Tham Khảo >>  Sống Đạo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Đoạn Phúc Âm Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay kết thúc cuộc sống trần gian của Chúa Giêsu. Người được tiếp rước lên trời trước mặt các môn đệ hoan hỷ chứng kiến vinh quang của Người: - " Nói xong Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" ( Mc 16, 19). Còn các môn đệ sau khi chứng kiến Chúa Giêsu vinh hiển trở về trời, ngự bên hữu Chúa Cha, liền hăng say đi khắp nơi rao giảng Phúc Âm cho muôn dân: - " Còn các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng " ( Mc 16, 20). Có lẽ để tránh cho bài đọc quá dài, nên Thánh Bộ Phụng Tự không lấy thêm hai câu trước, câu 14-15, cho đoạn Phúc Âm hôm nay. Nhưng bỏ hai câu vừa kể, đoạn Phúc Âm chúng ta đọc mất đi ý nghĩa hoàn cảnh và tâm trạng thực tế của những lần Chúa Giêsu hiện ra sau Phục Sinh và ý nghĩa của bối cảnh Chúa Giêsu giao cho các môn đệ sứ mạng tông đồ, khi Người từ giả các ông về trời. Câu 14 Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 16, 14) thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong lúc các ông đang dùng bữa, buồn bã, chán nản và nghi nan sau cái chết của Chúa Giêsu, mặc dầu Chúa Giêsu đã hiện ra hai lần trước, một cho bà Maria Magdala ( Mc 16, 9-11) và một lần cho hai môn đệ trên đường đi đến Emmaus ( Mc 16, 12-13). Nhưng kết quả của hai lần hiện ra đều được Phúc Âm Thánh Marco lập lại như một điệp khúc vô vọng, chán nản: - " Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin" ( Mc 16, 11). - " Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người nầy" ( Mc 16, 13). Trước tình trạng buồn bã, chán nản và nghi nan đó của các ông, Chúa Giêsu hiện đến trách móc và nâng đỡ các ông: - " Sau cùng Nguời tỏ mình ra cho Nhóm Mười Một Người đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người trỗi dậy. Người nói với các ông: anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" ( Mc 16, 14-15). Đọc hai câu Phúc Âm vừa kể, chúng ta thấy Chúa Giêsu có hành động nghịch thường là thay vì khiển trách các môn đệ rồi bỏ đi, vì lòng nghi nan của các ông, Người khiển trách lòng kém tin của các ông, sau đó lại giao cho các ông sứ mạng đi rao giảng Tin Mừng cho "khắp tứ phương thiên hạ". Qua những gì Phúc Âm thuật lại trong bài đọc Thánh Lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, chúng ta thử suy nghĩ về sứ mạng tông đồ của Giáo Hội và những vấn đề phải đối phó. Trước hết Chúa Giêsu khiển trách các môn đệ nghi nan về việc Người đã sống lại. Có lẽ khi "khiển trách các ông không tin và cứng lòng", Chúa Giêsu không những trách móc các ông kém lòng tin về việc Người sống lại, mà còn khiển trách các ông còn nô lệ vào quá khứ, còn sống đóng kín trong kỷ niệm của thời đã qua, không bao giờ tái diễn nữa. Các ông không biết hay quên đi Nhóm Mười Một Người mà các ông đang sống ngày hôm đó và các cộng đồng tín hữu, con cái của các vị trong đức tin sau nầy, không còn phải là những cộng đồng kỷ niệm của ông Giêsu Nazareth đã chết, mà là cộng đồng của Chúa Giêsu đang sống, hoạt động và thông ban ân sủng: - " Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20). Xác tín vừa kể được Thánh Marco giải thích rỏ hơn: - " Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng" ( Mc 16, 20). Qua những lời vừa kể, chúng ta tự hỏi lương tâm chúng ta, con cái của các Tông Đồ trong đức tin, chúng ta đang sống với tâm trạng nào trong lòng Giáo Hội, Cộng Đồng do các Tông Đồ thiết lập trong sứ mạng " ra đi rao giảng khắp nơi " của các Ngài? Cộng Đồng Giáo Hội của chúng ta là Cộng Đồng của ông Giêsu Nazareth đã chết, là Cộng Đồng của kỷ niệm dĩ vãng, dẫu cho là những dĩ vãng vàng son, hay là Cộng Đồng của Chúa Giêsu đang hiện diện, đang sống và " hoạt động với các ông " và thông ban ân sủng tràn đầy cho mọi thành viên trong Cộng Đồng? Và từ đó thái độ chúng ta phải có, không phải thái độ buồn nản, thất vọng, bị " Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng", mà là thái độ tích cực, nhiệt tâm, hăng say thực hiện sứ mạng Chúa Cha ủy thác ( apostello), như người được tin cẩn, đáp ứng lại như một tông đồ ( apostolus) cùng hoạt động với Chúa Giêsu và theo ý muốn của Người: - " Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rủa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 20). Trở lại tâm trạng buồn nản và không tin của các môn đệ, chúng ta đã có dịp nhắc đến ở trên , khiến Chúa Giêsu phải khiển trách các ông ( Mc 16, 14-15). Tuy vậy, thay vì bỏ đi Người lại giao sứ mạng truyền giáo cho các ông: - " Người nói với các ông: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi thọ tạo" ( Mc 16, 15). Đó cũng là những gì thực tế đã và đang xãy ra trong lòng Giáo Hội. Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta năng động trên cánh đồng truyền giáo của Người, không phải vì chúng ta thông thái tuyệt đỉnh, có đức tin trong sáng vững chắc như bàn thạch. Bốn môn đệ tiên khởi của Chúa Giêsu, ông Simon Phêrô, Andrea, Giacobe và Gioan là những người sống nghề chài lưới ( Mt 5, 18-22). Ông Matthêu là người làm nghề siết thuế, kẻ bị xã hội khinh bỉ ngang hàng với những người tội lỗi ( Mt 9, 9-13): - " Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy ?" ( Mt 9, 11). Ông Simon Phêrô, vị thủ lãnh của Giáo Hội cũng đã chối Chúa Giêsu ba lần, lúc Người lâm nạn ( Mt 26, 69-75). Và Giuda Iscariote bán Chúa Giêsu với ba mươi đồng tiền ( Mt 26, 47-50). Nói tóm lại, nếu trong hàng ngũ các môn đệ Chúa Giêsu có những người tài trí làm bác sĩ, luật sư như Thánh Marco, Thánh Luca, thì cũng có những người ít học, lòng tin không phải lúc nào cũng vững chắc, không giao động. Đó chính là điều Thánh Marco thuật lại cho chúng ta suốt đoạn Phúc Âm ( Mc 16, 9-16) và Chúa Giêsu đã phản ứng trước thực trạng: - " Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng…" ( Mc 16, 14). Nhưng khiển trách vì đáng khiển trách, Chúa Giêsu sau đó cũng giao cho những con người bất toàn, mềm yếu, cần được nâng đỡ, sứ mạng loan báo ơn cứu rỗi cho anh em: - " Anh em hãy đi khắp thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" ( Mc 16, 15). Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Thánh Marco chỉ nói Chúa Giêsu nâng đỡ các Tông Đồ bất toàn của mình bằng cách ban cho các ông được quyền làm các dấu lạ, để xác nhận quyền lực thần linh lời nói của các vị rao giảng: - " dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng" ( Mc 16, 20). Đó là dấu các ông có quyền trừ qủy, nói được nhiều tiếng mới lạ, không phải sợ nộc độc rắn rết và chữa khỏi bệnh tật: - " Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy họ sẽ trừ được qủy, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người nầy sẽ được mạnh khoẻ" ( Mc 16, 17-18). Chúa Giêsu cũng nâng đỡ các môn đệ bằng cách hiện diện giữa các ông và hoạt động với các ông: - " Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 20). - " Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông" ( Mc 16, 20). Và chắc chắn chúng ta phải đọc trong câu " có Chúa cùng hoạt động với các ông" của Phúc Âm Thánh Marco sự hiện diện, bảo trợ, an ủi, trí khôn sáng suốt và thêm nghị lực của Chúa Thánh Linh đem đến cho các Môn Đệ, được nói đến trong những Phúc Âm khác: - " Song Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng An Ủi sẽ không đến với anh em. Nhưng nếu Thầy ra đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ chứng minh cho rằng thế gian sai lầm vì tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử" ( Jn 16, 7). - " Người thổi hơi vào các ông và bảo: anh em hãy nhận lấy Thánh Thần" ( Jn 20, 19). - " Khi người ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều đó: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Chúa Thánh Thần nói" ( Mc 13, 11). - " Nhưng Đấng An Ủi là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em" ( Jn 14, 26). Qua những gì đọc được trong Phúc Âm vừa kể, chúng ta thấy rằng trong Giáo Hội Chúa gọi những người thông thái, có đức tin vững chắc, cũng như những người có tầm hiểu biết ít oi hơn, yếu kém hơn, kém lòng tin hơn, dễ sa ngã hơn. Nhưng đối với những ai được Chúa gọi, giáo sĩ cũng như giáo dân, tất cả chúng ta đều " có Chúa hoạt động với các ông", có Chúa Thánh Linh là Đấng An Ủi, Bảo Trợ, Sức Mạnh và Trí Khôn Ngoan được Chúa Cha sai đến cho mỗi người chúng ta, mỗi người tùy hoàn cảnh và chức vụ của mình, để hoàn thành sứ mạng " ra đi rao giảng khắp nơi " của các Tông Đồ. Những khó khăn, trở lực, đàn áp, bắt bớ, tù đày, tra tấn và giết chết đã được Chúa Giêsu tiên đoán trước: - " Khi người ta điệu an em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều đó…, không phải chính anh em nói, mà Chúa Thánh Thần nói ". Điều quan trọng là chúng ta tin chắc ở những điểm mấu chốt: không đặt tin tưởng vào khả năng của mình để giải quyết mọi vấn đề, hoàn toàn vào khả năng tự vệ và chỉ vào sức mạnh của chính mình, mà nhận biết rằng chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của các Tông Đồ, chúng ta " có Chúa hoạt động với các ông" và chúng ta có Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta. Ý thức được rằng trong Giáo Hội cũng có những người bị " Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng", chúng ta nhớ cầu nguyện cho anh em chúng ta, người anh em đó là chủ chăn hay là một giáo dân thường cũng vậy, để anh em có đủ ân sủng chu toàn địa vị và sứ mạng của mình. Nói tóm lại Giáo Hội là một Cộng Đồng có Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành đang sống động dẫn dắt. Thành phần trong Giáo Hội luôn chịu nhiều thử thách, yếu đuối, nhưng chúng ta "có Chúa hoạt động với các ông" và có Chúa Thánh Linh an Ủi, Bảo Trợ, thêm sức mạnh và soi sáng. Biết được anh em yếu đuối, thay vì chỉ trích, phán đoán gay gắt, chê trách, chúng biết cầu nguyện cho anh em, yêu thương anh em như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: - " Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em " ( Jn 15, 12).

 

