Tham Khảo >>  Công Giáo và Xã Hội

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

" Làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " hay " làm chính trị " xứng đáng với danh nghĩa người tín hữu Chúa Ki Tô, không có nghĩa là một nhản hiệu, cứ " liếm cò", " dán tem " gắn vào đảng phái, hệ thống chính trị nào là có được đảng phái " làm chính trị " xứng đáng với danh nghĩa và đặc tính phải có " như người tín hữu Chúa Ki Tô ". Theo tinh thần của Phúc Âm, làm chính trị là một cách tác động nghiêm chỉnh và là một lối sống và hành động chọn lựa cần nhiều đòi hỏi. Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa là tuyên bố " chính trị Ki Tô giáo ". Phúc Âm không đưa ra các toa thuốc " cao đơn hoàn tán" cho chính trị, kinh tế và tổ chức xã hội. Chính trị, cũng như các thực tại trần thế khác, có mục đích, nội dung và phương thế không tùy thuộc vào mạc khải, nhưng tùy thuộc vào bản chất tự nhiên của thế giới được Chúa dựng nên. Do đó " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " không phải là làm cho xã hội trở nên thánh thiện hơn hay bảo vệ lợi lộc của Giáo Hội, bảo vệ quyền ưu tiên thượng đẳng của hàng giáo phẩm. Người tín hữu Chúa Ki Tô cũng như bất cứ người công dân nào khác trong cộng đồng quốc gia, dấn thân vào chính trị là chuyên tâm để tạo được lợi ích chung cho mọi công dân trong cộng đồng, hay nói như Công Đồng Vatican II, là để tạo nên - " những điều kiện sống xã hội cho phép các tổ chức xã hội trung gian cũng như cho mỗi thành phần trong cộng đồng đạt được hoàn hảo con người của mình một cách đầy đủ và mau lẹ hơn" ( Gaudium et Spes, GS, n. 26). Tư tưởng vừa kể, chúng ta cũng gặp được trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nền mạc khải của Ki Tô giáo là mạc khải có tính cách siêu nhiên, nhưng ngoài ra việc mạc khải cho con người những mầu nhiệm của Thiên Chúa về tình thương và ơn cứu độ của Người, Phúc Âm cũng - " ...mạc khải hoàn hảo chính con người cho con người " ( Gaudium et Spes, GS, n.22). Như vậy, " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " là biết rút ra từ Phúc Âm những hiểu biết, lý tưởng, ước vọng, các giá trị và nghị lực để chăm lo vào lợi ích chung, mà người tín hữu Chúa Ki Tô góp phần cộng tác với những người thành tâm thiện chí khác để đạt được. Từ đó chúng ta thấy được rằng " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô ", người tín hữu phải biết đo lường hành động của mình với một vài tiêu chuẩn căn bản, mà gần đây Giáo Hội thường xuyên nhắc đến trong các Huấn Dụ Xã Hội của mình: - trung thành với các giá trị, - trung thành chủ quan và khách quan, - làm chính trị theo phương thức dân chủ, - đặc tính trần thế của chính trị, - tự lập trong các lựa chọn chính trị, - đạo đức và thẩm quyền chuyên môn trong chính tri. Đó là những đặc tính mà người làm chính trị phải có, nếu muốn được xem là " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô". 1 - Trung thành với các giá trị. Tiêu chẩn trước hết để người phục vụ chính trị, sống theo tinh thần Ki Tô giáo, không có tiêu chuẩn nào khác hơn là trung thành với các giá trị của Phúc Âm. Thiên Chúa Nhập Thể, hội nhập vào lịch sử con người, " một cách nào đó đã trở thành hiệp nhứt với con người " ( GS, n. 22). Chúa Giêsu Nhập Thể, như là một con người, đến để sống, hiểu biết, chia xẻ và làm vơi đi những âu lo, bất hạnh của con người và chỉ cho họ con đường phải đi theo đề tìm về nguồn mạch hạnh phúc viên mãn và đích thực. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được tại sao Phúc Âm chứa đựng lời đáp ứng lại liên quan đến các câu hỏi căn bản của con người, tín hữu hay không tín hữu cũng vậy, cả những câu trả lời căn bản liên quan đến tương lai của lịch sử. Báo cho biết trước kết quả cuối cùng của lịch sử con người, cá nhân hay cộng đồng xã hội cũng vậy, Phúc Âm mạc khải ý nghĩa đích thực cho việc con người dấn thân tác động trong thế giới hiện tại. Người tín hữu Chúa Ki Tô biết được rằng - " Thiên Chúa chuẩn bị một nơi cư ngụ mới và một thế giới mới, nơi đó sẽ là nơi ngự trị của nền công chính", từ đó người tín hữu được mời gọi ngay từ bây giờ hãy chuẩn bị trước các lợi thú thiết thực " ( GS, n. 39). Nói cách khác, Phúc Âm mạc khải Chúa Giêsu là Con Người hoàn hảo, là Đấng sẽ thu tóm về mình mọi thực tại, đồng thời cũng là Đấng mạc khải những giá trị thực sự nhân bản đích thực là những giá trị nào, có khả năng làm nền tảng cho một xã hội công chính và thân hữu mà con người mong đợi. Hay nói như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo đảm nhâm phẩn đó ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Công Đồng Vatican II giải thích rõ hơn: - " Chúa Giêsu là cùng đích của lịch sử con người, là tiêu cự điểm của các ước muốn lịch sử và văn minh con người, trung tâm điểm của nhân loại, niềm lạc quan của con tim, nỗi thoả mãn đầy tràn của mọi ước vọng " ( GS, n. 45). Và Công Đồng Vatican II kết luận: sứ điệp Phúc Âm liên quan đến con người và xã hội không những chỉ có giá trị đối với các tín hữu Chúa Ki Tô, mà đối với mọi người, trong tâm hồn họ đều được ân sủng Thiên Chúa tác động. Bởi vì Chúa Giêsu chết cho tất cả mọi người và ơn gọi của nhân loại chỉ là một, đó là ơn gọi tất cả đều hướng về Chúa là cùng đích. Bởi đó chúng ta phải nhìn nhận rằng - " Chúa Thánh Thần đổ ơn của Người xuống mọi người, cách nào đó theo ý Chúa muốn, để tất cả đều thông hiệp vào mầu nhiệm Phục Sinh" ( GS, n. 22). Đức Hồng Y Carlo Maria Martini, Nguyên Tổng Giám Mục Milano cho biết là một trong những giá trị khẩn thiết và quan trọng nhứt của việc người công giáo dấn thân vào chính trị là hoán chuyển ( hay trung gian điều giải, mediazione) các chân lý của đức tin thành giá trị cho con người và xã hội, như vậy các giá trị đó - " trở nên định hướng để sống được và ngưỡng mộ được đối với mọi người, tạo được sự đồng thuận và chấp nhận rộng lớn hết sức có thể " ( Card. C.M. Martini, C'è un tempo per tacere e un tempo per parlare", in Aggiornamenti Sociali , 2/1996, 174). Và Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, n. 565 ( Compendio Dottrinale Sociale della Chiesa): - " Định hướng hoạt động chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô". Đối với người tín hữu giáo dân dấn thân chính trị là một phương cách xác nhận đặc tính và việc dấn thân cần thiết phải có của người Ki Tô hữu phục vụ người khác. - đạt được công ích trong tinh thần phục vụ - phát triển công lý cùng với lòng chú tâm đặc biết đến các hoàn cảnh khó nghèo và đau khỗ; - tôn trọng lãnh vực tự lập của các thực tại trần thế; - nguyên tắc phụ túc bảo trợ; phát huy đối thoại và hoà bình trên nền trời liên đới. Đó là những định hướng mà người tín hữu Chúa Ki Tô cần đặc tâm quy hướng các tác động chính trị của mình. Mọi người tín hữu, chủ nhân của quyền và bổn phận người công dân, đều phải tôn trọng các định hướng vừa kể. Nhứt là những ai có bổn phận lãnh đạo và và quản trị các vấn đề phức tạp của lãnh vực chính trị, trung ương cũng như địa phương, quốc gia cũng như quốc tế càng phải đặc tâm hơn nữa. Tiêu chuẩn tiên khởi để có được một sự hiện diện trong chính trị " như người tín hữu Chúa Ki Tô " , không có tiêu chuẩn nào khác hơn là trung thành với các giá trị Phúc Âm. Trung thành không có nghĩa chỉ là trung thành trên lý thuyết, mà là đem các giá trị Phúc Âm ra sống trong đời sống cá nhân của mình, nhân chứng và trung gian điều giải, áp dụng vào cuộc sống công cộng. Các giá trị nhân bản cao cả của luân lý thoát xuất từ đức tin Ki Tô giáo - phải được sống không những trong lương tâm mình và trong các thái độ hành xử cá nhân, mà còn phải được thể hiện ra trong văn hoá và, qua việc tự do tác động gây nên được sự đồng thuận, cũng sẽ được diễn tả ra bằng cấu trúc xã hội, luật pháp và cơ chế quốc gia. Kế đến tài liệu Hội Đồng Giám Mục Ý liệt kê những giá trị quan trọng: - địa vị tối thượng và trung tâm điểm của con người, - tính cách thiên thánh và bất khả xâm phạm đời sống con người trong mọi thời điểm của cuộc sống, - hình ảnh và sự cộng tác của người phụ nữ trong việc thăng tiến xã hội, - vai trò và tính cách bền bĩ của gia đình được đặt trên nền tảng hôn nhân, - tự do và các quyền bất khả xâm phạm của con người và của các dân tộc, - liên đới hỗ tương và công bình xã hội trên bình diện thế giới ( CEI, Evangelizzazione e Testimonianza della carità, 08.12.1990, n. 41, in ECEI IV/2768). Thánh Bộ Tín Lý nhấn mạnh đến việc người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân trong lãnh vực chính trị phải luôn luôn là động tác dấn thân được đặt trên quan niệm chính đáng về con người: - " Trên nguyên tắc nầy, việc dấn thân vào chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô không thể có một bất cứ một sự nhượng bộ nào, nếu không họ không thể làm tròn bổn phận nhân chứng đức tin Ki Tô giáo giữa trần thế, sự hiệp nhứt và trung thành nội tâm của chính những người tín hữu ( ...). Ngoài ra chính sự kính trọng nhân phẩm con người làm cho mọi người có thể tham dự vào thể chế dân chủ " ( Congregazione per la Dottrina della Fede. Nota dottrinale circa alcune questioni riguardanti l'impegno e il comportamento dei cattolìci nella vita politica, n. 3, in Il Regno - documenti 48 ( 3/2003), 72) . 2 - Trung thành chủ quan và trung thành khách quan. Đức Giáo Hoàng Gioan Pholồ II đã xác định rõ rệt vấn đề " trung thành" của người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị. Dĩ nhiên trong chính trị các người tín hữu Chúa Ki Tô có những lối nhìn đa diện khác nhau, bởi đó Ngài xác nhận: - " Giáo Hội không nên và cũng không có ý liên hệ vào bất cứ một đường lối chính trị hay đảng phái nào, cũng như không tỏ mình đứng về phía nầy hay phía kia của giải pháp, cơ chế hay hiến định nào cả, nếu các giải pháp đó đều là những giải pháp tôn trọng thực sự thể chế dân chủ " ( Giovanni Paolo II, Discorso al congresso nazionale della Chiesa italiana, Palermo 23.11.1995, in L ' Osservatore Romano, 24.11.1995). a) Đối với vấn đề " trung thành về phía chủ quan ", mặc cho tính cách chính đáng các tác động đa diện trong chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô, Đức Thánh Cha cũng không quên: - " ...dù vậy, không ai có thể cho phép người tín hữu Chúa Ki Tô vắng mặt trong các lãnh vực văn hóa" ( id., n. 10). Trung thành với đức tin và với lời huấn dạy của Giáo Hội tự nhiên sẽ hướng dẫn người tín hữu Chúa Ki Tô hợp nhứt trong nhãn quang về các giá trị nhân bản được soi sáng bằng ánh sáng Phúc Âm. Bất cứ phải hành xử phận vụ của mình ở nơi đâu, các người tín hữu Chúa Ki tô cũng có khuynh hướng và tự bản năng mình, quy tựu nhau để bênh vực các giá trị luân lý nền tảng của Ki Tô giáo. Bản năng Ki Tô hữu tự nhiên hướng dẫn họ không thể không trung thành chủ quan, theo xác tín luân lý của mình, nếu không cảm nhận mình bị lương tâm trách móc. Nhưng " trung thành theo phương diện chủ quan" như vừa kể không nên lầm lẫn với thái độ đứng ra tuyên bố các giá trị nền tảng, được diễn dịch trực tiếp từ các nguyên lý của đức tin: đời sống, gia đình, hôn nhân... Dĩ nhiên tuyên bố theo nguyên tắc các giá trị vừa kể đã là " trung thành ", nhưng thái độ " trung thành theo phương diện chủ quan" của người tín hữu Chúa Ki Tô không hệ tại ở chỗ tuyên bố để mà tuyên bố, mà còn phải - " tìm ra những dụng cụ để biến các giá trị của nguyên tắc thành thực dụng, ai cũng có thể tham dự được" ( Card. Carlo Maria Martini, " C'è un tempo per tacere e un tempo per parlare, op. cit., p. 74). b) Nhưng lắm khi " trung thành theo phương diện chủ quan" thôi, chưa đủ. Bởi đó Đức Thánh Cha Gioan Pholồ II còn thêm một phương cách trung thành khác, " trung thành khách quan ", cần phải có để hướng dẫn người tín hữu Chúa Ki Tô trong các quyết định lựa chọn của mình. " Trung thành khách quan ": trung thành với xác tín lương tâm không miễn chuẩn cho người tín hữu Chúa Ki Tô khỏi phải giám định yếu tố khách quan nào hợp hay không hợp với những giá trị được đức tin dạy bảo chúng ta, có thể ứng dụng vào thực tế để hành xử. Và đó là những gì Đức Thánh Cha giải thích rõ hơn: - " Người tín hữu Chúa Ki Tô không thể cho rằng mọi quan niệm, mọi nhãn quang về cuộc sống trần thế đều có thể phù hợp với đức tin, cũng không thể tham gia một cách dễ dàng vào bất cứ lực lượng chính trị hay xã hội nào đi ngược lại hay không đặt trọng tâm đủ đến các nguyên tắc huấn dụ xã hội của Giáo Hội" ( Giovanni Paolo II, Discorso al Convegno nazionale della Chiesa italiana, Palermo 23.11.1995, cit., 10). Giáo Hội không thể và cũng không được tham gia vào khuynh hướng chính trị nầy hay khuynh hướng chính trị khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là Giáo Hội không được có tiếng nói. Giáo Hội không thể lẫn trốn, thoái thoát trách vụ của mình đưa ra những định chuẩn luân lý chính trị, khuôn mẫu hay chương trình chính trị nầy hay chương trình chính rị khác, chỉ vì sợ rằng mình bị kết án là thiên vị: - " Bây giờ không còn phải là thời điểm dững dưng, im lặng, và trung lập đứng tách rời và đứng giữa khoảng cách đều nhau. Nói rằng mình không đứng về phía bên nầy hay phía bên kia cũng chưa đủ, để có thể tự mãn. Không chính đáng cho rằng mình có thể lựa chọn, vào thời điểm thích hợp, nhóm nầy hay nhóm khác cũng được, tùy theo nhóm nào đem lại lợi lộc nhiều hơn. Đúng hơn đây là thời điểm cần giúp đỡ để phân định phẩm chất luân lý không những hàm chứa trong các việc chọn lựa chính trị cá biệt, mà còn ngay cả đối với đường lối chung để hành xử chính trị và trong quan niệm hành xử chính trị hàm chứa trong các ý thức hệ đó. Không phải chỉ liên hệ đến tự do của cá nhân, không phải chỉ liên hệ đến tương lai của Giáo Hội, mà liên hệ đến tương lai của dân chủ " ( Card. C. M. Martini, " C'e un tempo per tacere e un tempo per parlare", cit, 171). 3 - Làm chính tri theo phương thức dân chủ. Quả quyết bằng miệng mình trung thành với các giá trị và nội dung Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội không có giá trị bao nhiêu, nếu phương thức làm chính trị không phải là phương thức dân chủ thực sự. Làm sao có thể bảo đảm được những giá trị và nội dung đó, nếu phương thức hành xử chính trị đáng trách cứ về phương dịện luân lý và không có gì là bảo đảm về phương diện dân chủ? Mussolini cũng không hành xử gì khác hơn khi tuyên bố rằng - giá trị của hôn nhân bất khả phân ly, - bảo đảm tự do dạy giáo lý nơi học đường, - phụ huynh có quyền tự do chọn trường học cho con cái, - Giáo Hội Ý Quốc và Toà Thánh có quyền tự do trong lãnh vực của mình, nhưng bao nhiêu chính trị gia lỗi lạc công giáo lúc đó đều xa lánh Mussolini, không phải vì không chấp nhận những " giá trị " mà Mussolini vừa hứa, cho bằng lối làm chính trị đảng Phát Xít của Mussolini là lối hành xử chính tri phi nhân, vô luân lý và chống dân chủ, không thể chấp nhận được. Chính Đức Giáo Hoàng Pio XI, chỉ sau hai năm ký thoả ước với Mussolini, đã phải ra Thông Điệp " Non abbiamo bisogno 1931" ( Chúng tôi không cần) để bênh vực "các giá trị được thỏa ước công nhận ", nhưng bị cách làm chính trị của Phát Xít chà đạp. Kể lại kinh nghiệm vừa kể của Toà Thánh đối với " cách làm chính trị Phát Xít " của Mussolini để gợi lại cho người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân trong chính trị nhớ phải " làm chính trị theo phương thức dân chủ ". Giáo Hội phải luôn luôn nói lên tiếng nói rõ ràng và khẳng định phương thức làm chính tri phải có là " phương thức dân chủ ", như là trách nhiệm trọng đại của Giáo Hội. Giáo Hội không thể làm thinh, đối với bất cứ ai. Ai không " làm chính trị theo phương thức dân chủ ", Giáo Hội vẫn phải lên tiếng, dẫu cho tiếng nói của Giáo Hội có làm cho mình bị phán đoán cho là thiên vị. - " Làm chính trị không theo phương thức dân chủ " là chính trị vi phạm các quyền căn bản tối thiểu bất khả xâm phạm của con người, ngược lại tín lý Ki Tô giáo ( Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, n. 573). Theo đảng phái chính trị nào? Một lãnh vực cá biệt để người tín hữu giáo dân chuẩn định các dụng cụ chính trị, đó là gia nhập một chính đảng hay các ý thức hệ trong việc tham gia chính trị. Cần phải có những quyết định lựa chọn hợp với các giá trị, đặc tâm lưu ý đến các hoàn cảnh thiết thực. Trong mọi trường hợp, bất cứ một sự lựa chọn nào cũng phải là lựa chọn được phát xuất từ đức bác ái và lựa chọn để mưu cầu lợi ích chung. Các đòi hỏi của đức tin Ki Tô giáo khó mà có thể tìm được quy tựu tất cả vào một giải pháp chính trị duy nhứt: cho rằng một chính đảng hay một ý thức hệ chính trị đáp ứng hoàn toàn các đòi hỏi của đức tin và đời sống Ki Tô giáo là lối suy luận nguy hiểm. Người tín hữu Chúa Ki Tô không thể tìm được một chính đảng nào đó hoàn toàn đáp ứng được các đòi hỏi luân lý phát xuất từ đức tin và từ việc mình thuộc thành phần Giáo Hội: gia nhập vào một chính đảng hay một ý thức hệ không thể là gia nhập vào một lý tưởng hoàn hảo, mà là gia nhập vào chính đảng và vào chương trình của chính đảng để chính đảng cũng như chương trình được kích thích chú tâm thực hiện, đạt được lợi ích chung và cùng đích của con người, kể cả cùng đích thiêng liêng. Người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị phải biết rằng đất nước được ổn định chỉ có thể đạt được như là hậu quả của mức quân bình giữa những cuộc bàn thảo chính trị và các quyết định được suy diễn ra. Cách làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô là - không thể làm chính trị mà không đặc cơ chế Quốc Gia ở vị trí với bổn phận bảo vệ người yếu thế, - không thể làm chính trị với mục đích chỉ nhằm lợi nhuận, hiệu năng và tranh đua như là cùng đích của phe nhóm và tình liên đới hổ tương trong Quốc Gia chỉ là thứ yếu, - không thể làm chính trị vì phải giao chức vụ cho người lãnh đạo tạo được nhiều thành quả tiếng tăm, cho bằng dựa trên các chương trình hiệu năng và hữu lý, - không thể làm chính trị dựa trên tư tưởng " cá lớn, nuốt cá bé " ( first past the post) và thành phần thiểu số chỉ là kẻ bại trận, bị loại khỏi vòng chiến và tìm cách loại trừ họ để tránh hậu hoạ, lợi dụng vị thế " cả vú lấp miệng em ". Đó không phải là cách làm chính trị theo phương thức dân chủ, càng không thể là cách" làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô ". 4 - Đặc tính trần thế của chính trị. Tôn trọng đặc tính trần thế của các lãnh vực chính trị là một phương thế khác " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô ". Các thực tại trần thế - trong đó có những thực tại chính trị, xã hội - do ý muốn của Đấng Tạo Hoá là những thực thể có đặc tính trần thế thực hữu, tốt đẹp, có mục đích riêng biệt và luật lệ cá biệt của mình, được Đấng Tạo Hoá đặt trong chính bản tính của mình và không cần có lề luật siêu nhiên nào trợ lực : - " Omne ens est unum, bonum et verum" ( Mọi thực thể là một thực thể duy nhứt, tốt đẹp và thực hữu), nói như định nghĩa của môn Siêu Hình Học ( Ontologia). Đặc tính tự lập về phương diện cùng đích cũng như luật lệ tự nhiên được Chúa khắc ghi vào trong bản thể của mỗi tạo vật, như ý Chúa muốn, người tín hữu Chúa Ki Tô khi hành xử đối với tạo vật cần phải kính trọng. Mặc dầu chúng ta biết rằng cùng đích tối hậu của moi tạo vật, hướng về đó các mục đích trung gian, kể cả các mục đích trung gian chính trị, đều phải quy hướng, trổi vượt hơn các mục đích tự nhiên của tạo vật. Đó là những gì Công Đồng Vatican II nói với chúng ta: - " Nhờ vào chính tác động của công việc tạo dựng mà mọi tạo vật nhận được thực thể, đặc tính tốt lành, các lề luật và thứ bậc của mình. Con người phải kính trọng tất cả những thực tại đó, nhận biết các nhu cầu của mỗi nghệ thuật và khoa học" ( GS, n. 36; Apstolicam Actuositatem, nn. 7, 31b). Hiểu như vậy, chúng ta thấy được chính trị mang đặc tính trần thế của mình. Điều đó có nghĩa là từ đức tin, chúng ta không thể diển dịch trực tiếp một khuôn mẫu xã hội, cơ chế chính trị hay chương trình chính đảng. Phúc Âm chỉ cho chúng ta những giá trị, gợi ý cho chúng ta những tác động xã hội chính trị phải có để xây dựng một xã hội con người, những không chỉ cho chúng ta khuôn mẫu nào phải lựa chọn, chương trình nào phải thực hiện và thực hiện trước sau để thành đạt được mục đích. Đặc tính trần thế của chính trị làm cho những ai trung thành với đức tin và lời giáo huấn của Giáo Hội để dấn thân vào lãnh vực xã hội chính trị, không làm biến thể chính trị thành môi trường để phục vụ hàng giáo phẩm hay giáo phẩm trị . Nói cách khác, đặc tính trần thế của chính trị làm cho người làm chính trị chân chính, " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " dấn thân phục vụ chính trị với mục đích khác hơn, nhằm vào những gì là mục đích đích thực của chính trị: nhằm đem lại công ích. ( Từ ngữ " chính trị " ( politique, policy, politica, politik: phát xuất từ " Polis", Hy Lạp, ( thị xã hay thành phố). Như vậy " Politiké", phương thức tổ chức cuộc sống, hoạt động trong thị xã để phân chia công việc, nhiệm vụ, nhằm đem lại lợi ích cho mỗi công dân, cũng như lợi ích chung cho cuộc sống cộng đồng trong thị xã). Như vậy " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô" không phải là lợi dụng chính trị để phục vụ hàng giáo phẩm, phục vụ giáo phẩm trị, phục vụ lợi ích cho Giáo Hội, hoặc là trực tiếp để thi hành sứ mạng tông đồ hay rao giảng Phúc Âm. Người tín hữu giáo dân cần nhận thức rằng cách tốt đẹp nhứt để cộng tác vào sứ mạng duy nhứt của cả Cộng Đồng Dân Chúa để rao giảng Phúc Âm là - làm sống động thực tại trần thế, là lãnh vực cá biết của người tín hữu giáo dân, bằng cách hành xử " như người tín hữu Chúa Ki Tô". - tôn trọng đặc tính trần thế của lãnh vực chính trị và học hỏi, nghiên cứu tạo được cho mình có khả năng chuyên biệt trong những lãnh vực khác nhau, - và tác động phục vụ của mình trong chính trị với mục đích duy nhứt là mưu cầu đem lại công ích cho đồng bào mình nói riêng và phục vụ con người nói chung: - " Các cuộc dấn thân và hoạt động trần thế là của chính người tín hữu giáo dân, mặc dầu không phải là đặc quyền của một mình họ. Như vậy khi hành xử với tư cách là người công dân, cá nhân cũng như đoàn thể, không những họ phải tôn trọng các luât lệ của mỗi lãnh vực, mà còn phải cố gắng đạt được những khả năng chuyên môn có thẩm quyền đích thực trong các lãnh vực đó ( ...). Bổn phận của lương tâm họ, một khi có được sự huấn luyện tương ứng phải có, là viết luật của Thiên Chúa thành ra những đạo luật vào cuộc sống của thị xã trần thế " ( GS, n. 43). Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, n. 571: Ý nghĩa đích thực của quan niệm trần thế. Việc dấn thân của người tín hữu Chúa Ki Tô trong chính trị thường được đặt trong trạng thái liên hệ đến " đặc tính trần thế " ( laicità) ( chớ không phải vô đạo, laicismo hay chống đối hàng giáo phẩm, anticlericalismo), đúng hơn là sự phân biệt giữa lãnh vực chính trị và lãnh vực tôn giáo. Sự phân biệt đó là - " một giá trị được Giáo Hội khám phá ra và nhận biết, và thuộc về tài sản mà nền văn minh được đạt đến ( Congregazione per dottrina della fede, Nota dottrinale circa alcune questioni riguardanti l'impegno e il comportamento dei cattolici nella vita politica, ( 2006 ), 6). Nhưng nền luân lý công giáo loại trừ hẵn nhãn quang, theo đó " đặc tính trần thế" được hiểu như là tự lập đối với lề luật luân lý: - " Đặc tính trần thế", trước tiên nói lên thái độ của những ai tôn trọng các chân lý phát xuất từ sự hiểu biết tự nhiên về con người sống trong xã hội, dẫu cho các chân lý đó đồng thời cũng được giảng dạy bởi một tôn giáo cá biệt, bởi lẽ chân lý luôn luôn là một" ( id.). Thành thực tìm kiếm chân lý, phát huy và bảo vệ bằng các phương tiện chính đáng các chân lý luân lý liên quan đến đời sống xã hội, công bằng, tự do, tôn trọng đời sống và các quyền khác của con người, đó là quyền và bổn phận của mọi thành phần sống trong cộng đồng xã hội và chính trị. Khi giáo quyền can thiệp về các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội, chính trị, không phải là những ai có nhiệm vụ không còn có bổn phận phải giải thích chính đáng đặc tính trần thế, bởi vì - " Giáo hội không hề muốn áp đặt một quyền lực chính trị hay loại trừ tự do tư tưởng về những vấn đề trần thế. Đúng hơn - như bổn phận của mình đòi buộc - Giáo Hội có ý huấn dạy và soi sáng lương tâm các tín hữu, nhứt lài những ai dấn thân vào đời sống chính trị, nhờ đó tác động của họ luôn nhằm mục đích thăng tiến toàn diện con người và công ích. Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội không phải là một sự can thiệp vào nội bộ của mỗi Quốc Gia. Chắc chắn Giáo Hội đặt vấn đề đối với các tín hữu giáo dân bổn phận phải trung thành với lề luật luân lý, với lương tâm trong tâm hồn mình, là lề luật duy nhứt và quy tựu hợp nhứt giữa mọi người " ( id.). 5 - Tự lập lựa chọn chính trị. Tiêu chuần thứ ba của việc dấn thân " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " là tự lập có trách nhiệm trong các việc lựa chọn của mình. Người tín hữu giáo dân không phải chỉ là người thừa hành " lệnh trên" của hàng giáo phẩm trong lãnh vực xã hội: - " Từ các linh mục, người tín hữu giáo dân nên trông đợi ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng. Nhưng họ đừng nghĩ rằng các chủ chăn của họ luôn luôn là những người kinh nghiệm đến độ , bất cứ vấn đề gì, ngay cả những vấn đề hệ trọng, các vị cũng có thể có giải pháp thiết thực sẵn sàng hay đó chính là sứ mạng của các vị: đúng hơn họ hãy nhận lãnh trách nhiệm của mình, dưới ánh sáng khôn ngoan Ki Tô giáo và luôn luôn để tâm trung thành với tín lý của Giáo Hội " ( GS, n. 43 ). Người tín hữu giáo dân phải là những người có trách nhiệm và tự lập trong các việc lựa chọn chính trị của mình. Ngoài ra họ còn được mời gọi tham gia tích cực giúp các vị chủ chăn trong việc soạn thảo ra chính " Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ", cung cấp cho các vị kinh nghiệm và hiểu biết chuyên môn trong lãnh vực của mình: - " Ước gì họ là những người có khả năng để cộng tác, về phía lãnh vực chuyên môn của họ, cho huấn dụ được phát triển, cũng như áp dụng huấn dụ đó một cách chính đáng vào các trường hợp cá biệt " ( Apostolicam Actuositatem, n. 31b). Các vị chủ chăn có bổn phận soi sáng lương tâm và trí thức của các tín hữu, cũng như phán đoán các chọn lựa chính trị thích hợp nhiều hay ít đối với Phúc Âm. Trong khi đó thì bổn phận của các tín hữu giáo dân là " trung thành " và can đảm trong các việc chọn lựa chính trị của mình, chấp nhận các nguy hiểm và trách nhiệm: - " Bổn phận của các vị chủ chăn là tuyên bố một cách rõ rệt các nguyên tắc về cùng đích của công trình tạo dựng và cùng đích của việc xử dụng tạo vật trần thế ( ...). Phân sự của giáo dân ( ...) là trực tiếp tác động và một cách thiết thực; như là người công dân cộng tác với những công dân khác, tùy theo thẩm quyền chuyên biệt và dưới trách nhiệm của chính mình" ( Apostolicam Actuositatem, n. 7 ). Đức Thánh Cha Benedictus XVI tổng hợp vai trò của người tín hữu giáo dân trong chính trị như sau: - " Như là công dân của một Quốc Gia, người tín hữu giáo dân được mời gọi trực tiếp đứng ra tham dự vào cuộc sống công cộng. Họ không thể lẫn tránh " hoạt động đa diện và khác nhau trong lãnh vực kinh tế, luật pháp, quản trị và văn hoá, để thăng tiến theo cấu trúc và bằng cơ chế lợi ích chung... Như vậy, sứ mạng của người tín hữu giáo dân là có quan niệm chính đáng về cuộc sống xã hội, tôn trọng sự tự lập chính đáng và hợp tác với những công dân khác tùy theo khả năng và dưới trách nhiệm của chính mình. Mặc dầu các hình thức bác ái của Giáo Hội không nên được lầm lẫn với các động tác của Quốc Gia, dầu vậy bác ái phải là động lực làm sống động của cuộc sống người tín hữu giáo dân, được sống như là " bác ái xã hội" ( ĐTC Benedicuts XVI, Deus Caristas est ( 25.12.2005), n. 29). Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội, 568, 570. n. 568: Trung thành với các giá trị và theo thứ bậc của chính trị học. Người tín hữu giáo dân được mời gọi hãy định chuẩn, trong các hoàn cảnh thực tế chính trị, những bước tiến thực sự có thể để đem ra thực hiện các nguyên tắc và các giá trị luân lý của cuộc sống xã hội. Điều vừa kể đòi buộc một phưong thức chuẩn định vừa cá nhân vừa cộng đồng, kết tựu chung quanh một vài điểm chính: - hiểu biết hoàn cảnh hiện thực, được phân tích với sự trợ lực của các khoa học xã hội và các dụng cụ thích ứng, - suy nghĩ một cách có hệ thống các thực tại, dưới ánh sáng bất di dịch của Phúc Âm và Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, - chuẩn định những chọn lựa nhằm giải quyết một cách tích cực hiện trạng đang diễn ra.Từ việc biết lắng nghe thâm sâu và giải thích thực trạng có thể phát sinh ra những lựa chọn cụ thể và hữu hiệu, - nhưng đối với tất cả những gì có thể lựa chọn như vừa kể, không bao giờ nên gán cho chúng những giá trị tuyệt đối, bởi lẽ không có vấn đề nào có thể giải quyết theo phương thức được coi là duy nhứt: " đức tin không bào giờ có kỳ vọng trói buộc trong một khung viên cứng rắn các nội dung xã hội - chính trị, bởi lẽ đức tin ý thức rằng trong tầm vóc lịch sử con người đang sống, cần phải chuẩn định sự hiện diện của những hoàn cảnh không hoàn hảo và thường thay đổi mau chóng" ( Congregazione per la dottrina della fede, Nota dottrinale circa alcune questioni ..., cit, n. 7). n. 570: Trong các lãnh vực và thực tại có liên quan đến đòi buộc luân lý căn bản hay trong trường hợp các lựa chọn luật pháp và chính trị nghịch lại các nguyên lý và giá trị Ki Tô giáo, Giáo Hội day chúng ta: - " Lương tâm Ki Tô hữu được huấn luyện tốt đẹp không cho phép bất cứ ai dùng lá phiếu của mình để thực hiện một chương trình chính trị hay một đạo luật riêng biệt trong đó nội dung căn bản của đức tin và luân lý bị khuynh đảo bởi những đề nghị thay thế hay ngược lại các nội dung đó" ( id., n.4). Trong trường hợp không thể loại bỏ việc thực thi những chương trình chính trị, ngăn cản hay loại bỏ một vài đạo luật có nội dung ngược lại giá trị Ki tô giáo, Giáo Hội dạy chúng ta rằng một dân biểu Quốc Hội mà ai cũng biết chính kiến đối ngược của ông, có thể đứng ra ủng hộ cho những đồ án nhằm giảm thiểu những tai hại của các đồ án và luật lệ vừa kể, và giảm thiểu hậu quả tiêu cực liên quan đến văn hóa và luân lý công cộng. Dù sao đi nữa, lá phiếu của ông không thể được giải thích như là lá phiếu ủng hộ một đạo luật bất chính, cho bằng là một đóng góp nhằm giảm thiểu mối nguy hại của một đạo luật, mà người hay nhóm người đề xướng phải nhận lãnh trách nhiệm của họ. Cần lưu ý rằng có những trường hợp xảy ra, trong đó có những trường hợp đòi hỏi luân lý căn bản và không thể nhượng bộ được. Trong các trường hợp vừa kể chứng nhân Ki Tô giáo phải được coi là bổn phận không thể thiếu kể cả đến việc phải hy sinh mạng sống, đến tử đạo, nhân danh đức bác ái và nhân danh phẩm giá con người. 6 - Đời sống đạo đức và khả năng chuyên môn. Điều kiện không thể thiếu thực sự " sine qua non", để có thể " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô" đó là cần phải có những Ki Tô hữu đích thực. " Làm chinh trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " đích thực là cuộc sống gồm nhiều đòi hỏi. - một đàng đức tin đòi buộc người tín hữu Chúa Ki Tô không được thụ động hay khiếm diện, mà phải hội nhập một cách tích cực vào đời sống xã hội, chính trị, - nhưng đàng khác cũng đổ lên vai người tín hữu Chúa Ki Tô gánh nặng gắng công, mệt sức và trách nhiệm tìm hiểu, học hỏi và hiểm nguy liều lỉnh của các cuộc lựa chọn, - đức tin không thay thể cho khả năng chuyên môn của mỗi người, phải tự mình tìm lấy bằng học hỏi và tác động, như bất cứ người công dân nào khác, - và rồi còn cả bổn phận trung gian điều giải " mediazione" từ những nguyên lý tín lý và luân lý, thành những giá trị trong cuộc sống xã hội và biết liên kết với các phương thức và dụng cụ để đưa đến thực hành có kết quả tốt đẹp. Nói một cách ngắn gọn, mỗi việc lựa chọn chính trị của người tín hữu Chúa Ki Tô phải luôn luôn là kết quả của lòng trung thành: trung thành với các giá trị Ki Tô giáo hướng dẫn và gợi ý cho mình, và trung thành với luật lệ của chính nghệ thuật chính trị, " luật lệ thế trần " của các sự việc. Đặc tính trần thế của các lãnh vực xã hội chính trị, người tín hữu giáo dân không thể trực tiếp rút ra được từ đức tin, bởi vì là những đặc tính và lề luật thuộc lãnh vực trần thế, lãnh vực của lý trí, bởi đó cần phải được học hỏi, thí nghiệm và kiểm chứng một cách khoa học. Người tín hữu Chúa Ki Tô ngoan đạo thôi, chưa đủ để thành nhà chính trị tài ba. Để trở thành ngưòi tín hữu Chúa Ki Tô tốt lành và nhà chính trị tài ba lỗi lạc, cần phải là con người " có khả năng tổng hợp": biết nối kết nơi mình "lòng trung thành " với đức tin và " tôn trọng đặc tính trần thế và khả năng chuyên môn của chính trị ". Sự sai lầm thường xuyên hiện nay mà người Ki Tô hữu vấp phải là đặt đời sống chiêm niệm và hành động như là hai đối cực khác nhau, dường như coi đời sống thiêng liêng và đời sống chức nghiệp thuộc hai tầng lớp không những khác nhau,mà còn tách rời nhau: - " Thật là sai lạc ai là người ( ...) cho rằng ( ...) họ có thể chễnh mãng phận vụ trần thế của mình và không nghĩ rằng chính đức tin càng thúc đẩy họ chu toàn hơn nữa, tùy theo ơn gọi của mỗi người. Nhưng trái lại, cũng không phải là không sai lạc những kẻ cho rằng mình hoàn toàn ngụp lặn vào các công chuyện trần thế, coi như thể công việc trần thế là những gì hoàn toàn xa lạ đối với đời sống tôn giáo, là lãnh vực mà theo họ, chỉ hoàn toàn thuộc về các nghi thức tế tự hay một vài bổn phận luân lý. Sự tách rời , không phải đối với một số ít người, giữa đức tin mình tuyên xưng và đời sống thường nhật, cần được ghi nhận là sự sai lạc giữa những sai lạc hệ trọng trong thời đại chúng ta" ( GS, n. 43). Trích Tổng Lược Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội Đời sống đạo đức của người tín hữu Chúa Ki tô trong chính trị. n. 545: Người tín hữu giáo dân được mời gọi vung trồng một nền đạo đức giáo dân đích thực, tái sinh họ lại như là những con người mới, chìm ngập trong mầu nhiệm Thiên Chúa và được hội nhập vào trong xã hội; họ là những vị thánh và những vị có khả năng thánh hóa. Lòng đạo đức thiêng liêng như vừa kể xây dựng thế giới theo đồ án Thánh Thần của Chúa Giêsu: - khiến cho họ có khả năng nhìn qua bên kia lằn mức lịch sử, nhưng không xa rời lịch sử, - khiến cho họ tăng trưởng mỗi ngày tình yêu say sưa đối với Thiên Chúa, nhưng không cất mắt mình khỏi anh em, - khiến cho họ co khả năng nhìn anh em như Chúa nhìn và thương yêu anh em như Chúa thương yêu họ. Đó là cách sống đời sống đạo đức xa cách với cách chỉ sống thiêng liêng nội tâm, mà cũng xa cách với lối sống náo động xã hội. Đời sống Ki Tô hữu của họ là sống thể hiện bằng khả năng " tổng hợp", quy hướng hợp nhứt, tạo được ý nghĩa và niềm hy vọng cho cuộc sống từ những lý do đối nghịch và chia tách, rạn nứt. Với cách sống đạo đức như vừa kể, người tín hữu giáo dân có thể góp phần - " như là men bột để thánh hoá thế giới từ bên trong, trong khi chu toàn các phận vụ của họ dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm và như vậy họ... đem Chúa Ki Tô đến cho người khác, trước hết bằng chính nhân chứng của đời sống họ" / Lumen Gentium, n. 31). n. 546: Người tín hữu Chúa Ki Tô phải kiện toàn đời sống thiêng liêng và luân lý, học hỏi nghiên cứu để có khả năng chuyên môn cần thiết cho việc dấn thân phục vụ xã hội. Đào sâu những nguyên nhân nội tâm và học biết cách hành xử tương ứng cho công cuộc dấn thân phục vụ xã hội và chính trị là một chương trình tiến triển năng động và không ngừng của giáo dục, nhằm phối hợp được đời sống và đức tin, trong nhiều mối liên hệ chằng chịt và phức tạp của vấn đề. Thật vậy kinh nghiệm cho thấy - " không thể có hai con đường song song nhau: một bên là đời sống thiêng liêng với những giá trị và đòi buộc của mình; bên kia là đời sống trần thế, hay đời sống gia đình, việc làm, các tương quan xã hội, phận vụ chính trị và văn hoá" (ĐTC Gioan Phaolồ II, Christifideles laici ( 1989), n. 59). Người tín hữu Chúa Ki Tô dấn thân vào chính trị phải là con người có khả năng tổng hợp nhịp nhàn giữa đời sống thiêng liêng và các chuyên lo trần thế. Một con người có cuộc sống tổng hợp tốt đẹp lý tưởng như vừa kể, không phải chúng ta có được tự nhiên trên trời rớt xuống, mà là con người phải được đào tạo mới có được. Điều vừa kể cho thấy phận vụ không thể thiếu của - các họ đạo, - của các trung tâm đào tạo công giáo, - học viện thần học, cũng như các học viện xã hội-chính trị học, để rèn luyện người tín hữu Chúa Ki Tô có khả năng tổng hợp đời sống đạo đức và kiến thức chuyên môn liên quan đến các lãnh vực trần thế, mà họ nhằm phục vụ. Tác phong " làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " có nhiều đòi hỏi: - dành ưu tiên cho công ích, trước lợi thú cá nhân và phe đảng, - không hành xử bằng hy sinh tiếng nói lương tâm và giá trị luân lý, để đạt được mục đích cấp tốc và lợi thú vật chất, - chủ đích thực hiện hoà bình và công lý giữa mọi dân tộc, - dành ưu tiên cho những ai không có ưu thế và bị loại ra bên lề xã hội. " Làm chính trị như người tín hữu Chúa Ki Tô " là người dấn thân dâng hiến mình để phục vụ anh em, nhưng đồng thời cũng là người biết dành lại những lằn mức chuẩn định cho đời sống chiêm niệm, thiêng liêng, sống với Chúa. Thời gian dành cho cuộc sống cầu nguyện không phải là khoảng thời gian bị cướp lấy khỏi chuyên cần dấn thân chính trị, đúng hơn là thời gian thu thập nghị lực để tăng cường cường độ và hiệu năng cho chính trị. Hay nói như Thánh Gioan Kim Khẩu ( Giovanni Crisostomo): - " Người cầu nguyện là người có đôi tay mình đang đặt trên tay lái con thuyền lịch sử" ( G Lazzati, La preghiera del cristiano, AVE, Roma 1986, 22s).

