Tham Khảo >>  Chia Sẻ

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Hỏi Có người đã trích lời Chúa trong Lc 12: 49-51 để nói rằng Chúa Giêsu đã chủ trương dùng bạo lực để truyền bá Đạo của Chúa trên trần gian... và vì thế Công Giáo đã chiếm đất của Phật Giáo để xây Nhà Thờ Hànội! Xin cha giải thích giúp điều này. Trả lời Trước hết, ta hãy cùng đọc lại lời Chúa trong đoạn Tin Mừng nêu trên: “Thầy đến để mang lửa vào mặt đất và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất. Anh em đừng tưởng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ…” (bản dịch của Nhóm GKPV) Trong một bài viết trước đây, tôi đã nói rõ điều kiện cần có để đọc và hiểu Kinh Thánh (Sacred Scripture). Điều kiện đó là phải đi học tối thiểu một lớp về Khoa Kinh Thánh ở Đại Học hay Chủng Viện để biết Kinh Thánh là gì và đọc với nhãn quan nào. Không thể tự học mà hiểu được Kinh Thánh. Nói tóm, không thể đọc Kinh Thánh như đọc báo và đọc tiểu thuyết được. Ngay cả đọc tiểu thuyết thì cũng phải biết qua về tiểu sử của tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thì mới không hiểu sai tác giả và hiểu lầm nội dung của tác phẩm. Đọc và giải thích (Exegesis) Kinh Thánh còn khó hơn đọc tiểu thuyết gấp bội, vì Kinh Thánh hoàn toàn không phải là sách viết về lịch sử, hay bất cứ khoa học xã hội nào mà là Sách ghi chép Lời Chúa (Dei Verbum) được linh ứng (Inspired) cho các tác giả loài người viết ra để chuyên chở những mặc khải của Thiên Chúa (Divine Revelation) cho con người. Vì thế, do không biết gì về Khoa Kinh Thánh mà chỉ đọc và dừng lại ở nghĩa đen (literal meaning) với não trạng (mentality) hiềm thù Đạo Công Giáo nên Nhóm Giao Điểm ở Mỹ, từ mấy năm nay, đã hò hét xuyên tạc và chế diễu Kinh Thánh với mục đích rất tệ mạt của họ là đánh phá Công Giáo bất kể lương tâm và trí thức. Nhưng họ càng đánh phá, thì càng để lộ tâm địa xấu xa và trình độ dốt nát, phản trí thức của họ về những vần đề họ muốn tranh cãi mà thôi. Về điểm này, chắc chắn họ đã phải gục mặt trước những phê bình rất vô tư, sâu sắc và chính xác của Giáo sư Dương Ngọc Dũng, một trí thức Phật Giáo từ trong nước viết ra cách nay mấy năm. Nếu họ thực sự có trình độ trí thức để biết đọc Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo một cách chính xác, thì họ phải hiểu rằng mục đích và sứ mạng của Chúa Giêsu khi đến trần gian cách nay trên 2000 năm hoàn toàn không dính dáng gì đến chuyện tranh đấu chính trị, hay tranh dành quyền lợi kinh tế, xã hội của thế giới này. Chúa Giêsu đã nói rõ điều này khi trả lời cho Tổng Trấn Phi-la-tô xưa kia như sau: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuôc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” ( Ga 18:36). Không thuộc về thế gian này, nên Chúa không hề có ý định chiếm đất dành dân của ai, và cũng tuyệt đối không muốn tiêu diệt ai để truyền bá Đạo của mình hay dành độc quyền, độc tôn về bất cứ lãnh vực trần thế nào. Mục đích và sứ mạng của Chúa đến trần gian chỉ để giải phóng cho con người khỏi nô lệ tội lỗi và được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời trên Trời mà thôi. Chúa Giêsu đã nói rõ điều này như sau: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống của mình làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20:28). Vì thế, Ngài đã trở nên “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” như Thánh Gioan Tẩy Giả đã tuyên xưng một ngày kia. (Ga 1:29) Chính vì mục đích và sứ mạng này mà Chúa Giêsu cũng đã trở nên căn cớ cho mọi đối kháng, chống đối, chia rẽ giữa những người muốn tin và những người không muốn chấp nhận giáo lý của ngài. Điều này đã được mặc khải cho ông già Si-mê-on để ông nói tiên tri về tương lai Hài Nhi Giêsu khi được Mẹ Maria và Thánh Giuse mang lên Đền Thờ Jerusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa sau 8 ngày sinh. Dịp này ông già Simê-on đã ẵm lấy Chúa Hài Nhi và nói tiên tri như sau: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người It-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho nhiều người chống báng.” (Lc 2: 34). Đó là lý do giải thích vì sao sau này khi đi giảng dạy, Chúa Giêsu đã nói: “Ta đến không phải để ban hòa bình mà đem sự chia rẽ. Vì từ nay năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau; ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.” ( Lc 12: 51-53). Chỉ có những ai không học Kinh Thánh mới có thể cắt nghĩa những lời trên của Chúa Giêsu theo nghĩa đen của từ ngữ mà thôi. Ngược lại, nếu hiểu được mục đích và sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian như nói ở trên, thì những lời này của Chúa phải được hiểu hoàn toàn trong nhãn giới thiêng liêng. Nghĩa là Chúa có ý nói những ai chấp nhận Chúa và Tin Mừng Cứu Độ của Ngài thì sẽ là mục tiêu chống đối, chia rẽ và thù ghét cho những người khước từ Chúa và giáo lý của Ngài. Cụ thể, những kẽ gian ác, trộm cướp, giết người, bóc lột người, mở sòng bài nhà điếm, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho những dịch vụ mãi dâm cực kỳ vô luân vô đạo, thì chắc chắn không những bịt tai, nhắm mắt mà còn căm thù những ai dám phê bình lên án cách sống và việc làm của họ nhân danh Chúa Giêsu, Đấng đã dạy yêu thương, cầu nguyện và tha thứ cho cả kẻ thù, sống công chính và thánh thiện để được vào Nước Trời. Cũng vậy, con dâu, con gái sống theo những mê lầm của văn hóa sự chết để phá thai hay đòi quyền phá thai thì chắc chắn sẽ đối kháng với mẹ đẻ, hay mẹ chồng là người kính sợ Thiên Chúa và tôn trọng giới răn thứ năm cấm “giết người”. Cũng trong tinh thần ấy, lời Chúa nói “Thầy đến để đem lửa vào mặt đất...” phải được hiểu là Chúa đem tình thương và tha thứ như lửa từ trời xuống để đốt cháy mọi giống tội lỗi thể hiện qua những hận thù, ghen ghét, dâm ô, mê tiền của và cuồng vọng muốn gây chiến tranh tôn giáo để chiếm độc tôn về tín ngưỡng hay chiến tranh xâm lược để đặt ách thống trị lên các dân tộc nhược tiểu hầu ăn cướp tài nguyên thiên nhiên phong phú của họ . Như thế, chỉ có những kẻ tâm địa xấu xa, lòng đầy ắp đầy những hiềm thù tôn giáo mới xuyên tạc giải thích những lời nói trên của Chúa Giêsu như bằng chứng của chủ trương muốn “dùng bạo lực để truyền Đạo, để cướp đất dành dân” của người khác. Người Phât tử cũng nói đến “lửa từ bi” của Đức Phật. Nhưng phải hiểu “lửa từ bi” ở đây theo nghĩa nào? Theo nghĩa đem lòng nhân ái từ bi như lửa để đốt cháy những tâm địa gian tà, những oán thù chia rẽ hầu giúp con người sống thiện và an hòa với nhau theo gương Đức Phật, hay hiểu theo nghĩa kích động vùng lên tiêu diệt hết các tôn giáo khác, đặc biệt là Kitô Giáo (Christianity) hay Công Giáo La-Mã (Roman Catholisism) để dành độc tôn cho tôn giáo của mình, như nhóm quá khích Giao Điểm đã lợi dụng tự do ngôn luận và báo chí ở Mỹ để điên cuồng đánh phá Đạo Công Giáo (Catholicism, chứ không phải Public Religion như kẻ dốt nát đã dịch sang Anh ngữ) từ mấy năm nay ở nam Cali? Họ tự nhận là trí thức Phật giáo, là Phật tử nhưng đã hoàn toàn đi ngược lại giáo lý từ bi an hòa của Đức Phật. Họ chính là những người đang dùng “lửa từ bi” để đốt chết những ai họ coi là thù địch như Công Giáo và những người đối kháng họ. Cứ đọc những gì họ viết ra thì đủ rõ điều này. Người hiểu biết không ai muốn tranh cãi gì với họ vì họ mù quáng và thù hận như vậy thì lý luận hay đối thoại chỉ là chuyện khôi hài mà thôi. Tuy nhiên, cũng bất đắc dĩ phải nói nhỏ lần đầu và là lần chót với nhóm người này như sau: mọi thế lực thù nghịch và muốn tiêu diệt Kitô Gíáo từ Đông sang Tây và từ xưa đến nay ví được như bầy lang sói hay cọp dữ gầm thét mà chưa nuốt được ai hay làm cho người Kitô hữu nào khiếp sợ phải bỏ Đạo, thì một vài con chó điên sủa lạc lõng trong ngõ hẻm chắc chắn không làm cho ai phải giật mình. Chúng sủa chán mỏi mồm rồi sẽ nằm yên hay sẽ chết vì bệnh điên mà thôi! Sau hết, liên quan đến chuyện xuyên tạc lịch sử và Kinh Thánh để “đòi đất”, vì họ không có đủ trình độ hiểu biết và đủ lương thiện để tranh cãi hay đối thoại nên đã nhắm mắt nói bậy rằng thực dân Pháp đã phá Chùa Bảo Thiên để lấy đất cho Công Giáo xây Nhà Thờ Lớn Hà-nội. Rõ ràng, chỉ có những người “ăn ốc nói mò” khom lưng bợ đỡ cho thế quyền từ trong nước ra đến hải ngoại mới có đủ can đảm và trắng trợn bóp méo sự kiện lịch sử và nói ngược lại ngay cả tài liệu chính thức của nhà nước cọng sản Việt-Nam liên quan đến sự kiện đang tranh cãi mà thôi. Xin miễn lý luận dài dòng với loại người này, vì vô ích. Tóm lại, lời Chúa trong Lc 12: 49-53 không thể là cơ sở cho ai dựa vào để tranh cãi những vấn đề thuộc phạm vi thế tục. Chỉ có những người muốn gây chiến tranh tôn giáo, phá hủy đoàn kết dân tộc, và cách riêng, muốn triệt hạ Công Giáo mới mù quáng xuyên tạc ý nghĩa đích thực của câu Kinh Thánh trên để thực hiện ý đồ thâm độc của họ mà thôi. Chắc chắn tín đồ chân chính của mọi tôn giáo, cách riêng anh em Phật tử, không ai tán thành chủ trương điên rồ này.

