Tham Khảo >>  XD Công Quyền

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

" Mọi người đều có điạ vị xã hội như nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể được ưu đãi hay bị thiệt thòi vì lý do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 và 3, Hiến Pháp 1949 Cộng hoà Liên Bang Đức). Nền Cộng Hoà có nhiệm vụ dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện kinh tế và xã hội là những chướng ngại vật, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, cản trở mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). A - Luật thực định và quy trách. Chủ đề của điều đang bàn nói về quyền bình đẳng, một trong những đặc tính nền tảng của thể chế Nhân Bản và Dân Chủ. Quyền bình đẳng được tuyên bố dưới hai hình thức: - thuyết lý ( formelle), điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD. - và tích cực và thực hữu ( substantielle), điều 3 đoạn 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc. Nhưng chúng ta sẽ không thể hiểu được sứ điệp cao cả Văn Bản Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ, mà chúng ta mong muốn cho tương lai Việt Nam, nếu chúng ta bình luận tách biệt hai phần được trích dẫn , như là hai phần của một bản văn không liên hệ gì nhau. Bởi lẽ cả hai đều liên hệ với con người , như là nhân vị ( persona) có phẩm giá và các quyền tự do của mình bất khả xâm phạm, liên hệ đến Phẩm Giá Con Người và Tự Do Cá Nhân, hai đề tài chúng ta đã có dịp bàn đến. Và liên hệ với hai điều vừa kể ( nhân phẩm và tự do cá nhân bất khả xâm phạm), là một số các quyền liên hệ để bảo đảm cho con người có được một cuộc sống xứng đáng với địa vị con người của mình, chúng tôi sẽ liệt kê dựa vào Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Ý Quốc ở những dòng tới. Trở lại đề tài chính, đoạn 1, quyền bình đẳng cá nhân được tuyên bố dưới hình thức tiêu cực thuyết lý ( negativa e formale): " Mọi người đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể được ưu đải hay bị thiệt thòi vì lý do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội " ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Đọc điều tuyên bố vừa kể, chúng ta có cảm tưởng đọc những lời tuyên bố về bình đẳng đã từng gặp ở các hiến pháp thể chế tự do của thời trước thế chiến II, hay không có gì mới lạ đối với các Hiến Pháp Cộng Sản, kể cả Hiến Pháp 1977 Liên Bang Sô Viết và 1992 CSVN . Các Hiến Pháp đặt nhân phẩm và quyền bất khả xâm phạm của con người trên luật tự nhiên hay theo quan niệm thoả ước, trong đó có cả hiến pháp Weimar 1919 của Đức, một lời tuyên bố trên nguyên tắc để tuyên bố, và dành cho Quốc Gia mọi quyền lập luật tùy hỷ, " État de législation ". Chúng ta có cảm tưởng như vậy, vì chúng ta đã quên rằng những lời tuyên bố Hiến Pháp chúng ta mong ước cho tương lai của Việt Nam phải chứa những điều khoản luật có giá trị bắt buộc và có chủ thể được chỉ định để quy trách, như tinh thần của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, thoát xuất từ kinh nghiệm độc tài hãi hùng của Hitler: - " Các quyền căn bản được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với các cơ chế Quốc Gia, lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là những quyền đòi buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và với điều khoản vừa kể, Hiến Pháp đã đặt con người với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình như là giá trị nền tảng của hệ thống luật pháp thực định ( lois positives) cho thể chế Quốc Gia, đặt vào chính trong thân bài của Hiến Pháp và quy trách cho ai là chủ thể phải chịu trách nhiệm hình luật, dân luật và cả luật hành chánh, nếu quyền của con người bị xúc phạm. Nói cách khác, Thế Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên, mà chúng ta mong cho Việt Nam trong tương lai, không đặt nền tảng trên quan niệm trừu tượng về con người, mà trên nền tảng pháp luật thực định. Bởi vì nền tảng củaThể Chế và Dân Chủ đa nguyên, trên đó Việt Nam tương lai được xây dựng là nền tảng của một thể chế nhằm tổ chức cuộc chung sống Cộng Đồng Quốc Gia, dựa trên pháp luật thực định ( lois positives) , có hiệu lực luật định, để xếp đặt và điều hành cuộc sống giữa người và người, hoạt động của người nầy liên hệ và hỗ tương người khác được thực thi trôi chảy và hữu hiệu. Nói như vậy, không có nghĩa là nền tảng Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của Việt Nam trong tương lai không chấp nhận - quan niệm trừu tượng về con người, - quan niệm luật tự nhiên, - quan niệm tôn giáo và triết học, mà là, ngoài ra quan niệm luật tự nhiên được tiên định trước (présupposé), Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của chúng ta còn - cần đặt giá trị về nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người trong mối liên hệ ảnh hưởng hỗ tương giữa người với người trong cuộc sống xã hội . và với những phương thức bảo đảm mối liên hệ hỗ tương đó bằng hệ thống pháp luật thực định. Con người với nhân phẩm cao cả của mình trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của chúng ta - là con người cao cả với những giá trị của mình, - nhưng không trừu tượng và đơn độc, - mà là con người được Hiến Pháp " nhận biết và bảo vệ "( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD) nhân phẩm của mình trong liên đới với những chủ thể con người khác, cũng có nhân vị đồng đẳng như mình , cùng sống và cùng hoạt động với mình trong cộng đồng Quốc Gia để đem lại lợi ích cho chính mình và cho cuộc sống chung. Đó là quan niệm con người toàn diện ( persona integrale) - trong chiều sâu thẩm của một nhân vị, - trải ra trong chiều rộng đối với đồng bào và người đồng loại của mình trong tương quan xã hội, - và trong chiều hướng thượng của mình đối với các giá trị tôn giáo, đối với Đấng Tối Cao, cùng đích của mình phải đạt đến sau cuộc sống trần thế ( J. Maritain, Humanisme intégral, trad. it, Studium, Roma 1946), những giá trị tối thượng đó trong Thế Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của Việt Nam, được hiện thực hoá bằng luật pháp thực định. Và với quan niệm con người toàn diện, một nhân vị với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình, Hiến Pháp tương lai phải nghĩ ra phương cách để bảo vệ cho mỗi người được quyền kính trọng trong địa vị con người của mình. Hiến Pháp nghiêm cấm mọi cách đối đãi thiên vị dựa trên những dị biệt không tuỳ thuộc vào bản tính nhân loại của con người: " Mọi người có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể được biệt đải hay bị thiệt thòi vì lý do phái tính, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD). B - Bình đẳng tích cực. Nhưng nếu tinh thần của những gì chúng ta vừa đọc, được trình bày qua lời tuyên bố quyền bình đẳng của Hiến Pháp dưới hình thức tiêu cực: bình đẳng có nghĩa là không được đối đãi một cách thiên vị ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). thì đoạn kế tiếp của điều khoản ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) cho chúng ta có một cái nhìn tích cực hơn về quan niệm bình đẳng của Hiến Pháp: bình đẳng là được Quốc Gia trợ lực, giúp đở những gì mà cá nhân tự mình không thể vượt thắng để thực hiện được. Được Quốc Gia trơ lực: dẹp bỏ đi những trở lực, để mỗi người có điều kiện thuận lợi - phát triển hoàn hảo con người của mình - và hoạt động góp phần làm lợi ích cho đất nước. Đó là bình đẳng trong lòng Quốc Gia và nhờ tổ chức Quốc Gia ( égalité dans..., égalité par moyen de...): " Bổn phận cua Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện vừa kể, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thât sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực và các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Trước hết trong đoạn vừa trích dẫn, Hiến Pháp nêu cho chúng ta mục đích của tổ chức Quốc Gia. Quốc Gia được tổ chức - không phải để trở thành cường quốc, đem quân đánh chiếm làm bá chủ thiên hạ bành trướng như đế quốc Roma, hay như Thành Cát Tư Hản, như Napoléon, - cũng không phải để phát triển kinh tế vượt bực, ngân sách quốc gia thặng dư và Quốc Gia giàu có bực nhứt thế giới, phóng vệ tinh liên hành tinh, - mà là tạo điều kiện thuận lợi để người dân có điều kiện phát triển hoàn hảo chính mình và có khả năng hoạt động để góp phần tạo phát triển cho xứ sở: "... triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở". Những điều kiện phải có đó để con người có thể phát triển hoàn hảo con người của mình, người dân Việt Nam chúng ta trong tương lại có quyền đòi buộc và cơ chế Quốc Gia có bổn phận cung cấp cho, được Hiến Pháp quy trách: " Bổng phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội...". Những điều kiện thuận lợi phải có đó không phải là ân huệ, mà người dân phải ngửa tay xin, mà là quyền của người dân được Hiến Pháp xác nhận, có thể đòi buộc ( actionable) , bằng các phương thức sẽ được Hiến Pháp bàn đến, Quốc Gia phải tiên liệu cho qua câu nói, " Quốc Gia Việt Nam có bổn phận". Như vậy trong phần diễn tả " bình đẳng thực hữu " ( Điều 3, đọan 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), Hiến Pháp đưa ra một phương cách tích cực can thiệp của Quốc Gia để loại bỏ đi cách hành xử theo " ân huệ" , " xin - cho", " thiên vị", " bè phái" vì bất cứ lý do gì, " Quốc Gia Việt Nam có bổn phận dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện vừa kể...", là những chướng ngại vật làm cho người dân không được hưởng tự do và bình đẳng của mình để - " phát huy làm triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dư vào đời sống Quốc Gia " một cách bình đẳng như mọi người khác ( P. Perlingieri, Scuole, tendenze e metodi, Problemi del diritto civile, Napoli, 1988, 150). Nhưng có lẽ chúng ta không nên lầm lẫn giữa bình đẳng hiến định nhân bản và bình đẳng san bằng mạt rệp của Xã Hội Chủ Nghĩa. Địa vị xã hội ngang nhau, không có nghĩa là hoàn cảnh xã hội bằng nhau " đồng nhứt rập khuôn mạt rệp vô sản như nhau " Một xã hội không có khác biệt là xã hội không tưởng và là lý do làm cho xã hội lạc hậu và mạt rệp, như xã hội Nga và Đông Âu trong suốt 70 năm Cộng Sản Chủ Nghĩa ngự trị. Những chướng ngại vật mà Quốc Gia có " bổn phận phải dẹp bỏ đi " là những chướng ngại vật giới hạn thực sự tự do và bình đẳng , cản trở con người không phát huy được hoàn hảo để biểu thị các tài năng của mình. Mỗi người được tự do khỏi bị các nhu cầu khẩn thiết ràng buộc, có nghĩa là được Quốc Gia cung cấp cho các điều kiện thuận lợi để có thể tạo cho mình và cho gia đình mình một cuộc sống xứng đáng khang trang và tự do. Điều đó không có nghĩa là mỗi người đều phải có một gia sản tương tợ nhau, giàu có như nhau hay bằng nhau (theo chủ thuyết đần độn mỗi người làm việc tùy khả năng và tiêu thụ tùy theo nhu cầu). Nếu mọi người đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, thì không thể hiểu vì lý do gì trong những hoàn cảnh khác nhau, điều kiện khác nhau, khả năng khác nhau, tổ chức Quốc Gia nói chung và pháp luật nói riêng có thể đối đãi đồng đều nhau, bởi lẽ công bình là điều kiện tiên quyết để có bình đẳng hay nói như người La Tinh đã nói từ ngàn xưa: " Suum cuique tribuere" ( Trao trả cho mỗi người những gì thuộc về của anh ta). Và đó cũng là điều mà Viện Bảo Hiến Ý Quốc tuyên bố trong một số quyết định: các hoàn cảnh kinh tế và xã hội không giống nhau có thể và phải được đối xử theo phương thức khác nhau ( Corte Cost., 31-3.1961, n.21; 1.3.1973, n.23). Qua những tư tưởng vừa đề cập, chúng ta thấy rằng Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên, mà chúng ta mong ước cho Việt Nam, không phải là thể chế " cá nhân chủ nghĩa" cực đoan, trong đó, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu hay nói như Cao bá Quát: " Nước trong leo lẻo cá đớp cá, Trời nắng chang chang người đánh người ", nhưng cũng không phải là khuôn mẫu không tưởng để tổ chức xã hội theo Xã Hội Chủ Nghĩa, Quốc Gia có nhiệm vụ phân phát đồng đều lợi tức cho dân tùy theo nhu cầu của mỗi người, dĩ nhiên là với số lượng mạt rệp và giả sử nếu có đủ để phát. Điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà dẹp bỏ đi những chướng ngại vật..., không cho phép mỗi cá nhân ... …". nêu lên nhiệm vụ của Quốc Gia là - nhiệm vụ điều chỉnh lại những dị biệt quá đáng, - bảo vệ mức sống và cơ may tối thiểu ( chances de vie ) để mọi người có thể vươn lên. Bởi lẽ bất cứ một cuộc chung sống tự do nào, tự do và sáng kiến cá nhân, tự do và lợi thú là động lực để cầu tiến và phát triển , cũng không tránh khỏi những dị biệt quá đáng sẽ được tạo ra, do việc chúng ta được thiên phú tài năng, trí não không đồng đều nhau. Đoạn văn trên không nêu ra bổn phận rỏ rệt của Quốc Gia phải làm gì, như trong thể chế không tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa, " Dân làm chủ, Đảng Chỉ Đạo, Nhà Nước Quản Lý ". Và vì " Đảng chỉ đạo, Nhà Nước quản lý ", nên " Dân chỉ còn làm chủ không", "dân chỉ còn chổng khu kêu trời không thấu" trong hoàn cảnh mạt rệp của mình. Trong thể chế dân chủ đa nguyên tương lai của chúng ta, Quốc Gia được dành cho nhiều quyền hạn rộng rãi để can thiệp, điều chỉnh lại những dị biệt sai trái luôn luôn dưới ánh sáng của nguyên tắc nền tảng - con người là một nhân vị, - có nhân phẩm và các quyền căn bản bất khả xâm phạm, sống trong cộng đồng Quốc Gia chung với những chủ thể con người đồng đẳng khác. Đi trước chúng ta, trên cùng một nền tảng nhân bản trên, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã hướng dẫn kiến thiết lại quốc gia họ, từ một quốc gia đổ nát của thế chiến thứ hai, từ cuộc cai trị độc tài mọi rợ, xem người như thú vật của Benito Mussolini, trở thành một trong bảy quốc gia tân tiến và kỹ nghệ nhất thế giới ( G-7). Hiến Pháp Ý đã làm gì? Đây là những điều khoản đề cập đến những can thiệp thiết thực của Quốc Gia để người dân được cơ may tối thiểu để vươn lên: - " Quốc gia dành mọi phương tiện kinh tế và các thể thức dễ dãi khác để gia đình được thành lập và chu toàn các bổn phận liên hệ và những biệt đãi đối với những gia đình đông con" ( Điều 31, id.)... - " Người phụ nữ công nhân có các quyền và việc làm như nhau, cũng được thù lao như nam công nhân. Các điều kiện về việc làm phải được thiết định thế nào để người nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình, phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp". " Quốc Gia bảo đảm cho việc làm của vị thành niên bằng những điều khoản đặc biệt và bảo đảm cho vị thành niên cũng được thù lao lương bổng đồng đều , đối với việc làm như nhau" ( Điều 37, đoạn 1, 2 và 3 id.). - " Học đường được mở cửa cho tất cả mọi người. Học vấn ở cấp bực thấp được giảng dạy miển phí và bắt buộc mười hai năm. Những ai có khả năng và đáng được tưởng thưởng, mặc dầu thiếu phương tiện vẫn được quyền học hành đến trình độ cao nhứt của nền học vấn. Quốc Gia biến quyền nầy thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và các hình thức tiên liệu khác, được cấp qua các cuộc thi tuyển " ( Điều 34, đoạn 1,2,3 và 4). - " Người công nhân được quyền thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng phải đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống khang trang" ( Điều 36, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Các công nhân có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ các phương tiện thích hợp đáp ứng lại nhu cầu đời sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, già nua, thất nghiệp ngoài ý muốn" ( Điều 38, id.). - " Để nâng cao vai trò làm việc trong kinh tế và xã hội, đáp ứng thích hợp với nhu cầu sản xuất, Nền Cộng Hoà nhìn nhận quyền của công nhân được cộng tác, trong thể thức và giới mức pháp định, vào việc quản trị xí nghiệp" ( Điều 46, id.). - " Quốc Gia có bổn phận huấn nghệ và thăng tiến chức nghiệp cho người làm việc" ( Điều 35, đoạn 2, id.). - " Sáng kiến kinh tế cá nhân là quyền tự do". Không ai có thể hành xử quyền tự do hoạt động kinh tế ngược lại lợi ích xã hội hay hành xử làm phương hại đến an ninh, tự do và nhân phẩm con người" ( Điều 41, đoạn 1 và 2, id.). - " Quốc Gia bảo vệ sức khỏe như là quyền căn bản cá nhân và lợi ích của cộng đồng xã hội, bảo đảm chửa trị miễn phí cho những ai thiếu phương tiện" ( Điều 32, id.). - " Các công dân tật nguyền, khiếm khuyết cũng có quyền được giáo dục và huấn nghệ để khởi công nghề nghiệp" ( Điều 38, id). - " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện để sống còn, có quyền được Quốc Gia giúp đở và trợ cấp xã hội" ( Điều 38, đoạn 1). - " Không ai có thể bị thuyên chuyển ra khỏi vị thẩm phán tự nhiên trách niệm trước đương sự, được luật pháp tiền định", Không ai có thể bị giam giữ vì lý do an ninh, nếu không trong các trường hợp được luật pháp tiền định" ( Điều 25, id.), - " Người bị tố cáo không thể bị coi là tội phạm cho đến lúc nào chưa có bản án chung quyết" Hình phạt không thể nào gồm có những cách đối xử vô nhân đạo và phải có mục đích cải huấn can phạm" ( Điều 27, id.). - " Mọi bạo lực trên thân xác và khủng bố tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt" ( Điều 13, đoạn 4, id.). - " Không có bất cứ trường hợp nào một quyền căn bản của con người bị tổn thương đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức)... Phải chăng đó cũng là những điều khoản khuôn mẫu nền tảng cho cách tổ chức Nhân Bản và Dân Chủ của chúng ta trong tương lai? Với điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc bàn về quyền bình đẳng thực hữu chúng ta vừa nói ở trên, Hiến Pháp tương lại của chúng ta sẽ quy trách cho Quốc Gia trách nhiệm nặng nề và quan trọng, được xem như là sứ mạng và cùng đích, mà Quốc Gia được tạo nên: " Bổn phận của Nền Cộng Hoà dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện vừa kể,... là những chướng ngại không cho phép mỗi cá nhân phát triển được hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở". Trách nhiệm nặng nề đó không phải chỉ quy tóm vào việc Quốc Gia có chu toàn bổn phận của mình trong việc " dẹp bỏ đi những chướng ngại vật ", cung cấp hay không cung cấp cho người dân những phương tiện và điều kiện phải có. Trách nhiệm nặng nề đó quy trách cho Quốc Gia là điều kiện thiết yếu và nguyên cớ cho việc người dân có được hay không " triển nở được toàn vẹn con người của mình và có khả năng tham dự thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " là do việc Quốc Gia có tạo điều kiện hiến định và luật định vừa kể cho người dân hay không. Nói cách khác, nếu người dân không phát triển được hoàn hảo con người của mình và tham dự vào cuộc sống của xứ sở để làm lợi ích cho chính mình và cho đồng bào mình, vì Quốc Gia không chu toàn bổn phận của mình, tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho họ phương tiện và điều kiện cần thiết, Quốc Gia phải gánh chịu trách nhiệm đó trước Hiến Pháp trước tiên và trước luật pháp kế đến, với tất cả hậu quả của nó, kể cả hậu quả giới đương quyền phải từ chức và lãnh trách nhiệm dân sự cũng như hình sự: - " Các viên chức và công chức thuộc hệ quốc Gia và các tổ chức công quyền trực tiếp có trách nhiệm theo hình luật, dân luật và luật hành chánh về các động tác đã thực hiện vi phạm đến quyền lợi của người dân. Trong trường hợp đó, trách nhiệm dân sự có thể trải rộng ra liên can đến tổ chức Quốc Gia và các cơ quan công quyền " ( Điều 28, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó cũng cho thấy rõ rằng người dân trong Quốc Gia của chúng ta trong tương lai không phải chỉ là khách hàng, người tiêu thụ hay là kẻ ăn xin, mà tổ chức Quốc Gia muốn cung cấp hay không các sản phẩm và dịch vụ cũng được. Người dân trong Quốc Gia tương lai của Việt Nam - là một chủ thể quyền lực Quốc Gia - và những người lãnh đạo Tổ Chức Quốc Gia là các nhân viên đại diện được người dân giao phó cho quyền lực để thừa hành thay mình. Người dân trong Cộng Đồng Quốc Gia là chủ nhân với địa vị con người của mình, có quyền kỳ vọng ( actionable), mà Tổ Chúc Quốc Gia có nhiệm vụ phải phục vụ. Chúng ta có thể nói: - " Quốc Gia Việt Nam có bổn phận dẹp bỏ đi những chướng ngại vật...…". hay nói như Hiến Pháp 1949 CHLBD: - " Những quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có giá trị bắt buộc đối với Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, là những quyền đòi buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Con người trong Quốc Gia Việt Nam là chủ thể có quyền tối thượng trên thể chế tổ chức Quốc Gia, trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ, nền tảng của tổ chức Quốc Gia, gồm những nguyên tắc nền tảng của Quốc Gia Việt Nam, chúng ta sẽ bàn thêm rộng rải trong phần định nghĩa về thể chế và cấu trúc Quốc Gia. Người dân là chủ nhân tối thượng của quyền lực Quốc Gia và việc Quốc Gia có bổn phận cung cấp sản phẩm và dịch vụ liên quan - đến đời sống cá nhân của mình, " triển nở hoàn hảo con người của mình" - và hệ trọng đến sự phát triển của cả cộng đồng quốc Gia," tham dự môt cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở ". C - Quyền hành giao phó phải được kiểm soát. Trọng trách đó không thể chỉ được khoán trắng cho giới cầm quyền, để họ hành xử cách nào tùy hỷ, nếu chủ nhân không muốn trở thành nô lệ của kẻ thừa hành , luôn luôn phải " ngửa tay xin - cho " , hay bị kẻ thừa hành lạm quyền tiêu diệt. Nói một cách ngắn gọn, quyền hành giao phó phải được kiểm soát. Trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên, quyền kiểm soát vừa kể được giao phó cho - Tổng Thống ( Điều 87, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - Quốc Hội ( Điều 63; 67; 68 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, CHLBD), - Thượng Viện Liên Bang ( Điều 77, Hiến Pháp 1949 CHLBD). - Cơ Quan Tư Pháp ( Điều 19, đoạn 4, Hiến Pháp 1949 CHLBD), - Tối Cao Pháp Viện ( Điều 95, Hiến Pháp 1949 CHLBD), - Viện Bảo Hiến ( Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBD). - Các Cộng Đồng Địa Phương, Vùng, Tỉnh, Làng Xã ( Điều 5, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) Và áp dụng tinh thần đó của điều 5 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là đạo luật 241/ 90 đã được ban hành. Đạo luật bắt buộc Chính Quyền phải tôn trọng sự hiện diện của người dân trong các hoạt động của mình. Trong thể chế dân chủ, người dân không phải chỉ là một con số, là thần dân của vua, là người tiêu thụ mà giới cầm quyền muốn cung cấp sản phẩm và dịch vụ hay không cũng được hay cung cấp cách nào và lúc nào tùy hỷ. Người dân trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ là " chủ nhân ông " của quyền lực Quốc Gia và giới đương quyền chỉ là những người đại diện cho họ để thừa hành, để quản trị ( G. Bush Administration, J. Chirac Administration, S. Berlusconi Amministrazione). Người dân trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ là chủ thể của quyền lực Quốc Gia bất cứ lúc nào và đối với bất cứ ai hành xử quyền lực Quốc Gia, chớ không phải chỉ giới hạn trong thời gian trước và đang khi bỏ phiếu. Do đó đạo luật 241 / 90 của Ý Quốc tuyên bố người dân có quyền: - tham dự vào việc quản trị tài nguyên và phục vụ xứ sở ( Điều 7, luật 241/ 90), - được thông báo các quyết định trong việc quản trị, có quyền kiểm soát, văn kiện, tiến trình quản trị của Chính Quyền ( Điều 3; 7; 22 id.), - được Chính quyền nghe trình bày ý kiến ( Điều 9; 10 id. ), - được có người đặc trách duy nhứt trong Chính Quyền chịu trách nhiệm để trả lời thoả đáng về lãnh vực liên hệ, người dân muốn biết ( Điều 4, id.), - không phải bị Chính Quyền coi rẻ, ngược đãi, chờ đợi ngày nầy qua ngày khác ( Điều 1; 18 id.), - quyền có được mối liên hệ chắc chắn đối với Chính Quyền ( biết rõ đâu là bổn phận và đâu là quyền hạn phải được Chính Quyền tôn trọng) ( Điều 2; 19; 20 id.), - quyền được coi là người đáng tin cậy đối với những gì mình tuyên bố, trả lời, tự chứng ( Điều 18 id.). Qua những điều khoản luật 241 / 90 vừa được trích dẫn cũng như tinh thần của Điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang bàn , chúng ta thấy rằng mối tương quan của người dân và Chính Quyền hiện nay - không phải là mối tương quan dựa trên "quyền lực - tự do" (quyền lực của Quốc Gia - tự do của người dân, liberté de, theo quan niệm tự do phôi thai: càng hạn chế được quyền lực Quốc Gia - người dân càng được tự do, khỏi bị đàn áp, xâm phạm). - mà dựa trên " hiệu năng - lợi thú " : " khả năng hoạt động hiệu năng và không bè phái, thiên vị của Chính Quyền - lợi thú của người dân, chủ thể tối thượng quyền lực Quốc Gia" ( Điều 97, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Chỉ khi nào Chính Quyền hoạt động hiệu năng và không thiên vị để phục vụ người dân, họ mới có phương tiện và điều kiện để thực hiện được quyền - " triển nở toàn vẹn con người của mình" hay có quyền trở nên chính mình, như mình muốn - và từ đó " tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở". Trong tư tưởng đó của đạo luật 241/ 90 và tinh thần của điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang bàn , - người dân có quyền thẩm định kết quả đã nhận được - và tuyên bố thoả mãn các lợi thú của mình hay không. Hiện nay lý do biện minh cho sự hiện hữu và tồn tại của Chính Quyền không phải chỉ là Chính Quyền - được tuyển chọn một cách chính danh, - hoạt dộng của Chính Quyền luôn luôn hợp pháp, nằm trong lằn mức luật định ( Quốc Gia Pháp Trị, État de droit), - mà kết quả của các hoạt động đó có đáp ứng lại thoả đáng các đòi hỏi của người dân theo tiêu chuẩn hiệu năng và không thiên vị không, " hiệu năng - lợi thú ". Tinh thần đạo luật 241/ 90 và điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp đang bàn, Hiến Pháp và Luật Pháp xác định cho người dân có thẩm quyền phán đoán đối với Chính Quyền. Không những người dân có quyền phán quyết kết quả của những hoạt động cung cấp sản phẩm và phục vụ của Chính Quyền đối với nhu cầu của mình, mà còn có quyền phán quyết những gì hàm chứa đàng sau những hoạt động đó. Người dân có quyền phán đoán - những cơ cấu của Chính Quyền, - nguyên nhân đưa đến việc phục vụ hiệu năng và vô tư cho mình hay không. Nếu Chính Quyền và cơ cấu của Chính Quyền không đáp ứng lại nhu cầu và nguyện vọng của " chủ nhân quyền lực Quốc Gia", họ không có lý do gì để tồn tại trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên. Người dân, với tinh thần đạo luật 241/ 90 và điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc có quyền đứng bên ngoài nhìn vào các dinh thự của Chính Quyền, - không phải với cái nhìn của du khách, - càng không phải chỉ cái nhìn để tìm hiểu, - mà là nhìn để phán đoán và định đoạt số phận và cơ cấu của Chính Quyền trong kỳ bầu cử tới, nếu không muốn nói là Quốc Hội có thể cho Chính quyền về vườn sớm hơn ( Điều 67, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Người Việt Nam bình đẳng thực hữu và tích cực trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của Đất Nước là vậy.

