Tham Khảo >>  Việt Nam

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Việt nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nhân Bản và Dân Chủ, - Đại Nghị Chế, - Tản Quyền, - Can Thiệp vào kinh tế và xã hội, - Phi Tôn Giáo, - Mở Rộng Ra Cộng Đồng Quốc Tế. Mở rộng ra cộng đồng quốc tế. A - Định chế Nhân Bản và Dân Chủ nội địa. Điều 1, đoạn 1 của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, tức là điều đầu tiên của thân bài Hiến Pháp, nêu lên các điều khoản thành các đạo luật thực định ( lois positives) bắt buộc, như là - " mệnh lệnh", - " chương trình " - hay " diển tả cơ chế Quốc Gia" phải thi hành để đạt được mục đích mà Quốc Gia nhằm đạt được, được Hiến Pháp tuyên bố: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm ". ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Đọc thoáng qua, là một đoạn văn đơn sơ ai cũng hiểu được. Nhưng đặc tính đơn sơ đó sẽ trở thành phức tạp hơn, nếu chúng ta suy nghĩ và đặt thêm câu hỏi: Tại sao Hiến Pháp không xác định và giới hạn rõ hơn, ví dụ, - " Ai là người không được xâm phạm, gây thiệt thòi, hạ thấp phẩm giá con người?". - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm, câu nói đó có giá trị ở đâu, trên lãnh thổ thuộc thẩm quyền của dân tộc Đức hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới ? - và nếu vậy, những vi phạm ở ngoài lãnh thổ Đức, người Đức có quyền gì để ảnh hưởng, cản trở và bênh vực giá trị cao cả mà mình quyết định bảo vệ như là giá trị " bất khả xâm phạm ?". Viết như vậy là Hiến Pháp nêu lên tính cách bắt buộc phải tuân giữ đối với bất cứ ai và bất cứ ở đâu. Vô tình hay hữu ý mà người Đức, cũng như người Tây Âu - nêu ra giá trị về con người mà họ muốn bảo vệ như vừa kể?, - và bảo vệ bằng cách nào và tại sao? Trước hết để trả lời cho câu hỏi " vô tình hay hữu ý ? ", chúng ta có thể tìm thấy giải đáp bằng cách lần lược đọc thêm các điều khoản khác của Hiến Pháp 1949, nhứt là những điều khoản liên quan đến phần I, về Các Quyền Căn Bản. Trong suốt phần I, về Các Quyền Căn Bản vừa kể, để nói lên quyền của con người và quyền của người công dân Đức, hầu hết các điều khoản luật của Hiến Pháp đều khởi đầu bằng: - " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, id.). - " Mọi người đều có quyền triển nở nhân cách của mình..., - " Mọi người đều có quyền sống và toàn vẹn thân thể...( Điều 2, đoạn 1 và 2, id.) - " Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật..." - " Người nam và người nữ đều có quyền như nhau..." - " Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đải do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ..." ( Điều 3, đoạn 1, 2 và 3, id.). - " Mọi người đều có quyền phát biểu và truyền bá tư tưởng...( Điều 5, id.). - " Hôn nhân và gia đình được hưởng sự bảo trợ đặc biệt của định chế Quốc Gia". - " Mọi người mẹ đều được quyền bảo vệ và chăm sóc của cộng đồng Quốc Gia" ( Điều 6, đoạn 1 và 4, id.). - " Gia cư bất khả xâm phạm..." ( Điều 13, đoạn 1, id.). - " Quyền tư hữu và quyền thừa kế được bảo đảm..." ( Điều 14, đoạn 1, id.). - " Mọi người đều có quyền khiếu nại...đến giới chức có thẩm quyền" ( Điều 17, id.). - " Không có bất cứ trường hợp nào trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của mình" ( Điều 19, đoạn 2, id.). Lược qua những điều khoản vừa đọc, chúng ta thấy không phải vô tình mà các nhà Lập Hiến 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố các quyền của con người dưới hình thức phổ quát, có giá trị bắt buộc phải tuân giữ và thi hành, đối với bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, khi các vị dùng các từ ngữ: - " ...con người..."; - " Mọi người đều...", - " Tất cả mọi người đều...", - " Người nam và người nữ...", - " Không ai bị thiệt thòi...", - " Không có bất cứ trường hợp nào..."... để nói lên giá trị và tính cách bắt buộc phổ quát, đều khắp trong không gian và thời gian, đối với các quyền căn bản của con người, phương thức thực tế để bảo vệ cho phẩm giá mà các vị nêu lên điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp. Trong khi đó, các vị chỉ dành lại những quyền chính trị đối với người công dân Đức, qua phương thức tuyên bố: - " Mọi công dân Đức ...", đối với * quyền tự do hội họp ( Điều 8, id.), * gia nhập chính đảng ( Điều 9,id.), * quyền bầu cử Hạ Viện ( Bundestag) ( Điều 38, id.) * quyền chống lại kẻ lạm quyền độc tài ( Điều 20, đoạn 1 và 4, id.), * quyền tham gia công quyền ( Điều 33, đoạn 1 và 2, id.). Ý nghĩa của giá trị các quyền phổ quát của con người và giá trị dành riêng cho những ai là công dân của một Quốc Gia, chúng tôi đã có dịp đề cập đến trong bài ( cfr. CON NGƯỜI HAY NGƯỜI CÔNG DÂN). Nhưng dù là quyền phổ quát của con người, mà bất cứ ai cũng phải kinh trọng, không được vi phạm hay quyền dành riêng cho những ai là công dân của một tổ chức Quốc Gia, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức đều bắt buộc cơ chế tổ chức Quốc Gia phải biết kính trọng và không được vi phạm: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó". - " Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và vì đơạn 3 của điều 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức nằm ngay ở điều khoản đầu tiên, điều 1, nên là đạo luật có giá trị được áp dụng cho mọi quyền sẽ được Hiến Pháp tuyên bố kế tiếp, " các quyền căn bản sẽ được kể sau đây..." ( từ điều 2-19, quyền phổ quát của con người hay quyền dành riêng cho người công dân cũng vậy ), đều " có giá trị bắt buộc trực tiếp đối với cơ chế Quốc Gia, lập pháp, hành pháp và tư pháp"." bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó". Cũng dưới cùng một nhãn quang, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc nêu lên tính cách bảo chứng ( garantismo) của Hiến Pháp đối với con người một cách chi tiếc hơn. Hiến Pháp bảo vệ phẩm giá con người, bất cứ ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người như cá nhân riêng rẻ hay con người như là thành phần của tổ chức xã hội trung gian ( gia đình, hoc đường, hiệp hội, đảng phái, tổ chức tôn giáo, chức nghiệp) và đồng thời cũng nhận biết tư cách pháp nhân của tổ chứctrung gian, như là phương thế và môi trường nơi con người được giúp đờ để phát triển: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nhưng có lẽ Hiến Pháp 1947 Ý Quốc còn đi xa hơn nữa, đối với những gì được tuyên bố dưới hình thức tiêu cực, " nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người...". Không những thể chế Quốc Gia " nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm...", không ai được xâm phạm, mà còn quy trách cho cơ chế Quốc Gia phải đứng ra tạo các điều kiện và hoàn cảnh thích hợp, để cho con người - không những khỏi bị cấm đoán, bóp chẹt, cản trở các quyền của mình được Hiến Pháp đứng ra bảo đảm, như là những giá trị tối thượng, - mà còn phát triển được hoàn hảo những giá trị đó: - " Bổn phận của Nền Công Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của con người, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách hiết thức vào tỏ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Trong khi đó thì Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, trong phần bảo vệ và tạo cho con người có điều kiện thuận tiện để được hưởng các quyền của mình hay " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình" không đi xa hơn vào chi tiếc, chỉ đưa ra những giới hạn không thể vươt qua: - " Mỗi cá nhân có quyền tự do phát triển nhân cách của mình, miễn là không vi phạm quyền của người khác và không vi phạm thể chế hiến định hay luật lệ luân lý" ( Điều 2, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Các quyền nầy ( về tự do tư tưởng) có giới hạn nơi luật phát tổng quát, nơi các đạo luật liên quan đến việc bảo vệ tuổi thơ và con người trong danh dự cá nhân của mình" ( Điều 5, đoạn 2, id.). - " Không có bất cứ trường hợp nào, trong đó một quyền căn bản có thể bị tổn thương đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2, id.). - " Án tử hình bi bải bỏ" ( Điều 102, id.). B - Mở rộng Nhân Bản và Dân Chủ ra Cộng Đồng Quốc Tế. Nhưng mặc dầu không tiền liệu với nhiều chi tiếc, đến việc bảo vệ thực hữu các quyền con người và người công dân, để được bảo đảm và phát huy, triển nở, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, cũng như Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đều tiền liệu cho phẩm giá con người, với các quyền căn bản bất khả xâm phạm, không những được bảo đảm trong khuôn viên lãnh địa và cơ chế Quốc Gia mình, mà còn trải rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế, khắp nơi trên thế giới. Bất cứ ở đâu có con người, là ở đó - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và đó là ý nghĩa tại sao Hiến Pháp tuyên bố tiếp theo trong tinh thần hình thức mệnh lệnh tính ( prescriptive) của cùng một điều khoản: - " Như vậy, dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới " ( Điều 1, đoạn 2, id.). Hiểu như vậy, ở đâu có định chế, trong đó - không nhìn nhận " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm", - là ở đó " cộng đồng nhân loại không được đặt trên nền tảng hoà bình và công chính trên thế giới". Điều vừa kể cắt nghĩa tại sao Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, trong phần tuyên bố các quyền bất khả xâm phạm của con người và người công dân ( Điều 2-54), không chậm trể xác nhận định chế Quốc Gia Ý phù hợp với định chế Cộng Đồng Quốc Tế: - " Định chế pháp lý Ý Quốc phù hợp với các đạo luật quốc tế về các quyền hạn được thừa nhận" ( Điều 10, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Và không những xác nhận định chế pháp luật nội bộ của mình không đi ngược lại với tinh thần luật pháp quốc tế, để - " nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), mà còn xác nhận không dùng chiến tranh để vi phạm, và sẵn sàng nếu cần cũng có thể giới hạn quyền tối thượng của Quốc Gia để với điều kiện đồng đẳng như các quốc Gia khác, cộng tác thực hiện vào bảo vệ mục đích cao cả vừa kể: - " Ý Quốc khước từ chiến tranh như là dụng cụ làm tổn thương đến quyền tự do các dân tộc khác và như là phương thế để giải quyết các mối bất đồng quốc tế; trong điều kiện đồng đẳng với các Quốc Gia, đồng thuận giới hạn quyền tối thượng cần thiết để tạo được một định chế phải có , bảo vệ hoà bình và cống lý cho mọi Quốc Gia; cổ vỏ và dành mọi điều kiện dễ dàng cho các tổ chức được thiết lập nhằm mục đích vừa kể" ( Điều 11, id.). Cũng cùng mục đích đó, Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố một cách ngắn gọn: - " Cộng Hoà Liên Bang Đức, với một đạo luật, có thể chuyển nhượng các quyền tối thượng của mình cho các tổ chức quốc tế" ( Điều 24, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Áp dụng vào thực tế. Từ quyền tối thượng và định chế tổng quát của Quốc Gia, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đi sâu vào chi tiếc, áp dụng cho cá nhân con người, để thực thi điều khoản - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), Hiến Pháp đề ra một loạt trên 15 điều khoản để áp dụng: a) quyền tỵ nạn. Một trong những điều khoản nổi bậc cho thấy Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là Hiến Pháp Nhân Bản, bênh vực con người " gần như vô điều kiện" và không loại trừ bất cứ ai: - " Người ngoại quốc, bị cấm cản nơi xứ mình không được thực sự hành xử quyền tự do dân chủ được Hiến Pháp Ý Quốc bảo vệ, có quyền tỵ nạn trên lãnh thổ Cộng Hoà Ý, theo các điều kiện luật định" ( Điều 10, đoạn 3, id.). - " Hoàn cảnh luật định của người ngoại quốc được thiết định hợp với luật pháp và các thoả ước quốc tế" ( Điều 35, 2, id.). Đọc lại đạo luật Hiến Pháp vừa kể sau trên 50 năm được ban hành, chúng ta những người ngoại cuộc, đọc một cách tự nhiên, " vô thưởng vô phạt ", nhưng các vị soạn thảo Hiến Pháp lúc đó đã phải tốn bao nhiêu công sức tranh cải, mới viết được điều vừa kể cho chúng ta đọc, tranh cải giữa ý thức hệ hẹp hòi của phe Cộng Sản và thái độ rộng mở tự do của thuyết " Nhân Vị " ( Personalismo) của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo ( Democrazia Cristiana), đảng Cộng Hoà ( Partito Repubblicano) và đảng Tự Do ( Partito Liberale). - đảng Cộng Sản đồng thuận cho người ngoại quốc có quyền tỵ nạn, nhưng chỉ cho những ai " tích cực đấu tranh chống lại độc tài " và bị đàn áp, bắt bớ, phải trốn chạy ( Rinascita, La Politica Nazionale dei comunisti, anno I, n. 4, ott-dic.. 1944, 4). - trong khi đó thì đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo và các chính đảng kể trên đồng thuận cho người ngoại quốc được quyền tỵ nạn, chỉ cần điều kiện " không được thực sự hành xử quyền tự do dân chủ được Hiến Pháp Ý Quốc bảo vệ...", bởi vì họ cũng là người, có quyền được sống với các quyền bảo đảm cho phẩm giá con người của họ ( Mgr. Graneris, La Costituente e fini dello Stato, in Atti della XIX Settimanale Sociale dei cattolici d'Italia, Firenze 22-28. 10. 1945, p. 53 e 55). b) quyển không bị dẫn độ hay trao trả. Một điều khoản khác áp dụng để bảo vệ tự do cá nhân là trường hợp " dẫn độ " hay " trao trả ". Tổ chức Quốc Gia không thể trao công dân của mình cho một Quốc Gia khác xử án, ngay cả cho toà án quốc tế cũng vậy, nếu trường hợp chuyển giao đó không được luật pháp quốc tế thiết định trước: - " Việc giao trả các công dân chỉ được cho phép trong các trường hợp họp đươc luật pháp quốc tế tiền liệu rõ ràng" ( Điều 26, đoạn 1, id.). Điều vừa kể cho thấy không có một Quốc Gia hay tổ chức nào, lớn hay nhỏ cũng vậy, có thể gây áp lực, áp bức tổ chức Quốc Gia chuyển giao công dân mình cho họ xét xử tùy hỷ. Trường hợp trên cũng được áp dụng cho người ngoại quốc, nhứt là các công dân ngoại quốc bị tố cáo là " chống Chính Quyền", " bất đồng chính kiến ", " các bị cáo chính trị ". Các " tôi phạm chính trị " đó không thể nào bị Quốc Gia trao trả cho bất cứ ai, " Đảng và Nhà Nước mình" có gào thét đứt mạch máu cổ cũng vậy: - " Không có bất cứ trường hợp nào có thể chấp nhận việc trao trả vì tôi phạm chính trị " ( Điều 26, đoạn 2, id.). c) ký kết và phê chuẩn các thoả ước quốc tế. Đọc qua những gì được đề cập đến đây, chắc chắn chúng ta có cảm tưởng mối liên hệ giữa tổ chức Quốc Gia và Cộng Đồng Quốc Tế chỉ gồm những gì tiêu cực, - hạn chế không gây chiến, - quyền được tỵ nạn nếu bị ngược đải nơi xứ mình, - quyền không bị trao trả dù cho Quốc Gia mình đang cư ngụ có bị áp lực, nhứt là đối với bị cáo " tôi phạm chính trị ". Nhưng mối tương quan quốc tế không phải chỉ gồm những quyền được tuyên bố dưới hình thức tiêu cực. Bởi lẽ Quốc Gia cũng có mục đích hợp tác qua các thoả ước để thiết định tiêu chuẩn và điều hành các điều kiện * lương bổng, *điều kiện sức khoẻ, *môi trường vệ sinh , * thời gian làm việc tối đa trong này và trong tuần, * định chế hưu dưỡng cho công nhân làm việc, * bảo vệ cho người mẹ và trẻ thơ: - "Nền Cộng Hoà khuyến khích và dành mọi dễ dàng cho các thoả ước và cơ quan quốc tế được thiết lập nhằm mục đích thiết định và điều hoà các quyền làm việc" ( Điều 35, đoạn 3, id.). Nói cách khác, người công nhân làm việc vẫn là con người với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình, trong nội địa Quốc Gia hay trên lãnh thổ Cộng Đồng Quốc Tế cũng vậy. Còn nữa, trong những điều quan trọng trong Đại Nghị Chế là các thoả ước quốc tế, phải được Quốc Hội, cơ quan dân cử cho phép, tức là được dân chúng đồng thuận, Chính Quyền mới được ký kết và sau đó được Quốc Hội đồng thuận chuẩn y, mới có hiệu lực áp dụng: - " Quốc Hội quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh và ủy thác cho Chính Quyền các quyền lực cần thiết" ( Điều 78, id.) - " Với đạo luật, Quốc Hội cho phép ký kết các thoả ước quốc tế có tính cách chính trị... hoặc các thay đổi hoán chuyển đất đai, thay đổi quy chế thuế khoá hoặc tu chính luật pháp" ( Điều 80, id.). Qua hai điều vừa trích dẫn chúng ta thấy được Quốc Gia không những mở rộng cửa hoà hợp với Cộng Đồng Quốc Tế bằng cách - thiết định định chế nội địa của mình phù hợp với tinh thần Nhân Bản và Dân Chủ của Cộng Đồng Quốc Tế ( Điều 10, đoạn 1, id.), - khuyến khích và dành mọi dễ dàng cho các thoả ước và cơ quan quốc tế ( Điều 35, đoạn 3, id.), - mà còn dành cho Quốc Hội và chỉ có Quốc Hội mới có cho phép ký kết, đồng thuận chuẩn y các thoả ước quốc tế, tuyên chiến hay không đối với những Quốc Gia khác. Đại Nghị Chế đã tước quyền quyết định " đánh hay không đánh" khỏi tay Hành Pháp, ( khỏi tay Hitler và Mussolini), như những gì đã xảy ra trong quá khứ: từ nay Chính Quyền không phải muốn đánh ai và đánh lúc nào tùy hỷ, mà phải được dân chúng đồng thuận trước, được Quốc Hội "chuẩn y ", cho phép. Và đó cũng là phương thức để áp dụng tôn trọng " phẩm giá con người bất khả xâm phạm", như những gì đã được tuyên bố ở điều 11: - " Ý Quốc khước từ chiến tranh là dụng cụ làm tổn thương đến quyền tự do của các dân tộc khác..." ( Điều 11, id.). Cũng vậy, vấn đề đối ngoại đối với Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, Vị Tổng Thống Cộng Hoà tín nhiệm và tiếp đón các đại diện ngoại giao, cũng phải được Quốc Hội cho phép, để tránh việc " ăn lòn", " qua mặt, cấu kết " tai hại có thể xảy ra: - " Tổng Thống tín nhiệm và tiếp đón các đại diện ngoại giao đoàn, đồng thuận chấp nhận các thoả ước quốc tế, khi cần, phải được Quốc Hội cho phép trước". - " Tổng Thống có quyền chỉ huy quân đội, chủ toạ phiên họp Ủy Ban Tối Cao của Bộ Quốc Phòng được thiết lập do luật pháp chuẩn định, tuyên bố tình trạng chiến tranh do Quốc Hội chuẩn y trước" ( Điều 87, đoạn 9 và 9, id.). Dĩ nhiên chúng tôi không có ý liệt kê tất cả các điều khoản liên quan đến mối tương giao quốc tế của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức. Chúng tôi chỉ nêu lên một vài điều khoản tiêu biểu để nói lên tinh thần của hai Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu liên quan đến đặc tính mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế của hai dân tộc Ý và Đức, liên quan đến chủ đề đang bàn. Qua những gì được trình bày, chúng ta thấy được tinh thần của hai dân tộc Ý và Đức, sau kinh nghiệm - " quốc gia quá khích và đóng kín" (nazionalismo), - " kỳ thị chủng tộc" ( Deutschland ueber alles!, Nước Đức trên hết mọi dân tộc !), của Phát Xít Ý và Đức Quốc Xã đã đem lại đại hoạ, đổ nát và chết chóc cho đất nước. Bởi đó tinh thần của họ là tinh thần " mở rộng" ( aperto), không những thiết lập lại " phẩm giá con người bất khả xâm phạm" ở nội địa, mà còn muốn đem tin thần Nhân Bản và Dân Chủ đó đến mọi cộng đồng nhân loại: - " Như vậy dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và đó cũng là những gì ông Aldo Moro, thành viên đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Hội Đồng Lập Hiến đã phát biểu: - " Mối tương giao đa diện giữa các Quốc Gia với nhau nói lên con đường phát triển quyết định luân lý - xã hội của mỗi cá nhân, mà biên giới của Quốc Gia không thể chận đứng được. Trái lại tổ chức Quốc Gia phải tạo mọi điều kiện dễ dàng để thúc đẩy, để con người có thể hội nhập được và liên đới chặt chẽ với cộng đồng nhân loại...Quốc Gia không thể chận đứng được ước vọng yêu thương giữa người với người, bởi đó không có một kinh nghiệm xã hội nào có thể nói rằng mình hoàn toàn ngoại cuộc với luân lý của cá nhân và cá nhân cũng không cần có thái độ nào cả trong tinh thần liên đới" ( A. Moro, Corso di lezioni di filosofia del diritto ( 1942-1943), Macri, Bari 1943, 230). Kế đến Linh Mục Luigi Sturzo, vị sáng lập Đảng Đại Chúng Ý ( Partito Popolare Italiano) nhấn mạnh đến việc cần thiết phải tạo được - một " lương tâm quốc tế" ( coscienza inernazionale), - một " đức tin về tổ chức quốc tế" ( fede dell'internazionalismo) - và việc khẩn thiết làm cho " các dân tộc xích lại gần nhau hơn" ( Don Luigi Sturzo, La Comunità internazionale e il diritto di guerra, Zanichelli, Bologna 1954, passim). Calamandrei Piero, một thành viên của Phong Trào Liên Bang của Hội Đồng Lập Hiến phát biểu ý nghĩa chủ đề mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế dưới khía cạnh khác: - " Chủ thuyết dân chủ không phải là chủ thuyết được lập ra để dừng lại và đóng khung trong biên giới quốc gia. Thực tế đã nhiều lần cho thấy cách thảm đạm rằng chế độ toàn trị ( totalitarismo) và độc tài ( dittatura) trong nội địa có nghĩa là quốc gia quá khích ( nazionalismo) và chiến tranh ở hải ngoại" ( Calamandrei Piero, Costituente italiano e federalismo europeo, in Scritti e discorsi politici, I, 2, p. 414). Và rồi dù cho định chế nội địa Quốc Gia có Nhân Bản và Dân Chủ đến đâu, nếu các nước láng giềng nói riêng và Cộng đồng Quốc Tế nói chung không được trợ lực, liên đới để bảo đảm cho " phẩm giá con nguời bất khả xâm phạm", tai hoạ của hàng xóm sớm muôn gì rồi cũng đến truyền nhiểm, lây bệnh và gây đại hoạ tang tóc cho gia đình chúng ta. Nhìn dưới khía cạnh khác, " mở rộng ra Cộng Đồng quốc Tế " không chỉ có nghĩa là không đóng kín, mà cũng không " mở ra", giao tiếp nhưng " điềm nhiên toạ thị ", " trung lập ", mặc ai muốn đàn áp, tha hoá con người như súc vật, " mặc kệ họ", đó là " chuyện nội bộ " hay " chuyện hàng xóm" của họ, mà là - tích cực tham dự, cộng tác, cổ vỏ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đều khắp định chế * " phẩm giá con người bất khả xâm phạm", - bởi lẽ đó là * " nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới " ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Với những gì biết được về việc cộng tác, cổ vỏ, bảo toàn và phát triển " phẩm giá con ngưởi ", " nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính" qua Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, thái độ " điềm nhiên toạ thị ", " trung lập", " sống chết mặc ai " không phải là cách " ăn ở " xứng đáng của con người có lương tri, " lương tâm ngay chính". Những ý nghĩ vừa kể làm cho mỗi người chúng ta tự đặt câu hỏi và tự trả lời trước lương tâm con người của mình, nhứt là đối với những ai có phận sự lãnh đạo và hành xử vì lợi ích của người dân mình. Các suy tư đó cùng với ý nghĩa câu nói của ông Aldo Moro, Linh Mục Luigi Sturzo và của ông Calamdrei Piero là lý do để chúng tôi chọn chủ để bài viết " mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế", như là đặc tính không thể thiếu và mong ước cho thể chế Việt Nam trong trương lai.

 