 

Trong bài trước, nhân câu hỏi của một độc giả, tôi đã có dịp nói về vấn đề đồng tế (concelebration) của các linh mục. Tôi đã nói rõ là không có giáo lý, giáo luật hay luật phụng vụ nào cấm việc này. Có chăng chỉ có giáo luật cấm linh mục Công giáo “đồng tế với các thừa tác viên của các giáo hội hay giáo đoàn không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo” mà thôi (x. giáo luật số 908). Trong bài trước, tôi đã nói đến việc giới hạn hay cấm linh mục đồng tế trong các dịp lễ tang hay lễ cưới ở một số nơi, nhưng vi luật cấm này đã không được áp dụng công minh, đồng đều ở địa phương nào đó, khiến có sự ta thán, bất mãn của cả giáo dân và linh mục. Hôm nay, xin được nói riêng về tình trạng đồng tế ở nhiều nơi bên ngoài Việt-Nam, cụ thể là ở Mỹ này. I- Vấn đề linh mục đồng tế ở Mỹ Nói chung, ở Mỹ, không có nơi nào cấm hay giới hạn việc đồng tế của linh mục trong các dịp hôn phối, kỷ niệm thành hôn, tang lễ hay lễ giỗ cả. Nhưng phải nói là chỉ có trong các cộng đoàn hay giáo xứ Việt-Nam ở Mỹ mới có “hiện tượng đồng tế” đông đảo trong các dịp nói trên mà thôi. Ở các giáo xứ Mỹ, Mễ, thì rất ít có linh mục đồng tế trong những dịp này. Ngay cả khi có một linh mục Mỹ, Mễ qua đời thì may lắm mới có được từ 25-40 linh mục đồng tế trên tổng số 500, 600 linh mục trong giáo phận! Tôi chưa bao giờ thấy có đến 100 linh mục Mỹ đồng tế trong lể an táng của một linh mục qua đời cả. Ngược lại, lễ tang hay lễ cưới của giáo dân Việt-Nam thì đôi khi có trên 20 linh mục đồng tế là thường, ít ra cũng có 4, hay 5 linh mục đồng tế. Thông thường thì ở các nơi có đông người Công giáo Việt-Nam như California, Houston, Dallas, New Orleans... các linh mục đến đồng tế vì quen biết ít nhiều hay là thân thích họ hàng với các chủ hôn hay tang gia. Nhưng cũng có trường hợp linh mục đến đồng tế vì được người khác mời hộ cho đông chứ không hẳn vì quen biết hay có liên hệ gì với gia đính có hôn lễ hoặc tang lễ. Vì thế mà trong giới linh mục ở một vài nơi, đã có cụm từ “đi sô” (show) để chỉ tình trạng các linh mục chậy từ nhà thờ này sang nhà thờ kia để đồng tế ít là 2 lễ cuối tuần, giống như nghệ sĩ “đi show” vậy đó! Đây là thực trạng đáng phàn nàn vì có sự lạm dụng hay dễ dãi không cần thiết về việc đồng tế để chiều thị hiếu của những người muốn được vinh dự với cộng đoàn, giáo xứ địa phương khi có lễ cưới hay lễ tang của gia đình họ. Nhưng điều này lại trái với giáo luật số 905, triệt 1, cấm linh mục cử hành hay đồng tế nhiều lần trong một ngày, khi không có lý do chính đáng được phép làm. Hơn thế nữa, đồng tế quá dễ dãi như vậy cũng gây phân bì hay không vui cho những gia đình không quen biết nhiều cha hay mời thêm được nhiều linh mục đến đồng tế khi gia đình họ có việc vui, buồn. Như vậy, linh mục cũng cần giới hạn việc đồng tế khi thực sự không phải là nhu cầu cần thiết. Một khía cạnh không được đẹp mắt là người ta thường tặng “phong bì” cho các cha chủ tế và đồng tế ngay sau thánh lễ, trước mặt giáo dân đang rời nhà thờ sau thánh lễ. Theo thiển ý, đáng lẽ phải nói cho giáo dân biết là không nên làm việc này, vì linh mục đến đồng tế là vì thân tình với các gia chủ có việc vui buồn chứ không phải đến để nhận “phong bì”. Vả lại, làm như vậy khiến người ta có cảm tưởng là “trả công” đi đồng tế cho các linh mục. Nhưng điều quan trọng hơn hết cần nói cho mọi người biết một lần nữa là: ơn Chúa ban cho đôi tân hôn hay cho linh hồn người quá cố hoàn toàn không lệ thuộc vào việc có nhiều hay ít linh mục dâng lễ trong những hoàn cảnh này. Càng không liên hệ gì đến số tiền gia chủ chi ra để trả hay tặng cho các cha chủ tế và đồng tế trong các lễ cưới và lễ tang. Nghĩa là Chúa không căn cứ vào số linh mục hiệp dâng thánh lễ và số tiền dâng cúng để ban ơn nhiều hay ít cho đôi tân hôn hoặc thưởng hay tha phạt một linh hồn mới ly trần. Chúa ban ơn vì lòng nhân hậu vô biên và công bằng tuyệt đối của Ngài, và vì công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô cộng với thiện chí cộng tác của con người trong cuộc sống ở đời này. Nói khác đi, nếu không có công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thì không ai có thể được cứu rỗi. Nhưng nếu con người không cộng tác với ơn cứu chuộc này bằng quyết tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Ngài, thì Chúa cũng không thể cứu ai được. Vậy nếu ai ỷ lại vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để không làm gì hết, hoặc tệ hại hơn nữa, là sống ngược lại với Tin Mừng Cứu Độ và khước từ tình thương của Thiên Chúa cho đến phút chót của đời mình, thì Chúa không thể cứu người đó được; cho dù sau khi chết có được hàng trăm linh mục đồng tế, và đã xin nhiều “lễ đời đời” hay “mua hậu” với số tiền rất lớn của các nơi buôn thần bán thánh, thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy. Ngược lại, nếu một người đã thực tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Ngài, thì dù sau khi chết, không được linh mục nào đến đồng tế, và thậm chí xác còn không được mang vào trong nhà thờ như đã xảy ra ở nơi nào đó, thì cũng không thiệt thòi gì trước mặt Chúa khi Người công minh phán xét. Vậy đừng ai lầm tưởng rằng hễ có nhiều cha đồng tế, nhất là được hồng y, giám mục chủ tế và chi ra nhiều tiền cho nhà thờ thì bảo đảm phần rỗi hơn là không có cha nào dâng lễ và không dâng cúng đồng nào cho ai. Thật ra, đây chỉ là vinh dự trần thế mà thôi chứ không hề là bảo đảm gì về lợi ích thiêng liêng trước mặt Chúa cho ai sau khi lìa đời. Tóm lại, cần sống đẹp lòng Chúa bây giờ thì đó mới là bảo đảm chắc chắn cho phần rỗi mai sau. Xin dâng nhiều lễ, cầu nguyện và làm việc lành chỉ có ích cho những linh hồn đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa nhưng còn chưa lành sạch đủ để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Ngài mà thôi. II- Bổng lễ (mass stipends) Vấn đề này tôi đã giải thích nhiều lần. Nhưng vì còn có người vẫn thắc mắc nên tôi xin nói lại một lần nữa. Bổng lễ là số tiền tượng trưng linh mục được hưởng khi dâng một thánh lễ cầu nguyện theo ý người xin. Số tiền này do Tòa giám mục địa phương ấn định. Thí dụ ở Houston là 5 dollars cho mỗi thánh lễ. Như vậy, linh mục không được phép đòi hơn số tiền qui định này để dâng lễ cầu cho ai (x. giáo luật số 952, triệt 1). Nhưng nếu người xin lễ tự ý dâng số tiền lớn hơn thì linh mục được phép nhận mà không có lỗi gì. Mặt khác, nếu người xin lễ, vì nghèo túng, không có khả năng trả số tiền qui định đó thì linh mục cũng được khuyên nên dâng thánh lễ dù không có bổng lễ (giáo luật số 945, triệt 2). Điều quan trọng cần hiểu là ơn Chúa ban qua thánh lễ không dính dáng gì đến số tiền to, nhỏ của người xin trả cho linh mục. Ơn thánh của Chúa thì hoàn toàn vô giá (invaluable), nghĩa là không thể mua được bằng tiền bạc hay của cải vật chất. Tiền xin lễ theo qui định của giáo quyền chỉ có giá trị đãi ngộ cho linh mục dâng lễ theo tinh thần “người lo cho các thánh vụ thì được hưởng lộc Đền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ thì cũng được chia phần của bàn thờ…” như Thánh Phaolô đã dạy (x. 1 Cor 9:13). Do đó, sẽ mắc tội mại thánh (buôn thần bán thánh) (simonia) nếu ai muốn dùng tiền của để mua ơn Chúa, hoặc đòi tiền để ban một bí tích hay gây cho người ta lầm tưởng rằng xin lễ với bổng lễ to thì được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn lễ với bổng lễ nhỏ; tất cả đều là những hình thức buôn thần bán thánh bị nghiêm cấm trong Giáo Hội (giáo luật số 947; 1380). Sau hết, cũng liên quan đến bổng lễ , linh mục không được phép gom tất cả ý lễ nhận được để hưởng trọn trong một thánh lễ. Ngược lại, phải dâng đủ lễ cho mỗi ý lễ, nghĩa là người ta xin bao nhiêu lễ thì linh mục phải làm đủ số ý lễ đó, dù bổng lễ là to hay nhỏ (x. giáo luật số 948). Mặt khác, dù dâng nhiều thánh lễ trong một ngày, linh mục cũng chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, (trừ dịp lễ Giáng Sinh). Các bổng lễ còn lại phải được chuyển về Tòa giám mục để phân phối cho mục đích khác (giáo luật số 951). Nếu có nhiều ý lễ nhận được trong một thánh lễ thì muốn hưởng hết bổng lễ, linh mục phải làm bù lại vào các ngày khác cho đủ ý lễ của người xin. Nhưng linh muc không được phép nhận nhiều ý lễ có bổng lễ đến mức không thể làm hết được trong vòng một năm (x. giáo luật số 953). Đó là tất cả những điều cần thiết tôi phải nói lại một lần nữa về vấn đề đồng tế, và bổng lễ theo giáo luật. Ước mong những giải thích này thỏa mãn được mọi thắc mắc liên hệ.

 

