành cho các Môn Đệ, nhưng có dân chúng đứng bao vây bên ngoài: - " Chúa Giêsu ngước măt lên nhìn các môn đệ và nói: Phước cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em..." ( Lc 6, 20). Trong bối cảnh vừa kể, Chúa Giêsu được Thánh Luca cho chúng ta thấy tất cả các động tác của sứ mạng Người: loan báo bằng lời nói, chữa trị người bệnh tật, giải thoát con người khỏi ác thần. Trong bối cảnh long trọng mà chúng ta vừa trích dẫn ở trên, các mối phước thật tóm kết lời tuyên bố sứ điệp cứu độ: lời tuyên bố cho biết rằng Nước Thiên Chúa đã đến và đang ở giữa mọi người. Đàng sau các mối phước thật, các nhà chú giải Thánh Kinh thoáng thấy văn bản được Sách Tiên Tri Isaia tiên báo: - " Thánh Thần của Chúa là Thiên Chúa ngự trên tôi, vì Thiên Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Chúa..." ( Is 61, 1-9). Những dòng vừa được trích dẫn đầu tiên của chương 61 Sách Tiên Tri Isaia là đoạn văn đã được Chúa Giêsu nói lên trong hội đường Nazareth. Các tiên tri diễn tả cho biết thời gian của Đấng Cứu Độ là khoản thời gian trong đó Thiên Chúa chăm lo cho kẻ nghèo hèn, cho người bị loại ra bên lề xã hội, cho người đói khát, người bị bách hại và bị thiên hạ coi là vô dụng. Chúa Giêsu công bố là thời gian đó đã đến. Đối với các tiên tri, các mối phước thật được đề cập là những gì sẽ xảy ra trong tương lại, là niềm hy vọng. Trái lại đối với Chúa Giêsu thời gian đó đang hiện diện trước những người đang nghe Người: - " Phước cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em " ( Lc 6, 20). Lý do tại sao? Đó là vì niềm hân hoan Nước Thiên Chúa đã đến. Và dưới ánh sáng của Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đang đề cập, các giá trị cuộc sống thông thường của con người đã bị ngược đão, được tuyên bố qua các lời nói có vẽ ngược tai của Chúa Giêsu: - " Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười " ( Lc 6, 21b). Nhưng điều quan trọng hơn hết còn là một yếu tố khác nữa: Chúa Giêsu không những chỉ tuyên bố bằng lời nói các mối phước thật, mà chính Người là chủ thể trước tiên đang sống những gì Người tuyên bố. Người đang tìm kiếm những người nghèo khổ và yêu thương họ. Chính Người là người nghèo khó, đau khổ, đói khát và bị bách hại. Đó là ý nghĩa sâu thẳm của các mối phước thật. Cuộc đời Chúa Giêsu là chìa khoá cho phép chúng ta hội nhập vào được tinh thần các mối phước thật và hiểu đươc. Thánh Matthêu liệt kê ra tám mối phước thật. trong khi đó thì Thánh Luca chỉ kể ra bốn mối: nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị bách hại ( cfr Lc 6, 20-23). Trong ý nghĩa nguyên thủy, tù ngữ " nghèo khó " ( ptochol ) ám chỉ những người ăn xin, những người tỏ ra cử chỉ van xin trước người khác, cúi mình xuống trước mặt người mà mình van xin. Người nghèo khó, không những chỉ là người đang phải lâm vào cảnh thiếu thốn, mà còn là người bị coi không ra gì, bị bỏ rơi, bị áp bức, bên cạnh những người giàu có. Kẻ khóc lóc và kẻ đói khát không có gì hơn là những từ ngữ lập lại trạng thái những người nghèo khó ( Lc 6, 21 ). Chúng ta khó mà đề cập đến ý nghĩa luân lý và thiêng liêng trong các mối phước thật của Phúc Âm Thánh Luca, bởi vì ngài chỉ có định ý liệt kê, ghi lại những gì được nói lên trong lời huấn dạy của Chúa Giêsu hôm đó. Mối phước thật thứ tư, đối với những kẻ bị bách hại, là mối phước thật của các môn đệ: mối phước thật tách rời ba mối được kể trước, nhưng không trực tiếp nhằm nói với các môn đệ, cho bằng với người nghèo khó và áp bức. Qua những gì vừa tìm hiểu, chúng ta có thể đi đến một mối kết luận tiên khởi: khác với Thánh Matthêu, dường như Thánh Luca nhằm đề cập đến hoàn cảnh thực trạng đang xảy ra bị áp bức và bị loại ra bên ngoài xã hội hơn là thái độ luân lý ( tinh thần khó nghèo, khao khát sự công chính, nhân ái và tâm hồn thanh khiết ). Sứ điệp các mối phước thật của Phúc Âm Thánh Luca có vẻ như là một lời phán đoán nghiêm khắc đối với thế giới giàu có ( tư cách nghiêm khắc đó được gia tăng bằng bốn lời khiển trách): - " Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có... - " Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê... - " Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười... - " Khốn cho các ngươi, khi được mọi người ca tụng ..." ( Lc 6, 24-26). Thánh Luca nói lên những phán đoán nghiêm khắc, quở trách như vừa kể là nói lên nhằm mưu ích cho cộng đồng Kitô giáo, là những cộng đồng lúc đó đang sống gữa thế giới dân ngoại, trong các thị trấn giàu có, nói nặng lời đối với thế giới giàu có, hưởng thụ. Sứ điệp muốn kêu gọi người tín hữu Chúa Kitô hãy đảo ngược các cách chuẩn định giá trị: người nghèo khó là những con người có giá trị trước mặt Chúa, những kẻ thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúng ta nên lưu ý công thức phát biểu các mối phước thật của Thánh Luca: ngài không cho rằng người nghèo khó trực tiếp được làm cho mình trở thành công chính, mà là những người " thuộc về Nước Thiên Chúa ": -" ...vì Nước Thiên Chúa là của anh em " ( Lc 6, 20). Và lời hứa đó không phải là lời hứa về tương lai, được phát biểu bằng động từ ở thì tương lai mà là động từ ở thì hiện tại, hiện tại họ đang ở trong Nước Thiên Chúa, " Nước Thiên Chúa là của anh em ". Lời thuyết giảng trong Phúc Âm Thánh Luca là lời huấn dạy tôn giáo, chớ không phải xã hội hay chính trị. Nhưng chính từ giá trị tôn giáo đó thoát xuất ra quyền của những người nghèo khổ được có công chính. Bởi vì người nghèo khổ là người được Chúa yêu thương và là những người thuộc về Nước Thiên Chúa. Từ đó chúng ta hiểu được thái độ của những kẻ loại họ ra bên lề xã hội là thái độ bất chính. Chúng ta cũng có thể có được một cái nhìn kết luận khác: trước đám người đau yếu, đến để được chữa lành, Chúa Giêsu loan báo các môi phước thật. Đối với những ai đau khổ, khóc lóc và chịu đau đớn, Người mở rộng cho họ thấy một tương lai khác hơn, không hứa với họ một hiện tại thay đổi, mà là một tương lai, trong đó: - " Phước cho anh em là những người đang đói khát, vì anh em sẽ được no đầy " ( Lc 6, 21). Chúa Giêsu thực hiện các phép lạ, nhưng là những phép lạ dấu chứng cho hy vọng, không phải chỉ là những phép lạ giải quyết các vấn đề hiện tại. Người không báo cho họ từ nay sẽ không còn có đau khổ, cũng như nhiều vấn đề dẫn đến những hậu quả đó; trái lại, các phép lạ đó là những dấu chứng chắc chắn cho một thế giới mới. Điều đó làm cho người được chữa lành và những ai đang ở chung quanh đương sự thấy ngay tù bây giờ có thể sống dưới một ánh sáng hoàn toàn khác biệt. Các mối phước thật dạy chúng ta, những người môn đệ Chúa Giêsu, cách nhìn đoàn lũ dân chúng đang bao quanh Chúa Giêsu và đang đầy dẫy trên thế giới dưới cặp mắt mới, dưới đôi mắt của Thiên Chúa. Để kết thúc các mối phước thật, chúng ta cũng cần đọc thêm dưới ánh sáng của Sách Tông Đồ Công Vụ. Thánh Luca cho thấy Giáo Hội lý tưởng là một cộng đồng trong đó không ai coi của cải vật chất, quyền lực, những gì mình có, được coi như thần tượng tuyệt đối. Bởi lẽ Sách Tông Đồ Công Vụ cho biết những ai có ruộng vườn nhà cửa nên bán đi và đem những gì thu hoạch được đặt dưới chân các Tông Đồ. Các mối thu hoach đó được phân chia cho mỗi người, tùy theo nhu cầu đòi hỏi của anh em ( Act 4, 32-35). b) Yêu thương đối với kẻ thù nghịch ( Lc 6, 27-38). Phần trọng yếu ở giữa của " Bài giảng dưới đồng bằng " được dành riêng cho người tín hữu Chúa Kitô, đó là phần nói về tình yêu. Thánh Matthêu dành cả hai chương 5 -7 để thuật lại " Bài Giảng Trên Núi ", thì Thánh Luca trái lại, chỉ viết lên 30 câu thay vì 107 câu như Thánh Matthêu. Thánh Luca chỉ đặc tâm chú ý đến phần thiết yếu của Bài Giảng: lời tuyên bố các mối phước thật và giới răn về tình yêu. Bài Giảng dưới đồng bằng của Thánh Luca và Bài Giảng Trên Núi vủa Thánh Matthêu là nững gì thu tóm từ các tài liệu của Giáo Hội, tổng kết các lời xác định của Chúa Giêsu. Khác với Thánh Matthêu, Thánh Luca không mấy lưu tâm đến nguyên thủy đặc biệt của thái độ công chính Kitô giáo so với các kinh sư và người Pharisêu, cho bằng co thấy sự khác biệt công chính giữa người môn đệ đối với cách sống của thế giới trần tục. Tính cách xác quyết đó của lời giảng dạy được Chúa Giêsu tuyên bố bằng các động từ ở thì mệnh lệnh tính ( temps impératif ) và các so sánh đối chiếu được dùng ở đây chỉ nói lên một điểm duy nhứt : - " ...hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả má bên nầy, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai doạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy cả áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của mình, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người khác như vậy. Néu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thi có gì là ân với nghĩa. Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ..." ( Lc 6, 27-35), đó là luật tình yêu. Thật vậy, Chúa Giêsu nói lên một phương thức mới để thiết định các mối liên hệ mới giữa người với người: không còn phải là sự công bằng cổ xưa của đồng đẳng giữa cho và nhận được, mà la một tiêu chuẫn mới phá đổ đi ranh giới hạn hẹp của sự có vay có trả. Tiêu chuẩn " có vay có trả " đã bị lật nhào, vì dụ như gương mẫu tha thứ mà Chúa Giêsu đã huấn dạy cho: - " ...hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em " ( Lc 6, 27-28). Mẫu gương huấn dạy của Chúa Giêsu cho thấy vượt qua cả bên kia thái độ trả thù cho công bằng. Với người thù địch của mình, Chúa Giêsu chỉ dạy cho bốn thái độ tích cực, mà người môn đệ Người phải có: đó là - yêu thương, làm điều tốt lành, chúc phúc và cầu nguyện cho anh ta. Tĩnh từ ( adjectif ) " kẻ thù của anh em..., là từ ngữ quan trọng, bởi vì là từ ngữ biến những chủ thể đối nghịch được nói lên là những chủ thể thực hữu. Các kẻ thù địch, ghen ghét anh em không phải chỉ là những hình ảnh trừu tượng trong cơ hội bất thường, mà nói lên đó là những chủ thể chúng ta có thể gặp trong cuộc sống hằng ngày, không những chỉ là những kẻ đôi khi đàn áp chúng ta ( mà có thể cả mỗi ngày ), mà còn là những kẻ nói xấu, ghen ghét và đối xử tàn tệ với mình trong cuộc sống. Như vậy, kẻ thù địch mà chúng ta phải yêu thương có thể là người không có thiện cảm đối với mình, ở ngay dưới từng nhà hay ở nhà bên cạnh. Đoạn Phúc Âm kế tiếp liền sau đó ( Lc 6, 29-30 ), đưa má khác cho, không khước từ áo choàng, cho mượn ngay cả đối với những ai không có khả năng trang trải, xác, xác nhận rõ cách hành xử mới của người tín hữu Chúa Kitô trong cách đối xử với người khác. Rất thường Kitô giáo nhắc đến những ví dụ vừa kể, để tuyên bố cách hành xử bất bạo động của Phúc Âm. Nhưng nếu chỉ như vậy, thì thật quá ít. Đoạn Phúc Âm đang bàn còn đề cập đến lề luật chung sống mà chúng tôi nghĩ rằng thật chính đáng, đó mới là những luật lệ duy nhứt chính đáng trong cuộc chung sống con người với con người. Đó là lề luật tình thương..Lề luật tình thương còn vượt ra bên ngoài những khuôn mẫu vừa kể và nhằm đưa đến mẫu gương ban tặng nhưng không. Đó chính là điều khác biệt giữa " kẻ tội lỗi " và " người môn đệ " : - " Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa ? ngay cả người tội lỗi cũng làm như vậy. Nếu anh em cho vay, mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa, cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẵng " ( Lc 6, 33-34). Yêu thương kẻ thương yêu mình và cho mượn những ai trả lại cho mình, đó là lòng thành tín của kẻ tội lỗi, chớ không phải của người môn đệ. Chúa Giêsu có tiêu chuẩn rất khác với tiêu chuẩn của chúng ta để phân biệt kẻ tội lỗi và người môn đệ. Tiêu chuẩn công chính mà Chúa Giêsu huấn dạy cho chúng ta là thái độ đối xử của Chúa Cha đối với chúng ta: - " Trái lại anh em hãy yêu thương kẻ thù, hãy làm ơn cho kẻ vay mượn mà chẳng hề hy vọng được đền trả.. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Ngưòi vẫn nhân hậu với phường vô ân và quân độc ác " ( Lc 6, 35 ), tình yêu thương của Người hoàn toàn nhưng không và phổ quát cho tất cả, " lòng nhân hậu " của Người đối với cả những kẻ vô ân và bọn người bất chính. Tỉnh từ " nhân hậu " ( Hy Lạp, chrestos ) ám chỉ tình yêu thương chú tâm, hiền lành, luôn luôn đón nhận, không có ý nghĩ gì khác hơn là ban tặng cho. Cả lời huấn dụ về đức công chính mới cũng được tóm kết trong thành ngữ : - " Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ " ( Lc 6, 36 ). Nhân từ là tình yêu thương bất chấp, vẫn đứng vững cả khi không được đáp ứng, đến ngay cả khi bị phản bội. Khi nào chúng ta có cùng thái độ như Chúa Cha tỏ ra cho chúng ta biết - đối với chính mình chúng ta, trước khi đối với người khác - lúc đó chúng ta mới thực sự đáng là con Thiên Chúa. Con giống Cha: tình Cha con của Thiên Chúa ( điều không thể thấy được ), được thể hiện và thấy được bằng tính chất của thái độ chúng ta đối với người khác. Các câu văn kế tiếp: - " Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án.Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em từng đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, và đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em đấu ấy " (Lc 6, 37-38), đọc thoáng qua, chúng ta có cảm tưởng là tư tưởng lời huấn dạy của Chúa Giêsu lùi lại về quan niệm còn đang bị đóng khung trong công bình " cho và được " hay " có vay có trả ": - " đừng phán đoán, thì sẽ không bị phán đoán; đong đấu nào, thì được đo bằng đấu nấy ". Có lẽ ghi lại tư tưởng đó, Thánh Luca chỉ có ý xác nhận rằng đức công chính mới, phá vỡ đi hệ thống bình đẳng có vay có trả, không phải là phương thức vô ích, không sinh hoa quả lợi lộc và không ai có thể thực hiện được, như nhiều người nghĩ, có lẽ cả người tín hữu Chúa Kitô. Chúa đáp ứng, trả lại đức vâng lời của môn đệ mình một cách dồi dào, vượt qua khỏi lằn mức đo lường: - " Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, và đổ vào vạt áo anh em " ( Lc 6, 38).