 

" Hình phạt không thể nào gồm những phương thức vô nhận đạo và phải có mục đích quy hướng hoán cải phạm nhân" ( Điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Phương thức và mục đích của hình phạt đối với phạm nhân được Hiến Pháp xác định rõ rệt: " không thể nào gồm những phương thức vô nhân đạo và phải quy hướng để cải hóa người bị kết án" . Đó là khuynh hướng chung của các Hiến Pháp Nhân Bản Tây Âu,được nêu rõ thành điều khoản như Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang đề cập, hay không nêu rõ như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng vậy, bởi lẽ Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức nêu lên một điều khoản nhân bản có gí trị tổng quát, trước khi kết thúc phần I của Hiến Pháp ( điều 1-19 ), phần tuyên bố các nguyên tắc nền tảng về phẩm giá con người: - " Không có bất cứ trường hợp nào, trong đó một quyền căn bản của con người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Trong chiều hướng đó, Hiến Pháp mới đây của Tây Ban Nha xác nhận mục đích trên một cách rõ rệt: - " Hình phạt giới hạn quyền tự do và các phương thức an ninh đều phải quy hướng để cải hóa và làm cho phạm nhân được hội nhập trở lại vào đời sống xã hội. Mọi lao tác có tính cách cưỡng bách, đày đọa đều không thể được chấp nhận" ( Điều 25, đoạn 2 Hiến Pháp Tây Ban Nha). Tinh thần của các Hiến Pháp Nhân Bản Tây Âu xác định lại mục đích của hình phạt đối với phạm nhân như vừa kể, sau bao nhiêu kinh nghiệm ê chề đau thương bị lạm dụng của các thể chế độc tài trong quá khứ: Hitler, Mussolini, Francisco Franco. Hình phạt là một con dao hai lưỡi. Một đàng hình phạt được xử dụng - nhằm mục đích hăm dọa, phạt làm gương, để ngăn cản cá nhân có hành vi phạm pháp , vi phạm làm phương hại đến các giá trị được Hiến Pháp long trọng bảo vệ, địa vị, quyền và tự do của con người, nói cho cùng, - nhưng đàng khác hình phạt được áp dụng cũng làm tổn thương đến các giá trị bất khả xâm phạm của chính phạm nhân ( List Franz von, Teoria dello scopo nel diritto penale, trad. it., Giuffré, Milano, 1962, 46). Các phương thức được đem ra áp dụng trong hình phạt có thể làm tổn thương đến tự do của con người, mà chính thể nhân bản và dân chủ tự do đặt lên hàng đầu, như là những giá trị tối thượng bất khả xâm phạm: " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). " Cộng Hoà Dân Chủ Ý nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi con người phát triển nhân cách của mình..." ( Điều 2, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đứng trước vấn đề " con dao hai lưỡi " ( hữu ích những cũng có thể tác hại ) của hình phạt được đề cập, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đưa ra mục đích - " phải quy hướng cải hoá phạm nhân", để kỳ vọng có được mối quân bình giữa giá phải trả ( hạn chế tự do của phạm nhân) và sản phẩm có thể thu hoạch được ( mục đích hăm dọa để bảo vệ các giá trị hiến định trong đoản kỳ và cải hóa con người, để bảo vệ lâu dài) ( Musco Enzo, Bene giuridico e tutela dell'onore, Giuffré, Milano, 1974, passim). Với tầm mắt xa hơn một chút, chúng ta có thể đặt câu hỏi, thường thì những người lưu manh, ( phạm pháp, cướp của, giết người, buôn lậu, lường gạt, bạo lực ...) là những người thuộc hạng người nào trong dân chúng? Không kể những thành phần bạo động vì bất đồng chính kiến, những người bị bệnh thần kinh, đầu óc bất bình thường, còn lại thường là những người " lưu manh " là những người thuộc thành phần bị đào thải ra bên lề xã hội, nghèo khổ và ít học. Vậy thì mục đích của hình phạt là để "quy hướng cải hoá phạm nhân " của điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý , tạo được cho họ một tương lai sáng sủa hơn để họ "hội nhập trở lại vào cuộc sống xã hội " có khả năng hơn để kiến tạo đời sống cho chính mình, cho người thân và đem lại lợi ích hơn cho sứ sở , là một cái nhìn nhân bản của Hiến Pháp. Mục đích của điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc vừa kể nằm trong lối lý luận hợp lý đối với bổn phận của Quốc Gia mà Hiến Pháp đã quy trách cho ở điều 3, đoạn 2: - " Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý). Như vậy những người phạm pháp thường là những người chưa "triển nở được hoàn hảo con người của mình", - không có khả năng tạo cho mình và người thân mình một cuộc sống khang trang, - không có tầm hiểu biết đâu là quyền và tự do của người khác trong cộng đồng xã hội - và hành vi phạm pháp của mình sẽ đưa đến hậu quả nào cho cá nhân người khác cũng như cho lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Nói tóm lại vì họ là những người thuộc thành phần không có đủ khả năng và hiểu biết để tạo cuộc sống xứng đáng cho chính mình và cho người thân, cũng như không có khả năng cộng tác giúp phát triển xứ sở, " tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở". Hiểu được như vậy, chúng ta thấy rằng mục đích "quy hướng để cải hoá phạm nhân" của điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý đã được hàm chứa trong điều 3, đoạn 2 đã được Hiến Pháp tuyên bố trước đó. Nói cách khác, các điều khoản của Hiến Pháp không thể được giải thích riêng rẻ, mà phải được đặt vào trong quan niệm tổng quát toàn phần của Hiến Pháp. Về phương diện lịch sử, quan niệm " quy hướng để cải hóa phạm nhân " được Hiến Pháp tuyên bố ở điều 27, đoạn 3 là quan niệm mới mẻ, phản ứng lại tư tưởng cố hữu - " có vay có trả" hay " ăn miếng trả miếng" (retributivo) theo quan niệm " công bình" ( suum cuique tribuere : trao trả lại cho mỗi người, điều gì thuộc về anh ta) đã được ghi trong Bộ Luật Roma ( Baratta Alessandro, Criminologia e critica del diritto penale, Introduzione alla sociologia giuridico-penale, Il Mulino, Bologna, 1982). Bộ mặt Quốc Gia là vị quan toà nghiêm khắc, thưởng phạt công minh, có vay có trả, kéo thẳng mực tàu không biết thương hại đối với những ai lầm lỡ, người dân Ý nói riêng và người dân Tây Âu nói chung đã quá chán ngán trước bộ mặt lầm lì , vô cảm xúc, không tình cảm trong một thời gian quá dài của tổ chức Quốc Gia với thể chế quân chủ độc tôn ngự trị, cũng như cách đối xử man rợ của Hitler, Mussolini và Franco không lâu trước đó. Hành động vô nhân đạo đó của bộ mặt Quốc Gia lầm lì được hỗ trợ trong quá khứ bởi không ít các thuyết lý tôn giáo: - Thượng Đế thưởng công phạt tội ! - Hành xử theo công bình, - " có vay có trả", - " công thưởng tội trừng " là hành động chính đáng theo Thượng Đế! Họ quên mất ngoài quan niệm công bình, Ki Tô Giáo còn có quan niệm yêu thương kẻ thù: - " Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em" ( Lc 6, 27-28). Cộng thêm với bộ mặt lầm lì " công minh " đó, - quan niệm " công thưởng, tội trừng", "có vay có trả", đã bị không ít những chủ thuyết độc tài áp dụng, Phát xít Ý chẳng hạn, khiến phạm nhân lắm lúc " trả nhiều hơn vay ", - và Quốc Gia có bộ mặt hách dịch tàn ác, ra lệnh tống giam, ngược đãi, tra tấn người phạm nhân như súc vật, các trại cải tạo của " Đảng và Nhà Nước mình" chẳng hạn, hay hành động " trấn nước Mụ Úa ở Kiên Giang", " bịt miệng Cha Lý " trong phiên toà chẳng hạn, là cách sống mọi rợ đối với tâm thức văn minh của ngườiTây Âu. Ai sống dưới chế độ độc đảng, độc tài đều có kinh nghiệm. Một chú công an phường, công an khu phố cũng làm cho chúng ta phát run, với khẩu súng lục lâm le trong tay. Người dân Ý và người dân Âu Châu đã chán ngán bộ mặt hách dịch phi nhân đó. Đó là lý do tại sao các vị soạn thảo Hiến Pháp Ý viết lên câu: - " Hình phạt không thể nào gồm những phương thức đối xử bất nhân và phải quy hướng để cải hoá người bị kết án" ( Điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Không có bất cứ trường hợp nào , trong đó một quyền căn bản của con người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Nhưng chán ngấy và ghê tởm bộ mặt phi nhân của tổ chức Quốc Gia là một chuyện, có được quan niệm luật pháp, nhứt là hệ thống hình luật tôn trọng nhân phẩm con người là chuyện khác. Người Ý cũng như người Đức, không phải họ chế được xe Fiat và Mercedes, tự nhiên sau một đem ngủ ngon, sáng ra gãi bụng là tự nhiên có xe. Muốn chế được Fiat và Mercedes họ phải nghiên cứu, học hỏi, rút kinh nghiệm từ bao nhiêu hy sinh, kể cả những hy sinh đau buồn, chết chóc qua không biết bao nhiêu tai nạn lưu thông, họ mới chế được xe cộ bảo đảm khá an toàn. Xe Mercedes là một trong những chiếc xe an toàn vào bậc nhứt thế giới, nhưng đàng sau xe Mercedes có cả một bảo tàng viện về tai nạn liệt kê đến hàng ngàn trường hợp tai nạn do những thiếu xót của xe gây ra. Ai muốn biết, lúc nào đến Stuttgart ở Đức. vào xem sẽ biết ! Tiến trình " nhân bản hoá " hệ thống hình sự của Quốc Gia cũng vậy, người Ý nói riêng và các Quốc Gia Tây Âu nói chung, đang hoàn hảo hoá mục đích " quy hướng để cải hóa phạm nhân" của họ qua nhiều học hỏi, bàn cải, hy sinh, nghịch cảnh cũng không thiếu. Cho đến nay sau trên 50 năm ban hành Hiến Pháp 1947 (2004-1947), mục đích trên vẫn chưa hoàn toàn đạt được, mặc dầu họ đã đi một bước đường khá dài. Mọi vật có giá trị, không phải một sớm một chiều mà thành đạt được! Mặc dầu với mục đích đi đến việc " hình phạt phải quy hướng để cải hoá phạm nhân" được luôn luôn coi như là mục đích hiến định, trong thập niên 1960 tình trạng phạm pháp ớ Ý rất sôi động do các đảng phái khuynh tả cổ động và được đảng Cộng Sản giựt dây. Những danh xưng như " Lotta Comunista Armata"( Đấu tranh Cộng Sản Võ Trang), "Lotta Continua" ( Chiến Đấu Liên Tục), " Brigate Rosse" ( Hồng Quân) được xuất hiện hàng ngày trên báo chí, do các vụ khủng bố, bắt cóc, ám sát…họ thực hiện. Do đó những cuộc cải tiến hình sự ở Ý lúc đó để đáp ứng với thời thế, nhằm gia tăng lãnh vực cũng như cường độ của hình phạt để hâm doạ những ai phạm pháp phạm pháp ( Pannain Remo, Il diritto penale e morale, in Scirtti per Manzini, 345). Đàng khác phe chủ trương " có ăn có trả " hay " hình phạt tương xứng với lỗi lầm" ( retributiva) phát động mạnh mẽ quan niệm " ân oán quả báo" của ho, vì bất mãn với những thành phần lưu manh và bạo động lan tràn ( Fassone Elvio, Pena detentiva in Italia dall'800 alla riforma penitenziaria, Il Mulino, Bologna, 1980, 75). a ) Phạt là phạt chớ không để cải hoá. Trước hết phe không thân thiện với mục đích cải hóa phạm nhân cho rằng mục đích cải hóa chỉ là mục đích thứ yếu, bởi lẽ chính đạo luật hiến pháp , điều 27, đoạn 3 đang bàn đặt mục đích cải hoá ở phần hai của đoạn văn. Mục đích chính mà đạo luật nhằm đến là phương thức đối xử nhân đạo, được Hiến Pháp đặt ở hàng đầu: - " Hình phạt không thể nào gồm những phương thức đối xử vô nhân đạo và phải quy hướng để cải hoá phạm nhân" ( Điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó cho thấy rằng hình phạt luôn luôn mang tính cách trừng phạt của nó và phạm nhân phải gánh chịu thiệt thòi, đau khổ, nếu không các vị soạn thảo Hiến Pháp đã không cảnh tỉnh ngành hình luật sau nầy "đừng quá nặng tay đi đến vô nhân đạo". Mục đích chính của hình phạt là phạt tội, phạt đền, phạt cho chừa, chớ không phải để " quy hướng cải tạo phạm nhân", mục đích thứ yếu. Ai trong chúng ta cũng đồng ý rằng đã nói là hình phạt, thì hình phạt bao giờ cũng mang tính cách " trừng phạt " của nó. Nhưng trong thể chế nhân bản, không phải bất cứ phương tiện trừng phạt nào cũng có thể áp dụng cho con người: roi dọt, tra tấn đánh đập, ngược đãi, hăm doạ, nhục mạ, chửi bới là những phương thức thích hợp cho thú vật hơn là cho con người, dù cho tổ chức Quốc Gia có mang tên là gì cũng vậy, Dân Chủ Nhân Dân, Xã Hội Chủ Nghĩa chẳng hạn. Đó là những gì vượt quá tầm suy nghĩ của các Quốc Gia Nhân Bản, trong đó con người được thể chế Quốc Gia bảo đảm từ Hiến Pháp bảo: - " Mọi vũ lực trên thân xác và dọa nạt tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt" ( Điều 13, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ phẩm giá đó". " Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 1 và 3, Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Không có bất cứ một trường hợp nào trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Còn nữa, đặt mục đích chính của Hiến Pháp, văn bản nền tảng của thể chế " hình phạt phải quy hướng để cải hóa phạm nhân" vào phần hai của đạo luật, cho thấy các vị soạn thảo Hiến Pháp Ý quy định phần đầu " hình phạt không thể nào gồm những phương thức đối xữ bất nhân" như là điều kiện tối thiểu không thể thiếu để đạt đến mục đích " quy hướng cải hóa phạm nhân". Nói cách khác, một khi con người bị ngược đãi, đánh đập dã man, nhục mạ hạ phẩm giá của mình, trong các trại cải tạo của " Đảng và Nhà Nước mình " chẳng hạn, hình phạt đó không thể nào có thể thuyết phục được con người để cải hóa họ. Có chăng là làm cho họ phẩn nộ, bất mãn và càng tìm cách đạp đổ, phục hận, giải thể chế độ xem con người như thú vật ( Molari Francesca, Unificazione delle pene e delle misure di sicurezza nella Costituzione Italiana, in AA.VV., Problema di rieducazione del condannato, Atti del II Convegno di diritto penale, 70). b) Hình phạt trong ý thức hệ Cộng Sản. Tư tưởng của phe thiên tả thân cộng lúc nào cũng vậy, ở Ý Quốc hay ở phần đất Xã Hội Chủ Nghĩa nào cũng vậy. Phe Cộng Sản cho rằng vấn đề được Hiến Pháp đặt ra, " quy hướng để cải hóa phạm nhân" phải hiểu theo nghĩa rộng. Không phải để " quy hướng cải hoá phạm nhân " như cá nhân, cho bằng cải hoá giai cấp xã hội. Cho đến bao giờ cơ chế tổ chức Quốc Gia còn theo kinh tế tư bản, là còn thành phần nông dân, công nhân nghèo khổ, thiệt thòi bất mãn và phạm pháp. Như vậy mục đích cải hoá thực sự đối với phạm nhân không phải là cải hóa tâm thức và hành động của cá nhân ích kỷ , mà là biến cải tâm thức và hành động chung của nhân dân thành phong trào của giai cấp bị bốc lột, chống lại tư bản, địa chủ, cường hào ác bá. Nói cách khác đó là vấn đề phá đổ cơ chế Quốc Gia với tiến trình kinh tế sản xuất tư bản, được điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đặt ra. Một khi xã hội không còn giai cấp, người dân không còn bị bốc lột, sự bất mãn tự nhiên không còn tồn tại và đất nước sẽ không còn lý do để cho con người phạm pháp: mọi người làm việc tùy theo khả năng và hưởng thụ tùy theo nhu cầu, thiên đàng của Cộng Sản! (Werrentin , Hofferbert und Baurmann, Kriminologie als Polizeiwissenschatf oder: Wie alt ist die neue Kriminologie?, Kritische Justitz, 1972, 211). Chủ thuyết Cộng Sản có không tưởng hay không và ở các Quốc Gia Xã Hội Chủ Nghĩa Anh Em Vĩ Đại có còn nhà tù không, sao bao nhiêu năm Cách Mạng Vô Sản Chuyên Chế ở Nga và Đông Âu, ở cả Cuba vàViệt Nam? Hỏi để mỗi người chúng ta trả lời. c) Cải hoá là nhồi sọ, làm tiêu diệt cá tính. Một vấn nạn khác cũng được một ít thành phần tả phái nêu ra, chống lại lý tưởng " cải hoá phạm nhân" của điều 27, đoạn 3 đang bàn của Hiến Pháp. Đó là muốn "cải hóa phạm nhân" hối cải về lỗi lầm đã phạm và ngăn chận anh ta tái phạm trong tương lai, mục đích cải hóa được nhằm là mục đích bất chính, có tính cách nhằm cưỡng chế nhồi sọ, buộc phạm nhân bỏ đi những xác tín cá nhân của anh ta ( xác tín chủ nghĩa Cộng Sản vĩ đại chẳng hạn) và dồn ép vào đầu anh ta những nguyên tắc luân lý ngược lại tư tưởng cá nhân của anh. Điều đó đi ngược lại với quyền tự do tư tưởng, một quyền tự do căn bản được Hiến Pháp xác nhận ( Bettiol Giuseppe, Riv. it. dir. pen., 1951, 376). Vấn nạn vừa kể có thể giải quyết không khó gì. Chỉ cần chúng ta có thể tìm ra một phương hướng cải huấn có thể vừa để cải hoá phạm nhân vừa có khả năng bảo vệ các quyền tự do cá nhân . Đàng khác, muốn có một cuộc sống chung hoà hợp trong xã hội, chúng ta phải chấp nhận rằng một số quyền tự do của chúng ta bị tương đối hoá ( relativiser) , bị giới hạn bởi lợi ích chung và bởi quyền tự do của những thành phần khác cùng chung sống trong xã hội với chúng ta. Đó là những bậc thang giá trị được đa số thành viên trong tổ chức Quốc Gia chấp nhận. Các giá trị đó được viết thành văn bản trong Hiến Pháp và luật pháp, được đa số chấp nhận trong các cuộc trưng cầu dân ý hay được đa số thành phần Quốc Hội dân cử đồng thuận " chuẩn y" . Một khi tiến trình vừa kể được thực hiện theo thể thức dân chủ, những điều khoản được viết trong văn bản trở thành luật và có hiệu lực bắt buộc. Do đó muốn sống trong một thể chế dân chủ tự do, chúng ta bị bắt buộc phải tuân theo những giá trị được viết thành văn bản và được đa số đồng thuận biểu quyết một cách dận chủ và hữu lý trở thành luật pháp. Đó là những gì Hiến Pháp Dân Chủ của Cộng Hoà Liên Bang Đức đòi buộc phải tôn trọng đối với những người dân trong thể chế dân chủ của họ: - "Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến mối tương quan của Liên Bang đối với các Tiểu Bang, đến sự tham dự của các Tiểu Bang vào lãnh vực lập pháp hoặc liên hệ đến các nguyên tắc đã được nêu lên trong các điều khoản 1 và 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). ( Và chúng ta biết điều 1 tuyên bố nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người và điều 20 Hiến Pháp định nghĩa thể chế Cộng Hoà Liên Bang Dân Chủ Xã Hội của đất nước). Như vậy " Dân Chủ " không phải tự do vô điều kiện, muốn làm gì thì làm, mà là hành xử theo lẽ phải và trong phương thức dân chủ. Những nguyên tắc căn bản vừa kể là nền tảng cột trụ để xây dựng Quốc Gia, do đó Cộng Hoà Liên Bang Đức không chấp nhận " bất cứ một sự sửa đổi " cắt xén nào, huống lựa là những hành động vi phạm. Do đó bất cứ ai, muốn chung sống với dân chúng Cộng Hoà Liên Bang Đức, đều phải tuân giữ các nguyên tắc căn bản trên, hay đã vi phạm đều phải " được cải hóa" chấp nhận. Nói cách khác, bất cứ cá nhân nào nhứt quyết không chấp nhận các giá trị về nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người và thể chế Cộng Hoà Liên Bang Dân Chủ của dân tộc Đức, đều không thể nào chung sống với họ và họ có thể mời " ra khỏi lãnh thổ Đức" . Và đó là những gì Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đã tuyên bố liền sau khi vừa kết thúc xác nhận những nguyên tắc căn bản, nền tảng và cột trụ bất khả xâm phạm của Quốc Gia từ điều 1 -20: " Các chính đảng có mục đích hoặc phương thức hành xử của các thành viên có mục đích nhằm phương hại hay loại bỏ thể chế dân chủ tự do hoặc nhằm hăm dọa nguy hiểm đến sự tồn tại của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng vi hiến. Đối với vấn đề vi hiến sẽ được thẩm quyền của Viện Bảo Hiến quyết định" ( Điều 21, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Bởi lẽ các nguyên tắc căn bản về phẩm giá con người là nền tảng bất di dịch, nếu chúng ta muốn có được một cuộc sống người cho ra người: - " Như vậy dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người là nền tảng của mọi cộng đồng dân tộc, của hoà bình và công lý trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Những điều khoản cứng rắn trên của Hiến Pháp 1949 CHLBĐ cho thấy dân chủ nhân bản là cách tổ chức sống trong đó con người được tự do và được tôn trọng. Nhưng dân chủ nhân bản không phải là lối sống vô luật lệ, càng không phải là phương thức tổ chức Quốc Gia hèn yếu, không xương sống, không biết can đảm đứng ra bảo vệ lý tưởng, giá trị và sự tồn vong của chính mình. Phương thức xác định cứng rắn trên được các nhà hiến pháp học ( constitutionalistes) mệnh danh là " Dân Chủ Tự Bảo Vệ" ( Streibare Demokratie) của thể chế dân chủ, một nền dân chủ sẵn sàng đứng ra chiến đấu chống lại kẻ thù có âm mưu chà đạp lý tưởng và nguy hại đến sự tồn vong của mình. Trong các thập niên 1960-1970, nhứt là từ năm 1975 trở đi, ngành cải tổ hình luật ở Ý chú trọng vào việc soạn thảo các đạo luật " khẩn cấp", để đối phó với hiện trạng lưu manh tội phạm lan tràn do Cộng Sản chủ trương, như đã nói . Quốc Gia chỉ chú trọng đến phương pháp trị liệu chạm trán ( terapia d'urta), đối kháng lại hiện trạng phạm pháp: các đạo luật và phương thức hình luật được soạn thảo và áp dụng đều có tính cách hăm dọa tội phạm (Palazzo Francesco, Recente legislazione penale, III ed., Cedam, Padova, 1985, 16). Đứng trước tình trạng khẩn cấp như vừa kể, lý tưởng " quy hướng để cải hóa phạm nhân" bị quên lãng đi. d) " Hình phạt phải nhằm đề phòng phạm nhân". Nhưng rồi với thập niên 1980, tình trạng kinh tế và xã hội bắt đầu tiến triển khả quan hơn, ý thức hệ Cộng Sản ở Nga và Đông Âu bắt đầu bị lung lay, hoạt động khủng bố của những tổ chức Cộng Sản " Lotta Comunista Armata", " Lotta Continua", " Brigate Rosse" cũng bắt đầu nãn chí, lắng xuống, và người ta bắt đầu đặt lại vấn đề. Trong một Quốc Gia dân chủ, hình phạt được Quốc Gia áp dụng, không phải để " ăn miếng trả miếng", "trả thù phục hận", " phô trương bộ mặt uy quyền hách dịch" của Quốc Gia. Quốc Gia được chính danh hóa hành xử quyền lực, như là dụng cụ nhằm đạt được các mục đích có ích lợi cho cộng đồng xã hội. Hình phạt được coi là " phương tiện cần thiết, có hiệu lực bắt buộc để đạt được mục đích bảo vệ các giá trị hiến định" ( Angioni Francesco, Contenuto e funzioni del concetto giuridico, Giuffré, Milano, 1983, passim). - Phương tiện cần thiết có hiệu lực bắt buộc đó được biểu thị qua tư tưởng " đề phòng ": ngăn chận và giảm thiểu các việc vi phạm đối với các giá trị về nhân phẩm, quyền và tự do của con người và công ích cho cuộc sống của xứ sở được Hiến Pháp bảo vệ. - Hình phạt tự chúng không có giá trị cho chính mình, phạt để mà phạt, phạt cho đã giận " phạt không phải để mà phạt, phạt cho đả nư, hành hạ cho thoả mãn thú tính phục hận, mà là những phương tiện trung gian bảo vệ giá trị hiến định, nhân phẩm con người và thể chế dân chủ tự do" ( Lucio Monaco, Prospettive dell'idea dello " scopo", Jovene, Napoli, 1984, passim). Và một khi đã chuẩn định được mục đích của hình phạt là " đề phòng và giảm thiểu " những vi phạm đối với các giá trị hiến định, dùng hình phạt thôi, chưa đủ để chiến đấu chống lại tình trạng phạm pháp. Chiến đấu chống lại tình trạng phạm pháp, nói cách khác, không phải là lãnh vực độc quyền của hình luật, mà liên hệ đến tất cả các cơ chế tổ chức Quốc Gia. Và đặc tính của hình luật là con dao hai lưởi: bảo vệ các giá trị hiến định ( của tập thể quốc gia) bằng cách xúc phạm đến giá trị hiến định ( của phạm nhân) như đã nói. Do đó hình luật phải được cải tổ thế nào để có được mức cân bằng giữa các giá trị hiến định cho cả hai phía liên hệ: liên kết việc " chiến đấu chống lại phạm pháp có hiệu quả, và tôn trọng tối đa có thể quyền và tự do của phạm nhân" ( Pulitanò Domenico, in Enc. del dir., voce Politica criminale, Giuffré, Milano, 1976, 87) . Trước viễn ảnh đó, mục đích của hình phạt không thể nhằm được đạt đến với bất cứ giá nào, theo quan niệm hiệu năng tối đa có thể, để " đề phòng và giảm thiểu" tội phạm. Trong thể chế dân chủ và nhân bản, mục đích đó bị giới hạn hiến định bởi các quyền bất khả xâm phạm con người của phạm nhân ( V. Listz, Ueber den Einfluss der sociologischen un antropologischen Forschungen auf die Grundbegriffe des Strafrechts , in Strafrechtliche Aufsaetzen un Vortraege, W. De Gruyter, Berlin, 1970, 80). Nói rộng hơn, hình phạt có tính cách trừng trị chỉ có thể được hợp coi là hữu lý, khi nào thực sự cần thiết để đề phòng những hành động vi phạm không thể chấp nhận được, đối với các giá trị được Hiến Pháp bảo vệ (Fiandaca Giovanni, Il " bene giuridico", Zanichelli, Bologna, 1989, 57). Do đó một trong những tiêu chuẩn của thể chế " Quốc Gia Pháp Trị " là nguyên tắc hợp với tỷ lệ: việc đáp ứng của hình phạt phải được áp dụng theo tỷ lệ nặng nhẹ đối với vi phạm bất chính đã được thực hiện. Áp dụng nguyên tắc theo tỷ lệ phải chăng và đúng lý - làm cho phạm nhân nhận thấy hình phạt chính đáng và đúng mức tương ứng với lỗi phạm mà anh ta đã vấp phải, - có khả năng tạo cho anh ta nhận thức được giá trị, mà thể chế Quốc Gia bảo đảm. Đó là yếu tố quan trọng đưa đến kết quả cho tiến trình cải hoá con người phạm pháp (Fiandaca Giovanni e Musco Enzo, Diritto penale, parte generale, II ed., Zanichelli, Bologna, 1989, 40). e) Hình phạt nói lên cách cư xử chính đáng phải có. Áp dụng hình phạt nặng nhẹ, đúng mức theo tỷ lệ tùy theo tính cách quan trọng nặng nhẹ của tội hình. Nhưng quan niệm hình luật trong thể chế dân chủ nhân bản không phải chỉ có vậy. Hình phạt nặng nhẹ theo tỷ lệ với tội trạng nghiêm trọng hay không được Quốc Gia áp dụng nhằm cảnh cáo để doạ nạt những ai có manh tâm muốn phạm luật, vi phạm các giá trị hiến định. Nhưng dựa vào " hình phạt nặng nhẹ cảnh cáo nhằm đề phòng tội phạm đối với con người là thái độ hạ thấp phẩm giá con người, xem con người không thua gì súc vật, không phạm pháp chỉ vì bị dọa nạt và sợ bị trừng phạt, như chó cụp đuôi vì ông chủ lăm le cây gậy trong tay ". Không, con người đáng được đối xử bằng những gì khá hơn phương thức đối với chó ( Hassemer Winfried, Einfuerung in die Grundlagen des Strafrechts, Beck, Muenchen, 1981, 287) . Từ đó quan niệm dân chủ nhân bản phải tìm nguyên tắc chính đáng để áp dụng hình phạt đối với phạm nhân ở những gì cao đẹp hơn. Mục đích hâm dọa để đề phòng phạm pháp không còn là trung tâm điểm đáng chú ý của bộ hình luật nhân bản. Phòng ngờ con người khỏi phạm pháp trong quan niệm dân chủ nhân bản là làm thế nào - " khả năng của hình phạt có thể trợ lực ảnh hưởng và tăng cường hiệu năng cho tiến trình đánh động đến tâm lý con người về cách cư xử chính đáng phải có, được cộng đồng xã hội đồng thuận chấp nhận" ( Hassenmer Winfred, op. cit , 290) . Sự trợ lực ảnh hưởng và tăng cường hiệu năng cho tiến trình vừa kể, - "hình phạt không những chỉ gây hậu quả trên phạm nhân, mà hình phạt cũng cần thiết ảnh hưởng đến việc đào tạo luân lý cho người dân trung bình " ( Olivercrona Karl, Diritto come fatto, trad. it., Giuffré, Milano, 1967, 133). Nói rõ hơn trong cuộc sống thường nhật, không phải chỉ trong các trường hợp phạm pháp, hình luật còn có khả năng định hướng cho văn hoá và luân lý trên người dân , cũng như ảnh hưởng của tiến trình các tổ chức xã hội trung gian, gia đình, cộng đồng, tổ chức ( Ross Alf, Colpa, Responsabilità, Pena, trad. it., Giuffré, Milano, 1972, 64). Sự tuyên án phạt của hình luật có giá trị là tiếng nói lên án của mạnh mẽ của cộng đồng xã hội, xác định một cách không thể chối cải sự đồng thuận đa số thành viên trong cộng đồng về những giá trị mà cộng đồng chấp nhận được ghi thành văn bản trong thể chế, được ghi trên Hiến Pháp. Như vậy phản ứng của hình phạt đối với tội phạm có mục đích " thiết lập lại sự tin tưởng vào thể chế Quốc Gia và sự trung thành của các thành viên của cộng đồng Quốc Gia đối với thể chế " ( Jakobs Guenther, Strafrecht Allgemeiner Teil: die Grundlagen und die zurechnungslehre, Lehrbuch, W. De Gruyter, Berlin, New York, 1983, 9). f) Hình phạt nhằm cải hoá phạm nhân. Với những quan niệm được đề cập, chúng ta có thể có được một khái niệm về tầm quan trọng của tư tưởng "quy hướng cải huấn phạm nhân" , được đặt thành mục đích chính của hình luật. Với những gì được tuyên bố trong điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, các vị soạn thảo Hiến Pháp Ý lúc đó - không có ý giải quyết hoàn bị thuyết lý mục đích của hình luật được đặt ra, - mà là nêu lên những cảm nhận mới mẻ cho tinh thần hình luật phải có, đặt nền tảng cho thể chế dân chủ nhân bản cho Quốc Gia Ý cần được xây dựng lại sau những gì đã đổ nát do độc tài Mussolini và do thế chiến thứ hai đem lại. Điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc có ảnh hưởng rộng rãi đối với hình luật . Một đàng hình phạt, hiểu một cách nào đó, - là trợ lực cho phạm nhân, giúp anh ta cẩn thận hơn trong việc tái phạm tội trạng trong tương lai, - đàng khác điều khoản vừa nói của Hiến Pháp đặt lại những giá trị đứng đắn phải có đối với ngành lập pháp sau nầy. Nói cách khác, điều 27, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý ảnh hưởng đến cơ quan lập pháp và tư pháp trong việc xác nhận vai trò của các diễn biến trong tiến trình phạt vạ, trong lúc lựa chọn và xác định lãnh vực và tầm quan trọng của các tội trạng, nếu "quy hướng để cải hoá phạm nhân" là mục đích chính của hình phạt, - cơ quan lập pháp không những giới hạn phương thức nào là những phương thức thích hợp để nhân vị hoá tiến trình phạt tội, - mà còn ngay cả trong thời gian soạn thảo luật, cơ quan lập pháp cũng phải xác định loại trừng phạt nào là hình phạt có thể đưa đến phản ứng ngược lại xã hội tính của con người. Nguyên tắc " quy hướng để cải hoá phạm nhân" như vậy được nêu lên làm tiêu chuẩn cho việc xử phạt - một đàng phải được thực hiện ở bên trong lằn mức tương ứng với nguyên tắc tội theo tỷ lệ thực trạng công minh, - đàng khác cũng là tiêu chuẩn cho các quan toà thẩm định hình phạt, không làm phương hại đến mục đích " giáo dục lại phạm nhân" được nhằm đến ( Romano Mario, Pevenzione generale, in Teoria e prassi della prevenzione generale dei reati, Il Mulino, Bologna, 1980, 165 ). Nhưng nội dung của mục đích " cải hoá phạm nhân" là gì? Mục đích quan trọng mà ai cũng thấy được trong việc dùng hình phạt để " cải hóa phạm nhân " là sửa đổi người phạm pháp để tránh cho họ lại sa ngã thêm những lần khác vào tội trạng, mà họ đang bị trừng phạt. Đạo luật L. 26.7.1975, điều 1, đoạn 4 của Bộ Hình Luật Ý xác nhận: - " đối với những người bị kết án và những người đang bị cầm tù, cần phải thực hiện những phương thức giáo dục lại, qua việc tiếp xúc với xã hội bên ngoài, nhằm hội nhập cho họ vào xã hội trở lại ". Cũng vậy, điều 1 Nội Quy Các Nhà Giam được Tổng Thống chuẩn y ( d.p.r. 29.4.1976, n. 431) cũng xác nhận tương tợ: - " Phương thức áp dụng để giáo dục lại phạm nhân nhằm khơi động một tiến trình thay đổi cách hành xử của họ trước kia, là trở lực chính cho việc tham dự tích cực vào đời sống xã hội ". Giáo dục lại phạm nhân để phát động và hướng dẫn họ tham dự tích cực và lợi ích vào cuộc sống xã hội của đất nước. Đó là nội dung chính yếu của mục đích "quy hướng để cải hóa phạm nhân" mà các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc mơ ước, khi các vị nghĩ đến tầm mức xây dựng của hình phạt. Nói cách khác, giáo dục lại để tạo cho phạm nhân có khả năng và cơ hội kiến tạo lại cuộc đời mình và tham dự xây dựng hữu hiệu dất nước ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Tư tưởng trên không có gì khác hơn là Quốc Gia thi hành bổn phận " nhận biết và bảo đảm" các quyền bất khả xâm phạm của con người" ( Điều 2, id.), trong đó có " quyền bình đẳng " của mọi người dân.. - " Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân và xã hội" ( Điều 3, đoạn 1, id.). Như vậy, giáo dục lại phạm nhân là tạo lại cho người sai lỡ phạm pháp cũng có cơ hội và điều kiện để kiến tạo lại đời mình và tham dự vào việc hội nhập trở lại để kiến tạo xứ sở như những công dân khác. Nói cách khác tạo cho người phạm pháp cũng được hưởng quyền bình đẳng trong cộng đồng Quốc Gia như mọi công dân khác. Nhưng muốn phạm nhân có thể hội nhập trở lại và tham dự vào cuộc sống Quốc Gia một cách tích cực và lợi ích, mục đích của điều khoản Hiến Pháp đang bàn cũng hàm chứa việc tìm ra những luật lệ và phương thế thích hợp để chuyển hóa các khuynh hướng sai trái của phạm nhân, trở lực không cho anh ta hội nhập và tham gia được vào cuộc sống xã hội . Điều xác tính vừa kể cho thấy mục đích của "cải hoá phạm nhân" và phục hoạt lại cuộc sống hội nhập và tham dự thiết thực vào đời sống Quốc Gia liên hệ mật thiết nhau. Quan niệm vừa kể cho thấy ngay cả trong lãnh vực hình luật, Quốc Gia cũng đứng ra bảo đảm giúp người dân vượt thắng những trở ngại ràng buộc cuộc sống cá nhân và cuộc sống cộng đồng của họ . Như vậy mục đích của hình phạt nhằm " cải hóa phạm nhân" chính là mục đích Hiến Pháp nhằm đến và là nhiệm vụ được giao phó cho cơ chế Quốc Gia "Bổn phận của quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật...không cho phép họ phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) ( Bricola Franco, Le misure alternative alla pena nel quadro di una nuova politica criminale, in AA.VV., Pene e misure alternative nell'attuale momento storico, Atti del Convegno, Giuffré, Milano, 1960, 408). Và một khi xác định được nội dung của mục đích được Hiến Pháp nhằm đến, chúng ta có được định hướng để lựa chọn luật lệ, định chuẩn tội hình và phương thức thích hợp để áp dụng hình luật đối với phạm nhân cho tiến trình để đạt được mục đích - " quy hướng để cải hóa phạm nhân ", giúp cho phạm nhân xây dựng lại cuộc đời cho chính mình và tham dự tích cực xây dựng đất nước, thay vì phạm pháp làm hại đồng bào và làm hại đất nước. Điều đó cắt nghĩa tại sao trong các khám đường hiện tại ở Ý Quốc, - cả nền giáo dục được tổ chức cho các phạm nhân, ngay trong khám đường hay ở các học viện thông thường, tùy trường hợp, từ cấp bậc tiểu học cho đến đại học, gồm đủ các phân khoa, kể cả những chương trình huấn nghệ, dưới sự bảo trợ của các học viện và đại học sở tại, để tạo cho phạm nhân có phẩm chất trí thức và nghề nghiệp trong tay, khi được xuất trại, trở lại cuộc sống bình thường. - các phạm nhân cũng được tổ chức làm việc có lương trong thời gian bị giam giữ ( hoặc tại tại khám đường, hoặc được tự do tạm ra bên ngoài, thời khóa biểu do giới có thẩm quyền ở khám đường ấn định, đến các hảng xưởng bên ngoài, tùy tình trạng tội phạm). Và số lương lãnh được, * 1/3 bị nhà tù truất hữu như là sở phí để trang trải cho phí tổn đài thọ cho cuộc sống trong thời gian anh ta bị cầm giữ, * 1/3 bị nhà tù truất hữu để bồi thường những thiệt hại dân sự cho nạn nhân hay gia đình nạn nhân mà anh ta gây nên trong lúc phạm pháp, giúp cho gia đình bị thiệt hại do tội phạm của anh gây nên, có phương tiện để sống, * phần còn lại, nhà tù sẽ bỏ vào ngân hàng cho anh, tích trử vốn với cả lải suất, để khi xuất viện anh ta có được một số vốn trong tay, để khởi công lại cuộc đời, bằng cả vốn liếng và kiến thức được học hỏi trong thời gian bị giam giữ. - còn đối với các phạm nhân bị án chung thân thì sao? * Với sự đồng thuận của phạm nhân, số tiền thuộc về anh ta, cứ theo định kỳ sẽ được chuyền về nguyên quán cho người thân bên ngoài giúp cho họ có phương tiện sống. Đó là chưa kể đến trường hợp anh ta có cách sống được hoán cải, đáng được tin tưởng, anh cũng sẽ được hưởng ân xá ( indulto) do Vị Nguyên Thủ Quốc Gia ban cho, cũng sẽ có tương lai được ra khỏi tù trở về cuộc sống tự do ( Bricola Franco, op. cit., 512-517). Phạm nhân trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ là vậy! Uớc gì đó cũng là hình ảnh của phạm nhân Việt Nam trong tương lai.