Hỏi : xin cha giải thích trường hợp có thật sau đây: Trong một tang lễ cử hành bên Việt Nam gần đây, linh mục chủ tế (chánh xứ) không cho một vài linh mục trong tang gia đồng tế , khiến các vị này phải đứng ở cuối nhà thờ. Quan tài cũng không được phép mang vào trong nhà thờ. Sau lễ, linh mục chánh xứ ( chủ tế) giao cho một giáo dân tiễn đưa linh cữu ra nghĩa trang và cử hành nghi thức hạ huyệt. Tang gia rất bất mãn về việc này. Nhưng cũng ở nhà thờ này, tuần sau có một bà già giầu có qua đời, quan tài được mang vào trong nhà thờ và có tới 32 linh mục đồng tế. ! Như vậy, luật lệ ra sao ? ( một giáo dân từ Mỹ về dự lễ tang). Trả lời : Tôi thật ngạc nhiên khi đọc câu hỏi trên. Nhưng trước hết, xin được nói về vấn đề đồng tế và nghi thức an táng của Giáo Hội. I-Vấn đề đồng tế ( Concelebration). Đồng tế có nghĩa là một vài hay nhiều linh mục cùng đâng lễ chung với giám mục hay với một linh mục khác làm chủ tế (celebrant). Việc này rất thông thường và hợp pháp trong Giáo Hội khắp mọi nơi, vì không có khoản giáo lý hay giáo luật nào ngăn cấm hay hạn chế việc đồng tế. Ngược lại, giáo luật nói rõ là "chỉ những tư tế (giám mục, linh mục) được truyền chức hữu hiệu mới được phép dâng thánh lễ, tức cử hành bí tích Thánh Thể" mà thôi, và "các tư tế có thể đồng tế Thánh lễ" ( x. giáo luật số 900 & 902). Trong thực hành, việc đồng tế này thường xảy ra khi có số đông linh mục gặp nhau trong các dịp tĩnh tâm, hay hội họp, hội thảo. Hay trong những dịp trong đại như tham dự lễ truyền chức của tân Giám mục hay linh mục, hoặc trong ngày lể Dầu (Chrism Mass) thứ năm Tuần Thánh. Trong những dịp này, các linh mục trong giáo phận thường qui tụ quanh giám mục để đồng tế, cầu nguyện cho các tân chức hay để lập lại lời cam kết phục vụ của mình (Renewal of priestly service). Ngoài ra, khi có một linh mục qua đời thì các linh mục trong giáo phận cũng đồng tế cầu nguyện trong lễ an táng và làm riêng 3 lễ nữa để cầu cho người quá cố vì tình anh em trong linh mục đoàn. Sau hết, khi song thân của một linh mục qua đời thì các linh mục quen biết cũng được khuyên đến đồng tế để tỏ tình thân liên đới giữa anh em linh mục. Đây là truyền thống ở khắp nơi trong Giáo Hội liên quan đến việc đồng tế của các linh mục. Riêng về lễ tang và lễ cưới thì tùy nơi, tùy giám mục địa phương quyết định có cho đồng tế hay không.( ở Mỹ, không có ai cấm hay giới hạn việc này). Nếu có sự hạn chế hay cấm ở đâu thì chắc là vì muốn tránh những ganh đua có tính thế tục trong những hoàn cảnh này chứ không phải vì có giáo lý hay giáo luật nào đòi buộc.. Nói rõ hơn, không có giáo luật hay luật phụng vụ nào cấm linh mục đồng tế trong lễ tang của giáo dân hay lễ cưới cả. Nếu có nơi nào cấm, chắc vì muốn tránh những lạm dụng, như gia đình này quen biết nhiều linh mục nên có đông cha đồng tế làm cho tang gia hay chủ hôn được hãnh diện với cộng đoàn giáo xứ địa phương. Ngược lại, gia đình khác, vì không quen biết nhiều linh mục nên có ít hay không có cha nào đồng tế, khiến họ cảm thấy buồn tủi , thua thiệt. Đây chắc là lý do chính khiến có sự giới hạn hay ngăn cấm đồng tế trong các dip lễ cưới, lễ tang như nghe nói bên ViệtNam. Tuy nhiên, nếu đã vì lý do này mà ngăn cấm thì phải áp dụng đồng đều cho mọi người, và mọi trường hợp, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn, quen thân hay xa lạ.. Cụ thể, không thể thiên vị cho người sang giầu, thân quen được có giám mục chủ tế và nhiều cha đồng tế, nhưng lại bất công, vô cảm, áp dụng cứng nhắc luật cấm đồng tế đối với người nghèo cô thân cô thế hay không quen thân cha xứ, mặc dù trong gia đình họ có con cháu là linh mục muốn đồng tế trong lễ tang của thân nhân!. Như vậy, rõ ràng đây là sự bất công tồi tệ và gương xấu về phân biệt đối xử trong Giáo Hội địa phương. Nhưng cần nhấn mạnh là Nước Thiên Chúa và phần rỗi linh hồn của con người không hề dính dáng gì đến tiền bạc, danh dự trần thế, và cảm tình cá nhân. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai lầm tưởng rằng hễ thân quen, được có giám mục và nhiều linh mục đồng tế, có nhiều người danh vọng đưạ đám, và dâng nhiều tiền cho cha xứ và cho các cha đồng tế, thì linh hồn sẽ mau được lên Thiên Đàng. Lên hay không trước hết phải nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, cộng với thiện chí của người quá cố khi còn sống đã quyết tâm đi tìm Chúa và sống theo đường lối của Ngài hay không. Nếu đã khước từ Thiên Chúa trong suốt cuộc sống này, thì sau khi chết, dù có được Đức Thánh Cha dâng lễ, và có hàng trăm hồng y, giám mục, linh mục đồng tế thì cũng vô ích mà thôi. Ngược lại, nếu đã sống tốt lành ở đời này, thì dẫu không có linh mục nào đồng tế (hay không được đồng tế vì thiên vị bất công) và cho dù xác có bị phân biệt đối xử để nằm ở ngoài cửa nhà thờ, thì cũng không hề thiệt thòi gì trước mặt Chúa khi Người công minh và nhân từ xét xử. Chắc chắn như vậy. Vần đề có nhiều hay ít linh mục dâng lễ và đồng tế chỉ là vinh dự trước mặt người đời mà thôi chứ không ảnh hưởng gì đến sự thưởng phạt đời đời cho ai, vì Thiên Chúa rất nhân từ và công bằng đối với mọi người. Nói thế không có nghĩa là không cần xin lễ và cầu nguyện cho kẻ chết.Ngược lại, rất cần thiết nhưng phải hiểu và tin chắc điều này : sự cầu nguyện và mọi việc lành khác chỉ có ích cho những linh hồn đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa nhưng đang còn phải “ tạm trú” ở nơi gọi là luyện tội ( Purgatory) để được thanh luyện một thời gian trước khi được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.( x. SGLGHCG, số 1030-32). Nhưng vì không ai biết được số phận đời đời của một người vừa lìa trần, nên ta cứ phải cầu nguyện, xin dâng thánh lễ và làm việc lành để cầu cho kẻ chết. Việc ban phát và áp dụng những việc lành này cho ai là quyền của Chúa, chiếu theo lượng từ bi và công minh tuyệt đối của Ngài. II- Nghi thức an tang kẻ chết: Theo Sách các Nghi Thức Tang lễ ( Ordo Exsequiarum) được Đức Thánh Cha Phaolô VI ký và Thánh Bộ Phụng Tự công bố cho thi hành trong toàn Giáo Hội,từ ngày 01 tháng 6 năm 1970, thì chỉ có những qui định sau đây : - Nghi thức canh thức cầu nguyện ở nhà quàn ( Vigil for the deceased at Funeral Home) - Nghi thức đón linh cữu ở cuối nhà thờ ( làm phép với nước thánh trên áo quan và phủ khăn trắng lên sau đó) sau đó linh cữu đươc đưa vào trong nhà thờ để cử hành lễ tang. Không có chỗ nào nói phải để quan tài ở ngoài nhà thờ. - Lễ tang - Nghi thức tiễn đưa cuối lễ trong nhà thờ. - Nghi thức hạ huyệt ở ngoài nghĩa trang. Chủ sự các nghi thức này là thừa tác viên (Minister) tức là linh mục (nếu có thánh lễ) hoặc phó tế nếu chỉ có nghi thức đón và tiễn đưa. Như vậy, không có chỗ nào nói đến thừa tác viên giáo dân (lay minister) được chủ sự nghi thức nào cả. Tuy nhiên, trừ thánh lễ an táng, các nghi thức còn lại không phải là bí tích, nên trong trường hợp thiếu linh mục hay phó tế, thì chắc một giáo dân có thể được ủy quyền để chủ sự như nghe nói đang áp dụng ở nhiều nơi bên ViêtNam. Có lẽ vì thế mà người ta đã nghe truyền tai nhau cụm từ “Lễ nghi của ông trùm” ở một vài nơi bên nhà ? Nhưng điều quan trọng phải nói ở đây là nếu vì lý do gì (vệ sinh ???) mà quan tài không được mang vào trong nhà thờ, cũng như không có linh mục tiễn đưa ra nghiã trang, khiến một giáo dân phải thay thế, thì luật này cũng phải được áp dụng đồng đều cho mọi người. mọi trường hợp mới có công bằng. Nghĩa là không thể bên trọng bên khinh, cho người này được mang xác vào nhà thờ còn người kia phải nằm ở ngoài cửa, gây tủi buồn, bất mãn cho tang gia. Lại nữa, dù có luật địa phương (không phải giáo luật) không cho linh mục đồng tế trong tang lễ, nhưng từ chối không cho cả linh mục thân nhân của người chết được đồng tế thì thực là quá khắt khe, thiếu bác ái và tương kính trong hàng linh mục. Việc đồng tế, trong trường hợp này, không phải là chuyện phô trương, thiện vị, khiến gây buồn bực hay bì tị cho các gia đình không được mời linh mục đồng tế. Đây là việc chính đáng phải thông cảm cho phép vì tình cảm gia đình trong mọi nền văn hóa, nhất là truyền thống văn hóa của người Việt. Tóm lại, nếu chỉ áp dụng luật (tự biên tự diễn) cho những người cô thân cô thế, hay không quen thân hoặc “ biết điều” với cha xứ, nhưng lại ngang nhiên dễ dãi cho những người giầu có, quyền chức, danh vọng hay thân quen, thì Giáo Hội không còn là nơi dành cho hết mọi người không phân biệt mầu da, tiếng nói, và giai cấp xã hội muốn đến phụng thờ Thiên Chúa nữa. Ngược lại, đã trở thành nơi buôn thần bán thánh, dành cho những người có tiền có danh đến nhởn nhơ khi sống và phô trương sau khi chết ! Như vậy, làm sao Giáo Hội chứng nhân được cho Chúa Kitô khó nghèo, công minh và đầy nhân ái với hết mọi người, trong mọi hoàn cảnh ? Xã hội đã đầy rẫy bất công, tha hóa và không có tình người, vậy nếu người tông đồ của Chúa cũng hành xử không hơn gì những kẻ vô đạo, chỉ ham mê tiền bạc danh lợi phù phiếm, thì thuyết phục được ai tin những lời rao giảng của mình nữa? Sau hết, nếu giám mục, bề trên vẫn thi nhau ra nước ngoài, hết đợt này đến đợt nọ để giảng và chủ sự những nghi lễ không thuộc trách nhiệm mục vụ của mình và mang về hàng trăm, hàng chục ngàn đôla, nhưng lại làm ngơ, không quan tâm sửa chữa những tệ trạng này trong Giáo phận của mình thì những chương trình xây cất, tu sửa, đào tạo cần thêm đôla liệu có ích gì trong thực tế, nhất là cho việc phúc âm hóa con người , một trọng trách của Giáo Hội ở khắp mọi nơi ?

 