Từ kêu gọi Phêrô đến kêu gọi Mười Hai Tông Đồ( Lc 5, 1-6,16) ( 2 ) c ) Kêu gọi ông Levi ( Lc 5, 27- 32 ). Lời kêu gọi ông Levi, người thu thuế, là một đoạn tường thuật ngắn ngủi ghi lại cấu trúc tiến trình tiếp nối của việc đi theo Chúa Giêsu: - sáng kiến khởi đầu từ Chúa Giêsu, - triệt để tách rời, " bỏ lại tất cả ", - thái độ đáp ứng tức khắc, - mệnh lệnh tính hãy đi theo: " Sau đó, Chúa Giêsu đi ra và trông thấy một người thu thuế, tên là Levi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: " Anh hãy theo Ta ".Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người " ( Lc 5, 27-28). Thái độ đáp ứng đi theo Chúa Giêsu không phải là một động tác lập tức xảy ra và kết thúc liền sau đó, như là một quyết định thực hiện lập tức và bất di dịch, mà là một động tác còn được kéo dài trong thời gian, một cuộc hành trình, một quyết định còn phải lập đi lập lại hằng ngày. Trong lời kêu gọi ông Levi, chúng ta có thể nhận thấy được một sự khác biệt đối với lời Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ tiên khởi và cả đối với lời kêu gọi các người tội lỗi và nhóm người thu thuế. Các người thu thuế là những viên chức thuộc hệ đối với đế quốc Roma, bị dân chúng coi là " bọn tội lỗi công khai ". Kế đến, ngoài việc kêu gọi " quân tội lỗi ", Chúa Giêsu còn ngồi ăn đồng bàn với " bọn chúng". Đó là động tác mà người Do Thái cho là cách hành xử rất trầm trọng và đầy gương mù gương xấu. Bởi lẽ đó là điều lỗi lề luật trong sạch, cấm người Do Thái ngồi dùng bữa đồng bàn với dân ngoại và kẻ tội lỗi. Nhưng thường xuyên lui tới, tiếp xúc với người tội lỗi là thái độ mạc khải cho biết lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian: - " Ta đến không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn " ( Lc 5, 32 ). Điều đó cho thấy động tác dùng bữa đồng bàn với người tội lỗi không phải là thái độ bất thường, đôi khi xẳy ra. Chúng ta đã biết được sứ mạng phổ quát của Chúa Giêsu không cho phép Người lánh xa đoàn lũ dân chúng: - " Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm đến Người, tận nơi Người đã đến và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. Nhưng Người nói với họ: " Ta còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác, vì Ta được sai đi cốt để làm chuyện đó. Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giudea " ( Lc 4, 42-44). Người đến để còn phải rao giảng cho cả các thành phố khác. Giờ đây Người còn cho chúng ta biết sứ mạng của Người không cho phép Người đóng khung giữa người thanh sạch hay người nhơ bẫn, giữa người chân chính hay người tội lỗi, mà còn mở rộng ra cho các thành phố khác, cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, dân Do Thái hay dân ngoại. d) Tranh luận về việc ăn chay ( Lc 5, 33-35). Trả lời cho các kinh sư hỏi tại sao các môn đệ của Người không ăn chay, Chúa Giêsu trả lời bằng cách đề cập đến chính mình. Sau khi cho biết rằng Con Người có quyền tha tội và người thầy thuốc đến để chữa trị người lỗi phạm, tiếp theo sau đó Người cho biết Người là chủ, là Chúa của ngày sabat: - " Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ?...Con Người là chủ ngày sabat " ( Lc 5, 34.6, 5). Trong đoạn tranh luận về việc ăn chay, Chúa Giêsu tuyên bố Người là " chàng rể ", tức là Đấng Cứu Thế mà mọi người đang mong đợi. Chành rể và tiệc cưới là hai dụ ngôn cổ điễn về thời cứu độ. Năm cuộc tranh luận chứa đựng lời mạc khải Kitô luận ( Christologica ) , tức là mạc khải về căn tính của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là ai mà dám cho mình là Đấng có các quyền năng của Thiên Chúa và dám bỏ qua cách hành xử phải có, đã được mọi người chấp nhận? Đó chính là vấn đề căn cội của mỗi cuộc tranh luận. Chỉ có ai biết được Chúa Giêsu là ai, mới có thể hiểu được đâu là thực thể các ngôn từ và động tác của Người. Chúa Giêsu không những chỉ giới hạn xác nhận sứ mạng cứu độ của mình, mà còn báo trước cho biết cuộc khổ nạn đang đợi mình: - " Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi, ngày đó họ mới ăn chay " ( Lc 5, 35). Lúc đó các môn đệ sẽ ăn chay; và sự ăn chay đó là để phân biệt được ai là môn đệ của Chúa Giêsu, đó là ăn chay để hiệp thông với cuộc khổ nạn của Người. e ) Bình cũ, rượu mới ( Lc 5. 36-39). Điểm then chốt mà hai đối tượng được đưa ra để so sánh, đó là không thể đặt cái mới và cái cũ chung nhau được. Bởi lẽ hành động đặt chung đó sẽ làm tiêu diệt cho cả hai. Có lẽ các người Pharisêu đang đợi một Đấng Cứu Thế chỉ giới hạn dừng lại sữa đổi một vài phương diện hệ thống tôn giáo của của họ, nhưng họ thất vọng vì Chúa Giêsu không đến để vá víu, chỉnh đốn hệ thống tôn giáo cổ xưa của họ. Người phá vỡ. Như vậy, cần phải thay đổi vất đi những bầu da cũ và y phục cũ. Chúa Giêsu không quan tâm đề cập đến điều mới mẻ nào phải có, bởi lẽ tất cả đã được giải thích một cách rõ ràng trong bối cảnh: sự tha thứ, động tác đón nhận người tội lỗi, thái độ tự do trước việc ăn chay hay không, ngày sabat được lập nên cho con người chớ không ngược lại. Đó là những điều mới mẻ về thần học, chớ không phải hạn hẹp trong luân lý. Điều đó cho thấy Chúa Giêsu không đưa ra những thay đổi đơn sơ về cách đối xử phải có của con người để kính trọng Thiên Chúa, mà là nói đến Thiên Chúa nhìn con người như thế nào. f ) Tranh luận về ngày sabat ( Lc 6, 1-8). Hai cuộc tranh luân cuối cùng có liên quan đến ngày sabat, đó là tình trạng nghỉ ngơi trong ngày sabat, thể hiện rõ rệt việc Thiên Chúa nghỉ ngơi, sau khi đã dựng nên thế giới: - " Ngươi hãy nhớ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày ngươi sẽ lao động và làm mọi việc của con người. Còn ngày thứ bảy là ngày sabat để thờ kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó Ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai, con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì sáu ngày Thiên Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và mọi loài trong đó. Nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Thiên Chúa đã chúc phúc cho ngày sabat và coi đó là ngày thánh " ( Ex 20, 8-11). Theo thói quen được công nhận, gặt hái bông lúa ngày sabat bị coi là phạm giới. Thánh Luca còn nhấn mạnh hơn nữa đến thái độ vi phạm vừa kể bằng cách cho biết các môn đệ - " vò trong tay mà ăn " ( Lc 6, 1). Tuân giữ ngày sabat là một trong những giới răn thánh rõ ràng, được coi như là thẻ căn cước để nhận biết ai là người có đức tin. Bởi đó không có gì lạ người Pharisêu đòi hỏi các môn đệ phải giải thích : - " Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sabat ? " ( Lc 6, 2) Như thói quen, Chúa Giêsu luôn luôn đứng ra trực tiếp trả lời, như là câu hỏi chỉ được đặt ra đối với Người. Trước tiên Người nhắc đến Thánh Kinh, bằng cách trích dẫn một biến cố trong Sách Ngôn Sứ Samuel ( 1 Sam 21, 1-7): - Các ông chưa đọc chuyện nầy trong Sách sao? Ông David đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng? Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn.Thứ bánh nầy, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi " ( Lc 6, 3-5). Nói đến ý nghĩa vừa kể trong đoạn Thánh Kinh, dường như Chúa Giêsu cho rằng cách suy nghĩ của các người Pharisêu đi ngược lại với Thánh Kinh mà họ kính trọng. Nhưng liền sau đó Người xác nhận - và đây chính là câu trả lời - rằng Con Người là chủ nhân cả của ngày sabat: - " Rồi Người nói: Con Người là chủ nhân ngày sabat " ( Lc 6, 5 ). Đó chính là điều đối nghịch giữa các người Pharisêu và Chúa Giêsu, chớ không phải chỉ là điều hạn hẹp vào việc tuân giữ nghiêm khắc hay lơ đễnh lề luật. Hiểu như vậy, cử chỉ của Chúa Giêsu trước hành động bứt lúa ăn trong ngày sabat, không phải là một thái độ ngoại trừ nới rộng hơn ra đối với lề luật bất di chuyển, mà là những gì thay đổi lề luật tận gốc rễ. Chúa Giêsu là chủ nhân ngày sabat và Người đặt ngày sabat phải tùy thuộc vào những gì lợi ích cho con người. Người là Thiên Chúa, có quyền làm điều đó. g) Chữa người bị liệt tay trong ngày sabat ( Lc 6, 9-11). Trong khi chữa người bị liệt tay trong ngày sabat, Chúa Giêsu tuyên bố lên điều vừa kể: " Con Người làm chủ ngày sabat " và buộc con người tuân giữ lề luật đó,vì lợi ich cho con người. Mặc dầu Do Thái giáo chấp nhận trong ngày sabat có thể chạy trốn để cứu mạng sống mình, trợ giúp người khác trong khi anh ta bị nguy hiểm hay giúp đỡ người thiếu phụ đang bị đau đớn khi sinh nở, hoặc trong cơn hoả hoạn... Nhưng trong trường hợp người bị hoại tay, không có gì là khẩn cấp cần phải giúp đỡ ngay. Động tác Chúa Giêsu chữa trị người bại tay là một hoàn cảnh bất thường đối với lề luật và thay đổi bối cảnh thần học của lề luật. Các kinh sư và người Pharisêu quan sát tác động của Chúa Giêsu để tố cáo Người. Chúa Giêsu thấu hiểu tâm địa của họ và bởi đó thách thức họ, bằng cách chữa trị cho bệnh nhân và công khai loan báo cho mọi người biết: - " Anh hãy trỗi dậy, ra đứng giữa đây " ( Lc 6, 8). Trong các cuộc tranh luận trước, các kinh sư đặt câu hỏi với các môn đệ hoặc đặt thẳng với Chúa Giêru, nhưng ở đây chính Chúa Giêsu đặt câu hỏi cho họ: - " Tôi xin hỏi các ông: ngày sabat được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay hủy diệt ? " ( Lc 6, 9). Họ không trả lời. Bởi lẽ họ là những người không muốn để cho ai đặt vấn nạn đối với mình, cũng như không có ý bàn cải tranh luận với bất cứ ai, bởi lẽ họ là các " kinh sư ", bậc thầy của thiên hạ. h) Chọn mười hai Tông Đồ ( Lc 6, 12-15). Khởi đầu một khoản đường mới trong cuộc hành trình của Chúa Giêsu và cuộc xuất hiện những nhân vật mới: mười hai Tông Đồ. Chúa Giêsu tách rời khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng suốt đêm, không ngừng trước mặt Chúa Cha. Thánh Luca là tác giả Phúc Âm nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu cầu nguyện trong tất cả các thời điểm quan trọng của sứ mạng của Người, nhứt là khi phải có một quyết định quan trọng. Việc tuyển chọn các Tông Đồ là một trong những thời điểm đó. Chúa Giêsu tuyển chọn mười hai người giữa số đông các môn đệ của mình.Việc kêu gọi các vị được diễn tả bằng ba động từ: kêu gọi, lựa chọn và đặt tên: - " Đến sáng, Người kêu gọi các môn đệ lại, chọn lấy mười hai người và gọi là Tông Đồ " ( Lc 6, 13). Đó là danh xưng nói lên phận vụ chính của các vị: Tông Đồ là người được sai đi, được phép phát biểu nhân danh vị đã sai mình và nhân chứng cho ý muốn của vị đã sai mình đi. Đặc tính của người Tông Đồ là lòng thành tín. Vị tông đồ không được phép nói lên tiếng nói của mình hay bày tỏ ý muốn của mình, mà hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn của vị đã sai mình đến. Trong Sách Tông Đồ Công Vụ, Thánh Luca cho biết phận vụ thiết thực của các Tông Đồ: các Tông Đồ có phận sự - hướng dẫn các cộng đồng tín hữu, - loan báo Phúc Âm, - trông coi canh chừng việc bảo toàn và truyền bá đức tin đích thực.
Từ kêu gọi Phêrô đến kêu gọi Mười Hai Môn Đệ ( Lc 5, 1-6, 16) ( 1 ). Mặc dầu đoạn tường thuật lại sứ mạng ở Galilea của Thánh Luca ( Lc 4, 14-9,50) khá giống vớì đoạn tường thuật của Thánh Marco, Phúc Âm Thánh Luca không đặt biến cố kêu gọi Phêrô trước ngày sinh hoạt ở Capharnaum ( như trong Phúc Âm Thánh Marco). Trái lạ Thánh Luca viết lại biến cố kêu gọi Phêrô theo cách trình bày của ngài và xếp đặt thứ tự các sự kiện nối tiếp một cách theo thứ tự đặc tính quan trọng ( Lc 1, 3 ): - kêu gọi các môn đệ được đặc tâm chú ý ( Lc 5, 1-11), - hơn biến cố chữa trị ( người phong hủi và người bại liệt ) là nguyên nhân đưa đến những cuộc tranh cải ( Lc 5, 13-16. 17-26), - kêu gọi Levi, môt môn đệ khác ( Lc 5, 27-39), - hơn hai biến cố ( các môn đệ bứt lúa ăn và chữa người bị tay liệt trong ngày sabat ) làm phát sinh ra những cuộc tranh cãi mới ( Lc 6, 1-11) - và sau cùng là việc tuyển chọn mười hai vị môn đệ ( Lc 6, 12-16). 1 ) Kêu gọi Simon Phêrô ( Lc 5, 1-11) ; ( Mc 1, 16-20; 4, 1); ( Mt 4, 18-22); ( Jn 1, 15-21, 1-11). Khác với Phúc Âm Thánh Matthêu và Marco, Thánh Luca chỉ bắt đầu giới thiệu việc kêu gọi các môn đệ ( Phêrô, Giacobê và Gioan) sau những phép lạ ở Capharnaum và thêm vào đó là biến cố buổi đánh cá lạ lùng, mà Thánh Gioan ghi lại xảy ra sau Phục Sinh ( Jn 21, 1-11). Như vậy, một cách thực tiễn, đặc tính diễn giải của các Phúc Âm thuật lại các biến cố lịch sử cuộc đời Chúa Giêsu, theo các nhãn quang thần học khác nhau. Cách tường thuật lại của Thánh Luca là phương thức cấu trúc của ngài, dùng những yếu tố từ các nguồn khác nhau hay là từ kết qủa của các chi tiết truyền thống truyền khẩu được sắp xếp chung lại với nhau. Tư tưởng truyền thống truyền khẩu là điều có lý chứng hơn cả, bởi lẽ đoạn tường thuật nầy của Thánh Luca rất xúc tích với cách hành văn cá biệt của ngài. Sự kiện đề cập đến những yếu tố địa lý cũng giống như trong Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 4, 1), - "Một hôm, Chúa Giêsu đang đứng ở bờ hồ Genezareth, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người, để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Chúa Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon. Và Người xin ông Simon chèo thuyền ra xa bờ một chút . Rồi Người ngồi xuống và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông " ( Lc 5, 1-3). Nhưng sau đó Thánh Marco tiếp tục tường thuật lại dụ ngôn người gieo giống ( Mc 4, 1ss), Khác với Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 17ss), sau đó Chúa Giêsu tiếp tục nói chuyện với cả Andrea, sau khi nói chuyện với Phêrô, và rồi Người kêu gọi cả Giacobê và Gioan. Trong khi đó thì Phúc Âm thánh Luca cho biết, trong đoạn tường thuật liên hệ, Chúa chỉ hàn huyên và kêu gọi Phêrô: - " Bấy giờ Chúa Giêsu bảo ông Simon : " Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người ngư phủ lưới người ta" ( Lc 5, 10). Những câu nói vừa kể, được nhấn mạnh theo ngôn ngữ Hy Lạp, hàm chứa sau đó có một cuộc thay đổi sâu đậm về cuộc sống của Phêrô. Ngài sẽ đánh lưới cá con người, với mục đích cứu thoát đời sống của họ, thay vì lưới cá dùng để ăn trong gia đình. Động từ ở thì tương lai " anh sẽ là người ngư phủ đánh lưới người " giao phó ơn gọi cho Phêrô trong cả cuộc đời của ngài. Những dòng vừa kể được Thánh Luca viết lên 70 năm sau Thiên Chúa giáng sinh, nói lên cho chúng ta biết tước vị lãnh đạo của Phêrô sẽ không được trao cho bất cứ ai, ngay cả cho Giacobê, như một vài học giả chủ trương, khi các vị khảo cứu Sách Tông Đồ Công Vụ ( Act 10). Simon Phêrô không phải chỉ là phát ngôn viên cho nhóm người theo Chúa Giêsu, - " Còn anh em, anh em bảo thầy là ai? Ông Phêrô thưa. " Thầy là Đấng Kitô, con Thiên Chúa 2 ( Lc 9, 20), mà ngài còn có phạn vụ tương tợ trong nhóm các Tông Đồ ở Giêrusalem, sau Phục Sinh: - " Trong những ngày ấy, ông Phêrô đứng lên giữa các anh em, có khoản một trăm hai mươi người đang hợp mặt " ( Act 1, 15 ). Nhứt là ngài sẽ rao giảng lời Chúa, để " lưới " mọi người, tạo thành cộng đồng Kitô hữu tiên khởi ( Act 2, 14-41). Sau hết, trong đoạn cuối cùng, đặc biệt của Phúc Âm Thánh Luca, các môn đệ bỏ lại tất cả mà đi theo Người, chớ không phải chỉ bỏ lại chài lưới như trong Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 18). Điều đó cho thấy theo Chúa Giêsu là một thái độ chọn lựa dứt khoát triệt để. Từ ( Lc 5, 12 - 6, 11) gần như Thánh Luca hoàn toàn dùng chất liệu của Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 40-45), chỉ có đôi chút sữa đổi. Về cách thứ tự xếp đặt, hai phép lạ sắp tới ( chữa người phong hủi và người bại liệt ) được diễn tả một cách thích hợp hoàn toàn với hai biến cố ( sự chay tịnh Kitô giáo và ngày sabat ), được kể lại sau khi đã kêu gọi ông Levi. a ) Chữa người phong hủi ( Lc 5, 12-16): ( Mc 1, 40-45); ( Mt 8,1-4). Thánh Luca thuật biến cố phép lạ chữa người phong hủi nầy " trong một thành phố ": - " Khi ấy Chúa Giêsu đang ở trong một thành phố kia, có một người đầy phong hủi, vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống xin Người rằng: " Lạy Ngài, nếu ngài muốn, xin Ngài có thể làm cho con được sạch " ( Lc 5, 12). Trong khi đó thì Phúc Âm Thánh Marco thuật lại biến cố xảy ra ngoài đồng, nơi thích hợp để gặp một người đang ở trong trạng thái bệnh tật khá nặng nề ngoài da, có thể sang bệnh truyền nhiễm cho người khác. Đối với Thánh Luca, lộ trình của Chúa Giêsu không quan trọng, điều hệ trọng là đối những ai mà Người thốt lên lời dạy bảo. Người phong hủi bị coi là người ô uế đối với nghi thức phụng tự cũng như đối với đời sống xã hội. Anh ta là người bị đuổi ra bên ngoài trại: - " Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: " Ô uế, ô uế ! ". Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế, nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại " ( Lev 13, 45-46), bởi vì đối với cộng đồng dân chúng, anh ta là người bị coi như là người đã chết, có thể so sánh anh ta như một người nghèo khổ cùng cực chăng? Người phong hủi gặp Chúa Giêsu hôm đó, không xin Người chữa cho lành bệnh, mà được chữa cho trở nên sạch sẽ: - " Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, xin làm cho con được sạch " ( Lc 4, 12), Đó là tâm trạng thể hiện trong cả truyền thống Thánh Kinh, theo đó thì bệnh nhân bị nhiễm phong hủi là người tuyệt vọng cảm thấy mình bị loại ra khỏi cộng đồng xã hội. Chỉ có khi nào con người đó được trở nên sạch sẽ, mới có thể được tham dự vào các nghi thức tôn giáo và vào cuộc sống trong cộng đồng xã hội. Biết được truyền thống đó trong Thánh Kinh, chúng ta hiểu được đối với người Do Thái, Chúa Giêsu đang phạm lỗi với truyền thống, bởi vì Người: - " Người giơ tay đụng vào anh ta và nói: " Tôi muốn, anh hãy sạch đi " . Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh ( Lc 4, 13), như là để nhận lấy bệnh tật của anh vào con người của Người, chữa anh khỏi cơn bệnh và truyền vào con người anh sức mạnh chữa trị của Người. Tuy vậy, Chúa Giêsu vẫn công nhiên tuân giữ Lề Luật, khi Người truyền cho anh đến trình diện trước mặt các viên chức quyền lực, để được chấp nhận trở lại vào cuộc sống cộng đồng: _ " Đây là lề luật về người phong hủi, trong ngày anh ta được thanh tẩy. Đương sự sẽ được đưa đến với tư tế: tư tế sẽ ra khỏi trại. Tư tế sẽ khám: nếu người phong hủi đã khỏi vết thương phong hủi, thì tư tế sẽ truyền lấy cho người phong hủi hai con chim còn sống và thanh sạch, gỗ bá hương và phẩm cánh kiến và cành hương thảo... " ( Lev 14, 2-4). Đoạn tường thuật được kết thúc bằng một lời cầu nguyện. Trong khi Thánh Marco cho biết rằng Chúa Giêsu phải lui vào sa mạc, để tránh cho đám đông dân chúng vì bị kích thích, sẽ tổ chức thành phong trào cách mạng chính trị để giải thể chế độ hiện tại, thì Thánh Luca nhấn mạnh rõ việc Chúa Giêsu lui vào sa mạc để cầu nguyện và đó là động tác tự nhiên và thường xuyên theo thói quen của Người: - " ...đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. Nhưng Người lui vào nơi hoan g vắng mà cầu nguyện " ( Lc 4, 15-16). Với lời cầu nguyện, Người có được tất cả những gì dân chúng van xin Người. Trong biến cố đang bàn, Thánh Luca bỏ qua phần lớn các lời đối thoại, ngài chỉ diễn tả thuật lại biến cố được trôi chảy hơn và chứa đựng một ít đặc tính cá nhân của ngài hơn. b) Chữa người bại liệt ( Lc 5, 17-26); ( Mc 2, 1-12); ( Mt 9, 1-8), ( Jn 5,8). Thánh Luca hoàn toàn sắp xếp lại phần khởi đầu của đoạn tường thuật nầy, lấy từ Phúc Âm Thánh Marco. Ngay cả ở những lời khởi đầu, Thánh Luca ghi nhận rằng biến cố nầy " bỗng xảy ra ": - " Bỗng có người khiêng đến một bệnh nhân bị bại liệt nằm trên giường, họ tìm cách đem vào đặt trước mặt Người " ( Lc 5, 18). Chương trình mà Chúa cho xảy đến, chúng ta không thể dự tính trước được. Điều quan trọng là biết đặc tâm chăm chỉ nhận ra các biến cố đó đang xảy ra giữa chúng ta và ý nghĩa muốn nói lên cho chúng ta. Đoạn tường thuật được diễn tả khá dài với chi tiết làm thế nào người bại liệt nằm trên giuờng có thể đến được trước mặt Chúa Giêsu. Đó là một cố gắng, mà Chúa Giêsu nhận ra như là một dấu chứng đức tin: - " Thấy họ có lòng tin như vậy..." ( Lc 5, 20). Nhưng mặc dầu với đức tin đó, hay chính vì có đức tin đó, Chúa Giêsu dường như muốn thử thách làm cho lòng ao ước người bại liệt được chữa trị của họ bị thất vọng. Những người đem người bại liệt đến cũng như chính bệnh nhân, đến để xin được chữa lành bệnh, thì lại nghe Chúa Giêsu nói : - " Nầy anh, tội của anh đã được tha rồi " ( Lc 5, 20b). Chúa Giêsu ban cho người bệnh hơn cả những gì anh mong muốn, chớ không phải ít hơn, nhưng không phải là điều mà bệnh nhân mong đợi. Đối với bệnh nhân, điều anh đang đợi là sức khoẻ, được lành bệnh; đối vói Chúa Giêsu điều quan trọng hơn cả và trước tiên là mối liên hệ với Thiên Chúa.. Câu xác nhận bất ngờ của Chúa Giêsu, "tội của anh đã được tha rồi" làm hoàn toàn đổi hướng đoạn tường thuật: điều then chốt không còn phải là quyền phép của phép lạ, mà là định ý của Chúa Giêsu ban cho ơn tha tội. Thật vậy, Do Thái giáo nhân biết các nghi thức tha tội trong lúc tế tự trong đền thờ: ơn tha tội con người có thể nhận được bằng lòng thống hối và nhứt là bằng vật hiến tế để xin tha tội ( Lv 4, 1-5, 13). Từng nhóm người, như nhóm dân chúng theo Thánh Gioan Tẩy Giả, ơn tha tội con nguời có thể nhận được nhờ hoán cải nội tâm và đón nhận phép rủa: - "Ông liền đi khắp vùng sông Giordano, rao giảng, kêu gọi dân chúng chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối, để được ơn tha tội " ( Lc 3, 3 ). Nhưng ơn tha tội đối với Chúa Giêsu - không còn phải nhận được qua hệ thống các đền thờ, - cũng không có dấu gì cho thấy tội lỗi được gột rửa sạch bằng nước, như những gì Gioan Tẩy Giả đã làm. Ở đây, biến cố lành bệnh thể xác của người bị bại liệt ( " hãy đứng dậy mà đi " ( Lc 5, 23 ) là dấu chứng ơn tha tội đã được lãnh nhận ( " tội của anh đã được tha " ( Lc 5, 20b ). Từ nay sự việc được lành bệnh chỉ là dấu chứng hướng dẫn con người nhìn đến một chân trời khác: - " Vậy để các ông biết, dưới đất này, Con Người có quyền tha tội " ( Lc 5, 24 ) . Con người nhân loại của chúng ta - cần có được sức khoẻ, - nhưng cũng cần có được ơn tha tội. Điều đó giải thích tại sao Chúa Giêsu - không những chữa lành bệnh cho người bại liệt, - mà còn còn ban cho anh ơn tha tội - và kêu gọi hãy sám hối.
Chúa Giêsu ở Capharnaum ( Lc 4, 31-44). Cũng như đoạn tường thuật trước đây ở quê hương sinh trưởng Nazareth, đoạn Phúc Âm Thánh Luca chúng ta đang học hỏi thuật lại một ngày đặc biệt về sứ mạng của Chúa Giêsu và như là sứ mạng, trong đó Thánh Luca diễn tả một cách ngắn gọn sơ đồ của cả hành động Người. Ở đây Thánh Luca viết theo các yếu tố Phúc Âm Thánh Marco ( một ngày ở Capharnaum ), nhưng với một vài biến đổi cá biệt của ngài. Thánh Luca bỏ qua câu nói không được tế nhị mấy của Phúc Âm Thánh Marco, theo đó thì Chúa Giêsu không giảng dạy như các kinh sư. Phúc Âm Thánh Matthêu ghi lại câu nói vừa kể ở phần cuối của Bài giảng Trên Núi. Capharnaum là địa danh, mà Thánh Luca xác định, như là một thành phố miền Galilea, nhấn mạnh cho các đọc giả dân ngoại đối với Phúc Âm của ngài. Hai câu dẫn nhập ( Lc 4,31-32 ) Thánh Luca nhắc nhớ các đọc giả rằng Chúa Giêsu thường có thói quen giảng dạy đang lúc cử hành tế tự trong hội đường như ngài đã đề cập đến trước đó: - " Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh " ( lc 4, 15). Trước khi đề cập đến những tác động mà Chúa Giêsu thực hiện khắp đó đây, Thánh Luca ghi chú rằng lời giảng dạy đang được nói đến cũng có sức mạnh phi thường làm cho ai nấy nghe đều phải thán phục: - Người xuống Capharnaum, một thành miền Galilea, vào ngày sabat, Người giảng dạy dân chúng. Họ sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền " ( Lc 4, 31-329. Và như vậy, phép lạ Người sẽ trừ qủy ( Lc 4, 35 ) không có gì khác hơn là thể hiện của uy quyền đó. Bởi vì Tin Mừng được thể hiện ngay cả giữa những ai nghe Người, lời giảng dạy và phép lạ Người thực hiện có liên hệ chặt chẽ với nhau. 1 - Giải thoát người bị qủy nhập ( Lc 4, 33-37); ( Mc 1, 23-28). Chúa Giêsu đi vào một hội đường, được xây cất bởi một viên chức Roma: - " Sau khi đã nói hết những lời ấy cho dân chúng nghe, Chúa Giêsu vào thành Capharnaum. Một viên đại đội trưởng kia có người nô lệ bệnh nặng gần chết. Ông ta yêu qúy người ấy lắm. Khi nghe đồn về Chúa Giêsu, ông cho mấy kỳ mục người Do Thái đi xin Người đến cứu sống người nô lệ của ông " ( Lc 7, 1-3). Thánh Kinh thường gán cho các chứng bệnh, thể xác cũng như tinh thần, là do quyền lực của ma qủy ( Gen 3 ), bởi đó không phải dễ dàng gì xác nhận được thực chất bản tính của biến cố nào được Thánh Kinh nói đến là do bản chất qủy ám. Tuy nhiên tác giả Phúc Âm thực sự xác tính rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu là nguyên cớ của cuộc đụng độ giữa các quyền lực vượt lên trên sức lực con người, giữa nguyên lực tốt lành và điều dữ. Đọan tường thuật được tường trình theo sơ đồ cổ điển: - Tên qủy dữ nhận ra sự hiện diện của Vị trừ qủy và bởi đó bắt đầu chống đối. - Vị trừ qủy thốt lên lời hăm doạ hay thốt lên một lời nói như một lệnh truyền, - Tên qủy dữ xuất ra khỏi người bị qủy nhập trước mặt mọi người. Để cho thấy thực hiện việc xua đuổi qủy, người bị qủy nhập " bị vật ngã xuống giữa hội đường , rồi xuất ra khỏi anh ta " ( Lc 4, 34). Ở đoạn cuối cùng, đoạn tường thuật ghi lại cảm tưởng được tạo nên cho những người hiện diện được chứng kiến: một niềm kính trọng tôn giáo khiến cho mọi người tự hỏi đâu là nguồn gốc xuất xứ của lời đầy quyền năng vừa kể: - " Câm đi, hãy xuất khỏi người nầy "...Mọi người rất đổi kinh ngạc và nói với nhau: " Lời ấy là thế nào? Ông ấy lấy uy quyền và thế lực nào, mà ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải xuất đi ! " ( Lc 4, 35-36). Dĩ nhiên người đọc Phúc Âm Thánh Luca sẽ hiểu rằng đó là quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng đã xức dầu cho Chúa Giêsu. 2 - Chữa lành bà mẹ vợ của Phêrô ( Lc 4, 38-39) ; ( Mc 1, 29-32); ( Mt 8, 14ss). Sau khi chữa trị một người ở nơi cầu nguyện, trong hội đường, thì giờ đây Người chữa trị cho một thiếu phụ đang cơn sốt ở tại một tư gia. Chúa Giêsu " hăm dọa cơn sốt " : - " Chúa Giêsu cúi xuông gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất " ( Lc 4, 39), như Người đã hăm doạ thần dữ ở biến cố trên ( Lc 4, 35). Bởi đó đối với Thánh Luca, phép lạ chữa bệnh nầy cũng có thể so sánh với biến cố trừ qủy ở trên. Trong bối cảnh đó có môn đệ Phêrô, mà Chúa Giêsu đến để thăm người thân trong gia đình và tất cả các gia nhân. Chính môn đệ Phêrô có thể xác nhận biến cố lành bệnh tức khắc của bà mẹ vợ. Và bà " lập tức trỗi dậy phục vụ các ngài " ( Lc 4, 39 b). Đoạn tường thuật chuẩn bị cho biến cố Phêrô sẽ được Chúa Giêsu kêu gọi sau đó ( Lc 5, 1-11). Chúa Giêsu và Phêrô đã được nối kết liên hệ nhau bằng một mối liên hệ thân thiết chặt chẽ và bằng động tác tuyên xưng đức tin của Phêrô: - " Thấy vậy ông Simon sấp mặt dưới chân Chúa Giêsu và nói : " Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi " ( Lc 5, 8). Mối liên hệ thân tình và động tác đức tin đó của Phêrô đã được chuẩn bị trước bằng biến cố chữa trị phi thường, mà chính Phêrô đã chứng kiến tại tư gia mình. 3 - Chữa trị các bệnh nhân ( Lc 4, 40-41; ( Mc 1, 32-34) ; ( Mt 8, 16ss) Các cuộc tường thuật lại biến cố phép lạ nầy như để nói lên tổng thể Chúa Giêsu là Đấng chữa trị và trừ qủy, cho thúng ta thấy được nhiều người bệnh tật khác nhau, mà Chúa Giêsu đặt tay lên họ, một động tác chữa trị, ở đây có liên quan đến nghi thức trừ qủy. Cũng như trước đó dân chúng nhận biết phận vụ của Chúa Giêsu trong lịch sử cứu rổi, bởi đó họ la lên và hoảng hốt, nhưng Chúa Giêsu ra lệnh cho họ im lặng và yên tĩnh, để tránh cho họ hiểu rằng Người chỉ là một Vị Cứu Độ thần bí hay là một nhà chính trị cứu đất nước ra khỏi ách đô hộ ngoại bang. 4 - Chúa Giêsu ra đi khỏi Capharnaum ( Lc 4, 42-44); ( Mc 1, 35-39); ( Mt 4, 23; 9, 35). Trong đoạn tường thuật thứ tư và cuối cùng nầy, Chúa Giêsu ra khỏi Capharnaum. Bởi vì Thánh Luca chưa đi vào bối cảnh cuộc đời công cộng của Chúa Giêsu, chỉ có đoàn lũ dân chúng tìm kiếm và đến với Người, chớ chưa đề cập gì đến các môn đệ, ông Phêrô và các thân hữu của ông, như trong Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 36-37). Bởi đó chúng ta nhận ra được thái độ trái ngược giữa dân chúng đồng hương Nazareth " xua đuổi Người ra ngoài " và đoàn người ở Capharnaum lại " muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà ra đi " ( Lc 4, 42)- nhưng Người nói với họ: - " Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành phố khác nữa, vì tôi được sai đi để làm việc đó " ( Lc 4, 43) " Tin Mừng Nước Thiên Chúa " là thành ngữ lấy lại tinh thần của cách tuyên bố của Sách Ngôn Sứ Isaia: - " Người qủy quyệt dùng trò qủy quyệt xấu xa, nó bày mưu thâm chước độc, dùng những lời giả dối hại kẻ nghèo hèn, hại người cùng khổ, ngay khi họ đòi quyền lợi của mình. Còn người cao thượng thì suy tính những điều cao thượng, và vì những điều cao thượng mà đứng ra lên tiếng " ( Is 32, 7-8). Phúc Âm mà Chúa Giêsu phải loan báo, là Phúc Âm mà chính Thiên Chúa đứng ra với quyền năng của Người hành động để đem lại công chính và ơn cứu độ. Các biến cố ở Capharnaum cho thấy thực thể tác động đó của Thiên Chúa, qua lời giảng dạy và các cuộc chữa trị của Chúa Giêsu. Bởi đó, Người không nên bỏ đi thị trấn mà lần đầu tiên Người đã giải cứu được cho những người bị tha hoá bởi sự dữ và như vậy Người còn tiếp tục cuộc hành trình cứu độ của Người trong các hội đường trên cả miền đất Giudea.
