Tham Khảo >>  Công Giáo và Xã Hội

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

( Viết theo huấn từ của Đức Hồng Y Angelo Sodano, Thư Ký Văn Phòng Quốc Vụ Khanh Toà Thánh, nhân buổi tiếp kiến Văn Phòng Toà Thánh với các nhóm đại diện Chính Quyền, Quốc Hội và các chuyên gia luật pháp Âu Châu từ 22 - 24 tháng 10 năm 1998, do Thánh Bộ chuyên về gia đình tổ chức, trích từ nhật báo L'Observatore Romano, 23.10.1998). 1 - Giới thiệu chủ đề. Chủ đề chúng ta đang muốn đề cập đến, đó là " Người làm chính trị phục vụ công ích ". Dĩ nhiên Đức Hồng Y không phải là một chuyên gia về chính trị hay luật pháp, nên huấn từ của ngài không đi sâu vào các lãnh vực cá biệt của tư tưởng "" công ích " ( kinh tế, an ninh quốc gia, y tế, tương giao quốc tế...), mà chỉ đề cập đến một vài phương diện tổng quát,dựa trên lãnh vực luân lý. 2 - Người làm chính trị có phận vụ phục vụ công ích. Quan niệm chính trị phục vụ công ích, lợi ích công cộng, là tư tưởng minh nhiên hàm chứa ngay trong danh xưng của nó. Bởi lẽ đó là lý do chính danh hoá cho quyền lực cá biệt của động tác quyền lực chính trị. Đây là quan niệm cao cả và kỳ vọng trên lý thuyết, cũng như trong nhãn quang của dân chúng. Chính trị có liên quan đến quyền lực, và phận vụ của chính trị vì đó là phục vụ, bằng cách dùng dụng cụ cá biệt đó. Theo chiều hướng của Thánh Kinh, tác động phục vụ đó phải nhằm thực hiện để phục vụ người yếu thế trong xã hội: - " Hỡi Anh Em, những người đặc trách công việc chung, anh em biết rõ rằng động tác chính trị là một nghệ thuật cao qúy và khó khăn ( cfr. Gaudium et Spes, 75), đòi buộc phải có hành động trong sáng..." , in Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XIV, 2, p. 680-683). Không ai không biết mức độ anh hùng của việc từ bỏ lợi ích riêng tư, bè phái, phe nhóm mà nguyên tắc đó lắm khi đã tiên liệu trong cuộc sống thực tế của người làm chính trị, bởi lẽ rất thường khi gặp phải những động lực của tội ác thúc đẩy, người làm chính trị tìm kiếm những quyền lực có khả năng dễ dàng đảo lộn các bậc thang giá trị. Lắm khi chính trị phải phục vụ, nhưng kết quả đâu không thấy và đó chính là điều gia tăng thêm đặc tính thiết yếu của chính trị. Giáo Hội không ngần ngại định nghĩa động tác chính trị như là một thể thức bác ái trổi thượng, là ơn gọi hoàn hảo trong ý nghĩa của danh từ ( ĐTC Pio XI, Discorso ai dirigenti della Federazione Universitaria Cattolica, 18.12.1927, in Discorso di Pio XI, ed. it., a cura di Domenico Bertetto S.D.B., vol I : 1922-1928, p. 742-746 ( 744-745). 3 - Mất tin tưởng đối với quan niệm " công ích ". Nếu có người tranh luận về tư tưởng chính trị có phục vụ công ích hay không, thì chắc chắn cũng có người đặt dấu hỏi về quan niệm thứ hai trong chủ đề của chúng ta, bởi lẽ trong lãnh vực chính trị -luật pháp hiện đại, quan niệm " công ích " là một quan niệm gây nên nhiều tranh luận, đến nỗi có người cho rằng đó là quan niệm đặc thù của " nhóm công giáo ". Hậu quả tiêu cực của tâm thức vừa kể không chỉ giới hạn trong lãnh vực giữa nhũng nhà chuyên môn với nhau, mà còn thẩm thấu trải rộng ra trong cả tổ chức xã hội. Một tài liệu của Hội Đồng Giám Mục Anh Quốc đã nói lên tình trạng đó như sau: - " Dân chúng không còn tin tưởng rằng nguyên tắc vừa kể đáng còn được mình tin cậy nữa. Dân chúng cảm nhận nguyên tắc trên đã được đưa ra tranh luận trên lý thuyết và không còn ai lưu ý đến trong thực hành. Mất đi lòng tin tưởng đối với quan niệm công ích nầy là môt trong những yếu tố chính yếu giải thích tâm tư bi quan về tổ chức quốc gia. Nói lên ý nghĩa của tinh thần trách nhiệm đã bị sa sút đi và tinh thần liên đới hỗ tương đã ngã về bóng xế chiều - điều đó có nghĩa là chất xi măng liên kết cá nhân và xã hội bị đã mất đi ( HDGM Anh Quốc và Galles, Il Bene Comune e la Dottrina Sociale della Chiesa, 1996, n. 116). Không thể có được một lý tưởng xã hội có khả năng thúc đẩy động tác liên đới, nếu công lý chỉ đưọc coi là những gì phụ thuộc thứ yếu. Không ai có thể đặt hy vọng vào một toà nhà đuợc xây trên cát ( Gilles Lipovetsky, Le crépuscle du devoir. L'étique indolore des nouveaux temps démocratiques, Gallimard, Paris 1992). 3.1. Quan niệm Trung Cổ về công ích và thay đổi ý nghĩa chính trị trong thời hiện đại. Có lẽ chúng ta nên nhớ lại một vài yếu tố lịch sử tiến trình biến chuyển quan niệm " công ích ". quan niệm " tò koinòn agathòn của Hy Lạp được dịch ra La Tinh thành " bonum comune, được khai sinh từ tư tưởng chính trị của Platon và Aristote, và có được thêm tằm quan trọng đáng kể ở thời Trung Cổ. Các tư tưởng gia cỗ dùng từ ngữ vừa kể để định nghĩa căn nguyên và mục đích hoạt động chính trị. Kế đến, trong thời Trung Cổ, do ảnh hưởng huấn dụ của Thánh Phaolồ về " Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Ki Tô ", từ ngữ có thêm được một tầm quan trọng đặc biệt dưới ánh sáng một tổ chức xã hội có tương quan trật tự, nhấn mạnh đến tư tưởng việc các thành phần phải tôn trọng lợi ích của tất cả, tuy nhiên vẫn nhận biết rằng nơi con người có một tầm mức vượt hẵn cao cả hơn những gì thuộc lãnh vực chính trị ( I-II, 21,4, ad 3): - " homo non ordinatur ad comunitatem politicam secundum se totum et secundum omnia sua " ( con người không phải được dựng nên cho cộng đồng chính trị , mà cho những gì tất cả hoàn hảo thuộc về mình và cho tất cả những gì là của mình ). Quan niệm thời Trung Cổ đó gợi ý cho hoạt động chính trị được đặt trên ba nguyên tắc trọng đại: -Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá và là Đấng thiết định tất cả tạo vật: trong mỗi tạo vật có một lề luật vĩnh viễn được khắc ghi vào bản thể và bởi đó trở thành luật tự nhiên, điều hành mọi tạo vật và một cách đặc biệt là định hướng con người trong cuộc sống và động tác của mình. - Bởi đó trước moi lề luật thực định ( lex positiva), đều đã có một luật lệ vĩnh viễn và tự nhiên, mà từ đó pháp luật thực đinh của con người phải rút ra nguồn cảm hứng và luật định để áp dụng thực tế . . - Đối với người tín hữu Chúa Ki Tô, tự do không phải là những gì tách ra khỏi lè luật: bởi lẽ mục đích của tự do hàm chứa trong trong việc ý thức rằng lề luật định hướng mình hướng về Thiên Chúa ( nếu là lề luật chính đáng theo ý nghĩa vừa kể ) và làm cho mình thể hiện ra trong động tác chính đáng thực tế. Kế đến các tác giả như Macchiavelli, Hobbes và Locke thay đổi cách giải thích mục đích của hoạt động chính trị: - họ đặt nặng trọng tâm vào các phương thức tổ chức cơ chế quyền lực, - và quan niệm về một xã hội hiệp nhứt theo định luật tự nhiên, được thay thế bằng quan niệm hoà hợp thoả thuận giữa các quyền của các chủ thể cá nhân trong xã hội ( kể cả những nhượng bộ bất chính ) Người ta vẫn tiếp tục ban thảo với nhau về " công ích " ( hoà bình, thịnh vượng) nhưng với những nội dung khác xa đối với những gì thuộc về quan niệm khởi thủy. Chúng ta đang ở vào thời đại " khế ước, xa xôi đối với quan niệm công ích như là gia sản thành thực chính đáng tự bản thể của nó. Nhãn quan hiện đại theo duy ích chủ nghĩa ( utilitarisme) là kết quả của một nhân sinh quan mới, theo đó thì con người tự bản tính của mình là một chủ thể chống xã hội. Bởi đó xã hội được thiết lập nên, cơ chế quốc gia được lập ra, là để " kiểm soát " các đam mê ích kỷ, các ganh đua đố kỵ và tham vọng thuộc bản tính tự nhiên của con người. Từ đó chúng ta có câu nói bất hủ của Hobbes, " homo homini lupus " ( con người là chó sói đối với người khác) và tư tưởng về hoạt động tôi chảy của một xã hội mà chúng ta không thể chấp nhận được. Chinh trên những nền tảng mới vừa được đề cập, mà phần lớn tâm thức của các chính quyền được dựa theo để hiểu công ích như là một tài sản lợi ích, thịnh vượng, lợi ích rộng lớn hơn cho số dân chúng càng đông hơn càng tốt. 3.2. Quan niệm hiện đại của Giáo Hội đối với công ích. Dựa trên các quan niệm dồi dào của thời Trung Cổ về công ích, được hội nhập thêm vào các yếu tố mới hiện đại, nhứt là vào các quan niệm về các quyền của con người, Giáo Hội khởi đầu lại một lần nữa suy tư về quan niệm vừa kể với những đóng góp tổng hợp được nói lên trong Thông Điệp Mater et Magistra ( n. 70), Pacem in terris ( n. 57), cũng như tiếng nói của Công Đồng Vatican II ( Gaudium et spes, nn. 26-74 và của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo ( n. 1906). Xin được trích dẫn định nghĩa về công ích của Công Đồng Vatican II: - " Công ích là tổng hợp tất cả các điều kiện xã hội cho phép và tạo điều kiện thích hợp nơi mỗi thành viên cá nhân, nơi các gia đình và các hiệp hội, tổ chức xã hội để đạt được một cách nhanh chóng và hoàn hảo những gì trọn hảo của mình ". 4 - Công ích và luật tự nhiên. Phục vụ công ích khởi đầu từ luật tự nhiên. Thời Trung Cổ quan niệm chính trị thoát xuất từ một nhãn quang về con người, trong đó được giả dịnh trước một trật tự luân lý khách quan, một luật tự nhiên không tùy thuộc vào bất cứ một thoả ước xã hội hay một đạo luật thực định ( lois positive) nào. Nhãn quang đó đã mất đi trong thời điểm hiện tại của chúng ta, với khuynh hướng càng ngày càng nhấn mạnh đến quan niệm cá nhân về con người và luân lý chỉ là những gì thuộc quan niệm chủ quan. Hiện nay, chính trị đang đứng trước thái độ phải chọn lựa nầy: định hướng hoạt động chính trị theo nhãn quang luật tự nhiên ( jusnaturalisme), tức là nhận biết các giá trị khách quan của con người ) hay theo nhãn quang phương thế dụng cụ, chỉ nhằm làm sao cho tổ chức hệ thống cơ chế được hoạt động điều hoà, tốt đẹp. Liên quan đến tư tưởng vừa kể, chúng ta có thể nhớ lại lời của ĐTC Phaolồ VI: - " Dĩ nhiên con người có thể tổ chức thế giới không cần có Thiên Chúa, Nhưng không có Thiên Chúa con người sau cùng chỉ có thể tổ chức chống lại con người " ( cfr. Populorum progressio ). ĐTC Gioan Phaolồ II, trong thông Điệp Evangelium vitae, một lần nữa đã đặt lại ngón tay trên vết thương vừa kể: - " Nếu không có một chân lý cuối cùng nào hướng dẫn và định hướng hoạt động chính trị, lúc đó các tư tưởng và những xác tín có thể dễ dàng trở thành dụng cụ cho mục đích quyền lực. Một nền dân chủ không có các giá trị, có thể bị hoán chuyển dễ dàng thành một chế độ toàn trị minh nhiên hay lường gạt ẩn nấp, như lịch sử đã chứng minh " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Evangelium vitae, n. 101). Thế giới luật pháp và chính trị ngày nay đang có khuynh hướng không chấp nhận nhãn quang luật tự nhiên trong việc thiết định luật pháp, là những điều khoản xác định những gì mà hoạt động chính trị có ý thực hiện cho " công ích ". 4.1. Khiếp sợ đối với ý thức hệ. Có những người muốn giữ tách biệt luật tự nhiên và luật lệ dân sự, vì họ cho rằng ảnh hưởng lẫn nhau giữa lãnh vực nầy đến lãnh vực kia có thể làm nguy hại cho thể chế dân chủ. Bởi lẽ theo những người vừa kể, lề luật không được viết thành văn bản, như luật tự nhiên, là " lề luật không chính xác " và có thể bị ảnh hưởng của những lối giải thích quá đáng hay quá khích theo ý thức hệ mình muốn làm nổi bậc hay bênh vực. Bởi đó có thể có những người giải thích một cách áp đặt độc tài theo họ muốn, chống lại ý muốn của đa số là ý muốn của đặc tính dân chủ. Vậy ai là người quyết định " công ích " là gì ? Làm sao có thể kiểm nhận được đường lối giải thích nào là chính đáng, đáng tin cậy? 4.2. Trả lời cho mối lo âu. Luật tự nhiên là vì sao bắc đẩu định hướng đời sống chính trị. Chúng ta thành tâm xác tín rằng, ngược lại những tư tưởng vừa được đề cập đến, luật tự nhiên là vì sao bắc đẩu định hướng chúng ta hướng về nhưng gì chính đáng nhứt cho thể chế dân chủ. Điều đáng sợ thường có thể xảy ra giữa việc lầm lẫn nhưng gì luật tự nhiên đòi buộc phải có và việc định chân giá trị các hậu quả tiêu cực của việc không chấp nhận luật tự nhiên. 4.2.1. Hiểu biết một cách chính đáng: luật tự nhiên không phải là một " toa thuốc ". Không phải ít khi chúng ta nhận thức được có sự lầm lẫn về quan niệm luật tự nhiên, trong các cuộc tranh luận chính trị và luật pháp, cũng như trong các phân khoa và học viện về pháp luật. Nhiều tư tưởng xác quyết về tính cách " không chính xác ", cũng như khó mà xác định rõ ràng đâu là nội dung của nó, do nhiều lập trường khác nhau có liên qua đến chủ đề. Từ đó đưa đến kết thúc hệ trọng: vì có quá nhiều chủ thuyết khác nhau về nội dung của luât tự nhiên, nên tốt hơn là loại bỏ quan niệm luật tự nhiên đi, trong việc thiết định thể chế và cấu trúc xã hội. Kết luận như vừa kể là một kết luận ý thức hệ, cho rằng loại bỏ đi luật tự nhiên, chúng ta mới có được mội dung chắc chắn cho việc tổ chức xã hội. Cho rằng quan niệm như vậy, quan niệm luật tự nhiên, cần phải được loại bỏ đi , bởi vì không đem đến cho chúng ta những gì chắc chắn trong các trường hợp thực tế, phải chăng đó cũng là thái độ xác quyết đúng đắn cần loại bỏ đi loại dược phẩm, không có khả năng giải quyết một cách quyết định trong mọi trường hợp bệnh hoạn. Luật tự nhiên không phải là " toa thuốc " để giải quyết hết mọi loại vấn đề luân lý, hành chánh, luật pháp và phương thức tổ chức cơ chế xã hội. a ) Ở cấp bậc thứ nhứt, luật tự nhiên cung ứng cho chúng ta những nguyên tắc tổng quát; xác nhận quyền được sống, có nghĩa là nhận biết bất cứ ai là con người lành mạnh đều có khả năng - nhận biết rằng đời sống, sự hiểu biết, xã hội tính, quyền sinh con cái và nhưng thực thể căn bản khác là những nội dung tốt đẹp - để phát triển con ngưòi có một cuộc sống cho ra người và một xã hội xứng đáng với con người. b) Ở cấp bậc thứ hai, rất tiếc, những hậu quả thiết thực của các nguyên tắc căn bản nầy, có thể bị các tư tưỏng tiền kiến làm lu mờ và sai trái đi,sự thiếu hiểu biết, đam mê, thái độ ỷ lại dựa vào quyền lực, lòng ước muốn tự lập tuyệt đối... Để vưọt thắng được những khó khăn đó, cần phải có những cuộc thảo luận, thuyết phục, giải toả, học hỏi nghiêng cứu, suy tư và trong một vài trường hợp phức tạp, chỉ có những người khôn ngoan và thận trọng mới có khả năng giải toả được. Luật tự nhiên không loại bỏ đi sức cố gắng và tiến trình con người đi tìm chân lý trong các thực tại thiết thực. Tuy nhiên luật tự nhiên chỉ đường cho chúng ta đi đến được và bảo đảm cho chúng ta điều chắc chắn rằng con người có khả năng hiểu biết được luật tự nhiên là gì. Trong lịch sử, luật tự nhiên đã có nhiều tác đông. Lich sử đã giúp lấp đầy những lỗ hỏng thiếu sót của lề luật thực định ( lois positives) và đã giúp cho để giải thích được một cách công minh, đã tạo thuận lợi cho đối thoại giữa các dân tộc và văn hoá, - như là một loại văn phạm cần thiết để có thể hiểu nhau được, - đã giữ phận vụ định chuẩn đối với các quan niệm trong lịch sử và định hướng về những viễn ảnh cho tương lai, - chuẩn định chính đáng hay bất chính những phán quyết lạm dụng cho rằng đó là những gì đúng theo cách hành xử " tự nhiên " của con người, dẫn đưa dòng lịch sử của các dân tộc đến những chân trời công chính hơn. Nói tóm lại, trong nhãn quang vừa kể, luật tự nhiên thể hiện trước cho hình ảnh nền luật phải có trong tương lai ( José Luis, L. Aranguren, Ética y politica, Biblioteca Nueva, Madrid 1996, p. 39). 4.2.2. Không có luật tự nhiên, ai muốn làm gì cũng được. Mối lo âu của nhiều tư tưởng gia chững chạc không phải là không có lý chứng. Đời sống xã hội với các cấu trúc cơ chế luật pháp của mình đòi buộc phải có nền tảng tối hậu. Nếu không có lề luật nào khác hơn là luật lệ dân sự, chúng ta phải chấp nhận rằng bất cứ giá trị nào, ngay cả đối với những giá trị mà con người đã phải chiến đấu và cho rằng là những giá trị căn bản trong cuộc lữ hành lâu dài để tiến đến tự do, cũng có thể bị xóa đi, đơn sơ chỉ vì được đa số phiếu đồng thuận. Những ai phê bình, không có thiện cảm với luật tự nhiên, cần nên mở mắt ra trước viễn ảnh vừa kể có thể xảy ra và khi họ phát động đề thảo ra luật pháp - đối ngược lại công ích đối với những nhu cầu căn bản của nó - họ nên ý thức được hậu quả các động tác của họ, bởi lẽ những động tác đó có thể đưa xã hội đến một chiều hướng nguy hiểm. Và cũng vì khi muốn giới hạn các hậu quả của một đạo luật, chúng ta cần nên nhớ đến câu nói của Chesterton: - " Luật pháp tùy thuộc vào bản tính của con người chớ không phải tùy thuộc vào ước muốn của nhà lập luật, và sẽ đem lại cho chúng ta hậu quả mà chúng ta đã gieo vãi trong đó " ( Gilbert Keith Chesterton, Eugenics an Other Evils, Lendine 1922, p. 16). 4.2.3. Không có luật tự nhiên, người làm chính trị có thể giữ được tính cách độc lập của mình không? Không có một nền tảng vững chắc bảo chứng, làm thế nào nhà lập pháp có thể chống chọi lại áp lực của các nhóm bè phái vì lợi thú riêng tư của nhóm? Trách nhiệm của nhà lập pháp thật lớn lao, và khó khăn trong công việc của mình, phải chạm trán cũng không phải nhỏ. Luật pháp được soạn thảo, chuẩn y và ban hành đều phải đi theo một tiến trình, trong đó các nhóm lợi thú riêng tư có khả năng đặt điều kiện, làm áp lực trên cả tiến trình, từ dự thảo đến cả nội dung của các đạo luật. Điều vừa kể có thể thúc đẩy người làm chính trị làm thế nào đuợc nổi danh, được lòng dân chúng cho địa vị của mình, không phải luôn luôn cùng đồng thuận với ý nghĩa trách nhiệm trọng đại của mình trong chính trị. Ở đây chúng ta chỉ có thể xin Thiên Chúa ban cho nhà lập luật sức mạnh nội tâm để có thể chịu đựng được những áp lực đó, không qụy ngã theo ciều hướng lợi thú thuận tiện. Trong Thông Điệp Centesimus annus ( 1991), ĐTC Gioan Phaolồ II phân tích vấn đề thiết thực vừa kể và mời gọi hãy suy nghĩ chính chắn về công ích, như là địa bàn kim chỉ nam, không gì có thể thay thế được: - " Ngay cả ở những quốc gia trong đó các hình thức dân chủ có hiệu lực, không phải luôn luôn các quyền đó đều được tôn trọng. Không phải chỉ nói đến gương mù gương xấu của việc phá thai, mà cả những phương diện liên quan đến một cơn khủng hoảng các hệ thống dân chủ, mà nhiều khi các hệ thống đó mất đi định hướng, khả năng quyết định tùy theo công ích. Những đòi hỏi từ xã hội được phát xuất lên nhiều khi không được duyệt xét theo tiêu chuẩn công lý và luân lý, mà tùy theo động lực bầu cử hay tài chánh của các nhóm chủ trương nêu lên. Những loại sai đường tập quán chính trị đó vói thời gian sẽ tạo nên bất tín nhiệm và dững dưng, với hậu quả làm cho giảm thiểu động tác tham dự chính trị và tinh thần sống chung trong cộng đồng dân chúng, vì họ cảm thấy bị thiệt hại và mất hy vọng. Điều đó đưa đến kết quả không còn khả năng đặt các lợi thú cá biệt vào một nhãn quang hợp lý của công ích. Thật vậy, công ích không phải chỉ đơn sơ là tổng hợp các lợi thú riêng tư, mà mạc nhiên bao gồm việc đánh giá các lợi thú đó và việc tổng hợp đúc kết được thực hiện dựa trên nền tảng quân bình các giá trị và, nói cho cùng, trên nền tảng một sự hiểu biết chính đáng về phẩm giá và các quyền của con người " ( CA, n. 47). 4.2.4. Những hậu quả của việc khước từ luật tự nhiên: một vài ví dụ. Không thiếu gì những biến cố đáng lo ngại từ việc đánh mất đi ý nghĩa của lợi ích thiên nhiên khách quan. a) Cộng Sản chủ nghĩa. Cộng Sản chủ nghĩa ( hay Mát Xít chủ nghĩa) chối bỏ đi quyền tự nhiên của con người, cho rằng đó là quan niệm thuộc về ý thức hệ của bọn tư sản và bởi đó cần phải tiêu diệt tận gốc rễ. Marx cho rằng các quyền ( mà bọn tư sản cho rằng mình có và đòi buôc phải tôn trọng chỉ là những gì tùy thuộc vào hệ thống kinh tế ) và - " nhà lập pháp không thể tự mình thiết định tùy hứng điều gì không bị mức độ phát triển kinh tế ảnh hưởng đến; không thể " chế biến ra " các quyền và tự do được phát sinh chặt chẽ từ các mối liên hệ xã hội, bằng cách hội nhập cá nhân vào một hệ thống xã hộ - kinh tế xác định ( V. Kudyavtsev, Human Rights Concepts, in Social Science ( URSS Academy of Science) 18 ( 1987/1), p. 84. b) Tự do chủ nghĩa. Sau khi ý thức hệ Cộng Sản Chủ Nghĩa thực định sụp đổ, lối giải thích kinh tế như vừa kể có lẽ không còn có ai đầu óc tối tăm nghe theo nữa. Nhưng định chuẩn nền tảng chối bỏ sự hiện hữu các giá trị tuyệt đối có trước bất cứ lối giải thích xã hội nào,vẫn còn xuất hiện trong một vài văn bản khác. Một ví dụ đã tạo ra không ít lo ngại đó là phán quyết của một vài vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ, trong một phiên toà về các chủ đề như hôn nhân, sinh sản, ngừa thai, được tuyên bố như sau: - " Những vấn đề đó hàm chứa việc lựa chọn nội tại riêng tư và cá nhân, mà một con người có thể lựa chọn trong đời sống mình, đó là những lựa chọn nồng cốt cho phẩm giá và tự lập cá nhân, và nồng cốt cho quyền tự do của chúng ta . Xác định quan niệm của chính mình về đời sống, về ý nghĩa, về vũ trụ và về chính đời sống con người là những gì liên hệ đến trung tâm điểm của tự do " ( Planned Parenthood vs. Casey, 1992). Tối Cao Pháp Viện có thể bảo vệ bằng luật pháp giá trị của tự do cá nhân chống lại bất cứ áp đặt nào không chính đáng. Ước vọng đó là điều chính đáng, nhưng thái độ bảo chứng cá nhân chủ nghĩa tuyệt đối của Tối Cao Pháp Viện không được đưa ra dựa trên một định chuẩn nào cần thiết để thiết định các giá trị theo một hệ thống bậc thang giá trị, bảo chứng đó có thể làm cho xã hội trở thành hoàn toàn phân hoá. c) Pha trộn biến chế các yếu tố di truyền ( genetica). Từ thái độ quyền tự do của người mẹ chấm dứt tiến trình mang thai, hiện nay chúng ta đi đến tự do của các nhà nghiên cứu biến chế, pha trộn bào thai con người, như họ muốn, vì " những mục đích quan trọng, lợi ích cao đẹp hơn ". Lý chứng được dùng trong trường hơp nầy, đó là việc không xác định rõ cho đến lúc nào bào thai mới được coi là một con người. Bởi đó không phải tất cả đều đồng thuận trong cách thức phán đoán. Thời gian đó được xác định tùy hỷ và việc bảo vệ pháp lý cho bào thai được xác định ai muốn ghĩ sao cũng được: - " sau một thời gian định chế thực định và rắc rối của chúng ta " ( R. Green, Toward a Copernican Revolution of Our Thinhking about Life's Beginning and Life's End, in A Statement on Embryo Research by Ramsey Colloquium, in First Things, Jannuary 1995, p 19). Cho đến đâu luòng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa và chủ quan vừa kể có thể dẫn dắt chúng ta theo? Chúng ta không biết được, nhưng theo lời cảnh cáo cổ điển, ai trong chúng ta cũng biết: - " một sai lầm nhỏ bé lúc đầu sau cùng có thể trở thành đại hoạ ". Kết luận. 1 - Luật thiên nhiên là văn phạm phổ quát cho mọi người. Cha ông của các nền dân chủ hiện đại của chúng ta đã tiền giả định một cách hiển nhiên phải có một nền tảng luân lý cho các tổ chức cơ chế và chính hướng, nếu muốn thu nhận được kết quả, nhưng nếu không " bảo vệ cây và gốc rễ ", thì thật là một ảo tưởng. Trước sau gì rồi cũng chỉ còn có trong tay các trái khô. Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II đã chỉ cho thấy trước Liên Hiệp Quốc luật thiên nhiên như là văn phạm chung, nằm bên dưới mọi nền tảng văn hoá và là điều kiện đòi buộc " không có không được " ( sine qua non ) cho bất cứ một cuộc đối thoại quốc tế nào: - " Nếu chúng ta muốn cho một thế kỷ đàn áp bó buộc phải nhường bước cho một thế kỷ thuyết phục , chúng ta phải có được một con đường để bàn luận, với ngôn ngữ mọi người đều hiểu được và chung cho tất cả, về tương lai của con người. Luật luân lý thiên nhiên được ghi khắc vào trong tâm hồn của mỗi người, là một loại văn phạm ", cần cho thế giới để đối đầu với cuộc thảo luận nầy cho chính tương lai mình " ( Discorso all'ONU 1995, n.3). 2 - Phục vụ công ích bằng cách thăng tiến gia đình. Chính trị có ích lợi, - khi biết giới hạn lãnh vực động tác của chính mình, - khi nhận biết phận vụ phụ túc bảo trợ ( sussidiarietà ) của chính mình, - khi để cho mình được định hướng bởi những gì đi trước mình và những gì trổi vượt hơn mình. Một nền chính trị tự mãn trở thành một loại chính trị ý thức hệ, ngược lại với những gì là lý tưởng chính trị phải phục vụ. Gia đình có trước chính trị, và bởi đó điều tốt nhứt là chính trị trung thành phục vụ gia đình, - với tư cách gia đình là một trong những giá trị nền tảng của luật thiên nhiên, - và gia đình là học đường nơi con người học biết được văn phạm của công ích.