Hỏi: Xin cha giải thích rõ: 1- Tại sao người Công Giáo không được tham dự nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho với anh em Tin lành. 2- Tại sao và trong trường hợp nào người Công giáo được lãnh các bí tích trong Giáo hội Chính Thống? Trả lời: 1- Trong một bài trước đây, tôi đã có dịp nói về sự khác biệt giữa Giáo Hội Công Giáo và các giáo phái ngoài Công giáo. Liên quan đến các giáo phái Tin lành (Protestants), thì sự khác biệt này được nhận rõ trong những điểm căn bản sau đây: Trước hết, anh em Tin lành, nói chung, chỉ dựa vào Kinh Thánh làm nền tảng cho niềm tin và sứ vụ của họ. Nghĩa là họ chỉ nhận và tin có Kinh Thánh (Sola Scriptura) mà thôi, trong khi Giáo Hội Công Giáo – ngoài Kinh Thánh – còn có thêm kho tàng Mặc khải revelatio)và Thánh Truyền(Traditio) như những nguồn suối khác thông truyền đức tin và chân lý. Chính vì chỉ dựa vào Kinh Thánh và hiểu Kinh Thánh theo cách cắt nghĩa riêng của họ, nên anh em Tin lành khác biệt Công Giáo về những điểm chính yếu sau đây: a- Không tin có chức linh mục (priesthood) được Chúa Kitô thiết lập trong Bữa tiệc ly cùng với bí tích Thánh Thể như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo tin. b- > Không tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh vì căn cứ vào các trình thuật trong Mt 12:46-50; Mc 3:31-35; Lc 8:11-15 kể lại việc Đức Mẹ và một vài “anh em Chúa Giêsu đến gặp Người”. Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống hiểu cụm từ “anh em” ở đây theo nghĩa thiêng liêng, trong khi người Tin lành hiểu theo nghĩa huyết tộc. Vì thế, họ tin là sau khi sinh Chúa Giêsu với quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ còn sinh thêm một vài người con khác, cho nên Đức Mẹ chỉ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi.Nghia la sau khi sinh Chua Giesu, Duc Me khong con dong trinh nua. c- Chỉ công nhận bí tích rửa tội. Không tin có các bí tích thêm sức, hòa giải, thánh thể, xức dầu bệnh nhân, truyền chức thánh và hôn phối. d- Không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ lãnh Giáo Hội, người kế vị Thánh Phêrô>. Theo tín lý của Giáo Hội Công Giáo thì chức linh mục được Chúa Kitô lập ra để phục vụ cho bí tích Thánh Thể, căn cứ vào lời Chúa trong Bữa tiệc ly: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” ( 1 Cor 11: 24-25). Nghĩa là phải có chức linh mục thì mới có bí tích thánh thể để biến bánh và rượu nho thành Mình và Máu Chúa Kitô trong Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist) làm sống lại không những bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ mà đặc biệt là Hy tế đền tội của Người dâng lên Chúa Cha trên thập giá để xin ơn cứu chuộc cho toàn thể nhân loại. Đây là niềm tin của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthodox Churches). Anh em Tin lành, ngược lại, không chia sẻ niềm tin này, nghĩa là họ không nhìn nhận Chúa Giêsu đã lập chức linh mục và bí tích Thánh Thể trong Bữa tiệc sau cùng. Vì thế việc họ hội họp và bẻ bánh, uống rượu không phải là việc cử hành Bữa ăn và Hy tế của Chúa Kitô mà chỉ để làm lại những gì họ đọc và hiểu các trình thuật trong Kinh Thánh Tân Ước về bữa ăn này mà thôi. Do đó, người công giáo, nếu vì xã giao phải tham dự một nghi thức nào của anh em tin lành, thì không được tham gia vào việc bẻ bánh và uống rượu này; vì trước hết, đây không phải là Mình và Máu Chúa Kitô. Sau nữa, làm như vậy có nghĩa là chia sẻ niềm tin của họ về việc không tin có chức linh mục và bí tích thánh thể. Nói khác đi, vì anh em tin lành không tin có chức linh mục, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể gắn liền với chức Linh Mục mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong bữa tiệc ly, và truyền cho các Tông Đồ và những người thừa kế hãy “làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, như Giáo Hội Công Giáo tin mỗi khi cử hành Thánh lễ Tạ Ơn. Đây là điểm khác biệt lớn lao giữa Công Giáo và Tin lành về việc cữ hành Bữa ăn của Chúa Giêsu. 2- Cũng liên quan đến vấn đề trên, thì giữa Giáo Hội Công Giáo và anh em Chính thống Đông Phương lại không có sự khác biệt nào về niềm tin, về nguồn gốc tông đồ và về các bí tích của Giáo Hội. Nghĩa là, Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận anh em Chính Thống có chung một nguồn gốc Tông Đồ và có các bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Chỉ khác một vài điểm không liên quan đến tín lý và thần học là họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng và không buộc các linh mục phải giữ luật độc thân (celibacy) như Công Giáo. Chính vì họ có các bí tích hữu hiệu, nên người Công giáo, trong trường hợp không tìm được nhà thờ Công giáo nơi cư ngụ, hoặc trường hợp nguy tử không tìm được linh mục Công giáo, thì được phép tham dự phụng vụ và lãnh các bí tích Thánh Thể, hòa giải, và xức dầu nơi các tư tế Chính Thống. Tóm lại, chỉ có các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương là gần gũi Giáo Hội Công Giáo về thần học, bí tích và phụng vụ mà thôi. Đó là lý do vì sao Giáo Hội cho phép giáo dân được tham dự phụng vụ và lãnh các bí tích trong Giáo Hội Chính Thống, nhưng chỉ trong những trường hợp đặc biệt nói trên mà thôi.

 

Hỏi: Xin cha giải thích điều răn thứ Chín và Mười với những nguy hại của tội nghịch hai giới răn này. Trả lời: Trong Mười Điều Răn Thiên Chúa truyền trước hết cho dân Do Thái xưa và cho toàn thể Dân Chúa ngày nay phải tuân giữ thì hai giới răn thứ chín và thứ mười ngăm cấm con người không được ham muốn những điều bất chính sau đây: 1- Ham muốn vợ (hay chồng) của người khác (điều răn thứ chín). 2- Ham muốn những của cải và mọi vật sở hữu của người khác (điều răn thứ mười). Hai giới răn này tóm tắt nội dung lời Chúa truyền dạy sau đây: “Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta.” (Xh 20: 17; Đnl 5:21). Con người, do hậu quả của tội lỗi, vẫn còn mang nặng trong bản tính của mình những khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự dữ. Những khuynh hướng này có tên gọi chung là “nhục dục = concupiscence” tức động cơ thúc đẩy con người đi tìm kiếm để thỏa mãn những thèm khát bất chính mà thánh Gioan đã nói rõ hậu quả như sau : “Vì mọi sự trong thế gian: như nhục dục của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không xuất phát từ Chúa Cha nhưng xuất phát từ thế gian; mà thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi” ( 1 Ga 2: 16-17). Những ham muốn trên đây chắc chắn đi ngược lại những gì Thiên Chúa tha phép và chúc phúc cho con người được thụ hưởng để làm vinh danh Ngài và cũng để mưu ích cho chính con người trong cuộc sống này trước khi được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời. Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng con người có hồn có xác, với những nhu cầu tự nhiên về tâm sinh lý, và đặc thù, với những nhu cầu siêu nhiên thể hiện qua những khát vọng về chân thiện mỹ, khác biệt với mọi tạo vật khác. Do đó, Thiên Chúa không mong muốn con người sống như các thiên thần hay như loài vật là loài chỉ có nhu cầu sinh lý, như ăn, uống và sinh sản. Ngài chỉ mong muốn con người biết sử dụng lý trí để chọn lựa điều tốt để làm và sự dữ, sự xấu để tránh hầu được sống muôn đời. Vì thế, sự thưởng phạt chỉ đặt ra cho con người là thụ tạo có lý trí và ý chí tự do mà thôi. Để giúp cho con người phương tiện sống trong trần thế này, Thiên Chúa đã ban tặng nhưng không (gratuitously) trái đất với biết bao hoa mầu và nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú cho con người khai thác và tận hưởng. Thiên Chúa tuyệt đối không được lợi lộc gì mà phải ban phát nhưng không những phúc lợi này cho con người. Ngài ban chỉ vì yêu thương con người mà thôi. Quan trọng hơn cả, Thiên Chúa còn quan tâm đến hạnh phúc thật, hạnh phúc đời đời của con người, nên đã ban tặng chính “Con Một để ai tin vào Con của Ngtười thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” ( x. Ga 3:16). Và để bảo đảm cho hạnh phúc đời đời đó nhờ công nghiệp của Chúa Kitô, Thiên Chúa đã truyền cho con người những giới răn cần thiết phải tuân giữ để được sống đời đời. Đó là mục đích của Mười Điều Răn mà mọi tín hữu trong Giáo Hội đang phải tuân giữ ngày nay. Nói khác đi, chỉ vì hạnh phúc đời đời của con người mà Thiên Chúa đã truyền dạy các giới răn đó chứ không phải vì lợi ích riêng nào của Ngài mà con người phải tuân thủ những luật lệ này. Giới răn thứ Chín và Mười chỉ rõ cho chúng ta những điều phải tránh để sống đẹp lòng Chúa và cũng để bảo vệ hạnh phúc cho chính mình trong cuộc sống này. Lý do là nếu con người không biết tự chế, sống theo lý trí để kiềm hãm những dục vọng bất chánh về của cải vật chất và phái tính (sexuality) thì sẽ tự chuốc lấy biết bao tai họa cho chính mình, đau khổ cho người khác, tội ác cho xã hội. Cụ thể, nếu người ta cứ tự do “ước muốn vợ, chồng” của người khác thì hậu quả tất nhiên sẽ làm gia tăng tội ngoại tình, gian dâm, giết người để cướp vợ, cướp chồng của người khác. Thực tế này đã và đang xẩy ra cho nhiều người ở khắp mọi nơi, trong mọi nền văn hóa và ở mọi thời đại. Cách riêng, đó cũ ng là thực tế của một số đàn ông đã lớn tuổi nhưng mất nết, bỏ vợ già để về ViệtNam cưới vợ trẻ, đáng tuổi con cháu mình, bất chấp liêm sỉ, phong hóa, đạo đức như người ta đang chứng kiến hiện nay. Đây quả thật là sự suy thoái trầm trọng về luân lý và phong hóa khiến cho giới trẻ mất het niềm tin và kính trọng thế hệ cha ông của mình vì gương xấu vô liêm sỉ này. Do đó, để chế ngự những ham muốn bất chính, điều răn thứ chín dạy nhân đức tiết độ, nết na và trong sạch trong tâm hồn, vì “sự trong sạch Kitô giáo đòi hỏi thanh tẩy bầu khí xã hội, đòi hỏi các phương tiện truyền thông đại chúng quảng bá sự kính trọng và tự chế. Sự trong sạch của tâm hồn sẽ giải thoát con người khỏi không khí quyến rũ của dâm ô và cảnh giác ta tránh xa những phim ảnh kích động thú vui bệnh hoạn thích nhìn xem những cảnh dâm dật và khêu gơi ảo tưởng” ( x. SGLGHCG, số 2525). Chúa Giêsu cũng đặc biệt đề cao sự trong sạch của tâm hồn như một điều kiện để được hưởng Thánh Nhan Chúa, “phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (x. Mt 5,8). Có tâm hồn trong sạch đòi hỏi chế ngự khuynh hướng dâm loạn đưa đến thèm muốn vợ hay chồng của người khác, vi phạm giao ước hôn nhân đòi hỏi vợ chồng phải chung thủy với nhau và tôn trọng chủ quyền của người khác. Đây là nguyên nhân chính gây ra tội ngoại tình (adultery) làm tan vỡ hạnh phúc gia đình của nhiều cặp vợ chồng xưa và nay. Không cần phải chiếm đoạt mà chỉ ước muốn thôi cũng đã có tội như Chúa Giêsu đã cảnh cáo: “...Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” ( x. Mt 5: 28). Mặt khác, cũng vì ham muốn của cải của người khác mà sinh ra biết bao tai họa như lưu manh, lừa đảo, trộm cướp, và giết người là những tội mà điều răn thứ năm và thứ bảy nghiêm cấm. Ham muốn của cải vật chất cũng xô đẩy các quốc gia lớn, mạnh đi mở mang thuộc địa để cướp tài nguyên của các nước khác nhỏ và gây ra chiến tranh tàn khốc từ xưa đến nay. Nó cũng là động cơ thúc đẩy một số chế độ chính trị tự ý làm luật để cướp tài sản và bất động sản của dân, của sở hữu chủ khác, bất chấp luật công bình phổ quát phải tôn trọng. Hậu quả nhãn tiền của lòng ham muốn bất chính này là thói ghen tị, một “nết xấu hàng đầu khiến người ta buồn bực khi thấy người khác có của cải , từ đó ước muốn chiếm đạt cho mình một cách bất chính.. . Thánh Augustinô coi ghen tị là ‘tội của ma quỷ’ vì ghen tị sinh ra thù ghét, nói xấu và vu khống: vui khi thấy người khác gặp hoạn nạn, buồn bực vì thấy người khác thành đạt” ( x. SGLGHCG, số 2539). Nhưng nếu thấy người khác được giầu sang phú quý mà mình ham thích để từ đó cố gắng tìm kiếm cho mình những điều ấy bằng phương tiện chân chính, hợp pháp thì lại được phép, nghĩa là “không vi phạm điều răn thứ mười” ( x, Sđd, số 2537). Thí dụ, thấy người khác học hành thành công, buôn bán, làm ăn có tiền từ đó mình cũng ham thích, cố gắng học hành hay làm ăn lương thiện để có danh vọng, tiền bạc như họ thì không có gì sai trái. Ngược lai, thấy người ta giầu có, danh vọng mà sinh lòng ghen ghét, dèm pha, nói xấu, vu khống hay tìm cách chiếm đoạt tài sản của người khác cách phi pháp thì đó mới là tội nghịch điều răn thứ mười. Cũng được kể là lỗi giới răn này những nhà buôn cố ý tạo tình trạng khan hiếm giả tạo hàng hóa để bán giá cao sản phẩm của mình để kiếm lời nhiều, gây thiệt hại cho người tiêu thu. Tóm lại, ham mê tính dục đến mức mù quáng thèm muốn vợ, hay chồng của người khác; hoặc ước muốn chiếm đoạt tài sản và những vật sở hữu của người khác là những điều cực xấu phải tránh nếu con người muốn sống theo đường lối của Chúa để được hạnh phúc Nước Trời. Trong bầu khí ô nhiễm của văn hóa sự chết đang lan tràn khắp nơi ngày này, nói đến kiềm chế những khuynh hướng xấu quả thực là chuyện khôi hài, khờ dại, không thực tế. Người khôn ngoan sống theo văn hóa sự chết là người cười nhạo lên những giá trị của nhân luân và đạo đức phổ quát để đi tìm và hưởng thụ mọi thú vui, mọi lợi lãi ở trần thế này, bất chấp mọi ngăm đe của luân lý, trật tự. Vậy người tín hữu Chúa Kitô của thời đại hôm nay, liệu có dám sống đức tin của mình hay muốn thỏa hiệp với văn hóa sự chết?