Đề tài của đoạn Phúc Âm Chúa Nhật vừa qua ( Jn 15, 1-8) nói về trạng thái phải có của người môn đệ Chúa Giêsu để cho sứ mạng tông đồ đem đời sống đời đời đến cho anh em được kết quả mỹ mãn là " ở lại với Chúa Giêsu" hay gắn liền với Người như cành nho gắn liền với cây nho, tham dự vào mạch sống đang vận chuyển trong cây nho, vào đời sống của Chúa Giêsu thông hiệp với Chúa Cha. Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 15, 9-17) được xem như là hậu quả tất nhiên phải có của cuộc sống " ở lại với Chúa Giêsu" hay thông hiệp vào đời sống thần linh của Thiên Chúa. Đó là cách sống yêu thương nhau giữa những môn đệ được Thiên Chúa thông ban đời sống thần linh của Người cho họ: - " Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Đoạn Phúc Âm chứa khá nhiều yếu tố rất có ý nghĩa, chúng ta tuần tự đề cập đến để suy niệm. a ) "Không phải anh em chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em…" ( Jn 15, 16). 1) Đọc Phúc Âm chúng ta có được nhiều chứng cứ của câu Phúc Âm vừa nói. Chính Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ Người. Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên là ông Simon Phêrô, ông Andrea anh của ông Phêrô, ông Giacobe và ông Gioan ( Mt 4, 18-22). Chúa Giêsu gọi ông Matthêu, khi thấy ông đang ngồi ở văn phòng thâu thuế ( Mt 9,9). Điều đó cho thấy rằng trở thành môn đệ Chúa Giêsu, vào làm việc trong cánh đồng truyền giáo của Chúa Giêsu là do ơn gọi, được Thiên Chúa tuyển chọn và ủy thác cho: ơn gọi trở thành chủ chăn, ơn gọi sống đời tận hiến của các tu sĩ nam nữ và cả ơn gọi để sống đời sống tín hữu giáo dân trong cuộc sống hôn nhân gia đình. Mỗi người chúng ta đều được Chúa tuyển chọn và ủy thác cho sứ mạng truyền giáo trong cuộc sống theo hoàn cảnh của mình, mỗi người tùy theo khả năng Chúa ban và môi trường Chúa muốn để sống ơn cứu rỗi của mình và đem ơn cứu rỗi đến cho anh em: - " Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em" ( Jn 15, 16). Những suy nghĩ vừa rồi làm chúng ta xác tín rằng mỗi người chúng ta, con cái của các môn đệ trong đức tin để tiếp tục sứ mạng của các ngài, dầu ở đấng bậc nào, chúng ta cũng đang sống ơn gọi mà chúng ta nhận lãnh từ Chúa Cha, qua Chúa Giêsu, như có lần chính Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người: - " Như Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Thầy, thì Thầy cũng sai ( pempo) anh em" ( Jn 20, 21). Chúa Giêsu sai ( pempo) chúng ta đi, sống và thực hiện sứ mạng truyền giáo mỗi người trong hoàn cảnh cuộc sống của mình, là để tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu mà Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Người. Ơn cứu rổi của chúng ta và của anh em là những gì vượt quá khả năng loài người của chúng ta. Do đó, nếu Thiên Chúa không chọn chúng ta, không ủy thác cho chúng ta và không sai chúng ta đi, tự bản tính con người của chúng ta, chúng ta không có khả năng làm gì được: - " Nghe nói vậy, các môn đệ sửng sốt và nói: Thế thì ai có thể được cứu? Chúa Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói: Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được" (Mt 19, 25). Tại sao? Bởi lẽ " lên thiên đàng" hay được cứu rỗi không phải chỉ là " không xuống hoả ngục" , mà là " tham dự vào chính bản tính thần linh của Thiên Chúa", được sống chính đời sống Thiên Chúa của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng ta là những đứa con, được Chúa cho tham dự vào chính đời sống Thiên Chúa của Cha mình: - " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy (của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…" ( 2 Pt 1,4). Được cứu rỗi là được " thông phần bản tính Thiên Chúa" . Do đó nếu Thiên Chúa không cho phép, không mời gọi, không chọn chúng ta, không sai chúng ta đi để loan báo cho anh em, không cho phép chúng ta " tham dự vào bản tính Thiên Chúa" của Người, thì chúng ta không làm được gì hết: - " Đối với loàn người, thì điều đó không thể được". Nhưng điều đó không có gì là không thể làm được, khi Thiên Chúa vì lòng thương ban cho chúng ta quyền được tham dự, quyền của những đứa con hưởng gia tài trọng đại của Người Cha: - " nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự điều có thể được". 2 ) Kế đến câu nói " Không phải anh em chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em" ( Jn 15, 16 ) không phải là câu Chúa Giêsu nói lên để làm giảm bớt giá trị quyền tự do định đoạt của mỗi người chúng ta trong việc nhận lãnh sứ mạng được ủy thác và sai đi để cứu rỗi chúng ta và cứu rỗi anh em, mà một câu nói bảo chứng xác nhận nguồn gốc sứ mạng và ơn kêu gọi chúng ta chu toàn, phát xuất từ Chúa Cha, từ ý muốn cứu rỗi nhân loại của Chúa Cha: - " Như Chúa Cha đã ủy thác cho Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" ( Jn 20, 21). Xác tín được sứ mạng của mình chính là sứ mạng cứu rỗi do Chúa Cha ủy thác và mình được Chúa Giêsu chọn để tiếp tục sứ mạng là động lực và nền tảng vững chắc cho những bước đi trên bưóc đường tông đồ. Trong nhiều hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống, cũng như trong việc sống và thực hiện sứ mạng, việc cảm thấy lẻ loi, tư tưởng biết đâu mình đã lầm đường, biết đâu mình đã không tự gán cho mình việc mà không ai sai biểu và ủy thác, không phải là không có. Biết được Chúa Giêsu chọn mình để sống ơn cứu rỗi và đem ơn cứu rỗi đến cho anh em làm cho chúng ta can đảm và vững chí thực hiện sứ mạng vui tươi và khiêm tốn, bởi vì sứ mạng chúng ta có được là sứ mạng được Chúa thương ban, ủy thác và sai đi, chớ không phải do công đức của chúng ta: - " Đối với loài người, điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể được" ( Mt 19, 25). b) " Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Câu Phúc Âm vừa được trích dẫn là câu Chúa Giêsu lập lại những gì Người đã nói với các môn đệ trong lời cáo biệt sau buổi tiệc cuối cùng: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau. Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy ở điểm nầy, là anh em có lòng thương yêu nhau" ( Jn 13, 34-35). Muốn hiểu được tại sao " anh em hãy thương yêu nhau" " điều răn mới " của Phúc Âm Chúa Giêsu, trong Phúc Âm Thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã đề cập đến điều răn mới của Ngài so với đường lối khôn ngoan và cách cư xử công bình thế tục: - " Anh em đã nghe Lề Luật dạy rằng: Mắt thế mắt, răng đền rang. Hãy yêu người đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt, cho mưa xuống trên ngưòi công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?..." ( Mt 5, 38.43- 46) . - " Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: Thầy không bảo là bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy" ( Mt 18, 21-22). Qua những gì vừa đọc, chúng ta thấy được trương độ bao la của " điều răn mới " Phúc Âm: - " Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Trương độ của điều răn đó, qua những gì chúng ta vừa đọc, không phải chỉ hạn hẹp trong khuôn viên nhóm mười một môn đệ, cũng không phải chỉ tóm gọn trong lãnh vực các cộng đồng Ki Tô hữu đầu tiên cũng như hiện đại của chúng ta. Trương độ đó bao gồm tất cả mọi người, tín hữu Chúa Ki Tô hay không tín hữu cũng vậy, bởi vì Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, tín hữu hay không tín hữu, công chính hay không công chính cũng vậy: - " Cha anh em Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5, 45). Không những vậy, trương độ của điều răn tình thương mới đó còn bao gồm cả những người xúc phạm, ghen ghét, bách hại, thù hận đối với chúng ta: - " Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em." ( Mt 5, 44). Và thương yêu tha thứ cho họ không phải bảy lần, mà là " bảy mươi lần bảy" ( Mt 18, 22). Điều răn mới của tình thương đó, không những chúng ta chỉ tìm thấy ở những gì vừa được trích dẫn trong những dòng suy niệm trên. Chúa Giêsu giảng dạy và hành động làm chứng tình thương cho những gì Người giảng dạy trong điều răn mới bàn bạc trong các chương Phúc Âm. - "anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12). Đọc lại đoạn Phúc Âm diễn tả bối cảnh của buổi tiệc ly, trước khi Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ điều răn mới: - " Thầy ban cho anh em điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau. Anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 13, 34), Chúa Giêsu đã biều lộ tình thương bằng hành động: - " Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" ( Jn 13, 14). Như vậy, yêu thương không chỉ có nghĩa là cảm thấy trái tim rung động hồi hộp; thông cảm động lòng rưng nước mắt trước những khổ tâm, bần cùng, bất hạnh của người khác, mà là biểu lộ tình thương bằng hành động để làm giảm bớt những lo âu, đau khổ, khốn cùn của họ. Chúa Giêsu giảng dạy " anh em hãy thương yêu nhau , như Thầy đã yêu thương anh em" , nhưng trước đó chính người dã qùy xuống rửa chân cho từng môn đệ, biểu lộ tình thương bằng hành động để giảm bớt những thiếu thốn, bần cùng, bất hạnh của con người. Trong Phúc Âm Người đã biến nước thành rượu trong tiệc cưới khi họ hết rượu, hoá bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng đi theo nghe Người giảng dạy. Người đã không ngừng làm phép lạ để chữa bệnh tật cho - " người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng" ( Mt 11, 5) . Chúa Giêsu không những rao giảng tình thương mà còn chứng minh tình thương của Người bằng hành động, bằng cách ngồi ăn đồng bàn với những ai bị khinh rẻ miệt thị, bị loại ra bên lề xã hội: - " Khi Chúa Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và kẻ tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ…" ( Mt 9, 19). Và Người còn đứng về phía người tội lỗi để bênh vực họ, đem lại niềm tin cho họ để họ có cơ hội và nghị lực để trở lại với tình thương Thiên Chúa: - " Vì Ta đến không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi " ( Mt 9, 13). Chúa Giêsu cũng đứng ra bênh vực cô Madalena, một cô gái điếm, chống lại những lời châm biếm của những ai tự cho mình là công chính để chỉ trích cô: - " Vì thế, Ta nói cho các ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít. Rồi Chúa Giêsu nói với người phụ nữ: Tội của con đã được tha rồi". ( Lc 7, 47-48). Và rồi để bênh vực kẻ yếu thế, cô đơn đối với những kẻ hành xử quyền lực bất chính, gian dối, giả hình, lường lọc, Chúa Giêsu không rụt rè khi phải hành xử quyền giảng dạy và quyền mục tử nhân lành, đứng lên chạm trán thẳng với sói rừng: - " Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người khóa cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào. Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào. Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người giống như mả tô vôi, bên ngoài đẹp đẻ, nhưng bên trong thì đầy xương người và đủ mọi thứ ô uế bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác". ( Mt 23, 13. 27-28). Thái độ đại lượng và can đảm hy sinh đến chính cả mạng sống mình chống lại sói rừng để bênh vực chiên, bênh vực những ai được giao cho mình trách nhiệm phải chăn sóc của Chúa Giêsu là gương mẫu để chúng ta suy nghĩ: - " Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống ( psyché = linh hồn) mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải mục tử, và vì chiên không thuộc về anh ta, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên chạy tán loạn" ( Jn 10, 11-12). Phải chăng đó là thái độ phải có của những ai là mục tử, chớ không phải bỏ chạy, lẫn trốn khi thấy sói rừng? - "Anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã thương anh em". Thầy đã thương anh em, đã hy sinh mạng sống ( linh hồn) mình để bênh vực anh em. Tình thương Ki Tô giáo là vậy, không phải chỉ bằng tình cảm, lời nói, mà cả bằng hành động và hy sinh, cả linh hồn mình nếu cần để bảo vệ những ai mình thương yêu.

 

Phần đầu của đầu Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 15, 1-8), Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta lời của Chúa Giêsu dùng hình ảnh ngụ ngôn của cây nho và cành dính liền với cây nho. Đây là hình ảnh sau cùng nói lên điều kiện thiết yếu để có một tương lai kết quả rực rỡ cho sứ mạng mà Chúa Giêsu ủy thác cho các tông đồ. Ủy thác sứ mạng cho các ông, để trấn an các ông, Chúa Giêsu hứa là Người sẽ không để các ông mồ côi: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy sẽ trở lại cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa thế gian không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em. Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ ra cho người ấy thấy" ( Jn 14, 18-21). Chúa Giêsu cũng hứa sẽ ban cho các ông Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi ( Consolator) đến ở với các công và hỗ trợ các ông: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng An Ủi khác, đến và ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần của sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng không biết Người" ( Jn 14, 16-17). - " Đấng An Ủi đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). Và rồi Chúa Giêsu mở rộng cửa cho các môn đệ thấy viễn ảnh huy hoàng của sứ mạng tông đồ của các ngài: một cuộc sống sung mãn, đem lại nhiều kết quả, nếu các ông " ở lại với Người ", nếu các ông " gắn chặt vào Người ", như cành nho gắn chặt và thông hiệp với sức sống của cây nho: - " Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng vậy, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành" (Jn 15, 2-5). Hình ảnh cuộc sống đồng áng, cảnh người gieo kẻ gặt, cây nho và cành nho không phải là hình ảnh mới lạ được Chúa Giêsu dùng để nói về sứ mạng tông đồ của các môn đệ trong Phúc Âm hôm nay. Hình ảnh trên đã được Chúa Giêsu hàng huyên với các môn đệ ở đất Samaria, khi Người báo cho các ông là kết quả việc tông đồ của các ông là đem lại sự sống đời đời cho con người: - " Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi cho cuộc sống muôn đời, và như thế cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng.Thầy sai anh em đi gặt những gì anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả, còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ" ( Jn 4, 36-38). Và trước giờ chịu tử nạn sắp đến, Chúa Giêsu dùng một ngụ ngôn rất ngắn ngủi để nói về Người và về số phận truyền giáo của các tông đồ: - " Thật vậy, Thầy bảo thật anh em: nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trụi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" ( Jn 12, 24). Và rồi đoạn Phúc Âm hôm nay ( Jn 15, 1-8) là phần đầu của chương 15 Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho và cành nho để nói lên cách hành xử phải có của một người tông đồ, nếu muốn cho công cuộc truyền giáo của mình có kết quả đem lại " đời sống đời đời" cho anh em: - " Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng vậy, nếu anh em không ở lại trong Thầy…" ( Jn 15, 5). Nêu lên điều kiện tiên quyết đó, người tông đồ phải gắn liền với Chúa Giêsu, như "cành nho gắn liền với cây nho...,hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em", Chúa Giêsu cũng tiên báo những khó khăn đang đợi các tông đồ trên bước đường truyền giáo của các ông: - " Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng thế gian đã ghét Thầy trước. Nhưng anh em không thuộc về thế gian, vì Thầy đã chọn anh em, đã tách anh em ra khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em" ( Jn 15, 18). - " Họ sẽ khai trừ anh em ra khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình thờ phượng Thiên Chúa. Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ không biết Chúa Cha, cũng chẳng biết Thầy…" ( Jn 15, 19; 16,2). Hứa không để các môn đệ mồ côi, hứa ban Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi đến ở với các môn đệ và hỗ trợ các ông, mở rộng ra viễn ảnh huy hoàng cho thấy công việc của các ngài là công việc đem lại sự sống đời đời cho nhân loại và tiên báo những khó khăn phải gặp trên bước đường truyền giáo, Chúa Giêsu nói lên cách sống phải có trong khi thực hành sứ mạng tông đồ: luôn luôn liên kết mật thiết với Chúa Giêsu như cành nho gắn liền và thông hiệp đời sống của cây nho. Vườn nho đây không phải là vườn nho của Chúa Giêsu, mà chính là Chúa Giêsu cùng với các cành liên kết với Người Chúa Giêsu và tất cả các môn đệ " gắn liền và thông hiệp với Người " là vườn nho của Chúa Cha, những ai được Chúa Cha ủy thác ( apostello) cho sứ mạng cứu rỗi để cứu nhân loại. Viết Phúc Âm để nói lên lòng tin mãnh liệt của mình, chứng minh lòng tin đó và dạy cho các cộng đồng Ki Tô hữu đầu tiên niềm tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa là Ngôi Lời Nhập Thể đem đến sự sống đời đời cho nhân loại, như đã viết trong Lời Tựa của Phúc Âm ( Jn 1, 1-18), Thánh Gioan lập lại một cách ngắn gọn khi đến viếng mộ Chúa Giêsu Phục Sinh: - " Ông đã thấy và tin"( Jn 20, 8). Hay ở một đoạn khác, sau khi những cảm xúc mãnh liệt đầu tiên được biết Chúa Giêsu sống lại đã qua đi, Thánh Gioan cắt nghĩa rỏ ràng hơn: - " Còn những điều đã được ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống, nhờ danh Người " ( Jn 20, 31). Đặt những lời huấn dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ trong Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay về cây nho và cành nho gắn liền với cây nho trong nhản quan vừa kể, chúng ta sẽ tự hỏi " cũng như cây nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng vậy, nếu anh em không ở lại trong Thầy…" ( Jn 15, 5)em> có nghĩa là gì? Đối với Thánh Gioan, đức tin không phải tin để mà tin, mà "để anh em tin mà được sống nhờ danh Người" . Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của Kinh Tin Kính bằng La Ngữ chúng ta thường đọc: - " Credo in Unum Deum, Patrem Omnipotentem…". Nguyên bản La Ngữ của Giáo Hội không viết " Credo Unum Deum, mà là Credo in Unum Deum…". Túc từ trực tiếp Unum Deum được một tiền trợ từ ( préposition) " in" dẫn nhập để chỉ động từ " tin, Credo" diển tả một tác động đi vào trong, hội nhập vào trong túc từ đối tượng, tin cậy và phó thác mình cho Chúa. Ý nghĩa của Kinh Tin Kính chúng ta đọc không phải chỉ là " Tôi tin kính Một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…" có Chúa hay không có Chúa là Cha Toàn Năng cũng được, mà là - "Con tin cậy và phó thác vào Một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…", như thái độ của hai người tình thương yêu nhau, như thái độ hoàn toàn phó thác của đứa bé trong cánh tay người mẹ. Lòng tin cậy và phó thác đó bàn bạc trong suốt Phúc Âm Thánh Gioan. Ngài đã nói lên tâm hồn đó ở chương 1, ngay sau khi tuyên bố Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, là sự sống và là ánh sáng cho thế gian ở Lời Tựa( Jn 1, 1-18), lúc Ngài tường thuật lại hai môn đệ đầu tiên bỏ Thánh Gioan Tẩy Giả đi theo Chúa Giêsu: - " Hôm sau ông Gioan lại đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Chúa Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: Đây là Con Thiên Chúa. Hai môn đệ nghe nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu quay lại thấy hai ông đi theo mình, thì hỏi: Các anh tìm gì vậy? Họ đáp: Thưa Thầy, Thầy ở đâu? Người bảo họ: Đến mà xem. Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn" ( Jn 1, 31-34). - " Họ đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm đó". Vấn đề của một môn đệ, của người tín hữu Chúa Ki tô không phải chỉ là tin hay không tin có Chúa hay không có Chúa cũng được, " Con tin kính một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…", mà là " Con tin cậy và phó thác vào một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng…". Nói cách khác, người tín hữu hay môn đệ Chúa Ki Tô không những tin, mà còn tiếp tục tin, luôn luôn tiếp tục niềm tin của mình rộng mở đón nhận và thông hiệp đời sống thần linh mà Chúa Giêsu rộng mở thông ban cho chúng ta, chính mạch sống thần linh, nguồn hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, như Thánh Phêrô đã dạy chúng ta: - " Chính nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…" ( 2 Pt 1, 4). Bởi vì chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là sự sống và là ánh sáng của chúng ta: - " Đàng, sự thật và sự sống, chính là Thầy" ( Jn 14, 6). Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu ý nghĩa Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng các ngài là những người gặt "…thu hoa lợi cho cuộc sống muôn đời…" ( Jn 4, 36), bởi vì nhờ nhờ các ngài, những nhân chứng, thừa tác và giảng dạy Phúc Âm, Tin Mừng Cứu Rỗi, mà bao nhiêu người sẽ được hội nhập qua các ngài vào cuộc sống hạnh phúc thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Và vì hoa quả của môn đệ Chúa Ki Tô và các Ki Tô hữu, con cái của các ngài trong đức tin, sinh ra được là đem đến cuộc sống đời đời, đời sống thần linh của Chúa Ba Ngôi cho người khác, nên nếu chúng ta không gắn liền và thông hiệp với Chúa Giêsu " là đàng, là sự thật, là sự sống ", không thể nào chúng ta có thể đem đời sống Thiên Chúa cho người khác được. Đó là ý nghĩa tại sao Chúa Giêsu dạy các môn đệ: - " Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắng liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành…" ( Jn 15, 4-5). Một ý nghĩ sau cùng, chúng ta cần xác định để tránh ngô nhận. Trong câu " Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em", Chúa Giêsu dạy các môn đệ Người là giữa Người và các môn đệ phải có sự gắn liền, hiệp thông, " ở lại " ( menein) trong nguồn sống thần linh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng tư tưởng Thiên Chúa Giáo khác với quan niệm hiệp thông hòa đồng của một vài luồng tư trưởng triết học, nhứt là triết học đông phương. Theo quan niệm hiệp thông hoà đồng vừa được đề cập, Bản Ngã của con người chúng ta sẽ hòa tan vào Đại Ngã của Đấng Tối Cao khi chúng ta hiệp thông với Người, như một giọt nước hòa tan trong Đại Dương. Trong quan niệm nhân vị của Thiên Chúa Giáo, mỗi người chúng ta là một nhân vị, một đứa con được Thiên Chúa sinh ra với tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ và đặc tính của mỗi người. Mặc dầu chúng ta được Thiên Chúa ban cho chúng ta hưởng hạnh phúc bất diệt tham dự vào chính đời sống thần linh mà Người đang sống, hay " bản tính thần linh của Thiên Chúa" ( 2 Pt 1,4), chúng ta vẫn có nhân vị và cá tính một đứa con của Người. Con người của chúng ta không thể hoà lẫn tan biến trong con người của người khác, càng không thể tan biến trong " Đại Ngã" của Thiên Chúa. Chúng ta thông hiệp với Thiên Chúa, nhưng chúng ta vẫn có cá tính nhân vị của mỗi người chúng ta. Đó là những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta: - " Thầy là cây nho, anh em là cành" ( Jn 15, 5).