 

Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " . Nói như vậy, ai cũng nói được. Nhưng Đảng và Nhà Nước có phương thức nào để bảo vệ dân, để cho rằng mình " của dân, do dân và vì dân " không? Những dòng dưới đây là những gì Hiến Pháp Nhân Bản của thiên hạ tiên liệu, ngay cả lúc Hiến Pháp được ban hành, để có thể ngẩng mặt nói mình là " của dân, do dân và vì dân". - " Tự do cá nhân bất khả xâm phạm. Mỗi người có quyền được bảo toàn mạng sống, toàn vẹn thân thể và danh dự của mình. Mỗi người được tự do triển nở hoàn toàn con người của mình, miễn là không làm tổn thương đến quyền lợi người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý ( Điều 2, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD). - " Không thể chấp nhận bất cứ mọi hình thức bắt giam, lục xét, điều tra, trưng thu , hoặc các phương thức giảm thiểu tự do cá nhân nào, nếu không có án trác có lý do của tư pháp, trong các điều kiện và theo thể thức luật định . Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt .( Điều 13, doạn 2 và 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Tính cách có thể được chấp nhận và thời gian kéo dài của việc trất hữu hay giảm thiểu tự do chỉ có vị thẩm phán có quyền định đoạt. Trong trường hợp quyền tự do bị truất hữu không do cơ quan tư pháp ra lệnh, cần phải cấp bách yêu cầu quyết định của tư pháp. Cảnh sát tự mình không có quyền cầm giữ ai đến ngày hôm sau, khi bị bắt. Các chi tiếc sẽ được luật pháp quy định" Bất cứ ai tạm thời bị bắt giam vì tình nghi phạm pháp, nội trong ngày hôm sau phải được đem đến trước quan toà. Vị quan toà phải thông báo cho đương sự lý do bị bắt giam, nghe đương sự trình bày hay làm cách nào để đương sự có thể biện minh. Sau đó quan toà hoặc phải đưa ra trác án giam giữ có lý chứng, hoặc phải ra lệnh phóng thích tức khắc. Nhân viên công lực tự mình, không có quyền giam giữ ai ( Điều 104, đoạn 2 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD) A –Thể Chế Nhân Bản đứng ra bảo đảm cho tự do cá nhân, sau khi xác nhận phẩm giá con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm trong tổ chức Quốc Gia. Với câu - “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các xã hội trung gian , nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình, và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội” ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) ( Cf. PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ) , Thể Chế Nhân Bản nhìn nhận con người như là giá trị tối thượng trên các giá trị nền tảng của Thể Chế, trên đó một Quốc Gia văn minh, tôn trọng con người được xây dựng. Quốc Gia được thiết lập là để phục vụ con người. Mục đích của nguyên tắc nền tảng đang bàn của Thể Chế Nhân Bản là bảo vệ tự do cá nhân: “ Tự do cá nhân bất khả xâm phạm. Mỗi người có quyền được bảo toàn mạng sống, toàn vẹn thân thể và danh dự của mình” ( Điều 2, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) . Quan niệm tự do cá nhân phải được bảo vệ được đã có từ ngàn xưa, từ lúc có con người. Tự do cá nhân nói riêng và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người nói chung, được viết thành văn bản và có hệ thống từ thề kỷ XVIII, với Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789. Nhưng dấu vết của ước vọng con người cho mình có được tự do, chúng ta có thể tìm thấy trước hơn nữa, trong sắc lệnh của hoàng gia Anh, " Habeas Corpus“ . Hoàng gia Anh dành cho mình quyền giải thoát các thần dân bị cáo khỏi uy quyền của các lãnh chúa và đem về xét xử bằng toà án của triều đình, để cứu sống họ. Dần dần nguyên tắc trên trở thành tập tục cho quyền của cá nhân được bảo toàn mạng sống khỏi bị hành hạ, ngược đãi bằng bạo lực, theo cách hành xử tùy lúc, tùy hứng của các lãnh chúa ( hay của bọn côn đồ công an và xã hội đen đối với giáo dân Con Cuông chẳng hạn) Dấu vết tự do cá nhân được bảo vệ, chúng ta có thể tìm thấy trong "Habeas Corpus“ , như vừa nói, nhưng ước vọng con người được tự do khỏi áp bức, hành hạ, giết chết không phải chỉ mới phát xuất từ đó, mà hiện hữu từ lúc có con người. Hơn ai hết, người Anh đã xác tín điều đó, nên nền tảng dân chủ và nhân bản của Quốc Gia đối với họ không phải chỉ là những gì được ghi trên các văn bản viết ra, mà còn cả những gì tiềm tàng trong trong ý thức của con người, được thể hiện trong niềm tin và cách thức hành xử của con người theo tập tục qua bao thế hệ. Người Anh gọi niềm tin và lối hành xử đó trong tập quán là “ Common Laws ” ( Luật lệ chung của mọi người, theo xác tín, tâp tục) . Bởi đó chúng ta không lạ gì những tuyên ngôn, thỉnh nguyện, văn bản về nhân quyền như - Magna Charta Libertatum 1215, - Petition of Rights 1628, - Bill of Rights 1689 , trên thực tế là những bản văn Hiến Pháp liệt kê các quyền và tự do người dân, đòi buộc giới đương quyền phải tôn trọng, được người Anh viết ra như là những gì họ chỉ nhắc lại, nhìn nhận và xác quyết những điều đã có sẵn trong “ Common Laws ”. Để tránh cho bài viết quá dài, chúng tôi xin tạm gát lại các tư tưởng về - tự do cá nhân, - tự do cá nhân theo quan niệm luật tự nhiên, - tự do cá nhân trong quan niệm khế ước và đi thẳng vào những gì phải có, để áp dụng thực tế bảo vệ an ninh cá nhân và mạng sống người dân ( nhưng chi tiếc vừa kể, qúy vị có thể xem thêm, www.thegioinguoiviet.net, n.10, cfr. TỰ DO CÁ NHÂN). Và đây là những phương thức được Hiến Pháp Nhân Bản tiên liệu để bảo vệ người dân: 1 - Nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị. Mỗi người được tự do triển nở hoàn hảo nhân phẩm của mình, miễn là không làm tổn thương đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý " ( Điều 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) .( cfr. THỂ CHẾ QUỐC GIA PHÁP TRỊ ), Tính cách tương đối hóa và giới hạn của tự do cá nhân trong cuộc sống chung của Cộng Đồng Quốc Gia, chúng ta vừa có dịp đề cập đến ở trên. Nhưng đọc phần 2 của câu văn, “ … miễn là không làm tổn thương đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý ”, chúng ta có cảm tưởng rằng Thể Chế Nhân Bản chỉ cho phép việc “ triễn nở hoàn hảo nhân phẩm ” dưới hình thức tiêu cực, " miễn là..." . Nhân phẩm con người của cá nhân khỏi bị “ quyền của người khác…, thể chế hiến định và lề luật luân lý ” giới hạn. Suy nghĩ kỹ hơn, ý nghĩa của quan niệm căn bản Thể Chế Nhân Bản không phải chỉ có ý nghĩa như vậy. Trong cuộc sống chung với người khác và liên hệ với quyền của người khác, không hẳn tự do cá nhân, " phát triển hoàn hảo con người của mình " chỉ có điều bất lợi là bị giới hạn. Sống chung với người khác và liên hệ với quyền của người khác cũng giúp chúng ta phát triển chính con người của chúng ta. Cuộc sống chung trong xã hội là cuộc sống trong đó hiểu biết của người khác giúp chúng ta mở mang hơn, hoạt động của người khác đem lại lợi ích cho họ mà cũng cho cả chúng ta, cho mỗi người chúng ta và cho công ích. Cũng vậy, " thể chế hiến định và lề luật luân lý " không phải chỉ là những khuôn viên bó buộc chúng ta không thể vượt thoát ra bên ngoài, mà là nền tảng Thể Chế Nhân Bản, với sự tôn trọng phải có, như là những điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể phát triển con người của chúng ta. Nói cách khác, thể chế hiến định và nền tảng luân lý là khuôn sườn, là ngôi nhà bảo bọc, bênh vực con người, chống lại mọi yếu tố tác hại, nghịch cảnh để con người có môi trường và điều kiện phát triển hoàn hảo chính mình và giúp phát triển cho đồng bào mình. Bởi đó, Thể Chế Nhân Bản, tôn trọng con người và tôn trọng phương thức dân chủ đa nguyên, đa dạng xây dựng đất nước, nhưng không phải là thể chế mềm nhũng không xương sống: - “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến sự tham dự của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp hay đến các nguyên tắc đã được nêu ra ở điều 1 và điều 20 ” ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộ ng Hoà Liên Bang Đức). ( Điều 1, liên quan đến phẩm giá bất khả xâm phạm của con người và điều 20, định nghĩa Cộng Hoà Liên Bang Đức là Quốc Gia Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội). Như vậy, dù Nhân Bản và Dân Chủ, chúng ta cũng có những nguyên tắc nền tảng bất di dịch của Thể Chế phải tôn trọng để bảo đảm cho con người. Thiếu Thể Chế Nhân Bản và lề luật luân lý làm nền tảng cho , -Thể Chế, là độc tài, khuynh đảo, lạm dụng quyền bính để phục vụ đảng phái và lối sống mọi rợ, nếu không phải là lối sống thú vật ( con người hơn con vật bởi con người có tư cách sống theo lý trí, luân lý, không phải chỉ biết hành động theo bản tính). - Và với cuộc sống xã hội làm môi trường cho cuộc sống liên đới hỗ tương , Thể Chế Nhân Bản hiến định và lề luật luân lý làm điều kiện thuận lợi và giềng mối, con người được đặt vào hoàn cảnh và điều kiện sống thích hợp, hợp với bản tính tự nhiên của mình (xã hội tính, dân chủ và bình đẳng và phương cách hành xử xứng đáng với nhân phẩm con người), để tự do phát triển con người của mình, tung tăng như cá tự do bơi lội trong nước. Trong những hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi đó, con người tự do phát triển nhân phẩm và năng khiếu của mình theo ba chiều hướng đã đề cập: - chiều hướng nội tâm, - hướng thượng - và huớng tha. 2 - Bảo vệ bằng luật pháp. “ Không thể chấp nhận bất cứ hình thức bắt giam, lục xét, điều tra, cầm giữ, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào, nếu không có án trác có lý do của tư pháp, trong các điều kiện và theo thể thức luật định ” ( Điều 13, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Đoạn văn vừa kể của những nguyên tắc nền tảng Thể Chế Nhân Bản, được viết ra dưới hình thức hình thức nổi bậc, “ dành quyền tuyệt đối cho tư pháp ” (riserva assoluta al potere giudiziario). Là đoạn văn quan trọng, liên quan đến bản thân con người, để bảo toàn thân thể và tinh thần của mỗi cá nhân, đoạn văn của Hiến Pháp phải được viết ra bằng tất cả các phương thức bảo đảm luật pháp thông dụng của các Hiến Pháp văn minh, nhứt định bảo đảm cho con người, trung tâm điểm và có địa tối thượng trong tổ chức Quốc Gia: a ) * Dành quyền hạn chế cho luật pháp ( riserva di legge) : đoạn cuối cùng của câu văn, " trong các điều kiện và theo thê thức luật định ", là hình thức bảo chứng tương đối thông thường " dành quyền hạn chế cho luật pháp ", được hầu hết các văn bản Hiến Pháp đều áp dụng. Đó là hình thức dành quyền hạn chế cho luật pháp hay chính xác hơn là dành quyền cho Quốc Hội, cơ quan dân cử duy nhứt, có quyền " lập pháp", " chuẩn y hay bác bỏ " các điều khoản luật, biến các dự thảo, đề án luật thành đạo luật thực định có hiệu lực bắt buộc.. Nói các khác, không ai có thể can thiệp vào con người, " ...bắt giam, lục xét, điều tra, trưng thu hay giảm thiểu tự do ", nếu không được luật pháp do Quốc Hội thường nhiệm đã " chuẩn y hay bác bỏ", trong các trường hợp và theo các thể thức được cho phép. b) * Dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge) . Như vậy, Hiến Pháp giao cho Quốc Hội thường nhiệm " lập pháp ", soạn thảo, " chuẩn y hay bác bỏ " luật pháp và thiết định " các điều kiện và theo thể thức " nào nhân viên công lực phải hành xử, không được như bọn công an phi nhân và kém văn minh chửi bới, đánh đập, đả thương, " trấn nước mụ Uá", " bịt miệng Cha Lý giữa phiên toà" không cho mình tự biện hộ, ném rác và phân hôi thúi và nhà chi Trần Khải Thanh Thủy để trả thù và giết chết người dân, cũng như đang đánh đập giáo dân Con Cuông, giáo phận Vinh trong mấy ngày nay. Nhưng nói như vậy, nhưng không phải Hiến Pháp " khoán trắng " cho Quốc Hội muốn " lập pháp " cách nào, " trong các điều kiện và theo thể thức luật định " thế nào cũng được, mà chính Hiến Pháp đứng ta " thiết định " trước, " các điều kiện và theo thể thức luật định ", như là lằn mức không thể vượt qua. Nói cách khác, Hiến Pháp đã " thiết định " cho Quốc Hội phải " thiết định ", luật pháp, " trong các điều kiện và theo thể thức luật định " đã được Hiến Pháp " thiết định ", không thể vi phạm, đi ra ngoài hay loại bỏ những gì Hiến Pháp đã xác định, nếu không muốn các đạo luật mình " chuẩn y hay bác bỏ " bị Viện Bảo Hiến phán quyết là vi hiến và trở thành vô dụng ( Điều 93 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Đó là phương thức " hạn chế tăng cường đối với luật pháp" ( riserva rinforzata di legge) . Và đó là ý nghĩa của đoạn văn chúng ta ghi lại ở đầu bài: - " Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thể xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt ". Quốc Hội không thể " lập pháp ", cho phép bất cứ ai " Đảng và Nhà Nước mình" hay công an hống hách ở phường xóm cũng vậy, hành xử ngược lại đối với lằn mức được Hiến Pháp xác định. Bởi vì đó là nguyên tắc nền tảng của toà nhà Nhân Bản: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Mọi áp bức, khủng bồ trên thân xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt". - " Không có bất cứ trường hợp nào, một quyền căn bản của con người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Như vậy sự việc công an " bề hội đồng ", xúm nhau đánh đập kỷ sư Đổ Nam Hải mới đây ở đồn công án; xung vào tư gia, chửi bới, mắng nhiếc, đánh đập, giết chết và bắt bỏ tù " bọn Tin Lành" khi " tụi nó " họp nhau tại tư gia để thờ phượng Chúa, vì "nhà thờ tụi nó bị ủi sập "; cũng như trên 50 công an, xúm lại áp đảo và trấn nước " mụ Úa" ở Kiên Giang mới đây làm cho những ai còn có lương tri con người phải đặt câu hỏi về - giá trị của Hiến Pháp 1992 CHXHCNVN " không có con người "không? , như Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, ( Hortz S.J , La Nuova Costituzione Sovietica, in Civiltà Cattolica, 1978, 340 ) - cách " lập pháp " quái đảng của Quốc Hội mình, - hay đó là về cách hành xử " cóc cần luật pháp ", mọi rợ của " Đảng và Nhà Nước mình " đồng loả với công an? c) * Dành quyền tuyệt đối cho tư pháp. Phương thức thứ ba được Thể Chế Nhân Bản nêu lên trong câu trích dẫn ở phần đầu của đoạn đang bàn, đó là phương thức " dành quyền tuyệt đối cho tư pháp", ( riserva assoluta al potere giudiziario) để bảo vệ tự do cá nhân: - " Không thể chấp nhận bất cứ một hình thức giam giữ...nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp ". Giả xử Chính Quyền và cánh tay quyền lực của Chính Quyền đã vượt qua hai trạm kiểm soát đầu tiên, - được Quốc Hội chuẩn y ban hành luật pháp để áp dụng và luật pháp của Quốc Hội tuân theo những điều khoản " không thể vượt qua " đã được Viện Bảo Hiến phán quyết và cho phép thi hành ( Điều 100, đoạn 1 Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức) , - Chính Quyền và công an các cấp của Chính Quyền cũng chưa dám vì cầm được cuốn luật trong tay, hoá mắt thiên hạ để xông vào tư gia, mò mẫm trên thân thể, lột quần lột áo dân chúng để lục xét, chớ đừng nói gì chữi bới, đánh đập, đả thương, bắn giết, bắt bỏ tù. Bởi lẽ đó là những động tác liên hệ, ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân cá nhân của người dân, nên Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ " dành quyền tuyệt đối cho tư pháp ", chỉ có khi nào cơ quan tư pháp ra án trác có lý chứng, ra lệnh và cho phép cơ quan Chính Quyền mới được xử dụng: - " Không thể chấp nhận bất cứ hình thức giam giữ, lục xét, điều tra, giam giữ, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do nào khác, nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp,..." Bởi lẽ, - " tính cách chấp nhận được và thời gian giảm thiểu tự do chỉ có vị thẩm phán mới có quyền ra lệnh. Dù sao đi nữa, việc truất hữu quyền tự do không do quyền tư pháp quyết định, phải thôi thúc tư pháp quyết định liền sau đó. Cảnh sát không có quyền bắt giữa ai qúa ngày hôm sau khi bị bắt giữ..." ( Điều 101, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " ai bị tạm thời bắt giữ vì tình nghi can phạm tội trạng, có cùng lắm là ngày hôm sau phải được trình diện trước quan toà, để quan toà báo cho biết lý do anh ta bị bắt giữ, hạch hỏi anh ta và lắng nghe đương sự trình bày lý do phản cung. Vị quan toà phải tức khắc ra lệnh bắt giữ với án lệnh được viết thành văn bản và có lý chứng, nếu không phải ra lệnh thả lập tức" ( Điều 101, đoạn 3, id.). Và rồi " án trác có lý chứng đó của tư pháp ", nếu người dân cho là oan ức, không xác thực, tự mình hay cùng với người khác có thể kháng cáo lên các cơ quan có thẩm quyền: - " Bất cứ ai vị cơ quan công quyền vi phạm các quyền của mình, đều có thể đệ đơn tố cáo đến cơ quan tư pháp thường nhiệm" ( Điều 19, đoạn 4 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Mỗi người tự mình hay cùng chung với người khác có quyền đệ trình thỉnh nguyện thư hay đơn tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền hay đến cơ quan đại diện dân chúng" ( Điều 17, id.). Và các cơ quan có thẩm quyền hay đại diện dân chúng đó có thể là - Tổng Thống Cộng Hoà ( Điều 87 và 90, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - Lưỡng Viện Quốc Hội ( Điều 50, id.), - Tối Cao Pháp Viện ( Điều 103, id.), - Viện Bảo Hiến ( Điều 136, đoạn 1, id.). Tưởng cũng nên nhắc lại rằng những nguyên tắc nền tảng được Thể Chế Nhân Bản tuyên bố là những điều khoản luật thực định để tổ chức Quốc Gia, có giá trị bắt buộc phải thi hành ( precettive), được tuyên bố dưới hình thức " mệnh lệnh tính ", chớ không phải chỉ là những lời tuyên bố suông, hay những câu tuyên bố có tính chương trình hành động ( programmatiche). Bởi lẽ ngay ở quan niệm nền tảng đầu tiên của văn bản Thể Chế đã xác định: “ Các quyền căn bản được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với các cơ chế Quốc Gia, lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là những quyền đòi buộc trực tiếp ” ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ) ; ( Cf. PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ). Vậy thì những - “ hình thức bắt giam, lục xét, điều tra, cầm giữ, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào…đều không thể được chấp nhận”, là một điều khoản luật “ có giá trị bắt buộc trực tiếp đối với các cơ chế Quốc Gia ”. Nói cách khác, bất cứ ai , tư nhân cũng như cơ chế Quốc Gia nào hành xử ngược lại, là cách hành xử vi phạm vào các điều khoản nguyên tắc nền tảng của Thể Chế Nhân Bản, nền tảng trên đó chúng ta ao ước xây dựng Quốc Gia chúng ta trong tương lai, không những phạm pháp mà còn là hành động vi hiến, bất cứ chủ thể đó là ai. Và vì là quyền “ có giá trị bắt buộc trực tiếp ” được chỉ định các chủ thể bị quy trách (lập pháp, hành pháp và tư pháp ) , nên người dân có thể tố cáo (actionable) đòi buộc quyền tự do của mình phải được tôn trọng, đến các cơ quan có thẩm quyền được Hiến Pháp chỉ định. Điều đó cho thấy rằng tự do cá nhân trong Thể Chế Nhân Bản là - những quyền thực hữu ( diritti sostanziali), - được bảo vệ bởi luật lệ thực định ( legge positiva), - có chủ thể được quy trách ( soggetti imputati) rõ ràng, - là những qui luật bắt buộc ( precettive). Ngoài ra trong câu “ … hoặc các hình thức giảm thiểu cá nhân nào…”, Thể Chế Nhân Bản cũng lưu ý đến những trường hợp khác trong đó tự do cá nhân không phải chỉ bị giảm thiểu bằng áp bức, giam cầm, cưỡng bách, lục soát, trưng thu trên thân thể, mà còn cả những trường hợp bị dọa nạt, đặt điều kiện và lường gạt gian dối làm cho con người không có khả năng đủ để xử dụng tự do của mình. Trong lao tù và trong các bệnh viện, nhứt là bệnh viện chuyên về thần kinh, cá nhân có thể bị doạ nạt, đặt điều kiện, bị áp đặt phải chịu chữa trị theo phương pháp nầy hay theo phương pháp khác, trái với ý muốn của mình. Ở những trường hợp vừa kể cá nhân đương cuộc có thể đệ đơn tố cáo những ai có trách nhiệm các nhà giam và bệnh xá vi phạm tự do cá nhân đến tư pháp. Và cơ quan tư pháp có thể xét xem chủ thể đương cuộc có là những chủ thể thực sự nguy hiểm đến sức khoẻ, - “ ...là quyền cá nhân và lợi ích xã hội, phương hại đến an ninh, tự do và nhân phẩm con người ” ( Điều 41, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), định giá tương xứng giữa nguyên nhân và hậu quả để có những phán đoán cân nhắc tương xứng. Cũng trong tinh thần vừa kể để bảo vệ tự do cá nhân, người đương cuộc có thể tố cáo những trường hợp gian xảo lường gạt, biến chất hóa thức ăn ( adulterazione alimentare) chẳng hạn, bằng cách trộn vào thức ăn, đồ uống, thuốc hút, dầu thơm để làm cho người tiêu thụ bị nguy hai thân thể, bị nghiện ngập phải tìm mua loại nhu yếu vừa kể. Trường hợp vừa đề cập làm cho cá nhân không còn đủ khả năng để xử dụng trí óc sáng suốt để tự do lựa chọn của mình. Những trường hợp đang bàn đã và đang xãy ra ở các quốc gia tân tiến, và tổ chức Quốc Gia có bổn phận " nhận biết và bảo vệ " quyền bất khả xâm phạm của người dân như là những quyền - " có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp,như là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp". 3 - Trong trường hợp cần thiết và khẩn trương. “ Trong các trường hợp cần thiết và khẩn cấp được luật pháp quy định rõ, cơ quan công quyền có thể áp dụng những phương thức tạm thời, nhưng phải báo cho quyền tư pháp biết trong vòng 48 tiếng đồng hồ và, nếu cơ quan tư pháp không không chấp thuận trong vòng 48 tiếng đồng hồ kế tiếp, các phương thức tạm thời vừa kể phải được coi là đã bị thu hồi và không còn bất cứ hiệu lực nào " ( Điều 13, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nhưng dù sao đi nữa thì: - " Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt ” ( Điều 13, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) Với đoạn văn vừa kể Thể Chế Nhân Bản tuyên bố phương thức bảo vệ tự do cá nhân dưới hình thức “ dành quyền tương đối cho luật pháp ”( riserva relativa di legge), Quốc Hội thường nhiệm có thể soạn thảo ra những đạo luật xác định trường hợp và thể thức can thiệp phải tuân theo: - " trong các truờng hợp cần thiết và cấp bách, Chính Quyền có thể..." do tình trạng cần thiết và khẩn cấp đòi hỏi. Cần thiết và khẩn cấp để làm gì? Đó là những trường hợp cẩn thiết và gắp rút để bảo vệ thế chế dân chủ, tự do và nhân bản hiến định, ngăn chận những hành động nguy hiểm đối với - “ lợi ích xã hội, có phương hại đến an ninh cá nhân, tự do và nhân phẩm con người” ( Điều 41, đoạn 4, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nói cách khác, trong trường hợp cướp giựt, phạm pháp sát nhân, khủng bố, chiến tranh hay có thể gieo rắc bệnh truyền nhiễm nguy hại sức khoẻ dân chúng… Trong các trường hợp đại để như vậy, các nguyên tắc căn bản của Thể Chế Nhân Bản cho phép cơ quan công lực có quyền áp dụng tạm thời các phương thức giảm thiểu tự do. Và dù cho tự do cá nhân bị giảm thiểu trong trường hợp “ dành quyền tuyệt đối cho cơ quan tư pháp ” hay “ dành quyền hạn chế cho pháp luật pháp ”, hoặc " dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp " , chính Hiến Pháp đứng ra xác định những lằn mức không thể vượt qua: không có bất cứ trường hợp nào Thể Chế Nhân Bản cho phép dùng - “ Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và đối với tinh thần của người bị giảm thiểu tự do, đều sẽ bị trừng phạt ” ( Điều 13, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) . hay nói như Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức: - " Không có bất cứ một trường hợp nào, trong đó một quyền căn bản có thể bị xúc phạm đến nội dung thiết yếu của nó " ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Bỏi lẽ đi ngược lại với nguyên tắc tối thượng nền tảng đầu tiên mà Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ tuyên bố : “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm . Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là nhận biết và bảo đảm nhân phẩm đó " ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), Bởi lẽ đó là hành động của súc vật, vì coi con người như súc vật. Hiến Pháp của Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " và " dỉnh cao trí tuệ " có tiên liệu những phương thức thực dụng như vừa kể , để bảo vệ dân hay không? Hỏi cách khác: bọn côn đồ công an và xã hội đen đang đánh đập giáo dân Con Cuông, giáo phận Vinh, như súc vật. Hành động đó dựa trên thể thức " quốc gia pháp trị nào ? " và " điều khoản nào bảo vệ bằng luật pháp " để đàn áp dân? Hiến Pháp của Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " và " đỉnh cao trí tuệ " có tiên liệu điều khoản nào bắt buộc để bảo vệ dân hay chỉ là Hiến Pháp " đỉnh cao trí tuệ " " mỵ dân " ( démagogique ) chỉ tuyên bố để mà tuyên bố ? Hiến Pháp là văn bản nền tảng để thiết định, kiến trúc, tổ chúc Quốc Gia, Nếu Hiến Pháp đã là Hiến Pháp " mỵ dân ", thì ai còn chờ đợi đến "lập pháp ", hành pháp " kể cả " tư pháp " , công an côn đồ và xã hội đen súc vật có cách gì đối xử Nhân Bản với người dân? Hỏi để những thành phần còn có lương tri của Đảng và Nhà Nước " của dân, do dân và vì dân " trả lời.