 

Một lần nữa Mùa Chay Thánh lại trở về với Giáo Hội trong chu kỳ phụng vụ hàng năm. Đây quả thật là thời điểm thuận tiện mời gọi mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội suy niệm thêm một lần nữa về lời kêu gọi cách nay trên 2000 năm của Chúa Cứu Thế Giêsu được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Mác-cô: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” ( Mk 1:15). Mùa chay là mùa sám hối. Đúng, nhưng nói đến mùa chay, người ta chỉ quen nghĩ đến việc kiêng thịt các ngày thứ sáu và ăn chay đặc biệt trong hai ngày thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh. Nếu chỉ làm có thế thôi thì chưa đủ. Mà tổ chức lễ hội Mardi Gras để mặc sức ăn chơi nhẩy nhót cuồng loạn trong đêm thứ ba trước ngày thứ tư lễ tro thì lại càng sai trái đối với tinh thần và mục đích của việc chay tịnh nữa. Thật vậy, sống trọn vẹn ý nghĩa của mùa chay đòi hỏi chúng ta phải làm gì khác hơn nữa. Bài suy niệm này xin được gợi ý về ba chiều kích sau đây: I- chiều kích cá nhân II- Chiều kích xã hội III- Chiều kích giáo hội I- Chiều kích cá nhân Mùa chay, trước hết, kêu gọi chúng ta thực tâm sám hối. Sám hối để nhìn nhận những lầm lỗi mình đã mắc phạm vì yếu đuối con người. Thật vậy, ai có thể tránh được những nguy cơ của tội lỗi còn nặng chĩu trong bản tính yếu đuối của con người, cộng thêm gương xấu to lớn của thế gian và cám dỗ đáng sợ của ma quỉ, ví như “sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5 :8). Vì thế, đứng vững được trước những nguy cơ này quả thực là một thách đố lớn lao cho những ai có niềm tin và thiện chí muốn sống niềm tin đó trong bối cảnh xã hội ngày nay. Tuy nhiên chúng ta không thất vọng vì Thiên Chúa luôn kiên nhẫn và giầu lòng xót thương kẻ có tội biết sám hối, muốn ăn năn để xin tha thứ và giúp chuyển hướng cuộc đời. Do đó mùa chay cũng là thời điểm thích hợp để chúng ta chạy đến cùng Chúa trong tâm tình thực sự thống hối và tin tưởng nơi lòng thương xót, thứ tha của Chúa, người Cha rất nhân từ, mong “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm, 2:4). Chúa muốn cứu nhưng con người phải tỏ thiện chí muốn cộng tác và quyết tâm từ bỏ tội lỗi là cản trở duy nhất để sống tình thân với Chúa và hy vọng được cứu độ nhiên hậu. Nếu con người không có thiện chí này thì Thiên Chúa không thể cứu ai được, mặc dù Ngài là tình thương tha thứ và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá. Mùa chay chính là thời điểm để nói lên thiện chí đó. Mùa chay cũng là mùa cầu nguyện và chay tịnh. Nhưng phải ăn chay cách nào mới đúng tinh thần chay tịnh, đẹp lòng Chúa? Ta hãy nghe lại lời Chúa sau đây qua miệng ngôn sứ Giô-en: “Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng” ( Ge 2 :13). Xé lòng nghĩa là thực tâm sám hối và quyết tâm hoán cải để trở nên hoàn hảo hơn. II- Chiều kích xã hội Những bất công và tha hóa trong xã hội ở khắp nơi ngày nay quả thật là lý do để sám hối cho những ai có trách nhiệm duy trì kỷ cương và thi hành công lý. Làm sao Tin Mừng yêu thương, công bình, bác ái và an hòa của Chúa Kitô được rao giảng và đón nhận, khi con người còn đang phải sống trong những hoàn cảnh, hay điều kiện vô cùng bất công, tội ác và tụt hậu về luân lý, đạo đức trước sự bất lực hay dung dưỡng của các chế độ chính trị? Hòa bình, công lý và nhân ái mà Chúa Giêsu mang xuống từ trời cao vẫn còn quá xa lạ đối với biết bao dân tộc đang bị bóc lột, bỏ đói và đối xử tàn tệ như hàng chục triệu người bị coi là những kẻ nhơ uế, cấm không ai được đụng tay vào họ (Untouchable) như đám dân Dalit bên Ấn Độ hiện nay. Thêm vào đó, nạn diệt chủng (genocide) vẫn công khai tiếp diễn ở Darfour, Sudan, Phi Châu trước sự làm ngơ của thế giới, đặc biệt các cường quốc đông tây. Người ta vẫn ngang nhiên lấy “lý của kẻ mạnh” hay “kẻ mạnh luôn có lý” để xâm lăng hoặc cướp đất đai, tài nguyên của các nước khác yếu thế hơn họ về mặt quân sự. Tồi tệ hơn nữa là tình trạng suy thoái đạo đức do việc cổ súy hay làm ngơ của các xã hội cho những lối sống vô luân, bất công, vô nhân đạo, và tôn thờ khoái lạc vật chất ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Đó chính là những lý do phải sám hối, phải thay đổi cho những ai có trách nhiệm chính trị, xã hội và phong hóa. III- Chiều kích Giáo Hội Mùa chay cũng mời gọi người tông đồ trong Giáo Hội suy niệm kỹ thêm lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” (Lc 10: 3). Chúng ta đừng vội nghĩ Chúa Giêsu không thực tế khi đưa ra những lời khuyên dạy này. Chắc chắn Chúa biết rõ những nhu cầu vật chất tối thiểu mà mọi người phải cần đến khi sống trên trần thế này. Câu “có thực mới vực được Đạo” quả có giá trị thực tiễn ngay cả đối với người tông đồ, sống trong hoàn cảnh sống thế giới ngày nay. Nhưng chắc chắn Chúa muốn người tông đồ phải biết tín thác, trông cậy vào Chúa trong mọi việc mình làm chứ không phải chỉ chú trọng đến những nhu cầu vật chất như tiền bạc và phương tiện hoạt động, mặc dù những yếu tố này cũng rất cần ở mức độ nào đó. Nói khác đi, phục vụ cho Tin Mừng cũng cần đến tiền và phương tiện vật chất. Cụ thể, hàng năm các giáo dân ở Mỹ được yêu cầu đóng góp cho Địa phận mình một số tiền có tên gọi khác nhau ở mỗi Giáo Phận. Thí dụ, ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston thì tiền đóng góp này gọi là DSF (Diocesan Services Fund) được chia theo tỷ lệ cho các giáo xứ. Nếu giáo dân không đóng đủ thì giáo xứ phải xuất quỹ của mình ra để đóng cho đủ số tiền Giáo Phận đã chia cho giáo xứ mình. Giám mục cần tiền này để chi phí hay tài trợ cho nhiều chương trình phục vụ của Giáo Phận trong một năm. Tòa Thánh cũng phải có ngân sách khá lớn để điều hành mọi công việc mục vụ, sứ vụ cho toàn Giáo Hội. Như thế, từ trung ương đến địa phương, Giáo Hội đều cần tiền và phương tiện vật chất để thi hành sứ vụ (ministry) của mình. Tuy nhiên, không vì thế mà Giáo hội không sống được tinh thần khó nghèo của Phúc Âm. Chúa Giêsu đã nêu gương sáng về tinh thần này khi Người chọn sinh ra trong khó nghèo, đi rao giảng Tin Mừng không cần quyên góp tiền bạc của ai và chết đi trong tột đỉnh của khó nghèo, đến nỗi không có đất để chôn, khiến người ta phải mượn ngôi mộ trống của ông Giô xép để cho Chúa nằm tạm trong 3 ngày! (x. Mt,27:60; Mc15: 46; Lc 23:53). Dĩ nhiên, thời Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng thì không cần nhiều phương tiện như ngày nay. Chúa không cần tiền mà chỉ cần tìm kiếm những người biết thờ phượng Chúa Cha đích thực trong thần khí và sự thật, vì “Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (x. Ga 4:23). Nghĩa là, cần thiết phải xây dựng con người biết tin và thờ phượng Thiên Chúa trong chân lý và thần khí chứ không phải chỉ biết đọc kinh, rước xách ồn ào mà không biết sống đạo cho có chiều sâu. Tóm lại, Chúa muốn ta xây dựng tòa nhà bên trong tâm hồn chứ không chỉ chú trọng xây nhà thờ bên ngoài cho to, sửa sang bàn thờ cho đẹp, tháp chuông cho cao, toà giám mục lộng lẫy, khiến người tông đồ lớn nhỏ phải chậy đôn đáo ra nước ngoài hết đợt này đến đợt khác để kiếm tiền cho những nhu cầu dường như bất tận ấy. Nhưng thực chất chỉ để đua tranh, phô trương chứ không cần thiết để xây dựng con người Kitô hữu đích thực. Nếu cứ lấy cớ xây cất, sửa sang, bác ái từ thiện thì các giáo hội địa phương ở khắp nơi cũng đều có nhu cầu này, nhưng không thấy ai phải vất vả chậy ngược xuôi, bất cần thể diện, địa vị của mình để đi thăm triền miên các con chiên nay không còn thuộc quyền mục vụ của mình nữa. Dù không xin, nhưng chỉ đến thăm thôi thì người ta cũng phải hiểu lý do và tự xử cho đẹp. Chính vì hấp lực của đồng tiền và mượn danh nghĩa xây cất và trợ giúp cho các chương trình bác ái, xã hội; như giúp các trẻ em mồ côi, khuyết tật hay cho các linh mục về hưu… mà một vài linh mục đã giả mạo cả chữ ký và thư giới thiệu của giám mục để đi quyên tiền bất hợp pháp ở Mỹ, khiến Văn Phòng Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Hoa kỳ đã phải lên tiếng cảnh giác trong năm qua! Thêm vào đó là một linh muc giả tàng tật khác, lạm dụng quyên tiền ở nhiều nơi và bị tố giác trên các phương tiện truyền thông cũng trong năm qua ở Mỹ. Như vậy còn gì là thể diện cho đa số người tông đồ chân chính, không chậy theo hấp lực của đồng đô la, không lấy danh nghĩa xây cất, sửa sang để đi xin hết đợt này đến đợi kia, làm phiền cho các giáo dân không có phương tiện dồi dào để giúp đỡ. Vậy, sống mùa chay cho có ý nghĩa, phải chăng người tông đồ lớn nhỏ của Chúa Kitô hãy dừng chân lại để suy nghĩ thêm về tinh thần khó nghèo của Chúa, từ đó dám sống và nêu cao tinh thần này không những bằng lời giảng dạy cho người khác mà chính mình phải làm nhân chứng bằng đời sống thực của mình?