 

Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay trình bày cho chúng ta Chúa Giêsu dưới hình ảnh của người mục tử nhân lành, hy sinh cả cuộc đời mình, sống chết vì đoàn chiên. Một hình ảnh rất được ngưỡng mộ và gây nên cảm xúc trước sự hy sinh cao cả của chủ chăn đối với đoàn chiên trong xã hội nông nghiệp lúc đó, thời Chúa Giêsu, ở miền Trung Đông và Cận Đông. Nhưng hình ảnh đó có thể không gây nên một cảm xúc nào đối với xã hội kỹ nghệ hóa hiện đại của chúng ta, nhứt là xã hội hoá như các xứ Tây Âu, bởi lẽ người dân trong các nước kỹ nghệ không mấy khi quen thuộc với hình ảnh người mục tử đi trước dẫn theo sau một đoàn chiên, có chăng một đôi khi qua màn ảnh truyền hình và càng không thể hiểu được tâm tình gắng bó giữa mục tử và đoàn chiên, được kể lại trong Phúc Âm. Chúng ta không biết có thể lấy hình ảnh của đứa bé chăn trâu, dắt trâu ra đồng ăn cỏ ở Việt Nam để biểu tượng phần nào mối thân tình giữa chủ chăn và đoàn trâu trên cánh đồng cỏ ở Việt Nam không. Nhưng hình ảnh vừa kể không thể nào biểu tượng được mối cảm xúc Chúa Giêsu đề cập đến thái độ hiên ngang và đại lượng của người mục tử đối đầu với đoàn sói để bênh vực đoàn chiên mình. Cử chỉ anh hùng và đại lượng đó đã làm rung động bao nhiêu trái tim của những ai nghe Người kể lại thái độ phải có của người mục tử trước hiểm họa của đoàn chiên lúc đó: - " Ta là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh ta, nên khi thấy sói đến, anh ta liền bỏ chạy. Sói vồ lấy chiên và làm chúng tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, nên không thiết gì đến chiên" ( Jn 10, 11-13). Cử chỉ can đảm và đại lượng của người mục tử nhân lành, mà Người là biểu tượng, được Chúa Cha tán đồng và tình thương của Người xác nhận. Bởi đó Người nhận được ý muốn của Chúa Cha phải thi hành và có quyền hy sinh mạng sống mình cũng như lấy lại lúc nào tùy ý Người, vì Người là Thiên Chúa: - " Sở dĩ Chúa Cha yêu mến Ta, là vì Ta hy sinh mạng sống mình. Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha Ta, mà Ta đã nhận được" ( Jn 10, 17-18). Ở phần chính của đoạn Phúc Âm, không những Chúa Giêsu là Người Mục Tử nhân lành có mối liên hệ mật thiết sống còn với đoàn chiên của mình: - " Ta biết con chiên Ta, và con chiên Ta biết Ta" ( Jn 10, 15), mà Người còn có những con chiên khác, chưa hội nhập vào đoàn chiên của Người. Cả những con chiên đó nữa, Người cũng yêu mến chúng, Người phải lo lắng cho chúng, đem chúng về dưới sự dẫn dắt thương mến của Người, để tất cả trở thành một đoàn chiên duy nhứt : - « Ta còn những con chiên khác, không thuộc về ràn nầy. Ta cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và chỉ có một ràn chiên và một mục tử » ( Jn 10, 16). Và đó là những gì Người đã trối lại cho các môn đệ và cho chúng ta, con cái của các ngài trong đức tin, tiếp tục hoàn thành sứ mạng của Người : - « Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em » ( Mt 28, 18-19). Trong bài giảng của Chúa Giêsu về Người là Người Mục Tử nhân lành, chúng ta có thể rút một vài tư tưởng đề suy niệm : Chúa Giêsu tự mạc khải chính Ngài là ơn cứu rổi. Mạc khải đó ở đây được tuyên bố dưới hình thức của một mệnh đề xác định (proposition affermative ) : « Ta là + Mục Tử Nhân Lành ». Mệnh đề trên, trong nguyên bản Hy Lạp cho phép chúng ta viết lại dưới hình thức của một câu văn xác quyết , có tính cách nhấn mạnh : « Mục Tử Nhân Lành + là Ta » hay « Mục Tử Nhân Lành, chính là Ta ». Viết lại câu văn như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rổi duy nhứt . Và chúng ta có thể xác quyết Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rổi duy nhứt, dưới nhiều hình thức khác , bằng cách đem vào phần đầu của mệnh đề những tước hiệu mà Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta trong Phúc Âm : - « Ánh sáng thế gian, chính là Ta, - « Bánh từ trời xuống, chính là Ta, - « Đàng, sự thật và sự sống, chính là Ta, - « Cây nho, chính là Ta và các con là cành nho… », Đọc mệnh đề đảo ngược như vậy, chúng ta có được ý nghĩa Chúa Giêsu là Nguồn Ơn Cứu Rỗi duy nhứt với những tước hiệu khác xung quanh, được Người mạc khải cho chúng ta, chung quanh Người là sự sống / sự sống đời đời trong Phúc Âm Thánh Gioan , tương đương với thành ngữ « Nước Trời » hay « Nước Thiên Chúa » trong Phúc Âm của Thánh Matthêu, Marco và Luca. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế ( mục tử nhân lành hy sinh mình để cứu chiên). Người mục tử nhân lành khác với người làm công, tắc trách và ích kỷ. Người mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình đề bênh vực chiên : - « Ta chính là Mục Tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên ... Mạng sống ta không ai lấy đi được, nhưng chính ta hy sinh mạng sống mình » ( Jn 10, 11.18). Trong bản Hy Lạp, từ ngữ « mạng sống » trong câu Phúc Âm vừa trích dẫn được các dịch giả Hy Lạp dùng một từ ngữ rất có ý nghĩa « mạng sống, psyché= linh hồn », trái lại khi nói về người mục tử dẫn chiên ra đồng cỏ, để chiên được ăn uống no đầy, được sống dồi dào, tác giả Phúc Âm dùng từ ngữ « sống, zoè » : sự sống của một động vật ( môn động vật học , zoologie). Hiểu được sự khác biệt ý nghĩa giữa hai từ ngữ Hy Lạp vừa kể, thử đọc lại câu vừa trích dẫn, chúng ta sẽ thấy thấm thía ý nghĩa của câu văn: - « Ta là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh « mạng sống = linh hồn ( psyché) » mình cho đoàn chiên… ». Và nếu chúng ta đặt câu hỏi « Ai là người mục tử nhân lành » được đề cập trong đoạn Phúc Âm ? Chính Chúa Giêsu, là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa. Như vậy chúng ta thấy được cử chỉ đại lượng cao cả của Chúa Giêsu. Người là Thiên Chúa. Mặc dầu là Ngôi Lời Nhập Thể Ngài vẫn là Thiên Chúa. Người đã không ngại hy sinh chính linh hồn ( psyché) của Người để cứu rỗi chúng ta, như người mục tử nhân lành , đã không ngại hy sinh tất cả con người của mình ( cả linh hồn mình, phần cao cả nhứt trong con người) để cứu chiên, vì thương chiên của mình. Người đã yêu thương chúng ta đến nỗi dầu phải hy sinh linh hồn, Người cũng không lùi bước. Đó là những gì Thánh Matthêu thuật lại cho chúng ta, khi Chúa Giêsu kết thúc công cuộc cứu rỗi của Người : - « Lập tức, một người trong bọn chạy lấy miếng bọt biển, thấm giấm, buộc vào đầu cây sậy, và đưa lên cho Người uống. Còn những người khác lại bảo : Khoan đã, để xem ông Elia có đến cứu hắn không ! Chúa Giêsu lại kêu lớn một tiếng, rồi trút linh hồn » ( Mt 27, 48-50). Phải chăng đây là tấm gương cho những ai có trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên Chúa ? Thương yêu bảo vệ đoàn chiên được giao phó, bênh vực chiên cho dầu có phải hy sinh cả linh hồn mình ! Lý do người mục tử hy sinh cả linh hồn mình cho đoàn chiên là để cho chiên khỏi bị sói vồ lấy : - « Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên » ( Jn 10, 12-13). Ngoài ra đặt Chúa Giêsu làTrung Gian Nguồn Ơn Cứu Rỗi duy nhứt , như cách dịch đảo ngữ mệnh đề kể trên, chúng ta sẽ thấy rằng lý do sâu xa hơn nữa để Chúa Giêsu hy sinh mạng sống mình cho chúng ta, là để tất cả chúng ta, đoàn chiên của Người được tham dự vào chính đời sống tình thương, mối thân tình giữa Người và Cha Người : - « Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa… » ( 2 Pt 1, 4). Sự hy sinh của Chúa Giêsu được đặt đồng thời trên nền tảng tự do và vâng phục. Chúa Giêsu vâng lệnh Chúa Cha đem đến sự cứu rỗi cho nhân loại, nhưng Người có toàn quyền quyết định tự do, vô điều kiện và không ai có thể cưỡng chế Người được : - « Mạng sống của Ta, không ai có quyền lấy đi được, nhưng chính Ta hy sinh mạng sống của Ta. Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy » ( Jn 10, 18). Tấm lòng đại lượng của Ngài là vậy : « Mạng sống ( = linh hồn) của Ta không ai có quyền lấy đi được, nhưng chính ta hy sinh mạng sống ( = linh hồn) của Ta ». Do đó sự sống lại của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Gioan không phải chỉ là động tác của Chúa Cha, như trong các Phúc Âm khác, mà còn tiềm ẩn cả trong quyền lực của Người Con : « Ta có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy » . Nhưng uy quyền tự do đó, Chúa Giêsu hành xử trong sự vâng phục đối với Cha Người, bởi vì Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha : - « Nếu Ta không làm việc của Cha Ta, thì các ông đừng tin Ta. Còn nếu Ta làm các việc đó, thì dù các ông không tin Ta, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy các ông sẽ biết, và ngày càng biết thêm rằng : Chúa Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Chúa Cha » ( Jn 10, 37-38). Và như vậy qua sự liên hệ mật thiết giữa Chúa Giêsu và các con chiên Người , « Mục Tử nhân lành, chính là Ta. Ta biết chiên của Ta, và chiên của Ta biết Ta » ( Jn 10, 14), Chúa Giêsu ban cho họ được tham dự vào đời sống thần linh thông hiệp giữa Cha Người và Người, như lời tuyên bố trên của thư Thánh Phêrô. - « Phần Ta, Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sồng dồi dào » ( Jn 10, 10).