 

1) " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện cần thiết để sống, có quyền được nuôi sống và trợ cấp xã hội". 2 ) "Những ai làm việc đều có quyền được tiền liệu và bảo đảm các phương thế thỏa đáng đối với các nhu cầu của cuộc sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh tật, tàn tật, già nua và bị thất nghiệp làm ngoài ý muốn". 3 ) " Những ai không có khả năng và yếu kém có quyền được giáo dục và hướng dẫn chức nghiệp". 4 ) " Các quyền được tiền liệu trong điều khoản nầy sẽ được các tổ chức và cơ quan được thiết định chăm lo hoặc được chính tổ chức Quốc Gia đứng ra bổ túc". Các đoạn văn vừa trích dẫn là các tiểu đoạn của điều 38 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, liên quan đến việc tổ chức an ninh xã hội cho xứ sở trong một Quốc Gia Cộng Hoà Dân Chủ. A - Những yếu tố lịch sử. Trước khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được được soạn thảo và ban hành, trong xã hội Ý đã có tổ chức an ninh xã hội dựa vào đạo luật L.17.3.1898, số 80 về việc thiết lập tổ chức bảo hiểm tai nạn cho thợ thuyền làm việc. Theo đạo luật trên thì các chủ hảng xưởng có trách nhiệm dân sự bắt buộc phải bảo hiểm tai nạn cho công nhân của mình ( Carnelutti Francesco, Criteri di interpretazione della legge sugli infortuni, Athenaeum, Roma, 1913-1914, I, 22ss). Nhưng hệ thống tổ chức bảo hiểm tai nạn như vừa kể, cho đến khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được soạn thảo và ban hành, vẫn còn tùy thuộc thể thức và quy chế của các bảo hiểm tư nhân. So với Ý, Đức Quốc dưới thời Bismarck, trước thế chiến I ( 1914-1919) đã có hệ thống tổ chức an ninh xã hội hoàn bị gần như hiện nay (Curcio, Idee e discussioni intorno alla previdenza nel Risorgimento e dopo, in Prev. Soc., 1961, 1130). Các biến cố chiến tranh và nhu cầu cần có sự đồng thuận của mọi thành phần dân chúng đang chung sức nhau trong chiến tranh, đưa đến cho Quốc Gia tư tưởng cần loại bỏ quan niệm mỗi người phải cán đáng tự lo lấy tương lai cho chính mình. Và đó là những yếu tố tiên khởi nền tảng cho việc hình thành một hệ thống tiền liệu xã hội ( previdenza sociale) ( Zampetti, La legislazione sociale in Italia dall'inizio del secolo alla vigilia della prima guerra mondiale, in Prev. Soc. agr., 1959, 1960,1961). Nhưng biến cố chiến tranh và nhu cầu cần " đoàn kết dân tộc" đã gợi lên những tư tưởng manh nha về hệ thống tổ chức an sinh xã hội, chớ không phải cung cấp khuôn mẫu " tiền chế sẵn" cho những ai quan tâm đến cuộc sống xã hội. Người Ý còn phải dọ dẫm, học hỏi, bàn cải nhiều để tiến đến tổ chức xã hội hôm nay. Những nhu cầu " đoàn kết dân tộc" và lo nghĩ đến cuộc sống tương lai đã khiến cho dân chúng Ý lúc đó thấy cần có sự can thiệp của Chính Quyền vào kinh tế, để điều chỉnh lại mức lương quá thấp khiến cho công nhân có cuộc sống cùn cực vào thời kỹ nghệ mới phát triển, mà chính Đức Giáo Hoàng Leo XIII cũng phải lên tiếng với Thông Điệp Rerum Novarum ( 1891). Tuy nhiên tư tưởng của dân chúng lúc đó vẫn chưa thoát khỏi khuôn mẫu tổ chức bảo hiểm riêng tư cho lãnh vực phe nhóm liên hệ, chưa phải là hệ thống tiền liệu xã hội phổ quát cho mọi người. Việc bảo hiểm tai nạn, rủi ro lúc làm việc là riêng tư giữa giới chủ nhân và công nhân, để tiên liệu những bất hạnh trong lãnh vực hảng xưởng của họ: - " Sự tiền liệu tai nạn rủi ro là một hình thức cao cả của việc áp dụng nguyên tắc cộng tác. Chủ nhân và công nhân phải cộng tác nhau theo tỷ lệ cho việc tiền liệu trên. Quốc Gia, qua tổ chức nghề nghiệp và các hiệp hội chuyên nghiệp, có bổn phận phối hợp và liên kết, trong giới mức có thể, hệ thống các tổ chức tiền liệu xã hội" ( Carte del Lavoro, disp. XXVI) ( Barassi, Il sistema delle assicurazioni sociali nell'ordinamento sindacale e corporativo, in Ass. Soc., 1938, 509). Câu nói trên cho thấy phương thức tổ chức đề phòng tai nạn rủi ro trong lúc làm việc. Đó là phương thức dựa trên việc quản trị tài chánh thu góp được do hai giới liên hệ cung cấp, giới chủ nhân và thợ thuyền, và cung ứng lại theo tỷ lệ sít sao với số tiền đóng góp. Nói cách khác, cho đến thời gian vừa kể, thời kỳ trước khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được soạn thảo, vấn đề tiền liệu xã hội( previdenza soaciale)trợ cấp xã hội ( assistenza xã hội ) - chỉ giới hạn trong giới nghề nghiệp liên hệ - và trợ cấp theo tỷ lệ cao thấp số tiền mà các đương sự đã cung cấp trong thời gian trước đó. Và cũng vì có tính cách giới hạn trong giới nghề nghiệp, nên chỉ có những lãnh vực nghề nghiệp nào nguy hiểm mới bị bắt buộc " trả thuế cộng tác xã hội " ( contributo sociale ) để được bảo hiểm. Và vì đó, vấn đề anh sinh xã hội cho từng lãnh vực nghề nghiệp có hình thức là phương thức bảo hiểm tư riêng, mặc dầu có luật lao động bắt buộc ( Gueli, Analisi giuridica delle assicurazioni sociali, in Saggi in Scienze Assicurative, III, 75). Phần còn lại, những thành phần dân chúng gặp khó khăn về kinh tế, Quốc Gia bổ túc bằng cách can thiệp dưới hình thức trợ cấp xã hội. Nhưng là những trợ cấp tùy theo việc xét đoán của các cơ quan công quyền có nhiệm vụ được giao phó, trợ cấp với chủ ý dùng trợ cấp xã hội để đạt được mục tiêu chính trị, " đoàn kết dân tộc", như trên chúng ta có dịp đề cập (Mazziotti si Celso Fabio, in Enc. del Dir., voce Assistenza, profili costituzionali, 749). B - An sinh xã hội trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc. Trước tình trạng còn phôi thai về quan niệm an sinh xã hội như vừa kể, chúng ta phải nhìn nhận rằng lý tưởng một nền anh sinh xã hội dựa trên tinh thần liên đới của và cho cả cộng đồng dân tộc cùng chung sống trong lòng Quốc Gia là một lý tưởng cao cả và mới mẻ. Cả cộng đồng Quốc Gia cùng liên đới bảo trợ cho mỗi cá nhân có được cuộc sống an sinh, xứng đáng với nhân phẩm con người là lý tưởng được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc rút ra từ một trong những điều khoản nền tảng căn bản của Hiến Pháp: - " Bổn phận của nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của cá nhân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Tư tưởng về an sinh xã hội đã được nhiều thực hiện khá quan trọng trong thời kỳ New Deal của Tổng Thống Roosvelt. Tư tưởng trên cũng đã được ghi vào Hiến Chương Bắc Đại Tây Dương để tổ chức một thế giới tự do trong tương lai ( Pigou Artur Cecil, Economia Generale, Utet, Torino, 1953). Tư tưởng an sinh xã hội được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đặt liên hệ với một phương thức quan niệm mới mẻ về tự do và các quyền căn bản của con người. Con người muốn được hưởng tự do và các quyền căn bản của mình một cách thiết thực, cần phải đạt được những khả năng kinh tế và xã hội: - "dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn tự do và bình đẳng của cá nhân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào lảnh vực chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn , cit.) Tư tuởng con người cần có được khả năng kinh tế và địa vị xã hội để được hưởng trọn vẹn các quyền tự do bất khả xâm phạm của mình làm giao động xã hội Ý lúc đó, - không những vì lý tưởng cao đẹp của quan niệm, - mà còn để đối ngược lại quan niệm hạn hẹp bảo hiểm trong lãnh vực hạn hẹp của nghề nghiệp - và loại bỏ những ai còn lại trong Cộng Đồng quốc Gia ra bên lề. Còn nữa, ngay cả tổ chức có tính cách riêng tư cũng không đủ khả năng đáp ứng lại nhu cầu của các giới liên hệ, do tình trạng kinh tế và tài chánh suy thoái của thời gian sau thế chiến II ( Pastore, Un problema urgente: la riforma della previdenza sociale, in Prev. Soc., 1945, 2). Như vậy, sau thế chiến II, quan niệm an ninh xã hội thời kỳ New Deal của Tổng Thống Roosvelt và của Hiến Chương Bắc Đại Tây Dương không những trở nên hấp dẫn vì lý tưởng cao cả, mà còn gặp được thiên thời, địa lợi ( kinh tế tài chánh suy thoái, không đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm nghề nghiệp và người dân hoang mang) khiến cho người dân có cuộc sống bấp bênh. Biết như vậy, chúng ta hiểu được tại sao vấn đề anh sinh xã hội được các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc nâng lên hàng quốc sách với tư tuởng của điều 3, đoạn 2 vừa kể. Ngay cả trước khi Hiến Pháp được ban hành, Chính Quyền lúc đó đã giao phó cho một ủy ban nghiêng cứu vấn đề, Ủy Ban Thượng Nghị Sĩ D'Aragona. Ủy Ban D'Aragona không tạo ra được những đạo luật để áp dụng tiếp đến cho an sinh xã hội, vì thời gian Chính Quyền còn quá ít trước khi Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được ban hành và kế đó Chính Quyền mới được thành lập, Thượng Nghị Sĩ d'Aragona không còn được tái cử để tiếp tục công việc. Nhưng điều quan trọng là Ủy Ban dùng lần đầu tiên danh từ " an sinh xã hội" ( sicurezza sociale) và đưa ra định hướng phải đi cho tương lai: - " nới rộng những phương thức "an sinh xã hội" ( sicurezza sociale) , với mục đích bảo đảm mức lợi tức tối thiểu và bảo vệ sức khỏe đầy đủ cho tất cả những ai cần được bảo vệ " (Ministero del Lavoro e della Previdenza Sociale, Relazione della Commissione per la Riforma della Previdenza Sociale, Roma, 1949, 2). Phúc trình vừa kể của Ủy Ban d'Aragona đua ra định hướng mới, thay thế cho mối liên đới hạn hẹp trong lãnh vực nghề nghiệp, cần thiết lập tình liên đới phổ quát bảo vệ giá trị mà đáng lý phải được gán cho con người, trước khi gán cho người công nhân: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay như thành phần xã hội, nơi mỗi người phát triển nhân cách của mình và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Kế đến cũng do tình thế và để đáp ứng lại các nhu cầu thiết thực sau chiến tranh, những động tác can thiệp của Quốc Gia vào môi trường xã hội như đã nói, tạo nên tổ chức hệ thống an sinh xã hội bắt đầu tách dần khỏi hệ thống bảo hiểm riêng tư nghề nghiệp. Một bước tiến khác được thực hiện, đó là với nghị định D.L. 2.4.1946, n. 142, Chính Quyền quyết định từ nay việc trả " thuế cộng tác xã hội " hay " cộng tác xã hội " ( contributo sociale ) , phần tốn kém để trang trải bảo hiểm tai nạn rủi ro, hoàn toàn được quy trách cho giới chủ nhân. Trong tâm thức vừa kể, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ngồi lại với nhau để viết ra điều 38 chúng ta đang bàn và điều 3, đoạn 2 , nền tảng nhân bản và an sinh xã hội của Hiến Pháp ( Guarini, La previdenza nella Costituzione Italiana e nelle altre Costituzioni, in Riv. Inf. Mal. Prof., 1952, 15). Chúng ta có thể tự hỏi - " những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, trong khi ngăn cản thực sự tự do và bình đẳng của cá nhân"( Điều 3, đoạn 2, cit.) là những chướng ngại vật nào? Đó là những chướng ngại do tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, già nua và thất nghiệp đem đến. Chính những chướng ngại vật đó - " không cho mỗi cá nhân phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) ( Persiani Mattia, Sicurezza sociale e persona umana, Problemi Sicurezza Sociale, Cedam , Padova, 1970, 609). Những gì chúng ta vừa đề cập đưa đến một kết luận quan trọng: thiết lập hệ thống tiền liệu xã hội ( previdenza sociale) - không còn chỉ cần thiết để bảo vệ người làm việc trong lúc làm việc và trong đời sống của mình, - mà là cần thiết để đáp ứng lại lợi ích của cả cộng đồng được tổ chức trong lòng Quốc Gia. Từ đó chúng hiểu tại sao sự cần thiết phải thiết lập hệ thống an sinh xã hội và tại sao Hiến Pháp quy trách cho tổ chức Quốc Gia phải cán đáng tổ chức, như là một trong những bổn phận đứng hàng đầu phải chu toàn: - " Bổn phận của nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội..." ( Điều 3, đoạn 2, cit.). Cũng vậy, điều 38 đang bàn cũng liên hệ đến điều 32 của Hiến Pháp, liên quan đến việc bảo vệ sức khoẻ. Con người được khoẻ mạnh không phải chỉ là quyền bất khả xâm phạm của cá nhân, mà còn là lợi ích của cộng đồng xã hội: - " Nền Cộng Hoà bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của cộng đồng, và bảo đảm việc chữa trị miển phí cho những ai yếu kém " (Điều 32, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Bởi lẽ con người được khoẻ mạnh không những chỉ là một trong những điều kiện để - " triển nở hoàn hảo con người của mình ", mà còn là lợi ích của cả Cộng Đồng Quốc Gia, tham gia hoạt động để tạo thinh vượng phú cường cho cả Cộng Đồng, đó là chưa nói đến bệnh hoạn do nghèo khổ không đủ ăn, môi trường dơ bẩn mất vệ sinh, sẽ là cho công qủy y tế phải tốn kém để chữa trị: - "và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.). C - Từ lý tưởng đến xác định hướng đi. Đọc đoạn 1 của điều khoản đang bàn ( điều 38), nói về - " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện sống..." đều được trợ cấp xã hội, và đoạn 2 bàn về " Người làm việc có quyền được tiền liệu và bảo đảm để đáp ứng lại thoả đáng các nhu cầu của cuộc sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, già nua và thất nghiệp..." người ta có cảm tưởng rằng Quốc Gia phân biệt dân chúng thành hai hạng người: hạng làm việc và không làm việc. Và rồi phương cách đối xử với hai hạng công dân cũng khác nhau. a ) Trước hết từ ngữ " người làm việc " ( lavoratori ) được đề cập đến ở đoạn 2, căn cứ trên hệ thống bảo hiểm tai nạn rủi ro cho giới thợ thuyền được thực hiện, trước thời gian Hiến Pháp 1947 được tuyên bố, làm cho người đọc có cảm tưởng là hệ thống an sinh xã hội được Hiến Pháp đề cập chỉ nhằm bảo vệ giới thợ thuyền, " người làm việc " thuộc hạ trong hảng xưởng. Quan niệm trên không có lý chứng. Bởi lẽ ngay ở đoạn 1 của điều 38 đang bàn, Hiến Pháp đứng ra bảo đảm cho " mọi công dân ": - " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện để sống, có quyền được nuôi sống và được trợ cấp xã hội ". Người công dân đó, " mọi công dân", là nhân công, người làm việc thuộc hạ trong hảng xưởng, hay người làm việc tự lập ( lavoratore autonomo), tiểu công nghệ, thương gia hay người hành nghề tự do ( luật sư, bác sĩ, ngành chứng khoán tài trợ xí nghiệp) cũng vậy. Kế đến quan niệm hạn hẹp trên không có lý chứng, bởi lẽ trong bài viết về ( cfr QUYỀN LÀM VIỆC ) , bình luận điều 35 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, chúng ta đã có dịp xác định danh từ "làm việc" theo định nghĩa của Hiến Pháp đang bàn, là mọi hoạt động " có lợi ích xã hội ", việc làm của công nhân thuộc hệ trong hảng xưởng, xí nghiệp, nghề tự lập, nghề tự do cũng vậy: - " Nền Cộng Hoà bảo vệ việc làm dưới mọi hình thức và mọi áp dụng" (Điều 35, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). b) So sánh hai điều khoản đầu tiên của điều 38 đang bàn, chúng ta không thấy Hiến Pháp nêu ra bổn phận khác biệt của Quốc Gia đối với " mọi công dân" " người làm việc ", cá nhân hay đoàn thể cũng vậy. Bởi lẽ " người làm việc", trước khi bắt đầu hoạt động để " làm việc " thuộc hệ hay tự lập cũng đã là người công dân như " mọi công dân" khác. Như vậy, " mọi công dân", bất cứ người công dân nào, làm việc hay không cũng vậy, đều được điều 38 Hiến Pháp 1947 bảo đảm cho có quyền, ( và dĩ nhiên hàm chứa phía bên kia, bên tổ chức Quốc Gia bị quy trách có bổn phận phải thực hiện) , quyền của người dân được tự do khỏi bị các nhu cầu vật chất ràng buộc ( Persiani Mattia, Considerazioni sulle motivazioni ideologiche dall'assistenza e della previdenza sociale e sulla loro dovuta all'idea della sicurezza sociale, in Riv. Inf. Mal. Prof., 1973, 419). Tuy nhiên đọc hai đoạn 1 và 2 của điều 38, chúng ta thấy Hiến Pháp nêu lên: a ) " quyền được nuôi sống và trợ cấp xã hội " đối với " mọi công dân" ( đoạn 1) b ) và " những phương tiện thoả đáng đáp ứng lại các nhu cầu cuộc sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, tàn tật, già nua, bị thất nghiệp ngoài ý muốn…" đối với " những người làm việc" ( đoạn 2) cho thấy đối tượng của việc bảo vệ an sinh xã hội có khác nhau. Dựa trên hai đoạn 1 và 2 của điều 38 vừa kể, chúng ta thấy rằng quyền của những " người làm việc" , tức là những người đã cộng tác để góp phận đem lại thịnh vượng nâng cao mức sống của cộng đồng xã hội, được Hiến Pháp trọng đải hơn đối với những công dân nói cách tổng quát. Hệ thống an sinh xã hội ở các nước Nhân Bản và Dân Chủ có mục đích bảo đảm cho " mọi công dân " có quyền được " nuôi sống và trợ cấp xã hội", bảo trợ cho người dân ít nhứt có mức sống tối thiểu, đầy đủ đáp ứng lại nhu cầu của cuộc sống một cách xứng đáng nhân phẩm con người, cho chính cá nhân đương sự liên hệ cũng như cho gia đình. Mức lợi tức tối thiểu được bảo đảm để có thể nuôi sống cả gia đình cho thấy mối liên hệ giữa điều 38 ,về an sinh xã hội đang bàn và điều 36 ,liên quan đến mức lương thoả đáng của người làm việc, đã được Thông Điệp Rerum Novarum ( 1891) của Đức Giáo Hoàng Leo XIII đề cập đến trước đó. - " Người làm việc có quyền được thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm và dù sao đi nữa cũng đủ để bảo đảm cho chính mình và gia đình mình một cuộc sống khang trang " ( Điều 36, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Hệ thống an sinh xã hội vừa kể, một quốc gia Nhân Bản và Dân Chủ không dựa vào mức đóng góp của thành phần nghề nghiệp liên hệ, mà dựa trên sự liên đới hổ tương (solidarietà) của cả Cộng Đồng Quốc Gia. Hệ thống an sinh xã hội được cả Cộng Đồng Quốc Gia bảo trợ cho " mọi công dân" có quyền được " nuôi sống và trợ cấp" cho cá nhân và gia đình liên hệ , với mức lợi tức tối thiểu ít nhứt đáp ứng lại một cuộc sống xứng đáng. 1 ) An sinh xã hội Nhân Bản và Dân chủ khác với Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng nền anh sinh xã hội của một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ không có mục đích nâng cao mức sống của mọi người, bằng cách " san bằng mạc rệp" tất cả xuống mức sống bần cùn của " bần cố nông vô sản" của Cộng Sản. Trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, một người chưa bao giờ làm việc trong cả cuộc đời hay một người chỉ làm việc ở địa vị một công dân hạng bét trong hảng xưởng, không thể nào kỳ vọng ở hệ thống an sinh xã hội Quốc Gia cung cấp cho mình lợi tức để có mức sống của chủ hảng, bác sĩ, kỹ sư, giám đốc ngân hàng, thương gia thành đạt trên thị trường. Một hệ thống an sinh xã hội dựa trên ý thức hệ không tưởng như vừa kể là hệ thống dựa trên nền kinh tế phá sản. Bởi lẽ không có lợi nhuận tương xứng để kích thích, sẽ không có cố gắng học hỏi, ra công nghiêng cứu, suy nghĩ , sáng kiến đòi hỏi nhiều hy sinh và nghị lực. Và nền kinh tế không có sáng kiến và gắng sức để đổi mới, đáp ứng thoả đáng nhu cầu của người tiêu thụ, là nền kinh tế phá sản trong trứng nước, do thái độ làm việc tắc trách. Hệ thống kinh tế tư bản ở thế thượng phong và thành đạt thịnh vượng ngay trong quan niệm, hơn kinh tế chỉ huy của Cộng Sản thoái bộ và sạt nghiệp ở Liên Bang Sô Viết và Đông Âu, được biểu thị ngay trong tên gọi của hệ thống kinh tế. "Tư Bản " không có nghĩa chỉ là "của cải, tiền tài, dụng cụ, cơ sở, đất đai", như tầm hiểu biết thiếu sót của Karl Marx. "Kinh tế tư bản " trong ngôn ngữ chúng ta đồng nghĩa với " Capitalisme, Capitalismo, Capitalism" trong các ngôn ngữ Tây Âu. Danh từ Capitalism phát xuất từ nguyên ngữ La Tinh " Caput ": cái đầu. Trong con người khi nói đến " cái đầu ", đầu óc, là nói đến trí thông minh, tìm tòi, hiểu biết, sáng kiến. Nền kinh tế tư bản phát triển thịnh vượng là vì có lợi nhuận, kích thích con người cầu tiến, học hỏi, sáng kiến hay "số vốn nhân thức"( human capital ) được nâng cao do cố gắng hy sinh, học hỏi, chuyên cần. Càng có sáng kiến, chế ra sản phẩm mới để thích hợp đáp ứng lại nhu cầu của người tiêu thụ hơn, tìm cách sản xuất nhanh hơn, nhiều hơn, rẻ hơn, càng bán được nhiều hơn, thu lợi tức nhiều hơn và được trả lương cao hơn. Nói cách khác, một nền kinh tế phát triển thịnh vượng là nền kinh tế đáp ứng lại được các câu hỏi một cách thoả đáng và hiệu năng: Sản xuất sản phẩm gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất bao nhiêu? Sản xuất bằng cách nào? Bao giờ sản xuất? Chủ thể con người với " số vốn nhân thức " ( human capital ) luôn luôn giữ vai chính để đáp ứng lại các câu hỏi đó một cách thoả đáng, chớ không phải là tài nguyên vật chất, mà là - " khối óc biết nhìn xa thấy rộng, sắp đặt, phối hợp, định lượng, quyết định thời điểm, phân phối đến người tiêu thụ và tính toán lợi lộc hay thua lỗ ". Thửa ruộng, mãnh đất, con bò, quặng mỏ, máy móc, cơ xưởng và cả khối bạc nằm trong ngân hàng, tự chúng không thể suy nghĩ để quyết định trả lời thỏa đáng cho các câu hỏi trên. Chỉ có khối óc của con người " Caput, human capital " mới là "Chủ Thể " đóng vai chính điều khiển kinh tế. Không ra công tìm tòi, học hỏi, sáng kiến, kinh tế đời nọ sang đời kia chỉ là kinh tế " chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa". Và không có lợi nhuận kích thích, không ai ra công học hỏi, nghiêng cứu, sáng kiến. Mọi người đều lãnh lương " bần cố nông vô sản" như nhau là quan niệm không tưởng của nền kinh tế phá sản, nếu không muốn nói là xuẩn động của các quốc gia xã hội chủ nghĩa.. 2 ) Bình đẳng là công bình. Hơn nữa, nền an sinh xã hội cung cấp lợi tức bằng nhau cho " mọi công dân " là quan niệm không thể có trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ lấy nguyên tắc bình đẳng làm nền tảng. Mọi người đều là " bần cố nông vô sản" như nhau, là lối suy nghĩ không tưởng và xuẩn động, nhân danh nguyên tắc bình đẳng để áp dụng, biến kinh tế thành phá sản và mọi người đều bần cùn mạc rệp như nhau. Người ta có cảm tưởng rằng Marx, Lenin và những ai theo chủ thuyết Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ biết có một loại bình đẳng duy nhứt trên trần gian: bình đẳng toán học. Bình đẳng toán học được định nghĩa là loại bình đẳng trong đó - " cùng một thứ đối tượng cho tất cả mọi người ". Trong khi đó thì Bình đẳng theo tỷ lệ là bình đẳng trong đó - " cùng một thứ đối tượng cho tất cả những ai ngang nhau ". Và dĩ nhiên các đối tượng không đồng nhau cho những người không bằng nhau. Aristotes xác định rỏ hơn: - " Những người không bằng nhau được đãi ngộ tùy theo sự khác biệt của họ" ( Aristotes, Etica, Nicomachea, V vol.) Như vậy, muốn có Bình Đẳng phải có Công Bình. Và cũng chính Aristotes diễn tả mối tương quan: - " Bất công là bất bình đẳng và công bình là bình đẳng" ( Aristotes, Etica, Nicomachea, 113 a ). Bình đẳng được áp dụng chính đáng phải dựa trên nền tảng luân lý " Công Bằng". Và người La Tinh từ ngàn xưa đã định nghĩa "Công Bằng " là: " Suum cuique tribuere" ( trao trả cho mỗi người điều gì thuộc về anh ta), đã được ghi trong Bộ Luật Roma. Dựa trên nguyên tắc bình đẳng, " bình đẳng toán học " để sang bằng mọi người trong xã hội xuống cấp ngang nhau thành " bần cố nông vô sản" như nhau, là cách hành xử vừa không tưởng, vừa phạm nguyên tắc " Công Bằng". Không tưởng, vì không có lợi nhuận sẽ không có yếu tố thúc đẩy khuyến khích để cố gắng, hy sinh học hỏi, nghiêng cứu, sáng kiến và kinh tế sẽ dẫm chân trong tình trạng bán khai, chậm tiến đi đến phá sản, như đã nói. " Không Công Bằng", những người có tài năng, cố gắng hy sinh, chịu khó nghiêng cứu nhiều năm ở đại học như bác sĩ, kỹ sư, luật sư, kinh tế gia, các nhà đầu tư có kinh nghiệm, bị đối xử ngang hàng với những ai tầm thường, có thể không biết đọc biết viết: ngược lại với nguyên tắc " Suum cuique tribuere". Nói tóm lại, trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, "mọi công dân" đều có quyền - "được nuôi sống và trợ cấp xã hội ", cả cá nhân người đương cuộc và gia đình liên hệ, và được - " tiền liệu các phương thế thoả đáng đối với các nhu cầu của cuộc sống, trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, tật nguyền, già nua, bị thất nghiệp ngoài ý muốn ". Nhưng không phải bất cứ ai cũng được quyền kỳ vọng ở tổ chức Quốc Gia có được lợi tức để có mức sống ngang hàng với những người đã hy sinh học hỏi, nghiêng cứu, sáng kiến hay lao tác vất vả , để tạo được mức sống khang trang hơn cho Cộng Đồng Quốc Gia. Muốn có mức sống ngang hàng với họ, mỗi người phải cố gắng, hy sinh chuyên cần, học hỏi, nghiêng cứu, mở rộng kiến thức của mình để góp phần vào việc xây dựng phú cường và thịnh vượng cho cộng đồng. Và do đó Cộng Đồng Quốc Gia có nhiệm vụ đãi ngộ tương xứng với khả năng góp sức của mình: - " Mỗi người làm việc có quyền được thù lao tương xứng với lượng số và phẩm chất của việc làm của mình…" ( Điều 36, đoạn 1 Hiến Pháp 1947). Trong nỗ lực đó của mỗi cá nhân, Quốc Gia có nhiệm vụ trợ lực bằng cách - cung cấp phương tiện thích hợp cho mỗi người khỏi phải túng bấn về nhu cầu vật chất để họ được "phát triển hoàn hảo con người của mình …" (Điều 3, đoạn 2, id.), - cung cấp nền học vấn cho mọi người , để bất cứ ai cũng có cơ hội khởi hành tạo khả năng và địa vị cho chính mình ( Điều 34, đoạn 1 id.): * " Nền học vấn được giảng dạy miễn phí và bắt buộc trong vòng 12 năm ". - cung cấp phương tiện thực hữu cho những ai chuyên cần học hỏi nhưng thiếu thốn phương tiện tài chánh: * " Những người có khả năng và những ai đáng được tưởng thưởng, dẫu thiếu phương tiện cũng có quyền được giáo dục đến những cấp bực cao nhứt của nền học vấn. Quốc Gia biến quyền được giáo dục nầy thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và những phương thế tiền liệu khác, được cấp phát bằng các cuộc thi tuyển" ( Điều 34, đoạn 3 và 4, id.). - cung cấp điều kiện thích nghi để bất cứ ai cũng có quyền được đào tạo và thang tiến chức nghiệp trên bực thang xã hội: * " Nền Cộng Hoà chăm lo việc huấn luyện và thăng tiến chức nghiệp của người làm việc" ( Điều 35, đoạn 2, id.). - và ngay cả những người bị tàn tật, khiếm khuyết , Quốc Gia cũng có bổn phận đào tạo, huấn nghệ cho họ: * " Những ai không có khả năng và những người khiếm khuyết, cũng có quyền được giáo dục và hướng dẫn chức nghiệp" ( Điều 38, đoạn 3, id.). Nói tóm lại, trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, không một người dân nào bị bỏ rơi, sống lê lết đầu đường xó chợ, rách rưới lang thang. - Quốc Gia có bổn phận " nuôi sống và trợ cấp xã hội " ( Điều 38, đoạn 1, id.) cho cá nhân và gia đình có được một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con người, - cũng như tạo điều kiện thuận lợi để mỗi người dân - " phát triển hoàn hảo con người của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.). Nhưng Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ không thể nào nhân danh nguyên tắc bình đẳng để đãi ngộ bất công đối với những ai hy sinh, chuyên cần, nỗ lực học hỏi, nghiêng cứu, sáng kiến và làm việc vất vã ngang hàng đối với những ai chưa hề biết hy sinh chịu khó hay không muốn hy sinh chịu khó để cầu tiến, tạo lợi ích và giá trị cho chính mình và cho Cộng Đồng Quốc Gia. D - Những điều đã được thực hiện. Qua những tư tưởng căn bản vừa kể của một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, chúng ta thử duyệt xét xem trên thực tế Ý Quốc đã thực hiện đến đâu nền anh sinh xã hội của họ: a) Đối với lãnh vực bảo vệ sức khoẻ , nền y tế ở Ý đã có một cuộc cách mạng hoàn toàn so với hệ thống bảo hiểm riêng tư về tai nạn, rủi ro, tàn tật dành cho lãnh vực nghề nghiệp công nhân và chủ hảng của thời Hiến Pháp 1947 chưa ban hành, mà chúng ta đã có dịp đề cập ở phần đầu. Nền y tế ở Ý Quốc hiện nay được tổ chức hoàn toàn dựa trên tinh thần của điều 32: - " Nền Cộng Hoà Dân Chủ bảo vệ sức khỏe như là quyền căn bản của cá nhân và lợi ích của cộng đồng, bảo đảm chữa trị miển phí cho những ai không có phương tiện" (Điều 32, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quốc Gia đứng ra bảo vệ sức khoẻ cho tất cả mọi công dân không phân biệt. Nền y tế không còn được coi là tổ chức chỉ để chữa bệnh cho bệnh nhân, mà là cơ quan để bảo vệ sức khoẻ cho người dân gồm trị liệu, phục hồi khả năng và đề phòng bệnh tật. Nền y tế cung cấp phục vụ bằng hệ thống y tế Quốc Gia, tổ chức theo Vùng và phân chia đến từng địa phương Tỉnh, làng xã thôn ấp, được Quốc Gia hoàn toàn tài trợ. Điều đó cho thấy tổ chức y tế đã vượt khỏi quan niệm hệ thống bảo hiểm bệnh tật và rủi ro của lãnh vực nghề nghiệp riêng tư, và đặt nền tảng trên tính cách liên đới hỗ tương của cả Cộng Đồng Quốc Gia ( Berlinguer, Dalla tutela di malattia alla tutela della salute, Riv. it. sic. soc., 1970, 3ss). b) Đối với lãnh vực tai nạn và bệnh tật do nghề nghiệp, tổ chức an sinh xã hội Ý chưa có được nền luật pháp thoả đáng. Mặc dầu lãnh vực bảo đảm tai nạn và bệnh tật do nghề nghiệp đã được nới rộng cho công nhân các ngành nghề và cả giới làm việc tự lập cũng như nghề tự do, hệ thống bảo đảm vẫn còn theo tinh thần của dành riêng cho những nghề nghiệp trong những lãnh vực và môi trường nguy hiểm. Và từ đó, những ai không can dự trực tiếp vào nghề nghiệp trong những lãnh vực vừa kể có thể bị tai nạn hoặc bệnh tật sẽ không được bảo đảm, vì chưa được luật pháp đề cập tới. Dĩ nhiên sức khoẻ được chữa trị cho đến hồi phục, nhưng các phương tiện để đi đứng, trông thấy, chỉnh hình, luyện tâp thân thể... sẽ phải do người đương cuộc đài thọ. Nói như vậy không có nghĩa là mọi gánh nặng đều đổ lên vai họ, mà là được Quốc Gia phụ giúp tùy theo mức lợi tức hàng năm họ tìm ra được. Người có lợi tức nhiều, sẽ được Quốc Gia trợ giúp chi phí cho bệnh tật, tai nạn, già nua ít hơn, và ngược lại, theo tiến trình lủy tiến ngược chiều của của mức lợi tức của mỗi người, tính theo phương thức lủy tiến.. c) Tàn tật, già nua, sống sót, bệnh lao phổi và thất nghiệp cũng đã được hệ thống bảo đảm an sinh xã hội như trường hợp bệnh hoạn. Giới người già và người bị bệnh lao được bảo đảm cho tất cả mọi người. Người dân trên 65 tuổi và những ai nghèo khổ đều được Quốc Gia hoàn toàn tài trợ. Người bị bệnh lao được phụ cấp mỗi ngày trong thời gian điều dưỡng và liên tiếp một năm kế tiếp cũng được đài thọ và được các tổ hợp lao phổi chữa trị ( Rossi Francesco Paolo, La tutela contro la tubercolosi: le prestazioni economiche, in Trattato di Previdenza Sociale, Cedam, Padova, 1977, III, 537). d) Lương hưu bổng tối thiểu, phụ cấp xã hội, do Quỷ Xã Hội hoàn toàn đài thọ, được Cơ Quan Quốc Gia Tiền Liệu Xã Hội ( INPS, Istituto Nazionale di Previdenza Sociale) đảm trách, dựa theo luật L. 21.7.1965 n. 903. Cơ Quan Quốc Gia Tiền Liệu Xã Hội thu tóm ngân qủy bằng vừa bằng hình thức góp tiền của những ai làm việc cung cấp, vừa dựa vào tinh thần liên đới hỗ tương của toàn thể Cộng Đồng Quốc Gia, theo phương thức lủy tiến như vừa đề cập. Dưới hai hình thức vừa kể, những đóng góp của những ai đang làm việc hôm nay được dùng tài trợ cho những ai đã làm việc trong quá khứ. e) Cũng dưới hình thức trên, nền y tế Quốc Gia được tài trợ để chữa trị người già cả. Người già cả là những người đã làm việc trong quá khứ, được chữa trị bằng một phần lợi tức của các xí nghiệp sản xuất hôm nay. f) Những ai làm việc tự lập hay làm nghề tự do được bảo đảm an sinh xã hội - một phần do họ tích lũy đóng góp, được tính theo thể thức lủy tiến, tùy theo lợi tức họ thâu nhận được. - một phần do Cộng Đồng Quốc Gia đài thọ, theo định chế lủy tiến ngược chiều đối với mức lợi tức thu nhận được như đã nói. g) Đối với các công nhân làm việc thuộc hệ trong hảng xưởng, lương bổng về hưu của họ được trả bằng mức lương sau cùng trước khi về hưu đã bị trích giữ ( art. 5, comma 1 e 6 D.P.R. 27.4.1968, n. 488: Persani Mattia, Osservazione sul cumulo di pensioni e di retribuzione, Enpas 1972, 7ss). h) Và sau cùng là mọi tài trợ lương bổng về hưu đều được định lượng lại từng chu kỳ, tùy theo thời giá sinh hoạt đắc đỏ do Cơ Quan Thống Kê ( Istat) tính toán. Thường thì số lượng gia tăng lương về hưu được tính theo phần trăm dựa trên số lương trung bình của công nhân kỹ nghệ ( art. 8 e ss, L. 3.6.1975, n. 160). Những dữ kiện biến đổi hệ thống an sinh xã hội Ý Quốc vừa duyệt xét cho chúng ta thấy nỗ lực thực hiện định hướng của Hiến Pháp Dân Nhân Bản và Dân Chủ được soạn thảo năm 1947. Trên 50 năm nay, hệ thống anh sinh xã hội được biến đổi, canh tân để thực hiện càng hoàn hảo càng tốt sát với tinh thần của điều 38 đang bàn. Mặc cho mọi nỗ lực, thiện ý cũng như tinh thần liên đới hổ tương và nhân bản cao độ, nền anh sinh xã hội Ý Quốc vẫn chưa hoàn hảo. Bởi lẽ mọi cải cách đều bị mức thăng bằng luôn luôn thay đổi của các lực lượng thành phần của xã hội ảnh hưởng và các hoàn cảnh kinh tế đặt điều kiện. Dù sao, những gì Quốc Gia Ý đã thực hiện được cho người dân của họ và nhứt là tinh thần Nhân Bản của Hiến Pháp 1947 thể hiện qua các định hướng liên đới hỗ tương là bài học qúy báu cho những ai có tâm huyết muốn đem lại Nhân Bản và Dân Chủ cho đồng bào Việt Nam.

