Tham Khảo >>  Tin Mừng

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Chúa Phục Sinh ( Mt 28, 1-20). Nhìn vào Tân Ước, chúng ta khám phá ra rằng chủ đề Phục Sinh được tường thuật hiện diện khắp đó đây, dưới nhiều hình thức khác nhau: bằng lời giảng dạy, bằng giáo lý, phụng vụ, tường thuật kể chuyện. Điều vừa kể cho thấy đức tin vào Chúa Phục Sinh thâm nhập vào mọi hoạt động trong đời sống Giáo Hội. Điều vừa kể rất dễ hiểu: đó là chính nhờ khởi đầu vào biến cố Chúa Phục Sinh, Giáo Hội hiểu được Chúa Giêsu và hiểu các dòng tường thuật của các Phúc Âm khác nhau. Điều đó có nghĩa là các tác giả Phúc Âm cho phép mình có nhiều tự do hơn đối với việc thường thuật lại biến cố Khổ Nạn. Các Phúc Âm đặc tâm chú ý hơn về phương diện thần học đối với biến cố Phục Sinh, mặc dầu tất cả đều quyết liệt xác nhận thực tế và các yều tố lịch sử chính xác. Các điều mà các tác giả Phúc Âm đặc tâm chú ý , mặc dầu mỗi người có phương thức cá biệt để viết lên, có vẻ như có thể quy tóm về hai yếu tố: - yếu tố nhằm biện giáo ( apologeticus), tức là nâng cao đức tin vào Phục Sinh như là một thực thể lịch sử hiện thực, - và nhằm mục đích thần học( theologicus) đến nhấn mạnh rằng Phục Sinh là một thực thể cứu độ cho tất cả chúng ta. Nằm trong giữa viễn ảnh lưỡng diện đó, chúng ta có thể nhận thấy được tính cách đặc sắc của Thánh Matthêu. 1 ) Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ ( Mt 28, 1-15). Đối với Thánh Matthêu, biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu là một biến cố có tính cách siêu nhiên: không ai được thấy và có thể thấy được. Thánh Matthêu là tác giả dành cho biến cố nầy một số các chi tiết nhiều hơn hết so với các Phúc Âm khác. Khởi đầu, ngài làm cho chúng ta có cảm tưởng rằng các phụ nữ được thấy tận mắt biến cố. Sáng sớm các nàng đang đi về phía mộ, không phải để xức thuốc thơm hay cuốn tấm quấn xác Chúa Giêsu, như Thánh Marco và Luca kể lại, mà chỉ để " viếng thăm " Người: - " Sáng ngày sabat, khi ngày thứ nhứt trong tuần vừa ló dạng, bà Maria Magdala và một bà khác cũng tên là Maria đi viếng mộ " ( Mt 28, 1). Thật vậy, Thánh Matthêu đã cho biết tin rằng quân lính canh gác mộ ngăn cản bất cứ ai đi vào mộ, bởi đó các phụ nữ không thể nào đi vào mộ để xức thuốc thơm cho tóc trên đầu Người và thấn xác Chúa Giêsu được. Thánh Matthêu cũng không chỉ tường thuật lại, như Thánh Marco, rằng tảng đá đã bị lật ra, mà còn cho biết rằng " đã có một cuộc động đất lớn "" một thiên thần Chúa từ trời xuống, diện mạo sáng chói ": - " Thình lình đất rung chuyển dữ dội, thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăng tản đá ra, rồi ngồi lên trên ; diện mạo người như ánh chớp và y phục trắng như tuyết " ( Mt 28, 3). Đó là những yếu tố tượng trưng, thoát xuất từ biến cố Chúa hiện ra trong thời cánh chung, được đề cập đến nhứt là trong sách tiên tri Daniele: - " Tôi đang nhìn thì thấy đặt những chiếc ngai, và một Đấng Lão Thành an toạ. Áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người tựa lông chiên tinh tuyền..." ( Dn 7, 9). - " Một người mặc áo vải gai, lưng thắt đai vàng U - phát, thân mình giống kim lục thạch, dung mạo ví như ánh chớp, đôi mắt tựa ngọn đưốc hồng...Chỉ còn lại có mình tôi, và tôi đã thấy thị kiến lớn ấy. Tôi không còn sức nữa...Tôi nghe tiếng ngưòi vang dội, tôi liền ngất xỉu. Vừa nghe thấy tôi liền ngất xỉu, chúi mặt xuống đất " ( Dn 10, 6-9). Tất cả những chi tiết đó đều có liên quan đến các chủ đề Thiên Chúa hiện ra và cuộc phán xét. Với những chi tiết vừa kể, Thánh Matthêu cung hiến cho chúng ta một phương thức để đọc hiểu và mở ra cho chúng ta ý nghĩa chính của phục sinh: động tác cuối cùng ngày cánh chung của cứu độ đòi buộc con người phải có thái độ trả lời bằng đức tin. Thiên thần mạc khải cho biết ý nghĩa tích cực và cứu rỗi của thập giá Con đường tình yêu mà Chúa Kitô đã can đảm và cương quết trải qua không phải là vô ích khác với cách suy luận của con người. Đó là con đường dẫn đến đời sống và thiết lập một thế giới mới. Sự phán đoán của Thiên Chúa khác biệt với lối suy tư của con người. Trong cùng một đoạn tường thuật, Thánh Matthêu cũng ghi lại cả cuộc Chúa Phục Sinh hiện ra với các phụ nữ . Chúa Giêsu chào hỏi các nàng bằng cách kêu gọi các nàng hãy vui mừng: - " Bấy giờ Chúa Giêsu nói với các bà: Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilea. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó " ( Mt 28, 10). Các nàng liền qùy xuống trước mặt Chúa Giêsu, với thái độ thờ lạy Người và nhận được lệnh Người qua sứ mạng phải về báo lại cho các môn đệ, được Người gọi là " anh em " như trong các dịp khác( Mt 12, 49; 25, 40) 2) Sứ mạng của các Tông Đồ ( Mt 28, 16-20). Phúc Âm Thánh Matthêu được kết thúc bằng ba chủ đề: mãnh lực của Con Người, sứ mạng phổ quát của Giáo Hội và sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong cộng đồng. Các lời sau cùng nầy của Thánh Matthêu hướng dẫn chúng ta vào thời gian của Giáo Hội. Ý nghĩa của các câu nói đó có chủ đích nói về Giáo Hội, chớ không nhằm Kitô luận. Thật vậy, sự hiện ra của Chúa Giêsu chỉ được đề cập phớt qua thôi, " và khi thấy Người các ông bái lạy ..." ( Mt 28, 17). Không phải nhằm đề cập đến biến cố phục sinh, mà Thánh Matthêu muốn đặt trọng tâm nhấn mạnh. Thánh tác giả Phúc Âm không có chủ đích thuyết phục thực thể của biến cố phục sinh ( bởi vì trước đó ngài đã đề cập đến rồi), mà cho thấy rằng từ biến cố phục sinh mà nẩy sinh ra đức tin của Giáo Hội. Chúa Giêsu hoàn toàn tỏ mình ra ở Galilea, nơi mà trước đó các môn đệ đã được sai đi; - " Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilea trước anh em " ( Mt 26, 32). - " Các bà đến và xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với các môn đệ Người thế nầy: " Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilea trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy Người. Đó, tôi xin nói cho các bà hay. Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa Giêsu hay. Bỗng Chúa Giêsu đón gặp các bà và nói: Chào chị em ! Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người " ( Mt 28, 7-9). Tại sao ở Galilea? Có lẽ để cho mọi người biết rằng Giêrusalem không còn là trung tâm phượng tự và tôn giáo nữa. Từ đó suy ra, đến với Thiên Chúa, đến đền thờ đích thực, không còn phải là đến một nơi có khuôn viên đóng kín ; - " Này chị, hãy tin tôi, đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi nầy hay tại Giêrusalem...nhưng giờ đây những người thờ phượng đích thực, sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật " ( Jn 4, 21-23), nơi con người Chúa Kitô. Việc mạc khải hoàn hảo sẽ được thực hiện " trên núi mà Chúa Giêsu đã chỉ định " cho các ông: - " Họ sẽ được thấy Thầy ở đó " ( Mt 28, 10b). Chi tiết đặc biệt đó không được Thánh Matthêu báo cho chúng ta biết, ngoài câu nói có ý nghĩa tổng quát vừa kể. Chúng ta không biết Chúa Giêsu chỉ định cho ngọn núi nào trước khi Người bị khổ nạn. Ngọn núi chỉ nhắc lại ý nghĩa tượng trưng thôi: trên núi là nơi được Chúa mạc khải cho: - Trong Cựu Ước, việc mạc khải được thể hiện trên núi Sinai. - Việc mạc khải của Chúa Giêsu ( vị Moisen mới ), được thể hiện trên núi với bài giảng Tám Mối Phước Thật ( nơi người thuyết giảng những gì Người muốn dạy bảo và các điều đòi buộc luân lý). Lời nói trước tiên của Chúa Giêsu Phục Sinh là một điều mạc khải: - " Thầy đã được trao toàn quyền trên trời, dưới đất " ( Mt 28, 18). Với câu tuyên bô vừa kể, Chúa Giêsu cho biết lời ngôn sứ Daniele đã được thực hiện hoàn tất: - " Trong những thị kiến ban đêm, tôi mãi nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Ngưòi tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện. Đấng Lão Thàng trao cho Người quyền thông trị, vinh quang và vương vị; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong " ( Dn 7, 13-14). Vương vị phổ quát nầy của Chúa Giêsu Phục Sinh và nguyên cội từ đó phát xuất ra sứ mạng phổ quát khắp nơi. Cả lời tuyên bố ngắn ngủi của Chúa Giêsu được dành cho tư tưởng thực hiện hoàn tất và phổ quát. Làm cho trở thành môn đệ giữa muôn dân, không hẳn bắt buộc mọi người đều phải trở lại đạo Kitô giáo. Điều quan trọng là dân Chúa hiện diện " giữa muôn dân ". Đó là định nghĩa tổng hợp tóm gọn và chính đáng nhứt của đời sống Kitô giáo: người tín hữu Chúa Kitô là một môn đệ. Đây không phải là nói lên một sứ điệp, mà là thiết lập nên một mối tương giao gắn chặt và cá nhân với Chúa Kitô: người môn đệ gắn chặt mình vào con người của Vị Thầy và gắng công chia xẻ đồ án sống của Người. Người môn đệ không thuyết giảng những gì của chính cá nhân mình, mà " tất cả những gì Người đã dạy bảo cho " : - " ...dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em " ( Mt 28, 20) Phúc Âm Thánh Matthêu kết thúc như những gì đã được khởi đầu. Lúc khởi đầu chúng ta đã được cho biết tên Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, như những gì đã được tiên tri Isaia loan báo: - " Nầy đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, con trẻ sẽ được đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta " ( Mt 1, 23). Giờ đây Phúc Âm Thánh Matthêu kết thúc bằng cách bảo đảm cho chúng ta rằng lời tiên tri đó đã trở thành thực thể vĩnh viễn: -" Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20b). Nói cách khác, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục là Emmanuel, " Thiên Chúa ở cùng chúng ta ". ( Hết ).

 