SỨ MẠNG CỦA CHÚA GIÊSU Ở GALILEA. Các tác giả Phúc Âm Nhất Lãm, như lúc khởi đầu những lời giảng dạy tiên khởi, hoàn toàn không hề đề cập đến sứ mạng của Chúa Giêsu đối với dân Do Thái, khác với Phúc Âm Thánh Gioan đặt tầm quan trọng lúc tiên khởi đó của Chúa Giêsu đối với đồng bào Người. Chúa Giêsu trước khi bắt đầu sứ mạng tông đồ rộng lớn ở Galilea, có lẽ Người đã đến Giêrusalem nhân dịp Lễ Vượt Qua: - " Gần Lễ Vượt Qua của người Do Thái, Chúa Giêsu lên thành Giêrusalem..." ( Jn 10, 13.23). Trong dịp đó, Người đã xua đuổi những kẻ đổi tiền trong Đền Thờ ( Jn 2, 13-22), và có cuộc hội kiến riêng tư với Nicodemo ( Jn 3, 1ss). Các động tác phi thường của Chúa Giêsu gây nên sự chú ý của những người xuất xứ từ miền Galilea đến viếng Đền Thờ ( Jn 4, 45 ). Thánh Luca ghi lại cho chúng ta theo thứ tự sứ mạng của Chúa Giêsu, kể lại sự hiện diện của Chúa Giêsu ở Gierusalem vào phần cuối cùng để - nhấn mạnh đến thái độ thượng đỉnh khước từ của người Do Thái - và khởi đầu một sứ mạng tông đồ trải rộng ta khắp thiên hạ cho các dân ngoại. Biến cố trải rộng vương quốc Nước Thiên Chúa được bắt đầu từ ngày Lễ Hiện Xuống: - " Khi đến ngày Lễngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra môt tiếng động ,như tiếng gió mạnh ùa vào cả nhà, nơi họ đang tựu họp. Bỗng họ thấy xuất hiện một hình lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho " ( Act 2, 1-4). Mặc dầu sứ mạng Galilea trong Phúc Âm Thánh Luca ( 4, 14-9, 59) là những gì đã được Phúc Âm Thánh Marco đề cập đến ( Mc 6, 45-8, 26), nhưng định ý của Thánh Luca là tường thuật lại, không gián đoạn, sứ mạng của Chúa Giêsu ở Galilea, để nói lên tầm quan trọng tối thượng của việc Chúa Giêsu bị từ chối ở Giêrusalem. A - Hai biến cố cá biệt ở Nazareth và ở Capharnaum ( Lc 4, 14-44). Hai biến cố nầy tượng trưng cho thái độ từ chối của các người đồng hương và lòng ngưỡng mộ của người xa lạ đối với Chúa Giêsu. 1 ) Chúa Giêsu ở Nazareth ( Lc 4, 14-30). Đoạn Phúc Âm về " nơi sinh trưởng " của Chúa Giêsu gần như hoàn toàn, chỉ có Thánh Luca tường thuật lại, nhằm sắp xếp theo tiến trình tuần tự xảy ra. Đây là đoạn hàm chứa các chủ đề trung tâm điểm của Phúc Âm Thánh Luca và Sách Tông Đồ Công Vụ, mà ngài cũng là tác giả. Phần dẫn nhập tổng quát: - " Được quyền năng Thánh Thần thúc đẩy, Chúa Giêsu trở về miền Galilea, và tiếng tăm Người được đồn ra khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh " (Lc 4, 14-15), lập lại một lần nữa rằng Chúa Giêsu có Thánh Thần ngôn sứ, sau thời gian ẩn dật trên sa mạc, hướng dẫn đến những nơi thi hành sứ mạng của Người. Nội dung Chúa Giêsu giảng dạy những gì, không được đề cập đến, trong khi đó thì trong Phúc Âm Thánh Marco cho biết Người giảng dạy về Nước Thiên Chúa ( Mc 1, 15) và các lời tiên khởi Người thốt lên là những lời diễn giải ngôn sứ Isaia. Sau khi nói lên những gì vừa kể, Thánh Luca thường ghi chú rằng Chúa Giêsu giảng dạy, nhưng không xác định rõ nội dung, bởi lẽ sự kiện Người thốt lên lời giảng dạy, là một động tác tự nói lên ý nghĩa, không cần phải xác định nội dung. Khác với Gioan Tẩy Giả, rất thường Chúa Giêsu giảng dạy ở những nơi và trong thời điểm dành cho mục đích: Người thường đi vào các hội đường vào ngày thứ bảy. Thánh Marco ( Mc 1, 14-15) và Thánh Matthêu ( 4, 12-17) khởi đầu sứ mạng công cộng của Chúa Giêsu bằng một đoạn dẫn nhập tổng quát ngắn gọn : - " Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng " ( Mc 1, 15). Trong khi đó Thánh Luca khai mở sứ mạng công cộng của Chúa Giêsu bằng một bài diễn giải có thứ tự trước sau có đồ án như một chương trình, trong đó Triều Đại Thiên Chúa không được thể hiện lên một cách rõ ràng, nhưng nội dung được đề cập đến một cách minh nhiên, " thời hiện đại của ơn cứu rỗi, những điều Thánh Kinh ghi lại đã được thực hiện, Chúa Giêsu là trung tâm điểm của Tin Mừng". Bởi đó thánh Luca đặt đoạn Phúc Âm về việc giảng dạy của Chúa Giêsu ở Nazaret nơi phần khởi đầu sứ mạng công cộng của Người, trong khi đó thì Thánh Matthêu và Marco đặt đoạn liên hệ về sau hơn. Phần thứ nhứt của đoạn tường thuật ( Lc 4, 16-22) diễn tả một phần của việc phượng tự trong hội đường. Trong phần nầy, Thánh Luca bỏ qua lòi cầu nguyện lúc khởi đầu và bài đọc thứ nhứt, liên hệ đến Lề Luật Moisen, chỉ còn giữ lại đoạn trích dẫn dài của bài đọc thứ hai: đó là lời tiên tri của Sách Ngôn Sứ Isaia: - " Thánh Thần của Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Chúa đa xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Chúa, ( một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta ) " ( Is 61, 1-2 ). Thánh Luca chỉ bỏ qua câu nói hăm doạ: " một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta ". Theo sấm truyền của Thiên Chúa, phận vụ của người được sai đi là là loan báo sức mạnh sự tiêu diệt làm biến mất đi của kẻ tạo nên đau khổ cho người nghèo hèn và người bị áp bức, loan báo thời điểm bắt đầu một thế hệ con người được Thiên Chúa đón nhận. Chúa Giêsu giải thích cho dân chúng Nazareth: - " Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị đang nghe " ( Lc 4, 21). Điều quan trọng hơn hết mà chúng ta cần chú ý là Chúa Giêsu không chú giải bản văn Thánh Kinh vừa đọc, cũng không hề ngần ngại tìm những áp dụng luân lý của những gì đã đọc như các nhà thuyết giảng trong các buổi họp nơi hội đường, mà là làm cho mọi người chú ý về biến cố mà Người đang thực hiện, tức là sự hiện diện của Người trước mặt họ, " hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh qúy vị đang nghe". Như vậy Người mời gọi mọi người thay đổi hướng nhìn từ Thánh Kinh đến sự hiện diện của Người, Đấng đang thuyết giảng cho họ. Đấng được thánh hiến và được Thánh Thần sai đi chính là Người: - " Ai nấy trong hội đuờng đều chăm chú nhìn Người " ( Lc 4. 20 ). " Hôm nay " là những gì mới mẻ được thể hiện trước mặt họ nơi Chúa Giêsu. " Hôm nay " là ngôn từ cá biệt trong Phúc Âm Thánh Luca: - " Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua David, Người là Đấng Kitô Đức Chúa " ( Lc 2, 11). - " ...và đang lúc Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng. " Con là Con của Cha, ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con " ( Lc 3, 21-22). - " Mọi người đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ kinh hãi bảo nhau: " Hôm nay, chúng ta đã thấy những chuyện lạ kỳ " ( Lc 5, 26). - " Khi Chúa Giêsu tới chỗ ấy, Người nhìn lên và nói với ông: " Nầy Giakêu, xuống mau đi, vì hôm nay Ta phải ở lại nhà ông " ( Lc 19, 5). - " Và Người nói với anh: " Ta bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Ta trên Thiên Đàng " ( Lc 23, 43). Từ ngữ " hôm nay " được Thánh Luca dùng để nói lên thời kỳ viên mãn đã bắt đầu. thời gian thuận tiện đang biến chuyển hiện thực, lịch sử con người đang trải qua một thời điểm ân sủng bất thường. " Hôm nay " không phải chỉ là thời gian tính có liên quan đến biến cố Chúa Giêsu hiện diện trong thế gian, mà còn được trải dài ra trong lịch sử sứ mạng ân sủng của Giáo Hội cho mọi ngưòi. Thời gian của Đấng Cứu Thế đang diễn hành biến chuyển và thời gian cuộc sống của chúng ta là " hôm nay " ân sủng của Thiên Chúa cho mỗi người chúng ta. Nhưng mặc dầu - " mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Ngưòoi " ( Lc 4, 24), dân chúng Nazareth chỉ nhìn thấy một khía cạnh nơi Chúa Giêsu ("con ông Giuse "), họ không nhận ra Người là vị ngôn sứ cuối cùng mà tiên tri Isaia đã tiên báo cho ( cfr Is 61, 1-2), chúng ta vừa trích dẫn ở trên. Trong phần hai của đoạn tường thuật ( Lc 4, 23-27), Chúa Giêsu tự sáng kiến mình lên tiếng trong hai giai đoạn. Câu hỏi - " Ông nầy không phải là con ông Giuse đó sao? " ( Lc 4, 22) khiến cho Chúa Giêsu hiểu rằng dân chúng Nazareth muốn thấy được một dấu chứng. Và bởi đó Người thốt lên trước lời đòi hỏi của họ, bằng cách dùng câu tục ngữ: - " Người nói với họ: " Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm ở Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê hương ông xem sao ! " ( Lc 4, 23). Theo họ, Người phải thể hiện thiết thực lời nói của Người, bằng cách thực hiện cho họ, nơi quê hương sinh quán của Người, những tác động sức mạnh như những gì Người đã làm tại Capharnaum. Thật vậy, một ít dòng sau đó Thánh Luca sẽ đề cập đến những động tác đó: - " Người xuống Capharnaum, một thành miền Galilea, vào ngày sabat. Người giảng dạy dân chúng. Họ sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền. ( Chữa người bị qủy ám Lc 4, 33-37; chữa bà mẹ vợ ông Simon ( Lc 4, 38-39); chữa các người đau yếu ( Lc 4, 40-41). Trước những đòi hỏi đó của các người đồng hương, Chúa Giêsu đáp lại bằng một tục ngữ thứ hai: - " Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận nơi tại quê hương mình " ( lc 4, 24). và hai ví dụ: - " Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Elia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Israel: vậy mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Sarepta miền Sidon. Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Elisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman , người xứ Syria mà thôi " ( Lc 4, 24-27), đó là những lời được trích ra từ sách các Ngôn Sứ ( 1 Re 17; 2 Re 5). Lần nầy cũng vậy, Chúa Giêsu không tuyên bố một cách rõ ràng Người là vị ngôn sứ, mặc dầu qua những câu trích dẫn đó chúng ta có thể hiểu được tước vị ngôn sứ của Người. Quề hương khước từ đón nhận Vị tuyên bố " một năm hồng ân của Thiên Chúa " ( Lc 4, 19) không phải chỉ là quê hương sinh trưởng Nazareth, mà cả quê hương quốc gia Israel. Dấu chứng mà Chúa Giêsu ban cho các người đồng hương của mình thấy không được Người thực hiện trước mắt họ,mà ở bên ngoài khuôn viên quê hương sinh trưởng của Người, bởi vì trong khi khước từ đặc tính phổ quát của ân sủng, họ cũng chối bỏ luôn Đấng được sai đến để mang ân sủng tới cho. Phần kết thúc của đoạn tường thuật ( Lc 4, 28-30) cũng được diễn tả với ngụ ý theo chương trình: đặc ân dành cho Israel đã đến hồi kết thúc và sự kiện Thiên Chúa đón nhận các dân ngoại làm cho Israel phẫn nộ: - " Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy lôi người ra khỏi thành, thành nầy được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi". Đề cập đến thái độ không chấp nhận đặc tính phổ quát của ân sủng, Thánh Luca có ý nhắc đến những gì đã được ngài đề cập đến trong chương 13 của Sách Tông Đồ Công Vụ, trong đó ngài kể lại thái độ thân thiện đón tiếp của người Do Thái ở Antiochia đối với Thánh Phaolồ bị biến thành phẫn nộ, khi thấy dân dân ngoại cũng được nghe rao giảng lời Chúa: - " Ngày sabat, gần như cả thành phố ( Antiochia) hợp nhau nghe lời Thiên Chúa. Thấy những đám đông như vậy, người Do Thái sinh lòng ghen tức, họ phản đối những lời ông Phaolồ nói và nhục mạ ông. Bấy giờ ông Phaolồ và ông Barnaba mạnh dạn lên tiếng: " Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại " ( Act 13, 44-45). Nếu trong câu ( Lc 4, 24 ) được trích dẫn ở trên, hàm chứa thái độ hăm doạ đối với Chúa Giêsu, thì câu ( Lc 4, 29) minh nhiên cho thấy được ý định đầu tiên họ định giết Người: - " Họ kéo Người lên tận đỉnh núi để xô Người xuống vực " ( Lc 4, 29). Việc dân chúng Giêrusalem xua đuổi Chúa Giêsu, như những gì sẽ xảy ra đối với Thánh Stephano ( Act 7, 58), và những khổ hình mà Chúa Giêsu sẽ phải chịu, được Thánh Luca nói lên trong Sách Tông Đồ Công Vụ: - " Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh, Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân. Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết: về điều nầy, chúng tôi xin làm chứng " ( Act 3, 14-15). Từ biến cố khước từ nầy trở đi của những người đồng hương, tước hiệu "ngôn sứ " của Chúa Giêsu được hiểu gắn liền với thái độ chống đối khước từ của dân chúng và cuộc khổ nạn của Người: - " ...Hôm nay và ngày mai tôi phải trừ qủy, và chữa bệnh tật, ngày thứ ba, tôi phải hoàn tất. Tuy nhiên hôm nay, ngày mai và ngày mốt, tôi phải tiếp tục đi, vì một ngôn sứ mà chết ngoài thành Giêrusalem thì không được. Giêrusalem, Giêrusalem, ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi ! Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu " ( Lc 13, 33-34 )