 

Người tín hữu Chúa Kitô phải có thái độ nào đối với một đạo luật nội dung bất chính ? a) Trong trường hợp đạo luật vừa kể, có nội dung bất chính, được trình diện lần thứ nhứt cho Quốc Hội Lập Pháp, - không bao giờ là chính đáng nếu người tín hữu Chúa Kitô đồng thuận chấp nhận dự thảo đạo luật này, - cũng như tham dự vào phong trào vận động dư lưận cho một dự thảo đạo luật như vậy, - cũng không thể nào chính đáng bỏ phiếu ủng hộ cho dự thảo này. Ai tích cực tham dự vào tiến trình lập pháp cho một đạo luật có nội dung bất chính như vậy, ( ví dụ như một đạo luật đồng thuận cho việc phá thai ) , là tự mình khai trừ mình ra khỏi động tác có thể hoàn hảo vào tham dự Thánh Thể, như những gì ĐTC Benedictus XVI đã viết ra trong Thông Điệp Saramentum Caritatis. b) Trong trường hợp một đạo luật có nội dung bất chính như vừa kể đang hiện hành và có hiệu lực, nhà chính trị công giáo - phải chống lại bằng những phương thức mà mình có thể - và làm cho công chúng biết thái độ chống đối của mình. Trong trường hợp không thể thu hồi một đạo luật như vừa kể, nhà chính trị Kitô hữu có thể hành xử chính đáng bằng cách ủng hộ một dự án luật được giới hạn hơn, tức là nhằm loại bỏ các hậu quả tai hại của một đạo luật như vậy đối với lãnh vực văn hoá và luân lý cho công chúng, - miễn là tất cả đều biết thái độ tuyệt đối chống đối của mình đối với một đạo luật như vậy - và miễn là làm sao để tránh khỏi hiểu lầm tạo gương mù gương xấu cho công chúng. Hành xử như vậy, nhà chính trị Kitô hữu - không hành xử cộng tác với mọt đạo luật bất chính , - có chăng người đó chỉ tìm cách phải có để giảm thiểu các phương diện bất chính của đạo luật ( cfr ĐTC Gioan Phaolồ II, Evangelium vitae, 73). Hàng giáo phẩm phải có thái độ nào đối với chính trị ? Hàng giáo phẩm ( ĐTC, Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục ) a) không được dùng vị thế của mình và sứ mạng của mình trong Giáo Hội để ủng hộ bất cứ một chính đảng nào, bởi vì các Vị là những Đấng Bậc đứng giữa và đứng trên ( super partes ) , để phục vụ tất cả mọi người và thăng tiến lợi ích cho tất cả và cho từng người một. b) không thể được tuyển chọn trong bất cứ chính đảng nào, trừ khi trong một vài trường hợp xác định và bất thường, do nhu cầu của cộng đồng đòi hỏi ( Giáo luật, n. 280). c) hiến tặng việc góp phần xây dựng và thích ứng chính đáng của mình trong lãnh vực " tiền chính trị " ( pre-politica) , bằng cách - loan báo huấn dạy các giá trị căn bản của con người và của Phúc Âm, - nhằm chỉ dẫn và định hướng cho các giá trị mà hoạt động chính trị phải nhằm đến. d) phát huy các mối tương giao tốt đẹp với các giới quản trị chính trị bằng hoạt động cộng tác công khai và thân thiện vì lợi ích của dân chúng, một cách trong trắng của phận vụ và trong việc tôn trọng thẩm quyền chuyên biệt, * tránh mọi thái độ nhân nhượng, thoả thuận, + mà từ đó làm cho trở thành không rõ ràng địa vị tự lập của Giáo Hội. e) đặc tâm lưu ý * trong thời gian bầu cử, không dành địa điểm và cấu trúc ( họ đạo, dòng tu, trường học công giáo và những phương khác ) cho các sáng kiến, vận động của các chính đảng hay phe nhóm của chính đảng. *sát gần với các cuộc bầu cử, đừng đặt ra chương trình huấn luyện, suy nghĩ, cầu nguyện cũng như hướng dẫn linh hướng có liên hệ đến các cá nhân đã và đang có trách nhiệm xã hội và chính trị, cũng như có liên hệ đến các ứng viên của các chính đảng. * không đưa ra dấu chỉ phần chính trị nào, theo ý kiến của mình, sẽ có khả năng bảo dảm để bảo vệ và phát huy thăng tiến lợi ích liên hệ của con người đang được các chương trình bầu cử đề xướng. Bởi lẽ những chỉ dẫn vừa kể không có gì khác hơn là nói ra nên bỏ phiếu cho ai. * canh chừng đừng để cho bên trong các cơ sở của họ đạo có thể xuất hiện truyền đơn rơi rãi, dán bích chương hay những hình thức tuyên truyền vận động bầu cử nào khác, cũng không được dùng giấy thông báo của họ đạo nhằm mục đích tuyên truyền đó. ( Để nghiên cứu sâu xa hơn những hiểu biết đơn sơ của người viết cho phép và được đề cặp đên đây, người viết xin được báo qúy độc giả nên học hỏi thêm các tài liệu liên hệ đến đề tài đang bàn của Giáo Hội ) : - ĐTC Gioan XXIII, Thông Điệp Mater et magistra, 1961; Pacem in terris, 1963. - Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et spes ( GS), 1966, n. 74-76. - ĐTC Gioan Phaolồ II, Thông Điệp Sollecitudo rei socialis, 1988; Evangelium vitae, 1995; Centesimus annus, 1991. - Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, n. 1897-1901; 2212-2213; 2244-2245. - Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Nota doctrinalis...2002 ( Ghi Chú Tín Lý về một vài vấn đề có liên quan đến phận vụ và thái độ người công giáo trong đời sống chính trị, 2002). - Thánh Bộ Công lý và Hoà Bình, Tổng Lược Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ( Compendio della Dottrina Sociale della Chiesa) , 2004, trg. 206-232).

 

III - Làm thế nào để thực thi đặc tính trần thế của Quốc Gia? Khi nêu lên " đặc tính trần thế " của Quốc Gia chúng ta không có ý hiểu đồng nghĩa với thái độ " thế tục chủ nghĩa " ( sécularisme), đối nghịch lại mọi hình thức hiện diện của tôn giáo trong chính trị, văn hoá. Nói cách khác, tổ chức chính trị, văn hoá của Quốc Gia theo ý nghĩ của chủ nghĩa vừa kể không phải là tổ chức " phi tôn giáo " , mà là " vô tôn giáo " ( vô đạo, vô thần ). Hình thức " vô tôn giáo " ( vô đạo, vô thần ) đó được biểu thị bằng cách không chấp nhận sự hiện diện của cộng đồng tôn giáo, không chấp nhận sự hiện diện chính danh của những nhà đại diện tôn giáo; những nhà đại diện tôn giáo không có quyền nói lên những vấn đề luân lý, là những gì được khắc ghi sâu thẩm trong lương tâm con người, nhứt là đối với những ai có liên hệ đến luật pháp hay cơ quan lập pháp. Nêu lên điều vừa kể, chúng tôi không có ý đề cập đến sự thâm nhập của Giáo Hội vào động tác tự lập của lập pháp, động tác cá biệt và đặc quyền của Quốc Gia, mà là xác nhận quyền bênh vực các giá trị trọng đại làm cho cuộc sống con người có ý nghĩa và bảo vệ phẩm giá con người. Các giá trị cao cả vừa kể, - trước khi là những giá trị Kitô giáo, - đã và vẫn luôn luôn là những giá trị của con người. Và vì đó không thể làm cho Giáo Hội làm ngơ, im hơi, lặng tiếng trước những vi phạm tha hoá đối với con người. - "Giáo Hội có bổn phận xác nhận cứng rắn chân lý về con người và về cùng đích của con người " ( ĐTC Benedictus XVI, Discorso all'Unione Giuristi Cattolici Italiani, 09.12.2006) - Giáo Hội liên hệ dấn thân vào chính trị thế nào ? - Giáo Hội với tư cách chính đáng của mình, * không đặc tâm dấn thân vào chính trị, * không đồng hoá mính với chính trị, không lẫn lội với chính trị, * không liên hệ với một hệ thống chính trị nào hay đảng phái nào. Giáo Hội tôn trọng và khuyến khích phát huy đặc tính trần thế chính đáng của Quốc Gia. Giáo Hội không phải là một nhân viên chính trị, không phải là một chính đảng, không làm chính trị. Giáo Hội không có bổn phận phải nói cho người công giáo nên bỏ phiếu cho ai hay chống lại ai. Giáo Hôi chỉ có mục đích giúp cho người công giáo đào tạo nên lương tâm của mình hợp với chân lý của Thiên Chúa. - Giáo Hội không đưa ra * những quyết định thiết thực cần phải tuân theo, * các chương trình phải thực hiện, * những cuộc vận động chính trị cần phải hướng dẫn, * nhân sự cần phải bỏ phiếu cho. * " Tất cả những điều vừa kể là những vấn đề kỷ thuật, mà Quyền Huấn Dạy của Giáo Hội không hề có phương tiện thích ứng cũng như sứ mạng sứ mạng nào " ( ĐTC Pio XI, Quadragesimo anno). * " Giáo Hội tôn trọng quyền tự lập chính đáng của trật tự dân chủ và không có danh vị để bày tỏ thái độ chọn lựa giải pháp nầy hay giải pháp khác đối với cơ chế hay đối với hiến pháp " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Centesimus annus, 47). * Giáo Hội và cộng đồng chính trị, - mặc dầu cả hai đều thể hiện với các cấu trúc tổ chức nhận diện được, - nhưng cả hai đều có bản thể khác nhau, về mặt hình thể cũng như mục đích mà mình theo đuổi. * Thật rõ ràng mục đích của Giáo Hội và của Quốc Gia ở trên những lãnh vực khác nhau, và cả hai là những tổ chức, có các phương tiện của chính mình và độc lập nhau trong lãnh vực hoạt động. Nhưng cũng thật rõ ràng cả hai đều hành động nhằm đem lại những gì tốt đẹp cho củng một chủ thể con người. Sự tách biệt giữa Giáo Hội và Quốc Gia không loại trừ sự cộng tác với nhau: - " Cộng đồng chính trị và Giáo Hội độc lập và tự lập đối với nhau. Cả hai, mặc dầu với danh vị khác nhau, đều nhằm phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của cùng chính con người " ( GS, 76) . * Hiểu được như vậy, chúng ta có thể - xác nhận tính cách độc lập và tối thượng của Quốc Gia và Giáo Hội, - cũng như việc cùng cộng tác với nhau để thăng tiến con người và tạo được lợi ích cho cả cộng đồng quốc gia. Trong việc theo đuổi mục đích đó, Giáo Hội không đặt mình nhằm vào có được quyền lực, cũng không nhằm có được đặc ân hay hướng về các điạ vị được ưu thế kinh tế và xã hội. Mục đích của Giáo Hội chỉ nhằm phục vụ con người, bằng cách cảm hứng mình, như là lề luật tối thượng để hành xử, vào lời và gương Chúa Giêsu Kitô, " đi ngang qua trong khi chúc phúc và chữa lành tất cả " ( Act 10, 38). " Bởi đó Giáo Hội công giáo đòi hỏi bản tính chính xác của mình phải được nhận biết để có thể thực hiện được sứ mạng cá biệt của chính mình " ( ĐTC Benedictus XVI, Discorso all'ambasciatore italiano, 04.10.2007). - Được Chúa Giêsu lập nên chính vì để phục vụ con người và làm cho con ngưởi triển nở toàn diện, nên Giáo Hội có thể và phải * rao giảng Phúc Âm cho tổ chức trật tự chính trị ( chính trị ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, là hiểu biết chính đáng về chính trị, phương thức tổ chức tốt đẹp cho cộng đồng thị xã con người ( Hy Lạp, Polis > Politica ). * được pháp luật Quốc Gia nhận biết căn tính đích thực của mình và thực hiện những mối tương quan và phương thức cộng tác bền vững, để cùng với Quốc Gia phục vụ và bảo đảm làm cho con người toàn diện được triển nở hoàn hảo. * phán đoán các cách hành xử chính trị, đối với những gì có liên hệ đến chiều hướng luân lý. Như vậy Giáo Hội đòi hỏi cho mình có quyền tự do nói lên phán đoán chuẩn định luân lý của mình đối với mọi thực tại con người, mỗi khi trạng huống thực tại đó đòi buộc chính đáng phải có để bênh vực các quyền căn bản của con người hay có liên quan đến phần rổi con người. * giúp đỡ người tín hữu giáo dân, nhờ các vị Chủ Chăn, để đào tạo một lương tâm ngay chính cho người tín hữu Chúa Kitô và thúc đẩy họ theo tinh thần Kitô giáo thực hiện các thực tại trần thế ( bổn phận nầy thoát xuất bẩm sinh từ người tín hữu giáo dân, do Phép Rửa và Phép Thêm Sức mà họ được lãnh nhận ). * như là bổn phận của chính mình, Giáo Hội phải giáo huấn và soi sáng lương tâm các tín hữu, nhứt là đối với những ai dấn thân vào phận vụ đời sống chính trị, để cho hành động của họ luôn luôn nhằm phục vụ thăng tiến toàn diện con người và công ích. * phục vụ, bằng cách nói lên chân lý được mạc khải " cho mọi thành phần xã hội, chiếu rọi ánh sáng trên nền tảng luân lý và thanh tẩy lý trí, để bảo đảm cho lý trí vẫn rộng mở ra cho việc suy tư về những chân lý thượng đỉnh và duy trì lý trí đó vẫn liên hệ với gốc rể khôn ngoan của mình " ( ĐTC Benedictus XVI, Discorso ad alcuni ambasciatori, 15.09.2007). * trong chính trì, thường khi phải chọn con đường nào có thể, hay đúng hơn là con đưởng tốt đẹp nhứt ( ...). Tuy nhiên cần phải có can đảm không bước vào mọi lộ trình cũng được, chỉ vì là những con đường theo lý thuyết và kỷ thuật có thể được ( ĐHY Tarcisio Bertone, Discorso a Cracovia ở Balan, 16.09.2007). - " Hành động trong lãnh vực chính trị để xây dựng một trật tự xã hội tốt đẹp, không phải là bổn phận trực tiếp của Giáo Hội, mà là của các tín hữu " ( ĐTC Benedictus XVI, Messaggio alla 45°Settimana Sociale dei Cattolici italiani, 18.10.2007), tùy theo thẩm quyền của mỗi người và dưới trách nhiệm tự lập của chính mình. - Người tín hữu Chúa Kitô có bổn phận nào đối với chính trị ? Mỗi người tín hữu Chúa Kitô a) có quyền và bổn phận phải lưu tâm đến và chuyên cần dấn thân vàơ chính trị, tùy theo các hoàn cảnh, điềư kiện có thể và khả năng thẩm quyền của mỗi người, để phát huy một xã hội nhằm phục vụ con người, nguyên cội - trung tâm - cùng đich của mỗi động tác mình trong ánh sáng Phúc Âm. Từ con người phát sinh ra quyền tham dự vào đời sống công cộng và qua đó khiến cho người tham dự góp phần cá nhân của mình vào việc thực hiện công ích. b) đừng khinh dễ hay coi là không có gì đáng kể hoạt động chính trị, nhưng cần phải coi rằng chính trị là phuơng thế để tạo được công ích và bởi đó cần phải đặc tâm lưu ý đến chính trị và xác tín sự tham dự chính trị của mỗi côn dân trưởng thành, kể cả quyền và bổn phận phải tham dự bỏ phiếu. c) có thể và phải có quan niệm đúng đắn về đời sống xã hội, bằng cách tôn trọng quyền tự lập chính đáng phải có của đời sống xã hội và cùng cộng tác với các người công dân khác để phát huy và bảo đảm, tùy theo hoàn cảnh, khả năng và thẩm quyền của mình và dưới trách nhiệm của chính mình của những lãnh vực mà mình có liên hệ ( ĐTC Benedictus XVI, Deus caritas est, 29). d) hành động nhân danh chính mình ( chớ không phải lợi dụng danh nghĩa của Giáo Hội ) trong các quyết định lựa chọn chính trị, nhưng đồng thời * làm thể hiện cho mọi người thấy được nhân chứng Kitô giáo đời sống và động tác của mình; * tôn trọng tính cách đa nguyên đa dạng chính đáng của các lựa chọn thuộc lãnh vực trần thế ( miễn là không đi ngược lại giáo lý và đức tin Kitô giáo của mình) * trong một vài trường hợp thiết thực, tìm cách và phát huy sự đoàn kết, hợp nhứt chính trị giữa các Kitô hữu với nhau, nhằm bảo vệ hữu hiêu hơn các giá trị cá biệt và công ích. c) biết phân biệt giữa chuyên cần dấn thân chính trị và lựa chọn chính trị. Nếu các nguyên tắc luân lý là những di bất di dịch, động tác chính trị mặc dầu được các nguyên tắc đó gợi ý cho, không phải là những gì phải thực hiện lập tức các nguyên tắc đó, mà đúng hơn là nhằm thực hiện thiết thực có thể công ích trong khuôn khỗ định chế dân chủ. Để thực hiện những gì vừa kể, người tín hữu Chúa Kitô không bao giờ có thể chấp nhận một sai trái luân lý. Tuy nhiên, trên thực tế, có thể xảy ra một đôi khi khi không thể với khả năng mình đạt được, bởi nguyên tắc nhàm mục đích tìm kiếm công ích, phải chịu chấp nhận hay tốt hơn nên chấp nhận một lợi ích nhỏ bé hơn hay chịu đựng một điều không tốt đẹp nhỏ hơn là cam chịu điều xấu to lớn hơn, hay nói như người La -Tinh: " inter mala, minus malum " ( giữa những điều xấu, nên chọn cái xấu nhỏ hơn" d) không gia nhập hay ủng hộ các lực lượng chính trị và xã hội chống lại hay không chú tâm đdủ đến các nguyên tắc và nội dung quan trọng trong Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. e) nhận biết những lựa chọn chính đảng khác nhau luôn luôn là điều chính đáng, miễn là đó là những chính đảng hay những lựa chọn không đối nghịch lại đức tin hoặc giá trị Kitô giáo. f ) tháo bỏ đi thái độ dững dưng bỏ trông vắng bóng, lẫn bóng đóng kín mình trong đời sống riêng tư ( thây kệ, ai tham vọng chính trị " nhào vô " mặc ai ) hay khoán trắng cho người khác.

