Tham Khảo >>  Sống Đạo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Phúc Âm Thánh Gioan là Thủ Bản của Khoa Ki Tô Luận ( Christologia), mọi đề tài được lược thuật đều quy hướng về Chúa Giêsu, từ nguồn gốc và bản tính của Chúa Giêsu: - "Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời; Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa " ( Jn 1, 1), Từ thực tại Chúa Giêsu là sự sống của mọi tạo vật: - " Người là sự sống của mọi tạo vật và sự sống là ánh sáng cho nhân loại " ( Jn 1, 3b), đến việc Chúa Giêsu đến để soi sáng và đem lại đời sống vĩnh cữu cho thế gian: - " Ngôi lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” ( Jn 1, 9), và đem đến địa vị con Thiên Chúa cho mọi người: - " Còn những ai tiếp nhận, tức là tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa " ( Jn 1, 12), và cùng với Người được tham dự vào vinh quang của Chúa Cha ban cho Người: - " Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy ân sủng và chân lý " ( Jn 1, 14b). A - Nếu mọi đề tài đều được Thánh Gioan viết quy hướng về Chúa Giêsu như vừa kể, thì trong suốt Phúc Âm của Ngài, Chúa Giêsu là Đấng loan báo để chuẩn bị và ban cho chúng ta Chúa Thánh Linh, Đấng Bảo Trợ và Thầy dạy dỗ, để bênh vực và hướng dẫn người tín hữu Chúa Ki Tô trong cuộc sống tiến về Nước Trời. Duờng như trong suốt cuộc đời trần thế của Người, không có mấy khi mà không có tác động của Chúa Thánh Linh liên hệ. Ngay từ lúc khởi đầu cuộc đời công cộng, Chúa Thánh Thần tác động liên hệ trong cuộc đời Chúa Giêsu được Thánh Gioan Tẩy Giả là nhân chứng xác nhận cho mọi người: - " Ông Gioan làm chứng: tôi đã thấy Thánh Thần tựa chim bò câu từ trời xuống ngự trên Người. Tôi không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: " Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì chính người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn " ( Jn 1, 32-34). Và rồi chính Thánh Gioan , tác giả Phúc Âm, cũng đứng ra làm chứng Chúa Giêsu trao lại Thánh Thần khi Ngài tắt thở: - " Người ta lấy miếng bọt biển để thấm giấm, buộc vào một nhánh hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhấp xong, Chúa Giêsu nói: Thế là hoàn tất! Rồi Người gục đầu xuống và trao Thánh Thần " ( Jn 19, 29-30), cũng như lúc Chúa Giêsu thổi hơi trên các Môn Đệ, ban cho các Vị Chúa Thánh Thần trong niềm hân hoan Phục Sinh: - " Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ " ( Jn 20, 22-23). Ngoài trường hợp ở hai cực điểm , tử nạn và phục sinh, của cuộc đời Chúa Giêsu, trong đó các cử chỉ của Chúa Giêsu là cử chỉ thụ động, đối với Chúa Thánh Thần. Trong các biến cố khác, cử chỉ của Ngài trở nên tích cực hơn, nhứt là trong lúc thốt lên những lời cáo biệt. Chúa Giêsu dạy các Môn Đệ nhiều chi tiếc hơn về chức năng và nhiệm vụ của Chúa Thánh Linh, được quy tóm trong 5 lời huấn dụ: a ) " Thầy sẽ xin Cha Thầy và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến và ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần của chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em, anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em " ( Jn 14, 16-17). b ) " Các điều đó Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 25-26), c ) " Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thánh Thần của sự thật, phát xuất từ nơi Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy " ( Jn 15, 6 ), d ) " Song Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy ra đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em " ( Jn 16, 7 ). e ) " Khi nào Thánh Thần sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự toàn vẹn.Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em " ( Jn 16, 13-14). Những huấn dụ trên là những lời tiên báo về Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ can thiệp và làm hoàn hảo công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, sau khi Người được vinh quang, đánh dấu thời điểm mới, thời điểm sau biến cố Phục Sinh, thời điểm của Chúa Thánh Linh, năng động trong Giáo Hội và trong lòng mọi tín hữu Chúa Ki Tô: Như Kinh Thánh đã nói: " Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ được lãnh nhận. ( Jn 7, 38-39). Và chính nhờ Chúa Thánh Thần mà những ai theo Chúa Giêsu được Ngài ban cho ơn thông hiểu Thánh Kinh: - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 45). Điều mà trước đó, trước khi được ban cho Chúa Thánh Thần các ông không hiểu: - " Vậy khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các Môn Đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói " ( Jn 2, 22), - " Lúc đầu các Môn Đệ không hiểu những điều ấy. Nhưng sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh, các ông mới nhớ lại là Thánh Kinh đã chép những điều đó về Người, và dân chúng đã làm y như vậy " ( Jn 12, 16), - " Thật vậy, trước đó các ông chưa hiểu: theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các ông lại trở về nhà mình " ( Jn 20, 9-10). Như vậy Chúa Thánh Thần ở một vị thế hết sức quan trọng trong công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu, " mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh ", làm cho hình ảnh Chúa Giêsu luôn hiện diện nơi các Môn Đệ, qua những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm, theo ánh sáng Thánh Kinh đã viết về Ngài, mà " trước đó các ông chưa hiểu ". B ) Chúa Giêsu nói về Chúa Thánh Thần như là một Đấng Bảo Trợ Khác ( Alter Paraclitus) hay là Thánh Thần của chân lý: Thánh Thần là Đấng ban cho chúng ta và dạy dỗ chúng ta về sự thật của Chúa Giêsu: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác. Đó là Thánh Thần của sự thật…Người luôn ở giữa và ở trong anh em " ( Jn 16, 13). Trước hết trong câu Phúc Âm vừa kể của Thánh Gioan, ai đọc bản văn Hy Lạp, sẽ thấy Thánh Gioan dùng nhân xưng đại danh từ ( pronom personel) sai văn phạm. Nhưng chắc chắn Ngài dùng sai văn phạm một cách cố ý để nói lên vai trò sống động của Chúa Thánh Thần. Bởi lẽ Thánh Thần ( tò pneuma ) trong tiếng Hy Lạp thuộc giới trung tính ( neutre), trong khi đó thì Thánh Gioan dùng nhân xưng đại danh từ " Người " ( ekeinos), trong câu ," Người luôn ở giữa và ở trong anh em ", là đại danh từ thuộc giống nam tính ( masculin). Cũng vậy trong các câu: - " Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Cha Thầy, “Người” ( ekeinos) là Thánh Thần sự thật, phát xuất từ nơi Chúa Cha. “Người sẽ làm chứng về Thầy " ( Jn 15, 26). Khi nào Thánh Thần sự thật đến, " Người " ( ekeinos) sẽ dẫn anh em tới sự toàn vẹn” ( Jn 16, 13 ). Những trường hợp lỗi văn phạm rất có ý nghĩa, không bị trừ điểm lỗi văn phạm, mà còn đáng được tha thứ và đáng khuyến khích! Trong lời hứa ban Chúa Thánh Linh cho các Môn Đệ: " Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em " ( Jn 14, 17), Chúa Giêsu không có ý đề cập đến nhiệm vụ của Chúa Thánh Thần cho bằng sự hiện diện của Người nơi các Môn Đệ và trong các Môn Đệ. Sự hiện diện " ở giữa và ở trong " người tín hữu Chúa Ki Tô đó, dành riêng cho người tín hữu, thế gian không thể hiểu được: " Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng không biết Người. Còn anh em, anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em. ( Jn 14, 16-17). Ở một lần khác hứa với các Môn Đệ, Chúa Giêsu gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em Đấng Bảo Trợ khác. Đó là Thánh Thần của sự thật " ( Jn 16, 13). Như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô có hai Đấng Bảo Trợ: Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ khác cũng có cùng nhiệm vụ như Chúa Giêsu đối với những ai là môn đệ Ngươi, tuy thời gian và phương thức bảo trợ có khác. Chúa Thánh Thần tiếp nối những gì Chúa Giêsu đã thực hiện, sau khi Chúa Giêsu " được rước lên trời " ( Lc 24, 51): - " Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em "”(Jn 16, 14). Chúa Giêsu là Đấng Bảo Trợ cho các tín hữu Người. Người dạy dỗ họ và là Đấng Cứu Thế, đem đến cho họ ơn cứu chuộc. Người không phải chỉ là Đáng Tiền Hô, dọn đường cho Chúa Thánh Thần. Vai trò của Chúa Thánh Thần như vai trò của Chúa Giêsu, nhưng khác trong thời điểm. Và do đó cũng khác trong phương thức hành động. Người được sai đến để biến sự khiếm diện vật chất của Chúa Giêsu, sau khi Ngài về cùng Chúa Cha, thành sự hiện diện mới "trong Thánh Thần ", để các Môn Đệ và những ai theo Người khỏi côi cút như Chúa Giêsu đã hứa: - " Thầy không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em " ( Jn 14, 18). Hoạt động của Chúa Thánh Thần là Bảo Trợ và dạy bảo, hướng dẫn các tín hữu: - " Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). " Dạy bảo anh em mọi điều " là động tác mạc khải cho các tín hữu hình ảnh hoàn hảo của Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần bênh vực và bảo đảm cho các tín hữu khỏi những hiểu biết thiếu sót về Chúa Giêsu. " và làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " không những là động tác nhắc lại những gì bị quên lãng , mà còn là sáng tạo những hiểu biết mới, trong hoàn cảnh mới, ngay cả trong nghịch cảnh, những gì Chúa Giêsu đã giảng dạy và thực hiện để có thể áp dụng. Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ, ( hy ngữ: paràkletos ) , với nhiệm vụ para-kalèo, ad vocatus), là luật sư bênh vực cho người tín hữu trước nghịch cảnh: - " Khi nguời ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều đó: thật vậy, không phải anh em nói, mà là Thánh Thần nói " ( Mc 13, 11). Và nhứt là nhờ Chúa Thánh Thần dạy bảo và hướng dẫn, người tín hữu Chúa Ki Tô biết được cuộc sống liên kết thân tình giữa họ, Chúa Cha và Chúa Giêsu: - " Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em " ( Jn 14, 20). Cuộc sống thân tình đó của người tín hữu với Chúa Cha và Chúa Giêsu, được Chúa Thánh Thần làm cho họ ý thức, vì chính Ngài sống ở nơi họ và trong họ: - " Đó là Thánh Thần sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em, anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em” ( Jn 14, 17). Đó là cuộc sống ân sủng tuyệt diệu của người Ki Tô hữu. Đới sống Ki Tô hữu không phải chỉ gồm tóm những hiểu biết và tuân giữ một loạt những giới răn cấm đoán " không được làm " một cách sợ sệt như người nô lệ, mà là cuộc sống thân tình trong Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, được Chúa Thánh Thần sống trong họ và làm chứng cho họ. Đó là những gì Thánh Phaolồ viết cho các tín hữu Galati: - " Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Giêsu sống trong tôi " ( Gal 2, 20). Có Chúa Ba Ngôi trong tâm hồn, người tín hữu Chúa Ki Tô đang sống cuộc sống thiên đàng ngay giữa trần gian, với Chúa Thánh Thần là Bảo Trợ, Thầy dạy và hướng dẫn.

 

