Tham Khảo >>  Nguồn Văn Hóa Việt

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

TIẾNG VIỆT ĐÃ CÓ TỪ THỜI VUA HÙNG DỰNG NƯỚC VĂN LANG Nhân về chuyện ông An Chi trên báo Kiến Thức Ngày Nay, tôi xin góp một câu chuyện như thế này. Vào năm 1978, nhân đọc cuốn sách “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” của tác giả Nguyễn Văn Tu, dường như bấy giờ là giáo sư ngôn ngữ học ở Hà Nội, tôi thấy trong đó tác giả cho hai từ “Vua” và “Bố” là từ gốc Hán. Tôi ngạc nhiên quá, và bắt đầu suy nghĩ về chuyện này. Sau đó ít lâu, tôi đọc thấy trên báo Kiến Thức Ngày Nay, ông An Chi còn đi xa hơn, khi cho tấ cả - đúng là tất cả - những từ tiếng Viết cha mẹ chú bác cô gì cậu mợ... vân vân, nghĩa là những từ chỉ vị trí họ hàng trong gia tộc mỗi người Việt Nam, đều là từ gốc Hán cả, nếu không từ đời Ðường thì cũng là từ đời.... mật! Tôi mở sách “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” của Ðào Duy Anh, thấy vị học giả vĩ đại ấy nói rằng ”... vì khi ta tiếp xúc với Trung Hoa thì văn hóa của họ đã phát triển rực rỡ mà văn hóa của ta rất chất phác thấp hèn (sic!),” tôi thấy lạnh cả người. Tôi tưởng như mình bị đánh trúng một cú nốc ao vào giữa mặt. Từ Stalin thì đã đành là phải học, và có thể phải cúi đầu xuống liếm để có được “Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin” Nhưng lẽ nào ta phải học cả những từ rất căn bản để biểu thị ta là người, và được cha mẹ ta sinh ra, là những từ “cha, mẹ…”?. Không có từ cha mẹ, tức là ta không có cha mẹ – tức là còn sống kiếp thú vật. Không có vua, tức là còn trong trạng thái mông muội ăn lông ở lỗ, chưa có tổ chức xã hội. Thế thì trong những điều kiện đó làm sao ông cha ta có thể có được một nền văn hiến bốn ngàn năm rất đổi tự hào? Ta bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa để học những từ thân thiết và sang trọng ấy từ bao giờ? Lần tiếp xúc đầu tiên và sớm nhất là khoảng hai ngàn rưỡi năm trước đây. Vậy ra câu nói rất tự hào trên đầu môi mỗi người Việt Nam về “Bốn Ngàn Năm Văn Hiến” của dân tộc mình là một câu nói dối vĩ đại ư? Hoặc là tiền nhân của chúng ta đã nói dối về bốn ngàn năm văn hiến do một sự tự hào dân tộc vô lối, hoặc các ông Nguyễn Văn Tu và An Chi nhắm mắt nhai lại một cách nhục nhã những lời của bậc thầy của các ông là nhà ngữ học Tàu Vương Lực, từ đó gián tiếp “thừa nhận” nguồn gốc văn hóa của ta là do người Tàu “dạy dỗ.” Vào thời gian đọc được những điều không vui này tôi đang cùng gia đình sống rất chật vật cuộc sống nông dân trên núi rừng, nhưng tôi thấy “ức” quá, nên lao vào “nghiên cứu” thử xem Ta Là Ai. Vì cuộc sống của tôi quá khó khăn, và không có điều kiện tiếp cận một nguồn tư liệu tham khảo nào có giá trị, cho nên “công trình” ảo tưởng của tôi đành phải bỏ dở. Bây giờ sau gần ba mươi năm, tôi không còn nhớ được nhiều những gì mình đã học được từ “công trình” đó, nhưng tôi vẫn còn nhớ một số nét chính, xin trình bày để các bạn cùng suy nghĩ xem những người như Nguyễn Văn Tu và An Chi đã đóng góp công lao như thế nào trong việc quân Tàu đỏ cướp đất đai của tổ quốc ta. Theo tài liệu lịch sử, tổ tiên chúng ta tiếp cận người Tàu lần đầu tiên là thời kỳ sứ giả của nước Việt Thường đến thăm triều đình nhà Chu thời vua Chu Thành Vương, cách đây khoảng hai ngàn rưởi năm (do tôi chỉ “nói mép” không có tư liệu nào trong tay nên không biết rõ năm tháng chính xác). Ðây là một sự kiện có ý nghĩa rất lớn với trình độ văn minh của người Việt. Tôi không nhớ người Tàu đã “vượt Hà” nghĩa là vượt qua sông Hoàng Hà để tiến xuống Hoa nam vào năm nào (vì tôi không phải nhà nghiên cứu lịch sử mà), nhưng theo một số sử liệu tôi còn nhớ được, cách đây ba ngàn năm người Tàu chưa tiến xuống đến Sơn Ðông, họ còn ở đâu trên vùng Thiểm Tây Cam Túc, tây bắc nước Tàu, là vùng đất khởi nguyên của họ. Thế thì việc sứ giả của nước Việt Thường chủ động vượt qua nhiều ngàn cây số đến giao hảo với họ trong điều kiện địa lý và hiểu biết về địa lý của người Việt vào thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên, là cả một kỳ tích vĩ đại trong lịch sử văn minh. Hai bên phải qua nhiều lần phiên dịch mới hiểu được nhau. Sách lịch sử nói thế. Nếu thời đó ta cũng nói tiếng tàu “gốc” như họ, sao lại phải qua nhiều lần phiên dịch? Một số sử gia của ta nhắm mắt nhại lại sách Tàu rằng nước Việt Thường khiếp sợ oai danh của nhà Chu nên sai sứ đến cống, và rằng sứ giả Việt Thường không biết đường về nên được triều đình Chu Thành Vương tặng cho chiếc xe có kim chỉ nam để tìm đường về nước. Nếu các sử gia ấy đừng có tinh thần nô lệ, biết suy nghĩ một chút ắt thấy rằng cái nước Tàu ấy, lúc đó chưa có gì ghê gớm, chưa trở thành ngáo ộp, vì họ chưa thôn tính hết nước Tàu như ngày nay, và ở quá xa mình như thế thì liệu họ làm gì được nhau mà phải sợ họ đến vậy? Cho tới thế kỷ hai mươi họ vẫn chưa có ... phi cơ như B52 của Mỹ kia mà! Và nếu các sử gia ấy của ta tự đặt mình vào vị trí triều đình nhà Chu, ắt họ phải thấy tự thẹn với sứ thần của nước Việt Thường về sự thua kém của mình. Phương cách chữa thẹn của họ là gì nếu không phải lôi của báu trong nhà ra để khoe? Và họ đã khoe kim chỉ nam. Chỉ đơn giản có vậy thôi. ( Về sau chính người Tàu sai sứ đi thám hiểm và giao thiệp với nhiều quốc gia xa xôi khác, và đến tận Châu Mỹ, thì họ có sợ gì ai mà phải đi… nộp cống đâu!) Và sự việc nói trên XÁC NHẬN KHOẢNG HAI NGÀN RƯỞI NĂM TRƯỚC ÐÂY TA VĂN MINH KHÔNG KÉM CẠNH GÌ TÀU SAU NÀY. (Nhưng nền văn minh cổ sơ đó không phát triển dược là do nhiều hoàn cảnh khốc liệt của lịch sử mà ai cũng biết.) Sự tiếp xúc văn hóa với Tàu chỉ thực sự diễn ra vào đời Hán, nghĩa là khoảng đầu Công Nguyên, nhất là sau khi ta bị Tàu đô hộ. (Trước đó, quân Tần – nước Tần - có sai quân đi đánh Giao Chỉ và bị người Giao Chỉ đánh bại và giết cả tướng Tư lệnh của họ là Ðồ Thư. Không lẽ giặc nó đánh ta và ta giết nó mà cũng kể là... tiếp xúc văn hóa ư?) Tên tướng Mã Viện báo cáo với triều đình nhà Hán rằng phong tục tập quán (tức văn minh) của người Việt “khác người Tàu mười điều”. Theo ông Bình Nguyên Lộc, “khác mười điều” là hoàn toàn khác, như đen khác trắng, nước khác lửa. Còn theo một số nhà viết sử nệ Tàu thì khác mười điều có nghĩa là... khác mười điều. Chỉ khác