 

Thường khi nói đến chính trị, chúng ta có hai thái độ tiêu cực: hoặc dững dưng hoặc xa lánh. Thái độ dững dưng là thái độ khá thông thường của những người cho rằng chính trị dành cho những kẻ có ''tham vọng'' thì lăng xã vào, còn đối với tôi , nó xa vời, '' không ăn nhậu'' gì. Đó là thái độ thông thường, được anh Michael viết thư cho chúng tôi cách đây không lâu để nói lên tâm thức của đồng bào bên nhà: "Giới trẻ ( từ 25 tuổi trở xuống) không biết gì về quốc gia và cộng sản, mà họ chỉ đi học hay thụ hưởng. Từ 40 tuổi trở xuống chỉ lo kiếm sống nuôi gia đình, ít màng đến chuyện chính trị chính em" Thật ra những vấn đề chính trị, nhứt là những đường hướng và quyết định chính trị, nhiều khi "ăn nhậu" khá sát với đời sống thường nhật và cả tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta: - quyết định tăng giá xăng dầu, - cắt giảm phụ cấp gia đình, - tăng lãi xuất ngân hàng, - đánh thuế nặng vào hàng nhập cảng để bảo vệ sản phẩm nội điạ, - hối xuất của đồng bạc VN đối với việc cung cấp ngoại tệ cho việc nhập cảng dụng cụ và nguyên liệu, khác với hối xuất để nhập cảng sản phẩm tiêu thụ... - phương thức đủ và kịp thời để bao vệ sức khoẻ cho người bị tai nạn, tàn tật, bệnh hoạn, già nua. - cấu trúc và tổ chức học đường để huấn dạy và thăng tiến con người về nhiều mặt... là những quyết định chính trị đụng chạm khá trực tiếp đến túi tiền và mạng sống , tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta.. Đó là chưa kể đến những quyết định quan trọng liên quan đến mạng sống hàng triệu người: - nên đặt ưu tiên giao thương với Hoa Kỳ hay Trung Cộng, - nên thương thuyết hay tuyên chiến với Cam bốt, - nên khai thác nguyên tử năng hay đấp đập thủy điện lực? Còn nữa: - "Tất cả mọi người đều được dựng nên bình đẳng như nhau.Tất cả đều được ĐấngTạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng" ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776). - "Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng các quyền con người do Thiên phú, bất khả nhượng và cao quý" ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Nhân quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp quốc 1789) . - hay " Đảng CS Sô Viết...xác định nền tảng cho thể chế xã hội và chính trị Công Hoà Liên Bang Sô Viết, thiết định các quyền, tự do và bổn phận của người dân..." ( Tiền Đề Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết). Đó là những đường hướng chính trị. Cũng vậy: - "Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) - " Bổn phận của Quốc Gia là xóa bỏ di những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật vì giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, ngăn cản không cho phép họ phát triển toàn vẹn con nguời của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị , kinh tế, xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đó là những lời tuyên bố chính trị khác có liên quan đến việc con người được tôn trọng và được Quốc Gia cung cấp cho các đìều kiện thích ứng để cho mình có được một cuộc sống xứng đáng "người cho ra người" hay không. Còn nữa: - " Người công nhân được quyền thù lao xứng đáng , tương xứng với số lượng và phẩm chất công việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống tự do và khan trang" ( Điều 36, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - "Người làm việc có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ phương tiện thích hợp, đáp ứng lại các nhu cầu đời sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tàn phế, già nua, thất nghiệp ngoài ý muốn" ( Điều 38, đoạn 2, id.) . - "Người phụ nữ công nhân cũng có đủ mọi quyền và việc làm như nam công nhân, cũng được thù lao như nam công nhân. Các điều kiện làm việc phải được thiết định thế nào để người phụ nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình,phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ bằng một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp..." ( Điều 37, đoạn 1, id.). Đó là những lời tuyên bố chính trị khác, không xa lạ gì với những nhu cầu cuộc sống thường nhật của chúng ta, nếu chúng ta muốn có một cuộc sống "khang trang " , văn minh, xứng đáng với nhân phẩm con người , "người cho ra người " . Chúng tôi còn có thể liệt kê thêm hàng trăm câu tuyên bố " chính trị " tương tợ, liên quan thiết thực với đời sống chúng ta không khó khăn gì. Chỉ cần trích ra từ các văn bản Hiến Pháp, nhứt là các Hiến Pháp của các Quốc Gia dân chủ và nhân bản Tây Âu. Bởi vì Hiến Pháp là văn bản " Mẹ Đẻ" ra đường lối chính trị Quốc Gia. Thái độ tiêu cực kế đến là coi chính trị như một cái gì dơ bẩn, xấu xa, bởi lẽ những người làm chính trị hay đảng phái chính trị thường dùng thủ đoạn bất chính, "mục đích biện chứng cho phương tiện" ( Macchiavelli), để đạt cho bằng được mục tiêu và cố nắm giữ quyền bính bằng mọi giá, cho cá nhân và cho đảng phái mình, dù có phải thủ tiêu bao nhiêu người và hành xử lợi ích cho bè đảng, không đếm xỉa gì đến công ích, loại trừ đối phương bằng thủ đoạn và nếu cần cả bằng vũ lực, tội tù, tra tấn, thủ tiêu, không đếm xỉa gì đến luật pháp luân lý. Qua những suy tư và trích dẩn trên, chúng ta đã có ít nhiều khái niệm về chính trị. I - Chính trị là gì? Để có một cái nhìn đúng đắn hơn với chính trị, thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu chính trị qua những tư tưởng nguyên thủy của nó. Từ ngữ Chính trị của chúng ta có cùng ý nghĩa với danh từ Politique ( Pháp ngữ), Politica (La ngữ và Ý ngữ), Policy (Anh ngữ). Tất cả những danh từ Chính trị trong các ngôn ngữ vừa kể đều phát xuất từ danh từ Polis của Hy lạp, có ý nghĩa là Thành phố hay Thị xã. Thị xã Hy Lạp trong thời thượng cổ, nhứt là thời Cộng Hoà Athène được tổ chức như những tiểu quốc gia tự lập, trong đó mọi người được phân chia công tác tùy khả năng, từ gát cổng, quét đường đến tổ chức phòng vệ, sản xuất thủ công nghệ, tổ chức văn hoá nghệ thuật. Từ ý nghĩa - tổ chức phân chia công việc mà mọi người đều tham gia góp phần sao cho đời sống chung của Thị xã được ăn khớp nhịp nhàng đó, nảy ra những phương thức áp dụng vào Quốc Gia, - làm sao tổ chức hữu hiệu hơn, hoạt động hoàn hảo hơn, để mưu ích cho đời sống của từng cá nhân và lợi ích chung cho đời sống trong cộng đồng, đó là những tư tưởng khởi thủy của chính trị. Do đó, Chính trị (politique,politica policy) không có gí khác hơn là những phương thức tổ chức Thị xã ( Politiké), thoát xuất từ Polis , sao cho đời sống cộng đồng được trôi chảy, nhằm mưu ích cho mỗi cá nhân cũng như cho cuộc sống chung của cộng đồng. Đến thời Đế Quốc Roma bành trướng qua Hy Lạp, người La-tinh thu nhập cách tổ chức trên của Hy Lạp cho cuộc sống Thị Xã của họ. Thị xã, trong ngôn ngữ La tinh là Civis. Người sống trong thị xã được gọi là Civilis, là người có cuộc sông văn minh. Bởi vì trong tâm thức người La Tinh chỉ có những người sống trong Thị xã (Civis), mới là người có cuộc sống tổ chức Văn minh (Civilis), còn ai không sống trong cuộc sống hội nhập có tổ chức, không thể nào có đòi sống tiến bộ cho ra hồn, là người có cuộc sống Bán Khai Mọi Rợ (Barbarus):người có râu ria xồm xàm như quân Hung Nô, sống trong các Làng Mạc Hẻo Lánh(Pagus). Qua những tư tưởng Polis, Civis, Civilis, Barbarus, Pagus trên, chúng ta có thể rút ra một vài tư tưởng sau đây: Chính trị hiểu theo nghĩa Polis là những phương thức tổ chức Quốc Gia, nhằm đem lại lợi ích cho cuộc sống chung cộng đồng, mà cũng nhằm phục vụ cho từng người dân sống trong Quốc Gia, bởi lẽ, Quốc Gia hay dân tộc là những danh từ trừu tượng, được thể hiện trên thực tế bằng đời sống của từng người công dân một. Dĩ nhiên , trong một tập thể chính trị có tổ chức như Quốc Gia, nơi quy tựu chung sống của hàng triệu người, sẽ có nhiều phương thức tổ chức thích ứng cho cuộc sống chung và cũng liên quan đến cuộc sống riêng rẻ của từng người, nên công việc chọn lựa thể thức nào thích hợp nhứt sẽ hàm chứa việc người dân có quyền đứng ra quyết định để lựa chọn, người dân có chủ quyền lựa chọn để quyết định phương thức tốt đẹp nhứt để tổ chức Quốc Gia hay Dân chủ ( Demokratía). Dân Chủ theo nguyên ngữ Hy Lạp là Demokratía ( Demos, dân chúng; Krátos, quyền hành: quyền hành là của dân chúng hay dân chúng là chủ nhân của quyền hành , có quyền định đoạt đường lối để tổ chức Quốc Gia hay Chính Hướng, đường lối Chính Trị). Những ai muốn đứng ra lãnh đạo Quốc Gia có nhiệm vụ đề ra những phương thức tổ chức ( hay " Đường lối lãnh đạo Quốc Gia" hoặc " Chương trình chính trị " ( Politiké) , nói theo ngôn từ của chúng ta), để người dân phán đoán và lựa chọn. Những thủ đoạn, lường lọc, mỵ dân, khủng bố, cấu kết , bè phái để đoạt lấy và khăng khăng giữ lấy quyền bính tiêu diệt đối phương là những hành vi băng hoại chính trị (dégénération) , chớ không phải chính trị hiểu theo nguyên ngữ và tư tưởng cao đẹp khởi thủy của nó. 2) Ngưới Hy lạp, nhứt là người La tinh, cho rằng, người sống ngoài Thị xã ( Polis hay Civis) là những người man rợ, bán khai, bởi lẽ đời sống không có tổ chức để người nầy hổ trợ người khác, sáng kiến của người nầy bổ túc làm lợi ích cho ngươi khác, đời sống không thể nào có tiến bộ: "nhân vô thập toàn " là vậy. Tư tưởng đó vẫn còn có giá trị hiện đại đối với chúng ta. Chúng ta muốn trở thành văn minh, chúng ta muốn đất nước chúng ta tiến bộ, chúng ta phải ở trong Thị xã ( Polis hay Civis): chúng ta phải tham dự chính trị. Trong một Quốc Gia, tham gia chính trị có nghĩa là - bầu cử, - ứng cử để chuyển đạt ý kiến của người dân trong Quốc Hội, - để hành xử quyền của người dân giao phó cho trong Chính Phủ, - mà cũng có nghĩa là tham gia vào các tổ chức, đảng phái để nói lên tiếng nói, ảnh hưởng , đặt điều kiện với các tổ chức quyền lực Quốc Gia trong các quyết định chính trị, nếu chúng ta không muốn những ai cầm quyền đưa ra các quyết định áp đặt lên đầu lên cổ chúng ta và người đồng hương chúng ta. - Và sau cùng là cũng có thể đứng ra đảm nhiệm hành xử quyền lực Quốc Gia, đem tài năng hiểu biết của mình để làm lợi ích cho chính mình và cho đồng bào mình. Như vậy ý nghĩa của việc tổ chức Thị xã ( Polis) là những phương thức điều hành để phân công, mỗi người một việc, tùy khả năng và tuỳ nhu cầu của Thị xã, nhằm sao cho công việc của Thị xã được ăn khớp, nhịp nhàng, hữu hiệu. Nói cách khác, những phương thức đó hay "đường lối chính trị" phải nhằm phục vụ công ích. Bởi đó, dùng chính trị để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm, để " phục vụ Đảng" là đi ra ngoài tư tưởng nguyên thủy cao cả của việc tổ chức chính trị. II - Tham vọng chính trị. Một số khá lớn dư luận quần chúng, mỗi khi thấy ai đứng ra tổ chức hội đoàn, sinh hoạt họp hàng với người khác, cho rằng " thằng cha đó có tham vọng chính trị". Dưới đây chúng ta thử xét ý nghĩa đứng đắn của câu nói trên. Cái lạ của thái độ phần đông chúng ta là gán " thằng cha đó tham vọng chính trị " cho những ai có khuynh hướng hoạt động chính trị, còn " tham vọng" ở những lãnh vực khác thì không thấy mấy ai chửi bới. Ví dụ không ai chửi bới một sinh viên cắp sách vào đại học : "thằng cha đó có tham vọng kỹ sư, con mẹ đó có tham vọng bác sĩ, bọn đó có tham vọng làm thú y, luật sư, giáo chức..." . Thái độ trên của chúng ta có lẽ thoát thai từ quan niệm sai lầm về chính trị như là một môi trường bẩn thỉu , thủ đoạn, bất chính chớ không phải từ quan niệm Polis, Civis: phương thức tổ chức để điều hành hoạt động quốc gia, mưu ích cho cuộc sống cộng đồng quốc gia và cho từng cá nhân mổi công dân trong cộng đồng. Nếu chúng ta có cái nhìn đứng đắn về chính trị theo tư tưởng Polis, Civis, tổ chức chính trị để phục vụ công ích, thì câu nói "thằng cha đó có tham vọng chính trị" sẽ không có ý nghĩa chê trách gì , ngoài ra hơn là "dốt, bất tài, vậy mà cũng tham vọng chính trị". Trong chiều hướng đó, câu phê phán của chúng ta nhằm đòi hỏi cũng như khuyến khích những ai muốn lãnh lấy trách nhiệm đối với đời sống hàng bao nhiêu triệu đồng bào phải là những người có đức độ và kiến thức. Người tay ngang không thể bốc đồng làm bác sĩ chữa bệnh, làm kỹ sư , kiến trúc sư thiết kế đồ án xây cất. Vậy thì tại sao người làm chính trị, cầm trong tay vận mệnh của bao nhiêu triệu đồng bào trong tay lại có thể là tên " tay ngang nhào vào chính trị": "Người làm thầy thuốc mà sai lầm, là giết hại mạng người, Người làm tướng mà sai lầm, tiêu diệt cả đoàn quân, Người làm chính trị mà sai lầm, đại hoại cả đất nước, Người làm tư tưởng mà sai lầm, tiêu diệt không biết bao nhiêu thế hệ" ( Khổng Tử ?). Một trích dẩn khác: "Nhiều học thuyết chính trị cảnh cáo chúng ta đừng lầm tưởng giữa những mơ ước đối với chính trị và những gì chính trị thể hiện trong thực tại...Những kết quả của chính trị và kinh tế không phải là những gì chúng ta mơ tưởng phải có, mà là những gì chúng ta đã đặt nền tảng thực hiện trước để có kết quả..." ( G. Sartori, Elementi di teoria politica, Il Mulino, Bologna 1975, 179). Viết tới những dòng nầy, người viết hồi tưởng lại miền Nam trước 1975. Chúng ta không nghi ngờ gì đến tài thao lược binh bị của những người lãnh đạo Quốc Gia lúc đó. Nhưng liệu những tướng tá cầm quyền thời đó có kiến thức chính trị tương xứng để lãnh đạo quốc gia trước cơn sóng gió của thời cuộc không? Biết đâu vận mệnh đất nước đã không ở trong một hoàn cảnh khác, nếu những vị lãnh đạo lúc đó có khả năng thực sự cho trách nhiệm. Đặt câu hỏi để chúng ta cùng suy nghĩ. Qua những gì vừa trình bày, nếu người làm chính trị có kiến thức, đạo đức và mục đích đem chương trình chính trị để phục vụ công ích bằng những phương tiện hợp pháp và chính đáng, thì câu nói "thằng cha đó có tham vọng chính trị " sẽ trở thành vô nghĩa, nếu không phải phát sinh từ những hậu ý bất chính nào đó. III - Chính trị và lương tâm Ki Tô hữu. - "Người công giáo có khả năng về chính trị không nên thối thoát trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng, bởi vì họ có thể góp phần một cách hữu hiệu vào việc quản trị công ích..." ( Apostolicam Actuositatem, 14) Hoặc: - " Người Kitô hữu phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc tổ chức đúng đắn những lãnh vực kinh tế, xã hội..." ( Ad Gentes Divinitus, 12). Còn nữa: - " Người Kitô hữu có bổn phận nặng nề, phải hợp tác với tất cả những người khác trong việc xây dựng một thế giới xứng đáng với địa vị con người hơn" ( Gaudium et Spes, 35) Ba văn kiện mà chúng tôi vừa trích dẩn ( và còn nhiều văn kiện khác của Công Đồng Vatican II, cũng như những Thông Điệp mới đây của Đức đương kim Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II: Sollecitudo Rei Socialis, Christi Fideles Laici, Centesimus Annus) , qua những từ ngữ - " không nên thối thoát"," phải hợp tác"," có bổn phận nặng nề" đặt người tín hữu Chúa Kitô trước chính trị, không như trước một trò chơi giải trí, một hobby, mà là trước lương tâm trách nhiệm. Từ ngữ "Tham vọng chính trị " đối với người tín hữu Chúa Kitô không những phát biểu một tư tưởng lỗi thời, không cần phải đặt ra, theo ý nghĩa nguyên thủy cao cả của tư tưởng Polis,Civis chúng ta đã thấy ở trên cũng như theo ý thức trách nhiệm trong những văn kiện của Giáo Hội vừa đề cập. Dĩ nhiên Giáo Hội không xác định mức độ đến đâu mỗi tín hữu phải tham dự vào chính trị. Điều đó tùy thuộc khả năng, hoàn cảnh và lương tâm của từng người. Câu hỏi được đặt ra có ý nghĩa hơn , có lẽ là câu phát biểu thái độ ngược lại với "tham vọng chính trị" . Đó là " dững dưng đối với chính trị", "đứng ra ngoài chính trị, để ai làm gì mặc ai". Để trả lời cho lương tâm người tín hữu Chúa Kitô trong trường hợp nầy, Chúa Giêsu kể cho chúng ta dụ ngôn "Người Samaritano" : người Samaritanio dừng lại băng bó vết thương và cỏng người bị cướp đánh giở sống giở chết bên vệ đường về quán trọ để chăm sóc, trong khi đó thì vị thông thái luật cũng như thầy tư tế thấy kẻ xấu số, lách sang rồi bỏ đi luôn . Nếu chúng ta quy tóm Mười Giới Răn của giáo lý Thiên Chúa Giáo lại chỉ còn Hai Giới Răn: kính Chúa và yêu người, chúng ta sẽ thấy được lời tuyên án nặng nề của Thánh Gioan đối với những ai không có lòng đối với người anh em đồng loại: " Ai không yêu thương anh em là người mình thấy được, làm sao có thể kính yêu Thiên Chúa, Đấng mà mình không thấy" ( 1 Jn 4, 20) Nói cách khác, ai không thương yêu anh em, thì cũng không thể kính yêu Thiên Chúa, không còn phải là người tín hữu Chúa Kitô. Người không kính yêu Thiên Chúa, mà cũng chẳng tha thiết gì đến anh em, là người vừa vô đạo vừa bất nhân, không có gì tốt đẹp cho cuộc sống đời sau của mình. Một trong những điểm nổi bật của Công Đồng Vatican II là làm cho chúng ta ý thức đến thái độ thiếu trách nhiệm trong việc "lách sang rồi bỏ đi luôn" (Lc.10,30-36) . Trong kinh Cáo Mình trước Công Đồng Vatican II chúng ta đọc thấy câu: - "...lòng động, lòng lo, miệng nói, mình làm. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng...". Trong khi đó thì kinh Cáo Mình hiện tại, sau Công Đồng Vatican II cho chúng ta: - " ..tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót ( omissio). Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng..." So sánh hai kinh Cáo Mình, chúng ta thấy Công Đồng Vatican II làm cho chúng ta ý thức đến điều đáng lý chúng ta phải làm, nhưng chúng ta đã "tự ý bỏ qua" ( omissio, trong La ngữ có nghĩa là tự ý bỏ qua, mặc dầu mình ý thức đó là bổn phận, chớ không phải chỉ thiếu sót vì thờ ơ, quên lãng) , tạo ra việc chúng ta thiếu trách nhiệm đối với Chúa và đối với anh em, vì không thương yêu anh em , như lời khiển trách của Thánh Gioan ( 1 Gv. 4,20s). Điều - " tự ý bỏ qua, không hành động , không can thiệp vào việc mà đáng lý chúng ta phải làm " ( chớ không phải " thiếu sót " ) đó là một hành vi lỗi phạm một trong hai Giới Răn của Chúa, là tội, chớ không phải là hobby, muốn làm hay không cũng được. Ngoài ra những văn kiện của Giáo Hội thúc đẩy chúng ta ý thức đến việc dấn thân chính trị, cộng tác với anh em khác, với tất cả những người thành tâm thiện chí, công giáo hay không cũng vậy, để xây dựng một xã hội tương xứng hơn với địa vị con người, lương tâm Ki Tô giáo đòi buộc chúng ta "không được tự ý bỏ qua" ( omissio) trách nhiệm chính trị, khi đức bác ái đối với anh em, đối với Quốc Gia Dân Tộc, đòi buộc chúng ta phải hiện diện. Giả sử chúng ta có khả năng, có chương trình phát triển chính trị, xã hội, kinh tế hữu hiệu, hợp lý và khả thi, làm cho dân tộc chúng ta có đời sống " người cho ra người " hơn, nhưng vì lý do nào đó chúng ta "không tham vọng chính trị" , trốn tránh trách nhiệm, để mất cơ hội, để kẻ khác kém tài năng hơn lãnh đạo làm cho đất nước cơ cực, dân chúng ngu dốt, lầm than. Thái độ "vô trách nhiệm, tự ý bỏ qua" ( omissio) đó, chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa, trong lời khiển trách của Thánh Gioan: - " Nếu ai nói: " Tôi yêu mến Thiên Chúa", mà lại ghét bỏ anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ nơi Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" ( 1 Jn 4, 20-21). Để kết thức, chúng tôi xin mượn lời Đức Giáo Hoàng Pio XI nói về chính trị: " Ngoài đức bác ái tôn giáo ra, không có đức bác ái nào lớn hơn đức bác ái chính trị, vì chính trị liên quan mật thiết đến đời sống con người " ( Pio XI, Discorso FUCI 1927, Osservatore Romano, 3). Và Đức Phaolồ VI mời gọi giáo dân: " ...việc dấn thân chính trị là một phương thức cần thiết...mặc dầu không phải là duy nhất, để người tín hữu giáo dân thực thi đức bác ái phục vụ người khác..." ( Paolo VI, Octogesima Adveniens, 46).

 

Hôm thứ sau Tuần Thánh, 03.04.2015, nhân dịp theo dõi chương trình cử hành Lễ Rửa Chân cho 12 tù nhân trong trại tù Rebibbia ở Roma, người viết được chứng kiến một cảnh tượng thật cảm động: ĐTC Phanxicô qùy gối xuống rửa và hôn chân một cậu bé chưa đến ba tuổi đang bị ở tù chung với mẹ. Câu hỏi tự nhiên có lẽ ai trong chúng ta cũng đạt ra: - luật lệ dân sự ( legge civile) ở Ý, một trong những nước được coi là văn minh trên thế giới, có phải là luật lệ tôn trọng phẩm giá con người hay không? - làm sao mà một cậu bé chưa đến ba tuổi, vô tội, cũng phải " ngồi tù "cùng chung số phận với mẹ và như những người khác? Nhân bức xức với lương tâm về câu hỏi đó, người viết tìm gặp được bài viết về cùng một chủ đề tương tự của Đức Hồng Y Carlo Martini, Tổng Giám Mục giáo phận Milano. Người viết xin dựa vào đó để viết ra những dòng dưới đây, như vậy mọi người chúng ta, nhứt là những người công giáo, cùng nhau suy nghĩ cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong tương lai. Bài viết được ĐHY Carlo Martini viết ra trực tiếp để nhắn gởi đến các linh mục tuyên úy, các nữ tu và các người công giáo tự nguyện ra vào nhà tù để tiếp xúc, ủy lạo xã hội và tinh thần các tù nhân đang bị giam giữ. Ngài cho biết: - " Nhiều lần anh chị em đã phải bất lực chứng kiến cảnh bạo lực vô lý, làm hạ giá chống lại con người, nam cũng như nữ, trong nhà tù và bạo lực có hệ thống phát sinh và tái diễn chính trong bối cảnh nhà tù ". Điều ngài vừa cho biết, đó là do thư từ mà các tù nhân gởi ra cho thân nhân của mình ở bên ngoài,cũng như ai trong chúng ta cũng biết được qua các hệ thống thông tin, qua cơ hội có dịp tiếp túc với tù nhân, hay được các tù nhân kể lại cho chính ngài. Qua những sự việc đau thương, mà người tù nhân phải gánh chịu đó, ở một xứ " văn minh ", thật là điều không thể tưởng tượng được. Nhưng rất tiếc là những chuyện thực tại và xảy ra hằng ngày, ( còn nói gi đến số phận của những tù nhân ở những quốc gia bị coi là kém văn minh, như quốc gia nào đó chúng ta thừa biết ). Chúng ta thử tìm hiểu sâu xa hơn " tình trạng luật pháp dân sự đáng lý phải có " , dựa vào Lời Chúa và dựa vào các Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. Điều chúng ta muốn được suy nghĩ " đáng lý phải có ", chúng ta có thể dựa vào " điều mới mẻ " của Phúc Âm, sứ điệp cứu độ cho tất cả mọi người, trong bất cứ hoàn cảnh nào mình đang sống, sống ngoài cuộc sống bình thường xã hội hay trong ngục tù áp bức cũng vậy. Con người được sứ điệp Phúc Âm cho biết không bao giờ là con người bị bóp ngạt, bị bất cứ hoàn cảnh hay thực tại nào nô lệ hoá, dầu cho hoàn cảnh đó là hoàn cảnh áp bức bóp nghẹt nào cũng vậy. Người công giáo, ai trong chúng ta cũng còn nhớ lời tiên tri Isaia, được Chúa Giêsu lâp lại để nói lên sứ mạng của Người trong phần khởi đầu Phúc Âm Thánh Luca: - " Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa " ( Lc 4, 18-19). Đó là sứ điệp cho người tín hữu Chúa Kitô, các linh mục tuyên úy nhà tù, các nữ tu trợ tá, các người công giáo dấn thân tự nguyện giúp các phạm nhân hay bất cứ người công giáo nào, lúc nào và ở đâu cũng vậy. Hiểu như vậy, chúng ta nên hiểu các lời Phúc Âm vừa trích dẫn không phải chỉ là những lời dành riêng cho những hạng người vừa kể, mà là điều nhắc nhở cho biết rằng những ai đảm nhận công tác đươc đề cập, đừng cảm thấy mình trơ trọi một mình trong sứ mạng, mà còn biết có cả Giáo Hội cùng chung với mình, đang cùng thông hiệp với Chúa Kitô, ngay cả khi các Đấng Bản Quyền không có dịp tiếp xúc để chia xẻ công việc mình làm. Hãy cảm nhận mình luôn luôn được Chúa Kitô yêu thương và có Giáo Hội trợ lực! - Các linh mục tuyên úy đã nhận được sứ mệnh ủy thác từ ngày được truyền chức. - Các tu sĩ nam nữ, từ ngày tuyên khấn. - Các nam nữ giáo dân từ ngày nhận được Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Giáo Hội nghĩ gì về nhà tù ? Qua những dòng vừa viết, có lẽ phần đông trong chúng ta nghĩ rằng đó là những suy tư tổng quát, còn Giáo Hội, Giáo Hội có tiếng nói, có tài liệu chính thức nào nói về " tù nhân " đang bị cầm tù ngày hôm nay hay không, ngoài ra những gì chúng ta được biết qua Thánh Kinh? Thời gian và tình thế đã thay đổi. Thánh Kinh nói đến người Do Thái bị ngược đãi, đối xử như nô lệ trong hoàn cảnh thảm đạm, bất nhân trong tay người Ai Cập, Assiri, Babylon, tù nhân của các hoàng đế Roma. Đối với những người Do Thái thời đó, Thánh Kinh lập đi lập lại lời của Thiên Chúa nói với họ. Ngày nay, trước hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, ở các nước " văn minh hay độc tài man rợ ", có lẽ chúng ta còn muốn nghe nói một cách thực tiển hơn, Giáo Hội, Giáo Phận, Họ Đạo hay các nhóm, các phong trào công giáo có tiếng nói nào để bênh vực phẩm giá người bị cầm tù hay không? Ngay cả ở Ý quốc, dựa theo tài liệu của ĐHY Carlo Martini, mà chúng tôi viết bài nầy, có đến khoản 40.000 người đang bị cầm tù và cứ mỗi tháng có thêm trên 500 người. Đàng sau những người đang bị mất tự do nầy, còn có cả gia đình, cha mẹ, vợ hay chồng, chị em và con cái của họ đang đau khổ vì họ nữa! Và rồi chúng ta còn phải nghĩ đến những vấn đề, lắm khi thật thảm đạm, thất vọng, do trạng thái bị cầm tù nảy sinh ra, trước khi có được một giải pháp thực tiển cho tù nhân và gia đình, thân nhân. Tâm trạng thương xót, thảm đạm có; nhưng thái độ trả thù phục hận, đáng kiếp cũng không thiếu. Đó là những gì các cha tuyên úy, các nam nữ tu sĩ, cũng như giáo dân dấn thân đối với tù nhân thuật lại cho ĐHY Carlo Martini, được ngài đề cập đến trong bài viết mà chúng tôi dựa vào, để viết lên những dòng nầy. Thái độ " nhốt tù để trừng phạt " nhứt là " trừng phạt " cả bằng " tù chung thân và tử hình " không phải không đang gây ra rất nhiều tranh cải, có phải là cách sửa trị xứng đáng với phẩm giá con người không? 1 - Thánh Kinh và Tài liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. Trước hết chúng ta nên nhớ Thánh Kinh và Tài Liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội soi sáng cho chúng ta phải có thái độ hành xử nào trong tình trạng tế nhị và đau khổ nầy. A) Trong Thánh Kinh chúng ta không gặp được đoạn văn lý thuyết và có hệ thống nào về bản thể con người. Thánh Kinh đề cập đến con người thực tế, trong lịch sử và bối cảnh văn hoá sống của mình. Cả các chân lý về phẩm giá, con người, về các quyền và bổn phận đều có liên hệ đến hiện trạng cá biệt và thực tế của cuộc sống. B) Trái lại, trong một vài Tài Liệu Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, chúng ta gặp được lời huấn dạy được cấu trúc và xếp đặt mạch lạc có thứ tự về phẩm giá con người, các quyền cũng như bổn phận. Giữa các Tài Liệu trong thế kỷ 20, chúng ta có được Thông Điệp Mit Brennender Sorger ( 1937) của ĐTC Pio XI và Thông Điệp Divini Redemptoris ( 1937); Sứ Điệp Giáng Sinh năm 1942 của ĐTC Pio XII và Pacem in Terris của ĐTC Gioan XXII ( 1963). Chúng ta cũng đừng quên Hiến Chế " Gaudium et Spes " của Công Đồng Vatican II, Bản Tuyên Ngôn về quyền tự do tôn giáo " Dignitatis humanae". Chúng ta cũng còn nhớ Thông Điệp " Populorum Progressio " của ĐTC Phaolồ VI và cả Bài Thuyết Giảng cho Tổ Chức Ngoại Giao Đoàn 1978 của ngài, trong đó ĐTC nhấm mạnh đến - thái độ kính trọng vô điều kiện đối với phẩm giá con người, - chống lại vấn đề tra tấn người bị bắt giữ. ĐTC Gioan Phaolồ II đặt vấn đề và giải thích huấn dụ của ngài về con người, khởi đầu từ Thông Điệp " Redemptor Hominis " ( 1978 ): Chúa Kitô mạc khải phẩm giá con người cho con người. Và đây là một chủ đề chính trong thời đại Giáo Hoàng của ĐTC Gioan Phaolồ II. Trong nhiều bài viết và huấn từ của ngài, ngài nhắc nhở cho mọi người rằng Giáo Hội gìn giữ phẩm giá con người, là phẩm giá được Thiên Chúa nhân lành giải thoát: đây là chủ đề được đề cập đến một cách đặc biệt trong Thông Điệp " Dives in Misericordia " ( 1980), mà ĐTC chỉ cho chúng ta biết như là bản văn nền tảng cho Năm Thánh thời gian đó. Nền tảng của phẩm giá con người: đó là " giống hình ảnh Thiên Chúa ". Trong các bản văn nầy, nền tảng của phẩm giá con người, của mỗi con người là gì? Dưới nhãn quang của đức tin, đó là sự dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Công cuộc dựng nên đó, được Sách Sáng Thế Ký thuật lại, thiết lập nên nền tảng của phẩm giá con người và là nguyên cội của các quyền và bổn phận của con người. Và đó cũng là nền tảng của Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, nhứt là trong Hiến Chế " Gaudium et Spes ", đã khai triển rộng rãi, khi nói về phẩm giá con người: - " ...Theo quan niệm thông thường đó, thường con ngưòi tán dương mình như một mẫu mực tuyệt đối hay lại chê bai đến độ tuyệt vọng, từ đó con ngườ hoài nghi và lo lắng. Thông cảm sâu xa được những khó khăn nầy, Giáo Hội, vì được Thiên Chúa là Đấng mạc khải dạy dỗ, có thể đem lại câu giải đáp cho những khó khăn ấy, nhờ đó diễn tả được thân phận đích thực của con người, giải bày những yếu hèn, đồng thời có thể nhìn nhận xác đáng phẩm giá và thiên chức của con người. Thực vậy, Thánh Kinh dạy rằng con người đã được tạo dựng " theo hình ảnh của Thiên Chúa " và có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Tạo Dựng nên mình, được Người đặt làm chủ nhân mọi tạo vật trên trái đất , để cai trị và xử dụng chúng, mà ngợi khen Thiên Chúa... " ( GS, 12). Giờ đây chúng ta thử suy ngẫm lại một cách ngắn gọn lời của Thánh Kinh: - " Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta " ( Gen 1, 26). Chúng ta có thể nói rằng cách dịch chính xác hơn: - " Chúng ta hãy tạo dựng các con người giống hình ảnh chúng ta ". Theo ngôn ngữ Do Thái, Adam = con người, mà một danh từ số ít, thực tế và có ý nghĩa tổng thể. Bởi đó, ở đây, chúng ta nên đọc hiểu không phải chỉ là tạo dựng nên một con người đầu tiên và duy nhứt, mà là dựng nên loài người. Và điều đó nhấn mạnh, nói lên cho biết không phải chỉ là tạo dựng nên một con người tiên khởi, duy nhứt, con người đó chưa hề phạm tội, cần phải được kính trọng, mà là mỗi con người của loài người đều được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Và rồi Sách Sáng Thế Ký tiếp tục kể tiếp: - " ...giống như Chúng Ta , để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất...Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc lành cho họ..." ( Gen 1, 26-27). " ...giống hình ảnh Ta " có nghĩa là gì? Đó là ý nghĩa của một bức tượng, một khuôn mặt trọn hảo được phát hoạ hoặc điêu khắc. Trong ngôn từ Do Thái, lắm khi cách diễn tả, giống hình ảnh là làm sống động thể hiện một nhân vật. Một tượng điêu khắc một nhà vua, theo tinh thần đông phương, là nhắc nhớ và làm hiện diện thực sự trước mắt vị vua. Đây là một quan niệm rất sống động và tức khắc, nói lên sự hiện diện tiếp tục và tác động của nhà vua. Trong ý nghĩa đó,Sách Sáng Thế Ký nói lên cho chúng ta biết mối liên hệ thân tình giữa con người và Thiên Chúa, được thể hiện có nền tảng. Nói cách khác, con người trong Thánh Kinh khám phá ra phẩm giá của mình, giống như Thiên Chúa, và giá trị của phẩm giá đó là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mỗi con người, Đấng Tạo Hoá của mình. Thật đây là một biến cố có tầm mức ngoại lệ, duy nhứt trong cả công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Sự kiện con người là tạo vật duy nhứt giống như Thiên Chúa hằng sống, Đấng đang hiện diện nơi mình, là chìa khóa làm cho chúng ta hiểu được cả Thánh Kinh, là nguyên nhân trổi thượng nhứt của cả lịch sử thiên thánh. Hiểu như vậy, chúng ta còn gặp được bao nhiêu đoạn Thánh Kinh khác tường thuật lại những gì Sách Sáng Thế Ký đã đề cập đến: - " Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa " ( Gn 9, 6C ). - " Xin Chúa nhớ cho: Ngài đã tạo ra con bằng đất sét, rồi lại đưa con trở về cát bụi " ( Gb 10,9); ( Tb 8,8; ( Sp 7, 1; 10, 1-2). Cả Phúc Âm, Thư Thánh Phaolồ gởi các tín hữu Colossei 3, 10 cũng đã đề cập đến. Như vậy, yếu tố nền tảng để hiểu biết được phẩm giá con người là những gì được đặt trên mối liên hệ thân tình của con người với Thiên Chúa. Nhưng điều chính yếu con người, là hình ảnh của Thiên Chúa nghĩa là gì? Dĩ nhiên " hình ảnh của Thiên Chúa " không phải chỉ thu gọn vào tài năng của con người, chức vụ của con người cũng như cách hành xử của con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa hiện thực trong tự bản thể của mình, trong hiện thể của mình. Kế đến Thánh Kinh còn dùng một thể thức diễn tả khác để làm sáng tỏ hơn quan niệm hình ảnh Thiên Chúa của con người: đó là khi Thánh Kinh đề cập đến sự kiện con người được kêu gọi trở nên con Thiên Chúa , có quyền - nói như thánh Gioan cho biết - được trở thành con Thiên Chúa. Quyền đó con người có được bỏi vì Thiên Chúa muốn, dựng nên , yêu thương và giờ đây được Thiên Chúa cứu thoát nơi Chúa Giêsu Kitô. Đây là một giá trị Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ tạo dựng nên cho. Phẩm giá đó được thể hiện do sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa, nguyên nhân tiên khởi và chính yếu của bản thể con người, - được hiện thực bằng cách con người tham dự vào đặc tính tối thượng của Đấng Tạo Hoá trên vạn vật; - được tỏ ra trong chính khả năng của con người liên hệ, nhận biết, đàm thoại và yêu thương của mình đối với Thiên Chúa. Nói cách khác, phẩm giá đó được phát sinh do - chính Thiên Chúa luôn luôn thương yêu con người đang sống, - đang đối thoại với Người, - đang được Thiên Chúa kêu gọi liên hệ thông hiệp với Người, - đang được Người làm cho trở nên thực sự là con cái của người, chớ không phải chỉ là ảo tưởng.mà chúng Như vậy phẩm giá con người là mối liên hệ với Thiên Chúa. Mối liên hệ đó là nền tảng phẩm giá đich thực của con người, phẩm giá tuyệt đối trổi vượt ưu tiên trên tất cả các giá trị khác. Hiểu như vậy, - không ai có thể thiết định thế nào đối với con người, - không ai có thể coi mình là chủ nhân ông của người khác, bởi lẽ không ai có thể đặt Thiên Chúa ở vị trí nào mình muốn. Nói như vậy, có thể có người cho rằng đó chỉ là cách nói đẹp đẽ trên lý thuyết, nhưng trong cuộc sống thực tế hằng ngày không phải vậy. Có thể có người thách thức cho rằng thử sống cuộc sống thực tế hằng ngày với chúng tôi, người có ý nghĩ lý tưởng như vừa kể sẽ nhận thức được rằng con người của Thánh Kinh, của Công Đồng Vatican II không có gì ám hạp với thực tế, với lịch sử hằng ngày, nhứt là với cuộc sống tù tội. Vậy thì câu hỏi cấp thiết cần phải được đặt ra. Đó là làm cách nào con người hằng ngày mà chúng ta đang gặp hiện diện trước mắt và đôi khi mà chúng ta biết được hoàn cảnh khổ tâm của họ, hoặc do chính họ, hoặc do người khác hay hoàn cảnh mà tạo ra, có thể còn là con người đang mang nơi mình vinh quang của Thiên Chúa, hình ảnh Thiên Chúa không? Báo chí, truyền thanh, truyền hình hằng ngày không phải hiếm gì đưa ra hoặt phát họa lên những con người , mà dư luận công cộng cho là - đáng ghét, - đáng khinh bỉ, - là thú vật đầy hung dữ; - và đôi khi còn bị ghi vào " sổ bìa đen của luật pháp ", trước khi bị toà án công khai xét xử và lên án tội phạm. Trong bài nói chuyện với Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận Milano, mà chúng tôi dựa vào để viết lên những dòng nầy, ĐHY Carlo Martini còn kể ra trường hợp của một thanh niên 24 tuổi viết cho ngài<, - " Trong lúc bước vào nhà tù, con cản thấy mình chỉ còn là một vật, choáng chỗ chật chội và làm khó chịu thêm cho người khác, cho tất cả: đối với những người đang dẫn con vào lúc đó , cũng như đối với những người nhận được có sự hiện diện của con... Kế đến vào lúc chiều tối,khi họ tiếp xúc với con, con nghe được người nầy hỏi người kia: Bao nhiêu thú vật anh đã nhận vào chuồng của anh..,?". Nói đến đây, tôi còn muốn được thêm vào, ĐHY nói tiếp, vì bị coi mình như một đồ vật, - mà chính người tù nhân đã làm mất đi lòng tín nhiệm vào những đặc tính giá trị mình có, - không còn cảm thấy mình còn có giá trị thiên thánh, - đặc tính con cái Thiên Chúa cũng bị mất đi hay cả lời kêu gọi trở thành con cái Chúa cũng không còn. Trái lại, người tù nhân sẽ cảm nhận ra mình là người thất vọng, tội nhân bị lên án, từ nay vĩnh viễn sẽ là con người chịu thua thiệt, đáng bị vất bỏ như đồ vật phế thải. Tâm tình cảm thấy mình không còn xứng đáng là con người nữa, đã trở thành hư không, khiến cho người bị cầm tù có những suy, hành đông quá độ, càng ngày càng tăng trưởng thêm bởi hoàn cảnh và tình trạng cô lập, chắc chắn sẽ đưa người tù nhân đến sự hủy diệt mình. Một thanh niên khác cũng viết cho ĐHY, - " con mới có 20 tuổi, nhưng con cảm thấy con là loài sâu bọ, thật là một điều xấu hổ . Trong đời sống con sẽ không thành đạt trở thành một người nào và con không bao giờ có khả năng làm được điều gì tốt đẹp. Con cản thấy con hèn hạ, đáng khinh bỉ...Có lẽ con nên chấm dứt cuộc đời nầy còn hơn..." . Có thể mỗi người trong chúng ta cảm thấy bản tính tiên khởi của mình thái độ khước từ, đối với những ai giết chóc, buôn bán cái chết bằng súng đạn, hảm hiếp người vô tội, cướp giựt đối với người già cả. Làm sao chúng ta có thể nhận ra được nơi những con người vừa kể hình ảnh thiên thánh của Thiên Chúa? Điều dữ đã phủ bùn đất, xáo trộn, làm rách nát hình ảnh thiên thánh đó. 2 - Thánh Kinh cho biết gì về thực trạng cuộc sống con người? a )Thánh Kinh đã cho chúng ta biết gì về thực trạng đau lòng đó? Đọc những trang Thánh Kinh, chúng ta được mời gọi hãy thức tỉnh, nhận thức được thực trạng, chớ đừng chỉ mộng tưởng cuộc sống con người toàn là những gì tích cực và dễ dãi. Thực trạng thảm đạm của con người được Thánh Kinh thuật lại là con người tội lỗi, " sai lạc đường, mất định hướng " và du côn du đảng. Thánh Kinh lập đi lập lại nhiều lần và kể cả đến chi tiết, diễn tả lòng bất nhân và bất công từ Adam cho đến vua David, từ vua Salomon cho đến vua Erode và tổng trấn Pilato. Chúng ta chỉ cần đọc Thư Thánh Phaolồ gởi cho các tín hữu Roma để bết được con người được phác hoạ ra như thế nào, không nhận biết nơi chính mình cũng như trong các tạo vật niềm vinh quang của Thiên Chúa, hình ảnh của Đấng Tạo Hoá. Bởi đó họ bị Thánh Phaolồ gọi là những con người - làm mất đi thiên tính nơi chinh mình , đầy bất công, dã thú , đầy tham lam dục tình, hư mất và lươn lẹo bất công; - đầy ghen ghét, có khuynh hướng giết người, cạnh tranh , lường lọc và độc ác; - thích bêu xấu, loan truyền điều thất thiệt, thù nghịch đối với Thiên Chúa, kiêu ngạo, khoe khoang, lanh lợi khôn khéo.Vì thế họ làm điều ác , chống báng cha mẹ, tàn nhẫn vô tâm và không biết thương xót: - " Vì thế Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục vọng mà làm những điều ô uế, khiến thân thể họ ra hư hèn. Thay vì Thiên Chúa thật, họ đã theo những thần giả; họ đã tôn thờ những loài thọ tạo, thay vì chính Đấng Tạo Hóa. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. Bởi thế, Thiên Chúa đã để họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy. không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình. Vì họ đã không thèm nhận biết Thiên Chúa, nên Người đã để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng, lòng họ đầy bất chính, xấu xa, tham lam, độc ác đủ thứ; nào là ganh tỵ, khoác lác, cãi cọ, mưu mô, thâm hiểm, nào là nói hành, nói xấu, vu oan giá họa. Ho thù ghét Thiên Chúa, ngạo ngược, kiêu căng, khoác lác, giỏi làm điều ác, không vâng lời cha mẹ, không có lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương " ( Rom 1, 24-31) Đây có lẽ là bản liệt kê dài nhứt của Thánh Phaolồ về tình trạng của con người, một bản liệt kê hoàn toàn tiêu cực và thảm đạm. Nhưng nếu chúng ta đọc Sách Các Tiên Tri, nếu chúng ta đọc lại những bài thuyết giảng của Chúa Giêsu, các bản văn Tông Đồ Công Vụ, chúng ta sẽ thấy rằng không có tội ác nào của con người mà không được kể ra trong Thánh Kinh và được viết lên như là thời điểm cuối cùng, bất khả phân với hoàn cảnh tàn tạ của con người, như là điểm khởi đầu cho động tác tái lập lại của Thiên Chúa. Bởi vì Thiên Chúa " không muốn cho con người tội lỗi phải bị tiêu diệt, mà muốn cho họ hối cải và sống còn ". Bởi đó Chúa Giêsu đến nỗi đã nhận lấy bản thể của chúng ta, để trở thành hoàn toàn như chúng ta, và trở thành một vị Thượng Tế đầy lòng nhân từ: - " Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân " ( Heb 2, 17). Chúa Giêsu cũng gặp phải cơn cám dỗ như chúng ta, để có thể trợ giúp được những ai bị cám dỗ: - " Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách " ( Heb 2, 18). Và vì đó Người có thể cảm thông được tình trạng yếu hèn của chúng ta: - " Vị Thượng Tế của chúng ta phải là Đấng thông biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội " ( Heb 4,15). Người có thể cảm thông được một cách tương xứng đối với những ai dốt nát hoặc lầm lỡ: - " Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính Người cũng đầy yếu đuối " ( Heb 5, 2 ). b) Và trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã nói lên rõ ràng và lập đi, lập lại nhiều lần, rằng Người đến trong thế gian không phải để vì người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi, không phải cho người khoẻ mạnh vì chỉ có người đau yếu và kẻ cần đến vị y sĩ, Người đến để tìm kiếm và cứu độ những con người bị hư mất: - " Nghe thấy như vậy, Chúa Giêsu nói: " Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần " ( Mt 9, 12). - " Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã " ( Lc 19, 10). - " Đây là điều đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Chúa Giêsu Kitô đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi " ( 1 Tim 1, 15). Qua những gì Chúa Giêsu đã phán và chúng ta vừa trích dẫn, chúng ta có thể hiểu được mục đích của Chúa Giêsu lập nên Giáo Hội. Người lập Giáo Hội của Người như người mẹ và là nơi trú ẩn cho con người tội lỗi: - " Con Người đến cũng ăn uống như ai, thì các ông lại bảo: " Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi " ( Lc 7, 34). - " Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm " ( Mt 9, 16). Chúa Giêsu lập Giáo Hội của Người như người mẹ và như là nơi ẩn trú cho người tội lỗi, chúng tôi xin được lập lại. Hay nói một cách thiết thực hơn, Giáo Hội và chúng ta, mỗi con người chúng ta là thành phần của Giáo Hội, phải làm gì, hành xử thế nào và con đường nào chúng ta phải tìm ra để chữa trị phẩm giá bị thương tích của con người? Câu trả lời tổng quát trước tiên là Giáo Hội, là tất cả chúng ta, phải luôn luôn được tiếp tục huấn dạy cho thấu triệt rằng phẩm giá con người là những gì có địa vị ưu tiên và đứng trên tất cả. Nói một cách chi tiếc hơn bất cứ hình phạt nào, bất cứ một cuộc bắt giữ , xử kiện hay giam cầm nào, dầu cho đó là điều bất khả kháng, phải thi hành, đều phải thực hiện trong phương cách kính trọng phẩm giá con người, trong mọi tiến trình. Trong chiều hướng đó, tất cả mọi người đều được kêu gọi phải hành xử trong việc thi hành bổn phận của mình, dầu cho mình là thành viên của quốc hội, của hành pháp hay tư pháp hay lực lượng an ninh cảnh sát khi thi hành luật pháp cũng vậy. Người bị cầm giữ phải có quyền và cơ hội đích thực để hoán cải tinh thần mình, cả trước khi có thái độ xứng đáng đối với cuộc sống xã hội. Viễn ảnh vừa kể cho thấy không ai có quyền tước đoạt động tác chuyên cần dấn thân của Giáo Hội trong việc định hướng, hướng dẫn người bị cầm giữ, bằng những lời khuyên bảo về sai lỗi của đương sự, lòng thống hối, trạng thái tha thứ, niềm hoà giải lại với Chúa và với người thân cận. Nhưng điều quan trọng không ai được quên đi và cần phải được nhấn mạnh là người bị cầm giữ, cũng như bất cứ con người nào khác, là chủ thể được công cuộc cứu rổi nhằm đên, bởi đó cần phải được trợ giúp đương sự trên con đường cứu chuộc khỏi điều ác, như bất cứ một con người nào khác muốn được giải thoát khỏi tội lỗi của mình. 3 - Trên thực tế, tội nhân phải được trợ giúp thế nào? Làm thế nào để đến được gần, thân cận bên cạnh tội nhân và con người yếu đuối, đã lầm lỡ nhường bước trước cơn cám dỗ của Qủy Dữ và làm cho đương sự cảm nhận được mình phải hoán cải lại cuộc đời, tóm thu lại được phẩm giá hoàn hảo con cái Thiên Chúa của mình, được lòng nhân từ của Chúa là Cha giải thoát cho ? Chúng ta đừng ỷ lại mình là người công chính như người Pharisêu trong dụ ngôn ( Lc 18, 9), cho bằng cảm nhận chính mình là kẻ tội lỗi. Người viết những dòng nầy không phải là một linh mục trong toà cáo giải, nên không thể kể hết ra đây các hình thức có thể phạm tội. Người viết chỉ muốn lấy lại lời Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan để mọi người chúng ta ý thức đến thân phận yếu hèn của mình: - " Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi " ( Jn 8, 7 ). Với tâm trạng ý thức về tội lỗi của mình như vừa kể, chúng ta có thể dễ dàng đến bên cạnh tất cả mọi người, như là người anh em của các đương sự đó. Tình anh em vừa kể không phải tự chúng ta biến chế ra cho mình, mà là thực thể được đặt trên nền tảng của công trình Thiên Chúa sáng tạo và dựa trên sức mạnh ơn gọi của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta phải biết cảm nhận mình ngang hàng, giống như mọi người, cùng đồng hành với các người anh em đang bị tù tội, cùng đồng hành với họ như Chúa Giêsu đã sống và ở giữa tất cả, không sợ sệt, không được bảo vệ, nhưng với tình thương, bởi vì tình thương hoàn hảo vượt thắng sợ hãi. Như vậy ơn gọi của các cha tuyên úy, các nữ tu và các Kitô hữu tự nguyện là một ơn gọi với lòng nhân từ hiện diện giữa các người bị giam giữ, giữa các nhân viên quân đội canh gát, giữa các viên chức nhà tù, là những con người đang sống trong những giây phút khó khăn và cứng rắn. Làm sao chúng ta có thể làm sống động lại phẩm giá con người, nhứt là của những người bị lên án, giam giữ, bỏ tù? Khi một con người đang đau khổ, chúng ta không thể dựa vào lý luận nạn nhân vô tội hay tội phạm: nguời bị kết án, giam giữ, bị cầm tù, luôn luôn là con người đáng được thương hại. Chúng ta cần đến bên cạnh con người đó, thông cảm hiểu biết anh ta và nâng đỡ anh bằng lời nói, động tác và lòng thành thật chia xẻ đau khổ anh đang gánh chịu. Đó là bổn phận của mỗi người tín hữu Chúa Kitô phải chăm lo, săn sóc. Với dụ ngôn người Samaritano nhân lành, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải trở nên người thân cận với người đang đau khổ, nửa sống nửa chết, mất hết cả nhân tính, đang nằm giữa đường đến Gerico ( Lc 10, 29-37). Và Người đã nói cho chúng ta biết phải làm gì. Nỗi đau khổ của con người thật đa diện, nhưng điều làm cho con người điêu đứng ngất ngư hơn hết là tình trong bị bỏ rơi một mình. Con người chịu đau khổ kinh khủng, khi cảm thấy mình đơn độc. Trong tài liệu của buổi nói chuyện với Hội Đồng Mục Vụ giáo phận Milano, mà chúng tôi là dựa vào để viết bài nầy, ĐHY Carlo Martini còn cho biết nội dung của một bức thư gởi cho ngài: - " Con không còn nữa đối với bất cứ ai...Con không còn sống nữa, con không biết tại sao, cũng như như thế nào...Mọi người đều nói, nhưng không ai nghe con nữa. Con không còn giá trị gì đối với một ai. Mầy chỉ là đồ phế thải, vất đi. không có quyền lựa chọn...mầy không biết họ nhốt mầy ở đâu ". Con người tội lỗi cảm thấy mình đơn độc, không cha mẹ, không anh chị em. Từ đó anh tự xác tín rằng không có gì và không ai giúp đỡ mình hoặc bám lấy vào những gì có thể, mặc dầu không có gì làm bảo chứng, cảm thấy mình bị mọi người loại bỏ, lên án và cả đến lương tâm mình cũng nguyền rủa mình. Và đây chính là giây phút mà phép lạ có thể xảy ra, nếu có ai đó đến gần mình, như Chúa Giêsu đã nhắc nhớ chúng ta trong dụ ngôn: - " Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp ; Ta trần truồng các ngươi đã không cho ; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng" ( Mt 25, 43). Trong câu trích dẫn vừa kể từ Phúc Âm Thánh Matthêu, các nỗi bần cùn mà Chúa Giêsu liệt kê ra, nỗi bất hạnh " ngồi tù " được Người liệt kê cuối cùng trong ngày phán đoán cuối cùng của Người, điều đó cho thấy người bị " ngồi tù " là người có tinh thần đáng thương nhứt, bị loại ra bên ngoài xã hội, bị tách riêng xa khỏi người thân, không thể còn có quyền được dự phần vào cuộc sống cộng đồng trong vòng một năm, hai năm, mười năm, ba mươi năm hay chung thân ở tù, khiến cho người bị cầm tù cảm thấy mất đi chính con người của mình và hình ảnh của mình. Nỗi bần cùn to lớn nhứt là cảm thấy mình vô giá trị và không còn tình yêu thương, không còn cha mẹ và cả anh em. Và rồi nếu đó là hình phạt vĩnh viễn ( tù chung thân chẳng hạn) thì đó là hình phạt khiến cho người tù nhân bất hạnh khốn cùng và bị lên án chúc dữ. Tất cả những điều đó là những gì thực sự xảy ra trên phương diện tâm lý và tôn giáo. Hiểu như vậy, chúng ta hãy tận tâm tận lực giúp đỡ những người anh em đó để tìm lại được phẩm giá của mình, để xây dựng lại phẩm giá của mình. Chúng ta tin rằng đàng sau mặt nạ con người tù nhân đó còn có khuôn diện của con người, trong con người đó còn có hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn tiếp tục là Cha của anh, mặc cho cách đối xử nhân loại của chúng ta coi anh không còn là anh em nữa! ĐTC Gioan XXIII dạy chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn giữa sự sai lầm với con người sai lầm: - " Con người sai lầm vẫn luôn luôn và đúng hơn là một con người và vẫn tồn giữ, trong bất cứ trường hợp nào, phẩm giá con người của mình và bởi đó luôn luôn cần phải nhận biết và đối xử thế nào cho tương xứng với phẩm giá cao cả đó " ( Pacem in Terris, n. 83). Và đây là những bước đường thực tế, mà người tín hữu Chúa Kitô, các cha tuyên úy, các nam nữ tu sĩ, cũng như mọi người Kitô hữu tình nguyện và phải tình nguyện để trợ giúp người bị bắt bớ, xử án, bị bỏ tù ( có công bằng hay không là môt chuyện khác). Trước khi đề cập đến những chỉ dẫn cá biệt, chúng ta cần nhớ và cần đặt nặng vấn đề đối thoại. Chúng ta tôn trọng nhân phẩm của một con người, khi chúng ta nhận biết nơi đương sự quyền đối thoại của người đang hiện diện trước chúng ta. Đối thoại có nghĩa là nói chuyện với nhau, biết lắng nghe nhau, để cùng tìm thấy những gì trợ giúp cả hai làm sáng tỏ vấn đề đang bàn, các quan điểm tương đồng cho vấn đề đang được đề cập, cũng như về cuộc sống, con đường trên đó cùng chung nhau bước đi, các giá trị thục sự làm người thêm phong phú. Để hiểu được phương thức và tinh thần đối thoại xây dựng, theo tinh thần Kitô giá, chúng tôi thiết tưởng rằng chúng ta nên tìm hiểu sâu đậm hơn về Hiến Chế " Gaudium et Spes" của Công Đồng Vatican IIThông Điệp " Eccesiam Suam " của ĐTC Phaolồ VI. Qua đối thoại, được cùng nhau thảo luận, chúng ta có thể tìm lại được và tái chiếm hữu lại được ba giá trị quan trọng, nói lên cao độ của phẩm giá con người. Đó là - lương tâm ngay chính, - quyền tự do và - tình yêu thương. a ) Lương tâm ngay chính. Con người, không phải bằng áp đặt hay vũ lực, mà với lòng tôn kính tối thượng, có thể tìm ra được chân lý. Không phải chúng ta là những người tiên khởi làm cho hiện diện trở lại nơi tội nhân quyền của anh ta, cũng như trách cứ anh ta. Chính đó là việc làm của lương tâm anh. Trong Thánh Kinh, chúng ta cũng biết được tiên tri Natan, trước khi đối mặt đối mặt với David, vị vua tội lỗi, là vị tiên tri đã làm thức tỉnh dậy lương tâm của nhà vua. Bởi đó vị tiên tri có lời khuyên đối với cả chúng ta,đừng phán đoán, đừng lên án. Chúng ta chỉ có phận sự giúp cho người đối thoại biết lắng nghe tiếng nói lương tâm của chính mình : đây là một cuộc tỉnh tâm thiêng liêng cần đưọc đưa ra, giới thiệu cho người nghe được biết và cùng chung với anh trong thinh lặng biết lắng nghe Lời Chúa trong tinh thần tôn giáo. Bất cứ một phán đoán nào đến từ bên ngoài, đến từ ngoại nhân, nhứt là với tư cách là một lời phán đoán của kẻ có quyền lực trổi thượng, đều phải bị từ chối, nhứt là những lời phán đoán đó được thốt lên với thái độ thinh lặng bất bình, hay với cử chỉ hăm doạ, tấn công. Trái lại phán đoán từ nội tâm, của lương tâm cá nhân, đều được công nhận và chấp thuận, ít nhứt là trong một khoản thời gian ngắn nào đó, ngay cả của người bị coi là tồi tệ hơn cả loại người. Con người phải chấp nhận uy quyền của chính lương tâm mình; cả những người phản động, phi chính phủ, thù địch đối với bất cứ lề luật nào và quyền lực nào cũng vậy. Con người, mỗi con người, đều biết cúi đầu tuân phục lời phán đoán nầycủa lương tâm là thi hành một động tác của phẩm giá và trong lúc mình biết lắng nghe lại tiếng nói của lương tâm là lắng nghe tiếng Chúa. Lương tâm là nơi mà chính Chúa Giêsu huấn dạy cả những người chưa được biết Người. Chúng ta có thể gnhĩ đến lương tâm bị làm lu mờ đi, bại liệt đi. Đó là trường hợp nguy hiểm mà Chúa Giêsu đã nghiêm nghị nói lên và nói một cách đáng lo ngại: - " Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào ! " ( Mt 6, 23). - " Chẳng có ai đốt đền lên, rồi đặt vào chỗ khuất hoặc dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng " (Như Lc 11, 33). Dù sao đi nữa thì lương tâm luân lý vẫn còn: mặc cho có bị đau yếu đi nữa. Lương tâm nầy, khi là lương tâm cá nhân đích thực, không bao giờ trái ngược lại với đức tin . Bởi đó hành động theo lương tâm và hành động theo đức tin,hay hành động ngay chính, cũng là một cách hành xử như nhau, đối với người Kitô hữu. Lời và tiếng nói của lương tâm trong con người chúng ta không thể nói lên cùng một tiếng nói. Như vậy lương tâm luân lý không bị đức tin xoá bỏ đi: đúng hơn, lương tâm luân lý nơi con người chúng ta được chiếu sáng và biến thành ánh sáng để hướng dẫn chúng ta. Như vậy, chỉ có khi nào con người được giáo huấn lương tâm lại, con người mới sống cho ra người. Một lương tâm bị bệnh hoạn cần gặp được một lương tâm lành mạnh, ngay chính, được soi sáng, xác tính và sống năng động chữa trị cho: lương tâm được chữa trị và nâng lên cao độ bằng đức tin, qua cuộc đối thoại, được thể hiện bằng lời Chúa. Thật là một mẫu gương tuyệt vời, và nếu chúng ta nhớ lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người thiếu phụ Samaritana ( Jn 6, 6-42), với những giai đoạn mà qua đó Chúa Giêsu đã hướng dẫn cho người thiếu phụ tự do biết nhận ra những lỗi lầm của mình, trở nên phấn khởi vì biết mình còn phẩm giá có thể đạt lại được và được trả lại cho. b)Tự do. Tự đo là giá trị thứ hai tuyệt đối cần thiết đòi hỏi cho phẩm giá con người. Chỉ trong tự do, con người mới có thể thực hiện điều tốt đẹp. Và đây là một vấn đề phức tạp và khó khăn. Làm thế nào một " tù nhân " có thể đồng thời cũng là con người tự do? Trên lý thuyết chúng ta có thể nói rằng người bị cầm giữ nên biết rằng tự do nội tâm là tự do cao cả hơn các thứ tự do khác, bởi đó anh ta cần phải cảm thấy được mình tự do ở bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng tự do tinh thần, do bản tính con người và chân lý Phúc Âm đòi buộc, cũng cần có những điều kiện thích hợp. Chắc chắn đó không phải là môi trường nhà tù, như những gì chúng ta biết được hiện nay, là môi trường thuận lợi để người tù nhân có thể chiếm lấy lại được ít nữa là tự do nội tâm. Nhà tù là nơi đàn áp,trả thù báo oán, tàn bạo, có ảnh hưởng to lớn, nhứt là đối với những người yếu đuối, mỏng dòn và không phải là Kitô hữu sâu đậm. Đó là phần lớn các lý do khiến cho con người khó có thể lội nguợc dòng trong các hoàn cảnh như vậy, bởi lẽ địa thế không cho phép có được một sự lựa chọn nội tâm dễ dàng, ý thức và tự do, cho dù có xác tính cá nhân và lương tâm thúc đẩy. Viết đến đây, người viết nhớ lại lời ĐTC Gioan Phaolồ II trong Thông Điệp " Dives in misericordia ": - " ...mặc dầu có nhiều chương trình xã hội vẫn tiếp tục nhắc lại cùng một lý tưởng công chính, nhưng cả kinh nghiệm cuộc sống cho thấy rằng nhiều mãnh lực tiêu cực khác đã vượt thắng lên trên tư tưởng công lý,ví dụ như hận thù, ganh ghét, ngay cả đến bạo lực hung dữ. Trong trường hợp đó, thái độ tiêu diệt kẻ thù, hạn chế tự do anh ta, hay ngay cả áp đặt anh ta phải hoàn toàn tùy thuộc, trở thành lý do nền tảng thái độ phải hành động. Điều đó ngược hẵn lại bản chất của công lý, mà tự bản tính mình, công lý có khuynh hướng thiết lập nên công bình...Việc lạm dụng dư tưởng công lý đó...chứng tỏ cho thấy động tác của con người có thể tách xa khỏi công lý biết bao nhiêu " ( n.12). Điều đó cho thấy biết bao nhiêu lần nhân danh công lý, chúng ta có thể tách xa rời khỏi công lý: " summus jus, summa injuria" ( thượng đẳng công lý, có thể gây nên thượng đẳng bất công). Câu nói vừa kể không phải là nói lên để hạ thấp giá công lý, ĐTC nói tiếp, nhưng công lý cần phải múc lấy sức lực của mình nơi tinh thần, còn có sức mạnh hơn cả công lý, bởi lẽ tinh thần ảnh hưởng đến chính trật tự công lý " ( id.). c) Tình yêu Kitô giáo. Tất cả những gì được đề cập đến đây đều được tình yêu thương nối kết và đặt chung nhau. Và hiểu như vậy, người tín hữu Chúa Kitô là đường dây liên kết hướng dẫn và là dấu chứng hữu hiệu của tình yêu Chúa Kitô và của Giáo Hội đối với mọi người. Tình yêu đó ôm ấp người bị giam giữ, gia đình của họ, các người thân của con người tù nhân, đang cảm thấy bị trừng trị đối với tình thương yêu người thân bị giam giữ của mình. Và điều đó khiến cho chúng ta hiểu được sự đau đớn, khỗ tâm của họ. Chẳng có ai vui xướng gì khi người thân của mình bị giam giữ, cầm tù. Nếu có mấy đứa trẻ bảy, tám tuổi phát hoạ ra hình ảnh người cha đang ở trên thiên đàng, thì cũng có nhiều câu trẻ từ chối không đến trường, để khỏi bị bạn bè dán cho mình nhãn hiệu là con cái của tù nhân. Tình trạng đau thương đó không phải là không có trong cộng đồng Kitô giáo và nói cho, bởi lẽ chúng ta biết cộng đồng đang cần đến tình thương yêu bất thường của chúng ta. Mỗi người chúng ta đều phải có tình thương yêu nầy đối với các anh em đang bị cầm tù, mặc dầu theo nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng họ vẫn nghĩ đến và hy vọng vào Chúa. Trong tận đáy lòng của họ, họ vẫn có đức tin, và chúng ta người Kitô hữu được kêu gọi hãy biết giáo huấn để làm cho đức tin đó lớn mạnh, bằng cách hành xử của chúng ta, đối với họ, đối với gia đình, người thân đang đau khổ ở bên ngoài, bằng cách bước theo con đường tình thương cứu độ của Chúa Giêsu và của Giáo Hội. Bởi đó các điều khoản Giáo Luật mới đã thu gọn và giảm thiểu tình trạng lên án phạt và dứt phép thông công đối với những ai lầm lỡ ,những sa ngã, bởi lẽ mạc dầu Giáo Hội vẫn cảnh cáo những sai lầm, nhưng không để mất cơ hội để nói lên lòng yêu thương mẫu tử của mình đối với những đứa con lầm lạc. Anh em hãy đem lòng yêu thương của Giáo Hội đến với những người anh em lầm lạc, bị giam dữ, bằng đức bác ái, bằng tình thương, bằng các Phép Bí Tích Giải Tội, Mình Thánh Chúa, mà anh em cử hành cùng chung với họ, vùng với những lời đối thoại và cảm thông huynh đệ. Hỡi các cha tuyên úy, các vị tu sĩ nam, nữ, các Kitô hữu phục vụ tình nguyện, anh em hãy làm sống động tình yêu Giáo Hội Chúa Kitô trong nhà tù. Đó là tình yêu thương tin vào phẩm giá con người, vào ơn cứu rổi. Bởi vì tất cả đều là con Thiên Chúa, đều là anh em của chúng ta.