Chịu đóng đinh và chết của Chúa Giêsu ( Mt 27, 33-61). Thánh Matthêu viết lại các biến chuyển nối tiếp theo Phúc Âm Thánh Marco. Bởi đó, ý nghĩa nền tảng sâu xa đoạn tường thuật của ngài cũng đồng nghĩa như trong Phúc Âm Thánh Marco. Tuy nhiên, theo thói quen của ngài, ngài viết như đọc lại và chú giải thêm. Bởi đó chúng ta có thể nói là không có một đoạn tiếp nối nào được tường thuật lại, mà không có ghi chú thêm. Để xác tín rằng đoạn tường thuật của Thánh Matthêu cũng giống như những gì Thánh Marco đã viết ra trước đó, chúng ta chỉ cần có một cái nhìn tổng quát cả đoạn: Chúa Giêsu đang hoàn toàn bị bỏ rơi, bị các người qua đường mắng nhiết, bằng cách lập lại lời tố cáo của các nhân chứng gian trá trong phiên toà: - " Kẻ qua lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: " Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào ! " ( Mt 27, 39-40). Các kinh sư và các kỳ lão nhục mạ Người, trong các câu nhục mạ của họ cũng như của những người qua đường vọng lại chính tiếng nói của qủy Satan đã thách thức Người trong sa mạc: - " Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho những hòn đá nầy hóa bánh đi...Nếu ông là Con Thiên Chúa thì gieo mình xuống đi...Ta sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy ta " ( Mt 4, 1-11). Cuộc hành trình lên đồi núi sọ chỉ được nói đến bằng một câu ngắn ngủi: - " ..., rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá " ( 27, 31b). Thánh Matthêu cũng kể lại cuộc gặp gỡ với Cireneo, nhưng bỏ đi những chi tiết không quan trọng: - " Đang đi ra, thì chúng gặp một người Cireneo, tên là Simon, chúng bắt ông vác thập giá của Người " ( Mt 27, 32), như những gì Thánh Marco đã kể , " ...là thân phụ của Alexandro và Rufo, đang ở miền quê lên...Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Chúa Giêsu " ( Mc 15, 21). Tuy nhiên Thánh Matthêu vẫn giữ lại thái độ áp bức của bọn lính, bằng cách giữ lại động từ " bắt ông vác thập giá đỡ ", khiến cho người đọc đoạn tường thuật đúng theo nhãn quang thực thể, cho chúng ta khỏi lầm Cireneo là bóng dáng của một người môn đệ nào đó. Biến cố gặp Cireneo không được Phúc Âm Thánh Marco nhắc đến. Nhưng Thánh Matthêu tường thuật lại là để gợi ý thế nào là " người môn đệ phải vác thập giá mình mà theo Chúa Giêsu ": - " ...chúng bắt ông phải vác thập giá của Người " ( Mt 27, 32). Nhưng mục đích chính của đoạn tường thuật là nói lên trạng thái ngã qụy của Chúa Giêsu, kiệt sức đến nỗi khiến cho quân lính ép buộc một người qua đường phải trợ lực và vác thay cho Người. Khi đến đỉnh đồi Calvario, một người nào đó lấy rượu pha với giấm đưa cho Người uống. Phúc Âm Thánh Marco cho đó là mộc dược, - " Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy đưa lên cho Người uống mà nói: " Để xem ông Elia có đem hắn xuống không " ( Mc 15, 26). Trong khi đó thì Thánh Matthêu cho biết thức uống đó là rượu pha mật đắng: - "...chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người chỉ nếm một chút mà không chịu uống " ( Mt 27, 34). Thay đổi chi tiết đó, Thánh Matthêu có ý đặt biến cố Chúa Giêsu trên thập giá đã được Thánh Vịnh 69 báo trước theo đồ án cứu độ của Thiên Chúa: - " Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng; con khát nước, lại cho uống giấm chua " ( Ps 69, 22). Chúa Giêsu chỉ " nếm chớ không uống ". Tại sao Thánh Matthêu tường thuật lại cả chi tiết đó? Đó là một loại thức uống, được người thân cận động lòng thương, đem lên tặng người bị kết án, để làm cho đương sự bớt đau đớn. Đây là một cử chỉ thương hại. Và Chúa Giêsu đón nhận nhận lòng tốt lành đó, Người " nếm một chút " thức uống thương hại đó. Tuy nhiên Người muốn phó mình trọn vẹn trong tay Chúa Cha và hoàn toàn sáng suôt dâng hiến mình cho loài người, bởi đó Người không uống loại thuốc mê đó. Trong Phúc Âm Thánh Marco, biến cố đóng đinh chỉ được diễn tả bằng một động từ, - " Chúng đóng đinh Người vào thập giá " ( Mc 15, 24). Trong khi đó lại còn diễn tả một cách ngắn gọn hơn nữa, chỉ cần bằng một phân từ quá khứ " đóng đinh " ( participe passé): - " Đóng đinh Người vào thập giá xong ( ... quand ils l'eurent crucificié) " ( Mt 27, 35) Viết lên ngắn gọn như vậy, Thánh Matthêu muốn cho chúng ta không phải chú ý vào động tác gây đau đớn " đóng đinh ", mà vào Đấng Chịu Đóng Đinh, nơi mà ngài liên tưởng đến câu tiên tri trong Thánh Vịnh 22 đã được thực hiện: - " Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ ruồng bỏ con sao ? " ( Ps 22, 2). Lý do tại sao Chúa Giêsu bị đóng đinh được Thánh Matthêu đề cập đến một cách long trọng: - " Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái " ( Mt 27, 29). Trong khi đó thì Phúc Âm Thánh Marco chĩ ghi lại một cách đơn sơ hơn: - " Bản án xử tội Người viết rằng: " Vua người Do Thái " ( Mc 15, 26). Để diễn tả những lời chữi mắng Chúa Giêsu, Thánh Matthêu cũng như Thánh Marco đều dùng đến ba động từ khác nhau, có phần đồng nghĩa với từ ngữ " phạm thượng ": - " Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu, vừa nói: " Mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! " ( Mt 27, 39). - " Các thượng tế và kinh sư chế giễu Người mà nói: " Hắn cứu thiên hạ được, mà chẳng cứu nổi mình." ( Mt 27, 41). - " Cả những tên cướp cùng bị đóng đinh với Người cũng sỉ vả Người " ( Mt 27, 44). Tất cả những kẻ từ chối Người đều xác nhận rằng người viện cớ mình là Con Thiên Chúa. Như vậy, các tư tế, mặc dầu vô ý, cũng nói lên chân lý sâu thẩm của Chúa Giêsu: - " Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn ! Vì hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa " ( Mt 27, 43). Chúa Giêsu trên thập giá giữa hai tên cướp gian manh cũng bị đóng đinh như Người: - " Cùng bị đóng đinh với Người, có hai tên cướp, một bên phải, một bên trái " ( Mt 27, 38). Đang lúc sinh tiền, Người bị chế giễu và tố cáo là " bạn hữu với bọn thu thuế và quân tội lỗi " ( Mt 11, 19). Và giờ đây đang cùng chết với họ. Thánh Matthêu ghi lại cái chết của Chúa Giêsu, dựa vào cũng chính những đoạn văn Cựu Ước như Thánh Marco ( Ps 68 và 22; Is 53). Chúa Giêsu kêu lớn tiếng lên: - " Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con ? " ( Mt 27, 46). Câu lớn tiếng kêu van của Chúa Giêsu được nhiều nhà chú giải cho rằng là tiếng kêu tuyệt vọng. Nhưng không phải như vậy, để biện minh cho tư tưởng các chú giải thất vọng đó, chúng ta chỉ cần nhớ lại cả đoạn tường thuật về cuộc khổ nạn đều đặt trên hình ảnh của người chân chính chịu đau khổ. Không ai có thể nghi ngờ rằng lời kêu lên lớn tiếng của Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện: một lời câu nguyện bằng la thét, nhưng vẫn là lời cầu nguyện ! Nhưng khác với nhiều lời cầu nguyện trong Cựu Ước, Chúa Giêsu - không kêu xin Thiên Chúa hãy trả thù phục hận - hay nói lên nỗi bực bội công chính cho chính mình, - mà là lời kêu xin Thiên Chúa xin ở với Người, ở bên cạnh Người. Lời kêu van của Chúa Giêsu trên thập giá chỉ van xin với một mình Thiên Chúa, nhưng van xin không phải để được giúp đỡ, mà van xin Thiên Chúa, xin Thiên Chúa ở bên cạnh Người. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là câu hỏi tại sao người vô tội lại gặp phải sự đau khổ, chân lý bị thất bại, tình yêu thương lại trở thành vô ích. Câu hỏi của Chúa Giêsu là câu hỏi của con người, chia xẻ với số phận con người về câu hỏi căn bản nầy. Con Thiên Chúa đã tỏ ra hoàn toàn liên đới với con người trong cuộc sống trần thế của họ. Như trong Phúc Âm Thánh Marco, Phúc Âm Thánh Matthêu cũng kể lại Chúa Giêsu với một tiếng kêu lên, khi Người tắt thở, phó thác linh hồn: - " Chúa Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi trút linh hồn " ( Mt 27, 50). Để diễn tả cái chết, Thánh Marco dùng động từ " tắt thở " ( Mc 15, 37), trái lại Thánh Matthêu dùng từ ngữ êm dịu hơn, " phó thác linh hồn " . Linh hồn là làn hơi thở của đời sống được Thiên Chúa ban cho, khi Người dựng nên con người, - " ...Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật " ( Gen 2, 7). và dùng động từ " afiemi " có nghĩa là "đưa ra cho, giao trả cho ". Dĩ nhiên cả thể thức diễn tả của Thánh Matthêu cũng nói lên cái chết của Chúa Giêsu, nhưng diễn tả theo hình thức tôn giáo. Con người hoàn trả lại cho Thiên Chúa hơi thở mà mình nhận được, được Người ban tặng cho lúc Người dựng nên mình. Trong đoạn tường thuật về cuộc chịu đóng đinh, Thánh Matthêu đã tặng cho chúng ta hai phương thức để đọc hiểu đoạn Phúc Âm của ngài: cách sắp xếp thứ tự các diễn biến và các phần liên tưởng đến Thánh Kinh. Vào phần cuối, ngài còn tặng cho chúng ta một phương thức khác, có lẽ quan trọng hơn cả: ánh sáng liền toả ra, sau khi bóng tối bắt đầu tràn ngập. Hai dấu chứng đó chứng tỏ cái chết của Chúa Giêsu là cái chết cứu rổi, - " Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai, từ trên xuống đất " ( Mt 27, 51), và sự nhận biết bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu từ các người dân ngoại: - " Thấy động đất và sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Chúa Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: " Quả thật ông nầy là Con Thiên Chúa " ( Mt 27, 54). Dấu màn Đền Thờ bị xé đôi Phúc Âm Thánh Matthêu vẫn trích lại cùng biến cố cùng với Phúc Âm Thánh Marco, chỉ khác một điều là trong Phúc Âm Thánh Matthêu biến cố màn bị xé đôi xảy ra đồng thời với động đất, làm núi đá vỡ tan, và kẻ chết sống lại: - "...màn trướng Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mã bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghĩ được trỗi dậy " ( Mt 27, 51- 52). Câu Phúc Âm vừa kể cho chúng ta hiểu thời gian của Đền Thờ đã hết , nhưng đồng thời cũng mở ra cho con người một tương lai mới, " xác của nhiều vị thánh đã an nghĩ được trỗi dậy ". Dấu chứng thứ hai của Thánh Marco được Phúc Âm Thánh Matthêu thay đổi rất nhiều: đó là lời tuyên xưng của vị đại đội trưởng : - " Quả thật ông nầy là Con Thiên Chúa " ( Mt 27, 54 b). Không những chỉ có viên đại đội trưởng, mà cả đội ngủ canh giữ đều nhìn nhận Con Thiên Chúa Đấng đang bị đóng đinh. - " Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Chúa Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: " Quả thật ông nầy là Con Thiên Chúa " ( Mt 27, 54). Trong Phúc Âm Thánh Marco dấu chứng mạc khải cho biết điều làm cho viên đại đội trưởng biết được căn tính của Chúa Giêsu chính là cái chết của Người: - " Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Chúa Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: " Quả thật, người nầy là Con Thiên Chúa " ( Mc 15, 39). Trong Phúc Âm Thánh Matthêu trái lại, điều làm cho ông tuyên xưng căn tính Con Thiên Chúa của Chúa Giêsu là " động đất và các sự việc xảy ra " ( id.) Trong Phúc Âm Thánh Marco chính " sự yếu đuối " của Chúa Giêsu mạc khải cho con người biết quyền năng của Thiên Chúa. Trong Phúc Âm Thánh Matthêu ý nghĩa bị đảo ngược: quyền năng của Thiên Chúa cho thấy phẩm tính yếu hèn của thập giá. Nhưng ý nghĩa cuối cùng cũng trùng hợp nhau: phẩm tính yếu hèn của thập giá che giấu bên dưới đại biến cố cứu rổi cho con người. Động đất và sự sống lại trong văn từ các ngôn sứ và khải huyền là hai dấu chỉ cỗ điển cho thấy biến cố của một thế hệ mới. Thập giá là một đại biến cố canh tân và đảo ngược tất cả: đây là sứ điệp, mà Thánh Matthêu, dựa vào các hính ảnh Thánh Kinh, mà các đọc giả tác phẩm của ngài đều có thể khám phá ra được, để thông báo cho chúng ta. Không những lằn ranh thiên thánh của tôn giáo thời cỗ bị đổ vỡ ( " màn trướng của đền thờ " ) chia tách những người gần với Thiên Chúa cách xa những người xa lạ. Nhưng nhờ biến cố đổ vỡ đó làm nảy sinh ra một nhân loại mới ( mồ mã bật tung và các người chết trỗi dậy ). Tất cả đều nói lên thập giá là thời điểm của một thế giới cũ bị sụp đổ, để dành chỗ cho một thế giới mới. Tư tưởng vừa kể của Thánh Matthêu được ngài liên tưởng đến Thánh Kinh khi ngài viết ra những câu Phúc Âm vừa kể, ví dụ như: - " Bấy giờ Người phán với tôi: Hỡi con người, các xương đó chính là toàn thể nhà Israel. Nay chúng vẫn nói: Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời! ". Chính vì thế ngươi hãy tiên sấm, hãy nói với chúng: Đức Chúa là Chúa Thượng phán như sau: Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các người lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Israel. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. Ta sẽ đặt Thánh Thần của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa " ( Ez 37, 11-14). Đó chính là những gì xảy ra dưới chân thập giá: mồ mã được mở tung, người chết sống lại và Đức Chúa đã được nhận biết. Nhưng điều khác biệt là ở đây được nhận diện, được biết, là Chúa Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh. Thập giá là thời điểm mà thế giới mới được nảy sinh. Và sự sống lại không phải chỉ là sự sống lại của Chúa Giêsu, mà của cả chúng ta. Trong sự sống lại của Chúa Giêsu có chứa đựng sự sống lại sau cùng mọi người chúng ta và cả thế giới đều có liên hệ. Thân xác Chúa Giêsu được đặt vào mộ của một người môn đệ khá giả, ông Giuse Arimatea. Các nhân chứng của việc chôn cất không phải chỉ có một mình ông Giuse Arimatea và các phụ nữ , mà còn có cả đội ngũ quân lính, được cắt đặt để canh giữ ngôi mộ, theo lời yêu cầu của người Do Thái. Ngày áp " Parasceve " là ngày hôm trước hay ngày chuẩn bị ngày Sabat ( Thứ Bảy ). Với tiểu tiết đề cập đến trong việc chôn cất, chỉ có Phúc Âm Thánh Matthêu nói đến, thánh tác giả Phúc Âm muốn nhấn mạnh đến yếu tố chắc chắn không ai có thể chối cãi của cuộc Phục Sinh. Trong biến cố quân lính canh bên mộ Chúa Giêsu, - " Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pharisêu kéo nhau đến ông Pilato và nói: " Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: " Sau ba ngày Ta sẽ trỗi dậy". Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng nầy sẽ còn tệ hại hơn trước " ( Mt 27, 62-64), Thánh Matthêu cho biết trong dân chúng đang loan truyền một một ý định đầy thách thức rõ rệt. Ngài viết lên đoạn văn trong bối cảnh đang có tiếng đồn cho rằng xác bị ăn cắp mất: - " Các thượng tế liền họp với các kỳ mục ; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn và bảo: Các anh hãy nói như thế nầy: Ban đêm, đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác" ( Mt 28, 13). Đó là những gì được loan truyền rộng rãi trong dân chúng, như Thánh Matthêu cho biết: - " Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ day. Câu chuyện nầy được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay " ( Mt 28, 15). Định ý tranh cải thách thức đó được dùng làm bối cảnh cho cả đoạn Phúc Âm về cái chết của Chúa Giêsu: - " Vậy xin quan lớn truyền lính canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy...Thế là họ ra đi canh giữ mộ, niêm phong tẳng đá và cắt lính canh mộ " ( Mt 27, 62-66). Và Thánh Matthêu cũng cho biết về phần cuối là lính canh được yêu cầu cho rằng ngôi mộ bị lục soát, đánh cắp: - " ...Các anh hãy nói thế nầy: Ban đêm, đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đến lấy trộm xác " ( Mt 28, 13b). Nhưng thực tế khác hẵn: lính canh được cắt canh giữ ngôi mộ để tránh khỏ bị lục xoát, đánh cắp, thì chính họ lại bị bắt buộc phải là những nhân chứng cho cuộc sống lại: - " Thình lình đất rung chuyển dữ dội; thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo Người như ánh chớp và y phục Người trắng như tuyết. Thấy Người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi " ( Mt 28, 4). Chính họ là những người chạy đi báo cho các thượng tế biết điều đã xảy ra: - " Các bà đang đi, thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra " ( Mt 28, 11). Với những đoạn văn vừa kể, Thánh Matthêu làm sáng tỏ sự thật về biến cố Phục Sinh và đồng thời cũng cho biết quyền lực Do Thái đã từ chối Người như thế nào, họ vẫn tiếp tục từ chối với ác ý, coi thường thái độ bêu xấu, sỉ nhục và đút lót, hối lộ.