 

Khi chúng ta nhìn hai chiếc xe Mercedes 560 SEL màu xám bạc, khi cô chiêu đãi viên mang đến cho tôi và anh bạn hai ly bia đầy tràn trong dịp lễ Oktoberfest vừa qua ở Muenchen, chúng ta nói hai chiếc Mercedes 560 SEL, hai ly bia " giống hệt nhau", đồng nhứt như nhau, đầy ấp như nhau. Đó là chúng ta vừa nêu lên tư tưởng về sự " đồng nhứt " ( identité), chớ chúng ta chưa hẳn đề cập đến " Bình Đẳng"( égalité). Khi đề cập đến Bình Đẳng là chúng ta nói đền sự tương quan " Công Bình" hay " Công Lý" ( Justice) giữa người và người. Aristotes đã diển tả một cách chí lý quan niệm Bình Đẳng là Công Bình như sau: - " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng" ( Aristotes, Etica, Nicomachea, 1131a). Và người Hy Lạp đương thời với Aristotes đã diễn tả Bình Đẳng dưới hai hình thức: - " Isonomía": là danh từ kép, gồm " isos": như nhau; " nómos": luật lệ. Như vậy, "Isonomía" có nghĩa là luật lệ như nhau cho tất cả mọi người hay " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật", nói theo ngôn ngữ của chúng ta. - " Isogería": cũng là danh từ kép, gồm " isos": như nhau; " agorà": cộng đồng hay đoàn thể. Như vậy, " iségoria": ngang hàng nhau, bình đẳng như nhau trong cộng đồng đang nhóm họp. Trong cộng đồng đang nhóm họp hay ở giữa đoàn thể, mọi người đều bình đẳng như nhau, có quyền ăn nói, phát biểu tư tưởng mình như nhau hay " tự do ngôn luận và tự do phát biểu và truyền bá tư tưởng như nhau", nói theo quan niệm của chúng ta. Điều đó nói lên con người chỉ được hưởng quyền bình đẳng, dân chủ, và có đời sống tổ chức văn minh, nếu chung sống trong cộng đồng. Ngoài ra tư tưởng "bình đẳng trong cộng đồng" cũng hàm chứa tư tưởng được bình đẳng hay "tự do để" ( liberté à…) đối với những người sống trong cộng đồng, như " tự do để phát biểu tư tưởng" , " tự do để rút thăm chọn người vào chức vụ công cộng", " tự do để tham dự vào tổ chức điều hành cuộc sống của thị xã ( Polis) " hay tự do tham dự vào đường lối chính trị, lãnh đạo Quốc Gia. A - Tiêu chuẩn của Bình Đẳng. Trong bài nói về Dân Chủ, chúng tôi đã có dịp bàn đến hai hình thức của Bình Đẳng: bình đẳng toán học và bình đẳng theo tỷ lệ: - Bình Đẳng Toán Học: "cùng một thứ đối tượng cho tất cả mọi người". - Bình Đẳng theo Tỷ Lệ: " cùng một thứ đối tượng cho tất cả ai ngang nhau". Những vật giống nhau cho những người giống nhau và những vật không đồng nhau cho những người không bằng nhau. Aristotes giải thích rõ hơn về bình đẳng: - " Những người không bằng nhau được đãi ngộ tùy theo sự khác biệt của họ" (Aristotes, Etica, Nicomachea, V vol.). Câu nói trên của Aristotes nói lên không phải sự đồng nhứt ( identité) mà là sự công bình (justice) mới là yếu tố chính của Bình Đẳng. Và trong Bộ Luật của thời đế quốc Roma, người ta cũng tìm thấy thành ngữ: - " …suum cuique tribuere": trao trả cho mỗi người điều gì thuộc sở hữu của anh ta. Trong Phúc Âm chúng ta cũng đọc được: - " Của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa, của Caesar trả cho Caesar" ( Mt 22, 32). Nêu lên hai tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học và Bình Đẳng Theo Tỷ Lệ, chúng tôi không có ý phán đoán sự trổi vượt của tiêu chuẩn nầy hơn tiêu chuẩn khác. Áp dụng tiêu chuẩn nào vào thực tế là do hoàn cảnh, tùy sự hợp tình hợp lý và hiệu năng của nó. Ví dụ câu nói: " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật", nếu chúng ta không áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học, tức là " pháp luật đều như nhau cho tất cả mọi người", nền dân chủ của chúng ta đang bị lung lay, chúng ta đang hành xử thiên vị bè phái Đảng Trị. Chúng ta đang lập vây cánh, chỉ áp dụng luật lệ lên đầu lên cổ người khác, còn đối với " các đồng chí, cán bộ và Đảng Ta" thì khỏi. Ngược lại, chúng ta không thể áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học cho lãnh vực thuế vụ chẳng hạn. Sự công bằng trong thuế vụ phải được tính theo tỷ lệ của lợi tức: thuế ngang nhau cho những người có cùng lợi tức như nhau, và thuế cao hơn hay thấp hơn cho những người giàu hơn hay cho nông dân, công nhân, thủ công nghệ không lợi lộc được bao nhiêu. Ap dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng Toán Học là điều khá đơn sơ, áp dụng một cách máy móc, ai cũng làm được. Áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng theo Tỷ Lệ mới phúc tạp. Bởi lẽ chúng ta phải áp dụng theo tỷ lệ nào và đối với ai, để có sự công bằng? Ai là người ngang hàng với ai? Và đánh thuế bao nhiêu phần trăm. Định chế lũy tiến cho thuế vụ công bằng không phải là việc ngồi phỏng đoán , mà là kết quả của bao nhiêu cân nhắc, - không những cho mức thuế vụ được hợp lý, công bằng, - mà còn tiên đoán được hậu quả mức sống gia đình của dân chúng bảo đảm cho an ninh xã hội, hậu quả đến mức lạm phát hay thu hẹp mãi lực ảnh hưởng đến luật cung cầu, đến mức sản xuất kỷ nghệ và tổng sản lượng nội địa ( GDP, Gross Domestic Product), hậu quả đến vai trò đầu tư và thị trường chứng khoán, đến hối xuất của tiến tệ và vấn đề giải quyết nạn thất nghiệp. B - Phân loại Bình Đẳng. Theo cách phân loại cỗ điển, người ta có thể chia Bình Đẳng thành những loại sau đây: Bình Đẳng pháp luật và chính trị, Bình Đẳng xã hội, Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc ( opportunité d'accès), Bình Đẳng kinh tế. 1 - Bình Đẳng luật pháp và chính trị. Chúng ta vừa đề cập ở trên, Bình Đẳng luật pháp và chính trị , khi chúng ta bàn về định nghĩa Bình Đẳng theo người Hy Lạp, tức là " isonomía" và " iségoria". Chúng ta cũng nói đến tính cách phổ quát ( généralité), bao gồm tất cả ( inclusivité) mà luật pháp và chính trị phải có, nếu không dân chủ sẽ trở thành bè phái, mà người Ý gọi là lập vây cánh ( consociativismo). Bình đẳng luật pháp và chính trị là hình thức và đặc tính của luật pháp nói lên khung cảnh trong đó quyền bình đẳng của người dân được xác định và được luật pháp bảo vệ. Tư tưởng vừa nêu lên của chúng ta khác với tư tưởng của Karl Marx và các đệ tử của ông. Họ cho rằng chỉ có Bình Đẳng Kinh Tế mới là Bình Đẳng thực thụ ( substantielle), là Bình Đẳng của những gì thực hữu chứa đựng thực sự bên trong, trong khi đó thì Bình Đẳng luật pháp và chính trị chỉ là cái vỏ rỗng bên ngoài, không ăn nhập vào đâu, nói để mà nói. Rất tiếc Marx không sống dưới thời Stalin, nếu không thì ông đã có kinh nghiệm thật sự những gì Bình Đẳng luật pháp và chính trị quyết định, nhứt là đối với Stalin, luật pháp không có gì khác hơn là những điều kiện của nhóm đương quyền có thế lực tạo ra để áp đặt ý muốn của mình trên dân chúng yếu thế bị trị để đạt được mục đích, nhứt là mục đích quyền lực và kinh tế. Ai sống dưới chế độ Cộng Sản sẽ có kinh nghiệm bản thân khi bị mất các quyền làm người của mình do luật pháp và chính trị cộng sản áp đặt. 2 - Bình Đẳng xã hội. Là bình đẳng nói lên sự tôn trọng lẫn nhau, ngang hàng nhau, môi trường của hoàn cảnh xã hội Hoa Kỳ mà A. de Tocqueville phải ngạc nhiên khi lần đầu tiên bước chân đến Hoa Kỳ ( A. de Tocqueville, Démocratie en Amérique, 1835-1840, trat. It., Torino, Utet, 1968 ). Tinh thần Bình Đẳng xã hội không do ai áp đặt từ trên xuống, mà do sự xác tín và cách sống tự nhiên của xã hội. 3 + 4 - Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc và Bình Đẳng kinh tế. Tinh thần Bình Đẳng có điều kiện hội nhập ( opportunité d'accès) được Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp nói lên như sau: " Nhận thức rằng tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, nên tất cả đều có quyền được trả lương như nhau và ngang hàng nhau trong việc đảm nhận những chức vụ công, tùy theo khả năng của họ và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn duy nhứt là đức độ và trí thức của họ" ( Điều 6). Điều tuyên bố vừa kể của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân 1789 cho chúng ta thấy rằng những nhà cách mạng Pháp lúc đó dựa trên Bình Đẳng luật pháp và chính trị để rút ra quyền Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc, chỉ tùy vào khả năng xứng đáng của người dân: " …đức độ và trí thức của họ". Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân 1789 đưa ra quyến Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc, nhưng không xác nhận thêm những điều phức tạp hàm chứa bên dưới lời tuyên bố. Giờ đây sau hơn 200 năm của thời điểm cách mạng lịch sử đó, chúng ta có thể tìm được thêm những điều kiện phức tạp , mà có lẽ các nhà cách mạng lúc đó chưa để ý đến hay chưa có giờ để kịp nói ra: - quyền Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc là một chuyện, - còn quyền Bình Đẳng khởi hành (départ) là một chuyện khác nữa. Lấy một ví dụ nôm na: Thị xã Paris tổ chức cuộc chạy đua có giải thưởng tại vận động trường Paris sur Seine. Tất cả mọi người dân Paris, kể cả bác hai, cậu bảy, thiếm tám, cu Tèo, cu Tý đều có quyền tham dự ( Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc). Nhưng nếu ban tổ chức sắp tất cả đều đứng trước mức khởi hành ngang nhau, thì chắc chắn thiếm tám mập thù lù, bác hai mầy trên 70 tuổi sẽ không có cách gì đua tài ngang sức với cậu bảy trai tơ đương sức và cu Tèo, cu Tý coi nhỏ vậy mà chạy mau như hươu. Nói cách khác, trong cuộc chạy đua trên, những người tham dự, nếu được xếp đặt như vừa kể, không có sự Bình Đẳng khởi hành ( Egalité de départ). Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc là sự công nhận ngang hàng nhau đối với những khả năng bằng nhau và do đó thăng thưởng công lao như nhau: chức vụ ngang nhau, lương bổng ngang nhau cho tài ba bằng nhau. Trong khi đó thì Bình Đẳng khởi hành có nghĩa là những người dự cuộc phải có những điều kiện khởi hành tương ứng ( chớ không bằng nhau), mới mong cuộc chạy đua có kết quả khả dĩ chấp nhận được. Nói cách khác, ban tổ chức phải sắp cho thiếm tám mập và bác hai trên 70 tuổi chạy trước hoặc khởi hành từ gần mức đến hơn cậu bảy, cu Tèo, cu Tý. Hiểu như vậy có nghĩa là Bình Đẳng khởi hành sẽ được trợ giúp bằng những phương thức thiên vị ( discrimination). Qua ví dụ nôm na trên, chúng ta thấy rằng việc tạo ra điều kiện thích ứng cho Bình Đẳng khởi hành không phải là chuyện đơn sơ, dễ làm như chuyện áp dụng Bình Đẳng Toán Học. Trước hết trong một Quốc Gia, một trong những việc làm đầu tiên để tạo ra các điều kiện thích ứng cho Bình Đẳng khởi hành là phải có một nền giáo dục đồng đều cho tất cả. Nhưng thiết lập hệ thống luật lệ và và cơ sở giáo dục cho tất cả, chưa hẳn đã giải quyết được vấn đề. Bởi lẽ những người nghèo khó còn bị bất lợi trong nhiều lãnh vực khác nữa, ngoài ra lãnh vực văn hóa, trong đó có lãnh vực kinh tế. Người nghèo không đủ ăn, cho dù có đại học mở cửa phía bên kia đường, chưa chắc có đủ thời giờ và phương tiện để đến học. Từ đó, chúng ta thấy rằng Bình Đẳng khởi hành phải được giải quyết bằng cả Bình Đẳng kinh tế. Và đó là những gì chúng ta có thể tìm thấy trong dự án Hiến Pháp được tiến hành nghiên cứu cho Việt Nam không thẻ thiếu: - " Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật, trong khi cản trợ thực sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào các đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Học đường được mở cửa cho tất cả mọi người… Nền giáo dục ở bậc thấp và trung cấp có tính cách miển phí và bắt buộc, được giảng dạy ít nhứt là 12 năm.Đối với những ai có khả năng và xứng đáng chuyên cần, dầu thiếu phương tiện, cũng có quyền được học hỏi đến các cấp bậc cao nhứt. Quốc Gia có bổn phận bảo đảm quyền nầy trở thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và bằng các phương thế tiền liệu khác, được cấp phát qua các kỳ thi tuyển" ( Điều 37, id.). Nói như vậy không có nghĩa là Bình Đẳng khởi hành hoàn toàn chỉ là Bình Đẳng kinh tế và mục đích của Bình Đảng khởi hành chỉ là Bình Đẳng kinh tế. Nhưng nếu không có Bình Đẳng kinh tế, thì Bình Đẳng khởi hành khó mà đạt được. Trong cuộc chạy đua của bác hai, thiếm tám, cậy bảy và Cu Tèo, Cu Tý, chúng ta đã khám phá thêm một khía cạnh khác của Bình Đẳng nhập cuộc, đó là Bình Đẳng mức đến (Eùgalité d'arrivée) hay Bình Đẳng kết quả ( Eùgalité finale). Nói tóm lại, tư tưởng Bình Đẳng có điều kiện nhập cuộc của các nhà cách mạng Pháp đề ra hàm chứa hai hình thức Bình Đẳng khác, đó là - Bình Đẳng khởi hành - và Bình Đẳng mức tới. Muốn đạt được Bình Đẳng mức tới, nhiều lúc chúng ta bị bắt buộc phải áp dụng Bất Bình Đẳng khởi hành, ưu đãi những thành phần yếu thế và giảm bớt Bình Đẳng với thành phần ưu thế. Không phải chỉ có những nước dân chủ tự do mới nhận thấy điều đó. Khởi đầu từ Karl Marx, các nước Cộng Sản vẫn đặt Bình Đẳng là quốc sách. Nhưng đường lối giải quyết của các nước dân chủ không đồng nhứt với cách hành xử của các nước Cộng Sản. Đuờng lối hành xử của các nước dân chủ tự do là - giảm thiểu mức nghèo đói cùng cực của dân chúng , - cũng như hạ bớt mức giàu có tỷ phú của một thiểu số thành đạt vượt mức trong kinh tế. Do đó mà xã hội của các nước tự do được diển tả như hình một cái ché đựng nước ở Việt Nam: - chân của ché càng ngày càng bé đi ( thành phần nghèo khó bần tiện của các nước dân chủ tự do càng ngày càng trở nên thiểu số không đáng kể), - bụng của ché phình ra (hạng trung lưu có nhà cửa, xe cộ, có đồng lương hay lợi tức trung bình càng ngày càng đông) - và miệng của ché tóp lại ( số kỷ nghệ gia tỷ phú cũng không phải là đa số). Qua liên hệ giữa Bình Đẳng có yếu tố nhập cuộc, Bình Đẳng khởi hành và Bình Đẳng kết quả với Bình Đẳng kinh tế, các nhà lãnh đạo những Quốc Gia dân chủ tự do xác tín rằng giảm thiểu mức nghèo túng của dân cũng như hạ bớt mức giàu có vượt bực của tỷ phú, - không những chỉ nhằm mục đích thực hiện sự " công bằng về kinh tế", - mà còn nhằm thực hiện Bình Đẳng có các yếu tố nhập cuộc. Dĩ nhiên cộng cuộc áp dụng mục tiêu các Bình Đẳng trên không đơn giản như việc áp dụng tiêu chuẩn toán học. Ngoài ra việc xác nhận đâu là môi trường áp dụng tiêu chuẩn Bình Đẳng theo tỷ lệ, các nhà hữu trách trong các nước tự do còn phải quy định theo tỷ lệ nào, cùng với những hậu quả về an ninh xã hội và kinh tế, như chúng ta đã dề cập ở trên. Việc giảm thiểu mức dị biệt giữa các tầng lớp xã hội - không những bằng phương thức đánh thuế theo lũy tiến, - mà còn bằng cách ưu đãi các thành phần yếu thế bằng nhiều phương thức dễ dãi về luật pháp, thuế vụ, tín dụng và phụ cấp: * các ngân hàng phát triển nông nghiệp, phát triển tiểu công nghệ, phát triển ngư nghiệp, * luật người cày có ruộng * hoặc đợt hữu sản hóa Taxi dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, * chính sách miễn thuế liên tiếp trong ba năm cho giới trẻ ở miền Nam Ý, miền nghèo tài nguyên hơn các miền khác, kể từ ngày họ thành lập cơ xưởng kỹ nghệ, thương mại, * chính sách tài trợ người thất nghiệp… là những phương thức điển hình mà các nước tự do áp dụng để giải quyết vấn đề. Dù sao qua những thí dụ vừa kể, chúng ta thấy Chính Quyền các nước tự do - không giải quyết vấn đề Bình Đẳng bằng cách sang bằng mạc rệp mọi từng lớp xã hội thành vô sản (Bình Đẳng toán học), - cũng không nằm trong tâm thức các nước tự do cung cấp miển phí cho từng lớp yếu thế để họ ăn không ngồi chờ, mọi chuyện đã có " đảng và nhà nước lo", - mà là giúp họ có cơ hội và phương tiện để họ tự thăng tiến, Bình Đẳng khởi hành. Nhân cách của con người tự do, con người được Thiên Chúa dựng nên " giống hình ảnh Ngài" ( Gn 1, 27), có trí khôn ngoan và lòng ước muốn tự do, phản ảnh lại sự khôn ngoan vô tận và tự do không biên giới của Thiên Chúa là vậy. Trái lại với Bình Đẳng là quốc sách, thay vì áp dụng Bình Đẳng theo tỷ lệ cho Bình Đẳng kinh tế, chủ thuyết Cộng Sản áp dụng Bình Đẳng toán học cho bất cứ lãnh vực nào, biến dân chúng trở thành khối vô sản và tiêu diệt mọi sáng kiến cá nhân, khả năng và động lực cầu tiến của con người và tiềm năng làm cho đất nước trở thành thịnh vượng. Để biến mọi người đều Bình Đẳng toán học như nhau, Cộng Sản đã không ngần ngại truất bỏ tư hữu bằng mọi cuộc đấu tố giai cấp, đánh đổ tư sản ngoại bản, phú ông " cường hào ác bá", " kẻ thù của dân tộc". Một trong những điều mà các nhà lãnh đạo các nước tự do luôn chú tâm trong việc tìm phương thế thực hiện Bình Đẳng có yếu tố nhập cuộc và Bình Đẳng khởi hành để đưa đến Bình Đẳng kết quả khả dĩ chấp nhận được là không nên áp dụng những phương thế để thực thi một Bình Đẳng, mà hậu quả có thể tạo ra nhiều Bất Bình Đẳng trong nhiều lãnh vực khác. Những cuộc đấu tố trong tiến trình giai cấp đấu tranh của Xã Hội Chủ Nghĩa có nằm trong sự khôn ngoan thận trọng nầy không, hỏi để chúng ta cùng nhau suy nghĩ. Chính sự khác biệt về phương thức hành động của các nước tự do và các nước cộng sản trong việc giải quyết Bình Đẳng, bằng chính sách thuế vụ theo lũy tiến, ưu đãi giới yếu kém bằng luật pháp dễ dãi hơn, tín dụng ngân hàng của các nước tự do đã không đưa đến hậu quả tiêu cực về Bình Đẳng kinh tế như trong chính sách giai cấp đấu tranh của Cộng Sản. Nói cách khác, Chính Quyền các nước tự do - không bao giờ truất bỏ quyền tư hữu của dân chúng, - trái lại còn dùng những chính sách ưu đãi để kích thích sáng kiến cá nhân, tiềm năng sáng tạo làm triển nở " số vốn nhân thức" (human capital),yếu tố chính yếu trong việc phát triển kinh tế. Sự phát triển vượt bậc về kinh tế của các nước tự do mà Adam Smith đã tiên đoán trước đây trên 200 năm, trong quyển " Sự phú cường của các quốc gia" ( The Wealth of Nations), đặt nền tảng trên " số vốn nhân thức" đã và đang thể hiện hiển nhiên trước mắt chúng ta, so với nền kinh tế chỉ huy mạc rệp, tiêu diệt sáng kiến bằng cách truất hữu tư sản của các nước Vĩ Đại Xã Hội Chủ Nghĩa Anh Em. Và sau cùng, muốn thực thi hình thức tiêu cực của Bình Đẳng kinh tế ( không ai được có của cải riêng, không chấp nhận tư hữu), vô sản hóa hoàn toàn dân chúng để rồi từ đó phân chia đồng đều cho mọi người, Chính Quyền các nước Cộng Sản cần có uy quyền toàn năng, vuợt quá tầm tay kiểm soát của dân chúng, cho dầu họ có tự gọi là Chính Phủ Nhân Dân, Nhà Nước Nhân Dân… và cái gì đó Nhân Dân đi nữa cũng vậy. Một Chính Quyền như vậy, mặc dầu có mệnh danh là gì Nhân Dân đi nữa, nhưng tự bản chất là một Chính Quyền độc tài rõ rệt. Đàng khác nếu không ai kiểm soát được Chính Quyền đó, thì ai có thể lấy gì bảo đảm là Chính Quyền đang thực thi Bình Đẳng một cách công minh chính trực, hay đang đãi ngộ vây cánh "tập đoàn Cộng Sản, Đảng và Nhà Nước"? Trong phần trình bày ở trên, chúng ta có đế cập đến định nghĩa của Aristotes: - " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng". Chúng ta có thể đảo ngược lại câu định nghĩa trên như sau: - " Chỉ có bình đẳng thật sự ở đâu có công bình và ở đâu có bất công, thì ở đó có bất bình đẳng". Tìm phương thế để biến xã hội bình đẳng - theo quan niệm công bằng " suum cuique tribuere" ( trao trả cho mỗi người những gì thuộc về anh ta) là một chuyện, - còn biến tất cả thành đồng nhất rập khuôn ( identiques, tất cả đều vô sản mạc rệp như nhau) là tư tưởng vừa xuẩn động, vừa không tưởng. Bởi lẽ con người từ ngày xuất hiện trên mặt đất đều không đồng nhất nhau. Ngay từ khởi thủy của loài người theo Thánh Kinh, ông Adong và bà Evà có hai đứa con là Cain và Abêlê cũng khác biệt nhau. Trong thời thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh, các đệ tử cũng khác biệt nhau. Và cũng vì mọi người khác biệt nhau, mà ông chủ nhà ( có nghĩa là chính Thiên Chúa) có việc ra đi , ông cũng không ủy thác cho mọi người của cải đồng đều nhau. Ông giao cho người nầy năm nén, người kia ba nén, kẻ khác một nén, tùy theo khả năng quản tri của mỗi người, mà ông đã biết rỏ. Và kết quả cho thấy là ông có lý ( Mt 25, 14-30). Tính tình và lối sống của nhiều người cũng không giống nhau. - Người thì chí thú biết nhìn xa thấy rộng, biết tiên liệu để đầu tư vào đúng việc, đúng lúc, như người thương gia thấy trong thửa ruộng có hột bẹt qúy, về nhà hy sinh bán hết của cải để mua cho bằng được thửa ruộng ( Mt 13, 44-45). - Người khác lại vung vãi, tiêu xài hết của cải như anh con trai hoang đàng ( Lc 15, 11-20). - Còn nữa, có người chạy đôn chạy đáo dọn dẹp nhà cửa cho khang trang để đón tiếp Chúa Giêsu như cô Martha, nhưng cũng có người ngồi suốt ngày bên cạnh Chúa Giêsu say sưa lắng nghe và chiêm ngắm đạo lý cao siêu Người dạy, như cô Maria ( Lc 11, 36-42). Trong xã hội Việt Nam chúng ta cũng có - những nhân vật tài trí vượt bực, đậu thủ khoa liên tiếp ba bằng tiến sĩ như cụ Nguyễn Khuyến, " Tam Nguyên Yên Đổ", - nhưng cũng có người tài năng kém cỏi, đến độ Trần Tế Xương đã phải hạ câu: * " Nực cười cho kẻ bất tài mần thơ ". Nói tóm lại, sự không đồng nhất giữa người và người là một thực trạng, vượt quá khả năng và tầm hiểu biết của con người. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng: - tìm phương thể để tạo môi trường bình đẳng giữa người với người trong xã hội, theo tiêu chuẩn công bằng, là điều chúng ta có thể làm được và cũng là bổn phận của chúng ta phải thực hiện. - Nhưng san bằng mọi khác biệt để tạo "đồng nhất rập khuôn" ( vô sản chuyên chế ) đối với bất cứ ai là quan niệm và hành động xuẩn động không tưởng. Qua những điều vừa kể, chúng tôi nghĩ rằng dối với những ai tin vào tôn giáo, Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài,Hòa Hảo cũng vậy, chúng ta không có gì phải nghi ngại đứng trước thực trạng khác biệt giữa người với người. Trái lại, những huấn thị của tôn giáo giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về sự khác biệt trong xã hội và hướng dẫn chúng ta bổ túc những gì phương thức tổ chức xã hội Bình Đẳng theo tiêu chuẩn Công Bình không giải đáp thoả đáng. Nói cách khác người Phật Tử không phải chỉ có một phương thức duy nhứt để tổ chức Quốc Gia, tổ chức theo tiêu chuẩn Bình Đẳng hay Công Bình. Đức Phật còn dạy chúng ta " Từ bi, đại lượng, hỷ xã". Người Ki Tô hữu cũng vậy, Chúa Giêsu không chỉ dạy chúng ta - " Của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa, của Caesar trả cho Caesar" ( Mt 22, 22), - Người còn dạy chúng ta một thực tại trong đó mọi người chúng ta là anh em với nhau, bởi lẽ chúng ta tất cả đều có một Cha chung trên trời : " Lạy Cha chúng con ở trên trời…" ( Mt 6, 9). Và nếu chúng ta là anh em cùng một Cha với nhau, thì tinh thần Bình Đẳng - Công Bình thôi, chưa phải là phương thức duy nhứt để đối đãi, chung sống hoà thuận và thương yêu nhau. Lá cờ của Quốc Gia Pháp, Xanh, Trắng, Đỏ ( Liberté, Éùgalité, Fraternité) nói lên tinh thần tổ chức xã hội của người Pháp và cũng là tinh thần của các Quốc Gia Tây Âu. Xã hội Tây Âu không phải chỉ là xã hội trong đó con người sống - tự do khỏi mọi áp bức ( Liberté), - trong đó mọi người đều bình đẳng như nhau ( Égalité), mà còn trong đó mọi người đều sống trong tình thương, tương thân tương trợ nhau như anh em ruột thịt ( Fraternité). Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đang đứng trước vấn đề Bình Đẳng, một trong những vấn đề vượt quá tầm tay của chính trị và kinh tế. Những gì vượt qua tầm tay của chính trị và kinh tế để giải quyết, chúng ta có thể tìm thấy ánh sáng trong luân lý và tôn giáo. - " Nhân nghĩa", " Từ bi hỷ xã, đại lượng tha thứ " của Tam Giáo , nền tảng của xã hội Á Châu, - cũng như " Đức bác ái" dựa trên tình huynh đệ của tất cả chúng ta đều có một Cha chung trên trời của Ki Tô giáo sẽ là những nền tảng giúp chúng ta kiến tạo xã hội nhân bản cho Việt Nam. Vai trò hướng dẫn và bổ túc cho chính trị và kinh tế của tôn giáo trong việc tổ chức xã hội nhân bản cho Việt Nam là yếu tố không thể thiếu trong tâm thức của những ai có trách nhiệm đối với Quốc Gia, nếu chúng ta không muốn cho xã hội Việt Nam trở thành môi trường trong đó cảnh tượng " Nước trong leo lẻo, cá đớp cá Trời nắng chang chang, người đánh người" ( Cao Bá Quát) là việc xãy ra như cơm bữa hay coi đồng bào anh em như " Tư sản, ngoại bản, phú ông, cường hào ác bá, là kẻ thù của dân tộc và nợ máu đối với nhân dân" cần phải đem ra đấu tố không thương xót.