THỬ THIẾT ĐỊNH THỂ CHẾ TƯƠNG LAI CHO VIET NAM: VỚI NHỮNG ĐẶC TÍNH PHẢI CÓ ( 6 ) Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nhân Bản và Dân Chủ, - Đại Nghị Chế, - Tản Quyền, - Can Thiệp vào Kinh Tế và Xã Hội, - Phi Tôn Giáo, - Mở Rộng Ra Cộng Đồng Quốc Tế. Phi Tôn Giáo. Trước hết chúng ta cần xác định rõ tĩnh từ " phi tôn giáo" không đồng nghĩa với " vô tôn giáo " hay vô thần của ý thức hệ Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa của các nước Cộng Sản. Bởi lẽ con người tự cho mình " vô tôn giáo " hay vô thần là người tự coi mình có đời sống ngang hàng với súc vật. Con người có thành đạt đến đâu, trong cuộc sống trần thế của mình, nếu không có một tương lai nào khác mở rộng cho mình một hy vọng mới, đến khi chết nằm xuống, xác của mình cũng sẽ mục rữa ra không thua gì xác một con chó và mọi chuyện đều chấm dứt ở đó. Đó là ý nghĩa tại sao Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, sau khi tuyên bố Quốc Gia tìm mọi cách, tạo điều kiện thuận lợi, để cho mỗi người " triển nở hoàn hảo con người của mình", - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của con người, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chinh trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nhưng rồi trong suốt 139 điều khoản kế tiếp của Hiến Pháp, không ai tìm được một định nghĩa thế nào là " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo hay không hoàn hảo". Bởi lẽ đó là những gì vượt qua khả năng trong lãnh vực " chính trị, kinh tế và xã hội " của tổ chức Quốc Gia. Con người được " triển nở hoàn hảo con người của mình" là con người được phát triển đầy đủ cả ba chiều huớng, - hướng thiện, trong đời sống nội tâm. - hướng thiên - và hướng tha, tổ chức cho mình có được cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con người trong cuộc sống hằng ngày hiện tại, liên đới hổ tương với đồng bào mình và người đồng loại, và phát huy cho mình cuộc sống tương lai đầy viễn ảnh hạnh phúc tốt đẹp, sau khi cuộc sống ngắn ngủi trần thế đã qua đi: - " Anh ơi! có bao nhiêu, sáu mươi năm cuộc đời " Hai mươi năm đầu, vui sướng không bao lâu. Hai mươi năm sau, trời cao thêm vòi vọi, Hai mươi năm có là bao?...". Nhưng rồi " sáu mưoi năm cuộc đời " qua đi, mọi chuyện đều chấm dứt ở đó. Đó có phải là lý tưởng tổ chức cho " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình" không? Viễn ảnh những gì vừa kể vượt quá khả năng hiểu biết và tầm tay tổ chức của Quốc Gia, với phận vụ tổ chức và hành xử trong các lãnh vực trần thế của mình. Bởi đó Quốc Gia nhận biết giới hạn của mình, nhận biết khả năng thuộc thẩm quyền tổ chức của mình, các lãnh vực trần thế và cần nhờ đến tôn giáo, giúp mình đạt được mục đích mà mình muốn cho người dân của mình có được, - " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình ", để từ đó người dân có đủ khả năng hơn - " tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở ", giúp cho đồng bào mình và có thể cả cộng đồng nhân loại, mỗi người cũng được " triển nở hoàn hảo con người của mình" như chính mình. Như vậy, những gì vượt qua khả năng mình, tổ chức Quốc Gia phải cần nhờ đến tôn giáo trợ lực, để phục vụ toàn vẹn con người, chủ nhân của quyền lực Quốc Gia mà mình được giao cho hành xử để phục vụ và liên đới với cộng đồng nhân loại cũng góp phần vào cuộc sống thịnh vượng và tiến bộ của Xứ Sở mình. Và đó là lý do tại sao Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố quyền tối thượng của các tổ chức tôn giáo: - " Quốc Gia và Giáo Hội Công Giáo, mỗi thực thể trong lãnh vực của mình, đều độc lập và tối thượng" ( Điều 7, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - " Mọi tổ chức tôn giáo đều tự do như nhau trước pháp luật" ( Điều 8, đoạn 1 , id.). Sáp nhập lại hai điều 7 và 8 vừa trích dẫn, chúng ta thấy được mọi tổ chức tôn giáo đều bình đẳng như nhau, độc lập và tối thượng đối với tổ chức Quốc Gia, - " mỗi thực thể trong lãnh vực của mình". Bổn phận của Quốc Gia chăm lo tổ chức để phục vụ người dân trong các lãnh vực trần thế, tự lập trong lãnh vực trần thế của mình, nhưng cũng mở rộng ra liên hệ với thẩm quyền của tôn giáo là thẩm quyền thuộc lãnh vực nội tâm và thiêng liêng, phục vụ phần linh thiêng của con người. Và đó là ý nghĩa tỉnh từ " phi tôn giáo" chúng ta đan bàn. Việt Nam Cộng Hoà là một tổ chức Quốc Gia " phi tôn giáo ", có nghĩa là một tổ chức Quốc Gia độc lập trong đường lối tổ chức và hành xử thuộc các lãnh vực trần thế của mình, cũng như các cổ chức tôn giáo là những " thực thể độc lập và tối thượng trong lảnh vực của mình". Nhưng tự lập và độc lập, " tối thượng trong lãnh vực của mình", - không có nghĩa là không liên hệ hổ tương nhau hay loại trừ nhau, - mà là kính trọng (tương kính), trợ lực nhau theo tinh thần" phụ túc hổ tương" ( sussidiariété), - chớ không chen lấn, lũng đoạn chen vào tổ chức nội bộ của phía bên kia hay áp đặt, - bắt buộc phía bên kia vượt qua hay đi ngược lại tín lý, vượt quá lãnh vực để phục vụ mình. Cũng vậy, tổ chức tôn giáo tự lập và độc lập trong lãnh vực đời sống thiêng liêng của con người, nhưng cũng là những tổ chức trợ lực cho Quốc Gia thiết định lý tưởng và phương thức hành xử chính đáng, làm cho mỗi tín hữu " triển nở hoàn hảo con người của mình". Nhưng là giúp định hướng và trợ lực Quốc Gia, - vẫn hành xử trong lãnh vực tôn giáo của mình, - chớ không phải lợi dụng uy thế để pha lẫn thần quyền với thế quyền; - và càng không lợi dụng " lãnh vực độc lập và tối thượng" của mình, để áp đặt lên Quốc Gia thể chế " giáo phẩm trị " ( cléricalisme), như đáng tiếc một đôi khi đã xảy ra trong quá khứ. Những gì vừa đề cập, chúng tôi đã có dịp bàn đến trong bài " KHUÔN MẪU TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG MỘT ĐIỀU KHOẢN HIẾN PHÁP". Đặc tính " phi tôn giáo" của Quốc Gia, ngoài tư tưởng sơ khởi được xác định, phát xuất từ nguyên tắc nhận biết hiến định, a) * quyền tự do tôn giáo và quyền bình đẳng của con người: - " Mọi người đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội " ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đãi vì lý do phái tính, sinh trưởng, chủng tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hay xuất xứ, niềm tin, tư tưởng tôn giáo hay chính trị " ( Điều 3, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), b) * quyền bất khả xâm phạm của con người như cá nhân hay như thành phần xã hội: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phậnn liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). c) * quyền tự do truyền bá tư tưởng: - " Mỗi người có quyền tự do phát biểu tư tưởng của mình bằng lời nói, chữ viết và các phương tiện truyền thông khác" ( Điều 21, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). d) * quyền bình đẳng giữa các tôn giáo: - " Mọi tổ chức tôn giáo đều tự do như nhau trước pháp luật " ( Điều 8, đoạn 1, id.). - " Mọi người đều có quyền tự do tuyên xưng niềm tin tôn giáo của mình dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân hay tập thể, và tự do truyền bá và cử hành phượng tự nơi riêng tư cũng như nơi công cộng, miễn là các nghi thức không trái với thuần phong mỹ tục" ( Điều 19, id.). e) * đặc tính và mục đích của mỗi tôn giáo không thể là lý do để được hay bị đối xử khác biệt: - " Đặc tính giáo phẩm, mục đích của tôn giáo và phượng tự của hiệp hội hay tổ chức không thể là nguyên do của những đối xử đặc biệt của luật pháp, cũng như giảm bớt thuế vụ cho việc thiết lập, khả năng pháp nhân và mọi hình thức hoạt động" ( Điều 20, id). f ) * quyền tự do hội họp các nơi được mở ra cho công chúng và nơi công cộng: - " Mọi công dân đều có quyền hội họp ôn hoà và không võ trang. Cả đối với các việc hội họp ở những nơi được mở ra cho công chúng, cũng không cần phải báo trước. - " Những cuộc hội họp ở nơi công cộng phải báo trước cho giới có thẩm quyền, và với những biện minh có lý chứng để bảo vệ an ninh và toàn vẹn công cộng, giới có thẩm quyền có thể không cho phép" ( Điều 17, đoạn 1 và 2, id.). Qua những gì vừa trích dẫn, chúng ta thấy được tổ chức Quốc Gia " phi tôn giáo" không có nghĩa là Quốc Gia " bất cần vấn đề có tôn giáo" hay không, coi tôn giáo như là vấn đề riêng tư của cá nhân, đúng hơn cần phải hiểu theo nghĩa hẹp, nhìn nhận - mọi tổ chức tôn giáo đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, - mọi tổ chức tôn giáo đều có quyền rộng rãi về tự do lương tâm, phượng tự, truyền bá niềm tin, - và trong các lãnh vực dân sự, Quốc Gia không hành xử bất cứ một sự thiên vị nào, " được ưu đải hay bị thiệt thòi", giữa dân chúng của mình, vì lý do niềm tin tôn giáo mà họ tuyên xưng. Sau khi tìm hiểu ý nghĩa sơ khởi và những xác định về tôn giáo của một thể chế Nhân Bản và Dân Chủ như Hiến Pháp 1947 Ý Quốc xác định, chúng ta nên tìm hiểu thêm chi tiết và những liên hệ đươm kết tôn giáo và Quốc Gia trong cuộc sống hằng ngày. 1 - Trước hết niềm tin tôn giáo là gì? " Là những gì có liên hệ đến mọi niềm tin và tư tưởng về tôn giáo", đó là những xác quyết của Viện Bảo Hiến Ý Quốc ( sent. 10.10.1979, n. 117). Dựa trên định nghĩa tổng quát vừa kể, một vài học giả cho rằng niềm tin tôn giáo là những gì biểu lộ ra bên ngoài để tuyên xưng xác tín những gì hàm chứa trong tâm hồn: những biểu lộ đó có thể là những biểu lộ tích cực, xác tín rằng mình tin, hay tiêu cực chối bỏ tôn giáo như là mê tín dị đoan và vô nghĩa. - " Hiến Pháp bảo vệ tự do lương tâm hay tự do theo bất cứ một tôn giáo nào hay không theo hoặc có nhãn quan hoàn toàn thế tục hay nội tại tính ( immanence) của trần thế và của đời sống" ( F. Finocchiaro, Art 19 C., in G. Amato, Pace, F. Finocchiaro, Rapporti Civili ( art 13-20), in Commentario della Costituzione, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna - Roma, 1977, 259). Với nhãn quang hoàn toàn thế tục hay nội tại tính của trần thế và đời sống như vừa kể, con người có thể dửng dưng hoặc ngay cả chống báng lại quan niệm tôn giáo. Nói cách khác, có thái độ " vô thần " đối với tôn giáo như quan niệm hoàn toàn vật chất của Cộng Sản đối với thế giới và con người, cho rằng tôn giáo là mê tín, dị đoan, thái độ của bọn người dốt nát hay của những kẻ lợi dụng lòng dốt nát của con người để làm " thuốc phiện ru ngủ " để tha hồ bốt lột. Quan niệm " vô thần", chống báng tôn giáo vừa kể là quan niệm không nằm trong tầm thức của các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu. Đó là những gì ngược lại điều 1 của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm". Không có tôn giáo, phẩm giá con người bị hạ xuống ngang hàng với địa vị một con chó, như đã nói. Và từ đó không có gì bảo đảm cho con người có được những quyền có cuộc sống " hướng thiện nội tâm, hướng thiên và hướng tha" như là bản tính của mình đòi buộc, để có một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm trổi vượt hơn súc vật của mình: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội trung gian , nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu về lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Và rồi quan niệm tiêu cực về tôn giáo hay " vô thần " là quan niệm đi ngược lại điều 8 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc: - " Mọi tổ chức tôn giáo đều tự do như nhau trước pháp luật " ( Điều 8, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó cho thấy rằng quan niệm " vô thần " là quan niệm không chấp nhận địa vị và quyền tự do của các tổ chức tôn giáo, mà Hiến Pháp đứng ra nhìn nhận và bảo đảm. Sống trong Cộng Đồng Quốc Gia, đó là thái độ vi hiến, chưa kể đến các hành động phạm pháp, liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, có thể bị pháp luật xét xử. Và rồi những người " vô thần" như Cộng Sản, có thể viện cớ họ " không tin ", và họ có quyền thành lập những phe nhóm " vô thần", chống lại những tổ chức tôn giáo, để đánh đổ, tuyên truyền, mạ lỵ tôn giáo. Dĩ nhiên họ có thể thiết lập những tổ chức " vô thần ", nhưng tổ chức của họ sẽ không được điều 8 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc chấp nhận, bởi lẽ điều 8 nhận biết " mọi tổ chức tôn giáo...", chớ không phải các tổ chức " vô tôn giáo". Và rồi các lối phát biểu, truyền bá tư tưởng, khinh chê, mạ lỵ tôn giáo nằm trong điều bị cấm của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Các quyền nầy ( quyền tự do truyền bá tư tưởng) có giới hạn trong các điều khoản luật tổng quát, trong các đạo luật liên quan đến việc bảo vệ tuổi thơ và quyền con người được bảo vệ danh dự của mình" ( Điều 5, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Người vô thần Cộng Sản có thể viện cớ là họ tấn công và miệt thị tôn giáo là miệt thị tổ chức, tập thể, chớ không vi phạm đến " quyền con người được bảo vệ danh dự của mình". Lý luận như vậy, họ quên rằng con người trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, mà chúng ta cũng ao ước cho Việt Nam, là con người được - "nhận biết và bảo đảm, các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy về phương diện tôn giáo, tổ chức " vô thần" của Cộng Sản là tổ chức vi phạm điều 5 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang và điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc: cả hai đều bảo vệ con người trong danh dự của mình, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội. Và rồi 8 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc: - " Mọi tổ chức tôn giáo đều tự do như nhau trước pháp luật". cho thấy Nền Cộng Hoà Ý Quốc chấp nhận sự hiện hữu của Đấng Tối Cao trong " mọi tổ chức tôn giáo", và mặc nhiên không chấp nhận quan niệm " vô thần", không xem ra gì Đấng Tối Cao và tha hoá con người như sút vật. Trong lãnh vực tế nhị vừa kể Viện Bảo Hiến Ý Quốc phân biệt giữa quan niệm luân lý và triết học với niềm tin tôn giáo, tin vào Đấng Tối Cao, căn nguyên nhân phẩm cao cả của con người và nguồn gốc đáp ứng lại khát vọng hạnh phúc nội tại viên mãn thay cho cuộc sống có giới hạn ( Corte Cost., id., sent. 21), dựa theo điều 19 của Hiến Pháp: - " Mọi người có quyền tự do tuyên xưng niềm tin tôn giáo của mình dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân hay tập thể, tự do truyền bá và cử hành phượng tự nơi riêng tư cũng như chốn công cộng, miễn là các nghi thức không trái với thuần phong mỹ tục" ( Điều 19 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). 2 - Quyền tự do tuyên xưng và truyền bá niềm tin tôn giáo. Quyền tự do tuyên xưng và truyền bá niềm tin có thể được duyệt xét dưới hai khía cạnh: - về phương diện thuyết lý: Vấn đề đơn sơ và trực tiếp. Mọi người đều có quyền xác nhận mình thuộc tổ chức tôn giáo nào và tuyên bố, ngay cả ở những nơi công cộng, các tín điều của tôn giáo mình, mà không bị ai tạo ra những điều kiện bất lợi cho. Điều vừa kể liên quan đến quyền tự do lương tâm và tự do phát biểu tư tưởng, những quyền căn bản thiết yều của nhân phẩm con người, được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức xác nhận: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức". - " Tự do tín ngưỡng và tự do lương tâm, tự do tùy thuộc tổ chức tôn giáo và tự do tư tưởng là những quyền bất khả xâm phạm Động tác cử hành phượng tự đươc bảo đảm" ( Điều 4, đoạn 1 và 2 , id.)). - áp dụng vào thực tế. Vấn đề trở nên phức tạp hơn, khi chúng ta đề cập đến tự do thành lập các tổ chức tôn giáo, tự do thực hành tùy lương tâm và những giới hạn trong cuộc sống chung trong cộng đồng Quốc Gia. Nói cách khác, nhiều khi những nguyên tắc của niềm tin tôn giáo và luật lệ của những tổ chức tôn giáo va chạm và đối ngược lại luật lệ của thể chế Quốc Gia. a) Chương tình giáo lý ở học đường hay đào tạo tôn giáo. Vấn đề được đặt ra là vấn đề học đường với chương trình " giáo lý " hay đào tạo tôn giáo. Ở Ý Quốc kể từ năm 1984 trở đi, " giờ giáo lý " cho con em ở học đường không còn phải là giờ bắt buộc, nhứt là bắt buộc học giáo lý công giáo, bởi lẽ với phong trào di dân và tỵ nạn từ thập niên '70 trở đi, Ý Quốc trở thành một Quốc Gia đa tôn. Bởi đó " giờ giáo lý " chỉ còn là giờ học viên " tham dự tự do" ( partecipazione facoltativa), và phụ huynh có thể chọn cho con em theo giờ giáo lý của tôn giáo nầy hay tôn giáo khác. Quốc Gia chỉ còn có bổn phận cung cấp cho mỗi học sinh " giờ giáo lý" của tôn giáo mình, trường ốc, thời điểm và ban giảng huấn. Nhưng dù cho có chu toàn bổn phận cung cấp " giờ giáo lý " thoả đáng tùy theo nhu cầu tôn giáo của từng lớp học sinh, vấn đề tương quan nhiều lúc đưa đến đụng chạm giữa tôn giáo và tổ chức Quốc Gia không phải chỉ được giải quyết ở mức độ vừa kể. Bởi lẽ việc đào tạo tín lý tôn giáo, kể cả luân lý, nhiều lúc có liên hệ đụng chạm với nhu cầu, lý tưởng và thể chế tổ chức Quốc Gia. Nói cách khác, " giờ giáo lý " ở trường sẽ ảnh hưởng đến quan niệm và cách hành xử của học sinh và sinh viên, là công dân trưởng thành trong cuộc sống Đất Nước ( P. A. Pace, Libertà di coscienza, di culto e di propaganda, in Commentario della Costituzione, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna - Roma 1977, 592). Nếu tổ chức Quốc Gia không có được tiếng nói của mình vào lãnh vực giáo dục tôn giáo vừa kể, hậu quả trên tổ chức cuộc sống Cộng Đồng Xã Hội sẽ đi đến đâu, câu trả lời ai trong chúng ta cũng có thể ước đoán được ( C. Cardia, Ateismo e libertà religiosa nell'ordinamento giuridico, nella scuola, nell'informazione dall'Unità ai giorni nostri, Laterza, Bari 1973, 101). Đó là chưa kể vấn đề phức tạp có thể xảy ra giữa cá nhân, gia đình và học đường. Vấn đề được đặt ra cũng có trong mối liên hệ giữa quyền công dân của tổ chức Quốc Gia với quyền quyết định của gia đình, việc bảo vệ tự do lương tâm cho vị thành niên và quyền tự do lựa chọn tôn giáo cho con cái. Đó là chưa kể đến các mối tương phản có thể xảy ra trong việc lựa chọn giáo dục tôn giáo cho đứa con, trong trường hợp hai vợ chồng theo hai tín ngưỡng khác nhau. Ai là người có thể đứng ra quyết định. Sự can thiệp của toà án không có gì bảo đảm cho kết quả thích hợp và là cách hành xử quyền lực Quốc Gia có thể còn được đặt dưới sự tranh cải ( Trib. Roma, 03.02.1998, art. 277 e 316). Quyền tự do giáo dục tôn giáo cũng như truyền bá niềm tin trong trường hợp vừa kể có thể đưa đến ly thân hay ly dị của cặp vợ chồng và làm thiệt hại cho con cái. " Cần phải suy nghĩ đến định hướng tôn giáo mà con cái được khởi đầu cho học hỏi có ảnh hưởng quan trọng đến tương lai của đứa con không" ( Trib. Venezia, 10.05.1990). b) Vấn nạn lương tâm. - Vấn đề " vấn nạn luơng tâm " liên quan đến việc thi hành quân dịch, có nền tảng trên điều răn thứ 7 Ki Tô giáo, " Chớ giết người" , cũng như tín lý " cấm sát sinh" của Phật giáo. Để giải quyết vấn đề đụng chạm giữa tôn giáo và tổ chức Quốc Gia, Quốc Hội Ý đã ra đạo luật L.15.12.1972 , n. 772 , cũng như sau đó được Viện Bảo Hiến phán quyết ( Corte Cost., 31.07.1989, sent. 470), đồng ý cho thiết lập đối với những người "có vấn nạn lương tâm" được thi hành " phục vụ dân sự thay thế" thay cho thời gian quân dịch. Việc xếp đặt cho việc " phục vụ dân sự thay thế " được giao cho một ủy ban đặc trách quyết định, qua điều khoản 52 của phán quyết trên của Viện Bảo Hiến. - Một vấn đề khá tế nhị khác liên quan đến việc dùng phương pháp chữa trị, một đàng Quốc Gia có bổn phận bảo vệ mạng sống và sức khoẻ của người dân, như là một trong những quyền căn bản tiên khởi bất khả xâm phạm của con người và lợi ích chung cho cả cộng đồng Quốc Gia: * " Nền Cộng Hoà bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của Cộng Đồng, bảo đảm mọi chữa trị miễn phí cho những ai thiếu thốn" ( Điều 32, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). * " Không thể chấp nhận án tử hình, nếu không được tiền định bởi luật lệ trong thời chiến" ( Điều 27, đoạn 3, id.). Nhưng đàng khác, đối với một vài tôn giáo, một ít phương pháp trị liệu không được chấp nhận như cấm truyền máu đối với Các Nhân Chứng Yehova chẳng hạn. Đối với tổ chức tôn giáo vừa kể máu liên hệ với đời sống riêng tư tủa mỗi người, nên không ai được hiến máu hay truyền máu mình cho người khác. Trường hợp những người bị thương mất máu, cần được truyền máu để sống còn, làm cho giới y sĩ nhiều khi phải điên đầu để quyết định trong các trường hợp cấp bách. Quốc Gia có thể dùng quyền lực của mình, liên quan đến bổn phận sinh mạng của người dân, quyết định ra lệnh cho y sĩ phải truyền máu cho bệnh nhân hay không? Nhiều vấn đề tự do lương tâm trước những phương thức chữa trị y khoa khác cũng không thiếu, đưa đến sự tương phản giữa niềm tin tôn giáo và những giá trị căn bản, mà thể chế Nhân Bản và Dân Chu của Quốc Gia tuyên bố bảo vệ. Đó là trường hợp đã xảy ra ở Toà Án Modena ( Ý Quốc), 13.08.1993, phá thai khuyết tật để cứu người mẹ? Nhiều trường hợp xãy ra liên quan đến việc bảo vệ thanh thiếu niên liên quan đến việc hạn chế quyền chọn lựa của cha mẹ ( Tar Lazio 08.07.1983). c) Tự do truyền giáo. Vấn đề truyền giáo cũng đưa đến những trường hợp khá tế nhị. Trước kia tự do truyền giáo chỉ có tính cách khoa học, là bổn phận của những nhà thần học hay những nhà nghiên cứu về tôn giáo, trong việc tìm hiểu giáo lý của các tôn giáo bạn ( App. Roma, 30.04.1936). Vấn đề tự do truyền giáo được đặt ra trên thực tế, khi xãy ra việc kiện tụng ở Toà Phá Án Roma ( Tribuna di Cassazione) , về vấn đề có được phê bình tôn giáo khác, để truyền bá niềm tin tôn giáo của mình hay không. Và Toà Phá Án Roma tuyên bố: - " ...chỉ có thể được coi là chính đáng, nếu những phê bình đó là kết quả của những quan sát được tuyên bố có suy nghĩ hẳn hòi do những nghiên cứu của những người có trình độ hiểu biết vững chắc" ( Cass. Pen. 20.02.1967). Cũng trong lãnh vực truyền giáo, một trong những giới hạn Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố một cách rõ rệt đó là các nghi thức tôn giáo không thể đi ngược lại " thuần phong mỹ tục": * mọi người và mọi công dân. - " Mọi người đều có quyền tự do tuyên xưng niềm tin tôn giáo dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân hay tập thể, tự do truyền bá và cử hành nghị thức phụng tự ở nơi riêng tư cũng như nơi công cộng, miễn là các nghi thức không ngược lại đối với thuần phong mỹ tục" ( Điều 19, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Trong điều khoản vừa kể Hiến Pháp tuyên bố " mọi người ". Điều đó có nghĩa là " hễ bất cứ ai là người " đều " có quyền tự do tuyên xưng tín ngưỡng " của mình. So với điều 49 về quyền hành xử quyền tự do chính trị chẳng hạn, Hiến Pháp chỉ tuyên bố " mọi công dân": chỉ có " người công dân" mới có quyền tự do chính trị, lập hội, gia nhập hội, bầu cử...chẳng hạn: - " Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập thành chính đảng, để cùng nhau theo phương thức dân chủ, cộng tác thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49, id.). Điều vừa kể cho thấy ở các Quốc Gia văn minh trên thế giới, quyền tự do tôn giáo là một trong những quyền căn bản của con người, được dành quyền tự do hiến định ưu tiên trên các quyền chính trị khác ( P. Gismondi, L'interesse religioso nella Costituzione, in Giur. Cost., 1958, 1232). * nơi được mở ra cho công chúng và nơi công cộng. Nhưng khi áp dụng vào thực tế, việc tổ chức phụng vụ và truyền bá tôn giáo trên lý thuyết, " mọi người đều có quyền tự do tuyên xưng tín ngưỡng của mình...tự do truyền bá và cử hành các nghi thức phụng vụ" bị giới hạn vì lý do an ninh công cộng hoặc để tránh gây thương tích đối với dân chúng: - " Đối với những cuộc tựu họp nơi công cộng, phải được tiên báo cho giới có thẩm quyền, và cơ quan công quyền có thể cấm các cuộc hội họp đó chỉ khi nào có lý chứng được xác nhận phương hại đến an ninh và sự an toàn của dân chúng" ( Điều 17, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Trong khi đó thì những cuộc hộp họp ở những nơi riêng tư, cũng như ở những nơi được mở ra cho công chúng ( tiệm, quán, nhà hàng, học đường, rạp hát, sân vận động, nhà thờ, chùa, thánh thất..., nói tổng quát là những nơi không phải lãnh thổ thuộc quyền sở hữu chung), luật pháp không bắt buộc phải tiên báo cho bất cứ ai, chớ đừng nói đến xin phép: - " Các cuộc hội họp, ( ở nơi riêng tư và ) ngay cả ở những nơi được mở ra cho công chúng, không cần phải báo trước" ( Điều 17, đoạn 2, id.). d) xúc phạm đến thuần phong mỹ tục. Theo quan niệm hình sự là sự xúc phạm đến phương diện tính dục, làm tổn thương đến sự thẹn thùng ( pudeur) và vinh dự con người về phương diện tính dục ( Finocchiaro F., Liberté..., cit., 278). Không những điều 19 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc cấm các nghi thức phượng tự và truyền bá tôn giáo trái với " thuần phong mỹ tục", mà điều 5 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức còn nghiêm cấm: - " Các quyền vừa kể ( tự do báo chí, kịch nghệ, phim ảnh, truyền thanh..., những hình thức phát biểu tư tưởng và nghệ thuật khác) có giới hạn theo luật lệ tổng quát, trong những điều luật liên quan đến bảo vệ tuổi thơ và quyền của con người đối với danh dự của mình" ( Điều 5, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Chúng tôi đã nêu lên một ít tư tưởng để xác định từ ngữ " phi tôn giáo " được dùng ở đầu bài, mục đích của tổ chức Quốc Gia và tổ chức các tôn giáo, giúp cho mỗi cá nhân " triển nở hoàn hảo con người của mình", những mối được kết phức tạp mà nhiều khi tổ chức Quốc Gia và các tôn giáo, ngay cả ở những Quốc Gia tân tiến Tây Âu, với bao nhiêu kinh nghiệm sống vẫn chưa có phương thức xác định và giải quyết thoả đáng. Mơ ước của người viết bài là cung cấp những dữ kiện, kinh nghiệm của các Quốc Gia tân tiến đã đi trước, để những ai có trách nhiệm với tương lai Việt Nam có thêm chất liệu, suy nghĩ, tìm ra giải pháp thích hợp hơn cho việc liên đới giữa hai lãnh vực thế tục và thần quyền, tạo hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi giúp cho - " mỗi cá nhận triển nở hoàn hảo con người của mình" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), trong tất cả mọi chiều hướng.

 

Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, Đại Nghị Chế, Can Thiệp vào kinh tế và xã hội, Tản Quyền, Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nhân Bản và DÂn Chu, - Đại Nghị Chế, - Can Thiệp vào kinh tế và xã hội, - Tản Quyền, - Phi tôn giáo, - Mỏ Rộng ra Cộng Đồng quốc Tế, - ( Duy nhứt hay Liên Bang?). Tản Quyền. I - Trung ương tản quyền. Trong bài DÂN CHỦ TRONG VAI TRÒ HIẾN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG, chúng tôi đã có dịp nghĩa Dân Chủ theo nguyên ngữ và ý nghĩa nguyên thủy " Demokrátia" của Hy Lạp. Chúng tôi cũng đã có dịp Dân Chủ theo quan niệm hiện đại của chúng ta, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", dựa trên Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân; dân chúng xử dụng quyền tối thượng đó theo hình thức và trong giới mức hiến định" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - " Mọi quyền lực Quốc Gia phát xuất từ dân chúng; dân chúng hành xử quyền lực Quốc Gia qua các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Chúng tôi cũng đã học hỏi được qua hai Hiến Pháp vừa kể thể thức để người dân " hành xử quyền lực tối thượng đó theo thể thức hiến định ", để chuyển giao quyền lực từ tay mình cho " các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" để hành xử thay mình, phục vụ Quốc Gia, theo nguyên tắc phân quyền " checks and balances " ( kiểm soát và cân bằng ) theo tinh thần dân chủ của Hoa Kỳ. Đó là phương thức bầu cử với những đặc tính phải có, nếu chúng ta muốn có một nền Dân Chủ thực sự: - " Tất cả những công dân, nam và nữ, đến tuổi trưởng thành đều là cử trị". Lá phiếu có tính cách cá nhân và bình đẳng, tự do và kín. Việc xử dụng lá phiếu là bổn phận công dân" ( Điều 48, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Các Dân Biểu Hạ Viện ( Bundestag) được tuyển chọn qua các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín" ( Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Cũng vậy ở địa phương hay cấp Tiểu Bang ( Laender): - " Ở các Tiểu Bang ( Laender), Vùng ( Kreise) và Xã Ấp ( Gemeinden) dân chúng phải có được những người dân đại diện do kết quả các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín" ( Đièu 28, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). ( cfr. THỂ THỨC BẦU CỬ TRONG HIẾN PHÁP NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ). Chúng ta đã đề cập đến chủ nhân của quyền lực Quốc Gia, đến thể thức trao quyền cho những ai đại diện hành xử thay cho mình phục vụ Quốc Gia,quyền lực được phân chia ra nhiều chủ thể trong các lãnh vực khác nhau ( lập pháp, hành pháp và tư pháp, " kiểm soát và cân bắng nhau" để tránh tập trung vào tay một người hay một số ít người, đưa đến nguy cơ độc tài, hành xử quyền lực độc tài, mọi rợ đàn áp con người như " Đảng và Nhà Nước ". Nhưng Dân Chủ trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ, Dân Chủ là phương thức để bảo vệ phẩm giá và các quyền bất kả xâm phạm của con người không phải chỉ có vậy, nhứt là trong Đại Nghị Chế, ý kiến, nhu cầu, ước vọng và lý tưởng của người dân luôn luôn phải được đặc trước mắt những ai đại diện đang hành quyền ( lập pháp, hành pháp hay tư pháp cũng vậy), để trình bày, hướng dẫn và kiểm soát chính hướng và hoạt động Quốc Gia, sao cho luôn luôn phù hợp với lợi ích của mỗi người và của cả cộng đồng Quốc Gia. a) Đối với Quốc Hội. - Nếu lập pháp không chu toàn nhiệm vụ chính đáng và hiệu năng của mình, chuẩn y đường lối chính trị Quốc Gia do Chính Quyền tân lập trình bày, hướng dẫn và kiểm soát chính hướng bằng luật pháp, bảo đảm cho Chính Quyền bền vững hoạt động và điều tra, cảnh cáo và truất phế Chính Quyền đối với những sai trái, không hiệu năng và bè phái đã vi phạm, lập pháp đó có thể bị Tổng Thống Cộng Hoà giải nhiệm trước định kỳ. - Nếu Hạ Viện cứu xào xáo, không đồng thuận chọn nổi một vị Thủ tướng lãnh đạo Chính Quyền cho Quốc Gia: * " Thủ Tướng Liên Bang ( Kanzler) được Hạ Viện tuyển chọn, không cần tranh cải, theo lời đề ngị của Tồng Thống Liên Bang". * " Nếu người được đề nghị không được lựa chọn, trong thời gian 14 ngày sau khi được thành lập, Hạ Viện có thể tuyển chọn một Thủ Tướng Liên Bang với đa số phiếu cácc thành viên của mình". * " Nều trong thời gian vừa kể không có một cuộc bỏ phiếu nào được tổ chức, Hạ Viện phải tổ chức lập tức một cuộc tuyển chọn mới, trong đó ai được nhiều phiếu nhứt sẽ là người đắc cử. Nếu người được tuyển chọn có được đa số phiếu các thành viên Hạ Viện, Tổng Thống Liên Bang phải bổ nhiệm người đắc cửa trong vòng bảy ngày. Nếu người được tuyển chọn không hội đủ đa số phiếu các thành viên, Tổng Thống Liên Bang có thể , trong vòng bảy ngày, hoặc bổ nhiệm ông, hoặc giải tán Hạ Viện" ( Điều 63, đoạn 1, 3 và 4 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - Nếu Hạ Viện hành động vô ý thức, bất tín nhiệm Thủ Tướng đương nhiệm, mà không có khả năng chọn nổi một vị Thủ Tướng khác lãnh đạo Chính Quyền, khiến Quốc Gia rơi vào tình trạng hổn loạn vô Chính Phủ, trường hợp " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" ( konstruktive Misstraeunsvotum): * " Trong trường hợp Thủ Tướng Liên Bang yêu cầu Hạ Viện tín nhiệm mình, không được đa số thành viên Hạ Viện đồng thuận, Tổng Thống Liên Bang , theo lời đề nghị của Thủ Tướng Liên Bang, trong vòng 21 ngày, có thể giải tán Hạ Viện. Quyền giải tán đó sẽ mất hiệu lực, vừa khi Hạ Viện tuyển chọn được một Thủ Tướng khác với đa số thành viên của mình" ( Điều 68, id.). - Trong trường hợp Tổng Thống Liên Bang không muốn giải tán Hạ Viện trước định kỳ, trong hai trường hợp của điều 63 hay 68 vừa kể, Tổng Thống cũng có thể hạn chế quyền hành xử vô trách nhiệm của Hạ Viện đối với lợi ích Đất Nước: * " Trong trường hợp điều 68 tiền liệu Hạ Viện Liên Bang không bị giải nhiệm, Tổng Thống Liên Bang, theo lời yêu cầu của Chính Quyền Liên Bang, có thể tuyên bố tình trạng lập pháp khẩn trương ( ) đối với một dự án luật, đã bị Hạ Viện bác bỏ,mặc dầu Chính Quyền Liên Bang truyên bố là dự án luật khẩn trương. Điều vừa kể cũng có giá trị đối với một dự án luật mà Thủ Tướng Liên Bang đã đặt liên hệ với lời yêu cầu mà điều 68 đề cập". * " Nếu Hạ Viện Liên Bang lại bác bỏ một lần nữa, sau khi tình trạng lập pháp khẩn trương được ban hành, hay chuẩn y với một văn bản mà Chính Quyền Liên Bang cho là không thể chấp nhận được, dự thảo luật được coi là đã được chuẩn y, nếu có sự đồng thuận của Thượng Viện. Điều vừa kể cũng có giá trị, nếu Hạ Viện Liên bang không chuẩn y một dự án luật trong vòng 4 tuần lễ, sau khi được đệ trình" ( Điều 81, đoạn 1 và 2, id.). b) Đối với Chính Quyền. Nếu Chính Quyền không cam kết đi đúng đường lối chính trị Quốc Gia, được Quốc Hội chấp thuận lúc Chính Quyền vừa đưọc thành lập, không tuân theo chính hướng được Quốc Hội điều chỉnh và định hướng bằng luật pháp và không hoạt động hiệu năng và không thiên vị, Quốc Hội có thể điều tra và bày tỏ bất tín nhiệm của mình, khiến Chính Quyền được cho về vườn sớm: * " Hạ Viện Liên Bang chỉ có thể biểu quyết bất tín nhiệm đối với Thủ Tướng Liên Bang khi tuyển chọn được một người kế vị và xin Tổng Thống Liên bang bổ nhiệm. Tổng Thống Liên Bang phải đáp ứng thoả đáng lời yêu cầu bổ nhiệm người được tuyển chọn" ( Điều 67, id.). c) Cả Quốc Hội và Chính Quyền. Nếu Chính Quyền đưa ra dự thảo luật bừa bải và Quốc Hội " chuẩn y " đại, kiểu hành xử Quốc Hội của " Đảng và Nhà Nước mình", trên đầu Quốc Hội, Chính Quyền và cả Tư Pháp còn có Viện Bảo Hiến " super partes" đứng giữa và đứng trên, xét xử tính cách hợp hiến hay vi hiến của các luật lệ và động tác được đẹ trình, nếu có lòi yêu cầu của " Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của một Tiểu Bang, 1/3 dân biểu Hạ Viện Liên Bang yêu cầu"( Điều 93, đoạn 2 , id.). d) Người dân và các tổ chức xã hội trung gian. Trong trường hợp luật pháp hay cách hành xử của Chính Quyền vi phạm một cách bất công đến quyền và lợi thú của người dân, người dân có thể đơn phương hay cùng với các tổ chức dân sự, xã hội trung gian khác, có thể đệ đơn tố cáo trước cơ quan tư pháp: * " Mỗi người đều có quyền, tự mình hay cùng chung với những người khác, đệ đơn thỉnh nguyện hay khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền và đến cơ quan đại diện của dân chúng" ( Điều 17, id,). * " Nếu ai thấy các quyền của mình bị cơ quan công quyền làm tổ thương, có thể tố cáo với cơ quan tư pháp thường nhiệm..." ( Điều 19, đoạn 4, id.). e) Cơ quan bảo vệ nhân quyền tại Quốc Hội. Song song với việc phân chia quyền lực, xác định các trường hợp để định hướng, cắt tỉa, kiểm soát, điều tra, cảnh cáo và bải nhiệm mà chúng ta vừa lược xét qua, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức còn tiến liệu một Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Quyền ( Vehrbeauftrage) nằm trong cơ cấu của Quốc Hội, nơi người dân chắc chắn được lắng nghe và bênh vực chống mọi đán áp, bất công bất cứ từ đâu xảy đến: - " Ha Viện Liên Bang thiết lập một Ủy Ban chấp nhận thỉnh nguyện thư có bổn phận xét xử các thỉnh nguyện thư và những lời tố cáo được gởi đến Hạ Viện, theo những gì đã được tuyên bố ở điều 17" ( Điều 45 c, id.). II - Tản quyền địa phương. Một trong những đặc tính không thể thiếu của thể chế Dân Chủ là Dân Chủ Đa Nguyên hay Tản Quyền. Quyền hành Quốc Gia không được tập trung vào một người hay một nhóm người, phải phân tán ra cho nhiều chủ thể hay nhóm chủ thể khác nhau. Nhưng tản quyền không phải chỉ là phân chia quyền lực " lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( kiểm soát và cân bằng) ở cấp trung ương, như những gì chúng ta vừa đề cập. Nền Dân Chủ của người dân Tây Âu đã tiến xa hơn những gì chúng ta vừa nói ở cấp trung ương. Hiến Pháp của họ, nhứt là các Hiến Pháp sau Thế Chiến II, đã tiền liệu các phương thức tản quyền đến cả các cơ chế địa phương, để phòng ngừa những âm mưu độc tài mà họ đã phải trả bằng máu và nước mắt qua kinh nghiệm của Hitler và Mussolini, cũng như qua kinh nghiệm của các chế độ phi nhân đã qua của Nga Sô và Đông Âu. Và đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã tuyên bố ngay ở những điều khoản đầu tiên: - " Nền Cộng Hoà duy nhứt ( una) và bất khả phân ( indivisibile), nhìn nhận và cổ vỏ các cộng đồng tự lập địa phương" ( Điều 5, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Có lẽ Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là một trong những Hiến Pháp đầu tiên giao phó " vai trò hiến định" cho cộng đồng địa phương, vai trò hiến định trong cơ chế Quốc Gia, khác với vai trò pháp định thông thường được luật pháp sau nầy được Quốc Hội soạn thảo và giao phó. Với việc " nhin nhận và cổ vỏ các cộng đồng địa phương tự lập", cùng với việc gaio phó cho các cộng đồng địa phương vai trò hiến định, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã thành công trong việc phá vở chế độ trung ương tập quyền cố hữu của thời quân chủ, cũng như chế độ Phát Xít của Mussolini, nhưng vẫn lưu ý không làm tiêu tán đặc tính " duy nhứt và bất khả phân" ( una ed indivisibile) của Nền Cộng Hoà: - " ...nhưng trong việc phân chia quyền lực trung ương và địa phương, trong việc phân chi phận vụ giữa Quốc Gia, Vùng, Tỉnh và Xã Ấp và bao nhiêu cơ quan cấu trúc khác sẽ được thiết lập ra trên đất Ý, chúng ta đừng làm mất đi sự đoàn kết chính trị Quốc Gia Ý, mà chúng ta tốn bao nhiêu công sức mới tạo được sau một thế kỷ, với cuộc sống may mắn của chúng ta, và tính cách đa nguyên pháp chế không bao giờ nên để nó trở thành sự chia rẻ và đối đầu chính trị" ( Berti G., Principi Fondamentali, art 5. in Commentario della Costituzione, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna - Roma 1975, 277). Từng bước một, từng viên gạch một các vị liên tục xây toà nhà " Cộng Đồng Địa Phương" thêm khang trang rộng lớn, luôn luôn trong ý hướng đối cọi lại đặc tính " duy nhứt và bất khả phân" của Quốc Gia, với xác tín rằng " vai trò hiến định" của Công đồng Địa Phương là phương tiện cần thiết để thực thi Dân Chủ, làm cho Dân Chủ thêm sung mãn, ngoài ra khả năng " đối lập, cắt tiả, chỉnh hướng, hảm thắng" đối với mọi cách hành xử sai trái, quá lố của trung ương. Điều làm cho chúng tôi chú ý khi học hỏi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là các điều khoản liên quan đến " vai trò hiến định Cộng Đồng Đia Phương" không phải được tập trung vào tiết mục V, tiết mục được Hiến Pháp dành riêng cho vai trò và phận vụ các cơ cầu địa phương trong Cộng Đồng quốc Gia, nhưng được các vị viết rải rác khắp đó đây, khắp các đề mục của Hiến Pháp, - từ phần xác định các nguyên tắc nền tảng lên quan đến nhân phẩm , quyền và tự do của con người ( điều 2-54), - đến các tiết mục đề cập đến Quốc Hội, Chính Quyền, Tổng Thống ( điều 55-100), - và đến ngay cả phần liên quan đến việc tu chính Hiến Pháp ( điều 134-139). Điều đó có nghĩa là các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không có ý hạn hẹp địa vị và vai trò của Cộng Đồng Địa Phương vào những phận vụ chỉ liên quan đến các vấn đề địa phương, làng mạc, xã ấp, tỉnh, quận, vùng...Trái lại các vị có chủ đích trao cho các Cộng Đồng Địa Phương những vai trò hiến định liên quan đến tổ chức đời sống của cả Cộng Đồng Quốc Gia, như - quyền sáng kiến đề nghị lập pháp đối với luật lệ Quốc Gia, - quyền đòi hỏi trưng cầu dân ý để sữa đổi, loại bỏ luật pháp không phù hợp với nhu cầu và ước vọng lý tưởng của dân chúng, cũng như tu chinh những điều khoãn Hiến Pháp không còn hợp thời, - quyền của các đại diện Vùng tham dự vào việc bầu cử Tổng Thống Cộng Hòa, một cơ chế " super partes", đứng giữa và đứng trên, tượng trưng cho sự đoàn két Quốc Gia, bảo vệ Hiến Pháp và hướng dẫn chính hướng và hoà giải những mối bất đồng trong cuộc sống Cộng Đồng. Với những vai trò vừa kể, Cộng đồng Địa Phương, trong cơ chế Quốc Gia không còn là tổ chức đóng vai " phụ diển" như thu thuế, bắt lính trong thời quân chủ chuyên chế, mà là những chủ thể " đóng vai chính" trong trọng trách quy định đường lối chính trị Quốc Gia, hiểu biết và thấy rõ nhu cầu và ước vọng của dân chúng địa phương, để đáp ứng kịp thời và hữu hiệu. Trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ, đường lối chính trị Quốc Gia không phải chỉ là chính hướng của trung ương, mà còn là đường lối của cả Quốc Gia cùng nhau quyết định, " Trung Ương" và " Cộng Đồng Địa Phương" ( G. Berti, op. cit,, 287). Thể chế Quốc Gia, nếu muốn là thể chế Nhân Bản và Dân Chủ thực sự, Cộng Đồng Địa Phương phải là những chủ thể tách biệt, hành xử quyền hiến định của mình, với danh nghĩa chủ thể để thực thi một cách trọn vẹn và thực hữu nguyên tắc Dân Chủ Đa Nguyên. Trao cho Cộng Đồng Địa Phương quyền đưa ra sáng kiến, góp phần vào việc quy định chính hướng Quốc Gia không có nghĩa là làm băng hoại tinh thần " duy nhứt và bất khả phân" của Quốc Gia, mà là tạo ra thể thức đê các chủ thể chính trị quan trọng của Xứ Sở, - "ý kiến và ước vọng của mọi phần đất trên lãnh thổ Quốc Gia đều có tiếng nói góp phần vào các quyết định quan trọng của Xứ Sở, liên quan đến đời sống của từng người và của toàn thể đồng bào" ( Pietro Perlingieri, Commento alla Costituzione, II ed. , Edizioni Scientifiche Italiane, Napoli 2001, 25). Đường lối chính trị Quốc Gia không có nghĩa chỉ là lý tưởng và thể thức quản trị của giới đương quyền, đang điều hành Xứ Sở, mà còn là - " phương cách thực thi lý tưởng và các nguyên tắc nền tảng được Hiến Pháp xác định và dân cchúng đồng thuận chuẩn y khi Hiến Pháp được ban hành ( Pietro Perlingieri, id., 26). Đường lối chính trị Quốc Gia, như vậy, là khuôn thước dựa vào chỉ thị của Hiến Pháp để kiểm soát phương thức hành động, mục đích và kết quả của đa số đương quyền đối với Hiến Pháp. Hiểu như vậy, chúng ta thấy quyền quyết định chính hướng Quốc Gia, qua phương thức tản quyền cho Cộng Đồng Địa Phương, trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, không còn là " sở hữu độc quyền" của tỏ chức Quốc Gia trung ương, mà đâm gốc rể đến mọi từng lớp Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng, Tỉnh, Xã Âp, Khu Phố): Hiến Pháp đã tạo được một hệ thống liên lạc mới giữa Quốc Gia trung ương và dân chúng điạ phương. Chương trinh lãnh đạo Đất Nước của các chinh đảng đương quyền bị ảnh hưởng, chuyển đổi nhiều hay ít, tùy thuộc vào việc hành xử " vai trò hiến định" của các Cộng Đồng Địa Phương, có ảnh hưởng đặt điều kiện thiết yếu trong việcc phát haọ đồ án thực hành và dự án luật để hướng dẫn hay không. Trong việc hành xử " vai trò hiến định" của mình, - " các Cộng Đồng Địa Phương đem được ý kiến, ước vọng của dân chúng sở tại vào Quốc Hội, không những ước vọng cho các nhu cầu tại địa phương, mà cả nhu cầu mà dân chúng ở địa phương ước muốn cho được đáp ứng cho đời sống của cả xứ sở" ( Temistocles Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, 263). Các nguyẹn vọng của Cộng Đồng Địa Phương được viết thành dự thảo luật, đem vào Quốc Hội, có thể trở thành tiếng nói của các chính đảng ủng hộ, hoặc định ra các mục đích mà chính hướng Quốc Gia cần nhằm tới, đề thảo ra chương trình, chỉ định phương thức hành động và dụng cụ cần thiết để thi hành. Tất cả các tư tưởng và nguyện vọng đó có thể trở thành chương trình tranh đấu, không những để bàn cải trong Quốc Hội, mà còn có thê tuyên truyền tạo ra dư luận, ảnh hưởng đến ý kiến của dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia. Chúng ta đã tìm hiểu những lý lẽ khiến các vị soạn thảo Hiến Pháp Tây Âu chọn biện pháp tản quyền làm phương thức thực hiện thể chế Nhân Bản và Dân Chủ, - tản quyền không phải chỉ bằng cách phân chia vai trò và quyền lực theo hàng ngang ở cấp trung ương: Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, - mà còn tảng quyền theo phương thức hàng dọc: Trung Ương và các Cộng Đồng Địa Phương ( Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender); Trung Ương và Vùng, Tỉnh, Quận, Xã Âp, Nhóm các Xã Ấp, Khu Phố). Phương thức tản quyền ở cấp trung ương, chúng ta đã có dịp đề cập ở trên, gờ đây chúng ta thử tìm hiểu thêm phương thức tản quyền giữa Trung Ương và các Cộng Đồng Địa Phương: - quyền đề xướng và soạn thảo luật Quốc Gia, - quyền đề xướng trưng cầu dân ý sữa đổi hay bãi bỏ các đạo luật không thích hợp, - quyền Cộng Đồng Địa Phương tham dự bầu cử Tổng Thống, - Cộng Đồng Địa Phương tham dự và liên kết Trung Ương - Địa Phương. 1 - Quyền đề xướng và soạn thảo luật Quốc Gia. Quyền đề xướng và soạn thảo luật Quốc Gia không phải luôn luôn là một quyền phổ quát trong quá khứ đối với các Cộng Đồng Địa Phương và cũng không phải phổ quát ngay cả trong hiện tại, nhứt là ở những Quốc Gia bị cai trị bằng độc tài, độc đảng như CSVN chẳng hạn. Sau Cách Mạng Pháp Quốc 1789, các Hiến Pháp " Jacobines" đều có khuynh hướng độc nhất hành quyền ( pouvoir monistique), dành quyền soạn thảo luật cho Quốc Hội, đúng hơn là cho Hạ Viện, mặc dầu Chính Quyền cũng có thể yêu cầu Hạ Viện quyết định một vài dự án mà Chính Quyền cho là cần thiết hoặc khẩn trương. Hiến Pháp của Quốc Gia Sicilia năm 1812 mở thêm một bước tiến: - " Mọi người dân Siciliano không phải là thành viên Quốc Hội, có thể đệ đơn tố cáo hay đơn đưa ra một dự án luât, nhân danh chính cá nhân mình hay dân chúng, đến Quốc Hội, nhờ một nghị sĩ chuyển giao". Từ thế kỷ 19 trở đi, một số Hiến Pháp mới có khuynh hướng lưỡng quyền ( dualiste): quyền dự thảo và đề nghị luật pháp được giao cho cả Quốc Hội lẫn Chính Quyền ( Hiến Pháp 1830 Pháp Quốc; 1831 Vương Quốc Bỉ; 1820 Lãnh Thổ các Nữ Quận Chúa Sicilia ( điều 124, 125, 164); 1849 Cộng Hoà Roma ( điều 30); 1848 Lãnh Thổ các Nữ Quận Chúa Sicilia ( điều 6 và 38); Nội Quy Albertino ( điều 10): - " Quyền soạn thảo luật pháp thuộc về vua và thuộc về cả hai Viện Quốc Hội". Trong thời Phát xít Ý, quyền soạn thảo và đề nghị dự án luật bị giới hạn đến vất bỏ đi tính cách tự lập của Quốc Hội ( dĩ nhiên là với sự đồng thuận của Benito Mussolini): - " Không một dự án nào có thể được đặt vào chương trình nghị sự của một trong hai Viện Quốc Hội, nếu không có sự đồng thuận của vị Lãnh Đâo Chính Phủ" ( Mortati C., La Costituente, Roma 1945, 217).( Sergio Bartole, Commentario della Costituzione, art 117, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna 1985, 207). Lược qua tiến trình của quyền đề xướng và soạn thảo các dự án luật, chúng ta thấy rằng quyền vừa kể đã biến thiên từ chế độ " độc nhứt quyền hành" của thời quân chủ, Phát Xít độc tài hay Cộng Sản độc Đảng, sang chế độ " lưỡng quyền", để bước tới quan niệm " tản quyền" hiến định của thể chế Nhân Bản và Dân Chủ: quyền đề xướng và soạn thảo dự án luật được giao phó cho nhiều chủ thể chính trị khác nhau, trong đó có " Cộng Đồng Địa Phương", mà chúng ta đang bàn đến. Tiến trình vừa kể được chúng tôi ghi lại qua những dòng chữ tóm lược một cách thản nhiên, ôn hoà, nhưng trên thực tế, biến chuyển của dòng lịch sử không ôn hoà, vô tội, vô vạ như vậy. Để viết được những điều khoản của các Hiến Pháp Jacobines Pháp Quốc, dân tộc Pháp đã phải trả đắc giá bằng cuộc Cách Mạng đẩm máu 1789. Để viết thành những điều khoản " tản quyền" về quyền đề xướng và soạn thảo dự án luật dành cho Cộng Đồng Địa Phương của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và cho các Tiểu Bang của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, dân Ý đã trả nhiều máu và nước mắt cho chế độ độc tài Phat Xít của Benito Mussolini và dân tộc Đức, cũng như Do Thái đã hy sinh hằng mấy chục triệu người trong các mổ chôn tập thể và lò sat sinh của Hitler ( Sergio Bartole, Commentario della Costituzione, art 117, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna 1985, 207). Quyền đề xướng và quyền soạn thảo dự án luật, trong tinh thần " tản quyền" để bảo đảm Nhân Bản và Dân Chủ, được trao cả cho các " Cộng Động Địa Phương" là một trong những chiến lợi phẩm lớn lao, mà dân tộc Ý, Đức nói riêng và dân chúng Âu Châu nói chung, đã dành được trao lại cho dân tộc họ và cũng là món quà kinh nghiệm qúy giá cho tất cả các dân tộc yêu chuộng Tự Do, Nhân Bản và Dân Chủ, đang tìm định hướng để đặt nền tảng cho thể chế tương lai của dân tộc mình, trong đó có cả Việt Nam chúng ta. Quyền đề xướng và soạn thảo dự án luật được giao cho nhiều chủ thể chính trị khác nhau, là một gạch nối giữa " Dân Chủ Đại Diện " và " Dân Chủ Tham Dự" Các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc có ý chọn thể chế Dân Chủ Đa Nguyên cho Quốc Gia Ý, bằng cách đưa vào chính trường nhiều chủ thể chinh trị mới. Đó là tư tưởng được các vị nêu lên ở điều 5, phần đề cập đến các nguyên tắc nền tảng cho thể chế Quốc Gia ( điều 2 - 54): - " ...( Nền Cộng Hoà) trong các ngành phục vụ của Quốc Gia, thực thi phương thức tản quyền ( decentramento) quản trị rộng rãi hết sức có thể, thực thi các nguyên tắc và các phương thức lập pháp của mình phù hợp với các nhu cầu tự lập và phân phối quyền lực" ( Điều 5, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) . Và nguyên tắc " tản quyền" vừa kể, được các vị xác định sau đó, trong đề mục liên quan đến quyền lập pháp, khi đề cập Quốc Hội: - " Quyền đề xướng luật pháp thuộc về Chính Quyền, mỗi thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội, các cơ quan và tổ chức được Hiến Pháp ủy thác cho. Dân chúng hành xử quyền đề xướng luật pháp, qua sự yêu cầu của ít nhứt 50.000 cử tri, bằng một dự thảo viết thành điều khoản" ( Điều 71, đoạn 1 và 2, id.). Các" cơ quan và tổ chức " vừa được đề cập đến ở điều 71,được Hiến Pháp nói rõ hơn ở điều 99: - " Hội Đồng Quốc Gia về kinh tế và lao động có quyền đề xướng luật pháp và có thể góp phần vào việc hình thành luật pháp về kinh tế và xã hội, theo các nguyên tắc và trong giới mức pháp định" ( Điều 99, id.). Và các chủ thể Cộng Đồng Địa Phương đang bàn, được Hiến Pháp xác định phận vụ ở điều 121: - " Hội Đồng Vùng hành xử quyền lập pháp và thiết định quy chế được giao cho địa phương và các vai trò khác được Hiến Pháp và luật pháp quy trách cho. Hội Đồng Vùng có thể đệ trình các dự thảo luật đến Lưỡng Viện Quốc Hội " ( Điều 121, id.). Ý hướng của các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý trao quyền đề xướng và soạn thảo dự án luật cho nhiều chủ thể chính trị khác nhau không phải để phá vở tính cách " duy nhứt và bất khả phân" của Quốc Gi, các vị cũng không có ý dùng các chủ thể chính trị khác nhau hay các chủ thể ngoại vi đối với tổ chức quyền lực trung ương chỉ để " cắt tỉa, hảm thắng" những quá lố, lộng hành nếu có, mà là một phương thức dân chủ với " quyền chủ thể tản mác , mở rộng và bổ túc": - " Quyền chủ thể tản mác", quyền đề xướng luật pháp thuộc nhiều chủ thể chính tri hiện hữu trong nhiều môi trường và lãnh vực của đời sống Quốc Gia. - " mở rộng", những chủ thể được Hiến Pháp liệt kê trên văn bản không phải là những chủ thể độc nhứt. Bản liệt kê còn có thể nới rộng và nhiều chủ thể chính trị khác nhau có quyền đề xướng luật pháp, tùy nhu cầu tương lai của cuộc sống Quốc Gia đòi hỏi, - " bổ túc", quyền đề xướng luật pháp của nhiều chủ thể ngoại vi được Hiến Pháp giao cho để bổ túc, hoàn hảo hóa đường lối chính trị Quốc Gia, cùng cộng tác với các cơ cấu quyền lực trung ương cho lợi ích địa phương và của cả Cộng Đồng. Với quyền đề xướng và soạn thảo dự án luật pháp, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc có ý bảo đảm cho những chủ thể có bổn phận hoạt động, để đáp ứng những nhu cầu lãnh vực địa phương của mình, cũng như nói lên nhu cầu và ước vọng phải được thực hiện cho cả Đất Nước. Quyền đề xướng và soạn thảo luật pháp của các chủ thể ngoại vi không phải chỉ là quyền thêm thắt ý kiến, nhu cầu và ước vọng hạng hai vào đồ án " chính thống" trung ương. Hiến Pháp không dành một điều khoản nào để phân chia chủ thể chính trị hạng A và hạng B. Điều đó có nghĩa là các dự án luật được các chủ thể khác với cơ cấu trung ương ( Chinh Quyền hay Quốc Hội), cũng có giá trị ngang hàng để hợp tác xác định đường lối chính trị Quốc Gia không kém gì những dự án của các cơ cấu trung ương. Đọc lại các điều 5, 71 và 121 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, chúng ta thấy các vị soạn thảo lựa chọn các chủ thể chính trị để trao quyền đề xướng và soạn thảo dự án luật với mục đích nới rộng trung tâm quyền lực Quốc Gia đến các chủ thể hiện diện nơi dân chúng: - " Dân chúng hành xử quyền đề xướng luật pháp qua sự yêu cầu của ít nhứt 50.000 cử tri, bằng một dự án luật, được viết thành điều khoản" ( Điều 71, đoạn 2, id.), - " Hội Đồng Vùng hành xử quyền lập pháp và thiết định quy chế được giao cho địa phương và các vài trò khác được Hiến Pháp và luật pháp quy trách cho. Hội Đồng Vùng có thể đệ trình dự án luật đến Lưỡng Viện Quốc Hội" ( Điều 121, id.). Trao khả năng hành xử quyền đề xướng luật pháp cho dân chúng ( điều 71) hay cho Hội Đồng Vùng ( điều 121), các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc có ý nhắc nhở cho bất cứ ai đang hành quyền rằng người dân đang thực thi quyền đề xướng luật pháp Quốc Gia là chủ nhân " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", cũng chính là chủ nhân của quyền lập pháp. Bởi lẽ trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ, việc tuyên bố quyền sở hữu Quốc Gia thuộc về dân thôi, chưa đủ. Người dân vẫn là chủ nhân của quyền lực Quốc Gia ngay cả trong lúc các đại diện hành xử quyền lực Quốc Gia của mình, người dân có quyền can thiệp bất cứ lúc nào, cho dầu đã giao phó một cách chính danh và hợp pháp cho " các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoan 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Dân Chủ - không chỉ có nghĩa " chủ quyền Quốc Gia thuộc về dân", - mà còn có nghĩa " chủ quyền Quốc Gia tản mác trong dân chúng", - " khác biệt trong hợp tác, hướng về cùng một mực đích", - " phong phú, đa dạng trong hợp nhất". Đó là ý nghĩa tại sao Hiến Pháp 1947 Ý Quốc giao quyền đề xướng luật pháp Quốc Gia cho Hội Đồng Vùng và cho cả dân chúng, khi có được 50.000 cử trị đồng thuận yêu cầu, cũng như các cơ quan và tổ chức được Hiến Pháp quy trách cho ( điều 99, id.) ( Pietro Perlingieri, op. cit., 856- 857). Dĩ nhiên quyền đề xướng dự án luật hàm chứa cả quyền thu hồi dự án đã được đệ trình. Quyền thu hồi dự án, bên ngoài có thể là một thể thức đơn sơ, nhưng hàm chứa những hậu quả quan trọng, nhứt là khi những chủ thể đề xướng dự án đứng ra thu hồi, chính là những chủ thể chính trị có " vai trò hiến định". Quyền đề xướng dự án là một quyền quan trọng, như đã nói, được Hiến Pháp ủy thác cho - cơ cấu trung ương ( Chính Quyền và Quốc Hội), - cũng như cho các chủ thể chính trị ngoại vi ( dân chúng, Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng), - các cơ quan và tổ chức đặc trách Kinh Tế và Xã Hội), để cùng nhau cộng tác xác định đường hướng chính trị Quốc Gia. Quyền đề xướng dự án luật, đo đó, được các chủ thể chính trị ngoại vi đệ trình nhằm ảnh hưởng đường lối và chương trình lãnh đạo Quốc Gia của đa số đương quyền ( được đa số trong Quốc Hội chuẩn y và đa số thành viên của Chính Phủ được Quốc Hội tín nhiệm). Đặt quyền đề xướng dự án luật trong bối cảnh vừa kể, chúng ta thấy được tầm quan trọng của quyền thu hồi dự án đã được đệ trình. Đa số đương quyền có thể lấy số đông bất chấp ý kiến và ước vọng của các chủ thể chính trị ngoại vi. Các chủ thể ngoại vi dùng quyền thu hồi dự án, nếu dự án - đang bị " ngâm tôm" - hay bị cắt xén, sữa đổi, làm mất đi ý nghĩa quan trọng củ nội dung, để tuyên bố cho dân chúng biết thái độ bất chính cố chấp, " cả vú lấp miệng em", không đếm xỉa gì đền quyền lợi Đất Nước của giới đương quyền. Thái độ ăn ở bất chính đó, " sẽ phải được tính sổ " trong kỳ bầu cử tới, trong một Quốc Gia Dân Chủ. Đành rằng trong thể chế Dân Chủ, quyền " chuẩn y hay bác bỏ " luật pháp hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Quốc Hội. Không một chủ thể nào, kể cả Chính Phủ, có quyền áp lực đối với Quốc Hội trong việc hành xử quyền " chuẩn y hay bác bỏ " của mình, ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp, - " tình trạng lập pháp khẩn trương " ( Điều 81, đoạn 1 và 2, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) - hay trường hợp " sắc lệnh" ( Điều 77, đoạn 2 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nhưng các chủ thể chính trị ngoại vi có thể dùng quyền thu hồi dự án được đệ trình, để nói lên thái đố bất đồng chính kiến của mình đối với giới đương quyền về đường lối và phương thức điều hành Đất Nước. Quốc Hội cũng như Chính Phủ đương quyền cẩn " quào đầu gải tóc", " bóp trán" suy nghĩ vài ba lược trước khi quyết định để cho sự việc có thể xảy ra, ảnh hưởng bất lợi cho cả các chính đảng thuộc hệ trong kỳ bầu cử tới. Quyền thu hồi dự án được đệ trình là lợi khí tranh đấu chính trị, bảo đảm cho người dân, bằng cách bênh vực quyền chính trị của thiểu số. Dưới nhãn quang đó, quyền đề xướng dự án luật không phải chỉ được coi là " hữu hiệu", " có kết quả", " thắng cuộc", khi dự án được " chuẩn y " thành luật. Dự án được đề nghị cũng có thể được coi là " thắng cuộc", " có kết quả mỹ mãn" ngay cả khi bị " bác bỏ " hay bị " thu hồi ", bởi những ảnh hưởng chính trị của nó có thể xảy ra ( Temistocles Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, 825s). Thể chế Dân Chủ là vậy. Thể chế Dân Chủ không phải là phương thức cai trị Đất Nước, trong đó đa số đè bẹp thiểu số, " cả vú lấp miệng em". 