 

Chúa Giêsu trước tổng trấn Pilato ( Mt 27, 1-32 ). Thánh Matthêu không tường thuật lại phiên toà trước quyền lực Roma liền sau phiên xử án Do Thái. Xen vào giữa hai phiên toà đó là đoạn kể lại rộng rãi cuộc tự vận thắt cổ của Giuda (Mt 27, 3-10). Vị trí của đoạn tường thuật nầy không căn cứ vào nền tảng thời gian trước sau nào cả, nhưng Thánh Matthêu có ý dùng để làm sáng tỏ phiên toà Do Thái trước đó, cũng như phiên toà Roma kế đến. Thánh Matthêu có ý chứng minh các phiên toà vừa kể đều bất công, không có gì chính đáng, sự phản bội và chính Giuda là người đầu tiên xác nhận điều đó: - " Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến cho Người phải chết oan " ( Mt 27, 4 ). Và cả các tư tế cũng chấp nhận điều đó: - " Nhưng các ông đáp: Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh...Các thượng tế lượm lấy số bạc ấy mà nói: " Không được phép bỏ vào qũy Đền Thờ , vì đây là giá máu ! " ( Mt 27, 4b- 6). Nhưng kể cho biết phiên xử án Chúa Giêsu là phiên toà bất công thôi cũng chưa đủ. Hiểu như vậy, chưa phải là cách hiểu rõ sâu đậm ý nghĩa của đoạn tường thuật. Bởi đó Thánh Matthêu còn thêm cho biết phiên toà bất công đó nằm trong đồ án của Thiên Chúa và ứng nghiệm những gì Thánh Kinh đã viết trước: - " Như vậy là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia: Họ đã lượm lấy ba mươi đồng bạc, tức là cái giá mà số con cái Israel đã đặt, khi đánh giá Người. Và họ lấy số bạc đó mà mua Thửa Ruộng Ông Thợ Gốm, theo những gì Chúa đã truyền cho tôi " ( Mt 27, 9-10). Hiều như vậy là hiểu được ý nghĩa sâu đậm của đoạn tường thuật. Không phải dân Do Thái phán xét Chúa Giêsu, mà chính Chúa Giêsu phán xét dân Do Thái: sự phản bội đổ xuống trên đầu kẻ phản bội: - " Giuda ném số bạc vào Đền Thờ, rồi ra đi thắt cổ " ( Mt 27, 5 ). - " Toàn dân đáp lại: " Mấu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi " ( Mt 27, 25 ). Đoạn tường thuật phiên toà xử án Chúa Giêsu trước tổng trấn Pilato diễn giải rộng rãi chủ đề vương tước của Chúa Giêsu: bởi lẽ tước hiệu " Vua Dân Do Thái " xuất hiện ngay từ lúc đoạn tường thuật khởi đầu và ở vào đoạn kết: - " Chúa Giêsu bị điệu ra trước mặt tổng trấn; tổng trấn hỏi Người: " Ông là vua dân Do Thái sao? Chúa Giêsu trả lời: Chính ngài nói đó " ( Mt 27, 11). - " Chúng lột áo Người ra, khoác cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miệng, đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Người một cây sậy. Chúng qùy gối trước mặt Người mà nhạo rằng: Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái " ( Mt 27, 28-29). Thánh tác giả Phúc Âm không để mất cơ hội để nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu vô tội. Chính bà vợ của tổng trấn khuyên ông đừng nhúng tay vào: - " Ông đừng nhúng tay vào vụ xử người công chính nầy, vì hôm nay tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy " ( Mt 27, 19). Và chính Pilato cũng đứng ra xác nhận trước công chúng Chúa Giêsu vô tội: - " Tổng trấn Pilato thấy đã chẳng được ích gì, mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: " Ta vô can trong vụ đổ máu người nầy. Mặc các người liệu lấy! " ( Mt 27, 24). Chúa Giêsu vô tội bị dân chúng của Người và thái độ phi lý của Pilato kết án. Bởi lẽ Pilato khởi đầu phiên toà với một thái độ rõ ràng dựa trên sự thật và cố gắng đưa Chúa Giêsu ra khỏi án bị tố cáo. Nhưng khi vừa thấy mình phải đảm nhận phần liên hệ, thái độ dựa trên nền tảng chân lý của ông ta liền bị che khuất đi: - " Tổng trấn Pilato thấy đã chẳng được ích gì, mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước đám đông mà nói: " Ta vô can trong vụ đổ máu người nầy. Mặc các ông liệu lấy " ( Mt 27, 24). Thật là cách hành xử vô trách nhiệm, nhứt là đối với một người có quyền lực trong tay ! Có lẽ ông ta ăn ở như vậy để lấy lòng dân bị đô hộ đối với mẫu quốc Roma hơn là tôn trọng sự thật và công lý. Pilato không muốn mình bị mất chức, vì bị dân chống đối, trong việc lưa chọn giữa Chúa Giêsu và Barabba. Thánh Matthêu xác nhận rõ đó là thái độ của đám đông dân chúng: - " Nhưng các thượng tế và kỳ mục lại xúi đám đông đòi tha Barabba, mà giết Chúa Giêsu " ( Mt 27, 20). Như vậy cả dân chúng lên án Đấng Cứu Độ, không phải chỉ có các người lãnh đạo. Dân Do Thái giao Chúa Giêsu cho Pilato, giờ đây Pilato giao cho lính đóng đinh Người. Nhưng trước cuộc hành trình lên đồi Calvario, Thánh tác giả Phúc Âm còn thuật lại một cảnh tượng bạo lực tàn nhẫn nữa: - " Bấy giờ lính của tổng trấn đem Chúa Giêsu vào trong dinh, và tập trung cả cơ đội quanh Người. Chúng lột áo Người ra, khoát cho Người một tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay Người một cây sậy. Chúng qùy gối trước mặt Người mà nhạo rằng: " Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái ! " Rồi chúng khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy mà đập vào đầu Người. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, và cho Người mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá " ( Mt 27, 27-31), giống như cảnh tượng trước đó, mà dân Do Thái đã thực hiện: trước đó họ chế nhạo Chúa Giêsu là tiên tri, ở đây chế nhạo Người là vua. Đây là một cảnh tượng quan trọng, nói một cách nào đó đây là trung tâm điểm được nhằm đến của đoạn tường thuật. Ở đây Thánh Matthêu liên kết hai chủ đề chính mà ngài đang muốn nói đến, đó là cho chúng ta biết vương tước của Chúa Giêsu và thái độ không công nhận vương tước đó của thế gian. Cảnh tượng đàn áp, phỉ báng không chỉ nói lên Chúa Giêsu bị từ chối chống báng đến độ nào và đến mức nào Người khiêm nhường chịu đựng. Thánh Matthêu có ý cho thấy vương vị của Thiên Chúa, được thể hiện ra nơi Chúa Giêsu, khác với cách quan niệm của thế gian đến mức nào: khác đến độ như là một trò hề trước mặt thế gian. Nhưng ý niệm khác biệt đó, Chúa Giêsu đã dạy bảo trước cho chúng ta biết: - " Nhưng Chúa Giêsu gọi các ông lại và nói: " Anh em biết, thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân. những người lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải là người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn dân " ( Mt 20, 25-28). Hiểu như vậy, chúng ta thấy có một sự khác biệt tuyệt đối giữa vương tước của Chúa Giêsu và vương tước thế gian: vương tước thế gian thể hiện ra bằng quyền lực, áp đặt và bảo vệ cho mình được sống sung túc; vương tước của Chúa Giêsu trái lại, được thể hiện lên bằng phục vụ, trong tình yêu thương, trong việc khước từ áp đặt, quyền lực. Sự khác biệt đó cho thấy tại sao thế gian từ chối vương tước của Chúa Kitô, không hiểu được vương vị của Người, đến nỗi còn nhạo báng rằng đó là một loại vương tước bù nhìn. Và đó cũng cho chúng ta hiểu ngay cả các môn đệ của Chúa Giêsu thường tìm cách biến đổi vương tước của Người, làm cho trở nên giống theo quan niệm trần gian, tìm cách làm cho vương tước của Người là một loại vi thế tiện lợi và hiệu năng theo hướng vật chất.

 

Trong vườn Getsemani ( Mt 26, 36-46). Đây là đoạn tường thuật rất quan trọng, giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa những gì sắp xảy đến kế tiếp. Trong khi đoạn Chúa Giêsu được biến dạng hiển dung ( Mt 17, 1-9) mạc khải trước cho biết vinh quang của Con Người đang tiếp nối cuộc hành trình tiến về thập giá, đoạn Phúc Âm chúng ta đang tìm hiểu mạc khải nhân tính sâu đậm của Chúa Giêsu, sự " yếu đuối " của Người: - " Tâm hồn Thầy buồn đến chết được...Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén nầy ..." ( Mt 26, 38-39). Đoạn trích dẫn vừa kể cũng cho thấy phản ứng trong lòng Chúa Giêsu trước những biến cố đau đớn sắp xảy ra. Và những đoạn tường thuật kế tiếp tuần tự kể lại phiên án: bị lên án, bị chửi rủa, bị đóng đinh vào thập giá. Nhưng đó chỉ là những gì thể hiện bên ngoài của cuộc khổ nạn, các dữ kiện nối tiếp theo thời gian. Ở đây, Thánh Matthêu có ý nói lên cho chúng ta biết phản ứng nội tâm của Chúa Giêsu, ngoài ra những gì con người đã hành xử đối với Người, trong khi đó thì thời gian ở trong vườn Gietsemani cho biết những gì Người cảm thấy tận trong tâm hồn. Sau cùng còn có một khía cạnh thứ ba, không còn thuộc về Kitô luận như hai phương diện vừa đề cập, nhưng nói lên suy tư, mà cộng đồng Giáo Hội có thể suy niệm được từ cuộc cầu nguyện ở Gietsemani. Như Chúa Giêsu, qua lời cầu nguyện với Chúa Cha, đã vượt thắng khải hoàn thời điểm quyết định của cuộc thử thách, người môn đệ cũng phải hành xử như vậy. Đây là những khía cạnh cá biệt Phúc Âm Thánh Matthêu, nhưng cũng đồng quang điểm với Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 14, 32-42). Hai đặc tính cá biệt của Phúc Âm Thánh Matthêu là bằng cách thay đổi một vài từ ngữ, Thánh Matthêu đã làm sáng tỏ hơn bằng cấu trúc của các câu văn. Một đặc tính cá biệt khác của Thánh Matthêu là trình bày cho chúng ta Chúa Giêsu ít mất định hướng hơn những gì người đọc có thể cảm nhận được khi đọc Phúc Âm Thánh Marco. Thánh Matthêu làm nhẹ bớt đi thái độ bối rối của Chúa Giêsu, ngài trình bày Chúa Giêsu đau đớn và ưu sầu, những không tràn đầy " sợ hãi và mất định hướng " như trong Phúc Âm Thánh Marco. Chúa Giêsu bị bắt ( Mt 26, 47-56 ). Tác giả Phúc Âm Marco kể lại các sự kiện với các thể thức thô bạo, mà không có thêm một lời bình luận nào: - " Người còn đang nói, thì Giuda, một trong Nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo, gậy gộc... Bấy giờ họ tiến đến, tra tay bắt Chúa Giêsu " ( Mt 26, 47.50). Thánh Matthêu theo sát sơ đồ của Thánh Marco, từng điểm một, nhưng với những lời giải thích và bình luận thêm, bằng những lời đặt nơi miệng Chúa Giêsu. Bằng một câu nói, Chúa Giêsu làm nổi bật thái độ bội phản của Giuda: - " Chúa Giêsu bảo hắn: " Nầy bạn, bạn đến đây để làm gì, thì cứ làm đi " ( Mt 26, 50). Có lẽ thốt lên câu nói đó, Chúa Giêsu liên tưởng đến Thánh Vịnh 55, lời cầu nguyện của một người bị bạn bè thân thiết nhứt bội phản, khiến cho anh chỉ còn biết trông cậy vào tình thân hữu của Thiên Chúa: - " Giả như tên địch thù phỉ báng, thì tôi cũng cam lòng, hay kẻ ghét ghen lên mày lên mặt, tôi có thể lánh đi. Nhưng đây lại là bạn, người đồng vai đồng vế, chỗ thân tình tâm phúc với tôi, đã cùng tôi chia ngọt xẻ bùi, trong Đền Thiên Chúa, giữa hội vui cùng bước " ( Ps 55, 13-15). Chúa Giêsu nói với người môn đệ rút gươm ra khỏi vỏ: - " Hãy xỏ gương vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm, sẽ chết vì gươm. Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn hai mươi đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Thánh Kinh ứng nghiệm sao được? Vì theo đó, mọi sự phải xảy ra như vậy " ( Mt 26, 52-54), bằng cách trách cứ và giải thích con đường của Đấng Cứu Thế phải đi theo vâng lời Thánh Kinh. Chúa Giêsu khước từ thái độ của những kẻ cuồng tín, khuyến khích dùng gươm giáo, bạo lực. Con đường của Chúa Giêsu là con đường thập giá, không phải là con đường bạo lực. Chúa Giêsu để cho mình bị bắt là do chính quyết định tự do của Người, không phải vì bất lực, cho bằng vì vâng lời tuân theo đồ án cứu độ của Chúa Cha. Chúa Giêsu sống đến cùng cuộc đời đầy giới hạn, yếu đuối của tình thương, bởi vì trong tình thương đó con người thấy được sức mạnh của Thiên Chúa. Đoạn tường thuật từ buổi cơm tối Tiệc Ly cho đến biến cố bị bắt chúng ta nên đọc như là một đoạn duy nhứt, nhưng như là hai chủ đề tiếp tục đươn kết nhau: một đàng là cuộc phản bội và đàng khác là Chúa Giêsu hy sinh ban tặng chính Người để cứu rỗi con người. Chúa Giêsu trước Thượng Hội Đồng ( Mt 26, 57-75 ). Các Phúc Âm không có định ý tường thuật lại cho chúng ta tất cả các dữ kiện, cũng như theo thứ tự chính xác các dữ kiện đó đã xảy ra. Phúc Âm đã chọn các dữ kiện, mà dưới ánh sáng Chúa Phục Sinh và Chúa Thánh Thần, được hiểu như là những biến cố quan trọng. Bởi đó trong khi ghi lại tường thuật, các Phúc Âm không theo thứ tự thời gian tính, cho bằng theo tầm quan trọng để rao giảng ( kérigmatique), động tác để hướng dẫn người nghe đến đức tin. Hiểu như vậy, chúng ta khó mà có thể sắp đặt theo thứ tự biến cố Giêtsemani, bị bắt, trước Thượng Hội Đồng Do Thái, trước phiên toà của quân Roma chiếm đóng, cũng như không phải dễ làm sao sắp xếp cho suôn sẻ theo luật pháp Do Thái lúc đó. Và rồi cũng khó mà đọc và hiểu được thế nào cho ăn khớp, hợp nhứt nhau những điều do bốn Phúc Âm thuật lại. Bởi lẽ Phúc Âm là những bản văn trong đó đươn kết lịch sử và đức tin với nhau, đâu là những sự kiện lịch sử được ghi lại và đâu là các chú giải thần học. Nhưng dựa vào những lời chú giải thần học, để rồi coi đó chỉ là những chú giải, không có căn tính lịch sử. Điều đó cũng không đúng. Đó là những lời chú giải, nhưng là chú giải những dữ kiện lịch sử. Vừa khi bị bắt, Chúa Giêsu bị dẫn đến trước mặt thượng phẩm Caipha, mà chung quanh ông đã hiện diện nhóm họp một vài thành phần của Thượng Hội Đồng, không phải tất cả, mà là những thành phần có nhiều uy lực, ảnh hưởng: - " Họ bắt Chúa Giêsu, rồi điệu Người đến thượng tế Caipha. Các kinh sư và kỳ mục đã tề tựu sẵn ở đó " ( Mt 26, 57 ). Đây không phải là một phiên toà đích thực, mà chỉ là một cuộc hạch hỏi sơ khởi và không chính thức. Luật Do Thái cấm tranh luận xử kiện ban đêm. Phiên toà đích thực, chính thức phải được thực hiện vào buổi sáng, như Thánh Matthêu đã đặc tâm nhắc đến: - "Trời vừa sáng, tất cả các thượng tế và kỳ mục trong dân cùng nhau bàn kế hại Chúa Giêsu, để xử tử Người " ( Mt 27, 1). Đoạn tường thuật được khai triển thành hai bối cảnh nối kết chặt chẽ và có định ý liên hệ với nhau: trong bối cảnh thứ nhứt, nhân vật vai chính là Caipha và trong bối cảnh thứ hai, là Phêrô. Trung tâm điểm của biến cuộc, ngắn ngũi và thảm đạm là Chúa Giêsu bị cười nhạo và đánh đập, đàn áp. Bối cảnh của Thánh Phêrô được dẫn nhập vào biến cố ngay từ đầu của đoạn tường thuật: - " Ông Phêrô theo Người xa xa, đến tận dinh thượng tế. Ông vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao " ( Mt 26, 58). Nhìn như vậy, chúng ta thấy được cuộc phản bội của Phêrô được viết lên làm bối cảnh cho cuộc hạch hỏi sơ khởi đối với Chúa Giêsu. Thánh Matthêu viết lại tất cả theo sát đoạn tường thuật của Thánh Marco, chỉ trừ một vài thay đổi nhỏ: ngài nói rõ rằng Caipha là Thượng Tế và Phêrô vào tận dinh thự của Caipha và dừng lại để sưởi nóng cho đỡ lạnh, " để xem kết cuộc ra sao " Thánh Matthêu còn kể thêm cho chúng ta cách hành xử tồi bại của Thượng Hội Đồng, đang tìm cách lúc đó để nói lên được một chứng gian: - " Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Chúa Giêsu để lên án tử hình " ( Mt 26, 59). Đối với Thánh Matthêu phiên án là một hoạt cảnh khôi hài, một cuộc chà đạp chân lý có ý thức. Sau cùng đối với lời long trọng tuyên bố của Chúa Giêsu, Thánh tác giả Phúc Âm còn thêm: - " Từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến " ( Mt 26, 64). Đối với Thánh Matthêu, niềm vinh quang của Chúa Giêsu và cuộc phán xét của Người đối với loài người không phải là những gì thuộc về một tương lai xa xôi. Ngay từ lúc đầu, Thánh Matthêu đã cho chúng ta biết rằng phiên xử án đối với Chúa Giêsu là một phiên xử thiếu thành thật: đây không phải chỉ là một yếu tố lịch sử được ghi nhận, mà còn là một lời cảnh cáo. Các thủ lãnh tư tế và các kỳ lão đang tìm một bằng chứng gian, một lý do để tố cáo buộc tội để làm cho thành danh chính ngôn thuận cuộc bắt bớ Chúa Giêsu. Dĩ nhiên họ có lý do để lên án Người, nhưng không có lý do pháp luật nào để thực hiện: - thái độ liên tục chống đối của Chúa Giêsu đối với các đặc ân họ được hưởng, - lòng mộ mến đầy thiện cảm của dân chúng - những lời phán xét trong sáng của Chúa Giêsu đối với họ. Đó là những lý do đích thực khiến cho họ lên án Người, nhưng là những lý do cần phải được ẩn giấu đàng sau những viện cớ có vẻ cao cả hơn. Lý do duy nhứt để kết án mà họ tìm được, đó là lời của Chúa Giêsu nói về việc đền thờ bị phá đổ, lý do kết án đó sẽ được lập lại một cách chế giễu nhục mạ của những người qua lại trước thập giá: - " Kẻ qua lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu, vừa nói " Mi là kẻ phá được Đền Thờ và nội trong ba ngày sẽ xây lại được, hãy cứu lấy mình đi. Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào ! " ( Mt 27, 39-40). Trước những lời tố cáo Chúa Giêsu lặng thinh. Chi tiết đó có ý liên tưởng đến Người Đầy Tớ Đức Yahwé, mà tiên tri Isaia đã tiên báo: - " Bị ngược đãi, người cam chịu, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng " ( Is 53, 7). Dưới lời thề long trọng, vị Thượng Tế đòi Chúa Giêsu hãy tỏ rõ ra căn tính của Người. Lần nầy thì Chúa Giêsu bỏ đi thái độ thinh lặng,chấp nhận lời định nghĩa của Caipha, nhìn nhận mình đúng như những gì Caipha nói: - " Vị Thượng Tế nói với Người: " Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không? ". - " Chúa Giêsu trả lời: " Đúng như chính ngài vừa nói " ( Mt 26, 63-64). Nhưng Chúa Giêsu còn vượt xa hơn nữa, bằng cách xác nhận rằng Đấng Kitô phải vượt qua đồ án cứu độ đơn sơ, để đến đồ án của Thiên Chúa: -" Chúa Giêsu trả lời: " Đúng như chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay : từ nay các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến " ( Mt 26, 64). Trong câu trả lời về công cuộc cứu độ của Người, Chúa Giêsu dùng hai đoạn văn trong Thánh Kinh: - " Sấm ngôn của Chúa ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con " ( Ps 110, 1). - " Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành và được dẫn đưa tới trình diện " ( Dn 7, 13). Câu trích dẫn vừa kể của sách tiên tri Daniel còn xác định một cách mãnh liệt hơn câu Thánh Vinh 110. Bởi vì đặt mình liên hệ với câu nói vừa kể, Chúa Giêsu dùng hình dáng Thiên Chúa áp dụng cho một con người. Nói cách khác nếu Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa, mà áp dụng hình dáng đó cho mình là cách nói phạm thượng. Đó chính là lý do khiến cho Caipha lên án Chúa Giêsu là kẻ phạm thượng. Đoạn tường thuật của Thánh Matthêu cho thấy Thượng Phẩm Caipha cảm thấy hài lòng, vì tìm được nguyên cớ để lên án Chúa Giêsu: - " Bấy giờ vị thượng tế liền xé áo mình ra mà nói: " Hắn nói phạm thượng ! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa? Đó, qúy vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, qúy vị nghĩ sao? Họ liền đáp: " Hắn đáng chết ! ". Nói cách khác, theo suy nghĩ của Caipha, Giêsu Nazareth tự cho mình ngang hàng với Thiên Chúa, cho mình có phận vụ mà chỉ chính Thiên Chúa mới có. Như vậy cuộc thẩm vấn sơ khởi được kết thúc, hay đúng hơn là vạch rõ cho thấy Chúa Giêsu là tội phạm, theo ý thức của dân Do Thái, bởi lẽ Người cho thấy rõ phẩm giá Thiên Chúa của Người.