 

Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay ( Jn 20, 19-31) thuật lại hai lần Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ Người, sau ngày Người sống lại: - lần thứ nhứt ( Jn 20, 19-23), buổi chiều ngày hôm sau ngày sabat: " Vào chiều ngày hôm ấy, ngày thứ nhứt trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: " Bình an cho anh em" ( Jn 20, 19). - và lần thứ hai ( Jn 20, 24-29), tám ngày hôm sau: " Tám ngày hôm sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Toma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Chúa Giêsu đến, đứng giữa và phán: Bình an cho anh em" ( Jn 20, 26). Cả hai lần hiện ra, Thánh Gioan đều tường thuật lại với ý nghĩa rất súc tích, không thể nào chúng ta có thể suy niệm tất cả một lần. Do đó chúng ta chỉ cùng nhau suy niệm lần hiện ra trước tiên, và hẹn nhau lại trong dịp tới, nếu Chúa muốn chúng ta còn gặp nhau, để suy niệm lời Chúa trong lần hiện ra thứ hai. Đọc lại những gì Thánh Gioan kể lại cho chúng ta trong lần hiện ra lần thứ nhứt, tư tưởng đầu tiên mà ai trong chúng ta cũng thấy được đó là Thánh Gioan muốn tường thuật lại để diễn tả sáng tỏ hơn những gì mà " người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến" " đã thấy và tin" của đoạn Phúc Âm Phục Sinh ( Jn 20, 1-9) khi Ngài cùng Thánh Phêrô được Chị Maria Magdala báo và cả hai cùng hối hả chạy đến mộ. Sau khi Chị Maria Magdala đã nhận ra được Chúa Giêsu : -" Rabboni, lạy Thầy" ( Jn 20, 16). và được Chúa Giêsu nói chuyện với Chị và bảo Chị: - " hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Chúa của Thầy, cũng là Chúa của anh em" ( Jn 20, 17 ), Chị liền đi báo cho các ông: - " Bà Maria Magdala đi báo với các môn đệ: " Tôi đã thấy Chúa và bà kể lại những điều Người đã nói với bà" ( Jn 20, 18). Tin theo lời Chị Maria Magdala, các môn đệ tựu họp lại trong một ngôi nhà đóng kín, " vì sợ người Do Thái". Và lần thứ nhứt Chúa Giêsu hiện ra cho các môn đệ được Thánh Gioan kể lại trong bối cảnh vừa kể. Chúng ta có thể chia đoạn tường thuật của Phúc Âm đang được đề cập thành hai phần: - Phần thứ nhứt, Chúa Giêsu đến, đứng ở giữa và tỏ các dấu cho các môn đệ, để các vị nhận ra Người và vui mừng: - " Chiều hôm ấy là ngày thứ nhứt sau ngày sabat, nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em! Nói xong, Người cho các ông thấy tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" (Jn 20, 19-20). - Phần thứ hai, Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng cho các ông. Người thổi hơi Chúa Thánh Linh và trao cho các ông quyền tha giải hay cầm giữ tội lỗi: - "Người lại nói với các ông: Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã ủy thác cho Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Jn 20, 21-23). Yếu tố trước tiên của bài tường thuật lần nầy, cũng như ở lần thứ hai tám ngày hôm sau, là " nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín" ( Jn 20, 19), vì các ông " sợ người Do Thái"(Jn 20, 18). Yếu tố " sợ người Do Thái " luôn luôn bàng bạc trong kháp Phúc Âm , trong dịp lễ Lều, dịp Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh được nhiều người đi theo Người, cũng như sau khi Người đã chết. " ( Trong dịp lễ Lều của người do Thái, khi nghe Chúa Giêsu lên Đền Thờ), dân chúng bàn tán nhiều về Người. Kẻ thì bảo: Đó là một người tốt. Kẻ thì nói: Không, ông ta mê hoặc dân chúng. Nhưng không ai dám công khái nói về Người, vì sợ người Do Thái" ( Jn 7, 11-13). Trong dịp chúa Giêsu làm nhiều phép lạ chữa bệnh, " Tuy nhiên trong giới lãnh đạo Do Thái cũng có nhiều người tin vào Chúa Giêsu. Nhưng họ không dám xưng ra, vì sợ bị nhóm Pharisêu khai trừ ra khỏi hội đường" ( Jn 12,42), Và cả sau lúc Người đã chết, - " sau đó ông Giuse, người Arimatea, xin Phi la Tô cho phép hạ thi hài Chúa Giêsu xuống. Ông Giuse nầy là một môn đệ theo Chúa Giêsu, nhưng kín đáo, vì sợ người do Thái" ( Jn 19, 38). Trong đoạn Phúc Âm ngắn ngủi tường thuật lại Chúa Giêsu hiện ra lần thức nhứt cho các môn đệ, Thánh Gioan rất khéo léo diễn tả lại bằng các ngôn từ ngắn gọn những điều Chúa Giêsu đã hứa với các ngài trước khi chịu tử hình ( Jn 13-17), Người đã thực hiện, vì chính Người là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế. Trước hết Người sống lại và đem bình an cho các ông: - " Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em!" ( Jn 20, 19), như lời Người đã hứa với các ông, ngược lại với lối cư xử thù nghịch của thế gian: - " Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy không ban bình an, như thế gian ban bình an. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi" ( Jn 14, 27). - " Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em phải gian nan khốn khổ. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" ( Jn 16, 33). Sự hiện diện của Chúa Giêsu đem lại vui mừng, kết thúc những ngày ảm đạm tang tóc của tử nạn: " Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" ( Jn 20, 20). Điều đó Chúa Giêsu cũng đã tiên báo cho các ông: - " Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã được sinh ra trong thế gian. Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được" ( Jn 16, 20-22). Chúa Giêsu đến với các môn đệ là để thực hiện lời hứa Người sẽ không để các ông mồ côi. Người đang sống, đến đứng ở giữa, chúc bình an để các ông an lòng là các ông không bị bỏ rơi: " Chúa Giêsu đến đứng giữa và phán: Bình an cho anh em" (Jn 20, 19). Điều đó Chúa Giêsu đã hứa trước với các ông: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy ,và Thầy ở trong anh em" ( Jn 2, 19.21-22). Chúa Giêsu đến với các môn đệ, chứng tỏ cho các ông thấy Người đã sống lại không quá ba ngày sau khi chết. Người thực hiện điều Người đã tuyên bố về việc sẽ xây dựng lại đền thờ nội trong ba ngày: - " Chúa Giêsu đáp: Các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại. Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây chính là thân thể Người: Vậy khi Người từ cõi chết trổi dậy, các môn đệ nhớ lại lời Người đã nói điều đó: Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói" ( Jn 19, 21-22). Như vậy vấn nạn các người Do Thái hỏi Người " Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi là ông có quyền làm như thế" ( Jn 2, 18) đã được Chúa Giêsu Phục Sinh trả lời. e ) Và cử chỉ thổi hơi Chúa Thánh Thần ở phần hai của đoạn tường thuật cũng là động tác thực hiện những gì Người đã hứa với các ông vào dịp kết thúc lễ Lều của người Do Thái: -" Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhứt. Chúa Giêsu đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng phán rằng: ai khát hãy đến với Ta, ai tin vào Ta hãy đến mà uống! Như Thánh Kinh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bây giờ họ chưa nhận được Chúa Thánh Thần, vì Chúa Giêsu chưa được tôn vinh" ( Jn 7, 37-39). f ) Còn nữa, Chúa Giêsu Phục Sinh đến với các môn đệ, cho các ông xem tay và cạnh sườn, để chứng thật Người là Đấng đã bị đóng đinh, đã chết và giờ đây sống lại đang đứng giữa các ông: - " Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa" ( Jn 20, 20). Người đã hy sinh, chịu khổ hình và chịu chết để đền tội cứu chúng ta. Chúa Giêsu đã chết, bị người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn, chính Thánh Gioan đứng ra làm chứng: - máu chảy ra tượng trưng cho cái chết hy sinh để cứu rổi: - " Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra. Người xem thấy việc nầy đã làm chứng và chứng của người ấy xác thực, và người ấy biết mình nói sự thật để cho anh em nữa cũng tin" ( Jn 19, 34-36). - nước tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, là sự sống của nhân loại: - " Như Thánh Kinh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuông chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận…" (Jn 7, 39). - tay Người tượng trưng cho quyền lực của tình thương hướng dẫn sứ mạng mạc khải và ban sự sống cho nhân loại: - " Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người" ( Jn 3, 35). - " Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta. Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta, thì lớn hơn cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một" ( Jn 10, 28-29). - " Chúa Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa" ( Jn 13, 3). g) Một ý nghĩa sâu xa khác, chúng ta có thể tìm thấy trong câu Chúa Giêsu ủy thác sứ mạng của Người cho các môn đệ. Bản dịch Thánh Kinh Việt Ngữ chúng tôi có trong tay, NXB Thành Phố HCM, 1998, trang 2040 dịch câu vừa kể như sau: - " Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" ( Jn 20, 21), là lối dịch không chính xác. Dịch giả đã dùng cùng một động từ " sai"( Cha đã sai Thầy,…Thầy sai anh em) để dịch hai động từ khác nhau từ bản chính Hy Lạp. Đó là hai động từ " apostello"" pempo" được nguyên bản đặt như sau: - " Như Chúa Cha đã ủy thác ( apostello) cho Thầy, thì Thầy cũng sai ( pempo) anh em". Dịch câu văn với hai động từ khác nghĩa như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng sứ mạng mà các tông đồ và cả chúng ta , con cái của các ngài trong đức tin, lãnh nhận qua Chúa Giêsu, cũng chính là sứ mạng nguyên thủy mà Chúa Cha ủy thác cho Chúa Giêsu. Đó là sứ mạng truyền giáo của mỗi người trong chúng ta, chúng ta lãnh nhận nơi Chúa Giêsu ngày chúng ta nhận Phép Rửa : - " Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữa những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 19-20). Chúa Cha không " sai " Chúa Giêsu đi thực hiện sứ mạng cứu rổi, mà "ủy thác" (apostello, apostolus) cho Chúa Giêsu. Cũng vậy, qua Chúa Giêsu, chúng ta cũng được Chúa Cha " ủy thác" cho sứ mạng để đem Tin Mừng cứu rổi cho anh em chúng ta. Chúa Cha không giao cho chúng ta như người ngoại cuộc, người làm công làm việc tắc trách, được việc hay không được việc cũng được, mà là " ủy thác" thân tính và tin tưởng như việc của một người cha giao cho một đứa con. Gương của Chúa Giêsu nhiệt thành hy sinh không lùi bước, ngay cả trước cái chết, để thực hiện sứ mạng, nói lên cử chỉ phải có của một Người được một Người Thân " ủy thác" cho. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng phải đáp ứng sứ mạng cứu rổi anh em được " ủy thác" ( apostello), bằng cách hành xử với tất cả tấm lòng nhiệt thành của một tông đồ ( apostolus). h) Động tác " thổi hơi"( emphuo) để ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ cũng mang ý nghĩa chúng ta cần suy niệm: " Nói xong Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần…" ( Jn 20, 22). Động tác " thổi hơi" vừa kể là động tác của Thiên Chúa, khi Ngài " thổi hơi để ban sự sống cho tạo vật: - " Bấy giờ Yahvé là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mủi, và con người trở nên sinh vật" ( Gn 2, 7). - " …Nhưng anh không bận tâm về số phận phải chết hay về cuộc đời vắn vỏi của anh, mà lại đi bon chen với thợ vàng thợ bạc, đi bắt chước thợ đồng, vênh vang vì nắn ra đồ mã. Con tim của anh là tro bụi, hy vọng của anh hèn hơn đất, cuộc đời của anh tệ hơn bùn. Chỉ vì anh không biết Đấng đã nặn ra anh, Đấng thổi vào anh một linh hồn sống động, phú cho anh một làn sinh khí" ( Sap 15, 9-11). - " Người lại bảo. Ngươi hãy truyền sấm gọi Thần Khí. Chúa Yahvé phán thế nầy: Từ bốn phương trời, hởi Thần Khí, hãy thổi vào những người đã chết nầy cho chúng được hồi sinh. Tôi tuyên sấm như Người đã truyền cho tôi. Thần Khí liền nhập vào những người đã chết; họ được hồi sinh và đứng thẳng lên: Đó là cả một đạo quân rộng lớn, đông vô số kể" ( Ez 37, 9-19). Như vậy qua động tác " thổi hơi " vào các môn đệ để ban Chúa Thánh Thần, nguồn mạch sự sống cho các vị, Chúa Giêsu đã gợi lại cử chỉ của Thiên Chúa từ sách Sáng Thế Ký, từ sách Khôn Ngoan và từ sách các Tiên Tri. Hành động đó là hành động của Thiên Chúa để sáng tạo vũ trụ, để ký kết giao ước với dân Do Thái và ban Chúa Thánh Linh để " ủy thác"" sai đi " thực hiện sứ mạng cứu rổi trong giao ước mới: - " Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và phán: Chén nầy là chén giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em" ( Lc 22, 20). Qua những tư tưởng chúng ta vừa suy niệm, Chúa Giêsu thực hiện tất cả những gì đã được đề cập đến trong Thánh Kinh, không những gì Người đã hứa với các môn đệ trong Phúc Âm, mà cả những gì Thiên Chúa hành động trong Cựu Ước để sáng tạo vũ trụ và ký giao ước với dân được Người chọn, dân Do Thái. Vậy Chúa Giêsu là ai? Chúa Giêsu là Ngôi Lời, Đấng mà Thánh Gioan đã long trọng tuyên bố ngay ở những dòng đầu của Phúc Âm Ngài, ở Lời Tựa: - " Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa, Và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Ngôi Lời là sự sống của mọi tạo vật, Và sự sống là ánh sáng cho nhân loại… Còn những ai đón nhận Người, tức là những ai tin vào danh Người, Người cho họ quyền được trở nên con Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" ( Jn 1, 1.3.12.14). Như vậy, tường thuật lại biến cố Chúa Giêsu hiện ra lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại, một lần nữa Thánh Gioan cắt nghĩa rõ ràng hơn những gì Ngài đã viết ở Lời Tựa và những gì Ngài đã quả quyết một cách ngắn gọn " Ông đã thấy và tin " ở Phúc Âm Phục Sinh ( Jn 20, 8).

 