 

Con người và việc nhận biết phẩm giá của con người là trung tâm tư tưởng xã hội của Giáo Hội, nhưng đó cũng là những suy tư liên quan đến huấn dụ luân lý của Giáo Hội. Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Mục Dụ Gaudium et Spes ( GS), " Giáo Hội giữa trần thế hiện đại " , đã khai thác Hiến Chế thành chính tài liệu Nhân Vị Chủ Nghĩa Kitô giáo. Chương I của phần đầu được đặt dưới tựa đề " Phẩm giá con người " ( GS, 11-22), đã được diễn giải dài và sâu rộng quan niệm về con người và giá trị độc đáo của con người, như những gì Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II xác nhận trong Thông Điệp Centesimus Annus của Ngài. Như ngài cho biết những diễn giải đó trong Hiến Chế - " đã đươn kết và, một cách nào đó, đã hướng dẫn và cả Thông Điệp của Ngài và cả Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ( CA, 11). Phẩm giá con người là nền tảng của cả đời sống xã hội và xác định những nguyên tắc định hướng cho cuộc sống đó. Nhãn quang vừa kể đối với con người là những gì ai trong chúng ta cũng có thể nhận thức được và đồng thời, đó cũng là hoa trái của lý trí được đức tin soi sáng và mạc khải cho, bởi lẽ - " Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thề " ( GS, 22). Lòng kính trọng đôi với con người như trong thực thể duy nhứt của mình và tính cách thiên thánh của con người là giá trị mà ngày nay ai cũng nhìn nhận ( hay ít ra nên biết cũng phải biết nhìn nhận ). Nhưng đối với Giáo Hội điều nhìn nhận đó được đặt trên nhiều lý chứng thần học: - con người được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Người; - Con Thiên Chúa, trong công cuộc nhập thể của Người, đã thực sự trở thành con người và làm vinh danh cho hoàn cảnh con người; - nhân loại ( và mỗi người trong chúng ta) đều được cứu chuộc bằng cuộc khổ nạn, tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô, Đấng mở rộng cửa cho con người con đường " thiên thánh hoá " : ơn gọi của chúng ta gồm có cả chiều hướng trở nên thiên thánh hoá, bởi lẽ chúng ta có được đời sống thông hiệp vào bản thể Thiên Chúa, được Thiên Chúa thương yêu của chúng ta ban cho: - " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu) Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì tất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa , sau khi thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trên trần gian " ( 2 Pt 1, 4). Phẩm giá bất khả xâm phạm của con người Trong nhãn quang đó về con người, trước hết Công Đồng nhấn mạnh rằng con người có phẩm giá bất khả xâm phạm, bởi lẽ mỗi con người đều được Chúa " dựng nên giống hình ảnh Người " ( Gen 1, 27; GS,12). Qua các tư tưởng Thánh Kinh và Tổ Phụ Học về hình ảnh Thiên Chúa, Giáo Hội quyết liệt xác nhận phẩm giá và tính cách thiên thánh nầy của con người, bởi chính sự kiện con người là con người với địa vị như vừa nói. Lời tuyên bố trên chứa đựng nhiều ý nghĩa: - Trước hết lời xác quyết trên cho biết ý nghĩa về con người , chúng ta không thể thấu hiểu được ý nghĩa sâu thẩm của câu nói, nếu chúng ta không đặt con người có liên hệ với Thiên Chúa, nguồn mạch và cùng đích sự sống mình. - Ngoài ra Giáo Hội cũng nhấn mạnh rằng phẩm giá của con người là do biến cố con người được dựng nên, tức là con người có đuợc sự sống nhờ Thiên Chúa ban cho. - Hơn nữa, dù cho con người đang ở trong bất cứ trạng thái nào, Thánh Kinh xác quyết rằng hình ảnh Thiên Chúa trong con người không thể xoá tẩy đi được. Trong viễn ảnh nhân loại học nầy, quan niệm " hình ảnh Thiên Chúa " cho biết rằng dòng giống con người, tất cả mọi người, đều có cùng một hoàn cảnh, địa vị như nhau và nhờ đó có thể đưa đến một kết luận nền tảng về con người, về phẩm giá nhân loại của con người, vượt hẵn lên trên lằn mức quan niệm thể chế xã hội theo thủ tục thói quen thông thường. Những gì theo Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội huấn dạy chúng ta, đó là quan niệm khi Giáo Hội xác định bênh vực và thăng tiến các quyền của con người " phổ quát và bất khả xâm phạm ": - " Sự lệ thuộc nhau mỗi ngày một chặt chẽ hơn và dần dần lan rộng trên toàn thế giới, vì thế công ích, tức là toàn bộ điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng - ngày nay mỗi lúc một nới rộng tầm phổ quát hơn và do đó bao hàm những quyền lợi và những nghĩa vụ của toàn thể nhân loại. Bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác, hơn nữa, phải tôn trọng công ích của toàn thể nhân loại. Nhưng đồng thời con người càng ngày càng ý thức hơn về phẩm giá cao trọng của nhân vị, bởi vì con người vượt trên mọi loài thọ tạo và vì những quyền và bổn phận của con người là những gì phổ quát và bất khả xâm phạm. Vậy cần phải cho con người được tất cả những gì thiết yếu, mà con người phải có để thực sự sống đời sống con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền bảo toàn danh thơm tiếng tốt, quyền được kính trọng, quyền được thông tin xứng hợp, quyền hành động theo quy tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng cả trong phạm vi tôn giáo nữa " ( GS, 26). Nhãn quang vừa kể cũng hàm chứa phẩm giá con người không hoàn toàn tùy thuộc vào các thành công hay khả năng của cá nhân con người, mà do tình yêu thương của Thiên Chúa được thể hiện nơi con người. Những hậu quả luân lý liên hệ đến xác quyết vừa kể là những điều tối :quan trọng đối với những gì bảo vệ đang tranh cải hiện nay. Từ những xác quyết đó, chúng ta có thể tìm ra được những luận đề chống lại việc phá thai, cách chết nhẹ nhàng nhờ những người tim thuốc ( euthanasie) họặc do việc pha trộn tinh trùng bất tự nhiên ( clonazione ) trong việc bảo đảm chữa trị cho trẻ em bị khuyết tật: - " Nhất là thời nay, chúng ta có bổn phận khẩn thiết phải trở nên người lân cận của bất cứ người nào và tích cực giúp đỡ khi họ đến với chúng ta, hoặc đó có thể là một người già lão bị mọi người bỏ rơi, hoặc một công nhân ngoại quốc bị khinh khi một cách bất công, hoặc một người lưu vong, hay một đứa bé sinh ra do cuộc tình duyên bất hợp pháp, chịu đau khổ bất công vì tội lỗi không phải do mình phạm, hoặc một người đói ăn đang kêu gọi lương tâm của chúng ta, làm vang lại lời của Chúa: Bao nhiêu lần các ngươi làm những điều đó cho một trong những người hèn mọn là anh em Ta đây, là các ngươi làm cho chinh Ta vậy " ( Mt 25, 40). Trong tư tưởng sy tư về các vấn đề công lý trong kinh tế và xã hội, nhãn quang trên của Giáo Hội cũng khước từ mọi phân chia giai cấp thứ bậc tùy theo nguồn gốc hay khả năng cá nhân. Và Giáo Hội luôn đứng về phía quan niệm kính trọng mỗi người, mặc cho kết quả mà con người đó có khả năng đạt đến ( những người bị khuyết tật, thiếu năng lực vốn liếng, vô gia cư ...: - " Càng ngày càng phải nhận thức sự bình đẳng giữa mọi người hơn, bởi vì mọi người đều có tâm linh và được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên có cùng một bản tính và cùng một nguồn gốc, hơn nữa vì được Chúa Kitô cứu chuộc, nên họ đều được mời gọi như nhau và cùng hưởng chung một cùng đích nơi Thiên Chúa. Dĩ nhiên mọi người không bằng nhau, vì không có khả năng thể chất như nhau và những năng lực trí tuệ, tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên trên và vượt bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc trong phạm vi xã hội, hoặc trong phạm vi văn hóa, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu da, đị vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, bởi lẽ hành động như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa " ( GS, 29). Hơn nữa, các tư tuởng nhân chủng học có liên hệ với đức tin còn trải rộng ra hơn nữa tư tưởng bình đẳng, nền tảng giữa tất cả mọi con người. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, là nền tảng thiết định nên tình trạng bình đẳng giữa các con người với nhau. Một cách nào đó, mọi con người đều được Chúa Kitô liên hệ đến, là Đấng đã chia sẻ hoàn cảnh của họ ngay cả cho đến đến lúc Người chết đi: - " Thật vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thục sự được sáng tỏ trong Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Bởi vì Adam, con người đầu tiên đã là hình bóng của Adam sẽ đến, là Chúa, trong khi mạc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người về mình và tỏ cho họ biết thiên chức cao cả của họ...Là Chiên vô tội, Người tự ý đổ máu ra, để cho chúng ta được sống, và chinh trong Người, Thiên Chúa đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa và hòa giải giữa chúng ta với nhau, cũng như đem chúng ta ra khỏi ách nô lệ của tội lỗi, bởi đó mỗi người chúng ta có thể nói như Thánh Tông Đồ rằng: " Con Thiên Chúa đã yêu thương tôi, lại hiến thân cho tôi nữa " (GS, 22). Tư tưởng vừa kể nói lên một chương trình tổng quát, ngược lại với quan niệm về nhân chủng học tự nhiên hay tâm lý học của con người có khuynh hướng đặt lên những trạng thái bất bình đẳng tùy theo tập tục, thói quen hay sự phát triển của xã hội mà mình đang đề cập. Nơi Chúa Kitô mọi người đều bình đẳng như nhau, có chính cùng một phẩm giá như nhau, dầu cho hoàn cảnh của họ thế nào đi nữa. Con người liên hệ với hoàn cảnh mình đang sống. Một loạt các tư tưởng nhân chủng học được Công Đồng làm nổi bậc lên, đó là hoàn cảnh sống của thân thể nam nữ. Con người hội nhập vào hoàn cảnh sống của trần thế: - " Sự hiệp nhứt giữa linh hồn và thể xác, con người tổng hợp nơi mình điều kiện sống của thể xác bằng những yếu tố vật chất . Và nhờ đó các yếu tố vật chất được nâng cao lên địa vị thượng đỉnh của mình và cất mình lên được để ngợi khen Thiên Chúa , Đấng Tạo Dựng nên mình ( Dan 3, 57-90). Điều đó cho thấy không ai có quyền khinh thị đời sống thể xác của con người: - " Con người duy nhứt với xác và hốn. Xét về thể xác, con người là một tổng hợp những yếu tố thuộc thế giới vật chất. Vì thế, nhờ con người, những yếu tố ấy đạt tới tuyệt đỉnh của chúng và tự do dâng lời ca tụng Đấng Tạo Hoá, Vậy con người không được khinh miệt đời sống thể xác. Trái lại, con người phải coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng vì thân xác ấy do Chúa tạo dựng và phải được sống lại ngày sau hết..." ( GS, 14). Ngoài ra có được một thân xác, điều đó có nghĩa là chúng ta phải chú tâm lưu ý về các giới hạn và các khả năng sinh vật học của thân xác chúng ta. Ví dụ như thuốc phiện, là vật thể không tôn trợng thân xác chúng ta. Chúng ta có bổn phận chăm lo cho sức khoẻ chúng ta, bằng cách tôn trọng đặc tính vẹn toàn của thân thể. Con người là thành phần của thế giới vật chất. Sau cùng, với tư cách là con người có thân xác, chúng ta là thành phần của thể giới vật chất và của môi trường sinh thái học, mà chúng ta luôn luôn có liên hệ. Điều đó đòi buộc chúng ta phải có chú tâm và động tác làm cho môi trường sinh thái là một nơi ai cũng có thể sống được. Bởi đó huấn dụ xã hội của Giáo Hội dạy , cần phải lưu tâm và tiên liệu đến đối với các hậu quả tiêu cực tiêu cực đôi khi có thể xảy ra, có hại cho đời sống và môi trường, bởi vì chúng ta trực tiếp có trách nhiệm vật chất ( CV, 48-51). Con người nhất thiết phải có đời sống tương quan. Yếu tố thứ ba được Công Đồng nêu lên, đó là gồm những gì thuộc lãnh vực tư tưởng nhân chủng học, có liên hệ đến các chiều hướng liên quan đến cuộc sống con người. Thật vậy, nếu con người " được dựng nên giống hình ảnh và ở lại trong tình yêu ảnh Thiên Chúa " ( Gen 1, 27), thì Thiên Chúa là một Thiên Chúa gồm có Ba Ngôi. Đấng Thiên Chúa đó " là tình yêu ": - " Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu ...Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu : ai ở lại trong tình yêu, thì ở lại trong Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy " ( 1 Jn 4, 8.16). Thiên Chúa ban tặng tất cả chính Người, chiếu toả một ánh sáng trên ý nghĩa con người là con người, và chính con người gặp được đặc tính hoàn hảo con người của mình trong tình yêu và trong trao đổi, ban cho và đón nhận tình yêu. Điều đó làm cho con người trở nên giống sự thông hợp giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự thông hiệp yêu thương giữa con người với con người, cho thấy rằng trên mặt đất nầy, là tạo vật duy nhứt mà Thiên Chúa tạo dựng nên cho chính mình, và chỉ có thể tìm được trạng thái trọn hảo của mình, chỉ có khi nào con người biết ban tặng chính mình cho anh em đồng loại của mình: thái độ phải có nầy tương đồng với sự kết hợp giữa Chúa Ba Ngôi: - " ...hơn nữa, khi cầu nguyện với Chúa Cha: xin cho mọi người nên một...như chúng ta là một " ( Jn 17, 21-22) Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng, mà lý trí con người không thể tự đạt tới được. Như vậy Chua Giêsu đã nói lên một tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của các cái Chúa trong chân lý và đức ái. Sự tương tự nầy cho thấy con người, tạo vật duy nhứt ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân " ( GS, 24). Công đồng Vatican II khai triển hậu quả nhân chủng học vừa kể qua quan niệm xã hội và cộng đồng nhân loại của con người: nếu con người có phẩm giá thiên thánh, con người cũng có bản tính xã hội. Và như vậy phẩm giá của mình sẽ không thể thành đạt được vào bảo đảm được, nếu con người không sống trong lòng cộng đồng xã hội con người trao đổi cho nhau và yêu thương nhau. Đức Thánh Cha Benedictus XVI nhắc lại tư tưởng đó trong Thông Điệp Caritas in Veritate của ngài: - " Tạo vật con người, vì có bản tính thiêng liêng, nên thành thân được trong các mối liên hệ giũa người với người " ( CV, 53). - " Đặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sụ thăng tiến của nhân vị và sự phát triển của xã hội lệ thuộc nhau. Thực vậy, nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội, bởi vì tự bản chất nhân vị phải hoàn toàn cần đến đời sống xã hội. Cho nên đời sống xã hội đối với con người, không phải là một cái gì phụ thuộc, vì do đó nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với anh em, con người được thăng tiến mọi khả năng của mình và có thể đáp ứng được thiên chức của mình " ( GS, 25). Trong viễn ảnh vừa kể, các tổ chức đặt nền tảng trên một cá nhân xã hội cho các lãnh vực kinh tế và luật pháp có thể là những gì được thực hiện có ít nhiều thuận lợi cho con người, cho mỗi cá nhân được triển nở nhiều hay ít trong cộng đồng: - " Đặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sự thăng tiến của nhân vị và sự phát triển xã hội lệ thuộc nhau, Thực vậy nhân vị chính là và phải là nguyên thủy, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội, bởi vì tự bản chất, nhân vị phải hoàn toàn cần đến đời sống xã hội " ( GS, 25 ) Bởi đó một nhãn quang chính đáng về nhân vị không thể đặt nền tảng trên một cá nhân riêng rẻ nào đó, cũng không thể giới hạn xác nhận một cá nhân riêng rẻ nào đó, dựa chỉ dựa trên phẩm chất tự tại nào đó của anh ta, mà phải đặt cá nhân đang bàn không " tách rời các liên hệ với người khác trong xã hội, không bao giờ được tách rời một cá nhân ra khỏi người khác ". Huấn dụ của Giáo Hội rút ra từ đó tất nhiều điều liên hệ: nhứt là qua động hiện tại là phát triển nhằm thăng tiến hay hăm doạ đời sống con người, mà chúng ta đang cùng chung sống trong xã hội. - Ngoài ra Giáo hội còn khuyến khích nên có nhãn quang về xã hội dưới tính cách tập thể, với đặc tính chú ý không thể thiếu đối với những quốc gia nghèo khổ. đòi buộc Về vấn đề liên đới nền tảng nầy giữa con người với nhau, Giáo Hội khẳng quyết rằng " mọi người đều có quyền tham dự vào đời sống kinh tế ( Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, CDSC, 333) . Đây là đòi buộc căn bản tuyệt đối mà mọi người đều phải có quyền được bảo đảm có được, nhứt là qua quyền làm việc, bởi lẽ đó cũng là quyền con người tham dự vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa: - " Hoạt động trong các xí nghiệp kinh tế là việc hợp tác giữa các nhân vị, đó là những con người tự do và tự lập được tạo dụng giống hình ảnh Thiên Chúa... " ( GS, 67); ( Laborem excercens, LE, 4). Nói một cách tổng quát, nguyên tắc nầy về vai trò nhân vị trung tâm điểm của con người trong tổ chức đời sống xã hội là căn cội của nguyên tắc đới và phụ túc bảo trợ, là hai cột trụ nền tảng của Huấn Dụ Xã Hội. - Với tính cách bắt buộc của nguyên tắc liên đới, con người phải cộng tác với những người khác, vì công ích cho xã hội. - Với đặc tính của nguyên tắc phụ túc bảo trợ , Quốc Gia cũng như những cơ quan công quyền khác không được thay thế sáng kiến và trách nhiệm của các cá nhân và công đồng trung gian ở những gì mà tầm mức của họ có thể thi hành được. Theo nguyên tắc nầy, Quốc Gia và xã hội phải trợ giúp các thành phần chi nhánh, để chính họ đứng ta thực hiện, nhứt là thưc hiện đáp ứng kịp thời và thoả đáng các nhu cầu địa phương đòi hỏi. Sau cùng lòng kính trọng phẩm giá con người thúc đẩy chúng ta hãy đặc tâm chú ý đến những thành phần xã hội nghèo khỗ. Thật vậy luôn luôn Giáo Hội xác nhận rằng mức công bình xã hội được đo lường bằng phương thức tối thiểu mà xã hội dành cho những người nghèo khó. Điều đó cũng là những gì Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã nhắc lại, khi Ngài xác nhận rằng các người môn đệ Chúa Kitô được kêu gọi - " hãy chọn lấy hay dành yêu thương ưu tiên hơn cho những người nghèo khó " ( Sollecitudo Rei Socialis, SRS, 42), và hãy biết đánh giá các cách sống, thể chế chính trị và các cơ chế quản trị quốc gia, để có thái độ thích ứng chính đáng của môn đệ Chúa Kitô đối với tình thế, - đối xử thế nào với người nghèo khỗ, - có biết đặt nhân vị là nguyên cội, chủ thể và cùng đích của quốc gia hay không. - " Ơn gọi Kitô giáo nhằm thăng tiến trợ giúp cho con người tiếp đạt được con đường phát triển tất cả mọi người và phát triển toàn vẹn con người " ( CV, 18) .