A - Có lẽ để tránh cho bài đọc quá dài trong Thánh Lễ, Thánh Bộ Phụng Vụ đã cắt đi hai câu rất có ý nghĩa để hiểu được đoạn Phúc Âm hôm nay. Đó là hai câu ( Lc 24, 44-46), chúng ta thử đặt lại vào văn mạch toàn bộ để tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc mà Thánh Luca muốn chuyển đến chúng uta trong đoạn Phúc Âm: - " Rồi Người phán: Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Moisen, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy, đều phải được ứng nghiệm. Bây giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh và Người phán: Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki Tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cỏi chết sống lại " ( Lc 24, 44-46). Hai câu Phúc Âm vừa kể thuật lại cho chúng ta biết nền tảng của cuộc sống và sứ mạng người Ki Tô hữu: Chúa Giêsu Phục Sinh ban cho Giáo Hội vừa mới khai sinh Chúa Thánh Linh để được soi sáng thấu hiểu Thánh Kinh, nền tảng chương trình và phương thức cứu rỗi của Thiên Chúa đối với nhân loại: - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 45). Bởi vì Thánh Kinh không những đề cập cho cho chúng ta về Chúa Giêsu, mà còn nói đến Chúa Cha , phẩm giá con người và chương trình an bài của Chúa Cha để cứu rỗi con người chúng ta, sau những gì bất hạnh xảy ra với nguyên tội: - " Có lời Thánh Kinh chép rằng: Đấng Ki Tô phải chịu khổ hình rồi ngày thức ba từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 46-47). Món quà tặng vừa kể mà Chúa Giêsu Phục Sinh ban tặng cho Giáo Hội tiên khởi của Ngài, - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh ", đã được các thiên thần đề cập đến với các phụ nữ bên ngôi mộ trống: - " Sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilea, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại " ( Lc 24, 5-7). Rồi Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đã đề cập đến với hai Môn Đệ Emmaus bằng cách vừa trách cứ vừa giải thích cho trí nhớ kém cỏi và chậm hiểu những gì Người đã nói với các ông: - " Anh em chẳng hiểu gì cả! Lòng trí anh em thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ. Nào Đấng Ki Tô chẳng phải chịu khỗ hình như thế, rồi mới vào vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Moisen và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong cả Sách Thánh " (Lc 24, 25-27). Món quà tặng đã được đề cập đó, chính trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu trao tặng cho các Môn Đệ, cho Giáo Hội vừa mới khai sinh của Người và cho chúng ta con cái được sinh ra trong Giáo Hội: - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 45). Và chính Chúa Giêsu , hơn ai hết, không những là người có thể chú giải Thánh Kinh cho các Môn Đệ hiểu, như đã giải thích cho các Môn Đệ Emmaus, mà còn chính là người đứng ra thực hiện hoàn tất những gì Thánh Kinh đã viết ra phải được thực hiện: - " Khi còn ở với anh em, Thầy đã nói với anh em rằng tất cả những gì sách luật Moisen, sách các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm " ( Lc 24, 44). Như vậy chỉ sau khi nhận được từ Chúa Giêsu Phục Sinh ơn được "mở trí cho các ông hiểu Thánh kinh " và được soi sáng bởi Thánh Kinh, Giáo Hội mới có khả năng rao giảng Phúc Âm, làm chứng về Chúa Giêsu: - " Chính anh em là chứng nhân những điều nầy " ( Lc 24, 48), để hướng dẫn mọi người đến ơn cứu rỗi: - " Phải nhân danh Thầy mà giảng dạy cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 47). Không có ơn được " mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " mà Chúa Giêsu Phục Sinh trao cho trong Phúc Âm hôm nay, Thánh Phaolồ tốn công sức rao giảng như người lực sĩ múa máy vô ích trong hí trường và chính Thánh Phêrô và Thánh Gioan, sau khi thấy những gì đã xẩy ra trong ngôi mộ trống, mặc dầu " ông đã thấy và tin " ( Jn 20,8), cũng lại lủi thủi trở về nhà: - " Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: Theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó các ông lại trở về nhà mình " ( Jn 20, 9-10). Thay vì có khả năng rao giảng và làm nhân chứng cho Chúa Giêsu. B - Và cũng có lẽ là tiến trình tự nhiên của biến cố, sau khi Chúa Giêsu trao tặng cho các Môn Đệ món quà cuối cùng, món quà được " mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh ", cũng như những lời dặn cuối cùng, - " Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em những điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống " (Lc 24, 49), Chúa Giêsu mới từ giã các Môn Đệ để về cùng Chúa Cha: - " Và đang khi chúc lành thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời " ( Lc 24, 51). Nhưng có lẽ cũng là tiến trình Thánh Luca muốn ngụ ý thuật lại cho chúng ta để hiểu biết tầm quan trọng của biến cố Chúa Giêsu Thăng Thiên hôm nay: không có ơn được thấu hiểu Thánh Kinh và không được Chúa Thánh Thần ở trong chúng ta và soi sáng cho, chúng ta không thể hiểu được ý nghĩa sâu thẩm của biến cố Lễ Thăng Thiên. Dùng từ ngữ Lễ Thăng Thiên ( Ascensio in coelum), chúng ta dùng để diễn tả quang cảnh huy hoàng với ánh sáng chói lọi vinh hiển của biến cố, như các Môn Đệ lúc đó: - " Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa " ( Lc 24, 52). Chúng ta có lý dùng từ ngữ Lễ Thăng Thiên để biến cố vinh quang và niềm hoan hỷ của chúng ta tham dự vào vinh quang của Chúa Giêsu lên trời. Nhưng chúng ta đừng quên một ý nghĩa khác cũng rất quan trọng được diễn tả bằng từ ngữ Chúa Giêsu được rước lên trời ( Assumptio in coelum), được Thánh Luca nói đến trong Phúc Âm hôm nay: - " Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời " ( Lc 24, 51). Trong Thánh Kinh và nhiều lần trong Phúc Âm nói riêng, vì lòng tôn kính Thiên Chúa, nên khi đề cập đến tác động của Người, các tác giả thường dùng động từ ở thể thụ động ( temps passif ) , " được đem lên trời ". Dĩ nhiên khi đọc, chúng ta sẽ tự hỏi: " được ai rước lên trời? ". Và câu trả lời sẽ không có gì khác hơn là " được Chúa Cha rước lên trời " ( a Padre assumptus in coelum). Hiểu được như vậy trong ngôn từ Phúc Âm và trong ngôn từ của Thánh Luca ở đây, chúng ta sẽ thấy rằng Lễ Thăng Thiên không phải chỉ để nói lên một biến cố huy hoàng, nhưng rồi biến mất đi sau đó, như để đánh dấu một giai đoạn dài mất tâm tích của Chúa Giêsu, mà là nói cho chúng ta sứ mạng của Chúa Giêsu đã hoàn tất và nhân loại chúng ta cũng được dự phần vào vinh quang của Ngài. Động từ ở thể thụ động nói lên động tác của Chúa Cha, " Chúa Giêsu được Chúa Cha rước lên trời" : Chúa Cha vinh thăng Chúa Giêsu trên thiên quốc. Lễ Thăng Thiên là niềm an ủi lớn lao cho nhân loại chúng ta, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn trung thành đối với những gì Người đã hứa. Người đã khởi công cứu chuộc chúng ta bằng việc sai Chúa Giêsu đến với chúng ta. Giờ đây, Chúa Giêsu đã trung thành hoàn tất công cuộc cứu rỗi của Ngài. Chúa Cha vinh thăng Ngài và chúng ta cũng sẽ được Chúa Cha đem lên trời ( assumpti in coelum) nhân danh Chúa Giêsu: - " Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu tử Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 47) . Ngoài ra Chúa Giêsu được Chúa Cha đem lên trời với cả bản tính nhân loại của Người. Vinh danh Chúa Giêsu với cả bản tính nhân loại của Người, Chúa Cha cũng vinh danh cả nhân loại chúng ta, lý do để tất cả chúng ta, những ai " tin vào danh Người ", " sám hối để được ơn tha tội. Chúa Giêsu là vị Tổ Phụ Adong mới của cả họ tộc nhân loại mới, sẽ vào Nước Trời, nhờ công cuộc cứu rỗi của Người. Bởi đó Thánh Leo Cả ( Leo Magnus) đã tuyên bố một câu rất ý nghĩa: - " Lễ Thăng Thiên của Chúa Giêsu chính là Lễ Thăng Thiên của tất cả chúng ta, và ở nơi đâu Người đã đến trước chúng ta trong vinh quang của Cái Đầu, ở đó niềm hy vọng của thân thể cũng được kêu gọi ". Chúa Giêsu Thăng Thiên, hay đúng hơn Chúa Giêsu được Chúa Cha đem lên trời (Assumptio in coelum), không phải để đánh dấu thời điểm từ biệt và Chúa Giêsu không còn nữa, mà là Chúa Giêsu hiện diện dưới hình thức khác: * Chúa Giêsu luôn luôn hiện diện trong Thánh Kinh " Bấy giờ người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 25). * Chúa Giêsu hiện diện trong Chúa Thánh Linh: " Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều gì Cha Thầy đã hứa " ( Lc 24, 49), * Chúa Giêsu hiện diện trong Cộng Đồng Giáo Hội nhân danh Chúa Giêsu rao giảng Phúc Âm cứu rỗi: " Phải nhân danh Thầy mà rao giảng cho muôn dân, bắt đấu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều nầy " ( Lc 24, 47-48). * Mừng Lễ Thăng Thiên hay Lễ Chúa Giêsu được Chúa Cha đem lên trời trong vinh quang, nhắc cho chúng ta hướng chúng ta đến ngày cánh chung: - " Hỡi người Galilea sao còn đứng đó mà nhìn lên trời? Chúa Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời thế nào, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời " ( Act 1, 11). Chúa Giêsu là người anh trưởng của dân tộc mới trong Nước Trời, là Chúa của tất cả mọi người, đã được Chúa Cha ban cho quyền phán xét kẻ sống và kẻ chết: - " Người đã gởi đến cho con cái nhà Israel lời loan báo Tin Mừng bình an, nhờ Chúa Giêsu Ki Tô là Chúa của mọi người. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết " ( Act 10, 36.42). * Và sau cùng, theo lời dặn của Chúa Giêsu các Môn Đệ chỉ bắt đầu sứ mạng của các Ngài sau khi đã nhận lãnh Chúa Thánh Thần: - " Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống " ( Lc 24, 49). Bởi vì Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ và là Thầy dạy dỗ cho chúng ta những gì phải theo: - " Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, ngay khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều Thầy đã dạy bảo anh em " ( Jn 14, 25-26). * Tuân theo lời dặn đó, các Môn Đệ trở lại trong thành, rồi luôn ở trong Đền Thờ cầu nguyện, chờ đợi nhận được Chúa Thánh Thần: - " Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa " ( Lc 24, 52). * Trong thời gian chuẩn bị để đón nhận Chúa Thánh Thần, các Môn Đệ hợp nhau tỉnh tâm cầu nguyện cùng với Mẹ Maria: - " Tất cả các ông đều đồng tâm hợp ý, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với Đức Maria, thân mẫu Chúa Giêsu, và với anh em của Người " ( Act 1, 14). Ước gì trong tuần lễ sắp tới đây, sau Thánh Lễ Thăng Thiên hôm nay, tuần lễ chuẩn bị để đón nhận Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, như Chúa Giêsu đã hứa, tất cả chúng ta Cộng Đồng Dân Chúa cùng hợp nhau, tĩnh tâm cầu nguyện với sự hiện diện của Mẹ Maria để chuẩn bị xứng đáng đón rước Người, - " Đấng Bảo Trợ và Đấng dạy anh em mọi điều Thầy đã dạy bảo anh em ".

 

Chắc chắn Thánh Bộ Phụng Vụ trích đoạn Phúc Âm hôm nay của Thánh Gioan ( Jn 14, 23-29) với hai ý tưởng để chuẩn bị tinh thần chúng ta trước hai biến cố trọng đại, - mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, Chúa Nhật tới -và lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Chúa Nhật kế tiếp. Ý nghĩa để chuẩn bị tinh thần chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên được đề cập đến qua câu Phúc Âm: - " Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng, vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy " ( Jn 14, 28). Và để dọn lòng chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta được câu Phúc Âm sau đây nhắc nhở: - " Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). Những gì liên quan đến lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên và lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta sẽ có dịp suy niệm ở các Chúa Nhật liên hệ. Nội dung bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay thuật lại cho chúng ta di chúc của Chúa Giêsu cho các Môn Đệ, nhân dịp môn đệ Giuda Taddeo ( không phải Giuda Iscariota, người sẽ phản bội Ngài) đặt một câu hỏi là tại sao Chúa Giêsu lại chỉ muốn tỏ mình cho các Vị, thay vì bày tỏ tài năng và vinh hiển của Ngài cho mọi người biết: - " Ông Giuda, không phải Iscariota, nói với Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình cho chúng con, mà không tỏ mình cho thế gian? " ( Jn 14, 22). Những gì Chúa Giêsu nói với các Môn Đệ trong Phúc Âm hôm nay, mặc dầu không đề cập đến Giuda, nhưng một cách gián tiếp Người cho thấy câu hỏi của môn đệ Giuda không phải là cách hiểu biết của một người Môn Đệ, cũng như trong dịp lễ Lều Người đã từ chối đáp ứng lại ước vọng được nổi danh, nổi tiếng của " các anh em " gợi ý và khuyến khích Người: - " Lễ Lều của người Do Thái gần tới, anh em Chúa Giêsu nói với Người: Ông bỏ đây mà lên miền Giudea đi, để cả môn đệ của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, vì không ai ,muốn nổi danh mà lại hoạt động âm thầm. Nếu ông làm những việc ấy, thì hãy tỏ mình cho thiên hạ biết " ( Jn 7, 2.4 ) Trong dịp lễ Lều Chúa Giêsu có lên Đền Thờ dự lễ, nhưng vào một lúc khác, không tùy thuộc vào các lời gợi ý của " các anh em " Người. Cũng vậy trong chương 14, mà đoạn Phúc Âm hôm nay được trích ra, Chúa Giêsu đề cập đến việc Người sẽ tỏ mình ra cho Môn Đệ, nhưng là cách tỏ mình khác với quan niệm cho thiên hạ biết để được nổi danh mà Giuda đề nghị: - " Ai tiếp nhận và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến và sẽ tỏ mình ra cho người ấy " ( Jn 14, 21). Mặc dầu trong câu trả lời, Chúa Giêsu không đề cập đến lời gợi ý của Giuda tỏ cho thiên hạ biết để được danh tiếng, như trước đó Người đã có dịp nói thẳng với Philipphê: - " Chúa Giêsu trả lời: Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? " ( Jn 14, 9-10). Tuy không đề cập đến Giuda, cũng không nhắc lại Philipphê, nhưng những lời dạy bảo các Môn Đệ trong đoạn Phúc Âm hôm nay là những câu nói nối tiếp những gì Chúa Giêsu đã bắt đầu nói với Philipphê. Điều đó cho thấy cả hai Môn Đệ chưa có cùng một tâm tình như những gì Chúa Giêsu muốn dạy các Vị. - " Thầy sẽ yêu mến người ấy và tỏ mình ra cho người ấy " ( Jn 14, 21). 1 - Chúa Giêsu tỏ mình ra thế nào cho người yêu mến Người ? Đây là câu trả lời tuyệt diệu mà chúng ta muốn suy niệm hôm nay: - " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy " ( Jn 14, 23). Như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, không phải là người sống cách biệt với Thiên Chúa, Đấng mà mình thờ phượng , như là một tín hữu sụp lạy trước một vị thần cách biệt ngự trên bục cao. Người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, " yêu mến và tuân giữ lời Thầy ", là người có Thiên Chúa Ba Ngôi đến ngự và sống trong chính con người của mình. Viết đến đây, tôi nhớ lại lúc còn làm học trò giúp lễ , tôi được nghe hát một bài thánh ca rất cảm động diễn tả một cách tuyệt diệu câu Phúc Âm vừa kể: " Chúa ở cùng con, con ở cùng Chúa. Chúa hợp với con cho đến trọn đời. Người là của con, và con của Chúa Đời con sống, vì Chúa sống trong con... " . Hiểu được như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng là người có " Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ". Người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng là người đang sống cuộc sống thiên đàng ngay ở trần gian, vì có Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn hạnh phúc bất diệt, là thiên đàng trong con người của mình. Vì ở đâu có Thiên Chúa, thì ở đó có Thiên Đàng. Thánh Phaolồ cũng không diễn tả gì khác hơn, khi Ngài nói người Ki Tô hữu là phần thân thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu: - " Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Chúa Ki Tô sao? " (1 Cor 6, 15). Và mỗi tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, " yêu mến và tuân giữ lời Thầy ", là đền thờ của Chúa Thánh Thần: - " Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao? " ( 1 Cor 6, 19). Người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng là sống thông hiệp với bản tính Thiên Chúa, sống thông hiệp với đời sống của Chúa Ba Ngôi, có " Cha Thầy và Thầy đến và ở lại với nguời ấy ". Hay nói như Thánh Phêrô: - " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa " ( 2 Pt 1,4). Hiểu được như vậy, chúng ta sẽ hiểu được tại sao bất cứ ai, bất cứ ý thức hệ nào đàn áp, không tôn trọng con người, đê tiện hóa phẩm giá con người, là cá nhân đó, ý thức hệ đó, đối với Ki Tô giáo, xúc phạm không phải chỉ đối với con người , mà là xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Và cũng chính trong lời tuyên bố ủy thác lại kho tàng qúy báu cho các Môn Đệ và cho chúng ta, con cái các Ngài trong đức tin, có " Cha Thầy và Thầy đến và ở lại với người ấy ", Chúa Giêsu cũng trao cho chúng ta một phương thức mới để sống đức tin: - " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy " ( Jn 14, 23). Người tín hữu Chúa Ki Tô tin vào Người và ý thức tuân giữ các giới răn Người truyền cho, không phải với thái độ co ro cúm rúm sợ sệt của người nô lệ, mà sống bằng tình thương mến Thầy trò, tình nghĩa Cha con: - " Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con, thì cũng là người thừa kế, nhờ ơn Chúa " (Gal 4, 6-7). 2 - Và rồi ngoài ra phần thưởng chắc chắn cho những ai yêu mến Người, mà Chúa Giêsu cam kết với các Môn Đệ, " Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ", Chúa Giêsu còn hứa ban cho các Vị Chúa Thánh Linh, là Đấng Bảo Trợ là bảo chứng thật sự Thiên Chúa đang hiện diện , sống trong tâm hồn người Ki Tô hữu; chứng thật chúng ta là con cái Ngài: - " Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : Abba, Cha ơi !...". Và Chúa Thánh Linh sẽ dạy bảo chúng ta và làm cho các Vị nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã dạy, nhứt là trong những lúc khó khăn của cuộc sống: - " Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 25-26). Như vậy, cuộc sống của người tín hữu Chúa Ki Tô không phải là cuộc sống mù mịt, bấp bênh, không định hướng và không có gì chắc chắn để bảo chứng cho cuộc sống đời đời hạnh phúc với Thiên Chúa. Cuộc sống Ki Tô hữu là cuộc sống được chính Thiên Chúa bảo trợ: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi " ( Jn 14, 18.27). Người tín hữu Chúa Ki Tô là người có Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong tâm hồn: - " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy " ( Jn 14, 23). Người tín hữu Chúa Ki Tô luôn luôn được Chúa Thánh Thần Bảo Trợ và dẫn dắt, nhứt là trong những thử thách của cuộc sống: - " Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ đến nhân danh Thầy. Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). Và người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, " yêu mến Thầy, tuân giữ lời Thầy ", " chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, ta biết chúng và chúng theo Ta " ( Jn 10, 27), được chính Thiên Chúa toàn năng bảo đảm cho sự sống hạnh phúc đời đời với Ngài: - " Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta. Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Ta và Chúa Cha là một " ( Jn 10, 29). Và người đã hứa và đứng ra bảo đảm cho chúng ta chắc chắn cuộc sống hạnh phúc đó với Thiên Chúa, không ai khác hơn là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa: - " Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và anh em tin mà được sống nhờ danh Người " ( Jn 20, 31).