Thánh Gioan, trong bài Phúc Âm Thánh Lễ Mừng Chúa Phục Sinh hôm nay gợi ý cho chúng ta suy niệm cử chỉ của ba nhân vật chính được tường thuật: Maria Magdala, Thánh Phêrô và Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu thương. Bài Phúc Âm thuật lại cho chúng ta hai lần quan sát từ bên ngoài, - của bà Maria Magdala: "( bà Maria Magdala) thấy ( blepein) tảng đá đã lăn khỏi mộ" ( Jn 20, 1), - của Thánh Gioan, người môn đệ Chúa Chúa Giêsu thương mến: " Ông Phêrô và môn đệ kia cùng chạy ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chay mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào" ( Jn 20, 3-5). và hai lần nhìn thấy bên trong mộ, - của Thánh Phêrô: " Ông Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vãi để đó và khăn che đầu Chúa Giêsu" ( Jn 20, 6-7), - và của Thánh Gioan, người môn đệ Chúa Giêsu thương mến: " Bấy giờ môn đệ kia, người đã đến mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và tin" ( Jn 20, 8). a) Thánh Gioan khởi đầu bài Phúc Âm, thuật lại cho chúng ta việc chị Maria Magdala, thương mến Chúa Giêsu, từ sáng sớm đã đi đến viếng mộ: - " Sáng ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 1- 2). Có lẽ yếu tố để tả cảnh lúc đó, " lúc trời còn tối ", được Thánh Gioan dùng để nói lên ngụ ý đức tin của chị Maria Magdala, mà cũng là của tất cả các môn đệ lúc đó, đang còn chìm đắm trong tối tăm mù mịt, trước cái chết của Chúa Giêsu và họ chưa hiểu gì về ý nghĩa cuộc sống lại của Người. Do đó khi thấy ngôi mộ trống, Maria Magdala hốt hoảng chạy về báo cho các môn đệ: - "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 2). Cử chỉ và phản ứng của Maria Magdala là phản ứng tự nhiên của mọi người chúng ta. Đứng trước cái chết của người thân, chúng ta cảm thấy bùi ngùi thương mến và đầu óc chúng ta đang sống lại với bao nhiêu kỷ niệm. Con người chúng ta "đóng kín" lại cho tình thương và kỷ niệm đối với người thân đã khuất. Tâm hồn chúng ta khó mở rộng cho thế giới xung quanh, cho những lời khuyên, ngay cả những lời khuyên ý nghĩa nhứt, chân thành nhứt. Trạng thái hốt hoảng của Maria Magdala nói lên điều đó, chị không còn đầu óc đâu để suy nghĩ. Đức tin của chị đang còn chìm đắm trong mù mịt của " lúc trời còn tối ". Ngay cả chính lúc Chúa Giêsu hiện ra trước mặt chị, chị cũng không nhận ra: - " Nói xong chị quay lại và thấy Chúa Giêsu đang đứng đó, nhưng chị không biết là Chúa Giêsu Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về" ( Jn 20, 14-15). Và chị được hân hoan giải thoát khi nghe tiếng Chúa Giêsu gọi chị: - " Maria!"( Jn 20, 15). Chị quay lại và nói bằng tiếng Do Thái: "Rabboni, Lạy Thầy!" ( Jn 20, 16). Nhưng chị là người được Thánh Gregorio Cả gọi là "nữ môn đệ tiên khởi của các môn đệ" ( Apostola Apostolorum), bởi vì chính sự hoảng hốt của chị đã làm cho các môn đệ tỉnh dậy, không phải chỉ tỉnh ngủ, mà là đánh thức đức tin của các Vị để tìm hiểu sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, khởi đầu bằng cuộc chạy đua giữa thánh Phêrô và Thánh Gioan, chạy đến mộ: - " Ông Phêrô và môn đệ kia liền chạy ra mộ. Cả hai cùng chạy " ( Jn 20, 3). b) Cái nhìn quan sát ( blepein) thứ hai từ bên ngoài, là cái nhìn của Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến. Thánh Gioan " thấy" ( blepein) từ bên ngoài, cũng giống như Maria Magdala " thấy" ( blepein). Trong cả hai trường hợp, Thánh Gioan đều dùng động từ " thấy" ( blepein) như nhau. Cũng như Chị Maria Magdala " thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ", nhưng chị chưa hiểu được ý nghĩa nên mới hốt hoảng , chạy về báo cho các môn đệ, thánh Gioan cũng " cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào " . Thánh Gioan cũng chưa hiểu được ý nghĩa, nên việc tường thuật cái nhìn của Ngài cũng kể như chấm dứt ở đó. Phúc Âm không thêm bớt một chữ nào nữa. Hay có lẽ cái "nhìn" của Thánh Gioan cho Ngài khám phá thêm một cái gì đó, hơn cái nhìn của Chị Maria Magdala, nhưng nội dung chưa được xác định, nên Ngài im lặng.Phải chăng một câu hỏi được Thánh Gioan đặt ra, điều mà Chị Maria Magdala không nhận được trong cơn hốt hoảng, đó là nếu người ta muốn ăn cắp xác đem đi, thì sao lại phải tháo băng vải liệm, truớc khi chở xác đi. Dù sao đi nữa, thì nghi vấn vẫn chưa được câu giải đáp rỏ ràng, nên việc tường thuật của Thánh Gioan dừng lại ở đó. c) Lần nhìn thấy đầu tiên bên trong mộ là cái nhìn của Thánh Phêrô: - " Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Chúa Giêsu. Khăn nầy không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi" ( Jn 20, 6-7). Thánh Phêrô theo sau cũng đến nơi . Ngài vào thẳng trong mộ, " thấy " những băng vải…và khăn che đầu. Lần nầy thi động từ " thấy" của Thánh Phêrô được tác giả Phúc Âm dùng động từ " theoreo": nhìn với cập mắt quan sát và " đặt giả thuyết" ( theoria). Nội dung của " cái nhìn quan sát và đặt giả thuyết"( theoreo), thấy " những băng vải để ở đó, và khăn che đầu…cuốn lại, xếp riêng ra một nơi ", có một cái gì đó đáng đặt câu hỏi hơn và rỏ ràng hơn là cái nhìn( blepein) từ bên ngoài. Nhưng rồi Thánh Phêrô cũng không đi đến kết luận được. Và Phúc Âm tường thuật lại việc chạy đến mộ của Thánh Phêrô, vào thẳng trong mộ và với cái nhìn quan sát và đặt giả thuyết cũng dừng lại ở đó. Chúng ta có cảm tưởng là Thánh Phêrô cũng chưa có tầm hiểu biết xâu xa gì hơn là những cố gắng bên ngoài mà Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta. Có lẽ đứng trước Mầu Nhiệm Phục Sinh quá lớn lao, tâm hồn Thánh Phêrô còn bị mây mù cản trở để có thể xuyên qua và thấu suốt. Mây mù đó phải chăng là do mặc cảm tội lỗi của ba lần chối Chúa Giêsu trong những ngày trước đó, cản trở Ngài nhận ra tín hiệu tình thương của Chúa Phục Sinh, mà chỉ có những ai sống thân tình với Chúa mới cảm nhận được. Mặc dầu thấy mồ trống và băng vải dưới đất, khăn che đầu cuốn lại, xếp riêng ra một nơi, nhưng Ngài không hiểu và không tin. Và cũng có lẽ không phải chỉ có Thánh Phêrô có tâm hồn " lúc trời còn đang tối ", khi Chúa Giêsu sống lại, mà hầu hết các môn đệ khác cũng vậy. Bóng tối đó chỉ tan biến đi, một thời gian sau, khi Chúa Giêsu từ giả các Ngài, thổi hơi và ban Chúa Thánh Linh cho các Ngài: - " Người lại nói với các ông: Bình an cho anh em. Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị giữ"( Jn 20, 21-23). d) Và sau cùng là cái nhìn của nguời môn đệ được Chúa Giêsu thương mến, của Thánh Gioan. Sau khi đã đợi và nhường bước cho Thánh Phêrô vào mộ trước, để kính trọng địa vị của người đứng đầu các môn đệ và là Vị Chủ Chăn Tối Cao của toàn thể Giáo Hội sau nầy vào trước, Thánh Gioan cũng vào trong mộ và thấy những gì Phêrô đã thấy: - " Bấy giờ người môn đệ kia, người đã tới mộ trước cũng đi vào" ( Jn 20, 8). Nhưng cái nhìn của Thánh Gioan là cái nhìn trực giác. Ngài nhìn và hiểu ngay. Cái nhìn của Thánh Gioan là cái nhìn của tình thương và chắc chắn đã nhận được tình thương của Chúa Giêsu đáp lại, qua những tín hiệu "khăn vải để ở đó khăn che đầu cuốn lại, xếp riêng ra một nơi ". Thánh Gioan đã nhận được tín hiệu tình thương đó trong buổi tiệc ly cuối cùng, khi Ngài dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu: - " Trong số các môn đệ, có một người được Chúa Giêsu thương mến. Ông đang dùng bữa, tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu" ( Jn 13, 23). Và từ cái nhìn trực giác đó đi đến đức tin, dường như không có khoản cách. Bởi đó Thánh Gioan diễn tả hai tác động đơn sơ chỉ bằng một câu văn ngắn ngủi với hai động từ: - " Ông đã thấy và tin"( Jn 20, 8b). Qua bốn trường hợp để tìm đến Chúa Phục Sinh hôm nay, tiến trình tìm đến đức tin, là tiến trình tự nhiên của con người tìm đến Thiên Chúa. Có những lúc chúng ta sống trong thương tiếc, đau buồn gần như " đóng kín" như trường hợp của Chị Maria Magdala; - với cái nhìn từ bên ngoài để đặt nghi vấn và tìm hiểu như trường hợp cái nhìn từ ngoài của Thánh Gioan; - với cái nhìn cố gắng tìm hiểu nhưng tâm hồn bị mây mù che phủ thành ra cuộc sống đức tin quờ quạng như cái nhìn và đặt giả thuyết của Thánh Phêrô - và với cái nhìn trực giác thấu hiểu ngay nội dung của niềm tin, như cái nhìn " đã thấy và tin" của Thánh Gioan. Thánh Gioan có được cái nhìn trực giác mầu nhiệm Phục Sinh, vì cái nhìn tìm đức tin của Ngài không phải chỉ có lý trí để suy luận, mà là tiến trình tìm Chúa với cả tình thương. Tìm Chúa, tin vào Chúa và ủy thác mình trong cánh tay Chúa, như đứa trẻ hoàn toàn vững chắc trong cánh tay người mẹ. Đó cũng là ý nghĩa của Kinh Tin Kính bằng La Ngữ: " Credo in Unum Deum, Patrem Onnipotentem" ( Con tin kính " vào" một Thiên Chúa là Cha Toàn Năng).

 

1 - Bài Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay thuật lại cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu khá dài, nên chắc chắn chúng ta không thể suy niệm được cả bài cùng một lúc, bởi vậy chúng ta nên dừng lại suy niệm phần đầu ( Mc 14, 1-11). Những phần còn lại, hy vọng chúng ta sẽ có dịp suy niệm khi chu kỳ Phụng Vụ trở lại, nếu Chúa còn thương để chúng ta sống tiếp tục phục vụ Người và phục vụ anh em. Phần đầu của đoạn Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay, được nhập đề bằng hai câu để xác định thời điểm và bối cảnh: - “ Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Bánh Không Men, các thượng tế và các kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi; vì họ nói: Đừng làm vào chính ngày Lễ, kẻo dân chúng náo động” (Mc 14, 1-2). Dự tính bắt giết Chúa Giêsu của các thượng tế và các kinh sư không phải là điều mới lạ, đối với ai đọc Phúc Âm Thánh Marco, bởi lẽ Ngài đã nhiều lần đề cập đến trước đó: - “ Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu lập tức bàn tán với phe Erode, để tìm cách giết Chúa Giêsu” (Mc 3, 6), - “ Các thượng tế và các kinh sư thấy vậy, thì tìm cách giết Chúa Giêsu. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất thán phục về lời giảng dạy của Người ” ( Mc 11, 18). - “ Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng lại sợ dân chúng; quả vậy, họ thừa hiều Người đã nhắm vào họ, mà kể dụ ngôn ấy” ( dụ ngôn các tá điền sát nhân làm vườn nho) ( Mc 15, 13-14). 2 - Với những lần đề cập đến âm mưu vừa kể, Thánh Marco cho chúng ta biết ý định giết Chúa Giêsu trong Phúa Âm hôm nay không phải là ý nghĩ thoáng qua, bốt đồng, quyết định bất thình lình, mà là dự tính đã có từ lâu và chín mùi, đạt đến tột đỉnh hôm nay với quyết định hành động của họ. Đọc những tư tưởng vừa kể trong Phúc Âm, chúng ta có cảm tưởng rằng các biến cố liên tục tiếp xảy ra là do quyết định của con người, “ các thượng tế và các kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi…” ( Mc 14, 1). Nhưng đọc các diển biến theo tiến trình của Phúc Âm Thánh Marco, chúng ta thấy rõ các biến cố tiếp diển theo đường hướng ý muốn của Thiên Chúa sắp đặt, như chính Chúa Giêsu xác nhận trong vườn Getsèmani: - “ Abba, Cha ơi! Cha làm được hết mọi sự, xin cất chén nầy xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn ” ( Mc 14, 36). Động từ “ nộp” ( Hy Lap, paradidomi) mà đôi khi chúng ta cũng dịch là “ phản bội ”, nói lên động tác của Giuda đối với Chúa Giêsu là một động từ quan trọng, được Thánh Marco lập lại hai lần trong hai câu 11-12: - “ Giuda Iscariot, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để “ nộp” Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giuda liền tìm cách “ nộp” Người sao cho tiện ” ( Mc 14, 11-12). Và rồi động từ “ nộp ” hay “ phản bội ” ( paradidomi ) còn được Thánh Marco lập lại nhiều lần khác trong đoạn Phúc Âm tường thuật lại cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu hôm nay: - “ Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giuda, một người trong Nhóm Mười Hai xuất hiện…Kẻ “ nộp” Chúa Giêsu đã cho họ một ám hiệu, hắn dặn rằng: Tôi hôn ai, thì chính là người đó. Các ông bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận” ( Mc 14, 41-44), - “ Vừa tảng sáng, các thượng tế đã bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng: sau đó họ trói Chúa Giêsu và giải “ nộp” cho Pilato” ( Mc 15, 1), - “ Vì muốn chiều lòng đám đông, Pilato phóng thích tên Baraba, truyền đánh đòn Chúa Giêsu, rồi trao “ nộp” Người cho họ đóng đinh vào thập giá ” ( Mc 15, 15). Theo dõi các diễn biến được động từ “ nộp” hay “ phản bội ” diễn tả, chúng ta có cảm tưởng là tiến trình cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu là do trách nhiệm của con người quyết định, của tất cả những nhóm người hiện diện gần gũi Người lúc đó: - khởi đầu là nhóm người sát gần thân hữu với Người, Nhóm Mười Hai, trong đó có Giuda, - kế đến là nhóm thượng tế, kỳ mục và kinh sư Do Thái, - và sau cùng là vị thống đốc Roma, Pilato, không những có toàn quyền chính trị quyết định mà còn tượng trưng cho uy quyền đế quốc Roma đối với mọi người dân thuộc hạ, dĩ nhiên Chúa Giêsu, công dân Do Thái cũng là một trong những người thuộc hạ đó. Yếu tố nhân loại có trách nhiệm đối với cuộc Thương Khó và Tử nạn của Chúa Giêsu, càng được nổi bật hơn nữa, chính Chúa Giêsu cho biết trước hành động “ nộp ” hay “ phản bội ” của Giuda: - “ Đang khi dùng bữa, Người nói: Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ “ nộp” Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy” ( Mc 14, 18). - “ Đã hẳn Con Người ra đi như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nào “ nộp” Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn ” ( Mc 14, 21). Biết trước những gì sẽ xảy ra cho mình như vậy, nhưng Chúa Giêsu không lẩn tránh. Điều đó cho thấy Người chấp nhận chương trình an bài theo thánh ý Chúa Cha. Các diễn biến trong cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu là do ý muốn của Chúa Cha, không những chúng ta biết được qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Getsèmani, chúng ta đã trích dẫn ở trên, mà còn được thể hiện trong các câu nói của Chúa Giêsu, được diễn tả bằng động từ “ nộp ” ở thể thụ động thần học ( passif théologique). -“ Con Người “ sẽ bị nộp” vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại ” ( Mc 9, 31), - “ Nầy ta lên Giêrusalem và Con Người “ sẽ bị nộp” cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án và xử tử Ngưòi và nộp Người cho dân ngoại ” ( Mc 10, 33). Dùng động từ ỏ “ thể thụ động thần học ” là cách dùng động từ của người Do Thái để chỉ chính Thiên Chúa là chủ thể tác động. Nhưng dùng ở thể thụ động như vậy tránh được gọi tên Chúa, vì tôn kính Ngài. Đặt hai yếu tố nhân loại và thiên thánh vừa kể chung nhau trong biến cố Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, chúng ta thấy được tự do và trách nhiệm của con người được lồng vào trong đồ án cao cả rộng lớn hơn của Thiên Chúa. Nói như vậy, chúng ta không có ý giảm thiểu trách nhiệm và tầm quan trọng của việc con người không chấp nhận Chúa Giêsu, nhưng như vậy chúng ta thấy được quyền năng của chương trình cứu rỗi của Chúa Cha và tình thương yêu bao la của Người đối với con người chúng ta. Để cứu rỗi đem lại hạnh phúc cho chúng ta, Thiên Chúa không lùi bước bất cứ trước một trở lực nào, dù phải hay sinh, “ nộp” chính Con Một của mình. 3 – Nhưng ý nghĩa của phần Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay không phải chỉ có vậy. Giữa đồ án bắt giết Chúa Giêsu của các thượng tế và kỳ mục ( Mc 14, 1-2) và biến cố Giuda “ nộp ” hay “ phản bội ” Chúa Giêsu ( Mc 10-11), Thánh Marco tường thuật lại bửa cơm tại nhà ông Simon, trong đó một thiếu phụ đến xức dầu thơm cho Chúa Giêsu thật rất ý nghĩa ( Mc 14, 3-9). Cách hành xử của người thiếu phụ “ làm cho vài người bực bội ”, vì họ không hiểu ý nghĩa việc làm của nàng đối với Chúa Giêsu: - “ Có vài người bực tức, nói với nhau: Phí dầu thơm như vậy để làm gi?...” ( Mc 14, 4). Thánh Marco không xác định rõ “ vài người bực tức ” đó là ai. - Có thể họ là “ các thượng tế và các kinh sư tìm mưu bắt Chúa Giêsu và giết đi ” ( Mc 14, 1), dựa trên Lề Luật Moisen và truyền thống Do Thái Giáo dạy đừng phí phạm của cải, tốt hơn để “ dầu đó có thể đem bán, lấy trên ba trăm quan tiền, mà bố thí cho người nghèo” ( Mc 14, 5). - “ Vài người bực tức ” đó cũng có thể là những người trong Nhóm Mười Hai, trong đó có cả Giuda”, được Thánh Marco đề cập đến ở câu 10: - “ Giuda Iscariot, một trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ ” ( Mc 14, 10). Nhưng “ vài người bực tức ” đó là ai chăng nữa, họ không hiểu được ý nghĩa kính trọng và yêu thương của người thiếu phụ đối với Chúa Giêsu. Họ dựa vào Luật Lệ Moisen, giáo lý Do Thái ( các thượng tế và các kinh sư), hay vào những gì Chúa Giêsu đã dạy họ ( trường hợp các môn đệ), dựa trên nguyên tắc để phán đoán việc đang xảy ra. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho thấy cách phán đoán của họ có lý một phần, “ phải thương giúp người nghèo ”, như Lề Luật và tôn giáo dạy: - “ Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ chẳng được ” ( Mc 14, 7). Nhưng đồng thời Chúa Giêsu cũng bênh vực người thiếu phụ, vì cử chỉ của nàng là cử chỉ thương yêu một người nghèo đến độ cùng cực, sẽ bị đàn áp, khỗ hạnh và chết bị lột cả y phục trên thập giá mấy ngày sắp tới: - “ Điều gì làm được thì nàng đã làm: nàng đã lấy dầu thơm ướp xác Ta, để chuẩn bị ngày mai táng ” ( Mc 14, 8). Tiên đoán trước của Tử Nạn của mình, Chúa Giêsu cũng cho chúng ta thấy được tâm hồn người thiếu phụ. Nàng trọng kính và thương yêu Chúa Giêsu. Và với tình thương đó, lòng nhạy cảm trực giác của người phụ nữ và tình thương yêu dành cho Chúa Giêsu, nàng cảm nhận được những gì sắp xảy ra cho và vì đó nàng chăm sóc cho Người, bằng những gì có thể làm được, “điều gì làm được thì nàng đã làm”. Trước cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu, các cách lý luận theo nguyên tắc Lề Luật và đạo giáo, các suy tư diễn dịch “ thần học ”, của các thượng tế và các kinh sư cũng như có lẽ của cả các môn đệ lúc đó, đều không đạt được mục đích. Thật vậy, những gì xảy ra trên thập giá nói lên tình thương hãi hà của Thiên Chúa, vượt quá mọi khả năng suy luận và tiền liệu của con người, con người chỉ có thể cảm nhận được bằng tiếng nói của tình thương. Tiếng nói tình thương của Thiên Chúa, qua đồ án của Người và cả trong tâm hồn chúng ta, Người nói với hết mọi người. Nhưng kẻ dễ nhận ra tiếng nói của Người là người sống với Người bằng tình thương hơn là bằng “ Lề Luật và suy luận diễn dịch thần học ”. Với tình thương, người thiếu phụ cảm nhận xác đáng những gì sắp xảy ra cho Chúa Giêsu, được chính Người xác nhận: - “ …nàng đã lấy dầu thơm ướp xác Ta, để chuẩn bị ngày mai táng ” ( Mc 14, 8). Cử chỉ của người thiếu phụ là mẫu gương cho người tín hữu Chúa Ki Tô, lấy việc phục vụ Chúa làm định điểm. Phục vụ Chúa không phải là cách hành xử tương phản lại việc phục vụ người nghèo, bởi vì “ người nghèo” sẽ bị chết trần truồng trên thập giá trong những ngày sắp đến, cần được ưu tiên săn sóc, đối với nàng chính là Chúa Giêsu đang hiện diện trước mặt nàng, bởi đó “điều gì có thể làm được, thì nàng đã làm ”, nàng lo lắng chăm sóc Chúa Giêsu. Phục vụ người nghèo, bác ái đặt ngưòi nghèo là người phải được chăm sóc ưu tiên, cũng được nói lên cho chúng ta bằng gương hy sinh cao cả của Chúa Giêsu trong thư gởi Philippe chúng ta được đọc ở bài đọc thứ hai. Chúa Giêsu hy sinh để cứu con người khỏi hoàn cảnh tội lỗi khốn cùng của mình, trở về hưởng hạnh phúc viên mãn và bất diệt với Thiên Chúa. Đó là cùng đích mà Chúa Giêsu hy sinh tất cả để chúng ta đạt được. Tình thương trước cảnh nô lệ tội lỗi, bất hạnh của nhân loại, khiến Chúa Giêsu hy sinh “trút bỏ vinh quang ” địa vị Thiên Chúa của mình, sống như người phàm, trở thành nô lệ, để cứu chúng ta khỏi nô lệ và diệt vong của sự chết: - “ Chúa Ki Tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trức bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế ” ( Phil 2, 6-7 ).