 

PHẬN VỤ LẬP PHÁP. 1 - Nội Quy: vị trí và nội dung trong hệ thống luật Quốc Gia. Trong các Quốc Gia Dân Chủ Tây Âu thuần nhứt và bất khả phân( unique et indivisible), quyền tự lập của Vùng được thể hiện một cách nổi bậc trong quyền hạn được Hiến Pháp giao cho Vùng - có quyền thiết định luật pháp - và luật pháp của Vùng ban hành được coi là hạng luật pháp thượng đẳng ( primarie) và có giá trị cao hơn và rộng rãi hơn các nghị quyết, chỉ thị, nội quy của các Cộng Đồng Địa Phương ở cấp bậc thấp hơn, Tỉnh, Quận, làng Xã Thôn Ấp. Các đạo luật của Vùng ban hành, có giá trị cho Vùng mình, chỉ phải tùy thuộc vào việc kiểm soát - của Quốc Hội - và Viện Bảo Hiến phán quyết, để kiểm chứng là những đạo luật không đi ngược lại với luật pháp tổng quát của Quốc Gia hay vi phạm đến quyền lợi của các Vùng khác liên hệ ( Corte Cost., sent. n. 48 del 1983). Điều 123 Hiến Pháp Ý Quốc xác định là Nội Quy của Vùng, phù hợp với Hiến Pháp và luật pháp Quốc Gia, thiết định các mối tương quan đến - việc tổ chức nội bộ của Vùng - và điều hành quyền đề xướng dự án luật, - cũng như trưng cầu dân ý bải bỏ các đạo luật, các chỉ thị hành chánh của Vùng và công bô các nghị định của của mình: - " Mỗi Vùng có nội quy, hợp với Hiến Pháp và luật pháp của Nền Cộng Hoà, thiết định những thể thức liên quan đến tổ chức nội bộ của Vùng. Nội quy thiết định việc hành xử quyền sáng kiến đề thảo dự án luật và trưng cầu dân ý bải bỏ đối với các điều khoản luật và chỉ thị hành chánh của Vùng, cũng như ban hành luật lệ và các chỉ thị của Vùng " ( Điều 123, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Tính cách hiệu quả của Nội Quy Vùng, so với những điều khoản luật khác, đó là vì Nội Quy là văn bản nền tảng của Vùng, được chuẩn y chấp nhận theo phương thức gia trọng ( với đa số tuyệt đối của các đại biểu Vùng). Bởi đó việc tu chính hay sửa đổi Nội Quy cũng phải qua một tiến trình tương tợ. Những gì được tuyên bố trong điều 123 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc vừa trích dẫn cho thấy đó là nội dung thiết yếu của Nội Quy, với lằn mức mà Hiến Pháp dành cho sự kiểm soát của thẩm quyền Quốc Gia, tức là đặt Nội Quy của Vùng không được vượt ra ngoài hay ngược lại các điều khoản Hiến Pháp, - điều 117, về luật khuôn khổ, xác định lằn mức của Quốc Gia: * " Vùng ban hành luật pháp đối với những lãnh vực sau đây trong lằn mức các nguyên tắc căn bản được pháp luật Quốc Gia thiết định...". - điều 119 về động tác phối hợp tài chánh với cơ chế Quốc Gia trung ương, với Tỉnh, Quận và Làng Xã Thôn Ấp: * " Các Vùng có quyền tự lập về tài chánh, trong các hình thức và giới mức được luật pháp Nền Cộng Hoà thiết định, phối hợp với nền tài chánh Quốc Gia, Tỉnh, ( Quận ) và Làng Xã Thôn Ấp ". - điều 122 về việc thiết định hệ thống bầu cử, số lượng, điều kiện thích hợp và không thích hợp để tuyển chọn các đại biểu Vùng: * " Hệ thống bầu cử, số lượng và các trường hợp thích hợp hay không thích hợp để tuyển chọn các đại biểu Vùng được luật pháp của Nền Cộng Hoà xác định ". Những lằn mức mà Hiến Pháp dành cho luật pháp Quốc Gia vừa kể liên quan đến Nội Quy của các Vùng là những lằn mức để bảo đảm cho tính cách đồng nhứt trong việc tổ chức nội bộ của các Vùng. Tuy nhiên, ngoài ra những lằn mức vừa kể, trong việc tổ chức nội bộ của mình, các Vùng có thể tổ chức khác nhau để đáp ứng lại các điều kiện chính trị - xã hội cá biệt của từng Vùng, mặc dầu vẫn hoàn toàn tôn trọng các nguyên tắc Hiến Pháp và luật pháp Quốc Gia, là những tiêu chuẩn duy nhứt để bảo đảm tính cách đồng nhứt của định chế được Hiến Pháp thiết định. Các tiêu chuẩn đó phải được Quốc Hội duyệt xét và chuẩn y trong Nội Quy của Vùng, trước khi được đem ra áp dụng. Nhưng dù sau đi nữa, giữa luật pháp Quốc Gia và Nội Quy của Vùng cũng có những điều khác nhau để có được một thể chế phân quyền, - không những chỉ theo hàng ngang ( lập pháp, hành pháp, tư pháp ), - mà còn theo hàng dọc ( trung ương và các Cộng Đồng Địa Phương), thể hiện thể chế Dân Chủ và tránh trung ương tập quyền, độc tài của thời quân chủ và các bạo chúa trong qúa khứ ( T. Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, p. 863). 2 - Luật pháp Vùng. a) Tiến trình lập pháp. Tiến trình lập pháp các đạo luật Vùng được chia làm ba giai đoạn: khởi xướng, thiết lập và bổ túc có hiệu lực. Khác với luật pháp Quốc Gia, các đạo luật Vùng là những quy định đơn sơ hơn, bởi lẽ là thể thức phát biểu ý muốn của một cơ quan lập pháp duy nhứt, Hội Đồng Vùng. Dù sao đi nữa, đạo luật Vùng cũng là một đạo luạt, một cách tuyên bố chính thức, một quyết định, chỉ thị của một cơ quan trong phận vụ hành xử quyền lập pháp của mình, được Hiến Pháp ấn định và theo Nội Quy của Vùng. Quyền đề xướng dự thảo đạo luật Vùng thuộc về - Ủy Ban Cố Vấn ( Giunta, Conseil Genéral ) của Hội Đồng Vùng, - mỗi thành viên của Hội Đồng - các cử tri của Vùng ( số cử tri túc số đòi buôc, tùy theo Nội Quy của Vùng quyết định), - và cả các Hội Đồng Tỉnh, Quận, xã ấp. Một vài Vùng còn dành quyền đề xướng vừa kể cho cả các Công Đoàn Lao Động, Hiệp Hội Kỷ Nghệ, Thương Mãi, tùy theo tầm quan trọng địa phương đối với các lãnh vực được đề cập trong địa phương Vùng, tùy theo Nội Quy Vùng đã tiên liệu. Mỗi dự án luật, sau khi được Ủy Ban Đặc Trách lãnh vực liên hệ duyệt xét, sẽ được đưa ra Hội Đồng Vùng ( được tuyển cử do cuộc phổ thông đầu phiếu lựa chọn, như đã nói) bàn thảo và bỏ phiếu chung quyết, từng điều khoản một. Tiến trình vừa kể là tiến trình thông thường để thành lập luật ( qua sự duyệt xét của Ủy Ban Đặc Trách chuyên môn). Nhưng cũng có những trường hợp khẩn trương, Hội Đồng Vùng đứng ra tuyên bố tình trạng cần thiết và cấp bách, và chính Hội Đồng quyết định thể thức ngắn gọn để chuẩn y dự án. Cũng có Những trường hợp cấp bách, Hội Đồng Vùng áp dụng biện pháp tạm thời ( dự án chỉ cần được Ủy Ban Đặc Trách chuyên môn thông qua). Trường hợp đặc trách tạm thời vừa kể không được chấp thuận, nếu sự hiện diện của số thành viên các Ủy Ban Đặc Trách chuyên môn quá ít, hay trong trường hợp được Hiến Pháp tiên liệu từ chối: - " Cũng có thể được thiết định trong trường hợp nào và theo các thể thức nào vấn đề duyệt xét và chuẩn y các dự án luật được ủy thác cho các Ủy Ban, cả Ủy Ban Thường Trực, được thành lập thế nào để thể hiện được tỷ lệ các nhóm dân biểu của Viện Quôc Hội liên hệ..." ( Điều 72, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). " ...cho các Ủy Ban, cả Ủy Ban thường Trực, được thành lập thế nào để thể hiện được tỷ lệ các nhóm dân biểu của Viện Quốc Hội liên hệ" cho thấy các dự án luật, ở Quốc Hội hay ở Hội Đồng Vùng, phải được quyết định " chuẩn y hay bác bỏ " đều mang tính cách Dân Chủ của tổ chức Quốc Gia. Dự án luật không thể nào được quyết định chấp nhận hay không, nếu không có sự hiện diện tối thiểu của các đại diện, để mọi thành phần dân chúng đều có đại diện, nói lên tiếng nói của mình, những gì mà mình nghĩ có lợi hay có hại cho cuộc sống Quốc Gia cũng như cuộc sống địa phương. Và một khi được Hội Đồng Vùng quyết định, trước khi công bố và có hiệu lực luật định, đạo luật phải được thông báo cho Ủy Ban Chính Quyền Trung Ương và phải được Trung Ương trả lời trong vòng ba mươi ngày, trừ trường hợp bị Trung Ương phủ quyết. Nếu Trung Ương không chấp nhận và gởi trả lại cho Hội Đồng Vùng, Hội Đồng phải " chuẩn y lại " với đa số tuyệt đối của thành viên. Và nếu Chính Quyền Trung Ương vẫn không chấp nhận sau lần bỏ phiếu nầy, việc xung khắc giữa trung ương và địa phương sẽ được Viện Bảo Hiến giải quyết, ( theo tinh thần của điều 136, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều vừa kể cho thấy " cấp dưới " không thể tiếp tục ương ngạnh, và " cấp trên " không thể " cả vú lấp miệng em ". Sự việc sẽ được Viện Bảo Hiến, cơ quan " đứng giữa và đứng trên " ( super partes) đứng ra phân xử theo những gì chính đáng phải có. Dân chủ và vậy ! Đạo luật của Vùng được vị Chủ Tịch Cố Vấn Vùng công bố trong vòng mười ngày sau khi được chấp thuận ( bởi Ủy Ban Chính Quyền Trung Ương hay sau thời gian được Chính Quyền Trung Ương gởi lại cho Hội Đồng Vùng) và được ghi trên Thông Báo Chính Thức của Vùng ( Bollettino Ufficiale della Regione) hoặc để mọi người đều biết ( trên Hồ Sơ Chính Thức Cộng Hoà, Gazzetto Ufficiale della Repubblca ). Kế đó đạo luật sẽ bắt đầu có hiệu lực luật định sau khi mười lăm ngày được công bố ( T. Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, p. 866). b) Các giới hạn của nền lập pháp Vùng. Hành xử quyền lập pháp Vùng gặp một số giới hạn khác nhau, một vài giới hạn đó có tính cách thể thức và hoàn cảnh đặc biệt, dành cho một số Vùng có hoàn cảnh nhu cầu địa lý, chủng tộc, văn hoá, xã hội cá biệt. Ngoài ra chúng ta cũng có thể phân biệt quyền lập pháp của các Vùng nói chung có thể gặp phải nhũng giới mức tổng quát hay đặc biệt. 1) Các giới mức tổng quát,thuyết lý, trước tiên do Hiến Pháp tiên liệu. Các giới mức đó có giá trị chung cho mọi luật pháp ( trung ương cũng như địa phương) đều phải tùy thuộc vào các nguyên tắc hiến định, nhằm bảo vệ đặc tính Nhân Bản và Dân chủ của Hiến Pháp ( cfr. Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). 2) Kế đến các giới mức chung khác là những giới mức thuộc về chính các đạo luật liên quan đến địa vị của các đạo luật Vùng, được một vài nguyên tắc Hiến Pháp tuyệt đối thiết định, ví dụ: - nguyên tắc tản quyền dành cho cách tổ chức Vùng, như phận vụ tôn trọng quyền tự lập của các tổ chức ở cấp bậc thấp hơn Vùng ( Tỉnh, Quân, Xã Ấp), - nguyên tắc dành cho những địa phương có những hoàn cảnh cá biệt như đã nói, Vùng phải tiên liệu những đạo luật để hành động thích hợp, vì lợi ích của dân chúng địa phương sở tại. Bởi đó Vùng không thể đưa ra một đạo luật tổng quát áp dụng cho địa phương miền núi, cũng như miền đồng bằng, dân sống về nông nghiệp cũng như dân chài lưới, hay dân chúng sống về kỷ nghệ hay tiểu công nghệ, mặc dầu tất cả đều là dân chúng thuộc Vùng mình ( Mortati Costantino, I limiti della legge regionale, Convegno ( III ) di Studi giuridici della Regione, Giuffré, Milano, 1940). 3 ) Đối với những lằn mức vật chất, các Vùng - chỉ có quyền hạn lập pháp liên quan đến những lãnh vực đã được Hiến Pháp ( Điều 117, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) liệt kê, - những lãnh vực khác vẫn còn thuộc quyền lãnh đạo và quản trị của Chính Quyền Trung Ương. Tuy nói thỉ nói vậy, còn nhiều lãnh vực mà sự phận định, theo kinh nghiệm cho thấy, không được xác nhận rõ ràng đâu là lằn mức giữa cơ chế trung ương và địa phương. Điều đó nói lên tính cách co giản của Hiến Pháp. Hiến Pháp không có ý xác định một cách cứng rắn, tách biệt giữa trung ương và địa phương bất di dịch. Như vậy cho thấy lằn mức được xác định đang bàn, tự nó không đủ để xác định trương độ của Vùng, bởi đó ngay cả trên phương diện vật chất được giao cho Vùng, tổ chức Quốc Gia Trung Ưong cũng có quyền can thiệp bằng các đạo luật của mình. Bởi đó cần có phương thức tản quyền lập pháp hàng ngang ( tùy theo lãnh vực) , ngoài ra cách phân chia hàng dọc ( giữa trung ương và địa phương). 4) Một lằn mức tổng quát khác, đó là lằn mức được xác định bởi lãnh thổ. Điều đó có ý nghĩa là các đạo luật Vùng có giá trị trên lãnh thổ của mình. Nhưng dĩ nhiên là Vùng không thể ra luật bừa bãi, tuyệt đối và tùy hỷ không đếm xỉa gì đến các nguyên tắc Nhân Bản và Dân Chủ được Hiến Pháp thiết định. Ngoài lằn mức vừa kể, như là cơ quan đại diện tối thượng để bảo vệ quyền và lợi thú của cộng đồng dân chúng địa phương trong lãnh thổ của mình, quyền tự lập của Vùng cũng có thể, trong trường hợp cần thiết, vượt ra bên ngoài khuôn viên lãnh thổ ( Phán quyết Viện Bảo Hiến Ý Quốc, sent. n. 829 del 1988). Cũng vây nguyên tắc " bất hồi tố hiệu lực " ( retroattive ) không thể được coi là nguyên tắc tuyệt đối ( Phán quyết Viện Bảo Hiến Ý Quốc, sent. n. 389 del 1991). 5) Dựa trên nguyên tắc của quyền tự do người dân di chuyển và cư ngụ trên mọi phần đất của lãnh thổ Quốc Gia ( Điều 16, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), Hiến Pháp cũng xác định là các Vùng không thể thiết định ra thuế nhập cảng, xuất cảng hay di chuyển ngang qua phần đất của mình, bởi vì đó là cách hành xử cản trở quyền tự do di chuyển người và đồ vật giữa các Vùng và cũng không được giới hạn quyền người dân hành xử việc làm, nghề nghiệp của mình trên bất cứ phần đất nào của Vùng: - " Vùng không thể thiết định thuế nhập cảng, xuất cảng hay di chuyển ngang qua giữa các Vùng ". " Không thể đưa ra những phương thức nhằm cản trở, dưới bất cứ hình thức nào, quyền di chuyển người và vật giữa các Vùng ". " Vùng không thể giới hạn quyền của công dân hoạt động trên bất cứ phần đất nào của Quốc Gia nghề nghiệp, chức vụ và việc làm của họ " ( Điều 120, đoạn 1, 2 và 3, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Nói tóm lại, các giới hạn đặc biệt, giới hạn thuộc lãnh vực chính danh, nói lên mức độ của quyền lập pháp Vùng có ý nghĩa ám chỉ đến mối liên quan đến a - các nguyên tắc tổng quát của định chế luật pháp Quốc Gia, b - các luật lệ nền tảng trong lãnh vực canh tân kinh tế - xã hội, c - các phận vụ bắt buộc quốc tế đối với Quốc Gia, d - các nguyên tắc căn bản được luật pháp Quốc Gia thiết định, e - các luật Quốc Gia ủy thác cho Vùng quyền đưa ra những chỉ thị để thực hiện, f - các luật quốc Gia ủy thác cho các Vùng có quyền đưa ra những giải pháp thích nghi với nhu cầu cá biệt của địa phương. Dân Chủ là vậy ! Dân Chủ phải được đặt dưới phương thức " Quốc Gia Pháp Trị " với các quyền liên hệ và khuôn viên Hiến Pháp và Luật Pháp không thể vượt qua, nếu chúng ta không muốn Quốc Gia trở thành " cá nhân trị " hay " đảng trị ", " phe nhóm trị " áp đặt tùy hỷ. Câu nói ngàn đời của người La Tinh nhắc nhở cho chúng ta độc tài và ương ngạnh, không nghĩ đến quyền lợi chung của Đất Nước mà là " phe phái đảng trị " , bao giờ cũng có khuynh hướng trở lại, dưới nhiều chiếc áo khoát khác nhau, kể cả chiết áo khoát Dân Chủ: - " Quod principi placet, lex est ! " ( Điều gì vua khoái là luật ! ). Điều đó đã in đậm vào tâm thức của các nhà soạn thảo Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, khi các vị gọi và tìm cách loại trừ khuynh hướng đó, bằng từ ngữ lạ tai: - " Dân Chủ Độc Tài ! " ( diktatur Demokratie ! ), hay Dân Chủ " cả vú lấp miệng em ", " lấy thịt đè người ", như Việt Nam chúng ta thường nói, ỷ đa số áp đặt thiểu số. Bởi đó cần có phương thức " Dân Chủ Tự Bảo Vệ " ( streibare Demokratie ) ( cfr. THIỂU SỐ ĐỐI LẬP HIẾN PHÁP CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC) Khuynh hướng ỷ đông, ỷ mạnh, áp đặt, nén ép kẻ yếu thế đó từ đâu đến cũng vậy, từ Trung Ướng đàn áp Địa Phương, hay ngay từ thành phần đa số Địa Phương cũng không thiếu. " Dân Chủ Độc Tài ! " là bài học cho Hiến Pháp tương lai của Việt Nam phải cẩn thận.

 