Phép Rửa mà Chúa Giêsu đem đến là Phép Rửa " trong Chúa Thánh Thần và lửa ", chớ không còn phải là phép rửa đơn sơ chỉ để thanh tẩy đã được Gioan Tẩy Giả thực hiện. Như vậy, điều đó nói lên diện mạo của vị Tiền Hô, người khước từ mọi khuynh hướng cám dỗ cho rằng ngài đóng vai trò của Đấng Cứu Thế mà nhiều người ngoài nhóm các môn đệ ngài tưởng nghĩ đến. Với tư tưởng đó, Thánh Gioan Tẩy Giả có ý và mời gọi mọi người chú tâm vào Chúa Giêsu. Kế đến, như để hoàn hảo hóa diện mạo của Gioan Tẩy Giả, Thánh Luca tiên báo trước tin tức về cuộc tù tội của vị Tiền Hô do động tác của Erode Antipa thực hiện, để " bịt miệng " Gioan Tẩy Giả về cuộc sống ngoại tình của ông ta với Erodiade. Đến đây, nói một cách nào đó, Thánh Luca giã biệt Gioan Tẩy Giả. Ngài không đề cập đến Gioan Tẩy Giả nữa và bỏ qua tường thuật lại biến cố tử đạo của Gioan, mặc dầu Thánh Luca đã có đọc trong Phuc Âm Thánh Marco, chương 6. Tuy nhiên Thánh Luca cũng không quên nhắc lại trong những lần đề cập liên hệ đến Gioan Tẩy Giả sau đó ( Lc 7, 18-33) và cho biết Gioan Tẩy Giả vẫn còn hoạt động tích cực, ngay cả trong những lúc tù tội: - " Tiểu vương Erode nghe biết những gì đã xảy ra, thì phân vân lắm. Thật vậy, có kẻ nói. " Đó là ông Gioan từ cỏi chết trỗi dậy.Kẻ khác nói: " Ông Elia xuất hiện đó ! ". Kẻ khác nữa: " Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại ! ". Còn vua Erode thì nói: " Ông Gioan, chính ta đã chém đầu rồi ! Vậy thì ông nầy là ai mà ta nghe đồn đến những chuyện như thế ? ". Rồi vua tìm cách gặp Chúa Giêsu " ( Lc 9, 7-9). Với phép rửa của Gioan tác động cho Chúa Giêsu, Thánh Luca đã kết thúc đoạn tường thuật lại vai trò tiền hô của Gioan Tẩy Giả. Trong biến cố đó, Thánh Luca, so với Thánh Matthêu và Thánh Marco, đem vào Phúc Âm của ngài biến cố trọng đại Chúa Giêsu tỏ mình ra, như là " Con yêu dấu " của Chúa Cha với hai yếu tố quan trọng: - yếu tố thứ nhứt là cầu nguyện, chủ đề thân thương đặc biệt đối với Thánh Luca; - yếu tố thứ hai là biến cố Chúa Thánh Thần tỏ hiện, làm cho ai cũng thấy được, dưới " thân thể " hình chim bò câu: * " ...và đang khi Người cầu nguyện, thì trờ mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bò câu..." ( Lc 3, 21a). " Trời mở ra " khiến cho sự liên hệ, hội nhập giữa thế giới thiên thánh và con người trở thành hiện thực. Các từng trời mở ra là thực thể thường được nhắc đến trong các bản văn về biến cố Chúa mạc khải và luôn luôn tiên báo một cuộc diện kiến: - " Năm vua Ozia băng hà, tôi thấy Thiên Chúa ngự trên ngai rất cao, tà áo Người bao phủ Đền Thờ " ( Is 6, 1); - " Ngày mồng năm, tháng ba, năm thứ ba mươi, tôi đang ở giữa những người bị lưu đày, bên bờ sông Cheba, thì trời mở ra và tôi nhìn thấy thị kiến Thiên Chúa cho xem " ( Ez 6, 1 ). - " Ông nói: " Kià, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa " ( Act 7, 56 ). Nhưng trong đoạn phúc Âm chúng ta đang học hỏi, " trời mở ra " không có ý ám chỉ đến việc diện kiến thiên quốc, mà đúng hơn là biến cố hiện xuống của Chúa Thánh Thần. Có lẽ đoạn Cựu Ước mà Thánh Luca liên tưởng đến khi thuật lại biến cố, được ngài lấy lại đoạn của tiên tri Isaia: - " Từ lâu rồi, chúng con là những kẻ không còn được Ngài cai trị, không còn được cầu khẩn danh Ngài. Phải chi Ngài xé trời mà xuống, cho núi non rung chuyển trước Thánh Nhan " ( Is 63, 19). Đây là một lời cầu nguyện mà người đang khẩn cầu van xin Chúa mở ra các từng trời, tỏ hiện Người ra và ngự xuống giữa dân chúng, để khởi đầu một cuộc xuất hành mới khỏi ách nô lệ. Những lời gợi ý đó trong sách tiên tri Isaia nói lên ý nghĩa quan trọng trong phép rửa cho Chúa Giêsu, sau một thời gian thinh lặng chờ đợi lâu dài, Thiên Chúa trở lại hiến tặng mình cho con người và nói chuyện với con người " dưới hình dáng chim bò câu ", * " Chúng sẽ chạy tới lẹ như chim từ Ai Cập, như bồ câu từ đất Assiria và Ta sẽ cho chúng cư ngụ trong nhà của chúng, sấm ngôn của Chúa " ( Os 11, 11); * " Sao các ngươi nằm yên sau tường kín, khi cánh bồ câu dát bạc long lanh, cả bộ lông mượt tựa ánh vàng ..." ( Ps 68, 14), Đó là truyền thống cỗ cựu diễn tả dân Israel và cộng đồng thời cánh chung với hình ảnh chim bồ câu. Qua câu ghi nhận " dưới hình dáng chim bồ câu " vừa kể, Thánh Luca có ý nói lên Chúa Giêsu có thể dang rộng tay Người ra và chạm đến cộng đồng dân chúng mới đang được thành hình chung quanh Người. Điều đó đã có thể thực hiện được một cách đặc biệt, khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, Người đã thực hiện lời hứa trong Phép Rửa của Chúa Giêsu ban cho chúng ta. " Từ trời có tiếng phán rằng " , " từ trời " không chỉ có nghĩa là nơi phát xuất, cho bằng đúng hơn là nói lên uy quyền của tiếng phán. Đây là cách diễn tả Thánh Kinh, được thể hiện dưới nhiều hình thức và ám chỉ một sứ điệp hay một động tác nói lên niềm hy vọng của mình vào Thiên Chúa và vào quyết định của Người: - " Thiên Chúa phán với ông Moisen: " Ta sẽ đến với ngươi trong đám mây dày đặc, để khi Ta nói với ngươi thì dân nghe thấy và cũng tin vào ngươi luôn mãi ". Ông Moisen thưa lại với Chúa những lời dân nói " ( Ex 19, 9); - " Thiên Chúa gọi Samuel. Cậu thưa: " Dạ con đây ". Rồi chạy lại với ông Elia và thưa: " Dạ, con đây, thầy gọi con ". Ông bảo: " Thầy không gọi con đâu, về ngủ đi ..." ( 1 Sam 3, 4ss). - " Trong khi Samuel dâng lễ toàn thiêu, thì người Philistine tiến lại giao chiến với Israel và Thiên Chúa. Nhưng hôm đó, Chúa giáng sấm sét ầm ầm xuống người Philistine; Người khiến chúng tán loạn và và chúng bị Israel đánh bại " ( 1 Sam 7, 10); Ps. 29. " Con là con yêu dấu của Cha ", các từ ngữ " con của Cha " được Tân Ước chuyển đổi ý nghĩa từ từ ngữ Do Thái " ebed " ( người đầy tớ ) của Cựu Ước. Bởi lẽ " người đầy tớ Chúa " là con người lý tưởng cũng như là người đại diện cho cả cộng đồng: * " Đây là tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và qúy mến hết lòng. Ta cho Thánh Thần Ta ngự trên nó; nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân " ( Is 42, 1 ). Chúa Giêsu hoàn toàn hội nhập vào cộng đồng thời cánh chung, đến nỗi được chịu phép rửa như tất cả mọi người; nhưng Người cũng hội nhập đặc tính duy nhứt con người của Người ( bản tính Thiên Chúa ) vào lý tưởng cao cả nhứt và vào các hy vọng của con người. Vì lý do sự hội nhập hoàn toàn của Người vào mọi sự yếu đuối của nhân loại, Người Đấy Tớ Chúa Giêsu cũng phải hội nhập mình vào cái chết của nhân loại để có thể thẩm thấu đời sống vào mỗi lãnh vực cucộc sống của con người. Điều liên kết hội nhập đó của phép rửa Người nhận trên sông Giordano được liên kết với cuộc tử nạn và phục sinh của Người, được thể hiện rõ ràng trong Phúc Âm Thánh Luca: - " Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc nầy hoàn tất " ( Lc 12, 50) ; ( Mc 10, 38). Dường như trong Phúc Âm Thánh Luca, các từ ngữ " Con của Cha " được hoàn hảo hoá bởi những gì trước đó nói về Chúa Thánh Thần, cũng là điều tuyên xưng bản tính thần linh của Chúa Giêsu.
2 - Biến cố Chúa Giêsu sinh ra ( Lc 2, 1-40). Đoạn tường thuật được viết theo thể văn song đôi với biến cố của Gioan Tẩy Giả. Tuy vậy, có hai điều khác biệt nhau, đó là đối với Con của Mẹ Mara, Thánh Luca đặc tâm chú ý đến - nơi chốn được sinh ra, - trong khi đó thì đối với Gioan Tẩy Giả, Thánh Luca đặt trọng tâm vào biến cố cắt bì và việc đặt tên cho cậu bé. Các câu văn ( Lc 2, 1-7) đề cặp đến - lệnh kiểm tra dân số, - cuộc hành trình của song thân của " cậu con đầu lòng ". Lệnh kiểm tra dân số của Cesare Augusto, hoàng đế của đế quốc Roma, là cách Thánh Luca tìm cách đặt để, làm cho Chúa Giêsu hội nhập vào dòng lịch sử thế giới. Và ngài còn lập lại rõ ràng hơn sau đó: - " Năm thứ mười lăm dưới triều đại hoàng đế Tiberio. Ponzio Pilato làm thống đốc miền Giudea, Herode là ttiểu vương miền Galilea, người em Philipphe làm tiểu vương miền Iturea và miền Traconitide, và Lisània làm tiểu vương miền Abilène, Anna và Caipha làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Zaccaria là ông Gioan trong hoang địa ( Lc 3, 1-2 ). và cho thấy đồ án của Thiên Chúa dùng lệnh kiểm tra dân số nầy của Cesare Augusto. Cũng vậy, trong Sách Tông Đồ Công Vụ, Chúa cũng sẽ dùng chính các lề luật Roma để dẫn đưa Thánh Phaolồ đến Roma để loan báo Phúc Âm. Sau cùng, đó cũng là biện chứng cho chuyến đi: là một biện chứng, bởi vì cuộc kiểm tra dân số luôn luôn được thực hiện tại miền đất đang cư ngụ, chớ không cần phải tại nguyên quán của các đương sự. Cách tường thuật bằng liệt kê vừa kể là cách viết cá biệt của Thánh Luca, khác biệt với lối hành văn của Do Thái.Trong ý nghĩa đó, Thánh Luca đã góp phần vào các bản văn tường thuật về thời niên thiếu trước đó. Thật vậy, Thánh Luca biết rõ Hài Nhi Giêsu được sinh ra ở Bethlem, thị xã của vua David. Đó là thị xã cho phép nhấn mạnh thêm một lần nữa dòng tộc vua David của Chúa Giêsu: - " Bởi đó, ông Giuse, từ thành Nazareth, miền Galilea lên thành vua David, tức là Bethlem, miền Giudea, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua David " ( Lc 2, 4 ). Tuy vậy Thánh Luca không trích dẫn lòi tiên tri của ngôn sứ Michea (5, 1 ), như thánh Matthêu đã ghi lại: - " Phần ngươi, hỡi Bethlem, miền đất Giuda, ngươi đâu phải là thành phố nhỏ nhất, của Giuda, bởi vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời " ( Mt 2, 6 ). Nhưng đó cũng là điều dễ hiểu trong hai chương 1 - 2, thánh Luca dùng rất ít các trích dẫn. Trên thực tế chuyến lữ hành của các mục đồng không kết thúc ở Bethlem, mà trong hang đá với Hài Nhi Giêsu được đặt nằm trong máng cỏ, " vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ " ( Lc 2, 7). Hiểu được hiện trạng của các mục đồng, chúng ta hiểu được không nơi nào thích hợp nhứt đối với họ hơn là máng cỏ. Và như vậy, chúng ta được hướng dẫn chú tâm vế phía các mục đồng. Đối với Thánh Luca, hiện trạng các mục đồng ở Palestine bị coi là hạng người bất chính, trộm cắp, rất có ý nghĩa. Những con người có địa vị thấp hèn trong xã hội, là những hạng người có liên hệ trước tiên đối với biến cố sinh ra của Đấng có người mẹ ở địa vị khiêm tốn: - " Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc " 8 lc 1, 48). Và cũng chính những người ở địa vị khiêm tốn thấp hèn đó lại là những người tiên khởi được mời gọi đón nhận Tin Mừng: - " Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa " ( Lc 4, 18). Như vậy Hài Nhi sơ sinh đã trở thành Đấng mà người tội lỗi có thế đến được và sẽ cùng ăn đồng bàn với họ: - " Những người Pharisêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: " Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng " ( Lc 15, 2 ). Việc mạc khải thực sự ( Lc 2, 9-12 ) chứa nhiều yếu tố nhắc lại những gì đã được loan báo cho Zaccaria và Mẹ Maria, chỉ có điều thắc mắc thường tình con người ( như của Zaccaria và Mẹ Maria ) không được nhắc đến: - " Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiểu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: " Anh em đừng sợ ! Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua David, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu nầy mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ ". Trong đoạn Phúc Âm vừa trích dẫn, " một sứ thần Chúa " thay thế cho thiên sứ Gabriel. Biến cố sinh ra của Chúa Giêsu là một "tin mừng " (theo từ ngữ là Phúc Âm ), tin mang đến "niềm vui mừng trọng đại" Hài Nhi sơ sinh được giới thiệu với ba tước hiệu: - " hôm nay được sinh ra cho anh em" , những kẻ nghèo khó và dân chúng thấp hèn, tầm thường. - một " Đấng Cứu Độ " ( Salvatore ) - là "Đấng Cứu Độ ( Messia ) Thiên Chúa " Cả ba tước hiệu đó là những tước hiệu được thoát xuất từ đức tin phục sinh của Giáo Hội. Hai tước hiệu cuối cùng " Đấng Cứu Độ " ( Salvatore ) và " Đấng Cứu Độ ( Messia ) Đức Chúa " là những tước hiệu được thể hiện trong bối cảnh Do Thái. Tước hiệu thứ nhứt "Hài Nhi sơ sinh ", trong bối cảnh dân ngoại, để đối nghịch lại lòng tôn thờ hoàng đế Cesare, được coi như là người giải thoát dân chúng. Như vậy, đối với các mục đồng, được loan báo những điều loan báo ( kérigma ) của Giáo Hội, mà Thánh Phêrô và Thánh Phaolồ giảng dạy: - " Vậy toàn thể nhà Israel phải biết điều nầy : Chúa Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô " ( Act 2, 36). - " Vì vậy ở chỗ khác lại có lời rằng: " Người sẽ không để Vị Thánh của Người phải hư nát " ( Act 13, 35 ) " Dấu chỉ ", hiện diện ở đây, cũng như trong hai lần tiên báo cho Zaccaria và Mẹ Maria, nhưng ở đây các mục đồng không hề đòi hỏi. Dấu chỉ được nói lên cho các mục đồng rất đối nghịch lại các tước hiệu được đề cập đến cho Chúa Kitô. Thật vậy "dấu chỉ " làm cho những kẻ đi tìm có thể gặp được Hài Nhi sơ sinh là "một trẻ sơ sinh bọc tã ", nằm trong máng cỏ, thay vì nằm trong một chiếc nôi trong một dinh thự nào đó. Trong khi Israel đang mong đợi một vị cứu độ được sinh ra với các dấu chỉ phi thường ( vì sao dẫn đường cho các nhà Chiêm Tinh trong Phúc Âm Thánh Matthêu chẳng hạn ( Mt 2, 2-9), dấu chỉ ở đây được báo cho thật là thích hợp cho những người mục đồng khiêm tốn và cũng tiên báo liên hệ đến Đấng Cứu Độ, đau khổ của những kẻ nghèo hèn. Dấu chỉ đó thật thich hợp cho các mục đồng. Kế đến các mục đồng được thấy và nghe " muôn vàn thiên binh hợp với sư thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa ..." . Bài ca ngợi khen ngắn gọn mời gọi các mục đồng (dĩ nhiên và cả chúng ta, những ai đang đọc Phúc Âm) hãy nhận biết uy quyền của Thiên Chúa. Đấng trong biến cố sinh ra của con Mẹ Maria, ban cho con người bình an, tức là cuộc sống an ninh, thuận thảo và thinh vượng cho con người, đối tượng lòng tốt lành của Người: " Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương,( bonae voluntatis) " ( Lc 2, 14 ). " Bonae voluntatis " ( từ ngữ La Tinh " buonae voluntatis " được dùng ở cas géneitif ở đây không phải được dùng để ám chi "của loài người có lòng ngay chính, có thiện ý ", như chúng ta thường hiểu trong quá khứ là là "của Lòng Tốt Lành của Thiên Chúa ( hay loài người Chúa thương ). . Bởi đó câu " bình an dưới thế cho loài người Chúa Thương ", như cách dịch Việt ngữ hiện tại. Thiên Chúa không phải là Đấng thích thú thiện ý của con người, mà đúng hơn là Đấng ban tràn ngập lòng tốt lành của Người vào trong con người, được thể hiện qua động tác - Người tạo dựng nên con người giống hình ảnh của Người ( Gen 1, 26-27), - từ là tạo vật, Thiên Chúa nhắc con người lên được trở thành con cái Người ( Mt 6, 9 ) - và tiền định cho con người được tham dự vào bản tính Thiên Chúa của Người ( 2 Pt 1, 4 ). Trong đoạn tường thuật Phúc Âm Thánh Luca đến đây, các mục đồng chỉ là những chủ thể thụ động. Nhưng từ đây trở đi, tình trạng thụ động của họ đã chấm dứt: họ đã thấy được những gì được thiên sứ tiên báo cho, và bắt đầu loan báo cho dân chúng, khiến cho dân chúng được nghe đều lấy làm lạ lùng, như những gì đã xảy ra cho các thân nhân của Zaccaria: - " ai nấy đều bỡ nghỡ " ( Lc 1, 63 ) Và cả song thân của Chúa Giêsu cũng lấy làm lạ lùng: - " Cha mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simeon nói về Người " ( Lc 2, 33 ) Câu Phúc Âm ( Lc 2, 20 ) còn cho thấy rõ động tác của các mục đồng sau khi được chứng kiến những gì tai nghe mắt thấy được thiên sứ báo cho: đó là sau khi ra đi, họ bắt đầu thay thế thiên sứ " vinh danh và ngợi khen Thiên Chúa ": - " Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cât tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: " Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương " ( Lc 2, 13-14 ) - " Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ " ( Lc 2, 20). Câu ( Lc , 21) diễn tả phần chuyển tiếp những gì kế đến. Như đối với người con của Zaccaria va bà Elisabeth, việc đặt tên cho chú bé trở thành một nghi thức quan trọng trong động tác cắt bì, bởi lẽ đó là điều, trong cả hai trường hợp, vâng theo lệnh truyền của thiên sứ Gabriel. Nếu cảnh tượng của nghi thức đối với vị tiền hô được kể lại dài dòng với nhiều chi tiết, thì biến cố cắt bì của Chúa Giêsu chỉ được đề cặp thoáng qua. " Vết nhơ của Mẹ Maria ", không phải là vết nhơ thuộc lãnh vực luân lý, mà chỉ có tính cách là một nghi thức, cũng như Chúa Giêsu tuân giữ hoàn hảo Lề Luật Moisen và ngấm chìm mình vào dòng giống nhân loại để biến đổi nhân loại; cũng vậy Mẹ Maria được Phúc Âm trình diện hoàn toàn một người phụ nữ như các phụ nữ khác : - " Hãy nói với con cái Israel, khi một người đàn bà có thai và sinh con trai, thì sẽ ra ô uế trong vòng bảy ngày, nó sẽ ra ô uế như những ngày bị khó ở vì kinh nguyệt. Đến ngày thứ tám, đứa bé sẽ được cắt bì nơi da quy đầu. Rồi người đàn bà phải đợi ba mươi ngày mới cho máu được thanh tẩy, nó không được đụng đến vật thánh nào và không được vào thánh điện, cho đến khi mãn thời gian thanh tẩy của mình " ( Lv 12, 2-4 ), Việc Mẹ Maria được thanh tẩy, cũng như động tác chịu cắt bì của Chúa Giêsu, là những gì có liên hệ đến mọi thành phần dân chúng Israel. " Tiến dâng Chúa Giêsu trong đền thờ ", đó là động tác tuân giữ Lề Luật ( Ex13, 1-16) , thời điểm thượng đỉnh trong đoạn tường thuật về thời niên thiếu của Chúa Giêsu; trong tất cả phần còn lại của đoạn tường thuật, Giêrusalem chiếm vị trí trung tâm điểm. Thánh Luca không đề cập gì đến"động tác chuộc lại " hay cứu độ của Chúa Giêsu, - " Tất cả các con đầu lòng của bất cứ xác phàm nào, dù là người hay súc vật, mà ngươi đã dâng cho Thiên Chúa, đều được dành cho Người, nhưng ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của người ta , và con đầu lòng của súc vật không sạch, ngươi cũng cho chuộc lại " ( Nm 18, 15...). Thánh Luca không đề cập gì đến việc chuộc lại Chúa Giêsu, bởi lẽ Người là sở hữu của Cha Người trên thiên quốc, ngay cả trước khi có nghi thức hiến dâng đó. Hành động đó của Mẹ Maria và Thánh Giuse cho thấy đâu là lý do, mà vì đó Thánh Luca không hề đề cập đến trong ngày lễ tiến dâng Chúa Giêsu trong đền thờ. Không có phẩm vật tiến dâng để "chuộc lại ", bởi lẽ Hài Nhi Giêsu thuộc quyền tư hữu của Chúa Cha. Thay vì con chiên một tuổi, Mẹ Maria và Thánh Giuse dâng hiến " phẩm vật của những kẻ khó nghèo , một cặp bồ câu con, một con để dâng hiến, con kia bị giết đi để đền tội: - " Khi mãn thời gian thanh tẩy, dù sinh con trai hay con gái, nó phải đem đến cho tư tế ở cửa Lều Hội ngộ một con chiên một tuổi làm lễ toàn thiêu, một bồ câu non hay một chim gáy để làm lễ tạ tội. Tư tế dâng chúng trước nhan Chúa và cử hành lễ xá tội cho nó và nó sẽ được thanh tẩy sau khi đã xuất huyết. Đó là luật về người đàn bà sinh con trai hay con gái " ( Lv 12, 6-8 ). - " Nếu người ấy không có phương tiện kiếm được chiên dê, thì vì tội đã phạm, nó phải đưa dến dâng cho Chúa lễ vật đền tội, là một đôi chim gáy hay một đôi bồ câu non, một con làm lễ tạ tội, một con làm lễ toàn thiêu. Nó sẽ đưa chim đến cho tư tế. Trước tiên tư tế sẽ tiến dâng con chim làm lễ tạ tội, tư tế sẽ cấu đầu con chim ở gần gáy, nhưng không tách rẵn ra ; tư tế sẽ rảy máu lễ vật tạ tội vào thành bàn thờ, phần máu còn lại sẽ được bóp vàp chân bàn thờ. Đó là lễ tạ tội. Cón con thứ hai, tư tế sẽ dâng làm lễ toàn thiêu như luật định. Tư tế sẽ cử hành lễ xoá tội như thế cho nó khỏi tội đã phạm, và nó sẽ đươc tha " ( Lv 5, 7-10). " Simeon " , là người không can dự gì đến các việc phục vụ đền thờ, ông đến đền thờ vì được Thánh Thần thúc đẩy: - " Có một người tên là Simeon; ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông...Ông đã được Thánh Thần thúc đẩy, ông lên Đền Thờ vào lúc cha mẹ Hài Nhi đem con tới để chu toàn thủ tục Lề Luật đã truyền liên quan đến Người " ( Lc 2, 25-28). Cả Simeon cũng là người đang đợi thực hiện lời tiên tri " bảy mươi tuần ", tức là thời điểm cuối cùng khi Chúa đến giải thoát dân Người: đó là niềm hy vọng được đề cập đến trong " sách an ủi " 8 Is 40-50). Simeon có được một ân sủng đặc biệt: ông biết rằng thời điểm đó đang đến gần, ông sẽ thấy thời điểm trong đó, với biến cố đến của vị cứu độ, dòng lịch sử sẽ hoàn toàn được đảo ngược. Ông là người gác dan cuối cùng của giao ước cũ, đang mong đợi thời điểm của Đấng Cứu Độ, được diễm phúc "bồng trên tay " người con trai đầu tiên của thế giới mới, mà ông nhận ra. Bởi đó bất thần ông cất tiếng lên hát - một bài ca ngợi khen: * " Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài hứa, xin để tôi tớ nầy được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ " ( Lc 2, 29-30), - và một lời tiên tri: * " Ông Simeon chúc phúc cho hai ông bà và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé nầy làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng, và như vậy những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà " ( Lc 2, 34-35). Khác với các bài ca ngợi khen của Mẹ Maria và Zaccaria, nói về Chúa bằng cách dùng ngôi thứ ba: -" Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa Đấng Cứu Độ tôi.." ( Lc 1, 46-55), - " Chúc tụng Chúa là Thiên Chúa Israel, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người ..." ( Lc 1, 68-79),Ông Simeon chúc tụng Chúa bằng cách kính thưa trực tiếp với Người, ở ngôi thứ hai: - " Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài hứa..." ( Lc 2, 29-30 ). Trước nhan Thiên Chúa là Đấng giữ lời hứa, Simeon biết rằng phận vụ gác dan của mình cho giao ước cũ đã chấm dứt. Và như vậy, cũng như tổ phụ Abraham, ông có thể ra đi bình an theo các tổ phụ và được chôn cất như các ngài: - " ...xin để tôi tớ nầy được an bình ra đi ..." ( Lc 2, 29). - " Còn ngươi sẽ về với cha ông ngươi bình an, và sẽ được chôn cất sau khi hưởng tuổi già hạnh phúc " ( Gen 15, 15 ). Abraham không những đã nhận được lời hứa, mà còn nhìn thấy lời hứa đã được thực hiện. Ngoài ra Thánh Thần không những tỏ cho Simeon ánh sáng mới về sứ mạng của Hài Nhi, sứ điệp mà thiên sứ Gabriel không mạc khải cho Mẹ Maria: đó là Chúa Giêsu là người Đầy Tớ Chúa, mà Chúa Cha đã dành để trở thành ánh sáng cho muôn dân , để sự cứu độ của người được trải rộng ra cho đến tận cùng trái đất: - " Người phán: " Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta, để tái lập các chi tộc Giacob, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất " ( Is 49, 6 ). " ... ơn cứu độ Ta đến tận cùng cõi đất ", như vậy dân ngoại không phải chỉ là những chứng nhân, mà cũng là những người được hưởng ơn cứu độ quyết định, với tước hiệu đầy đủ như dân Israel. Đây là một điều tối quan trọng được báo cho biết trước. Bởi vì chương trình đó sẽ đưọc Chúa Phục Sinh loan báo, - " ...phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 47), và được Thánh Phaolồ nhân danh Chúa Kitô thực hiện lời tiên tri đó của Isaia: - "Bấy giờ ông Phaolồ và ônh Barnaba mạnh dạn lên tiếng: " Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưỏng sự sống đời đời , thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế nầy: " Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất " ( Act 14, 46-47). Nhưng trong đoạn Phúc Âm, lời ca ngợi khen của Simeon đưọc tiếp nối bằng lời tiên tri hăm doạ: - " Thiên Chúa đã đặt cháu bé nầy làm nguyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhièu người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn bà " ( Lc 2, 34- 35 ), Người con của Mẹ Maria sẽ là nguyên cớ cho sự chia rẽ trong Israel. Lời tiên tri đó cũng chính là những gì Chúa Giêsu tự nói về mình: - " Anh em tưởng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết không phải như vậy đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà, sẽ chia rẽ nhau, ba chống hai, hai chông ba " ( Lc 12, 51-52). Thái độ chối bỏ Chúa Giêsu và động tác của Người, từ đây sẽ là sợi chỉ đỏ chạy dài theo suốt tác phẩm của Thánh Luca cho đến đoạn kết thúc khủng khiếp của Sách Tông Đồ Công Vụ: trước mặt các người Do Thái khước từ Chúa Giêsu, Thánh Phaolồ sẽ tuyên bố rằng ơn cứu độ của sẽ được gởi đến cho dân ngoại, bởi vì họ biết nghe theo: - " Nghe ông nói, người thìị được thuyết phục, người thì không chịu tin. Khi giải tán, họ vẫn không đồng ý với nhau; ông Phaolồ chỉ nói thêm một lời: "Thánh Thần đã nói rất đúng khi dùng ngôn sứ Isaia mà phán với cha ông của anh em rằng: " Hãy đến gặp dân nầy và nói: các ngươi có lắng tai nghe cũng không hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, vì lòng dân nầy đã ra chai đá: chúng đã bịt tai, nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe và lòng chúng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành. Vậy xin anh em biết cho rằng: ơn cứu độ nầy của Thiên Chúa đã được gởi đến cho các dân ngoại, họ thì họ sẽ nghe. Ông nói như vậy rồi, thì người Do Thái đi ra, họ tranh luận với nhau " ( Act 28, 24-29). Nói cho cùng, con người phải nói lên thái độ mình chấp nhận hay chống báng lại lời mời gọi của Thiên Chúa: điều đó cho phép tỏ hiện ra tư tưởng bí ẩn của nhiều người, tức là thái độ chai đá của tâm hồn họ. Lời tiên tri vừa kể thể hiện một điều xác tín của Thánh Kinh: chính các ơn Chúa ban cho là nguồn mạch cho sự sống hay cho cái chết, tùy theo cách đón nhận của những ai nhận được. Bằng một vài lời ngắn ngủi, Simeon cho biết sự chia rẽ vừa kể của dân chúng sẽ làm tổn thương Mẹ Maria trong cuộc sống thâm sâu của Mẹ. Điều vừa kể khiến cho chúng ta không thể nào quên được nỗi đau khổ của Mẹ dưới chân thánh giá, điều đó chúng ta không được Thánh Luca kể lại cho. Nhưng với tư cách là mẹ của Đấng Cứu Thế, Mẹ Maria đau khổ hơn thập bội các người Do Thái khác, theo cách việc cứu độ đó sẽ được thực hiện. Đoạn tường thuật về thời niên thiếu của Chúa Giêsu có thể được kết thúc ở đây. Bà ngôn sứ già Anna cũng hiện diện, nhưng không thốt lên một mạc khải lời nào, nhưng chỉ nói lên bằng những ngôn từ gián tiếp: - " Lại có một nữ ngôn sứ tên Anna, con ông Fannuele, thuộc chi tộc Aser. Bà đã nhiều tuổi lắm.Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đến Thờ, nhưng ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem " ( Lc 3, 35-38). Nhưng chính bà goá phụ nầy, khuôn mẫu của người goá phụ Do Thái và Kitô giáo, phải trở nên tiếng dội của các lời của bài ca ông Simeon, cho phép Thánh Luca kết thúc biến cố mạc khải nầy bằng một niềm hân hoan. Phần kết luận của đoạn tường thuật, - " Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nazareth,miền Galilea. Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và hằng đưọc ân nghĩa cừng Thiên Chúa " ( Lc 2, 39-40), nhắc lại một lần nữa lòng trung thành của hai vị song thân đối với Lề Luật. Kế đến là chuyến đi trở về Galilea. Khác với Gioan Tẩy Giả, sau cắt bì, sẽ sống trong sa mạc, thì Chúa Giêsu trở về Nazareth.