 

IV-C25 - THẦY BAN CHO ANH EM MỘT ĐIỀU RĂN MỚI: ANH EM HÃY THƯƠNG YÊU NHAU NHƯ THẦY Đà YÊU THƯƠNG ANH EM . A - “Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người ” ( Jn 13, 31). Nếu chúng ta chú ý đọc câu Phúc Âm vừa kể của Thánh Gioan, chúng ta sẽ không khỏi tự hỏi " giờ đây ", " lúc nầy đây " trong câu Phúc Âm vừa kể có nghĩa gì? Nếu nói đến " giờ đây ", " lúc nầy đây ", " ngay bây giờ " là chúng ta giả sử có những gì đã xảy ra trước đó và những gì sẽ xãy ra kế tiếp, sau khi chúng ta xác định thời điểm của biến cố quan trọng mà chúng ta muốn chú tâm đặc biệt. Không những không mấy khi chúng ta chú ý đến yếu tố thời gian tính đặc biệt lúc Chúa Giêsu thốt lên bằng những lời đầu tiên trong câu nói của Ngài, " giờ đây ", mà cả nhiều nhà chú giải Thánh Kinh ( exégistes) cũng không mấy khi bàn đến. Xác định thời điểm " giờ đây ", " lúc nầy đây ", Chúa Giêsu liên tưởng đến những gì đã xảy ra trong quá khứ cho đến lúc đó. Đọc lại những dòng trước đó của Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta gặp được sự kiện vừa xảy ra là sự kiện Chúa Giêsu chấm miếng bánh, trao cho Giuda và sau khi ăn, Giuda ra đi trong bóng đêm: - " Chúa Giêsu trả lời: Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy. Rồi Người chấm một miếng bánh trao cho Giuda, con ông Simon Iscariot. Y vừa ăn xong miếng bánh, Satan liền nhập vào y " ( Jn 13, 26-27). Giuda cầm lấy miếng bánh được Chúa Giêsu trao cho, ăn xong bị qủy nhập và bỏ ra đi trong đêm tối. Thánh Augustino bình luận rằng không phải chỉ Giuda ra đi trong đêm tối mà chính anh ta đã trở thành đêm tối : - " et erat ipse nox " ( chính con người của Giuda đã trở thành đêm tối). Nêu lên sự ra đi trong đêm tối của Giuda, hay " Giuda chính là đêm tối " ( nói như Thánh Augustino) rút lui trước ánh sáng rạng rở đang chiếu rọi trần gian là Chúa Giêsu, mà Thánh Gioan đã long trọng tuyên bố ngay từ Lời Tựa của Phúc Âm Ngài: - " Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng " ( Jn 1, 5). Như vậy sự ra đi của Giuda trong đêm tối được hiểu như là biểu tượng của bóng tối, " không diệt được ánh sáng ", phải rút lui trước ánh sáng đang rực chiếu cho mọi người: - " Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi cho mọi người " ( Jn 1, 9). Thời gian bóng tối của chết chóc, quyền lực của tội lỗi đã kết thúc và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại đang rực sáng lên nơi Chúa Giêsu. Giai đoạn cuối cùng tiến trình cứu rỗi nhân loại của Thiên Chúa đã điểm với việc ra đi trong bóng tối của Giuda, khởi điểm cuộc khỗ nạn cứu chuộc của Người. Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu tại sao khi Giuda vừa ra đi, Chúa Giêsu liền phán với các Môn Đệ: - " Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người " ( Jn 13, 31). Đối với Thánh Gioan, Chúa Giêsu hiển vinh không phải chỉ sau khi Ngài sống lại từ cỏi chết, mà ngay trong thời điểm " giờ đây " và trong tiến trình cuộc tử nạn của Ngài: - " Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta " ( Jn 12, 32). Và vinh hiển của Chúa Cha và Chúa Giêsu là gì? - " Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người " không có gì khác hơn là mọi người nhận biết Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng nên mình và là người Cha thương yêu mình. Nói cách khác, Thiên Chúa được tôn vinh, được hiểu đồng nghĩa với nhân loại nhận biết Nguời thương yêu họ và sai Chúa Giêsu đến để báo cho họ biết tình thương đó. Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu tại sao khi Giuda ra đi trong bóng đêm, khi bóng đêm của tội lỗi và sự chết rút lui trước sự chiến thắng rạng rở của ơn cứu rỗi nơi con người Chúa Giêsu, Chúa Giêsu có thể thốt lên: - " Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người ". Thời gian quyền lực của tội lỗi và chết chóc đã hết, thời gian kế tiếp là thời gian vinh quang của Thiên Chúa, là thời gian tình thương Cha con của Thiên Chúa cho nhân loại sẽ được lan truyền khắp nơi cho mọi người. Đó là lý do tại sao, sau khi xác định thời điểm " giờ đây " Thiên Chúa được tôn vinh, tiếp đến Chúa Giêsu loan truyền cho chúng ta một phương thức sống mới: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " ( Jn 13, 35). Cách sống mới đó được viết ra thành các điều khoản như thế nào, Thánh Matthêu và Thánh Marco viết ra trong Tám Mối Phước Thật và Thánh Luca ghi lại trong Bài Giảng Dưới Đồng Bằng, như là những điều khoản của một bản Hiến Pháp. B - Và rồi Tám Mối Phước Thật và Bài Giảng Dưới Đồng Bằng mà chúng ta có thể xem là các bản văn giải thích thế nào là " điều răn mới ", cho tương lai của một cuộc sống mới trong nước Thiên Chúa, nơi " Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người ", chúng ta không thấy được một " điều khoản " nào dạy chúng ta phải tôn vinh và yêu thương Thiên Chúa như thế nào. Mọi " điều khoản " của Tám Mối Phước Thật và Bài Giảng Dưới Đồng Bằng đều chung quy về cách hành xử công chính và bác ái đối với anh em, như những gì Chúa Giêsu đã lược tóm trong điều răn mới của Ngài: - "... là anh em hãy thương yêu nhau " . Trong suốt bốn quyển Phúc Âm cũng vậy. Ngoại trừ câu trả lời của Chúa Giêsu cho một kinh sư đến hỏi Ngài: - " Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa là Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi " ( Mc 12, 30), để xác định là điều răn quan trọng nhứt, chúng ta không mấy khi được Chúa Giêsu dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa thế nào. Trái lại - " điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " (Jn 13, 35) được các Phúc Âm không ngừng thuật lại qua lời giảng dạy và động tác của Chúa Giêsu, để giảm bớt đi những nỗi khốn cùng, bất hạnh của những ai đến cầu cứu Ngài: - " Các anh cứ về mà thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người mù được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng " ( Mt 11, 4-5). Yêu thương anh em không trừ ai, dù là kẻ bé mọn, vô nghĩa, tội lỗi, bị đàn áp, khinh bỉ, bị loại ra bên lề xã hội: - " Ta bảo thật các người: Mỗi lần các người làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhứt của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy " ( Mt 22, 40). Tình thương anh em được Chúa Giêsu diễn tả qua lòng quảng đại luôn luôn biết tha thứ cho anh em: - " Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: Thầy không nói là bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy " ( Mt 18, 21-22). Và có lẽ không có tôn giáo nào dạy chúng ta không những tha thứ, không hận thù, mà còn yêu thương chính kẻ ngược đải, xúc phạm đến mình, đến độ chính mình đứng ra thành thật phơi bày nội tâm mình trước mặt Thiên Chúa, thật sự thương yêu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành và ban ơn cho kẻ thù: - " Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đải anh em” ( Mt 5, 44). Tất cả những cách cư xử vừa kể, nói lên thái độ rộng lượng, sẵn sàng hy sinh phải có, chấp nhận thiệt thòi về phiá mình để trợ giúp anh em thoát khỏi nhu cầu, tình trạng khốn cùng của anh em, bất cứ từ đâu đến, ngay cả việc hy sinh mạng sống mình để bênh vực anh em: - " Mục tữ nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến anh ta bỏ chạy…Ta là Mục Tử Nhân Lành…và Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên " ( Jn 10, 11-12.14). Thái độ rộng lượng và chấp nhận cả hy sinh, nếu cần, để bênh vực và giúp đở anh em khỏi nhu cầu và khốn cùng của mình, nhưng nội dung thực tế của " điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau "em> là gì? Trên thực tế, chúng ta phải làm gì để thực sự lợi ích cho anh em, thực thi tình thương chúng ta đối với anh em? Chúa Giêsu không liệt kê cho chúng ta những điều phải làm. Đọc lại " điều răn mới " ( thể chế mới) của Nước Thiên Chúa, khi đêm tối đã bị khuất phục: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " ( Jn 13, 35). Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta một nền tảng mới cho con người mới và xã hội mới trong Nước Trời mà Người đem đến cho nhân loại. Những điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm trong Phúc Âm là những thí dụ diễn tả ý nghĩa nền tảng cho cuộc sống mới đó, chớ không phải hạn hẹp, " chỉ có vậy ", để chúng ta " sao y bản chính ". Chúng ta cần suy nghĩ để tránh ngộ nhận có thể. Đặt lại câu nói vừa kể - " điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " của Chúa Giêsu vào đoạn văn kể lại lúc khởi đầu cuộc Khỗ Nạn của Ngài, chúng ta thấy trước khi Giuda ra đi trong bóng tối, được Chúa Giêsu coi như là khởi điểm, " giờ đây ", của giai đoạn chót Công Trình Cứu Chuộc, Người đã rửa chân cho các Môn Đệ, thể hiện trong thực tế tình thương của Ngài đối với các Vị: - " Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Chúa Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau " ( Jn 13, 4b-5). Và sau cử chỉ thể hiện tình yêu thương đó, Ngài dạy các Vị: - " Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em " ( Jn 13, 12-15). Thay vì hiểu được nền tảng của tinh thần yêu thương, dấn thân bằng hành động, coi trọng anh em và phục vụ ngay cả lúc phải hy sinh mạng sống để bênh vực anh em, cách giải thích Thánh Kinh theo lối " trọn vẹn quá khích " ( intégraliste), chắc chắn bắt buộc chúng ta cũng phải hạ mình, làm nô lệ " rửa chân " cho anh em " như " Chúa Giêsu đã rửa chân cho các Môn Đệ. Người Ki Tô hữu phục vụ anh em bằng con người tự do và lòng yêu thương của mình đối với anh em, chớ không phải hành động như người nô lệ. Người Ki Tô hữu tự hạ mình xuống trước mặt anh em để phục vụ, để anh em được lớn hơn, trổi vượt hơn mình, kính trọng anh em có địa vị là hình ảnh của Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, như chính mình, nhứt là khi anh em bị đàn áp và đê tiện hoá nhân phẩm cao cả của họ. Không thiếu gì những giáo phái " trọn vẹn quá khích " áp dụng Thánh Kinh bằng cách " sao y bản chính " và tự cho là " trung thành tuyệt đối " với lời Chúa dạy. - " Nếu tay chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà được vào cỏi sống, còn hơn là có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời " ( Mt 18, 8). Câu nói trên của Chúa Giêsu được không ít giáo phái áp dụng " sao y bản chính ", cho rằng nếu chúng ta bắt được quả tang các tên trộm cướp, chúng ta phải chặt tay chúng. Nếu không, còn đủ tay đủ chân, anh ta sẽ tái phạm trộm cướp thêm nữa. Tội của anh ta sẽ chồng chất nặng nề thêm, hình phạt đời sau của anh ta sẽ gia trọng hơn và chúng ta phạm tội đồng lõa, vì không " chặt tay, chặt chân ", như lời Phúc Âm dạy bảo. Người Ki Tô hữu được Chúa ban cho trí khôn và sự tự do, giống hình ảnh Ngài ( Gn 1, 27), nên cũng biết dùng trí khôn ngoan đó để " trung gian điều giải " ( mediatio) lời dạy của Phúc Âm vào cuộc sống. Chúng ta không thể áp dụng trực tiếp những giáo huấn tôn giáo vào lãnh vực trần thế, lãnh vực và môi trường khác nhau với những luật lệ cá biệt của trần thế. Giữa huấn dụ nền tảng của tôn giáo và lãnh vực trần thế, chúng ta chỉ có thể áp dụng tinh thần cao cả của tôn giáo vào cuộc sống trần thế qua tiến trình " trung gian điều giải ". Chúng ta bắt được người ăn trộm, thay vì áp dụng trực tiếp Phúc Âm bằng cách " chặt tay, chặt chân " anh ta, chúng ta có thể đặt câu hỏi tại sao anh ta ăn trộm? Phải chăng vì nghèo khỗ, không có gì để sống? Và nghèo khổ phải chăng vì không có nghề nghiệp, không được học hành, không có ai lo lắng trợ giúp anh ta, bị người thân bỏ rơi…? Và câu trả lời cho " điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em " cho thấy chúng ta phải - tạo cho anh có điều kiện được giáo dục, - tạo ra chương trình huấn nghệ, tổ chức kinh tế, kỹ nghệ, thương mại…thế nào để bảo đảm cho mọi người có công ăn việc làm, - xây cất nhà cửa, để anh có nơi ăn chốn ở, - tìm lại người thân hay ít nhứt có được những trung tâm bảo trợ xã hội để anh được nhiều người nâng đỡ tinh thần, làm lại cuộc sống thay vì - tuyệt đối trung thành " trọn vẹn quá khích " với Phúc Âm đến độ chà đạp nhân phẩm con người, con Thiên Chúa bằng cách nhục mạ và " chặt tay, chặt chân ", đàn áp, trấn nước, bịt miệng, coi con người như súc vật, như cách hành xử của một quốc gia mọi rợ nào đó. Nhân dịp kỷ niệm số 3.000 của bán nguyệt san Civiltà Cattolica, một tập san dành cho giới trí thức của các cha Dòng Tên ở Roma, Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI đã cám ơn công lao của cá Vị trong việc phục vụ Giáo Hội và phục vụ anh em bằng những lời sau đây: - " Ta xin được cám ơn các Cha Văn Sĩ của tập san về lòng trung thành đại lượng, hoàn hảo và của các Cha đối với Giáo Hội ". Trung thành không có nghĩa chỉ giới hạn trong việc lập lại một cách trung thực những huấn dụ của Giáo Hội. Lòng trung thành thiết thực, đúng nghĩa và hoàn hảo, khi nào lòng trung thành đó trưởng thành. Điều đó có nghĩa là - " ngoài việc đề cập một cách trung thực những huấn dụ của Giáo Hội, - bên cạnh đó còn có cách trình bày, những lời giải thích với nhãn quang tiên tri và năng động hướng về tương lai (…) để khám phá, - và nếu cần , với dấu chỉ thời đại, tiên đoán được những gì phải làm, tiên đoán được nhu cầu, các phương hướng mở ra cho xã hội và nhứt là cho Giáo Hội đang lữ hành về tương lai ( …)chỉ dẫn cho những người đương thời con đường đúng đắn (…) để cho những huấn dụ của Giáo Hội được mọi người tiếp nhận, ngay cả những ai không tin hoặc những ai đã bị băng hoại lạc hướng ( …) đặt con người thay vào chỗ của Thiên Chúa” ( Paolo VI, Discorso al Collegio degli Scrittori della Civiltà Cattolica, in Civ. Catt. 1975, 521-525). Ước gì những lời vừa trích dẫn của Đức Thánh Cha Phaolồ VI cũng là định hướng để chúng ta thể hiện điều răn mới Chúa Giêsu ban cho chúng ta trong Phúc Âm hôm nay trong cuộc sống thương yêu anh em. Thương yêu anh em - không những chỉ là trạng thái tình cảm xúc động đối với anh em, - mà còn phải được thể hiện bằng nổ lực học hỏi, suy tư và dấn thân hành động như Chúa Giêsu đã làm trong Phúc Âm.

 