 

Cuộc Thương Khó ( Mt 26, 1-27, 66) Các nhà Thánh Kinh học, nói cách chung, đều đồng thuận với nhau trong việc xác nhận rằng đây là đoạn tường thuật Phúc Âm cổ truyền được công nhận trước hết, so với các đoạn khác về cấu trúc cố định theo thứ tự các biến cố. Không có phần nào về cuộc đời Chúa Giêsu được viết lại với đầy đủ chi tiết và được nhiều nguồn gốc đồng thuận nhau chấp nhận. Chỗ dành cho đoạn tường thuật về cuộc Thương Khó trong Phúc Âm Thánh Marco, so với phần còn lại, là dấu chỉ vai trò quan trọng mà đoạn tường thuật nầy có chỗ đứng trong Giáo Hội thời các Thánh Tông Đồ. Chiều dài vượt quá tỷ lệ so với các đoạn tường thuật khác cũng thể hiện trong Phúc Âm Thánh Matthêu, mặc dầu chiều dài khác biệt ít hơn. Lời giảng dạy tiên khởi của Chúa Giêsu được nhằm vào việc tường thuật lại cái chết và cuộc sống lại của Người: - " Khi Chúa Giêsu giảng dạy tất cả các điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng: " Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá " ( Mt 26, 1-2). Đây là động tác cứu rổi cao cả nhứt của Thiên Chúa và là điểm thượng đỉnh trong lịch sử cứu rổi. Bởi đó Thánh Phaolồ cho biết rằng ngài rao giảng về Chúa Kitô và Chúa Kitô chịu đóng đinh: - " Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Kitô, và Đức Kitô chịu đóng đinh vào thập giá " ( 1 Cor 2, 2 ). Đoạn tường thuật về cuộc Thương Khó trong Phúc Âm Thánh Matthêu chứa một vài yếu tố, được ngài khai thác rộng rãi hơn. Một vài yếu tố đó được ngài viết theo truyền thuyết, một vài yếu tố khác là kết quả việc ngài diễn giải những gì đã được thể hiện trong Cựu Ước, như các điều được ghi chú trong thời niên thiếu của Chúa Giêsu, và ít được đề cập đến trong những phần khác của Phúc Âm. Đoạn tường thuật về cuộc Thương Khó không phải là tường thuật lại kết quả những gì được Chúa Giêsu nói ra, mặc dầu trong Phúc Âm Thánh Matthêu, Chúa Giêsu nói đến nhiều lần hơn trong Phúc Âm Thánh Marco. Có lẽ chúng ta cảm thấy hơi kỳ lạ đối với chúng ta, nhưng các Phúc Âm không chứa đựng một lời diễn giải thần học nào về cuộc Thương Khó, bằng lời Chúa Giêsu cũng như dựa vào lời nói của những người khác. Lời diễn giải đó được giao phó cho lời giảng dạy các Thánh Tông Đồ, điều mà chúng ta có thể nhận ra rõ ràng trong các thư Thánh Phaolồ. Âm mưu của quyền lực Do Thái ( Mt 26, 1-5). Các Phúc Âm Nhất Lãm trước khi tường thuật lại chính cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, đã viết rộng rãi một đoạn dẫn nhập có ý nghĩa rất quan trọng: đó là bối cảnh trong đó chúng ta có thể đọc hiểu cuộc Thương Khó và là chìa khóa để biết được ý nghĩa sâu thẩm của biến cố. Các giai đoạn cấu trúc của đoạn dẫn nhập nầy là - âm mưu của quyền lực, - biến cố xức dầu ở Betania, - cuộc phản bội của Giuda, - thiết lập Thánh Thể và - lời tiên báo thái độ bỏ rơi của các môn đệ. Các giai đoạn dẫn nhập nầy được diễn tả lướt qua bằng một hình ảnh mâu thuẫn đầy ý nghĩa: - một phần gồm có âm mưu của giới đương quyền, thái độ phản bội và bỏ rơi của Phêrô và các môn đệ, - đàng khác ý chí của Chúa Giêsu hy sinh tận hiến chính mình cho con người. Trong phần tường thuật về mối âm mưu ( Mt 26, 1-5 ), Thánh Matthêu khai triển khá rộng rãi hơn cùng đoạn của Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 14, 1-2 ). Thánh Matthêu ghép ghi lại đoạn tường thuật nầy nối tiếp với đoạn trước, - " Khi Chúa Giêsu giảng dạy tất cả các điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng..." ( Mt 26, 1 ). Lời tiên báo của Chúa Giêsu ( Mt 26, 2 ) chỉ có trong Phúc Âm Thánh Matthêu, - " Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá " . Đây là lời dẫn nhập long trọng cho đoạn tường thuật sắp đến và cũng là cử chỉ để cân bằng quyết định của quyền lực Do Thái: Chúa Giêsu biết trước điều gì sắp xảy ra và Người là chủ chốt của đại cuộc. Kẻ xúi giục cuộc âm mưu là Caipha, ( chỉ được nói đến trong Phúc Âm Thánh Matthêu), các thượng tế và kinh sư. Xức dầu ở Betania ( Mt 26, 6-16). Đoạn tường thuật về biến cố xức dầu đều được cả bốn Phúc Âm đều ghi lại. Thánh Luca viết lại biến cố nầy ở thời khởi đầu sứ mạng của Chúa Giêsu ( Lc 7, 36-50), không đề cập đến ai là chủ nhà tiếp đón Người và nhận định người thiếu phụ là một người tội lỗi: - " Bỗng một người phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm " ( Lc 7, 37). Trong khi đó thì Phúc Âm Thánh Gioan đăt đoạn trên trước cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu ( Jn 12, 1-18), nhưng ngài diễn tả như những gì đã xảy ra tại nhà hai chị em Maria và Marta ở Betania, và xem người phụ nữ xức dầu cho Chúa Giêsu là cô Maria. Thánh Matthêu viết lại theo Phúc Âm Thánh Marco, được người chủ nhà tiếp đãi là ông Simone, người bị bệnh phong hủi, còn người thiếu phụ không được nhắc đến tên, cũng không bị ghép vào thành phần hạng người tội lỗi trong thành. Chúa Giêsu hài lòng về cử chỉ xức dầu của người thiếu phụ, dĩ nhiên là hài lòng theo tinh thần, bởi lẽ Người chống đối lại những gì sang trọng xa xí ( Thánh Matthêu cho biết loại dầu thơm đó đắt tiền), - " ...một phụ nữ đến gần Người, mang theo một bình bạch ngọc, đựng một thứ dầu thơm đắt giá " ( Mt 26, 7 ). Chúa Giêsu hài lòng trong tinh thần, như đã nói, bởi lẽ Người biện minh cho động tác hoang phí xức dầu của nàng là động tác có liên hệ đến cái chết và việc chôn cất Người sắp đến. Bởi đó Người ưng thuận chấp nhận. Nhưng đang lúc đó cũng xảy ra động tác phản bội của Giuda, chỉ có Phúc Âm Thánh Matthêu xác định số tiền Giuda nhận được là " ba mươi đồng " để giao Chúa Giêsu cho các kẻ thù địch: - " Tôi nộp ông ấy cho qúy vị, qúy vị muốn cho tôi bao nhiêu? Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc " ( Mt 26, 15). Lập Phép Thánh Thể ( Mt 26, 17-35 ). Chúa Giêsu lập đi lập lại đến bốn lần từ ngữ " phản bội ", nhưng trung tâm điểm của đoạn tường thuật là những lời Chúa Giêsu thốt lên trên bánh không men và trên ly rượu, những yếu tố không thể thiếu theo nghi thức bửa ăn tối Do Thái. Lễ Vượt Qua là ngày lễ long trọng nhứt của dân Do Thái và được cử hành với một nghi thức chính xác, nhắc lại những điều lạ lùng mà Thiên Chúa đã thực hiện trong biến cố giải thoát dân khỏi ách nô lệ Ai Cập ( Ex 12 ). Biến cố vui mừng, biến cố đại lễ được cử hành từ ngày 14 đến ngày 21 tháng Nisan ( giữa tháng ba - tháng tư ), trong dịp lễ dân chúng ăn thịt chiên, mà trước đó chiên đã bị cắt cổ trong đền thờ. Lễ Vượt Qua cũng được gọi là " lễ không men " , bởi lẽ trong dịp lễ chỉ được phép dùng bánh không có trộn men ( Hy Lạp, azimos). Bởi đó người Do Thái phải nhớ lại ý nghĩa bửa ăn đặc biệt đó bằng nghi thức long trọng. Trong ý nghĩa đó, Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa mới của bửa lễ Vượt Qua, trong đó chúng ta có thể phân biệt những điểm sau đây: a) Chúa Giêsu làm cho các môn đệ tham dự vào định mệnh của Người: - " Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm nầy của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy " ( Mt 26, 29). b) Máu Chúa Giêsu đổ ra để tội lỗi được tha thứ. Chỉ có Phúc Âm Thánh Matthêu nhấn mạnh đến đặc tính hy sinh vừa kể của buổi cơm tối lễ Vượt Qua. Sự hy sinh là quà tặng đời sống của mình cho người khác được sống: điều đó nói lên quyền năng thay thế sự hy sinh của Chúa Giêsu, cũng như giá trị thanh tẩy cho của cuộc hy sinh đó ( Chúa Giêsu chết trên thập giá thay cho chúng ta và sự hy sinh của Người trên thập giá là hy sinh nhằm đạt được sự giải thoát và thanh tẩy cho chúng ta khỏi tội lỗi ). c) Bữa cơm tối hôm đó là biến cố khai mạc cho giao ước mới. Bởi đó Người cho biết đó là " máu giao ước ": - " Tất cả anh em hãy uống chén nầy, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội " ( Mt 26, 28). Đó là giao ước mà con người đang mong đợi cho tương lai: một trật tự mới cho các sự việc trong đời sống con người, mà Thiên Chúa sẽ đưa ra lề luật trong trái tim con người, tha bỏ hết mọi tội lỗi. Và đây là thời điểm lễ Vượt Qua đó đã đến. d) Điểm cuối cùng được đoạn Phúc Âm tường thuật làm sáng tỏ mối tương phản được nhằm đến giữa giao ước cũ và Giao Ước Mới: - " Bấy giờ ông Moisen lấy máu rảy lên dân và nói: " Đây là máu giao ước Thiên Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời nầy " ( Ex 24, 8). - " Về phần ngươi, Ta đã thiết lập giao ước với ngươi trong máu, nên những con dân của ngươi đang bị giam cầm, Ta sẽ đưa lên khỏi hố cạn " ( Zc 9, 11). Cả hai giao ước đều được ấn ký bằng máu. Giao ước thứ nhứt, bằng máu của thú vật, giao ước mới, bằng máu của Chúa Giêsu. Chính con người Chúa Kitô là giao ước mới, như đã được tiên tri Isaia tiên báo về người Tôi Tớ Đức Yahwé: - " Người phán thế nầy: " Ta là Đức Chúa, Ta đã gọi ngươi, vì muốn làm sáng tỏ đức công chính của Ta. Ta đã nắm tay ngươi, đã gìn giữ ngươi và đặt làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn nước..." ( Is 42, 6 ). - " Với người bị thiên hạ khinh chê, bị dân mình khinh tởm, với người làm tôi mọi cho bạo chúa, Đức Chúa là Đấng Cứu Chuộc và là Đức Thánh của Israel, Người phán thế nầy: " Vua chúa sẽ thấy và đứng lên, chư hầu sẽ thấy và bái lạy, vì uy quyền của Đức Chúa là Đấng trung thành, là Đức Chúa Israel, Đấng đã tuyển chọn người. Đức Chúa phán thế nầy: " Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Ta gìn giữ ngươi, đặt ngươi làm giao ước giữa Ta với dân, để phục hồi xứ sở, để chia lại những gia sản bị tàn phá, để nói với người tù: " Hãy đi ra ", với những kẻ ngồi trong bóng tối: " Hãy ra ngoài " ( Is 49, 7-8). Như vậy Chúa Giêsu là người Tôi Tớ Đức Yahwé. Máu Người đổ ra cho nhiều người ( là cách nói theo tiếng Do Thái, là cho tất cả ). Thành ngữ " mình Ta "" máu Ta " , theo ngôn ngữ của thời đó có nghĩa là " chính Ta ". Chúa Giêsu bị giết chết đi vì chúng ta, chúng ta đón nhận bánh và ly rượu trong Phép Thánh Thể là đón nhận chính Người vào ở với chúng ta, nơi thân thể và trong tâm hồn chúng ta.