2 - Quyền đề xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ luật Quốc Gia. Vai trò hiến định thứ hai được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc giao cho các " Cộng Đồng Địa Phương" và dân chúng, đó là quyền "đề xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ luật Quốc Gia". Mục đích của các cuộc trưng cầu dân ý bãi bỏ ( referedum abrogatifs) là để đối chiếu kết quả các hoạt động lập pháp của Quốc Hội và nguyện vọng của dân chúng: - " Trưng cầu dân ý để bãi bỏ toàn diện hay một phần điều khoản luật pháp hay các sắc luật của hiệu lực luật định sẽ được đề xướng, khi có 50.000 cử tri hoặc 5 Hội Đồng Vùng yêu cầu " ( Điều 75, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đoc điều khoản vừa kể của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc sau trên dưới 50 năm Hiến Pháp được ban hành, chúng ta có thể đọc một cách trầm tỉnh, vô thưởng, vô phạt, như là các vị soạn thảo viết ra một cách tự nhiên. Điều đó không hẳn đã như vậy trong thời gian soạn thảo. Điều mà các vị lo lắng là làm thế nào cho " quyền đề xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ luật Quốc Gia" - " không trở thành " dụng cụ chống đối không có cách gì can thiệp được giữa khuôn mẫu đại nghị chế ( dân chủ đại diện) và dân chủ trực tiếp " ( Temistocles Martines, op. cit., 419- 420). Nhiều vị lo ngại rằng gán cho quyền " dân cầu dân ý bãi bỏ" quá nhiều quyền lực, trưng cầu dân ý có thể trở thành dụng cụ phá vỡ đại nghị chế, tạo ra khủng hoảng cho mối tương giao Chính Phủ - Quốc Hội và dân chúng. Nhiều ý kiến được đưa ra, trong đó có cả ý kiến của nhà Hiến Pháp học nổi tiếng của Ý, Gs C. Mortati: - " Làm thế nào để cho dân chúng khi xử dụng trưng cầu dân ý bãi bỏ " không trở thành trọng tài trong các cuộc tranh chấp chính trị giữa các cơ chế Quốc Gia" ( Mortati C., La Costituente, Darsena, Roma 1945, 226). Xử dụng " trưng cầu dân ý bãi bỏ" dân chúng hành xử quyền vừa kể để cộng tác với Quốc Hội trong việc thiết định luật pháp nói riêng và hướng dẫn chính hướng Quốc Gia nói chung. - " Trưng cầu dân ý bãi bỏ", phương thức dân chủ hành xử quyền lập pháp, * là dụng cụ để đốc thúc các cơ quan đại diện, * dụng cụ giáo dục người dân, * thể thức phân chía quyền lực chính trị và điều hành quyền chế tài toàn năng của các chính đảng, * là một động tác hiệu chính ( correctif) thể chế dân chủ đại diện, có sức mạnh phá vỡ những gì không thích hợp" ( tư tưởng của L. Einaudi, Tổng Thống đầu tiên của Cộng Hoà Ý Quốc, cfr. Mortati C., op. cit. 3). Trưng cầu dân ý bãi bỏ không phải là hành động chống bán, khai trừ, đoạn giáo với giữa dân chủ trực tiếp ( trưng cầu dân ý) và dân chủ đại diện ( Chính Quyền - Quốc Hội), mà là phương thức để cân bằng hai hình thức hành xử quyền lực Quốc Gia, một phương thức điều chỉnh cần thiết để hoàn hảo hoá dân chủ đại diện, - " ...một phương thức điều chỉnh dân chủ đại diện bằng yếu tố dân chủ trực tiếp" ( Temistocles Martines, op. cit., 421). Trưng cầu dân ý bãi bỏ và Cộng Đồng Địa Phương. Quyền hành xử " trưng cầu dân ý bãi bỏ ", Hiến Pháp 1947 giao cho dân chúng và các Cộng Đồng Địa Phương ( Điều 75, id.). Với quyền " trưng cầu dân ý bãi bỏ" Hiến Pháp giao cho Cộng Đồng Địa Phương thẩm quyền quan trọng: can thiệp vào hệ thống luật pháp, thể thức căn bản để tổ chức đời sống và xác định chính hướng Quốc Gia, bất cứ lúc nào. Nếu với " quyền đề xướng dự án luật " Cộng Đồng Địa Phương thúc đốc, góp ý kiến và cảnh tỉnh Quốc Hội trong thời gian soạn thảo và "chuẩn y hay bác bỏ " trước khi ban hành, - thì quyền " trưng cầu dân ý bãi bỏ " cho phép Cộng Đồng Địa Phương tường trình và kêu gọi dân chúng hợp tác " bãi bỏ " một phần hay toàn phần điều khoản không thích hợp với lòng dân, chủ nhân tối thượng quyền lực Quốc Gia. Nếu đối với quyền " đề xướng dự án luật pháp", mỗi Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng) đều có thể tự mình đề xướng, thì đối với quyền " trưng cầu dân ý bãi bỏ", để tránh mọi cách xử dụng một cách nhẹ dạ đối với một hành động quan trọng như vậy, bãi bỏ điều khoản luật ( điều lệ và thể thức trên đó được xây dựng đời sống cộng đồng Quốc Gia), các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã nghỉ đến đặt thêm điều kiện gia trọng: - " Việc trưng cầu dân ý bãi bỏ..., khi có 50.000 cử tri hoặc 5 Hội Đồng Địa Phương ( Vùng) yêu cầu" ( Điều 75, id.). Điều đó có nghĩa là quyền " trưng cầu dân ý bãi bỏ" có thể được khởi xướng bằng một hay vài thành viên của các Vùng tự lập ( Trento - Bolzano, Giulia - Trieste), hay Hội Đồng Vùng, với sự biểu quyết đồng thuận qua đa số tuyệt đối ( 50%+ 1 phiếu). Sau đó Hội Đồng Vùng đề xướng phải tìm được 4 Hội Đồng Vùng khác cùng đồng thuận ủng hộ, đươc các thành viên của mỗi Hội Đòng Vùng bỏ phiếu đồng thuận với đa số tuyệt đối như trên ( Điều 27-40. L. 25.05.1970, n. 352). Ngoại trừ điều kiện gia trọng vừa kể, quyền " trưng cầu dân ý bãi bỏ " của các Hội Đồng Địa Phương không bị một giới hạn nào khác, nều không phải đối với - luật khuôn khổ ( legge cornice) - hay luật áp dụng một nguyên tắc của Hiến Pháp ( legge a contenuto costituzionale) - và các luật dành cho quyền hành xử đặc nhiệm ( tuyên chiến, giải quyết tranh chấp giữa địa phương và trung ương, danh quyền riêng cho Quốc Hội, Nội quy riêng biệt của địa phương). Bởi lẽ xoá bỏ đi luật khuôn khổ hay luật áp dụng nguyên tắc Hiến Pháp như vừa kể là vi phạm ngay cả đến Hiến Pháp, nền tảng của Quốc Gia, như những gì cả Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng phủ nhận: - " Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến quyền tham dự của các iểu bang vào tiến trình lập pháp hay đến các nguyên tắc được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). ( Điều 1, liên quan đến " Phẩm giá con người bất kả xâm phạm"; điều 20, liên quan đến định nghĩa thể chế: " Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội") Điều 79 vừa kể của Hiến Pháp 1949 cho thấy sống trong thể chế Dân Chủ Đa Nguyên không phải là trong " nồi canh thập cẩm" ai muốn làm gì thì làm, muốn nghĩ sao, nói sao và làm gì cũng được, mà là hành xử trong giới mức Dân Chủ, bởi lẽ muốn có Dân Chủ Đa Nguyên, trước hết chúng ta phải có Dân Chủ. Điều vừa kể càng cho thầy Dân Chủ không phải là một thể chế mềm nhũng " không xương sống", ai muốn cắt xén, đả phá sao cũng được. Dân Chủ cũng phải có những phương pháp tự bảo vệ ( Streibaredemokratie). Song song với việc bắt buộc 5 Hội Đồng Vùng đồng thuận liên kết nhau để có thể xử dụng quyền " trưng cầu dân ý bãi bỏ ", Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã tạo ra một chủ thể chính trị mới, do sự tập họp 5 Cộng Đồng Địa Phương tạo ra, một chủ thể chính trị - có quyền đối thoại và được Hiến Pháp giao phó cho khả năng hành xử quyền lực Quốc Gia, - để cộng tác với Quốc Hội, đối thoại với Chính Quyền và hướng dẫn dân chúng. Đó là ý nghĩa phán quyết của Viện Bảo Hiến, qua phiên toà ngày 03.03.1978: - " ( Viện Bảo Hiến xác nhận rằng) giữa những chủ thể hành xử quyền lực Quốc Gia, chúng ta có thể liệt kê cả những chủ thể hay tổ chức không hẳn phải thuộc vào cơ chế tổ chức trực tiếp của Quốc Gia ( lập pháp, hành pháp và tư pháp). Ý nghĩa phán quyết vừa kể cho thấy đặc tính Dân Chủ Đa Nguyên của thể chế Dân Chủ mà Hiến Pháp 1947 Ý Quốc xác định. Quyền hành xử quyền lực Quốc Gia không phải chỉ tập trung vào tay của đa số đương quyền, hiện diện trong các cấu trúc trực tiếp của Quốc Gia, mà còn được Quốc Gia giao cho các chính đảng ( đương quyền hay đối lập, điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), giao cho Hội Đồng Đặc Nhiệm Kinh Tế và lao Động ( điều 99, id.), cho Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng), cho cả người dân ( nếu có được 50.000 cử tri đồng thuận yêu cầu, điều 71, id.), Và danh sách các chủ thể có thể được mở rộng thêm, tùy nhu cầu đòi hỏi ( kể cả các tổ chức xã hội trung gian, chẳn hạn). Với hai quyền vừa kể được Hiến Pháp giao phó, " quyền đề xướng luật pháp Quốc Gia" và " quyền đề xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ", các Cộng Đồng Địa Phương và dân chúng có được một vũ khí song đôi để chấn chỉnh, hoàn hảo hóa hệ thống luật pháp Quốc Gia và đường hướng chính trị Đất Nước để bảo vệ người dân và bảo vệ con người. - Quyền đề xướng dự án luật mới, không những để thành lập một điều khoản luật chưa bao giờ được ban hành, mà cũng có thể là một đạo luật mới thay thế một điều khoản củ không còn hợp thời, không đáp ứng nhu cầu hay đi ngược lại ước vọng của dân chúng. Đó là hình thức gián tiếp xoá bỏ đi đạo luật lỗi thời, có hiệu lực không khác gì kết quả của " quyền trưng cầu dân ý bãi bỏ ". Do đó, để đạt đưọc kết quả, các Cộng Đồng Địa Phương và dân chúng có thể xử dụng " quyền đề xướng luật pháp Quốc Gia" hoặc " quyền đề xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ", hoặc cả hai cùng lúc. Giao cho các Cộng Đồng Địa Phương hay dân chúng cả hai quyền trên, Hiến Pháp có ý giao cho họ - đốc thúc, góp ý kiến và cảnh tỉnh Quốc Hội trong thời gian soạn thảo và biểu quyết luật pháp, - thay mặt cho dân chúng kiểm soát, báo động và thôi thúc dân chúng biểu quyết khai trừ những điều khoản luật không phù hợp với lý tưởng và nhu cầu của cuộc sống Quốc Gia. Nói cách khác, báo động và thôi thúc dân chúng biểu quyết khai trừ thái độ hành xử quyên lực Quốc Gia lệch lạc, không hiệu năng, thiên vị , lắm khi độc tài, áp buộc và bất công. Tản quyền cho Cộng Đồng Địa Phương và dân chúng để - kiểm soát, - hướng dẫn, - hoàn hảo hóa chính hướng Quốc Gia ( Temistocles Martines, op. cit., 425). Thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của thiên hạ là vậy! 3 - Quyền Cộng Đồng Địa Phương tham dự bầu cử Tổng Thống. - " Tổng Thống Cộng Hoà được Quốc Hội Lưỡng Viện bầu ra trong phiên họp chung của các thành viên. Mỗi Cộng Đồng Địa Phương có ba đại diện được Hội Đồng Vùng tuyển chọn tham dự cuộc bỏ phiếu, thế nào cho các thành phần thiểu số cũng được đại diện..." ( Điều 53, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Vai trò của Tổng Thống được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 bàn cải, cân nhắc khá lâu. Các vị không muốn có một Tổng Thống với chức vị quá mạnh, như vai trò của nhà vua trong thể chế quân chủ trong quá khứ, trái lại cũng không nên có một Tổng Thống vô tích sự, " làm kiểng" không tạo được lợi ích gì bao nhiêu cho cuộc sống Quốc Gia. Ý kiến sau cùng được Ủy Ban Soạn Thảo Hiến Pháp đồng thuận chấp nhận là chọn một Tổng Thống có cương vị trổi vượt, " ở giữa và ở trên" ( super partes) các cơ cấu quyền lực Quốc Gia thường lệ, tượng trưng cho sự hợp nhứt Quốc Gia và điều giải những tranh chấp giữa các ý kiến, phe phái ( Điều 87, đoạn 1, id.). - Tổng Thống không thuộc cơ quan lập pháp ( Quốc Hội ), bởi lẽ ông không có quyền " chuẩn y hay bác bỏ luật pháp". - Tổng Thống không có quyền chấp nhận công bố hay không các điều luật được Quốc Hội chuẩn y, ông chỉ có quyền gởi sứ điệp đến Quốc Hội để lưu ý và triển hạn công bố đạo luật, nếu xét thấy tính cách vi hiến của đạo luật và cũng có thể lưu ý Viện Bảo Hiến. - Tổng Thống không có quyền gì trong các hoạt động của Hành Pháp, để tránh tình trạng " lưỡng đầu chế" ( bicefalo) đối với những quyết định phải có trong Chính Quyền mà đôi khi chế độ " Bán Tổng Thống Chế" ( Semiprésidentialisme) của Pháp gặp phải. Với cương vị được phát hoạ như vừa kể, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc phủ nhận việc Tổng Thống có thể được tuyển chọn qua cuộc phổ thông đầu phiếu, bởi lẽ nếu chọn như vậy, Tổng Thống cũng được chọn cùng một phương thức như Quốc Hội, có quyền lực ngang hàng với Quốc Hội, tao nên tình trạng " lưỡng đầu chế" giữa Tổng Thống và Quốc Hội, ai có quyền trên ai để nhắc nhở, lưu ý và cảnh tỉnh Quốc Hội dựa trên các nguyên tắc của Hiến Pháp ( Temistocles Martines, op. cit., 566). Ngược lại các vị cũng bác bỏ viễn ảnh Tổng Thống do Quốc Hội tuyển chọn, vì như vậy Tổng Thống hoàn toàn tùy thuộc Quốc Hội, không có quyền cảnh cáo những việc làm của Quốc Hội. Như vậy giải pháp còn lại là giải pháp thứ ba, Tổng Thống được tuyển chọn do - một Đại Hội Đồng gồm các thành viên Lưỡng Viện Quốc Hội tron phiên họp khoáng đại - và ba thành viên của mỗi Cộng Đồng Địa Phương ( Vùng) do Hội Đồng Vùng đề cử, tùy theo tỷ lệ của dân chúng trong Vùng, để mọi thành phần đều có ý kiến và thực thi quyền hiến định của mình trong việc tuyển chọn Tổng Thống. Đây là một thể thức được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc nghĩ ra, như là điểm gặp gỡ giữa Dân Chủ Trực Tiếp ( các đại diện Vùng) và Dân Chủ Đại Diện ( các dân biểu Lưỡng Viện Quốc Hội). Nếu chúng ta chú ý vai trò " phối hợp, điều hoà và cảnh cáo " của Tổng Thống đối với các cơ chế quyền lực Quốc Gia, chúng ta sẽ thấy rằng vai trò Hiến Pháp " tản quyền" dành quyền lực cho Cộng Đồng Địa Phương tham dự vào việc bầu cữ Tổng Thống là vai trò tối quan trọng: các Cộng Đồng Địa Phương có vai trò quyết định trong việc định đoạt quyền thượng đỉnh để " phối hợp, điều hoà và cảnh cáo" bất cứ ai hành xử quyền lực Quốc Gia, để bảo toàn thể chế Nhân Bản và Dân Chủ cho Đất Nước. Đó là chưa kể đến quyền của Tổng Thống lựa chọn và bổ nhiệm 1/3 các thẩm phán cho Viện Bảo Hiến, có phận sự phán định tính cách hợp hiến hay vi hiến của mọi cơ quan quyền lực Quốc Gia: - " Viện Bảo Hiến gồm có 15 thẩm phán, 1/3 do Tổng Thống bổ nhiệm, 1/3 do Quốc Hội Lưỡng Viện trong phiên họp chung và 1/3 do Tối Cao Pháp Viện tuyển chọn giữa các thẩm phán thường nhiệm và thẩm phán hành chánh" ( Điều 135, đoạn 1, id.). 4 - Quyền sữa đổi và bổ túc Hiến Pháp. - " Các luật về sữa đổi Hiến Pháp và các luật hiến pháp khác được Quốc Hội áp dụng, đều phải được Quốc Hội bỏ phiếu tán đồng qua hai cuộc bỏ phiếu trong khoản thời gian không dưới ba tháng". "Các luật vừa kể phải được sự tán đồng của Quốc Hội Lưỡng Viện với đa số tuyệt đối ( 50%+1 phiếu) ở lần bỏ phiếu thứ hai ". " Các luật trên có thể được đưa ra trưng cầu dân ý, nếu trong vòng ba tháng sau ngày công bố có 1/5 số nghị sĩ của một Viện quốc Hội, 50.000 cử tri hoặc 5 Hội Đồng Vùng yêu cầu. Điều luật được đưa ra trưng cầu dân ý, sẽ không được công bố, nếu không được đa số chấp thuận". " Một đạo luật được chấp thuận với đa số 2/3 số phiếu của mỗi Viện Quốc Hội sẽ không phải bị đưa ra trưng cầu dân ý" ( Điều 138, đoạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đọc nhữg điều khoản gia trọng vừa kể, - "...phải được mỗi Viện Quốc Hội bỏ phiếu 2 lần..., trong khoản thời gian không dưới ba tháng..., được tán đồng của mỗi Viện Quốc Hội với đa số tuyệt đối ở vòng thứ hai..., phải được 2/3 số phiếu của mỗi Viện Quốc Hội ", chúng ta thầy rằng Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, cũng như hầu hết các Hiến Pháp Tây Âu là những Hiến Pháp cứng rắng. Dĩ nhiên chúng ta còn có những điều khoản gia trong hoặc bất di dịch ở những điều khoản khác nữa, " tính cách bất di dịch của thể chế Cộng Hoà" ( Điều 139, id.) chẳng hạn. Tính cách cứng rắn của Hiến Pháp khiến cho muốn sữa đổi, cắt xén, thêm bớt , công việc tu chính phải gặp những điều kiện gia trọng khó khăn cần phải thoả đáng. Tính cách cứng rắng được tạo ra nhằm bảo đảm sự vững bền và liên tuc cho các nguyên tắc nền tảng, nền móng cho thể chế chính trị, các quyền tự do cá nhân và quyền của các cộng đồng thiểu số. Tính cách cứng rắng của điều 138 và điều 139 vừa kể cho thấy Hiến Pháp không thể bị tu chính, sữa đổi bằng các luật lệ thông thường của Quốc Hội, trái với tính chất của hầu hết các Hiến Pháp các nước Cộng Sản. Ở Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết chẳng hạn, khi nhu cầu đòi hỏi, - không những Sô Viết Tối Cao ( Quốc Hội Liên Bang) có thể bải bỏ các điều khoản của Hiến Pháp và thay vào các điều khoản mới cho thích hợp, với sự đồng thuận của đa số thành viên, như thể thức soạn thảo va ban hành các luật lệ thông thường, - mà còn ngay cả Ủy Ban Thường Trực Quốc Hội hay Ủy Ban Chủ Tịch, " Praesidium " cũng có quyền làm việc đó cho Sô Viết Tối Cao, bởi lẽ Sô Viết Tối Cao chỉ nhóm họp ba lần một năm và mỗi lần cũng chỉ trong thời gian ngắn ( Paolo Biscaretti di Ruffìa, La Costituzione Sovietica del 1977, Giuffré, Milano 1990, 207). Cách hành xử vừa kể của các Quốc Gia CS, trong đó có cả CSVN, phát xuất từ quan niệm Hiến Pháp hay Luật Pháp không phải là thể thức, điều lệ và giềng mối trên đó và trong đó cuộc sống Quốc Gia được tổ chức, quyền của cá nhân và quyền của cộng đồng thiểu số được bảo đảm, mà là dụng cụ của giai cấp thống trị đương quyền ( đảng CS hiện tai, cũng như giai cấp tư bản, chủ nhân ruộng đất, hoàng tộc Nga trong quá khứ) dùng áp đặt trên dân chúng bị trị để bảo vệ quyền lợi của họ, để đạt được mục đích họ muốn. Do đó, để đạt đuơc mục đích, giai cấp thống trị không ngần ngại thay đổi Hiến Pháp và Luật Pháp cho phù hợp . Quyền của cá nhân và quyền của các cộng đồng thiểu số có được bảo đảm trong chế độ thay đổi Hiến Pháp và Luật Pháp tùy hỷ như vậy không? Mọi người chúng ta có thể tự trả lời ( cfr. LUẬT PHÁP TRONG Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN). Tính cách cứng rắng của Hiến Pháp, không có nghĩa là để cho Hiến Pháp hoàn toàn bất di dịch, mà là để ngăn ngừa mọi lạm dụng độc tài, suy tính nhẹ dạ, bốc đồng sữa đổi, cắt xén, thêm thắc tùy hỷ liên quan đến một Văn Kiện quan trọng như vậy, là nền tảng trên đó một Quốc Gia được xây dựng hay nói như Gs Giovanni Sartori: - " Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng ( garantismo). Ở Tây Âu, người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập một Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn vản luật pháp nền tảng hay một loạt các nguyên tắc căn bản, thể hiện một thể chế tổ chức Quốc Gia, nhằm giới hạn moi xử dụng quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn " ( G. Sartori, Elementi di teoria politica, Il Mulino, Bologna 1995, 197). Quyền tham dự vào việc tu chính và hoàn hảo hóa Hiến Pháp đối với các chủ thể ngoại vi, nhứt là các Cộng Đồng Địa Phương là một quyền rất quan trọng. Bởi lẽ nếu Hiến Pháp chỉ quy trách cho cơ chế trung ương của quyền lực Quốc Gia ( Chính Quyền và Quốc Hội) quyền hạn vừa kể, ý kiến, nhu cầu và ước vọng của dân chúng địa phương ( không những liên quan đến quyền lợi địa phương, mà còn liên quan đến cả cuộc sống Cộng Đồng Quốc Gia) sẽ bị các cơ chế trung ương sữa đổi, cắt xén hoặc thêm bớt vào những điều luật không có lợi, mà Cộng Đồng Địa Phương không có cách gì lên tiếng để góp ý và bênh vực. Quyền của các Cộng Đồng Địa Phương được Hiến Pháp 1947 Ý Quốc giao cho để tu chính, sữa đổi và hoàn hảo hóa Hiến Pháp, không những chỉ liên quan đến các điều khoản luật thông thường, mà cả những đạo luật Hiến Pháp bất cứ đối với điều khoản nào, ngoại trừ những điều khoản đã được Hiến Pháp tiền định như là những nguyên tắc bất di dịch. Như vậy Dân Chủ Đa Nguyên là - thế chế phân tán quyền hành cho nhiều chủ thể, tránh nguy cơ lạm quyền độc tài, - và là một hình thức Dân Chủ Tham Dự, mở rộng quyền hành xử quyền lực Quốc Gia cho nhiều từng lớp dân chúng cũng được hành quyền, - và cũng là phương thức cho dân chúng góp ý kiến, nói lên nguyện vọng, tạo ra tính cách sung mãn, đa diện của đường hướng chính trị Quốc Gia. Quyền tham dự vào tu chính, hoàn hảo hóa Hiến Pháp được các vị soạn thảo giao cho Cộng Đồng Địa Phương ở một vị thế hạn hẹp hơn lãnh vực quyền đề xướng dự án luật, trưng cầu dân ý bãi bỏ và tuyển chọn Tổng Thống. Quyền tu chính và hoàn hảo hóa Hiến Pháp được các vị giao cho Quốc Hội gần như toàn quyền, tự soạn thảo dự án luật đến biểu quyết. Hành động như vậy, không phải các vị cố ý loại trừ dân chúng và đại diện của họ ( Hội Đồng Vùng), mà là để cho Quốc Hội được tự do suy nghĩ chính chắn đối với một vấn đề hệ trọng như vậy ( sữa đổi đạo luật Hiến Pháp, nền tảng trên đó toà nhà Quốc Gia được xây dựng), khỏi bị ai xen vào làm rối rắm. Đọc lại các tiểu đoạn của điều 138 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, chúng ta thấy rằng Hiến Pháp chỉ giao cho - thành phần thiểu số ( các chính đảng đối lập), - dân chúng ( nếu có được 50.000 cử tri yêu cầu), - cũng như các Cộng Đồng Địa Phương ( 5 Hội Đồng Vùng) can thiệp vào khi Quốc Hội đã soạn thảo dự án tu chính và bỏ phiếu quyết định chuẩn y, nếu cả lần bỏ phiếu thứ hai ( từ ba tháng trở lên, sau cuộc bỏ phiếu lần đầu) mỗi Viện Quốc Hội không đạt được đa số phiếu định tính ( maggioranza qualificata), tức là 2/3 số dân biểu đồng thuận. Khi Quốc Hội đã soạn thảo và quyết định chuẩn y với đa số tuyệt đối ( 50%+ 1 phiếu) các thành viên, Quốc Hội có thể công bố dự án luật vừa được đề cập. Nhưng ở lần bỏ phiếu thứ hai ( sau trên ba tháng), nếu ở mỗi Viện không có đủ đa số định tính, 2/3 nghị sĩ chấp thuận, các chủ thể chinh trị ngoại vi có thể can thiệp yêu cầu Quốc Hội xét lại. Và trong trường hợp đó, dự án được công bố sẽ không có hiệu lực trong thời gian ba tháng, kể từ ngày công bố. Nếu quá 3 tháng không có một chủ thể chính trị ngoại vi nào lên tiếng, dự án được công bồ sẽ trở thành luật và có hiệu lực ( Temistocles Martines, op. cit., 373). Nói cách khác, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc giao cho các chủ thể chính trị ngoại vi, thiểu số quyền kiểm soát từ bên ngoài hoạt động của các cơ quan quyền lực trung ương. Sự can thiệp của các chủ thể chính trị ngoại vi, thiều số vừa kể là một hình thức " dân chúng phản đối " ( veto popolare) đốì với phương thức tu chính Hiến Pháp của cơ chế trung ương ( Chính Quyền và Quốc Hội). Trường hợp không ai lên tiếng, chúng ta có thể hiểu là những chủ thể chính trị ngoại vi có quyền can thiệp đã không hành xử quyền lực của mình. Điều đó có nghĩa là mọi người đều đồng thuận với Quốc Hội và như vậy tu chinh án được mọi người đồng thuận trở thành luật và bắt đầu có hiệu lực. Trong trường hợp các chủ thể chính trị ngoại vi thiểu số can thiệp, có nghĩa là họ không đồng thuận với tu chính án của Quốc Hội, vẫn còn muốn giữ hiệu lực của điều khoản luật hiến pháp cũ, hoặc cần phải soạn thảo một tu chính án khác thích hợp hơn. Nếu chỉ xét vào quyền can thiệp vào tu chính án Hiến Pháp, chúng ta có cảm tưởng là các chủ thể chính trị ngoại vi, trong đó có Cộng Đồng Địa Phương, được Hiến Pháp giao cho quyền can thiệp vào tu chính Hiến Pháp một cách què quặt: chỉ được can thiệp để chận đứng việc tu chính án bắt đầu có hiệu lực, như điều kiện được Hiến Pháp tiền liệu ở điều 138, chớ không có quyền góp ý kiến cho dự án đang được thành hình. Nhưng thật ra đó là cái nhìn thiếu sót. Bởi lẽ chúng ta quên rằng các chủ thể chính trị ngoại vi ( Cộng Đồng Địa Phương, dân chúng với 50.000 chữ ký) có " quyền đề xướng dự thảo luật ", chúng ta đã đề cập đến ở trên và " quyền khởi động trưng cầu dân ý bãi bỏ" . Với các quyền vừa kể, các Cộng Đồng Địa Phương được đặt ngang hàng với người dân, chủ nhân quyền lực Quốc Gia, trong việc đề xướng, kiểm soát, chuẩn y hay bác bỏ và thu hồi các điều khoản Hiến Pháp, ngoại trừ các điều khoản được định chế bất di dịch làm nền tảng cho toà nhà Nhân Bản và Dân Chủ, bất di dịch đối với bất cứ quyền lực nào, trung ương hay ngoại vi cũng vậy, nếu chúng ta không muốn cho toà nhà Nhân Bản và Dân Chủ bị sụp đổ và bị đẩy vào rừng độc tài, độc đảng sống như mọi rợ và thú vật. 5 - Cộng Đồng Địa Phương tham dự và liên kết trung ương - đia phương. Cộng Dồng Địa Phương hiện diện trong các cơ quan Quốc Gia. a ) Chủ Tịch Vùng và các phiên họp Hội Đồng Nội Các. Vị Chủ Tịch Vùng có phận vụ đối ngoại cho Cộng Đồng Địa Phương Vùng của mình, là người không đại diện cho phe phái, có nhiệm vu - " nói lên một cách trung thực các nhu cầu liên hệ đến quyền tự lập của Cộng Đồng Địa Phương Vùng mình, như một chủ thể sở hữu chủ quyền lực" ( Điều 131, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Qua phận vụ được Hiến Pháp ủy thác cho như vừa kể, nội quy của các Cộng Đồng Địa Phương Vùng ở Ý đều tiên liệu việc vị Chủ Tịch của họ có quyền tham gia vào các buổi họp của Hội Đồng Nội Các Chính Phủ, để cho vị Chủ Tịch có thể đại diện cơ quan hành chánh địa phương, đối chất và thương lượng chính trị cho sự liên hệ giữa Trung Ương và Địa Phương. Nội quy của nhiều Vùng không đồng nhất nhau, có Vùng , như Sicilia chẳng hạn, cho rằng vị Chủ Tịch của họ khi tham dự vào các phiên họp Hội Đồng Nội Các, là tham dự - " với tư cách như là một Bộ Trưởng tham dự cuộc họp của Các Bộ Trưởng, với quyền bỏ phiếu quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống của Vùng" ( Sergio Bartoli, Commentario della Costituzione, art. 115, Zanichelli, Bologna 1985, 30-32). Các từ ngữ " ...liên quan đến đời sống của Vùng" là cách nói tổng quát, không xác định. Dĩ nhiên có những vấn đề liên hệ mất thiết với các nhu cầu của Vùng, nhưng những vấn đề khác, mặc dầu mang tính cách phổ quát hơn, tăng thuế lưu hành xe cộ chẳng hạn, không phải chỉ là vấn đề cá biệt của Vùng Sicilia, do đó ông không đi dự phiên họp của Hội Đồng Nội Các. Ông có lý trưng ra biện chứng trên theo nội quy, để không đến họp, nhưng trên thực tế dân chúng Cộng Đồng Địa Phương Sicilia sẽ mất đi tiếng nói của mình, đại diện cho mình tại Hội Đồng Nội Các đang quyết định áp đặt lên đầu lên cổ mình. Chúng tôi vừa lấy ra một ví dụ về một đề tài " vô thưởng vô phạt" ( tăng thêm một ít thuế lưu hành cho xe cộ), cho thấy sự mất mác thua thiệt do sự vắng mặt của vị Chủ Tịch Vùng. Nhưng trong cuộc sống Quốc Gia, các đề tài được đem ra thảo luận, không phải lúc nào cũng " vô thưởng vô phạt ". Do đó sự tham dự của vị Chủ Tịch Vùng, đại diện cho Cộng Đồng Địa Phương, là điều không thể thiếu cho cuộc sống dân chủ thực hữu và đa nguyên. Sự tham dự của vị Chủ Tịch Vùng vào các phiên họp của Hội Đồng Nội Các là một bảo chứng cho việc điều hoà mối tương giao giữa các cơ quan quyền lực trung ương và Cộng Đồng Địa Phương. Chúng ta có thể coi như một trường hợp cá biệt " sui generis", nôi quy của Vùng Sicilia xem vị Chủ Tịch của họ " ngang hàng với các Bộ Trưởng và có quyền bỏ phiếu quyết định..." trong phiên họp với Hội Đồng Nội Các Chính Phủ. Trên thực tế, không ai chấp nhận coi vị chủ Tịch Vùng như là một Bộ Trưởng và có quyền bỏ phiếu quyết định, mà chỉ là người có quyền " trình bày ý kiến vá nguyện vọng của dân chúng Cộng Đồng Địa Phương Vùng mà ông đại diên". Dự án sau đó được Hội Đồng Nội Các soạn thảo và quyết định, luôn luôn được đặt dưới trách nhiệm của các Bộ Trưởng và Quốc Hội ( Điều 95, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quyền quyết định dự án lá quyền của Hội Đồng Nội Các, để sau đó còn đưọc tường trình trước Quốc Hội duyệt xét, " bác bỏ hay chuẩn y ". Điều vừa kể làm cho khó có ai chấp nhận cho vị Chủ Tịch Vùng có quyền bỏ phiếu quyết định trong Hội Đồng Nội Các. Nếu ông có " quyền tham dự và bỏ phiếu quyết định", mặc nhiên ông trở thành một loại " Bộ Trưởng " bất thường, không do Thủ Tướng tuyển chọn, mà là một chủ thể ngoại vi, ngang nhiên ngồi vào ghế Bộ Trưởng, như là thành viên thực thụ của Hội Đồng Nội Các. " Lá phiếu quyết định" của ông cũng mang tính cách bất thường, nếu chúng ta chấp nhận giá trị lá phiếu của ông. Các Bộ Trưởng bỏ phiếu quyết định, họ chịu trách nhiệm lá phiếu của họ trước Quốc Hội. Quốc Hội có thể " chuẩn y hay bác bỏ" dự án được họ quyết định. Trong trường hợp dự án bị bác bỏ, Quốc Hội có thể bỏ phiếu " bất tín nhiệm " Chính Phủ và bắt buộc Nội Các phải từ chức. " Lá phiếu quyết định" của vị Chủ Tịch Vùng là lá phiếu có tính cách " ăn thì dùa, thua thì chạy", có nghĩa là lá phiếu vô trách nhiệm. Nếu được Quốc Hội " chuẩn y ", dự án được vị Chủ Tịch Vùng " bỏ phiếu quyết định" trở thành luật, mà ông là người có công góp phần để thành công. Ông sẽ được dân chúng Vùng của mình và có lẽ của cả Đất Nước hoan hô vỗ tay! Nhưng nếu chẳng may bị Quốc Hội " bác bỏ ", vị Chủ Tịch Vùng cứ ung dung trở về cứ địa " bình chân như vại ", bởi lẽ Quốc Hội không thể " bất tín nhiệm " ông, và ông vẫn " điềm nhiên toạ thị " ngồi vào ghế Chủ Tịch Vùng của ông! Do đó chúng ta có thể nghĩ rằng thể thức hợp lý nhứt là vị Chủ Tịch Vùng họp chung với Hội Đồng Nội Các, để nói lên ý kiến, ước vọng của Cộng Đồng Địa Phương mình, họp tác với các Bộ Trưỏng, tìm ra phương thức tốt đẹp nhứt cho mối tương quan giữa Quốc Gia và dân chúng đia phương. Nhìn vào viêc tham dự của vị Chủ Tịch Vùng với Hội Đồng Nội Các dưới một khía cạnh khác, đó là trường hợp vị Chủ Tịch Vùng tự ý vắng mặt và trường hợp Hội Đồng Nội Các không gởi thư mời. - Chủ Tịch Vùng tự ý vắng mặt, mặc dầu có thư mời: Đó là trường hợp Chủ Tịch Vùng thiếu trách nhiệm của mình đối với dân chúng địa phương trước tiên và với đồng bào cả Đất Nước, bởi lẽ những ý kiến và ước vọng dân chúng ở đia phương do ông lãnh đạo, không phải chỉ nói lên nhu cầu và ước vọng liên quan đến địa phương, mà có thẻ là tiếng nói góp phần định hướng đường lối chính trị Quốc Gia. Sự vắng mặt của ông là một thái độ thiếu trách nhiệm đối với phận vụ mà ông được tuyển chọn. Đàng khác, Hội Đồng Nội Các không thể vì sự chểnh mảng vắng bóng của ông, một chủ thể chính trị ngoại vi, mà làm tê liệt chương trình hành động của Chính Phủ, nhẫn nại chờ đợi cho đến khi nào ông quyết định " xa giá, chễm chệ" đến dự một cách tiện nghi. - Trường hợp thứ hai, trường hợp Hội Đồng Nội Các không gởi thư mời các vị Chủ Tịch đến dự. Vấn đề được đặt ra liên quan đến khía cạnh pháp lý của các dự án được Hội Đồng Nội Các soạn thảo ra, liên quan đến nguyên tắc hiến định về sự tham gia của vị Chủ Tịch Cộng Đồng Địa Phương Vùng, nhứt là khi có những vấn đề liên hệ trực tiếp đến các nhu cầu của Cộng Đồng Địa Phương. Như chúng ta đã đề cập, trong ví dụ tăng thuế lưu hành xe cộ, vấn đề xác định lằn mức đâu là vấn đề liên hệ và không liên hệ đến Cộng Đồng Địa Phương không phải là một định nghĩa dễ thực hiện. Bởi lẽ nhu cầu của địa phương và nhu cầu tổng quát của dân chúng của cả Quốc Gia nhiều lúc liên hệ chằn chịt với nhau. Do đó không dễ gì Hội Đồng Nội Các xác định được đâu là vấn đề liên hệ và không liên hệ, dựa vào đó gởi thư hay không gởi thư mời Chủ Tịch Vùng tham dự phiên họp của các Bộ Trưỏng. Và cũng vì lý do đó, việc thiếu gởi thư mời tham dự là một hành động vi phạm đến quyền hiến định của Cộng Đồng Địa Phương trong việc bày tỏ ý kiến, nhu cầu và ước vọng của họ. Hành động vi phạm trên của Hội Đồng Nội Các có thể bị Cộng Đồng Địa Phương đệ đơn tố cáo đến Viện Bảo Hiến, với hậu quả là nghị định hay dự án luật do Hội Đồng Nội Các đề xướng, dù đã trở thành luật, cũng có thể bị xem là " vi hiến" và bị bãi bỏ. Đành rằng Chính Quyền " có quyền mời hay không mời " Chủ Tịch Vùng tham dự các phiên họp của Nội Các. Nhưng việc khó xác định được là đối với vấn đề nào cần mời, vấn đề nào không, là một chuyện nan giải và hậu quả có thể đi đến việc xem dự án luậ của Chính Phủ bất hợp hiến và bị bãi bỏ. Do đó thái độ khôn ngoan của cả đôi bên, Nội Các Chính Phủ cũng như Cộng Đồng Địa Phương là thoả thuận với nhau trước về lịch trình cũng như về đề tài để cả đôi bên đều có thể hoạt động hữu hiệu cho đồng bào địa phương, cũng như cho Đất Nước ( Sergio Bartoli, op. cit., 48-54) b) Cộng Đồng Địa Phương hiện diện trong các cơ quan Quốc Gia. Các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không những nghĩ đến việc thiết lập hiến định các Cộng Đồng Địa Phương, một hình thức mới của Dân Chủ Đa Nguyên, để người dân có thể tham dụ vào cuộc sống Quốc Gia, mà còn tiên liệu các vai trò quan trọng để người dân đdịa phương có thể nói lên ý kiến, nhu cầu và ước vọng của địa phương mình, cũng như của cả Cộng Đồng Quốc Gia. Chúng ta đã liệt kê các vai trò quan trọng trên trong việc - đề xướng dự án luật với Quốc Hội, - khởi xướng trưng cầu dân ý bãi bỏ, - khởi xướng trưng cầu dân ý đối với tu chính án Hiến Pháp đã được Quốc Hội chuẩn y, - tham dự vào việc tuyển cử vị Nguyên Thủ Quốc Gia, - Chủ Tịch Vùng tham dự vào các phiên họp Hội Đồng Nội Các. Tất cả những quyền tham dự đó, không những để lên tiếng bên vực quyền lợi địa phương, mà còn để góp phần vào việc hình thành và thực hiện đường lối chính trị Quốc Gia. Ngoài ra các vai trò hiến định vừa kể, các Cộng Đồng Địa Phương Ý Quốc còn được " luật lệ hiện hành" và các " nghị định " của Chính Phủ giao cho một số vai trò quan trọng khác: - Cộng Đồng Địa Phương là thành viên của Ủy Ban Liên Bộ Soạn Thảo Chương Trình Kinh Tế, - Cộng Đồng Địa Phương là những cơ quan đặc trách địa phương trong lãnh vực bảo vệ sức khoẻ cho người dân, liên hệ với Bộ Y Tế, - Cộng Đồng Địa Phương có trách nhiệm quản trị, kiểm soát và điều hành ngành truyền thông phát thanh và truyền hình trên lãnh thổ mình, - Ở một vài Vùng tự lập, với nôi quy đặc biệt, Trento - Bolzano, Venezia Giulia -Friuli, Aosta, sự liên hệ giữa Chính Quyền trung ương và địa phương được liên tục đại diện bởi một " Hội Đồng Thường Trực Quốc Gia - Địa Phương". Ước gì những từ ngữ chúng tôi nêu ra trong bài nầy, - " Nhân Bản và Dân Chủ, tản quyền, các chủ thể chính trị ngoại vi, chuyển giao, hành xử, kiểm soát, cộng tác, phản đối, xoá bỏ, bảo chứng, sữa đổi, bổ túc, sung mãn, đa dạng , tham dự, đường lối chính trị Quốc Gia" trong bài nầy, sẽ là những dụng cụ qúy giá để chúng ta chuẩn định một thể chế mới cho Đất Nước, khi thể chế độc tài, độc đảng, bất hạnh không còn nữa.