mười điều thôi, còn lại ta là... Tàu! Một khi “khác mười điều” là khác tất cả, hoàn toàn khác, thì sao ta lại là Tàu về mặt văn hóa được? Một số những điều khác nhau có tính bản chất về văn hóa giữa ta và Tàu thời cổ còn được sách vở ghi nhận sờ sờ ra đó, mà sao nhiều người cứ không chịu nhìn thấy nhỉ? Ðây là một số nét chính nhớ đâu nói đó, không theo trình tự hay logic nào.: 1. -Trong khi người Tàu gọi con trai của vua là hoàng tử, con gái của vua là công chúa, nếu tổ tiên của ta học theo văn hóa Tàu thì tại sao các Vua Hùng lại nhất định không cùng gọi như thế với “thiên triều” mà đặt ra những từ Quan Lang và Mị Nương để gọi con trai và con gái của vua? Ðó chẳng qua tổ tiên chúng ta có một nền văn minh và văn hóa riêng, chẳng “dính” gì đến văn hóa Tàu cả. 2. -Từ đời nhà Chu của Tàu, chế độ “tông pháp” đã phát triển rất mạnh mẽ và áp dụng rất chặt chẽ trong toàn xã hội, đề cao vị trí quan trọng một cách tuyệt đối của đàn ông trong gia đình và trong xã hội. Ðó là một nền văn hóa phản ánh cuộc sống du mục, trong đó. người đàn bà Tàu không có vai trò nào trong cuộc sống, mà chỉ là “vật phụ thuộc” của ba người đàn ông. Khi còn ở gia đình chịu quyền chỉ huy của cha, khi lấy chồng chịu quyền điều khiển của chồng, chồng chết, chịu sự chỉ đạo của con trai. Ðến thể kỷ đầu sau Công nguyên ở nước ta, hai bà Trưng và về sau nữa là bà Triệu lãnh đạo các cuộc kháng chiến của nhân dân đánh giặc ngoại xâm. Ðiều đó nói lên cái gì? Nói rằng cho đến lúc đó văn hóa của người Việt Nam vẫn là văn hóa nông nghiệp, mẫu hệ, trong đó người phụ nữ giữ vai trò rất quan trong – nội tướng. Từ vị trí nội tướng lãnh đạo trong gia đình, họ dễ dàng và nghiễm nhiên trở thành “ngoại tướng”, lãnh đạo toàn dân trong những tình huống dầu sôi lửa bỏng của quốc gia. (Võ Tắc Thiên của Tàu tuy là một người đàn bà tài hoa thao lược, đến những nhân tài như Ðịch Nhân Kiệt… phải khấu đầu phủ phục, nhưng không có được vị trí tôn kính trong lòng người dân Tàu, và mãi bị coi là “quân cướp ngôi, soán đoạt”, là “gà mái gáy” thuộc giới người … không qua đầu ngọn cỏ mà thôi.) 3. – Trong khi văn hóa tông pháp của người Tàu du mục chủ trương vua là con trời, từ đó “quân xử thần tử… phụ xử tử vong…” (vua và cha là trời, đã bắt chết thì bề tôi và người con phải chết mới đúng đạo lý của họ.), và con vua mới được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa, thì văn hóa nông nghiệp Việt Nam nhu hòa nói rằng “Ðược làm vua thua làm giặc” – chẳng qua chuyện tranh giành ngôi vị ấy mà, có “thiên mệnh” gì đâu! Rồi con phải hơn cha thì nhà mới có phúc, đất nước mới từ đó mở mang văn minh thịnh vượng theo thời đại. Người Tàu thì chồng “phán” vợ phải tuân theo (phu xướng phụ tùy), còn người Việt thì nhất thiết phải “thuận vợ thuận chồng” thì bể nào cũng tát cạn, không cứ chỉ bể Ðông. Trong các triều đại Tàu nhan nhản nhũng trường hợp anh em chém giết nhau, con giết cha, và cha mẹ giết con (tiêu biểu là Ðường Minh Hoàng hạ lệnh giết một lúc ba đứa con trai mà không hối tiếc! và bà Võ Hậu nói trên kia cũng giết nhũng đứa con không nghe lệnh “thiên tử” của bà