 

Trong quá khứ lâu dài qua các thế kỷ, các mối tương quan giữa người Kitô hữu và chính trị đã là những mối tương quan nào? - Các mối tương quan giữa chính trị và người Kitô hữu, giữa Quốc Gia và Giáo Hội, trong các thế kỷ quá khứ lâu dài và ở các Quốc Gia khác nhau, đã có những biến chuyển trên nguyên tắc cũng như trên ở tầm mức thực hiện thực tế. - Thể thức về quan niệm và thực hiện các mối tương quan đó đã gặp phải, đối đầu với những tình trạng lịch sử, xã hội và tôn giáo khác nhau. - Điều suy nghĩ tìm hiểu của chúng ta từ đây trở đi, một cách cá biệt dựa vào các tài liệu của Giáo Hội trong 50 năm gần đây, như * Hiến Chế Gaudium et spes của Công Đồng Vatican II, * Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, * Bộ Giáo Luật của Giáo Hội * và Tổng Lược Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. I - Theo đức tin công giáo, mục đích của chính trị là gì? Chính trị được hiểu như là động tác đa diện và khác nhau về phương diện kinh tế-xã hội-luật pháp-quảnn trị- văn hoá, nhằm - Đối với con người và xã hội dân sự, * bảo vệ và phát huy các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người, bảo vệ và thăng tiến phẩm giá và quyền bình đẳng của mọi công dân; * thực hiện các bổn phận của mình để phục vụ cá nhân con người và xã hội, * phát huy các giá tị căn bản và dùng các phương tiện chính đáng để thực hiện công ích, công lý và hoà bình. * dùng các đức tính thiên nhiên, đã được nền văn minh cỗ Hy Lạp diễn tả một cách chính xác, đó là bốn đức tính định hướng mà hoạt động chính trị phải có: khôn ngoan, công chính, can trường và có mức độ. - Đối với công quyền. Chính trị phải * dùng những phương tiện ngay chính để đạt được, bảo tồn và tăng cường quyền lực; * thực thi một cách vô tư và theo phương thức dân chủ quyền lực được các người công dân ủy nhiệm cho; * tạo mọi điều kiện dễ dàng cho các phương tiện truyền thông hoạt động được và cho dân chúng tham dự theo phương thức dân chủ, trong khi vẫn tôn trọng nguyên tắc liên đới hỗ tương, nhứt là đối với người nghèo khổ và giới yếu thế; * thực thi một cách trong sáng đối với nhân sự và cơ chế quản trị công quyền, bằng cách xử dụng thành thật công qủy; * bảo vệ một cách chính đáng quyền đối nghịch, phản đối của người dân, cá nhân cũng như đoàn thể. - Đối với nhân loại. Chính trị phải * thăng tiến tình liên đới, lợi ích và hoà bình đối với mọi dân tộc; * sắp xếp các cuộc xích mích, tương phản bằng đối thoại; * thực hiện và củng cố một trật tự quốc tế, trong khi tôn trọng các nguyên tắc gợi ý cho định chế luật pháp thích hợp với trật tự luân lý; * thực hiện công ích. II - Công ích đòi buộc phải có những gì? 1 - Công ích * được thực sự thể hiện trong tổng thể các điều kiện xã hội cho phép và dễ dàng hoá cá nhân, gia đình và các tổ chức xã hội trung gian ( học đường, hiệp hội, chính đảng ) đạt được hoàn hảo và mau chóng tình trạng hoàn hảo của mình ( GS, 26). * Vì là của tất cả và của mỗi cá nhân con người và vẫn còn là của chung, công ích là những gì không thể phân chia được và bởi vì chỉ khi nào cùng chung nhau mới có thể đạt được, công ích cần phải được làm cho triển nở và được gìn giữ cho cả các thế hệ tương lai ( GS, 124). 2 - Công ích * " là lợi ích của tất cả mọi người và của con người hoàn hảo trọn vẹn ( homo integralis ) ( Christifideles laici ( CL), 42); * " đòi buộc tất cả những gì cần thiết cho con người, có được một cuộc sống thực sự xứng đáng với con người, phải làm cho con người có thể đặt đến được " ( GS, 26) * phải có liên hệ với quan niệm con người hoàn hảo trọn vẹn ( homo integralis )đến sự triển nở của con người, trong tất cả các chiều hướng sung mãn của con người. * là bổn phận của tất cả và của mỗi người, mặc dầu theo các hình thức bổ túc khác nhau, tùy theo phận vụ và trách nhiệm khác nhau. Công ích là - " tìm lợi ích cho tất cả và cho mỗi cá nhân con người, bởi vì tất cả đều có trách nhiệm đối với mọi người " ( Sollecitudo rei socialis, SRS), 38). Công ích của các cá nhân con người không thể được thực hiện độc lập, tách biệt khỏi công ích của cộng đồng, mà con người là thành phần. * gồm cả tầm mức kinh tế, mặc dầu không chỉ hạn hẹp và kinh tế. Công ích gồm sự đươn kết không thể từ bỏ về các phương diện phát triển kinh tế, xã hội và nhân bản. 3 - Khi nào một xã hội đích thực là dân chủ, theo quan niệm Kitô giáo? - Khi một xã hội được đặt nền tảng trên một Quốc Gia được thiết lập hợp pháp chính danh, trong đó quyền tối thượng là pháp luật ( Quốc Gia pháp trị ), chớ không phải là quyền tùy thuộc vào ý muốn tùy hỷ của những kẻ cầm quyền. Một Quốc Gia như vừa kể đòi buộc phải có * những cuộc bầu cử tự do và phổ quát; * quan niệm chính đáng về phẩm giá con người và các quyền của con người phải được bảo vệ ( tiêu cực cũng như tích cực); * nhãn quang hợp lý chính đáng và thực hiện thiết thực công ích, như là cùng đích và tiêu chuẩn để chuẩn định đời sống chính trị; * việc tham dự điều khắp, phổ quát và có trách nhiệm ở khắp từng lớp khác nhau và tùy theo khả năng liên hệ đối với mọi công dân; * sự kính trọng quyền tự lập chính trị, văn hoá, kinh tế, tôn giáo của chính mình và của người khác. - Trong một xã hội dân chủ, chủ thể quyền lực chính trị là dân chúng, nhìn trong tổng thể là chủ nhân quyền tối thượng của Quốc Gia. Cộng đồng chính trị ( hay các cơ chế quyền lực Quốc Gia ) được thiết lập để phục vụ xã hội dân sự và nói cho cùng là để phục vụ con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các tổ chức xã hội trung gian ( gia đình, học đường, hiệp hội, chính đảng...). Bởi đó quyền lực chính trị phải * bảo đảm đời sống trật tự và ngay chính của cộng đồng, bằng cách tạo nên công ích; * tôn trọng nguyên tắc phụ túc bảo trợ, tức là không được lấy mình thay thế cho quyền tự do của cá nhân hay tổ chức xã hội trung gian, mà đúng hơn là định chế và giúp đỡ trong trường hợp cần thiết để cho các chủ thể vừa kể giải quyết được những các nhu cầu của mình. * để cho mình được trật tự luân lý hướng dẫn. Đó là trật tự - " được đặt nền tảng nơi Thiên Chúa, là Đấng nguyên lý và cùng đích của trật tự luân lý " ( ĐTC Gioan XXIII, Pacem in terris, 270). Chính từ trật tự luân lý đó thoát xuất ra đức tính bắt buộc và tính cách chính danh của luân lý, chớ không phải từ cách suy tư tùy hứng và ý muốn tùy hỷ của giới có quyền lực. * nhận biết, kính trọng và phát huy các giá trị nhân bản và luân lý thiết yếu; * ban hành những đạo luật chính đáng, thích hợp với phẩm giá con người và với tiếng nói của lý trí chính đáng. Người dân không bị lương tâm bắt buộc phải tuân theo các chỉ thị của quyền lực dân sự, nếu luật pháp đó đi ngược lại các đòi hỏi của trật tự luân lý, các quyền căn bản của con người hay ngược lại những huấn dạy của Phúc Âm; * xếp đặt hình phạt tương ứng với trách nhiêm nặng nề của tội trạng, và hình phạt đó có mục đích - cải hóa lại tình trạng mất trật tự do tội trạng gây nên, - bảo đảm an ninh công cộng và đời sống vững chãi cá nhân, - góp phần vào việc sửa trị và cứu vớt lại cá nhân và xã hội phạm pháp tội lỗi.

 