 

Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, Đại Nghị Chế, Can Thiệp vào kinh tếvà xã hội, Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nhân Bản và Dân Chủ, - Đại Nghị Chế, - Can Thiệp vào kinh tế và xã hội, - Tản Quyền, - Phi tôn giáo, - Mở Rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế. Can Thiệp vào kinh tế và xã hội. 1 - Lý do. Một trong những quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ là quyền bình đẳng. Tư tưởng đó đã được viết thành văn mạch từ thời Cộng Hoà Athène ( từ thế kỷ 2-3 trước Thiên Chúa Giáng Sinh) bằng danh từ " isonomia" : ( isos: như nhau; nómos: luật lệ): mọi người đều như nhau đối với pháp luật hay " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ", nói theo ngôn từ của chúng ta. Tư tưởng vừa kể được Cách Mạng Pháp Quốc 1789 lấy lại, tuyên bố để chống lại những gì người dân Pháp bị áp bức dưới thời quân chủ, vừa bị Cách Mạng quét sạch trước đó: - " Nhận thức rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nên tất cả đều có quyền được trả lương như nhau và ngang hàng nhau trong việc đảm nhận những chức vụ công cộng tùy theo khả năng của họ và chỉ dựa trên một tiêu chuẩn duy nhứt là đức độ và trí thức của họ " ( Điều 6, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng 1789 Pháp Quốc). Tư tưởng đó cũng đã được Tuyên Ngôn Độc Lập Hoá Ký 1776 tuyên bố để tước bỏ sự lệ thuộc, bó buộc đối với Mẫu Quốc Anh: - " Mọi người được dựng nên bình đẳng như nhau và được ban cho một số quyền bất khả nhượng. Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống và quyền tìm kiếm hạnh phúc là các quyền thượng đẳng" ( Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776). " Isonomia" của Hy Lạp cũng như " quyền bình đẳng " của Tuyên Ngôn Cách Mạng Pháp 1789 và của Độc Lập Hoa Kỳ 1776, đều được các Hiến Pháp trên thế giới lập lại không thiếu, kể cả các Hiến Pháp Cộng Sản, trong đó có Hiến Pháp 1992 CSVN. Trong chiều hướng đó chúng ta cũng thấy Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố: - " Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, các điều kiện cá nhân và xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Cũng vậy Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức xác nhận: - " Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Nam giới hay nữ giới đều có quyền như nhau. Không ai có thể bị thiệt hai hay được ưu đải vì lý do phái giống, sinh trưởng, chủng tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hay xuất xứ, niềm tin hay tư tưởng tôn giáo và chính kiến" ( Điều 3, đoạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Tuyên bố như - " Isonomia" của Hy Lạp, - " quyền bình đẳng" của Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776, - Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789, - Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, cả như Hiến Pháp 1992 CSVN, ai cũng tuyên bố được. Bởi lẽ đó chí mới là cách tuyên bố thuyết lý ( formelle) để tuyên các quyền con người. Tuyên bố nhưng không có gì được tiền liệu để bảo đảm, thực thi và phát huy những gì mình tuyên bố, hay tuyên bố thực hữu ( substantielle), nhứt quyết phải đạt được mục đích mình tuyên bố. ( cfr. - BÌNH ĐẲNG, - QUYỀN BÌNH ĐẲNG TÍCH CỰC, THỰC HỮU VÀ KIỂM SOÁT BẮT BUỘC ĐƯỢC BẢO VỆ ). Và đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, cũng như các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu đã tiền liệu kế tiếp, để " biến quyền bình đẳng thuyết lý thành thực hữu": - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Những quyền căn bản được kể sau đây là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Nói cách khác, Hiến Pháp không những tuyên bố các quyền của con người, trong đó có quyền bình đẳng, để mà tuyên bố, nhưng tuyên bố và tiền liệu quy trách cho ai là chủ thể phải chịu trách nhiệm thực thi, - " bổn phận của nền Cộng Hoà..." ( Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), và - " ...là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp" ( Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Bảo vệ " quyền bình đẳng thực hữu ( substantielle) " cho người dân khác với " bình đẳng thuyết lý " ( formelle) là vậy! Chúng tôi đã dẫn nhập dài dòng để nói lên ý nghĩa tại sao Quốc Gia phải " Can Thiệp vào kinh tế và xã hội ". Quốc Gia có bổn phận can thiệp vào kinh tế và xã hội là để - " dẹp bỏ đi những chướng ngại vật...giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham tự một cách thiết thực vào tổ chức chinh trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Chắc chắn khi nêu lên tư tưởng vừa kể, chúng tôi cũng ý thức được người Cộng Sản sẽ nhảy ra vổ ngực xưng tên và cho rằng " bình đẳng thuyết lý " ( égalité formelle) chỉ có các Quốc Gia Dân Chủ Tư Bản mới đứng ra chủ trương thuyết lý suông, các nước Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa của họ đã " tiền liệu " các phương thức " bình đẳng thực hữu " ( égalité substantielle) từ ngày chủ thuyết Marx - Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh " đỉnh cao trí tuệ " ra đời. Các cuộc tranh đấu giai cấp, cải cách ruộng đất, đánh tư sản, ngoại bản, cường hào ác bá thủ tiêu hàng triệu người, ngay cả ở Miền Bắc Việt Nam thôi cũng là nhân chứng hùng hồn cho chính sách " Can Thiệp vào kinh tế và xã hội ". Chuẩn bệnh để nhận diện ra cơn bạo bệnh cần chữa trị là một chuyện. Đưa ra phương thức trị liệu xuẩn động để chữa trị, giết hại bệnh nhân mau chóng hơn, là chuyện khác, chứng tỏ bác sĩ ngu xuẩn, sát nhân, đáng bị toà tuyên án hình sự và dân sự. Chuẩn định cho thấy trong xã hội con người không có bình đẳng là một chuyện, áp dụng " bình đẳng toán học" : " cùng một đối tượng cho tất cả mọi người " là phương thức trị liệu ngu xuẩn của " Marx-Lenin và Hồ Chí Minh Vĩ Đại ". Các Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ có phương thức giải quyết " bình đẳng thực hữu " của họ. Đó " bình đẳng theo tỷ lệ": " cùng một thứ đối tượng cho tất cả những ai ngang nhau": những vật giống nhau cho những người giống nhau và những vật không đồng nhau, cho những người không bằng nhau. Nhà hiền triết Hy Lạp giải thích rõ hơn: - " Những người không bằng nhau được đải ngộ tùy theo sự khác biệt của họ" ( Aristoteles, Etica, Nicomachea, V vol). Câu nói của Aristotes nói lên không phải sự đồng nhứt, " cùng một đối tượng cho tất cả mọi người ", mà là sự công bình, " cùng một thứ đối tượng cho những ai giống nhau", mới là " bình đẳng". Cùng với ý nghĩa vừa kể, ở một đoạn khác của cùng một tác phẩm, Aristoteles xác nhận: - " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng" ( Aristoteles, id.). Chúng ta có thể đảo ngược lại câu xác nhận trên như sau: - " Chỉ có bình đẳng thật sự, ở đâu có công bình và ở đâu có bất công, thì ở đó có bất bình đẳng". Người La Tinh cũng có một thành ngữ tương tợ để nói lên bình đẳng: - " Suum cuique tribuere", trao trả cho mỗi người điều gì thuộc về sở hữu của anh ta. Nêu lên tiêu chuẩn " bình đẳng toán học" và " bình đẳng theo tỷ lệ ", chúng tôi không có ý phán đoán sự trổi vượt của tiêu chuẩn nầy hay tiêu chuẩn khác. Áp dụng tiêu chuẩn nào vào hoàn cảnh thực tế là do hoàn cảnh, tùy tính cách hợp tình, hợp lý và hiệu năng của nó. Ví dụ câu nói: " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ", nếu chúng ta không áp dụng theo tiêu chuẩn " bình đẳng toán học ", tức là " pháp luật đều như nhau cho tất cả mọi người " , nền Dân Chủ của chúng ta đang bị lung lay, chúng ta đang hành xử thiên vị, bè phái, Đảng trị. Chúng ta đang tạo vây cánh, chỉ áp dụng luật lệ lên đầu lên cổ người khác, còn đối với " các đồng chí, cán bộ Đảng Ta thì khỏi !". Trái lại, chúng ta không thể áp dụng tiêu chuẩn " bình đẳng toán học " cho lãnh vực thuế vụ chẳng hạn. Sự công bằng trong thuế vụ phải được tính theo tỷ lệ của lợi tức, thuế ngang nhau cho những người có cùng lợi tức như nhau, cao hơn hay thấp hơn đối những người giàu hơn hay đối với nông dân, công nhân, thủ công nghệ, tiểu thương, lợi tức không được bao nhiêu. Đó là chưa nói đến " thuế lợi tức theo lủy tiến ". Điều vừa kể cho thấy phương thức áp dụng " bình đẳng toán học ", sang bằng mạc rệp, " cải cách ruộng đất, đánh tư sản, ngoại bản, phú ông, cường hào ác bá" của Cách Mạng Nga Sô 1919 và " cải cách điền địa" ở Bắc Việt thập niên 50, làm cho hàng triệu người thiệt mạng và tất cả " xuống hàng chó ngựa, mạc rệp vô sản", chỉ trừ các đồng chí, cán bộ Đảng Ta, là lối hành xử xuẩn động của Cộng Sản. Cách hành xử đó của chủ thuyết Marx - Lenin đã làm cho Liên Bang Sô Viết Vĩ Đại, với diện tích gần như vô tận, tài nguyên phong phú, kể cả dầu hoả, khí đốt, vàng và kim cương, với dân số gấp 8 lần dân số Ý, sau trên 70 năm ngự trị, đã khiến Tổng Thống Michael Gorbaciov phải đến Ý Quốc cầu cứu để khỏi chết đói: - " Không có sự giúp đở của các bạn, chúng tôi không biết làm sao qua khỏi mùa đông nầy" ( Nhật báo Corriere della Sera, 25.11.91, 2). Phương thức áp dụng " bình đẳng toán học " đối với tất cả, không phân biệt lãnh vực, biến tất cả ( trừ thành phần của Đảng Ta được ưu đải) thành " vô sản, bần cố nông " đã tiêu diệt lợi thú của con người, " quyền tìm kiếm hạnh phúc là quyền thượng đẳng" ( Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 Hoa Kỳ), làm tiêu diệt mọi nổ lực phát triển trí thức, " Số Vốn Nhân Thức" ( Human capital), yếu tố chính yếu làm cho kinh tế phát triển. Vấn đề vừa kể Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã đề cập đến trong Thông Điệp Centesimus Annus ( CA) của ngài: - " Sự sai lầm căn bản của Xã Hội Chủ Nghĩa là sự sai lầm mang tính cách nhân bản học ( antropologico). Chủ thuyết trên, trên thực tế, quan niệm con người chỉ là một yếu tố, một tế bào trong cơ chế xã hội. Và từ đó, hạnh phúc cá nhân tùy thuộc vào cơ chế hoạt động kinh tế, xã hội " ( CA, 13). Nêu lên dưới hình thức khác tầm quan trọng của " Số Vốn Nhân Thức", Engel Loebel, giám đốc một hảng kỷ nghệ quan trọng ở Canada va Stephen Roman, nguyên Bộ trưởng Ngoại Giao Tiệp Khắc, tỵ nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ đã diễn tả như sau: - " Số vốn nhân thức ( human capital) là nguồn mạch nguyên thủy của sự sung mãn nhân loại. Số vốn nhân thức là số vốn nguyên thủy của con người. Dầu hoả đã có từ mấy ngàn năm nay, nhưng vẫn nằm yên dưới các lớp cát ở các xứ Ả Rập, cho đến khi " số vốn nhân thức" của con người khám phá ra cách xử dụng nó. Có hàng hà sa số sự vật mà Thiên Chúa đã dựng nên, trải qua không biết bao nhiêu ngàn năm, vẫn không dùng được vào việc gì, cho đến khi con người khám phá ra giá trị của chúng. Bao nhiêu sự vật mà hôm nay chúng ta cho là tài nguyên, một trăm năm trước đây, không ai gán cho chúng giá trị hiện tại. Và bao nhiêu sự vật khác mai đây sẽ có giá trị, nhưng hôm nay, chúng ta chưa biết xử dụng chúng. Chiếc cầu đưa đến sự phú qúy, chính là trí khôn của con người vậy" ( Michael Novak, The Spirit or Democratic Capitalism, Simon anh Schuster Inc., New York 1982, 127-128). Tư tưởng của hai nhà kỷ nghệ và chính trị gia vừa kể cũng được Đức Giáo Hơàng Gioan Phaolồ II xác nhận trong cùng một thông điệp: - " Nguồn tài nguyên chính yếu của con người, cùng chung với đất đại, là chính con người. Chính nhờ trí khôn ngoan mà con người biết khám phá ra khả năng sản xuất của đất đai và thiên hình vạn trạng các hình thức khác có thể toả mãn các nhu yếu của con người" ( CA, 32). Chúng tôi đã để ra khá nhiều dòng của bài đang viết để đề cập đến " bình đẳng toán học", " bình đẳng tỷ lệ", " phương thức can thiệp xuẩn động" của Xã Hội Chủ Nghĩa và tầm mức quan trọng của " lợi thú và Số Vốn Nhân Thức " trong kinh tế. Chắc chắn chúng tôi sẽ được qúy đọc giả thông cảm và tha thứ, bởi lẽ chúng ta cần xác định đâu là " vết xe cũ đã ngã", để tránh không chạy theo con đường mòn bất hạnh cho dân tộc trong tương lai, nhứt là khi chúng ta đề suy nghĩ để thiết định một đặc tính phải có cho đồ án tổ chức Đất Nước.( cfr. TỰ DO KINH TẾ TRONG HIẾN PHÁP NHÂN BẢN). 2 - Can Thiệp vào kinh tế và xã hội. Phương thức can thiệp của tổ chức Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ vào lãnh vực kinh tế và xã hội, không có phương thức nào khác hơn là can thiệp trong tinh thần tôn trọng các nguyên tắc Nhân Bản và Dân Chủ. Đó là những gì chúng ta gặp được ở các điều khoản liên quan đến " Các mối tương quan kinh tế " trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ( Điều 38 - 47): - " Sáng kiến tư nhân trong kinh tế là quyền tự do". " Không thể hoạt động kinh tế ngược lại lợi ích xã hội và với thể thức làm phương hại đến an ninh, tự do và phẩm giá con người". " Luật pháp thiết định các chương trình và những việc kiểm soát thích hợp, để cho hoạt động kinh tế công cũng như tư , có thể được hướng dẫn và phối hợp cho mục đích xã hội" ( Điều 41, đoạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Chắc chắn đoạn 3 của điều 41 vừa được trích dẫn, " thiết định các chương trình và những việc kiểm soát thích hợp" sẽ không nằm trong tâm thức hành xử chính sách Kinh Tế Chỉ Huy của Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa, bởi lẽ " luật pháp" không thể đi ngược lại nguyên tắc Nhân Bản và Dân Chủ đã được nêu lên ở đoạn 1, " sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do", trái hẳn với Kinh Tế Chỉ Huy của họ. Người dân trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu có quyền " sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do". Điều đó có nghĩa ít nhứt là về phương diện tiêu cực, " phía bên kia không được cấm cản, phá rối, gây trở lực ", " chỉ huy " đối với mỗi cá nhân có quyền " sáng kiến kinh tế là quyền tự do ". Phía bên kia đó là ai cũng vây, một cá nhân khác, một tổ chức xã hội trung gian hay cả cơ chế Chính Quyền đều " không được..." cấm cản , chỉ huy, áp đặt, đối với tự do sáng kiến cá nhân trong kinh tế. Đó là chưa kể thể thức tuyên bố dưới hình thức tích cực, chúng ta đã trích dẫn ở những dòng đầu của bài đang viết: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân..." ( Điều 3, đoạn 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó có nghĩa là tổ chức Quốc Gia không những không được cấm cản, phá rối, gây trở lực, mà còn tạo các điều kiện thuận tiện để người dân được hưởng trọn vẹn và phát huy quyền mà Hiến Pháp đứng ta bảo đảm, " sáng kiến tư nhân trong kinh tế là quyền tự do". Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu được " luật pháp thiết định các chương trình và những việc kiểm soát thích hợp..." không có ý nghĩa gì khác hơn là nhằm tránh cho các sáng kiến cá nhân khỏi lệch lạc, phương hại đến " an ninh, tự do và phẩm giá con người ": - buôn bán thuốc phiện làm hại sức khoẻ dân chúng, - dùng thuốc trừ sâu bọ bừa bải, hoá chất để tồn giữ, nhằm hạ giá sản phẩm, một cách vô trách nhiệm, làm ô nhiểm môi sinh và tai hại cho sức khoẻ con người, - thời gian làm việc quá đáng, việc làm quá nặng nhọc, môi trường làm việc không đủ vệ sinh và an toàn, cách thức làm việc hạ phẩm giá con người...đó là những phương thức cần được kiểm soát, cấm đoán và hướng dẫn. Điều vừa kể đã và đang xảy ra cho Đất Nước, cho thấy mức độ kém hiểu biết và vô trách nhiệm của nhóm lãnh đạo cơ chế Quốc Gia. Đó là chưa kể " luật pháp thiết định các chương trình và những việc kiểm soát thích hợp..." được hiểu dưới hình thức tích cực: - " Nền Cộng Hoà bảo vệ việc làm dưới mọi hình thức và mọi áp dụng. Chăm lo đào tạo nghề nghiệp và thăng tiến chức nghiệp chuyên môn của người làm việc. Phát huy và dành mọi dễ dàng cho các thoả ước và tổ chức quốc tế để thiết định và đều hòa các quyền làm việc" ( Điều 35, id.). Đề thảo ra chương trình cho kinh tế, để hướng dẫn, - giúp đở tăng gia sản xuất bằng tài trợ, giảm bớt thuế vụ, - bằng chính sách tiền tệ và quy chế hối đoái, kích thích gia tăng xuất cảng và hạn chế nhập cảng, - chính sách ưu đải thuế vụ và tài trợ tín dụng với lải xuất thấp hơn cho những lãnh vực cần được tăng cường hay cần bảo vệ, nâng đở như nông nghiệp, tiểu công nghệ, tiểu thương gia, là những gì không nằm trong tầm hiểu biết của Kinh Tế Chỉ Huy của Cộng Sản ( P. Perlingieri, Solidarietà e diritti umani, in Rass. Dir. Civ., 1995, 102). Đó là những gì người dân Âu Châu thấy nhan nhãn trước mặt, mỗi khi ra đường, các qủy tín dụng nhằm tài trợ cho các lãnh vực vừa kể trong các ngân hàng như Crédit Agricole, Sparkass, Artigiancassa, Banca Agricola, Reale Mutua Casa... Đó là những bằng chứng nói lên các chương trình tài trợ, nâng đở và hướng dẫn phát triển của Chính Quyền đối với " sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do" cho người dân trong các lãnh vực vừa kể. Như vậy, " luật pháp thiết định các chương trình và những kiểm soát thích hợp" không phải là áp đặt chính sách Kinh Tế Chỉ Huy, làm tê liệt sáng kiến tư nhân, kềm kẹp các kích thích lợi thú và đần độn hóa trí khôn con người, yếu tố chinh yếu để hướng dẫn, điều hành, canh tân và bảo đảm cho kinh tế phát triển. " Luật pháp thiết định các chương trình và những kiểm soát thích hợp", hay cơ chế Quốc Gia can thiệp vào kinh tế, là bảo đảm cho kinh tế được phát triển đều đặn, tôn trọng sáng kiến kinh tế của cá nhân và hướng dẫn kinh tế phát triển để tạo nên một cuộc sống xã hội xứng đáng với nhân phẩm con người, xóa bỏ đi những chênh lệch quá mức, tạo cho mọi người có điều kiện thăng tiến như nhau trong cộng đồng Quốc Gia, như tinh thần được Hiến Pháp tuyên bố bảo đảm: - " Mọi công dân có địa vị xã hội ngang nhau và đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - " Mọi chương trình và kiểm soát được đặt ra phải dựa trên tinh thần hợp lý và tương ứng hiến định, nhằm bảo đảm các giá trị nhân bản và dân chủ, được Hiến Pháp bảo vệ, nhứt là các giá trị được xác nhận nơi các nguyên tắc căn bản" ( P. Perlingieri, Mercato, solidarietà e diritti umani, in RAss. Rid. Civ., 1995, 102). Như vậy, cơ chế Quốc Gia can thiệp vào kinh tế, " thiết định chương trình và kiểm soát", là dùng như các phương tiện để thực hiện một nền kinh tế hỗn hợp, được Hiến Pháp thiết định với những giá trị phải tôn trọng: - " ...để cho hoạt động kinh tế công cũng như tư được đình hướng và phối hợp nhằm mục đích xã hội" ( Điều 41, đoạn 2, id,). Giới hạn, tài trợ, khuyến khích là những phương thức kiểm soát thực thi các nguyên tắc hiến định trong Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, nhằm điều hoà kinh tế để thực hiện mục đích - " ...mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.). - " Cơ chế Quốc Gia can thiệp vào kinh tế, như đã nói, khác với thái độ can thiệp và chỉ huy của Kinh Tế Chỉ Huy Cộng Sản"( P. Perlingieri, Incidenza della programmazione sulle situazioni soggettive del privato, in Scritti Giuridici, II, Camerino, 1972, 153). Bởi lẽ can thiệp thô bạo và chỉ huy mà không có chương trình dự tính, phù hợp với các quyền bất khả xâm phạm của con người, có thể trở thành vi phạm thô bạo vào quyền tự do cá nhân , vào sáng kiến cá nhân và đưa đến tê liệt kinh tế và xã hội. Sáng kiến cá nhân là - " số vốn nhân thức", số vốn tiên khởi và không thể thiếu để kinh tế được phát triển. Loại bỏ đi sáng kiến cá nhân là kéo theo cả mối đại hoạ cho " lợi ích xã hội" ( P. Perlingieri, op. cit., 162). Và hiểu như vậy, " luật pháp sẽ thiết định chương trình và các việc kiểm soát thích hợp..." ( Điều 41, đoạn 3, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) không phải là một nguyên tắc " khoán trắng" dành mọi tự do cho giới lãnh đạo sau nầy " soạn thảo và chuẩn y luật lệ tùy hỷ, liên hệ đến việc thiết định chương trình và các việc kiểm soát của cơ chế Quốc Gia vào tự do kinh tế". Chương trình được cơ chế Quốc Gia soạn thảo ra, Hành Pháp " dự thảo" và Quốc Hội " chuẩn y " không thể nào vi phạm - tự do lựa chọn của người tiêu thụ, - tự do sáng kiến và trách nhiệm của cơ xưởng tư nhân, - những điều kiện cạnh tranh của thị trường tự do ( Di Nardi, Il controllo sociale dell'ecconomia, Giuffré, Milano 1967, 309). Đúng hơn sự can thiệp của cơ chế Quốc Gia, chương trình được thảo ra phối hợp và hợp lý hoá các hoạt động can thiệp, hướng dẫn, sao cho các sáng kiến tư nhân phù hợp với quan niệm kinh tế tự do và liên đới của tổ chức xã hội: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - Dù sao thì các sự can thiệp và định hướng của cơ chế Quốc Gia vào kinh tế * "không bao giờ có thể làm ngột ngạt quyền sáng kiến tự lập của cơ xưởng tư nhân, được thiết lập để đạt được những mục đích doanh nghiệp của mình" ( Bruno Forte, Introduzione alla Politica Economica, III ed.. Utet, Torino 1967, 595s). Bởi đó hiện nay, ở các Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, ngoài ra mục đích định hướng và phối hợp được kể, các động tác can thiệp của cơ chế Quốc Gia vào kinh tế còn nhằm - chuẩn định luật lệ thị trường, - loại bỏ mọi tập trung độc quyền, phương hai đến nguyên tắc chính yếu của tự do cạnh tranh, yếu tố căn bản làm cho kinh tế được hoạt động tăng hiệu năng. Dù sao " các chương trình và các việc kiểm soát " ( Điều 41, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ - không phải là " những mệnh lệnh áp đặt từ trên xuống ", áp đặt từ các lực lượng đương quyền, nhứt là các lực lượng đa số trong Quốc Hộị, bởi lẽ " Mọi quyền lực phát xuất từ dân chúng" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Các chương trình và các việc kiểm soát " được đề thảo ra là " để quy hướng và phối hợp cho mục đích xã hội ", nên phải là những văn bản thể hiện cho sự tham dự và đồng thuận của các chủ thể có liên hệ đến tiến trình phát triển kinh tế Quốc Gia. Từ đó, đặc tính của " các chương trình và các việc kiểm soát " được đề thảo ra là những văn bản mang tính chất dân chủ, được sự tham dự rộng rãi và điều khắp của - các lực lượng chính trị, xã hội, kinh tế, - và cộng đồng địa phương, hiểu rõ nhu cầu, điều kiện và khả năng của địa phương cùng nhau xác định mục đích chung để đạt đến. Dĩ nhiên Quốc Hội vẫn là cơ quan được đặc trách lắng nghe, thu thập và phán quyết, đút kết chung quy, thiết định thứ bậc ưu tiên cần can thiệp trước sau, tùy lãnh vực của các chương trình. Ngoài ra các Vùng cũng có thể thực hiện các chương trình được đề ra ở vị thế địa phương, bằng cách - thiết lập các văn phòng địa phương, tùy quyền hạn của mình, - tự mình thực hiện rộng rãi hơn những lãnh vực mà mình có điều kiện và khả năng hơn: canh nông, du lịch, thiết kế đô thị, sản xuất thủ công nghệ cá biệt của địa phương... - phối hợp chung với các Vùng lân cận thực hiện chương trình phát triển xã hội, kinh tế, giáo dục... liên quan đến nhu cầu kinh tế, kỷ nghệ đòi hỏi. ( Temistocles Martines, Diritto Costituzionel, Giuffré, Milano 1998, 252-259). 3 - Can thiệp vào xã hội. Đọc lại điều 6 của Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789: - " Nhận thức rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nên tất cả đều có quyền được trả lương như nhau và ngang hành nhau trong việc đảm nhận những chức vụ công, tùy theo khả năng của họ và chỉ dựa trên tiên chuẩn duy nhứt là đức độ và tri thức của họ". chúng ta thấy được các nhà Cách Mạng Pháp lúc đó, để đánh đổ chế độ Quân Chủ, độc tài, bè phái gia đình trị, đã nêu lên lý tưởng tranh đấu của mình, qua thể thức tuyên bố " bình đẳng pháp lý " hay " bình đẳng nhập cuộc " trong việc quản trị đất nước: - " ...được trả lương như nhau và ngang hàng nhau trong việc đảm nhận những chức vụ công...tùy theo đức độ và trí thức của họ". Nhưng các vị chưa có cơ hội nghĩ tới hay chưa có đủ thời gian để xác nhận thêm những điều phức tạp hàm chứa bên dưới lời tuyên bố đó. Giờ đây sau trên 200 năm, chúng ta co thể tìm thấy những điều kiện phức tạp, mà lúc đó các nhà Cách Mạng Pháp Quốc chưa lưu ý tới. Bình đẳng trước pháp luật, " có điều kiện nhập cuộc" là một chuyện, có được " quyền bình đẳng khởi hành", có điều kiện khả thi để nhập cuộc và đạt được mục đích mà mình tham gia là một chuyện khác nữa. Nói một cách nôm na, với " quyền bình đẳng pháp lý " hay " bình đẳng nhập cuộc ", mọi công dân Paris đều có quyền tham dự vào cuộc chạy đua được tổ chức ở vận động trường Paris sur Seine. Nhưng nếu ban tổ chức sắp hàng mọi người, già trẻ, bé lớn, đàn ông trai trẻ mạnh sức hay người già, phụ nữ, con nít yếu ớt đều cùng đứng trước mức khởi hành như nhau, cuộc chạy đua trên không thể nào cung cấp cho mọi người " quyền bình đẳng mức đến " khả dĩ chấp nhận được. Muốn cho mọi người đều có " cơ hội ở đến mức đến " với thứ bậc mơ ước, ban tổ chức, ngoài ra " quyền bình đẳng nhập cuộc " của người dân Paris, cần lưu tâm cân nhắc khả năng chạy đua của mỗi người tham dự, sắp xếp cho họ có được " quyền bình đẳng khởi hành ", tức là ưu đải những ai yếu sức, chậm chạm hơn được khởi hành ở gần mức đến hơn. Nói cách khác, ban tổ chức phải áp dụng phương thức " bất bình đẳng khởi hành ", ưu đải kẻ yếu thế, kém sức bằng nhiều điều kiện dễ dàng hơn, nếu muốn cho cuộc chạy đua thực sự bình đẳng, nếu muốn cho cuộc chung sống Cộng Đồng Quốc Gia là cuộc sống " lấy thịt đè người", mọi rợ, " cá lớn đớp cá bé". Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được tại sao sau khi tuyên bố " quyền bình đẳng pháp lý " hay " bình đẳng nhập cuộc " trong cuộc sống Cộng Đồng Quốc Gia: -" Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, các điều kiện cá nhân hay xã hội " ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), Hiến Pháp không dừng lại hay bỏ qua đi, bước sang điều khoản khác, như nhiều Hiến Pháp trước Thế Chiến II, kể cả không ít Hiến Pháp Cộng Sản, Hiến Pháp Nhân bản và Dân Chủ Ý Quốc tuyên bố ở đoạn kế tiếp cùng chung một điều khoản: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, cản trở mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở " ( Điều 3, đoạn 2 , id.). Đoạn vừa trích dẫn cho thấy Hiến Pháp quy trách cho tổ chức Quốc Gia, " Bổn phận của Nền Cộng Hoà...", phải tạo được cho người dân các điều kiện thuận tiện, tiền liệu các yếu tố cho " quyền bình đẳng khởi hành", để người dân khỏi phải bị thiệt thòi, bị " giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân", làm cho họ không được hưởng " quyền bình đẳng của mức đến" xứng đáng với phẩm giá con người: - " mỗi cá nhận triển nở hoàn hảo con người của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tỏ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở". Những gì vừa kể biện minh cho đặc tính cơ chế Quốc Gia " Can Thiệp vào kinh tế và xã hội" , chúng ta đã nêu lên ở những dòng đầu của bài đang viết, như là động tác phải có của Việt Nam Cộng Hoà, Nhân Bản và Dân Chủ, Đại Nghị Chế ...trong tương lai. Phương thức can thiệp vào kinh tế bằng " Luật Pháp thiết định các chương trình và các việc kiểm soát thích hợp, để cho hoạt động kinh tế công và tư được hướng dẫn và phối hợp vào mục đích xã hội" ( Điều 41, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), kể cả các phương thức trợ giúp với tín dụng lãi suất thấp các lãnh vực yếu kém, nông nghiệp, tiểu công nghệ, tiểu thương; hối suất khác nhau giữa hàng nhập cảng và xuất cảng, để phát triển kỷ nghệ nội địa, chúng ta đã có dịp đề cập đến ở phần trước. Những gì vừa kể, không có gì khác hơn là cơ chế Quốc Gia tạo các điều kiện thích hợp cho " quyền bình đẳng khởi hành " của người dân, để nhằm đạt được " quyền bình đẳng của mức đến " trong viễn ảnh tốt đẹp. Và đây là những " Can Thiệp vào xã hội " mà Hiến Pháp quy trách cho " Nền Cộng Hoà": - Đối với gia đình: * " Quốc Gia dành mọi phương tiện kinh tế và các thể thức khác dễ dãi, để gia đình được thành lập, chu toàn các bổn phận liên hệ và những biệt đải đối với những gia đình đông con" ( Điều 31, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - Trong lãnh vực giáo dục: * " Học đường được mở ra cho tất cả mọi người. Nền học vấn ở cấp bậc thấp được giảng dạy miễn phí và bắt buộc, ít nhứt là mười hai năm ( tu chính án mới 1990). Những ai có khả năng và đáng được tưởng thưởng, mặc dầu thiếu phương tiện vẫn có quyền được học hành đến trình độ cao nhứt của nền học vấn. Quốc Gia biến các quyền nầy thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và các phương thức tiền liệu khác, được cấp qua các cuộc thi tuyển" ( Điều 34, id.). - Huấn nghệ và thăng tiến chức nghiệp: * " Quốc Gia có bổn phận huấn nghệ và thăng tiến chức nghiệp cho người làm việc" ( Điều 35, đoạn 2, id.). - Về định chế lương bổng: * " Người làm việc được quyền thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm. Dù sao đi nữa, mức lươg bổng cũng phải đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống khang trang" ( Điều 38, id.). - Người phụ nữ và trẻ em vị thành niên: * " Người phụ nữ công nhân có các quyền như nhau, và đối với các việc làm như nhau, cũng đưọc thù lao như nam công nhân. Các điều kiện về việc làm phải được thiết định thế nào, để người phụ nữ làm việc có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình, phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ có một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp". Quốc Gia bảo đảm cho việc làm của vị thành niên bằng những điều khoản đặc biệt và bảo đảm cho họ cũng được thù lao lương bổng đồng đều, đối với việc làm như nhau" ( Điều 37, đoạn 1, 2 và 3, id.) - Bệnh tật, tai nạn, về hưu: * " Người làm việc có quyền được tiền liệu và bảo đảm để có đủ phương tiện thích hợp, đáp ứng lại nhu cầu đời sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, già nua, thất nghiệp ngoài ý muốn" ( Điều 38, id.). - Người công nhân tham gia quản trị xí nghiệp: * " Để nâng cao phận vụ làm trong kinh tế và xã hội, đáp ứng thích hợp với nhu cầu sản xuất, Nền Cộng Hoà nhìn nhận quyền của người công nhân được cộng tác, theo thể thức và giới mức pháp định, vào việc quản trị xí nghiệp" ( Điều 46, id.). - Quốc Gia can thiệp để bảo vệ sức khoẻ: * " Quốc Gia bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của cộng đồng xã hội, bảo đảm chữa trị miễn phí cho những ai thiếu phương tiện" ( Điều 32, id.). Điều đó có nghĩa là ở các quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, không có ai là người không được bảo đảm về sức khoẻ, không tùy thuộc có tiền nhiều hay ít để bảo đảm cho " bác sĩ tốt " hay " bác sĩ ít tốt ", để đến khi đau ốm được " được chữa trị tốt " hay chỉ " được chữa trị dỗm, chờ chết ". Ở các Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, ai cũng là con người, cần được Quốc Gia chăm lo, bảo vệ, nhứt là khi đau ốm, - " Quốc Gia bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của cộng dồng xã hội...", hay: " Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội " ( Điều 20, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), là vậy. Ở các Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu không ai là " homeless" ( vô gia cư, vô nghề nghiệp) đau ốm, nghèo khổ, không biết cầu cứu ai, bởi lẽ - " Các quyền căn bản sẽ đươc kể sau đây ( dĩ nhiên trong đó có quyền được bảo vệ sức khoẻ) là những quyền bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, là quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Trong trường hợp nguy cấp, con chó ở Tây Âu cũng phải được các thú y điều trị miễn phí, còn nói gì đến con người. - Những công dân bệnh hoạn, khuyết tật, không có khả năng làm việc: * " Các công dân bệnh hoạn, tật nguyền, khiếm khuyết cũng có quyền được giáo dục và huấn nghệ để khởi công nghề nghiệp". Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện để sống còn, có quyền được Quốc Gia giúp đở và trợ cấp xã hội". Các quyền được tiền liệu trong điều khoản nầy sẽ được giao cho các cơ quan và tổ chức được tiết lập để thực thi và bổ túc cho Quốc Gia" ( Điều 38, đoạn 1, 2 và 4, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - Những công dân bị cáo hay phạm pháp: * " Không ai có thể bị dẫn độ ra khỏi vị thẩm phán tự nhiên trách nhiệm đối với đương sự, được luật pháp tiền định". Không ai có thể bị chận bắt hay giam giữ vì lý do an ninh, nếu không trong các trườnh hợp được luật pháp tiền định" ( Điều 25, id.). * " Mọi người đều có quyền khởi tố trước toà án để bảo vệ quyền và lợi thú chính đáng của mình" Quyền được biện hộ và tự biện hộ là quyền bất khả xâm phạm ở mọi tiến trình của vụ án" ( Điều 24, đoạn 1 và 2 , id.) * " Hình phạt không thể nào có những cách đối xử vô nhân đạo và phải có mục đích cải hoá phạm nhân" ( Điều 27, id.). * " Mọi bạo lực trên thân xác và khủng bố tinh thần người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt " ( Điều 13, đoạn 4, id.). Hay " Không có bất cứ trường hợp nào một quyền căn bản của con người, bị tổn thương đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Qua những điều khoản chúng ta vừa liệt kê, và còn nhiều điều khoản khác liên quan đến việc cơ chế Quốc Gia " Can Thiệp vào xã hội ", chúng ta thấy được những động tác can thiệp hiến định của Quốc Gia không có mục đích gì khác hơn là thực thi " quyền bình đẳng" của người dưới hình thức tích cực, được Hiến Pháp quy trách: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại về kinh tế và xã hội, là những chướng ngai, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, cản trở mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quốc Gia can thiệp và đồng thời cũng thiết định bằng luật pháp để mỗi cá nhân cộng tác can thiệp, liên đới vào cuộc sống xã hội, để mọi thành phần trong Cộng Đồng Quốc Gia đều có được điều kiện sống cuộc sống bình đẳng xứng đáng với nhân phẩm con người: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc những bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, id.). Xã hội Việt Nam trong tương lai mà chúng ta mơ ước không phải là xã hội " cá lớn đớp cá bé", kẻ quyền uy chà đạp người yếu thế, mà là một xã hội được đặt trên nền tảng " đòi buộc những bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội ", trong đó, - " ...mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình" - " và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở", cùng đích của Việt Nam Công Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, Đại Nghị Chế, Can thiệp vào kinh tế và xã hội...

 

Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, Đại Nghị Chế. Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nân Bản và Dân Chủ, - Đại Nghị Chế, - Can thiệp vào kinh tế và xã hội, - Tản Quyền, - Phi tôn giáo, - và Mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế. Đại Nghị Chế. 1 - Lý do. a) Trong loạt bài tìm hiểu về phương thức tổ chức cơ chế Quốc Gia, chúng tôi đã có dịp học hỏi và đề cập đến - ANH QUỐC VÀ ĐẠI NGHỊ CHẾ, - PHÁP QUỐC VÀ BÁN TỔNG THỐNG CHẾ, - TỔNG THỐNG CHẾ HOA KỲ và kết thúc chu kỳ học hỏi đó bằng bài viết - ĐẠI NGHỊ CHÊ BỀN VỮNG, HIẾN PHÁP 1949 CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC. Trong bài sau cùng được đề cập, qua những hiểu biết được học hỏi trước đó, chúng tôi đã có một vài nhân xét kết luận, trước khi tìm hiểu những đặc tính tổ chức Đại Nghị Chế của Cộng Hoà Liên Bang Đức, khiến cho cơ chế Quốc Gia Đức được bền vững và hoạt động hữu hiệu, có khả năng biến Đất Nước đổ nát sau Thế Chiến II thành cường quốc nhứt nhì Âu Châu và là một Quốc Gia Nhân Bản không có gì phải hổ thẹn so với các Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ trên thế giới. Và đây là câu kết luận ở một đoạn trong bài học vừa kể: - " Đối với nền Tổng Thống Chế ở ViệtNam Cộng Hoà, ai trong chúng ta cũng biết, chúng tôi xin được khỏi dong dài lập lại. Cuộc đời của Vị Tổng Thống đầu tiên Ngô Đình Diệm bị kết thúc trong máu năm 1963 và từ đó tình trạng bất ổn kéo dài trên Đất Nước với đảo chánh, chỉnh lý, truất phế, phe phái, tranh giành qua hình thức Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Ủy Ban Chỉnh Lý ...cùng với các chức vị Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Phó Thủ Tướng vân vân và vân vân...cho đến ngày Cộng Sản chiếm trọn Miền Nam. - " Tổng Thống Chế * không thành công ở Châu Mỹ La Tinh, * không thành công ở Phi Châu, * không thành công ở Á Châu và Việt Nam. Nói đến " không thành công " của một thể chế chính trị là nói đến Đất Nước bất ổn, nghèo đói, ngu dốt, đảo chánh, cách mạng, cướp chính quyền đẩm máu và chết chóc. Tất cả những điều đó không có nghĩa là Tổng Thống Chế Hoa Kỳ là một thể chế không có giá trị. Bởi lẽ người Mỹ đã và đang thành công trên 200 năm nay trong việc ổn định và kiến thiết Đất Nước Dân Chủ của họ. Việc không thành công của của Quốc Gia " chậm tiến " ( Châu Mỹ La Tinh, Phi Châu, Á Châu và Việt Nam) trong việc áp dụng Tổng Thống Chế là do những " yếu tố môi sinh địa phương" ( trình độ tổ chức xã hội và mức sống thấp kém, nạn mù chữ lan tràn, phương thức tổ chức sơ đẳng và yếu kém của các chính đảng, thái độ bảo thủ kéo dài trên mấy mươi năm của hàng giáo phẩm...là những " yếu tố môi sinh địa phương", thuận lợi, giúp tăng cường cho cá nhân Tổng Thống những đặc tính trổi vượt, gán cho quyền lực của Tồng Thống ưu tiên và vượt lên trên các cơ chế khác, đảng của Tổng Thống là đảng ưu việt có một không hai. Thêm vào đó, quân đội cũng góp phần vào việc " thượng đẳng hoá" ( sublimer) vai trò và quyền lực của Tổng Thống...Với địa vị được " thượng đẳng hoá" như vậy, Tổng Thống cũng như Chính Quyền và đảng của ông không có khuynh hướng trở nên độc tài, độc tôn và tự tôn là chuyện lạ !). Qua những gì vừa đề cập, ai có thể bảo rằng chúng ta có thể áp dụng một lần nữa Tổng Thống Chế cho Việt Nam, bởi lẽ chúng ta đã có những giải pháp thoả đáng đối với các " yếu tố môi sinh địa phương" vừa kề? Đó là lý do tại sao chúng tôi nghĩ rằng Đại Nghị Chế ( Parlamentarisme) là phương thức tổ chức cơ chế Quốc Gia thích hợp hơn cho Việt Nam, một Quốc Gia còn đang " trên đà phát triển" , để tránh những đại hoạ đã xảy ra trong quá khứ. b) Một lý do khác khiến chúng tôi không cảm hứng lựa chọn Tổng Thống Chế cho Việt Nam, vì học được bài học của các Quốc Gia Tây Âu. Nói một cách tổng quát, hầu hết các Quốc Gia Tây Âu là những Quốc Gia Đại Nghị Chế, kể cả những Quốc Gia Quân Chủ Lập Hiến và cả thể chế Pháp Quốc mà chúng ta tạm gọi là " Bán Tổng Thống Chế" ( Semiprésidentialisme), cả Tổng Thống lẫn Thủ Tướng đều có quyền Hành Pháp. Bỏi lẽ trên thực tế, thể chế của Pháp Quốc chỉ là thể chế " Đại Nghị Chế Hợp Lý " ( Parlementarisme Raisonalisé), nguyên ngữ được Tổng Thống Charles De Gaule dùng năm 1958, khi Hiến Pháp hiện hành của Pháp Quốc được ban hành. Các Quốc Gia Tây Âu đều là những Quốc Gia Đại Nghị Chế, - sau những kinh nghiệm độc tài hãi hùng của các chế độ Quân Chủ, nhứt là của Pháp quốc mà dân chúng Pháp phải biến đổi thành nền Cộng Hoà Dân Chủ bằng Cách Mạng 1789 bằng đập đổ và máy chém của nhóm Jacobins, - sau các chế độ độc tài của Hitler và Mussolini mà dân Đức, Ý, Do Thái và cả Âu Châu phải trả giá bằng mấy chục triệu người chết trong các lò sát sinh và mồ chôn tập thể. Người dân Tây Âu hiện nay đang đêm được ngủ yên giấc, vì họ giao cho Quốc Hội, cơ quan do chính họ tuyển chọn, quyền định hướng và kiểm soát giới đương quyền hành xử quyền lực Quốc Gia. Bởi lẽ trong cuộc sống Nhân Bản và Dân Chủ, bộ mặt mọi rợ, coi người như súc vật của Hitler và Mussolini, bộ mặt tráo trở độc tài, lường gạt, che giấu của " Đảng và Nhà Nước ", lúc nào cũng có thể lăm le trở lại, dưới nhiểu chiếc áo khoát khác nhau. Chúng ta đặt sự sống còn và tương lai của Đất Nước và an ninh của chúng ta vào Quốc Hội, những người được chúng ta tin tưởng và đồng thuận tuyển chọn. Hãy chọn thể chế Đại Nghị Chế cho Việt Nam ! 2 - Đặc tính. Đặc tính Đại nghị Chế được Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố: - " Chính Quyền phải được sự tín nhiệm của cả hai Viện Quốc Hội" ( Điều 94, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó có nghĩa là ở Ý, chỉ cần một Viện Quốc Hội bất tín nhiệm,Chính Quyền không thể hành xử quyền được Quốc Gia giao phó. Và các đoạn kế tiếp của cùng một điều khoản, cũng như các điều khoản kế tiếp, thiết định các phương thức và điều kiện để Lưỡng Viện Quốc Hội đồng thuận - chấp nhận tín nhiệm cho Chính Quyền để có thể hành xử quyền lực Quốc Gia, lúc Chính quyền mới được thành lập, - cũng như thu hồi tín nhiệm, bắt buộc giới hành quyền phải từ chức, nếu họ không đi đúng chính hướng mà họ đã cam kết lúc tuyên thệ, - nếu các chương trinh hoạt động của Chính Quyền không hữu hiệu ( đạt được kết quả đúng định kỳ) và thiếu hiệu năng ( phung phí tài nguyên Quốc Gia, để đạt được kết quả, mà chỉ cần xử dụng tài nguyên ít hơn) và thiên vị. Cũng vậy, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức xác định: - " Thủ Tướng Liên Bang và các Bộ Trưởng Liên Bang tuyên thệ, như điều 56 Hiến Pháp tiền định, trước Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag), trong lúc nhận lãnh thi hành chức vụ" ( Điều 64, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Như vậy " phải được sự tín nhiệm của cả hai Viện Quốc Hội " hay " phải tuyên thệ trước Hạ Viện Liên Bang" nói lên mối tương quan tín nhiệm giữa Chính Quyền và Quốc Hội. * Trong mối tín nhiệm đó, Chính Quyền phải trả lời trước Quốc Hội trách nhiệm chính trị của mình về cách hành xử đối với nhiệm vụ được giao phó: - " Thủ Tướng Chính Phủ và các Bộ Trưởng, trước khi đảm trách phận vụ, phải tuyên thệ trong tay Tổng Thống Cộng Hoà" ( Điều 93, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Thủ Tướng hướng dẫn đường lối chính trị chung của Chính Quyền và chịu trách nhiệm về đường lối đó. Bảo đảm tính cách hợp nhứt đường lối chính trị, hành chánh, bằng cách phát huy và phối hợp hoạt động của các Bộ Trưởng". - " Các Bộ Trưởng chịu trách nhiệm tập thể về các hành động của Hội Đồng Nội Các và riêng rẻ về các hoạt động phận Bộ của mình" ( Điều 95, đoạn 1 và 2 , id.). Qua những điều vừa kể, chúng ta thấy được phận sự hướng dẫn đường lối chính trị chung, trong Nội Các Chế, được giao phó cho Thủ Tướng Chính Phủ ( điều 95, đoạn 1, di.), với phận vụ giữ vững tính cách hợp nhứt đường lối chính trị và hành chánh, phát huy và phối hợp hoạt động của các Bộ Trưởng. Hiến Pháp Ý Quốc, cũng như Hiến Pháp của các Quốc Gia Đại Nghị Chế Tây Âu không giao quyền định hướng đường lối chính trị Quốc Gia cho Tổng Thống Cộng Hoà. Điều đó có nghĩa là phận vụ vừa kể, Hiến Pháp đặt trọng tâm của phận vụ vào Quốc Hội. ( cfr. - QUỐC HỘI LÀ GÌ? - QUỐC HỘI ĐỊNH HƯỚNG ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ QUỐC GIA). Và Quốc Hội được thành lập, cấu trúc bằng thành phần các chính đảng. Đó là những gì Hiến Pháp đã tiền liệu và đặt trọng trách: - " Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Tuy nhiên vị Tổng Thống trong Đại Nghị Chế, không phải là một hình nộm, " ngồi chơi xơi nước ", bởi lẽ ông cũng ảnh hưởng đến chính hướng Quốc Gia bằng việc hành xử quyền hạn của mình trong việc phát động, hảm thắng và kiểm soát làm cho ông trở thành nhân vật quan trọng trong Hiến Pháp, như là một cơ chế " đứng giữa, đứng trên và không thiên vị ":(Cfr. TỔNG THỐNG TRONG ĐẠI NGHỊ CHẾ): - " Tổng Thống Cộng Hoà là Vị Nguyên Thủ Quốc Gia và biểu thị sự đoàn kết của Đất Nước". - " Tổng Thống có thể gởi sứ điệp đến Quốc Hội và xác định thời điểm lần họp đầu tiên". - " Cho phép đệ trình đến Quốc Hội các dự án luật do sáng kiến của Chính Quyền. - " Công bố các đạo luật, các quyết nghị và quy chế có giá trị pháp lý". - " Công bố trưng cầu dân ý trong các trường hợp được Hiến Pháp quy định"... ( Điều 87, id.). Qua những gì vừa biết được, chúng ta thấy Đại Nghị Chế của Ý Quốc là một định thế quân bình, bởi lẽ giữa các cơ quan liên hệ đến việc thiết định đường lối chính trị Quốc Gia, không có cơ quan nào đưọc quyền thượng đẳng hơn cơ qua khác. Mỗi cơ quan trong lãnh vực của mình, Tổng Thống, Quốc Hội, Chính Quyền, cả đến chính đảng mà người dân tạo thành và phát biểu ý kiến của mình trong chính đảng. Không ai tự cho mình là " Đội ngủ tiền phong của giới công nhân...và của cả dân tộc, lãnh đạo..." cả Chính Quyền, xã hội và Đất Nước như " Đảng và Nhà Nước mình" ( Điều 4 Hiến Pháp CSVN 1992). Mỗi cơ quan và tổ chức hành xử trong giới hạn của mình và đồng đẳng với các cơ quan khác, " để cùng nhau hợp tác theo nguyên tắc dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49, id.) ( Biscaretti di Ruffìa, Introduzione al Diritto costituzionale Comparato, VI ed., Giuffré, Milano 1988, 299-318). Đặc tính trung tâm điểm của Quốc Hội. Đặc tính Quốc Hội là trung tâm điểm điều khiển chính hướng Quốc Gia được chính Viện Bảo Hiến Ý xác nhận là - " Quốc Hội ở vị tri trung tâm điểm của hệ thống quyền lực Quốc Gia" ( Corte Cost., sent. n. 154 del 1985). Quốc Hội tham dự tích cực vào việc định hướng và lãnh đạo, điều hành đường lối chính trị Qưốc Gia, qua một chuổi các quyền hạn được Hiến Pháp giao cho Quốc Hội: - Quốc Hội chỉ đồng thuận chấp nhận cho Chính Quyền hoạt động, lúc Chính Quyền mới được thành lập, ngay trong buổi tuyên thệ, nếu đường lối chính trị của Chính Quyền là đường lối hợp hiến, Nhân Bản và Dân Chủ, đáp ứng lại nhu cầu, ước vọng và lý tưởng của dân chúng, mà Quốc Hội là tiếng nói thay cho dân chúng ( Điều 93, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - Quốc Hội " chuẩn y hay bác bỏ" các đạo luật kế tiếp, là những phương thức " định hướng, phát huy, cắt tỉa, hảm thắng, loại trừ" mọi cách suy tư và tác động quá lố của Chính Quyền, chấp thuận ngân sách hàng năm cần thiết và các tổ chức để đạt được mục đích ( Điều 70-81, id.). - Quốc Hội có quyền thành lập ủy ban kiểm soát, điều tra, tố giác và truất phế Chính Quyền, nếu Chính Quyền không đi đúng đường lối chính trị Quốc Gia hiến định, được Quốc Hội đồng thuận tín nhiệm khi nhậm chức, hành xử hữu hiệu, hiệu năng và không thiên vị ( Điều 82; 93; 97, đoạn 1, id.). - Và trong một Quốc Gia được tổ chức theo phương thức tản quyền, * từ trung ương đến địa phương ( Vùng, Tỉnh, Xã Ấp), * cũng như từ trung ương đến nhiều lãnh vực ( chính đảng, công đoàn lao động, nghề nghiệp, các tổ chức xã hội trung gian), Quốc Hội là trung tâm đại diện cho mọi từng lớp để hội tựu, đúc kết các ước vọng của mọi từng lớp Cộng Đồng Quốc Gia và chọn lựa, cũng như xếp đặt theo thứ tự ưu tiên phải thực hiện. Như vậy, Quốc Hội trong Đại nghị Chế không phải chỉ là cơ quan của tổ chức công quyền, mà còn là cơ quan dân cử đại diện của dân chúng, là đầu nảo của Cộng Đồng Quốc Gia để suy tư, tổng hợp và lựa chọn ( D'Onofrio, La Centralità del Parlamento e le " tre letture" della Costituzione, in Studi parlamentari e di Pol. Cost, 1977, 1s). Như vậy, vai trò trung tâm điểm của Quốc Hội có nghĩa là - các vị đại diện dân cử được dành cho quyền lựa chọn đường lối chính trị Quốc Gia, theo tinh thần Nhân Bản và Dân Chủ hiến định, để áp dụng vào cuộc sống thực tế của Đất Nước.. - các vị đại diện dân cử được dành cho quyền kiểm soát các hoạt động của Chính Quyền, của nền hành chánh và các cơ quan liên hệ để thực thi nhằm đạt được mục đích, một cách hữu hiệu và hiệu năng, theo chương trình đã được hoạch định ( Điều 82, Hiến Pháp 1947 Ý Quôc). Hiểu như vậy, Quốc Hội trong Đại Nghị Chế là cơ quan được giao cho trọng trách - định hướng đường lối chính trị Quốc Gia, - kiểm soát chương trình và các hoạt động để thực hiện thực sự - và trung gian điều giải các nhu cầu, ước vọng và lý tưởng khác nhau. Như vậy chấp nhận và hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia, kiểm soát các hoạt động thực hiện của Chính Quyền và trung gian điều giải các nguyện vọng khác nhau, tìm được nơi Quốc Hội của Đại Nghị Chế là nơi để diển tả ra, tổng hợp, đúc kết và trở thành hiệu lực thực định để áp dụng. Quốc Hội là tiếng nói của dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia là vậy. Nói cách khác, Quốc Hội là cơ quan dân cử, hướng dẫn và kiểm soát cơ chế Quốc Gia chu toàn bổn phận được Hiến Pháp ùy thác và quy trách: - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẽp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi các nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quốc Hội là cơ quan dân cử, hướng dẫn và kiểm soát cơ chế Quốc Gia tạo điểu kiện thuận lợi để - " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình" - " và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" Trong Đại Nghị Chế, Quốc Hội là cơ quan dân cử, có khả năng hướng dẫn và kiểm soát cơ chế Quốc Gia để " Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội ".