mà chẳng chút chồn tay). Trong 24 chuyện hiếu của Tàu có chuyện cực kỳ dã man vô nhân đạo là cha mẹ chôn đứa con của mình để dành phần ăn của nó nuôi ông bà nó. Trong truyện (dã sử) của Tàu mỗi khi mô tả những nạn đói kém hay trong thành bị vây lâu ngày luôn luôn tác giả viết rằng “nhà nhà đổi con cho nhau để ăn thịt”. Ai tìm ra được những chuyện như thế trong văn hóa văn học Việt Nam? Trong lịch sử Việt Nam ngoài một trường hợp cá biệt của Lê Long Ðĩnh, một kẻ bại họai mất nhân tính nhưng không hề phản ảnh tính chất tàn bạo chính trị như các vua Tàu, người ta thấy Nguyễn Hàm Ninh đã “mắng” vua Tự Ðức vì giết Hồng Bảo (chớ không phải như các quan Tàu đều cho việc cốt nhục tương tàn là … cần thiết để “an thiên hạ” – kể cả việc Ðường Thái Tông Lý Thế Dân giết anh là Kiến Thành vì tranh giành quyền lực và sau đó đọat luôn người vợ của anh). Một trường hợp khác trong lịch sử Việt Nam gần giống hoàn cảnh Lý Thế Dân, nhưng Vua Trần Thái Tông cùng An Sinh Vương Trần Liễu đã ôm nhau mà khóc. (Cái tước “An Sinh Vương” nhà vua phong cho người anh ruột mình há chẳng nói rõ quyết tâm của nhà vua không thể nào làm người đứng đầu thiên hạ mà coi thường tình cốt nhục đó sao? Trong những sự việc đó văn hóa Tàu đứng ở đâu? Sao ta lại phải học từ họ để biết ai là cha mẹ? 4. – Ta chỉ chịu ảnh hưởng văn hóa Tầu sau khi đã tiếp xúc và sống chung lâu dài với vự cưỡng bức tiếp nhận văn hóa của họ. Nhiều sử gia nhất trí rằng ta chịu ảnh hưởng văn hóa tàu nhiều nhất bắt đầu từ đời Lê. Nhưng đời Lê thì gần đây, mới sáu bảy trăm năm thôi. Cứ giả sử ta đã chịu ảnh hưởng văn hóa tàu ngay từ khi nhà Tần cử tên tướng úy là Ðồ Thư sang xâm lượt nước ta và y để cái đầu của y lại làm tin và làm mốc cho các thế hệ tướng tàu về sau theo đó đến… nộp đầu, thì thời gian đó đến nay cũng chỉ dưới hai ngàn rưỡi năm. Và nếu vậy, từ đó trở về trước, tổ tiên chúng ta chưa có tiếng Tàu để gọi cha mẹ chú bác cô dì, thì hẳn là … chưa có tổ tiên người Việt! Hay họ còn là những … con tinh tinh đi bốn chân chưa có tiếng nói? Và nếu từ đó về trước tổ tiên ta chưa được văn hóa Tàu dạy cho chữ “Vua” thì có nghĩa là tổ tiên chúng ta còn ăn lông ở lỗ, chưa có tổ chức xã hội? Thử hỏi, một dân tộc cho đến hai ngàn rưỡi năm trước đây, chưa có từ để gọi cha mẹ ông bà, chú bác, cô dì, anh chị em… và chưa có tổ chức xã hội, thì làm sao lại “Xưng nền văn hiến đã lâu, phong tục bắc nam cũng khác”? (Nguyễn Trãi – Bình Ngô Ðại Cáo). Làm sao có được một nền văn hiến đến bốn ngàn năm? Có thể nào tổ tiên ta đã có văn minh văn hiến từ bốn ngàn năm trước mà phải đợi một ngàn rưởi năm sau để được người Tàu dạy cho các khái niệm xã hội (Vua), và dạy cho tiếng để gọi người đẻ ra mình!? Thế mà những người “thông thái” cỡ như Nguyễn Văn Tu, giáo sư đại học, và An Chi đã cả quyết như vậy đó. Ấy là thầy của họ, nhà ngôn ngữ học Vương Lực nổi tiếng của Tàu đã “phán” như thế, thì họ phải tuân theo như thế. Rồi có người còn đi xa hơn, cả quyết danh hiệu của mười tám đời Hùng Vương đều là… tiếng Tàu, như Hùng Ðịnh Vương, Hùng Ninh Vương…vân vân! Như thể từ bốn ngàn năm trước tổ tiên