I - Nhật, Hồng Kông, Nam Hàn và Đài Loan là những quốc gia nhỏ bé tính theo diện tích; đông đúc dân cư nhìn trên dân số; thiếu thốn nguyên liệu về phương diện tài nguyên và cũng bị chiến tranh tàn phá trong Đệ Nhị Thế Chiến ( 1939-1945) và cả những năm sau đó. Vậy mà Nhật hiện nay là một trong những cường quốc kinh tế nhứt nhì trên thế giới. Hồng Kông theo thống kê năm 1993, có lợi tức đầu người hàng năm khoảng 8.000 Mỹ Kim. "...lợi tức đầu người hàng năm của Đài Loan năm 1945 ( năm của Đệ Nhị Thế Chiến vừa chấm dứt) chỉ mới có 70 Mỹ Kim. Năm 1980 đã vượt qúa 2.280 Mỹ Kim. Tổng Sản Lượng Quốc Gia ( GNP, Gross National Product ) của Đài Loan cừ mỗi 7 năm tăng lên gấp 2 lần và năm 1981 đã tăng lên 1100% so với Tổng Sản Lượng của năm 1952. ...Nam Hàn cũng bị Thế Chiến Thứ II tàn phá nặng nề và sự tàn phá còn trầm trọng hơn nữa trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc ( 1949-1953). Nhưng Nam Hàn đã biến lợi tức đầu người 87 Mỹ Kim của năm 1962 thành 1600 Mỹ Kim trong năm 1982. Cũng trong thời gian nầy mức lương bổng của Nam Hàn tăng thêm 7% " ( Michael Novak, Will it Liberate? Question about Liberation Theology, Mahwah, Paulist Press, 1986,90). Trong khi đó sau trên 70 năm ở Liên Bang Sô Viết, các nước Đông Âu, Bắc Hàn , Trung Cộng, Cuba và Việt nam do Cộng Sản cai trị, tư tưởng trổi vượt Xã Hội Chủ Nghĩa của Karl Marx đã biến trên nửa tỷ người của các nước " Xã Hội Chủ Nghĩa Anh em Vĩ Đại " phải: " Sắp hàng dài thường thượt dưới nền trời xám tuyết rơi, kiên nhẫn trong tủi nhục và nãn chí để mua được vài ổ bánh mì hay một vài lít xăng.Thực tế thê thảm trên màn ảnh truyền hình đã lật tẩy cho cả thế giới chứng kiến , sau những gì đã xảy ra năm 1989 " ( Cf." Yếu Tố Phát Triển Trong Kinh Tế Tư Bản ", Đinh Hướng 3 ( 10.11.12 - 1993), 3 ). Và ông Michael Gorbachov, vị Tổng Thống cuối cùng của Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, một quốc gia với diện tích gần như vô tận, với tài nguyên phong phú, kể cả dầu hoả, khí đốt, vàng và kim cương, với dân số đông gấp 8 lần dân số Ý , nhưng đã phải đến và cầu cứu dân Ý giúp đở: " Không có sự giúp đở của các bạn, chúng tôi không biết làm sao qua khỏi mùa đông nầy " (Nhật báo Corriera della Sera, 25.11.91, 2). Cuba, với tài lãnh đạo " khôn ngoan, đỉnh cao trí tuệ " của Fidel Castro trong mấy chục năm đã biến kinh tế của quốc gia trở thành nền kinh tế bán khai. Mức lạm phát hàng năm được viết bằng 2, đôi khi cũng bằng 3 con số không . Tiền tệ của Cuba bị phá giá đến đỗi, cách đây hai năm (1995) Fidel Castro phải đưa ra dự án bải bỏ hệ thống tiền tệ để trở lại cách trao đổi bằng "hiện vật" ( baratto). Và rồi viễn ảnh trao đổi bằng hiện vật cũng không có gì sáng sủa, mấy tháng vừa qua ( năm 1997 khi chúng tôi viết cho quý độc giả những dòng nầy) , Fidel Castro bị dồn vào ngỏ bí, phải xếp lại thủ bản của Karl Marx, " hiên ngang" đến viếng thăm Toà Thánh Vatican , như là dấu hiệu bước đầu cho sự " cởi mở", " đổi mới", sau mấy chục năm biệt tích với thế giới " Tư Bản, Thực Dân, Bốc Lột giới Vô Sản", nay bắt đầu liên lạc lại. Và hơn 20 năm được gọi là " thống nhất đất nước", Việt Nam do Đảng và Nhà Nước " sáng suốt, đỉnh cao trí tuệ " lãnh đạo, lợi tức đầu người hàng năm chưa được 200 Mỹ Kim ( theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới năm 1996). Con số lợi tức đầu người hàng năm 200 Mỹ Kim là số tiền mà ngưòi dân có được để sống và chi phí cho tất cả các nhu cầu - từ y tế, - may mặc, - giáo dục, - giao thông, - quốc phòng, - hưu dưởng... Một con số thật nhỏ nhoi nói lên mức sống cùng cực của đồng bào dưới chế độ XHCN, không hơn gì mức sống bán khai của một vài bộ lạc trên sa mạc Sahara. Để có một ý niệm rỏ rệt hơn, chúng ta thử đặt câu hỏi: Với con số lợi tức đầu người 200 Mỹ Kim vừa kể , mỗi người sẽ bỏ ra bao nhiêu cho vấn đề giáo dục? 10% chăng? 10% là con số trung bình của mức chi tiêu công qũy quốc gia cho giáo dục. 10% của 200 Mỹ Kim là 20 Mỹ Kim để mua sắm sách vở, bút mực, tổ chức trường sở và trả lương bổng cho giáo chức. Nêu ra con số đó, chúng ta có thể mường tượng được trình độ trí thức của con em chúng ta tại Việt Nam dưới chế độ XHCN hiện tại. Hy vọng rằng trong phần chiết tính trên chúng tôi đã sai lầm và trình độ trí thức của con em chúng ta ở Việt Nam sáng sủa hơn. Nếu chẳng may những nhẫm tính vừa rồi là một thực tại, thì tương lai quê hương chúng ta thật đen tối vậy. Trong thị trường kinh tế, việc mở thêm hãng xưởng cũng như việc nhiều cơ sở thương mãi, kỹ nghệ bị thua lỗ là những tiến trình tự nhiên , lúc nào cũng có thể xảy ra do luật cung cầu và giá cả của thị trường đào thải hay kích thích. Nói theo ngôn ngữ của Adam Smith " Luật cung cầu và giá cả là bàn tay nhiệm mầu xếp đặt đúng chỗ ( allocation) các yếu tố sản xuất, nhằm đạt đến hiệu năng tối đa" ( Adam Smith, The Wealth of Nations ). Nhưng việc tất cả các hảng xưởng, các cửa hàng của một thành phố hay của cả nước đồng loạt phá sản, đóng cửa là một hiện tượng quái lạ, có một cái gì bất ổn. - Hơn 70 năm XHCN ở Liên Bang Sô Viết và các quốc gia Đông Âu đã làm cho dân chúng các quốc gia nầy " hàng ngày phải sắp hàng dài thường thượt dưới nền trời xám tuyết rơi , kiên nhẫn chờ đợi trong tủi nhục và nãn chí để mua được một vài ổ bánh mì hay một vài lít xăng ", là một hiện tưởng bất ổn quái lạ. - Cuba hơn 20 năm XHCN của Fidel Castro cũng đã phá sản, định bãi bỏ hệ thống tiền tệ để trở lại phương thức trao đổi bằng hiện vật của nền kinh tế bán khai, là một hiện tượng bất ổn quái lạ. - Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị đất đai trù phú và nhiều tài nguyên với tính cần cù của dân chúng Việt Nam, vậy mà đã trên 20 năm cai trị ( tính đến năm 1996), lợi tức đầu người hàng năm chưa vượt khỏi 200 Mỹ Kim, là một hiện tượng bất ổn quái lạ ! Nói tóm lại , ở đâu có ý thức hệ XHCN hiên diện là ở đó có hiện tượng bất ổn quái lạ về kinh tế. Kinh tế của các nước XHCN anh em vĩ đại bất cứ ở đâu cũng ở trong tình trạng mạc rệp, lạc hậu, hiện tượng bất ổn quái lạ. Điều đó nói lên một sự kiện: việc bất ổn quái lạ và lạc hậu mạc rệp của nền kinh tế chỉ huy các quốc gia XHCN Anh Em không phải là hiện tượng ngẫu nhiên , mà là kết qủa của một nguyên cớ chung nào đó. Nguyên cớ hay mẫu số chung của nền kinh tế phá sản mạc rệp đó của các nước XHCN là câu hỏi mà chúng ta cùng nhau đi tìm giải đáp dưới đây. II - A - XHCN, THIẾU SÓT CỦA MỘT ĐỊNH NGHĨA. Đối với Karl Marx, tác giả của tư tưởng ý thức hệ XHCN về kinh tế, thì thị trường tự do hay kinh tế tư bản là hệ thống kinh tế dựa trên ba yếu tố: - Tư hữu các phương tiện sản xuất, - Thị trường trao đổi tự do cạnh tranh, - Chen lấn để tìm lợi nhuận ( Michael Novak, " Come Costruire la Prosperità nel Terzo Mondo", Studi Sociali, 11/91, Bologna, Dehoniana,8). Karl Marx đã liệt kê một cách chính xác những yếu tố quan trọng trong hệ thống kinh tế tư bản, nhưng Marx đã sai lầm khi đọc thoáng qua không để ý đến yếu tố căn bản quyết định, hàm chứa ngay trong danh từ của hệ thống. Và chính do sự thiếu sót hay sai lầm đó, Marx đã làm cho bại hoại đau khổ, lầm than và chết chóc không biết bao nhiêu triệu người trong thời gian trên 70 XHCN cai trị ở Liên Bang Sô Viết, ở Đông Âu, ở Trung Cộng, ở Bắc Hàn, ở Việt Nam và ở Cuba. Hệ thống kinh tế tự do trao đổi , thật ra lúc sơ khai dựa vào hiện vật hay bằng cách đếm đầu ( capita) súc vật để trao đổi. Tôi đổi cho anh 4 con heo ( 4 capita: 4 đầu heo) để lấy một con bò( 1 caput) . Tôi đổi cho anh 2 con gà để lấy một gịa lúa...Dần dần tư tưởng được biến đổi : ai có nhiều súc vật ( capita) là người có nhiều " vốn" ( capital), là người giàu có. Và rồi vốn liếng cũng được gán cho quyền sở hữu trên các vật dụng khác: đất đai, cơ sở, máy móc, nguyên liệu, tiền bạc... Có lẽ đối với " vốn liếng" ( capital) , Marx chỉ có tầm hiểu biết đến trình độ đó, mà quên đi sự việc " 4 con heo : 4 capita) tự nó không đi đổi lấy một con bò ( 1 caput) , mà chính " Tôi ", mới là ngưòi đứng ra trao đổi với anh, trong câu nói: " Tôi đổi cho anh 4 con heo để lấy một con bò ". Chính " Tôi " mới là chủ thể đứng ra quyết định cho sự trao đổi. Hay nói theo ngôn từ kinh tế học, chính tôi mới là chủ thể định đoạt trả lời cho các câu hỏi của kinh tế học: Sản xuất những gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất bao nhiêu? Sản xuất bằng cách nào? Bao giờ sản xuất? Nói cách khác, trong kinh tế tư bản " vốn liếng" hay " tư hữu các phương tiện sản xuất ", nói theo ngôn ngữ của Marx, tức là đất đai, cơ sở, máy móc, nguyên liệu, tiền bạc...tự chúng chưa tạo ra được nền kinh tế hay chưa làm cho kinh tế phát triển được. Chính con người là "chủ thể " điều khiển sản xuất, chuyên chở , phân phối, tiêu thụ và thực hiện bằng cách nào. Do đó từ ngữ " Kinh Tế Tư Bản " ( Capitalism) , phát xuất từ danh từ La Tinh " Caput ": cái đầu. Và khi nói đến con người, " chủ thể " trong kinh tế, nói đến đầu là nói đến đầu óc, trí nảo, nói đến kiến thức , biết nhìn xa thấy rộng, biết tiên liệu, biết tổ chức. Chúng ta tạm gọi sự hiểu biết hay kiến thức đó là " SỐ VỐN NHÂN THỨC " ( Human Capital). - Liên Bang Sô Viết với đất đai dường như vô tận và tài nguyên phong phú, trên 70 nămXHCN cai trị cũng chưa làm cho dân chúng thoát khỏi cảnh " sắp hàng dài thườn thượt dưới nền trời xám tuyết rơi, chờ đợi tũi nhục và nản chí để mua được một vài ổ bánh mì hay một vài lít xăng..." . - Nhật, Hồng Kông ,Nam Hàn, Đài Loan với đất đai chật chội, dân cư đông đúc, tài nguyên nghèo nàn vậy mà trong mấy chục năm ngắn ngủi đã đưa mức lợi tức của dân chúng đến những con số mà chúng tôi ghi lại ở đầu bài. - Ở Hồng Kông chỉ cần 16 ngày làm thủ tục và 50 Mỹ Kim là có thể mở được một cơ sở thương mại hay tiểu công nghệ. Do đó Hồng Kông chỉ có mấy chục cây số vuông, mà có đến 28.000 cơ sở.( Michael Novak, ult.op.cit, 12). - Ở Liên Bang Sô Viết cũng như các nước theo XHCN với nền kinh tế tập trung do Đảng và Nhà Nước chỉ đạo, lãnh đạo và quản lý, con ngưòi chỉ biết tuân lệnh "cấp trên ", như một bánh xe trong guồng máy khổng lồ vận chuyển. Con người trở thành một tế bào trong cơ cấu xã hội, là một con số không hơn không kém, mất hết chủ thể tính năng động của mình. Nói cáchkhác XHCN đã làm tê liệt " Số Vốn Nhân Thức", kiến thức và khả năng sáng tạo của con người, động lực chính để điều khiển và làm cho kinh tế vận chuyển. Đức Thắnh Cha Gioan Phaolồ II đã nêu lên sự sai lầm vừa nói trong Thông Điệp Centesimus Annus của Ngài, viết ra để kỷ niệm 100 ngày ban hành Thông Điệp Rerum Novarum ( 1891) , Thông Điệp đầu tiên về các Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo. Đức Giao Phaolồ II nêu lên như sau: " ... sự sai lầm căn bản của XHCN là sự sai lầm mang tính cách nhân bản học (antropologico). Chủ thuyết trên, trên thực tế, quan niệm con người chỉ là một yếu tố, một tế bào trong cơ chế xã hội. Và từ đó hạnh phúc cá nhân tuỳ thuộc vào cơ chế hoạt động kinh tế, xã hội..." ( Centesimus Annus ,CA, 13). Quan niệm sai lầm trên của Karl Marx cũng đưọc vi Tổng Thống cuối cùng của Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết xác nhận : « Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết đang trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng. Chúng tôi là một trong những người cuối cùng, trong thời đại truyền thông kỹ thuật, hiểu được của cải quý giá nhứt là sự hiểu biết của con người, trí óc tưởng tượng và sáng tạo của cá nhân. Sự đánh giá sai lạc nầy, chúng tôi còn phải trả đắc giá trong nhiều năm tới nữa » ( Michael Gorbachov, Freedom anh High Teach Revolution, cit. George Gilder, Imprimis, vol.19, n.111, Nov.1990, 1). Dưới một hình thức khác, Engel Loebl, giám đốc một hãng kỹ nghệ quan trọng ở Canada và Stephan Roman, nguyên Bộ Trưởng Ngoại Giao Tiệp Khắc , tỵ nạn tại Hoa Kỳ đã diển tả cái nhìn sai lạc của Karl Marx trong kinh tế như sau: " Nhân thức " là nguồn mạch nguyên thủy của sự sung mãn nhân loại. " Nhân thức " là số vốn nguyên thủy của con người. Dầu hỏa đã có từ mấy ngàn năm nay, nhưng vẫn nằm yên dưới lớp cát ở các xứ Ả Rập, cho đến khi "nhân thức " khám phá ra cách xử dụng nó.Có hằng hà sa số sự vật mà Thiên Chúa đã dựng nên , trải qua không biết bao nhiêu ngàn năm vẫn không dùng được vào việc gì, cho đến khi con ngưòi khám phá ra giá trị của chúng. Bao nhiêu vật mà hôm nay chúng ta cho là tài nguyên , một trăm năm trước đây không ai gán cho chúng giá trị hiện tại. Và bao nhiêu vật khác mai đây sẽ có giá trị, nhưng hôm nay chúng ta chưa biết xữ dụng nó. Chiếc cầu đưa đến sự phú quý, chính là trí khôn của con người vậy " (Michael Novak, The Spirit of Democratic Capitalism, New York, Simon and Schuster Inc., 1982, 127 - 128). Tư tưởng của hai nhà kỹ nghệ và chính trị gia trên cũng đã được Đức Gioan Phaolồ II xác nhận: " Nguồn tài nguyên chính yếu của con người, cùng chung với đất đai, là chính con người. Chính nhờ trí khôn ngoan mà con ngưòi biết khám phá ra khả năng sản xuất của đất đai và thiên hình vạn trạng hình thức có thể thoả mãn các nhu cầu của con người" ( CA, 32). Ở một đoạn khác Đức Gioan Phaolồ II diễn tả " nguồn tài nguyên chính yếu của con người " hay " số vốn nhân thức" như một thực thể phát sinh từ bản tính của con ngườì và con người thực hiện khả năng " Thiên phú " đó như chính sứ mạng mà con người phải chu toàn trong cuộc sống trần thế: - " Con ngưòi khám phá ra khả năng biến chế và, nói theo một ý nghĩa nào đó, khả năng sáng tạo thế giới bằng chính việc làm của mình... ( con người) thực hiện vai trò của mình cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo thế giới " ( CA, 37). Con người được Thiên Chúa phú cho " nguồn tài nguyên chính yếu " hay " số vốn nhân thức" Để khám phá, sáng tạo, tổ chức. Khả năng đó phát sinh từ chính địa vị cao cả của con người ngay từ lúc Thiên Chúa dựng nên: " Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, Giống hình ảnh Ngài thiên Chúa tạo dựng nên Ngài dựng nên người nam và ngưòi nữ " ( Gn 1,27): Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, tức là ban cho con người trí khôn , biết suy tư, biết khám phá, hiểu biết, biết sáng tạo phản ảnh trí khôn ngoan của Ngài. Thiên Chúa ban cho con người tất cả những điều đó cùng với sự tự do suy tư và hành động để cộng tác với Ngài sáng tạo mặt đất: " …... và Thiên Chúa đặt con người trong vườn điạ đàng để trồng trọt và trông coi"( Gn 2, 15). Do địa vị cao cả là " hình ảnh của thiên Chúa", được " thiên phú " trí khôn ngoan và có nhiệm vụ phải chu toàn là dùng trí khôn ngoan của mình để cộng tác với Thiên Chúa , tiếp tục công việc sáng tạo thế giói của Ngài, mà - " ... con người chỉ có thể phát triển thành đạt chính mình thật sự bằng trí khôn, tự do của mình, và qua hành động đó, con người chiếm lấy của cải vật chất làm như của riêng mình và như dụng cụ để thực hiện. Phương cách hành động như vừa kể là nền tảng của quyền tự do sáng kiến cá nhân và quyền tư hữu " ( CA,43). Chính trí khôn hay " số vốn nhân thức " mới là " vốn liếng ", là yếu tố chính , là động lực cho sự phát triển kinh tế: - " Trong thời đại chúng ta , một cách đặc biệt , còn có một hình thức tư hữu khác chiếm vai trò quan trọng không kém gì đất đai: đó là tư hữu của sự hiểu biết kỹ thuật và kiến thức. Sự phú cường của các quốc gia kỹ nghệ hoá đặt nền tảng trên tư hữu nầy hơn là trên tài nguyên thiên nhiên" ( CA,32) Do chính địa vị con người được" Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài " hay nói cách khác " được Thiên Chúa ban cho trí khôn ngoan để suy tư, hiểu biết sáng tạo và hành động một cách tự do và có trách nhiệm", như chính cách hành động của Thiên Chúa, mà mấy năm trước đó, năm 1987, với Thông Điệp Sollecitudo Rei Socialis, Đức Gioan Phaolồ II còn đi xa hơn nữa: - " ...quyền có sáng kiến cá nhân trong kinh tế là một quyền bất khả nhượng, chỉ chiếm địa vị thứ hai sau quyền tự do tôn giáo mà thôi" ( Sollecitudo Rei Socialis, 33). Cũng trong cùng một Thông Điệp, Đức Gioan Phaolồ II đã vạch rỏ sự sai lầm của nền kinh tế chỉ huy, sự sụp đổ của hệ thống kinh tế và chính trị XHCN hai năm sau đó, năm 1989: - " ... các cơ cấu chính trị không nên làm giảm thiểu hay hủy diệt " sáng kiến cá nhân", chủ thể tính sáng tạo của người dân" ( id., 15). Bởi vì " làm giảm thiểu hay hủy diệt chủ thể tính sáng tạo của người dân", yếu tố chính yếu của phát triển kinh tế, nền kinh tế được tổ chức như vừa kể có viễn ảnh phá sản ngay trong trứng nước: - " Nếu trong qúa khứ, yếu tố quyết định để sản xuất là đất đai, cũng như thời gian kế đến là vốn liếng, được hiểu như máy móc và dụng cụ, hiện nay yếu tố càng ngày càng trở nên quyết định chính là con người, qua kiến thức khoa học, khả năng hiểu biết của con người được đặt trên vị thế nổi bật, khả năng tổ chức để hợp tác với nhau, khả năng tiên đoán để thỏa mãn được nhu cầu cần thiết của người khác" ( CA,32). Trong 70 năm kinh tế chỉ huy, các nước XHCN với chính sách " cản trở, giảm thiểu hay hủy diệt chủ thể tính sáng tạo" của con người đã đi đến con đường cùn mơ ước không tưởng của họ. Điều mà Đức Leo XIII đã tiên đoán gần 100 năm trước đó trong Thông Điệp Rerum Novarum ( R.N. 3-4). B - TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈOVÀ TRỢ GIÚP CÁC QUỐC GIA NGHÈO a) Trợ giúp ngưòi nghèo. Đức Gioan Phaolồ II đề cập đến người nghèo và các quốc gia nghèo trong Thông Điệp Centesimus Annus của Ngài ở đoạn 33 như sau: - " Các nước kỹ nghệ hóa cũng như giới có của cần nỗ lực giúp cho các xứ chậm tiến cũng như người nghèo khổ có cơ hội nhập cuộc vào tiến trình sản sản xuất trong kinh tế tư bản ..." (CA,33) Nhiều đảng xã hội, nhứt là các đảng tả phái sau khi vừa đọc Thông Điệp liền la ó lên là họ có lý, là " ô nhục", " ích kỷ " các nước tư bản tân tiến, giúp cho người nghèo quá ít, nên Đức Thánh Cha mới lên tiếng. Cần nới rộng hồ bao ra thêm nữa. Có thật tiểu đoạn 33 của Centesimus Annus nêu lên lời kêu gọi của Đức Thánh Cha theo chiều hướng vừa kể không? " Nới rộng hầu bao hơn nữa cho người nghèo và các nước nghèo được nhờ " ? Để có cái nhìn xác thực hơn, chúng ta thử đọc lại và đặt văn mạch của tiểu đoạn 33 vào chiều hướng Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội. Chiều hướng Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, chúng ta có thể tìm thấy ngay trong Hiến Chế Gaudium et Spes như sau: " Ở những nước kinh tế tiến bộ, hệ thống cơ cấu xã hội về hưu dưỡng và an sinh xã hội một phần có thể đem ra thực hiện ý nghĩa " dụng đích chung" ( destination comune) về của cải. Đàng khác cần phát triển hơn nữa những cơ cấu để phục vụ gia đình và những nhu cầu xã hội , nhứt là những tổ chức chuyên lo về văn hóa và giáo dục. Nhưng trong khi tổ chức những cơ cấu nầy, cần phải thận trọng, đừng để người dân có thái độ thụ động với xã hội hay có thái độ vô trách nhiệm trong bổn phận phải chu toàn hoặc từ chối bổn phận phục vụ" ( Gaudium et Spes, 69). Năm 1964, Tổng Thống Lyndon Johnson đưa ra chính sách " chống nạn nghèo đói « trên đất Hoa Kỳ. Hai mươi năm sau đó, năm 1984 một nhóm chuyên viên của viện đại học AEI ( American Entreprise Institute for Public Policy Research) được đề cử nghiêng cứu kết quả. Và sau đây là bản tưòng trình của Ủy Ban: - " ... trong thời gian 20 năm,vấn đề cứu tế người già đã thực hiện một bước khả quan về phẩm chất. Việc trợ cấp y tế cùng với việc trợ cấp tài chánh đã thăng tiến một cách khả quan mức sống của người già... nhưng đối với giới trẻ, tình trạng đã trở nên tệ hại hơn, nhứt là đối với trẻ em và gia đình chỉ một mình cha hoặc mẹ: số trẻ em sinh ra ngoại hôn và số gia đình chỉ có một mình cha hoặc mẹ gia tăng. Giữa những người nghèo ở thành phố tình trạng phạm pháp, giết người, lưu manh trở nên lang tràn. Trong khi đó, thì nền luân lý gia đình đang đi vào khủng hoảng... Số ngưòi nghiện ma túy cũng gia tăng " ( M.Novak, " Working Seminar on Family and American Welfare State", in The New Consensus on Family and Welfare, Washinton DC , American Entreprise Institute for Public Policy Research, 1987). Qua hai tài liệu đạo, đời vừa trích dẫn, chắc hẵn chúng ta có một nhãn quang khá đầy đủ để hiểu đoạn 33 của Thông Điệp Centesimus Annus, so sánh với lối nhìn một chiều