 

1 - Các nhân vật chính của đoạn Phúc Âm Thánh Gioan hôm nay, có lẽ đúng hơn là những người ngoại đạo có cảm tình với Do Thái Giáo, hơn là những người Hy Lạp chính gốc như câu Phúc Âm đề cập: - “ Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Chúa, có mấy người Hy Lạp” ( Jn 12, 20). Bởi lẽ từ ngữ “ Hy Lạp” ( hellenes), trong các Phúc Âm, thường được dùng để chỉ những ai sống- theo phong tục và văn hoá Hy Lạp, khác với phong tục và văn hoá Do Thái lúc đó. Những người ngoại giáo Hy Lạp, hay những người ngoại giáo sống theo tập quán và văn hoá hy lạp đó là những nhân vật chính của đoạn Phúc Âm hôm nay, bởi vì nhân câu hỏi bày tỏ ý kiến muốn được “ gặp ” Chúa Giêsu của họ, - “ Họ đến gặp ông Philippe, người Bethsaida, miền Galilea và xin rằng: Thưa ông, chúng tôi muốn gặp ông Giêsu…” ( Jn 12, 21). mà Chúa Giêsu bắt đầu nói lên cho chúng ta biết ý nghĩa của cuộc sống chúng ta. Tiếp theo lời yêu cầu của họ, Thánh Philippe bắt đầu sắp xếp để họ được “ gặp” Chúa Giêsu: - “ Ông Philippe đi nói với ông Andrea. Ông Andrea cùng ông Philippe đến thưa với Chúa Giêsu” (Jn 12, 22). Động tác vừa kể của Thánh Philippe gợi lại cho chúng ta bối cảnh tương tợ của Philippe và Andrea, lúc hai người lần đầu tiên được Chúa gọi: - “ Hôm sau Chúa Giêsu quyết định tới miền Galilea. Người gặp ông Philippe và nói: “ Anh hãy theo Ta”. Ông Philippe là người Bethsaida, cùng quê với ông Andrea và ông Phêrô. Ông Philippe đến gặp ông Nathanael và nói: Đấng mà sách Luật Moisen và các ngôn sứ đã nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth” ( Jn 1, 43-45). Cũng như lần trước Philippe đi báo cho Nathanael về Chúa Giêsu, lần nầy Thánh Gioan cho chúng ta biết Philippe và Andrea đế gặp Chúa Giêsu để báo cho Người biết ước muốn của “ các người Hy Lạp…chúng tôi muốn gặp ông Giêsu ” ( Jn 12, 21). Kể lại động tác của Philippe lần trước, của Philippe và Andrea lần nầy, can thiệp để cho Nathanael cũng như để cho các người Hy Lạp “ gặp” Chúa Giêsu, Thánh Gioan có ý nói với chúng ta, vai trò của người tín hữu Chúa Kitô, đã được gặp Chúa, hãy tác động làm cho nhiều người đến với Chúa. Cách hành xử của Philippe lần nầy đối với những người Hy Lạp, ngược lại với lần trước, là thay vì đi báo cho Nathanael về Chúa Giêsu, “ …đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth ” , lần nầy Philippe và Andrea đang sống cuộc đời cầu nguyện và đệ đạt ý nguyện của người khác với Chúa Giêsu: - “ Thưa ông, chúng tôi muốn gặp ông Giêsu. Ông Philippe đi nói với ông Andrea. Ông Andrea cùng ông Philippe đến thưa với Chúa Giêsu…” ( Jn 12, 22). Cuộc sống của người môn đệ Chúa Giêsu là cuộc sống rao giảng, loan báo và nhân chứng Chúa Giêsu cho người khác, như Philippe đã đến báo cho Nathanael về Chúa Giêsu, nhưng cũng là cuộc sống nội tâm, cầu nguyện, nói lên ước vọng của mình và của anh em với Người. 2 - Đọc câu trả lời của Chúa Giêsu, cảm tưởng đầu tiên của người đọc, dường như không đáp ứng lại những gì hai môn đệ đến xin Người cho việc các người Hy lạp muốn gặp Ngài: - “ Chúa Giêsu trả lời: Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” ( Jn 12, 23). Người không trả lời muốn hay không muốn gặp họ, mà đề cập đến biến cố quyết định của cuộc sống trần gian của Người, “đã đến giờ ” , của cuộc khỗ nạn và sống lại, như hình ảnh của hạt lúa được gieo vào lòng đất: - “ Thật vậy, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác ” ( Jn 12, 24). Đọc câu trả lời vừa kể, chúng ta có cảm tưởng như là nhân dịp lời yêu cầu, xin được gặp Người của các người Hy Lạp, Chúa Giêsu dựa lên đó để nói lên một chủ đề khác quan trọng hơn: sự chết không phải là kết thúc động tác của Chúa Giêsu ở trần gian và là minh chứng cho lời giảng dạy của Người đều hư vô, không thực hiện được. Trái lại, cái chết của Người một cách nào đó, cùng chung với sự vinh quang sắp đến, chứng tỏ cho thấy hiệu quả sinh được nhiều hoa trái giữa loài người: - “ …còn nếu chết đi, mới sinh được nhiều hạt khác ” ( Jn 12, 24). Câu trả lời của Chúa Giêsu là một dụ ngôn ngắn ngủi về hạt lúa giống được gieo xuống đất, để nói lên một câu trả lời gián tiếp cho các người Hy lạp dân ngoại muốn được “ gặp ” Ngài. “ Nhiều hạt khác” mà cái chết của Người sẽ sinh ra, những người dân ngoại Hy Lạp có thể “ nhìn thấy ”, “ gặp được ” với ý nghĩa đầy đủ hơn bằng cặp mắt đức tin, tin vào Người và vào lời Người giảng dạy. Và đó là những gì Thánh Gioan thường ghép đôi cả hai ý nghĩa, “ thấy và tin ” cùng một động tác trong Phúc Âm Ngài: - “ Chúng tôi đã được thấy vinh quang của Người. vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một tràn đầy ân sủng và sự thật” ( Jn 1, 14). - “ Bấy giờ môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin” ( Jn 20, 8) - “ Chính môn đệ nầy làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” ( Jn 21, 24). Như vậy, những người dân ngoại Hy Lạp vừa kể, hiểu theo câu trả lời gián tiếp của Chúa Giêsu, có thể “ gặp” được Người, để “ thấy và tin ” , qua các kết quả “ sinh được nhiều hạt khác” của cuộc khỗ nạn và biến cố Phục Sinh đem lại. Trả lời như vậy, cũng có thể vì trong cuộc sống trần gian của Người. Ngài chú tâm tìm kiếm và quy tựu các con chiên lạc nhà Israel hơn: - “ Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi ” ( Mt 15, 24). Cũng vậy, Người ra chỉ thị cho các môn đệ trong lúc Người còn ở với họ: - “ Anh em đừng đi về phía dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samaria. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel ” ( Mt 10, 5-6). Nhưng sau cuộc Khỗ Nạn và Phục Sinh, “ …còn nếu chết đi, mới sinh được nhiều hạt khác ” , Chúa Giêsu muốn cho mọi người, mọi dân nước đều “ gặp” được Người, “ thấy và tin ” Người, trở thành môn đệ Người: - “ Thầy đã được giao toàn quyền trên trời, dưới đất. Vậy, anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em…” ( Mt 28, 20). 3 -Hai câu 25-26 đề cập đến cách thức “ theo” Chúa Giêsu, cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng là câu trả lời cho thỉnh nguyện các môn đệ nói lên ước vọng của các người Hy Lạp ngoại giáo: - “ Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời nầy, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ qúy trọng người ấy ” ( Jn 12, 25-26). Câu Phúc Âm về hạt giống gieo xuống đất chết đi, để có thể sinh nhiều hạt khác và câu vừa trích dẫn đặt nặng trọng trách sứ mệnh của người môn đệ Chúa Ki Tô, đến nỗi coi thường mạng sống, của cải qúy báu nhứt của con người, nói lên thái độ phải có của người môn đệ Chúa Giêsu, để đem lại kết quả những gì đòi buộc của sứ mệnh. Hai động từ “ yêu qúy ” “ coi thường ” mạng sống trong đoạn Phúc Âm vừa trích dẫn không nên hiểu theo nghĩa đen của văn mạch. Thậm chí có nhiều bản dịch trước đây dịch với ý nghĩa đối ngược “ yêu quý ” “ ghét bỏ ” loại trừ, khiến không ít người có thể hiểu lầm cho rằng mạng sống con người và của cải trần gian, ngay cả các giá trị khác của con người, như mối liên hệ huyết thống cha mẹ, vợ chồng, con cái cũng chỉ là những thực tại vô giá trị, cần phải “ ghét bỏ, coi thường” . Ai muốn theo Chúa, không thể gắn bó với của cải vật chất: - “ Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” ( Mt 6, 24). Mà ngay cả những mối liên hệ xã hội, tình cảm, huyết thống cũng phải từ bỏ: - “ Ai đến với Ta mà không ghét bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta được ” ( Lc 14, 26), Bởi vì tất cả là những thực tại vô giá trị, cuộc sống phù du, và đối ngược lại với Thiên Chúa! Ki Tô giáo là một tôn giáo tiêu cực, xem mọi thực tại trần gian đều vô giá trị, là “ cảnh phù du ” vô nghĩa, nếu chúng ta hiểu cặp động từ “ yêu qúy và coi thường” hay “yêu qúy và ghét bỏ ” theo nghĩa đen của đoạn văn. Cách hiểu không đúng đắn đó đã được chính Thánh Gioan cảnh cáo: - “ Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng, mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối. - …ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối, mà chẳng biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho mắt họ mù quáng” ( 1 Jn 2, 9-11). Không những vậy, người môn đệ Chúa Ki Tô không được ghét bỏ anh em mình, còn nói gì đến các mối liên hệ thân hữu, yêu thương, huyết thống, mà ngay cả kẻ thù của mình cũng không được ghét bỏ: - “ Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” ( Lc 6, 27). Vậy thì cặp động từ “ yêu qúy và ghét bỏ ” hay “ yêu qúy và coi thường” có liên quan đến cuộc sống ở đời nầy và sự sống đời đời trong tương lai không thể hiểu theo nghĩa đen tuyệt đối trong cách chọn lựa đời sống nầy và loại bỏ đời sống kia, lựa chọn Thiên Chúa và ghét bỏ của cải, cha mẹ, vợ con, anh em, bạn hữu như cách hiểu theo tối thượng đẳng ( superlatif), cho bằng theo cách hiểu so sánh của văn phạm ( comparatif). Thiên Chúa là giá trị tuyệt đối, là cùng đích cuộc sống hạnh phúc viên mãn và bất diệt mà mọi con người đều phải đạt đến. Đặt Thiên Chúa, giá trị tuyệt đối trên cán cân chọn lựa với các giá trị trần thế, con người dĩ nhiên phải dành mọi ưu tiên để chọn lấy Chúa, và “ coi thường ” hay coi có giá trị thấp hơn các thực tại trần thế. Bởi lẽ mọi tạo vật trần thế được Chúa dựng nên đều là những thực thể có giá trị giới hạn. Nói như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô không xem các thực tại trần thế là những đồ vật và thực tại vô giá trị, vô nghĩa. Bởi lẽ chính Thiên Chúa khị dựng nên vũ trụ, mỗi ngày sau công trình tạo dựng, Người đều nhìn lại mãn nguyện về công việc tạo dựng mình đã làm trong ngày. Chính Thiên Chúa xác nhận những gì Người dựng nên “ là đều tốt đẹp”, không phải một lần, mà là sáu lần như vậy: - “ Thiên Chúa thấy thế là điều tốt đẹp” ( Gn 1, 4.10.12.18.21.25). Và rồi thực tại trần gian “ là điều tốt đẹp” , có giá trị, Chúa dựng nên cho con cái Người, chớ không phải là những đồ vật vô giá trị, phế thải, đáng “ ghét bỏ ” . Vì chúng có giá trị, “ là điều tốt đẹp”, nên Chúa mới giao cho con cái mình “ trồng trọt và trông coi ”: - “ Đức Chúa là Thiên Chúa, đem con người đặt vào vườn địa đàng, để cày cấy và canh giữ đất đai ” ( Gn 2, 15 ). Đối với con người, giá trị của con người càng nổi bậc hơn nữa, bởi lẽ không những Chúa dựng nên con người giống hình ảnh mình, có trí khôn ngoan và lòng ao ước hạnh phúc tự do, phản ảnh trí khôn ngoan và tự do vô tận của Người: - “ Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh mình, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” ( Gn 1, 27), mà con người còn là tạo vật duy nhứt được Chúa “ thổi hơi sức sống của Người cho” , để con người biết bắt chước hành động sống giống như Người: - “ Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khi vào mũi, và con người trở nên sinh vật ” ( Gn 2, 7). Đó là chúng ta chưa đề cập đến con người còn được Chúa nâng lên địa vị con của Người ( Mt 6, 9) và ban cho gia tài được tham dự vào bản tính Thiên Chúa ( 2 Pt 1,4). Con người với địa vị và giá trị như vậy, chắc chắn không thể là đồ vật phế thải, đáng bị khinh bỉ, “ghét bỏ, coi thường” , đê tiện hoá và tha hóa, buôn bán con người như súc vật. Nói tóm lại, con người và các thực tại vật chất có giá trị của mình được Chúa ban cho, là những thực tại, tạo vật, “ là điều tốt đẹp” được Chúa ban cho. Thiên Chúa dựng nên trần gian với giá trị của chúng, “ là điều tốt đẹp” và giao cho chúng ta “ trồng trọt và canh giữ đất đai ” , để tạo cho chúng ta và anh em chúng ta môi trường, điều kiện và hoàn cảnh sống xứng đáng với địa vị con người, hình ảnh của Thiên Chúa, được Thiên Chúa ban sức sống cho “ thổi sinh khí vào lổ mũi ” , là con Thiên Chúa và được tham dự vào bản tính Thiên Chúa. Đó là bổn phận của mỗi con người, của người tín hữu Chúa Ki Tô. Người tín hữu Chúa Ki Tô không “ ghét bỏ, coi thường ” , khinh dễ các thực tại trần gian là “ cảnh phù du ” , vô giá trị. Nhưng trong cuộc sống của mình, nhiều khi trong việc chu toàn sứ mạng chứng nhân và rao giảng Nước Thiên Chúa, người môn đệ Chúa Ki Tô phải đặt Thiên Chúa là giá trị tuyệt và chương trình cứu rỗi của Người phải được lựa chọn ưu tiên, trước mọi giá trị thực tại trần thế. Hy sinh các giá trị trần thế để “ phục vụ Thầy ” , thực hiện sứ mạng đem tình thương Chúa Cha đến cho mọi người và sự cứu rỗi Thiên Chúa ban cho anh em mình, người môn đệ Chúa Ki Tô cũng được Chúa Cha quý mến, vinh danh, như Người vinh danh Chúa Giêsu: - “ Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ qúy trọng người ấy ” ( Lc 12, 26). Đó là giá trong cuộc sống, người tín hữu Chúa Ki Tô phải lựa chọn, để phục vụ Chúa và phục vụ anh em.