 

" Thánh Công Đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc tông đồ của Dân Thiên Chúa, nên chú tâm hướng về các Kitô hữu giáo dân, những người có phần cá biệt và cần thiết trong sứ mệnh của Giáo Hội, như đã được nhắc đến trong những văn kiện khác" ( A A, Lời Mở Đầu). Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem ( A A ) được khởi đầu bằng những lời văn chúng ta vừa trích dẫn, để diễn tả rõ hơn sự tham dự của các tín hữu giáo dân vào Hiến Chế cấu trúc nội bộ ( Lumen Gentium ) cũng như Hiến Chế hoạt động đối ngoại, rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội ( Gaudium et Spes). Thánh Công Đồng nhận biết rằng Giáo Hội có liên hệ với các thành phần khác nhau của cộng đồng tín hữu giáo dân, được Hiến Chế Lumen Gentium định nghĩa là thành phần của " Cộng Đồng Dân Chúa ". Nhưng với sắc lệnh đang bàn, các nghị phụ Công Đồng trả lại cho các tín hữu giáo dân sứ mạng nguyên thủy của họ là loan báo Chúa Kitô Phục Sinh. Đã từ nhiều năm qua Giáo Hội nhận biết lòng hăng say hy sinh nầy của người tín hữu giáo dân , nhưng nhận biết cá tính đặc biệt của họ là ủy thác cho họ phận vụ có nền tảng của họ trong phận vụ mới rao giảng Phúc Âm trong một xã hội thay đổi mới thời đại chúng ta. Đó là phận vụ mà Giáo Hội không thể làm lơ được. Chương I Ơn gọi tông đồ của người tín hữu giáo dân. - " Người tín hữu giáo dân thực sự thi hành việc tông đồ bằng công việc của mình để rao giảng Phúc Âm và thánh hoá nhân loại, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn hảo hóa những sự việc trần thế, thế nào cho công việc của họ thuộc lãnh vực nầy nhân chứng tỏ tường về Chúa Kitô và góp phần vào việc cứu độ nhân loại ". Tất cả đều có người tín hữu giáo dân phải là những chi thể sống động của một thân thể duy nhứt, được kêu gọi làm cho thân thể đó tuần hành nhịp nhàng và sống động. Nền tảng ơn gọi tông đồ của người tín hữu giáo dân là vì người giáo dân thuộc về Giáo Hội, hoa trái của việc kết hợp với Chúa Kitô là đầu, nhờ Phép Rửa. Hoa trái đó triển nở hơn nữa khi họ đón nhận được Chúa Thánh Thần trong Phép Thêm Sức. Người tín hữu giáo dân có " quyền " và " bổn phận " phải hành xử việc tông đồ, mà chính Chúa dành cho họ và cũng do thực thể hội nhập vào Chúa Kitô là đầu. Nhưng vai trò cá biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội đòi buộc họ phải có một đời sống thiêng liêng sâu đậm. Đó là một cuộc sống thiêng liêng, được sống trong đời sống hằng ngày, một đời sống thiêng liêng " đơn sơ ", nhưng có liên hệ với mọi phương diện của cuộc sống trần gian, mỗi người một cách cá biệt, khác nhau, tùy theo hoàn cảnh sống của mình, hôn nhân và gia đình, độc thân hay góa bụa, bệnh tật, hoàn cảnh chức nghiệp và xã hội khác nhau. Bởi đó người tín hữu giáo dân luôn luôn được mời gọi hãy dung trồng các đức tính và tài năng nhân tính của mình thích hợp với các hoàn cảnh và trạng thái mà mình phải phục vụ, qua các ân sủng đã nhận được. Mẫu gương hoàn hảo mà mình nên bắt chước, đó là gương mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ Maria , Nữ Vương các Tông Đồ, biểu tượng tuyệt vời cho gương phối hợp giữa đời sống thánh thiện và sứ mạng tông đồ. Chương II - Mục đích tông đồ của người tín hữu giáo dân. - " Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại, nhưng cũng bao hàm việc canh tân cả trật tự trần thế. Do đó sứ mệnh của Giáo Hội không những là đem Phúc Âm của Chúa Kitô và ân sủng của Người cho nhân loại, mà còn đem cả tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế " ( A A 2, 5 ). Động tác tông đồ có hai phương diện: linh thiêng và thực thể trần thế. Thật vậy, mục đích của động tác tông đồ là lan truyền phổ biến Vương Quốc Chúa Kitô ra khắp mặt đất, qua việc lời rao giảng Phúc Âm và thánh hoá con người, bằng cách khuyến khích can đảm và hoàn hảo hóa trật tự trần thế. Bởi đó, nhân chứng và đời sống gương mẫu của người tín hữu giáo dân là những gì thiết yếu cho mục đích. Người tín hữu giáo dân được kêu gọi hiểu biết và và phổ biến các giá trị Kitô giáo trong xã hội, mặc cho phải luôn luôn đối đầu với các khó khăn và tấn công không ngừng đối với các nguyên lý đức tin Kitô giáo. Như vậy, người tín hữu giáo dân là những nhân chứng của Chúa Kitô giữa thế trần, nhân chứng cho tình yêu thương của Chúa Kitô đối với cả nhân loại. Thật vậy, bác ái là động tác đích thực của các tông đồ giữa trần thế: - " Từ đó, mọi người ta sẽ Nguời biết anh em là môn đệ của Thầy, đó là anh em có lòng yêu thương nhau " ( Jn 13, 35 ). Người tín hữu giáo dân, hiện là môn đệ của Kitô, phải thể hiện động tác bác ái của mình trong khi vẫn trọng kính tự do và phẩm giá của con người mà mình đang trợ giúp cho. Nói một cách ngắn gọn, mục đích việc tông đồ của người tín hữu giáo dân là phải thể hiện, nói lên sứ mạng phục vụ con người trong sự thật , bác ái và công chính, như Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã nhấn mạnh trong bài thuyết giảng của ngài, nhân dịp giáp 20 năm Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem được công bố. Chương III - Các lãnh vực tông đồ khác nhau. - " Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại, nhưng cũng bao hàm việc canh tân tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ mệnh của Giáo Hội không những là đem Phúc Âm của Chúa Kitô và ân sủng của Người cho nhân loại, mà còn đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế " ( A A 3, 5 ). Người tín hữu giáo dân thực hiện việc tông đồ đa diện của mình trong Giáo Hội, cũng như giữa trần thế. Trên hai phạm vi vừa kể, nhiều lãnh vực tông đồ được mở ra. Các lãnh vực đó là các cộng đồng Giáo Hội, gia đình, giới trẻ, hoàn cảnh xã hội, tổ chức quốc gia và trật tự quốc tế. Động tác của người tín hữu giáo dân, trong đó việc tham dự của nữ giới càng lúc càng chiếm phần quan trọng hơn, là những gì cần thiết cho cộng đồng Giáo Hội và không thể thiếu được, bởi lẽ đó cũng chính là động tác của các vị chủ chăn. Người tín hữu giáo dân phải cộng tác trong nội bộ cộng đồng Giáo Hội và cộng tác với các linh mục. Tín hữu giáo dân là chiếc cầu nối liền cộng đồng Giáo Hội và lãnh vực xã hội có liên can đến mình, để loại bỏ đi khoản cách giữa Giáo Hội và những ai còn đang ở xa hoặc đứng ra bên ngoài. Việc tham dự vào đời sống phụng vụ của cộng đồng, nhờ đó Người tín hữu giáo dân chia xẻ các Phép Bí Tích, làm cho các động tác tông đồ trở nên sống động hơn và thiết thực hơn. Việc thông hiệp, nhân chứng, đào tạo để truyền bá Phúc Âm, cùng với các động tác của các nhà truyền giáo, cần phải có mục đích là để lan rộng hơn, vượt khỏi biên giới của dịa phương, các họ đạo. Người tín hữu giáo dân là những tông đồ trong xã hội, tông đồ cho một xã hội mà nhân cội thiết yếu là gia đình, hoa trái của " hôn nhân ". Gia đình được thành lập qua việc thánh thiện hoá tình yêu hôn nhân, được coi như là sự hiệp nhứt giữa Chúa Kitô và Giáo Hội Người. Đôi vợ chồng phải thăng tiến chính đáng sứ mệnh mà mình được Chúa giao cho và gánh lấy các động tác, suy tư và quyết định có liên hệ đến sứ mệnh đó bằng lời cầu nguyện dâng lên Chúa. Sắc Lệnh loan báo nhiều động tác tông đồ của gia đình: đó là nuôi nấng trẻ em bị bỏ rơi, tham gia vào đời sống học đường, nâng đỡ những gia đình gặp phải khó khăn, những cá nhân trong cơn hoạn nạn, những người già nua, giúp đỡ các đôi lứa đang chuẩn bị hôn nhân: - " Gia đình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa sứ mệnh trở nên tế bào đầu tiên và sống động của xã hội. Gia đình sẽ chu toàn được sứ mệnh đó, nếu gia đình tỏ ra như một đền thờ của Giáo Hội trong nhà mình, nhờ yêu thương nhau và cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa , nếu toàn thể gia đình cùng nhau tham dự vào việc phụng vụ của Giáo Hội, sau cùng, nếu gia đình tỏ ra hiếu khách, cũng như cổ võ đức công bằng, cũng như những việc khác, giúp các anh em đang túng thiếu. Trong việc tông đồ của gia đình, cần phải kể đến những việc như nhận làm con những đứa trẻ bị bỏ rơi, ân cần tiếp đón những khách lạ, cộng tác với học đường, khuyên bảo và giúp đỡ thanh thiếu niên . giúp những người đã đính hôn cho việc hôn nhân của họ được tốt đẹp, giúp dạy giáo lý, nâng đỡ những đôi vợ chồng cũng như những người gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần, mà còn cung cấp cho họ những tiện nghi chính đáng của tiến bộ kinhời gọi hãy cộng ta tế " ( A A III, 11). Đôi vợ chồng công giáo còn có bổn phận bênh vực các quyền của gia làm chính quyền lưu tâm đến các nhu cầu thiết thực của gia đình, là những nhu cầu thay đổi theo thời gian. Như vậy, cũng như các mối liên hệ gia đình thay đổi, nhứt là đối với giới trẻ. Trọng luợng của giới trẻ trong xã hội càng lúc càng tăng trưởng thêm đáng kể, bởi đó cần phải có một động tác tông đồ chính đáng. Nhưng chính các cô cậu trẻ phải là những tông đồ tiên khởi và trực tiếp đối với giới trẻ, cũng vậy, chính vì các cô chú trẻ là những nhân chứng đích thực của Chúa Kitô đang sống giữa họ. Những bậc trưởng thành phải là mẫu gương tông đồ, cung cấp các trợ lục và kích thích , nâng đỡ để cho giới trẻ đang lớn lên hướng về tương lai, nhưng vẫn phải luôn luôn ý thức và kính trọng các truyền thống tốt đẹp. Như vậy, người tín hữu giáo dân có phận vụ tông đồ đối với hoàn cảnh xã hội của mình, phận vụ mà chỉ có họ mới có khả năng tiếp tục thăng tiến, trong lãnh vực làm việc, trong các mối tương giao gia đình. Trong cuộc sông hằng ngày, những lúc thông thường, cũng như trong những hoàn cảnh phức tạp, đối với các việc quết định bé nhỏ cũng như lớn lao, phận vụ tông đồ của người tín hữu giáo dân gồm trong việc thấm nhuần tinh thần Kitô giáo vào tâm thức, lề luật của cộng đồng xã hội, trước tiên bằng chính cuộc sống chính đáng của mình với đức tin, qua những công việc có thể bao gồm cả các hoàn cảnh và địa thế khác nhau trong lãnh vực quốc nội và quốc tế, cùng với việc hằng bền tâm loan báo Phúc Âm: - " Ở mọi nơi và mọi lúc, nhứt là trong những miền mà hạt giống Phúc Âm vừa được gieo vãi, hoặc trong những nơi Giáo Hội mới được thành lập hay trong những nơi Giáo Hội đang gặp phải những trở ngại lớn lao, những gia đình Kitô giáo vẫn là chứng nhân qúy giá nhứt của Chúa Kitô đối với thế gian, với tất cả đời sống gắn liền với Phúc Âm và tỏ ra là gia đình Kitô giáo gương mẫu " ( A A III, 11). Chương IV. - Các phương cách hành xử tông đồ như các cá nhân. Động tác tông đồ, người tín hữu giáo dân có thể hành xử với tư cách cá nhân hay theo phương thức cộng đồng hoặc hiệp hội. Trên thế giới có những nơi và hoàn cảnh cá biệt, trong đó việc tông đồ cá nhân giữ một vai trò tối quan trọng để chứng nhân và truyền bá sứ điệp Phúc Âm. Bằng động tác và lời nói, được Chúa Kitô soi sáng, dạy bảo cho và đặc dành cho Chúa Kitô, người tín hữu giáo dân quen thân với những người có đức tin, để tăng cường thêm đức tin cho họ nhứt là bằng tinh thần bác ái trọng đại: - " Hình thức đặc biệt cũa hoạt động tông đồ cá nhân là giúp giáo dân nhân chứng bằng đời sống, phát xuất từ đức tin , lòng trông cậy và đức bác ái. Đó là dấu chỉ thich hợp trong thời đại chúng ta và biểu lộ Chúa Kitô sống động trong các tín hữu của Người. Cùng với việc tông đồ bằng lời nói, mà trong một số hoàn cảnh lại rất cần thiết việc người giáo dân rao giảng Chúa Kitô, cắt nghĩa và phổ biến giáo lý của Người tùy theo hoàn cảnh và tài năng của mỗi người, đồng thời họ cũng trung thành tuyên xưng giáo lý của Người nữa " ( A A IV, 16). Việc hoạt động tông đồ tập thể hay được tổ chức thành hiệp hội có tầm quan trọng can bản , bởi vì đáp ứng lại được các nhu cầu của con người và của các tín hữu Kitô giáo sống trong xã hội. Đó là những gì nói lên cách sống thông hiệp và đoàn kết của Giáo Hội trong Chúa Kitô. Các hiệp hội tông đồ có mục đích và hình thức khác nhau, nhưng tất cả đều phải hợp nhau để hoàn thành sứ mệnh Giáo Hội giũa trần thế. Các hiệp hội hoạt động giữa trần thế với mục đích nầy là hoạt động đồng nhịp hoà hợp với Hàng Giáo Phẩm trong Giáo Hội, Đạo Binh Đức Mẹ, Phong Trào Giáo Dân, Công Đoàn Công Giáo...chẳng hạn, cũng như những hiệp hội khác đang có những động tác tông đồ thật qúy giá. Thật vậy, họ đang cộng tác rao giảng Phúc Âm, thánh hoá con người , giáo dục lương tâm Kitô giáo, để thấm nhuần tinh thần Kitô giáo các cộng đồng và môi trường khác nhau , mà họ có dịp tiếp xúc. Sau cùng một lòng biết ơn cá biệt được dành cho tất cả các tín hữu giáo dân, độc thân hay có gia đình, luôn luôn hoặc đôi khi cộng tác với các hiệp hội khác bằng khả năng chuyên môn của mình. Chương V. - Hệ thống thứ tự phải tuân giữ trong động tác tông đồ. Trong bất cứ trường hợp nào, động tác tông đồ của người tín hữu giáo dân phải được hội nhập vào động tác tông đồ của cả Giáo Hội, theo hình thức cộng tác được Hàng Giáo Phẩm thiết định, để bảo đảm cho việc sắp xếp phối hợp, nhưng vẫn luôn luôn tôn trọng đặc tính của mỗi lãnh vực:, - " Vì muốn cổ võ tinh thần hiệp nhứt, để bác ái huynh đệ nổi bậc lên trong mọi hoạt động tông đồ của Giáo Hội, để đạt được những mục đích chung, cũng như để tránh những cạnh tranh nguy hại, cần phải có sự tôn trọng lẫn nhau và sự phôi hợp thích đáng giữa các tổ chức tông đồ trong Giáo Hội, miễn là đặc tính riêng của mỗi tổ chức vẫn được duy trì " ( A A V, 23). Phận vụ của Hàng Giáo Phẩm là kích thích việc tông đồ của các tín hữu giáo dân, cung cấp cho họ những nguyên tắc và trợ lực tinh thần, định chế hoạt động tông đồ vì lợi ích chung của Giáo Hội. Dành mọi dễ dàng cho việc cộng tác, trong các giáo phận các đóng góp ý kiến cho việc tông đồ của Giáo Hội, bên cạnh Toà Thánh cần có một ủy ban cố vấn đặc biệt nhằm thúc đẩy tông đồ giáo dân, như là trung tâm cung cấp cho tin tức về các động tác và sáng kiến, trợ lực cho Hàng Giáo Phẩm cũng như giáo dân, ví dụ như Thánh Bộ Giáo Dân chẳng hạn. Giữa những mục đích đang nhằm cũng gồm có sự hợp tác giữa các tín hữu công giáo và các Kitô hữu khác, cũng như với những người ngoài Kitô giáo, nhưng cùng cộng tác với nhau cho gia tài Phúc Âm chung và các giá trị chung của con người. - " Vì cùng chung gia sản Phúc Âm và do đó cùng chung một bổn phận làm chứng cho Chúa Kitô, người công giáo nên và thường phải cộng tác với các Kitô hữu khác, hoặc cá nhân với cá nhân, hoặc giữa các cộng đồng Giáo Hội trong các hoạt động, cũng như trong các hội đoàn trên bình diện quốc gia hay quốc tế. Vì cùng chung những giá trị nhân bản, nên người Kitô hữu đang theo dõi mục đích tông đồ cũng thường phải cộng tác với những người tuy không theo Kitô giáo, nhưng cũng nhìn nhận những giá trị nhân bản đó " ( A A V, id:). Chương VI. - Huấn luyện để làm tông đồ. Muốn cho công việc tông đồ được thực hiện một cách hữu hiệu, người tín hữu Chúa Kitô cần phải có được một nền huấn luyện tương xứng. Các nền tảng và các nguyên tắc của công cuộc huấn luyện đó là những gì đã được Công Đồng Vatican II cung cấp cho. Giả sử cuộc huấn luyện đó là huấn luyện về nhân bản: người tín hữu giáo dân phải được đặt hội nhập vào môi trường con người và xã hội trong đó mình phải hoạt động. Nền tảng của việc huấn luyện là huấn luyện về mặt thiêng liêng. Người tín hữu giáo dân phải được dạy bảo cho biết chu toàn động tác của mình trong đức tin. Ngoài ra còn cần phải được chuẩn bị cho một nền thần học và luân lý học, nhưng không bao giờ được lơ là với nền văn hoá và kỷ thuật cần được trang bị. Người tín hữu giáo dân cần được trang bị cho một gia sản hiểu biết sâu sắc về những sinh động của xã hội, mà mình được hội nhập vào đó, có được các phương tiện trong tay, định hướng các động tác tông đồ nhằm vào các nguyên tắc căn bản khởi thủy và cuối cùng của đức tin. Nền huấn luyện cho việc tông đồ kéo dài suốt cuộc đời, khởi đầu từ thời còn thơ ấu nhờ cha mẹ, được tiếp tục kế đến trong các cộng đồng Giáo Hội và tạm thời, đôi khi trong các họ đạo và học đường. Các linh mục, giáo lý viên, các thầy cô giảng dạy cung cấp cho, mỗi người tùy theo lãnh vực của mình, một nền huấn luyện tín lý, đạo đức thiêng liêng và các động tác thiêt thực. Một bước tiến thêm nữa, đó là một nền giáo dục phải thoả đáng đáp ứng lại các động tác tông đồ cần phải hành xử. Việc tông đồ truyền bá Phúc Âm và thánh hoá con người cần phải kích thích phát huy việc đối thoại với các tín hữu cũng như với những người không có đức tin, để loan truyền sứ điệp của Chúa Kitô và được khởi đầu bằng nhân chứng qua cuộc sống: - " Những công cuộc bác ái và từ thiện là một bằng chứng hùng hồn về đời sống Kitô giáo, nên việc huấn luyện tông đồ cũng cần phải khuyến khích thực hiện những công cuộc đó, để cho các đồ đệ của Chúa Kitô ngay từ thiếu thời đã biết chia xẻ nỗi đau khổ của người anh em và rộng lòng giúp đỡ những anh em thiếu thốn " ( A A VI, 31). Công Đồng Vatican II nhận biết và rất hài lòng về những gì trợ lực dành cho việc tông đồ giáo dân, nhưng đồng thời cũng kích thích các giáo phận, cũng như họ đạo, nên tạo nên các trung tâm nghiêng cứu và học hỏi cho sắc thái tông đồ đang bàn: - " Thánh Công Đồng cũng vổ võ sự thiết lập những trung tâm thu thập tài liệu nghiêng cứu cho hết mọi hoạt động tông đồ, không những về khoa thần học mà cả về các khoa học khác như nhân chủng học, tâm lý học, xã hội học, phương pháp học, để phát triển tài năng của giáo dân nam cũng như nữ, giới trẻ cũng như giới trưởng thành " ( A A VI, id.). Lời kêu gọi cuối cùng. Tất cả các tín hữu Chúa Kitô đều được kêu gọi hãy cộng tác dưới nhiều hình thức và phương thế khác nhau, cho cùng một công việc tông đồ duy nhứt của Giáo Hội. Giáo Hội đang phải tiếp tục thích ứng hóa mình đối với các nhu cầu mới của thời đại, bằng cách đại lượng hành động trong công việc của Chúa, vì biết rằng việc nhọc công gắng sức của mình không bao giờ là điều vô ích nơi Chúa: - " Như vậy, người giáo dân hãy chứng tỏ mình là cộng tác viên của Chúa, cộng tác vào cùng một công cuộc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Những cộng tác viên phải luôn luôn thích nghi với những đòi hỏi của thời đại và không ngừng ra sức phục vụ Chúa, bởi lẽ biết rằng khó nhọc của mình không phải là uổng phí trong Người " ( A A , 33 ).

 

Hiến Chế Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II, năm 1964, nói về " Cộng Đồng Dân Chúa", Hiến Chế có ý hiểu là Cộng Đồng đó gồm có cả các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân: - " Sau khi xác định nhữnh chức vụ của phẩm trật, Thánh Công Đồng sẵn sàng đề cập đến bậc sống của các Kitô hữu được gọi là giáo dân. Mặc dầu tất cả những gì nói về Dân Chúa đều có liên quan đến giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ, nhưng có một số điều đặc biệt thuộc về giáo dân nam nữ, về địa vị và sứ mệnh của họ, hoàn cảnh đặc biệt thời đại chúng ta đòi hỏi phải tìm hiểu nền tảng của những điều đó một cách thấu đáo hơn " ( LG, 30). I - Giáo dân trong Giáo Hội. Các vị chủ chăn biết - các tín hữu giáo dân cộng tác lợi ích cho Giáo Hội bao nhiêu, - tự mình chủ chăn đơn độc không thể đảm trách nổi cả gánh nặng sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội, - mình phải nhận biết các sứ mạng và ân sủng của giáo dân, như vậy, tất cả đều nên cộng tác với nhau, trong tầm mức khả năng của mình, vì công ích. II - Bản chất và sứ mệnh của giáo dân. " Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất những người tín hữu Chúa Kitô không có chức thánh hoặc tu trì được Giáo Hội công nhận; nghĩa là những người tín hữu Chúa Kitô được hiệp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ Phép Rửa, đã trở thành Dân Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô, theo cách thức của họ. Họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và giữa trần thế theo phận vụ riêng của mình" ( LG, 31). Như vậy - Sứ mạng của hàng giáo phẩm: SỨ MẠNG LIÊN HỆ ĐẾN MẦU NHIỆM CHỨC THÁNH. - Sứ mạng của hàng tu sĩ: NHÂN CHỨNG GIỮA THẾ GIAN TINH THẦN CÁC MỐI PHƯỚC THẬT. Trong khi đó thì sứ mạng của người tín hữu giáo dân là TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA - Trong khi hành xử các sự việc và sự vật trần thế theo thánh ý Chúa, - Đương đầu hằng ngày với các bổn phận và việc làm của mình giữa thế gian, trong gia đình và ngoài xã hội. - Cộng tác từ trong nội tại thế gian, để thánh hoá thế gian, bằng cách hành động theo tinh thần Phúc Âm. - Chứng tỏ Chúa Kitô cho những người khác biết, với nhân chứng bằng đời sống của mình trong tinh thần nồng nhiệt của đức tin, niềm hy vọng và bác ái. - Nhận biết và chăm lo các sự việc trần thế, thế nào để chúng được thực hiện và hằng tăng trưởng lên theo thánh ý Chúa Kitô. - Làm cho các sự việc và sự vật trần thế trở thành những thực thể ngợi khen Đấng Tạo Hoà và Đấng Cứu Thế. III - Địa vị của người tín hữu giáo dân trong Cộng Đồng Dân Chúa. " Giáo Hội do Chúa thiết lập, được tổ chức và điều hành theo nhiều thể thức khác nhau thật lạ lùng. " Vì như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể, mọi chi thể không có cùng một nhiệm vụ; cũng vậy, chúng ta tuy là nhiều người, nhưng là một thân thể trong Chúa Kitô, nên mỗi người chúng ta là chi thể của nhau " ( Rom 12, 4-5 ). Qua những tư tưởng vừa kể của Thư gởi cho các tín hữu Roma, Thánh Phaolồ cho chúng ta biết - địa vị chung đồng đẳng của các phần thân thể Chúa Kitô phục sinh, - đồng đẳng trong ơn sủng, bởi lẽ tất cả là con cái Thiên Chúa, - đồng đẳng được ơn kêu gọi trở nên thánh thiện. Mặc dầu mỗi người có những phận vụ khác nhau, giữa các tín hữu mỗi người đều có địa vị thực sự đồng đẳng như nhau, nhìn theo phẩm giá và động tác để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô. Sự khác biệt được Chúa đặt nên giữa các giáo sĩ thừa tác viên và người tín hữu giáo dân, tự bản chất của mình là đặc tính liên đới hợp nhất với nhau, bởi lẽ các vị chủ chăn và tín hữu được gắn bó liên kết với nhau bởi mối tương giao trong cộng đồng: - theo gương Chúa Giêsu, các vị chủ chăn được nâng lên để phục vụ nhau và cùng nhau phục vụ giáo dân. - về phía người tín hữu giáo dân, các giáo dân cộng tác với các vị chủ chăn và với các đấng bậc sư phụ hướng dẫn cho: " Bởi đó chỉ có một Dân Thiên Chúa được Người tuyển chọn: " chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin và một phép rửa ( Eph 4, 5 ). Các chi thể cùng chung một phẩm giá vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được làm con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng và một đức bác ái không phân chia. Vì thế trong Chúa Kitô và trong Giáo Hội, không còn có sự hơn kém vì nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ..." không còn là Do Thái hoặc Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ vì anh em hết thảy đều là một trong Chúa Giêsu Kitô" ( Gal 3, 28; Col 3, 11) ( LG, 32). IV - Hoạt động tông đồ của người tín hữu giáo dân. Người tín hữu giáo dân - được quy tựu thành Dân Thiên Chúa, - được thiết lập thành một Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô, dưới sự lãnh đạo của một đầu nảo duy nhứt, - được kêu gọi cộng tác như là những chi thể sống động với tất cả năng lực mà mình nhận được từ Đấng Tạo Hoá và ân sủng từ Đấng Cứu Thế: " Các tín hữu được quy tựu thành Dân Thiên Chúa và cấu tạo thành Thân Thể duy nhứt của Chúa Kitô , dưới quyền lãnh đạo của một Đầu duy nhứt. Dù họ là ai, họ cũng được kêu gọi dùng hết sức lực đã nhận lãnh được do lòng từ ái của Đấng Tạo Hoá và do ân huệ của Đấng Cứu Thế, để phát triển và thánh hoá Giáo Hội không ngừng, như những chi thể sống động. Bởi đó, giáo dân làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mạng cứu độ của Giáo Hội. Mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc nhận lãnh Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Các Bí Tích, nhứt là Bí Tích Thánh Thể, thông ban và nuôi dưỡng họ trong đức ai đối với Thiên Chúa và đối với loài người, nhân đức nầy là linh hồn của mọi hoạt động tông đồ ..." ( LG, 33). Như vậy qua các Phép Bí Tích Rửa Tội, Thêm Sức và Phép Thánh Thể, người tín hữu giáo dân được Chúa kêu gọi và có sứ mạng cộng tác để phát triển Giáo Hội và thánh hoá chính mình cũng như thánh hoá thế gian. Tác vụ tông đồ của người giáo dân là tham dự vào sứ mạng cứu rổi của Giáo Hội. Đó là tác vụ tông đồ mà mọi tín hữu Chúa Kitô đều được kêu gọi tham dự vào qua Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Qua các Phép Bí Tích, nhứt là Phép Thánh Thể mọi tín hữu đều được thông ban cho tình yêu thương đối với Thiên Chúa và với mọi người. Lòng yêu thương đó là linh hồn của động tác tông đồ. Mọi tín hữu Chúa Kitô, nhứt là người tín hữu giáo dân, được kêu gọi làm cho thể hiện và biến thành động tác lòng yêu thương đó trong Giáo Hội, ở những nơi và trong các hoàn cảnh mà điều đó không thể trở thành muối và ánh sáng thế gian, nếu không có họ. Mỗi người tín hữu giáo dân, với những ân sủng mà mình nhận được, là nhân chứng và dụng cụ sống động của chính sứ mạng Giáo Hội " tùy theo tầm mức ân sủng được Chúa Kitô ban cho " ( LG, id.) Người tín hữu giáo dân được kêu gọi - cộng tác trong tác động tông đồ với Hàng Giáo Phẩm, - hành xử một vài phận vụ của chính Hàng Giáo Phẩm. Như vậy, tất cả mọi tín hữu giáo dân đều phải hành động, để cho đồ án cứu độ của Chúa được thông đạt đến mọi người và đến khắp nơi trên mặt đất. a ) Người tín hữu giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế chung của tất cả mọi chi thể Cộng Đồng Dân Chúa. " Chúa Giêsu Kitô , Thượng Tế vĩnh cửu, vì cũng muốn giáo dân tiếp tục cộng việc làm chứng và phục vụ của mình, nên đã nhờ Thánh Thần ban cho họ sự sống và không ngừng thôi thúc họ thực hành những điều thiện hảo ..." ( LG, 34). Thật vậy, tất cả động tác của người tín hữu giáo dân, từ kinh nguyện cho đến các sáng kiến tông đồ, đời sống đôi lứa vợ chồng và gia đình, công việc thường ngày, các an ủi nâng đỡ thiêng liêng và thể xác, nếu họ thể hiện trong Thánh Thần, và cả những khó khăn bực bội trong cuộc sống, nếu được họ nhẫn nại gánh lấy, tất cả đều trở thành của lễ thiêng liêng được hướng dâng lên cho Thiên Chúa, nhờ Chúa Kitô và hiến dâng thế giới cho Thiên Chúa : " Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng , và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Chúa Giêsu Kitô " ( 1 Pt 2, 5 ). b) Người tín hữu giáo dân tham dự vào thiên chức ngôn sứ của Chúa Kitô. " Chúa Kitô, vị Ngôn Sứ cao cả, Đấng đã dùng chứng tích đời sống và sức mạnh của lời nói để công bố vương quốc của Chúa Cha...Người chu toàn chức vụ đó, không những nhờ hàng Giáo Phẩm là những người nhân danh và lấy quyền Người giảng dạy, nhưng nhờ cả các giáo dân đã được Người đặt làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ để sức mạnh Phúc Âm được sáng ngời lên trong đời sống thường ngày, trong gia đình và ngoài xã hội ..." ( LG, 35). Chúa Kitô, vị Đại Ngôn Sứ, thiết định các tín hữu giáo dân thành nhân chứng của Người, ban cho họ ý thức được ý nghĩa đức tin của họ và ân sủng của Lời Người trong Phúc Âm, nhờ đó Phúc Âm được chiếu rạng lên trong đời sống thường nhật, trong gia đình, ngoài xã hội. Người tín hữu giáo dân cho thấy mình là con cái của lời Chúa hứa, khi họ vững mạnh trong đức tin và niềm hy vọng, biến thời gian hiện tại đang sống thành lợi ích và trông đợi niềm vinh quang tương lai với lòng kiên nhẫn. Niềm hy vọng đó, họ không được để ẩn giấu trong tâm hồn, mà còn phải được thể hiện ra trong các cấu trúc đời sống xã hội. Ngưòi tín hữu giáo dân trở thành nền tảng hữu hiệu của đức tin, nếu họ biết phối hợp lời tuyên xưng đức tin của mình hội nhập vào cấu trúc cá biệt của đời sống thường nhật. - hôn nhân và gia đình có giá trị cao cả trong đời sống, nơi mà đôi vợ chồng được ơn riêng của Chúa kêu gọi đối với họ, người nầy cho người kia và cha mẹ cho con cái là những nhân chứng đức tin và tình yêu thương của Chúa Kitô. - mặc cho bận bịu phải chăm lo các vấn đề và các việc trần thế, người tín hữu giáo dân có thể và phải tác động rao giảng Phúc Âm cho thế giới. * trong trường hợp thiếu các vị giáo sĩ hay vì các vị bị ngăn cản, người tín hữu giáo dân có thể thay thế cho các vị trong một vài thánh vụ, tùy theo điều kiện cho phép của mỗi người. * một vài người tín hữu giáo dân khác cũng có thể hy sinh cả đời sống mình cho Nước Chúa Kitô giữa trần thế. * họ nên chăm lo tìm hiểu sâu đậm hơn chân lý đã được mạc khải cho * cùng nhau khẩn xin Chúa ban cho ân sủng hiểu biết hơn: " ...Dù có một số giáo dân đã dốc toàn lực vào việc tông đồ, tất cả vẫn phải cộng tác vào việc mở mang và phát triển Nước Chúa Kitô trên trần gian. Vì vậy, giáo dân phải khéo léo tìm hiểu sâu xa hơn chân lý Chúa mạc khải, và tha thiết nài xin Chúa ban ơn khôn ngoan cho mình " ( LG, 35). c) Người tín hữu giáo dân tham dự vào tước vương giả. Chúa Kitô ao ước trải rộng - vương quốc chân lý và sự sống - vương quốc thánh thiện và ân sủng - vương quốc công lý, hoà bình và tình yêu thương của Người bằng cả nhờ phương thức các người tín hữu giáo dân: * " Chúa Kitô đã hạ mình vâng lời cho đến chết, và vì đó Người được Chúa Cha tôn vinh ( Ph 2, 8-9), đã vào trong vinh quang nước Người. Mọi vật phải suy phục Người, cho đến khi Người cùng với mọi tạo vật suy phục Chúa Cha, dể Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi người ( 1 Cor 15, 27-28). Người cũng thông ban cho các môn đệ quyền bính đó để họ được hưởng sự tự do vương giả và chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi họ, bằng đời sống từ bỏ và thánh thiện ( Rom 6, 12). ...Thật thế, Chúa cũng muốn nhờ cả giáo dân để mở rộng nước Người, nước của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hoà bình..." ( LG, 36). Bởi đó người tín hữu giáo dân - phải nhận biết bản tính sâu xa của mọi vật, giá trị và định hướng của chúng nhằm tôn vinh Thiên Chúa, - phải biết trợ lực giúp đỡ nhau để có được một cuộc sống thánh thiện, ngay cả bằng những công việc trần thế, để cho thế gian được thấm nhuần Thánh Thần của Chúa Kitô, và đạt được một cách hữu hiệu cùng đích công lý, hòa bình và bác ái của mình, Người tín hữu giáo dân với thẩm quyền của mình, phải biết góp phần để cho tạo vật được dựng nên tiến triển lên nhằm lợi ích cho tất cả mọi người. Khả năng góp phần của họ là góp phần - bằng việc làm, - bằng kỷ thuật, - bằng văn hoá được phát huy và phổ biến hợp lý, nhờ đó nền tiến bộ phổ quát trong tự do nhân loại và Kitô giáo được thể hiện. Như vậy, Chúa Kitô nhờ phương thiện chi thể của Giáo Hội, sẽ soi sáng càng lúc càng nhiều hơn cho cả xã hội loài người bằng Ánh Sáng Cứu Độ của Người. Bằng cách chung sức cộng tác với nhau, người tín hữu giáo dân - lành mạnh hoá các thể chế, cơ chế và hoàn cảnh thế gian, khiến cho các thực thể đó thích hợp với lề luật công lý, - tạo điều kiện thuận lợi để thực hành các đức tính, - thấm nhuần văn hoá và động tác con người bằng giá trị luân lý. Tác động như vậy, người tín hữu giáo dân dọn sẵn đồng ruộng để gieo giải lời Chúa và tinh thần hoà bình được loan báo hội nhập được vào thế gian. Người tín hữu giáo dân phân biệt nhau giữa quyền và bổn phận thuộc thẩm quyền của họ. Họ có thể là - thành phần của Giáo Hội, - thành phần của xã hội con người. Ước gì họ tìm kiếm phương thức để hoà hợp với nhau, bằng phương thức ghi nhớ rằng mỗi sự việc hay vật thể trần thế phải được tinh thần Kitô giáo hướng dẫn, bởi lẽ không có động tác nào của con người, cả những động tác thuần nhứt trần thế, đều có thể tách mình ra khỏi giới răn của Thiên Chúa. d) Tín hữu giáo dân và hàng giáo phẩm. * " Như mọi Kitô hữu khác, giáo dân cũng có quyền được các chủ chăn có chức thánh ban phat dồi dào ơn trợ lực chứa đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đặc biệt là Lời Chúa và các Phép Bí Tích. Như con cái Chúa và như anh em trong Chúa Kitô, họ cũng sẽ trình bày với các vị ấy những nhu cầu và khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩn ..." ( LG, 37 ). Qua những dòng vừa được trích dẫn, người tín hữu giáo dân có quyền nhận được của cải thiêng liêng ( Lời Chúa và các Phép Bí Tích), cũng như có khả năng và đôi khi cũng là bổn phận phải trình bày đến các vị giáo sĩ cho các vị biết ý kiến của họ liên quan đến những gì lợi ích cho Giáo Hội, luôn luôn với tinh thần tôn trọng sự thật, đầy nghị lực và khôn ngoan , cũng như lòng kính trọng đối với các đấng bậc có chức thánh, đại diện cho Chúa Kitô. Người tín hữu giáo dân phải chấp nhận những gì các vị chủ chăn của mình, nhân danh phận vụ huấn dạy và của mình và quyền năng của Giáo Hội , cũng như khuyên dạy họ cầu nguyện lên Chúa: * " Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng các vị lãnh đạo của mình cho Thiên Chúa, để các ngài hoan hỉ, không than phiền thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn chúng ta, như những người sẽ phải trả lẽ ( Dt 13, 17) ( LG, 37) ". V - Các vị chủ chăn và tín hữu giáo dân. " Phần các chủ chăn có chức thánh, các ngài phải nhìn nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo Hội. Các ngài nên chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, tin cẩn giao cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo Hội , cho họ tự do và có quyền để hành động. Hơn nữa, các ngài còn nên khuyến khích họ tự đảm nhận lấy công việc " ( LG, 37b). Qua những gì vừa trích dẫn, chúng ta thấy được các mối tương quan giữa các vị chủ chăn và người tín hữu giáo dân là mối tương quan trong thương yêu, tin tưởng, phó thác và tôn trọng lẫn nhau, nhằm đem lại lợi ích cho Giáo Hội. Trong nhãn quang vừa kể, chúng ta thấy được xác tín - tinh thần yêu thương và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân đối với các vị chủ chăn có chức thánh lãnh đạo, - nhằm năng lực thúc đẩy lòng hăng hái và nghị lực của người tín hữu giáo dân hợp tác với các động tác của các vị chủ chăn, - phần các vị chủ chăn, nhờ kinh nghiệm trên hiện trường của người tín hữu giáo dân, các vị có thể phán đoán chính xác và thích hợp hơn các vấn đề liên quan đến đời sống đạo đức, cũng như thuộc các lãnh vực trần thế. Như vậy Giáo Hội , đầy năng lực và khôn ngoan trong các chi thể, có thể thực hiện một cách hữu hiệu hơn sứ mạng đem lại đời sống cho thế gian. VI - Kết luận. * " Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự phục sinh và sự sống của Chúa Giêsu Kitô, đồng thời cũng là dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống ..." ( LG, 38). Cùng chung nhau, mỗi người một phần của mình, phải nuôi dưỡng thế gian bằng hoa trái thiêng liêng và loan truyền tinh thần yêu thương người nghèo hó, nhân lành và xây dựng hoà bình mà Chúa đã tuyên bố trong Tám Mối Phước thật: * " Vì Nước Trời là của họ " ( Mt 5, 2-12).