 

Hỏi: Xin cha giải thích 2 câu hỏi sau đây: 1- Có luật nào cho phép linh mục truyền phép Mình Thánh ngoài Thánh Lễ không? 2- Tại sao người ngoài Công Giáo không được phép rước Lễ, kể cả những người không kết hôn trong Giáo Hội. Trả lời: Trước hết, xin được nói thêm về Thánh lễ và bí tích Thánh Thể. Thánh lễ Misa hay Lễ Tạ Ơn (The Eucharist) chính là cử hành bí tích Thánh Thể và Hy tế thập giá của Chúa Kitô qua phụng vụ thánh của Giáo Hội. Gọi là Lễ Tạ Ơn vì đây chính là việc chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa trước tiên của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly khi Người “cầm bánh trong tay thánh thiện khả kính, ngước mắt lên trời, nhìn Chúa là Cha toàn năng của Người, tạ ơn Chúa, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: TẤT CẢ CÁC CON HÃY NHẬN LẤY MÀ ĂN…” (Kinh Nguyện Thánh Thể (Tạ Ơn) 1). Như thế, mỗi khi cử hành Lễ Tạ Ơn, Giáo Hội lại làm sống lại “Bữa ăn của Chúa, vì Thánh Thể là bữa tiệc ly của Chúa Kitô và các môn đệ Ngài trước ngày Chúa chịu khổ hình, và cũng để nói lên hình ảnh đi trước của ‘Tiệc Cưới của Chiên Con’ (Kh 19:9) tại Giêrusalem trên trời…” (x. SGLGHCG số 1329). Nói khác đi, Thánh lễ Tạ Ơn là cử hành bí tích Thánh Thể qua đó Chúa Kitô lại một lần nữa tạ ơn Chúa Cha và biến bánh và rượu thành chính mình và máu thánh Người cho chúng ta ngày nay ăn và uống như các Tông đồ đã ăn và uống lần đầu tiên trong bữa ăn cuối cùng của Chúa cách nay trên 2000 năm. Mặt khác, cũng trong Thánh Lễ Tạ Ơn, Chúa Kitô, qua tác vụ của tư tế thừa tác (Giám mục và Linh mục), lại hiện diện cách bí tích để diễn lại Hy Tế cứu chuộc mà một lần Người đã dâng trên thập giá năm xưa. Và mỗi lần Hy Tế thập giá này được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó “Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (1 Cor 5,7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.” ( x. LG. 3). Nghĩa là mỗi lần Thánh Lễ Tạ Ơn hay Lễ Misa được cử hành thì Giao Ước mới ký bằng máu Chúa Kitô lại được canh tân, nhờ đó ơn cứu độ của Chúa lại được ban phát cho chúng ta ngày nay như đã ban phát cho con người lần đầu tiên khi Chúa dâng Hy Tế của Người lên Chúa Cha trên thập giá để xin ơn tha tội cho cả và loài người đáng bị phạt vì tội lỗi. Như thế, Thánh Lễ Tạ Ơn không phải là việc tưởng niệm (commemoration) một biến cố của quá khứ mà là một hành động làm sống lại hay hiện thực hoá (actualization) qua phụng vụ thánh những gì Chúa Kitô đã làm trong bữa ăn sau cùng tối thứ năm và sau đó trên thập giá ngày thứ sáu hôm sau để hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại của Người. Đây cũng là việc phụng thờ cao trọng nhất mà Giáo Hội dâng lên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Thánh Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium, đã dạy rằng: “Thánh Thể là nguồn mạch và là đỉnh cao của đời sống Giáo Hội” ( LG. 11), vì “Thánh Thể chứa đựng tất cả kho báu thiêng liêng của Giáo Hội, tức chính bản thân Chúa Kitô, Lễ Vượt Qua của chúng ta” (x. SGLGHCG, số 1324). Nói tóm lại, cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn là cử hành bí tích Thánh Thể, làm sống lại bữa tiệc ly và Hy Tế thập giá của Chúa Kitô trên bàn thờ ngày nay. Trọng tâm của Thánh Lễ là phút linh thiêng khi tư tế chủ tế đọc lại chính lời của Chúa Kitô để biến bánh và rượu thành Mình và Máu thật của Chúa như Giáo Hội tin khi cử hành phụng vụ thánh để “nhớ đến Thầy” đúng theo lời truyền dạy của Chúa Kitô cho các Tông Đồ hiện diện trong Bữa Tiệc Ly. Như vậy việc truyền phép thánh thể (consecration) phải được thực hiện trong khuôn khổ bữa tiệc ly tức là thánh lễ tạ ơn với đầy đủ nghi thức phụng vụ như Lễ Qui Roma đã ấn định, gồm hai phần chính là phụng vụ lời Chúa và phụng vụ thánh thể. 1- Như vậy, để trả lời câu hỏi thứ nhất, Giáo luật số 927 cấm tư tế chỉ truyền phép một chất thể (bánh hoặc rượu) hoặc truyền phép cả hai chất thể ngoài thánh lễ. Nghĩa là chỉ được và phải truyền cả hai chất thể trong thánh lễ mà thôi. Ngoài ra giáo luật cũng qui định: khi cử hành hay giúp cử hành thánh Lễ, “Tư tế và phó tế phải mặc lễ phục thánh như chữ đỏ qui định.” ( cf.can. 929). Tuy nhiên, trong trường hợp các linh mục bị tù đầy, không có đầy đủ phương tiện để cử hành trọn vẹn thánh lễ, thì các ngài chỉ có thể cử hành phần phụng vụ thánh thể, tức là chỉ truyền phép thánh thể theo công thức còn nhớ thuộc lòng mà thôi. Dĩ nhiên đây chỉ là trường hợp rất hạn hữu, bất khả kháng được phép. Thông thường thì thánh lễ phải được cử hành trọn vẹn theo đúng Lễ Qui Roma và phải có ít là một vài giáo dân tham dự. (cf.can.907) Cũng cần nói thêm về tầm quan trọng của việc hiệp lễ (communion = rước lễ). Hiệp lễ là hành động cụ thể kết hợp ta với Chúa Kitô và với toàn thể Giáo Hội là chi thể của Chúa. Hiệp lễ là cao điểm của Thánh lễ vì qua việc rước Chúa Kitô vào lòng, chúng ta được kết hiệp mật thiết với Chúa như Người đã phán hứa: “...Thầy sống nhờ bởi Chúa Cha thì ai ăn Thầy cũng sống nhờ Thầy như vậy.” (Ga 6:57). Như thế còn gì cao trọng hơn được kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô trong phép Thánh Thể qua hiệp lễ hay ruớc lễ mỗi khi tham dự thánh lễ tạ ơn. Nhưng việc này cũng phải làm trong khuôn khổ thánh lễ mà thôi. Nghĩa là mọi tín hữu được mời gọi sốt sắng tham dự thánh lễ và rước Mình Máu Chúa trong thánh lễ, trừ trường hợp bất khả kháng không tham dự thánh lễ được vì bệnh hoạn phải nằm ở nhà hay ở bệnh viện. Trường hợp này thì được phép rước Mình Thánh Chúa ngoài thánh lễ, nhưng vẫn phải giữ những điều kiện về sạch tội trọng và giữ chay tối thiểu. 2- Liên quan đến câu hỏi thứ 2, xin nhắc lại giáo lý của Giáo Hội về điều kiện phải có để được rước Mình Thánh Chúa như sau: Thánh Thể, về một chiều kích, là bí tích hiệp nhất giữa Chúa Kitô và toàn thể những ai tin và nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa. Rước Mình Thánh Chúa trong Thánh lễ là gia tăng sự hiệp nhất ấy với Chúa Kitô để được hưởng lời Chúa hứa ban: “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sống muôn đời và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết.” (Ga 6:54). Như vậy, chỉ có những tín hữu đang hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo mới được phép lãnh nhận các bí tích của Giáo Hội, cách riêng bí tích Thánh Thể mà thôi. Những người ngoài Công Giáo, trừ anh em Chính Thống Đông Phương, không chia sẻ niềm tin với Giáo Hội về nhiều phương diện, đặc biệt là về chức Linh mục và phép Thánh Thể, nên không được mời rước Mình Máu Chúa nếu họ có vì xã giao mà tham dự Thánh Lễ. Người Công giáo, nếu xét mình có tội trọng, cũng không được phép rước lễ. (x.giáo luật số 916; SGLGHCG, số 1385). Ngoài ra, cũng không được phép rước Thánh Thể những ai đang sống chung như vợ chồng mà chưa hề kết hôn hợp pháp trong Giáo Hội, kể cả những người đã ly dị ngoài toà nhưng chưa được tháo gỡ hôn phối theo giáo luật mà lại sống chung như vợ chồng với người khác. Đây là gương xấu phải tránh vì khi hôn phối cũ chưa được tháo gỡ (annulled) thì vẫn còn hiệu lực dù đã ly dị ngoài toà dân sự. Do đó, sống với người khác thì coi như công khai phạm tội ngoại tình và đó là lý do tạm thời không thể lãnh các bí tích hoà giải và Thánh Thể được.

 