ta đã nói tiếng … Tàu, ngay trước khi họ biết trên đời này có người Tàu. Sự giao tiếp văn hóa phải là hai chiều, chỉ những kẻ đầy óc nô lệ tối tăm mới tin chuyện văn hóa một chiếu từ… trên thiên triều rót xuống. Nếu ta nhất nhất học của tàu, học từ tiếng gọi cha mẹ trở đi, nghĩa là ta là học trò ruột ngoan ngoãn của chúng thì hà cớ gì mỗi lần xâm lược nước ta chúng đều có chủ tâm và chính thức tìm mọi cách để hủy diệt nền văn hóa của ta. Ta nhất nhất học của chúng thì ta có gì khác chúng đâu để khiến chúng phải sợ hãi và tàn sát cho kỳ hết mới thôi? Tổ tiên ta có nền văn hóa riêng, cũng xán lạn không thua kém văn hóa Tàu thời đó. (Bằng chứng là chúng có học của ta – it ra là có trao đổi qua lại. Ta chỉ thua kém chúng vì chúng là nước lớn quá (và là một dân tộc … tiểu nhân đê tiện quá – sẽ nhớ chi tiết này để nói sau), luôn rình rập tàn hại ta, và không lúc nào để ta được yên, kể cả khi giới lãnh đạo hèn nhát của ta đầu hàng và xưng thần với chúng rồi, và nhất là vì chúng ta có những kẻ có đầu óc thờ Tàu, luôn luôn thủ vai “thấp hèn” trước chúng. …. Bởi vì khi làm công việc “nghiên cứu” văn hóa Việt Nam (nói vậy cho… oai!) một cách cảm tính và… nghiệp dư kiểu “điếc không sợ súng”, nên tôi đã “phát hiện” (cũng nói cho oai, xin đừng cười) một số điều có thể không làm cho các học giả nhếch mép, nhưng có thể làm cho những người như Nguyễn Văn Tu và An Chi … ôm bụng cười – vì cho là tôi dốt nát, không chịu đoc sách của Vương Lực. Ðó là, trong khi họ nói tiếng “Bố” của người Việt là “âm cổ của từ “phụ” (là cha) trong tiếng Tàu, và từ “Vua” tiếng việt là âm cổ của từ “Vương” (Chỗ này tôi không nhớ chính xác – sau ba mươi năm rồi mà – nhưng tinh thần đại khái như thế), thì tôi lại thấy ngược lại. Chữ “Bố” được viết lối Tàu với nghĩa là cha (như trong chữ Bố Cái Ðại Vương, chẳng hạn) là một từ VIỆT được phiên âm: người Tàu dùng mặt chữ “bố” (nghĩa là “vải”) đã có sẵn trong văn tự của họ để gán cho một từ mới họ mới học được của người Việt. Người Tàu rất thích “vẽ”. Họ “vẽ” chữ của họ. Nhưng với những âm ngoại quốc mà họ đã có chữ rồi, thì họ mượn chữ có sẵn để dùng cho tiện. Ví dụ chữ “Vạn” họ vẽ hình con... bọ cạp dược dùng cho từ “vạn” với nghĩa là mười ngàn. Nếu không vậy, sao “bố” là cha mà lại là… vải? (trong khi, nếu tôi nhớ không sai, sách Thuyết Văn Giải tự giải thích chữ “phụ” là vẽ hình hai tay người cha cầm roi để dạy con.) Một điều buồn cười là những nhà thông thái “nệ Tàu” của chúng ta dường như … không thấy buồn cười khi trong bốn chữ “Bố Cái Ðại Vương” (mà theo ý họ, “bố” là tiếng Tàu cổ) người Việt xưa dùng tiếng Việt (Cái) để chỉ Mẹ, và dùng “ngoại ngữ” Bố tiếng Tàu (giả dụ vậy) để gọi cha. Cho sang chăng? – Không phải vậy đâu. Bố (cũng như Cái, là những từ tiếng Việt – Cả bốn chữ “Bố Cái Ðại Vương” đều là tiếng Việt, tuy bản thân tôi chưa giải thích được nguồn gốc tiếng Việt của từ “Ðại” trong Ðại Vương.). Tôi cho từ VƯƠNG là một từ “thuần Việt”, của người Việt với nền văn minh nông nghiệp, cho nên nghĩa nguyên thủy của nó không phải là Vua theo khái niệm của chúng ta ngày nay. Do chữ Vương