Đoạn Phúc Âm hôm nay ( Jn 10, 27-30), được Thánh Gioan kể lại trong bối cảnh lịch sử đầy trở ngại trên bước đường rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu, cũng như bài Phúc Âm về Người Mục Tử Nhân Lành trước đó ( Jn 10, 1-21). Chúa Giêsu gặp trở ngại vì lòng cứng tin và oán ghét của người Do Thái được biến thành hành động cụ thể, họ chửi bới và ném đá Ngài: - " Nhiều người trong nhóm nói: Ông áy bị quỷ ám và điên khùng rồi...Người Do Thái lại lấy đá để ném Chúa Giêsu " ( Jn 10, 20.31). Những lời giảng dạy ngắn ngủi của đoạn Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay, cũng như đoạn Phúc Âm về Người Mục Tử Nhân Lành trước đó, Chúa Giêsu có ý dùng để trấn an và khuyến khích can đảm đối với những ai theo Ngài, trước nghịch cảnh. Đoạn Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay được cấu tạo bằng hai tư tưởng chính: - tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và chiên của Người, - tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. A - Tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và chiên của Người. - " Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta " ( Jn 10, 27-28). a ) Thuộc về đoàn chiên của Chúa Giêsu, khởi điểm của Đức Tin vào Chúa Giêsu bằng cách biết lắng nghe tiếng của Người: - " Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ". Nhưng nghe nói về Người, tìm hiểu học hỏi về Người, nghiên cứu về giáo lý Người giảng dạy là khởi điểm để tiến tới Đức Tin, là trang bị cho mình một số kiến thức cần thiết để có được Đức Tin vững mạnh, « initium fidei » ( khởi điểm của Đức Tin). Nhưng có kiến thức thôi, chưa phải là Đức Tin. Có được Đức Tin là do chính Chúa ban cho chúng ta nhưng không, do hấp lực của Người đối với chúng ta, để lôi kéo chúng ta về phía Ngài : - « Chẳng ai đến được với Ta, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Ta, không lôi kéo người ấy, và Ta, Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết » ( Jn 6, 44). - « Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta » (Jn 12, 32). Đức tin là quà tặng không của Chúa ban cho mỗi người chúng ta, cho những ai tìm kiếm Người, không phải do công lao của chúng ta mà chúng ta đáng được tưởng thưởng . b) Chúa Giêsu xác nhận rõ ràng điều kiện để trở thành chiên của Người : - chiên của Người biết nghe tiếng Ngài : * « Người giữ cửa mở cho anh vào và chiên nghe tiếng của anh. Anh gọi tên từng con rồi dẫn chúng ra » ( Jn 10, 3). * « Khi chiên ra hết, anh đi trước và chúng theo sau, vì chúng nhận biết tiếng anh » ( Jn 10, 4). Như vậy điều kiện hệ trọng đầu tiên để khỏi lạc hướng, lầm lẫn có thể đưa đến hậu quả khó lường được là chiên phải biết nhận ra tiếng mục tử : « anh gọi tên từng con một rồi dẫn chúng ra, vì chúng nhận biết tiếng anh ». Cần nhận ra tiếng của Chúa Giêsu và tiếng của những người đại diện Người, để chúng ta khỏi lạc hướng giữa muôn vàn tiếng nói và ý kiến trong cuộc sống chúng ta. Không phải vô ý thức hay bốc đồng mà Chúa Giêsu đặt nền tảng Giáo Hội Người trên tảng đá Phêrô : - « Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi » (Mt 16, 18). Và cũng không phải vô dụng mà Chúa Giêsu đặt đức tin của chúng ta được bảo đảm trong tay Thánh Phêrô và những Đấng Kế Vị Ngài: - « Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững tin » ( Lc 22, 31-32). Thánh Phêrô và các Đấng Kế Vị Ngài là nền tảng bảo đảm cho đức tin nguyên thủy Chúa Giêsu truyền dạy chúng ta : - « Con tin có Giáo Hội duy nhứt, thánh thiện, công giáo và tông truyền » ( Kinh Tin Kính). Như vậy chiên của Chúa Giêsu biết nghe tiếng Người bằng cách tìm tòi học hỏi những gì Người nói với chúng ta trong Phúc Âm, biết giữ thinh lặng và lắng nghe trong nội tâm lời Người nói với chúng ta trong cầu nguyện, thông hiệp với Người trong Phép Thánh Thể , như « người môn đệ Chúa Giêsu thương mến »( Jn 13, 23) và biết nghe lời chỉ dẫn của Thánh Phêrô và những ai kế vị Người. c) Điều kiện thứ hai để sống cuộc sống môn đệ Chúa Giêsu là « theo Ngài » : - « Ta biết chúng và chúng theo Ta » ( Jn 10, 27). Nhưng cuộc sống môn đệ của chúng ta không phải là cuộc sống mạo hiểm không lý chứng. Chúng ta theo Chúa Giêsu vì chúng ta được Chúa Giêsu cho biết là Người đã biết chúng ta : « Ta biết chúng.», trước khi chúng ta biết Người , « và chúng biết Ta ». Chúa Giêsu biết chúng ta, từng người một, khả năng, cá tính, nếp sống và những khó khăn mà mỗi người phải đương đầu giải quyết : - « anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra » ( Jn 10, 3). Theo Chúa Giêsu không phải là cách sống mạo hiểm bâng quơ, mà là một cuộc hành trình chắc chắn để đạt đến mục đích, vì Chúa Giêsu biết chúng ta. Chúa Giêsu thương chúng ta và Ngài sẵn sàng hy sinh cả mạng sống cho chúng ta : - « Ta chính là Mục Tử nhân lành. Người Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống của mình cho đoàn chiên » ( Jn 10, 11). Theo Chúa Giêsu, chúng ta chắc chắn Người lo lắng cho chúng ta và dẫn chúng ta đến cuộc sống tốt đẹp: - « Khi cho chiên ra hết, anh đi trước và chiên theo sau, vì chúng biết tiếng anh...Ta là cửa. Ai qua Ta mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ » ( Jn 10, 4.9). Và áp dụng hình ảnh mục tử và đoàn chiên vào viễn ảnh cho những ai theo Người, Chúa Giêsu nói rõ hơn : - « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta . Ta ban cho chúng sự sống đời đời… » ( Jn 10, 27). Như vậy cuộc sống Ki Tô hữu không có gì khác hơn là - « Ta biết chúng và chúng theo Ta » ( Jn 10, 25) Nói cách khác, Chúa Giêsu thương mến chúng ta ; chúng ta biết lắng nghe tiếng Người và theo Người. Và ai muốn theo Người để có được sự sống đời đời , không có gì khác hơn là tuân giữ các giới răn Người dạy. Giới răn nào ? - « Điều răn đứng đầu là : Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa là Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» ( Mc 12, 29-31). Và Thánh Gioan còn đi xa hơn nữa : - « Nếu ai nói : Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ thấy được, thì không thể yêu Thiên Chúa mà họ không trông thấy » ( 1 Jn 4, 20). Suy nghĩ kỹ lưỡng hơn, câu trích dẫn của thư I Thánh Gioan vừa kể là một câu lên án thật nặng nề, nếu chúng ta đặt liên quan với câu Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 12, 29-31) vừa trích ở trên. Câu Phúc Âm Thánh Marco cho chúng ta thấy rằng Ki Tô giáo chỉ có hai điều răn, « Kính Chúa và Yêu Người ». Và Thánh Gioan cho biết « ai không yêu thương người anh em mà họ thấy được, thì không thể yêu Thiên Chúa mà họ không thấy ». Như vậy, người không yêu thương anh em, thì cũng chẳng kính yêu gì Thiên Chúa. Và chúng ta có thể mở nhãn quang rộng hơn, một ý thức hệ, một hệ thống tổ chức xã hội trong đó con người bị chà đạp, là một một ý thức hệ vừa phi nhân, vừa vô thần, không xứng đáng cho xã hội con người. d) Một đặc điểm khác của đoạn Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay ( Jn 10, 27-30) cũng như đoạn lược thuật lại câu chuyện Người Mục Tử Nhân Lành trước đó ( Jn 10, 1-21) nói về mối tương quan giữa người mục tử và đoàn chiên, Thánh Gioan dùng tất cả động từ ở thời hiện tại, mà bản dịch Việt Ngữ chúng ta không thể làm nổi bậc được. Đọc bản văn La Ngữ hay Pháp Ngữ, chúng ta cảm thấy thấm thía ý nghĩa của đoạn văn : « Mes brebis écoutent ma voix, je les connais et elles me suivent. Je leur donne la vie éternelle, Le Père et Moi, nous sommes un » ( Jn 10, 27.28.30) ( La Sainte Bible, L'E’cole Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1414). Dùng các động từ ở thời hiện tại ( temps présent) như vừa kể, Thánh nhân không chỉ có ý tường thuật sống động như một bản văn ghi lại các lời giảng dạy trực tiếp của Chúa Giêsu, mà còn có ý nói lên cho chúng ta biết những gì Chúa Giêsu đã nói, không những Ngài đã nói trong thời điểm lịch sử đã qua, mà còn đang trực diện nói với mỗi người chúng ta trong hiện tại : - « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ; Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời, Ta và Cha Ta là một ». Những lời đó, Chúa Giêsu đang nói với chúng ta và đang có giá trị cho mỗi người chúng ta. Người tín hữu Chúa Kitô đang sống thông hiệp cuộc sống đời đời mà Chúa đã và ban cho chúng ta. Rước Thánh Thể, rước Chúa Giêsu cùng thông hiệp với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần nguồn mạch sự sống đời đời vào con người của mình, người tín hữu Chúa Kitô đang có đầy sức sống, đang sống thông hiệp cuộc sống đời đời của Ba Ngôi Thiên Chúa. B - Tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Cuộc sống của người môn đệ theo Chúa Giêsu không phải là cuộc sống không có thử thách. Nếu người Do Thái mạt sát và hành hung đối với Chúa Giêsu, - « Nhiều người trong nhóm nói : Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi...Người Do Thái lại lấy đá ném Chúa Giêsu » ( Jn 10, 20.31), thì chắc chắn các môn đệ Người không thể có cuộc sống « ngồi mát ăn bát vàng ». Con đường cuộc sống Ki Tô hữu là con đường đầy thử thách, nhưng người Ki Tô hữu biết lắng nghe và theo Chúa Giêsu, « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ; ta biết chúng và chúng theo Ta », chắc chắn sẽ được Người « dẫn ra đồng cỏ » ăn uống no nê, được Người « ban cho sự sống đời đời " . Xác tín đó không phải được xây dựng trên ảo tưởng, hay trên tâm tính tự cao tự đại của cá nhân, mà trên những gì Chúa Giêsu đã hứa. Chúa Giêsu biết từng con chiên một của Người. Người đưa bàn tay uy quyền của Ngài để hướng dẫn và bảo vệ chiên khỏi bị sói vồ hay cướp bóc : - « Không ai cướp được chúng khỏi tay Ta » ( Jn 10, 28). Và rồi hình ảnh người môn đệ được Chúa Giêsu đưa bàn tay uy quyền của Ngài để bảo vệ và dẫn dắt không ngừng lại ở đó. Bởi lẽ hình ảnh đó lại được tăng cường thêm bởi bàn tay toàn năng của Chúa Cha bảo đảm cho người môn đệ đạt đến sự sống đời đời : - « Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta , thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Cha Ta » ( Jn 10, 29). Như vây cuộc sống Ki Tô hữu, cuộc sống của những ai hành xử theo gương - « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ; Ta biết chúng và chúng theo Ta » không phải là một canh bạc, đánh lô tô, xổ số kiến thiết không biết thắng hay thua, « lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục », mà là một cuộc sống trong tình thương Cha con với Thiên Chúa, được bàn tay quyền năng của Chúa Giêsu hướng dẫn và bảo vệ, trong cánh tay toàn năng của Chúa Cha. Bởi vì Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha, cùng bản tính, cùng hành động và ý hướng như Chúa Cha : -« Ta và Cha Ta là một » ( Jn 10, 30). Hạnh phúc đời đời của người Ki Tô hữu, «nghe tiếng Ta và theo Ta» là cuộc sống hạnh phúc được Thiên Chúa ban cho và được chính Thiên Chúa Ba Ngôi bảo đảm cho đạt được : - « Ta ban cho chúng sự sống đờiđời, không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Ta và Cha ta là một » ( Jn 10, 28.30).

 

Chương 21 không phải là phần phụ đính của Phúc Âm Thánh Gioan, được viết sau và thêm vào gượng gạo như một vài nhà chú giải Thánh Kinh có ý kiến, mà là một phần nguyên tác của toàn bộ, bổ túc cho toàn quyển Phúc Âm cũng như cho phần tường thuật các biến cố Phục Sinh ( Jn 20, 1-31), chúng ta đã có dịp suy niệm suốt hai tuần qua. Nói cách khác, chương 21 là phần kết thúc khóa Ki Tô học ( Christologia) được Thánh Gioan giảng dạy trong suốt quyển Phúc Âm của ngài. Liên kết với chương 20 tường thuật lại các biến cố Phục Sinh, ở chương Phúc Âm đang bàn Thánh Gioan đưa ra một cái nhìn ở độ cao điểm nhứt đối với những gì Ngài thuật lại trước đó: 2) 1) - Trước đó ở chương 20, niềm tin của các Môn Đệ còn mờ mịt, “Sáng sớm ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người Môn Đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: Người ta đã đem Chúa ra khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu” ( Jn 20, 1-2). - Và rồi Thánh Gioan diễn tả giai đoạn mờ mịt của đức tin, mặc dầu vừa được nẩy sinh vẫn còn phôi thai non yếu: - “Bây giờ người môn đệ kia, kẻ đã đến mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và tin. Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà mình” ( Jn 20, 9). - Mặc dầu niềm tin Phục Sinh được " người Môn Đệ Chúa Giêsu thương mến!" " đã thấy và tin" , bà Maria Magdala vẫn chưa thấy và chưa tin: “ Thiên thần hỏi bà: " Nầy bà, sao bà khóc. Bà thưa: Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 13). - Cho đến lúc chính Chúa Giêsu hiện ra với bà, bà cũng không nhận ra: - " Chúa Giêsu nói với bà: Nầy bà, sao bà khóc? Bà tìm ai? Bà Maria tưỏng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin ông nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem người về " ( Jn 20, 15) . - Sau đó Thánh Gioan thuật lại Chúa Giêsu hiện ra cho các Môn Đệ hai lần khác, chúc bình an cho các Ngài, thổi hơi ban Chúa Thánh Thần, cho các Ngài xem tay và cạnh sườn và cuối cùng khuyên bảo các Ngài: - " Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc cho những người không thấy mà tin. ( Jn 20, 28). Và Thánh Gioan với tư cách là người tường thuật cũng ghi lại những lời xác quyết cuối cùng cho những ai tham dự khóa Ki Tô học của Ngài: - " Còn những điều được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người " ( Jn 20, 31). Câu văn vừa kể được coi là câu kết thúc những gì Thánh Gioan phải viết ra để chuyển đạt tư tưởng của Ngài về niềm tin Phục Sinh. Đó là lý do tại sao một ít nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng Phúc Âm Thánh Gioan đã kết thúc ở câu nói cuối cùng vừa kể. Đối với Thánh Gioan, niềm tin Phục Sinh của các Môn Đệ được xác tín như vừa kể, không còn cần Chúa Giêsu hiện ra cho các Ngài thêm một lần nào nữa và Phúc Âm của Ngài cũng không còn cần phải ghi lại thêm dữ kiện nào nữa để cũng cố đức tin của các Môn Đệ và của những ai đọc Phúc Âm của Ngài. Đó chính là điều Thánh Gioan đã viết để nói lên niềm tin Phục Sinh ở điểm cao độ, khi Ngài thuật lại trong chương 21, Chúa Giêsu hiện đến với các Môn Đệ trên mặt hồ: - " Không ai trong các ông dám hỏi: Ông là ai?, vì các ông biết đó là Chúa" ( Jn 21, 12). Các Môn Đệ đã tin chắc Chúa Giêsu đã sống lại. 2) - Như vậy viết thêm chương 21, không phải là để ghi thêm dữ kiện, cũng cố thêm đức tin Phục Sinh, mà là để bổ túc sự hiểu biết về Chúa Ki Tô cho các Môn Đệ và cho chúng ta, những người tham dự trong tương lai lớp Ki Tô học của Ngài trong quyển Phúc Âm. a) Trước hết phần đầu của bài Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay ( Jn 21, 1-14), chúng ta có thể đề tựa là " Sứ mạng thất bại, thành công và được bảo đảm". Chúng ta có thể suy niệm tuần tự, dựa theo nội dung của phần Phúc Âm được trình bày. Trước hết chúng ta đừng nghĩ rằng sau khi Chúa Giêsu chết đi, Thánh Phêrô bàn với các Môn Đệ đi đánh cá trên biển Hồ, như là đề nghị để các ông lui về nghề cũ của các ông trước khi theo Chúa Giêsu: - " Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Didimo, ông Natanaele người Cana, miền Galilea, các ông con ông Zabede và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simon Phêrô nói với các ông: Tôi đi đánh cá đây. Các ông đáp: Chúng tôi cùng đi với anh" ( Jn 21, 2-3). Có lẽ ý nghĩ bỏ cuộc, lui về với nghề cũ, nghề đánh cá, hợp lý hơn, nếu đoạn văn được viết bởi các Phúc Âm nhất lãm khác. Bởi lẽ trong Phúc Âm Thánh Gioan không có đoạn nào nói cho chúng ta biết là bất cứ Môn Đệ nào hành nghề đánh cá, kể cả Phêrô, trước khi theo Chúa Giêsu. Vậy thì buổi ra đi đánh cá của các Vị, theo lời báo của Phêrô, chỉ là một buổi đánh cá bất thường nào đó, chớ không phải là chương trình trở lại cuộc sống bằng nghề đánh cá và bỏ cuộc đối với cuộc sống Môn Đệ sau khi Chúa Giêsu chết đi. Và càng không có lý chứng hơn sau những gì Chúa Giêsu Phục Sinh đã hiện ra báo và chứng minh cho các ông. Mục đích thuật lại cuộc ra đi đánh cá được Thánh Gioan viết ra với ngụ ý những gì Ngài muốn trình bày: - " Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả " ( Jn 21, 3) . “ Đêm ấy họ không bắt được gì cả”. Tại sao? - Vì không có Chúa Giêsu! Một đêm đánh cá thất bại. Đó là những gì Thánh Gioan muốn gởi đến chúng ta, trong quan niệm "thần học từ hư vô" ( theologia ex nullo) của Ngài. Không có Chúa, mọi sứ mạng đều bị thất bại, không thể thực hiện được. Đó là những gì Thánh Gioan đã viết trong Phúc Âm: - " Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì " ( Jn 15, 5) . Thánh Gioan tường thuật lại đêm đánh cá thất bại, có thể là một thực tại, nhưng với ngụ ý tượng trưng cho sứ điệp mà Ngài muốn trình bày ở bên dưới: không có Chúa Giêsu hiện diện và năng động, mọi sứ mạng rao giảng Phúc Âm đều thất bai. Nhưng rồi sự thất bại của một đêm lao lực, thức sáng " không bắt được gì cả " trở thành kinh nghiệm qúy giá, thành công mỹ mãn, với Chúa Giêsu hiện diện. Các ông vâng lời Ngài một cách tuyện đối, không bàn cãi: - " Khi trời đã sáng, Chúa Giêsu đứng trên biển, nhưng các Môn Đệ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu, Người bảo các ông: Cứ thả lưới xuống bên phải thuyền thì sẽ bắt được cá" ( Jn 21, 4-6). Các Môn Đệ đã tin chắc chắn là Chúa Giêsu đã sống lại. Nhưng tin chắc là một chuyện, nhận ra Chúa Giêsu hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, trên thực tế là một chuyện khác: Khi trời đã sáng, Chúa Giêsu đứng trên biển, nhưng các Môn Đệ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu. Buổi đánh cá được kết quả mỹ mãn, cuộc sống hàng ngày của chúng ta, sứ mạng truyền giáo của chúng ta muốn có được kết quả, chúng ta phải nhận ra Chúa Giêsu hiện diện, để vâng lời Người và cộng tác với Người, như các Môn Đệ vâng lời thả lưới phía bên phải thuyền. Có Chúa Giêsu hiện diện, đêm đánh cá, sứ mạng truyền giáo được kết quả mỹ mãn. Việc nhận ra Chúa Giêsu đang ở bên cạnh để bảo đảm cho buổi đánh cá, cho sứ mạng truyền giáo, được kết quả tốt đẹp, phải do " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" , sống thân tình với Chúa Giêsu , sống trong ân sủng, có trực giác nhận ra, hiểu ngay ý Chúa muốn và báo cho Phêrô: - " Người Môn Đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó " ( Jn 21, 7) . Chúa Giêsu hiện diện và năng động trong Giáo Hội, hướng dẫn Giáo Hội đến thành công trong sứ mạng rao giảng Phúc Âm mà Ngài đã ủy thác cho. Đó cũng là ý nghĩa những gì Thánh Marco đã ghi lại để kết thúc Phúc Âm của Ngài: - " Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng " ( Mc 16, 20 ). Nhận ra Chúa Giêsu hiện diện là vai trò của những ai sống thân tình với Chúa Giêsu, được Ngài ban cho ân sủng. Đó cũng là những gì Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta vai trò của " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" , và cũng chắc chắn của những ai sống thân tình với Chúa, được ân sủng Chúa ban, cần thiết để phục vụ cộng đồng Giáo Hội. Vai trò nổi bậc ân sủng của " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" được thể hiện trong buổi tiệc ly, dưới chân thánh giá, bên ngôi mộ trống và trong buổi đánh cá ban đêm trên biển hồ của đoạn Phúc Âm hôm nay: -- " Trong các môn đệ, có một người được Chúa Giêsu thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Chúa Giêsu" ( Jn 13, 23), - " Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Chúa Giêsu nói với thân mẫu rằng: Thưa bà, đây là con bà. Rồi Người nói với môn đệ: Đây là mẹ anh. Kể từ lúc đó, người môn đệ rước bà về nhà mình" ( Jn 19, 26-27), - " Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã đến mộ trước, cũng đi vào: Ông đã thấy và tin " (Jn 20, 8),- - " Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó ! " ( Jn 21, 7). b ) Thánh Gioan có cách viết tường thuật các biến cố, rất chú trọng đến các yếu tố chi tiết, nhưng được Ngài lồng vào văn mạch với chủ đích ngụ ý. Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Thánh Gioan kể lại là mặc dầu lưới được nhiều cá, nhưng lưới không bị rách, trước hết có ý liên tưởng đến y phục của Chúa Giêsu không bị xé nát để phân chia, khi Ngài chịu chết để đem đến ơn cứu rỗi: - " Thế là ứng nghiệm lời Thánh Kinh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn" ( Jn 19, 24) . Như vậy chiếc lưới đầy cá còn nguyên vẹn, trước sự hiện diện của Chúa Giêsu cũng có một ý nghĩa biến cố cứu rỗi do Chúa Giêsu đem đến: - " Cá nhiều như vậy, mà lưới không bị rách " ( Jn 21, 11b). Kế đến một tiểu tiết khác cũng được Thánh Gioan ghi lại, khi Ngài cho biết số luợng cá bắt được: - " Ông Simon Phêrô lên thuyền rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con" ( Jn 21, 11a ). Có lẽ thật sự là " một trăm năm mươi ba con " , nhưng cũng có thể Thánh Gioan dùng số 153 viết ra mẫu tự Do Thái, mỗi số tương đương với một chữ và như vậy đọc chung lại số 153 được ghi thành chữ, chúng ta sẽ có lưới cá chứa một " Cộng Đồng Tình Thương" , để ám chỉ Cộng Đồng Giáo Hội. c ) Ý nghĩa của chương 21 liên quan với toàn quyển Phúc Âm Thánh Gioan. Trong cả Phúc Âm, Thánh Gioan không ngừng nhấn mạnh đến việc nhân loại chúng ta không nhận biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là ánh sáng, là sự sống của chúng ta: - " Người đã đến nhà Người, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận " ( Jn 1, 11). - " Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một Đấng ở giữa các ông, mà các ông không biết " ( Jn 1, 26), - " Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần xuống và ngự trên ai, thì Người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn " ( Jn 1, 33-34). Và sau bao nhiêu lần không biết, không nhận đó, chương 21 Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng các Môn Đệ nhận biết Chúa Giêsu một cách chắc chắn, là thượng đỉnh con người đạt được trong tiến trình đi tìm Thiên Chúa, được Thánh Gioan ghi lại ở đoạn kết của Phúc Âm, như là kết quả ở cao điểm nhứt mà con người đạt được, trong tiến trình đi tìm Chúa: - " Không ai trong các Môn Đệ dám hỏi: Ông là ai?, vì các ông biết rằng đó là Chúa" ( Jn 21, 12). Và nhờ vượt thắng được sự tối tăm của con người không nhận ra Thiên Chúa, con người đạt đến đức tin vào Chúa và là cửa ngõ để vào sự sống đời đời: - " Còn những điều được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người " ( Jn 20, 31), - " Tôi viết những điều đó cho anh em, là những người tin vào danh Con Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời " ( 1 Jn 5, 13). 3) - Phần còn lại của đoạn Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay đề cập đến sứ mạng của Thánh Phêrô và của Thánh Gioan ( Jn 21, 15-24), liên hệ và bổ túc nhau bằng chức năng và ân sủng như chúng ta đã có lần đề cập đến trong đoạn Phúc Âm Chúa Nhât Phục Sinh ( Jn 20, 1-18). Mặc dầu Thánh Phêrô được Chúa Giêsu cân nhắc lên địa vị lãnh đạo của Giáo Hội, chức vị mà mọi người phải kính trọng, kể cả Thánh Gioan, " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" . Thánh Phêrô là tảng đá trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội Ngài ( Mt 16, 16), là cột trụ đức tin để nâng đở đức tin của anh em ( Mc 22, 31-32), nên Thánh Gioan phải kính nhường: - " Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào" ( Jn 20, 4-5). Thánh Phêrô là tảng đá nền tảng của Giáo Hội, là cột trụ đức tin của cả Cộng Đồng Dân Chúa, nhưng không được Chúa ban cho ân sủng có trực giác " đã thấy và tin" ngay (Jn 20, 8) như Thánh Gioan, và cũng không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài hiện ra với các Môn Đệ buổi sáng trên biển Hồ. Chính Thánh Gioan, " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" nhận ra và báo cho, Thánh Phêrô mới nhận biết và nhảy xuống biển đến với Ngài: - " Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó! Vừa nghe nói: Chúa đó!, ông Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển" ( Jn 21, 7). Điều đó cho thấy địa vị uy quyền và ân sủng trong Giáo Hội được Chúa ban cho mỗi người khác nhau, để bổ túc nhau, cùng cộng tác phục vụ Cộng Đồng Dân Chúa: - " Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Nhưng chính Thánh Thần duy nhứt ấy làm ra tất cả những điều đó, và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người. ( 1 Cor 12, 4.5.11). Riêng đối với chức vị Thánh Phêrô, Ngài được Chúa Giêsu ban cho chức vị chăn dắt "chiên con " " chiên mẹ" của Người qua ba lần tuyên xưng tình thương của Ngài đối với Chúa, phục hồi lại ba lần lỗi phạm đã chối Chúa trong lúc khỗ nạn ( Jn 18, 17-18.25-27). Và Thánh Phêrô đã kết thúc cuộc đời mình bằng gương tử đạo, phục vụ chăn dắt " chiên con " và “ " chiên mẹ " của Chúa Giêsu, chớ không phải của mình: - " Hãy chăn dắt các con chiên con của Thầy " ( Jn 21, 15), - " Hãy chăn dắt các con chiên mẹ của Thầy " ( Jn 21, 16) , - " Hãy chăn dắt các con chiên mẹ của Thầy " ( Jn 21, 17).