Hỏi: Xin cha giải thích rõ điều răn thứ tám và trường hợp được phép không phải nói sự thật. Trả lời: Thiên Chúa là Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối. Nghĩa chỉ nơi Ngài mới có chân lý hay sự thật, sự thiện hảo và tuyệt hảo đích thực mà thôi. Chúa Giêsu cũng đã nói rõ điều này với các môn đệ: “Thầy là đường là sự thật và là sự sống.” (Ga 14:6) . Như thế, tôn trọng sự thật, sống và hành động trong chân lý là một trong những điều làm đẹp lòng Chúa nhất và cũng cụ thể nói lên ước muốn thuộc về Ngài là nguồn mạch mọi chân lý, công bình, yêu thương nhân hậu và khoan dung tha thứ. Thế giới ngày nay điên đảo chỉ vì con người không biết tôn trọng sự thật, chà đạp công lý để thi nhau làm những điều gian ác, xấu sa. Ngạn ngữ Việt-Nam có câu: “cái lưỡi không xương trăm đường ngoắt ngoéo”, hoặc “yêu nên tốt ghét nên xấu”. Chỉ vì tư lợi hay đố kỵ hiềm khích, mà người ta có thể dễ dàng đổi trắng thay đen, vo tròn, bóp méo sự thật. Chính vì không tôn trọng sự thật hay lấy sự thật làm thước đo cho mọi suy tư, quyết định và hành động nên ở ðâu người ta cũng không xây dựng được tương giao tốt đẹp lâu bền giữa người với người và làm chung được việc gì tốt đẹp, vì chỉ có sự thật mới giải thoát con người khỏi “mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha.” ( 1 Pr 2:1) Để tránh nguy cơ gian xảo đó, điều răn thứ tám “cấm tráo trở sự thật trong mọi giao tiếp với tha nhân. Lời truyền dạy luân lý này xuất phát từ ơn gọi của dân thánh là dân được chọn làm nhân chứng cho Thiên Chúa là Đấng chân thật và là chân lý.” (x. SGLGHCG, số 2464). Sau đây là các tội phạm đến chân lý tức nghịch giới răn thứ tám cần phải tránh: 1- Nói dối là trực tiếp chối bỏ hay tráo trở sự thật về một sự kiện nào đó. Thí dụ, chối không nhận tội để khỏi bị phạt hay bồi thường thiệt hại cho người khác. Tùy hoàn cảnh và sự việc mà tội nói dối nặng hay nhẹ. Thí dụ, nói dối về phẩm chất của một món hàng để bán với giá cao, gây thiệt hại cho người tiêu thụ, lỗi đức công bằng. Nhưng nói dối về đời tư và lý lịch cá nhân để lường gạt tình và tiền sẽ gây thiệt hại nặng cho người khác hơn là nói dối về phẩm chất món hàng.v.v. 2- Làm chứng gian và bội thệ (false witness and perjury): đây là tội nặng không những đối với luật pháp xã hội mà đặc biệt nghịch điều răn thứ tám của Chúa truyền dạy xưa kia: “Ngươi không được làm chứng gian hại người”. (x Xh 20:16). Sau này, khi rao giảng, Chúa Giêsu cũng đã căn dặn các môn đệ: “Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ma qủy.” (x Mt 5:37) Trong đời sống xã hội ngày nay, làm chứng gian và bội thệ có thể làm thiệt hại lớn lao cho người khác và ngăn cản thi hành công lý. Một phạm nhân có thể bị tù tội nhiều năm hay được trắng án vì lời chứng thực hay thề gian của nhân chứng. Vì thế, người bội thệ – hay thề gian – sẽ bị pháp luật trừng phạt ðích ðáng. Trong Giáo Hội, làm chứng gian cũng gây trở ngại cho sự hữu hiệu của bí tích. Thí dụ, “chứng gian cho một người đã kết hôn để người này dối gạt kết hôn với người khác thì hôn phối không thành sự (invalid).” (Giáo luật số 1098). Người chứng gian chắc chắn phạm tội lỗi giới răn thứ tám. Trường hợp không buộc phải nói sự thật: Tuy nhiên trong thực hành, luật đòi tôn trọng sự thật cũng không gạt bỏ thi hành đức bác ái Kitôgiáo trong một số trường hợp. Nghĩa là có những hoàn cảnh người ta không buộc phải nói sự thật cho người khác biết. Về điểm này, giáo lý của Giáo Hội đã nói rõ như sau: “…Vì lợi ích và sự an toàn của tha nhân, sự tôn trọng cuộc sống riêng tư và công ích, đó là lý do đủ để không cho người ta biết điều họ muốn biết.” (x. SGLGHCG, số 2284). Nói rõ hơn, không phải lúc nào cũng cần nói sự thật về ai hay về sự việc nào. Cụ thể áp dụng như sau: 1- Liên quan đến bí tích hoà giải, cha giải tội không được phép tiết lộ bất cứ điều gì nghe được từ hối nhân trong toà giải tội, dù đó là lời thú tội ngoại tình hay sát nhân. Nghĩa là không được dùng những điều nghe được trong toà giải tội để tố cáo hay làm hại ai vì bất cứ lý do nào. Đây là ấn toà cáo giải (seal of confessions) buộc mọi linh mục phải tuyệt đối giữ kín. Ai vi phạm sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết. (x. Sđd,số 2490; giáo luật số 983 &1388 triệt 1) 2- Trong xã hội , những người có bổn phận giữ gìn bí mật quân sự liên hệ đến an ninh quốc gia, những luật gia, tâm lý gia đều không được phép tiết lộ những bí mật mà bổn phận và nghề nghiệp đòi buộc phải giữ kín vì lợi ích của quốc gia hay của các thân chủ đã tín nhiệm tiết lộ cho mình. Các bác sĩ cũng không cần phải nói sự thật về bệnh tình cho bệnh nhân biết để tránh gây hoảng hốt và thất vọng cho họ. (x. Sđd ,số 2491). 3- Riêng về đời tư của người khác, dù biết sự xấu của ai thì vì đức bác ái, không được tố cáo cho người khác biết về sự xấu còn đang trong vòng kín đáo. Thí dụ, biết người nào ngoại tình với ai, nhưng chuyện này còn trong vòng kín ít người biết. Mình biết được, thì đức bác ái đòi buộc không nên tố cáo thêm cho người khác biết khiến sự xấu trở thành công khai, gây thiệt hại nặng cho danh dự của người liên hệ. Nếu có, trong trường hợp này, chỉ nên cầu nguyện cho họ, và nếu thuận tiện, thì tìm cách kín đáo khuyên bảo họ mà thôi. Nói khác đi, không ai có bổn phận phải đi tố cáo cho người khác những gì hoàn toàn thuộc về đời tư của một cá nhân, một gia đình. Nhưng ngược lại, nếu cá nhân hay tập thể làm những điều xấu có hại cho lợi ích chung của nhiều người khác hay cho cả cộng đồng, thì vì công ích chung, lại buộc phải tố cáo sự xấu hay gian dối đó. Thí dụ, biết rõ người nào đã có gia đình, nhưng đang tìm cách lấy người khác bằng cách nói dối là chưa hề kết hôn, hay người phối ngẫu đã chết, thì vì lợi ích của người đang bị dối gạt, và của người phối ngẫu đang bị phản bội kia, người biết có bổn phận phải tố cáo việc này với thẩm quyền có trách nhiệm. Cụ thể là trình sự việc cho linh mục đang giúp lo thủ tục kết hôn cho người kia biết để ngăn chặn kịp thời sự xấu, tai hại. Đây là việc bác ái, công bằng và lương tâm ðòi buộc phải làm. Nếu không, sẽ có lỗi là dung túng hay cộng tác vào việc xấu đã biết. Cũng vậy, khi biết rỏ có kẻ làm hàng giả, pha chế đồ ăn với hoá chất có hại cho sức khoẻ của người tiêu thụ thì cũng buộc phải tố cáo để tránh cho công chúng khỏi bị thiệt hại do việc làm thiếu lương thiện nói trên gây ra. Cũng thế, với những kẻ đang lường gạt phụ nữ dưới chiêu bài “hôn nhân ngoại quốc” hay tuyển mộ công nhân đi làm xa với lương cao nhưng thực tế chỉ là mua bán những phụ nữ đáng thương này cho dịch vụ mãi dâm hay nô lệ tình dục thì buộc phải lên tiếng tố cáo việc làm vô đạo của lũ người vô luân nói trên cho công luận biết để cứu nguy cho các nạn nhân. Đây là vấn đề lương tâm và đạo đức phải làm, không thể bỏ qua được. Ngoài ra, nếu biết rõ ai không phải là tín hữu Công giáo, hoặc ai đang sống chung như vợ chồng mà không kết hôn trong Giáo Hội, nhưng cứ lên rước Mình Máu Thánh Chúa thì người biết phải tố cáo việc này cho cha xứ nơi các đương sự đến dự thánh lễ để ngăn cản họ, vì theo giáo lý, giáo luật họ không được phép làm như vậy. Cũng trong trường hợp tương tự, nếu biết kẻ sát nhân đang lẫn trốn ở đâu, nhất là biết có kẻ khủng bố đang dự định phá hoại, đặt bom ở chỗ nào, thì buộc phải tố cáo kín cho nhà chức trách biết để bắt và trừng trị những kẻ đó và tránh tai họa lớn cho nhiều người. Nhưng nếu có người đang cầm dao hoặc súng đi tìm ai để sát hại, thì lại không được chỉ chổ trốn của nạn nhân cho hung thủ. Nếu chỉ chỗ để nạn nhân phải thiệt mạng thì sẽ mắc tội cộng tác vào việc sát nhân. Không ai buộc phải ngay thẳng, nói thật trong trường hợp này. Tóm lại, nói chung, phải tôn trọng sự thật vì Thiên Chúa là Ðấng chân thật. Không ðược nói dối và thề gian ðể mưu tư lợi hay ðể làm hại ai. Tuy nhiên cũng có những trường hợp cho phép người ta không cần nói sự thật vì lợi ích chung hay riêng. Nhưng cũng vì tôn trọng sự thật và ðể tránh những thiệt hại và lạm dụng của những người gian manh hay không hiểu rõ giáo lý, chúng ta cũng phải vì lương tâm mà lên tiếng tố cáo những sai trái của người khác như ðã nói trên ðây.

 