được viết theo lối Tàu với ba vạch ngang và một vạch dọc ở giữa nối liền ba gạch ngang, nhiều người đồng ý với nhau rằng, chữ Vương đó là tượng trưng cho người “nối thông tam tài Thiên - Ðịa – Nhân.” Vậy, Vương là một hiền giả, một nhà hiền triết của nền văn minh nông nghiệp. Vương có thể được tôn làm người lãnh đạo một tổ chức hoặc một thể chế của người Việt – tôi nhấn mạnh là của người Việt – như vai trò tù trưởng bộ lạc chẳng hạn, nhưng chủ yếu đó là một hiền nhân, một thức giả, một người lãnh đạo tinh thần, chớ không phải (chỉ) là một nhà lãnh đạo chính trị (tù trưởng hay Vua), và có vị trí tinh thần cao hơn nhà lãnh đạo chính trị thế tục. Ai muốn cãi chỗ này cứ tha hồ cãi, nhưng rõ ràng từ xưa người Tàu hiểu và biết chính xác ý nghĩa, XUẤT XỨ, và địa vị xã hội của vị được gọi là Vương đó. Họ biết rõ VƯƠNG không hề là khái niệm của dân tộc họ. Vương là một tôn hiệu mang một khái niệm ngoại lai đối với họ. Nói rõ hơn họ nhận lấy từ Vương đó của người Việt. Tôi có thể hàm hồ nói đại rằng Vương là của dân tộc Việt Nam trong Bách Việt, chớ không phải của chung Bách Việt. Có bạn nào thấy “ức” như tôi trước đây, cứ việc nghiên cứu để làm sáng tỏ. Tại sao tôi cả quyết người Tàu biết rõ Vương không phải là của họ? Bởi vì họ quá biết đó là một khái niệm ngoại lai, không phù hợp với tinh thần văn minh du mục đề cao người lãnh đạo đoàn thể xã hội và chính trị, cho nên họ không dùng. Tất cả các vua Tàu lớn bé trong lịch sử đều xưng Ðế, không ai xưng vương cả. Con trai trưởng của vua được phong Ðông cung thái tử để nối ngôi đế. Còn vương chỉ là một tước hiệu để nhà vua phong cho con trai thứ. Thử nghĩ mà xem, các ông con trai thứ được phong tước Vương ấy có đáng là người “nối thông tam tài Thiên – Ðịa – Nhân” hay không? Có đứng trên người lãnh đạo thế tục không? (Người ta cứ biết Khổng Tử là bậc Thánh vĩ đại mà không được vua chư hầu nào dùng – trong khi nhà Chu có tới tám trăm nước chư hầu – mà không chịu nói vì sao ông ấy không được ai tin dùng: ông ấy thuyết giảng Vương đạo, là thứ triết học của văn hóa nông nghiệp, của người Việt, xa lạ với họ, cho nên họ không dùng. Ông ta chào hàng cái áo vương đạo rất rực rỡ, nhưng nó… rộng quá, mặc không vừa nên người ta không dùng chớ sao!). Nếu Vương là tiếng Việt, thế thì tại sao nó được chính người Tàu viết ra, bằng hình vẽ biểu ý đàng hoàng chớ không phải chữ phiên âm “lơ mơ” như chữ “Bố”? Ậy, tôi cho là thế này: họ vẽ một cách “kiểu thức hóa” những thứ mà vị Vương (hay nhà lãnh đạo tinh thần – và có thể là cả lãnh đạo chính trị - của xã hội người Việt mang trên người như một dấu hiệu để làm rõ chức phận. Các bạn có để ý những tù trưởng người da đỏ trong các phim Viễn Tây của Mỹ có mang những răng nanh xương thú trên vòng cổ của họ không? Không phải là món trang sức đâu. Nó cũng giống như phù hiệu cấp bậc trong quân đội vậy. Các tù trưởng bộ lạc của người Việt cổ chắc cũng mang những thứ tương tự như thế. Bạn thử “vẽ' chữ Vương ra một tờ giấy, gồm ba vạch ngang, vạch này nằm trên vạch kia và cách rời nhau, rồi vẽ một đường dọc ở giữa ba vạch ngang đó để “xâu” chúng