 

Đoạn Phúc Âm Thánh Gioan Chúa Nhật hôm nay là đoạn kết luận cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicodemo, gồm ba phần: - câu 14-16: sứ điệp Chúa Giêsu : nói với ông Nicodemo và những ai nghe Người, được nhấn mạnh bằng cách lập đi lập lại điệp khúc: “để ai tin vào Người, thì đưọc sống muôn đời…, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. - câu 17-18: cũng cùng sứ điệp trên nói với Nicodemo, dưới hình thức tiêu cực, bằng động từ “ lên án”: “ Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian…, Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án…, những kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa…”, - câu 19-21: diễn tả tiếp nối các việc làm ngay chính, diễn ra trong ánh sáng của Thiên Chúa và việc làm đen tối, gian dối ẩn nấp trong bóng tối: “ …nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì việc họ làm đều xấu xa…, ai làm điều ác thì ghét ánh sáng… để các việc làm của họ khỏi bị chê trách. Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng…các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa”. Đoạn Phúc Âm Thánh Gioan hôm nay nằm trong phần các câu kết thúc cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicodemo, trong đó Chúa Giêsu muốn nói với ông sứ điệp Người muốn khuyên bảo ông và những ai nghe Người. Hiểu như vậy, chúng ta thấy các câu 14-16 là câu Chúa Giêsu trả lời cho câu hỏi được Nicodemo đặt ra về việc làm sao con người có thể được tái sinh ra trong Thánh Thần ở câu Jn 3, 9: - “ Làm sao chuyện ấy có thể xảy ra được? ” ( Jn 3, 9). Một biến cố vượt quá tầm mức tự nhiên như vậy, “ tái sinh ra trong Thánh Thần, hoàn toàn biến đổi con người để con người có thể đến và diện kiến Nước Thiên Chúa, có thể thực hiện được, khi “Con Thiên Chúa sẽ được giương lên cao”: - “ Như ông Moisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời ” ( Jn 3, 14). 1 - Việc so sánh con rắn đồng được giương lên trong sa mạc với biến cố Chúa Giêsu sẽ chịu chết trên Thánh Giá, được hiểu ý nghĩa của rắn đồng được giương lên là hình ảnh dân Do Thái được cứu rỗi: - “ Ngay cả khi dân Chúa bị thú dữ hung hăng xông vào và rắn trường ra cắn chết, thì cơn thịnh nộ của Ngài cũng không kéo dài vô tận. Họ phải chịu hành hạ ít lâu, như là chịu một lời cảnh cáo; rồi họ được một dấu hiệu cứu thoát, nhắc họ nhớ đến luật Ngài truyền. Vì bất cứ ai ngước lên đều được cứu, không phải do bởi vật họ nhìn, nhưng do chính Ngài, Đấng Cứu Độ muôn người hết thảy ” ( Sap 16, 5-7). Biến cố Chúa Giêsu , “được giương lên” , đối với Thánh Gioan là biến cố cứu rỗi quyết định cho mọi người, được Ngài nhắc đến trong hai câu Phúc Âm khác: - “ Người bảo họ: Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết Ta là Đấng Hằng Hữu” ( Jn 8, 28), - “ Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” ( Jn 12, 32). Tuy nhiên ý nghĩa của các ngôn từ vừa kể, “được giương lên…Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta”, không thể chỉ hiểu theo ý nghĩa hạn hẹp, giới hạn vào biến cố Chúa Giêsu chịu tử hình trên Thánh Giá, mà gồm cả tiến trình Chúa Giêsu “ lên ” cùng Chúa Cha, khởi đầu từ biến cố Tử Nạn, Phục Sinh và Thăng Thiên “ lên” cùng Chúa Cha, kết thúc tiến trình song song và ngược chiều được thực hiện trước đó, tiến trình Con Thiên Chúa Nhập Thể, “ xuống ” để sống bên cạnh, sống giữa và sống với nhân loại, được Thánh Gioan làm cho nổi bậc trong Lời Tựa của Phúc Âm: - “ Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa Và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Ngôi Lời đã trở nên người phàm Và cư ngụ giữa chúng ta…” ( Jn 1, 1.14). Tiến trình cứu rỗi nhân loại “ Nhập Thể ” và “được giương lên cao”, đi về với Chúa Cha như vừa thấy của Chúa Giêsu, nếu để ý chúng ta thấy được là Thánh Gioan dùng từ ngữ để nói lên đó là tiến trình cứu rỗi “ cần phải được thực hiện”, - “ Con Người cũng sẽ phải được giương lên cao như vậy ” ( Jn 3, 14). Ý nghĩa vừa kể, chúng ta có thể gặp trong Phúc Âm Thánh Marco, để nói lên cuộc khỗ nạn của Chúa Giêsu cũng nằm trong chương trình cứu rỗi theo thánh ý Chúa Cha, cần phải được thực hiện: - “ Con Người phải chịu nhiều đau khỗ, bị các kỳ mục, thượng tế và các kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại ” ( Mc 8, 31). Hình ảnh Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa “ sẽ phải được giương lên”, được Thánh Gioan viết ra liên tưởng đến sách tiên tri Isaia: - “ Nầy đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” ( Is 52, 13). Như vậy, Thánh Gioan nhận ra Chúa Giêsu vẫn là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, như Ngài đã nhấn mạnh cho chúng ta ở Lời Tựa, ngay cả lúc Người chịu khỗ nạn. Đúng hơn đối với Thánh Gioan, lúc Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, “được giương lên cao”, chính là tột đỉnh của công trình cứu rỗi cho hết mọi người, “ Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” hay “các ông sẽ biết Ta là Đấng Hằng Hữu”. Lúc Người chịu khổ nạn “ phải được giương lên cao” trên Thánh Giá là lúc Người hoàn tất công trình cứu chuộc để cứu mọi người, “ Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” và lúc Người “ phải được giương lên cao”, khi trở về cùng Chúa Cha, ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang, là lúc Người hân hoan đón nhận tất cả anh em nhân loại của Người về với Người: - “ Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 20). Chúa Giêsu chịu khỗ nạn chết đi và lên trời , ngự bên hữu Chúa Cha, “ phải được giương lên ”, không có gì hơn là Người hoàn tất chương trình thánh ý Chúa Cha, đã được Thánh Kinh tiên báo. Điều đó nói lên một cách rõ ràng hơn nữa Người đang thực hiện đồ án tình thương của Chúa Cha đối với con người chúng ta. - “ Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ” ( Jn 3, 16). 2 – Chúng ta có thể nói đoạn Phúc Âm hôm nay được viết ra để làm nổi bậc lên tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Tình thương đó được thể hiện qua câu Phúc Âm chúng ta vừa đọc. Thiên Chúa không tiếc gì hết đối với con người, “…Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một ” của Người cho chúng ta, để cứu chúng ta. Một cách khác để chứng tỏ tình thương trổi vượt đó, được Thánh Gioan viết ra bằng cách lập đi lập lại các “ mệnh đề chung cục” ( propositions finales): - “ …để ai tin vào Người…, để thế gian nhờ Con của Người…, để thiên hạ thấy rõ các việc làm của người ấy đã được thực hiện trong Chúa” ( Jn 3, 15.16.17…) Và mục đích cuối cùng của các mệnh đề chung cục vừa kể là để nói lên cho biết thánh ý Chúa, không ai có thể lầm lẫn được: - “ …Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì sẽ được sống muôn đời…Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ” ( Jn 3, 15- 16 ). Tình thương của Thiên Chúa được tỏ ra cho con người một cách minh bạch như vậy, không ai có thể lầm lẫn được, “ sẽ được sống muôn đời…; khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời; nhờ Con của Người mà được cứu độ ” ( Jn 3, 15-17). Nhưng đọc các câu kế tiếp của Phúc Âm, chúng thấy thái độ chọn lựa của con người, hay ít nữa là của một số người, là thái độ bất cần hay ngược lại đồ án Chúa muốn cho họ. Một vài người từ chối tiếp nhận, để che giấu hành động đen tối, xấu xa, gian manh của họ. Những người khác tiếp nhận, vì họ sống lương thiện, công chính, không có gì phải che giấu: - “ Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta chọn bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa”. - “ Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” ( Jn 3, 19-21). Đọc câu 17 ở phần hai, chúng ta thấy rằng Chúa Cha ban Con Một của mình cho thế gian ( Jn 3, 16) là do tình thương của Người thương yêu thế gian tận tình, đến để “ ban sự sống muôn đời ” cho thế gian, chớ không phải để lên án thế gian: - “ Quả vậy, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án ( Hy Lạp, krino ), nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ ” ( Jn 3, 17). Nhưng đọc những câu kế tiếp, chúng nhận thức được môt cái gì đó bí ẩn trong đoạn Phúc Âm. Mặc dầu mục đích tình thương của Thiên Chúa sai Con của Người đến “ không phải để lên án” (krino), mà để thế gian “ nhờ Cơn của Người mà được cứu độ ”. Tuy vậy, chính trước sự hiện diện của Chúa Giêsu, nhiều người đã bị lên án: - “ những kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa…ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chọn bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” ( Jn 3, 18.20). Suy nghĩ kỷ hơn, chúng ta thấy rằng sự chọn lựa quyết định và tối hậu, chính là tin vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hay không tin, chỉ có vậy. Bởi vì chỉ có nơi Chúa Giêsu con người mới có thể biết được và tiếp nhận tình thương của Chúa dành cho mình và đời sống hạnh phúc viên mãn và vĩnh cữu, - “ …để ai tin vào Người thì được sống muôn đời…; Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để nhờ Con của Người, mà được cứu độ ” ( Jn 3, 15.18). Hiểu như vậy, chúng ta có thể nói một cách nôm na rằng Thiên Chúa đã làm hết cách, đã không tiếc bất cứ điều gì đối với chúng ta, chính Con Một của Người, Người cũng không tiếc ban cho chúng ta hay nói như Thánh Gioan: - “ Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” ( Jn 1, 14). Như vậy phần rỗi của chúng ta, việc “được sống muôn đời …; mà được cứu độ ”, chúng ta phải tự chính mình quyết định lấy. Thiên Chúa dựng nên chúng ta giống hình ảnh Người, giống như Người ( Gen 1, 27), có trí khôn ngoan và lòng ước muốn tự do phản ảnh lại con người của Người. Nhưng Thiên Chúa không thể can thiệp, áp bức, hạn chế tự do của con người, dầu cho hạn chế, áp bức để ban cho chúng ta “được sống muôn đời ”. Đó cũng là những gì Thánh Tommaso d’Aquino nói với chúng ta: - “ Thiên Chúa dựng nên chúng ta không cần có chúng ta, nhưng không thể cứu chúng ta nếu không có chúng ta” . Còn nữa, nếu để ý đọc kỷ đoạn Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy trong cách diễn tả cử chỉ “ lên án” hay “…được sự sống muôn đời…; nhờ Người mà được cứu độ…” , Chúa Giêsu không dùng các động từ ở thì tương lai, mà là ở thì hiện tại và quá khứ: - “ …để ai tin vào Người thì được sự sống muôn đời ” ( …afin que tout homme qui croit, ait par Lui la vie éternelle) ( Jn 3, 15), ( La Sainte Bible, L’École Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1401) - « …những kẻ không tin, thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một… » (…qui ne croit pas, est déjà condamné, parce qu’il n’est pas cru » ( Jn 3, 18) ( id.). Qua cách dùng động từ ở thì quá khứ và hiện tại như vừa kể, chúng ta thấy rằng Thánh Gioan có ý nói với chúng ta tin vào Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa, để thi hành thánh ý Người hay từ chối lời dạy bảo của Chúa Giêsu, có lối sống gian dối, ẩn nấp trong bóng tối, « vì các việc họ làm đều xấu xa » ( Jn 3, 19), là cử chỉ hành xử lựa chọn hay từ chối « sự sống muôn đời ». Đó không phải chỉ là phần thưởng trong tương « hầu ngày sau được hưởng phước đời đời » , được hay không được trong tương lai, mà là chọn hay từ chối cuộc sống, hội nhập vào đời sống với Chúa ngay trong hiện tại , ngay ở thời điểm chúng ta đang sống: - « Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy » ( Jn 14, 23). Chúng ta, người tín hữu Chúa Ki Tô, là người đang « tin vào Chúa Ki Tô để được sống muôn đời », nếu vì lý do nào đó mà chúng ta chúng ta chưa hội nhập vào cuộc sống mà Chúa đang ưu ái ban cho chúng ta, thời gian Mùa Chay, chúng ta hãy hối cải, mở rộng tâm hồn đón nhận và thông hiệp với Chúa, khởi đầu cuộc sống mà Thánh Gioan dùng động từ ở thì hiện tại ( temps présent) để thúc giục chúng ta hãy bắt đầu ngay : - « …để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời » ( Jn 3, 15). Bắt đầu sống với Chúa, hưởng hạnh phúc « cuộc sống muôn đời » với Người, ngay từ giờ phút nầy. Đó chính là ân huệ và địa vị đặc biệt của người tín hữu Chúa Ki Tô !