Hỏi: xin cha giải thích rõ những tội nghịch điều răn thứ sáu. Trả lời: Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ và trao phó cho họ trách nhiệm “sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất.” ( x. St 1:28) Và để thưởng công và giúp họ chu toàn ơn gọi và nhiệm vụ quan trọng này cách tốt đẹp, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ quà tặng giới tính (sexuality) được phép thoả mãn trong tình yêu vợ chồng kết hợp chính đáng qua bí tích hôn phối. Trong giới hạn này, tính dục giúp cho “người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi riêng và độc chiếm dành cho vợ chồng. Trong tinh thần đó, tính dục không phải là một cái gì thuần tuý sinh học (biological) nhưng nó liên hệ đến phần sâu xa nhất của nhân vị con người. Nó chỉ được thực hiện cách nhân bản thật sự khi nó là thành phần cấu tạo tình yêu làm cho người nam và người nữ hiến thân trọn vẹn cho nhau và cam kết gắn bó với nhau cho đến chết.” (x. SGLGHCG, số 2361). Như thế có nghĩa là chỉ trong tình yêu hôn nhân, người ta mới được phép sử dụng và thoả mãn tính dục mà thôi. Đức Thánh Cha Piô XII, trong diễn từ ngày 29-10-51 đã nói: “Chính Đấng Tạo Hoá đã thiết lập cho vợ chồng cảm thấy sự vui thú và thoả mãn về thể xác và về tâm hồn trong chức năng sinh sản này. Vậy vợ chồng không được làm gì sai trái khi tìm kiếm và hưởng thú vui này. Họ nhận lãnh những gì Đấng Tạo Hoá đẵ dành cho họ. Tuy nhiên, vợ chồng phải biết giữ mình trong những giới hạn của một sự điều độ chính đáng.” (x.Sđd,số 2362) Nói khác đi, chỉ trong đời sống vợ chồng kết hợp đúng nghĩa qua bí tích hôn phối, người nam và người nữ mới được phép hưởng thú vui phái tính cho mục đích sinh sản con cái, hoà hợp tâm hồn và tăng cường tình yêu phu phụ, đồng thời cũng nói lên “sự quảng đại và phong phú của Đấng Sáng Tạo” đã nối kết và chúc phúc cho họ trong tình yêu hôn nhân. Dầu vậy, vợ chồng vẫn được khuyên phải thực hành đức khiết tịnh (chastity) là đức giúp “chế ngự những đam mê và thèm muốn của giác quan bằng lý trí.” (x.Sđd, số 2341) . Sau đây là những tội nghịch điều răn thứ sáu trong Mười Điều Răn Chúa truyền dạy: Động lực chính đưa đến lỗi phạm điều răn này là khát vọng dâm ô (lust) hay tà dâm (fornification), tức những ước muốn về thú vui xác thịt hoàn toàn ở ngoài mục đích giới tính mà Thiên Chúa ban cho con người thụ hưởng để chu toàn mục đích của hôn nhân và để ca tụng “sự quảng đại và phong phú của Ngài”. Tà dâm lẫn lộn giữa giới hạn được phép hưởng thú vui phái tính và phạm vi không được phép tìm thú vui này. Tà dâm đưa đến ngoại tình (adultery) tức vi phạm giao uớc hôn phối đòi buộc vợ chồng phải chung thủy yêu nhau và trọn vẹn thuộc về nhau cả tâm hồn lẫn thể xác. Tà dâm đưa đến thông dâm (fornication) tức giao du tính dục giữa những người chưa kết hôn hoặc giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn. Tà dâm dẫn đến hiếp dâm (rape) một tội cướp đoạt thân xác của phụ nữ để thoả mãn thú tính trái với ý muốn của nạn nhân. Tà dâm cũng đưa đến bán và mua dâm, một tội làm thương tổn nặng nề đến phẩm giá của người phụ nữ vì biến họ thành những công cụ mua vui bất chính (illegitimate instruments for pleasures). Tà dâm cũng làm cho người ta mù quáng không biết xấu hổ khi phạm tội loạn luân (incest), một hình thức dâm loạn giữa những phần tử cùng huyết tộc trong gia đình. Sau hết, trong thời đại suy thoái đạo đức này, tà dâm đang xô đẩy nhiều người đã mất hết lý trí và lương tâm đạo đức đi tìm thú vui xác thịt man rợ nơi những bé gái dưới tuổi vị thành niên, gây thương tật cả thể xác và tâm hồn cho những nạn nhân bất hạnh bị mua bán vào hoạt động cực kỳ tội lỗi khốn nạn này. Đây chính là một trong những bộ mặt đáng ghê sợ của “văn hoá sự chết” đang thịnh hành ở nhiều nơi trên thế giới. Phạm tội nghịch điều răn thứ sáu có hai hình thức chính sau đây: 1- bằng hành động: tức là trực tiếp làm những điều dâm ô, vô luân như hiếp dâm, thông dâm, ngoại tình, loạn luân, thủ dâm (masturbation), mua bán dâm... 2- bằng tư tưởng: nghĩa là ước muốn làm những điều dâm ô này. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã cảnh cáo xưa kia: “Anh em nghe Luật dạy rằng: chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” (x. Mt 5:27-28) Ngoài hai hình thức trên, còn một hình thức nữa là gián tiếp xúi dục người khác tìm thú dâm ô qua tranh ảnh, sách báo và quảng cáo thô lỗ về phái tính. Đó là những hoạt động khiêu dâm bằng phương tiện truyền thông như sách báo, Video, DVD, mang đầy nội dung dâm ô thác loạn đã và đang đầu độc biết bao nhiêu người lớn nhỏ tìm đọc và xem những phim ảnh đồi bại vô luân này. Thêm vào đó, còn phải kể đến những quảng cáo cho những nơi ăn chơi ở các bãi biển, hộp đêm, hay quảng cáo nhớp nhúa, thô lỗ về phái tính như sửa chữa bộ phận sinh dục của nam nữ, nghệ thuật làm tình, thuốc kích thích v.v…Những hành động này không nhằm phục vụ cho sức khoẻ và hạnh phúc của con người mà thực chất chỉ để xô nhanh nhiều người xuống hố truỵ lạc để kiếm tiền mà thôi. Chắc chắn đây là tội làm gương mù gương xấu phải lên án trong phạm vi điều răn thứ sáu, vì đây chính là tội mà Chúa Giêsu đã từng nghiêm khắc lên án: “...Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá và cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó sống làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này vấp ngã.” (Lc 17: 1-2) Cũng được kể vào tội “làm cớ cho người ta vấp ngã” những người cố ý ăn mặc hở hang, nói chuyện tục tĩu khiêu gợi lòng thèm muốn bất chính về xác thịt cho người khác. Tóm lại, thú vui phái tính chỉ được phép tận hưởng trong tình yêu hôn nhân chân chính mà thôi. Tìm thú vui này ngoài phạm vi hôn nhân là điều sai trái nặng vì đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa khi tạo dựng con người có phái tính và mời gọi người nam người nữ cộng tác với Ngài trong chương trình sáng tạo và làm chứng cho tình yêu vô biên của Ngài đối với toàn thể nhân loại. Tà dâm hay dâm ô là khao khát hỗn loạn về phái tính, nên không được phép thực hành trong mọi trường hợp, kể cả giữa vợ chồng. Nói rõ hơn, không phải là vợ chồng thì được phép xem những phím ảnh khiêu dâm, lui tới những nơi xấu xa và làm những việc không phù hợp với mục đích hiệp thông, tăng cường tình yêu phu phụ và sinh sản con cái. Người tín hữu Chúa Kitô chắc chắn phải xa tránh mọi hình thức của tội nghịch điều răn thứ sáu nói trên đây để xứng đáng là men, là muối và là ánh sáng của Chúa Kitô giữa một thế giới gian tà sa đọa này.

 

HỎI : xin cha cho biết : 1- Khai gian để lấy tiền bồi thường tai nạn của bảo hiểm có tội không ? 2- Mở tiêm bán Video, DVD “XXX” có tội không? TRẢ LỜI : Là tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, ai cũng có bổn phận phải làm chứng tá (witness) cho Chúa trước mặt người đời để giúp họ nhân biết Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa: “..ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” ( x. Mt 5:16). Chính trong tinh thần làm men, làm muối và làm ánh sáng cho Chúa Kitô trong trần thế mà người tín hữu được mời gọi và có bổn phận phải nêu cao những giá trị của Tin Mừng, của Phúc Âm sự Sống trong mọi môi trường xã hội ngày nay để góp phần tích cực vào sứ mạng phúc âm hoá thế giới mà Chúa Kitô đã trao phó cho Giáo Hội. (x. Mt 28:19-20). Một trong những giá trị đó là đức công bằng đòi buộc mọi người phải tôn trọng tính mạng, danh dự và tài sản của người khác vì Thiên Chúa là Đấng nhân lành và công bình (a Merciful and Just God). 1- Do đó, liên quan đến câu hỏi thứ nhất, điều răn thứ bảy "cấm lấy hoặc giữ của cải của người khác cách bất công hoặc làm hại tài sản của tha nhân bất cứ cách nào". ( x. SGLGHCG, số 2401) Điều răn này dựa trên lệnh truyền sau đây của Thiên Chúa: “ Ngươi không được phạm tội trộm cắp” (Xh 20:15;Đnl 5,19; Mt 19:18). Trong thực hành, lỗi phạm điều răn này có nhiều cách và hình thức. Cách trắng trợn là cướp hay lấy trộm tiền bạc và những vật dụng thuộc quyền sở hữu của người khác như xe cộ, máy móc, đồ dùng, quần áo, thuốc men, thựïc phẩm.v.v. Hoặc khéo léo che đậy bằng cách ngụy tạo giấy tờ hoặc lợi dụng sơ hở của luật pháp (loopholes) như khai man để trốn thuế, để ăn tiền trợ cấp xã hội (welfare &foodstamps), trợ cấp tàn tật (disabilities) hoặc lấy bồi thường của bảo hiểm về tai nạn xe cộ. Đây là một dịch vụ công khai gian lận rất thông dụng ở Mỹ. Cụ thể, khi có tai nạn xe cộ xảy ra, những người làm dịch vụ này thường tìm đến các nạn nhân để xin thay mặt lo việc bồi thường. Về mặt pháp lý thì đúng vì người bị tai nạn và xe bị hư được quyền đòi phiá gây tai nạn phải bồi thường cân xứng. Do đó, những người làm dịch vụ xin bồi thường cấu kết với luật sư và bác sĩ để chứng thương nhiều hơn hay ít là đến mực bảo hiểm phải bồi thường theo luật.Tiền bồi thường nhờ luật sư thay mặt đòi hộ sẽ được chia theo tỷ lệ giữa bác sĩ, luật sư, người lo dịch vụ và người được bồi thường. Nếu quả thực thiệt haị về vật chất và sức khoẻ mà đúng như lời khai và giấy chứng nhận thì không nói làm gì vì đó là sự công bằng đòi hỏi phải đền bù cân xứng với thiệt hại đã gây ra. Nhưng nếu chứng gian, khai gian việc này để lấy tiền của bảo hiểm mà chia nhau thì tất cả những ai tham dự vào việc này đều lỗi đức công bằng mà điều răn thứ bảy đòi buộc tuân giữ. Nói rõ hơn, người Công Giáo làm dịch vụ này hoặc nhận tiền khai gian nhờ dịch vụ này thì chắc chắn phạm tội lỗi đức công bằng. Không thể lý luận rằng các hãng bảo hiểm thu được rất nhiều tiền của các thân chủ nên bằng mọi cách mình phải lấy lại của họ. Họ làm ăn bất chính cách nào mặc họ, nhưng đức công bằng không cho phép ta lấy tiền của họ cách trái với lương tâm và đạo đức. Người có đức tin thì phải sống đức tin trong mọi hoàn cảnh và mọi trường hợp. Nghĩa là không có luật trừ nào cho phép chứng gian hay khai man để lấy tiền của ai cả. Điều này cũng áp dụng cho những trường hợp khai gian để hưởng các trợ cấp xã hội khác như welfare, foodstamps, trợ cấp thất nghiệp ( làm tiền mặt và khai thất nghiệp) xin ly dị giả để hưởng trợ cấp single parents và Medicaid hoặc nhận làm hôn thú giả để lấy tiền của những người muốn vào Mỹ định cư theo diện kết hôn. Tất cả đều lỗi đức công bằng vì gian tham trái phép. 2- Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời một lần nữa như sau : Trong thời đại ngập tràn “văn hoá sự chết” hiện nay ở khắp nơi, người ta không từ bỏ một hình thức hay phương cách nào để kiếm tiền dù hậu quả là đầu độc cả một thế hệ nhất là giới trẻ về mặt tinh thần. Vì thế, người ta đã và đang đầu tư mạnh vào kỷ nghệ sản xuất sách báo và phim ảnh dâm ô để kiếm tiền, bất chấp những hậu quả tại hại cho sự phát triển lành mạnh về tinh thần và đạo đức của người lớn và trẻ con. Đây là sự dữ mà Chúa Giêsu đã lên án xưa kia: “Không thể không có cớ làm cho người ta vấp ngã; nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển còn lợi cho nó hơn là để cho nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã.” (x. Lc 17:1-2) Tại sao nạn giết người, bắt cóc, hiếp dâm xẩy ra nhan nhản hàng ngày ở khắp nơi ? Tai sao trẻ con mới 8, 9 tuổi đã phạm những tội tầy trời này ? Câu trả lời đúng nhất là tại phim ảnh, sách báo đồi truỵ được công khai bày bán ở các tiệm sách báo hay trình chiếu trên TV ngày đêm ! Như thế rõ rệt cho thấy những phim ảnh, và sách báo vô luân kia đã và đang gây ra những tác hại to lớn về mặt luân lý đạo đức cho những ai xem và đọc những sản phẩm đồi truỵ này. Vì thế, những người sản xuất, những ai tiếp tay để phổ biến và những người xem hay đọc những sách báo phim ảnh dâm ô này đều có lỗi nặng về mặt luân lý đạo đức. Nói rõ hơn, người Công giáo không những không được phép xem và đọc những sản phẩm vô luân này mà còn không được phép tiếp tay để quảng bá, giúp tiêu thụ những sản phẩm xấu đó nữa. Cụ thể, mở tiệm buôn bán phim ảnh(Video, DVD) và sách báo dâm ô là tạo dịp tội cho người khác sa ngã như Chúa Giêsu đã lên án trên đây. Cũng mắc tội làm cớ cho người khác sa ngã phải kể thêm những người quảng cáo và chỉ vẽ cho người khác những phương tiện và phương cách để hưởng thú vui xác thịt cách bất chính như quảng cáo sửa nắn thân thể, mô tả chi tiết các hành động dâm đãng và buôn bán những chất kích thích dâm tính..Cần phân biệt rõ sự chăm sóc sức khoẻ cho cơ thể (health care) hoàn toàn khác xa việc sử dụng cơ thể cho những thú vui bất chính, vô luân. Tóm lại, những ai muốn sống theo đường lối của Chúa thì chắc chắn không thể coi thường lời Chúa cảnh cáo về nguy cơ của gương xấu, dịp tội. Muốn tránh tội, phải tránh dịp tội.