 

Thường trong các bài giảng và các bài giáo lý về biến cố Chúa Phục Sinh, chúng ta được nghe các Cha cũng như các Thầy dạy giáo lý đề cập đến tính cách biện giáo ( apologetica) của biến cố: các vị dùng các lý luận hữu lý để chứng tỏ rằng việc bà Maria Magdala khám phá ra ngôi mộ trống, tảng đá lấp mộ bị lật tung ra bên ngoài, không phải là lý lẽ có tính cách thuyết phục cho việc xác Chúa Giêsu bị đánh cắp như bà Maria Magdala hô hoán: - " Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu (Jn 20, 2). Các vị có lý lẽ chính đáng để nhấn mạnh, dạy chúng ta tính cách biện giáo của biến cố Chúa Phục Sinh. Nhưng đó không phải là mục đích của các tác giả Phúc Âm tường thuật lại cho chúng ta diễn tiến của biến cố, nhứt là đoạn Phúc Âm Thánh Gioan mà chúng ta có dịp suy niệm trong Thánh Lễ hôm nay ( Jn 20, 19-31). Với một ít dòng ngắn ngủi của Phúc Âm hôm nay, Thánh Gioan tóm lược một cách tài tình những gì Chúa Giêsu đã hứa trong Phúc Âm và đặt nền tảng Phục Sinh cho các buổi họp mặt Phụng Tự của Cồng Đồng Dân Chúa. I - Tổng kết những gì Chúa Giêsu đã hứa trong Phúc Âm. Sau cuộc gặp gỡ lần thứ nhứt giữa Chúa Giêsu Phục Sinh và bà Maria Magdala, tin theo lời tuyên bố của bà: - "Tôi đã thấy Chúa" , và bà kể lại những gì Người đã nói với bà " ( Jn 20, 18), các Môn Đệ tựu họp lại trong hy vọng, mà cũng lo âu, sợ hãi hối hận vì cách hành xử của mình, đã bỏ rơi và chối Chúa Giêsu, trong những giờ phút khổ nạn của Người: - " Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhứt trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do Thái " ( Jn 20, 19). Tâm trạng trên của các Môn Đệ một phần nào cũng được Thánh Toma diễn tả qua thái độ ngờ vực của Ngài: - " Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin" ( Jn 20, 25). Giữa lúc tâm trạng phập phồng, lo âu, bán tín bán nghi đó, Chúa Giêsu Phục Sinh hiện đến với các Môn Đệ lần thứ nhứt: - " Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và phán: " Bình an cho anh em! ". Nói xong Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các Môn Đệ vui mừng vì được thấy Chúa” ( Jn 20, 19-20). Sau đó Chúa Giêsu giao cho các Ngài sứ mạng truyền giáo, bằng cách thổi hơi, ban Chúa Thánh Thần và ban quyền tha tội: - " Người lại phán với các ông: Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Jn 20, 21-23). A ) Tâm trạng phập phồng, sợ hải, bán tín bán nghi đó của các Môn Đệ, "nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái", Thánh Gioan đã nhiều lần đề cập đến: - " Dân chúng bàn tán nhiều về Người. Kẻ thì bảo: đó là người tốt. Kẻ thì nói: không, ông ta mê hoặc dân chúng. Nhưng không ai dám công khai nói về Người, vì sợ người Do Thái " (Jn 7, 13). - Tuy nhiên, ngay cả trong giới lãnh đạo Do Thái cũng có nhiều người đã tin vào Chúa Giêsu. Nhưng họ không dám xưng ra, - " vì sợ bị nhóm Pharisêu khai trừ ra khỏi hội đường " (Jn 12, 42). - "Sau đó ông Giuse, người Arimatea, xin Pilato cho phép hạ thi hài Chúa Giêsu xuống. Ông Giuse nầy là một Môn Đệ theo Chúa Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do Thái ( Jn 19, 38). Đứng trước tâm trạng sợ hãi, bán tín bán nghi, nhưng cũng hy vọng do lời nói của vị "Nữ Môn Đệ của các Môn Đệ ( Apostola Apostolorum) Maria Magdala vừa kể, Chúa Giêsu hiện đến: - " Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và phán: Bình an cho anh em " ( Jn 20, 19). Lời chào bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh được Thánh Gioan tường thuật lại, liên tưởng đến những gì Chúa Giêsu đã nói với các Môn Đệ trong những lần tuyên bố giã từ, được Phúc Âm của ngài ghi lại ( Jn 13-17). Hy vọng bình an của Chúa Giêsu để lại cho các Môn Đệ, khác với quan niệm bình an của thế gian: - " Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban bình an của Thầy, không như bình an của thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi" (Jn 14, 27). Chúa Giêsu đem bình an và niềm vui đến cho các Môn Đệ để các Ngài vượt thắng phiền muộn và các cơn bách hại: - "Thầy nói với anh em điều nầy, để trong Thầy, anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian" ( Jn 16, 33). Không những hứa ban bình an, Chúa Giêsu còn hứa với các Môn Đệ Ngài sẽ vắng mặt xa các Vị, nhưng không lâu sau, các Vị sẽ được thấy Ngài và Ngài sẽ sống thân thiết với các Vị: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy sẽ trở lại cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em " ( Jn 14, 18-20 ). - " Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em không ai lấy mất được. Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em xin Chúa Cha điều gì, thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em được trọn vẹn " ( Jn 16, 22-24). Chúa Giêsu hứa sẽ trở lại với các Môn Đệ và đem niềm vui đến cho các Vị, ban cho các Vị Chúa Thánh Linh; nâng đỡ các Vị trong sứ mạng nhân chứng và truyền giáo trên thế gian: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng nhận biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em" ( Jn 14, 16-17). - " Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thánh thần sự thật, phát xuất từ Chúa Cha. Người sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng về Thầy, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu " ( Jn 15, 16.27). Chúa Thánh Linh đến sẽ dạy các Môn Đệ những gì các Vị chưa hiểu hết hay những gì Chúa Giêsu chưa nói hết cho các Vị: - " Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức đón nhận. Khi nào Thánh Thần sự thật đến, Người sẽ dẫn dắt anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì. Nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà báo cho anh em " ( Jn 16, 12-15). Và sau cùng Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha để các Môn Đệ Ngài luôn luôn sống khắn khít với Ngài: - " Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con, vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu thương Con trước khi thế gian được tạo thành " ( Jn 17, 24). B - Và sau khi chúc bình an cho các Môn Đệ, Chúa Giêsu cho các Vị xem hai bàn tay bị đóng đinh và cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thâu: - " Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa " ( Jn 20, 20). Cho các Môn Đệ xem tay bị đóng đinh và cạnh sườn bị đâm thâu, Chúa Giêsu muốn chứng thật cho các Môn Đệ là chính Ngài đã bị đóng đinh, đâm thâu và chịu chết trước đó: - " Khi đến gần Chúa Giêsu, thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra " ( Jn 19, 33-34). Cử chỉ của Chúa Giêsu cũng nói lên gợi cho các Môn Đệ nhớ lại nhiều lời các tiên tri đã nói về Người, nhắc lại cho các Vị nhớ những gì Người đã nói khi đề cập đến việc phá Đền Thờ: - " Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây, chính là thân thể Người. Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các Môn Đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Thánh Kinh và lời Chúa Giêsu đã phán " ( Jn 2, 21-22). a) Cử chỉ cho xem tay và cạnh sườn cũng nhắc cho các Môn Đệ nhớ lại lời đòi hỏi các dấu lạ để chứng minh của các con buôn, khi Ngài xua đuổi họ khỏi Đền Thờ: - " Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi ông có quyền làm như thế? Chúa Giêsu đáp: Các ông cứ phá Đền Thờ nầy đi, nội ba ngày Ta sẽ xây lại " ( Jn 1, 18). Và cho xem cạnh sườn, nơi “ máu cùng nước hảy ra” ( Jn 19, 34) , Chúa Giêsu muốn tỏ cho các Môn Đệ biết phẩm chất của cái chết hiến tế ,cứu rỗi và ban ân phúc của Người cho tất cả chúng ta. Máu đổ ra để diễn tả cái chết hiến tế và cứu rỗi. Nước, tượng trưng sự thanh tẩy tội lỗi và nguồn mạch sự sống, hình ảnh của Chúa Thánh Thần mà qua sự hy sinh của Ngài, Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta: - " Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần " ( Mc 1, 8). - " Ông Gioan nói: Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một Đấng giữa các ông , mà các ông không biết. Người đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.Tôi không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần xuống và ngự trên ai, thì Người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn " ( Jn 1, 16-27. 33-34). Còn nữa, trong ngày bế mạc tuần lễ Lều, Chúa Giêsu cũng đề cập đến Nguời là nguồn mạch nước hằng sống, liên tưởng đến Chúa Thánh Thần sẽ được ban tặng cho những ai tin vào Người: - " Hôm ấy, ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày lễ trọng nhứt. Chúa Giêsu đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng phán rằng: ai khát hãy đến với Ta; ai tin vào Ta, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: "Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống ". Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ được lãnh nhận. Thật vậy, bây giờ họ chưa nhận được Chúa Thánh Thần, vì Chúa Giêsu chưa được tôn vinh ( Jn 7, 37-39 ). b ) Ngoài ra Người đã đưa cho các Môn Đệ xem tay bị đóng đinh, hiện giờ hai bàn tay ấy là của Người với mọi quyền lực để hướng dẫn, chăn dắt những ai tin vào Ngưòi, những bước đi chắc chắn đến hạnh phúc: - " Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta. Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một » ( 7, 27-30 ). Ngoài ra hình ảnh trong Thánh Kinh, bàn tay theo quan niệm phổ quát là hình ảnh tượng trưng cho uy quyền và tự do, được Chúa Giêsu dùng để nói lên tình thương của Thiên Chúa đối với chúng ta: dưới bàn tay Người, Chúa che chở, nâng niu con người. Tình thương là nguyên lý nền tảng năng động trong sứ mạng cứu rỗi và mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại : - « Chúa Cha đã yêu thương Con của Người và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời, còn kẻ nào không chịu tin vào người Con, thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ Thiên Chúa sẽ đè nặng trên người ấy » ( Jn 3, 25-26). - « Chúa Giêsu biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người. Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa » ( Jn 13, 3). Nói tóm lại, chỉ qua một ít câu văn vắn tắt - « Chúa Giêsu đến, đứng ở giữa các ông và phán : Bình an cho anh em. Nói xong Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Người lại nói với các ông : Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần » ( Jn 20, 19.21-22), Thánh Gioan đã tóm kết một cách tài tình những gì Chúa Giêsu đã dạy và đã hứa với các Môn Đệ trong cả sách Phúc Âm. Hay nói đúng hơn, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thực hiện cho các Môn Đệ những gì Người đã hứa với các Vị. Như vậy, biến cố Phục Sinh là biến cố Chúa Giêsu thực hiện nơi các Môn Đệ những gì Người đã hứa trong suốt cuộc sống trần thế của Ngài. Cộng Đồng Giáo Hội của chúng ta là Cộng Đồng Phục Sinh nối dài của các Môn Đệ, đã được Chúa Giêsu thực hiện và ban cho những gì Người đã hứa. Và hiểu được như vậy, chúng ta hiểu tại sao sau biến cố Phục Sinh, các môn đệ không còn e dè, «nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái » nữa, mà là - «Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng » ( Mc 16, 20). Chúa Giêsu Phục Sinh đã thực hiện những gì Người đã hứa và với xác tín đó Thánh Gioan kết thúc đoạn tường thuật Phúc sinh bằng lòng tin mãnh liệt vào Chúa Giêsu, nguồn mạch sự sống: - «Chúa Giêsu còn làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các Môn Đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách nầy. Còn những điều đã được ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người » ( Jn 20, 30-31). II - Nền tảng Phục Sinh cho các dịp hợp mặt Phụng Tự. Đọc lại những lời tường thuật trên của Thánh Gioan về biến cố Chúa Giêsu hiện ra lần đầu tiên với các Môn Đệ, khi các Vị tựu họp nhau trong ngôi nhà, chắc chắn chúng ta liên tưởng lời chúc của Người - « Bình an cho anh em » ( Jn 20, 20.21. 26 » với lời chào của vị chủ tế trong Thánh Lễ : - «Chúa ở cùng anh chị em » và lời chúc phúc sau kinh Lạy Cha: - « Bình an của Chúa hằng ở cùng tất cả anh chị em.Chúng ta hãy chúc bình an cho nhau ». Đặt liên tưởng lời chào hỏi và chúc phúc trong Thánh Lễ như vừa kể, chúng ta thấy rằng nền tảng của lời chúc phúc trong Cộng Đồng của chúng ta đang họp mặt để Phụng Tự Chúa, phát xuất từ lời chúc phúc Cộng Đồng các Môn Đệ hợp mặt buổi chiều hôm đó, được Chúa đến và ban bình an cho. Nói cách khác, Cộng Đồng họ đạo của chúng ta đang họp mặt để cử hành Thánh Lễ Phụng Tự Chúa cũng là Cộng Đồng các Môn Đệ của biến cố Phục Sinh hôm đó, có Chúa hiện diện và chúc phúc cho tất cả chúng ta. Chúa Giêsu Phục Sinh không phải chỉ là Chúa Giêsu Sống Lại và hiện diện trong thời điểm lịch sử lúc đó, mà là Chúa Giêsu sống động và hiện diện trong Cộng Đồng Giáo Hội, giữa chúng ta, con cái của các Môn Đệ trong đức tin : - «Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông » ( Mc 16, 20). Mỗi lần họp nhau để cử hành Thánh Lễ, chúng ta có Chúa Giêsu Phục Sinh hiện diện và chúc lành cho chúng ta cũng như - « vào chiều hôm ấy, ngày thứ nhứt trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và phán : Bình an cho anh em » ( Jn 20, 19).