của các chính đảng la ó vừa kể. - " Nhưng trong khi tổ chức những cơ cấu nầy, cần thận trọng đừng để người dân có thái độ thụ động, vô trách nhiệm trong bổn phận... , từ chối bổn phận phục vụ " ( Gaudium et Spes, 69). - " số trẻ em sinh ra ngoại hôn và số gia đình chỉ có một mình cha hay mẹ gia tăng..., tình trạng phạm pháp, giết người, lưu manh lan tràn..., số người nghiện ma túy cũng gia tăng" ( M. Novak, cit. id.). Chắc chắn khi viết đoạn 33 của Thông Điệp Centesimus Annus, Đức Thánh Cha không lạ gì đối với lời khuyên bảo của Công Đồng Vatican II , cũng như đối với bản tường trình của Ủy Ban Chuyên Môn đại học AEI. Mặt khác ở một đoạn trích dẫn khác của Thông Điệp Centesimus Annus, mà chúng ta đã đọc qua ở những trang trên của bài nầy, chúng ta thấy quan niệm " Chủ Thể Tính" của Đức Gioan Phaolồ II là quan niệm " Chủ Thể Tính Năng Động" và " Tích Cực": - đứng ra nhận lấy phần chủ động, có sáng kiến và nhận lãnh trách nhiệm trong kinh tế, - chớ con người không phải chỉ là " một bánh xe vô danh" hay " một tế bào vô cá tính" trong guồng máy tổ chức xã hội, nhứt là XHCN. Con người trong quan niệm nhân bản Ki Tô giáo là - " con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, mang hình ảnh Ngài ", được Ngài ban cho trí khôn ngoan và sự tự do của Ngài, để " hành động cộng tác với Ngài trong việc sáng tạo mặt đất" , chớ không phải là một đơn vị vô danh tánh, thụ động, không xương sống, bất động nằm chờ được " trợ cấp ", "cứu tế ". " ủy lạo". Hiểu được văn mạch như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng lời kêu gọi của Đức Gioan Phaolồ II: - " ... số đông không được những yếu tố khả dĩ cho phép họ tham dự một cách thiết thực và xứng đáng với địa vị con người vào hệ thống xí nghiệp..., họ không có phương tiện để thu thập được các kiến thức căn bản khiến cho họ có thể diễn tả được khả năng sáng tạo và làm triển nở tiềm năng của họ. Họ không thể nhập cuộc vào môi trường của kiến thức và truyền thông quốc tế để tài năng của họ được ngưỡng mộ " ( CA, 33), là lời kêu gọi sự giúp đở để con người có phương tiện phát triển khả năng và thăng tiến , cộng tác tích cực vào tiến trình phát triển kinh tế đem lại lợi ích cho chính mình và cho cộng đồng nhân loại, chớ không phải là lời van xin bố thí để cho người nghèo khó ngồi không lãnh phụ cấp, có thời giờ rãnh rỗi đi đâm chém, cướp giựt, cờ bạc, nghiện ngập ma túy, làm tình xả láng, sinh con ngoại hôn. Dĩ nhiên trong xã hội lúc nào cũng có người già cả , tật nguyền, bệnh tật, người không đủ khả năng học hành đậu đạt để có thể hội nhập vào kinh tế thị trường, cần được các tổ chức xã hội giúp đỡ. Nhưng nếu không thận trọng, Welfare State , lối tổ chức xã hội của chúng ta thay vì cứu trợ và kích thích con người thăng tiến để trở thành lợi ích cho chính bản thân và cho cộng đồng xã hội, Welfare State có thể đưa con người đến chỗ tự hủy diệt như tình trạng bản báo cáo của AEI và làm băng hoại luôn cả xã hội, mà đáng lý ra mình phải góp phần để thăng tiến. Một trong những khía cạnh khác mà phương thức tổ chức Welfare State của chúng ta nên để ý là nguyên tắc " phụ túc bảo trợ " ( subsidiarité ) : một cơ chế ở cấp bậc cao hơn đừng nên chen vào nội bộ của cơ chế ở cấp bậc thấp hơn làm cho cơ chế thuộc hạ mất đi thẩm quyền của mình. Trái lại cơ chế ở cấp bậc cao , trong trường hợp cần thiết, phải giúp đỡ cơ chế thuộc hạ để họ thể tự mình phối hợp các hoạt động của mình với các thành phần xã hội khác, đem lại lợi ích chung cho đoàn thể ( CA, 48, rif. Quadragesimo Anno I, 146-148). Nêu lên nguyên tắc trên chúng tôi có ý lưu tâm đến thể thức tổ chức các cơ quan xã hội nói riêng và tổ chức các cơ quan Quốc Gia nói chung. Nói một cách đơn sơ: những gì ở cấp địa phương , làng, xã, thôn, ấp hay quận lỵ có thể thực hiện được, thì tổ chức cấp trung ương đừng ôm đồm, thâu tóm tất cả về trung ương, để rồi từ đó mới phân phát xuống vùng, tỉnh quận, làng.... Làm như vậy, trước hết trung ương phải tạo nên những cơ sở đồ sộ với bộ máy hành chánh khổng lồ, tốn kém để quản trị bao nhiêu sổ sách, danh tánh, kế toán, nhân viên và cần bao nhiêu thủ tục và thời gian điều hành mới thực hiện được. Điều mà đáng lý ra ở cấp làng xã, thôn xóm với số lượng nhỏ bé của địa phương có thể giải quyết một cách mau lẹ, biết rõ chính xác nhu cầu, để đáp ứng kịp thời.. Để cho địa phương trực tiếp giải quyết , bởi vì những gì tại địa phương, chỉ có người địa phương gần gũi nhau mới hiểu nhau và biết đưọc những nhu cầu thiết thực của nhau. Đối với vấn đề cứu tế xã hội, người được trợ cấp không phải chỉ là một con số được ghi trên tấm thẻ bằng plastic để cho vào máy điện toán của cơ quan trung ương, mà là một con người có nhân vị, có tình cảm, cần được trợ giúp tài chánh, thuốc men, nhưng cũng cần sự thông cảm sâu xa bằng cảm tình láng diềng và tình người để người yếu thế, tật nguyền, già nua khỏi tủi thân vì có mặc cảm thấp kém, thua thiệt, bị bỏ rơi... Mối " tình người " như vừa kể chỉ có những ai gần gủi , những tổ chức địa phương mới thực hiện được. ( CA, 48). b) Trợ giúp các quốc gia chậm tiến. Những tương quan chúng ta bàn đến giữa người nghèo và người giàu trong một quốc gia về phương diện tổ chức xã hội, Welfare State, một phần chúng ta cũng có thể ứng dụng cho sự liên đới giữa quốc gia tiến bộ và các nước chậm tiến. Nói cách khác các quốc gia kỹ nghệ cần giúp cho các quốc nghèo để họ: - " ... có được những yếu tố khả dĩ cho phép họ hội nhập một cách thiết thực và xứng đáng với địa vị con người vào hệ thống sản xuất của xí nghiệp, vào thị trường tự do. - "... có phương tiện thâu thập được các kiến thức căn bản làm cho họ có thể diễn tả khả năng sáng tạo và tiềm năng của họ " ( CA, 33 ). Về phía các quốc gia chậm tiến, họ phải biết lợi dụng cơ hội được giúp đỡ, - " phải cố gắng hy sinh cần kiệm cũng như tạo được hòa khí ổn định chính trị và kinh tế, viễn ảnh hòa bình vững chắc trong tay, bảo đảm cho việc phát triển kinh tế bằng chính việc làm của họ, bằng cách đào tạo những doanh thương đầy đủ hiệu năng và ý thức trọng trách của mình đảm nhận " ( CA, 35). Một rong những vần đề chính yếu của các nước chậm tiến không phải là thiếu viện trợ cho bằng " thiếu doanh thương hiệu năng và trách nhiệm" , biết xử dụng số tiền viện trợ một cách hữu hiệu theo định luật đầu tư kinh tế. Nhiều chuyên viên của Qũy Tiền Tệ Quốc Tế ( IMF), sau những lần viện trợ và viếng thăm các nước được trợ giúp đã phải buông tay " kêu trời": - " Trên thực tế, những chương trình viện trợ không đến tay người nghèo mà chúng ta thấy hình chụp trong các bích chương hay các chương trình quảng cáo, tuyên truyền xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Ngược lại, viện trợ đến thẳng tay chính quyền. Nói cách khác, là đến tay những người làm chính trị, mà chính chương trình cai trị xứ sở của họ là nguyên nhân cho sự bần cùng của dân chúng. Ngay cả ở những trường hợp không cấp thiết, các chương trình viện trợ quốc tế đều đến tay những người cầm quyền , mà phương thức quản trị công quỹ của họ được quyết định tùy theo lợi ích riêng tư. Việc trợ giúp và bảo đảm cho người nghèo chỉ là thứ yếu " ( Lord B.T. Bauer, Realty and Rhetoric: Studies in the Economics of Development, Cambridge, MA, Harvard University Press, 1984,50 ). Chúng tôi không muốn dài dòng thêm, chỉ ghi lại một vài sự kiện và những con số sau đây để chúng ta tự suy đoán lấy. Mỗi người trong chúng ta ai cũng nghe nói đến số nợ chồng chất của các nước Châu Mỹ La tinh, chồng chất đến nỗi hàng giáo phẩm phải lên tiếng kêu gọi lòng nhân đạo của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ( IMF) và Ngân Hàng Thế Giới ( W.B.) rằng số nợ trên đã làm cho " ngột ngạt " đời sống vốn đã bần cùng của dân chúng. Người dân các nước trên có làm quần quật suốt năm riêng chỉ tiền lời thôi cũng không trả nổi , chớ đừng nói gì đến vốn. Chính Đức Gioan Phaolồ II trong Centesimus Annus cũng đã kêu gọi đến các giới chức hữu trách làm cách nào để giảm bớt số tiền lời, hoặc triển hạn các định kỳ phải trả theo thoả ước và nếu có thể cũng cho khỏi phải trả số nợ nặng nề trên ( CA, 35). Tình trạng thê thảm đó bắt nguồn từ nhà cầm quyền hành xử quyền thế một cách vô trách nhiệm hoặc không có khả năng , như Lord B.T. Bauer đề cập ở trên. Và sau dây là những con số cho tư tưởng vừa kể: Theo bản tường trình Liên Hiệp Quốc thì sau đây là kết quả tỷ lệ giữa ngân sách cho chi phí xã hội và quân sự năm 1987-1989: " Bản tổng kết và đồ thị cho thấy tỷ lệ giữa ngân sách xã hội và quân sự của: - Irak 1/500 ( Irak đang có những cuộc đụng độ lớn với Iran) - Somalie 1/500, - Nicaragua 1/300,... - Bolivia 1/50 ( Bolivia đưọc xếp hang thứ 9 trongdanh sách). ( Luigi Paganetti, " Fame nel mondo" ( Nạn đói trên thế giới), nhật báo Corriera della Sera, 21.04.92, 2). Và nếu tiền viện trợ hay vay mượn với lãi suất thấp và dài hạn không được dùng vào súng đạn thì cũng: " Phân nửa hoặc hơn phân nửa số nợ ngoại quốc của các nước Mỹ Châu La tinh được tái đầu tư vào các ngân hàng Thụy sĩ, Hoa kỳ hay các nước kỹ nghệ khác" ( Morgan Guaranty Trust Company,1989). Cũng theo bản tường trình vừa kể, thì số vốn đầu tư vào các nước Mỹ Châu La Tinh như sau: - Brasil ( Ba Tây) 31 tỷ - Mexico ( Mể Tây Cơ) 84 tỷ - Venezuela 58 tỷ - Argentina ( Á Căn Đình) 64 tỷ. Và theo Mark Falcon, chuyên viên kinh tế của chương trình bảo trợ tài chánh của công ty trên, thì nếu số ngoại tệ vừa kể được hoàn toàn đầu tư vào nội địa các nước vừa kể ( số tiền được đề cập đến chỉ là số ngoại tệ của năm 1989 mà họ nhận được), thì số nợ "chồng chất ngột ngạt " có thể không đến nổi " ngột ngạt " như chúng ta thường nghe kể. Và đây là những con số phần trăm sẽ giảm đi , nếu họ biết đầu tư vào nội địa: " Brasil với 31 tỷ Mỹ Kim vừa kể , số nợ sẽ giảm đi từ 30-40%; Mexico với 84 tỷ, giảm đi 60%; Argentina và Venezuela sẽ sang bằng 100% ".( Nicolas Eberstadt, Foreign Aid and American Purpose, Washington DC, AEI Press, 1989). Hàng giao phẩm các xứ Châu Mỹ La Tinh cũng như Đức Giáo Hoàng có lý khi các ngài đứng về phiá người nghèo, thông cảm tình trạng khốn cùng của họ, lên tiếng kêu gọi lòng rộng lượng, nhân đạo của các xứ giàu, kỹ nghệ hoá, triển hạn, giảm bớt hoặc tha các món nợ " chồng chất, ngột ngạt", làm cho đời sống bần cùng trở nên thê thảm của hàng tỷ người ở các xứ chậm tiến. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, các Ngài cũng đừng quên khiển trách, mạnh dạn " xách lổ tai " (tirare l'orecchio) , nói theo ngôn từ của người Ý, cảnh cáo những người hành quyền có trách nhiệm đối với đời sống dân chúng ở các xứ chậm tiến, do lối dùng công qũy cho tư lợi, vô trách nhiệm và thiếu khả năng quản trị của họ, nguyên nhân đưa dânchúng đến lầm than. Bởi lẽ , nếu các Ngài không vạch mặt chỉ trán " nói thẳng và nói thật" cho dân chúng thấp cổ bé họng, thì còn ai có thể bênh vực được cho những người yếu thế. Chúa Giêsu nhân lành , nhưng vì lợi ích của những người yếu thế đã không ngần ngại nói tạt mặt: - " Khốn cho các người, kẻ thông thái luật cùng nhóm Pharisêu giả hình, giống như mã tô vôi bên ngoài... ( Mt 23,27). Đứng ở một vị thế khác, thay vì nhìn tiền viện trợ, tiền vay mượn với lãi suất thấp từ phía các quốc gia vay nợ, chúng ta thử đặt mình vào địa vị của những quốc gia đứng ra tài trợ, Ngân Hàng Thế Giới hoặc Qũy Tiền Tệ Quốc Tế cho các nước kém mở mang vay mượn. Chúng ta sẽ nghĩ gì khi thấy tiền bạc chúng ta đưa ra bao nhiêu cũng sạch, không có hy vọng nào để thu góp lại, ít ra là không bị mất vốn? Chúng ta nghĩ gì khi thấy tiến bạc của chúng ta phải đổ mồ hôi , sôi nước mắt và hy sinh mới có được mà bị tiêu xài một cách phung phí, vô trách nhiệm, bởi những kẻ không có khả năng quản trị, đã vậy còn tiêu lòn, xén bớt cho tư lợi của họ? Chúng ta mất tiền, dân chúng các xứ chậm tiến vẫn tiếp tục khốn cùng, chỉ có chương mục của những người vô trách nhiệm, bất tài và bất lương ở các ngân hàng Thụy Sĩ càng ngày càng kết xù. Có lẽ khi kêu cứu Qũy Tiền Tệ Quốc Tế , Ngân hàng Thế Giới hay các xứ kỹ nghệ hoá giúp đở, nhóm lãnh đạo vô trách nhiệm và bất tài quản trị khúm núm .lễ phép, xin xỏ rằng tiền viện trợ để dùng vào " Phát Triển Nông Nghiệp", tài trợ " Thủ Công Nghệ ", " Canh Tân Hoá Ngư Nghiệp"...Nhưng số tiền sẽ đến Chính Phủ, rồi qua các Nha, Sở, Bộ, Ty...Đó là chưa kể đến số tiền để " Phát triển Nông Nghiệp", bị Nhà Nước dành "ưu tiên một ", truất đi cho việc mua súng đạn để trang bị cho " quân dân ta sang trấn giữ Cam Bốt ". Bản tường trình LHQ của GS Luigi Paganetti trên là một bằng chứng. Do đó 1.000 Mỹ Kim cho " Phát Triển Nông Nghiệp", nhưng trên thực tế ngành nông nghiệp " thấp cổ bé họng""quê mùa" có nhận được đến 600 không. Và với mức đầu tư 600 Mỹ Kim vào nông nghiệp, " tới mùa khô " chưa chắc có vị thánh nào làm phép lạ giúp cho chú nông nghiệp đáng thương đủ khả năng để trang trải số nợ 1000 mỹ Kim cộng thêm 5% lãi suất. Bước sang năm thứ 2, tình trạng bắt đầu đen tối hơn, chú nông nghiệp èo uột sẽ phải gánh thêm lãi suất 5% của số vốn 1.050 Mỹ Kim. Và tình trạng ngột ngạt của các xứ chậm tiến bắt đầu từ đó. Muốn tránh khỏi tình trạng " ngột ngạt" nợ của các xứ chậm tiến, các nhà lãnh đạo của chúng ta nên nhét vào đầu họ những tư tưởng cố định rằng tiền viện trợ để " Phát Triển Nông Nghiệp" không phải là tiền để mua vũ khí, cũng không phải là tiền để họ bỏ túi đem qua cho các ngân hàng Thụy Sĩ. Kế đến, muốn " Phát triển Nông Nghiệp", " Thủ Công Nghệ", " Ngư nghiệp", " Lâm Sản".. hay xí nghiệp, chúng ta cần có chương trình và chuyên viên với những dự án thiệt thực khả thi hay - " những nhà doanh thương có khả năng và trách nhiệm" ( CA, 35; cf. Laborem Exercens, 21), nói như Đức Gioan Phaolồ II, dự án khả dĩ đem lại lợi nhuận cho phép chúng ta trang trải nợ nần cũng như bước đầu cho phát triển. Với những con số và tư tưởng đã được đề cập, chúng ta hiểu tại sao nhiêu quốc gia kỹ nghệ hiện nay đang duyệt xét lại chương trình tài trợ của họ cho các quốc gia kém mở man. Hối lộ, tham nhũng, thối nát, " thụt két" của nhũng ngưòi lãnh đạo tại nhiều nước chậm tiến là hiện tượng không sao kiểm soát được. Nhiều nước đồng ý viện trợ, nhưng là viện trợ trực tiếp đến tay dân chúng hay cho nhân viên của họ trực tiếp đến tận nơi điều hành các dự án thỏa thuận, thay vì giao tiền cho chính quyền sở tại, như " gởi trứng cho ác ". Cũng trong tài liệu trên Lord B.T. Bauer cho biết là năm 1989 - " trong số 197 thoả ước vay mượn giữa Ngân Hàng Thế Giới và Brasil, chỉ có 2 thỏa ước được ký kết giữa Ngân Hàng và tư nhân" ( Lord B.T. Bauer, op. cit., id.) . Đáng lý ra các thỏa ước viện trợ nên làm thế nào cho số tiền trợ giúp đến tận tay người dân nghèo như việc tài trợ huấn nghệ, hoặc giúp họ thăng tiến khả năng học vấn của mình, giúp họ những số vốn nho nhỏ để họ có thể bắt đầu được các hoạt động thương mãi, tiểu công nghệ đều khắp trong dân chúng. Ở phần đầu khi chúng tôi đề cập đến việc các nước XHCN đồng loạt bị phá sản về kinh tế, một số độc giả sẽ nêu lên vấn nạn: một số đông các quốc gia đệ III thế giới vẫn ở trong tình trạng lạc hậu nghèo khổ, nhưng họ đâu có theo CS. Vậy thì các nước tự do hay theo kinh tế tự do chưa chắc sẽ là những nước tân tiến. Điều nhận xét trên rất chính xác. Trong phần đầu của bài nầy, chúng tôi có ý xác nhận rằng " Các nước CS là những nước lạc hậu" , nhưng chúng tôi không có ý quả quyết phần đảo ngữ của câu quả quyết trên cũng hoàn toàn đúng. Điều đó nói lên hai hậu ý quan trọng, có lẽ người Việt không CS chúng ta không để ý. 1 - Hậu ý đầu tiên: Nếu CS làm cho quốc gia chúng ta lạc hậu, thì việc lật đổ CS không mà thôi, chưa chắc sẽ làm cho chúng ta có được đất nước thịnh vượng, tiến bộ. CS là một cản trở, là một trong những vấn đề của đất nước, chớ không phải là vấn đề. Bởi đó, lật đổ được CS, chưa chắc chúng ta làm cho đất nước được hưng thịnh, nếu người Việt Quốc Gia không có những chương trình chính trị, kinh tế cũng như "doanh thương và những nhà lãnh đạo có hiệu năng và trách nhiệm" ( CA, 35). Nói cách khác, việc xây dựng và phát triển đất nước không phải là việc ngẩu nhiên, bất thần, mà là những đồ án được học hỏi nghiêng cứu công phu bởi nhiều bộ óc có khả năng suy tư , trao đổi và đúc kết, cũng như được đưa ra thực hiện bởi những người lãnh đạo có tài năng và đạo đức , có " hiệu năng và trách nhiệm" hướng dẫn. 2 - Hậu ý thứ hai: sở dĩ nhiều quốc gia nghèo nàn của thế giới đệ III , mặc dầu không thuộc CS, họ vẫn ở trong tình trạng lạc hậu. Có lẽ vì họ thiếu tài nguyên vật chất, có lẽ nhưng không chắc chắn. Điều chắc chắn là họ thiếu - " phương tiện để thu thập kiến thức căn bản làm cho họ có thể diễn tả được khả năng sáng tạo và làm triển nở tiền năng của họ..., cho họ tham dự một cách thiết thực và xứng đáng địa vị con người vào hệ thống xí nghiệp..." ( CA, 33). Có lẽ một trong những lý do mà nhiều quan sát viên từ các nước tân tiến không để ý đến , khi nhìn vào thực trạng các quốc gia nghèo, nhưng dân chúng sở tại cảm thấy như những chiếc gông đè nặng lên người họ, mặc dầu trên lý thuyết họ được hoàn toàn tự do kinh tế, nhưng trên thực tế thì không có cách gì ngóc đầu lên được. Đó là tình hình quả đầu chế ( oligarchia) trong kinh tế. Hay tình trạng độc quyền (monopolio) kinh tế ở các nước chậm tiến. Nói cách đơn sơ, nền kinh tế , thương mãi nằm trong tay một nhóm thiểu số, cấu kết với giới cầm quyền quốc gia, giữ bá chủ, bóp nghẹt tất cả các sáng kiến cá nhân. Ai sống duới thời Pháp Thuộc, thời đệ I và đệ II Cộng Hoà ở Miền Nam , nhứt là vùng Sàigòn vẫn còn nhớ thế nào là tổ chúc độc quyền của các " chú ba Tàu" trong Chợ Lớn. Tại Mỹ Châu La Tinh cũng không hơn gì: - " Không những phần lớn dân chúng bị loại ra khỏi thị trường làm việc, mà cũng không có cách gì hội nhập vào thế giới tiểu công thương..., 43% số căn nhà dân chúng ở Péru do những tổ chức bất lương xây cất..., 93% các phương tiện chuyên chở công cộng do tổ chức lưu manh, cướp giựt kiểm soát" ( Hermando de Soto, What's Wrong with Latin American Economies?, " Reason", n.10.1989,13). Còn nữa: - " Tại Péru, 48% dân số ở tuổi làm việc và 62,2% số giờ làm việc đều làm lậu.Mức lợi tức của việc làm lậu đạt đến 38,9% Tổng Sản Lượng Quốc Gia, theo bản thống kê của Chính Phủ " ( Hermando de Soto, id., 12). Và - " chỉ có 35% số nhà cửa của dân chúng ở Péru là có văn kiện chứng minh sở hữu chủ. Vì thế không lạ gì việc dân chúng Péru không thể " hội nhập" vào con đường kỹ nghệ hoá được. " Thật vậy, dù có văn kiện minh chứng sở hữu chủ, quyền sở hữu trên không có cách nào hoán chuyển thành bảo chứng tín dụng được.Và không có tín dụng thì không thể bắt đầu hoạt động kỹ nghệ thương mãi được" ( Hermando de Soto, id., 40). Nói tóm lại, - vốn đầu tư, " doanh thương và thành phần lãnh đạo hiệu dụng và có tinh thần trách nhiệm", - cũng như loại bỏ được thành phần thiểu số gian manh cầu kết với quyền lực quốc gia để chiếm giữ độc quyền kinh tế, - viện trợ trực tiếp đến tay dân chúng để giúp họ thăng tiến khả năng " chủ thể tính năng động" hầu phát triển kinh tế đều khắp là những tư tưởng mấu chốt cần cho những ai có trách nhiệm và hoài bão cho các nước chậm tiến và cho quê hương chúng ta lưu ý , để hướng dẫn Việt Nam trên con đường văn minh tiến bộ. Ý thức về " chủ thể tính năng động " trong kinh tế và xã hội của Thông Điệp Centesimus Annus cho chúng ta một cái nhìn tích cực về người nghèo khổ. Người nghèo không phải chỉ là người rách rưới lang thang, bẩn thỉu, hôi hám mà chúng ta phải bố thí để cứu đói. Họ không phải chỉ là gánh nặng cho xã hội. Họ không phải chỉ là "bộ máy tiêu hóa" ( tube digestif ) chỉ biết tiêu thụ, mà là những nhà sản xuất tiềm năng (producteurs potentiels) trong tương lai, có khả năng tạo ra sản phẩm và phục vụ cho chính mình và cho cộng đồng xã hội, nếu họ được giúp đở để phát triển khả năng thiên phú và có được những điều kiện thuận lợi để bộc phát được khả năng sáng tạo của họ. Bởi vì họ cũng là những người được Trời ban cho " Số Vốn Nhân Thức " hay được " Thiên chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, Giống hình ảnh Ngài, thiên Chúa dựng nên. Người nam và người nữ, Thiên chúa dựng nên" ( Gn 1, 26-27).