 

Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ. Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nhân Bản và Dân Chủ, - Đại Nghị Chế, - Can Thiệp vào kinh tế và xã hội, - Tản Quyền, - Phi Tôn Giáo, - và Mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế 2 - Dân Chủ. Định nghĩa Dân Chủ theo nguyên ngữ và ý nghĩa nguyên thủy không có gi khó khăn, chỉ cần có một ít hiểu biết về ngôn ngữ Hy Lạp, bởi lẽ tư tưởng Dân Chủ phát xuất từ Hy Lạp và được thịnh hành trong thời Cộng Hoà Athène ( thế kỷ 2-3 trước Thiên Chúa Giáng Sinh đến 3-4 sau Thiên Chúa Giáng Sinh). " Demokratía" ( Dân Chủ) là danh từ kép, gồm " Demos: dân chúng"" Krátos, quyền hành ": quyền hành thuộc về dân chúng hay dân chúng là chủ nhân quyền lực Quốc Gia; nói theo định nghĩa của chúng ta: " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân". Các " Thị Xã " ( Polis) của Cộng Hoà Athène là những đơn vị nhỏ bé, không quá một vài ngàn người, nên " đường lối tổ chức, phân chia công việc" trong " Thị Xã " của họ ( Politké), để mưu ích cho cuộc sống của mỗi cá nhân và cuộc sống cộng đồng, tương đương với đường lối chính trị Quốc Gia của chúng ta ( Politica, politique, policy ) là cách tổ chức theo phương thức - dân chủ trực tiếp, - rút thăm để chọn người lãnh đạo, điều hành, và luân phiên thay thế giới lãnh đạo, - nhiệm vụ có định kỳ, - " isonomía" ( isos, như nhau; nómos, luật lệ: luật lệ như nhau cho tất cả mọi người hay " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ", nói theo ngôn từ chúng ta). - " iségoria" ( isos, như nhau; agorà: công đồng: mọi người đều như nhau, bình đẳng như nhau, có quyền ăn nói như nhau trước cộng đồng đang nhóm họp hay " tự do ngôn luận và truyền bá tư tưởng", nói theo ngôn từ chúng ta). Những đặc tính cũng như khuyết điểm của phương thức tổ chức Dân Chủ Trực Tiếp, tuyển chọn bằng cách rút thăm, ai cũng biết, so với - Dân Chủ Đại Diện, - bằng cách suy tư bỏ phiếu để tuyển chọn người tài đức của các Quốc Gia đông đảo thập bội của chúng ta, - dân chúng có quyền tối thượng trước khi, đang khi và sau khi trao quyền cho giới đại diện, cần phải có phương thức để cắt tỉa, hảm thắng, định hướng và kiểm soát tính chất hữu hiệu và hiệu năng. - Dù sao dân chủ luân phiên, có định kỳ và quyền hành được giao phó phải được kiểm soát là những điều kiện không thể thiếu, nếu thể chế muốn được gọi là Dân Chủ, Dân Chủ Trực Tiếp của Hy Lạp hay Dân Chủ Đại Diện của chúng ta cũng vậy. ( cfr. - DÂN CHỦ VÀ KHÔNG DÂN CHỦ, - DÂN CHỦ TRỰC TIẾP VÀ DÂN CHỦ TRUNG GIAN ĐIỀU GIẢI, - DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN VÀ THIỂU SỐ ĐỐI LẬP). Đối với nền Dân Chủ hiện đại của chúng ta, định nghĩa Dân Chủ không phải dễ dàng như định nghĩa theo nguyên ngữ và khởi thủy của Hy Lạp. Bỏi lẽ danh từ Dân Chủ đã bị lạm dụng và ý nghĩa biến thành hổn loạn, thậm chí để biện minh cho chính sách hành xử thâu tóm quyền lực của mình, một vài chế độ độc tài núp bóng dưới mỹ từ Dân Chủ mỵ dân, cũng gán cho cách cai trị của mình là Dân Chủ, như " Dân Chủ Tập Trung" ( Điều 6, Hiến Pháp 1992 CSVN) thay vì Dân Chủ Đa Nguyên và thành phần thiểu số đối lập cũng cần thiết cho Dân Chủ không kém gì phương thức " thiểu số phục tùng đa số" ( cfr. THIỂU SỐ ĐỐI LẬP TRONG HIẾN PHÁP CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC). Tư tưởng Dân Chủ của Hy Lạp được dân chúng Anh Quốc áp dụng trước tiên, sau đó được áp dụng ở Hoa Kỳ, cựu thuộc địa của Anh Quốc và dần dần được phổ biến sang Âu Châu Lục Địa. Thoát xuất từ Dân Chủ Trực Tiếp của Hy Lạp, mỗi khi cần phải quyết định những gi liên quan đến đời sống Thị Xã, người dân được triệu tập ra các công trường để biểu quyết bằng cách hô to hoặc giơ tay, hoặt rút thăm để tuyển chọn người lãnh đạo. Đó là động tác trực tiếp tham dự vào đường lối chính trị lãnh đạo Thị Xã ( politiké). Cách hành xử vừa kể của ý nghĩa nguyên thủy Dân Chủ Hy Lạp cho thấy, điều quan trọng của Dân Chủ Trực Tiếp ( hay Dân Chủ Đại Điện của chúng ta cũng vậy), nếu muốn được coi là Dân Chủ, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", người dân tham dự vào việc hành xử quyền lực để tổ chức, điều hành Quốc Gia. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, trong bất cứ tổ chức xã hội nào, lớn hay nhỏ, ngay cả dưới hình thức Dân Chủ Trực Tiếp của Hy Lạp cũng vậy, chúng ta cũng phải có một nhóm người lãnh đạo, điều hành ( governanti, gouverneur) và đại đa số người khác được lãnh đạo, được hướng dẫn hay điều hành (governati, gouvernés). Nếu hiểu như vậy, theo ý nghĩa từ ngữ của danh từ Dân Chủ, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", sự khác biệt vị thế và quyền hạn của " nhóm lãnh đạo"" nhóm được lãnh đạo" phải bị xoá bỏ. Nói cách khác, hiểu theo ý nghĩa từ ngữ của danh từ Dân Chủ, trong Quốc Gia không có " người lãnh đạo"" kẻ bị trị ". Đó là tư tưởng " vô chính phủ" ( anarchia), đôi khi chúng ta gặp được đó đây trong các cuộc hàn huyên với bạn bè hay với những người bất mãn, chống lại kẻ hành quyền bất xứng, độc tài, thiên vị. Đứng trước tình trạng tiêu cực, khi áp dụng vào thực tế như vừa kể, kinh nghiệm các Quốc Gia Dân Chủ phải tìm một ý nghĩa khác thích hợp hơn. Đó là làm thế nào để Quốc Gia Dân Chủ có thể " tự mình quản trị lấy " ( autogoverno) tất cả mọi lãnh vực, không thừa trừ, làm thế nào để có sự đồng thuận giữa giới đương quyền và người bị trị. Giới đương quyền quản trị là quản trị, do người dân bị trị ủy thác cho phận vu, đáp ứng lại thoả đáng ước vọng, nhu cầu và lý tưởng của dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia, được phát biểu qua ý kiến cá nhân, các tổ chức xã hội trung gian ( gia đình, học đường, hiệp hội, tôn giáo, chính đảng), cũng như cơ chế dân cử Quốc Gia ( Quốc Hội). Nói cách khác, nhu cầu, ước vọng và lý tưởng của người dân đối với giới hành xử đương quyền ( Chính Quyền), có thể được phát biểu qua: - tiến trình soạn thảo, " chuẩn y hay bác bỏ luật pháp " để định hướng đường lối chính trị Quốc Gia ( Điều 72, id:). - tiến trình chuẩn y hay bác bỏ chính hướng Quốc Gia của Chính Phủ vừa mới được thành lập ( Điều 94, đoạn 1 id.), - trưng cầu dân ý để nghị hay bải bỏ luật pháp ( Điều 75 và 134, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - các cuộc điều tra của Quốc Hội ( Điều 82, id.), liên quan đến đường lối và hoạt động của Chính Quyền, - động tác bất tín nhiệm, bắt buộc Chính Quyền đương hành phải từ chức ( Điều 94, đoạn 2, id.) và có thể bị Quốc Hội tố giác trước pháp luật ( Điều 96, id); - viên chức của các cơ quan công quyền chịu trách nhiệm dân luật và hình luật trực tiếp đối với những động tác và phương cách hành xử bất chính của mình ( Điều 28, id.). Tất cả những phương thức chính yếu vừa kể, và còn những phương thức tiền liệu khác như: * định chế tản quyền cho các Tiểu Bang ( Điều 50; 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) hay cho Vùng, Tỉnh, Xã Âp ( Điều 5; 75, đoạn 1; 114-126 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), ( cfr. DÂN CHỦ, VAI TRÒ HIẾN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG) * định chế các chính đảng thiểu số đối lập có thực quyền để " cắt tỉa, định hướng, hảm thắng" các cách hành xử quá lố của giới đương quyền ( Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) ( cfr. THIỂU SỐ ĐỐI LẬP, HIẾN PHÁP CỘNG HAÒ LIÊN BANG ĐỨC), tất cả đều nhằm đáp ứng lại mục đích tối hậu không thể thiếu của Dân Chủ: " giới đương quyền quản trị hành xử đáp ứng lại nhu cầu, ước vọng và lý tưởng của người dân bị trị ". Nói cách khác, trong thể chế Dân Chủ có sự đồng nhất giữa Chính Quyền và người dân: người dân " đồng thuận" ( La Ngữ, consensus) cho Chính Quyền hoạt động để đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của họ, chủ nhân của quyền lực Đất Nước, " Dân Chủ ". Cho đến lúc nào, Chính Quyền còn được sự đồng thuận đó ( consensus), Chính Quyền đó là Chính Quyền Dân Chủ. Không đồng thuận nữa, người dân có những phương thức vừa kể để " cắt tỉa, định hướng, hãm thắng", và sau cùng Chính Quyền có thể bị truất phế. Đó là những đặc tính phải có của một nền Dân Chủ đích thực, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", người dân tham dự và kiểm soát những người quản trị hành xử quyền lực Quốc Gia, để tránh độc tài, thiên vị và không hiệu năng. Giữa người dân bị trị và Chính Quyền điều hành, luôn luôn có sự nối kết trên tinh thần đồng thuận ( Temistocles Martines, Diritto Costituzionale, Giuffré, Milano 1998, 245-246) Đặc tính đó sẽ mất đi, nếu chúng ta đem so sánh Quốc Gia Dân Chủ và Quốc Gia độc tài, phe nhóm, đảng trị. Quốc Gia độc tài, phe nhóm, đảng trị là Quốc Gia cho mình là siêu đẳng, " đỉnh cao trí tuệ ", chỉ có nhóm người lãnh đạo là nhóm những người thực sự độc quyền giải thích và thực hiện nhu cầu, lợi thú, ước vọng và lý tưởng của dân chúng. Và do đó, không chấp nhận bất cứ chính kiến nào khác được coi là có khả năng đi đúng đường lối Quốc Gia, nếu không phải là chính kiến đồng thuận " nhất trí " với đường lối lãnh đạo của " Đảng và Nhà Nước". Và rồi từ thái độ cho mình là " đỉnh cao trí tuệ", là " đội ngủ tiền phong của giới nhân công, nông dân và của cả dân tộc..." đó, nhóm người cai trị cho rằng các thể thức bầu cử là vô ích, hay có cùng lắm chỉ là hình thức mỵ dân, xoa dịu dân bằng " Đảng cử dân bầu", giới đương quyền là giới được xếp đặt " từ trên ban xuống ", và mọi quyền công dân không có mục đích " nhất trí", với nhóm điều hành đều bị bải bỏ, trong đó có các quyền - tự do hội họp, - tự do lập hội và gia nhập hội, - tự do ngôn luận... Bởi lẽ các quyền đó, như chúng ta thấy ở trên, sẽ đưa đến việc đối lập, chỉ trích " cắt tiả, định hướng, hảm thắng" cách hành xử của nhóm độc tài ( Temistocles Martines, op. cit., 246). Trái lại, thể chế Dân Chủ tiền liệu một chuổi các cơ chế được cấu trúc để làm cho người dân tham dự vào đường lối chính trị và hoạt động của Chính Quyền: - hoặc gián tiếp bằng cách tiền liệu cho người dân đề cử người của mình vào giới lãnh đạo, bằng các cuộc bâu cử trực tiếp đơn danh hay theo đa số tỷ lệ qua các chinh đảng ( cfr. LUẬT BẦU CỬ CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC), - hoặc trực tiếp bằng cách thiết định cho người dân một số quyền liên quan đến các quyết định hay nhằm thúc đẩy Chính Quyền phải thi hành, qua các cuộc trưng cầu dân ý thu hồi ( referendum abbrogativo) - hoặc với một số cử tri được xác định, người dân có quyền đưa ra những sáng kiến về các dự án luật mà mình thấy cần thiết ( Điều 71, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc; điều 76, đoạn 2, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), - hoặc với phương thức tản quyền, để cá nhân, các nhóm xã hội trung gian, các cộng đồng địa phương đều có thể góp ý để thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ( Điều 49; 75 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc; điều 21; 50; 79 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Tất cả những hình thức vừa kể được nêu rõ trong Hiến Pháp: - " Quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân, dân chúng hành xử quyền tối thượng của mình theo hình thức và trong giới mức được Hiến Pháp xác định" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Tất cả quyền lực Quốc Gia phát xuất từ dân chúng. Quyền lực đó được dân chúng hành xử qua các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và rồi tiếp tục ở những điều khoản kế tiếp, cả hai Hiến Pháp đều tiếp tục liệt kê và xác định các " hình thức và giới mức hiến định", để người dân hành xử " quyền tối thượng" của mình trong cuộc sống cộng đồng Quốc Gia. Thể chế Dân Chủ tổ chức quyền lực Quốc Gia như vừa kể, " theo hình thức và trong giới mức hiến định", bảo đảm được mối liên hệ giữa giới hành quyền và kẻ bị trị không bị gián đoạn, bảo đảm cho các động tác của giới đương quyền có khuynh hướng đáp ứng lại nhu cầu, lợi thú và ước vọng, lý tưởng của người dân ( Mortati Costantino, Istituzioni di Diritto Pubblico, Cedam, Padova 1975, 312-316). Đi vào chi tiếc hơn, các phương thức bảo đảm cho động tác của Chính Quyền đáp ứng lại nhu cầu của người dân, như trên đã nói, trong nền Dân Chủ Tây Âu hiện đại, được Hiến Pháp xác định, chúng ta có: - Dân chủ đại diện, - Dân chủ trực tiếp, - Dân chủ tản quyền, - Nguyên tắc bình đẳng, - Dân chủ đa nguyên. a) Dân Chủ Đại Điện. Các Quốc Gia hiện đại của chúng ta là những Quốc Gia đông thập bội, hàng chục lần có khi hàng trăm lần dân chúng, so với các Thị Xã ( Polis) của thời Cộng Hoà Athène Hy Lạp. Bởi đó, trừ ra một vài trường hợp bất thường, hình thức Dân Chủ Trực Tiếp ( trưng cầu dân ý), như ở các Thị Xã lúc đó là những gì không ai có thể hình dung ra được: mỗi khi có chuyện cần, dân chúng được triệu tập ra công trường thành phố để được hỏi ý kiến bằng cách giơ tay hay hô to để phát biểu " đồng thuận hay bác bỏ" . Phương thức áp dụng Dân Chủ của các Quốc Gia hiện đại của chúng ta là phương thức được Hiến Pháp 1949 mô tả ở trên: - " Tất cả quyền lực Quốc Gia phát xuất từ dân chúng. Quyền lực đó được dân chúng hành xử qua các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Để áp dụng Dân Chủ Đại Điện, thể chế hiến định của chúng ta xác nhận quyền bầu cử mọi công dân đến tuổi trưởng thành, để chọn người vào điều hành ở các " cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp": -" Hạ Viện được tuyển chọn qua cuộc đầu phiếu phổ thông và trực tiếp" ( Điều 56, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Các dân biểu Hạ Viện ( Bundestag) được tuyển chọn qua các cuộc đầu phiếu phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín" ( Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Ở Ý Quốc, Hiến Pháp hạn định tuổi của các ứng cử viên Thượng Viện phải ở mức trưởng thành đến 25 tuổi: - " Các thượng nghị sĩ được tuyển chọn qua cuộc phổ thông đầu phiếu và trực tiếp. Các ứng viên phải ở trên 25 tuổi" ( Điều 58, đoạn 1, Hiến Pháp 1947 ý Quốc). Để bảo đảm cho hoạt động của Chính Quyền khỏi bị rối loạn và gián đoạn, Hiến Pháp tiền liệu cho Tổng Thống Cộng Hoà có quyền giải tán Quốc Hội trước định kỳ, nếu Quốc Hội không bảo đảm được cho hoạt động của Chính Quyền đều hòa và liên tục: - " Tổng Thống Cộng Hoà, sau khi hỏi ý kiến Lưỡng Viện Quốc Hội, có thể giải tán Quốc Hội hay một trong hai Viện" ( Điều 83, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đối với vai trò quản trị và điều hành của Chính Quyền, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cẩn thận hơn và đặt điều kiện Hạ Viện chỉ có thể bất tín nhiệm Chính Quyền đương nhiệm, nếu có khả năng tuyển chọn được một Thủ Tướng ( Kanzler) khác với đa số phiếu tuyệt đối của mình. Đó là hình thức " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" ( konstruktive Misstrauensvotum): - " Hạ Viện có thể bày tỏ sự bất tín nhiệm của mình đối với Thủ Tướng ( đương nhiệm), chỉ khi nào tuyển chọn đượcmột người khác thay thế với đa số phiếu các thành viên của mình..." ( Điều 67, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). ( cfr. CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC, CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA CHỐNG ĐỘC TÀI VÀ BẤT ỔN). Và rồi đặc tính được dân chúng tuyển chọn qua các cuộc đầu phiếu cũng được trải rộng ra cho các cơ chế địa phương Tiểu Bang hay Vùng, Tỉnh, Xã Âp, như chúng ta đã đề cập ở trên. b) Dân Chủ Trực Tiếp. Trong một vài trường hợp đặc biệt, cuộc sống Quốc Gia của chúng ta vẫn còn xử dụng phương thức Dân Chủ Trực Tiếp của thời Cộng Hoà Athène. Đó là các trường hợp xử dụng Trưng Cầu Dân Ý để - bải bỏ luật pháp hay những nghị định có hiệu lực pháp định: * " Trưng cầu dân ý được tổ chức để bải bỏ toàn phần hay một phần một đạo luật hay một nghị định có giá trị luật, nếu có 50.000 cử tri hay 5 Hội Đồng Vùng yêu cầu" ( Điều 75, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - tu chính Hiến Pháp hay các luật hiến pháp: * " Chính các đạo luật đó ( để tu chính Hiến Pháp) phải được thông qua bằng cuộc trưng cầu dân ý, khi trong thời gian kể từ ngày đạo luật được công bố, có 1/5 thành viên của một Viện Quốc Hội, 50.000 cử tri hay 5 Hội Đồng Vùng yêu cầu. Đạo luật được đặt dưới quyền thiết định của trưng cầu dân ý sẽ không được công bố, nếu không được chấp thuận với đa số" ( Điều 138, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - thiết kế, sáp nhập hay sửa đổi diện tích đất đai của Vùng, Tỉnh, Xã Ấp: * " Với một đạo luật Hiến Pháp, sau khi Hội Đồng Vùng được hỏi ý kiến, có thể sáp nhập các Vùng hiện hành hay tạo ra các Vùng mới, có ít nhứt một triệu dân, khi có nhiều Xã Ấp đại diện cho ít nhứt 1/3 dân chúng liên hệ yêu cầu và dư án luật phải được cuộc trưng cầu dân ý dân chúng sở tai liên hệ chuẩn y" ( Điều 132, đoạn 1 id.). Cùng với một đạo luật tương tợ, Hiến Pháp xác định cho thiết lập một Tỉnh mới trong Vùng, được luật pháp Quốc Gia thiết định, nếu có Xã Ấp đưa ra sáng kiến và trưng cầu dân chúng sở tại liên hệ đồng thuận ( Điều 133, đoạn 1, id.). - dân chúng đề ra dự án luật và các lời yêu cầu, nhờ đó dân chúng có thể đệ trình Quốc Hội các dự án và nguyện vọng nói lên nhu cầu cho lợi ích công cộng của cuộc sống: * " Dân chúng hành xử quyền sáng kiến đưa ra dự án luật, nếu có ít nhứt 50.000 cử tri yêu cầu về một đề án, được viết ra thành điều khoản" ( Điều 71, đoạn 2 , id.). * " Mọi công dân đều có quyền đệ trình thỉnh nguyện thư đến Quốc Hội, để yêu cầu thành lập những đạo luật hay nói lên những nhu cầu chung" ( Điều 50, id.). Hiểu như vậy, dù với Dân Chủ Đại Diện hay Dân Chủ Trực Tiếp, Hiến Pháp của một Quốc Gia Dân Chủ thực sự có bổn phận tiền liệu các thể thức để dân chúng bị trị và giới lãnh đạo đương quyền luôn luôn có khuynh hướng đồng thuận nhau ( consensus) trong việc định hướng đường lối chính trị và các động tác đáp ứng lại nhu cầu, ước vọng, lợi thú và lý tưởng của người dân, chủ nhân của Đất Nưóc. Mục đích của Quốc Gia được thiết lập là để phục vụ con người và lợi ích cho cuộc sống Cộng Đồng Quốc Gia là vậy. c) Dân Chủ Đa Nguyên. Dân Chủ Đa Nguyên, đồng thời cũng là một phương thức tản quyền, được thực hiện bằng cách dành cho - người dân có quyền gia nhập chính đảng, để góp phần định hướng chính hướng Quốc Gia: * " Mọi công dân có quyền tự do gia nhập chính đảng, để cùng nhau hợp tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - người dân có quyền gia nhập công đoàn để bảo vệ quyền lợi của từng lớp liên hệ, chủ nhân cũng như công nhân, với khế ước lao động toàn quốc có giá trị chung cho lãnh vực nghề nghiệp liên hệ: * " Các công đoàn được ghi danh có tư cách pháp nhân, được đại diện tùy theo số lượng tỷ lệ thành viên liên hệ, có thể ký kết khế ước lao động chung với hiệu lực bắt buộc có giá trị cho tất cả các thành viên thuộc lãnh vực liên hệ, được khế ước đề cập đến" ( Điều 39, đoạn 3, id.). - người dân có quyền đình công, một phương thức để điều chỉnh hoá tình trạng bất công về kinh tế, mà công nhân cũng như chủ nhân gặp phải trong lãnh vực lao động: * " Quyền đình công được hành xử trong giới mức do luật pháp thiết định" ( Điều 40, id.). - các nhóm áp lực thuộc nhiều lãnh vực, kinh tế, chính trị, chức nghiệp, văn hoá, tôn giáo..., mà hoạt động không được luật pháp minh nhiên đề cập đến, nhưng không phải vì đó mà có thể coi là có ảnh hưởng không tốt đẹp hoặc hoàn toàn tiêu cực đối với cuộc sống cộng đồng Quốc Gia. Bởi lẽ các nhóm áp lực vừa kể, trong cuộc sống cộng đồng Quốc Gia, là những tổ chức phát triển kiến thức, văn hoá, luân lý góp phần bảo vệ và phát huy giá trị con người và xã hội mà tổ chức Quốc Gia cần có được để chu toàn bổn phận phục vụ con người của mình ( Temistoles Martines, op. cit., 155). - các tổ chức xã hội trung gian, trung gian giữa con người và cơ chế Quốc Gia, môi trường sống thích hợp với bản tính hợp đoàn, xã hội của con người, như người La Tinh thường nói: " Homo animal sociale est " ( Con người là chủ thể sống động có khuynh hướng xã hội). Và đó là lý do tại sao Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đứng ra bảo đảm, không những phẩm giá và các quyền con người, như mỗi chủ thể riêng rẻ, mà còn cả con người với tư cách là thành phần các tổ chức xã hội trung gian: * " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như các nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Các tổ chức xã hội trung gian đó là gia đình, học đường, hiệp hội văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo " trong đó con người có điều kiện thuận tiện và được trợ giúp phát triển nhân cách của mình và góp phần vào cuộc sống dân chủ " ( Panunzio, Riforma delle istituzioni e partecipazione popolare, in Quaderno Costituzionali, 1992, 551). - các phong trào bộc phát, như phong trào học sinh, sinh viên, phong trào bảo vệ môi trường, phong trào tẩy chai thuốc phiện..., là những tổ chức xã hội trung gian, bộc phát nói lên trạng thái không thoả mãn về phương diện học vấn, văn hóa, xã hội mà đường lối và phương thức tổ chức, quản trị của những ai có nhiệm vụ đối với Quốc Gia không đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của họ ( Temistocles Martines, op. cit., 248-249). - các tổ chức thiện nguyện, cùng trợ lực với các cơ cấu Quốc Gia trợ giúp người nghèo khổ, tàn tật, đơn côi, thiếu phương tiện, được Viện Bảo Hiến xác nhận giá trị cao cả của các động tác nhân bản mà các tổ chức thực hiện cho đồng bào và người đồng loại của mình. Đó là: * " những giá trị xã hội và vai trò các hoạt động của người thiện nguyện ( volontariato), như là cử chỉ thể hiện việc tham gia, liên đới và đa nguyên trong cộng đồng xã hội" ( Corte Cost., sent. 243 del 1987; Legge 11.08.1991, n. 266). Đươn kết các động tác cá nhân hay xã hội trung gian vào các hoạt động của cơ chế tổ chức Quốc Gia, để " Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội ", đã được chính Hiến Pháp tiền liệu mà chúng ta đã có dịp trích dẫn ở trên: * " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ cho con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Với thể thức tuyên bố vừa kể, tổ chức Quốc Gia Ý, và chúng tôi cũng ước gì đó là tâm thức của Việt Nam Cộng Hoà trong tương lai, có ý xác nhận rằng: * " Trong tổ chức Quốc Gia, không phải con người để phục vụ Quốc Gia, mà là Quốc Gia được tổ chức để phục vụ con người, với ý nghĩa mục đích của Quốc Gia là để bảo đảm cho con người được phát triển toàn vẹn nhân cách của mình và bảo vệ các quyền của con người" ( Mortati Costantino, Costituzione ( Dottrina Generale), Giuffré, Milano 1956, 140). Nói tóm lại, với phương thức Dân Chủ Đa Nguyên, quyền lực Quốc Gia được chuyển giao cho nhiều chủ thể hành xử khác nhau, cũng không có mục đích gì khác hơn là để tránh độc tài lạm quyền và phục vụ con người, mục đích tối thượng của tổ chức Quốc Gia và vì là chủ nhân quyền lực Quốc Gia. d) Nguyên tắc bình đẳng. Và rồi đặc tính dân chủ của một Quốc Gia Dân Chủ thực sự, không chỉ hệ tại ở việc Hiến Pháp tuyên bố Dân Chủ trên lý thuyết, mà còn tiền liệu các phương thức thiết thực, để thực hiện và thực hiện có hiệu quả những gì mình tuyên bố. Ước gì Hiến Pháp của Việt Nam trong tương lai cũng tiền liệu những phương thức, để biến Dân Chủ thuyết lý thành Dân Chủ thực hữu Và đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã tiền liệu: * " Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến và địa vị cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đải vì lý do phái tính, sinh trưởng,chủng tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hay xuất xứ, niềm tin, ý kiến tôn giáo hay chính kiến" ( Điều 3, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và đây là phương thức Hiến Pháp tiền liệu, bằng cách quy trách cho chính tổ chức Quốc Gia có nhiệm vụ tạo các điều kiện thích hợp để người dân được hưởng quyền bình đẳng thực hữu: * " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.). Nói tóm lại, ngoài ra các đặc tính Dân Chủ trực tiếp, Dân Chủ luận phiên, Dân Chủ tham dự của nền Dân Chủ nguyên thủy Hy Lạp, nền Dân Chủ hiện đại của chúng ta cần phải có những đặc tính: - Dân Chủ đại diện, - Dân Chủ đa nguyên, - Dân Chủ bình đẳng, - Dân Chủ đa số, với thành phần thiểu số được tôn trọng và có thực quyền đối lập. - Dân Chủ với quyền hành phải được kiểm soát trước, đang khi và sau khi được người dân ủy quyền. ( cfr. - ĐA ĐẢNG VÀ CHÍNH ĐẢNG ĐỐI LẬP TRONG HIẾN PHÁP DÂN CHỦ; - CHÍNH ĐẢNG TRONG HIẾN PHÁP HIỆN ĐẠI; - QUỐC HỘI KIỂM SOÁT ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO QUỐC GIA ).