1 - Biến cố sinh ra của Thánh Gioan Tẩy Giả ( Lc 1, 57-80). Cuộc sinh ra của Gioan Tẩy Giả được Phúc Âm Thánh Luca thuật lại một cách ngắn gọn ( Lc 1, 57-58) nhưng bằng những ngôn từ đầy ý nghĩa thần học: - " Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Elisabeth sinh hạ một con trai", cho thấy lời Thiên Chúa hứa sắp được thể hiện. Biến cố cắt bì được diễn tả đầy đủ chi tiết, nhứt là việc lựa chọn tên được đặt cho hài nhi Gioan ( Lc 1, 59-66). Một gia đình tư tế, bởi đó là gia đình bảo thủ theo truyền thống, nhưng người mẹ lại khước từ đặt cho đứa bé tên của người cha và cả đến quyết định bất thường đối với dòng họ: - " ...bà con đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Zaccaria mà đặt cho em. Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : " Không, phải đặt tên cháu là Gioan " ( Lc 1, 59-60). Đoạn tường thuật tiếp tục, bằng cách xác nhận rằng thầy tư tế Zaccaria không nghe biết những gì vợ ông vừa nói. Và nếu họ " làm hiệu hỏi người cha , xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì ", điều đó cho thấy Zaccaria vừa điếc vừa câm. Câu trả lời của nguời cha và người mẹ đều giống hệt như nhau. Điều đó cho thấy những người đang đứng trước mặt thật ngỡ ngàng trước dấu chứng với sự can thiệp của Chúa. Ông Zaccaria viết ra: - " Tên cháu là Gioan " ( Lc 1, 63). Ônh Zaccaria tuân theo lời chỉ bảo của thiên sứ, và bất thần ông nghe được và nói lại được, như những gì đã được tiên báo cho ông: - " Và nầy đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi " ( Lc 1, 20 ). Những lời vị tư tế Zaccaria sắp nói ra là một lời chúc phúc cho Chúa, nhưng cũng có đặc tính tiên báo: - " Chúc tụng Chúa là Thiên Chúa Israel, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người. Từ dòng dõi trung thần David, Người đã cho xuất hiện một Vị Cứu Tinh quyền thế để giúp ta " ( Lc 1, 68-69). Như Bài Ca Ngợi Khen Magnificat, cả Bài Ca Chúc Tụng Benedictus của ngôn sứ Zaccaria đều đầy dẫy những trích dẫn từ Cựu Ước và luôn luôn khởi đầu bằng ba động tác mà Thiên Chúa luôn luôn thực hiện các lời hứa qua các ngôn sứ của Người: 1) Với động tác phái thiên sứ Gabriel đến và thực hiện lời loan báo Thiên Chúa đã bắt đầu thực hiện nơi dân Người bằng cách giải thoát họ và làm cho thể hìện lên giữa họ một Đấng Cứu Độ thuộc dòng tộc David. 2 ) Lời kết thúc của Bài Ca Chúc Tụng Benedictus , không còn có gì phải nghi ngại,bỡi lẽ không phải là những ngôn từ đề cập đến Gioan Tẩy Giả: - " Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông từ chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào nẻo bình an " ( Lc 1, 78-79). 3 ) Động tác đó của Thiên Chúa, đúng như những gì Người " đã tuyên hứa với Abraham ", có mục đích là đem giải thoát đến cho Israel, để cho Israel có thể phục vụ Đấng hằng có và cứu độ. Lời xác quyết đó được Zaccaria nói lên, liên tưởng đến những gì Chúa đã hứa với Moisen trên núi Sinai: - " Hãy để cho dân Ta đi vào sa mạc, để tế lễ Thiên Chúa " ( Ex 3, 18). Tâm đầu ý hợp với truyền thống, biến cố được giải thoát khỏi Ai Cập là hình ảnh được Thiên Chúa ban cho khi thời kỳ đã mãn, và Zaccaria nhắc nhớ rằng ơn cứu độ được coi như là thượng đỉnh đòi buộc phải có, đó là phục vụ phượng tự và thờ lạy Thiên Chúa: -" Chúa đã thề với tổ phụ Abraham rằng sẽ giải phóng ta ra khỏi tay địch thủ và cho ta chẳng còn sợ hãi , để ta sống thánh thiện công chinh trước nhan Người, mà phụng thờ Người suốt cả đời ta " ( Lc 1, 73). Lời tiên tri của Zaccaria tiếp tục, bằng cách giải thích phận vụ của Gioan Tẩy Giả: Gioan sẽ là ngôn sứ và tiền hô , chớ không phải là con Thiên Chúa hay Đấng Cứu Độ: - " Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao; con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người , bảo cho dân Chúa biết : Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tôi khiên " ( Lc 1, 76-77). Lời tiên tri đó sẽ được thực hiện khi ánh sáng hiện lên: - " Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần , dẫn ta bước vào đường nẻo bình an " ( Lc 1, 78-79). Đó là ánh sáng thời cánh chung, dấu chứng cho biết biến cố Chúa Giêsu Kitô sinh ra và Gioan trở thành người tiền hô của Người. Như vậy là lời tiên tri của Isaia được thực hiện: - " Dân chúng lần bước giữa tăm tối đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng tối tăm, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi " ( Is 9,1). Chúng ta nên chú ý đến động từ " viếng thăm " của câu Phúc Âm Thánh Luca vừa trích dẫn, nói về " Vầng Đông ", tức là nói đến Chúa, ở câu ( Lc 1, 68), ở đây là nói đến Chúa Giêsu Kitô. Điều vừa kể cho thấy Thánh Luca viết Phúc Âm theo ảnh hưởng của Cộng Đồng Kitô giáo. Bối cảnh về biến cố sinh nở của Thánh Gioan Tẩy Giả được kết tổng kết bằng động từ " lớn lên " : - " Cậu bé càng lớn lên, thì tinh thần càng vững mạnh..." ( Lc 1, 80). Đây là lần đầu tiên của thể thức hành văn được Sách Tông Đồ Công Vụ lấy lại, trong đó Thánh Luca nhấn mạnh đến tầm quan trọng của trạng thái " lớn lên " của Lời Chúa được loan báo và của Cộng Đồng Giáo Hội: - " Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại có một đám tư tế rất đông đón nhận đức tin " ( Act 6, 7 ). Để làm sáng tỏ nhân vật Gioan Tẩy Giả, lời tường thuật của Thánh Luca múc lấy nhiều đoạn trong Cựu Ước, có liên quan đến hai cậu bé được sinh ra một cách lạ thường: đó là Sanson và Samuel. Sau cùng chúng ta cũng nên lưu ý đến nơi cư ngụ của câu Gioan Tẩy Giả. Là con của một thầy tư tế, cậu lại không cư ngụ tại gia trong làng mạc của mình và trong đền thờ, mà lại sống trong hoang địa miền Giuda, - " Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt Israel " ( Lc 1, 80b), nơi mà Lời Chúa sẽ được phán ra với cậu, để phong tước cho cậu trở thành ngôn sứ. " Ông bà đến để làm phép cắt bì ", đông tác cắt bì, nhứt là sau thời gian bị đày ải trở thành nghi lễ quan trọng, bởi vì đây là nghi thức trình diện đứa bé trai vào dân Chúa. Nghi thức cần thiết đó để lãnh nhận được ơn cứu rỗi của Chúa Giêsu, đã bị các Thư của Thánh Phaolồ chối bỏ. Nhưng trong cả hai chương ( Lc 1-2) Phúc Âm, Thánh Luca coi nghi thức cắt bì như là nghi thức thượng đỉnh trong đó Thiên Chúa liên kết với dân Người và chuyên cần thực hiện giao ước đã được tuyên hứa: Chúa thực hiện hoàn hảo giao ước và Israel chuyên cần tuân giữ lề luật. " Chúc tụng " ( Benedictus ) , phần đầu của Bài Ca Chúc Tụng đề cập rõ rệt đến những gì liên hệ với dân Do Thái, được viết lên dựa trên các lời cầu nguyện được đọc lên trong khi thực hiện động tác cắt bì ( Lc 1, 68-75). Phần hai, là phần thêm vào của cộng đồng Kitô giáo ( hay của các môn đệ Gioan Tẩy Giả ): - "Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Ngưòi, bảo cho dân Chúa biết Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên. Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an " ( Lc 1, 76-79). Bài Ca Chúc Tụng ngợi khen Jahwé vì ơn cứu độ mà Người đã thực hiện cho. Bài Ca Chúc Tụng là những lời ngợi khen của các Thánh Vịnh được lập lại: - " Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi " ( Ps 34, 2), - " Nguyện Chúa Trời dũ lòng thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con " ( Ps 67, 2 ), - " Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh " ( Ps 103, 1), - " Chúc tụng danh thánh Chúa, từ giờ đây cho đến mãi muôn đời " ( Ps 113, 2). " Chúa đã viếng thăm " , từ ngữ thánh kinh diễn tả một ân huệ hay một cuộc trừng trị. Bởi lẽ Thiên Chúa không bao giờ hiện diện dửng dưng giữa dân Người: - " Đất đã ra ô uế: Ta đã phạt nó, vì tội lỗi nó, và nó đã mửa dân cư nó ra " ( Lv18, 25 ). - " Nhưng đến khi Chúa Thuợng đã hoàn thành mọi việc Người làm trên núi Sion và tại Giêrusalem, Người phán: " Ta sẽ trừng phạt hậu quả lòng tự đại của vua Asua và con mắt kiêu căng ngạo nghễ của nó " ( Is 10, 12), - " Sau bảy mươi năm, Thiên Chúa sẽ viếng thăm Tyro. Nó sẽ trở lại nghề đi kiếm tiến.." ( Is 23, 17). " Người đã ban lòng nhân hậu đối với tổ tiên tổ tiên chúng ta " , với từ ngữ " tổ tiên " Thánh Luca có ý ám chỉ những đấng bậc hiện đang ở trên thiên đàng, - " Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Abraham, Isaac va Giacob cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nưóc Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài " ( lc 13, 28). - " Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, anh ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa và thấy anh Lazaro trong lòng tổ phụ " ( Lc 16, 23). - "Ông Abrahma là cha các ông đã hớn hở vui mừng, vì hy vọng được thấy ngày của Ta, ông đã thấy và đã mừng rỡ " ( Jn 8, 56). liên hệ nối kết với thực thể của những gì con cái đang hy vọng và các lời hứa được thực hiện. - " Hài nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao ", câu nói đó nói lên viễn ảnh các niềm hy vọng của các tổ phụ sắp được thực hiện, nhờ cậu con của Zaccaria. " Soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần " , đó là câu nói liên kết hai viễn ảnh giải thoát của ngôn sứ Isaia: - " Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người đang sống trong bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi " ( Is 9, 1) và - " ...để mở mắt cho những ai mù loà, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngòi trong bóng tối tăm " (Is 42, 7). Khi nào bóng tối của tội lỗi và khốn cùng đạt đến cùng đỉnh của chúng, lúc đó con người sẽ biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới mới có thể giải cứu mình được. - " Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Israel " , có lẽ câu Gioan được ủy thác cho cộng đồng Qumran.
II - Thời niên thiếu của Chúa Giêsu ( Lc 1, 5 - 2, 52). Thánh Matthêu, Luca và Gioan thêm vào tác phẩm chính của các vị khoản tường thuật về " thời niên thiếu của Chúa Giêsu " . Trong khi đó thì khoản liên hệ được xem là bài ca ngợi khen cỗ của Kitô giáo, - tuyên xưng đặc tình tiền hiện hữu, đã có từ môn thuở, của Chúa Giêsu, * " Từ muôn thuở đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa " ( Jn 1, 1) - và biến cố nhập thể của Người, * " Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta " ( Jn 1, 14). Đoạn tường thuật lại vừa kể của Thánh Matthêu, được viết lên với tính cách là những lời tuyên bố chính thức và như là lời huấn dạy giáo lý. Trong khi đó thì đoạn tường thuật của Thánh Luca là những gì được suy nghĩ, phối hợp giữa giáo lý và suy niệm. Những gì được tường thuật lại về " thời niên thiếu của Chúa Giêsu " có lẽ không nằm trong các lời huấn dạy nguyên thủy của các Thánh Tông Đồ, bởi lẽ - không những sứ mạng công cộng của Chúa Giêsu chỉ được khởi đầu từ lúc Người nhận phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả, - mà còn do sự kiện sứ mạng các Thánh Tông Đồ chỉ dựa vào các vị loan báo và nhân chứng những gì chính mình được mắt thấy tai nghe nơi Chúa Giêsu. Khởi đầu từ Lễ Hiện Xuống, trong các lời loan báo huấn dạy của mình, các Thánh Tông Đồ nhắc đến * biến cố phục sinh, khổ nạn và tử nạn, sứ mạng công cộng của Chúa Giêsu * và sau cùng là đến " đời sống ẩn dật bí nhiệm " của Người với Chúa Cha. Như vậy các đoạn tường thuật lại về " thời niên thiếu của Chúa Giêsu " chỉ được đề cập đến lúc sau, trể hơn, để huấn dạy cho dân chúng đầy đủ về động tác và lời nói cứu độ của Chúa Giêsu. Hiểu như vậy, chúng ta thấy được Thánh Luca nói lên trong đoạn tường thuật " thời niên thiếu của Chúa Giêsu " thượng đỉnh nền thần học của ngài. Bởi đó có lẽ để có được tầm hiểu biết sâu rộng hơn, chúng ta nên đề cập đến, sau khi đã học hiểu qua những gì được viết lên trong Phúc Âm của ngài. Đó cũng là những gì Thánh Matthêu cũng đã suy niệm và viết lên, " thời niên thiếu của Chúa Giêsu ", sau khi trên thực tế đã rao giảng và nhân chứng động tác và lời nói của Chúa Giêsu. Những đoạn tường thuật về " thời niên thiếu của Chúa Giêsu " mang ý nghĩa thần học thật cao siêu và diễn tả cho thấy nhu cầu của cộng đồng Kitô giáo tiên khởi ( cộng đồng được các Thánh Tông Đồ hướng dẫn " cảm nhận thấy cần phải thấu hiểu được " mầu nhiệm " của Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, cũng như tất cả những gì có liên hệ ngay từ lúc khởi đầu. Đây là " một bước lùi lại ", một câu hỏi mà cộng đồng Kitô hữu tự đặt cho chính mình, như vậy " lúc khởi đầu " cuộc đời Chúa Giêsu như thế nào, cả dưới ánh sáng của các trích dẫn Thánh Kinh. Điều vừa kể cho thấy nhu cầu thần học được đặt ưu tiên trước thực tế lịch sử, bởi đó đọc " thời niên thiếu của Chúa Giêsu " chúng ta cảm nhận được là một cách tường thuật lịch sử khác với phần còn lại của Phúc Âm. Chúng ta vẫn thường nghe các nhà nghiêng cứu đề cập đến đoạn tường thuật đang bàn là " midrashico " , tức là có những đề cập đến yếu tố lịch sử không dễ gì có thể kiểm chứng được, bởi lẽ trong đó Thánh tác giả đặt nặng cách giải thích thần học và đạo đức thiêng liêng hơn là dữ kiện lịch sử. Vì dụ như - Các Nhà Chiêm Tinh ( hay Ba Vua ) là ai? - Ai có thể nói được tông tích của những nhân vật nầy ? Chắc chắn là không ai. Và chính Thánh Matthêu là tác giả tường thuật lại biến cố của các nhân vật vừa kể, cũng chỉ nói được cho chúng ta rất ít về các vị. Như vậy, không ai được phép thần thoại hóa các vị, bỏi vì khối nhân cội lịch sử của biến cố khó mà tìm lại được trong lịch sử. Từ đó chúng ta hiểu được chủ đích của Thánh Matthêu và Thánh Luca nhắc lại cho chúng ta về một vài biến cố thời niên thiếu của Chúa Giêsu, mà chất liệu lịch sử thật là ít oi, là nhằm chú giải và suy niệm về cuộc đời Chúa Giêsu. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng các đoạn văn tường thuật về thời niên thiếu của Chúa Giêsu là những gì đưọc viết lên bằng cách góp nhặt và liên tưởng đến Cựu Ước: - Lc 1, 12 ( Dan 10, 7.12), - Lc 1, 16...( Mal 3, 1...), - Lc 1, 19 ( Dan 9, 20-23), - Lc 1, 28-32 ( Zc 3, 14-17); - Lc 1, 35 ( Ex 40, 35), - Lc 1, 40.46.55 ( 2 Sam. 6), - Lc 1, 42 ( Jd 5, 24), - Lc 1, 64...( Dan 10, 16...), - Lc 1, 76 ( Mal 3, 1). A - Bức tranh loan báo ( Lc 1, 5-56 ). Hai lần " loan báo " nầy nói lên đặc tính của Phúc Âm là một " Tin Mừng " . Và chính trong hai lần loan báo đó, lần đầu tiên Thánh Luca dùng đến từ ngữ " Phúc Âm ", " Tin Mừng ", khi loan báo cho các mục đồng và cho Zaccaria : - " Nhưng thiên sứ bảo họ: " Anh em đừng sợ. Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân. Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua David, Người là Đấng Kitô Thiên Chúa " ( Lc 2, 10-11). Trong lúc trình bày biến cố thực sự loan báo, Thánh Luca đã muốn đưa ra một lời huấn dạy thần học và qua sự khéo léo của ngài, ngài muốn so sánh hai biến cố như hai lần loan báo, hay đúng hơn hai phần của một bức tranh: loan báo: - cho Zaccaria - và truyền tin cho Mẹ Maria, qua việc tường thuật lại biến cố sinh ra của Gioan Tẩy Giả và sinh nhật của Chúa Giêsu, bai ca Chúc Tụng của Zaccaria và bài ca Ngợi Khen của Me Maria. 