lại. Bạn lật nghiêng cái hình vẽ cho hình ba vạch ngang thành ba vạch thẳng dọc thử xem. Nếu vẫn chưa tưởng tượng được thì bạn thử kéo dài cái vạch nối liền ba vạch ngang lúc nãy và vòng lại cho nó giáp mí với nhau xem. Có phải nó giống cái vòng cườm đeo cổ đính nanh heo xương thú của người da đỏ không? Bây giờ bạn xóa cái vòng đi. Và lật trở lại theo chiều hướng như hồi mới vẽ: đó là chữ Vương! Vương tuy là “chữ” Tàu, nhưng nó là một từ tiếng Việt. Do cái vỏ chữ Tàu mà nó bị người Việt từ chối, xô nó sang Tàu. Chớ bản thân người Tàu không thích nó đâu. Bằng chứng họ không chịu công nhận nó là đây: Ai học chữ Trung Quốc cũng biết người Tàu có hai chữ Quốc để chỉ đất nước, quốc gia. Một chữ quốc thông dụng mà người học nào cũng biết là chữ Quốc “kép” được viết với chữ “hoặc” ở trong chữ “vi” mà có chỗ tường giải lịch sử hình thành của nó như vầy: Thoạt đầu người Tàu “vẽ” khái niệm quốc gia của minh bằng hai vạch ngang song song, ở giữa là một cái ô vuông. Hai vạch tượng trương trên là trời, dưới là… bãi chăn thả. Dưới trời và trên bãi chân thả là… người Tàu (cái ô vuông – chữ khẩu – tượng trưng cho người). Trong cuộc sống du mục họ thường phải cạnh tranh giành bãi chăn thả của nhau, nên cần phải có vũ khí để bảo vệ - và để xâm lăng. Cái ngạch ngang phía trên về sau được vẽ thêm vài nét thành một món vũ khí – cái qua. (Can qua là cái qua và cái khiên, hai món biểu tượng cho chiến tranh). Cụm hình vẽ đó gọi là chữ “hoặc “ hay “hoắc,” hàm nghĩa “có người”. Về sau, khi khái niệm quốc gia phát triển lên một mức cao hơn, họ vẽ thêm chữ “vi”, cái ô vuông to hơn, bao bọc chung quanh chữ “hoặc” – như vòng thành bảo vệ chỗ “có người.” – Ðó là chữ Quốc “kép”: hàm nghĩa đất nước của người du mục, có vũ khí để xâm lăng và tự vệ. Trái với “kép” là “đơn”. Chữ Quốc “đơn” đơn giản hơn: một chữ vi (vòng thành) bao bọc lấy chữ Vương ta nói ở trên, ngụ ý đó là đất nước của dân tộc có khái niệm triết học “nối thông tam tài,” nó không phải là đất nước Trung Quốc của Tàu. Họ nói trớ rằng vì đó là chữ Quốc “đơn” nên họ không dùng. – Không dùng thì sáng tạo ra để làm chi? Năm 1949, trong khi cải tổ chữ viết họ nói chữ Quốc “kép” nhiều nét rấc rối, khó nhớ quá, phải đơn giản thôi. Tuy vậy, họ vẫn không dùng chữ quốc hiền triết của người Việt. Họ sửa nó bằng cách thêm một dấu chấm vào cạnh nét sổ dọc của chữ Vương, biến chữ Vương thành chữ ngọc, ngụ ý, Trung Quốc là đất nước của ngọc ngà (chớ không phải của Vương đạo - Vương đạo là thứ của dân tộc Việt thuộc văn minh nông nghiệp.). Nhân đây nói thêm một chữ nữa, được người Tàu vẽ thành… chữ Hán nhưng theo tôi, nó là một từ tiếng Việt thuần túy. Ðó là chữ “Gia” (nghĩa là nhà) âm cổ của từ nhà tiếng Việt, chớ không phải ngược lại. Trong chữ Hán, chữ gia được vẽ hình một cái mái nhà, phía dưới mái nhà là một con chó. (Ngụ ý một … chuồng chó, hay một chuồng súc vật.) Ai cũng biết người du mục ở lều chớ không ở nhà. Nhà là kiến trúc gắn liền với văn minh nông nghiệp định cư. Người Tàu (thượng cổ) không ở nhà. Họ là người du mục. Cho nên ngôn ngữ của họ không thể có từ Gia để gọi cái