 

Cuộc phán xét chung ( Mt 25, 31-46) Thánh Matthêu kết thúc bài giảng về ngày cánh chung và cả loạt các lời tuyên bố của Chúa Giêsu bằng một quang cảnh long trọng về ngày phán xét: thuộc về Nước Trời không đòi buộc rõ ràng phải biết Chúa Kitô, mà chỉ cần đón nhận người anh em đang gặp phải nhu cầu cần thiết. Chính người tín hữu Chúa Kitô cũng không có một bảo đảm nào trong ngày phán xét: bởi lẽ anh cũng sẽ được xét đoán dựa trên nền tảng bác ái. Nhưng câu văn - " ...ai làm cho một trong những người anh em nhỏ nhứt của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy " ( Mt 25, 40 ), mà Chúa Giêsu đồng hoà mình với người đó, có nghĩa là gì? Những người đó là ai? Là - những người nghèo khó đơn sơ, - các môn đệ Chúa Giêsu, - hay các nhà truyền giáo và bị bách hại? Trước khi trả lời cho câu hỏi đó, thiết nghĩ chúng ta nên làm sáng tỏ ba lời xác định mà chúng ta tin rằng là những xác quyết chắc chắn. a) Trước hết vị thẩm phán xét đoán lúc đó được gọi là " Con Người " và là " Vua " và vị " Vua " nầy chính là Chúa Giêsu Nazareth, Đấng đã bị bắt bớ, khước từ và chịu đóng đinh. Đấng mà trong đời sống của Người đã chia sẻ tất cả hoàn cảnh yếu hèn của con người: đói khát, trần truồng,cô đơn. Người là một vị vua đồng hoá mình với những người khiêm tốn nhứt, bé mọn nhứt. Và ngay cả trong thời điểm hành xử quyền năng thẩm phán hoàn vũ, Người vẫn trung thành với lý tưởng đã định hướng cho Người suốt cuộc sống trần gian. Thật là một vị vua sống dưới hình ảnh không được ai biết đến, dưới hình dáng của " những người anh em nhỏ nhứt " của Người. b) Kế đến, chúng ta sẽ sai lầm, nếu chúng ta nghĩ rằng trong trang Phúc Âm đang bàn, có đường lối nào khác với con đường Thập Giá, hay nói đúng hơn Chúa Kitô chịu đóng đinh khác với vị thẩm phán thời cánh chung, đó là con đường hợp tình yêu ( tức là con đường Thập Giá ) được thay đổi bằng đường lối uy quyền ( phán xét ). Không phải như vậy: cuộc phán xét mạc khải cho biết căn tính đích thực của con người: chỉ có tình yêu thương đối với anh em làm cho bản chất của con người vững chắc và bảo đảm cho sự cứu rỗi. c) Sau cùng, ở một đoạn trong Phúc Âm, Thánh Matthêu đã cho chúng ta biết rằng ở thời phán xét, con người phải tính sổ tất cả những động tác trong đời mình: - " Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm " ( Mt 16, 27), ngay cả đối với những lời mình nói: - " Ta nói cho các người hay: " đến ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói " ( Mt 12, 36). Nhưng ở đây chúc Giêsu chỉ nhắc đến việc đón nhận những kẻ bị bỏ rơi, loại trừ, sa thải. Đây là việc đón nhận bằng hành động: cả cuộc phán xét được xây dựng quanh thái độ đối nghịch giữa " làm và không làm ": - " Đức Vua sẽ đáp lại rằng: " Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế vho một trong những anh em bé nhỏ nhứt của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy " ( Mt 25, 40). Đây là chủ đề rất quen thuộc, thường được Thánh Matthêu nhắc đến: điều chính yếu của đời sống không phải nói hay tuyên xưng Chúa Kitô bằng lời nói, mà là thực hiện tình yêu thương cho những ai nghèo khó, cho người xa lạ và cho kẻ bị áp bức. Đây là thánh ý Chúa, là điều Chúa muốn và đó là thái độ tỉnh thức. Giờ đây chúng ta trở lại câu hỏi lúc khởi đầu: ai là " những kẻ bé mọn " mà Chúa Giêsu gọi là " những người anh em Ta " , và nơi họ mà Chúa Giêsu có ý nhắn nhủ chúng ta hãy ý thức rằng hành động cho họ là hành động cho chính Người? Từ ngữ " bé mọn " được dùng nhiều lần trong Phúc Âm Thánh Matthêu, - " Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó, mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn " ( Mt 18, 6), - " Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn nầy; quả thật, Thầy cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời " ( Mt 18, 10), - " Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn nầy phải hư mất " ( Mt 18, 14), là từ ngữ được dùng để chỉ các Kitô hữu yếu đuối, thường bị những hạng người được chọn lọc trong cộng đồng bỏ rơi. Nhưng theo một văn mạch khác, " những kẻ bé mọn " cũng được hiểu là những người rao giảng Phúc Âm, hy sinh khó nghèo và cần được đón nhận giúp đỡ: - " Và ai cho một trong những kẻ bé mọn nầy uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu " ( Mt 10, 42 ). Từ ngữ " anh em " trái lại, có một ý nghĩa rộng rãi hơn và chỉ đó là các môn đệ. Và đây là phần kết thúc: " các người anh em bé mọn " của Chúa Giêsu là thành phần bị cộng đồng bỏ rơi, yếu đuối, bị coi không có gì quan trọng và bị khinh khi. Đặc biệt là những người rao giảng Phúc Âm, nghèo khổ và bị bắt bớ, ngược đãi. Như vậy quang cảnh ngày cánh chung trong đó có cuộc phán xét được hiểu dưới hai ý nghĩa: - ý nghĩa đầu tiên là nói lên cảnh báo cho mọi người - và kế đến là cho biết tiến trình lịch sử Giáo Hội. Nói cho tất cả mọi người: định mệnh của mỗi con người tùy thuộc vào việc con người đó có đón nhận đối với các người truyền bá Phúc Âm hay không. Và đoạn tường thuật cũng cho Giáo Hội biết: không có một cộng đồng Giáo Hội nào khỏi phải bị phán xét. Và cả cộng đồng Giáo Hội cũng sẽ phải được phán xét qua việc có thực sự đón nhận đối với những kẻ nghèo khó, bị bỏ rơi và bé mọn hay không. Như vậy tình yêu thương là định chuẩn phân biệt rõ ràng, xác nhận ai là người môn đệ đích thực của Chúa Kitô và cho thấy rõ đó có phải là công sức nền tảng của Giáo Hội qua dòng lịch sử hay không, trong khi chờ đợi Chúa đến thời cánh chung và vĩnh viễn.

 