 

Thánh Gioan viết các đoạn Phúc Âm tường thuật lại biến cố Chúa Giêsu sống lại rất súc tích có nhiều mục đích khác nhau: - a ) Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chết trên thập giá là chính Chúa Giêsu đang sống, hiện diện và năng động trong Giáo Hội của Người, như Thánh Marco trong câu kết thúc Phúc Âm của Ngài, kể lại ngày Chúa Giêsu từ giã các Môn Đệ để về cùng Chúa Cha: - " Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng" ( Mc 16, 19-20). - b ) Cái chết của Chúa Giêsu không phải là một sự thất bại và bất lực của Thiên Chúa, mà là một biến cố mạc khải cực điểm tình yêu của Người đối với nhân loại. - c ) Trình bày cho chúng ta thế nào là diễn tiến nẩy sinh và triển nở Niềm Tin Phục Sinh nơi các Môn Đệ. Trong bài Suy Niệm Phúc Âm hôm nay, chúng ta giới hạn vào mục đích cuối cùng vừa kể để tìm hiểu sứ điệp Thánh Gioan muốn gởi đến chúng ta. Dĩ nhiên viết Phúc Âm với mục đích vừa kể, trình bày tiến trình nẩy sinh và lớn mạnh lên của Niềm Tin Phục Sinh nơi các tín hữu Chúa Ki Tô, nơi các Môn Đệ trước tiên và nơi chúng ta, con cái của các Ngài trong đức tin kế đến, Thánh Gioan không có ý tường thuật lại cho chúng ta chính xác và gồm đủ mọi chi tiết của các biến cố xảy ra trong ngày Chúa Giêsu Phục Sinh, cho bằng nói lên cho chúng ta ý nghĩa mầu nhiệm của Chúa Phục Sinh, tiến trình nhận ra ý nghĩa đó và việc đón nhận mầu nhiệm Chúa Phục Sinh vào đức tin. A - Đoạn Phúc Âm hôm nay giới thiệu cho chúng ta việc nẩy sinh và triển nở Niềm Tin Chúa Giêsu Phục Sinh nơi " người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến" ( Jn 20, 2). Đoạn Phúc Âm vừa được đề cập, là một trong bốn đoạn tường thuật lại diễn tiến biến cố Chúa Phục Sinh đối với các Môn Đệ và những người thân tín của Người: - Bà Maria Magdala đến viếng mộ ( Jn 20, 1-3). - Hai Môn Đệ Simon Phêrô và Gioan chạy đến mộ ( Jn 20, 3-9), - Chúa Giêsu hiện ra cho ba Maria Madgala ( Jn 20, 11-18) - Chúa Giêsu hiện ra cho các Môn Đệ bữa tối, nơi các Ngài cư ngụ và Thánh Tôma cứng lòng tin ( Jn 20, 19-29). Tất cả bốn đoạn Phúc Âm vừa kể tuần tự, chuẩn bị đồng quy để đưa đến câu kết cuối cùng của chương Phúc Âm nói về ngày Phục Sinh: - " Phúc thay cho những người không thấy mà tin " ( Jn 20, 29). Theo dõi diễn biến hai đoạn đầu tiên của đoạn Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta thấy được Thánh Gioan diễn tả các biến cố diễn tiến kế tiếp nhau dẫn đến thời điểm nẩy sinh đức tin. Công cuộc được khởi đầu bằng việc bà Maria Magdala buổi sáng đến viếng mộ: - " Sáng sớm ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ, thì thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói người ta đem Chúa ra khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 1-2). Trong đoạn tường thuật lại vừa kể, có thể Thánh Gioan dùng mệnh đề chỉ thời gian " sáng sớm ngày thứ nhứt trong tuần " để xác định thời điểm thực sự lúc sự việc xảy ra. Nhưng cũng có thể Ngài dùng yếu tố thời gian " sáng sớm ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối " với ý nghĩa tượng trưng để nói lên Niềm Tin vào Chúa Giêsu của các Môn Đệ còn mờ mịt, sau cái chết của Ngài. Giả thuyết trên được Thánh Gioan xác nhận rõ ràng hơn khi Ngài xác nhận ở một ít dòng sau đó: - " Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cỏi chết " ( Jn 20, 9 ). Kế đến trong mệnh đề chính " thì bà thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ " ( Jn 20, 1b) cho chúng ta biết cái nhìn, " thấy " ( blepein ,trong nguyên ngữ Hy Lạp) của bà là cái nhìn chớp nhoáng, thoáng qua. Với cái nhìn chớp nhoáng vừa kể, cộng thêm cơn hốt hoảng và sự nhạy cảm của người phụ nữ, bà không còn thời giờ để tìm hiểu kỹ lưỡng hơn. Bà chạy về báo cho các Môn Đệ, nhưng thay vì báo những gì " mắt thấy tai nghe ", bà báo những gì bà đã suy diễn: - " người ta đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu " ( Jn 20, 2), thay vì thuật lại thực sự những gì bà đã thấy ," thì bà thấy tảng đá được lăn ra khỏi mộ " . Còn nữa, trong câu báo cáo của bà Maria Magdala với các Môn Đệ, người đọc sẽ lấy làm lạ là Thánh Gioan chỉ kể lại cho chúng ta rằng: - " Sáng sớm, ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ " , thì tại sao trong câu báo cáo bà lại nói: - " và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu " . Nhiều nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng Thánh Gioan chỉ đề cập đến Maria Magdala, vì bà có vai trò quan trọng trong câu chuyện, chớ không phải bà chỉ đi đến viếng mộ một mình. Điều đó được minh chứng bởi Phúc Âm Thánh Matthêu và Thánh Marco: - " Sau ngày sabat, ngày thứ nhứt trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Magdala và một bà khác cũng tên là Maria đi viếng mộ " ( Mt 28,1). - " Vừa hết ngày sabat, bà Maria Magdala với bà Maria, mẹ ông Giacobê và bà Salome, mua dầu thơm để đi ướp xác Chúa Giêsu. Sáng tinh sương ngày thứ nhứt trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, cả ba ra mộ " ( Mc 16, 1-2). Trở lại con người bà Maria Magdala, bà sai lầm không những một lần do việc thoáng nhìn (blepein) và trạng thái hốt hoảng được tô đậm thêm bằng tình cảm phụ nữ, khi " thấy tảng đá được lăn ra khỏi mộ " , thì tự cắt nghĩa cho rằng: " người ta đã đem Chúa ra khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu " , mà về sau khi chính Chúa Giêsu hiện ra với bà, bà cứ tưởng là người làm vườn ( Jn 20, 15). Cho đến khi Chúa Giêsu gọi tên, bà mới nhận ra Ngài: - " Chúa Giêsu gọi bà: Maria! Bà quay lại và nói bằng tiếng Do Thái: Rabbuni !( nghĩa là lạy Thầy) " ( Jn 20, 16). Dầu có nhiều lầm lẫn, Maria Magdala đã có công đánh thức được các Môn Đệ khỏi giấc ngủ mơ màng của đức tin. Thánh Gregorio cả ( Gregorium Magnum) gọi bà là người nữ Môn Đệ của các Môn Đệ ( Apostola Apostolorum ”). B - Dù đúng hay sai, câu báo cáo hốt hoảng của bà Maria Magdala được Thánh Phêrô và Thánh Gioan, “người Môn Đệ Chúa Giêsu thương mến” tiếp nhận và phản ứng. Cả hai cùng chạy đến mộ: - " Ông Phêrô và môn đệ kia liền bỏ nhà chạy ra mộ. Cả hai cùng chạy ". Trong việc « cùng chạy ra mộ » đó, dĩ nhiên Thánh Gioan còn trẻ hơn, nhiều sức lực hơn, chạy nhanh hơn và tới mộ trước Thánh Phêrô : - « Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước » ( Jn 20, 4b). Nhưng dù tới trước, Thánh Gioan vẫn nhớ đến địa vị ưu tiên của Thánh Phêrô, cột trụ của Giáo Hội và của đức tin các tín hữu mà Chúa Ki Tô xác nhận và phong tước cho Ngài trước đó: - « Còn Thầy, Thầy báo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và các quyền lực tử thần sẽ không thắng nỗi » ( Mt 16, 18). - « Rồi Chúa Giêsu phán : Nầy Simon, Simon, Satan đã xưng là có quyền sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi anh trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh » (Mc 22, 31-32). Địa vị cột trụ nền tảng đó của Thánh Phêrô, Thánh Gioan không quên và viết lại để nhắc cho mỗi người chúng ta điều đó qua cử chỉ kính trọng, nhường quyền ưu tiên của Ngài đối với vị Lãnh Đạo Giáo Hội. Do đó, mặc dầu khoẻ mạnh và mau mắn hơn, tới mộ trước, Thánh Gioan dừng lại bên ngoài, nhường bước cho Thánh Phêrô : - « Ông cúi xuống nhìn thấy những băng vải ở đó, nhưng không vào » ( Jn 20, 5). Thánh Phêrô đến sau, vào trong mộ và quan sát: - « Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu của Chúa Giêsu. Khăn nầy không để lẫn với các băng vải, nhưng cuống lại xếp riêng ra một nơi »( Jn 20, 6-7 ). Cử chỉ của Thánh Phêrô trong mộ cho phép chúng ta dùng từ ngữ « quan sát » ( theoreo, nguyên bản Hy Lạp), hơn là « thấy » ( bản dịch Việt Ngữ , Thánh Kinh Trọn Bộ, Nhà Xuất Bản TPHCM 1998, 2039). Động từ « quan sát » ( theoreo) cho thấy Thánh Phêrô nhìn đi, nhìn lại kỹ lưỡng và cả suy nghĩ, đặt giả thuyết đối với những sự kiện trước mắt : - « Ông vào thẳng trong mộ, thấy ( quan sát) những băng vải ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu. Khăn nầy không để lẫn với các băng vải, nhưng cuộng lại xếp riêng ra một nơi » (Jn 20,7). Nhưng rồi cho dù quan sát, tìm hiểu, đặt giả thuyết, Thánh Phêrô cũng chưa thấu triệt được ý nghĩa của những gì mình trông thấy. Nói cách khác, Thánh Phêrô vẫn chưa hiểu được những gì Thánh Kinh viết về Chúa Giêsu, như Phúc Âm Thánh Gioan đề cập : - « Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cỏi chết » ( Jn 20, 9). C - Và cuối cùng phần kết của đoạn Phúc Âm hôm nay nói lên vai chính nổi bật của Thánh Gioan, « người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến », người môn đệ « trong số các môn đệ, có một người được Chúa Giêsu thương mến, ông đang dùng bửa, tựa đầu vào Chúa Giêsu »( Jn 13, 23). Với một cái nhìn trực giác, được trợ lực bằng cuộc sống thân tình với Chúa Giêsu, quen với các động tác, cách hành xử của Người, Thánh Gioan bước vào mộ sau Thánh Phêrô, thoáng nhìn ( blepein), « người môn đệ Chúa Giêsu thương mến » hiểu ngay những gì trước mắt là những tín hiệu Chúa Giêsu để lại, báo cho biết. Chỉ bằng một đoạn văn đơn sơ và ngắn ngủi, không cần cắt nghĩa, Thánh Gioan loan báo Tin Mừng Phục Sinh vừa nhận được : - « Ông đã thấy và tin » ( Jn 20, 8b). Qua cuộc sống thân tình với Chúa Giêsu, Thánh Gioan « hiểu ngay » qua các động tác của việc « các băng vải ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu. Khăn nầy không để lẫn với các băng vải, nhưng cuộng lại xếp riêng ra một nơi » ( Jn 20,7). Đức tin là ân sủng của Chúa ban cho, nhưng đức tin phải được đón nhận bằng tâm hồn của « người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến, ông đang dùng bửa, tựa đầu vào Chúa Giêsu »( Jn 13, 23). D - Thánh Gioan đã kính nhường uy thế ưu tiên của Thánh Phêrô, nhưng chắc chắn Thánh Phêrô cũng phải xác nhận tia sáng ân sủng đức tin được chiếu dọi cho Thánh Gioan, điều mà Ngài quan sát, tìm hiểu, đặt giả thuyết cũng không hiểu nổi. Trong Giáo Hội, Chúa ban ân sủng cho nhiều thành phần, để mỗi người một chức năng, nhiệm vụ, cộng tác, bổ túc nhau quy hướng phục vụ Cộng Đồng Dân Chúa, như Thánh Phaolồ đã xác nhận : - « Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Có nhiều chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa.Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người…Nhưng chính Thánh Thần duy nhứt làm tất cả những điều đó, và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người » ( 1 Cor 12, 4.5.11). Điều đó cho chúng ta nhìn thấy uy quyền đặc trách nhiệm vụ trong Giáo Hội và ân sủng được Chúa ban cho để bổ túc lẫn nhau để phục vụ lợi ích cho Cộng Đồng Dân Chúa. E - Câu loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Thánh Gioan, « Ông đã thấy và tin »( Jn 20, 8b) là câu kết thúc tột đỉnh tiến trình hướng đến đức tin của đoạn Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay. Tiến trình trên được khởi điểm bằng cách giải thích không chính xác của Maria Magdala : - « Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng ta không biết họ để Người ở đâu » (Jn 20, 3). Kế đến một cái nhìn thoáng qua từ bên ngoài của người môn đệ Chúa Giêsu thương mến : - « Ông cúi xuống nhìn thấy ( blepein) những băng vải còn ở đó, nhưng không vào » ( Jn 20, 5). Và rồi một tiến trình quan sát kỷ lưỡng, tìm hiểu đặt giả thuyết ( theoreo) của Thánh Phêrô, nhưng vẫn chưa hiểu được đức tin. Cuối cùng chỉ có « người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến », sống thân tình với Người, được Thiên Chúa mạc khải như một ánh chớp giữa bầu trời đen tối, chiếu rực rỡ tâm hồn sẳn sàng đón tiếp Người. Chúa Giêsu và Thánh Gioan hiểu nhau : - « Bây giờ , môn đệ kia, kẻ đã tới trước cũng vào. Ông đã thấy và tin » ( Jn 20, 8). Tuy Thánh Gioan đã nhận được Niềm Tin Phục Sinh, đức tin thực sự đã nẩy sinh, nhưng còn quá sớm để có thể triển nở đầy đủ, do đó Ngài đã kết luận đoạn tường thuật: - « Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cỏi chết » ( Jn 20, 9). Từ lúc đó, Thánh Phêrô và Thánh Gioan bắt đầu đi vào Thánh Kinh để thấu hiểu và triển nở thêm đức tin của mình, để đến một ngày nào đó, các Ngài cũng có thể tuyên bố như Maria Magdala tuyên bố cho mọi người : - « Bà Maria Magdala đi báo cho các môn đệ : Tôi đã thấy Chúa, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà » ( Jn 20, 18). Đức tin của Thánh Gioan và của cả Thánh Phêrô vừa chớm nở, chưa đủ sức để thúc đẩy các Ngài mở tung cửa ra đi rao giảng Chúa Giêsu Phục Sinh cho mọi người. Do đó Thánh Gioan kết thúc đoạn Phúc Âm bằng một câu nói rất có ý nghĩa : - « Sau đó các môn đệ ( Phêrô và Gioan) lại trở về nhà » ( Jn 20, 10), thay vì ra đi rao giảng Tin Mừng Chúa Phục Sinh cho mọi người ! F - Đoạn Phúc Âm hôm nay về tiến trình nẩy sinh và triển nở Niềm Tin Phục Sinh cho chúng ta cơ hội để tự vấn lương tâm về đức tin của chúng ta. Đức tin của chúng ta đã nẩy sinh với Phép Rửa, hiện đang ở trong giai đoạn nào ? Vẫn còn ở trong tình trạng vừa mới nẩy sinh của Thánh Gioan và Thánh Phêrô trong đoạn Phúc Âm hôm nay, hay đã trưởng thành, lớn mạnh và chúng ta sẵn sàng đem Tin Mừng Chúa Giêsu Phục Sinh đến cho mọi người ? Hay đức tin của chúng ta đã nẩy sinh, nhưng bị rướn lên khô, mắc cạn bởi sợ hãi, quyền lợi, quyền lực, không dám nói lên tiếng nói của Chúa Giêsu bênh vực kẻ bé mọn, bị đàn áp, nhân phẩm bị chà đạp và đê tiện hóa, hành xử như những gì Chúa Giêsu dạy chúng ta trong Tám Mối Phước Thật ? Một lý do để chúng ta tự xét mình hơn nữa trước mặt Chúa, đó là từ trên mười mấy năm nay, ngày 28 tháng giêng 2001, Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II đã gởi đến tất cả chúng ta một Huấn Dụ, qua tay 28 vị Giám Mục và hai Cha Giám Quản khi các Ngài đến viếng Tông Toà ở Roma để khuyến khích chúng ta hãy hành động theo lương tâm ngay chính và đức tin, chúng ta đã thực hiện được những gì. Và đây là lời của Đức Thánh Cha: - « Khi qúy Vị trở về đất nước cao qúy của qúy Vị, xin qúy Vị hãy nói với các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các thầy giảng, giáo dân và đặc biệt là giới trẻ, rằng Đức Thánh Cha cầu nguyện cho họ và khuyến khích họ hãy lãnh nhận những thách đố mà Phúc Âm đem lại, bằng cách noi gương các Thánh và các vị Tử Đạo đi trước trên con đường Đức Tin. Máu các vị đã đổ ra là hạt giống của cuộc sống mới cho đất nước » ( Huấn Dụ ĐTC Gioan Phaolồ II gởi HDGMVN, đoạn 1). - «Tình yêu Chúa Ki Tô thúc đẩy Giáo Hội phúc âm hóa và thúc đẩy các giám mục phúc âm hóa, bổn phận và trách nhiệm đầu tiên của qúy vị. Giáo Hội Việt Nam được mời gọi hãy ra khơi dành ưu tiên lớn cho việc truyền bá Phúc Âm và cho sứ mạng trong các chương trình hoạt động của qúy vị » ( Đoạn 2, id.). Chúng ta đã « ra khơi » để đem Phúc Âm, Công Lý và Hoà Bình cho dân tộc chúng ta được bao xa rồi, hay chúng ta còn bị rướn lên các mỏm đá và đang bị mắc cạn ? Hỏi để chúng ta, mọi người tùy theo chức năng và khả năng, trả lời trước mặt Chúa trong Niềm Tin Chúa Phục Sinh.