 

( Viết theo tài liệu bài giảng huấn của Cha GS. Bartolomeo Sorge S.J., Cựu Viện Trưởng Viện Đào Tạo Chính Trị Pedro Arrupe ( Istituto di Formazione Politica Pedro Arrupe) về Huấn Dụ Nota Doctrinalis... 2003 ( Ghi Chú Tín Lý... ) của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin ). Tài liệu mà Thánh Bộ Giáo Lý về Đức Tin đã gởi đến các người tín hữu Chúa Kitô chuyên cần dấn thân trong chính trị không phải là tài liệu có ý định thuyết giảng về mối tương quan giữa luân lý và chính trị. Trái lại Thánh Bộ có ý đưa ra những định hướng cho các tín hữu Chúa Kitô đối với một vài cách sống dân chủ hiện đại. Thật vậy - " xã hội dân sự ngày nay đang đứng giữa một tiến trình phức tạp về văn hoá cho thấy thời điểm kết thúc của một thế hệ và mối nghi ngờ đối với một thế hệ mới xuất hiện ở chân trời. Những tiến triển đạt được mà chúng ta đang chứng kiến khiến cho chúng ta xác nhận cuộc hành trình tích cực mà nhân loại đã thực hiện được trong tiến bộ và đạt được về những điều kiện sống xứng đáng với nhân phẩm con người hơn. Sự tăng trưởng ý thức trách nhiệm đối với các xứ đang trên đà phát triển chắc chắn phải là một dấu hiệu quan trọng to lớn, cho thấy sự tăng trưởng cảm nhận được về công ích. Cùng chung với điều vừa kể, dù sao đi nữa, không ai có thể nín lặng trước những nguy hiểm trầm trọng mà một vài khuynh hướng văn hoá muốn định hướng các định chế luật pháp và, do hậu quả đó, định hướng thái độ hành xử của các thế hệ tương lại " ( Nota doctrinalis..., n.2). Mặc dầu không chối bỏ đi những tiến bộ mà nhân loại đã đạt được trong việc củng cố hoá hệ thống dân chủ trên thế giới, Giáo Hội nhận thấy rằng không thể nhắm mắt trước những khuynh hướng văn hoá đang đe doạ làm băng hoại những cùng đích đã đạt được và cả tương lai của nền dân chủ. Qua những gì vừa được đề cập, chúng ta thấy có vấn đề được đặt ra cho người tín hữu Chúa Kitô dấn thân phục vụ trong chính trị. Một đàng người tín hữu Chúa Kitô - không thể lẫn lánh bổn phận tham dự phục vụ trong chính trị, - nhưng đàng khác, các anh chị em đó phải đối đầu với những khuynh hướng văn hoá không rõ ràng, đáng nghi ngờ, thúc đẩy ngành luật pháp phải có những lựa chọn đáng phải tranh cãi hay không thể chấp nhận được. Làm sao có thể vẫn trung thành với lương tâm mình và với những giá trị không thể chối bỏ được? Trước tình trạng đó, người tín hữu Chúa Kitô phục vụ trong chính trị cần phải được Giáo Hội can thiệp soi sáng cho. Đó là những gì Thánh Bộ Giáo Lý về Đức Tin ( Congregazione per la Dottrina della Fede) đã can thiệp với huấn dụ Nota doctrinalis ...( Ghi Chú Tín Lý về một vài vấn đề liên quan đến người tín hữu dấn thân và về thái độ của người công giáo trong chính trị ( 17.03.2003), mà chúng ta đang cùng nhau tìm hiểu. Bản tài liệu nhấn mạnh đến - cần phải tạo được một linh hồn cho luân lý cho đời sống chính trị ( n. 2), - một vài định hướng cần thiết, nhứt là đối với vấn đề dân chủ đa nguyên đa dạng ( n. 3), - mối tương quan giữa căn tính Kitô hữu và thuộc phái chính trị ( n.4) - đặc tính trần thế của chính trị ( nn.5-6). 1 - Tạo một linh hồn luân lý cho đời sống chính trị. Bổn phận thứ nhứt của người tín hữu Chúa Kitô - Bản Ghi Chú Tín Lý cho biết - là tạo một linh hồn luân lý cho đời sống chính trị, lành mạnh hoá vết thương gãy đổ đã bị mở ra giữa luân lý và chính trị. Sau thời điểm đổ nát tận diệt của xã hội chủ nghĩa thực tế ở các quốc Gia Cộng Sản Nga và Đông Âu , nền văn minh tân tự do chủ nghĩa ( neoliberalismo) cho chúng ta - có cảm tưởng là nền văn minh đang thắng thế - và có khuynh hướng trở thành văn minh độc tôn, bằng cách san bằng, dẹp bỏ đi gia sản các giá trị. Nhược điểm của văn minh chính trị hiện hành đang nổi bật là thái độ hành xử đươm kết gữa dân chủ và tương đối luân lý chủ nghĩa ( relativismo etico), theo đó thì - các ý kiến khác nhau về chính trị, văn hoá, luân lý và tôn giáo được coi là đều có giá trị như nhau và chính danh trước luật pháp như nhau; - trong khi đó thì tự do được coi như là quyền có thể làm và chọn lựa điều gì mình thích nhứt, chỉ bị ảnh hưởng giới hạn duy nhứt là phải tôn trọng tự do của người khác. Bản Ghi Chú Tín Lý đứng ở một vị thế tách rời rõ rệt quan niệm dân chủ thả lỏng, cho phép và cá nhân chủ nghĩa nầy và cho biết rằng - " tự do chính trị không phải và cũng không thể được đặt nền tảng trên tư tưởng tương đối cho rằng tất cả các quan niệm về lợi thú của con người đều có chân lý và giá trị như nhau " ( n 3). Lý do - và kinh nghiệm cũng chứng minh - là quan niệm vừa kể giới hạn đời sống dân chủ đơn thuần vào thực dụng chủ nghĩa ( pragmatismo); xoá bỏ đi điều kiện cần thiết đòi buộc hoạt động của các cơ chế quốc gia phải được thực hiện một cách trong sáng, tức là thay vì hoạt động để phục vụ công ích, quyền lực quốc gia được xử dụng để mưu cầu uy quyền và lợi thú của phe nhóm. Tinh thần quốc gia sẽ bị yếu kém đi trong giới lãnh đạo và từ đó ngay cả giữa giới dân chúng. Bởi đó chúng tôi nghĩ rằng không phải quá đáng mà xác quyết rằng ngày nay " vấn đề dân chủ " chủ yếu là " vấn đề luân lý ". Ngoài ra - Bản Ghi Chú Tín Lý tiếp theo - vấn đề cần tạo được một linh hồn luân lý cho chính trị còn là vấn đề đòi buộc phải có đối với những kết quả mà khoa học và kỹ thuật đạt được: - " Thật vậy, thắng lợi khoa học đã cho phép đặt được những đối tượng làm cho lương tâm bị lay chuyển và đòi buộc phải có được những giải đáp có khả năng tôn trọng một cách hợp lý và vững chắc các nguyên tắc luân lý. Nhưng trái lại, chúng ta đang thấy trước mắt những khuynh hướng định chế, bất chấp các hậu quả, mà từ nhũng định chế luật pháp đó sẽ có ảnh hưởng đến đời sống và tương lại của các dân tộc trong việc cấu tạo thành văn hoá và các thái độ hành xử xã hội, với chủ ý làm tan nát quyền bất khả xâm phạm đời sống con người " ( n.4). Nói một cách ngắn gọn, Bản Ghi Chú Tín Lý lên án nền văn hoá tân tự do chủ nghĩa độc tôn là chủ nghĩa - không tôn trọng phẩm giá siêu đẳng của con người - và có ý định phá hủy tận gốc rễ chính nền dân chủ, bằng cách vất bỏ đi những định điểm chắc chắn để có thể đối chiếu chuẩn định. Về mối nguy hiểm nầy, ĐTC Gioan Phaolồ II đã nhiều lần nhắc nhở cần phải đặc tâm lưu ý: - " Ở nhiều quốc gia, sau cuộc sụp đổ của những ý thức hệ nối kết chính trị với quan niệm toàn trị thế giới - và ý thức hệ đầu tiên trong các chủ thuyết đó chính là Mác Xít chủ nghĩa-, hiện nay đang diễn ra trước mắt một mối nguy hại không có gì kém trầm trọng hơn, đó là mối nguy hại khước từ các quyền căn bản của con người (...). Đó là mối nguy hại đồng minh giữa dân chủ và tương đối luân lý chủ nghĩa, là mối nguy hại vất bỏ đi mọi định điểm luân lý chắc chắn cho cuộc sống dân sự và tận gốc rễ, đó là vất bỏ đi đâu là chân lý phải được nhận biết ( Thông Điệp Veritatis splendor, 1993, n. 101). Một khi đạt được giả thuyết tuyên quyết đó, mọi điều băng hoại đều có thể xảy ra được. - " Nếu không có chân lý nào là chân lý tận cùng thượng đẳng, dẫn dắt và định hướng hoạt động công cộng, lúc đó các ý kiến và các xác tín đều có thể dễ dàng bị lợi dụng nhằm mục đích cho quyền thế, Một nền dân chủ không được bảo đảm bằng các giá trị, nền dân chủ đó sẽ bị biến đổi trở thành toàn trị công khai hay ẩn nấp, như lịch sử chứng minh " ĐTC Gioan Phaolồ II, Thông Điệp Centesimus annus ( 1991), n. 46). Thật vậy, Bản Ghi Chú Tín Lý giải thích tiếp, sẽ xảy ra - " một đàng, người dân cho rằng các lựa chọn luân lý của mình là những gì hoàn toàn tự lập, trong khi đó thì phía bên kia, các nhà lập luật cho rằng họ tôn trọng quyền tự do đó, bằng cách soạn thảo ra những đạo luật, mà không cần đếm xiả gì đến các nguyên tắc luân lý tự nhiên, mà chỉ cần được sự chấp thuận đối với một vài khuynh hướng văn hoá và luân lý tạm thời nào đó, như là mọi quan niệm có thể về đời sống đều có giá trị như nhau " ( Nota doctrinalis, n.2). Thật vậy, trong khi Giáo Hội - không có gì nghi ngờ về dân chủ là một hệ thống tốt đẹp nhứt để bảo đảm sự tham dự của người dân vào đời sống chính trị, - nhưng đồng thời, thời Giáo Hội cũng nhấn mạnh rằng không thể có được một nền dân chủ đích thực, nếu nền dân chủ đó không đặt nền tảng trên quan niệm chính đáng về con người . Bởi đó Bản Ghi Chú Tín Lý xác nhận tiếp theo: - " Đối với nguyên tắc nầy, bổn phận của người công giáo không thể có một sự chuẩn nhượng nào, bởi vì nếu không, sẽ trở thành hư vô nhân chứng đức tin Kitô giáo giữa trần thế, đặc tính duy nhứt và mạch lạc ( cohérent) nội tâm của chính người tín hữu sẽ bị tan biến đi ( ...). Ngoài ra chính sự tôn trọng con người làm cho sự tham dự dân chủ thực sự có thể thực hiện được " ( Nota doctrinalis, n.3). Bởi đó trước những cuộc phá hoại ngày nay đang lan tràn chống lại con người, người tín hữu Chúa Kitô - " có quyền và bồn phận phải can thiệp để nhắc nhớ lại ý nghĩa sâu xa của đời sống và trách nhiệm mà tất cả mọi người đều phải có đối với đời sống đó " ( Nota doctrinalis, n.4). Đó chính là tạo một linh hồn luân lý cho đời sống dân chủ. 2 - Dân chủ đa nguyên. Cũng chính những lý do khiến cho chúng ta khước từ tương đối luân lý chủ nghĩa, không phải là nền tảng cho quan niệm chính đáng về dân chủ đa nguyên. Bản Ghi Chú Tín Lý đề cập đến chủ đề bằng một thái độ phân biệt quan trọng, khi cho biết: đa nguyên da dạng không phải là những gì liên hệ đến các nguyên lý luân lý: - " bởi lẽ do bản tính và vai trò nền tảng đời sống xã hội của mình các nguyên tắc luân lý là những gì không thể bàn thảo chuẩn nhượng " ( n. 3). Trong khi đó thì đối với các kỷ thuật chiến lược chính trị khác nhau, dân chủ đa nguyên đa dạng là điều có thể hiểu được: - " bởi vì có thể giải thích khác nhau về một vài nguyên tắc căn bản lý thuyết chính trị, cũng như kỷ thuật phức tạp của phần lớn các vấn đề chính trị " ( ivi ). Như vậy các khuynh hướng chọn lựa dân chủ nguyên đa dạng không những là điều chính đáng, mà còn là những việc lựa chọn cần thiết cho đời sống dân chủ. Thật vậy, dân chủ đa nguyên đa dạng là những gì đòi buộc phải có tự bản thể của chính trị, mà ngay từ định nghĩa " chính trị là nghệ thuật sắp xếp các điều có thể ". bởi vì - chính trị phải đối đầu và giải quyết các vấn đê phức tạp, - bị đặt điều kiện bởi những hoàn cảnh thực tế xã hội, văn hoá, kinh tế hay bởi những lãnh vực khác nữa. Ai có thể cho mình biết rõ một hoàn cảnh xã hội với tất cả các điều kiện liên hệ, để có thể cho rằng để giải quyết hoàn cảnh đó, không có con đường nào khác hơn là con đường do chính mình đưa ra? Hiểu như vậy, chúng ta thấy là điều tự nhiên về con đường phải đi theo có nhiều ý kiến chính trị khác nhau và bất đồng với nhau, ngay cả giữa những người cùng được huớng dẫn bởi những giá trị luân lý và lý tưởng như nhau. Bởi đó là điều không thể tranh cải - " quyền tự do chính danh của người công dân công giáo có thể chọn lựa giữa những ý kiến chính trị thích hợp được với đức tin và luật lệ luân lý tự nhiên, điều mà theo chính định chuẩn của mình thích hợp hơn để đáp ứng lại những đòi hỏi của công ích " ( n. 3). Bổn phận mà người tín hữu Chúa Kitô phải hành động thích hợp với đức tin và với các nguyên lý căn bản luân lý, không có gì cản trở họ hành xử khác nhau về vấn đề chuẩn định phải có để có được động tác thích hợp, ưu tiên, hữu hiệu hay chuẩn định khôn ngoan đối một chương trình đảng phái hay chính quyền: - " Trong các tình trạng thực tế và bằng cách lưu tâm đến các liên đới mà mỗi người được sống - ĐTC Phaolồ VI đã viết một vài năm qua - cần phải nhận biết một sự khác biệt chính đáng của các việc chọn lựa có thể. Một đức tin chung Kitô giáo có thể dẫn đến các phận vụ khác nhau " (Huấn Dụ Octogesima adveniens ( 1971), n. 50). - " Ngày nay, Bản Ghi Chú Tín Lý xác nhận một cách rõ ràng hơn nữa, có thể có nhiều chính đảng, trong đó các tín hữu công giáo có thể chọn lựa để tranh đấu tác động - nhứt là qua các đại diện quốc hội - quyền và bổn phận xây dựng một đời sống văn minh cho Xứ Sở " ( n. 3). Việc lựa chọn đó tùy vào lương tâm và cảm nhận xã hội-văn hóa củ mỗi người: - " Giáo Hội không có bổn phận thiết thực đưa ra những giải đáp thực tế - hơn nữa giải đáp độc nhứt - đối với những vấn đề trần thế mà Thiên Chúa đã để cho tự do và trách nhiệm của mỗi người, mặc dầu Người có quyền và bổn phận nói lên các phán đoán luân lý về các thực tại trần thế, khi điều đó được đức tin và lề luật luân lý đòi buộc " ( ivi).

 

2 - Phương diện luật pháp và ngoại giao. Dưới phương diện luật pháp và ngoại giao, trong lãnh vực Giáo Hội toàn cầu, tác động chính của Giáo Hội là hoạt động ngoại giao của Toà Thánh. Một bên là các mối liên hệ song phương, trong đó yếu tố nhân quyền luôn luôn chiếm phần quan trọng hơn. Ví dụ như - thoả ước giữa Toà Thánh và Israel ( được ký kết ở Giêrusalem ngày 30 tháng 12 năm 1993), - cũng như giữa Toà Thánh và Tổ Chức Giải Phóng Palestine ( được ký kết tại Vatican, ngày 15 tháng 2 năm 2000). Các Thoả Ước vừa kể đòi buộc các phía ký kết liên hệ phải * tôn trọng phẩm giá con người, *các quyền của con người cách chung * và quyền tự do tôn giáo nói riêng. - Các bài diễn văn của ĐTC nhân dịp nhận ủy nhiệm thư các vị đại sứ mới bên cạnh Toà Thánh gần như luôn luôn chứa đựng các yếu tố liên hệ đến nhân quyền. - Ngoài ra Toà Thánh cũng dùng các đường dây đặc biệt để bênh vực các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền. Ngoài ra hoạt động của Toà Thánh trong trong các mối liên hệ đa phương giữa các chính quyền với nhau, rất năng động trong ba mươi năm cuối cùng nầy, hầu hết là những hoạt động dành cho nhân quyền. Toà Thánh theo dõi đều đặn - việc làm của Liên Hiệp Quốc trong lãnh vực đang bàn, - cũng như việc làm của các tổ chức vùng ( Hội Đồng Âu Châu, Hội Đồng Các Quốc Gia Mỹ Châu, Hội Đồng Các Quốc Gia Phi Châu Liên Kết), góp phần cộng tác của mình dưới nhiều hình thức khác nhau vào các cuộc thảo luận. Chúng ta cần lưu ý đến việc tham dự của Toà Thánh vào các Đại Hội Thế Giới trong những thập niên sau cùng nầy, khởi đầu từ Đại Hội được tổ chức ở Vienne năm 1993, với chính chủ đề về nhân quyền. Đặc biệt Toà Thánh không khiếm diện để hổ trợ cho việc thiết lập Toà Án Hình Sự Quốc Tế ( cfr. Al VI Congresso internazionale di diritto penale ), được kết thúc bằng việc áp dụng Nội Quy một Toà Án Hình Sự Quốc Tế cho Đại Hội Ngoại Giao Liên Hiệp Quốc, được tổ chức ở Roma năm 1998 ( cfr. Al Angelus, 14.06.1998; Al Congresso Mondiale sulla pastorale dei diritti umani, 5; I credenti uniti nella costruzione della pace, 7). Trong bối cảnh đó, Toà Thánh luôn luôn kiên trì ủng hộ các cố gắng của Cộng Đồng Quốc Tế nhằm phát huy và bênh vực một cách hữu hiệu phẩm giá và các quyền của con người. Nhưng những cố gắng cộng tác và ủng hộ đó không làm cho Giáo Hội đôi khi có thái độ dè dặt, trong trường hợp dưới áp lực của một vài khuynh hướng ý thức hệ có kỳ vọng nhìn nhận một vài " quyền của con người ", như quyền phá thai chẳng hạn, bởi vì theo họ, đó là một quyền có ảnh hưởng đến khuynh hướng tính dục của con người. Đối với Giáo Hội kỳ vọng vừa kể làm băng hoại đến quyền tiên khởi của con người, quyền mỗi con người được bảo toàn mạng sống, từ lúc tượng thai trong lòng mẹ cho đến cái chết tự nhiên. Sau cùng về phương diện chặt chẽ pháp luật, chúng ta đừng quên Giáo Hội gia nhập vào các dụng cụ pháp luật thiết thực để bảo vệ nhân quyền của - Hiệp Ước Genèvre 1949, - cũng như vào Nghị Ước ( Convention) về tình trạng của người tỵ nạn ( 1951) - và tu chính án ( 1967), vào Nghị Ước Ajax về việc bảo vệ kho tàng văn hoá trong trường họp có tranh chấp, chiến tranh ( 1954), - vào Nghị Ước chống lại các loại " mìn " chống người ( 1997), - vào Nghị Ước chống lại việc đối đải phân biệt chủng tộc ( 1965). Toà Thánh đã trở thành thành viên của các nghị hội quyết định trên, đó cũng là ý nghĩa nói lên sứ mạng của Giáo Hội là phục vụ cộng đồng quốc tế nhân loại. 3 - Phương diện mục vụ. Với phưong diện mục vụ,chúng ta đi vào cuộc sống hằng ngày của Giáo Hội, trên mọi đẳng cấp. Các quyền của con người tạo thành một chương huấn dụ xã hội to tác của Giáo Hội.Thăng tiến và bảo vệ các quyền của con người đòi buộc phải có một nền đào tạo tương xứng đối với các giá trị thiết định nền tảng cho các quyền đó. Để đạt được mục đích vừa kể, thăng tiến và bảo vệ nhân quyền, các cấu trúc thích ứng nhằm mục đích của Giáo Hội chiếm một vai trò thật quan trọng, nhứt là đặc tính năng động của các Giáo Hội địa phương đối với các vấn đề sở tại liên hệ cần giải quyết, dĩ nhiên cùng chung sức với cả Giáo Hội hoàn vũ. Năm 1998, nhân dịp giáp 50 năm tuyên bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ( được Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận năm 1948), Thánh Bộ Công Lý và Hoà Bình ( được DTC Phaolồ VI thiết lập năm 1967), để đáp lại lời kêu gọi của Công Đồng Vatican II ( Gaudium et spes, 90), đã quy tựu một Đại Hội Thế Giới Mục Vụ về các quyền của con người, với mục đích xác nhận sự liên hệ giữa sứ mạng rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội với việc thăng tiến và bảo vệ các quyền của con người, trong mọi trạng thái của cuộc sống. Đại Hội đã cho thấy công cuộc chuyên cần dấn thân của Giáo Hội đối với vấn đề, với nhưũng kết quả đáng khích lệ, mặc dầu còn có nhiều thiếu sót đáng tiếc. Dựa trên những phân tích vừa kể của Đại Hội, cũng như dưới ánh sáng của năm 2000 đang tới lúc đó, dĩ nhiên Giáo Hội có những động tác xét mình, nhưng đồng thời cũng cho thấy thái độ yêu thương của Giáo Hội đối với con người. Điều đó đã được ĐTC Gioan Phaolồ II nói lên trong Thông Điệp Tertio millenio adveniens, 33-36). Con đường Giáo Hội còn phải bước đi đã được Công Đồng Vatican II vạch ra trước đó: - " Luôn luôn và bất cứ ở đâu, và với quyền tự do đích thực, Giáo Hội có quyền loan giảng đức tin và giảng dạy huấn dụ xã hội của mình, hành xử khỏi bị chướng ngại sứ mạng của mình giữa các con người và có quyền đưa ra phán đoán luân lý của mình, cả những gì thuộc về lãnh vực chính trị, khi điều đó được các quyền căn bản của con người và sự cứu rổi các linh hồn đòi hỏi " ( Gaudium et spes, 76). Nói tóm gọn, về phương diện mục vụ, phận vụ của Giáo Hội là một phận vụ song đôi: tức là " loan bao "" tố cáo ", đó là những gì đã được Thánh Bộ Công Lý và Hoà Bình dặn dò, đưọc công bố trong văn bản năm 1975, dưới tựa đề La Chiesa e diritti dell'uomo ( Giáo Hội và các quyền của con người, 70-90 ) Giáo Hội đã nhận được sứ mạng rao giảng sứ điệp cứu rổi, tình yêu và hy vọng cho tất cả mọi người và trong mọi hoàn cảnh. Sứ mạng đó cũng phải được thể hiện ngay cả trong những nghịch cảnh đang vây quanh, bởi vì chính Giáo Hội có khả năng định hướng và nâng đỡ con người trong cuộc hành trình của họ hướng về cùng đích thực hiện Nước Thiên Chúa, trong tinh thần mong đợi thời cánh chung, chía khoá để hiểu được thái độ dấn thân chuyên cần của người Kitô hữu và phục vụ con người. - Giúp đỡ các nạn nhân với tất cả những phương tiện mình có được, - chia xẻ các nỗi đau khổ bằng sự hiện diện liên đới, - đẩy lui những cơn cám dỗ khến con người tuyệt vọng phải dùng vũ lực. Đó là những khó khăn của Giáo Hội trong lãnh vực các quyền của con người, trong việc cộng tác cả với những tôn giáo khác và những người thành tâm thiện chí, theo lời huấn dạy của Công đồng Vatican II. Trên một bình diện khác, Giáo Hội không bao giờ mệt mõi gợi ý, hướng dẫn các chuyển hoá cấu trúc có khả năng tác động trên những nguyên cớ sâu đậm về việc vi phạm các quyền của con người. Giáo Hội cống hiến cho người tín hữu Chúa Kitô có trách nhiệm trong lãnh vực chính trị những trợ lực có liên quan huấn dụ xã hội, để nhờ đó sự chuyên cần dấn thân chính trị của họ được nuôi dưỡng. Mặc cho đôi khi chúng ta có cảm tưởng mệt mỏi về các hoạt động nhằm đem lại lợi ích cho nhân quyền, tuy nhiên cần nhận biết như ĐTC Gioan Phaolồ II rằng động tác chyên cần dấn thân cho nhân quyền đó là phương diện thiết yếu trong sứ mạng mục vụ của Giáo Hội.