Bài giảng về ngày cánh chung ( Mt 24, 1-25, 46 ). Đây là bài giảng thứ năm và cuối cùng trong Phúc Âm Thánh Matthêu: - trong các chương 5-7, chúng ta đã gặp được bài giảng trên núi; - trong chương 10, bài giảng nói về sứ mạng truyền giáo; - trong chương 13, nói về các dụ ngôn; - chương 18, về Giáo Hội. Bài giảng cuối cùng nầy được gọi là nói về " ngày cánh chung " ( theo từ ngữ Hy Lạp " escatologico " có nghĩa là " liên hệ đến những gì cuối cùng ", bởi vì là bài giảng nói về mục đích tận cùng của dòng lịch sử. Nhưng chúng ta nên lưu ý ngay rằng, trong ngôn từ của Chúa Giêsu có nhiều đươn kết giữa nhiều đồ án, lãnh vực khác nhau, vào thời cuối cùng có liên hệ đến ngày tận cùng của thị trấn và Đền Thờ Giêrusalem, (đã xảy ra vào năm 70 sau Thiên Chúa Giáng Sinh do bàn tay của người Roma), cuộc đời của các tác giả Phúc Âm cũng lận đận lao đao lúc đó, được các vị kể lại, được đề cập đến nhân viết về bài giảng của Chúa Kitô. Ngoài ra, như thói quen viết văn tường thuật thời đó, trong ngôn từ của Chúa Kitô được ghi lại nhiều hình ảnh và biểu tượng đặc thù của văn chương " huyền bí " ( apocalyptique), mà chúng ta đã có lần tìm hiểu trong Phúc Âm Thánh Luca. Bài giảng nói về ngày Giêrusalem bị mất đi, cũng như về thời cánh chung, nhưng chúng ta không thể đoán biết được câu nào nói về biến cố nầy hay biến cố kia: - " Thầy bảo thật anh em: tại đây, sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào; tất cả đều sẽ bị phá đổ. Sau đó, lúc Người ngồi trên núi Oliu, các môn đệ tới gặp riêng Người và thưa: " Xin thầy nói cho chúng con biết khi nào sự việc ấy xảy ra, và có điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và " ngày tận thế " ( Mt 24, 2-3). Chúng ta đừng quên rằng phần lớn tư tưởng Cựu Ước, lịch sử và ngày cánh chung pha trộn nhau một cách khác xa với tư tưởng và cách trình bày hiện đại của chúng ta. Phần đầu của lời tuyên bố về thời cánh chung ( nhứt là ở những câu đầu của chương 24 ) chúng ta thấy rõ mối đươn kết của hai biến cố, lịch sử và ngày cánh chung, như chúng ta vừa trích dẫn. Một đàng, đoạn tường thuật có nói sơ qua về việc Đền Thờ bị hủy diệt, tức là về các biến cố của năm 70 sau Thiên Chúa Giáng Sinh, - "... không còn tảng đá nào trên tảng đá nào ". Đàng khác, đoạn Phúc Âm đề cập đến ngày Chúa Kitô " đến vĩnh viễn " vào ngày thế giới tận cùng - " Xin Thầy nói cho chúng con biết khi nào sự việc ấy xảy ra, và có điềm nào mà biết ngày Thầy quang lâm và " ngày tận thế " . Liền sau đó, điều mà Chúa Giêsu cho biết, dĩ nhiên là diễn tả theo cách nói huyền bí ( apocalyptique), đó là lịch sử Giáo Hội trải dài ra với những cuộc bắt bớ bên ngoài và khủng hoảng trong nội bộ: - " Bấy giờ người ta sẽ nộp anh em, khiến anh em phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết anh em; anh em sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy...Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng sẽ được cứu thoát " ( Mt 24, 9.12). Bài thuyết giảng tiếp tục trình bày vẫn luôn luôn với hình ảnh theo cách nói huyền bí, những thất vọng kinh hoàng và những cuộc bách hại to lớn, đó tức là vào thời kỳ cuối cùng: - " Ngay sau những ngày gian nan ấy, mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời, bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người sẽ rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trờ mà đến " ( 24, 29-30). Biến cố Con Người " ngự giá mây trời mà đến " ( parusia) là biểu tượng kết thúc dòng lịch sử. Đó là biến cố bất ngờ và mọi dân tộc điều nhận ra, cũng như tất cả đều sẽ được xét đoán: - " Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời nầy đến chân trời kia " ( Mt 24, 31). Những dòng vừa trích dẫn cho thấy loài người lúc đó sẽ đầy tâm trạng căng thẳng, hy vọng và lo âu sợ sệt. Bởi đó ngụ ý của những gì được cho biết là để mời gọi con người hãy chuyên cần phục vụ Nước Chúa, hãy bỏ qua một bên những gì thứ yếu. Tiếng kèn , mà " các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy " trong câu trích dẫn là một phần của quang cảnh huyền bí . Ý nghĩa vừa kể cũng được Thánh Phaolồ lấy lại: - " Vì tiếng kèn sẽ kêu vang lên và những kẻ chết sẽ trỗi dậy mà không còn hư nát, còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi " ( 1 Cor 15, 52) - " Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người chết trong Chúa Kitô sẽ sống lại trước tiên, rồi đến chúng ta là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như vậy, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi " ( 1 Thess 4, 16-18). Đến đây thì bài thuyết giảng trình bài một dụ ngôn nhỏ, đó là dụ ngôn cây vả và cành lá của nó. Cây vả với cành lá của mình báo trước cho biết mùa hè sắp đến: - Khi cành lá nó xanh tươi và đâm chồi nẩy lộc, thì anh em biết là mùa hè đã đến gần " ( Mt 24, 32). Cũng vậy, trong dòng lịch sử có nhiều dấu chỉ cho định hướng và những gì sẽ tới. Đoạn tường thuật nêu lên nhiều chủ đề phức tạp, đươn kết nhiều lãnh vực khác nhau, bởi đó không phải dễ gì hiểu được Chúa Giêsu đang nói về dòng lịch sử đang chuyển biến hay về thời tận cùng. Trường hợp câu nói: - " Thầy bảo thật anh em: thế hệ nầy sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra " ( Mt 24, 34) không nói rõ cho chúng ta hiểu được ngày Giêrusalem bị tiêu diệt hay ngày quang lâm của Chúa Kitô, theo như lòng ao ước của Giáo Hội thời tiên khởi. Phần hai của bài thuyết giảng về thời cánh chung được khởi đầu ở, - " Còn ngày và giờ đó, thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời và cả Con Người cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi " ( Mt 24, 36) và kết thúc ở câu - " Vậy anh em hãy cảnh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào " ( Mt 25, 13 ). Chủ đề mà Chúa Giêsu muốn nói lên thật rõ ràng: thời gian Chúa đến thật bất ngờ, không thể đoán trước được, bởi đó cần phải luôn luôn tỉnh thức. Thời ông Noe, như sách Sang Thế Ký tường thuật, - " Chúa thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày...Đất đã ra hư hỏng trước nhan Thiên Chúa và đầy bạo lực " ( Gen 6, 6-12). Chúa Giêsu sánh" các người của thế hệ nầy " , tức là các người đang sống trong thời gian sau cùng của lịch sử ( kể cả chúng ta, của lịch sử đời sống chúng ta) với những người đang sống trong thời ông Noe: họ sống không hề lo lắng đối với những gì xảy ra, rơi xuống trên họ: " ăn uống, cưới vợ, lấy chồng" như không có gì quan trọng cho cuộc sống đang xảy ra, đang cho thấy tín hiệu sắp xảy ra: - " Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Noe vào tàu. Họ không hay biết gì cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy " ( Mt 24, 38-39). Lời so sánh cho thấy tự giác và lối sống hưởng thụ được coi như là nền tảng của tình trạng an toàn bản thân. Người tín hữu Chúa Kitô không nên để cho mình phải đối phó với một biến cố bất ngờ. Bởi lẽ họ biết chắc điều gì đang chờ đợi họ và tốc độ nhanh chóng của các biến cố cuối cùng ( hay cuối đời ) không cho phép mình còn thời giờ để nghĩ đến việc thống hối vào giờ chót. Thế hệ của ông Noe được coi như là thế hệ thối nát nhứt trong lịch sử: - " Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm, tức là những người xưa đã không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Noe đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người được cứu thoát nhờ nước " ( 1 Pt 3, 30). Lời giảng dạy của Chúa Giêsu không đề cập đến những tội lỗi thực tế nào họ đã phạm, mà chỉ nói đến sự kiện: họ sống an ninh, vững chắc và nạn hồng thủy ập đến bất ngờ. Mặc dầu mục đích giảng dạy chính đoạn tường thuật nầy của Phúc Âm Thánh Matthêu là nhằm nói lên thái độ không đắn đo lo lắng và sống đời sống dễ dãi của thế hệ lục đại hồng thủy, nhưng đây không phải là một lời giảng dạy không quan trọng, mặc dầu là yếu tố thứ yếu, cần phải nhận biết được trong cuộc sống ông Noe. Thái độ của sống của Noe có thể hoàn toàn áp dụng được cho cách sống của con người có đức tin. Ông Noe không có được dấu chỉ nào cho biết đại hoạ đang tiến đến gần, ông hoàn toàn tin cậy vào Lời Chúa và bởi đó ông lo hoàn thành việc đóng tàu, phi lý trong một xứ khô khan trên sa mạc, bằng cách chỉ biết để cho mình được lệnh Chúa hướng dẫn, lệnh mà mình nhận được: - " Ngươi hãy làm cho mình một chiếc tàu bằng gỗ bách. Ngươi sẽ làm tàu có nhiều ngăn và lấy nhựa đen mà trám cả trong lẫn ngoài " ( Gen 6, 14). Theo gương tổ phụ Abraham, ông Noe là mẫu gương cho những ai đặt đức tin của mình vô điều kiện vào Chúa. Mẫu gương đó có thể nói cho biết rằng: anh em hãy sống theo gương ông Noe, chớ đừng sống như những người đương thời với ông. Bởi đó Thánh Matthêu viết cho các tín hữu Chúa Kitô với ý nghĩa người thì sẽ được đón nhận, người khác sẽ bị từ bỏ: - " Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời " ( Mt 10, 32-33 ) . Điều đó sẽ xảy ra không có gì báo trước cho biết, trong đời sống thường nhật của mỗi người, trong lúc làm việc, ngoài đồng án, cũng như khi ở nhà. Điều tỉnh thức cần lưu tâm và luôn luôn trong cuộc sống, bất cứ lúc nào đó được giải thích bằng ba dụ ngôn: - người đầy tớ được tin tưởng và khôn ngoan ( Mt 24, 45-51), - các thiếu nữ khôn ngoan và khờ dại ( Mt 25, 1-13), - các yến bạc ( Mt 25, 14-30). Dụ ngôn thứ nhứt xác nhận nội dung của thái độ phải tỉnh thức: đó là thái độ của người biết khôn ngoan quản trị của cải và " phân phát thực phẩm cho mỗi người ". Ngược lại, là thái độ của người kia, lợi dụng sự vắng mặt của ông chủ, hành xử như mình là chủ nhân ông, ngược đãi đè nén anh em và dùi đầu vào các vui thú tiêu khiển. Hiểu như vậy, biết tỉnh thức không phải chỉ là nơm nớp bất an trong thái độ chờ đợi, mà còn là hoạt động thực tế. Dụ ngôn các thiếu nữ đề cập đến vấn đề ở một nhãn quang khác: cần phải sẵn sàng đối phó với bất cứ những gì có thể xảy đến, ngay cả sự việc có thể xảy ra trể cũng vậy. Như vậy, không thể tính toán rằng điều bất lợi sẽ xảy ra trể ( để từ đó lợi dụng thời gian tự do tha hồ; cũng không phải vì xảy ra trể nên đâm ra thất vọng. Mối nguy hiểm được chuẩn định dưới hai phương diện: ngông cuồng, tự do tha hồ vì Chúa đến trể, hay không có kiên nhẫn chờ đợi lâu dài lúc Người trở lại. Nhưng điều quan trọng hơn hết là không phải thời gian gần gũi hay dài dẵng làm cho thời gian sống của chúng ta thành quan trọng. Thời gian cuộc sống của chúng ta quan trọng bởi vì đầy những cơ hội thuận tiện để mình được cứu rổi. Dụ ngôn thứ ba là dụ ngôn về các yến bạc, nói cho chúng ta biết thức tỉnh có nghĩa là từ lời nói chúng ta phải chuyển động tác thực hiện và quang cảnh của cuộc phán xét kết thúc bải giảng dạy về ngày cánh chung xác nhận rằng chính các động tác hiện thực mới là những gì thể hiện rõ rệt tình yêu thương: - " Ông chủ nói: " Khá lắm, hởi đầy tớ giỏi và trung thành ! Được giao ít, mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh ! " (Mt 25, 21.23). Chìa khóa để hiểu được dụ ngôn là những lời đối thoại giữa ông chủ và người đầy tớ: - " ...Hỡi đầy tờ tồi tệ và biếng nhác ! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi, thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lãi chứ ! " ( Mt 25, 24-27). Người đầy tớ đã có một tiền kiến về ông chủ của mình, tức là một con người đanh đá, " thu nhặt chỗ không vãi, nơi không gieo" . Một tư tưởng như vậy đối với Thiên Chúa, thì chỉ còn có cách lo sợ và tĩ mĩ tuân giữ lề luật. Người đầy tớ không muốn phải đối phó với những gì nguy hiểm, không may, bởi đó anh ta chôn yến bạc giấu vào chỗ chắc chắn, tưởng rằng mình có cách hành xử chính đáng, bởi lẽ mình có thể trả lại cho chủ những gì đã nhận được. Cả chúng ta, nhiều người trong chúng ta cũng có khuynh hướng cho rằng người đầy tớ vừa kể có lý và không chính đáng lối diện cớ của ông chủ. Đó cũng là thái độ phản đối của dân chúng lúc đó đối với những dụ ngôn được Chúa Giêsu huấn dạy cho ví dụ như đối với - dụ ngôn kể cho biết có một ông chủ nọ trả lương bằng nhau cho các công nhân lao lực cả ngày và các công nhân chỉ làm co một giờ vào buổi chiều ( Mt 20, 12), - hay dụ ngôn về đứa con hoang đàng, kể cho biết một người cha tha thứ và tổ chức lễ lộc ăn mừng cậu con trở về nhà, sau khi đã phung phí hết gia tài của cải, trong khi đó lại không có lễ lộc gì cho đứa con vẫn vâng lời, sát cánh bên cạnh ông ở nhà ( Lc 15, 29-30). Phản ứng đó của chúng ta cũng là phản ứng của các kinh sư và người Pharisêu, những người chuyên cần tĩ mĩ tuân giữ lề luật. Bởi lẽ họ quan niệm công chính như là mối liên hệ tỷ lệ bao nhiêu " có vay - có trả ". Trong khi đó thì Chúa Giêsu nhìn theo nhãn quang tình yêu, không có gì phải tính toán và sợ sệt. Người đầy tớ khôn ngoan trong dụ ngôn cũng phải bước ra khỏi viễn ảnh bao nhiêu " có vay -có trả " . Anh ta đang không nên đặt lằn mức mà mình phải phục vụ, bởi vì tình yêu không có biên giới và không có gì phải lo sợ liều lĩnh: trong tình yêu không có sợ hãi. Như vậy, dụ ngôn có mục đích làm cho chúng ta hiểu được bản chất đích thực của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người. Điều đó cho thấy rõ những gì Chúa Giêsu muốn huấn dạy chúng ta là những điều hoàn toàn trái ngược lại đối với mối lo sợ tôi tớ, nô lệ tìm nơi ẩn nấp và vững chắc nơi Chúa, bằng cách tuân giữ chính xác, phục tùng, nô lệ các giới răn Người. Không, mối liên hệ con người với Thiên Chúa là mối tương quan tình yêu Cha con, từ đó có thể phát khởi ra lòng can đảm, đức tính rộng rãi và tự do của người con. Tất cả những gì chúng ta đề cập đến đây là tinh thần, giọng nói nguyên thủy của các bài dụ ngôn. Thánh Matthêu thu nhặt dụ ngôn qua truyền thống, khai triển thêm và đưa hội nhập vào lời huấn dạy ngày cánh chung và ngài cũng dùng tư tưởng đó để giải thích lời kêu gọi hãy tỉnh thức của Phúc Âm ngài. Mục đích của tác giả Phúc Âm được làm nổi bậc lên ngay từ những hàng đầu của lời huấn dạy ngày cánh chung: - " Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến " ( Mt 24, 42 ). Nhưng ý nghĩa của quan niệm canh thức là gì? Người đầy tớ canh thức và trung tín, Thánh Matthêu giải thích cho chúng ta, là người vượt lên trên lòng sợ hãi nô lệ và qua niệm sơ đẳng của người Pharisêu đối với phận vụ tôn giáo của mình, để diễn giải sứ điệp thành động tác thực hữu, quảng đại và can đảm. Khi Chúa trở lại, không phải Người muốn có được lại những gì Người đã ban cho, mà còn nhiều hơn nữa. Đối với những ai hành xử trong tình yêu thương và dám đứng ra chấp nhận những nguy hiểm liều lĩnh của những gì mình quyết định vì mình hành động vì thân tình, yêu thương, tin tưởng, trước mắt họ đang được mở ra những viễn ảnh mới. Còn những ai " án binh bất động " và khiếp đảm, lo sợ, trở thành khô khan, héo huốt, họ cũng sẽ bị lấy mất đi những gì họ đang có: - " Vì phàm ai đã có, thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũn sẽ bị lấy đi " ( Mt 25, 29).

 