 

PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG BẢN TỔNG LƯỢC HUẤN DỤ XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI. ( Trích từ bản Tổng Lược Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, do Thánh Bộ Công Lý và Hoà Bình ấn hành, Compendio della Dottrina Sociale della Chiesa, edita da Pontificio Consiglio della Giustizia e della Pace ). CHƯƠNG BA I. CON NGƯỜI VÀ CÁC QUYỀN CỦA CON NGƯỜI 105. Giáo Hội nhìn thấy nơi mỗi người, nam cũng như nữ, hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa. Hình ảnh này mỗi ngày được triển khai thêm một cách trọn vẹn và sâu sắc hơn nơi mầu nhiệm Đức Kitô, hình ảnh tuyệt hảo của Thiên Chúa, Đấng duy nhất đã mạc khải Thiên Chúa cho con người và mạc khải con người cho chính con người. Những con người đã nhận được phẩm giá khôn sánh và bất diệt nơi Thiên Chúa ấy chính là những con người mà Giáo Hội muốn ngỏ lời, muốn đem đến cho họ sự phục vụ cao cả nhất và đặc biệt nhất, bằng cách kiên trì nhắc nhở họ về ơn gọi cao quý đó để họ luôn nhớ và sống cho xứng đáng. Đức Kitô, Con Thiên Chúa, “qua sự nhập thể của mình đã tự kết hợp chính mình một cách nào đó với mỗi một con người”197; vì thế, Giáo Hội nhìn nhận nghĩa vụ căn bản của mình là trông coi sao cho mối kết hợp ấy luôn được thực hiện và canh tân. Trong Đức Kitô là Chúa, Giáo Hội chỉ cho người ta thấy và cố gắng làm người đầu tiên bước vào lộ trình ấy – tức là con người (198 ), đồng thời mời gọi mọi người hãy nhìn nhận mỗi người – dù gần hay xa, quen hay lạ, nhất là những người nghèo và đau khổ – là anh chị em của mình, những người “mà Đức Kitô đã chết cho họ” (1 Cr 8,11; Rm 14,15) (199 ). 106. Toàn bộ đời sống xã hội đều là sự biểu hiện của một nhân vật chính không thể lầm lẫn được, đó chính là con người. Giáo Hội đã nhiều lần nhiều cách làm trạng sư có thẩm quyền giúp người ta hiểu, nhìn nhận và khẳng định con người là trọng tâm của mọi lãnh vực và mọi biểu hiện trong xã hội: “Bởi đó, xã hội loài người chính là đối tượng của giáo huấn xã hội của Giáo Hội, vì Giáo Hội không đứng ngoài cũng chẳng đứng trên những con người liên kết thành xã hội, mà Giáo Hội chỉ tồn tại nơi những con người, và bởi đó. Giáo Hội tồn tại vì những con người” (200). Nhận thức quan trọng này được phản ánh trong lời khẳng định sau đây: “Thay vì làm đối tượng hay làm nhân tố thụ động của đời sống xã hội”, con người “nên và phải luôn luôn là chủ thể, là nền tảng và là mục tiêu của đời sống xã hội”(201). Vì thế, nguồn gốc của đời sống xã hội là chính con người, và xã hội không thể nào không nhìn nhận chủ thể tích cực và hữu trách của mình; mọi biểu hiện của xã hội đều phải quy hướng về con người. 107. Trong những hoàn cảnh cụ thể của lịch sử, con người chính là trọng tâm và linh hồn của tư duy xã hội Công giáo (202 ). Thật vậy, toàn bộ Học thuyết Xã hội Công giáo chẳng qua chỉ là sự triển khai nguyên tắc: con người có phẩm giá bất khả xâm phạm (203 ). Trong tất cả những nghĩa cử đa dạng bày tỏ nhận thức ấy, Giáo Hội luôn cố gắng bênh vực phẩm giá con người mỗi khi có toan tính xác định lại hay bóp méo hình ảnh ấy; Giáo Hội cũng thường xuyên tố cáo những sự xâm phạm phẩm giá con người. Lịch sử đã xác nhận rằng chính cơ cấu hình thành nên các quan hệ xã hội nổi lên một số khả năng thăng hoa con người, nhưng cũng chính trong cơ cấu ấy lại tiềm tàng những cách loại bỏ ghê tởm nhất đối với phẩm giá con người. II. CON NGƯỜI “HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA” (IMAGO DEI) a) Những thụ tạo theo hình ảnh Thiên Chúa 108. Thông điệp căn bản của Thánh Kinh cho biết con người là thụ tạo của Thiên Chúa (x. Tv 139,14-18), và theo thông điệp ấy, hình ảnh Thiên Chúa nơi con người chính là yếu tố định tính và phân biệt con người: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa; Ngài sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Thiên Chúa đặt con người vào trung tâm và chóp đỉnh của trật tự sáng tạo. Con người (theo tiếng Do Thái là “adam”) được tạo dựng từ đất (adamah) và Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào mũi Ađam (x. St 2,7). Bởi đó, “được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị, không phải chỉ là một cái gì đó mà là một ai đó. Con người có khả năng biết mình, làm chủ mình, tự do hiến mình và tự nguyện hiệp thông với người khác. Hơn thế nữa, con người được ơn Chúa mời gọi ký kết giao ước với Đấng Tạo Hoá của mình, lấy đức tin và tình yêu đáp trả Ngài, một sự đáp trả mà không thụ tạo nào có thể làm thay con người được ( 204 ). 109. Giống Thiên Chúa, điều này chứng tỏ bản chất và hiện hữu của con người có liên quan đến Thiên Chúa một cách hết sức sâu xa (205 ). Đây là một mối quan hệ tự bản thể, vì thế không phải là một cái gì đó đến sau và được thêm vào từ bên ngoài. Toàn thể cuộc sống con người chẳng qua chỉ là một sự tìm kiếm Thiên Chúa. Mối quan hệ này của con người với Thiên Chúa có thể không được người ta biết, thậm chí bị bỏ quên hay từ chối, nhưng không bao giờ bị loại bỏ hẳn. Thật vậy, trong số các thụ tạo hữu hình của thế giới, chỉ có con người mới “có khả năng tìm Chúa” (homo est Dei capax)( 206). Con người là một ngôi vị do Chúa tạo dựng để liên hệ với Ngài; chỉ trong mối liện hệ này, con người mới tìm được sự sống, mới thể hiện chính mình và hướng về Thiên Chúa một cách tự nhiên (207). 110. Quan hệ giữa Thiên Chúa và con người được phản ánh trong chiều hướng tương quan và xã hội của bản tính con người. Thật vậy, con người không phải là một hữu thể cô độc, mà là “một hữu thể xã hội tính, không thể nào sống cũng như không thể nào phát triển tiềm năng của mình bao lâu con người không liên hệ với người khác” (208 ) . Về điểm này, sự kiện Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ (x. St 1,27) thật là ý nghĩa (209 ) : “Điều đáng chú ý là sự không thoả mãn, biểu hiện trong cuộc sống con người tại vườn Địa Đàng, vẫn sẽ tồn tại bao lâu con người còn lấy thế giới thảo mộc và động vật làm điểm tham khảo duy nhất của mình (x. St 2,20). Chỉ có sự xuất hiện của người phụ nữ, một hữu thể là thịt lấy từ thịt của Ađam và là xương lấy từ xương của ông (x. St 2,23), cũng là hữu thể mà nơi đó Thần Khí của Thiên Chúa Tạo Hoá đang hoạt động, mới có thể thoả mãn nhu cầu đối thoại liên vị rất quan trọng cho cuộc sống con người. Trong mỗi người thân cận của mình, bất kể là nam hay nữ, đều có sự phản ánh của chính Thiên Chúa, mục tiêu cuối cùng và sự hoàn thành của mỗi một con người”( 210 ). 111. Người nam và người nữ có cùng phẩm chất như nhau và bình đẳng có giá trị như nhau ( 211), không phải chỉ vì cả hai tuy có những điểm khác biệt nhưng đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, mà sâu xa hơn còn vì tác động lực tương tác đem lại sự sống cho ngôi vị, “chúng ta” giữa hai người, cũng chính là một hình ảnh của Thiên Chúa (212) Trong mối quan hệ hiệp thông với nhau, người nam và người nữ làm cho mình được sung mãn một cách hết sức sâu xa, khám phá thấy mình là những ngôi vị nhờ sự hiến thân chân thành ấy (213). Giao ước kết hợp giữa hai người được Thánh Kinh trình bày như hình ảnh Giao ước giữa Thiên Chúa với con người (x. Os 1–3; Is 54; Ep 5,21-33), đồng thời như một cách phục vụ cho sự sống (214). Thật vậy, vợ chồng có thể tham gia vào hành động sáng tạo của Thiên Chúa: “Thiên Chúa chúc lành cho họ và nói với họ: “Hãy sinh sôi và nảy nở cho đầy mặt đất và hãy thống trị mặt đất” (St 1,28). 112. Người nam và người nữ liên hệ với những người khác như những người được giao cho sự sống của người khác (215). “Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu… Ta sẽ đòi con người phải đền mạng sống của người anh em mình” (St 9,5). Đó là điều Chúa phán với Noê sau trận lụt. Nhìn trong viễn tượng ấy, quan hệ với Thiên Chúa đòi người ta phải coi mạng sống con người là linh thiêng và bất khả xâm phạm(216). Sở dĩ giới răn thứ năm có giá trị (“Ngươi không được giết người”: Xh 20,13; Đnl 5,17) là vì chỉ có Thiên Chúa mới là chủ tể sự sống và sự chết (217). Lòng kính trọng đối với sự sống bất khả xâm phạm và vẹn toàn lên tới cao điểm trong giới răn tích cực này: “Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19,18), qua đó, Đức Giêsu đã ràng buộc thêm bổn phận chăm lo cho các nhu cầu của người khác (x. Mt 22,37-40; Mc 12,29-31; Lc 10,27-28). 113. Chính với ơn gọi đặc biệt này đối với sự sống mà người nam và người nữ cũng thấy mình hiện diện với tất cả các thụ tạo khác. Họ có khả năng và bổn phận lấy các thụ tạo khác phục vụ mình và hưởng dùng chúng, nhưng việc chế ngự thế giới đòi hỏi họ phải thi hành trách nhiệm chứ không được tự do khai thác cách tuỳ tiện và ích kỷ. Thật vậy, mọi thụ tạo đều có giá trị và đều “tốt lành” (x. St 1,4.10.12.18.21.25) trước mặt Chúa, tác giả của chúng. Con người phải biết khám phá và tôn trọng giá trị của chúng. Đây là một thách thức lớn lao đối với trí khôn con người; chính trí khôn ấy sẽ nâng con người lên và đưa họ như bay lên (218) tới chỗ chiêm ngắm sự thật của tất cả các thụ tạo của Thiên Chúa, tức là chiêm ngắm cái mà Thiên Chúa thấy là “tốt lành” nơi các thụ tạo ấy. Sách Sáng Thế dạy rằng con người thống trị thụ tạo chủ yếu bằng cách “đặt tên cho chúng” (x. St 2,19-20). Khi cho chúng những cái tên, hẳn con người đã nhìn ra chúng đúng như sự thật của chúng và đã có quan hệ trách nhiệm đối với chúng219. 114. Con người cũng quan hệ với chính mình và có khả năng suy tư về chính mình. Về điểm này, Thánh Kinh hay nhắc tới “tâm hồn con người”. Tâm hồn chỉ rõ sự thiêng liêng bên trong con người, phân biệt con người với các thụ tạo khác. Thiên Chúa “làm ra hết mọi sự tốt đẹp vào đúng thời đúng lúc của nó; Ngài cũng đặt vào tâm trí con người ý niệm vĩnh cửu, nhưng con người không thể nào hiểu biết được ý nghĩa công trình Thiên Chúa thực hiện từ khởi thuỷ đến cùng tận” (Gv 3,11). Sau cùng, tâm hồn biểu lộ những khả năng thiêng liêng riêng của con người, cũng là những đặc ân con người có được khi được tạo dựng theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, đó là lý trí, sự phân biệt tốt xấu, ý muốn tự do ( 220). Khi con người chú ý lắng nghe những khát vọng sâu xa của tâm hồn mình, con người không thể không thốt lên những lời rất thật sau đây của thánh Augustinô: “Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, lạy Chúa, nên tâm hồn chúng con mãi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Chúa” (221). b) Thảm kịch của tội lỗi. 115. Cảnh tượng tuyệt vời mô tả con người được Chúa tạo dựng không thể tách rời khỏi sự xuất hiện bi đát của tội nguyên tổ. Thánh Phaolô đã khẳng định rõ ràng khi tóm tắt sự sa ngã của con người trong những trang đầu của Sách Thánh: “Tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian qua một con người và tội lỗi gây nên sự chết” (Rm 5,12). Chống lại lệnh cấm của Thiên Chúa, con người đã để cho mình bị con rắn quyến rũ và đã giơ tay hái trái trên cây sự sống, và thế là đã trở thành nạn nhân của sự chết. Qua cử chỉ ấy, con người đã phá vỡ giới hạn thụ tạo của mình, thách thức Chúa, là Thiên Chúa duy nhất và là nguồn sự sống của mình. Chính tội bất tùng phục ấy (x. Rm 5,19) đã tách con người ra khỏi Chúa (222 ). Cũng từ mạc khải ấy, chúng ta biết rằng Ađam – con người đầu tiên – đã vi phạm giới răn của Chúa, đánh mất sự thánh thiện và công chính mà mình đã có khi được tạo dựng, một sự thánh thiện và công chính con người đã nhận được không chỉ cho riêng mình mà còn cho hết mọi người: “Khi chiều theo tên cám dỗ, Ađam và Eva đã phạm một tội cá nhân, nhưng tội này đã ảnh hưởng tới bản tính nhân loại, là bản tính mà nguyên tổ đã truyền lại trong tình trạng sa ngã. Đó là một tội được truyền lại bằng cách làm lan ra tới hết mọi người, nghĩa là được truyền lại một bản tính đã mất đi sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ” (223). 116. Khi lần tới tận gốc các chia rẽ của cá nhân và xã hội, đang xúc phạm tới giá trị và phẩm chất của con người ở những mức độ khác nhau, chúng ta luôn thấy có một vết thương nằm trong nơi sâu xa nhất của con người. “Trong ánh sáng đức tin, chúng ta gọi đó là tội: từ tội nguyên tổ, mà mọi người chúng ta đều phải mang từ khi sinh ra như một di sản chúng ta thừa kế được nơi tổ tiên chúng ta, cho tới tội mà mỗi người chúng ta phạm khi lạm dụng sự tự do của mình” (224). Hậu quả của tội, bao lâu nó còn là hành vi xa rời Chúa, chính là sự tha hoá, tức là sự xa rời của con người không những với Chúa mà còn với chính mình, với người khác và với thế giới chung quanh. “Sự đoạn tuyệt của con người với Chúa trớ trêu thay đưa chúng ta tới chỗ chia rẽ với nhau. Trong bài mô tả “tội nguyên thuỷ”, chúng ta thấy khi đoạn tuyệt với Jahvé thì đồng thời cũng cắt đứt mối thân hữu từng nối kết gia đình nhân loại với nhau. Thế nên, các trang tiếp theo của sách Sáng Thế cho chúng ta thấy người đàn ông và người đàn bà giơ tay tố cáo nhau (x. St 3,12). Về sau, chúng ta lại thấy anh em ghét nhau và sau cùng liên quan đến cả mạng sống của nhau (x. St 4,2-16). Dựa theo câu chuyện tháp Babel, hậu quả của tội chính là sự tan nát của gia đình nhân loại, đã khởi sự với tội nguyên tổ và nay lên tới hình thức cực đoan nhất trên bình diện xã hội” (225). Suy nghĩ về mầu nhiệm của tội, chúng ta không thể không lưu ý tới mối quan hệ bi đát giữa nguyên nhân và hậu quả ấy. 117. Mầu nhiệm tội được cấu thành bởi một vết thương hai mặt, mà tội nhân bộc lộ nơi mình, cũng như thể hiện ra trong quan hệ với người thân cận. Đó chính là lý do tại sao chúng ta nói tội cá nhân và tội xã hội. Tội nào cũng là tội cá nhân xét về một phương diện nào đó; nhưng xét về một phương diện khác, tội nào cũng là tội xã hội, trong mức độ nó cũng gây ra những hậu quả trong xã hội. Nếu xét cho đúng nghĩa thì tội luôn luôn là một hành vi của con người, vì đó là hành vi tự do của một cá thể, chứ không phải là hành vi của một tập thể hay một cộng đồng cách đúng nghĩa. Đành rằng tính xã hội có thể được tìm thấy trong hết mọi tội, nếu xét tới sự kiện “do sự liên đới vừa mầu nhiệm và không thể nắm bắt được, vừa rất thật và rất cụ thể, tội nào của cá nhân cũng tác động tới người khác một cách nào đó” (226 ). Tuy nhiên, thật là không chính đáng hay không thể chấp nhận được nếu hiểu tội xã hội theo cách: nó làm giảm nhẹ hay xoá hết trách nhiệm của cá nhân, dù là hữu ý hay vô tình, do chỉ nhìn nhận sự sai trái và trách nhiệm của xã hội. Lần tới cùng của bất cứ tình huống tội lỗi nào, cũng luôn luôn thấy có những cá nhân đã phạm tội. 118. Ngoài ra, có một số tội do chính đối tượng của chúng là những hành vi trực tiếp xúc phạm đến người thân cận. Những tội đó đặc biệt được gọi là tội xã hội. Tội xã hội là bất cứ tội nào xúc phạm tới sự công bằng phải có trong các quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng, và giữa cộng đồng với cá nhân. Tội xã hội cũng là bất cứ tội nào chống lại các quyền lợi của con người, - khởi đi từ quyền được sống, bao gồm cả sự sống trong bụng mẹ, - cho đến bất cứ tội nào chống lại sự toàn vẹn thân thể của cá nhân; là bất cứ tội nào chống lại sự tự do của người khác, nhất là sự tự do cao cả nhất để tin vào Thiên Chúa và thờ phượng Ngài; - và là bất cứ tội nào chống lại phẩm giá và danh dự của người thân cận. Bất cứ tội nào chống lại ích chung và những đòi hỏi của công ích, trong lĩnh vực rộng lớn của quyền hạn và nghĩa vụ người công dân, cũng đều là tội xã hội. Sau cùng, tội xã hội là tội “liên quan tới các mối quan hệ giữa các cộng đồng nhân loại khác nhau. Những mối quan hệ ấy không hẳn lúc nào cũng phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng muốn thấy có công lý trên thế giới, có tự do và hoà bình giữa các cá nhân, các tập thể và các dân tộc” (227). 119. Các hậu quả của tội làm cho cơ cấu của tội kéo dài mãi mãi. Những cơ cấu này lại ẩn sâu trong tội cá nhân, và bởi đó, luôn có liên quan với các hành vi cụ thể của người phạm tội, làm cho các cơ cấu ấy thêm vững chắc và càng khó tẩy trừ. Bằng cách đó, tội trở nên trầm trọng hơn, dễ lan truyền và trở thành nguồn phát sinh ra các tội khác, chi phối cách ứng xử của con người (228 ). Đó là những trở ngại và là những điều kiện vượt ra khỏi các hành vi và thời gian sống vắn vỏi của cá nhân, để can thiệp vào quá trình phát triển của các dân tộc; việc chậm trễ và trì trệ trong công cuộc phát triển là phải xét đến tình trạng này (229 ). Những hành vi và thái độ chống lại ý muốn của Chúa và ích lợi của tha nhân, cũng như những cơ cấu phát sinh từ những cách ứng xử đó, ngày nay có thể xếp vào hai loại: “một đàng là dành tất cả mọi ước muốn cho việc thu lợi nhuận, và đàng khác, là khát khao quyền lực với ý định áp đặt ý muốn của mình lên người khác. Để xác định thêm tính chất của hai thái độ này, chúng ta có thể dùng thành ngữ sau đây: ‘bằng bất cứ giá nào’” (230 ). c. Tính cách phổ quát của tội và của ơn cứu độ 120. Giáo lý về tội nguyên tổ, cho biết tội mang tính phổ quát, có nền tảng rất quan trọng: “Nếu chúng ta nói mình vô tội là chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không có nơi chúng ta” (1 Ga 1,8). Giáo lý khuyến khích mọi người đừng ở lại trong tội và đừng coi nhẹ tội, cũng như đừng liên tục đổ lỗi cho người khác và tìm cách biện minh do hoàn cảnh, do di truyền, do tổ chức, do cơ chế và do các mối quan hệ. Giáo lý này vạch trần mọi sự lừa dối ấy. Tuy nhiên, không được tách rời giáo lý về sự phổ quát của tội với ý thức về sự phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô. Nếu không, nó sẽ khiến ta lo ngại cách sai lầm về tội và có cái nhìn bi quan về thế giới và cuộc đời, khiến chúng ta khinh chê các thành quả về văn hoá và đời sống dân sự của loài người. 121. Với tinh thần thực tế, người Kitô hữu nhìn thấy vực sâu của tội, nhưng luôn nhìn nó trong ánh sáng hy vọng – còn lớn hơn bất cứ sự xấu xa nào – do công cuộc cứu chuộc của Đức Kitô mang lại, nhờ đó tội và cái chết đã bị tiêu diệt (x. Rm 5,18-21; 1 Cr 15,56-57): “Trong Ngài, Thiên Chúa đã hoà giải con người với mình”.231 Chính Đức Kitô – hình ảnh của Thiên Chúa (x. 2 Cr 4,4; Cl 1,15) – đã làm cho hình ảnh và nét tương đồng với Thiên Chúa nơi con người được sáng lên đầy đủ và được thể hiện trọn vẹn. Ngôi Lời, đã trở thành con người nơi Đức Giêsu Kitô, mãi mãi vẫn là sự sống và ánh sáng của nhân loại, ánh sáng soi chiếu từng người một (x. Ga 1,4.9). Thiên Chúa muốn mọi người đều được cứu độ trong một Đấng trung gian duy nhất là Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài (x. 1 Tm 2,4-5). Đức Giêsu vừa là Con Thiên Chúa vừa là Ađam mới, tức là con người mới (x. 1 Cr 15,47-49; Rm 5,14). “Chính trong khi mạc khải mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Ngài, Đức Kitô Ađam mới đã mạc khải trọn vẹn con người cho chính họ và cho con người thấy ơn gọi cao cả nhất của họ”(232 ). Trong Người, nhờ Thiên Chúa, chúng ta “được tiền định để trở nên giống hình ảnh Con Thiên Chúa, ngõ hầu Người trở thành trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29). 122. Thực tại mới mà Đức Giêsu Kitô mang đến cho chúng ta không được ghép vào bản tính loài người, cũng chẳng được thêm vào từ bên ngoài, nhưng đúng hơn, đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi mà con người luôn khao khát hướng tới tự trong bản chất sâu xa của mình, do mình đã được tạo dựng giống Thiên Chúa. Thế nhưng, đó cũng là một thực tại mà con người không thể đạt được chỉ bằng sức mình. Nhờ Thánh Thần của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Nhập thể – nơi Người sự hiệp thông luôn được thực hiện một cách đặc biệt – con người mới được tiếp nhận làm con cái Thiên Chúa (x. Rm 8,14-17; Gl 4,4-7). Nhờ Đức Kitô, chúng ta được chia sẻ bản tính Thiên Chúa, Đấng ban phát cho chúng ta cách vô hạn định hơn cả “điều chúng ta cầu xin hay nghĩ tới” (Ep 3,20). Điều mà nhân loại đã nhận được chẳng qua chỉ là một dấu hiệu hay một “bảo chứng” (2 Cr 1,22; Ep 1,14) cho những gì mình sẽ nhận trọn vẹn khi ra trước mặt Chúa, “diện đối diện” (1 Cr 13,12), tức là bảo chứng của sự sống đời đời: “Và đây là sự sống đời đời, đó là họ biết Cha là Thiên Chúa duy nhất chân thật và Đức Giêsu Kitô là Đấng Cha đã sai đến” (Ga 17,3). 123. Trong niềm hy vọng phổ quát ấy, bên cạnh những người nam cũng như nữ thuộc mọi dân tộc, còn bao gồm cả trời và đất: “Trời cao hỡi, hãy gieo sương xuống, mây hãy đổ mưa, mưa đức công chính. Đất mở ra đi, nẩy mầm ơn cứu độ; đồng thời chính trực sẽ vươn lên. Ta là Đức Chúa đã làm điều ấy” (Is 45,8). Theo Tân Ước, toàn thể thụ tạo cùng với nhân loại đều chờ đợi Đấng Cứu Chuộc: bị lâm vào cảnh hư ảo nhưng thụ tạo vẫn vươn lên, lòng đầy hy vọng, dù miệng rên xiết than thở, trông mong được giải thoát khỏi tiêu vong (x. Rm 8,18-22). III. CON NGƯỜI VÀ NHỮNG KHÍA CẠNH ĐA DẠNG CỦA CON NGƯỜI 124. Vì đánh giá cao thông điệp tuyệt vời của Thánh Kinh, Học thuyết Xã hội Công giáo muốn dừng lại để chiêm ngắm trước hết các chiều hướng chính yếu và căn bản của con người; nhờ đó có thể bắt gặp được những khía cạnh ý nghĩa nhất trong mầu nhiệm và phẩm giá con người. Trong quá khứ, đã không thiếu những quan niệm giản lược về con người, mà nhiều quan niệm trong số đó rất tiếc vẫn còn có mặt trên sân khấu của lịch sử hôm nay. Đó là những quan niệm mang tính ý thức hệ hay đơn giản chỉ là kết quả của những thói quen hoặc suy nghĩ phổ biến về con người, về đời sống con người và về định mệnh con người. Mẫu số chung của những quan niệm này là tìm cách làm cho hình ảnh của con người trở nên mơ hồ do chỉ nhấn mạnh một đặc điểm nào đó và bỏ đi các đặc điểm còn lại233. 125. Con người không bao giờ được phép suy nghĩ mình chỉ là một cá thể không hơn không kém, được tạo ra bởi chính mình và hoàn toàn dựa vào chính mình, làm như các đặc điểm chính yếu của con người đều dựa vào chính con người chứ không lệ thuộc một ai khác. Cũng không thể nghĩ con người chỉ là một tế bào đơn thuần trong một cơ thể, mà khuynh hướng nhiều nhất là nhìn nhận nó có vai trò vận hành trong toàn bộ hệ thống. Những quan niệm giản lược về sự thật trọn vẹn của con người như thế đã từng là mối lo của Giáo Hội, và Giáo Hội đã không ngừng lên tiếng phản đối, như đã phản đối các viễn tượng mang tính giản lược tai hại khác, và thay vào đó, Giáo Hội đã mạnh mẽ công bố “con người cá thể không được coi mình là những đơn vị cô lập như những hạt cát, mà là những đơn vị nối kết nhau bằng chính sức mạnh là bản tính và định mệnh nội tại của mình, nối kết với nhau thành những quan hệ rất hữu cơ và hài hoà” (234 ). Giáo Hội đã quả quyết người ta không thể hiểu con người “chỉ là một nhân tố, một phân tử trong cơ thể xã hội” ( 235 ). Điều Giáo Hội quan tâm là làm sao cho người ta hiểu rằng khi Giáo Hội khẳng định sự ưu việt của con người, Giáo Hội không có ý muốn đề cao nhãn quan cá nhân chủ nghĩa hoặc ô hợp chủ nghĩa. 126. Khi mời gọi phải tìm kiếm bất cứ điều gì tốt lành và xứng đáng với con người ở bất cứ chỗ nào có thể tìm kiếm (x. 1 Ts 5,21), đức tin Kitô giáo “đã tự đặt mình đứng bên trên hay đôi khi chống lại các ý thức hệ, ở chỗ đức tin này nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt và là Đấng Tạo Hoá, là Đấng mời gọi con người, thông qua mọi loài thụ tạo, như một thụ tạo được phú bẩm trách nhiệm và tự do” (236.) Học thuyết Xã hội Công giáo tìm cách chỉ ra những khía cạnh khác nhau của mầu nhiệm con người: con người phải được tìm hiểu “trong sự thật toàn vẹn của mình, từ sự hiện hữu của bản thân con người cho đến chiều hướng cộng đồng và xã hội” (237), với sự quan tâm đặc biệt sao cho giá trị của con người được mọi người sẵn sàng nhìn nhận. A. TÍNH THỐNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI 127. Con người được Thiên Chúa tạo dựng thành một hiện thể thống nhất của xác và hồn (238 ). “Hồn bất tử và thiêng liêng là nguyên lý thống nhất của con người, làm con người hiện hữu như một tổng thể – một đơn vị duy nhất gồm xác và hồn – và như một ngôi vị. Những xác định này không chỉ cho thấy thân xác, từng được hứa hẹn sẽ sống lại, cũng sẽ được vinh quang; chúng còn nhắc nhở chúng ta rằng lý trí và ước muốn tự do luôn gắn chặt với tất cả những cơ năng của thân xác và giác quan. Con người, kể cả thân xác, được giao phó hoàn toàn cho chính con người, và chính nhờ sự thống nhất xác hồn ấy mà con người là chủ thể của tất cả các hành vi luân lý của mình” (239 ). 128. Thông qua thân xác mình, con người thống nhất nơi mình các yếu tố của thế giới vật chất; những yếu tố ấy “đạt tới đỉnh cao nơi con người và thông qua con người, chúng tự do cất lời ca ngợi Đấng Tạo Hoá” (240 ). Nhờ chiều hướng này, con người có thể tham gia vào thế giới vật chất, không phải như nhốt mình trong một nhà tù hay bắt mình phải lưu đày. Vì thế, không thích đáng chút nào khi chúng ta khinh rẻ đời sống thể xác; mà đúng ra “con người… phải nhìn thân xác mình như một điều tốt lành và đáng quý, vì thân xác ấy do chính Chúa tạo dựng và sẽ được Ngài cho sống lại trong ngày sau hết”( 241). Tuy nhiên, cũng chính vì có chiều hướng thân xác này, nhất là sau khi thân xác ấy bị tội lỗi gây thương tích, mà con người cảm nghiệm được những sự nổi loạn của thân xác và những xu hướng lệch lạc của tâm hồn mình; con người phải luôn luôn cẩn thận theo dõi chúng, kẻo mình bị nô lệ chúng và trở thành nạn nhân của một nhân sinh quan hoàn toàn trần tục. Thông qua sự linh thiêng của mình, con người vượt lên trên thế giới của những sự vật và đi vào nơi sâu thẳm nhất của thực tại. Khi bước vào lòng mình, nghĩa là khi suy nghĩ về định mệnh của mình, con người khám phá ra mình trổi vượt hơn thế giới vật chất vì mình có phẩm giá hết sức độc đáo là phẩm giá của một người được trò chuyện với Thiên Chúa, được quyết định về cuộc đời mình dưới con mắt của Thiên Chúa. Trong đời sống nội tâm, con người nhận ra mình có “một linh hồn bất tử và thiêng liêng”, con người không chỉ là “một mảnh vụn của thiên nhiên hay một thành phần vô danh trong đô thị loài người”( 242 ). 129. Bởi đó, con người có hai đặc điểm khác nhau: là hữu thể vật chất, có liên quan với thế giới này qua thân xác mình, và là hữu thể thiêng liêng, mở ra với siêu việt và có thể khám phá ra “những chân lý còn sâu xa hơn” nhờ trí khôn của mình, qua đó “con người chia sẻ ánh sáng của trí tuệ Thiên Chúa”( 243 ). Giáo Hội khẳng định: “Hồn và xác hợp nhất với nhau sâu xa đến nỗi phải coi hồn là ‘mô thức’ của xác, nghĩa là chính vì hồn thiêng liêng mà thân xác làm bằng vật chất mới trở thành một thân thể của con người sống động; tinh thần và vật chất nơi con người không phải là hai bản tính kết hợp với nhau, mà đúng hơn, nhờ sự kết hợp của chúng với nhau làm thành một bản tính duy nhất” (244 ). Cả chủ nghĩa duy tâm coi thường thực tại của thân xác, lẫn chủ nghĩa duy vật coi tinh thần chỉ là một biểu hiện của vật chất, đều không tôn trọng bản tính phức tạp, sự toàn vẹn và tính thống nhất của hữu thể con người. B. CON NGƯỜI MỞ RA CHO THẾ GIỚI SIÊU VIỆT VÀ TÍNH CÁCH ĐỘC NHẤT CỦA CON NGƯỜI a) Con người rộng mở mình ra cho thế giới siêu nhiên. 130. Mở ra với siêu việt là một đặc tính của con người: con người mở ra với Đấng vô biên cũng như với mọi thụ tạo. Trên hết, con người mở ra với Đấng vô biên, tức là Thiên Chúa, vì nhờ trí khôn và ý chí, con người có thể nâng mình lên trên mọi thụ tạo và cả chính mình; con người có thể độc lập với thụ tạo, tự do trong quan hệ với thụ tạo, vươn tới sự thật toàn diện và điều thiện tuyệt đối. Con người cũng mở ra với tha nhân, với mọi người nam nữ trong thế giới, vì chỉ khi hiểu mình trong tương quan với “ngôi thứ hai”, con người mới xưng mình được là “tôi”. Con người bước ra khỏi chính mình, khỏi việc chỉ lo bảo vệ cuộc sống của chính mình để bước vào một quan hệ đối thoại và hiệp thông với những người khác. Con người mở ra với sự hiện hữu sung mãn, với chân trời vô biên của hiện hữu. Nơi mình, con người có khả năng vượt lên trên những đối tượng cá biệt. Theo một nghĩa nào đó, linh hồn là tất cả mọi sự nhờ chiều hướng nhận thức của nó: “mọi sự vật phi vật chất đều mang tính vô biên một cách nào đó, bao lâu chúng bao trùm lấy mọi sự, hoặc vì đây là vấn đề thuộc về bản chất của thực tại thiêng liêng, mà nó vận hành như một khuôn mẫu và là sự tương đồng của hết mọi sự, như trường hợp của Thiên Chúa, hoặc vì linh hồn có sự tương đồng với mọi sự, một cách ‘hiện thể’ (in actu) như các thiên thần, hay ‘tiềm thể’ (in protentia) như các linh hồn” (245 ). b) Độc đáo và không thể tái tạo. 131. Con người hiện hữu như một hữu thể độc đáo và không thể sao chép, con người hiện hữu như một cái “tôi” có khả năng hiểu mình, làm chủ mình và tự quyết về mình. Con người là một hữu thể hiểu biết và có ý thức, có khả năng suy nghĩ về mình và bởi đó ý thức về mình và về hành vi của mình. Tuy nhiên, không phải trí khôn, ý thức và tự do xác định con người, mà đúng hơn chính con người là nền tảng cho những hành vi của trí khôn, ý thức và tự do. Những hành vi này có thể thiếu hay ngay cả không có, thì con người vẫn không ngừng là con người. Phải luôn hiểu con người trong sự độc đáo, không thể tái tạo được và không thể xâm phạm. Thật vậy, con người hiện hữu trước hết như một thực thể làm chủ thể, như một trung tâm của ý thức và tự do mà những kinh nghiệm sống của mỗi một người, không thể so sánh với kinh nghiệm của bất cứ ai. Điều này cũng nhấn mạnh đến việc không thể chấp nhận bất cứ toan tính nào muốn giản lược thân phận con người bằng cách ép con người đi vào trong các phạm trù đã được dự tính trước hay vào các hệ thống quyền lực đã có sẵn, dù có thuộc ý thức hệ hay không. Sự kiện này trước hết đòi hỏi mọi con người trên trái đất, nam cũng như nữ, không chỉ đơn giản là phải được người khác tôn trọng, nhất là đối với các cơ quan chính trị và xã hội, cũng như các nhà lãnh đạo các cơ quan ấy, mà hơn thế nữa, điều ấy còn có nghĩa là mối bận tâm trước hết của con người đối với người khác, đặc biệt là của các cơ quan nói trên, là phải làm sao để thăng tiến và phát triển toàn diện con người. c) Tôn trọng nhân phẩm con người. 