Trong bài trước chúng ta có đề cập đến một Ủy Ban Chuyên Biệt ( C.I.P.E., Comitato interminiseriale di programmazione economica, Ủy Ban Liên Bộ đặc trách Chương Trình Kinh Tế) để thảo luận, thoả thuận và thiết định chương trình kinh tế Quốc Gia; thoả thuận giữa Chính Quyền Trung Ương và các Cộng Đồng Địa Phương Vùng, Tỉnh, Quận, Làng Xã Thôn Ấp. 1 - Hội Đồng Thường Trực Phối Hợp. Trung tâm tự nhiên để thoả thuận và phối hợp các hoạt động giữa Cơ Chế Trung Ương và các Cộng Đồng Địa Phương ở mức độ cao là Hội Đồng Thường Trực Phối Hợp đặc trách vấn đề đang bàn. Hội Đồng Thường Trực Phối Hợp vừa kể được đặt tại Văn Phòng Phủ Thủ Tướng ( L. n. 400, art. 2, del 1988). Hội Đồng có nhiệm vụ thâu nhận và phổ biến tin tức, tham khảo ý kiến và thoả thuận liên quan đến các đường lối chính trị chung có liên hệ đến các lãnh vực thuộc quyền lợi các Cộng Đồng Địa Phương, ngoại trừ các chính hướng liên quan đến ngoại giao, quốc phòng, an ninh Quốc Gia và những gì thuộc thẩm quyền của tư pháp. Nói một cách chi tiếc, Hội Đồng Thường Trực Phối Hợp được hỏi ý kiến, là Hội Đồng Tư Vấn không những cho Cơ Chế Trung Ương, mà cả đối với các Cộng Đồng Địa Phương, về a) đường lối tổng quát về lập pháp có liên hệ trực tiếp đối với các Cộng Đồng Địa Phương và liên hệ đến việc thiết định các mục tiêu cho chương trình kinh tế quốc gia, đường lối tài chánh và công qủy; b) tiêu chuẩn tổng quát liên quan đến các hoạt động Quốc Gia về đường lối và cách phối hợp các mối tương quan giữa Cơ Chế Trung Ương và các Cộng Đồng Địa Phương, để phối hợp với các hoạt động địa phương, cũng như chỉ thị tổng quát liên quan đến khai triển và thực hiện các động tác Cộng Đồng Âu Châu có liên quan đến thẩm quyền của các Cộng Đồng Địa Phương; c) các vấn đề khác mà Thủ Tướng Chính Phủ cũng như Hội Đồng Nội Các cảm thấy cần thiết biết được ý kiến của Hội Đồng Thường Trực Phối Hợp. Ngoài ra, nghị định của Tổng Thống Cộng Hoà Ý Quốc ( D.P.R., n. 418, ngày 16.11.1989) cũng ủy thác cho Hội Đồng Thường Trực Phối Hợp các phận vụ có tính cách tổng quát như là một Ủy Ban Hổn Hợp giữa trung ương và địa phương. Ủy Ban Thường Trực Phối Hợp được thành lập gồm có các Chủ Tịch của các Vùng Ý Quốc ( 26 Vùng ) và Thủ Tướng Chính Phủ). Thủ Tuớng Chính Phủ là vị Chủ Tịch của Hội Đồng, trong trường hợp cần thiết, có thể mời các Bộ Trưởng trong lãnh vực liên hệ tham dự, được ghi trong chương trình bàn thảo, cũng như các giới chức quản trị liên hệ đến lãnh vực của các cơ quan Quốc Gia ( Capotosti, La Conferenza permanente per i rapporti tra Stato e Regioni: una tendenza verso il regionalismo cooperativo ?, in Le Regioni, 1981, p. 896ss). 2 - Phận vụ hướng dẫn và phối hợp của Cơ Chế Trung Ương. - " Thủ Tướng hướng dẫn đường lối chính trị tổng quát của Chính Quyền và có trách nhiệm đối với đường lối đó. Giữ gìn tính cách hiệp nhứt đường lối chính trị và quản trị Quốc Gia, bằng cách phát huy và phối hợp hoạt động của các Bộ Trưởng" ( Điều 95, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều 95, đoạn 1 của Hiến Pháp vừa được trích dẫn cho thấy phận vụ của Thủ Tướng, " hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia ..., phát huy và phối hợp hoạt động các Bộ Trưởng", là nhiệm vụ của Chính Quyền Trung Ương lãnh đạo và phối hợp đường lối chính trị và quản trị Quốc Gia. Phận vụ đó của Thủ Tướng nói riêng và của Chính Quyền Trung Ương nói chung ( gồm Thủ Tướng và các Bộ Trưởng) cũng hàm chứa liên hệ đến việc hướng dẫn và phối hợp hoạt động của các Cộng Đồng Địa Phương, bởi vì đường lối chính trị và quản trị Quốc Gia không thể chỉ gồm ở những hoạt động ở trung ương hay tại thủ đô, mà thành công hay thất bại là kết quả khởi đầu ngay cả từ địa phương đến trung ương. Bởi đó đạo luật n. 281, điều 17, ngày 16 tháng 5 năm 1970 ( của Quốc Hội ) cũng tiên liệu dành cho Cơ Chế Trung Ương phận vụ hướng dẫn và phối hợp đường lối chính trị về các hoạt động của các Cộng Đồng Địa Phương có liên quan đến nhu cầu có tính cách duy nhứt của Quốc Gia, cả đối với những mục đích mà chương trình kinh tế Quốc Gia nhằm đạt được và các phận vụ liên quan đến các bổn phận giao tế quốc tế ( T. Matines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, 855). Kế đến đạo luật L.n. 382, ngày 22 tháng 7 năm 1975 đi vào chi tiếc hơn bằng cách xác định các hoạt động liên hệ là các hoạt động quản trị ( amministrative). Chính hướng và phối hợp các hoạt động đó phải do một đạo luật hay do một nghị định của Chính Quyền ( được Quốc Hội chuẩn y hoán chuyển thành đạo luật có hiệu luật thực định ) xác nhận. Ngoài ra, sau khi đã được một đạo luật xác nhận, Chính Quyền cũng có thể ủy nhiệm việc lãnh đạo và phối hợp cho Ủy Ban Kinh Tế ( C.I.P.E ), để Ủy Ban trực tiếp làm việc với các Cộng Đồng Địa Phương, - xác định các tiêu chuẩn trong các lãnh vực thuộc thẩm quyền chuyên môn của Ủy Ban - cũng như hoàn cảnh địa lý, môi trường - và khả năng thích hợp của mỗi Cộng Đồng Địa Phương liên hệ. Cũng vậy ở một vài trường hợp khác, chính Thủ Tướng cùng với một hay nhiều Bộ Trưởng trong lãnh vực liên hệ sẽ cùng bàn thảo với các Cộng Đồng Địa Phương để xác định - tiêu chuẩn, - thời gian - và mục đích cần đạt được, nếu đó là những lãnh vực cá biệt nào đó ( Cammelli, Indirizzo e coordinamento nel uovo assetto dei rapporti fra Stato e Regioni, in Pol. dir., 1976, p. 573s). Về phần các nghị định về định hướng và phối hợp do Chính Quyền đưa ra, điều 2, đoạn 6 đạo luật n. 400 năm 1988 Ý Quốc, thiết định rằng các nghị định phải có sự duyệt xét và đồng thuận trước đó của Ủy Ban Phối Hợp Trung Ương - Vùng ( điều 12, id.) về những tiêu chuẩn tổng quát cho việc thực hiện. Và rồi sau khi các nghị định của Chính Quyền được Quốc Hội chuẩn y hoán chuyển thành đạo luật, các đạo luật đó phải được Tổng Thống Cộng Hoà duyệt xét và ban hành ( L. n. 400, art. 1, lett. h. del 12.01. 1991), dựa trên tinh thần của điều 87, đoạn 5 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Tiến trình thực hành vừa kể không được Hiến Pháp tiên liệu đề cập đến một cách rõ ràng, nhưng theo tinh thần của điều 87, đoạn 5 Hiến Pháp vừa đề cập: - " Tổng Thống Cộng Hoà có thể gởi các sứ điệp đến Quốc Hội ". " Có quyền cho phép Chính Quyền tường trình các dự án luật đến Quốc Hội ". " Công bố các đạo luật và phổ biến các nghị định có giá trị luật thực đinh và các nội quy " ( Điều 87, đoạn 2, 4 và 5 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Bởi đó, tuy không được Hiến Pháp tiên liệu một cách rõ ràng, nhưng tiến trình thực hiện và áp dụng các nghị định của Chính Quyền có giá trị luật thực định được đặt nền tảng trên nguyên tắc của Hiến Pháp ( Phán quyết của Viện Bảo Hiến, sent. n. 150 del 1982). Tuy vậy cần phải bảo đảm được cho Chính Quyền Trung Ương và các Cộng Đồng Địa Phương, mỗi chủ thể đều có thể hành xử phận vụ của mình: - trước hết, để cho các nghị định, chỉ thị nói lên đường lối hướng dẫn và phối hợp của Chính Quyền cần phải được Cộng Đồng Địa Phương tôn trọng, thực thi; - nhưng đồng thời, cũng để cho các nghị định, chỉ thị đó không cưỡng chiếm, lấn áp một cách lạm quyền các lãnh vực được Hiến Pháp dành và bảo đảm cho địa phương, như lắm lúc đã xảy ra qua những nghị quyết, chỉ thị xác định đến cả chi tiếc lãnh vực mà các Cộng Đồng Địa Phương có quyền và có khả năng thích hợp để thiết định, vì hiểu rõ hoàn cảnh, nhu cầu và khả năng của địa phương. Bởi đó điều 2, đoạn 3, đạo luật n. 400, năm 1988 xác định rằng các nghị quyết về đinh hướng và phối hợp - phải do chính Hội Đồng Nội Các đưa ra - và phải " dựa trên nền tảng pháp luật thích hợp " để bảo đảm được tính cách pháp luật thực hữu ( legalità sostanziale ) của nghị quyết ( Phán quyết Viện Bảo Hiến, sent. n. 384, del 1992 ). Điều vừa kể cho thấy trong một Quốc Gia Dân Chủ, mối tương quan giữa Cơ Chế Trung Ương - Cộng Đồng Địa Phương là mối tương quan pháp lý, để bảo đảm cho Cộng Đồng Địa Phương có quyền tự lập, mặc dầu cũng có bổn phận phải cộng tác vì lợi ích chung cho cuộc sống Quốc Gia. Và bảo đảm cho Cộng Đồng Địa Phương có những vùng bầu trời tự lập là bảo đảm cho người dân địa phương được tự do, không bị áp bức trong các môi trường đó. Quốc Gia pháp trị là vậy. 3 - Ủy Ban Đại Diện Chính Quyền. Điều 118 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ủy thác cho các Cộng Đồng Địa Phương phận vụ quản trị nhiều lãnh vực của Chính Quyền địa phương, mà các Cộng Đồng cũng có quyền lập pháp, thiết định luật lệ cần thiết để thực hiện: - " Phận vụ của Vùng là quản trị các lãnh vực được liệt kê ở điều khoản trước đây ( điều 117), ngoại trừ các lãnh vực hoàn toàn có liên quan đến lợi thú địa phuơng, có thể được luật pháp Quốc Gia ủy nhiệm cho các Tỉnh, Thôn Ấp hay cho các cơ quan địa phương". " Quốc Gia có thể ủy thác cho Vùng bằng luật pháp quản trị các lãnh vực khác" ( Điều 118, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Qua những gì vừa được đề cập trong điều 118 của Hiến Pháp Ý Quốc, chúng ta biết được việc cộng tác giữa Chính Quyền Trung Ương và Cộng Đồng Địa Phương đòi buộc phải có một giai đoạn tổng hợp và phối hợp trong việc hành xử các phận vụ Quốc Gia, thuộc thẩm quyền của Vùng hay thuộc thẩm quyền của Cơ Chế Trung Ương được ủy thác cho Vùng. Các phận vụ vừa kể ( phận vụ của Quốc Gia ủy thác cho Vùng ), được quản trị tại Cộng Đồng Địa Phương Vùng và theo tinh thần của điều 125 Hiến Pháp đang bàn, do Ủy Ban Đại Diện Chính Quyền Trung Ương, nói lên ý nghĩa sự hiện diện của Ủy Ban trong các mối tương quan trong Quốc Gia Trung Ương - Địa Phương ( Caruso, Il Commissario del Goveno quale portatore dell'interesse statale all'autonomia regionale, in Nuova rass., 1979, p. 1861ss). Tuy vậy, điều 124 Hiến Pháp được Quốc Hội ( L. n. 382, art. 3, del 1975) giải thích theo một ý nghĩa hạn hẹp hơn, cho rằng Ủy Ban Đại Diện Chính Quyền hiện diện ở Cộng Đồng Vùng, ngoài ra trường hợp được luật pháp hay các nghị định có hiệu lực luật định, có nhiệm vụ hành xử quyền định hướngphối hợp của mình trong các lãnh vực có liên quan đến những hoạt động của Vùng, có liên hệ đến tính cách thống nhứt hoạt động của Quốc Gia. Bởi đó Ủy Ban Đại Diện Chính Quyền hiện diện tại Vùng chỉ là Cơ Quan Đại Diện, qua đó Chính Quyền cho biết đường lối hướng dẫn để thi hành các động tác quản trị được Chính Quyền Trung Ương giao cho Vùng ( D.P.R., n. 616 del 1977). Mặc dầu vậy, điều 13 L.n. 400 del 1988 giao cho Ủy Ban Đại Diện Chính Quyền - quyền giám sát trên các hoạt động quản trị được giao phó cho các cơ quan quản trị tản quyền của Chính Quyền để bảo đảm, ở cấp bậc Vùng, việc hợp nhất động tác hướng dẫn và quản trị một cách thoả đáng, - cũng như quyền phối hợp, cùng với sự đồng thuận của Chủ Tịch Hội Đồng Vùng, các động tác quản trị do Chính Quyền thực hiện được hòa hợp với những gì do Vùng quản trị, để đạt đến mục đích có được một nền hành chánh trôi chảy và đạt được những mục đích đã được chương trình thiết định. Sau cùng chúng ta cũng nên lưu ý đến chỉ thị của đạo luật 382 năm 1975 Ý Quốc: - " Các cơ chế Quốc Gia và tổ chức quản trị Vùng có bổn phận phải cung cấp cho nhau và theo lời yêu cầu, qua trung gian của Ủy Ban Đại Diện Chính Quyền ở Vùng, mọi tin tức hữu ích liên quan đến tiến trình thực hiện phận vụ của mình " ( L. n. 382 del 1975, art 3, ult.comm.). Tính cách liên đới hoạt động nhằm công ích trong thể chế dân chủ là vậy. Thể chế dân chủ không phải là thể chế trong đó " cấp dưới vâng dạ tuân lệnh và thừa hành lệnh cấp trên ", mà là cùng chung nhau hoat động, mỗi tổ chức cũng như mỗi cá nhân trong lãnh vực và phận vụ của mình, cùng với sự trợ lực và " liên đới bảo trợ " ( sussidiarité ) của người khác và các tổ chức, cơ chế khác, trung ương cũng như địa phương. 4 - Nguyên tắc thành tín cộng tác. Qua những gì đề cập đến đây, chúng ta thấy giữa các hoạt động của Cơ Chế Trung ƯơngCộng Đồng Địa Phương cần có một nguyên tắc: " thành tín cộng tác ", để vượt thắng khỏi những cách chia tách phận vụ theo hình thức " của mầy, không phải của tao ". Nhờ đó các hoạt động Quốc Gia, trung ương cũng như địa phương, có thể phối hợp và hoạt động một cách hữu hiệu, đem lại lợi ích chung cho Đất Nước và cũng từ đó lợi ích để phục vụ đời sống mỗi người đồng bào của mình một cách tốt đẹp hơn, theo tinh thần của Hiến Pháp: - " Các cơ quan công quyền phải được tổ chức theo chỉ thị của luật pháp, để bảo đảm cho ông việc nền hành chánh được trôi chảy tốt đẹp và không thiên vị bè phái " ( Điều 97, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). ( Costanzo A., Collaborazione fra Stato e Regioni e buon andamento dell'amministrazione , in Giur. cost., 1988, I, p. 815s). Và đó cũng là những gì Viện Bảo Hiến Ý Quốc đã phán quyết nhiều lần rằng trong tiến trình soạn thảo và ban hành các chỉ thị cần có sự tham dự của các Vùng, dưới nhiều hình thức khác nhau, đôi khi cả dưới hình thức đồng đẳng với cơ quan trung ương, tùy theo lãnh vực ( Viện Bảo Hiến, sent. n. 214 del 1988; sent. n. 101 e 138 del 1989; n. 21 del 1991...). Theo phán quyết n. 214 năm 1988, các chỉ thị hay quyết định vừa kể có hình thức khá rộng rãi và co giản, cho phép các cơ quan Chính Quyền và các Cộng Đồng Địa Phương có thể áp dụng các mối tương quan theo nhiều tầm mức khác nhau, từ bổ túc cho đến phối hợp nhau, như trong các trưòng hợp - thoả thuận, - hỏi ý kiến, - đòi buộc cho biết quyết định, theo quy ươc thông thường, loan báo tin tức cho nhau ( T. Martines, op. cit., p. 859). Nguyên tắc thành tín cộng tác đang bàn được áp dụng - ở mức tối thiểu như thăm dò tin tức - và ở mức cao nhứt như lấy ý kiến đồng thuận. Thăm dò tin tức và tham khảo ý kiến, thường thì bắt buộc đối với các Cộng Đồng Vùng, chớ không bắt buộc đối với Chính Quyền Trung Ương là cơ quan phải đưa ra quyết định. Trong khi đó thì đặc tính đồng thuận đối với các nghị quyết hay chỉ thị cả đôi bên đều bị bắt buộc, bởi lẽ đây là những quyết định làm cho các Cộng Đồng Vùng cũng có cơ hội tham dự, được đối xử đồng đẳng với cơ quan trung ương trong các quyết định. Những quyết định không thể nào được đưa ra, nếu không có sự đồng thuận của Vùng hay của các Vùng có lợi thú liên hệ ( Viện Bảo Hiến, sent. n. 180 del 1989). Riêng đối với những ý kiến có giá trị bắt buộc, trong việc soạn thảo và ban hành nghị quyết, nếu những ý kiến đó là những ý kiến tiêu cực, tức là phủ nhận, không đồng thuận cho nghị quyết ban hành ra như vậy ( Viện Bảo Hiến, sent. n. 212 del 1991). Nhưng nếu là ý kiến đồng thuận, ý kiến tích cực, đồng thuận, cơ quan trung ương soạn thảo và ban hành nghị quyết không bắt buộc phải lưu tâm đến, bởi lẽ sau việc thăm dò với Cộng Đồng Vùng đang bàn, cơ quan trung ương còn có những cuộc bàn thảo với các Vùng khác và có nhiều ý kiến khác nhau kế đến. Nguyên tắc thành tín cộng tác, chúng ta cũng gặp được ở các Quốc Gia Liên Bang, như Hoa Kỳ, Cộng Hoà Liên Bang Đức và Áo, là những nơi áp dụng nguyên tắc " cộng tác tùy theo thoả thuận ". Ở những Quốc Gia thuần nhứt ( unique ) khác, với phương thức tản quyền cho các Cộng Đồng Địa Phương, Chính Quyền Trung Ương không thể vượt quá những giới hạn nào đó: - không thể đặt Cơ Chế Trung Ương ngang hàng với các Cộng Đồng Địa Phương, như ở các Quốc Gia Liên Bang, - trừ khi trong các trường hợp, mà sự đồng thuận của Công Đồng Địa Phương là điều kiện cần thiết để bảo vệ các lợi thú sắc tộc, văn hóa, tôn giáo, tập quán cá biệt và nền tự lập của địa phương liên hệ. - quyết định cuối cùng có thể vẫn dành cho Cơ Chế Trung Ương, nhưng các Cộng Đồng Địa Phương vẫn luôn luôn phải được mời gọi tham dự vào quyết định. Nói cách khác ở các Quốc Gia thuần nhứt, sự hợp tác đồng đẳng giữa Cơ Chế Quốc Gia Trung Ương và các Công Đồng Địa Phương không phải là tinh thần của Hiến Pháp, bởi vì theo Hiến Pháp các định chế của Cộng Đồng Địa Phương không phải là định chế khởi thủy mà là định chế hạng hai, thoát xuất từ định chế Quốc Gia thuần nhứt. Như vậy con đường khác có thể khai triển - ngoài ra hình thức cộng tác giữa trung ương và địa phương đã đề cập đến đây - để tăng quyền năng và phận vụ cho các Cộng Đồng Địa Phương, có thể là - nới rộng lãnh vực tham dự, như lãnh vực lập pháp hay quản trị, - biến Thượng Viện thành Viện Quốc Hội của các Cộng Đồng Địa Phương ( như Thượng Viện hiện hành của Cộng Hoà Liên Bang Đức, có các thượng nghị sĩ là đại diện được Chính Quyền các Tiểu Bang bổ nhiệm và thu hồi , điều 51,đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Như vậy các thành viên của các Cộng Đồng Địa Phương có thể tích cực tham dự vào tiến trình lập pháp Quốc Gia.

 

" Các viên chức, thuộc hạ cơ chế Quốc Gia và thuộc hạ các cơ quan công quyền có trách nhiệm trực tiếp theo hình luật, dân luật và luật hành chánh về các hành động vi phạm các quyền của con người. Trong các trường hợp vừa kể, trách nhiệm dân sự liên hệ đến cả cơ chế Quốc Gia và các cơ quan công quyền" ( Điều 28, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Chúng tôi vừ trích dẫn điều 28 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc về mối liên hệ trách nhiệm của các viên chức và thuộc hạ công quyền Quốc Gia đối với người dân trong khi hành xử quyền lực Quốc Gia của mình. Ai trong chúng ta cũng biết Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ( CHLBD) là hai Hiến Pháp thoát xuất từ kinh nghiệm độc tài hãi hùng của chế độ độc tài Mussolini và Hitler. Bởi đó người Ý và người Đức viết Hiến Pháp - không phải viết để mà viết, - càng không chỉ viết để nói lên phương thức tổ chức cơ chế Quốc Gia, - mà viết để xác định lý tưởng ( hay thể chế ) nền tảng để tổ chức Quốc Gia, để đưa ra các phương thức bảo vệ con người và bảo vệ lý tưởng trong đó con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm của tổ chức Quốc Gia, - để xác định các phương thức giới hạn công quyền, quy trách và bắt buộc công quyền phải tạo điều kiện thích hợp để con người được phục vụ. Tất cả các mục đích khác đều quy chiều để bảo chứng cho con người. Đó cũng là những gì được Gs Giovanni Sartori, một nhà chính trị học lỗi lạc của Ý Quốc xác nhận: - " Hiến Pháp được người dân Tây Âu hiểu đồng nghĩa với một văn bản bảo chứng ( garantismo). Ở Tây Âu người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản luật pháp nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc căn bản, thể hiện một thể chế tổ chức Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách xử dụng quyền hành tự tung tự tác tùy hỷ và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn" ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III ed., Il Mulino, Bologna 1995, 18). Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng, bảo vệ con người. Đặc tính bảo chứng đó được các Hiến Pháp Tây Âu nghĩ ra nhiều phương thế để thực hiện, chúng tôi đã có dịp đề cập đến một số bài viết trước đây, - từ việc xác nhận phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người ở vào địa vị tối thượng và trung tâm điểm của thể chế nền tảng xây dựng Quốc Gia, đặt con người và các quyền bất khả xâm phạm của con người vào những điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp ( từ điều 2-54, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc; từ điều 1-19 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, CHLBD). - tuyên bố các điều khoản về nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người như là những đạo luật có đặc tính mệnh lệnh tính ( préceptives), bắt buộc phải thi hành, chớ không phải chỉ là những lời tuyên bố nguyên tắc ( principes) hay những lời tuyên bố có tính cách là chương trình hành động ( programmatiques). - quy trách đích danh cho cơ quan nào là chủ thể phải chịu trách nhiệm, khi một quyền căn bản của con người bị xúc phạm, - dùng các hình thức * dành hạn chế cho luật pháp ( riserva di legge), * hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge) * và dành quyền tuyệt cho tư pháp ( riserva assoluta al potere giudiziario). - quy trách cho cơ chế Quốc Gia * không những dưới hình thức tiêu cực ( liberté de...): Quốc Gia không được..., * mà còn đòi buộc Quốc Gia tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được hưởng các quyền tự do của mình dưới hình thức tích cực ( liberté à...), * và người dân được cơ chế Quốc Gia trợ lực ( liberté par moyen de...) để có thể phát triển hoàn hảo con người của mình và góp phần thiết thực xây dựng đất nước. Những phương thức bảo chứng vừa kể, chúng tôi đã có dịp đề cập đến trong một số bài viết trước đây, cfr : - Nhân Phẩm Con Người trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ; - Tự do Cá Nhân trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ; - Quốc Hội CHLBD, cơ chế chống độc tài và bất ổn; - Quốc Hội và Chính Quyền trong Hiến Pháp Dân Chủ; - Viện Bảo Hiến CHLBD, cơ chế tối cao bảo vệ con người... Hiểu như vậy, chúng ta thấy được đạo luật vừa được trích dẫn được các nhà soạn thảo Hiếp Pháp 1947 Ý Quốc xem là điều khoản luật kết thúc, sau những phương thức đề phòng và cảnh cáo, tuyên án phạt các lối hành xử làm tổn thương đến các quyền bất khả xâm phạm của con người: - " Các viên chức, thuộc hạ Quốc Gia và thuộc hạ các cơ quan công quyền có trách nhiệm trực tiếp theo hình luật, dân luật và luật hành chánh...trách diệm dân sự liên hệ đến Quốc Gia và các cơ quan công quyền". A - Một ích dòng lịch sử. Điều 28 vừa được trích dẫn lại của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là kết quả của khá nhiều đồ án được trình bày trước đó trong thời gian soạn thảo: - điều 22 của Đồ Án đề nghị: " các viên chức Quốc Gia có trách nhiệm theo tinh thần của hình luật, dân luật, về những hành động gian trá hay phạm pháp xúc phạm đến các quyền tự do được Hiến Pháp hiện hành bảo vệ. Tổ chức Quốc Gia đáp ứng liên đới với viên chức về các thiệt hại gây nên". - dân biểu Basso, thuộc chi bộ của Ủy Ban I cho biết: " Các vị soạn thảo Hiến Pháp có ý thiết định một đạo luật kết thúc về việc bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm, được Hiến Pháp xác định, chống lại bất cứ một sự vi phạm nào có thể xảy ra, không những chỉ đối với các hành vi gian trá, mà cả những hành vi lỗi phạm do nhân viên công quyền gây ra, bảo vệ đối với mọi quyền con người được Hiến Pháp xác nhận" ( Atti dell'Assemblea costituente, Prima Sottocommissione, p. 158s). Đây không phải là một đạo luật tổng quát về trách nhiệm các viên chức công quyền, mà là một đạo luật đặc biệt nêu lên trách nhiệm hình sự trước tiên, rồi kế đến là trách nhiệm dân sự, để bảo vệ các quyền được Hiến Pháp xác nhận ( Alessi Renato, La esponsabilità della pubblica amministrazione nell'evoluzion legislativa più recente, ( Rass. dir. pubbl., 1949, 224). Qua những ý kiến được đề thảo vừa kể, Ủy Ban soạn thảo ( Ủy Ban Bảy Mươi Lăm,i Settantacinque), loại bỏ hai tỉnh từ " gian trá hay phạm pháp" của điều 22 được đề nghị với Ủy Ban, vì cho rằng: " ý nghĩa của hai tỉnh từ vừa kể trở thành dư thừa, bởi vì " khi nói đến sự xâm phạm các quyền của con người ", là đề cập đến bất cứ trạng thái chủ thể nào của việc vi phạm, không cần phải chuẩn định nặng nhẹ tùy theo trạng thái tâm lý khác nhau của các chủ thể can phạm" ( Atti dell'Assemblea Costituente, id. ). Sau những ý kiến vừa được tiếp nhận, Ủy Ban Soạn Thảo ( I Settantacinque) viết lại đạo luật của điều 28 như sau: - " Các thuộc hạ của cơ chế Quốc Gia và cơ quan công quyền tự chính họ ( personalmente) có trách nhiệm theo hình luật, dân luật và luật quản trị đối với những hành động xâm phạm đến các quyền của con người. Cơ chế Quốc Gia và các cơ quan công quyền bảo đảm việc bồi thường về các thiệt hại do thuộc hạ mình gây nên" ( La Costituzione della Repubblica nei lavori preparatori, dell'Assemblea Costituente, I, p. 722s). Và Thượng Nghị Sĩ Nobili giải thích thêm như sau: - "...cơ chế Quốc Gia và các cơ quan công quyền, vì không thể là chủ thể vật thể ( persona fisica), mà chỉ là chủ thể luân lý ( ente morale), không thể hành động, nếu không qua trung gian của các thuộc hạ mình...Bởi đó khi các thuộc hạ của Quốc Gia hay cơ quan công quyền thiếu trách nhiệm hay gây thiệt hại cho người khác vì lầm lẫn hay hành xử gian dối, đó chính là Quốc Gia thiếu bổn phận hay hành xử gian dối đối với người dân. Bởi đó Quốc Gia phải đứng ra trang trải, đến bù thiệt hại."( La Costituzione delle Repubblica, id., 919). Và ông còn cho biết thêm: " Trách nhiệm cá nhân và trực tiếp là trách nhiệm của thành viên thuộc hạ..., là trách nhiệm tiên khởi bởi đó cần phải được kỳ vọng phải có trước tiên ( đối với thành viên thuộc hạ cơ chế Quốc Gia và cơ quan công quyền). Quốc Gia can thiệp tiếp theo, và trách nhiệm của Quốc Gia là trách nhiệm phụ túc bảo trợ ( sussidiaria)" ( La Costituzione della Repubblica, id., 920). Nhiều ý kiến đóng góp vừa kể cho phép Ủy Ban Soạn Thảo đúc kết thành điều 28 mà chúng ta trích dẫn ở đâu bài. B - Nội dung của đạo luật. Là một đạo luật quy tựu và đúc kết nhiều yếu tố trong hai câu văn khá ngắn gọn với lối viết tượng hình ( geroglifico). Do đó muốn thấy rõ được bao nhiêu ý nghĩa hàm chứa bên dưới, chúng ta cần " tháo gở " để làm sáng tỏ nội dung súc tích và liên hệ nhau được chứa đựng. Đọc lại bản văn của đạo luật, chúng ta có thể ghi nhận được các yếu tố sau đây: - các viên chức hay thuộc hạ có trách nhiệm trực tiếp, - trách nhiệm hình luật, dân luật và luật hành chánh, - theo luật lệ xác định, - vi phạm các quyền của con người, - trách nhiệm dân sự liên hệ đến cả cơ chế Quốc Gia và cơ quan công quyền, trong các trường hợp đó. Chúng ta có thể giải thích điều khoản luật vừa kể với những lời lẽ đơn sơ như sau: - " Một thành viên thuộc hạ công quyền bằng các hành động ( tác động cụ thể vật chất hay bỏ qua, thiếu sót bổn phận cũng vậy ) trong khi hành xử phận vụ của mình xúc phạm đến một quyền của người dân ( làm cho người dân bị thiết hại về thể chất , tinh thần cũng như danh dự của mình), phải chịu trách nhiệm hình sự và do đó đồng thời cũng có trách nhiệm dân sự và theo luật hành chánh ". Trương độ, nồng độ và phương thức áp dụng hình phạt đối với trách nhiệm vừa kể được hình luật, dân luật và luật quản trị thiết định, " theo luật lệ xác định", sẽ đưa đến phương thức thi hành phải có. Ngoài các hậu quả hình luật phải có, thành viên thuộc hạ can phạm của công quyền còn có trách nhiệm dân sự, trách nhiệm phải bồi thường vật chất luật lệ ấn định. Ở lãnh vực dân sự, Hiến Pháp xác định rằng bất cứ vì một lý do nào đó mà sự bồi thường thiệt hại vượt quá khả năng của cá nhân đương sự, cơ chế Quốc Gia hay cơ quan mà thành viên tùy thuộc có bổn phận liên đới với đương sự, trong việc bồi thường, hoàn trả cho nạn nhân bị thiệt thòi. Làm tổn thương đến quyền người dân không phải là trường hợp hiếm có xảy ra trong mối tương quan luật pháp giữa cơ quan công quyền và người dân. Nhưng chắc chắn không phải bất cứ một vi phạm nào của cơ quan công quyền cũng là vi phạm với hậu quả hình sự, nhưng gần như chắc chắn bất cứ một sự vi phạm nào cũng có liên quan đến hậu quả dân sự, cả việc thiếu bổn phận phải chu toàn của nhân viên công quyền, làm cho người dân bị thiệt thòi. Hiến Pháp cũng không thể có thái độ không tưởng, phát hoạ những đồ án tổ chức Quốc Gia trong đó không có một giới chức công quyền nào sai lỗi. Thực tế hơn, cần tìm được phương thức sửa chữa, dựa trên những yếu tố cấu trúc, trên đó Quốc Gia được xây dựng. Và yếu tố cấu trúc nền tảng đầu tiên, trên đó một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ được xây dựng, là địa vị và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người. Điều đó giải thích tại sao Hiến Pháp 1949 CHLBD đặt nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người ngay ở điều khoản đầu tiên và tiếp tục liệt kê, tuyên bố như là những đạo luật bắt buộc phải thực thi ( préceptives) trong suốt 19 điều khoản kế tiếp: - " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó. Như vậy dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bát khả nhượng của con người là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới. Các quyền căn bản được kể sau đây là những quyền bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1 Hiến Pháp CHLBD). Cũng vậy Hiến Pháp 1947 Ý Quốc xác nhận: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi người phát triển nhân cách của mình và đòi buộc các bổn phận không thể thiếu liên đới trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) Và kế đến Hiến Pháp 1947 tiếp tục tuyên bố nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người như là những điều khoản luật thực định ( lois positives) có hiệu lực bắt buộc trong suốt trên 50 điều khoản kế tiếp, đến điều 54, trước khi xác định phương thức tổ chức Quốc Gia từ điều 55 trở đi. Đặt điều 28 đang bàn trong nhãn quang vừa kể, chúng ta hiểu đươc tầm quan trọng của đạo luật. Điều 28 là điều luật Hiến Pháp nhằm bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, nằm giữa các điều 1-54, tuyên bố một phương thức bảo vệ con người, chớ không phải là một đạo luật bàn đến vai trò và trách nhiệm của các cơ quan công quyền một cách tổng quát, trong phần dành cho tổ chức công quyền ( điều 55 - 110). Hơn nữa, đạo luật 28 quy trách trách nhiệm trực tiếp cho cá nhân những ai hành xử công quyền xúc phạm đến phẩm giá, quyền và tự do của người dân, trước khi đề cập đến trách nhiệm liên đới hay trách nhiệm " phụ túc hỗ tương " của các cơ quan công quyền mà đương sự thuộc hệ: - " Các viên chức, thuộc hạ Quốc Gia và thuộc hạ các cơ quan công quyền có trách nhiệm trực tiếp..." Và rồi để nói lên tính cách quan trọng của đạo luật được tuyên bố, chống lại mọi xúc phạm đến nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người, Hiến Pháp nêu lên cả ba lãnh vực luật pháp mà viên chức thuộc hạ công quyền có trách nhiệm trực tiếp phải gánh lấy hậu quả, khi hành xử coi thường, chểnh mảng thiếu trách nhiệm hay cậy tài ỷ thế " tác oai tác quái " hành động xúc phạm, làm tổn thương đến quyền và địa vị của người dân: - " ...thuộc hạ các cơ quan công quyền có trách nhiệm trực tiếp theo hình luật, dân luật và hành chánh...", tức là phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi xúc phạm con người của mình đối với người dân, đối với mọi lãnh vực của tư pháp. Nói cách khác, qua hành động xúc phạm con người của nhân viên công quyền, trong trường hợp được hình luật, dân luật và luật hành chánh xác nhận, đương sự phải đứng ra trực tiếp chịu trách nhiệm về hành động xâm phạm và tha hóa con người của mình, kể cả trường hợp bỏ qua. Hậu quả đó đương sự có thể bị bắt ở tù và xuống cấp hay bị sa thải khỏi nhiệm sở; lột lon,giáng cấp cấp nếu là thành phần quân đội và bán nhà, " bán vợ, đợ con " để đền bù thiệt hại cho người dân: "... thuộc hạ cơ quan công quyền có trách nhiệm trực tiếp..., dân luật, ...". Chỉ khi nào đương sự được Quốc Gia và cơ quan công quyền xác nhận không có khả năng trang trải nổi, để tránh cho nạn nhân khỏi bị thiệt thòi, điều 28 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc mới đòi buộc cơ chế Quốc Gia và cơ quan công quyền trợ lực trang trải, trong tinh thần " phụ túc bảo trợ ": - " Trong các trường hợp đó, trách nhiệm dân sự liên hệ đến cả cơ chế Quốc Gia và các cơ quan công quyền". ( Fabbio Merusi e Marcello Clarich, Commentario della Costituzione art.28, in G. Branca, Zanichelli, Bologna - Roma 1991, 361-370) Trên thực tế, các quyền bất khả xâm phạm của con người và người dân đó là những quyền nào, mà đụng chạm đến đó, nhân viên công quyền ( bất cứ ở đẳng cấp nào cũng vậy, từ vị Tổng Thống, dân biểu, bộ trưởng, sĩ quan, lính quèn cho đến đổng lý văn phòng, thư ký cạo giấy và cả nhân viên hốt rác cũng vậy), phải tự mình trực tiếp lãnh nhận trách nhiệm hình luật, dân luật và luật hành chánh khi xúc phạm đến nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của người dân? Chúng tôi không có tham vọng liệt kê đầy đủ hoàn toàn và kết thúc các quyền bất khả xâm phạm của con người, bởi lẽ là một danh sách còn đang mở rộng, mà các tổ chức nhân quyền vẫn tiếp tục khám phá ra thêm. Quyền được bảo vệ môi sinh chống bụi bậm, thán khí dơ bẩn, tiếng động vượt quá một vài mức độ của decibel, nước uống và thức ăn không bị ô nhiểm, pha trộn, biến chất, nhiểm độc có thể sinh bệnh hoạn...là những quyền được thêm vào danh sách không lâu nay ( Grossi P.F., Introduzione ad uno studio sui diritti inviolabili nella Costituzione Italiana, Cedam, Padova 1972, 176-177). Tuy vậy, dựa vào danh sách những gì Hiến Pháp 1949 CHLBD ( 1- 19) và Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ( 2-54) liệt kê, chúng ta có thể ghi lại các quyền được Hiến Pháp xác nhận sau đây, quyền - bình đẳng trong địa vị xã hội và trước pháp luật, - tự do cá nhân, bảo toàn mạng sống và toàn vẹn thân thể, - tự do gia cư, - tự do và bí mật thư tín, - tự do di chuyển, xuất ngoại và trở về quê quán, - tự do hội họp, - tự do lập hội và gia nhập hội, - tư do ngôn luận và truyền bá tư tưởng, - tự do tín ngưỡng, tự do tuyên xưng và truyền bá niềm tin của mình dưới mọi hình thức, tự do cử hành phụng tự ở nơi riêng tư cũng như công cộng. - tư do được bảo đảm pháp lý, khởi tố, được biện hộ và bênh vực trong mọi tiến trình và đẳng cấp của phiên xử, cả đối với những ai không có phương tiện. - quyền công dân và quyền tên họ được tôn trọng, - quyền bảo đảm sức khoẻ, quyền làm việc, quyền tư hữu, tự do sáng kiến trong kinh tế, đình công, được bảo đảm an ninh xã hội, về hưu, bệnh tật, tàn tật, - bầu cử và ứng cử, quyền được bình được thu nhận vào các lãnh vực công quyền. - quyền con người được tỵ nạn, nếu các quyền căn bản con người của họ không được thực thi trên quê hương họ, - hình phạt không thể nào gồm những phương thức đối xử vô nhân đạo. - không thể chấp nhận mọi cuộc tra tấn, ngược đải, doạ nạt trên thân xác cũng như tinh thần. - quyền được dành mọi dễ dãi về luật pháp cũng như tài chánh để gia đình được thành lập, - quyền và bổn phận giáo dục con cái và quyền được Quốc Gia trợ lực nuôi nấng và giáo dục con cái, nhứt là đối với phụ huynh thiếu khả năng... Đối với những quyền vừa được liệt kê ( từ điều 2-54 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), mọi xúc phạm, cản trở hay thiếu trách nhiệm do hành động của viên chức Quốc Gia hay thành viên thuộc hạ cơ quan công quyền đều mang theo hậu quả hình luật, dân luật và luật hành chánh mà viên chức hay thuộc hạ đó phải trực tiếp chịu trách nhiệm ( Grossi P.F., op.cit., 177; Galopini Annamaria, La responsabilità dei dipendenti, Giuffré, Milano 1968, 180). Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ của thiên hạ là vậy. Chừng nào Hiến Pháp tương lai của chúng ta có được một điều khoản tương tợ để cảnh cáo, tát vào mặt bọn công an hung hăng hồng hộc - ủi sập nhà thờ Tin Lành ở Sàigòn và ập vào tư gia chữi bới, đánh đập, đả thương, bắn giết, bắt bỏ tù " bọn Tin Lành", chỉ vì " tụi nó " hợp nhau để đọc Phúc Âm và thờ phượng Chúa; - bắt " trấn nước mụ Úa" ở Kiên Giang, vì " con mẻ " cứ lãi nhãi đòi lại đất đai của " con mẻ ", - bao vây và ập vào Toà Giám Mục Huế, tịch thu máy vi tính và điện thoại của Linh Mục Lý, chỉ vì " tên Linh Mục " đó đòi quyền tự do lập hội và tự do ngôn luận? - đâp phá tượng Đức Mẹ Sầu Bi ( Pietà) của Giáo Phận Diệm, chỉ vì tụi nó là công giáo, còn tụi tao vô thần, vô đạo và vô liêm sĩ. Cuộc sống văn minh cho dân tộc, không phải chỉ tuyên bố Dân Chủ hay Dân Chủ XHCN mà có, mà còn phải tiền liệu được các điều khoản Hiến Pháp và Luật Pháp bắt buộc phải tôn trọng Nhân Bản và Dân Chủ: - " Các viên chức thuộc hạ Quốc Gia và thuộc hạ các cơ quan công quyền có trách nhiệm trực tiếp theo hình luật, dân luật và luật hành chánh về các hành động vi phạm các quyền bất khả xâm phạm của con người...".