Thượng đỉnh những cuộc tranh luận chống lại các kinh sư và người Pharisêu ( Mt 23, 1-39). Chương 23 nầy chính là đoạn tường thuật do Thánh Matthêu sắp đặt theo kỷ thuật quen thuộc của ngài, tức là dùng các lời của Chúa Giêsu nói lên trong những bối cảnh khác nhau, xếp đặt chung lại với nhau, bởi lẽ các ngôn từ đó có cùng chủ đề liên hệ nhau, giống nhau. Trong chương 23 chúng ta đang tìm hiểu, tác giả Phúc Âm thu góp những lời nói đối kháng của Chúa Giêsu, cho thấy rõ thời điểm thượng đỉnh việc tách rời Người ra khỏi nhóm người Pharisêu đã đến. Thái độ đối kháng đã được thể hiện rõ ngay từ lúc khởi đầu sứ mạng của Người trong miền Galilea và đạt đến thượng đỉnh trong các cuộc chống đối ở Giêrusalem, - sau biến cố đi vào Giêrusalem với tư cách là Đấng Cứu Thế ( Mt 21, 1-11) - và trong biến cố thanh tẩy Đền Thờ ( Mt 21, 12-27). Tất cả các nhóm người Do Thái, các người Pharisêu, các kinh sư, Saudducei và các nhóm nhiệt tâm cực đoan, đều có thái độ chống lại Người. Nhưng Người thốt lên những câu nói khiến họ phải câm miệng: - " Không ai đáp lại lời Người được một tiếng. Và từ ngày ấy không ai dám chất vấn Người nữa " ( Mt 22, 46). Giờ đây chính Chúa Giêsu tấn công họ, vạch trần các gốc rễ nguyên cớ ẫn giấu của thái độ chống đối của họ. Bài thuyết giảng của Chúa Giêsu gồm có phần dẫn nhập và bảy câu lên án " khốn cho các ngươi " , chống lại người Pharisêu, các kinh sư, và phần kết luận. Trong phần dẫn nhập, Chúa Giêsu lên án tình trạng của các kinh sư và người Pharisêu. Người diễn tả cho thấy các đặc tính cách sống của họ ngược hẵn lại với những gì là đời sống của người môn đệ đích thực. Các kinh sư và người Pharisêu là những nhân vật lãnh đạo tinh thần của Do Thái giáo. Họ ngồi ở địa vị lãnh đạo của Moisen, tức là tự tỏ ra mình là những nhà tiếp tục sứ mạng huấn dạy của Moisen: họ lập lại, bênh vực, giải thích một cách có thẩm quyền, và hành xử thẩm quyền đó. Nhưng những gì họ giảng dạy không đi đôi với thái độ hành xử của họ. Họ có uy quyền, ai cũng phải nhận biết - " Các người hãy tuân giữ những gì họ nói cho các ngươi ", nhưng họ có thái độ hành xử không nên bắt chước, bởi lẽ " Họ nói mà không làm ". Bởi đo Chúa Giêsu trách họ hai điều: - không mạch lạc, nói một đường làm một nẻo: " Họ bỏ gánh nặng, mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào " ( Mt 23, 4 ). - và tìm cách nâng cao chính mình, khoe khoan nổi tiếng, thích ngồi những chỗ vinh dự trong các buổi tiệc tùng. nhưng lề luật Chúa dạy cho, khi ở vào các địa vị ấy thì không tuân theo: " Họ làm mọi việc cốt để thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi bằng " thầy " ( rabbi ) ( Mt 23, 5-7). Đoạn dẫn nhập được Chúa Giêsu kết luận bằng cách loại bỏ ba tước hiệu vinh dự, " thầy, cha và người lãnh đạo " ( Mt 23, 8-10), bởi vì người môn đệ Chúa Giêsu chỉ có một Cha chung trên trời, một vị thầy và một người lãnh đạo duy nhứt: Đấng Cứu Thế và các môn đệ, tất cả đều là anh em với nhau: " Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là " thầy ", vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất bằng cha, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời, Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải là người phục vụ anh em " ( Mt 23, 8-11). Kế đến là những lời khiển trách. - Lời khiển trách thứ nhứt được nói lên tượng trưng bằng hình ảnh Nước Trời, đã được đề cập đến trước đó cho Phêrô, ( Mt 16, 19), và ở đây được áp dụng cho các kinh sư và người Pharisêu: " Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình ! Các ngươi khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào ! Các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào các ngươi cũng không để họ vào ! " ( Mt 23, 13). Nước Trời ở đây được hiểu là Vương Quốc, được khai mạc bằng lời tuyên bố của Chúa Giêsu. Các người Pharisêu khước từ tin vào Chúa Giêsu và bởi đó họ cũng đứng tách ra bên ngoài cộng đồng Do Thái tin vào Người. - Trong lời lên án thứ hai " khốn cho các ngươi " Chúa Giêsu nhằm nói với những người nhiệt thành dụ người theo đạo ( người dân ngoại trở về Do Thái giáo ). Do Thái giáo lúc đó đang được truyền bá năng động trong thời Chúa Giêsu. Bởi đó Thánh Matthêu đưa vào đây một lời cảnh cáo nặng nề: -" Khốn cho cácngười, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình ! Các ngươi rảo khắp cả miền đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các ngươi " ( Mt 23, 15). Chúng ta khó mà hiểu được lý do tại sao có sự lên án nghiêm khắc nầy. Có lẽ điều lên án vừa kể nói lên cho biết kinh nghiệm của Giáo Hội thời các Thánh Tông Đồ ( cộng đồng Giáo Hội Do Thái - Kitô giáo của Thánh Matthêu ). Có lẽ các kẻ nhiệt tình vừa kể ( những người dân ngoại trở lại theo Do Thái giáo) là những kẻ chống đối hăng say hơn cả đối với Giáo Hội Do Thái - Kitô giáo, bị họ coi là những người phản bội dân tộc Do Thái, bởi lẽ các tín hữu Do Thái - Kitô giáo là những người Do Tháí từ lúc mẹ đẻ. - Lời lên án thứ ba " khốn cho các ngươi " ( Mt 23, 16-22) được quy hướng ám chỉ lời giảng dạy của nhóm người Pharisêu. Điều được nhấn mạnh khai thác trong chủ đề đó là lời giảng dạy của các kinh sư về vấn đề bắt buộc phải thề thốt. Ai muốn lách tránh khỏi phải thề thốt, có thể tìm một cách giải thích khác chối bỏ đi công thức được xử dụng: - " Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng !...Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh...Ai chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và mọi sự trên bàn thờ mà thề. Và ai chỉ Đền Thờ mà thề, là chỉ Đền Thờ và Đấng ngự ở đó mà thề. Ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngai Thiên Chúa và cả Thiên Chúa ngự trên đó mà thề " ( Mt 23, 16-22). Để tránh cho những ai bất cẩn mà thề thốt khỏi vấp phạm điều mình phải tuân giữ, các kinh sư dùng như lý lẽ tế nhị nhỏ nhoi. Chính cách dùng các lý lẽ nhỏ nhoi tế nhị đó , khiến cho Chúa Giêsu nói thẳng vào mặt. Các kinh sư và người Pharisêu là những kẻ hướng dẫn mù quáng, mặc dầu họ đã cẩn thận học hỏi luật lệ đến cả chi tiếc và cố gắng thực hành, nhưng họ vẫn không hiểu được tinh thần lề luật muốn nói lên, vô tình họ khó khăn hóa cho dân chúng giới răn nguyên thủy của Chúa và đồng thời đặt giới răn ra ngoài trường hợp đang bàn và quanh co tìm nhiều lối thoát, làm cho những ai người có kinh nghiệm ( tức là chính họ ), mặc dầu không tuân giữ lề luật vẫn có được lương tâm bằng an. Có nhiều dấu chứng cho thấy sự đui mù của họ: không phân biệt được tính cách bắt buộc chi tiếc của việc tuân giữ lề luật , ( tức là làm cho con người không còn chú ý đến những gì là chính yếu, trái lại đặc tâm lưu ý đến những điều phụ thuộc ) và việc vâng phục Chúa một cách chính đáng là cuộc sống vui tươi tự do. - Lời lên án thứ tư " khốn cho các ngươi " ( Mt 23, 23-24) cũng là lời lên án thượng đỉnh chống lại lời huấn dạy của các kinh sư và người Pharisêu. Điểm được đặt ra cho vấn đề những sản phẩm nào của đất đai bị lề luật buộc phải nộp thuế một phần mười của số lượng sản xuất. Cách giải thích cứng rắn bắt buộc đối với bất cứ sản phẩm tự nhiên nào, trong khi đó thì cách giải thích nhân đạo hơn giới hạn luật buộc đối với sản phẩm thông dụng theo truyền thống, tức là " lúa gạo, rượu nho và dầu oliu ": " Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là,rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhứt trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều nầy cứ phải làm, mà các điều kia không được bỏ " ( Mt 23, 23). Các kinh sư áp dụng Lề Luật Moisen một phần mười đối với các sản phẩm đất đai, ngay cả cho những loại rau cải hiếm hoi và không đáng giá bao nhiêu, như bạc hà, thì là, rau húng. Chúa Giêsu không chống lại tính cách bắt buộc của Lề Luật. Các đạo luật nầy, mặc dầu chính đáng, nhưng không có giá trị gì, khi chúng được áp dụng thiếu đi giá trị, tách rời khỏi công bằng, lòng nhân ái và thành tín, bởi lẽ đó là những đặc tính đích thực, nền tảng của chính các giới răn Thiên Chúa muốn huấn dạy cho: " Hỡi quân dẫn đường mù quáng ! Các ngươi lọc con muỗi, nhưng lại nuốt sống con lạc đà " ( Mt 23, 24 ). Đoạn nhắn nhủ cuối cùng, như ý nghĩa trong câu vừa trích dẫn, Thánh Matthêu dùng liên tưởng đến thói quen trong dân chúng hay dán keo chung quanh miệng chai, để đón bắt loại trừ ruồi, muổi hay bất cứ các loại côn trùng nào ra khỏi bình rượu. Người Pharisêu dùng phương thức vừa kể không phải chỉ để loại côn trùng, như vừa nói, mà còn để ngăn chận bất cứ chất liệu nào bẩn thỉu mà người dùng vô tình có thể phải uống nhầm. Các trường hợp chi tiếc, tĩ mĩ, lẻ loi mà các kinh sư đề ra thật quá mức, khiến cho người dân quên đi những điều quan trọng và chính đáng phải làm. Lạc đà là con thú lớn nhứt được biết ở Palestine, là một tỷ dụ quá đáng trong ngôn từ thường nhật của dân chúng: " lọc con muỗi, nhưng lại nuốt sống con lạc đà ", thật là một thái độ bất thường không tưởng của một con người có cuộc sống tự nhiên, chính đáng. - Câu tuyên án thứ năm " khốn cho các ngươi " (Mt 23, 25-26) nói lên thái độ phê bình đối với mức tôn thờ quá đáng luật lệ của nhóm người Pharisêu, gần đến mức trở thành cuồng tín. Dù sao đi nữa, ly và chén dĩa ở đây không được hiểu theo ý nghĩa từ chữ: - " Các ngươi rửa sạch bên ngoài chén dĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc, ăn chơi vô độ" ( Mt 23, 25) Bởi lẽ đáng nghi ngờ là người Do Thái chỉ có thói quen hài lòng về việc chỉ cần rửa sạch các đồ đựng bên ngoài. Các đồ đựng được đề cập ở đây được hiểu theo ý nghĩa tượng trưng và biểu tượng cho con người. Hiểu như vậy, câu lên án " khốn cho các ngươi " được hiểu là Chúa Giêsu lên án thái độ tuân giữ đúng đắn bên ngoài, mà bỏ lơ đi tâm trạng đáng phải có bên trong: - " Hỡi người Pharisêu mù quáng kia, hãy rửa bên trong chén dĩa cho sạch trước đã, để bên ngoài cũng được sạch " ( Mt 23, 26). - Lời lên án thứ bảy " khốn cho các ngươi " ( Mt 23, 27-28) về cấu trúc, cũng giống như câu lên án trước. Việc sơn trắng mồ mã bên ngoài ngày nay ở Palestine khởi đầu từ thời Tân Ước, vì từ thời đó, việc sơn trắng mồ mả là thói quen tự nhiên của cách sống xã hội. Sơn trắng mồ mả, bởi vì ai đụng chạm tiếp xúc với người chết hay mồ mả bị coi là động tác làm cho người đó trở thành dơ bẫn. Bởi đó sơn trắng mồ mả lên để cho ai cũng thấy được và cảnh giác đừng có vô tình động đến. Bên trong mồ mả được coi là mức độ dơ bẫn đến cùn độ: - " Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình ! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế " ( Mt 23, 27). Điều đươc đặt ra, ở đây cũng vậy, đó là cách hành xử của nhóm người Pharisêu: tuân giữ Lề Luật, mà người Pharisêu tự khoe khoan mình lên, đó chỉ là chiếc áo choàng khoát lên bên ngoài, để ẩn giấu cuộc sống hoàn toàn trái ngược với lề luật. Các tật xấu được đề cập đó là cuộc sống giả hình và bất chính phạm luật: - " Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác " ( Mt 23, 28). - Đoạn lên án lần thứ bảy " khốn cho các ngươi " ( Mt 23, 29-36) dài hơn các đoạn trước và một phần có ý ám chỉ đến việc giết Chúa Giêsu và chu toàn hoàn tất những điều được viết ra trong Thánh Kinh. Nhưng đàng khác cũng nói lên các cuộc tấn công của quyền lực Do Thái chống lại các Tông Đồ và các vị thừa sai của cộng đồng Kitô giáo tiên khởi. Đề cập đến việc xây mồ mả cho các tiên tri, Chúa Giêsu tố cáo lòng ngưỡng mộ gian trá đối với các tiên, mà trên thực tế, các ngài bị giết bởi chính các người Do Thái, như lịch sử Do Thái và lịch sử của cả nhân loại đều cho thấy rõ, khởi đầu từ Abele cho đến Zaccaria, một thầy tư tế chân chính bị vua Loas xứ Giuda giết: - " Các ngươi xây mộ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các ngươi nói: nếu chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẵn chúng ta đã không thông đồng các ngài mà đổ máu các ngôn sứ " ( Mt 23, 29-30). Qua câu tự biện hộ vừa kể của các kinh sư và người Pharisêu, câu lên án của Chúa Giêsu còn có lý chứng để tăng thêm án nặng hơn: - " Như vậy các ngươi tự làm chứng rằng các ngươi đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Thì các ngươi đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các ngươi đi ! " ( Mt 23, 31). Không những vậy, ngày nay, các kinh sư và người Pharisêu vẫn còn tiếp tục giết các tiên tri, bởi lẽ Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gởi các " tiên tri, các đấng bậc khôn ngoan và các kinh sư " ( các nhà truyền giáo Kitô giáo ), và các vị cũng sẽ cùng chung số phận với các tiên tri đã đi trước. Với thực tế đang xảy ra cho Giáo Hội thời các Thánh Tông Đồ, Thánh Matthêu còn gia tăng thêm lời lên án của Chúa Giêsu: - " Đồ mãng xà, loài rắn độc kia ! Các ngươi trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục? Bỡi lẽ Ta sai ngôn sứ, hiền nhân và kinh sư đến cùng các ngươi, các ngươi sẽ giết và đóng đinh người nầy vào thập giá, đánh đòn người kia trong hội đường và lùng bắt họ từ thành nầy đến thành khác " ( Mt 23, 33-34). Qua hình ảnh " các ngươi trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục " cho thấy chính Thiên Chúa sẽ xét đoán các tội lỗi tày trời của bọn người bị Chúa Giêsu lên án. Đây không phải là tội phạm như bất cứ lỗi phạm nào, mà là cuộc phán xét đối với đống tội lỗi chồng chất không biết hoán cải hối hận. Abele là nạn nhân đầu tiên của cuộc sát nhân trong Thánh Kinh ( Gen 4, 8) và tiên tri Zaccaria là nạn nhân cuối cùng trong Thánh Kinh Do Thái ( 2 Cron 24, 20-22). Bởi đó tại sao trong câu Phúc Âm, Thánh Matthêu đề cập đến danh tánh hai nhân vừa kể, biểu tượng cho cả lịch sử sát nhân trong Thánh Kinh: - " Như vậy, máu của tất cả những người công chính đã đổ xuống đất, thì cũng đổ xuống đầu các ngươi, từ máu ông Abele, người công chính, cho đến máu ông Zaccaria, con ông Rebecca, mà các ngươi đã giết giữa đền thánh và bàn thờ . Ta bảo thật các ngươi, tất cả những tội ấy sẽ đổ xuống đầu thế hệ nầy " ( Mt 23, 35-36). Trong phần kết thúc, đoạn tường thuật trở lại chủ đề nền tảng của Phúc Âm thánh Matthêu: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế đã được Cựu Ước tiên hứa, nhưng dân được chọn lại khước từ Người và như vậy Israel bị loại trừ khỏi dòng lịch sử cứu rổi. Đoạn than thở cuối cùng thật là buồn thảm, bất lực: - " Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang mặc cho các ngươi " ( Mt 23, 38). Câu nói đó cũng nhắc cho chúng ta lời than thở của tiên tri Geremia: - " Nhà nầy sẽ nên chốn hoang tàn " ( Ger 22, 5). Israel đã khước từ Thiên Chúa của mình, thì Thiên Chúa cũng từ bỏ dân Người. Nhưng Người không từ bỏ họ vĩnh viễn và không còn hy vọng nào. Đồ án cứu độ của Thiên Chúa không bị thất bại, bởi lẽ những lời cuối cùng nhắc cho chúng ta lời chúc tụng trong ngày Lễ Lá và Thánh Giá tiên báo cuộc Phục Sinh khải hoàn và Thăng Thiên của Chúa Giêsu: - " Ta nói cho các ngươi biết, từ nay các ngươi sẽ không còn thấy Ta nữa, cho đến khi các ngươi nói lên: Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Thiên Chúa " ( Mt 23, 39).