132. Một xã hội công bằng chỉ trở thành hiện thực khi được xây dựng trên việc tôn trọng phẩm giá siêu việt của con người. Con người là mục tiêu tối hậu của xã hội, xã hội được tổ chức là nhắm phục vụ con người: “Thế nên, trật tự xã hội và sự phát triển của xã hội phải luôn luôn nhắm tới lợi ích của con người, vì trật tự sự vật phải lệ thuộc vào trật tự con người, chứ không theo cách ngược lại”( 246). Không thể tách rời việc tôn trọng phẩm giá con người với việc tuân thủ nguyên tắc trên. Cần phải “coi mọi người thân cận không trừ ai như cái tôi khác của mình, trong đó trước hết phải xét tới đời sống của họ và các phương tiện cần thiết để sống xứng với phẩm giá” (247 ). Mọi chương trình chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học và văn hoá đều phải được soi sáng từ ý thức về sự ưu việt của từng con người vượt trên cả xã hội (248 ). 133. Bởi đó, không bao giờ người ta được lèo lái con người vào những mục tiêu xa lạ với sự phát triển của con người, một sự phát triển chỉ có thể hoàn thành mỹ mãn trong Thiên Chúa và trong kế hoạch cứu độ của Ngài: thật vậy, trong nội tại của mình, con người vượt lên trên vũ trụ và là thụ tạo duy nhất được Thiên Chúa muốn có vì chính nó (249). Chính vì lý do đó, không được hạn chế một cách bất công đối với sự sống của con người, sự phát triển tư duy của con người, tiện ích của con người hay những người tham gia vào những hoạt động cá nhân và xã hội của con người khi họ xử dụng quyền hạn và tự do của mình. Không thể lấy con người làm phương tiện để thực hiện các dự án kinh tế, xã hội hay chính trị, những dự án do một chính quyền nào đó áp đặt, kể cả khi nhân danh một sự tiến bộ của một cộng đồng dân sự nói chung hay của những người khác, bất kể đó là sự tiến bộ trong hiện tại hay trong tương lai. Bởi đó, chính quyền cần cẩn thận theo dõi để những hạn chế đối với tự do hay một gánh nặng áp đặt trên một hoạt động nào đó của con người không bao giờ làm phương hại tới phẩm giá con người, có như thế mới bảo đảm cho các quyền của con người được thực thi cách hữu hiệu. Tất cả những điều này một lần nữa đều dựa trên quan điểm coi con người là một ngôi vị, tức là một chủ thể tích cực và có trách nhiệm về quá trình tăng trưởng của chính mình, cùng với cộng đồng mà mình là thành viên. 134. Những thay đổi đích thực của xã hội chỉ bền vững và hữu hiệu bao lâu chúng đặt nền tảng trên những thay đổi kiên quyết trong cách sống của con người. Người ta sẽ không bao giờ có thể làm cho đời sống xã hội được phù hợp với luân lý nếu không khởi sự từ con người và không lấy con người làm điểm tham khảo: thật vậy, “sống có luân lý là làm chứng cho phẩm giá của con người” (250). Rõ ràng nhiệm vụ của con người là phải phát triển các thái độ luân lý, là những thái độ căn bản đối với bất cứ xã hội nào thật sự muốn trở nên nhân bản (công bằng, liêm khiết, trung thực…), đó cũng là những thái độ mà đơn giản là không thể cứ chờ đợi nơi người khác hay cứ uỷ thác cho các cơ quan. Nhiệm vụ của hết mọi người, đặc biệt là của những người đang nắm giữ các trách nhiệm về chính trị, tư pháp hay chuyên môn, là phải trở thành người đánh thức lương tâm xã hội và là người đầu tiên minh chứng cho người khác thấy các điều kiện xã hội dân sự thì xứng đáng với con người. C. TỰ DO CỦA CON NGƯỜI a) Giá trị và giới hạn của tự do 135. Con người chỉ có thể hướng đến điều tốt trong tự do, đó là ơn mà Chúa đã ban cho con người như một trong những dấu hiệu cao quý nhất cho biết con người giống Thiên Chúa (251). “Vì Thiên Chúa muốn con người cứ sống ‘dưới sự kiểm soát theo những quyết định của chính con người’ (Hc 15,14) để con người có thể tìm kiếm Đấng Tạo Hoá một cách tự nhiên và tự do khám phá ra sự hoàn thiện tuyệt vời nhờ trung thành với Ngài. Thế nên, chính phẩm giá con người buộc con người phải hành động phù hợp với sự lựa chọn có hiểu biết và tự do, nghĩa là được thúc đẩy và hướng dẫn một cách rất riêng tư từ bên trong, chứ không do sự thôi thúc của bản năng mù quáng hay bởi áp lực hoàn toàn bên ngoài” (252 ). Con người có lý khi trân trọng tự do và say mê theo đuổi nó: cũng có lý khi ao ước và khi phải tổ chức cũng như hướng dẫn đời sống cá nhân và xã hội của mình theo sáng kiến riêng, đồng thời dám chịu trách nhiệm về việc đó (253). Thật vậy, tự do không những giúp con người sửa chữa tình trạng của sự việc bên ngoài mình thế nào cho đúng, mà còn quyết định sự phát triển của con người thông qua những lựa chọn phù hợp với điều tốt thật sự (254 ). Có như thế, con người mới sinh ra mình, mới là cha của chính mình (255), mới xây dựng trật tự xã hội được (256). 136. Tự do không phải là một điều gì ngược với sự lệ thuộc vào Thiên Chúa của con người, trong tư cách là một thụ tạo (257). Mạc khải dạy rằng quyền quyết định điều tốt hay xấu không thuộc về con người, mà chỉ thuộc về Thiên Chúa (x. St 2,16-17). “Con người chắc chắn có tự do bao lâu con người hiểu biết và chấp nhận giới răn của Chúa. Con người cũng có một sự tự do hết sức rộng lớn vì con người được phép ăn ‘bất cứ cây nào trong vườn’. Nhưng tự do của con người không phải là tự do vô hạn: nó phải dừng lại trước ‘cây biết lành biết dữ’, vì con người được mời gọi để biết chấp nhận luật luân lý do Thiên Chúa ban ra. Thật vậy, sự tự do của con người chỉ được thực hiện trọn vẹn và đầy đủ thật sự khi con người biết chấp nhận luật đó” (258 ). 137. Muốn thực hành đúng đắn sự tự do cá nhân, con người cần có những điều kiện đặc biệt liên quan đến trật tự kinh tế, xã hội, pháp lý, chính trị và văn hoá, là những điều kiện rất “hay bị coi thường hoặc vi phạm. Những tình trạng mù quáng và bất công như thế sẽ làm hại tới trật tự luân lý, lôi kéo cả người mạnh lẫn kẻ yếu vào vòng cám dỗ phạm tội chống lại đức bác ái. Khi đi trệch khỏi luật luân lý, con người làm hại chính sự tự do của mình, trở thành tù nhân của chính mình, phá hỏng tình thân hữu với tha nhân và chống lại sự thật của Thiên Chúa” (259). Việc loại trừ bất công làm thăng tiến tự do và phẩm giá con người: Tuy nhiên, “điều trước tiên cần làm là vận dụng các khả năng tinh thần và luân lý của cá nhân, cũng như nhắc nhở nhu cầu thường xuyên của con người là phải hoán cải nội tâm, nếu muốn thực hiện những sự thay đổi kinh tế và xã hội thực sự phục vụ con người” (260 ). b) Tự do liên kết với chân lý và luật tự nhiên 138. Khi thực hành tự do, con người thực hiện những hành vi tốt về mặt luân lý, có giá trị xây dựng con người và xã hội, nếu con người biết tuân theo sự thật, nghĩa là không tự coi mình là tạo hoá và là chủ nhân tuyệt đối của sự thật hay các chuẩn mực đạo đức (261). Thật vậy, tự do không “lấy mình làm nguồn gốc tuyệt đối và vô điều kiện…, nhưng nguồn gốc của nó là cuộc sống trong đó tự do được định vị và thể hiện để cùng lúc vừa là giới hạn vừa là khả năng cho tự do hoạt động. Chúng ta có tự do của con người trong tư cách là các thụ tạo; đó là tự do được ban cho như một quà tặng, con người đón nhận tự do như nhận một hạt giống mà mình có bổn phận phải gieo trồng với tinh thần trách nhiệm”(262). Còn nếu ngược lại thì tự do sẽ chết, đồng thời huỷ hoại con người và xã hội (263). 139. Sự thật liên quan đến điều tốt và điều xấu được nhìn nhận một cách thực tiễn và cụ thể dựa vào phán đoán của lương tâm, sự thật này đưa con người tới chỗ sẵn sàng chịu trách nhiệm về điều tốt đã làm và điều xấu đã phạm. “Bởi đó, khi lương tâm đưa ra lời phán đoán thực tiễn, buộc con người phải thực hiện một hành vi đã quy định, người ta thấy giữa tự do và sự thật rõ ràng có tương quan với nhau. Chính vì lý do này mà lương tâm biểu lộ mình khi đưa ra những lời “phán đoán”, phản ánh sự thật về điều hay lẽ phải, chứ không phải khi có những “quyết định” võ đoán. Sự chín chắn và trách nhiệm của những phán đoán ấy - do một cá nhân là chủ thể đã nói ra hay đã thực hiện - không được đánh giá bởi việc lương tâm có được tự do đối với sự thật khách quan hay không, dù chủ thể được cho là tự mình quyết định, mà tuỳ thuộc vào việc con người có kiên trì tìm kiếm sự thật và có để cho sự thật đó hướng dẫn mình khi hành động hay không”(264 ). 140. Khi hành xử tự do là chúng ta gián tiếp liên hệ đến một luật luân lý tự nhiên, có tính phổ quát, đi trước và liên kết hết mọi quyền lợi và nghĩa vụ của con người (265 ). Luật tự nhiên “không gì khác hơn là chính ánh sáng của trí khôn được Thiên Chúa phú bẩm trong chúng ta. Nhờ đó, chúng ta biết phải làm gì và phải tránh gì. Thiên Chúa đã ban ánh sáng hay luật này cho thụ tạo”(266 ). Luật này tham dự vào luật vĩnh viễn của Thiên Chúa, được đồng hoá với chính Thiên Chúa (267). Luật này được gọi là luật “tự nhiên” vì lý trí ban bố luật này là lý trí của bản tính con người. Nó phổ quát và liên hệ với hết mọi người bao lâu nó được thiết lập bởi lý trí. Những mệnh lệnh chính của luật này, cũng là luật Thiên Chúa và luật tự nhiên, được trình bày trong Mười Điều Răn, cho biết những chuẩn mực tiên quyết và thiết yếu điều khiển đời sống luân lý(268). Tiêu điểm của đời sống luân lý chính là hành vi hướng lên Thiên Chúa và phục tùng Thiên Chúa, là nguồn phát sinh và là Đấng phân xử tất cả những gì là tốt, đồng thời là hành vi nhìn nhận mọi người đều bình đẳng với mình. Luật tự nhiên phản ánh phẩm giá con người và đặt nền tảng cho các nghĩa vụ căn bản của con người (269). 141. Trong tình trạng có nhiều nền văn hoá khác nhau như hiện nay, luật tự nhiên chính là điểm liên kết mọi dân tộc, thống nhất các nguyên tắc chung. Dù khi áp dụng các luật ấy chúng ta cần phải thích nghi cho phù hợp với các điều kiện sống khác nhau theo nơi chốn, thời gian và hoàn cảnh (270), nhưng luật tự nhiên vẫn bất biến “dưới làn sóng các tư tưởng và phong tục tập quán khác nhau, đồng thời hỗ trợ sự tiến triển của các tư tưởng và phong tục tập quán ấy… Ngay cả khi người ta chối bỏ các nguyên tắc của luật tự nhiên, luật tự nhiên vẫn không thể bị tiêu diệt hay bị khai trừ khỏi tâm hồn con người. Nó luôn luôn tái hiện trong đời sống các cá nhân và xã hội”( 271). Tuy nhiên, các mệnh lệnh của luật tự nhiên không được mọi người nhận thức rõ ràng và ngay từ đầu. Các sự thật tôn giáo và luân lý chỉ có thể được nhận thức “bởi mọi người một cách dễ dàng, chắc chắn và không trộn lẫn với sai lầm” (272) là nhờ sự trợ giúp của ơn Chúa và Mạc khải. Luật tự nhiên là nền tảng mà Chúa dọn sẵn để chúng ta tiếp nhận luật mạc khải và ân sủng, trong việc phối hợp hài hoà với hoạt động của Thánh Thần (273 ). 142. Luật tự nhiên, cũng là luật Chúa, không thể bị huỷ bỏ bởi tội con người ( 274). Luật tự nhiên là nền tảng luân lý thiết yếu để con người xây dựng cộng đồng nhân loại và thiết lập dân luật, tức là những kết luận có tính cụ thể và phụ thuộc rút ra từ những nguyên tắc của luật tự nhiên (275). Nếu nhận thức của con người về tính phổ quát của luật luân lý trở nên mù mờ thì người ta không thể nào xây dựng sự hiệp thông bền bỉ và chân chính với người khác, vì lúc đó không có sự tương ứng giữa sự thật và điều tốt, “dù có tội hay không, hành vi của chúng ta cũng làm tổn thương sự hiệp thông giữa người với người, và làm hại mỗi người” (276). Thật vậy, chỉ khi nào ăn rễ sâu vào bản tính chung, sự tự do mới làm con người trở nên có tinh thần trách nhiệm và mới giúp con người biện minh được đời sống luân lý công khai của mình. Ai tự (cũng như ý thức hệ nào ) xưng là chuẩn mực duy nhất để đo lường các thực tại và sự thật, kẻ đó không thể sống bình an trong xã hội với đồng loại và không thể nào hợp tác với họ (277). 143. Sự tự do có hướng chiều một cách bí ẩn ngược lại thái độ cởi mở trước sự thật và điều tốt của con người, và thường chuộng điều xấu hơn, thích khép kín cách ích kỷ, muốn nâng mình cao ngang tầm thần thánh, để tự tạo ra điều tốt và điều xấu: “Dù được dựng nên bởi Thiên Chúa trong tình trạng thánh thiện, nhưng ngay từ đầu lịch sử, con người đã lạm dụng tự do của mình, với sự khiêu khích thúc giục của thần dữ. Con người tự đặt mình chống lại Thiên Chúa và tìm cách đạt được mục đích đời mình bên ngoài Thiên Chúa… Thường xuyên từ chối nhìn nhận Thiên Chúa là căn nguyên của mình, con người cũng cắt đứt quan hệ với mục tiêu tối hậu của mình, cũng như với chính mình, với người khác, và với các thụ tạo” (278). Bởi đó, cần phải giải phóng sự tự do của con người. Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Kitô đã giải thoát con người khỏi sự tự ái lệch lạc (279), là nguồn khiến con người khinh bỉ người khác và làm cho mọi mối quan hệ của con người mang sắc thái thống trị người khác. Đức Kitô cho chúng ta thấy sự tự do chỉ trở nên trọn vẹn khi biết hiến dâng bản thân mình (280). Nhờ biết hy sinh trên thánh giá, Đức Giêsu đã đưa con người trở về hiệp thông lại với Thiên Chúa và tha nhân. D. BÌNH ĐẲNG TRÊN PHẨM GIÁ CỦA MỌI NGƯỜI 144. “Thiên Chúa tỏ ra không thiên vị ai” (Cv 10,34; x. Rm 2,11; Gl 2,6; Ep 6,9), vì mọi người đều có cùng phẩm giá của những thụ tạo được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa (281). Việc Nhập thể của Con Thiên Chúa cho thấy mọi người đều bình đẳng về phẩm giá: “Không có Do Thái hay Hy Lạp, không có nô lệ hay tự do, không có nam hay nữ, vì tất cả anh em đều là một trong Đức Kitô Giêsu” (Gl 3,28; x. Rm 10,12; 1 Cr 12,13; Cl 3,11). Vì vinh quang của Thiên Chúa đã sáng lên phần nào trên khuôn mặt của mỗi người, nên phẩm giá của mỗi người trước mặt Chúa chính là nền tảng đem lại phẩm giá của con người trước mặt người khác(282). Ngoài ra, đó cũng là nền tảng cuối cùng đưa tới sự bình đẳng và tình huynh đệ căn bản giữa mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia, giới tính, nguồn gốc, văn hoá hay giai cấp. 145. Chỉ khi nào nhìn nhận phẩm giá con người, cá nhân mới có thể phát triển riêng cho mình và chung với người khác (x. Gc 2,1-9). Để thúc đẩy sự phát triển này, cần đặc biệt giúp đỡ những người yếu kém nhất, bảo đảm cho cả nam lẫn nữ có những điều kiện phát triển đồng đều, cũng như sự bình đẳng khách quan giữa các giai cấp xã hội khác nhau trước luật pháp (283 ). Trong các mối quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia, những điều kiện tiên quyết là các dân tộc và quốc gia phải được bình đẳng và coi trọng như nhau thì cộng đồng quốc tế mới phát triển đích thực (284). Về phương diện này, dù có tiến hành thế nào cũng không được quên rằng hiện nay vẫn còn nhiều điều bất bình đẳng và nhiều hình thức lệ thuộc nhau (285 ). Bên cạnh việc nhìn nhận cách đồng đều phẩm giá của mỗi người và mỗi dân tộc, cũng cần phải nhận thức rằng người ta chỉ có thể bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người nếu việc ấy được thực hiện bởi cả cộng đồng và bởi toàn thể nhân loại. Chỉ khi hành động qua lại giữa các cá nhân và giữa các dân tộc, thật sự nhắm tới ích lợi của hết mọi người, thì tình huynh đệ đại đồng đích thực mới có được (286); bằng không tất cả chúng ta sẽ nghèo nàn hơn do các điều kiện bất bình đẳng nghiêm trọng vẫn còn. 146. Dù phái “nam” và phái “nữ” là sự phân biệt hai cá thể có cùng phẩm giá, nhưng đó không phải là sự bình đẳng tĩnh, vì sự cá biệt của nữ giới khác với sự cá biệt của nam giới, sự khác biệt trong bình đẳng như thế sẽ làm phong phú và rất cần để giúp cuộc sống xã hội được hài hoà: “Tạo điều kiện để phụ nữ có mặt cách hợp lý trong Giáo Hội và xã hội chính là một sự quan tâm thấu đáo và sâu sắc hơn về nền tảng nhân học làm nên nam tính và nữ tính trong con người, hầu minh định bản sắc riêng của người phụ nữ trong tương quan với nam giới, tức là khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, không những trong các vai trò phải nắm giữ và chức năng phải thi hành, mà sâu xa hơn, cả trong cơ cấu và ý nghĩa làm cho người phụ nữ trở nên đúng là một ngôi vị” (287). 147. Người nữ là phần bổ sung cho người nam, cũng như người nam là phần bổ sung cho người nữ: người nam và người nữ bổ túc cho nhau, không chỉ về mặt thể lý và tâm lý, mà cả về mặt hữu thể. Chính vì tính cách có hai mặt “nam” và “nữ” mà hữu thể con người mới trở thành một thực tại đầy đủ. Con người là “thể thống nhất gồm hai mặt” (288), hay nói cách khác, là mối quan hệ “hai trong một”, nhờ đó mỗi người có thể trải nghiệm mối quan hệ liên vị và hỗ tương, vừa như một quà tặng vừa như một sứ mạng: “Thiên Chúa đã giao cho ‘thể thống nhất gồm hai mặt’ này không những việc sinh sản và đời sống gia đình, mà còn cả việc kiến tạo lịch sử” (289 ). “Người nữ là ‘trợ tá’ cho người nam, cũng như người nam là ‘trợ tá’ cho người nữ!” (290): khi người nam và người nữ gặp nhau, thì nhận thức thống nhất của con người được hình thành, không dựa trên hình thức luận lý tập trung vào mình và khẳng định mình, mà là dựa trên hình thức luận lý yêu thương và liên đới. 148. Những người thiếu khả năng vẫn là những chủ thể con người trọn vẹn, với những quyền lợi và nghĩa vụ: “Dù có những giới hạn và đau khổ tác động lên thân thể và các khả năng của mình, họ vẫn cho thấy mình có đầy đủ phẩm giá và sự cao cả của con người” (291). Vì người khuyết tật vẫn là những chủ thể có đầy đủ quyền, nên cần phải giúp họ tham gia vào đời sống gia đình và xã hội một cách đầy đủ về mọi chiều hướng ở bất cứ cấp độ nào họ có thể tham gia và tuỳ theo khả năng của họ. Cần phải đẩy mạnh các quyền lợi của những người khuyết tật bằng những biện pháp hữu hiệu và thích đáng: “Thật không xứng đáng chút nào với con người, thậm chí còn phủ nhận đặc tính chung của con người, khi chỉ nhận những người có đầy đủ chức năng vào sinh hoạt cộng đồng và ngành nghề. Làm như thế là kỳ thị một cách nghiêm trọng, phân biệt người mạnh khoẻ với người đau yếu” (292). Cần phải chú ý nhiều không những tới các điều kiện thể lý và tâm lý trong lao động, tới việc trả lương công bằng, tới khả năng thăng tiến và việc loại bỏ các trở ngại, mà còn cần chú ý tới những khía cạnh tình cảm và giới tính của những người khuyết tật: “Họ cũng cần yêu và được yêu, cần sự dịu dàng, gần gũi và thân mật” (293 ), tuỳ theo khả năng của họ, đồng thời vẫn tôn trọng trật tự luân lý, là trật tự chung cho cả người lành lặn lẫn người khuyết tật. E. BẢN TÍNH XÃ HỘI CỦA CON NGƯỜI. 149. Tự bản chất, con người là một hữu thể xã hội (294 ) vì Thiên Chúa – Đấng tạo dựng con người – muốn như thế (295 ). Thật vậy, bản tính con người biểu lộ ra như bản tính của một hữu thể tìm cách đáp ứng các nhu cầu của mình. Việc biểu lộ này dựa vào chủ thể tính có tương quan, nghĩa là theo cách của một hữu thể tự do có trách nhiệm, vừa nhìn nhận nhu cầu phải tham gia cộng tác với các hữu thể khác, vừa có khả năng hiệp thông với họ cả trong hiểu biết lẫn yêu thương. “Một xã hội là một tập thể gồm những con người sống liên kết với nhau một cách sống động do có chung một nguyên lý thống nhất, vượt lên trên mỗi người. Là một tập hợp vừa hữu hình, vừa thiêng liêng, xã hội tồn tại qua thời gian: vừa thu thập quá khứ vừa chuẩn bị tương lai” (296 ). Bởi đó, cần phải nhấn mạnh rằng đời sống cộng đồng là một đặc điểm tự nhiên phân biệt con người với các thụ tạo khác trên trần gian. Chính hoạt động xã hội mang trong mình một dấu hiệu đặc biệt về con người và nhân loại, đó là con người luôn làm việc trong một cộng đồng gồm nhiều người: đây chính là dấu hiệu xác định các đặc điểm bên trong của con người, và theo một nghĩa nào đó, đây chính là cái làm nên bản tính của con người (297). Nhìn trong ánh sáng đức tin, đặc điểm đó còn có một ý nghĩa sâu xa và bền vững hơn. Được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa (x. St 1,26), và được dựng nên hữu hình trong vũ trụ để có thể sống thành xã hội (x. St 2,20.23), đồng thời để làm chủ trái đất (x. St 1,26.28-30), con người được mời gọi ngay từ đầu hướng đến đời sống trong xã hội: “Thiên Chúa không tạo dựng con người như một ‘hữu thể cô độc’, nhưng Ngài muốn tạo con người thành một ‘hữu thể xã hội’. Bởi đó, đời sống xã hội không phải là cái gì nằm ngoài con người: con người chỉ có thể tăng trưởng và thực hiện ơn gọi của mình trong tương quan với người khác”(298). 150. Bản tính xã hội của con người không tự động đưa họ tới chỗ hiệp thông với nhau, dâng hiến bản thân cho nhau. Vì tự phụ và ích kỷ, con người khám phá nơi bản thân mình có nhiều mầm mống thích cư xử phi xã hội, thúc giục họ tới chỗ tự giam mình trong cá tính riêng của mình và tìm cách thống trị người khác (299 ). Xã hội nào muốn xứng với tên gọi của mình đều phải tin chắc rằng mình sẽ là xã hội đích thực khi tất cả mọi thành phần trong xã hội có thể theo đuổi điều tốt cho mình và cho người khác, nhờ nhận biết đâu là điều tốt. Chính vì yêu quý điều có ích cho mình và cho người khác mà người ta quy tụ thành những tập thể bền vững nhằm tìm kiếm ích lợi chung. Các xã hội loài người khác nhau cũng phải tạo ra nơi mình những quan hệ liên đới, liên lạc và cộng tác với nhau để phục vụ con người và công ích300. 151. Bản tính xã hội của con người không chỉ có một hình một dạng, nhưng được bộc lộ ra bằng nhiều cách. Thật vậy, công ích có được là tuỳ ở chỗ sự đa nguyên về xã hội có lành mạnh hay không. Mọi thành phần khác nhau của xã hội đều được mời gọi xây dựng một tập thể thống nhất và hoà hợp, trong đó mỗi thành phần đều có thể duy trì và phát triển những đặc tính riêng và sự tự trị của mình. Một số thành phần – như gia đình, cộng đồng dân sự và cộng đồng tôn giáo – đáp ứng trực tiếp hơn bản tính sâu xa của con người, nhưng cũng có những thành phần khác xuất hiện dựa trên căn bản tự nguyện nhiều hơn. “Để đẩy mạnh sự tham gia càng nhiều người càng tốt vào đời sống xã hội, cần khuyến khích thành lập các hiệp hội và các tổ chức tự nguyện ‘trên cấp quốc gia và quốc tế, có liên quan tới các mục tiêu kinh tế và xã hội, các hoạt động văn hoá và giải trí, thể thao, chính trị và các ngành nghề khác’. Việc xã hội hoá này cũng cho thấy khuynh hướng tự nhiên của con người, là nhằm thực hiện các mục tiêu mà các cá nhân tự mình không làm được. Điều này sẽ giúp phát triển các đức tính của con người, nhất là khả năng sáng tạo và ý thức trách nhiệm, đồng thời giúp bảo đảm các quyền lợi của con người” (301). IV. CÁC QUYỀN CỦA CON NGƯỜI. a) Giá trị của nhân quyền 152. Phong trào tiến tới chỗ xác định và công bố các quyền của con người là một trong những cố gắng quan trọng nhất nhằm đáp ứng cách hữu hiệu những đòi hỏi tất yếu của phẩm giá con người (302). Giáo Hội coi các quyền này là cơ hội hết sức đặc biệt mà thời đại hôm nay đem lại, để phẩm giá con người được nhìn nhận cách hiệu quả hơn và phát huy khắp nơi như một đặc điểm được Thiên Chúa Tạo Hoá khắc ghi nơi các thụ tạo (303). Huấn Quyền Giáo Hội không ngừng ghi nhận giá trị tích cực của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc chấp nhận ngày 10-12-1948, và được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II coi như “một cột mốc thực sự trên con đường tiến bộ đạo đức của nhân loại”304. 153. Thật ra, nguồn gốc của các quyền con người nằm ngay trong chính phẩm giá của mỗi một con người (305). Phẩm giá này, tồn tại bên trong đời sống con người và bằng nhau trong mỗi một người, đã được nhận thức và lĩnh hội trước tiên là nhờ lý trí. Nền tảng tự nhiên của các quyền này càng trở nên vững chắc hơn khi, nhờ ánh sáng siêu nhiên, người ta nhìn nhận rằng phẩm giá của con người, sau khi được Chúa trao ban và bị thương tổn sâu xa bởi tội, đã được Đức Giêsu Kitô đón nhận và cứu chuộc qua sự nhập thể, qua cái chết và sự sống lại của Người (306 ). Nguồn gốc sau cùng của các quyền con người không phải ở trong ý muốn thuần tuý của con người (307), trong thực thể quốc gia hay chính quyền, nhưng là ở trong chính con người và trong chính Thiên Chúa Tạo Hoá. - Những quyền này mang những đặc tính “phổ quát, bất khả xâm phạm, bất khả nhượng” (308). Phổ quát, vì chúng hiện diện nơi hết mọi người, bất kể thời gian, địa điểm hay chủ thể. - Bất khả xâm phạm, bao lâu “chúng tồn tại trong con người và trong phẩm giá con người” (309) và vì “thật vô ích khi công bố các quyền mà đồng thời không làm gì để bảo đảm cho chúng được tôn trọng bởi mọi người, mọi nơi và vì mọi người” (310). - Bất khả nhượng, bao lâu “không ai có thể tước đoạt những quyền ấy khỏi người khác một cách chính đáng, bất kể người đó là ai, vì làm như thế là xâm phạm tới bản tính của chính họ” (311). 154. Phải bảo vệ các quyền con người không chỉ một cách riêng lẻ mà còn như một tổng thể bảo vệ chỉ một phần các quyền này thôi sẽ là gián tiếp không nhìn nhận chúng. Các quyền ấy tương ứng với những đòi hỏi của phẩm giá con người, và trên hết, chúng gián tiếp thoả mãn các nhu cầu căn bản của con người trong lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần. “Những quyền này đáp ứng cho mỗi giai đoạn của đời sống và cho mỗi tình huống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá. Gộp chung lại, chúng làm thành một tổng hợp thống nhất, rõ ràng là nhằm phát huy ích lợi của cả cá nhân lẫn xã hội về mọi mặt… Phát huy đầy đủ mỗi loại nhân quyền là cách bảo đảm cho mỗi một quyền được tôn trọng trọn vẹn”(312). Phổ quát và không thể phân chia là những đặc tính riêng của các quyền con người: đó là “hai nguyên tắc vừa mang tính hướng dẫn vừa đòi hỏi các quyền ấy phải được ăn sâu vào mỗi nền văn hoá, các quyền ấy phải có chỗ đứng ngày càng vững vàng hơn trong pháp chế, có thế chúng mới bảo đảm được tuân thủ trọn vẹn” (313). b) Xác định các quyền trong những trường hợp cá biệt. 155. Giáo huấn của Chân phúc Giáo hoàng Gioan XXIII314, của Công đồng Vatican II315, và của Đức Giáo hoàng Phaolô VI316 đã cống hiến cho chúng ta vô số chỉ dẫn để hiểu khái niệm nhân quyền như Huấn Quyền đã hiểu. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II còn lập một danh sách các quyền ấy trong Thông điệp Centesimus Annus: “quyền được sống, một phần không thể thiếu trong quyền ấy là quyền của đứa trẻ được lớn lên trong bụng mẹ ngay từ khi thụ thai; quyền được sống trong một gia đình hợp nhất và trong một môi trường luân lý giúp phát triển nhân cách của đứa trẻ; quyền được phát huy trí thông minh, được tự do tìm kiếm và hiểu biết sự thật; quyền được chia sẻ công ăn việc làm để sử dụng các nguồn lực vật chất của trái đất cách khôn ngoan, và quyền được lấy từ việc lao động những phương thế để trợ giúp bản thân và những người lệ thuộc vào mình; và quyền được tự do lập gia đình, quyền có con và dạy dỗ con qua việc thực hiện hành vi tính dục một cách có trách nhiệm. Theo một nghĩa nào đó, nguồn gốc và tổng hợp các quyền này chính là quyền tự do tôn giáo, được hiểu như quyền được sống theo sự thật của đức tin và phù hợp với phẩm giá siêu việt của một con người” (317). - Quyền đầu tiên được nêu ra trong danh sách này là quyền được sống, từ khi thụ thai cho tới khi chết một cách tự nhiên (318), cũng là điều kiện để có thể thi hành tất cả các quyền khác, và đặc biệt, gián tiếp coi mọi hình thức phá thai và làm chết êm ái là bất hợp pháp(319). - Giáo Hội cũng nhấn mạnh tới giá trị cao cả của quyền tự do tôn giáo: “mọi người phải được miễn không bị một sự cưỡng ép nào từ phía cá nhân hay tập thể xã hội hoặc bất cứ quyền bính nhân loại nào, để không ai bị ép buộc hành động ngược với niềm tin của mình, một cách riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với những người khác, trong giới hạn thích đáng” (320). Tôn trọng quyền này là dấu chỉ cho biết “con người đã tiến bộ thật sự trong bất cứ chính thể, xã hội, hệ thống hay môi trường nào”321.