 

A - " Người trộm thống hối là nhân vật hàng đầu, là hình ảnh then chốt của Phúc Âm Thánh Luca ,và có lẽ cũng là hình ảnh cá biệt nhứt của Phúc Âm Thánh Luca ". Đó là lời tuyên bố của một trong những nhà chú giải Thánh Kinh lỗi lạc ở Ý, Cha Pietro Tremolada, giáo sư Viện Thánh Kinh Angelicum - Roma. Trong đoạn Phúc Âm về cuộc tử nạn Thánh Giá Chúa Giêsu, Thánh Luca đặt xen cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và hai người trộm cướp cùng bị đóng đinh với Người vào giữa hai đoạn kể lại lời nguyện xin Chúa Cha tha thứ những kẻ hành hạ, giết chết Ngài: - " Lay Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm "( Lc 23, 34) và đoạn ghi lai những lời sỉ vả của dân chúng, quan lính và các kỳ mục: - " Dân chúng đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo: Hắn đã cứu người khác, thì hãy cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn" ( Lc 23, 35). Trước tiên, ngôn từ của một trong hai người trộm cướp hay của kẻ trộm cuớp không biết ăn năn là tiếng vọng nguyên bản những lời cười nhạo, sỉ nhục của dân chúng, quân lính và các kỳ mục đối với Chúa Giêsu: - " Một trong hai người trộm cướp bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: Ông không phải là Đấng Ki Tô sao? Hãy tự cứu lấy mình đi và cứu cả chúng tôi với " (Lc 23, 39 ). Giọng điệu thách thức gần như ngông cuồng của anh không khác gì ngôn từ của Satan thách thức Chúa Giêsu trong cơn cám dỗ Người, nói lên tâm địa tội lỗi đen tối, bấn loạn và tuyệt vọng, người trộm cướp trước cái chết gần kề và Satan trước hai lần cám dỗ không thành công: - " Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng dậy mà gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn” ( Lc 4, 9-10). Phản ứng lại, người trộm cướp thứ hai quở trách anh ta: - " Anh đang chịu hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa anh cũng không biết sợ! Chúng ta phải chịu như vậy là đích đáng, vì xứng với việc chúng ta làm. Chớ ông nầy đâu có làm điều gì trái !” ( Lc 23, 40-41). Và sau lời khiển trách đối người bạn đồng nghiệp và đồng số phận, anh quay sang Chúa Giêsu cầu nguyện: - " Lạy Thầy Giêsu, khi Thầy vào Nước Thầy, xin nhớ đến con" ( Lc 23, 42). Và Chúa Giêsu trả lời anh: - " Thật, Ta bảo thật, hôm nay con sẽ được ở với Ta trên Thiên Đàng " ( Lc 23, 43). B - Một số nhà chú giải Thánh Kinh, trong đó có cha giáo sư Pietro Tremolada, Viện Thánh Kinh Angelicum - Roma, đề nghị rằng câu chuyện đối thoại giữa Chúa Giêsu và hai người trộm cướp bị đóng đinh chung với Ngài, có thể được coi là câu chuyện giữa Chúa Giêsu và chỉ với một người trộm cướp duy nhứt, được Thánh Luca nhân đôi lên và tách ra thành hai nhân vật một cách tài tình, để diễn tả tiến trình phức tạp từ con người tội lỗi, được ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu soi sáng, cải hối. Không phải thiếu lý chứng mà cha giáo sư Pietro Tremolada và các nhà chú giải Thánh Kinh khác có ý nghĩ như vậy. Bởi lẽ nếu chúng ta lấy lại Phúc Âm Thánh Marco, Phúc Âm có trước bản Phúc Âm Thánh Luca, chúng ta sẽ thấy rằng có hai người trộm cướp cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, nhưng cả hai đều là hai tên trộm cướp dữ tợn, hằn học, chửi bới, chế giễu Chúa Giêsu: “ - " Bên cạnh Người, chúng còn đóng đinh hai tên cướp, một đứa bên phải, một đứa bên trái…Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người, vừa lắc đầu vừa nói: Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi…Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình” ( Mc 15, 27.29.31). Và như chúng ta biết, chính Thánh Luca cũng xác nhận rằng Ngài dùng những gì các người đi trước Ngài đã viết ra, sắp xếp lại và viết lại Phúc Âm như là một bản giáo lý theo thứ tự đề mục của đức tin, cho các Cộng Đồng Ki Tô hữu tiên khởi và cho chúng ta, con cháu các vị trong đức tin: “- " Thưa ngài Theofilo đáng kính, có nhiều người đã ra công soạn bản tường thuật những sự việc đã được thực hiện giữa chúng ta…Tôi cũng vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự, thì thiết tưởng cũng nên tuần tự viết ra để kính tặng ngài, mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc "”(Lc 1, 1.3-4). Như vậy hai người trộm cướp trong Phúc Âm Thánh Luca, một người trộm dữ và một người trộm lành, là hình ảnh của một tội nhân duy nhứt được Thánh Luca nhân đôi lên và tách rời ra thành hai trạng thái hành động của con người, con người tội lỗi và con người được ơn Chúa soi sáng, cảm nghiệm được tình thương Cha con của Thiên Chúa, sám hối, trở lại và tin cậy vào Ngài: “- " Lạy Thầy, khi nào Thầy vào Nước Thầy, xin Thầy nhớ đến con " ( Lc 23, 42). Thánh Marco trình bày cuộc chạm trán trực diện giữa ơn cứu rỗi và tội lỗi, giữa Chúa Giêsu và hai người trộm cướp khinh dễ, nhạo bán Ngài, một sự bất tương hợp giữa công chính và bất chính, giữa Thiên Chúa và tội lỗi. Trái lại Thánh Luca được xem là “" Scriptor mansuetudinis Christi "”, là nhà viết văn thuật lại lòng nhân lành của Chúa Giêsu. Giữa ơn cứu rổi thánh thiện và tội lỗi có sự chạm trán trực diện lúc khởi đầu, mà thái độ từ chối và khinh dễ của người trộm cướp không biết thống là một lý chứng. Nhưng rồi tâm hồn tội lỗi, đen tối được ánh sáng cứu độ chiếu dọi, tạo ra những phản ứng đối chọi, dẫn đưa đến sám hối. C - Như vậy " trộm dữ và trộm lành”" là hai trạng thái của con người, của bất cứ ai, là con người chúng ta trước ân sủng của Thiên Chúa. Đó chính là cách trình bày một cách tài tình của Thánh Luca, trình bày biến cố cứu rỗi tiếp xúc với lương tâm tội lỗi của con người, có khả năng biến hóa lương tâm tội lỗi của chúng ta thành lương tâm sám hối trở lại và tin cậy vào tình thương đại lượng, nhân hậu và bao la của Thiên Chúa. Ân sủng cứu rỗi lúc vừa chạm trán với lương tâm tội lỗi sẽ tạo ra phản ứng chống đối, tự vệ, đóng kín khuôn ốc vào chính mình, coi thường người khác, coi thường ngoại cảnh chung quanh, cho dù ngoại cảnh đó là gì đi nữa lương tâm phạm tội cũng bị tội lỗi làm đen tối, thiếu sáng suốt,và không nhận biết. Lương tâm tội lỗi đen tối và tuyệt vọng không thể nhìn thấy sự giải thoát nào ngoài ra chính tự mình đứng ra cứu lấy mình, không những là thái độ của người trộm cướp không ăn năn , mà cả dân chúng, kinh sư và kỳ mục cũng có thái độ như vậy: “ - " Ông không phải là Đấng Ki Tô sao? Hãy tự cứu mình đi và cứu chúng tôi…Hắn đã cứu người khác, thì hãy tự cứu lấy mình đi, nếu hắn là Đấng Ki Tô cũa Thiên Chúa…Nếu ông là vua Do Thái, thì hãy tự cứu lấy mình đi "” ( Lc 23, 35-37.39). Và lương tâm tội lỗi đen tối làm cho con người không còn phân biệt phải trái, vì đóng kín vào khuôn ốc chính mình, không nhận ra và không chấp sự thật dù cho minh bạch cũng vậy. Trước khi người trộm cướp không thống hối thốt ra những lời chế giểu Chúa Giêsu, trước khi dân chúng, quân lính và các kỳ mục thốt ra những câu nói nhục mạ Chúa Giêsu, mặc dầu trong cơn đau đớn khỗ nạn và sắp chết, Ngài đã tỏ ra tư cách nhân hậu và vương giả của Ngài qua lời nguyện với Chúa Cha, nhưng họ không thể hiểu được và định giá được: “ - "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm "” ( Lc 23, 34). Chỉ có lương tâm được ân sủng Thiên Chúa soi sáng, thống hối nhận ra được chân lý, ai là kẻ tội lỗi nô lệ chịu hình phạt và ai là Đấng chịu khổ nạn vì tình thương để cứu rỗi: “ - " Anh đang chịu chung hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa anh cũng không biết sợ. Chúng ta chịu thế nầy là đích đáng, vì xứng với việc chúng ta làm. Chứ ông nầy dâu có làm điều gì trái”" ( Lc 23, 39-40). Có lẽ đối với lương tâm người trộm cướp không hối cải cũng như của dân chúng, quân lính và các kỳ mục, Chúa Giêsu thay vì cầu nguyện xin tha cho những ai làm khổ Người, Người nên tìm cách thoát thân thì đúng hơn. Riêng đối dân chúng và các kỳ mục cũng vậy, lương tâm tội lỗi đen tối và thù hằn của họ đã làm cho họ mù quáng đến độ Pilato và Erode tuyên bố Chúa Giêsu vô tội, họ cũng không thể hiểu được: “ Pillato nói với các thượng tế và đám đông: - "Ta xét người nầy không có tội gì…Các ngươi nộp người nầy cho ta, vì cho là tay kích động dân, nhưng ta đã hỏi cung ngay trước mặt các ngươi, mà không thấy người nầy có tội gì, như các ngươi đã tố cáo cả"” ( Lc 23, 4. 14). Và rồi chính Pilato cho biết Erode cũng có cùng một phán đoán như ông: “ - " Cả vua Erode cũng vậy, bởi lẽ nhà vua đã giải ông ấy lại cho ta. Và các người đã thấy ông ấy chẳng có tội gì đáng chết cả "” ( Lc 23, 15). Nhưng rồi trước sự hiện diện và mời gọi của Thiên Chúa, lương tâm tội lỗi đóng kín qua các phản ứng đối ngược, bị phân chia ra, và kết tựu trở lại khi phần đen tối, tự vệ, ích kỷ của lương tâm bị làm cho im tiếng đi. Lương tâm được ân sủng của Thiên Chúa đánh thức và chiếu sáng, nhận biết được chính tà, phân biệt công lý và bất chính: “ … - " chúng ta đang chịu thế nầy là đích đáng, vì xứng với việc chúng ta làm. Chứ ông nầy đâu có làm điều gì trái " ( Lc 23, 40). Lương tâm được ân sủng Thiên Chúa mời gọi và chiếu sáng nuôi hy vọng ở một tương lai, bên kia cuộc sống đời nầy, nơi số phận của số phận của kẻ ngay chính và người bất lương được sáng tỏ. Lương tâm được ân sủng Thiên Chúa mời gọi sám hối và chiếu sáng vừa kể được Thánh Luca đề cập, có cùng một niềm tin như niềm tin của Thánh Phaolồ gởi các tín hữu Do Thái: không những có Thiên Chúa hiện hữu, mà Thiên Chúa sẽ trả công tùy theo hành động của con người: “ -"Không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải có đức là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” ( Heb 11,6). Và nhứt là lương tâm được ân sủng soi sáng biết nhận ra Chúa Giêsu đang bị đóng đinh trên thánh giá đó là vị vua cả, " Rex ex ligno " ”, là Đấng Cứu Thế bị ruồng bỏ bằng cái chết khổ nhục nầy, nhưng là Đấng sẽ vào Nước Trời với địa vị vinh quang Thiên Chúa của Ngài. Do đó người trộm lành hay lương tâm tội lỗi được ân sủng soi sáng và sám hối nhận biết Ngài và hạ mình xuống cúi phục, cầu nguyện với Ngài: “ - " Lạy Thầy Giêsu, khi nào Thầy vào Nước Thầy, xin nhớ đến con”" ( Lc 23, 42). Lương tâm được soi sáng và sám hối đó, qua thái độ cầu nguyện vừa kể, nói lên cùng một niềm tin của các Thánh Tồng Đồ, được chính Thánh Luca ghi lại trong sách Tông Đồ Công Vụ: “ - " Nhưng như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước: Đấng Ki Tô của Người phải chịu khỗ hình. Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em" ( Act 3, 18-19). Nói tóm lại, qua hình ảnh của người trộm lành thống hối hay qua lương tâm tội lỗi được ân sủng mời gọi và sám hối, Thánh Luca đã viết thành một cuốn giáo lý để cắt nghĩa một cách tài tình lịch sử cứu rỗi của Chúa Giêsu và đức tin của Giáo Hội vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể để đem lại tình thương, lòng nhân ái tha thứ và cuộc sống Nước Trời cho mọi người. D - Một hôm một anh thanh niên đến thăm một vị linh mục già nua trong một viện dưỡng lão. Anh thanh niên hỏi Ngài một câu: “ - "Thưa cha, chúng ta tốn bao nhiêu công sức để nhằm đạt được Nước Trời. Cha nghĩ rằng mình có đạt được không?”". “ - " Cha chắc chắn là sẽ thừa hưởng được Giêrusalem trên thiên quốc ( Gal 4, 26), đã được ghi trên Nước Trời ( Heb 12, 23). Cha hoàn toàn tin tưởng vào Đấng đã hứa, vì Người là Đấng luôn luôn trung tín (Heb 10, 23). Tại sao mình có thể nghi ngờ được? Trong cả đời, cha đã hiếu khách cho đỗ nhờ như Abraham, kiên nhẫn như Giobe, khiêm nhượng như David, hiền từ như Moisen, thánh đức như Aronne, ẩn dật như Thánh Gioan, ăn năn thống hối như Geremia, thông minh như Phaolồ, trung tín như Phêrô, khôn ngoan như Salomon. Và cha tin cậy như người trộm lành rằng, Đấng đã thương ban cho cha tất cả những điều đó do lòng đại lượng của Người, cũng sẽ ban cho cha Nước Trời "” ( Lm. Giovanni il Persiano).