 

VIỆT NAM CỘNG HOÀ LÀ MỘT QUỐC GIA NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ, Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia - Nhân Bản và Dân Chủ, - Đại Nghị Chế, - Can thiệp vào kinh tế và xã hội, - Tản Quyền, - Phi Tôn Giáo, - và Mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế. - ( "Thuần nhứt" ( unique) hay " Liên Bang" ( féderal)?) Sau trên 60 bài viết thuộc lãnh vực các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, người viết cũng muốn dựa vào các hiểu biết thu thập được, để thử nêu lên những đặc tính thiết yếu mà mình nghĩ cần có cho một nước Việt Nam trong tương lai, một khi chế độ độc tài, độc đảng không còn nữa. Những đặc tính thiết yếu để bảo vệ và phát huy Con Người và bảo đảm cho phương thức hành xử Dân Chủ tôn trọng con người, chúng tôi vừa liệt kê ra ở đầu bài. Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu rõ rệt hơn từng đặc tính, để nói rõ những gì chúng ta mơ ước cho Việt Nam trong tương lai. A - Cộng Hoà. Điều 1của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc xác định: - " Ý Quốc là một Quốc Gia Cộng Hoà, dân chủ, được đặt trên nền tảng làm việc" ( Điều 1, đoạn 1). Trong khi đó thì điều 20 của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng tuyên bố: - " Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia liên bang, dân chủ và xã hội" ( Điều 1, đoạn 1). Cả hai bản văn của hai Quốc Gia đều cho thấy Hiến Pháp quy hướng thể chế tương lai của đất nước là thể chế Cộng Hoà. Nói cách khác, các vị soạn thảo Hiến Pháp của hai Quốc Gia được tuyển chọn và giao cho trách nhiệm soạn thảo ra thể chế căn bản cho tương lai đất nước, bởi một xã hội mà đa số dân chúng đồng thuận lấy phương thức Cộng Hoà là phương thức thích hợp với nguyện vọng của họ, để điều hành đất nước. Điều 1 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, cũng như điều 20 của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức không chỉ giới hạn tuyên bố Ý hay Đức Quốc là một Quốc Gia Cộng Hoà, mà còn xác định thêm đặc tính cá biệt của nền Cộng Hoà đó. Đó là " Cộng Hoà Dân Chủ ". Bởi lẽ chúng ta cũng có Cộng Hoà Đảng Trị, độc tài, độc đảng, sáp nhập, không còn phân biệt giữa đảng phái chính trị và cơ chế Quốc Gia, như từ ngữ " Đảng và Nhà Nước" đang được dùng trên một Đất Nước độc đảng bất hạnh.. Và rồi không những tuyên bố để xác định thể chế, " Cộng Hoà " là thể chế để tổ chức và điều hành Đất Nước, các vị soạn thảo hai Hiến Pháp vừa kể còn xác quyết là thể chế bât di dịch của Quốc Gia: - " Thể thức Cộng Hoà không thể là đối tượng cho việc tu chính Hiến Pháp" ( Điều 139, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Cũng vậy, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng xác định tính cách bất di dịch của thể chế đã được xác định: - " Không thể chấp nhận bât cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender), đến việc các Tiểu Bang tham dự vào tiến trình lập pháp hay đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). ( Điều 1, liên quan đến nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người, và điều 20 là điều khoản định nghĩa Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Cộng Hoà, chúng ta trích dẫn ở trên). Như vậy giả sử ai đó có tinh thần bảo hoàng, có ý đồ muốn thiết lập lại thể chế Quân Chủ trên Đất Nước, không thể dựa vào các phương thức pháp lý để thoả mãn được nguyện vọng mạo hiểm đó. Bởi lẽ - " Cộng Hoà không thể là đối tượng cho việc tu chính Hiến Pháp" - hay " Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổu nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến ...các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20). Như vậy con đường duy nhứt còn lại là một cuộc cách mạng, đảo chánh, để đạp đổ không những thể chế Cộng Hoà mà cả cấu trúc hiến định trên đó nền Cộng Hoà được xây dựng. Thể chế Cộng Hoà để tổ chức cơ chế Quốc Gia, là thể chế đối ngược lại thể chế Quân Chủ. Các tiêu chuẩn để phân biệt giữa Công Hoà và Quân Chủ là tính cách đại diện của Vị Nguyên Thủ Quốc Gia Cộng Hoà phải được ân chúng tuyển chọn. Tinh cách đại diện đó - không do việc tuyển chọn do phổ thông đầu phiếu hay hay tuyển chọn qua cơ quan dân cử ( Lưỡng Viện Quốc Hội) và đại diện của các Vùng, như trường hợp Ý Quốc ( Điều 83, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - hay chỉ do Quốc Hội Liên Bang trong phiên hợp khoáng đại (Bundesversammlung), như ở Cộng Hoà Liên Bang Đức ( Điều 54, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Bởi lẽ phương thức tuyển chọn, thể chế Quân Chủ trong quá khứ cũng đã áp dụng, để tuyển chọn vua và hiện nay Hồng Y Đoàn cũng tuyển chọn Đức Giáo Hoàng, Vị Nguyên Thủ Quốc Gia của Quốc Gia Vatican và là Vị Lãnh Đạo Tôn Giáo của Giáo Hội Công Giáo. Nhưng không ai có thể coi vua trong quá khứ và Đức Giáo Hoàng hiện tại là những người đại diện cho thể chế Cộng Hoà. Tính cách đại diện do đó không phải hệ tại ở phương thế tuyển chọn, bầu cử, cho bằng đặc tính Vị Nguyên Thủ Quốc Gia vẫn tiếp tục liên kết chặt chẻ với cộng đồng xã hội mà ông là biểu tượng và cộng đồng xã hội đó có quyền thiết định hạn kỳ đối với phận vụ của ông: - " Tổng Thống Cộng Hoà là Vị Nguyên Thủ Quốc Gia và đại diện cho sự đoàn kết của Đất Nước" ( Điều 87, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - " Tổng Thống Cộng Hoà được tuyển chọn cho thời gian kéo dài 7 năm " ( Điều 85, đoạn 1, id.). B - Nhân Bản và Dân Chủ. 1 - Nhân Bản. Đọc hai Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, hai Hiến Pháp mà người viết được học hỏi và làm việc trong nhiều năm, cũng như hầu hết các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, ai trong chúng ta cũng thấy được đặc tính Nhân Bản nổi bậc mà các Hiến Pháp đặt ngay ở những điều khoản đầu tiên của phần I, nói lên tính cách quan trọng và trung tâm điểm của thể chế Nhân Bản, chủ đề mà Hiến Pháp muốn cho ai đọc và đem ra áp dụng hành xử cũng phải chú ý. Nói một cách tổng quát, các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu gồm có hai phần: - phần I: tuyên bố dưới hình thức mệnh lệnh tính ( préceptive) phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người, - phần II: tuyên bồ dưới hình thức mô tả để xác định ( descriptive) tổ chức các cơ chế Quốc Gia, cấu trúc và phương thức hoạt động, thế nào để cơ chế Quốc Gia ( lập pháp, hành pháp và tư pháp ) được coi là phương tiện, được dùng bảo vệ và phát huy những giá trị Nhân Bản và Dân Chủ được tuyên bố ở phần I, như là mục đích mà vì đó, Quốc Gia được thiết lập để phục vụ: Quốc Gia được thiết lập để phục vụ con người, thường được tuyên bố dưới thể thức chương trình hành động ( programmatique). Hiểu như vậy, chúng ta thấy được tại sao Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố về phẩm giá con người ngay ở điều 1, đoạn 1 của phần I ( điều 1-19), ngay từ lúc Hiến Pháp khởi đầu tuyên bố như là một mệnh lệnh không được vi phạm: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Cùng trong tâm thức đó, đây là câu tuyên bồ của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ở điều 2, phẩn I ( điều 1-54), phần liên quan đến nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người, như chúng ta đã đề cập: - " Nền Cộng Hoà nhận biết ( riconosce) và bảo đảm ( garantisce) các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc dùng từ ngữ rất chính xác và có ý nghĩa, dùng động từ " nhận biết " ( riconoscere) , để tuyên bố " phẩm giá" " các quyền bất khả xâm phạm của con người". Động từ " nhận biết " ( hay nhận ra, trong việt ngữ), riconoscere là động từ kép, gồm " ri ": một lần nữa; " conoscere ": biết. Như vậy " ri + conoscere" ( reconnai^tre , Pháp ngữ): nhận biết hay nhận ra một lần nữa. Điều đó có nghĩa là phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người, được gắn liền với " bản thể" ( substantia, La ngữ) mà mỗi con người có được ngay từ lúc được tượng thai trong lòng mẹ. Trong khi đó thì Quốc Gia được sinh ra, khi nhiều con người họp tại, chung sống với nhau, tạo thành cộng động Quốc Gia, như định nghĩa trong chính trị học: - " Quốc Gia là một thực thể gồm một tập thể dân chúng, cùng sống trên một lãnh thổ, được tổ chức theo một thể chế". Như vậy, khi một tập thể dân chúng họp lại chung sống với nhau, cùng sống trên một lãnh thổ, được tổ chức theo một định chế, tập thể con người đó khai sinh ra một Quốc Gia. Quốc Gia được tập thể con người khai sinh ra, mở mắt chào đời, phải biết " nhìn ra" hay " nhận biết " ( riconosce) con người là cha mẹ, là chủ nhân đã sinh trưởng ra mình, với phẩm giá và các quyền mà con người đã có trước khi sinh ra mình, để kính trọng và bảo vệ con người, cha mẹ và chủ nhân của mình: - " ...Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1b Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Quốc Gia phải biết " nhận ra "" bảo vệ" ai là người đã sinh ra mình, với phẩm giá và các quyền sống xứng đáng như là con người, do chính bản thể con người đòi buộc và đó là cùng đích của sự hiện hữu và tồn tại của Quốc Gia, " biết kính trọng và bảo vệ nhận phẩm đó" . Nói cách khác, Quốc Gia được thiết lập để phục vụ con người, chớ không ngược lại. Phẩm giá và các quyền sống xứng đáng với địa vị con người của mình do bản tính của con người đòi buộc, từ lúc con người có bản tính của mình, được thụ thai trong lòng mẹ, chớ không phải do Quốc Gia thiết định, thêm bớt hay cắt xén thế nào tùy hỷ. Đớ là những gì Linh Mục Luigi Sturzo, sáng lập viên Đảng Đại Chúng Ý Quốc ( Partito Popolare Italiano) dõng dạc tuyên bố trong đại hội thành lập Đảng: - " Đối với chúng tôi, Quốc Gia không bóp nghẽn, không tiêu hũy, không tác tạo ra các quyền của con người, của gia đình, của xã ấp, của đoàn thể, của tôn giáo. Quốc Gia chỉ " nhân biết và bảo vệ ", phối hợp các quyền đó trong giới hạn hoạt động của mình" ( Don Luigi Sturzo, Il Partito Popolare, vol II : Popolarismo e Fascismo ( 1924), Zanichelli, Bologna 1956, 107). Và rồi các Hiến Pháp văn minh Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu không những xác định nguồn gốc và đặc tính Nhân Bản của tổ chức Quốc Gia, trong đó phẩm giá và quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người phải được " nhận biết và bảo đảm" hay " trọng kính và bảo vệ", mà còn tiến liệu các phương thức thực hữu để bắt buộc bất cứ ai, cá nhân, đoàn thể hay Chính Quyền đều phải tôn trọng: - " Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây, là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và không những bắt buộc " phải tôn trọng, ...có giá trị bắt buộc trực tiếp", có nghĩa là " phía bên kia không được ", hay tuyên bố các quyền con người dưới hình thức tiêu cưc, " cấm ngặt..., phía bên kia không được..., phải tôn trọng...", Hiến Pháp còn quy trách cho tổ chức Quốc Gia phải tạo điều kiện thuận tiện, để con người được hưởng các quyền của mình một cách tích cực, để Thăng Tiến cá nhân và Thăng Tiến xã hội : - Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của con người, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Những gì vừa được đề cập, chúng tôi đã có dịp bàn đến trong các bài: - TỰ DO TÍCH CỰC VÀ TỰ DO TIÊU CỰC, - PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP - THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ, NHỮNG ĐẶC TÍNH, - TỰ DO CÁ NHÂN TRONG THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ).

 

( Thử phát hoạ một bản dự thảo Hiến Pháp cho Việt Nam trong tương lai, chắc chắn con nhiều thiếu sót, mong mọi người đóng góp ý kiến . Bài viết chỉ có mục đích làm tài liệu tham khảo cho những ai có lòng với tương lai Đất Nước). I - CÁC QUYỀN CĂN BẢN 1 - Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ của dân tộc Việt Nam nhìn nhận ( nhận biết ) các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, nền tảng của mọi tổ chức cộng đồng nhân loại, chung sống tôn trọng lẫn nhau, thân hữu, hoà bình và công chính. Quốc Gia Việt Nam có bổn phận kính trọng và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình. Các quyền căn bản được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với các cơ chế Quốc Gia, như là những quyền đòi buộc trực tiếp. Không có bất cứ một trường hợp nào một quyền căn bản của con người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó. 2 - Tự do cá nhân bất khả xâm phạm. Mỗi người có quyền được bảo toàn mạng sống, toàn vẹn thân thể và danh dự của mình. Mỗi người được tự do triển nở hoàn hảo nhân phẩm của mình, miễn là không làm tổn thương đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý. Không thể chấp nhận bất cứ mọi hình thức bắt giam, lục soát, điều tra,kiểm soát, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào khác, nếu không có trát án có lý do của tư pháp, và chỉ trong các điều kiện và theo thể thức luật định. Trong các trường hợp cần thiết và khẩn cấp được luật pháp định rõ, nhân viên công lực có thể thi hành những biện pháp tạm thời, nhưng phải thông báo cho tư pháp trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó. Và nếu trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ kế tiếp, nếu cơ quan tư pháp không xác nhận biện pháp được áp dụng, biện pháp phải coi là bị thu hồi và vô hiệu lực. Mọi người bị tạm giữ đều phải được lập tức đưa đến trước vị thẩm phán, để vị thẩm phán báo cho biết lý do bị bắt giữ và cho đương sự có thể nói lên các lý do của mình để biện luận. Lập tức sau đó, vi thẩm phán hoặc xác nhận án trát có lý chứng giam giữ bằng văn bản, hoặc phải ra lệnh trả tự do tức khắc cho đương sự. Cơ quan công lực không có quyền giam giữ bất cứ ai quá ngày hôm sau khi bị bắt giữ. Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và đàn áp hăm dọa trên tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt. 3 - Mọi người đều có địa vị xã hội như nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đải vì lý do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội. Quốc Gia Việt Nam có bổn phận dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện được kể, là những chướng ngại vật, trong khi giới hạn trên thực tế tự do và bình đẳng của người dân, cản trở họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở. 4 - Tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tín ngưỡng là những quyền bất khả xâm phạm. Mọi nguời đều có quyền tự do phát biểu tư tưởng của mình, tuyên xưng niềm tin dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân cũng như đoàn thể và bằng mọi phương tiện ( lời nói, chữ viết và hình ảnh), truyền bá giáo lý của mình và tế tự nơi riêng tư cũng như công cộng, miễn là lời lẽ của giáo lý và nghi thức cử hành không xúc phạm đến thuần phong mỹ tục. 5 - Tổ chức Quốc Gia và các tôn giáo là những thực thể tự lập, mỗi thực thể tự lập tổ chức trong các sinh hoạt thuộc lãnh vực của mình, nhưng cùng liên hệ nhau, giúp cho mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo toàn vẹn con người của mình và nhờ đó có thể góp phần xây dựng một cách thiết thực vào cuộc sống của Đất Nước. 6 - Mọi người đều có quyền phát biểu tư tưởng của mình bằng lời nói, chữ viết và mọi phương tiện truyền thông khác ; có quyền được thông tin, không ai được cấm cản, từ những nguồn tin mà ai cũng có thể biết được. Mọi hành động cắt xén kiểm duyệt đều không thể được chấp nhận. Mọi hành vi khuynh đảo, xuyên tạc cố ý đánh lạc hướng, gian dối, thông tin xuyên tạc sự thật đều có thể bị truy tố trước pháp luật. Quyền tự do ngôn luận có những giới hạn theo chỉ thị của các đạo luật tổng quát, dựa vào các quy chế liên quan đến việc bảo vệ giới trẻ và bảo vệ quyền của mỗi người được tôn trọng danh dự của mình. Báo chí, kịch nghệ, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình và những hình thức phát biểu tư tưởng và nghệ thuật khác không thể bị bất cứ một sự cắt xén kiểm duyệt nào, nếu được trình bày không trái với thuần phong mỹ tục và không vi phạm đến con người trong danh dự của mình. Luật pháp sẽ thiết định thể thức thích hợp để tiên liệu và ngăn cấm các lạm dụng. 7 - Quyền được giáo dục là quyền bất khả xâm phạm của mỗi cá nhân. Học đường được mở ra cho tất cả mọi người. Nền học vấn được giảng dạy miễn phí và bắt buộc trong thời gian 12 năm. Bổn phận của Quốc Gia là tiên liệu cho người dân có mọi phương tiện cần thiết và thích ứng, cho phép người dân được hưởng quyền và chu toàn bổn phận nầy. Các học viên có khả năng và đáng được giúp đở , có quyền được theo học đến các trình độ cao nhứt của nền giáo dục Quốc Gia. Quốc Gia có bổn phận biến quyền nầy thành thiết thực, bằng cách cấp học bổng, phụ cấp gia đình và mọi hình thức tiền liệu khác, qua các cuộc thi tuyển. 8 - Nghệ thuật, khoa học, nghiêng cứu và giáo huấn là những lãnh vực tự do. Tuy nhiên tự do đó không thể đứng ra ngoài hay ngược lại những nguyên tắc nền tảng về quyền và tự do của con người, cũng như đối với thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của Quốc Gia được Hiến Pháp nầy xác định. Quốc Gia có bổn phận kiểm soát tổ chức giáo dục. Quốc Gia có bổn phận soạn thảo ra những quy tắc tổng quát và chương trình cho giáo dục, thiết lập học đường ở mọi cấp và mọi ban ngành cho tất cả mọi người. Phụ huynh và những ai có bổn phận và quyền giáo dục con cái, có quyền quyết định cho con cái theo học các lớp giáo dục tôn giáo. Các môn học tôn giáo được giảng dạy ở trường công cũng như trường tư như những môn học khác, ngoại trừ các tư thục bày tỏ chủ trương khác. Mặc dầu Quốc Gia có quyền kiểm soát tổ chức giáo dục, các môn học tôn giáo phải được giảng dạy hợp với giáo lý của các cộng đồng tôn giáo. Không có giáo chức nào bị bắt buộc dạy các môn học tôn giáo, nếu họ không muốn. Mở tư thục là quyền được bảo đảm. Quốc Gia có bổn phận trợ lực và khuyến khích các tư thục như là những tổ chức cung cấp cho người dân các điều kiện thuận lợi để hưởng quyền được giáo dục của mình. Trường tư thục thay thế cho trường công phải được Quốc Gia cho phép. Muốn được cho phép, các tư thục không được thấp kém hơn các trường công về trình độ học vấn, về tổ chức, cũng như kiến thức khoa học của các giảng viên, và nhứt là không có mục đích phân chia học viên tùy theo khả năng kinh tế của phụ huynh. Tư thục sẽ không được cho phép nếu địa vị pháp lý và kinh tế của các giảng viên không được bảo đảm. Các viện văn hóa cao đẳng, đại học và hàn lâm viện có quyền có những quy chế tự lập trong lằn mức luật pháp quốc gia. 9 - Hôn nhân và gia đình được hưởng sự bảo vệ và nâng đở đặc biệt của quy chế Quốc Gia. Quốc Gia dành mọi phương thức dễ dãi về kinh tế và những tiền liệu khác để gia đình được thành lập, như là tổ chức xã hội trung gian tự nhiên cua con người và để iúp cho cha mẹ chu toàn các nhiệm vụ liên hệ của mình, nhứt là đối với gia đình đông con. Quốc Gia bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ, bảo vệ trẻ thơ và tuổi trẻ. Các cơ quan và thể chế sẽ được thiết lập để thi hành các bổn phận nầy. Chăm sóc và giáo dục con cái là quyền tự nhiên của cha mẹ và là nhiệm vụ chính yếu của họ. Quốc Gia có nhiệm vụ kiểm soát và giúp đở họ. Con cái chỉ có thể bị tách khỏi gia đình ngược lại ý muốn của những ai có quyền giáo dục, dựa trên một điều khoản luật và chỉ trong trường hợp bất khả kháng của những ai có quyền giáo dục không chu toàn nhiệm vụ của mình, hoặc trong trường hợp con cái có thể thiệt thòi vì bị bỏ rơi. Quyền lập pháp sẽ bảo đảm cho những đứa con tự nhiên cũng có được mọi điều kiện để phát triển thế xác và tinh thần , cũng như địa vị xã hội của những đứa con chính thức. 10 - Mọi người có quyền tự do hội họp ôn hòa, không võ trang và không cần phải xin phép trước, ở những nơi riêng tư cũng như ở những nơi được mở ra cho dân chúng. Đối với những cuộc hội họp ở các nơi công cộng, cần phải báo trước .Vì lý do an ninh chung hoặc để tránh gây thương tích cho dân chúng, Chính Quyền có thể không cho phép, với lý do chính đáng có lý chứng. 11 - Mọi người có quyền tự do gia nhập hội, không cần phải xin phép, để đạt được những mục đích mà hình luật không cấm đoán đối với cá nhân. Các hội kín hoặc các tổ chức có ý đồ đạt được mục đích chính trị bằng bạo lực, dẫu gián tiếp, đều bị cấm đoán. Mọi người có quyền gia nhập hội để bảo vệ và thăng tiến các điều kiện kinh tế và nghề nghiệp. Tổ chức chỉ cần được ghi vào danh sách công cộng các hiệp hội và nội quy của tổ chức phải được soạn thảo phù hợp với tinh thần dân chủ, tự do và nhân bản. Các hiệp hội được ghi vào danh sách công cộng là những tổ chức có tư cách pháp nhân. Đại diện của hiệp hội có quyền ký hợp đồng lao động có hiệu lực đối với các thành viên cùng nghề nghiệp trên toàn quốc. Quyền đình công phải được thi hành trong giới mức luật định. Mọi hiệp hội hay chính đảng, mà mục đích hoặc có hoạt động ngược lại các điều khoản của hình luật, chống lại thể chế dân chủ, tự do và nhân bản của Hiến Pháp nầy hoặc ngược lại nguyên tắc chung sống thân hữu và hòa bình giữa các dân tộc, là những tổ chức bất hợp hiến. Tình trạng bất hợp hiến sẽ do Viện Bảo Hiến quyết định. 12 - Quyền tự do và bí mật thư tín, cũng như mọi hình thức giao tiếp và truyền thông khác là quyền bất khả xâm phạm. Các quyền nầy chỉ có thể bị giới hạn bởi án trác có lý do của tư pháp, trong các trường hơp và theo thể thức luật định . Nếu việc giới hạn liên quan đến sự bảo vệ thể chế dân chủ, tự do và nhân bản của Hiến Pháp hay đến sự tồn vong của Quốc Gia Cộng Hoà Việt Nam Tự Do, luật pháp có thể quyết định vấn đề sẽ không thông báo cho đương sự và thay thế cho tư pháp, Quốc Hội sẽ thành lập các Ủy Ban Đặc Nhiệm. 13 - Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú trên mọi phần đất thuộc lãnh thổ và lãnh hải Quốc Gia Việt Nam, trừ ra những truờng hợp giới hạn được luật định một cách khái quát vì lý do y tế và an ninh, trường hợp thiên tai, bệnh truyền nhiểm, hoạt động quân sự để bảo toàn thể chế dân chủ, tự do và nhân bản của Quốc Gia, bảo đảm cho thanh thiếu niên thiếu mất sự chăm sóc của phụ huynh hay những ai có trách nhiệm và để phòng ngừa những hành vi can tội hình sự. Không có bất cứ trường hợp nào bị giới hạn vì lý do chính trị. Mọi người có quyền tự do xuất ngoại và trở về nội địa Quốc Gia, chỉ trừ các trường hợp bó buộc do luật định. 14 - Gia cư là lãnh vực bất khả xâm phạm. Cấm ngặt mọi hành vi đột nhập, lục soát, trưng thu , nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp và trong các trường hợp và theo thể thức luật định dựa trên nguyên tắc bảo vệ an ninh, tự do và nhân phẩm cá nhân, và thể chế hiến định Quốc Gia. Các việc kiểm chứng và lục soát vì lý do y tế và an ninh công cộng, vì lý do kinh tế và thuế vụ phải được những đạo luật chuyên biệt tiền định và phải có án trác có lý chứng của tư pháp. 15 - Mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi làm việc , nơi đào tạo và cải tiến nghề nghiệp. Quốc Gia có bổn phận đào tạo nghề nghiệp và thăng tiến chức nghiệp; thiết định thời gian tối đa của ngày làm việc và quyền của người làm việc được nghỉ ngơi hàng tuần, thời gian nghỉ hàng năm có lương, không ai được khước từ chối bỏ hăy bất tuân. Hoạt động hành nghề có thể được pháp luật thiết định lề lối và phương thức. 16 - Tư sản và quyền thừa kế được luật pháp bảo vệ. Nội dung và giới hạn được luật pháp thiết định, để chỉ định phương thức chiếm hữu, thụ hưởng và lằn mức giới hạn để bảo đảm vai trò xã hội và điều kiện để mọi người đều có thể xử dụng được. Quyền tư hữu, trong các trường hợp luật định, sau khi được bồi thường, có thể bị truất hữu, vì lý do công ích. Lượng số của giá trị bồi thường phải được tính công bình theo hữu dụng cho công ích và giá trị thiệt thòi đối với đương sự tư nhân. Mọi bất đồng ý kiến về trị giá của việc bồi thường có thể đưa đến tư pháp với toà án thường vụ phán đoán. Luật pháp sẽ định đoạt các quy chế, giới mức của việc thừa kế, di chúc và quyền hạn của Quốc Gia trên di sản. 17 - Sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do căn bản của mọi người. Không ai có quyền hoạt động kinh tế ngược lại với lợi ích xã hội, gây tai hại cho sự an ninh, môi trường làm việc có hại cho sức khoẻ, tổn thương đến tự do và nhân phẩm con người và thể chế hiến định Quốc Gia. Luật pháp thiết định chương trình và các việc kiểm soát thích hợp để hoạt động kinh tế công cũng như tư có thể phối hợp và định hướng cho lợi ích xã hội. Để có thể xử dụng một cách hiệu năng và đất đai và các mối liên hệ bình đẳng xã hội, luật pháp có thể xác định giới mức và các quy chế bắt buộc đối với chủ đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất về diện tích đất đai, số lượng tài nguyên và giá trị các phương tiện sản xuất để biến cải cho người cày có ruộng, công nhân có thể tham dự vào phương thức quản trị và tài sản xí nghiệp nơi mình làm việc. Quốc Gia có bổn phận trợ lực người dân hoán cải các tài nguyên thiên nhiên thành những cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ và trung hạn, với hệ thống pháp luật và việc giúp vốn để nâng đở phát triển cho giới nông dân, tiểu thương gia và tiểu công nghệ, nhằm đưa đến một nền kinh tế phát triển đều khắp. 18 - Mọi người làm việc đều có quyền được thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm. Dù sao đi nữa, số lượng thù lao cũng phải đủ để bảo đảm cho người làm việc và cho gia đình mình có được một cuộc sống khang trang. Mọi người làm việc có quyền được tiên liệu các phương tiện thoả đáng, đáp ứng lại các nhu cầu cần thiết cho cuộc sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh hoạn, tật nguyền, già nua và thất nghiệp ngoài ý muốn. 19 - Người phụ nữ làm việc cũng có mọi quyền như nam giới và được thù lao như nhau đối với việc làm như nhau. Dù sao đi nữa, các điều kiện làm việc cũng phải được thiết định thế nào, để người phụ nữ làm việc cũng có thể chu toàn phạn vụ thiết yếu của mình trong gia đình và cung cấp cho người mẹ và trẻ thơ một sự bảo vệ đặc biệt. 20 - Quốc Gia Việt Nam bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của mỗi cá nhân và lợi ích của cộng đồng Quốc Gia. Quốc Gia có bổn phận chửa trị miển phí cho những ai thiếu phương tiện. Không ai bị bắt buộc bị áp đặt chữa trị bằng phương cách trái với ý muốn của mình, nếu trường hợp không phải được luật pháp định sẵn nhằm bảo đảm an ninh và sức khoẻ công cộng. Mọi yếu tố liên quan đến sức khoẻ và đời sống của cá nhân thuộc lãnh vực riêng tư phải được tôn trọng, theo thể thức luật định liên quan đến nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm và danh dự con người. Không có bất cứ trường hợp nào, luật pháp không thể vi phạm lằn mức bắt buộc liên quan đến việc tôn trọng nhân phẩm con người. 21 - Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu thốn phương tiện cần thiết để sống, có quyền được Quốc Gia trợ giúp để sống còn và mọi trợ cấp cần thiết khác về an sinh xã hội. Mọi công dân không có khả năng và khiếm khuyết có quyền được giáo dục và huấn nghệ để có thể khởi công nghề nghiệp và cuộc sống xứng đáng. Các quyền được kể trong điều khoản nầy sẽ được giao cho các cơ quan sẽ được thiết lập để thực thi và bổ khuyết. 22 - Quốc Gia Việt Nam bảo vệ quyền làm việc là quyền căn bản của con người, dưới mọi dạng thức và mọi áp dụng. Quốc Gia có bổn phận cung cấp cho mọi công dân nền giáo dục thoả đáng để phát triển trí tuệ và nghề nghiệp, có bổn phận thiết lập các trung tâm huấn nghệ và thăng tiến nghề nghiệp, dành mọi điều kiện dễ dàng để khuyến khích mọi công dân học hỏi thăng tiến trí tuệ và chức nghiệp của mình. Quốc Gia có bổn phận phát động và dành mọi dễ dãi cho các thỏa ước và tổ chức quốc tế nhằm định chế và hiệu lực hoá các quyền làm việc. 23 - Mọi công dân Việt Nam trưởng thành đều có quyền bầu cử và ứng cử. Quốc Gia Việt Nam có bổn phận bảo đảm cho mọi cuộc bầu cử của người dân là những cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng, và kín. Quyền bầu cử và ứng cử chỉ có thể bị giới hạn do việc bất khả năng dân sự hay do bản án hình sự vĩnh viễn, hoặc vì đời sống luân lý bất xứng. 24 - Mọi công dân đều có quyền thành lập và gia nhập chính đảng, để cùng nhau hợp tác theo phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị Quốc Gia. Nội quy của chính đảng và hoạt động ra bên ngoài của các thành vviên phải phù hợp với tinh thần dân chủ, tự do và nhân bản của Hiến Pháp. Các chính đảng có mục đích hay các thành viên thuộc hệ có những hành vi nhằm khuynh đảo thể chế nhân bản và dân chủ hay hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Việt Nam Tự Do, là những chính đảng vi hiến. Tính cách, trường độ và nổng độ của cách hành xử vi hiến sẽ do Viện Bảo Hiến phán quyết. 25 - Mọi người đều có quyền hội họp, hoà bình yên lành và không võ trang. Những cuộc hội họp ở tư gia và các nơi được mở ra cho công chúng không cần phải xin phép. Những cuộc họp ở nơi công cộng cần phải báo trước cho công quyền sở tại. Cơ quan công quyền có thể từ chối không cho phép, chỉ khi nào có lý chứng vì lý do an ninh công cộng và để bảo vệ công chúng. 26 - Mọi người đều có quyền tự do tuyên xưng và truyền bá niềm tin tôn giáo của mình, dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân cũng như công cộng, miễn là không vi phạm đến niềm tin của người khác hay xúc phạm đến phẩm giá, danh dự của con người. Nơi riêng tư cũng như nơi công cộng, tế tự là quyền tự do, miễn là những nghi thức tế tự không vi phạm đến thuần phong mỹ tục. 27 - Mọi công dân có quyền bình đẳng được chấp nhận vào các chức vụ công cộng và giao cho các chức vụ của những người được tuyển chọn, theo những tiêu chuẩn luật định. Ai được đắc cử vào các chức vụ công cộng, có quyền dùng hoàn toàn thời gian của mình để chu toàn chức vụ dân cử và có quyền tồn giữ được vai trò và địa vị nghề nghiệp của mình trước đó, trong suốt thời gian phục vụ công ích. 28 - Mọi công dân đều có bổn phận thiêng liêng bảo vệ Quốc Gia. Thi hành quân dịch có tính cách bắt buộc trong giới mức luật định. Người công dân thi hành quân dịch không bị tổn thất về vị trí nghề nghiệp trước đó, cũng như thiệt thòi trong việc hành xử các quyền chính trị của mình. Thể chế tổ chức quân đội được thiết định phù hợp với tinh thần dân chủ và tôn trọng nhân phẩm con người. 29 - Mọi công dân có bổn phận cộng tác vào các chi phí của Quốc Gia. Hệ thống thế vụ và bổn phận cộng tác vào các tổ chức và chi phi Quốc Gia được thiết định theo tiêu chuẩn lủy tiến trên khả năng lợi tức. 30- Không ai có thể bị bắt buộc cá nhân mình đứng ra phục vụ hay cung cấp tài sản, của cải cho công ích Quốc Gia, nếu không dựa trên nền tảng luật pháp đã được thiết định. 31 - Mọi công dân có quyền đơn phương, chung với các cá nhân khác, hay nhờ các vị đại diện dân cử hoặc cùng với các chính đảng và tổ chức xã hội trung gian , chuyển đạt thỉnh nguyện thư đến Quốc Hội để yêu cầu Quốc Hội soạn thảo các đạo luật hoặc trình bày nguyện vọng lợi ích cho cuộc sống Quốc Gia. 32 - Bất cứ ai bị các tổ chức quyền lực Quốc Gia vi phạm các quyền và tự do của mình, đều có thể đệ đơn thưa đến tư pháp.Tư pháp có quyền xét xử các việc kiện tụng, giữa tư nhân cũng như đối với công quyền. Quốc Hội sẽ thành lập một Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Quyền, nơi mà bất cứ ai cũng có thể chuyển đạt thỉnh nguyện để bênh vực cho chính mình hoặc bênh vực người khác, mỗi khi nhân quyền bị hâm dọa hay vi phạm. Người dân cũng có thể đệ đơn tố cáo trực tiếp đến Viện Bảo Hiến, nếu thấy rằng cách hành xử vi phạm của Hành Pháp là thái độ và ộng tác vi hiến. 33 - Luật pháp phải có giá trị phổ quát, chớ không riêng rẻ cho từng trường hợp. Luật pháp có tính cách giới hạn phải đề cập rõ ràng đến quyền căn bản và trích dẫn một hay những điều khoản liên hệ của Hiến Pháp nầy về quyền đã được tuyên bố, lằn mức giới hạn và thể thức trong đó Hiến Pháp cho phép được thi hành. Không thể được chấp nhận bất cứ điều khoản nào của luật pháp, trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó và nhân phẩm con người bị xúc phạm. 34 - Không thể chấp nhận bất cứ tòa án đặc biệt nào được lập ra cho các trường hợp cá biệt, nhứt là được lập ra cho các trường hợp đang được xét xử. Các Tòa Án về những vấn đề đặc biệt phải được thành lập trước, do luật pháp ấn định. Loại Tòa Án Nhân Dân không thể được chấp nhận, bởi lẽ quyền tư pháp chỉ có thể được giao cho các vị đại diện dân có thẩm quyền về luật pháp và độc lập đối với bất cứ định kiến chính trị nào. Không ai có thể bị thuyên chuyển ra khỏi thẩm quyền xét xử của vị thẩm phán đã được luật pháp tiền định. Các thẩm phán nhập ngạch vĩnh viễn và các thẩm phán chuyên nghiệp, chỉ bị giải nhiệm truớc nhiệm kỳ, cấm hành nghề vĩnh viễn hay thuyên chuyển đi nơi khác, cho về hưu trước định kỳ, do tư pháp quyết định và vì những lý do được luật pháp ấn định trước. Mọi hình thức giảm thiểu tự do đều có mục đích giáo dục và cãi hóa phạm nhân, không phải là cơ hội để hành hạ, trả thù, phục hận. Moi cách đối xử vô nhân đạo đối với phạm nhân đều bị cấm ngặt và trừng phạt. Thời gian bị giảm thiểu tự do cũng có mục đích chuẩn bị một cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai cho chính mình và cho cộng đồng Quốc Gia, cũng như để góp phần tích cực bù đấp lại phần nào những thiệt hại mình đã gây nên cho người khác. Quốc Gia Việt Nam không chấp nhận án tử hình. 35 - Để tránh những phương thức hành xử thiên vị bất công, luật pháp có thể thiết định những giới mức quyền gia nhập chính đảng, hiệp hội đối với các thẩm phán, quân nhân tại ngủ đang hoạt động tích cực, nhân viên cảnh sát công lực, các đại diện ngoại giao đoàn và nhân viên sứ quán ở hải ngoại. Trong thời gian tại chức, vị thẩm phán không thể được chấp nhận hành xử một nghề nghiệp nào khác có thể tạo nên lợi lọc riêng tư, ngoài ra nghề giáo sư về luật pháp tại các đại học quốc gia hay tại các học viện luật pháp hải ngoại, nếu được sự đồng thuận của cơ chế quốc gia. 36 - Không thể chấp nhận bất cứ một sự thay đổi hay loại bỏ nào đối với điều 1, liên quan đến việc kính trọng nhân phẩm con người bất khả xâm phạm, và điều ( sẽ dề cập đến trong phần II, tổ chức Cơ Chế Quốc Gia ), liên quan đến thể chế Dân Chủ, Tự Do và Nhân Bản của Cộng Hoà Việt Nam Tự Do. 37 - Các điều khoản khác của Hiến Pháp nầy có thể được tu chính sửa đổi bằng một đạo luật, được 2/ 3 đại diện Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận và qua hai lần biểu quyết cách nhau không dưới 3 tháng. Trong trường hợp bỏ phiếu lần thứ hai chỉ đạt được đa số tuyệt đối của các thành viên Quốc Hội, điều khoản liên quan phải được quyết định qua một cuộc trưng cầu dân ý. 38 - Tính cách hợp hiến hay vi hiến của các đạo luật sẽ được Viện Bảo Hiến quyết định. Viện bảo Hiến sẽ quyết định tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến của luật pháp do Quốc Hội chuẩn y, cách hành xử của Hành Pháp và các phán quyết của Tư Pháp, nếu được Chính Quyền ( Trung Ương), ( một Chính Quyền Địa Phương) hay Cộng Đồng Địa Phương ( Hội Đồng Vùng), 1/3 đại biểu của một Viện Quốc Hội, Tổ Chức Nghiệp Đoàn, Kinh Tế, Xã Hội hay 50.000 cử tri đề nghị duyệt xét. ( Phần II về TỔ CHỨC CƠ CHẾ QUỐC GIA theo phương thức DÂN CHỦ, như là phương thế và dụng cụ nhằm bảo vệ và phát huy phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người và những giá trị của Quốc Gia, sẽ được đề cập đến, khi biết được VIỆT NAM trong tương lai sẽ là QUỐC GIA THUẦN NHỨT hay QUỐC GIA LIÊN BANG )

 

" Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị Quốc Gia " ( Điều 49, Hiến pháp 1947 Ý Quốc ) . 1 - Chính đảng, người dân và tổ chức Quốc Gia. Chúng tôi vừa trích dẫn điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc về quyền tự do của người dân gia nhập chính đảng và qua chính đảng thiết định đường lối chính trị Quốc Gia. Đọc lại những tài liệu của thời soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, chúng ta nhận thức được khai khuynh hướng khác biệt rõ rệt: - một đàng việc xếp đặt vị trí của điều khoản thiết định liên quan đến các chính đảng vào tiếc mục các mối liên quan chính trị đối với tổ chức Quốc Gia, chớ không vào các tiếc mục đề cập đến hệ thống tổ chức các cơ chế Quốc Gia, và cũng đồng thời nhấn mạnh đến giá trị hiệp hội của chính đảng trong quy chế tổ chức chính đảng; - đàng khác các vị soạn thảo Hiến Pháp cũng nhấn mạnh đến giá trị của tổ chức và vị trí ảnh hưởng các chính đảng đến động tác trung gian giữa Cộng Đồng Dân Chúng trong Quốc Gia ( Stato - comunitaria ) và tổ chức Cơ Chế Quyền Lực Quốc Gia ( Stato - apparato) ( G. Pasquino, Rapporti politici, in Commentario della Costitnzione, a cura di G. Branca, art. 48-52, Zanichelli, Roma-Bologna, 1992, I, 7-15). Và theo nguyên ngữ của điều vừa trích dẫn, " mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập chính đảng " cho thấy ý nghĩa mới mẻ mà các vị soạn thảo Hiến Pháp muốn làm nổi bậc đặc tính mới của nền Dân Chủ, so với bản chất độc đảng độc tôn của thời Phát Xít Mussolini, đó là đặc tính đa nguyên của thể chế Dân Chủ mà mình muốn đem lại cho Quốc Gia Ý trong tương lai: đa nguyên là điều kiện thiết yếu của nền Dân Chủ . Bởi lẽ nếu " mọi công dân đều có quyền gia nhập chính đảng " nào mình muốn, điều đó hàm chứa ý nghĩa trong Quốc Gia phải có nhiều đảng, Quốc Gia đa đảng( C. Lavagna, Considerazioni sui caratteri degli ordinamenti democratici in Riv. trim. dir. pubbl., 1956, 416s). Còn nữa, câu tuyên bố vừa kể cho thấy đặc tính tích cực của cơ chế Quốc Gia. Quốc Gia không những không đứng ra cấm cản, " bịt miệng", " trấn nước " người dân, để họ khỏi lập ra Đảng Thăng Tiến, mà còn khuyến khích người dân " hãy gia nhập chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ". Quốc Gia Dân Chủ tích cực là vậy. a - Hoạt động. Đa nguyên là nền tảng của các luật lệ liên hệ sinh hoạt của Dân Chủ và là bảo chứng cho tự do so tài đọ sức giữa các sức mạnh chính trị trong Cộng Đồng Quốc Gia. Có so tài, đọ sức, tranh thủ nhau mới làm cho Đất Nước phát triển và tiến bộ, loại bỏ đi những sai lỗi thiếu sót, các thái độ ù lì, chểnh mảng, thiên vị không hiệu lực và hiệu năng. Độc tài, độc đảng không những " cậy tài ỷ thế " đưa đến hậu quả đàn áp người dân, bởi lẽ không ai dám phản kháng, để cho kẻ được giao phó trách nhiệm hành xử tùy hỷ quyền lực Quốc Gia, - làm ít hay làm nhiều cũng được, - làm lợi thiên vị cho phe nhóm cũng được, - hay ngồi khoanh tay bất động hưởng nhàn cũng được - phung phí công qủy một cách vô trách nhiệm, thiếu khả năng chuyên môn quản trị cũng được ! Đất Nước làm sao tiến được, khi giới hành xử " độc tài, đôc đảng, đảng trị " hành xử quyền của người dân như vậy? ( P. Ridola, Partiti Politici, in Enc. dir. XXXII, Milano 1982, 72), Kế đến ngoài ra phương diện " tập thể " của nền tự do và bình đẳng giữa các chính đảng trong các hoạt động mưu ích cho Quốc Gia, phần lớn nguyên tắc của điều 49 Hiến Pháp 1947 được trích dẫn còn đặt quyền tự do gia nhập chính đảng của người dân liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người. Bất cứ người dân đó ở vị trí nào, là cá nhân riêng rẻ hay là thành viên của các tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình, cá nhân đó cũng là con người được Hiến Pháp bảo vệ nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình, như là những giá trị tối thượng và là trung tâm điểm mà tổ chức quyền lực Quốc Gia nhằm đến: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình, và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Và với đoạn văn kế đến của điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang bàn, - " để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ", cho thấy Hiến Pháp đặt một lằn mức rõ rệt cho các lối hành xử độc tài chính trị bằng cách chỉ cấu kết, hạn hẹp phe nhóm giới hạn trong chính đảng, cũng như chỉ giới hạn, cấu kết các chính đảng với nhau tạo ra " quả đầu chế " ( oligarchica) trong việc thiết định chính hướng và xử dụng quyền lực Quốc Gia ( V. Crisafulli, I Partiti nella Costituzione, in Jus, 1969, 11). Đây chính là khía cạnh nổi bậc trong quan niệm chính đảng của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc. Chính đảng là dụng cụ nền tảng trung gian điều giải ( mediazione) và quy tựu đúc kết các ý kiến chính trị , - là gạch nối giữa dân chúng và giới hành quyền trong các cơ quan công quyền, - chính danh hay bất chính danh hoá phương thức hành xử quyền lực Quốc Gia của giới đương quyền, được dân chúng biểu quyết đồng thuận hay phản đối, * qua tiếng nói của các chính đảng với các dân biểu đại diện đang hiện diện trong Quốc Hội, * cũng như qua cách tỏ thái độ " ủng hộ hay phản bác " trong các hoạt động thường nhật của chính đảng ( C. Esposito, I partiti nella Costituzione italiana, Saggi, Padova 1954, 224s). Trong trường hợp trái lại, tức là người dân không có quyền tự do " gia nhập chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia " , các chính đảng không được thành lập, phương tiện trung gian chuyển đạt ý kiến người dân để " cùng nhau cộng tác thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ", Nền Cộng Hoà Dân Chủ không thể nào thực hiện được, bởi lẽ không có ý kiến của người dân " cùng nhau cộng tác để thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ", nền Dân Chủ đó được đặt trên nền tảng nào? Trên nền tảng của nhóm " quả đầu chế " ( oligarchia) hay của " độc tài, độc đảng trị " chăng? ( P. Perlingieri, La personalità umana nell'ordinamento giuridico, Camerino - Napoli 1972, 173). b - Tổ chức nội bộ. Đối với nội bộ, tổ chức của chính đảng, phải được tổ chức theo phương thức dân chủ, bởi lẽ đối tượng và mục đích của của tổ chức chính đảng chính là người dân, chủ thể duy nhứt được Hiến Pháp nhìn nhận có quyền " cộng tác theo phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ", nhờ vào chính đảng như là các dụng cụ hữu hiệu - có khả năng nói lên nguyện vọng của mình đối với Đất Nước, " - đường lối chính trị Quốc Gia " mà mình muốn thiết định ( G, Ferri, Studi sui partiti politici, Roma 1950, 135). Hiểu như vậy, người dân là khởi điểm và là cùng đích của các chính đảng. Các chính đảng được người dân " có quyền tự do gia nhập", thành lập thành phương thế hay dụng cụ, để mình dùng nói lên nguyện vọng, định hướng của mình để tổ chức và quản trị Quốc Gia và nhờ đó Quốc Gia hoạt động hữu hiệu và hiệu năng để phục vụ mình và phục vụ đồng bào mình (G. Astuti, Natura e funzione dei partiti politici, in Iustizia, 1958, 370). Như vậy, - không những hoạt động của chính đảng ra bên ngoài phải là những hoạt động theo phương thức dân chủ, - mà cả cách tổ chức nội bộ của chính đảng cũng phải là tổ chức dân chủ, bởi lẽ con người là khởi điểm và cùng đích của chính đảng. Và đó cũng là những gì Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố một cách chi tiếc hơn: - " Các chính đảng cộng tác tạo thành ý muốn của dân chúng. Thành lập chính đảng là quyền tự do, nội quy của chính đảng phải thích hợp với các nguyên tắc dân chủ...". " Các chính đảng có mục đích hay thái độ hành xử của các thành viên thuộc hệ nhằ mục đích gây phương hại hay loại trừ định chế nền tảng dân chủ tự do hay hăm doạ sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng vi hiến. Về vấn đề tính cách vi hiến, chính Viện Bảo Hiến Liên Bang quyết định " ( Điều 21,đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Như vậy từ tổ chức nội bộ cũng như hoạt động đối ngoại, các chính đảng đều phải thích hợp với các nguyên tắc dân chủ, là phương thức được cả hai Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, xem chính đảng - như là phương tiện trung gian,trung gian giữa người dân và tổ chức cơ chế Quốc Gia, để định hướng tổ chức các cơ chế ( lập pháp, hành pháp, tư pháp, ở phần II của Hiến Pháp), - nhưng là tổ chức như các dụng cụ hay phương tiện dùng để bảo vệ và phát huy phẩm giá con người, như là những giá trị trung tâm điểm và tối thượng, được Hiến Pháp nêu lên ở phần I. Quyền thành lập và tổ chức chính đảng là quyền thuộc về những người dân đồng thuận thành lập chính đảng. Nhưng không phải là quyền vô hạn định, mà là được Hiến Pháp công nhận và bảo vệ, - nhằm mục đích thăng tiến con người, " nơi mỗi cá nhân phát triển con nguời của mình " ( điều 2, Hiến Pháp 1947) - và thực hiện hoàn bhảo hóa nền dân chủ, * không phải chỉ là dân chủ thuyết lý, hay đơn sơ dựa trên tính toán uy lực của đa số, * mà là dân chủ năng động, tham dự, được tổ chức dựa trên nền tảng bình đẳng của các thành viên và dựa trên mục đích thực hiện các giá trị tối thượng và phẩm giá con người ( P. Perlingieri, La personalità umana nell'ordinamento giuridico, Camerino - Napoli 1972, 63ss e 67ss). Điều đó cho thấy tầm quan trọng của nguyên tắc dân chủ trên cách tổ chức cuộc sống của nhóm người trong đảng, - ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức quyền lực theo hình kim thự tháp thông thường của chính đảng ( chủ tịch, phó chủ tịch, cố vấn, nội bộ, đối ngoại, tài chánh, ủy ban...) - mà còn ảnh hưởng quyết định đến các phương thức kiểm soát để bảo vệ cá nhân của thành viên cũng như thành phần thiểu số trong chính đảng ( M.A. Urcioli, La tutela del singolo nei partiti, Napoli 1990, 95-108). Trong nhãn quang vừa kể, đặt môi tương quan giữa điều 49 đang bàn với điều 67 của cùng Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, - " Mỗi thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội đại diện cho cả Quốc Gia và hành xử phận vụ của mình mà không phải chịu áp lực của bất cứ một mệnh lệnh nào " ( Điều 67, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), chúng ta thấy rõ chiều hướng quan trọng của những gì được hai điều khoản tuyên bố liên hệ nhau, không những thành viên của chính đảng không phải bị ảnh hưởng mệnh lệnh tính bắt buộc nào của thành phần lãnh đạo chính đảng sai khiến, - mà là thể hiện tiếng nói liên tục từ cộng đồng đã ủng hộ và khuyến khích người gia nhập chính đảng và cùng với chính đảng * " để cùng nhau cộng tác theo thiết định phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia " ( Điều 49, id.), - và là đại diện cho Cộng Đồng Quốc Gia ( Stato - Comunità ) định hướng cho các cấu trúc, liên hệ hoạt động trong cuộc sống Quốc Gia ( P. Ridola, Partiti politici, in Enc. dir., Milano 1982, 107-108). 2 - Thành lập, gia nhập chính đảng là quyền chính trị. Đọc điều 49 đang bàn của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, chúng ta thấy Hiến Pháp xác định rõ là " mọi công dân ", cho thấy rằng quyền gia nhập chính đảng là quyền thuộc lãnh vực chính trị, nên chỉ dành riêng cho thành phần người công dân của Đất Nước, người ngoại quốc không có quốc tịch ( cittadinanza, quyền công dân) không được có quyền nầy. Đó cũng là những gì Hội Đồng Cố Vấn Quốc Gia ( Consiglio di Stato ) trong phiên họp ngày 15.06.1994, n. 626 đã xác nhận: - " Quyền gia nhập để thiết lập chính đảng chỉ dành riêng cho các công dân ". Ngoài ra mối tương quan giữa quyền người dân có quyền được gia nhập chính đảng nào mình muốn là một quyền cá nhân bất khả xâm phạm và quyền của tổ chức các chính đảng có thể hạn chế các thành phần bất đồng với chính kiến của mình, có nhiều cuộc tranh cải bàn thảo đã được đưa ra - từ khuynh hướng xác quyết đó là một quyền bất khả xâm phạm, ( A. Bardusco, L'Ammissione dei cittadini ai partiti politici, Giuffré, Milano 1967, 72), - cho đến quan niệm cho rằng : " quyền gia nhập chính đảng không loại trừ, mà tiên liệu như là điều kiện phải có đã được thoả thuận giữa ý muốn gia nhập của những người đã là thành viên và những ai đang muốn vào " ( A. Tesauro, I partiti politici nella comunità nazionale ed internazionale, in Studi in onore di Scaduto, V, Cedam, Padova 1970, 135) . Nhưng dù sao đi nữa, - một chính đảng dân chủ phải hành xử thế nào để không làm tổn thương một quyền bất khả xâm phạm cá nhân, - nhưng đồng thời cũng bảo vệ được nhóm người trong chính đảng có quyền tiên liệu những phương thức cần thiết để bảo vệ căn tính chính trị của nhóm mình. Thật vậy, các chính đảng là dụng cụ thích hợp đặc biệt và không thể khuất bóng trong việc tham dự vào đời sống chính trị Quốc Gia. Bởi đó việc người dân, trong thể chế, " chủ nhân tối thượng hành xử quyền lực Quốc Gia ", không thể vì hiệu lực của một vài điều khoản nội quy nào đó bị loại ra bên ngoài, không được vào chính đảng, không còn có khả năng nói lên tiếng nói của mình, cũng như góp phần chỉnh hướng hoạt động của chính đảng, để đem lại lợi ích chung cho đường lối chính trị Quốc Gia chính đáng phải có. Kéo thẳng thừng đến một mức nào đó, hiệu lực của các điều khoản nội quy khiến cho chính đảng không còn có phương thức " củng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ " nữa, " để thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ". Chính đảng đó không còn là chính đảng dân chủ và khiến cho cơ quan tư pháp phải duyệt xét lại nội quy của chính đảng. Hay nói như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Các chính đảng có mục đích hay hành động của các thành viên thuộc hệ...gây phương hại hay loại trừ định chế nền tảng dân chủ tự do hay hăm doạ sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức là những chính đảng vi hiến " ( Điều 21, đoạn 2, Hiến Pháp 1949 Cộng hoà Liên Bang Đức). Đàng khác nếu người dân có ý gia nhập chính đảng để lật đổ, phá hoại đảng, người dân đó cũng bị Hiến Pháp xác nhận là đã tự mình lên án mình, làm mình mất đi những quyền mà ai sống trong thể chế dân chủ cũng có và được Hiến Pháp bảo đảm: - " Ai lạm dụng quyền tự do phát biểu tư tưởng, nhứt là tự do báo chí ( điều 5, đoạn 1), tự do giảng dạy ( điều 5, đoạn 3), tự do hội họp ( điều 8), tự do gia nhập hội ( điều 9), tự do bí mật thư tín, bưu điện và các phương tiện viễn thông ( điều 10), tự do tư hữu ( điều 14), tự do tỵ nạn ( điều 16, đoạn 2) để chống đối lại định chế nền tảng dân chủ và tự do, sẽ bị mất các quyền nầy. Sự mất mác và trương độ của nó sẽ do Viện Bảo Hiến Liên Bang phán quyết " ( Điều 18, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Dân chủ là vậy ! Dân chủ không có nghĩa là loạn, " ai muốn làm gì thì làm ", mà là sống trong khuôn thước và hành xử trong lằn mức được định chế dân chủ thiết định. Ai đó là ai cũng vậy, là một cá nhân hay tổ chức chính đảng cũng vậy: - " Quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân. Người dân hành xử quyền nầy theo thể thức và trong lằn mức hiến định " ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã dành đến 15 đạo luật để diễn tả mối tương quan giữa tổ chức Quốc Gia Ý và Cộng Đồng Quốc Tế (điều 10, đoạn 1-4; 11; 26; 35,3 và 4; 72, 4; 75, 2; 78; 80; 87,9 và 9). Trong khi đó thì Hiến Pháp trước thế chiến II ( 1939-1945), mà người Ý gọi là Nội Quy Albertino (Statuto Albertino) chỉ nói sơ qua về việc giới hạn các cơ chế Quốc Gia trong quyết định tuyên chiến và ký kết các thoả ước quốc tế. Cách hành xử vừa kể của các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc cho thấy phản ứng của các vị và cũng là phản ứng của dân chúng Ý chống lại thái độ khép kín, quốc gia cực đoan, bài ngoại của chế độ Phát Xít, đã đưa đất nước đến đổ nát, chết chóc và kiệt quệ gần như phá sản của Benito Mussolini trong cuộc chiến vừa kết thúc lúc đó. Với Hiến Pháp 1947, Ý Quốc muốn thể hiện - ý chí mở rộng cửa biên giới Quốc Gia, - hội nhập vào Cộng Đồng Quốc Tế, - bảo đảm và phổ biến những giá trị Nhân Bản mà Hiến Pháp 1947 xem là những giá trị tuyệt đối bất khả xâm phạm. I - Trên lý thuyết. A - Đối nội Những giá trị đó được Hiến Pháp long trọng tuyên bố ngay ở điều 2 và điều 3, trong thân bài của Hiến Pháp và tuyên bố như là những đạo luật thực định ( lois positives), dưới hình thức mệnh lệnh tính ( préceptive ) bắt buộc phải tôn trọng và tạo mọi điều kiện để thực thi: - “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình, và đòi buộc, không ai có thể thiếu, chu toàn các bổn phận liên đới chính trị, kinh tế và xã hội ” (Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - “ Mọi công dân đều có địa vị xã hội như nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, hoàn cảnh cá nhân và xã hội ” (Điều 3, đoạn 1, id.). Nói một cách ngắn gọn, tự do, bình đẳng và công lý là những gía trị tối thượng và bất khả xâm phạm của con người mà Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đứng ra bảo đảm, chống lại cách hành xử tệ hại đê tiện hoá con người của chế độ Phát Xít vừa qua. Hiến Pháp đặt những giá trị tối cao đó vào chính thân bài và địa vị ưu tiên ở những điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp như là những đạo luật thực định bắt buộc, vì là những nguyên tắc nền tảng bất di dịch ( từ điều 1-12 ).. Nhưng muốn bảo đảm những giá trị tối thượng cao qúy đó, Quốc Gia Ý không thể chỉ giới hạn tuyên bố thành đạo luật và bắt buộc tuân giữ trong khuôn viên biên giới nội địa Quốc Gia. Bởi lẽ hành động hạn hẹp như vừa kể, sớm muộn gì rồi người Ý cũng phải đối đầu với những vấn đề liên hệ ở bên ngoài biên giới, ảnh hưởng đến cả đời sống ở nội địa. Đó là những gì ông Piero Calandrei, một thành viên lãnh đạo đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (Democrazia Cristiana) đã nêu lên lúc đó, trong thời kỳ soạn thảo Hiến Pháp: - “ Chính hướng của Dân Chủ Thiên Chúa Giáo không ngừng lại và kết thúc trong khuôn viên biên giới Quốc Gia. Thực tế đã quá nhiều lần ai cũng thấy rỏ rằng thể chế toàn trị và độc tài ở nội địa, sớm muộn gì cũng trở thành thể chế quốc gia cực đoan và chiến tranh đối với ngoại bang ” (Calandrei Piero, Costituente italiana e federalismo europeo, in Scritti e discorsi politici, I, La Nuova Italia , a cura Norberto Bobbio, Firenze, 1966, vol. I, 414). Một nhà lãnh đạo khác của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, ông De Gasperi, trong Đệ I Đại Hội Đảng năm 1946 cũng đã tuyên bố tương tợ để bảo vệ giá trị tự do và công lý của con người: - “ Cũng như đối với nội địa, trong đường lối chính trị đối ngoại, mối tương quan giữa người dân đối với quốc Gia, cũng như người dân Ý đối với Cộng Đồng Quốc Tế, nỗ lực của chúng ta là bênh vực và bảo vệ tự do và công lý cho mọi người ” ( Pellizzari, Congressi Nazionali della Democrazia Cristiana, I, 93). Tư tưởng vừa kể cho thấy quyết tâm của những vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là bênh vực và bảo đảm tự do, bình đẳng và công lý cho mọi người, bất cứ ở đâu và đối với bất cứ ai. Và đó là những gì các vị viết ra ở điều 10 của Hiến Pháp, nguyên tắc đối ngoại, một trong những nguyên tắc căn bản bất di dịch, nền tảng trên đó Quốc Gia Ý sẽ được xây dựng: - “ Định chế pháp lý Ý Quốc phải thích nghi với luật lệ tổng quát quốc tế được thừa nhận ” (Điều 10, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Và để bảo đảm cho những gì vừa tuyên bố, trong điều kiện bình đẳng với các Quốc Gia khác, dân tộc Ý sẵn sàng giảm thiểu quyền tối thượng của Quốc Gia mình để tạo được một định chế chung sống hoà bình và hợp tác với Cộng Đồng Quốc Tế: - “ Ý Quốc loại trừ chiến tranh như là dụng cụ để tấn công tự do các dân tộc khác và như là phương thức để giải quyết các mối bất đồng quốc tế.Trong các điều kiện đồng đẳng với các Quốc Gia khác, Ý Quốc đồng ý có những giới hạn cần thiết về quyền tối thượng của mình để bảo đảm hòa bình và công chính giữa các Quốc Gia. Khuyến khích và dành mọi dễ dàng cho các tổ chức quốc tế nhằm đạt được mục đích vừa kể ” (Điều 11, id.). Qua những gì vừa bàn và trích dẫn ở trên, chúng ta thấy rằng ý chí của các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là bênh vực và bảo đảm tự do, bình đẳng và công lý cho mọi người: - “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân triển nở con người của mình…” (Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Để thực hiện quyết tâm đó, ở nội địa các vị thiết định các phương thức để thực hiện định hướng “ nhận biết và bảo vệ ” các giá trị tối thượng tự do, bình đẳng và công lý cho con người. Hiến Pháp - sắp đặt các câu tuyên bố thành vào thân bài của Hiến Pháp, - đặt ở vị trí nổi bậc của các điều khoản đầu tiên - tuyên bố thành những đạo luật thực định có tính cách bắt buộc ( precettiva) chớ không phải chỉ có tính cách tuyên bố diễn tả (descrittiva) tư tưởng, - và quy trách trực tiếp cho cơ chế Quốc Gia là chủ thể phải chịu trách nhiệm trực tiếp, “ bổn phận của nền Cộng Hoà là ” phải đứng ra chịu trách nhiệm thực thi những giá trị được Hiến Pháp đứng ra bảo đảm: - “ Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở ” (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). B - Đối ngoại. Về phương diện đối ngoại, các vị thiết định - dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge), đặt điều kiện và lằn mức đối với các nhà lập pháp sau nầy, qua đạo luật được tuyên bố ở điều 10, đoạn 1 vừa kể: - “ Định chế pháp lý ( ordinamento giuridico) Ý Quốc phải thích nghi với luật lệ tổng quát quốc tế được thừa nhận” (Điều 10, đoạn 1 id.). Trước hết thành ngữ “ định chế pháp lý ” ( ordinamento giuridico), trong một Quốc Gia nói lên hệ thống luật pháp được soạn thảo ra và được “ chuẩn y ” do chính Quốc Hội. Điều đó có nghĩa là Hiến Pháp chỉ dành quyền cho Quốc Hội mới có thẩm quyền “ chuẩn y hay bát bỏ ” các luật lệ có liên quan đến mối tương giao qua pháp luật nội địa và luật pháp được Cộng Đồng Quốc Tế thừa nhận. Hình thức dành quyền giới hạn cho luật pháp ( riserva di legge) vừa kể cho thấy Hiến Pháp không cho phép Hành Pháp hay bất cứ một cơ quan nào khác có quyền ra “ nghị định, pháp lệnh, nghị quyết…” tùy hỷ, mà không được Quốc Hội chuẩn y và nhứt là không đuợc tự mình áp dụng sau đó. Những loại “ nghị định, pháp lệnh, nghị quyết…” như vừa kể của Hành Pháp để áp dụng trong các hoạt động đối ngoại là sẽ là những văn bản vi hiến. Và rồi ngay cả Quốc Hội soạn thảo, chuẩn y hay bát bỏ các điều khoản luật như vừa nói, các đạo luật đó hay “định chế pháp lý ”, cũng bị Hiến Pháp giới hạn, phải “ phù hợp ” với luật lệ được Cộng Đồng Quốc Tế thừa nhận, đó là " dành quyền giới hạn tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge) , nếu Quốc Hội không muốn vấp phạm vào những hành vi “ vi hiến ”, và các đạo luật được Quốc Hội chuẩn y sẽ được coi là vô hiệu lực. Cũng trong cùng tinh thần đó, - “định chế pháp lý Ý Quốc phải phù hợp với luật lệ tổng quát quốc tế đuợc thừa nhận ”, mà Quốc Hội có nhiệm vụ duyệt xét lại những đạo luật đối ngoại được ban hành trước khi Hiến Pháp 1947 ra đời và xoá bỏ đi những đạo luật được coi là “ không phù hợp ” với “luật lệ tổng quát quốc tế được thừa nhận” ( A. Cassese, Principi Fondamentali, in sub art 10., in Commentario della Costituzione, a cura di G. Branca art 1-11, Bologna-Roma 1975, 495). Nói tóm lại, để đáp ứng nhu cầu bênh vực và bảo vệ quyền tự do, bình đẳng và công lý cho mọi người, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được biểu dương dưới hai phương diện: - tương giao giữa các Quốc Gia: *để bảo vệ tự do, điều 11 của Hiến Pháp 1947 xác nhận Ý Quốc “loại bỏ chiến tranh như là dụng cụ làm tổn thương đến tự do của các dân tộc khác ” (Điều 11, đoạn 1 Hiến Pháp1947 Ý Quốc). *để bảo vệ công lý, bảo đảm hoà bình và công chính giữa các Quốc Gia , Ý Quốc “ khuyến khích và dành mọi dễ dàng cho các tổ chức quốc tế được tổ chức nhằm đạt được mục đích vừa kể ”(Điều 11 id.). - tương giao trên bình diện cá nhân, cũng như giữa cá nhân và tổ chức Quốc Gia: giá trị của quyền tự do cá nhân là giá trị tối thượng, không những chỉ có người công dân mà bất cứ ai là người, đều phải được hưởng các quyền tự do căn bản, bất khả xâm phạm của mình. Do đó, điều 2 Hiến Pháp 1947 không đề cập đến các quyền căn bản bất khả xâm phạm của “ người công dân ”, mà là các quyền của “ con người ”: - “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người…” (Điều 2, id.). Qua những gì chúng ta vừa đề cập, chúng ta có thể nói rằng đoạn 1, điều 10 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã thiết định một đạo luật nguyên tắc nền tảng cho mọi mối tương giao quốc tế giữa Quốc Gia và Cộng Đồng Quốc Tế, theo tinh thần bênh vực và bảo đảm tự do, bình đẳng và công lý, những giá trị tối thượng bất khả xâm phạm được Hiến Pháp đứng ra bảo đảm cho mọi người,không phân biệt - “… phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội” (Điều 3, đoạn 1, id.). II - Phần áp dụng. a) Và sau đây là những áp dụng thực tế được tuyên bố thành những đạo luật tiếp theo trong cùng một điều khoản: - “ Tư cách pháp lý của người ngoại quốc được xác định bằng luật pháp phù hợp với các điều khoản luật và thoả ước quốc tế ” (Điều 10, đoạn 2, id.). Qua điều khoản của đoạn luật hiến pháp vừa trích dẫn, đã quen với từ ngữ của luật pháp, chúng ta có thấy được dễ dàng rằng Hiến Pháp lại dành quyền hạn chế luật pháp ( riserva di legge) cho Quốc Hội, qua các từ ngữ “ …được xác định bằng luật pháp ”. Hành Pháp không có quyền ra nghị định, pháp lệnh, nghị quyết tùy hỷ để thiết định tư cách pháp lý của người ngoại quốc trên đất Ý. Chỉ có Quốc Hội mới có quyền “ chuẩn y hay bác bỏ ” các điều khoản luật có giá trị liên hệ. Và rồi chính Quốc Hội cũng không thể có toàn quyền “ chuẩn y hay bác bỏ ” luật lệ thế nào tùy hỷ. Các đạo luật liên hệ đến tư cách pháp lý của người ngoại quốc trên đất Ý phải “ phù hợp ” với các điều khoản và thoả ước quốc tế, nếu không muốn trở thành là những điều khoản luật vi hiến, phương thức " dành quyền tăng cường đối với luật pháp " ( A. Cassese, Principi Fondamentali, op. cit., 515). b) Áp dụng thực tế kế tiếp diễn tả một cách rõ rệt đặc tính của Hiến Pháp, nhằm đặt trọng tâm vào việc bảo vệ nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người: - “ Người ngoại quốc, nơi quê hương mình thực sự bị cấm cản hành xử các quyền tự do được Hiến Pháp Ý bảo đảm, có quyền được tỵ nạn trên lãnh thổ Ý, theo các điều kiện được luật pháp thiết định ” (Điều 10, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy, chỉ có một điều kiện duy nhứt được đặt ra là “ nơi quê hương của mình thực sự bị cấm cản hành xử các quyền tự do được Hiến Pháp Ý bảo đảm ”. Chỉ cần người ngoại quốc đương cuộc nơi quê hương của mình không thực sự được hưởng các quyền tự do, xứng đáng với nhân phẩm con người mà Hiến Pháp Ý “ nhận biết và bảo vệ …” (Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - “ là Quốc Gia Ý mở tung cửa cho anh được hưởng tự do trên đất nước Ý ” ( A. Cassese, Principi fondamentali, op. cit., 532). Có thể trên Hiến Pháp hay trong định chế pháp lý của Quốc Gia nào đó đang được đề cập liên quan đến người ngoại quốc đương cuộc cũng xác nhận bênh vực và bảo vệ các quyền tự do căn bản trên lý thuyết ( libertés formelles). Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là người ngoại quốc đương cuộc có được hưởng thực sự các quyền tự do ( libertés substantielles) mà Hiến Pháp 1947 Ý Quốc “ nhận biết và bảo đảm ” như là giá trị tối thượng của con người hay không. Ý nghĩa của câu nói vừa trích dẫn cho thấy cách hành xử của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là một thái độ hoàn toàn có tính cách nhân bản, không cần biết mối liên hệ thế nào giữa cá nhân đang bàn và Quốc Gia, nơi anh cư ngụ trước kia. Trong thời gian soạn thảo Hiến Pháp 1947, nhiều cuộc tranh cải sôi nổi được đưa ra. - Phe Cộng Sản cũng đồng thuận cho người ngoại quốc có quyền được hưởng quy chế tỵ nạn, nhưng chỉ cho những ai tích cực hoạt động chống chế độ độc tài. - Trong khi đó thì đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo và Dân Chủ Xã Hội cho rằng không cần đương sự có hay không đấu tranh cho tự do và vì đó bị đàn áp. Điều kiện ắt có và đủ để được hưởng quyền tỵ nạn trên đất Ý là đương sự đã sống ở một Quốc Gia mà các quyền tự do được Hiến Pháp Ý bảo đảm lại bị cấm đoán, khiến cho anh ta thực sự không được hưởng ( Pietro Perlingieri, Commento alla Costituzione Italiana, Edizione Scientifiche Italiane, Napoli, 2001, 55-56). Cũng vậy, mệnh đề “ …theo các điều kiện được luật pháp thiết định ” cho thấy một lần nữa Hiến Pháp dành quyền bảo đảm cho người tỵ nạn được giao cho Quốc Hội thiết định, để cấm Hành Pháp có thể lạm dụng, như những gì đã xảy ra cho người Do Thái trong lúc Mussolini hành quyền, ai trong chúng ta cũng nghe nói tới. c) Và áp dụng sau cùng của điều khoản luật liên quan đến mối tương giao Quốc Gia và Cộng Đồng Quốc Tế được Hiến Pháp 1947 nêu lên ở điều 10, đó là: - “ Không thể chấp nhận việc trao trả người ngoại quốc về nguyên quán vì lý do vi phạm các tội trạng chính trị ” (Điều 10, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều Hiến Pháp tuyên bố vừa kể được coi là kết quả thượng đỉnh của quyền được tỵ nạn chính trị trên đất Ý. Tầm quan trọng của đạo luật bao gồm tất cả mọi người tỵ nạn chính trị, kể cả những ai - “ không được hưởng hay không có quyền hưởng các quyền tự do thực sự trên quê hương họ, tự do mà Hiến Pháp Ý coi là những giá trị tối thượng của con người và đứng ra bảo vệ” ( A. Cassese, Principi Fondamentali, id. 547). Nói một cách rỏ hơn: đạo luật của điều 10, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 cấm mọi việc hoàn trả hay chuyển giao cho một Quốc Gia khác, những người ngoại quốc có quyền tỵ nạn chính trị hiện diện trên đất Ý. Không những vậy, đạo luật vừa kể còn ra lệnh cấm hẳn các cơ chế quyền lực Quốc Gia Ý, Hành Pháp cũng như Tư Pháp có quyền hoàn trả hay chuyển giao cho một Quốc Gia ngoại quốc người tỵ nạn, ngay cả là những người đã vi phạm tội trạng chính trị nơi Quốc Gia liên hệ. Nói cách khác điều 10 đoạn 4 Hiến Pháp 1947 ra lệnh cấm đoán các cơ chế liên hệ ngoại giao của mình có quyền ký thoả ước với các Quốc Gia khác, liên quan đến việc hoàn trả hay chuyển giao người ngoại quốc vi phạm tội trạng chính trị đang cư ngụ trên phần đất Ý Quốc. “ Tội chính trị ”: - về phương diện đối tượng: làm tổn thương đến một lợi ích hay một quyền chính trị của Quốc Gia, - vi phạm các quyền căn bản của con người mà chế độ không muốn hay chưa muốn chấp nhận (A. Cassese, Principi Fondamentali, op. cit., 553). Nói như vậy không phải là điều khoản của Hiến Pháp có thể bảo vệ những ai hành xử vi phạm những quyền tự do dân chủ mà Hiến Pháp đứng ra bảo vệ, những người có thái độ hành xử “ vô nhân đạo, tàn sát, diệt chủng ” nhu Pol Pot của Campuchia hay Milossovich của Nam Tư mới đây chẳng hạn. Điều 10, đoạn 4 vừa kể, cũng như đoạn cuối của điều 26 đề cập đến các công dân Ý: “ Không có bất cứ trường hợp nào trong đó có thể chấp nhận việc chuyển giao ( người công dânÝ ) vì tội chính trị ” (Điều 26, đoạn 2, id.). Đọc đoạn 2 của điều 26 vừa kể, người ta có cảm tưởng rằng người công dân Ý được ưu đải hơn người ngoại quốc nói cách chung, bởi lẽ thành ngữ “ không có bất cừ trường hợp nào…” nói lên tính cách tuyệt đối của đạo luật, trong trường hợp đương sự bị cáo là người công dân Ý. Trên thực tế không phải như vậy. Bởi lẽ tính cách tuyệt đối của tinh thần các đạo luật cấm hoàn trả hay chuyển giao đã được nêu lên trong điều 10, đoạn 4, cũng như trong điều 26, đoạn 2 vừa kể. Nói rằng “ Không thể chấp nhận việc trao trả về nguyên quán…vì tội trạng chính trị ” (Điều 10, đoạn 4, id.), hay tuyên bố “ Không có bất cứ trường hợp nào…chuyển giao ( người công dân Ý) về tội chính trị ” (Điều 26, đoạn 2, id.) cũng có cùng ý nghĩa như nhau. Sở dĩ các vị soạn thảo Hiến Pháp Ý xác nhận “ không thể có bất cứ trường hợp nào…” là để hiệu đính một cách chính xác hơn những gì các vị đã tuyên bố một cách tổng quát ở đoạn 1 của cùng một điều khoản: - “ Việc chuyển giao một công dân (Ý) có thể được cho phép trong trường hợp được xác định minh bạch bởi các công ước quốc tế ” (Điều 26, đoạn 1, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy câu tuyên bố ở đoạn 2 của điều 26 cho thấy các vị muốn đặt một giới hạn thật rõ ràng cho đạo luật có tính cách tổng quát vừa được đề cập ở điều 1. Bởi đó cho dầu trong các “…trường hợp được xác định minh bạch bởi các công ước quốc tế ” đi nữa, Hiến Pháp 1947 cũng cấm các cơ chế đặc nhiệm ngoại giao của mình ký thoả ước và thực hiện các việc hoàn trả hay chuyển giao người ngoại quốc (điều 10, đoạn 4, id.) hay người công dân Ý (điều 26, đoạn 2, id.), vì tội trạng chính trị. Nói cách khác, Hiến Pháp 1947 cấm tuyệt đối không ai được ký thoả ước và thực hiện sự chuyển giao cho Quốc Gia khác một người bị tố cáo vi phạm tội chính trị. Và đó là những gì Toà Phá Án ( Corte di Cassazione) đã xác định trong phiên toà năm 1949 (Cass. Sez. Un., 05.03.1949 , cit. A. Cassese, Principi Fondamentali, op. cit., 558). Còn nữa, như trên chúng ta đã nói, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được soạn thảo ra nhằm bảo vệ tự do, bình đẳng và công lý cho mọi người, công dân Ý hay người ngoại quốc cũng vậy, tại nội địa Ý Quốc hay ở một Quốc Gia ngoại quốc cũng vậy, tinh thần của bài đang viết. Bất cứ ở đâu, các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người có thể bị vi phạm, ngược lại điều 2 và điều 27 được Hiến Pháp đứng ra bảo đảm, là Hiến Pháp đặt điều kiện và giới hạn không thể vượt qua, trong mối tương giao quốc tế của mình. Điều 2 của Hiến Pháp xác nhận các quyền bất khả xâm phạm của con người là những quyển tối thượng, dân tộc Ý nhận biết và bảo vệ đối với tất cả, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, với tất cả khả nnăg và điều kiện mình có: - “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển hoàn hảo con người của mình…” (Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). và điều 27, đoạn 4 không chấp nhận án tử hình: - “Án tử hình không thể được chấp nhận, nếu không phải trong trường hợp được luật pháp tiền liệu trong thời chiến ” (Điều 27, đoạn 4 id.). Và đó là lý do Viện Bảo Hiến tuyên bố tính cách vi hiến của đạo luật 698, đoạn 2, Luật số 225 năm 1984, cho phép áp dụng điều IX của Thoả Ước về việc hoàn giao được ký kết giữa Ý và Hoa Kỳ, vi hiến vì vi phạm điều 2 và điều 27, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 vừa được trích dẫn. Bởi lẽ - “đời sống là một tài sản nền tảng của con người, là quyền tiên khởi trong tất cả các quyền bất khả xâm phạm mà điều 2 của Hiến Pháp “ nhận biết và bảo đảm”. Như vậy điều 2 và điều 27, đoạn 4 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là những tiêu chuẩn thiết yếu không thể vượt qua, để định chuẩn tính cách vi hiến hay hợp hiến đạo luật tổng quát về việc hoàn trả, chuyển giao hay thực thi các điều khoản luật liên quan đến các thoả ước và bảo trợ pháp lý quốc tế ( Pietro Perlingieri, Commento alla Costituzione Italiana, II ed., Napoli, 2001, 59). Ước gì đây cũng sẽ là mẫu gương cho tương lai Việt Nam, môt khi chế độ độc tài phi nhân, " trấn nước ", " bịt miệng " không còn nữa.