 

Trong Đức Tin công giáo, chính trị có mục đích gì ? Chính trị được hiểu như là động tác đa diện và khác nhau về phương diện kinh tế - xã hội - luật pháp - quản trị - văn hoá. Bởi đó, chính trị * đối với bản thân con người và xã hội dân sự là động tác bảo vệ và thăng tiến các quyền căn bản bất khả nhượng của con người, phẩm giá và trạng thái bình đẳng của tất cả mọi người dân; - hành xử các phận vụ của mình như là phương tiện để phục vụ cho con người và phục vụ xã hội; - phát động tăng trưởng các giá trị can bản và dùng các đức tính tự nhiên, như người thời cỗ Hy Lạp đã diễn tà, đó là bốn đức tín cột trụ: khôn ngoan, công bằng, có nghị lực và có chừng mực. * đối với quyền lực công cộng - dùng những phương tiện ngay chính, lương thiện để đạt được, giữ vững và tăng cường thêm quyền lực; - hành xử không thiên vị và theo phương thức dân chủ quyền lực được người dân ủy thác cho; - dành mọi dễ dàng cho truyền thông tin tức và cho sự tham dự của người dân theo phương thức dân chủ, trong khi vẫn tôn trọng nguyên tắc liên đới hỗ tương, nhứt là đối với các thành phần yếu thế, thiểu số, nghèo khổ; - thực thi nguyên tắc điều hành trong sáng trong lãnh vực nhân sự thuộc hệ và quản trị công cộng, với cách chi tiêu thành thực công qủy; - bảo vệ theo phương thức chính đáng các quyền của các thành phần đối lập. * đối với cộng đồng nhân loại, chính trị - phát huy tình liên đới hỗ tương, lợi ích và nền hoà bình cho mọi dân tộc; - sắp xếp lại một cách tốt đẹp các mối tương phản đối nghịch bằng thảo luận; - thiết định và tăng cường giữ vững trật tự quốc tế; - tôn trọng các nguyên tắc tinh thần chủ trương một định chế luật pháp hoà hợp với trật tự luân lý; - thực hiện công ích. Công ích có những nhu cầu nào ? * Công ích - " được thể hiện trên thực tế bằng toàn bộ các điều kiện của đời sống xã hội cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho phéo con người, cho gia đình, và cho các cộng đồng, hiệp hội đạt tới hoàn hảo riêng một cách đầy đủ, mau chóng và dễ dàng hơn " ( GS, 26). - " bởi vì là của mọi người và của từng cá nhân và cũng vẫn là của chung của tất cả, công ích không thể phân chia được và bởi vì chỉ khi nào là mọi người cùng chung nhau mới đạt đến được, làm cho phát triển thêm lên được và gìn giữ bảo tồn được, ngay cả hướng về tương lai " ( GS 64). - " Công ích là những gì ích lợi chung cho tất cả mọi người và cho từng cá nhân một " ( Christifideles laici, 42 ) . - Bởi đó " công ích đòi buộc mọi người đều có thể đạt đến được tất cả những gì cần thiết để có được một cuộc sống người thực sự cho ra người " ( GS, 26); - Công ích bởi đó có liên quan đến quan niệm trọn vẹn về con người và về sự phát triển của mình, phù hợp với tất cả những gì phong phú đươn kết nhau. - Và cũng bởi đó, công ích đòi buộc sự chuyên cần của tất cả và của từng cá nhân, mặc dầu mức độ khác nhau tùy theo mỗi người và bỗ trợ nhau bằng mọi hình thức, bổn phận và trách nhiệm khác nhau. - Công ích đòi buộc tinh thần và động tác " tìm kiếm lợi ích cho tất cả và cho mỗi người, bởi vì t16 cả thực sự đều có trách nhiệm " ( Sollecitudo rei socialis, 38). - Lợi ích của mỗi cá nhân không thể thực hiện được tách rời khỏi công ích của các cộng đồng, mà mình thuộc hệ, kể cả phương diện kinh tế, mặc dầu công ích không phải chỉ thuộc lãnh vực kinh tế. - Công ích là những gì đươn kết có trật tự dưới ba phương diện không thể xao lãng được, đó là phương diện kinh tế, xã hội và phẩm giá con người. Khi nào xã hội đích thực là một xã hội dân chủ, theo quan niệm Kitô giáo ? Đó là khi nào một Quốc Gia được xây dựng dựa trên luật pháp, tức là nơi đó luật pháp chiếm địa vị tối thượng, chớ không phải dựa trên ý muốn tùy hỷ của giới cầm quyền. Một Quốc Gia như vậy đòi buộc phải có - bầu cử tự do và phổ thông; - quan niệm đúng đắn về phẩm giá con người và về phương thức bảo chứng các quyền của con người; - nhãn quang chính đáng và thực thi thể hiện công ích, như là mục đích và tiêu chuẩn để thiết định đường lối chính trị; - sự tham gia phổ quát và đồng trách nhiệm, ở nhiều mức độ và trách nhiệm khác nhau; - tôn trọng đường lối chính trị, văn hoá, kinh tế, tôn giáo của chính mình và của người khác, Trong một xã hội dân chủ, chủ thể của quyền lực chính trị là dân chúng, trong tổng thể của mình là những chủ thể chủ nhân quyền tối thượng của Quốc Gia. Cộng đồng chính trị được thiết lập là nhằm để phục vụ xã hội dân sự và nói cho cùng là để phục vụ các cá nhân và đoàn thể, thành phần của xã hội đó. Bởi đó quyền lực chính trị có phận sự bảo đảm cho cuộc sống có trật tự và chính đáng , - bằng cách phát huy công ích; - tôn trọng nguyên tắc phụ túc bảo trợ, tức là quyền lực chính trị không được thay thế các động tác tự do của cá nhân hay tổ chức, hiệp hội, đảng phái, mà đúng hơn là thiết định lề luật thành đường lối cho các hoạt động của họ và trợ giúp họ ( phương tiện cũng như nhân sự ) khi cần thiết, trong khi vẫn để cho họ tự do hoạt động với sáng kiến và năng sức của họ; - quyền lực Quốc Gia phải theo đường lối hướng dẫn của trật tự luân lý " trật tự đó có nền tảng ở nơi Thiên Chúa, Đấng khởi thủy và cùng đích " ( DTC Gioan XXIII, Pacem in terris, 270). Đó chính là trật tự mà quyền lực chính trị phải có ý thức và tuân theo, đó là đức tính và lề luật danh chính ngôn thuận bắt buộc của chính trị, chớ không phải theo tư tưởng riêng tư tùy hỷ hay ý muốn của quyền lực, - nhận biết, tôn trọng và phát huy các giá trị nhân bản và luân lý là những gì thiết yếu của kẻ hành xử chính trị phải có; - Bởi đó, chinh trị phải soạn thảo và chuẩn ý các đạo luật chính đáng, tức là thích hợp với phẩm giá con người và với những gì luân lý huấn dạy cho lý trí; -hiều như vậy, người dân theo lương tâm mình, không bị bắt bưộc phải thuân theo các mệnh lệnh của quyền lực dân sự, nếu những mệnh lệnh đó đi ngược lại trật tự luân lý, ngược lại các quyền căn bản của con người hay ngược lại những điều huấn dạy của Phúc Âm; - Bổn phận của quyền lực chính trị là sắp xếp các hình phạt tương xứng với các trọng lượng của tội trạng và hình phạt phải có mục đích để sữa đổi lại những gì hỗn loạn do tội trạng gây ra, bảo đảm trật tự công cộng và phạt không phải để trả thù, phục hận, mà nhằm cải hóa tôi nhân về phương diện cá nhân cũng như xã hội.

 

5 - Ơn gọi các tín hữu nên thánh. Giáo Hôi mầu nhiệm làm cho chúng ta hiểu đươc cùng đích tối thượng mà mỗi tín hữu đều nhằm tới, mỗi người chiu Phép Rửa, trở nên thành phần của Giáo Hội: mọi tín hữu đều được tiền định trở nên thánh: - " Bởi vì Giáo Hội trong Chúa Kitô là Giáo Hội mầu nhiệm, bởi đó cần phải nhận biết Giáo Hội là dấu chỉ và dụng cụ của sự thánh thiên ( ...). Các thánh nam nữ luôn luôn là nguồn mạch và cội rễ của mọi việc canh tân trong các hoàn cảnh khó khăn nhứt cả lich sử Giáo Hội. Ngày nay chúng ta rất cần các thánh, mà chúng ta vẫn kiên trì cầu xin Chúa " - Như vậy sư thánh thiện được quan niệm là " mức thực hiên tuyết đỉnh của phẩm giá Phép Rủa ". Thật vậy, sự thánh thiện không có gì khác hơn chính là phẩm giá Phép Rửa đươc sống chính đáng và hoàn hảo: - " Vị thánh là nhân chứng sáng chói của phẩm giá được ban cho người tín hữu Chúa Kitô " ( Christifideles laici, 16). Còn nữa, như vậy sự thánh thiện được coi là ơn gọi của tất cả mọi thành phần Giáo Hội. Lý chứng được Thông Điệp Christifideles laici dùng để xác nhận tư tưởng vừa kể, đó chính là đặc tính thuộc về Giáo Hội của mọi thành phần mình: - " Tất cả đều ở trong Giáo Hội, chính vì tất cả là thành phần, tất cả đều lãnh nhận và cùng chia xẻ ơn kêu gọi cùng trở nên thánh thiện " ( id., 16). Chúng tôi nghĩ rằng điều xác nhận chung của Thông Điệp" sự thánh thiện vừa là "dấu chứng " vằ cùng đồng thời cũng là " nội dung " của Giáo Hội thánh thiện, đó là " điều đòi buốc không thể thiếu của mầu nhiệm Giáo Hội ", nói theo nguyên văn của Thông Điệp. - Ngày nay rất cần xác định lại ý nghĩa đích thực của sự thánh thiện, nhứt là đối với các tín hữu giáo dân. Tinh thần Tám Mối Phước Thật là tinh thần cho tất cả mọi người môn đệ Chúa, cả đối với người tín hữu giáo dân ( Apostolicam actuositatem, 4 ). Tinh thần đó cần phải được minh chứng trong gia đình, trong khu phố, ngoài xã hội, trong lãnh vực chính trị, kinh tế, bằng tất cả mọi phương thức được thể hiện ra trong đời sống xã hội và văn hóa. - Đây không phải là điều đơn sơ. Ví dụ, chúng ta cứ thử nghĩ xem trong các hoàn cảnh của những ai dấn thân vào đời sống chính trị và kinh tế 6 - Người tín hữu giáo dân, nhân vật chính trong lịch sử. - Nhận biết đặc tính trần thế của tổ chức Quốc Gia xã hội và các cơ chế liên hệ của tổ chức không cho phép người tín hữu thiếu bổn phận cộng tác, nhằm tạo dựng nên công ích cho Đất Nước. Tinh thần và thái độ nhận biết đó trái lại, thiết lập nên môi trường năng chức công dân đầy đủ của người tín hữu. Người tín hữu phải tham gia vào đời sống Quốc Gia với lòng xác tín rằng muối đất của Phúc Âm không phải chỉ là những gì cá biệt của họ, mà là ân huệ cần phải được thông báo, chia xẻ cho mọi nguời, bởi vì đó là những gì góp phần để tạo nên điều kiện hoàn hảo đời sống nhân bản cho mọi người. - Cũng với tâm thức chú tâm và cộng tác tham dự đó, chúng tôi nghĩ rằng người tín hữu giáo dân Chúa Kitô có bổn phận cống hiến cho học đường và đại học nào đặc tâm lưu ý đến tiến trình hoán chuyển thăng tiến con người và điều iện sống của con người, trong đó cần nhấn mạnh đến giáo dục con người trong mọi phương diện đối với phẩm giá của mình và với các quyền phải có của phẩm giá đó. Còn nữa, cả thế giới y tế đòi hỏi cần có sự hiện diện chăm sóc, chữa trị với sự kính trọng đầy đủ phẩm giá con người, các giá trị của đời sống, cũng như bảo đảm cho những ai không có phương tiện cũng được chữa trị đối với những gì mình cần phải được chăm lo. Tiến trình thăng tiến hoàn hảo con người và xã hội cũng có liên hệ càng ngày càng rộng lớn hơn đến các khoản thời gian được rãnh rổi, các sinh hoạt thể thao và du lịch có liên hệ đến tiến trình đó. Và chính các động tác chính trị là những động tác, mà không thể nào vắng bóng sụ hiện diện của người tín hữu giáo dân: có khả năng chuyên môn và hành động thích đáng đối với lãnh vực mình đảm nhận, trong tinh thần tôn trọng giá trị con người và các nguyên tắc căn bản về tự do và liên đới hỗ tương, nhằm tạo dựng được công ích cho tất cả. - Và càng ngày chúng ta cần thấy không thể thiếu các động tác mục vụ môi trường để đến được với những ai đang mong đợi được nghe thấy lời loan báo Kitô giáo, từ đó chính họ, nngười tín hữu giáo dân, cũng góp phần hữu hiệu cho các động tác công công giáo về đời sống xã hội. Với nhãn quang vừa kể, chúng ta thấy được càng ngày càng cần đến các phong trào, hiệp hội, hội đoàn chuyên môn được tinh thần Kitô giáo định hướng. Dầu với những hình thức và tổ chức khác nhau, phần góp sức của các tổ chức giáo dân hay với những cách tổ chức khác với lời tuyên khấn , trong lãnh vực nhân chứng Nước Chúa. - Động tác tông đồ môi trường đòi buộc họ đạo phải suy nghĩ lại về cách hiện diện cửa mình, về sứ mạng và về cách thức liên hệ với lãnh địa thuộc phận vụ truyền giáo của mình, mở rộng mối liên quan với các họ đạo lân cận khác và cùng có một động tác hoà hợp với các phong trào, tổ chức, cũng như với các nhóm sinh hoat huấn dạy, nhứt là về môi trường. - Ở đâu tầm mức mục vụ môi trường nầy vượt quá lằn mức của họ đạo, họ đạo hay các họ đạo có liên hệ nên liên lạc thông báo cho Giáo Phận. Nói lên điều đó, chúng tôi có ý đặc tâm ám chỉ đến và hy vọng vào tổ chức " Hoạt Động Công Giáo " ( Azione Cattolica ). - Được kêu gọi hãy trở nên người thân cận với những ai đang phải sống bên mức đường cùn: các bệnh nhân và người đau khổ, người nghèo khó, di dân, những người không dễ gì tìm được lý do để sống còn và đang đứng trên bờ vực thẩm của tuyệt vọng, các gia đình trong cơn khủng hoảng, đang gặp khó khăn về vật chất cũng như tinh thần. Trước những trường hợp đó, người tín hữu, theo gương " người Samaritano nhân lành ", sẽ tự hỏi ai là người thân cận với mình, hay mình là người thân cận với ai, như gương Chúa Giêsu dạy cho: Chính mình phải trở nên người thân cận với người có nhu cầu đòi buộc, trở thành thân hữu với người đó ( Lc 10-29-37). nhận ra người có nhu cầu đòi buộc cần được giúp đỡ bằng cách yêu thương, thể hiện diện mạo Chúa Kitô đang đứng sát gần nơi anh ta. Người tín hữu bị đòi buộc phải hết lòng lưu ý đặc tâm đến các trường hợp vừa kể và tạo ra những cách thức liên đới mới và đồng chia xẻ mới " đây là thời điểm biến chế ra đức bác ái mới " ( NMI, 61). - Liên kết giữa Rao Giảng Phúc Âm và Nhân Chứng Bác Ái. Hành xủ như vậy, người tín hữu làm cho mọi người thấy được căn nguyên Ba Ngôi và Kitô luận của đức bác ái, bởi đó Phúc Âm của Chúa Giêsu là phục vụ bác ái và bác ái đích thực là quà tặng của Phúc Âm. Muốn thực hiện được những động tác trong các lãnh vực vừa kể, cần có những người tín hữu giáo dân sẵn sàng lãnh nhận các thừa tác vụ với thể diện truyền giáo trong tất cả các lãnh vực mục vụ, khiến cho họ trở thành các giáo lý viên, các hoạt náo viên có trách nhiệm của các " nhóm đón nghe " trong các gia đình, những người thăm viếng các gia đình, các hoạt đông viên cùng đồng hành với các cặp gia đình son trẻ. Tức là các tín hữu giáo dân nam nữ luôn luôn sẵn sàng tình nguyệnì thắt nối lại các mối tương quan hiệp thông giữa những người, mà chỉ có họ mới có thể làm cho thấy được đâu là niềm hy vọng Kitô giáo.

 

( Để tránh cho bài viết quá dài, chúng tôi tạm bỏ qua phần lịch sử quá khứ, đề cập đến quan niệm về tổ chức Giáo Hội, lãnh vực trần thế và địa vị của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội ). 2 . Người tín hữu giáo dân trong Hiến Chế Lumen Gentium, n.31. - Các tín hữu được hội nhập vào Chúa Giêsu qua phép rửa và trở thành Dân Chúa, tham dự vào phận vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô. - do chính ơn gọi của mình, chính người tín hữu giáo dân là người tìm kiếm Nước Thiên Chúa, bằng cách hành xử các sư việc trần thế và sắp xếp thiết định chúng theo ý Chúa muốn. - Người tín hữu giáo dân được kêu gọi góp công sức vào viêc thánh hoá thế gian, bằng cách hành xử phận vụ của mình, được tinh thần Phúc Âm hướng dẫn, và như vậy, làm ch người khác được biết Chúa Kitô. Nói một cách tổng quát, bằng nhân chứng của chính đời sống mình và bằng ánh sáng chói loi của đức tin mình, của niềm hy vọng và đông tác bác ái của mình. 3 - Đời sống thiêng liêng của người tín hữu giáo dân trong Nghị Quyết Apostolicam Actuositatem, n.4. - Kết quả sung mãn hoạt động tông đồ của người tín hữu giáo dân tùy theo mức độ hiệp thông sống động của ho với Chúa Kitô. - Đời sống thân tình nầy với Chúa Kitô được nuôi dưỡng trong Giáo Hội nhờ những trợ lực thiêng liêng chung cho tất cả mọi tín hữu, bằng cách tích cực tham dự vào Thánh Phung Vụ, nhưng không phải tách rời đức tin ra khỏi cuộc sống hằng ngày. Lo lắng cho gia đình, cũng như chuyên cần trong những phân vụ trần thế khác không phải là những gì xa lạ với đời sống thiêng liêng của mình. - Người tín hữu giáo dân phải sống đức tin ( được soi sáng bởi Lời Chúa), sống niềm hy vọng ( trong cuộc sống lữ hành hiên tai ), ẩn náo cùng với Chúa Kitô trong Thiên Chúa và tự do khỏi nô lệ của cải, tiền bac, giàu sang, bằng đời sống nhắm đến gia tài vĩnh cửu, sống đời sống bác ái ( rút lấy kinh nghiêm cho đời sống mình bằng tinh thần của Tám Mố Phước Thật). - Đời sống thiêng liêng nầy của tín hữu giáo dân cũng phải có đăc tính cá biêt bằng tình trạng sống gia đình , sống độc thân hay đời sống goá bụa, sống bằng trang thái bệnh tât, bằng hoạt đông chức nghiệp và xã hội. Mọi tín hữu giáo dân phải đặc tâm lưu ý đến thẩm quyền chức nghiêp chuyên môn, đến ý nghĩa của đời sống gia đình, đời sống xã hội và đến các đức tính cần phải có cho các mối tương giao xã hội, tức là đến những gì không đươc làm, đến tinh thần công lý, lòng thành tín, lễ đô, tâm hồn can đảm: đó là những đức tính, mà thiếu đi, con người không thể có được môt đời sống Kitô giáo đích thưc. - Mẫu gương trọn hảo của môt đời sống thiêng liêng và tông đồ đó, chúng ta có thể tìm thấy đuơc nơi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria, Nữ Vương của các Tông Đồ. Me Maria là người đang khi sống cuộc sống trần thế như tất cả mọi người, đầy chăm lo cho gia đình và việc làm, Me luôn luôn sống thân tình thông hiệp với Con của Mẹ, cộng tác một cách hoàn toàn cá biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế. 4 -Thần học và đời sống thiêng liêng của người tín hữu giáo dân trong Thông Điệp Christifideles laici. Có bốn chủ đề từ đó phát sinh ra các mối liên quan sâu đâm giữa Thông Điệp Christifideles laici và huấn du của Công Đồng Vatican II. - Trước hết là chủ đề " Mầu Nhiệm ". Giáo Hội được trình bày cho chúng ta như là Thân Thể Chúa Kitô trong lich sử. Phẩm giá người tín hữu giáo dân, do sáng kiến Kitô giáo, là những gì cao cả tích cực sống động tham dự vào các giá tri nền tảng của Mầu Nhiêm trong lịch sử. Bản thể phẩm giá của mỗi người tín hữu là môn đệ của Chúa Kitô. - Chính dưới ánh sáng của mầu nhiệm đươc đề câp, phát sinh ra " trang thái mới mẻ " tuyêt đối của người tín hữu giáo dân. Đó là trạng thái mới mẻ đươc đâm gốc rể từ Phép Rửa: trang thái hiện hữu mới, ngay cả trước khi là thực thể mới của " cuộc sống mới ". - Chúa kêu gọi người tín hữu giáo dân xây dựng Nước Chúa ở giữa, bằng các thưc tai và đông tác trần thế khác nhau. Phép rửa không cất đi người tín hữu khỏi thế gian, - " Thưa anh em, khi được kêu goi ở đia vị nào, mỗi người cứ ở đia vị đó trước mặt Thiên Chúa " ( 1 Cor 7, 24), trái lai quy trách cho họ một ơn gọi " Kitô hữu " cho thế gian. Như Thông Điệp Christifideles đã viết. Hiện diện và hành động giữa thế gian, đối với người tín hữu giáo dân, là một thực thể, không những là những gì có tính cách nhân bản và xã hội tính, mà còn là những gì cá biệt có tính cách thần học và giáo hôi hoc. Trong tình trạng sống giữa trần thế của họ, Thiên Chúa bày tỏ ra đồ án của mình và loan báo cho ơn kêu gọi cá biệt, - " tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách hành xử các sư việc trần gian và thiết địh chúng theo ý Chúa muốn " ( Lumen gentium, 31). - Chủ đề "Thông Hiệp " làm nổi bậc lên một thế thức tham dự sống động của Giáo Hôi. Mầu Nhiệm ( mysterium) do bản tính của minh là " mysterium comunicationis " ( mầu nhiêm hiệp thông). Và " communio " ( hiệp thông), tư bản tính của mình là " communio mysterica " ( hiệp thông mầu nhiệm ). Đó là những gì đã xác nhận rõ ràng Thông Điệp chúng ta đang bàn. " Communio " ( hiệp thông ) không phải là do thông hiệp xác thịt và máu mủ, mà là được khởi nguồn từ trên cao, hay nói rõ hơn là một ơn phước được Chúa ban cho. Như vây, môt lần nữa chúng ta hiểu đươc và thấy được phương thức đoc và giải thích phiến diện thưc thể của Giáo Hội theo ý nghĩa đơn thuần xã hội học và tâm lý học: - " Các mối liên hệ hiệp nhứt các thành phần của Dân Mới với nhau - và còn trước hơn nữa, với Chúa Kitô- không phải là những mối liên hệ xác thịt và máu mủ, mà là những mối liên kết tinh thần, hay chính xác hơn là những mối liên kết của Chúa Thánh Thần, mà mỗi người chiu Phép Rửa đều nhận đươc " ( cf. Gl 3, 1). Đoc " mysterium communionis " ( mầu nhiệm liên kết ) hay " communio myserica " ( thông hiệp mầu nhiệm ) nầy cho phép chúng ta trực tiếp đón nhận được môt vài phương diện nguyên thủy đăc thù của Giáo Hội, một cách đặc biệt là những đăc tính hướng dẫn chúng ta đến phương diện khác biệt và bổ túc nhau của Giáo Hội. Các thành phần của Giáo Hôi không phải chỉ là những thành phần hoàn toàn đồng nhất, mà là những thành phần đa diện, có phận vu để bảo đảm, phát huy thông hiệp và hợp nhứt trong Giáo Hội. Thông Điệp Christifideles laici chứa đưng môt câu văn ngắn ngủi, nhưng đặc biệt đày ý nghĩa và đáng đươc đăc tâm chú ý suy tư sâu xa hơn: - " Nhờ tính cách khác biệt nhau và bổ túc cho nhau nầy, mỗi tín hữu giáo dân đều có được mối tương quan với cả thân thể và hiến cho thân thể đó thực thể nội tại của chính mình " ( n. 20). - Kế đến chủ đề " Sứ Mạng Truyền Giáo " làm cho tất cả các tín hữu đều cảm nhận được tinh thần đồng trách nhiệm của mình trong công việc trọng đại cứu rỗi nhân loại. Trên thực tế, sứ mạng của Giáo Hội được tóm kết và giải thích được trong Phúc Âm: nói rõ hơn là trong Phúc Âm sứ mạng cần phải đươc loan báo và sống như mẫu gương. " Cần được loan báo ", đó là chủ đề của đông tác loan báo Phúc Âm của Giáo Hôi. Là " mẫu gương sống " , từ đó thoát xuất ra chủ đề bổn phận phải phục vu con người và phục vu xã hội. - Sau cùng, chủ đề " Trần Thế ", nhấn manh đến đặc tính thưc hữu cuộc hành trình của Cộng Đồng Dân Chúa, giữa thế gian, hay nói đúng hơn là giữa nhũng biến chuyển lịch sử của mỗi thế hệ. Tuy nhiên, đối với người tín hữu giáo dân, có môt " đặc tính trần thế cá biệt " ghi đậm nét cả sứ mang truyền giáo của mình. Đó không phải chỉ là đặc tính phiến diện và môi trường, một phương thức giao tiếp có tính cánh nhân bản và xã hội, nhưng mang cả tính cách thần học và giáo hội học. Trần thế ( hay thế gian) với các vấn đề phức tạp của nó trở thành nơi năng động của phẩm chất Kitô giáo và hoạt đông tông đồ của người tín hữu giáo dân. Thật vậy, người tín hữu giáo dân đươc Chúa kêu gọi dường như để góp sức mình, cộng tác từ trong nội tại môi trường trần thế, như là men bột, để kiến tạo Nước Chúa - " bằng cách hành xử các sự việc trần thế và xếp đặt thiết đinh chúng như ý Chúa muốn " ( LG, 31)