 

Hôn nhân và đời sống sau khi sống lại ( Mt 22, 23-33). Nhóm người Sadducei không tin có cuộc sống lại, bởi vì lề luật được viết ra không hề đề cập đến, hay đúng hơn, ho dựa vào câu Thánh Kinh: - " ...vì từ bụi đất ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất " ( Gen 3, 19), và từ đó họ mới tung ra thái độ nói bóng gió nói xuyên nói xẻo: - " Trong chúng tôi, nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ rồi chết. Và vì không có con nối dòng, nên để vợ lạy cho em. Người thứ hai, rồi người thứ ba, cho đến hết bảy , người nào cũng vậy. Sau hết người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, bà ấy sẽ là vợ ai trong số bảy người, vì tất cả đều đã lấy bà ? " ( Mt 22, 25-28). Trái lại, trong khi đó người Pharisêu quan niệm rằng đời sống sau biến cố sống lại là vẫn sống theo lối sống vật chất, bằng cách trích dẫn nhiều đoạn Thánh Kinh như: - " Tôi nhìn thấy trên chúng đã có gân; thịt đã mọc lên và da đã trải ra ở bên trên, nhưng thần khí chưa có ở nơi họ " (Ez 37, 8 ) - " Quả thật, Người biết rõ quân vô loại, tội ác; Người thấy ngay mà không cần chú ý " ( Gb 10, 11). Chúa Giêsu giải quyết vấn đề bằng cách xác nhận rằng hôn nhân không kéo dài mãi cho đến sau cái chết. Quan niệm vừa kể cũng được Thánh Phaolồ cho biết rõ ràng, khi xác nhận sự sống lại, nhưng đồng thời cũng cho biết thân thể con người sẽ được biến đổi đi: - " Thế ra, chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì đã chống lại Thiên Chúa mà làm chứng rằng Người đã cho Chúa Giêsu chỗi dậy, trong khi thực sự Người đã không cho Chúa Giêsu trỗi dậy, nếu quả thật kẻ chết không trỗi dậy.Vì nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Chúa Giêsu cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Chúa Giêsu đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, những người đã an nghĩ trong Chúa Kitô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Chúa Kitô chỉ vì đời nầy mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người...Thưa anh em, điều tôi muốn nói là xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa được, cũng như cái hư nát không thể thừa hưởng sự bất diệt được...không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong giậy lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên. Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ trỗi dậy, mà không còn hư nát, còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi. Cái thân hư nát nầy sẽ mặc lấy sự bất diệt, và cái thân phải chết nầy sẽ mặc lấy sự bất tử " ( 1 Cor 35-53). Mẫu gương các thiên thần nói lên cho biết trong đó vấn đề phái giống không có một chỗ đứng nào. Câu nói - " Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời " ( Mt 22, 30) không có ý nói lên yếu tố thể xác con người không còn nữa, bởi lẽ nếu như vậy là tự chối ngay sự sống lại, và xác nhận chỉ có linh hồn mới có đời sống bất diệt, theo tư tưởng của Platon. Ngoài ra cách giải thích thần học nầy, Chúa Giêsu còn đưa ra một phương thức " chú giải " ( exégétique) khác. Các người Sadducei không tin vào sự sống lại, bởi lẽ luật lệ kkhông hề đề cập tới. Câu trả lời của Chúa Giêsu trái lại,dựa vào những gì lề luật đã trích dẫn từ sách Xuát Hành: - " Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob . Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của người sống " ( Ex 3, 6). Các tổ phụ đã chết từ lâu rồi, khi Thiên Chúa đã truyền lệnh cho Moisen. Tuy nhiên, Thiên Chúa là Chúa của Abraham, Isaac và Giacob. Điều vừa kể không thể xảy ra được, nếu những kẻ kề cận vừa kể không còn sống nữa. Tuy nhiên các vị, một cách nào đó phải còn sống một cách khác với đời sống của thân thể trên trần gian ngày xưa: - " Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Chúa của người sống " ( id.). Nhóm người Sadducei không có khả năng biện luận trả lời lại cho Chúa Giêsu những gì Người vừa nói ra, không thể cắt nghĩa được câu nói vừa kể của sách Xuất Hành. Bởi lẽ theo họ, giữa Thiên Chúa và người chết không còn có một sự liên hệ nào nữa. Điều răn trọng nhứt ( Mt 22, 34-40). Đây là đoạn Phúc Âm thuật lại lần thứ tư các cuộc tranh luận. Các viện thần học thời đó đặt ra vấn đề muốn biết điều răn tôn giáo nào là điều răn quan trọng nhứt. Thật vậy, các kinh sư đã đếm được 613 giới răn trong lề luật, trong đó có 248 giới răn tích cực ( tức là nên làm, phải làm ) và 365 giới răn tiêu cực ( cấm không được làm). Các giới răn vừa kể được chia ra thành " nhẹ nhàn " và " hệ trọng ", tùy theo thực chất được đề cập đến. Câu hỏi của những người Pharisêu: - " Thưa Thầy, trong sách luật Moisen, điều răn nào là điều răn trọng nhứt ? " ( Mt 22, 36), là câu hỏi thường tình, thường xảy ra trong các cuộc tranh luận giữa các kinh sư. Câu trả lời của Chúa Giêsu được đóng khung trong hai trích dẫn luật: - " Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em " ( Dt 6,5). - " Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu người đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa " ( Lv 19, 18). Và đó là hai định luật nền tảng nền luân lý mới của Phúc Âm. Bản văn của sách Đệ Nhị Luật ( Dt : Deuteronomia) đã trở thành một phần khuôn sườn tuyên xưng đức tin của dân Do Thái: - " Hãy nghe đây Israel, ngươi hãy yêu Thiên Chúa của ngươi hết lòng da..." . Nhưng điều mới lạ lời xác nhận của Chúa Giêsu không nằm trong việc trích dẫn điều răn nầy, mà bất cứ kinh sư nào cũng đánh giá đó là câu trả lời thượng đẳng. Điều mới lạ, trái lại, đó là việc đặt điều luật của sác Levi ( Lv 19, 18), - " Ngươi hãy yêu thương người thân cận như chính mình " ngang hàng với giới răn của sách Đệ Nhị Luật ( Dt 6,5 ), " Anh em hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết dạ, hết sức anh em". Trong văn chương Do Thái không có một đoạn văn nào có thể so sánh được với những gì được Chúa Giêsu nêu lên, nói lên hai nền tảng tôn giáo như là một định luật duy nhứt trên thực tế. Và Thánh Matthêu còn cho biết thêm: - " Tất cả luât Moisen và sách các ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn nầy " ( Mt 22, 40), tức là cả Cựu Ước. Các động tác, hành xử của chúng ta có giá trị, khi chúng là những động tác vì yêu thương Chúa và yêu thương người thân cận. Con vua David ( Mt 22, 41-46 ). Đây là đoạn tường thuật thứ năm về cuộc tranh luận. Cho đến đây, Chúa Giêsu đã trả lời cho những câu hỏi được đặt ra, bằng cách nầy hay cách khác. Đến đây thì chính Chúa Giêsu đứng ra đặt câu hỏi đối với các người Pharisêu, một câu hỏi về vấn đề chú giải: - " Các ông nghĩ sao về Đấng Cứu Thế ? Người là con của ai ? ( Mt 22, 42). Câu hỏi đó làm cho họ không trả lời được. Theo cách giải thích chung ( Ps 110), Đấng Cứu Thế là con vua David, nhưng Chúa Giêsu lưu ý những người Pharisêu đang nghe Người: - " Vậy tại sao vua David, được Thần Khí soi sáng lại gọi Người là Chúa Thượng, khi nói rằng: " Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi: bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con " ( Mt 22, 43-44). Một vài nhà chú giải có khuynh hướng nhấn mạnh đến nguồn gốc siêu phàm của Chúa Kitô, được thể hiện rõ ràng trong Thánh Vịnh ( Ps 110): mặc dầu Người là con cháu dòng họ vua David theo thể xác của Người, Người vẫn trổi thượng hơn vua David bởi phẩm giá Con Thiên Chúa của Người, bởi đó Người cũng là Chúa Thượng của vua David: - " Vậy nếu vua David gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì làm sao Đấng Kitô lại là con cua ấy được ? " ( Mt 22, 45). Nhưng tâm điểm của đoạn tường thuật là người Pharisêu không có đủ khả năng để giải đáp được một vấn đề chú giải sơ đẳng như vậy. Điều đó cho thấy Chúa Giêsu chứng tỏ cho thấy họ, những người Pharisêu , không phải là những vị thầy có thẩm quyền trong vấn đề tôn giáo, bởi lẽ ngay cả tài năng giải thích được tán tụng của họ cũng bị vở từng mảnh. Hiểu như vậy, họ không thể tự cao tự đại cho mình là những vị quan toà thẩm phán nói về căn tính của Chúa Giêsu được, bởi lẽ họ không có cả khả năng chú giải một bản văn về Đấng Cứu Thế. Điều vừa kể cho thấy không có ý nghĩa gì bất cứ tư tưởng nào của họ về Chúa Giêsu, được họ nhận hay bị từ chối là Đấng Cứu Thế. Họ không có khả năng có thể hiểu được Thánh Kinh, trong đó Đấng Cứu Thế được mạc khải cho.

 

Dụ ngôn về tiệc cưới ( Mt 22, 1-14). Điều bất đồng ý kiến giữa Phúc Âm Thánh Matthêu và Phúc Âm Thánh Luca trong dụ ngôn nầy thật là lớn lao, khiến cho các nhà thánh kinh học kết luận rằng đó là do Thánh Matthêu khai thác thật rộng lớn hơn. Thay vì là một buổi tiệc cưới đơn sơ của dân chúng, Thánh Matthêu diễn tả như là một đại lễ cưới hỏi ở triều đình. Thêm vào những lời cáo lỗi có viện cớ của các người được mời trong Thánh Luca, Thánh Matthêu còn thêm cả việc ám sát các sứ giả và tiếp theo đó là việc xảy ra chiến cuộc: - " Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi trù diệt bọn sát nhân ấy và tiêu hủy thành phố của chúng “ ( Mt 22, 7). Yếu tố vừa kể có lẽ nói lên để liên tưởng đến việc quân Roma tiêu diệt thành Giêrusalem năm 70 sau Thiên Chúa Giáng Sinh. Cả dụ ngôn thứ ba nầy cũng được thuật lại theo chiều hướng trước đó. Hai bối cảnh nói lên điều vừa kể: - bối cảnh thứ nhứt là cuộc đại tiệc hôn nhân của cậu thái tử, con vua (điều đó được hiểu rõ ràng bằng biến cố nhập thể đến trần gian của Chúa Kitô. Chúng ta nên nhớ rằng ngay trong Cựu Ước cuộc giao ước với Thiên Chúa được thể hiện bằng các hình ảnh hôn lễ và tiên tri Isaia diễn tả thời điểm của Đấng Cứu Thế được biểu tượng dưới hình ảnh buổi tiệc cưới : “ Ngày ấy, trên núi nầy, Thiên Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon “ ( Is 25, 6). Thái độ đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa để tham dự vào tiệc Người đãi cho là thái độ cứng lòng và tiêu cực, đến giận dữ chống báng đối với lời mời gọi, tức là chống báng đối với các vị ngôn sứ ( như những gì đã xảy ra trong dụ ngôn các tá điền vườn nho trước đó. Nhà vua liên nổi giận, đốt thành phố của họ. - Trong bối cảnh thứ hai, nhà vua tiếp tục đưa ra những lời mời gọi mới: tất cả mọi người, người tốt cũng như người xấu, đều được mời đến dự tiệc. Từ nay buổi tiệc được mở ra cho mọi dân tộc. Tuy nhiên, đối với những người khách mới được mời nầy cũng vậy. Cần phải thành tâm và giốc lòng tham dự. Hình ảnh đó được thể hiện qua thái độ biểu tượng thay đổi y phục. Bởi đó nhà vua mới có thái độ với người được mời: “ Nầy bạn, làm sao bạn vào đây, mà lại không có ý phục lễ cưới ? “ ( Mt 22, 12), tức là phải có lòng thành thật nội tâm, theo giá trị Thánh Kinh, đó là hình ảnh thể hiện lên động tác của đức công chính, được đức tin hướng dẫn: - “ Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối “ ( Mt 3, 8). - “ Vậy, Thầy bảo anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời “ ( Mt 5, 20). - “ Không phải bất cứ ai thưa Thầy: Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! “ là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi… “ ( Mt 7, 21ss). - “ Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng “ ( Mt 13, 47-50). - “ Trong hai người con đó, ai thi hành ý muốn của người cha? Họ trả lời: “ Người thứ nhứt “. Chúa Giêsu nói với họ: “ Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến, chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin “ ( Mt 21, 31-32). Nộp thuế cho Cesare ( Mt 22, 15-22). Đây là đoạn tường thuật lần thứ hai ( lần thứ nhứt nói về uy quyền của Chúa Giêsu, Mt 21, 23-27, trong năm lần tường thuật kể lại các cuộc tranh luận hiện diện trong phần Phúc Âm bàn về chủ đề. Đoạn tường thuật nầy được lấy lại từ Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 12, 13-17) với một ít thay đổi. Đoạn Phúc Âm Thánh Luca ( Lc 20, 20-26) chủ đề đang bàn được thay đổi rộng rãi hơn. Các người Pharisêu và những cận thần của vua Erode đặt Chúa Giêsu dưới một đề tài nóng bỏng, nhưng chủ đích của họ là chủ đích xảo quyệt. Bởi lẽ họ hỏi không phải để được trả lời, mà chỉ muốn đặt Chúa Giêsu dưới một đề tài khó ai có thể dễ dàng mở miệng được: - “ Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Chúa Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy…Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được nộp thuế cho Cesare hay không ? “ ( Mt 22, 15-17). Chiếc bẫy được vươn ra thật rõ ràng: trả lời khước từ, Chúa Giêsu có thể gây phản ứng của quyền lực Roma; trả lời ưng thuận, Chúa Giêsu có thể làm mất đi thiện cảm của dân chúng đối với Người. Câu trả lời của Chúa Giêsu thật là một câu trả lời bất ngờ và làm cho các người đối thoại đều bỡ ngỡ: - “ …của Cesare trả về cho Cesare; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa “ ( Mt 22, 21). Qua câu trả lời vừa kể Người bác bỏ ý kiến của các cận thần vua Erode, cũng như của những thành phần nhứt quyết tuyệt đối đấu tranh. Đồng tiền mang hình ảnh Cesare cho thấy chân trời kinh tế chính trị có quyền tự lập của mình. Tuy nhiên quyền tự lập đó phải luôn luôn đặt mình trước con người, tạo vật trực tiếp tùy thuộc Thiên Chúa, bởi lẽ con người trực tiếp tùy thuộc vào Thiên Chúa, được Chúa dựng nên “ giống hình ảnh Người “ ( Gen 1, 26-27), và được chính Thiên Chúa bảo vệ phẩm giá mình vượt lên trên bất cứ lề luật kinh tế - chính trị nào có thể tha hóa con người. Tổ chức quốc gia không thể nâng cao mình lên thành quyền lực tuyệt đối: mọi quyền lực chính trị - Roma hay không cũng vậy – không thể tự đề cao mình lên trên các quyền, mà chỉ có Thiên Chúa mới có được. Tổ chức quốc gia không thể thu hút, tước đoạt tất cả trái tim con người, cũng không thể thay thế cho lương tâm con người. Tư tưởng đó của Chúa Giêsu góp phần định hướng cho các cộng đồng Kitô giáo tiên khởi, chống lại các định kiến chính trị phi chính phủ, - “ Anh em nợ ai cái gì, thì hãy trả cho người ta cái đó; nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính “ ( Rom 13, 7). - “ Vì Chúa, anh em hãy tuân phục thể chế do loài người đặt ra: dù là vua, người nắm quyền tối cao, dù là quan, sứ giả của nhà vua để trừng phạt kẻ làm điều ác và khen thưởng người làm điều thiện…” ( 1 Pt 2, 13-14). và lên án chống lại quyền lực tự tôn mình là thần thánh, phi tôn giáo, xem Thiên Chúa bằng không ( Act 18, 1-3).