 

- " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Nền Công Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người trong các tổ chức xã hội, nơi con người phát triển nhân phẩm của mình và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Chúng tôi vừa trích dẫn một trong những điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ( CHLBD) và Hiến Pháp 1947 Ý Quốc. Cả hai Hiến Pháp đều được sinh ra gần như đồng thời với nhau, 1947-1949, sau những kinh nghiệm độc tài hãi hùng của Đức Quốc Xã Hitler và Phát Xít Mussolini mà cả hai dân tộc Ý, Đức Quốc và nhiều dân tộc khác phải trả, nhứt là Do Thái, với hàng bao nhiêu triệu người chết trong các lò sát sinh và mồ chôn tập thể, sau khi bị đánh đập, hành hạ như súc vật. Hiểu được điều đó, chúng ta hiểu được tại sao hai Hiến Pháp vừa kể đặt phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người ngay vào những điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp, để nói lên tầm quan trọng trung tâm điểm, địa vị tối thượng của nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người. Nói như vậy, không có nghĩa là các Hiến Pháp khác không đặt nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người ở phần quan trọng khiến cho ai cũng phải chú ý. Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776, Hiến Pháp Philadelphia 1787, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp Quốc 1789 đều đề cập đến các quyền bất khả xâm phạm của con người ở phần Tiền Đề. Gần chúng ta hơn Hiến Pháp Weimar 1919 Đức Quốc cũng đề cập đến, nhưng Đức Quốc Xã của Hitler xem mạng sống con người có gì khá hơn súc vật không, kinh nghiệm đã trả lời cho chúng ta. Gần chúng ta hơn nữa, Hiến Pháp 1946 và 1958 hiện hành Pháp Quốc cũng đề cập đến các quyền bất khả xâm phạm của con người ở phần Tiền Đề. Tại sao? Tại vì dân chúng Pháp đã từng có kinh nghiệm dân chủ lâu dài, từ Cuộc Cách Mạng 1789 đến nay, và chưa trải qua những kinh nghiệm khủng khiếp máu và nước mắt mà dân Đức và dân Ý đã phải trả. 1 - Thực định hoá. Qua những ý niệm đơn sơ về lịch sử vừa kể, chúng ta hiểu được tại sao ông Aldo Moro, thành viên Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Quốc Hội Lập Hiến đòi buộc Hiến Pháp không tuyên bố thuyết lý về nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người ở phần Tiền Đề, mà phải đặt vào chính thân bài của Hiến Pháp, tuyên bố thành đạo luật thực định ( leggi positive, lois positives), có tính cách bắt buộc phải thi hành: - " Chúng ta không cần đưa ra lý chứng ( tại sao phải tôn trọng, bất khả xâm phạm), mà cần những đạo luật có tính cách bắt buộc và là mục đích cần phải đạt tới. Chúng ta cần có tiêu chuẩn chắc chắn để định hướng cho cuộc tranh đấu. Cuộc tranh đấu đó hiện nay chưa kết thúc và cũng không thể kết thúc cho tự do và công bình xã hội " ( Aldo Moro, Intervento, in Atti dell'Assemblea Costituente, seduta generale, I, 368s). Ý kiến của nghị sĩ Aldo Moro được các thành viên Quốc Hội Lập Hiến lúc đó, năm 1946, xem là phần đúc kết, nhân nhượng và hợp tác của nhiều khuynh hướng trái ngược nhau giữa các thành viên soạn thảo Hiến Pháp: - phía Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, đảng Tự Do và đảng Cộng Hoà muốn đưa ra lý chứng cho việc tôn trọng nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm, dựa trên đó là quyền " thiên nhiên" ( giusnaturalismo ) của bản tính con người, với các từ ngữ " bất khả nhượng và thiêng liêng". - phía đảng Cộng Sản và đảng Xã Hội cho rằng quyền của con người là quyền để phục vụ đảng, phục vụ xã hội, xây dựng lý tưởng Cộng Sản đại đồng, trong đó mọi người đều bình đẳng. Tư tưởng của Aldo Moro được đa số Quốc Hội Lập Hiến 1946 tán đồng và như vậy Hiến Pháp 1947 Ý Quốc được cấu trúc như sau: - Trong thân bài của Hiến Pháp, tức là phần gồm toàn những điều khoản luật thực định ( leggi positive), các điều khoản của Hiến Pháp là những đạo luật có tính cách bắt buộc phải thi hành, chớ không phải chỉ là những lời tuyên bố nguyên tắc để tuyên bố. Ý nghĩa vừa kể, chúng ta có thể gặp được Hiến Pháp 1949 CHLBD tuyên bố với cùng một ý nghĩa, ngay ở điều khoản đầu tiên: - " Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây, là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Trong tinh thần đó, tinh thần thiết định " những đạo luật có tính cách bắt buộc và là mục đích cần đạt tới" ( Aldo Moro, it., id.), - liền sau phần tiên bố để xác định thể chế " Ý Quốc là một Quốc Gia Cộng Hoà Dân Chủ" ( điều 1), - các quyền bất kả xâm phạm của con người là nền tảng của thể chế Quốc Gia được xác nhận ở điều 2. và là một trong những nguyên tắc căn bản để bảo đảm cho các quyền bất khả xâm phạm đó, - quyền bình đẳng, được tuyên bố ở điều 3, và tuyên bố với tính cách bắt buộc Quốc Gia có bổn phận phải thực hiện, bởi vì đó là lý do chính đáng Quốc Gia được thiết lập và tồn tại: * " Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, các điều kiện cá nhân hay xã hội". " Bổn phận của Nền Công Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi người triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Qua những gì được đề cập, chúng ta thấy được trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, 1949 CHLBD và hầu hết các Hiến Pháp Tây Âu khác, chúng ta có thể rút ra được kết luận: - nguyên tắc các quyền bất khả xâm phạm của con người trổi thượng hơn, có trước quyền lực Quốc Gia, nên Quốc Gia phải " nhìn nhận và bảo vệ" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) - hay " bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1b Hiến Pháp 1949 CHLBD). - nguyên tắc vừa kể, được đặt trên " luật tự nhiên" ( giusnaturalismo) do bản tính con người đòi buộc, hay được đặt trên nền tảng cao cả hơn trong tôn giáo, " được Chúa mạc khải " hay " được Thánh Kinh chỉ dạy ", các Hiến Pháp không xác định rõ, mà dành cho tôn giáo quyền huấn dạy đức tin. Bổn phận của Hiến Pháp là " thực định hoá" ( positivation) nguyên tắc các quyền bất khả xâm phạm của con người thành những " đạo luật thực định " ( lois positives), có tính cách bắt buộc, trong tổ chức cuộc sống tổ chức Quốc Gia. Cách hành xử vừa kể của thành phần Công Giáo trong các chính đảng Tự Do, Cộng Hoà và Dân Chủ Thiên Chúa Giáo trong Quốc Hội Lập Hiến 1946 là cách hành xử của người Công Giáo, là người Ki Tô giáo trong chính trị. Đó là phương cách " trung gian điều giải " ( mediation) trong chính trị. Từ niềm tin tôn giáo, người dấn thân vào chính trị không thể trực tiếp rút ra các đường lối, phương thức, khuôn mẫu và chương trình có sẵn để áp dụng thực tế vào chính trị, mà phải qua tiến trình " trung gian điều giải " : lấy các chân lý, nguyên tắc, nền tảng của đức tin, giải thích thành những giá trị cần được tôn trọng, mục đích cần phải thực hiện và phát huy, thăng tiến trong đời sống xã hội, kèm theo các phương thức để bảo vệ, chống vi phạm, điều kiện và chương trình thực tế để thực thi và phát triển. Đó là những gì hàm chứa trong câu nói của nghị sĩ Aldo Moro, nói lên tư tưởng của ông và của những thành viên Quốc Hội Lập Hiến 1946 Ý Quốc cùng niềm tin tôn giáo với ông: - " Chúng ta không cần đưa ra lý chứng, mà cần những đạo luật có tính cách bắt buộc và mục đích cần phải đạt tới..." ( A. Moro, cit.). 2 - Con người chớ không cá nhân. Cũng trong chiều hướng đó, chúng ta thấy rằng điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, cũng như điều 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD, khi nêu lên điều khoản luật thực định, không dùng từ ngữ " cá nhân", mà là " con người ": - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người ,..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm..." ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Khi đề cập đến " cá nhân " là chúng ta nói đến một chủ thể biệt lập, tốt hay xấu, hoàn hảo hay tỳ vết, tròn trịa như trái banh billard hay có nhiều khuyết tật, không quan hệ gì đến ai. Nhưng khi nói đến " con người " ( persona umana ), là chúng ta nói đến tư tưởng hay " hình ảnh con người " ( Menshenbild), ngôn từ của Viện Bảo Hiến CHLBD ( Bundesverfassungsgericht, BVG), có những quyền bất khả xâm phạm của mình, - " được đặt vào mối tương quan với những con người khác, cũng có cùng các quyền bất khả xâm phạm như mình , từ đó tạo ra các mối liên hệ tương quan, nhiều lúc có thể trở nên " áp xsuất đối nghịch" ( Spannung) giữa con người như cá nhân với cá nhân và con người như cá nhân đối với tổ chức xã hội ( Gemeinschaftsgebundenheit)" . Nói cách khác, các quyền bất khả xâm phạm của con người trong cuộc sống tổ chức thành xã hội, được tương đối hoá ( relativativisation) - đối với quyền của các con người khác, - cũng như đối với lợi ích chung xã hội, được sắp xếp theo bậc thang giá trị, từ thiết yếu đến những gì ít thiết yếu hơn, từ lợi ít chung so với những gì chỉ liên hệ đến cá nhân: - " Mỗi người có quyền tự do diễn tả và truyền bá tư tưởng của mình bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh, và có quyền được thông tin, không ai được cấm cản, từ những nguồn tin mà ai cũng có thể đạt đến được. Quyền tự do báo chí và quyền tự do thông tin đài phát thanh và điện ảnh được bảo đảm. Không thể chấp nhận bất cứ một sự kiểm duyệt nào. " Các quyền nầy có những giới hạn trong các điều khoản luật tổng quát và các chỉ thị luật định liên quan đến việc bảo vệ tuổi thơ và con người trong quyền bảo toàn danh dự của mình" ( Điều 5, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD). - " Sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do. " Không thể hành xử quyền tự do nầy ngược lại với lợi ích xã hội hoặc gây ra phương hại đến an ninh, tự do và phẩm giá con người" ( Điều 41, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Hiểu như vậy, con người với các quyền bất khả xâm phạm của mình, trong các Hiến Pháp Tây Âu không phải chỉ là cá nhân đơn độc, trơ trọi, là một hòn đảo biệt lập dù cho với các kho tàng giá trị của mình, mà là con người với tất cả các chiều hướng liên hệ và liên đới của mình với đồng bào mình và với các người đồng loại của mình. Hay nói theo ngôn ngữ của tư tưởng gia người Pháp Jacques Maritain, con người trong xã hội văn minh là con người toàn vẹn ( homme intégral) gồm cả ba chiều hướng , - hướng thiện vào thâm sâu của nội tâm; - hướng thiên, đặt mình tương quan liên hệ với Đấng Tối Cao - và hướng tha, liên hệ với đồng bào và người đồng loại mình) ( J. Maritain, Umanesimo integrale, V. ed.. EDB, Brescia 1970, 129). Trong chiều hướng đó, từ sau ngày tuyên bố Hiến Pháp 1949 CHLBD, Viện Bảo Hiến Liên Bang đứng ra thiết lập hệ thống theo các bậc thang giá trị của con người, phải được tương đối hoá trong hoàn cảnh sống Cộng Đồng Xã Hội, với kết quả thiết lập nên bậc thang giá trị, a) các quyền bất khả xâm phạm căn bản của con người, dựa theo các nội dung thiết yếu: - quyền tự do cá nhân, - quyền được tiển nở hoàn hảo con người của mình, - quyền được đối xử bình đẳng với mọi người khác, - quyền tự do ngôn luận, - quyền tư hữu... b) các giá trị công cộng hay giá trị chính trị, với các nguyên tắc : - dân chủ thượng đẳng, - phân quyền, - đa đảng, - chính quyền có trách nhiệm, - nền tư pháp độc lập, - nền hành chánh pháp định - và các nguyên tắc căn bản Quốc Gia pháp định và xã hội ( BVG 4, 15, 8, 329, 20, 12). Với những tư tưởng vừa kể, chúng ta thấy được quan niệm về quyền bất khả xâm phạm được chuyển đổi từ thể chế " Quốc Gia Tự Do" ( État libéral) của thế kỷ 18, đến thể chế "Quốc Gia Dân Chủ" ( État démocratique). Tiến trình tương đối hoá có liên hệ chặc chẻ với sự công nhận các quyền bất khả xâm phạm trong tổ chức " Quốc Gia Dân Chủ Đa Nguyên" và xã hội được cấu trúc phức tạp. Nếu các quyền căn bản bất khả xâm phạm trong một thể chế dân chủ là những phương tiện vận chuyển ý muốn và lựa chọn của mỗi con người cũng như của cộng đồng xã hội, do dân chúng hợp nhau tạo thành, quan niệm trừu tượng và không giới mức, vô hạn định của các quyền đó chắc chắn sẽ phải gặp những giới hạn không thể tránh khỏi trong bậc thang giá trị, nếu không các quyền vừa kể sẽ không thể được thực hiện trong cuộc sống chung. Nhưng các giá trị công cộng và xã hội không thể chối bỏ một cách tuyệt đối tự do và quyền lựa chọn, hành động của cá nhân ( như trong thể chế Công Sản), nên giữa giá trị cộng đồng và giá trị cá nhân con người cần phải có thiết lập một mức quân bình và nhân nhượng hay tương đối hoá, như những gì chúng ta vừa trích dẫn từ Hiến Pháp 1949 CHLBD và 1947 Ý Quốc, - " sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do..., nhưng không thể hành xử ngược lại lợi ích xã hội, an ninh, tự do và nhân phẩm của người khác". Tiến trình " tương đối hoá" ( relativizzazione) không hề chối cải giá trị tối thượng, bất khả xâm phạm của nhân phẩm và các quyền tự do của con người như cá nhân, - bởi vì đó là nền tảng và lý do hiện hữu của nền dân chủ, nền tảng và lý do vô điều kiện, * " ...Như vậy dân tộc Đức nhận biết các quyền căn bàn của con người là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của cuộc sống hoà bình và thân hữu trên thế giới " ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ). - có chăng chỉ tương đối hoá ở lãnh vực nội dung đối với quyền và tự do của người khác hay lợi ích chung của cộng đồng, mà trong đó cùng chung sống với các cá nhân khác cũng có cùng những quyền lợi liên hệ đang bàn ( Antonio Baldassare, Diritto della persona e valori costituzionali, G. Giappichelli Ed., Torino 1997, 35-41). Trong quan niệm " Quốc Gia Tự Do" của thế kỷ 18, nhãn quang căn bản của thể chế là " cá nhân đơn độc, biệt lập", " một con người trừu tượng". Bởi đó để bảo vệ " cá nhân, đơn độc, biệt lập, trừu tượng" như vừa kể, khỏi các áp chế của quyền lực chính trị và quyền lực công công độc tài, " toàn trị " ( thâm nhập vào hết mọi lảnh vực của cuộc sống cá nhân), các Hiến Pháp tạo ra khuôn mẫu tối thiểu để quy chiếu, đó là " quyền tự do tiêu cực " ( liberté négative), để xác định - khoản không gian tác động của mỗi cá nhân, " khỏi bị chính quyền can thiệp", - những điều kiện tiên quyết phải có, chống lại hay không thể chấp nhận đối với công quyền. Đó là - quyền được bảo toàn mạng sống, " an ninh cá nhân" ( Hobbs), - " chủ nhân tuyệt đối đối với bản thân và của cải mình có" ( Locker). Các kỳ vọng " giới hạn đối với công quyền", " chính quyền không được", " bất khả xâm phạm" hay tự do tiêu cực đó của quan niệm "Quốc Gia Tự Do" được đặt trên chính cá nhân con người, " theo luật thiên nhiên" ( giusnaturalismo). Quan niệm dân chủ đầy đủ của các xã hội tân tiến Tây Âu hiện nay, ngoài ra quan niệm tự do tiêu cực như vừa kể, còn được đặt nền tảng trên cả " tự do tích cực", " quyền tự quyết của cá nhân và của cộng đồng xã hội": - " Quyền tự do tiêu cực có ý nghĩa trong nguyên tắc căn bản, nếu đàng sau tự do đó còn có khả năng thực sự để tự quyết định lấy, mà nhằm cho mục đích đó, quyền tự do tiêu cực mới có lý do hiện hữu" ( N. Harmann, Ethik, 790). Mặc dầu chủ thể các quyền bất khả xâm phạm cũng là đối tượng cho việc các quyền đó bảo vệ, vẫn là con người ( persona umana), con người đó không phải là một chủ thể hay đối tượng đóng kín, mà là một nhân vị ( persona) trong cuộc sống đang hướng về những gì đang hiện hữu chung quanh mình, - " nhân vị là một thực thể xã hội phóng mình liên quan với các chủ thể khác trong cộng đồng và nhờ đó triển nở mình trong một thế giới với những bậc thang giá trị" ( N. Harmann, id., 791). Nhu vậy con người trong chủ thuyết nhân vị xã hội và theo các quan niệm hợp lý hơn với nguyên tắc dân chủ là nhân vị được đặt nền tảng trên mối tương giao giữa " Tôi " và " Anh", trong một thế giới bậc thang giá trị và thế giới gồm các chủ thể đồng sống chung trong một xã hội với nhau, cùng mang giá trị đồng đẳng như nhau ( J. Maritain, Umanesimo integrale, id., 5). Nếu quan niệm nhân vị ( persona) đòi buộc phải có mối tương quan giữa các chủ thể với nhau ( N. Harmann) hay nhân vị trước tiên là một đơn vị xã hội ( J. Maritain), - " thì nền dân chủ đa nguyên, đa dạng không có gì khác hơn là cuộc sống hiện thực hợp lý của hình thức " tổ chức thị xã nhân vị đó", hay nền dân chủ đa nguyên đa dạng không có gì khác hơn là một thực thể trong đó mỗi nhân vị nhận ra được hình ảnh của mình ( J. Maritain, id.). Và đó cũng là những gì nghị viên Aldo Moro thốt lên trong Quốc Hội Lập Hiến 1946 Ý Quốc: - " Con người không phải chỉ là một cá nhân..., mà là một thành phần xã hội với các hình thức khác nhau của mình, và rồi xã hội đó không phải tất cả chỉ có mục đích thu tóm vào tổ chức Quốc Gia " ( như chủ trương của CS hay XHCN) ( Aldo Moro, Atti Costituenti, id., 594). Tư tưởng vừa kể của ông Aldo Moro được các nhà soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc diễn tả ra ở điều 2 của Hiến Pháp, như chúng ta đã có dịp đề cập đến ở những dòng đầu: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, * con người như cá nhân, * hay con người như thành phần các tổ chức xã hội, nơi con người phát triển nhân cách ( personalità) của mình..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). 3 - Con người như thành phần xã hội, nơi con người phát triển nhân cách của mình. Như trên đã nói, ý nghĩa " con người" ( persona) được tuyên bố trong điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không trùng hợp với tư tưởng con người chỉ là một chủ thể cá nhân ( individuo) đơn độc và tách biệt, mà là một đơn vị xã hội có tương quan động tác với các đơn vị xã hội khác, là một trung tâm quy chiếu các mối liên hệ xã hội, thì việc bảo vệ " con người như cá nhân"" con người như thành phần xã hội " nói lên mối bảo vệ đươn kết liên hệ đối với giá trị thượng đẳng của con người. Hiểu được ý nghĩa vừa kể, - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân...", là câu tuyên quyết bảo vệ các chủ thể cá nhân khỏi mọi việc can thiệp, đột nhập của công quyền, cũng như của các cá nhân thành viên khác trong các tổ chức xã hội, vào lãnh vực các quyền bất khả xâm phạm của cá nhân. a) Nói cách khác, " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ " cá nhân con người, chống lại bất cứ hình thức quyền lực nào, bất cứ từ đâu đến ( erga omnes), " ...giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), mà con người gặp phải trong cuộc sống tương giao cộng đồng, xã hội của mình ( G. Lombardi, Potere privato e diritti fondamentali, Utet, Torino 19700, 100s).Ví dụ: một cá nhân trong một cộng đồng trị liệu ( say rượu, nghiện thuốc phiện chẳng hạn), trong nhà tù, trại giam, cả trong công đoàn, chính đảng..., mà một quyền căn bản cá nhân của mình bị vi phạm, có thể dựa trên đạo luật của điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc nhờ cơ quan tư pháp bênh vực cho mình. Câu văn " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, ...con người như thành phần xã hội " của điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, có thể được hiểu - bảo vệ khỏi những vi phạm của các tổ chức xã hội đối với các quyền bất khả xâm phạm của con người, - hay bảo vệ con người, cả đang khi con người ở trong nội bộ của tổ chức xã hội, chống lại đàn áp của cơ quan quyền lực Quốc Gia hay chống lại cá nhân hoặc các tổ chức xã hội khác vi phạm. b) Đàng khác, sự bảo vệ mà Hiến Pháp quy trách cho Nền Cộng Hoà phải đứng ra đảm đang để bênh vực con người, không phải hiểu theo nguyên tắc " bảo vệ, để tránh mọi vi phạm" ( tự do tiêu cực), mà là bảo vệ, nhờ đó - "... mỗi con người được triển nở hoàn hảo con người của mình..." ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó có nghĩa là không những bảo vệ để giữ gìn nguyên vẹn các quyền bất khả xâm phạm của con người khỏi bị vi phạm, mà còn việc bảo vệ đó còn có tầm liên quan đến " con người như thành phần xã hội ", như là bảo đảm cho những con người trong mối tương quan của họ với những con người khác, con người như đơn vị xã hội, nói theo ngôn từ của ông Aldo Moro ( A. Barbera, Commento della Costituzione, art.3. a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna 1975, 105s). Theo ý nghĩa vừa kể, Hiến Pháp không chỉ đứng ra bảo vệ con người như cá nhân, mà còn bảo vệ các tổ chức xã hội trung gian ( gia đình, học đường, tổ chức công đoàn, hiệp hội nghề nghiêp, chính đảng, tổ chức tôn giáo..., như là bảo vệ cá nhân, cũng có tư cách pháp nhân như cá nhân con người, và được hưởng các quyền bất khả xâm phạm của con người trong khi hành xử nhân danh cộng đồng của mình. Nói cách khác, dưới khía cạnh vừa kể, các tổ chức xã hội trung gian có tư cách pháp nhân và được hưởng đầy đủ các quyền bất khả xâm phạm của mình, được hiểu như là phương tiện hay dụng cụ nhờ đó - " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) ( Paolo Barile, Il soggetto privato nelle Costituzione italiana, Cedam, Padova 1953, 14), mặc dầu các tổ chức xã hội đó không phải là chủ nhân nguyên thủy của các quyền bất khả xâm phạm, và do đó cũng không có lý do để các tổ chức xã hội trung gian đó hành xử quyền lực của mình đối chọi lại các quyền căn bản của con người như cá nhân ( Temistocles Martines, Diritto costituzionale, IV ed. Giuffré, Milano 1986, 698s). Hai phương diện vừa kể, - con người là thành phần của tổ chức xã hội trung gian vẫn giữ nguyên vẹn các quyền bất khả xâm phạm của mình - và xã hội trung gian là phương tiện hay dụng cụ, có đủ tư các pháp lý như cá nhân con người, hành xử, để con người được triển nở hoàn hảo, là nền tảng để Hiến Pháp bảo đảm cho đặc tính đa nguyên, đa dạng của tổ chức Quốc Gia Dân Chủ. Ước gì những tư tưởng chúng ta vừa duyêt qua sẽ không thể thiếu trong Hiến Pháp Nhân Bản của Việt Nam trong tương lai, saukhi những gì bất hạnh bị dân chúng Việt Nam đào thải đi.