 

Khi đọc đến phần cuối của đoạn Phúc Âm về Người thiếu phụ ngoại tình hôm nay, Nghe vậy họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Chúa Giêsu và người phụ nữ đứng giữa” ( Jn 8, 9), Thánh Augustino đã viết một câu suy ngẫm thấm thía:" Chỉ còn lại có hai thực thể, tội lỗi bất hạnh của con người ( người thiếu phụ tội lỗi ) và lòng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa ( Chúa Giêsu)". Trước mặt Thiên Chúa, con người tỗi lỗi, thấp hèn, bất hạnh, cần nhờ lòng đại lượng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa. A - Trong quá khứ, đọc câu chuyện " Người thiếu phụ ngoại tình " trong Phúc Âm hôm nay, nhiều lần chúng ta thích thú, ít nhứt là đối với người đang viết những dòng nầy, trước câu nói của Chúa Giêsu: - " Ai trong các ông sạch tội thì lấy đá mà ném trước đi ! Nghe vậy họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ đứng giữa " ( Jn 8, 7b.9). Chúng ta thích thú vì cho rằng Chúa Giêsu, với câu nói của Ngài, đã " lột mặt nạ " được các kinh sư và người Pharisêu, là những thành phần giả hình, không biết thương yêu người khác. Họ là những thành phần nhiều lần bị Chúa Giêsu khiển trách( Mt 23, 1-36) . Đồng thời Chúa Giêsu đứng ra bênh vực người thiếu phụ tội lỗi, như Ngài đã tuyên bố, khi kêu gọi ông Matthêu trở thành Môn Đệ: - " Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi kẻ tội lỗi " ( Mt 9, 13). Điều suy nghĩ trên có lý, nhưng là lối chú giải hạn hẹp. Đoạn Phúc Âm hôm nay về " Người thiếu phụ ngoại tình " hàm chứa súc tích hơn những gì chúng ta vừa suy nghĩ. Trước hết Phúc Âm thuật lại cho chúng ta là khi họ dẫn người thiếu phụ đến và tố cáo nàng trước mặt Chúa Giêsu, mục đích của họ không phải là kết án nàng, cho bằng tìm những sơ hở của Chúa Giêsu để tố cáo kết án và loại trừ Ngài: - " Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người " ( Jn 8, 6a). Do đó, câu nói của Chúa Giêsu có bênh vực người thiếu phụ tội lỗi, nhưng đó không phải là mục đích chính của Ngài ở đây. Và nếu mục đích chính không phải là để bênh vực người thiếu phụ, cũng không phải chỉ " lột mặt nạ " thành phần giả hình, như một đôi khi chúng ta nghĩ đến, thì câu Phúc Âm còn có ý nghĩa sâu xa hơn. Trở lại dụng ý " thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người " của các kinh sư và Pharisêu, chúng ta thấy rằng: - nếu Chúa Giêsu vì lòng nhân từ tuyên bố tha bổng cho người thiếu phụ tội lỗi, chính Ngài tự đặt mình trong vị thế lỗi luật Moisen và có thể bị kết án, - trái lại, nếu Chúa Giêsu cứ " kéo thẳng mực tàu " lên án không thương xót, thì Ngài là kẻ " nói một đàng, làm một nẻo", dạy giáo lý nhẫn nại, đại lượng, thương xót của Thiên Chúa, nhưng lại thẳng tay kết án tử hình không chút thương tình. Bởi lẽ lời nói của Ngài, là một bản án tử hình, mà các kinh sư và người Pharisêu đang đợi để hành quyết: - " Thưa Thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Moisen truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" ( Jn 8, 4-5). Chiếc bẫy các kinh sư và người Pharisêu giăng hôm nay để bắt và tố cáo Chúa Giêsu cũng tương tợ như chiếc bẫy họ đã giăng ở một lần khác về việc có nên hay không nên nộp thuế cho Caesare ( Mc 12, 13-17). Phúc Âm thuật lại cho chúng ta câu chuyện không được kết thúc một cách mau chóng. Chúa Giêsu thinh lặng không trả lời và những kẻ tố cáo chắc nẩm lập đi lập lại bản án. Do đó đoạn Phúc Âm được viết bằng cách dùng động từ ở thể thì bán khứ ( temps imparfait), để chỉ động tác kéo dài và lập đi lập lại trong khoảng thời gian, theo nguyên bản Aramaico cũng như bản Pháp văn chúng tôi có trong tay: - " Họ nói với Người: Thưa Thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang. Họ nói thế nhằm thử Người, Vì họ cứ nói mãi... " ( Jn 8, 6-7): Ils disaient à Jésus: Mai^tre, cette femme a été surprise en flagrant délit d'adultère.Il disaient cela pour Lui tendre un piège. Come ils insistaient.. ( La Sainte Bible, L'Éùcole Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris, 1961, 1409). Có lẽ câu chuyện không kết thúc mau chóng, vì Chúa Giêsu không trả lời ngay cho những kẻ tố cáo người thiếu phụ. Ngài cuối xuống đất và viết : - « Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, lấy ngón tay, viết trên đất » ( Jn 8, 6b). Chúa Giêsu viết những gì ? Phúc Âm không thuật lại cho chúng ta biết. Nhưng hiểu được giáo lý nhân ái của Chúa Giêsu và những gì Ngài sẽ nói với họ ở phần cuối của đoạn Phúc Âm, cũng như tình trạng căng thẳng quyết định lúc đó, chúng ta có thể đoán được là Ngài viết cho họ , có thể là một đoạn của sách tiên tri Gêrêmia : một vài chỉ dẫn trong giai đoạn Xuất Hành ra khỏi Ai Cập: - « Lạy Đức Chúa, niềm hy vọng của Israel là Ngài, hết những ai lìa bỏ Ngài sẽ phải xấu hỗ, những kẻ quay lưng lại với Ngài sẽ phải đói khát, vì họ đã lìa bỏ Đức Chúa là mạch nước trường sinh » ( Jer 17, 13). Và trước đó một vài câu, tiên tri Gêrêmia nhấn mạnh : - « Tội của Giuđa phải được ghi bằng bút sắt và khắc bằng mũi kim cương vào tâm hồn và vào những góc bàn thờ của chúng » ( Jer 17, 1). Mệnh lệnh đó của tiên tri Gêrêmia, có thể được Chúa Giêsu diễn tả bằng những chữ viết của Ngài trên mặt đất cho các kinh sư và người Pharisêu là những người thông thạo Thánh Kinh, với đại ý của mệnh lệnh là : dân tộc Israel, không trừ ai, kể cả những kẻ đang đứng trước mặt Chúa Giêsu lúc đó, đều phải biết mình sẽ là đối tượng phán xét của Thiên Chúa, phải biết nhận lỗi lầm của mình, khiêm nhường, thống hối và nhận biết lòng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa. Có lẽ bằng chữ viết trên đất vừa kể, Chúa Giêsu cũng đã nói lên được sứ điệp Ngài muốn nói với họ, ít nhứt là cho một số người đã hiểu ý, vì họ là những người thông thạo Thánh Kinh. Nhưng chắc cũng có một số người khác chưa hiểu, nên họ lập đi lập lại câu hỏi để thúc bách Ngài: - « Nhưng vì họ cứ nói mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ » ( Jn 8, 7). Và câu nói của Chúa Giêsu, hiểu như văn mạch những chỉ dẫn của Thánh Kinh trong giai đoạn Xuất Hành vừa kể, không có gì khác hơn là cách diễn tả lại bằng lời nói rỏ ràng hơn sứ điệp Ngài đã bảo họ bằng chữ viết : - « Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá ném trước đi » ( Jn 8, 7b ). Và như chúng ta đã đề cập, sứ điệp của giai đoạn Xuất Hành có nội dung cho biết tình trạng bất trung, lỗi lầm của dân Do Thái, tất cả mọi người không trừ ai, mọi người cần thống hối và nhận biết lòng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa. Từ đó chúng ta hiểu được tại sao khi nghe câu nói vừa kể của Chúa Giêsu, lần lần họ rút lui : - « Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi » ( Jn 8, 9). Bởi lẽ ai cũng là người tội lỗi, bất xứng trước mặt Thiên Chúa, cần được lòng nhân từ tha thứ của Ngài. Hay chỉ còn lại hai thực thể : « tội lỗi bất hạnh và lòng nhân từ tha thứ của Thiên Chúa » , nói như Thánh Augustino. Như vậy, họ rút lui, từ bỏ việc tố giác người thiếu phụ tội lỗi hay đúng hơn là từ bỏ ý hướng bất lương nhằm gài bẩy để tố giác Chúa Giêsu, không phải chỉ là dấu hiệu bấn loạn bên ngoài, nhưng là dấu chỉ bên ngoài những gì đang thay đổi ở nội tâm, nhờ cử chỉ và lời kêu gọi xét mình thống hối của Chúa Giêsu. Do đó câu trả lời của Chúa Giêsu trong câu chuyện hôm nay không phải chỉ là lời lẽ để « lột mặt nạ » các thành phần gian dối, bất chính, mà là lời kêu gọi hối cải và biết thương người, để được Thiên Chúa nhân từ thứ tha, cả đối với họ « các kinh sư và người Pharisêu giả hình » ( Mt 23, 1-32). Chúa Giêsu nhân danh Chúa Cha đến để giúp đỡ người tội lỗi, bất cứ người tội lỗi đó là ai : - « Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi » ( Mt 9, 13). Và Ngài đem Nước Trời đến cho tất cả mọi người, không trừ ai. B - a) Đối với người thiếu phụ tội lỗi, một lần nữa Thánh Augustino đã có nhận xét chí lý về câu nói cuối cùng của Chúa Giêsu với người thiếu phụ : - « Ta cũng vậy, Ta cũng không lên án con ! Hãy ra đi, và từ nay đừng phạm tội nữa » ( Jn 8, 11b). Qua câu nói của Chúa Giêsu, Thánh Augustino cho chúng ta nhận xét : Chúa Giêsu không lên án tội nhân, con người : « Ta cũng vậy, Ta cũng không lên án con ! ». Nhưng Chúa Giêsu lên án tội lỗi : « và từ nay đừng phạm tội nữa ! ». Trong câu nói vừa kể, Chúa Giêsu tha tội cho người thiếu phụ, « Ta cũng không lên án con », nhưng không phải vì đó mà Ngài cho rằng nàng vô tội vạ, tội nàng lỗi phạm không đáng kể. Tội nàng vấp phạm là một trọng tội, lỗi phạm đối với Chúa và xúc phạm, bất chính đối với người khác. Tội lỗi là những gì sai trái, xấu xa, bất chính đối với Chúa và đối với anh em. Bởi đó, với lòng nhân từ, Chúa Giêsu tha cho nàng, nhưng khuyên răn nàng đừng tái phạm, « và từ nay đừng phạm tội nữa !». b ) Cử chỉ của Chúa Giêsu, qua lời nhận xét của Thánh Augustino, cũng là gương mẫu cho cách hành xử của chúng ta, người Ki Tô hữu. Chúng ta có thể noi gương Chúa Giêsu tha thứ cho những ai ( con người) có hành vi bất chính, sai trái, lỗi phạm, «Ta cũng không lên án con ». Tha thứ , không có nghĩa là chúng ta biện hộ cho những sai trái họ làm là điều « vô thưởng vô phạt, không đáng kể ». Tha thứ cho con người lỗi phạm, nhưng chúng ta không thể chấp nhận tội lỗi, tư tưởng và quan niệm bất chính, ý thức hệ sai lạc, xúc phạm đến Thiên Chúa, bất chính và đê tiện hóa nhân phẩm con người. Tội lỗi, quan niệm bất chính, ý thức hệ sai lạc, bất chính và đê tiện hóa nhân phẩm con người, là những gì vi phạm đến hai giới răn quan trọng nhứt của Ki Tô giáo : kính Chúa và yêu người. Đối với tội lỗi, quan niệm bất chính, ý thức hệ sai lạc, cách hành xử bất công và đê tiện hoá nhân phẩm con người, chúng ta không thể lẫn tránh trách nhiệm. Phải biết can đảm lên án như Chúa Giêsu đã lên án : « và từ nay, đừng phạm tội nữa ! ». c ) Chúa Giêsu tha thứ cho người thiếu phụ tội lỗi, trả lại cho nàng tự do quyết định, trách nhiệm để định đoạt hành động trong tương lai và địa vị con Thiên Chúa, để nàng sống lại tình con cái mà Thiên Chúa luôn luôn dành cho con người. Đem ơn sủng trở lại cho nàng và địa vị con Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng đồng thời ủy thác cho nàng sứ mạng đem kinh nghiệm niềm vui được tha thứ và tình thương của Thiên Chúa đến cho anh em, qua câu nói : - « Con hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa » ( Jn 8, 11b) ( Va, désormais ne pèche plus » ( La Sainte Bible, id.). « Con hãy đi », hãy đi và đem kinh nghiệm tình thương và niềm vui ân sủng Thiên Chúa đến cho anh em. Đó cũng là ơn gọi của mỗi người tín hữu Chúa Ki Tô.