mà họ vốn không có. Họ thấy người Việt ở nhà, và họ vẽ hình cái nhà của người Việt: Ðó là một cái nhà sàn, người ở phía trên, ở dưới nuôi súc vật. Khi chuyển sang định cư, người Tàu có thể xây dựng nhiều kiến trúc to lớn và sang trọng, tất cả những chữ dùng để chỉ các loại kiến trúc đó của họ đều được cung kính đặt dưới một cái mái nhà (sản phẩm của nền văn minh định cư nông nghiệp), nhưng trong ngôn ngữ của người Tàu không hề có từ gia để chỉ một cấu trúc con người cư trú trong đó, như cái nhà của chúng ta. Gia là một từ của người Việt về sau biến thành âm nhà như hiện nay. Vân vân… Có thể còn nhiều, nhưng nhất thời không nhớ kịp. Khi một nền văn minh vay mượn một đặc tính nào đó từ một nền văn minh khác, thì nền văn minh “cho vay” không thể “thấp hèn” hơn nền văn minh người vay như cụ Ðào Duy Anh thoạt tưởng như thế. Khi họ “mượn” của chúng ta các giá trị tinh thần quan trọng (Vương, Bố) và ghi nhận nền văn minh vật chất và xã hội của chúng ta (Gia), thì rõ ràng chúng ta không thể chờ họ dạy để biết cách gọi cha mẹ ông bà cô bác anh chị em mình là gì, và cách tổ chức xã hội để được văn minh. Chỉ có những đầu óc “vọng ngoại” một cách điên rồ và bệnh hoạn mới có thể nghĩ một cách nhục nhã và đê hèn như thế mà cứ tưởng là mình thông thái, nói có sách mách có chứng. “Tận tín ư thư bất như vô thư” – Thứ gì cũng dựa vào sách thì thà đừng có sách lại tốt hơn – nhất là sách của một nhà ngôn ngữ học người Tàu coi tiếng Tàu là cha đẻ các thứ tiếng “nhược tiểu” khác. Vậy mà cũng nghe lấy được. Tàu là quốc gia duy nhất trên thế giới này có học thuyết về người quân tử - tiểu nhân. Từ xưa đến nay họ không ngớt đề cao người quân tử. Tại sao vậy? Tại vì trong nền triết học của họ không có thánh nhân - người quân tử nối thông tam tài. Những thánh nhân “tam hoàng ngủ đế” chỉ là phịa theo kiểu “người tốt việc tốt” như anh hùng Lê Văn Tám lấy thân mình làm ngọn đuốc đốt kho xăng Nhà Bè, như anh hùng Ngô Mây ôm bom lao vào xe tăng địch. Những anh hùng đó trên trời rớt xuống, không để lại tăm tích “hộ tịch” nào, giống như truyền thuyết Phù Ðổng Thiên Vương. Các thánh nhân quân tử của Tàu cũng vậy. Một nước lớn đến thế, luôn nói chuyện đạo lý quân tử, mà luôn làm những việc cực kỳ tiểu nhân bỉ ổi như lén dời cột mốc biên giới quốc gia vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam vài… chục hay vài trăm thước đất, hay tìm cách đóng cọc ở giữa lòng sông phân giới thế nào để bờ bên Việt bị lở, bờ bên Tàu được bồi thêm mỗi năm vài tất đất. Khi bán cho Việt Nam những con ốc tà vẹt đường sắt, chúng in chữ của chúng lên đó. khi xảy ra xung đột, chúng cho đó là đồ viện trợ, đã tháo dở mang về nước. Chúng từng mua rể hồi, sừng đuôi móng trâu để tiêu diệt sức kéo của người nông dân nghèo Việt Nam… và nhiều thứ chó chết nữa. Chúng luôn dòm ngó tìm cách thôn tính sông biển đất nước ta. Không hiểu gới trí thức Tàu có nhìn ra cái nhục ti tiểu của dân tộc họ hay không? Chỉ tiếc là chúng ta chưa có – và không biết bao giờ mới có lại một Hoàng đế Quang Trung. Chắc là phải ngưng thôi. Viết dài quá. xin các bạn tha lỗi dài dòng.