1) Loan báo biến cố sinh ra của Gioan Tẩy Giả ( Lc 1, 5-25). Thánh Luca quyết định khỏi đầu tác phẩm của ngài bằng cách giới thiệu thầy tư tế Zaccaria trong đền thờ. Ngài rất có thể khởi sụ, ví dụ, bằng cách giới thiệu Đức Maria đang cầu nguyện cùng với các phụ nữ khác ở Nazareth, kế đến cho biết rằng người bà con của Mẹ là bà Elizabeth ( Lc 1, 36), một phụ nữ già nua và hiếm hoi. Nhưng Thánh Luca không làm như vậy, ngài đặc tâm chú ý vào Giêrusalem và vào đền thờ của ngài, hiểu ngầm cả vào cả dân chúng của miền thuộc hệ. Hành động như vậy với ý định gì? Nhiều chi tiếc của biến cố loan báo cho Zaccaria có liên hệ với quá khứ, với những gì đuọc Cựu Ước ghi lại, trong đó có những cuộc sinh nở phi thường: - biến cố thiên thần của Chúa xuất hiện và lòng kính sợ của con người trước sự mạc khải của Chúa, - sứ điệp từ trời và tiếp đến là một sự đặt thành vấn đề của con người hay sự con người yêu cầu cho thấy được dấu chứng rằng tất cả đều sẽ xảy đến như những gì được loan báo. Khuôn mẫu của những gì vừa kể, chúng ta có thể gặp được trong biến cố - mang thai Ismaele ( Gen 16, 7-13), - mang thai Isaac ( Gen 17-18), - mang thai Samson ( Jdc 13), Những yếu tố đó sẽ được lấy lại trong biến cố truyền tin cho Mẹ Maria. Chúng ta nên lưu ý rằng trong các biến cố được Cựu Ước ghi lại, cũng như các lần được Thánh Luca nói đến, đều là những cuộc đối thoại, trong đó yếu tố chính yếu là mạc khải. Ngoài ra lời loan báo cho sự sinh ra của Gioan Tẩy Giả có ý liên tưởng rõ ràng đến Abraham và bà Sarà, vợ ông: tuổi già nua còn được thêm vào tình trạng hiếm hoi ( Gn 16-17). Như Abraham ( Gen 15, 8), vị tư tế già nua Zaccaria xin thấy được một dấu hiệu: - " Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy, vì tôi đã già và nhà tôi cũng đã lớn tuổi " ( Lc 1, 18). Nhưng vì lý do gì mà vị thiên sứ cho rằng, Zaccaria đặt ra cùng một câu hỏi nhu Abraham, cũng tỏ ra thái độ không tin tưởng như Abraham? Theo một số học giả, thì Zaccararia đã biết được từ Thánh Kinh, sự hiếm hoi và tuổi già không phải là những gì cản trở đối với Thiên Chúa, mà trong quá khứ đã ban tặng con cái cho các tổ phụ. Theo những học giả khác, như chúng ta sẽ thấy trong phần bình luận một vài từ ngữ của cuộc đối thoại, đó là Zaccaria muốn nói lên liên quan đến phương diện thẩm mỹ. - " Thời vua Erode " : tức là Erode Đại Đế, cai trị trong gần 40 năm và chết đi vào năm thứ 4 trước Thiên Chúa Giáng Sinh. Bởi đó năm khởi đầu của lịch sử Kitô giáo ( và năm nay là năm 2012, kể từ đó) không trùng với năm Chúa Giêsu sinh ra, có lẽ đúng hơn là vào năm thứ 5 trước Thiên Chúa Giáng Sinh. Thánh Luca không có khả năng cho chúng ta biết chính xác thời điểm loan báo năm Gioan Tẩy Giả được mang thai, hay ngài thấy không cần gì phải cho biết chính xác. Nhưng ngài vẫn ý thức rằng mình đang thuật lại một biến cố đích thực, đã xảy ra trong một thời điểm và ở một nơi xác thực, với nhữn nhân vật có thực trong lịch sử Do Thái: - " Zaccaria ": ý nghĩa của tên ông có nghĩa là " Thiên Chúa nhớ đến ". Ngài thuộc về thé hệ tư tế thú 8, dòng họ Abia, một trong 24 người cháu của vị tư tế tiên khởi, Aronne ( 1 Cron 24, 10). - " Elisabeth ", tên của bà có nghĩa là " Thiên Chúa đã tuyên hứa ( sẽ cứu chúng ta ) ". Bà là một người bà con với Mẹ Maria, mặc dầu chúng ta không biết rõ được thứ bậc liên hệ đó như thế nào: * " Kià bà Elisabeth, họ hàng với bà, tuy đã già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai, bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng " ( Lc 1, 36). Hai vợ chồng Zaccaria - Elisabeth không có con. Câu mở đầu nầy làm cho chúng ta liên tưởng đến nhiều phụ nữ thời danh Do Thái, mắc phải nạn hiếm hoi trong một thời gian lâu: * Sara ( Gen 15, 3; 16, 1), * Rebecca ( Gen 25, 2), * Rachele ( Gen 29, 31), * Anna ( 1 Sam 1, 2). - " Cả hai ông bà đều là người công chính " , khác hẵn đối với những người Pharisêu, * " Chúa Giêsu bảo họ: " Các ông làm bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông, bởi lẽ điều cao trọng đối với người đời, lại là điều ghê tởm trước mạt Thiên Chúa " ( Lc 16, 15). Hai ông bà hằng luôn luôn tin cậy Thiên Chúa thực hiện những gì Người đã hứa và bởi đó ho luôn sẵn sàng để cho thánh ý Người hướng dẫn * " Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân " ( Act 3, 14), * " Ông ( Moisen ) tưởng các anh em ông sẽ hiểu rằng Thiên Chúa dùng tay ông để ban ơn cứu độ cho họ; nhưng họ thì không hiểu " ( Act 7, 25). - " Môt đoàn lủ dân chúng đông đảo " đợi ông, Zaccaria và lấy làm lạ sao ông ở lại trong cung thánh lâu như vậy " ( Lc 1, 21). Đoạn tường thuật vừa kể nhắc lại đây là buổi dâng hương kih chiều, đúng hơn là buổi tế tự ban sáng. - " Bỗng một sứ thần của Chúa " , đây là một hình ảnh quen thuộc của Cựu Ước ( Gen 16, 10; 22, 11.15.16; Ex 3, 2; Sam 14, 16). Cuộc tường thuật lại biến cố loan báo, dựa trên nguyên bản các lý do của những lần loan báo trong Cựu Ước: * thiên thần của Chúa, thái độ bối rối và lo sợ của con người trước sự hiện diện của sứ giả Thiên Chúa, thiên sứ trấn an có sự hiện diện của Chúa, lời đòi hỏi một dấu chứng. Đó là những yếu tố trong Cựu Ước thường luôn luôn đi liền với biến cố Thiên Chúa hiện ra cho con người. Và đó cũng là những gì chúng ta sẽ gặp lại trong biến cố truyền tin cho Mẹ Maria. Những tư tưởng song song với Cựu Ước vừa kể làm cho chúng ta khó đoán được đâu là nhân cội cốt lỏi lịch sử của tài liệu thần học đoạn Phúc Âm Thánh Luca. - " ... Đừng sợ ", từ ngữ vừa kể thường được dùng để nói lên động tác cứu độ của Thiên Chúa: * " Hỡi Abraham, đừng sợ, Ta là khiên che thuẩn đỡ cho ngươi, phần thưởng của ngươi sẽ rất lờn " ( Gen 15, 1), * " Mạnh bạo lên, can đảm lên ! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng rung khiếp, đừng sợ hãi, vì Thiên Chúa của ngươi sẽ ở với ngươi, bất cứ nơi nào ngươi đi tới " ( Js 1, 9), *" Hỡi các đảo, hãy lắng nghe tôi, mong các dân được thêm sức mạnh, hãy tiến lại gần và và lên tiếng nói ! " ( Is 41 1) * " Điều đó, ai đã thực hiện, ai đã làm nên? - Chính là Đấng từ nguyên thủy đã an bài cho các thời đại nối tiếp nhau " ( Is 41, 4). Các lời của thiên sứ lập lại công thức cong bố biến cố sinh nở cũng thường được dùng trong Thánh Kinh: - " Sứ thần của Chúa hiện ra với người vợ và nói với bà: " Nầy bà là người son sẻ và không sinh con, nhưng bà sẽ có thai và sinh một con trai " ( Jd 13, 3), - " Vì vậy chính Chúa Tối Cao sẽ ban cho các ông một dấu: nầy đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sinh con trai và đặt tên là Emmanuel " ( Is 7, 14). - " Gioan " , tên của ngài có ý nghĩa là " Yahvé đã tỏ ra cho thấy ơn huệ của Người " . Đó là danh tánh có ý nghĩa nói lên vai trò của Gioan trong chương trình cứu độ của Người. - " Vui mừng hớn hở " , đó là dấu chỉ thời đại của vị cứu độ: * " Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn loài hải vật " ( Ps 96, 11...), * " Chúa là vua hiển trị, hỡi địa cầu hãy nhảy mừng lên, vui đi nào ngàn muôn hải đảo...Được biết thế , Sion tưng bừng hoan hỷ; thành thị miền Giuda hớn hở nhảy mừng, vì những phán quyết của Ngài, lạy Chúa " ( Ps 97, 1.8), * " Vang vang ngoài miệng câu cười nói, rộn rã trên môi khúc nhạc mừng...Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khắp khởi vui mừng " ( Ps 126, 2.5), * " Dân Sion hãy reo hò mừng rỡ, vì giữa ngươi Đức Thánh của Israel quả thật là vĩ đại ! " ( Is 12, 6), * " Ngày ấy người ta sẽ nói: " Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng, bởi được Người cứu độ " ( Ps 25, 9). - " Vì em bé sễ trở nên cao trọng trước mặt Chúa ", từ ngữ tiền báo đó được dùng đến 23 lần trong Phúc Âm Thánh Luca và 13 lần trong Sách Tông Đồ Công Vụ, chỉ trừ một lần trong phúc Âm Thánh Gioan ( Jn 20, 30), không được nhắc đến tron các Phúc Âm còn lại. Điều vừa kể cho thấy Thánh Luca đã diễn giải và khai triển thêm Phúc Âm thời niên thiếu của Chúa Giêsu. - " Rượu lạt, rượu nồng em đều không uống ", em bé sẽ được khấn đặc biêt kiêng cữ ngay cả trước khi sinh ra: * " Thiên Chúa phán với ông Moisen: " Ngươi hãy nói với con cái Isarael và bảo chúng: bất cứ ai, nam hay nữ, đã khấn đặc biệt kiêng cữ để kính Chúa, thì nó phải kiêng rượu và men nồng, không được uống giấm chua từ chất men, không được uống mọi thứ nước nho, không được ăn nho tươi, cũng như nho khô... " ( Num 6, 1-21). Một đặc tính đặc biệt khác của người đã khấn là không được hớt tóc đi: * " Bà ( Anna ) khấn hứa rằng: " Lạy Chúa các đạo binh, nếu Ngài đoái nhìn đến nỗi khổ cực của nữ tỳ Ngài đây, nếu Ngài nhớ đến con và không quyên nữ tỳ Ngài, nếu Ngài cho nữ tỳ Ngài một mụn con trai, thì con sẽ dâng nó cho Chúa mọi ngày đời nó, và dao cạo sẽ không đụng tới đàu nó " ( 1 Sam 1, 11), * " Vậy xin anh làm như chúng tôi nói với anh đây: chúng tôi có bốn người đang phải giữ lời khấn, anh hãy đem theo và làm nghi lễ tẩy uế với họ, và đài thọ chi phí cho họ để họ có thể được xuống tóc..." ( Act 21, 23-26), Điều vừa kể không được đề cập đến trong trường hợp của Gioan Tẩy Giả. Có lẽ thánh Luca ở đây đã dùng một đoạn cũ hơn khi nói về Samson: * " Tất cả những gì bởi cây nho mà ra, thì bà không được ăn, cũng không được uốn rươu và thức có men; tất cả những gì không thanh sạch, thì không được ăn. Mọi điều tôi đã truyền, thì bà phải tuân giữ " ( Jud 13, 14). Cũng như có lẽ lời khấn hứa không được dùng chính xác lắm trong lịch sử, có lẽ với nhiều điều khấn hứa khác nhau như trong đời sống khắc khổ được thực hiện trong cộng đồng Qumran. - " Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã được tràn đầy Thánh Thần " , như vị ngôn sứ Geremia thứ hai: * Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trưóc khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân " ( Ger 1, 3). Điều vừa kể cho thấy rằng mọi động tác của Gioan Tẩy Giả đã được Thiên Chúa có sáng kiến tiền định và nâng đỡ. Bởi đó không ai khác thích hợp cho vai trò tiền hô của Chúa Giêsu hơn Giaon Tẩy Giả. " Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần " , từ ngữ Thánh Thần ở đây không có ý ám chỉ Ngôi Ba Thiên Chúa, mà là chính Thiên Chúa, Đấng đang tác động quyền lực cứu độ phi thường. - " Em sẽ đưa nhiều con cái Israel về với Chúa là Thiên Chúa của họ " , câu nói vừa kể có thể có ý nghĩa ám chỉ phận vụ tư tế để hoà giải dân chúng lại với Chúa hay liên quan đến chủ đề Xuất Hành, đến cuộc trở về đất hứa: * " Miệng nó nói lời chân thật và môi nó không nói lời gian ác ! Nó đi với Ta trên nẻo đường bình an và ngay thẳng; nó đã làm cho nhiều người cải tà quy chánh " ( Mal 2, 6 ), * " Mọi dân tộc sẽ khen các ngươi có phúc, vì các ngươi là mảnh đất xinh đẹp, Đức Chúa các đạo binh phán " ( Mal 3, 24). - " Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Elia ", theo truyền thống Do Thái ( Mal 3, 23) , sự trở lại của Elia phải đến trước và chuẩn bị cho thời gian của Đấng Cứu Độ. Gioan Tẩy Giả sẽ là Elia phải đến: * " Các môn đệ hỏi Người rằng :" Vậy sao các kinh sư lại nói Elia phải đến trước "? Người đáp. " Ông Elia phải đến để chỉnh đốn mọi sự ..." ( M 17, 10-23). * Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Moisen và ông Elia ..." ( Lc 9, 30). Điều vừa được đề cập cho thấy dường như thành phần dân chúng mà Thánh Luca đang nhằm đến, không có cách ăn ở các " vị cha ông " hiên ngang và độc lập, mà như " con cái " đạo đức và vâng phục. Đó là việc so sánh song song giữa cha ông ( bất tuân ) và con cái ( khôn ngoan công chính ). - " Làm sao tôi biết được điều đó ? " , câu hỏi của Zaccaria cũng như câu thắc mắc của Abraham: * " Ông Abrham thưa: Chúa coi, Chúa không ban cho con một dòng dõi, và một gia nhân của con sẽ thừa kế con. Và đây là lời Chúa phán với ông: " Kẻ đó sẽ không thừa kế ngươi, nhưng một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi ". Rồi Người đem ông ra ngoài và phán : " Hãy ngước mắt lên trời và thử đến các vì sao, xem có đếm nỗi không". Người lại phán. " Dòng dõi ngươi sẽ như thế đó " ( Gen 15, 3-5) Xin cho thấy một dấu chứng là điều hoàn toàn hợp với cách ăn ở trong Thánh Kinh: - " Ông Abraham thưa: " Lạy Chúa, làm sao mà biết là con sẽ được đất nầy làm sở hữu " ( Gen 15, 8); Jud 6, 36...; 2 Re 20, 8). Một đội khi chính Thiên Chúa cho biết dấu chứng: * " Người phán: " Ta sẽ đi với ngươi. Và đây là dấu cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi: khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai Cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi nầy " ( Ex 3, 12), * " Ngươi cứ xin Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho một dấu dưới âm phủ hoặc trên chốn cao xanh " ( Is 7, 11). Nhưng hình phạt do lòng nghi ngờ đó đối với Zaccaria chỉ là hình phạt tạm thời và được giảm thiểu đi bởi niềm hân hoan trông đợi đứa con: * " Và nầy đây ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, bởi vì ông đã không tin lời tôi, là những lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời đúng buổi " ( Lc 1, 20). Chúng ta cũng có cảm tưởng rằng những gì xảy ra cho Zaccaria vừa kể có ý ám cchỉ đến niềm vui quá to lớn ngất trí, để có thể diễn tả được bằng lời nói: * " Nghe những lời nói đó, tôi cúi mặt xuống đất, không nói nên lời " ( Dan 10, 15...). * " Các ông còn chưa tin, vì mừng quá và đang ngỡ ngàng , thì Người hỏi: " Ở đây anh em có gì ăn không " ( Lc 24, 11) - " Ông trở về nhà ", đoạn cuối của biến cố loan tin cho Zaccaria cũng tương tợ như đoạn tường thuật về bà Anna: * " Sáng hôm sau, họ dậy sớm và sụp lạy trước nhan Đức Chúa , rồi trở về nhà ở Rama. Ông Elkana ăn ở với bà Anna, vợ mình, và Thiên Chúa đã nhớ đến bà..." ( 1 Sam 1, 19...). Zaccaria sống trong vùng thuộc chi tộc Giuda, theo truyền thống cỗ thì nhà của ông ở " Ain Karim ", khoảng 45 cây số cách Giêrusalem. - " Bà ẩn mình trong năm tháng ", có lẽ bà Elisabeth ẩn mình vì lý do chồng bà, ông Zaccaria bị câm nín, nhứt là vì lý do một niềm vui to lớn không thể tưởng tượng như vậy đối với bà, sẽ sinh được một cậu con trai: * Bà tự nhủ: " Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất đi khổ nhục tôi phai chịu trước mặt người đời " ( Lc 1, 25) - " Nỗi khổ nhục ", theo tâm thức của con người lúc đó, việc không sinh con đẻ cái được coi như là sự nhục nhã, một hình phạt bị Chúa giáng xuống cho: * " Bà ( Rachel ) có thai và sinh một con trai. Bà nói: " Thiên Chúa đã cất đi nỗi khổ nhục của tôi " ( Gen 30, 23) * " Ông Elkana, chồng bà, bảo bà: Anna, sao em khóc? Sao em không chịu ăn ? Sao lòng em rầu rĩ vậy? Đối với em, anh lại không hơn mười đứa con trai sao? " ( 1 Sam 1, 8), * " Bà khấn hứa rằng: " Lạy Chúa các đạo binh, nếu Ngài nhìn đến nỗi khổ cực của nữ tỳ Ngài đây, nếu Ngài nhớ đến con và không quên nữ tỳ Ngài, nếu Ngài cho nữ tỳ Ngài một mụn con trai, thì con sẽ dâng nó cho Chúa mỗi ngày đời nó, và dao cạo sẽ không đụng tới đầu nó " ( 1 Sam 1, 11).