 

( Viết theo tài liệu của GS Giorgio Filibeck, Đại Học Công Giáo Sacro Cuore - Milano ). Trong nhãn quang của Giáo Hội, nhân quyền là những gì thể hiện từ phẩm giá của con người, mà mỗi con người đều có: - " Anh hãy làm cho mình trở nên con người và nhận biết phẩm giá của bản thể mình ". Đó là những gì Thánh Leo Cả đã viết lên từ thế kỷ V ( Omelia XXVII, 6). Phẩm giá đó là kết quả của sự kiện là - " con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa ( Gen 1, 26-27). Bởi đó phương thức chắc chắn nhứt để tôn trọng các quyền của con người là tôn kính chính Thiên Chúa. ĐTC Gioan Phaolồ II trong bài diễn văn nhân dịp đến kính viếng Thánh Địa, đã đặt câu hỏi làm sao thảm trạng sát hại hằng triệu người Do Thái có thể xảy ra được, và ngài đã đưa ra câu giải đáp như sau: - " Làm sao con người có thể có được thái độ vừa kể đối với con người ? Bởi vì những người đó đã đạt đến mức khinh dễ cả Thiên Chúa. Chỉ có một ý thức hệ vô thần mới có thể có những đồ án và đi đến tận cùng việc tàn sát cả một dân tộc " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Visita al mausoleo Yad Vashem a Gerusalemme, 2). Vậy thì đó là chìa khoá để phát triển một sự bảo vệ chính đáng các quyền của con người, ngược lại tư tưởng của những ai cho rằng tôn giáo là thù nghịch đối với các quyền đó. Giáo Hội luôn luôn chuyên cần bênh vực phẩm giá con người như là kết quả của công trình tạo dựng của Chúa. Công Đồng Vatican II đã xác nhận rõ từng chữ: - " Giáo Hội, do sức mạnh Phúc Âm được ủy thác cho mình, tuyên bố các quyền của con người, nhận biết và định giá cao cả tiến trình năng động mà qua đó, trong thời đại chúng ta, các quyền đó được thăng tiến khắp nơi " ( Gaudium et spes, 41). Qua những tư tưởng vừa trình bày, mục dích của bài đang viết là tìm hiểu suy tư và động tác của Giáo Hội nhằm bảo vệ và triển nở các quyền của con người sau Công Dồng Vatican II. Nói như vậy không có nghĩa là phẩm giá con người khiếm diện trước kia, mà là nhấn mạnh rằng kể từ sau Công Đồng thái độ chuyên tâm của Giáo Hội đối với vấn đề nhân quyền càng lúc càng chiếm phần quan trọng hơn trong các suy tư và động tác của Giáo Hội, bởi lẽ Giáo Hội càng ý thức hơn tầm quan trọng của nhân quyền trong bối cảnh xã hội, chính trị ở tầm mức quốc gia cũng như quốc tế. Chúng ta duyệt xét các tư tưởng và động tác của Giáo Hội dưới ba phương diện: tín lý, ngoại giao-luật pháp và mục vụ. 1 - Phương diện tín lý. Theo đường lối đã được Công Đồng Vatican II vạch sẵn, Giáo Hội đã ban tặng cho chúng ta một khối các nguyên tắc nhằm định hướng các động tác của người tín hữu Chúa Kitô. a) Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Đó là căn nguyên nền tảng các quyền của con người. Phẩm giá của mỗi con người, có thể nhận biết được cả bằng trí không con người, phẩm giá đó được sáng chiếu lên bởi ánh sáng đức tin và như vậy căn nguyên nền tảng đó " nhận được một sự nâng đỡ bảo đãm vững chắc nhứt" ( ĐTC Gioan XXIII Pacem in terris 5, 25). Nhưng rất tiếc trong thế giới hiện đại chúng ta, con người không hẳn đồng thuận về nền tảng vừa được nêu ra, bởi đó phẩm giá con người không được đặt trên căn tính đồng nhất và từ đó cũng không đồng thuận về các quyền cần phải được bảo vệ. Bởi đó ngay cả trong thời gian sát liền với Công Đồng con người có khuynh hướng cho rằng các quyền của chúng ta chỉ được bảo đảm vững chắc, chỉ khi nào chúng ta thoát khỏi được mọi ràng buộc đối với Chúa. Nhưng bước theo con đường vừa kể, phẩm giá con người không những không được giải thoát, mà còn bị hủy diệt ( Gaudium et spes, 41). b) Bênh vực và thăng tiến các quyền của con người là thành phần nguyên vẹn sứ mạng của Giáo Hội. Chuyên cần dấn thân đem lại lợi ích cho nhân quyền là thái độ thực tế của Giáo Hội thể hiện trước thế giới. Công Đồng Vatican II đón nhận ước vọng càng ngày càng gia tăng của con người được thấy phẩm giá mình được kính trọng. Nhưng Giáo Hội biết rằng một ước vọng như vậy không thể được thoả nguyện trong viễn ảnh hoàn toàn vật chất, bởi vì ước vọng đó phản chiếu lại những câu hỏi có liên quan đến ý nghĩa về sự hiện hữu của con người, mà câu trả lời thoả đáng con người chỉ có thể gặp được Phúc Âm, trong " Tin Mừng ". Mối tương quan giữa sứ mạng rao giảng Phúc Âm và thăng tiến con người đã được - ĐTC Phaolồ VI nhấn mạnh một cách đặc biệt trong Huấn Dụ Evangelii nuntiandi - và ĐTC Gioan Phaolồ II, trong Thông Điệp đầu tiên của ngài Redemptor hominis. c) Con người có giá trị thượng đẳng trong mọi hệ thống và đồ án tổ chức. Đây là lời huấn dạy của Giáo Hội dựa trên những gì Phúc Âm đã chỉ dạy cho: - " Ngày sabat được lập ra cho con người, chớ không phải con người cho ngày sabat " ( Mc 2, 27). Lời chỉ dạy đó của Phúc Âm được Giáo Hội lập lại và Công Đồng Vatican II chú giải: - " Con người, tự bản tính của mình, tuyệt đối cần có đời sống xã hội và ( con người ) phải là nguyên cội, chủ thể và cùng đích của mọi tổ chức xã hội " ( Gaudium et spes, 25). Nhờ vào xác định đó, các quyền của con người được tước ra khỏi mọi suy tư cá nhân chủ nghĩa và có được ý nghĩa đầy đủ của mình trong mối liên hệ giữa con người cá nhân và cộng đồng. Như vậy một định nghĩa chính đáng về con người là cá nhân có cuộc sống liên hệ tùy thuộc với người khác, bởi đó đòi buộc tổ chức xã hội phải nhằm đến công ích. d) Tôn trọng các quyền của con người là định chuẩn để đánh giá tính cách chính danh của mọi quyền lực. ĐTC Gioan Phaolồ II đã tuyên bố nguyên tắc vừa kể dưới một hình thức ngắn gọn và đầy ý nghĩa: - " Các quyền của quyền lực không thể được hiểu theo cách nào khác hơn là dựa trên việc tôn trọng các quyền khách thể và bất khả xâm phạm của con người " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Redemptor hominis, 17). Lời huấn dạy của Giáo Hội cũn không thiếu nói lên giả thuyết trong đó quyền lực công quyền vượt quá thẩm quyền của mình. Trong trường hợp đó, các người công dân có quyền và bổn phận phải " bênh vực " các quyền của chính mình và của những người đồng công dân với mình chống lại các lạm quyền của giới công quyền, trong khi vẫn tôn trọng các lằn mức được luật tự nhiên và Phúc Âm chỉ bảo cho ( Gaudium et spes, 24). e) Nhận biết các quyền của con người không thể tách rời khỏi việc nhận biết các bổn phận liên hệ. Lời huấn dạy của Giáo Hội dạy chúng ta rằng ý nghĩa hoàn hảo ý niệm về con người sẽ không đầy đủ, nều con người không có khả năng nói lên tư tưởng rằng con người cũng có trách nhiệm, trước tiên là trách nhiêm đối với chính Đấng Tạo Hoá. Một đàng Thông Điệp Pacem in terris của ĐTC Gioan XXIII nhắc cho chúng ta nhớ rằng có một mối liên hệ không thể tách rời được trong cùng một con ngưòi, cũng như mối tương quan giữa quyền và bổn phận giữa những người khác nhau. Đàng khác Công Đồng Vatican II cũng lưu ý cần thận trọng các quyền của con người có thể được quan niệm theo khuynh hướng tự lập sai trái. ( cfr Gaudium et spes, 41). f) Các quyền con người có những đặc tinh phổ quát và không thể chia tách. Chính luật tự nhiên ban cho con người các quyền vừa kể, bởi đó không có ai là con người mà không có các quyền đó. Bởi vậy tổ chức xã hội được mời gọi phải nhận biết các quyền đó của con người, chớ không phải ban cho hay tước bỏ đi tùy theo việc con người thuộc về khuôn viên của nền văn hoá nầy hay văn hóa khác, ý thức hệ nầy hay ý thức hệ khác, đảng phái nầy hay đảng phái khác. Cũng không có quyền nào của con người thuộc hạng nhứt hay hạng hai. Bởi lẽ mỗi thứ hạng các quyền của con người đều có giá trị nội tại như nhau, bởi vì tất cả đều toát xuất từ quan niệm duy nhứt về phẩm giá con người. ĐTC Gioan Phaolồ II đã xác nhận rằng cần phải khước từ những lời chỉ trích của những ai có ý đồ tháo gở đi chủ đề đang bàn dựa vào đặc tính cá biệt của các nền văn hoá khác nhau, để từ đó có thể vi phạm các quyền của con người, cũng như của những ai bần tiện hoá phẩmg iá con người, bằng cách chối bỏ đi giá trị pháp luật phải có đối với các quyền kinh tế, xã hội và chính trị ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Dalla gustizia cristiana nasce la pace per tutti, 2). g) Hành xử trọn vẹn các quyền của con người là điều kiện để có được một nền hoà bình hoà bình vững mạnh và một cuộc phát triển chính đáng. ĐTC Gioan Phaolồ II, đã viết Thông Điệp Redemptor hominis, một cách x1c quyết rằng: - " ,,, nói cho cùng, hoà bình được quy tóm vào việc tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm của con người " ( Redemptor hominis, 17 ). Và trong Thông Điệp Sollecitudo rei socialis ngài cũng xác nhận: - " Cũng không thể thực sự xứng đáng với con người một công cuộc phát triển không tôn trọng và không phát huy các quyền con người, cá nhân và xã hội, kinh tế và chính trị, kể cả quyền các Quốc Gia và các dân tộc được phát triển " ( Sollecitudo rei socialis, 33). h) Tự do tôn giáo là khuôn thước đo lường mức độ tiến triển của mỗi xã hội. Công Đồng Vatican II đã đánh dấu một khúc quanh có ý nghĩa trong lời huấn dạy của Giáo Hội về vấn đế tôn giáo, bằng cách trình bày quyền tự do đó như là quyền của con người mà thể chế luật pháp có bổn phận bảo vệ đối với mọi công dân và như vậy nhận biết vai trò trần thế quan trọng của tổ chức Quốc Gia. Tuyên Ngôn Dignitatis humanae của Công Đồng long trọng xác nhận: - " Trong vấn đề tôn giáo, không ai bị bắt buộc bị cưỡng bách phải hành động trái với lương tâm mình, cũng không ai có thể bị cấm cản, trong lằn mức phải có, được hành động hợp với lương tâm đó " ( Dignitatis humanae, 2). Văn bản tài liệu vừa kể nhắc lại bổn phận luân lý bắt buộc phải tìm kiếm sự thật và thái độ hành xử phải bị bắt buộc được gợi ý bởi sự thật đó, bởi vì quyền tự do tôn giáo không được đặt nền tảng trên cách suy nghĩ tùy hỷ của con người, mà trên chính bản thể của con người ( ibid.). ĐTC Gioan Phaolồ II đã nhấn mạnh một cách đặc biệt về lời huấn dạy vừa kể của Giáo Hội, theo đó thì - " Việc vi phạm quyền tự do tôn giáo là một điều bất công căn cội đối với những gì sâu đậm nhứt củq con người, đối với những gì chính đáng của con người " ( Redemptor hominis, 17). i) Công lý là nguyên lý sự hiện hữu của Giáo Hội. Việc lắng lo cho công lý và bảo vệ nhân quyền được trải rộng ra cả trong đời sống nội bộ của Giáo Hội. ĐTC Gioan Phaolồ II, một trong những bài diễn văn đầu tiên của ngài, đã phát biểu như sau: - " Công lý là nguyên lý của cuộc sống Giáo Hội, như là Dân Thiên Chúa " ( Udienza generale 08.11.1978, 3). Trải qua cuộc hành trình bao nhiêu thế kỷ, Giáo Hội đã khai triển, soạn thảo ra một loạt các chỉ thị luật pháp, đó là Bộ Giáo Luật được ban hành năm 1983, chứa đựng một danh sách các quyền của người tín hữu Chúa Kitô ( Can. 203-283). ĐTC Gioan Phaolồ II đã mời gọi các vị thẩm phán Giáo Hội - hãy xem mình như là " các linh mục của công lý " ( sacerdotes justitiae) - và hãy hoạt động như thế nào để Giáo Hội luôn luôn được nhận biết " speculum giustitiae " ( mẫu gương của chân lý ) " ( Alla Sacra Romana Rota, 1).

 

Con người, trung tâm điểm của tổ chức quyền lực Quốc Gia. Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội đặt con người ở địa vị tối thượng của mọi tổ chức quyền lực Quốc Gia. Mỗi định chế xã hội chính đáng phải đặc tâm lưu ý đến con người và nhằm tạo được lợi ích cho con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần cộng đồng xã hội, Nhưng muốn đạt đến mục đích vừa kể, những ai suy tư và thiết định định chế xã hội cho con người, - phải biết con người là ai - và hạnh phúc của con người là gì. Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa ( Gen 1, 26-27). Con người là con Thiên Chúa, có quyền gọi Thiên Chúa bằng Cha ( Mt 6,9 ). Con người có đinh mệnh là được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, tham dự vào chính đời sống mà Thiên Chúa đang sống ( 2 Pt 1,4) Phẩm giá của con người là vậy, bởi đó không ai được khinh rẻ, đàn áp, bốc lột, tha hoá, đối đải với con người hèn hạ như súc vật. Bởi đó một định chế xã hội có quan niệm sai lầm hay khiếm khuyết về con người không thể thực hiện gì khác hơn là tai hại cho chính con người Lý trí cho chúng ta biết khá nhiều điều về con người, nhưng không có khả năng trả lời xác quyết những câu hỏi căn bản về con người, ví dụ như - nguồn gốc của con người từ đâu - và định mệnh nào con người gặp phải sau khi chết. Điều thiếu sót về tính cách chắc chắn và hoàn hảo mà lý trí chúng ta không có được, chúng ta được Lời Chúa nói cho chúng ta, và chúng ta biết được trong đức tin, sửa đổi và soi sáng những gì không chắc chắn và còn u tối mà lý trí không có khả năng đưa ra những lời giải đáp thoả đáng. Qua những gì vừa kể, Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội - không phải chỉ là một định chế xã hội, - mà là những lời huấn dạy duy nhứt cho định chế xã hội, bởi vì nhờ Đức Tin, là định chế duy nhứt thiết thực biết được con người trong thực thể và trong định mệnh của con người. Cộng đồng xã hội cho con người. Quyền tự nhiên, từ luôn luôn được Giáo Hội nhận biết và bênh vực, xác định điều tốt lành cho con người, cùng đích của mỗi lề luật xã hội.. Hình thức xã hội tự nhiên đầu tiên, được thiết lập nên bởi sự hiệp nhứt của một người nam và một người nữ trong hôn nhân. Đó là gia đình. Gia đình được hưởng mọi quyền của con người. Khi nhiều con người hay nhiều gia đình cùng hợp nhau lại trên một lãnh thổ, theo một định chế, nhằm đạt được lợi ích của cả cộng đồng ( hay công ích ), chúng ta có được một xã hội hay một cộng đồng nhân loại, trong đó - các quyền của mỗi cá nhân - và của mỗi gia đình thành viên đều phải được tôn trọng Nhưng con người có quyền ưu tiên hay cộng đồng? Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội trả lời rằng ưu tiên là con người, - bởi vì hạnh phúc của mỗi con người là cùng đích, - trong khi đó thì cộng đồng chỉ là phương tiện để giúp cho con người đạt được hạnh phúc của chính mình. Bởi đó Công Quyền chỉ có mục đích duy nhứt là giúp mọi con người cá nhân, thành viên của Công Đồng đạt được mục đich cá nhân của mình. Điều đó phải xảy ra bằng cách thực hiện - nguyên tắc Liên Đới Hổ Tương - và nguyên tắc Phụ Túc Bảo Trợ. * Nguyên tắc Liên Đới Hổ Tương đòi buộc Công Quyền phải tạo được các điều kiện thiết thực làm cho mọi người có thể thực hiện được ơn gọi của chính mình trong lãnh vực kinh tế, văn hoá, tôn giáo. Các điều kiện hiện thực đó, cần thiết cho việc phát triển các cá nhân con người, đó là công ích. bởi vì trên thực tế là lợi ích chung cho tất cả mọi người là thành viên của công đồng. * Nguyên tắc Phụ Túc Bảo Trợ đòi buộc Công Quyền không được làm những gì mà cá nhân riêng rẻ với sáng kiến của mình có thể làm được. Công Quyền chỉ can thiệp khi nào các cá nhân, vì nhiều lý do khác nhau, tự mình không thể thực hiện được. Theo Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, các con người cá nhân, trong lãnh vực và được công ích trợ lực, có quyền có sáng kiến trong kinh tế, văn hoá, phục vụ và tôn giáo ( học đường, bệnh viện, sản xuất và buôn bán các sản phẩm tiêu dùng...). Trong khi đó, thì Công Quyền chỉ có bổn phận - " kích thích, định hướng, phối hợp" các hoạt động của tư nhân, - và cả " bổ khuyết và hoàn hảo hóa" ở đâu và lúc nào cần thiết, khi tư nhân hay các tổ chức xã hội trung gian không đủ sức ( Mater et Magistra, n. 39). Của cải vật chất là cho con người. Trên thế giới có cả một khối lượng của cải vật chất không lồ . Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội xác nhận rằng tất cả những của cải đó được Chúa dựng nên cho mọi người, không ai bị loại trừ. Như vậy mỗi người đều có quyền dùng các của cải đó cho mình với chỉ bị hạn chế trong một lằn mức giới hạn: đó là không được vi phạm cũng chính quyền được dùng của tất cả mọi người khác, ngang hàng với mình. Chối bỏ một cách cưỡng bức quyền tư hữu đó đối với con người ( như những gì đã xảy ra trong chế độ Cộng Sản ), là một điều bất công chống lại con người, bởi vì điều đó cũng là tước bỏ đi điều mà con người cần có để sống và để đạt được cùng đích của mình. Tuy nhiên, sau khi xác nhận mỗi người đều có quyền tư hữu, trên của cải vật chất, Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội tuyên bố rằng, về vấn đề, cần phải tôn trọng hai điều kiện: a) Phân phát công bằng của cải vật chất đối với tất cả mọi người. Về phương diện thuần lý, của cải vật chất nên được phân chia đồng đẳng giữa mọi người. Nhưng con người là những con người tự do, không có cách hành xử đồng nhứt rập khuôn như nhau, bởi đó điều không thê tránh được là có những con người có tài năng hơn, chuyên cần làm việc và tiêu xài cần kiệm hơn, nên họ chiếm hữu được nhiều hơn người khác và nhiều người khác chiếm hữu được ít hơn. Giáo Hội chấp nhận sự khác biệt đó, miễn sao dù khác biệt, nhưng vẫn dựa trên " công bằng ", tức là - không làm cho ai thiếu hụt những gì thiết yếu để sống được - và đạt được mục đích của chính mình. Đó là điều có thể chấp nhận được trong xã hội có những người với việc làm chuyên cần gắng công gắn sức và dùng trí nảo của mình có thể tăng trưởng thêm và gìn giữ bảo toàn gia tài của mình; trong khi đó thì có những người khác không dùng đủ tài năng và sức lực, có thể bị giảm thiểu của cải của mình, miễn là không đến dưới mức độ cần thiết cho đời sống của mình và gia đình mình. Do đó việc phân phát của cải, - mặc dầu không đồng đẳng, - nhưng luôn luôn phải công bình, nghĩa là chính đáng theo công lý, miễn là quyền của những người đã ra công gắng sức làm việc chiếm hữu được nhiều hơn, cũng như quyền của những ai mặc dầu có được ít hơn, nhưng vẫn có đủ phương tiện cần thiết dể sống và phát triển con người của mình, xứng đáng với phẩm giá con người. Trái lại đối với Giáo Hội là điều bất công và không chính đáng, việc phân chia của cải vật chất hiện nay giữa các dân tộc khác nhau trên thế giới, giữa các Quốc Gia giàu có ( Âu Châu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và Úc Châu) đang chiếm hữu gần như 80% mức giàu có trên thế giới, mặc dầu tổng số dân chúng các Quốc Gia vừa kể chưa đến được 28% dân số thế giới. b) " vai trò xã hội " của quyền tư hữu: ai có của cải nhiều hơn, phần dư thừa của mình, nên ban tặng, bố thí cho những ai không có đủ. Như Thông Điệp Laborem Exercens đã xác nhận: - Quyền tư hữu tùy thuộc vào quyền được dùng cho công ích, vào định chế phổ quát của của cải ". Nói cách khác, quyền tư hữu không phải là quyền ưu tiên, mà là quyền đến sau quyền của tất cả mọi người đều có được phần của cải cần thiết để sống và triển nở con người của mình. Phương thức làm cho của cải giàu có dư thừa của mình vào lợi ích cho cộng đồng, - trong một vài trường hợp được để tự do cho sáng kiến cá nhân, - trong những trường hợp khác bị luật pháp Quốc Gia bắt buộc bằng cách đánh thuế theo phần trăm cao hơn ( hay cả theo phương thức lủy tiến ) đối với những ai có của cải nhiều hơn, nhưng không bao giờ Công Quyền nhằm triệt hạ, băng hoại, vô sản hoá, bần cố nông bần tiện như trong một chế độ bất hạnh nào đó. Hành xử như vừa kể, Công Quyền làm cho một phần của cải của những ai giàu có dư thừa tuôn chảy vào đáp ứng lại mức túng thiếu cần thiết của những ai có nhu cầu. Đánh thuế theo lủy tiến, Công Quyền không những không làm lụng bại sáng kiến và chuyên cần của những ai có tài năng trong xã hội, mà còn khuyến khích gia tăng thêm: người giàu có thêm, bị đánh thuế lủy tiến càng nặng hơn, nhưng đồng thời mức giàu có cũng gia tăng thêm ( lủy tiến không có nghĩa là chặt đầu, chặt đuôi, biến thành mạc rệp, vô sản, bần cố nông, hy vọng chúng ta sẽ có dịp trở lại với đề tài ). Như vậy với mức đánh thuế theo phần trăm, nhứt là theo phương thức lủy tiến, Công Quyền có thể tiết kiệm được công qủy để giúp người nghèo, cũng như đánh thuế nhẹ tay hơn trên thành phần không có mấy dư thừa. Làm khác hơn, san bằng mạc rệp, vô sản hóa, bần cố nông phá sản là cách hành xử của Công Quyền để giết chết sáng kiến cá nhân là suối nguồn của sự phát triển giàu có cho cộng đồng Quốc Gia ( cfr. Chủ thể tính và người nghèo trong Thông Điệp Centesimus annus). Ngoài ra cơ quan Công Quyền cần thận trọng và công bình trong việc đánh thuế, cũng như không được xử dụng công quỷ vào những việc không chính đáng. Con người và việc làm. Việc làm dưới bất cứ hình thức khách thể nào, tay chân hay trí thức, việc làm có phẩm giá của mình thoát xuất từ người làm việc là một con người. Trong việc làm của con người, có ba yếu tố chính yếu: các yếu tố vật, con người và việc làm, liên hệ nhau theo một bậc thang giá trị chính xác: 1 - Con ngưòi có giá trị hơn các của cải vật chất, 2 - Con người có giá trị hơn việc làm của mình, 3 - Việc làm có giá trị hơn của cải vật chất, và 4 - Việc làm và sản phẩm vật chất được dùng để phục vụ con người. Hai quan niệm sai trái đối ngược nhau, đó là quan niệm tư bản chủ nghĩa cứng rắn của thế kỷ vừa qua, coi việc làm của con người như đơn sơ chỉ là một món hàng và người làm việc đơn sơ chỉ là người sản xuất ra món hàng việc làm. Kế đến là cộng sản chủ nghĩa - núp bóng dưới bức màn xã hội sai lầm- đặt con người vào hạng chót của bậc thang giá trị - nhân danh nghĩa " chuyên chế vô sản ", đối xử với con người không thua gì súc vật. Các kết quả thảm đạm của quan niệm sai lầm vừa kể, ngày nay ai chúng ta đang có trước mắt, đang tạo bất công và những phản ứng bạo lực, gây nên không biết bao nhiêu đau khổ cho nhân loai. Trong các thể chế dân chủ tây phương, tư tưởng Kitô giáo về phẩm giá con người và về giá trị của việc làm con người đều được khắp đó đây chấp nhận, đang tạo được lợi ích cao cả về hòa bình xã hội mà ai trong chúng ta cũng thấy được.