 

1 - Quốc Gia Pháp Trị, những ý niệm căn bản. Các Quốc Gia Dân Chủ Tây Phương được gọi là các Quốc Gia Pháp Trị ( État de droit ). Tư tưởng về Quốc Gia Pháp Trị, chúng ta có cả một danh sách các sách tham khảo gần như một thư viện, từ quan niệm khởi thủy, trải qua các khám phá mới cho thời đại chúng ta ( Stein L:, von, Die Verwaltungslehre, Stuttgart, 1869, 309...Chevalilier J., L'État de droit, RDPSP 1988, 313s). Nói một cách ngắn gọn Quốc Gia Pháp Trị là hình thức điều hành Quốc Gia, được tiền liệu bởi một loạt các lằn mức định chế luật pháp giới hạn, cứng rắn đối với quyền lực Quốc Gia. Các lằn mức định chế pháp luật vừa kể được thiết lập để giới hạn các cách hành xử quyền lực Quốc Gia, nhằm bảo vệ người dân bị trị, giới hạn - đối với các cơ quan có thẩm quyền thiết định chính hướng Quốc Gia ( Lập Pháp), - cũng như đối với các cơ quan quản trị, thi hành ( Hành Pháp hay Chính Quyền), - và cả đối với cơ quan có quyền phán quyết chuẩn định việc áp dụng thi hành luật pháp ( Tư Pháp). Việc tiền định các lằn mức định chế luật pháp như vừa kể có khuynh hướng " vô danh tánh hoá" ( spersonnalisation) đối với những ai hành xử quyền lực Quốc Gia: người hành xử quyền lực Quốc Gia, khi đảm nhận lấy quyền hành trong tay, đều biết rằng đã có những lề luật, lằn mức được thiết định sẵn, mà trong lúc thi hành họ phải tuân theo. Họ không thể tu chính, thay đổi, cắt xén, nếu không phải gặp phải những điều kiện khắc khe, như - dành quyền hạn chế cho luật pháp ( riserva di legge): chỉ có luật pháp được Quốc Hội " chuẩn y ", mới có hiệu lực luật định, - dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge) : Quốc Hội có những lằn mức không thể vượt qua phải tuân giữ, trong tiến trình " duyệt xét và chuẩn y " các đạo luật, nếu không muốn các đạo luật được mình chuẩn y, chấp nhận bị coi là vi hiến và trở thành vô hiệu lực, - dành quyền tuyệt đối cho quyền tư pháp ( riserva assoluta al potere giudizario): trong các trường hợp liên quan đến tự do cá nhân, chỉ có khi nào cơ quan tư pháp ra án trác có lý chứng , Chính Quyền mới có quyền can thiệp kiểm soát, lục xét, trưng thu, bắt giữ và khi can thiệp cũng phải hành xử trong lằn mức, theo thể thức và điề kiện được luật pháp ấn định ( cfr. BẢO VỆ NGƯỜI DÂN TRƯỚC CƠ QUAN CÔNG QUYỀN) - và rồi cả Quốc Hội cũng có quyền thành lập Ủy Ban Điều Tra về chính hướng, phương thức hành xử và hiệu năng của Chính Quyền ( Điều 82, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), - đó là chưa kể đến bổn phận thường nhiệm của cơ quan tư pháp là điều tra và phán quyết các hoạt động của Chính Quyền dựa trên luật pháp đã được Quốc Hội chuẩn y. Và muốn tu chính Hiến Pháp pháp, cần có cả những cơ chế khác can thiệp, như trường hợp tu chính Hiến Pháp chẳng hạn: - " Một đạo luật như vừa kể( về tu chính Hiến Pháp ) , phải được sự đồng thuận của 2/3 thành viên Hạ Viện và của 2/3 thành viên Thượng Viện" ( Điều 79, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Một điều điện hiến định như vừa kể không phải dễ gì hội đủ để có thể thực hiện. Đó là chưa kể có những trường hợp không thể tu chính, sửa đổi dầu dưới bất cứ điều kiện nào, bởi lẽ các Hiến Pháp Tây Âu là những Hiến Pháp cứng rắn, chứa đựng những điều khoản bất di dịch, dưới bất cứ điều kiện nào: - " Không thể chấp nhận bất cứ một sự thay đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, nhứt là đến việc tham dự của các Tiểu Bang vào tiến trình lập pháp hay đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạn 3, id.). Nói tóm lại, trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ Tây Phương, định chế Quốc Gia là định chế " Quốc Gia Pháp Trị ". Quyền lực Quốc Gia bị đặt trong những lằn mức giới hạn không thể vượt qua và với những điều kiện không thể thiếu khi thi hành. Giới đương quyền ( lập pháp, hành pháp và tư pháp) không phải muốn làm hay không làm cũng được, làm ít hay nhiều cũng được và đối xử thiên vị bè phái cũng được) ( Giuseppe De Vergottini, Diritto Costituzionale Comparato, V ed., Cedam, Padova 1999, 308). Hiểu như vậy chúng ta thấy định chế Quốc Gia Pháp Trị có khuynh hướng loại trừ những mối nguy hiểm liên quan đến lằn mức bất định của quyền lực. Các quyết định của các chủ thể cơ quan quyền lực công cộng, không thể được để cho họ quyết định thế nào tùy hỷ, mà phải dựa trên các lề luật trừu tượng và tổng quát được tiền định. Ở đâu có thể, các đạo luật - không những thiết định trên lý thuyết các định chuẩn tổ chức các cơ quan, - tiến trình hành xử khi các cơ quan tác động, - mà cả nội dung bắt buộc của động tác: * " Tổng Thống Cộng Hoà phải ra lệnh tổ chức trưng cầu dân ý trong các trường hợp được Hiến Pháp tiền định" ( Điều 87, đoạn 6 Hiến Pháp 1947 Y Quốc). * Tổng Thống Cộng Hoà, sau khi tham khảo ý kiến với các Chủ Tịch, có thể giải tán Lưỡng Viện Quốc Hội hay một trong hai Viện" ( Điều 88, đoạn 1, id.). Ở đâu không thể tiên liệu hết mọi chi tiếc, Hiến Pháp thiết định các tiêu chuẩn và mức độ tổng quát làm khuôn sườn tiên liệu pháp định không thể vượt qua, đối với các quyết định hành xử của công quyền. Câu nói " tùy theo phán đoán và quyết định của cơ quan công quyền" ( lập pháp, hành chánh, tư pháp), là những cơ chế được thiết lập để đạt được mục đích trên thực tế, không có nghĩa là cơ quan đương cuộc muốn phán đoán và quyết định hành xử cách nào tùy hỷ, bởi lẽ mọi tác động của công quyền đều đã có lằn mức của luật pháp, ít nữa là tổng quát, tiền định không thể trái ngược hay vượt qua. Trong thể chế Quốc Gia Pháp Trị, không ai là - " con trời ", - " dọc ngang nào biết trên đầu có ai", ngay cả Tổng Thống Cộng Hoà cũng có thể bị Quốc Hội, qua phiên họp khoán đại, tố cáo là " phản bội Quốc Gia" hay " nhằm khuynh đảo Hiến Pháp" ( Điều 90, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Chỉ có trong những trường hợp cần thiết và khẩn trương, cơ quan công quyền, để bảo vệ Hiến Pháp và vì lợi ích chung, có thể bỏ qua hay vượt lên trên các lằn mức được luật pháp tiền định, ra nghị định, sắc lệnh có hiệu lực tức khắc để áp dụng, nhưng nội trong ngày phải báo cho cơ quan tư pháp và tường trình cho Quốc Hội ( Schmith C., Die Diktatur, trad. it., Laterza, Bari 1975, 34). Và nếu không được Quốc Hội " chuẩn y " trong vòng 60 ngày, kể từ ngày được công bố và áp dụng, - " ...các nghị định, sắc lệnh, sắc luật của Chính Quyền được coi là không có hiệu lực ngay từ lúc đầu và cơ quan công quyền hành xử các công văn vô hiệu lực vừa kể phải chịu trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chánh ( Điều 77, đoạn 2 và 3, id.). Về phương diện lịch sử, việc đặt lằn mức giới hạn công quyền được phát xuất từ rất xưa ( Matteucci N., voce Costituzionalismo, in Diz. di pol., II ed., Utet, Torino 1983, 272s). a) Ở Âu Châu lục điạ. Dấu vết gần nhứt là chúng ta còn tìm được nằm trong quyền thiên nhiên của con người ( jusnaturalismus) từ Grozio đến Kant và trong phương thức phân chia quyền lực để tránh độc tài trong truyền thống " hiến pháp định" ( costituzionalisme) từ Locke đến Montesquieu. Cũng vậy, định chế Quốc Gia Pháp Trị, chúng ta cũng tìm được dấu vết trong định chế " bảo chứng" ( garantisme) ở Pháp với B. Constant trong tác phẩm Cours de politique constitutionelle ( 1818-1820), trong đó B. Constant chủ trương yếu tố ưu tiên và thượng đẳng trong định chế Quốc Gia phải là yếu tố bảo đảm các quyền căn bản của con người ( tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền tư hữu) và ông xác quyết rằng tổ chức Quốc Gia được tổ chức nhằm mục đích bẳo vệ các quyền vừa kể của con người, chống lại quyền lực chính trị, bằng cách thiết định những lằn mức thượng đẳng thực sự và phổ quát cho tất cả. b) Ở Anh Quốc. Ở Anh Quốc, quan niệm " Rule of Law " ( Chính Quyền cai trị theo luật pháp) cũng có cùng một quan niệm tương tợ, nhưng có nguồn lịch sử khởi đầu hơi khác với bối cảnh ở Âu Châu lục địa. Khác với Âu Châu lục địa, quan niệm " Rule of Law" Anh Quốc bắt nguồn từ nguyên tắc luật lệ dựa theo truyền thống hành xử từ bao thế kỷ của dân chúng ( Common Law ), vẫn đang có hiệu lực hiện hành trong xã hội, và ít nhứt có từ thế kỷ 16 đến nay. Với thể thức diễn tả như vừa kể " Rule of Law " ( Chính Quyền cai trị theo luật pháp), định chế luật pháp ở Anh nhằm ám chỉ - nguyên tắc bình đẳng bảo vệ cá nhân trước luật pháp, - bảo vệ người dân chống lại mọi cách hành xử tùy tiện của các cơ quan công quyền, có thể làm tổn thương đến các quyền có được cách sống truyền thống người dân qua bao thế kỷ xác nhận ( Common Law). Khác với Âu Châu lục địa đương thời lúc đó, người dân Anh quốc không đồng hoá hoàn toàn tổ chức cơ chế Quốc Gia với luật pháp. Tổ chức cơ chế Quốc Gia được thiết lập và được đặt vào giữa một hệ thống luật pháp phức tạp, gồm những nguyên tắc trổi thượng hơn là cách suy tư, quyết định và hành xử tùy tiện của giới đương quyền . Bởi đó, nói một cách đơn sơ là giới đương quyền phải tuân giữ và hành xử theo các nguyên tắc đó. Chỉ có vậy. Các thẩm phán, theo truyền thống của người Anh, - là kho tàng tồn giữ và giải thích các nguyên tắc luật lệ và ở vị thế độc lập, - bảo đảm cho việc áp dụng luật không thiên vị đối với bất cứ ai, Vua, cũng như các quan chức và Lãnh Chúa thuộc hệ, kế đến cả đối với Quốc Hội, dần dần chiếm vai trò quan trọng từ thế kỷ 17 trở đi. Bởi đó người dân có quyền kỳ vọng ở giới đương quyền ( Lập Pháp cũng như Hành Pháp) phải tôn trọng các nguyên tắc luật định trước toà án, nơi mà người dân có quyền ưu tiên nói lên tiếng nói của mình qua các vị thẩm phán, chống lại mọi cách hành xử tùy hỷ của ai xử dụng quyền hành Quốc Gia ( Dicey A.V., Introduction to the Study of the Law of the Constitution, London 1885; Grottanelli De' Santi, Note introduttive di diritto costituzionalale, Utet, Torino 1988, 147s). Trong khoản thời gian đầu khai triển quan niệm Quốc Gia Pháp Trị, các học giả lúc đó chưa có khái niệm rõ ràng quan niệm về việc bảo vệ các quyền căn bản, theo tư tưởng của B. Constant được đề cập ở trên. Mối lo lắng chính của các học giả lúc đó là làm sao liên kết các bảo đảm luật định liên hệ đến việc cơ chế Quốc Gia phải tuân giữ luật pháp. Đối với Âu Châu lục điạ, Quốc Gia được quan niệm là một chủ thể tối thượng duy nhứt. Vua và thần dân đều phải tuân phục dưới quyền chủ thể duy nhứt pháp định đó. Người dân không thể kỳ vọng có quyền đối kháng lại chủ thể Quốc Gia tối thượng để bênh vực các quyền căn bản của mình. Bởi lẽ chính Quốc Gia tối thượng là chủ thể nhìn nhận các quyền căn bản đó cho họ. Tuy vậy, người dân có thể kỳ vọng các quyền căn bản của mình được bảo đảm, chống lại không phải chủ thể Quốc Gia tối thượng ( État - personne) mà là chống lại các tổ chức cơ chế ( institutions) của Quốc Gia. Một khi định chế Quốc Gia được thiết định, định chế đó xác định " luật " theo hai ý nghĩa, - Quốc Gia và các cơ chế tổ chức của Quốc Gia hành xử trong khuôn khổ đã được thiết định, - Quốc Gia đứng ra bảo đảm các trường hợp cá nhân luật định theo đúng định chế của mình. Tư tưởng " luật " như vừa kể được phổ biến mau chóng ở Âu Châu lục địa, và sát nhập hai ý nghĩa phân biệt vừa đề cập thành quan niệm " Quốc Gia Pháp Trị " với những đặc tính bảo vệ luật định được các Hiến Pháp, văn bản nền tảng cột trụ của Quốc Gia, đứng ra nhận biết và bảo đảm: - " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quan niệm sát nhập các ý nghĩa trên thành thể chế " Quốc Gia Pháp Trị " đòi buộc một loạt các điều kiện không thể thiếu, nếu một Quốc Gia muốn được nhìn nhận là " Quốc Gia Pháp Trị " đích thực: a) luật pháp được Qưốc Hội " chuẩn y " được xem là có giá trị tối thượng ( suprématie) , bởi lẽ Quốc Hội là cơ quan dân cử, đại diện cho " quyền tối thượng thuộc về dân" ( định nghĩa thể chế Dân Chủ). Danh từ " luật pháp", mặc dầu trên lý thuyết và theo cách nói thông dụng là những " quyết định" của Quốc Hội, nhưng phải được hiểu theo ý nghĩa phổ quát hơn, trong đó có cả " luật lệ nền tảng Quốc Gia" ( Grundgesetz, Đức Ngữ) hay Hiến Pháp. b) một hệ thống bậc thang giá trị định chế các điều khoản luật, được sắp xếp theo thứ bậc khác nhau, với khả năng bắt buộc tổ chức cơ chế Quốc Gia có trách nhiệm phải can thiệp trong các mối liên quan giữa cá nhân và xã hội, cũng như giữa tổ chức cơ chế Quốc Gia và xã hội ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) vừa trích dẫn. c) nguyên tắc hợp pháp ( hợp với Hiến Pháp và luật pháp của Quốc Hội) là điều kiện bắt buộc phải có trong phương thức điều hành Quốc Gia của các cơ chế và một loạt hệ thống các phương thức yêu cầu, thỉnh nguyện, tố cáo của người dân đối với cách hành xử phạm pháp của cơ chế Quốc Gia ( Crisafulli V., Lezioni di Diritto Costituzionale, II, 4° ed., Cedam, Padova 1976, 5-7). d) Viện Bảo Hiến: Một đôi khi, trong định chế " Quốc Gia Pháp Trị " cũng cần đến những bảo đảm dựa vào phán quyết của Viện Bảo Hiến, để bảo vệ các quyền căn bản của người dân, chống lại mọi tác động vi hiến của các cơ quan công quyền ( lập pháp, hành pháp, tư pháp) ( Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). 2 - Quốc Gia Pháp Trị, quá khứ và hiện tại. Quan niệm " Quốc Gia Pháp Trị " được khai triển một cách có hệ thống bởi các nhà Hiến Pháp học, theo định hướng xác định: đó là tranh đấu nhằm giới hạn quyền lực hành xử tùy hỷ của nhà vua. a) Trong thời gian, nhứt là từ thế kỷ 18 trở đi, giới tư sản Âu Châu là thế lực chính trị càng ngày càng lớn mạnh, tự coi mình như là một chủ thể thuần nhứt, đòi buộc phải có được một loạt các bảo đảm, được tổ chức có cấu trúc thứ tự và theo bậc thang giá trị đối với tổ chức cơ chế Quốc Gia, đang có liên hệ vớì nền quân chủ. b) Nhưng rồi tình hình vừa kể được biến đổi khá rõ rệt, từ cuối thế kỷ 19 trở đi, khi một vài Quốc Gia Âu Châu ( Pháp và Đức Quốc), bên cạnh giới tư sản có của, xuất hiện thêm giới vô sản, sự chênh lệch xã hội bắt đầu trở nên trầm trọng với tiến trình phát triển kỷ nghệ và áp dụng kỷ thuật máy móc vào kỷ nghệ. Trong Quốc Hội, mối tương phản giữa cơ chế Quốc Gia quân chủ và giới tư sản có của không còn được đặt nặng thành vấn đề, nhứt là sau các cuộc Cách Mạng lật đổ nền quân chủ, cho bằng là mối tương phản giữa giới tư sản ( bourgeoisie) và giới vô sản ( prolétariat) trong xã hội dân sự. Mối tương phản mới vừa phát sinh giữa hai phe đối nghịch vứa kể, tạo ra tình trạng dẫm chưn tại chỗ giữa hai nhóm chính đảng, mà không nhóm nào có khả năng chiếm quyền thượng đẳng. Trong bối cảnh vừa kể, hình ảnh Quốc Gia Pháp Trị được thay đổi sâu đậm: các loạt bảo đảm không còn được hiểu là bảo đảm cho thành phần tư sản chống lại hệ thống hành chánh của nền quân chủ, mà là làm sao thiết định một định chế gồm các điều khoản luật bảo đảm mối quân bình giữa hai phe tư sản và vô sản, giữa chủ và thợ. Như vậy quan niệm Quốc Gia Pháp Trị trong Hiến Pháp Weimar 1919 Đức Quốc trở thành - " lằn mức ranh giới giữa hai nhóm đang chống đối, kéo dài và không dễ gì thoả hiệp bằng luật pháp, để phân chia quyền lực giữa hai nhóm với nhau" ( Schmith C., Legalitaet und Legitimitaet, Munchen - Leipzig, 1932, trad. it., Le categorie del politico, Zanichelli, Bologna 1972, 211-223). Nói một cách nôm na, các tổ chức cơ chế Quốc Gia bị " trung hoà hoá " ( neutralisées): Quốc Gia không còn được là Quốc Gia Pháp Trị, theo quan niệm cổ, mà chỉ còn là " một cơ chế luật định ", được thiết lập để bảo đảm mức thăng bằng giữa hai giới đối lập. Trong bối cảnh đó, Quốc Gia Pháp Trị thường được các lực lượng bảo thủ dùng để hảm thắng các tư tưởng mới mẻ về định chế Quốc Gia, được hai phe tư sản và vô sản thoả thuận ký kết ( Kichheimer O., Funktionen des Staates und der Verfassung, Frankfurt 1972, 251s). Các nổ lực tìm cách kết hợp nguyên tắc tự do Quốc Gia Pháp Trị với các đòi hỏi của các giới xã hội gần đây vẫn tiếp tục nghiêng cứu và khai triển thêm quan niệm được đề cập. c) Đó là quan niệm Quốc Gia Dân Chủ và Xã Hội. Trong khi quan niệm Quốc Gia Pháp Trị được đặt trên nền tảng cá nhân chủ nghĩa về phương diện nhân bản, chính trị, kinh tế, - trong đó Quốc Gia được đặt trong các lằn mức pháp định để không làm tổn thương đến tự do cá nhân, ảnh hưởng đến tự do thị trường, - thì quan niệm Quốc Gia Dân Chủ và Xã Hội sửa đổi các quan niệm liên quan đến cá nhân, bằng định hướng quy trách cho cơ chế Quốc Gia, không những không được vượt quá lằn mức pháp định vi phạm các quyền căn bản của cá nhân ( tự do tiêu cực, Chính quyền không được...), mà còn có nhiệm vụ can thiệp vào việc kiểm soát và thiết định chương trình, để định hướng và phối hợp các tự do hoạt động kinh tế, công cũng như tư, nhằm mục đich bảo vệ cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân phát triển, mà cũng đưa lại lợi ích cho cuộc sống cộng đồng xã hội ( Forsthoff E., Begriff und Wesen des sozialenRechtsstaates, Berlin 1954; id., Le Repubblica Federale tedesca come stato di diritto e stato sociale, RTDP, 1956, 544ss). Và đó là những gì đã được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức và Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố xác nhận: - " Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Dân Chủ và Xã Hội" ( Điều 20, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - " Nền Cộng Hoà Nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép cá nhận triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thự vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). * " mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình", * " và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở". Thăng Tiến con người và Thăng Tiến Xã Hội là cùng đích của tổ chức Quốc Gia. Ước gì khuôn mẫu tổ chức Quốc Gia Pháp Trị hay Quốc Gia Dân Chủ và Xã Hội của các Quốc Gia Âu Châu nói chung và của hai Quốc Gia vừa đề cập nói riêng, cũng sẽ là khuôn mẫu tương lai cho Cộng Đồng Xã Hội Việt Nam, một khi chế độ độc tài, chà đạp con người và bần tiện hoá xã hội, bị dân chúng Việt Nam đồng loạt đứng lên dẹp bỏ đi.

 

( Góp ý với bài “ Bảo hiến và kiểm soát tính hợp hiến” của Ls Trần Thanh Hiệp, trả lời ý kiến ông Vũ Mão, chủ tịch Ủy Ban đối ngoại Quốc Hội CSVN, về việc thành lập cơ quan bảo hiến nằm trong Quốc Hội ). Trước hết để hoàn tất câu văn ngắn ngủi được nêu lên làm tựa đề của bài viết, người viết xin được xin được bổ túc cho hoản hảo: “ Viện Bảo Hiến đứng giữa và đứng trên các lực lượng phe phái và cơ chế Quốc Gia”. Ngày 15-04.2006, Ls Trần Thanh Hiệp, nhân cuộc phỏng vấn của BTV Nguyễn An đài Á Châu Tự Do, đã trả lời cho ý kiến của ông Vũ Mão đề nghị CSVN cho thành lập “ cơ quan bảo hiến nằm trong Quốc Hội ”. Lời đề nghị trên đã được Ls Trần Thanh Hiệp coi như là một tư tưởng vô giá trị, “ vừa cũ vừa mới ”, chẳng có lợi ích gì cho dân tộc, bởi lẽ một “ cơ quan bảo hiến” như vừa kể, “ … trên thực tế, nó không thể tối cao đối với Đảng, vì Quốc Hội trước sau vẫn chỉ là công cụ của Đảng” ( trg. 1-2). Sau đó Ls Hiệp tiếp tục: “ …cơ quan bảo hiến dự trù mà ông Vũ Mão đã đưa ra, tôi nhận thấy rằng sáng kiến nầy của nhà cầm quyền Hà Nội” ( trg. 2). Và để nói lên tính cách vô ích của một cơ chế như vừa kể, Ls Hiệp đã không ngần ngại vạch mặt chỉ trán, “ nói toạt móng heo”: 1 “ Nếu nhiệm vụ cơ quan Bảo Hiến sắp được thiết lập trong tương lai chỉ là để bảo vệ Hiến Pháp 1992, thì nó không thể lấy bất cứ sáng kiến nào đi ngoài những gì đã đưọc qui định trong đạo luật cơ bản nầy…, trong đó Đảng Cộng Sản giữ độc quyền lãnh đạo, kinh tế phải được định hướng theo xã hội chủ nghĩa, và mọi nhân quyền, dân quyền đều do pháp luật công cụ cầm quyền đảng trị ban phát ” ( trg. 3). Còn nhiều đoạn khác nữa Ls Hiệp đã “ nói toạt móng heo”, nói lên tính cách vô ích của cơ quan Bảo Hiến “ cò mồi ” để lường gạt dư luận, mị dân của ông Vũ Mão được Ls Hiệp đề cập đến, thiết tưởng không cần lập lại. Điều chúng tôi muốn đề cập đến, nhân dịp bài phỏng vấn của Ls Hiệp, là cùng nhau suy nghĩ, dựa trên kinh nghiệm của các nước văn minh Tây Âu, để đề nghị một Viện Bảo Hiến “ có ích lợi ” để “ bảo vệ nhân phẩm và dân chủ ” cho dân tộc Việt Nam. Danh từ Viện Bảo Hiến của chúng ta có đồng nghĩa với “ Bundesverfassungsgericht ” (Đức Ngữ), “ Corte Costituzionale” ( Toà Án bảo vệ Hiến Pháp, Ý Ngữ), “ Cour Suprême” ( Tối Cao Pháp Viện, Pháp Ngữ) và “ Supreme Court of Justice, Anh Ngữ). Qua tất cả các danh từ của ngôn ngữ Tây Âu vừa kể để chỉ Viện Bảo Hiến ( Cơ Quan Bảo Vệ Hiến Pháp), chúng ta thấy Viện Bảo Hiến là một cơ quan tư pháp tối cao, có quyền xử án, phán quyết, phạt vạ: là một Toà Án ( Corte, Cour, Court), có quyền tuyên án phạt cả cơ quan tư pháp thường nhiệm. Và với tư cách là một Cơ Quan Tư Pháp ( tối cao), Viện Bảo Hiến phải có tất cả những đặc tính của một cơ quan tư pháp, để hành xử quyền lực Quốc Gia của mình. Những đặc tính đó là “đứng giữa và đứng trên” mọi thành phần, khuynh hướng và cơ chế Quốc Gia, nhờ đó Viện Bảo Hiến mới hành xử quyền bính của mình một cách không thiên vị và bị lệ thuộc. Có như vậy, Viện Bảo Hiến mới là cơ quan tối cao, lấy Hiến Pháp làm tiêu chuẩn, có thẩm quyền phán quyết tính cách hợp hiến hay vi hiến các đạo luật được Hành Pháp và nhiều chủ thể khác dự thảo, Quốc Hội chuẩn y và các cơ quan Hành Chánh liên hệ giải thích để áp dụng luật pháp vào cuộc sống thực tế ( Maunz- Durig- Herzog-Scholz, Grundgesetz Kommentar, Munchen 1979, 216). Viện Bảo Hiến không bênh vực tổ chức Quốc Gia, mà bênh vực Hiến Pháp ( Grundgesetz), Luật Lệ Nền Tảng trên đớ Quốc Gia được đặt nền móng và xây dựng, nếu không muốn tổ chức Quốc Gia bị phá sản, sụp đổ. Với tư cách là Cơ Quan Tư Pháp ( tối cao), có quyền xét xử, tuyên án và phạt vạ, mọi cơ chế quyền lực Quốc Gia, Lập Pháp, Hành Pháp và cả Tư Pháp thường nhiệm, Viện Bảo Hiến phải có đặc tính của một Cơ Quan Tư Pháp. Đặc tính vừa kể của cơ quan tư pháp được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố: - “ Các thẩm phán có quyền độc lập và chỉ phải tuân hành luật pháp”, (Điều 97, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Và vì Viện Bảo Hiến là một Cơ Quan Tư Pháp tối cao, để bảo vệ Hiến Pháp, và vì Hiến Pháp có trước và ở trên luật pháp do Quốc Hội “ chuẩn y ”, nên chúng ta có thể nói một cách tương tợ : “Các thẩm phán của Viện Bảo Hiến độc lập và chỉ phải tuân hành các điều khoản luật Hiến Pháp”. Tính cách “ đứng giữa và đứng trên ” mọi cơ chế quyền lực Quốc Gia vừa kể của Viện Bảo Hiến được thể hiện qua cách tuyển chọn và thẩm quyền của Viện. a) Cách tuyển chọn: Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, Viện Bảo Hiến gồm hai Văn Phòng ( Senate). Mỗi Văn Phòng gồm có 8 vị Thẩm Phán và phải có ít nhứt là 3 Vị Thẩm Phán thuộc Tối Cao Pháp Viện Liên Bang. Các Thẩm Phán phải được tuyển chọn với đa số tuyệt đối, phân nữa do Hạ Viện và phân nửa do Thượng Viện. Sở dĩ các Vị phải được tuyển chọn với đa số tuyệt đối là vì phải là những người có khả năng luật pháp và uy tính, do trọng trách mà các Vị phải đảm nhận ở Viện Bảo Hiến Liên Bang. - Tưởng nên nhắc rằng Hạ Viện Liên Bang do cuộc phổ thông đầu phiếu bầu lên. Như vậy một khi được bầu lên, Hạ Viện được dân chúng toàn quốc kính trọng và giao quyền tối thượng của Quốc Gia, thay mặt mình, ở địa vị thượng đẳng hơn mình để hành xử quyền lực Quốc Gia. Từ đó chúng ta hiểu được rằng 8 Vị Thẩm Pháp của Viện Bảo Hiến được các Dân Diểu Hạ Viện đồng thuận bầu lên với số phiếu đa số tuyệt đối, là những Vị ở vi thế thượng đẳng hơn Hạ Viện, có quyền thay cho Hạ Viện phán quyết tính cách vi hiến hay hợp hiến đối với cách hành xử của bất cứ cơ chế nào của Quốc Gia, kể cả đối với Hạ Viện. - Cũng vậy, 8 Vị Thẩm Phán khác của Viện Bảo Hiến do Thượng Viện bầu lên. Chúng ta nên nhớ là thành viên của Thượng Viện Cộng Hoà Liên Bang Đức là những Thượng Nghị Sĩ, thành viên của Chính Quyền các Tiểu Bang, không hẳn đồng chính kiến với đa số đương quyền Liên Bang, được cắt đặt vào Thượng Viện, để bênh vực quyền lợi điạ phương, chống lại mọi cách hành xử lạm quyền của Chính Quyền Liên Bang. Như vậy, các Thượng Nghị Sĩ hợp nhau bầu lên 8 Vị Thẩm Phán Viện Bảo Hiến là nhìn nhận địa vị thượng đẳng của các Thẩm Phán trên mình, thay mình đứng ra hành xử bênh vực Hiến Pháp, nền tảng của Quốc Gia, chống mọi vi hiến lạm quyền bất cứ từ đâu đến ( Pier Giorgio Lucifredi, Appunti di Diritto Costituzionale Comparato, Giuffré, Milano 1992, Giuffré, 126). Nói tóm lại 16 Vị Thẩm Phám Viện Bảo Hiến Liên Bang do Lưỡng Viện Quốc Hội bầu lên , được Quốc Hội công nhận địa vị thượng đẳng hơn Quốc Hội, có quyền phán quyết hợp hiến hay vi hiến các đạo luật được Quốc Hội chuẩn y, cách hành xử của Hành Pháp và phương thức xử kiện của tư pháp để “ bảo vệ con người và thể chế dân chủ ”. Và để bảo đảm tính cách “đứng giữa”, độc lập, không thiên vị, “ nhiệm vụ của các Vị Thẩm Phán Viện Bảo Hiến Liên Bang không thể thích hợp với nhiệm vụ của Dân Biểu Hạ Viện hay Thượng Viện, với nhiệm vụ thành phần Chính Phủ Liên Bang hay Tiểu Bang, nhiệm vụ của bất cứ chức vụ nào khác, ngoại trừ là giáo sư Đại Học Luật Khoa ở Cộng Hoà Liên Bang Đức” ( Pier Giorgio Lucifredi, op. cit., 87-88). b) Thẩm quyền. Viện Bảo Hiến được Hiến Pháp trao cho quyền giám sát và bênh vực Hiến Pháp trong mọi điều kiện giải thích và áp dụng các điều khoản Hiến Pháp vào cuộc sống Quốc Gia. Nói cách khác, để bảo vệ Hiến Pháp, Viện Bảo Hiến có quyền kiểm soát các cơ chế Quốc Gia, Quốc Hội, Chính Quyền và Tư Pháp, từ công quyền đến tư nhân. Viện bảo Hiến kiểm soát và phán quyết tính cách hợp hiến hay vi hiến - các đạo luật do Quốc Hội chuẩn y (Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). - các mối bất đồng giữa Liên Bang và Tiểu Bang hay giữa các Tiểu Bang với nhau (Điều 93, đoạn 1, id.), - ranh giới của quyền và nhiệm vụ của một cơ chế Liên Bang đối với những quyền hạn khác (Điều 93, đoạn 4, id.). - tổ chức và hoạt động, mục đích của các chính đảng (Điều 21, đoạn 1 và 2, id.). - cá nhân hay tổ chức lạm dụng các quyền căn bản của mình chống lại thể chế Nhân Bản và Dân Chủ (Điều 18, id.). - hành xử của cơ quan công quyền vi phạm đến các quyền tự do cá nhân, bị người dân tố cáo (Điều 1, đoạn 1 và 2; điều 33, 38, 103, 104, id.). - các kỳ bầu cử Hạ Viện (Điều 41, id.), - các kỳ bầu cử hay trưng cầu dân ý để phân chia lại lãnh thổ của Liên Bang (Điều 29, đoạn 2 và 6, id.), - các hành động của Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, khi bị Hạ Viện hay Thượng Viện tố cáo (Điều 61, đoạn 1, id.). - các đạo luật và thoả ước quốc tế (Điều 100, đoạn 2, id.). Với trương độ của thẩm quyền như vậy, từ Vị Nuyên Thủ Quốc Gia đến cá nhân của từng người dân, từng cá nhân hay tổ chức đảng phái, từ công quyền đến quyền dân sự, đối nội cũng như đối ngoại. Nói tóm lại, có liên quan đến mọi lãnh vực cuộc sống Quốc Gia. Thẩm quyền với trương độ vừa kể để kiểm soát và phán quyết để bảo vệ Hiến Pháp, nền tảng cho toà nhà Quốc Gia, Viện Bảo Hiến không thể nào chỉ là một cơ quan nằm trong Quốc Hội, ngang hàng với Quốc Hội, một bộ phận, một văn phòng, một chi nhánh của Quốc Hội và chắc chắn cũng không thể nào là một bộ phận được Chính Quyền sáng tạo ra, có phận sự “ vâng dạ, nhất trí ” với Nhà Nước và “ tuân hành tốt lệnh của Đảng ”. Dĩ nhiên ở một vài Quốc Gia trên thế giới , chúng ta cũng có một ít khuôn mẫu của “ Cour Suprême” được gắn liền với Quốc Hội, như “ Cour Suprême ” của Pháp Quốc được Hiến Pháp 1958 xác nhận, khi Tổng Thống De Gaule muốn tăng hiệu năng cho nền Hành Pháp xứ ông, để giải quyết những xáo trộn, bất ổn lúc đó. Nhưng khuôn mẫu của Pháp Quốc có phải là mẫu gương cho chúng ta bắt chước không và tại sao, chúng tôi đã có dịp bàn đến trong bài PHÁP QUỐC VÀ BÁN TỔNG THỐNG CHẾ. Điều chúng tôi muốn suy nghĩ ở đây là không biết là suy tư được ông Vũ Mão đưa ra, đưa ra để mà đưa ra, đưa ra để nói rằng “ Đảng và Nhà Nước mình cũng lưu tâm đến dân chủ ra phết đấy chứ ”, nói để mà nói, hay đưa ra thực sự để canh tân , đem lại Nhân Bản và Dân Chủ cho cuộc sống hèn hạ, đáng thương của dân tộc Việt Nam. Nếu ông Vũ Mão và Đảng Cộng Sản của ông là những người không có lòng người cho dân tộc Việt Nam, người viết xin mượn lời của Ls Trần Thanh Hiệp chuyển đến ông và nhóm người của ông: - “ Bảo Hiến ở các nước dân chủ tự do thực sự không phải là nhiệm vụ bảo vệ chế độ phi dân chủ, mà là việc kiểm soát tinh hợp hiến của luật pháp để luật pháp được đích thực dân chủ, tôn trọng triệt để nhân quyền, dân quyền” ( trg. 4-5). Ngược lại, nếu các ông là những người thành tâm thiện chí muốn dân tộc Việt Nam sống tiến bộ, văn minh, Viện Bảo Hiến Cộng Hoà Liên Bang Đức mà chúng tôi vừa trình bày sơ lược, là một đồ án đáng bắt chước. Dân Đức đã chế được MERCEDES, chúng ta không ai đui mù, ngu dại gì đến nỗi không thấy hay không hiểu được giá trị, hãy biết lấy xài !