 

Đặc tính của đoạn Phúc Âm Thánh Gioan nay, tường thuật lại việc Chúa Giêsu đuổi những người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, là việc Ngài nhắc đến thời gian liên quan đến Lễ Vượt Qua của Do Thái để làm bối cảnh, trong khi các tác giả Phúc Âm Nhất Lãm khác chỉ đề cập đến biến cố có liên quan đến cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu: - “Gần đến Lễ Vượt Qua của người Do Thái… ” ( Jn 2, 13) Thời gian tính trên, “ gần đến Lễ Vượt Qua ”, được ghi lại để diễn tả lòng tin của nhiều người, nhưng các niềm tin đó không phải là những gì Chúa Giêsu kỳ vọng nơi họ: - “…có nhiều kẻ tin vào danh Người, bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. Nhưng chính Chúa Giêsu không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, và không cần ai làm chứng về Con Người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người ” (Jn 2, 23-25). Trong khi tường thuật lại các biến cố xảy ra ở Giêrusalem, Thánh Gioan chen vào sau mỗi đoạn tường thuật những dòng suy nghĩ của các môn đệ: Sau khi tường thuật lại việc xua đuổi các người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, các môn đệ suy nghĩ: - “Các môn đệ Người nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây đã phải thiệt thân” (Jn 2, 17). Cũng vậy, sau cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các người Do Thái, các môn đệ nghĩ đến: - “Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Các vị tin vào Thánh Kinh và lời Chúa Giêsu đã nói” (Jn 2, 21-22). * Trước hết chúng ta thử tìm hiểu một vài giải thích cho hành động của Chúa Giêsu đối với các người buôn bán và những kẻ đổi tiền trong Đền Thờ; *- kế đến ý nghĩa cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các người Do Thái; *- và sau cùng ý nghĩa các câu bình luận của các môn đệ được Thánh Gioan thuật lại. 1 - Trước hết sự hiện diện của các người buôn bán và những kẻ đổi tiền trong Đền Thờ Giêrusalem lúc đó được giải thích bằng nhu cầu của các tín hữu hành hương đến Đền Thờ cầu nguyện và dâng lễ phải mua thú vật ở đó để dâng lễ toàn thiêu và phải đổi tiền địa phương của họ ra đồng tiền duy nhứt, được chấp nhận tại đền thờ, để cúng hiến và trả thuế thập phân. Loại tiền tệ duy nhứt được chấp nhận đó, do giáo quyền sở tại lúc đó cho in ra tại Tiro. Đối với Chúa Giêsu, quy chế tế tự, giết chiên bò làm lễ toàn thiêu, cúng hiến bồ câu, cũng như đổi tiền bắt buộc để dâng cúng và trả thế thập phân mà giáo quyền Do Thái cho là cần thiết và hợp tình, hợp lý và hợp đạo lúc đó, là những quy chế hạ thấp phẩm giá con người, lạm dụng và làm mất đi tính cách thiên thánh của nơi tế tự: - “ …đừng biến nhà Cha Ta thành nơi chợ búa ” ( Jn 2, 16). Ngoài ra phản ứng đối với những lạm dụng và cách hành xử bất xứng vừa kể đối với nơi thiên thánh để thờ phượng, hành động của Chúa Giêsu cũng muốn nói lên cho mọi người biết thời gian thờ phượng theo hình thức, tập tục, câu nệ và nô lệ vừa kể của Cựu Ước đã chấm dứt, liên tưởng đến những gì tiên tri Zaccaria tiên báo về thời gian cứu rỗi đến: - “Mọi nồi niêu ở Giêrusalem và ở Giuda sẽ được thánh hiến cho Đức Chúa các đạo binh.Tất cả những người đang hy lễ sẽ đến lấy những nồi niêu đó mà nấu nướng. Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong nhà Chúa các đạo binh nữa” (Zc 14, 21). Đó là thời gian cứu rỗi đã đến: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong nhà Chúa các đạo binh nữa”. Như vậy với động tác xua đuổi các người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, Chúa Giêsu có ý nói cho dân chúng biết thời gian thờ phượng Chúa trong nô lệ, câu nệ, bó buộc của luật lệ Cựu Ước đã chấm dứt và chính Người là sự cứu rỗi đang hiện diện ở giữa họ. Nếu chú ý chúng ta thấy câu nói của Chúa Giêsu lúc trách móc các người buôn bán và đổi tiền: - “ Đem tất cả những thứ nầy ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Ta thành nơi chợ búa” ( Jn 2, 16), Chúa Giêsu không tỏ ra thái độ tiêu cực đối với Đền Thờ, tượng trưng cho tôn giáo lúc đó, được Người gọi là “ nhà Cha Ta ”, là nơi thiên thánh để thờ phượng Thiên Chúa. Có chăng, Người tỏ thái độ tiêu cực đối với hành động của những người buôn bán và đổi tiền, cũng như đối với giáo quyền lúc đó đã tạo nghị thức tế tự, chiên bò, súc vật và tiền bạc đổi chác cộng hưởng, “ biến nhà Cha ta thành nơi chợ búa ”. Như vậy thái độ của Chúa Giêsu là thái độ bênh vực ý nghĩa và giá trị thiên thánh của tôn giáo. Có lẽ hiểu được ý nghĩa đó, Chúa Giêsu hành động như người có uy quyền tôn giáo để bênh vực ý nghĩa và giá trị tôn giáo, nên các người Do Thái mới đặt vấn nạn với Người: - “Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như vậy?” ( Jn 2, 18). Hay hỏi cách khác, ông hành động cho thấy là thời gian quy chế tế tự Cựu Ước không còn giá trị, và thời điểm của Đấng Cứu Thế đã đến như đã nói, “ Vậy ông có dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi để ông hành xử như Đấng Cứu Thế không?”. Trong câu trả lời, Chúa Giêsu dùng động từ ở thể “ mệnh lệnh cách” ( impératif): - “ Các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại ” ( Jn 2, 19). Dùng động từ ở thể “ mệnh lệnh cách ” vừa kể, câu Phúc Âm không thể chỉ hiểu theo ý nghĩa dưới thể “điều kiện cách” ( conditionnel), “nếu các ông có phá hủy…Ta sẽ xây dựng lại ”, mà là một mệnh đề mệnh lệnh tính có tính cách thách thức, tương tợ như một vài đoạn các tiên tri thách thức dân Do Thái trong Cựu Ước: - “ Hỡi con cái Israel, cứ đến Betel mà phạm tội! Cứ đến Galgala mà phạm tội nữa đi! Sáng sáng hãy tiến dâng hy lễ, và cứ ba ngày lại dâng cúng thuế thập phân” ( Am 4, 4), để đưa họ đến thảm bại và nô lệ ngoại bang. Hiểu như vậy, câu nói của Chúa Giêsu ở thể “ mệnh lệnh cách ” có ý nghĩa thách thức rằng, các người cứ tiếp tục cách ăn thói ở như vậy đi, các người sẽ làm cho Đền Thờ bị hủy diệt. Theo văn mạch, chúng ta thấy với câu trả lời vừa kể, - bên ngoài chúng ta có cảm tưởng rằng Chúa Giêsu từ chối trả lời lại cho việc “ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như vậy?” ( Jn 2, 18), - nhưng trên thực tế Người đã cho họ câu trả lời, hàm ý khuyên bảo họ rằng cách thức sống tôn giáo của họ, với sự đồng thuận của giáo quyền lúc đó, là cách hành xử ngược lại ý muốn của Cha Ngài và ngược lại mục đích của Đền Thờ được xây dựng: - “ Đem tất cả những thứ nầy ra khỏi đây và đừng biến nhà Cha Ta thành nơi chợ búa!” ( Jn 2, 16). Và điều đó nói lên cho họ rằng cách hành xử của Người, đuổi kẻ buôn bán và người đổi tiền bạc ra khỏi Đền Thờ, chính là cách hành xử theo ý muốn của Thiên Chúa. 2 - Kế đến ngoài ra hình thức có tính cách tố cáo và thách thức của câu nói, câu trả lời của Chúa Giêsu hàm chứa lời an ủi và niểm hy vọng cứu rỗi: ngay cả với tội lỗi con người có thể phá hủy Đền Thờ đi nữa, Đền Thờ đó sẽ do chính Người xây dựng lại: - “ Các ngươi cứ ( cố chấp mà) phá hủy Đền Thờ nầy đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại ” ( Jn 2, 19). Điều vừa kể cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa con người không thể bị tính tình ương ngạnh, bất chấp của con người mà có thể xoá bỏ được. Tình thương bao la của Thiên Chúa và lòng rộng lượng khoan dung hải hà của Người bao phủ lên tội tỗi và vượt thắng lòng ương ngạnh bất chấp của con người, “ - các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại ”. Đọc Phúc Âm Thánh Gioan, rất thường khi chúng ta gặp được Thánh Gioan dùng từ ngữ với hai hoặc nhiều ý nghĩa. Ý nghĩa thông thường của câu Phúc Âm vừa kể là ý nghĩa “ …nội trong ba ngày Ta “sẽ xây dựng lại Đền Thờ ”, mà các ngươi phá đi ”. Đó cũng là ý nghĩa mà những người đối thoại với Chúa Giêsu lúc đó hiểu như vậy. Bởi đó họ chất vấn Người: - “Đền Thờ nầy phải mất bốn mươi năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao ?” ( Jn 2, 20). Nhưng động từ “ relever ” ( en trois jours je le releverai, La Sainte Bible, L’École Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1400), cũng như động từ Ý Ngữ « risorgere » ( e in tre giorni le farò risorgere, La Bibbia di Gerusalemme, EDB, Bologna 1986, 2270), ngoài ra ý nghĩa “ xây dựng lên” còn có ý nghĩa là “ trỗi dậy, đứng lên lại ”. Chính ý nghĩa vừa kể của Phúc Âm Thánh Gioan làm định hướng cho người tín hữu Chúa Kitô đọc câu trả lời của Người trong văn mạch liên quan đến ngày Chúa Nhật Phục Sinh vinh hiển của Chúa Giêsu, “…nội trong ba ngày, Ta sẽ làm cho trỗi dậy ”. Và đó cũng chính là lời bình luận tường thuật lại ý nghĩa đối với các môn đệ, cho chúng ta hiểu được tâm tình các ngài: - “ Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó với họ. Họ tin vào Kinh Thánh và vào lời Chúa Giêsu đã nói ” ( Jn 2, 21-22). Câu Phúc Âm vừa kể là câu được Thánh Gioan viết lại với suy nghĩ sau biến cố Phục Sinh. Trên thực tế lúc đó, không những các người Do Thái mà cả các môn đệ Chúa Giêsu cũng chưa hiểu nổi lời Người giảng dạy. Lời giảng dạy của Người chỉ trở nên minh bạch dễ hiểu với ánh sáng Phục Sinh: - “ Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói với họ điều đó…”. Dầu vậy, đọc Phúc Âm trong viễn ảnh Phục Sinh, Thánh Gioan cũng đã gợi ý cho chúng ta trong mấy câu trước đó, trong câu 17, sau khi Chúa Giêsu xua đuổi người buôn bán và kẻ đổi tiền khỏi đền thờ, ngụ ý cho thấy hậu quả của việc làm: - “ Các môn đệ nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con đây sẽ phải thiệt thân” ( Jn 2, 17). Câu nói vừa kể được Thánh Gioan trích lại từ Thánh Vịnh 69: - “ Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân Lời kẻ thoá mạ Ngài, nay chính con hứng chịu” ( Ps 69, 10). Tuy nhiên so câu của Thánh Vịnh 69 “…mà con phải thiệt thân ”, Thánh Gioan biến đổi thì hiện tại của động từ “ con phải thiệt thân”, thành thì tương lai “ mà con đây sẽ phải thiệt thân” ( Jn 2, 17), có ý giải thích hành động của Chúa Giêsu trong việc thanh tẩy Đền Thánh liên quan đến biến cố khổ nạn Thánh Giá sắp tới. Chúa Giêsu vì hoàn toàn trung thành với ý nghĩa thuần túy tôn giáo cao đẹp của Đền Thờ , “ nhà Cha Ta”, nơi thiên thánh Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người, mà ra tay hành động, sẽ bị lên án tử hình. 3 – Và chính đó cũng là mục đích để Người trỗi dậy từ cõi chết, tiếp tục mạc khải Thiên Chúa hiện diện ở giữa con người, mặc dầu phải trải qua đoạn đường Thánh Giá: “ - khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và vào lời Chúa Giêsu ” ( Jn 2, 22). Như vậy trong Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta có thể kết hợp ý nghĩa của câu Thánh Vịnh 69, tiên báo cuộc khỗ nạn của Chúa Giêsu, “ mà con đây sẽ phải thiệt thân ” ( Ps 69, 10) , và câu tuyên bố của Chúa Giêsu về biến cố Phục Sinh: “…nội trong ba ngày, Ta sẽ cho trỗi dậy” ( Jn 2, 19 ), được xem như là nội dung của đức tin các môn đệ Chúa Giêsu: - “ Vậy khi Người cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó ”. Với các mối liên kết vừa kể, Thánh Gioan có ý nói với chúng ta khi suy niệm và chú giải Thánh Kinh (Cựu Ước), không những chúng ta phải chú giải dưới ánh sáng các lời giảng dạy của Chúa Giêsu, “ …nhớ lại Người đã nói điều đó”, mà còn cả dưới ánh sáng biến cố Phục Sinh, “ Vậy khi Người từ cỏi chết trỗi dậy…”. Qua những gì chúng ta vừa suy niệm, chúng ta hiểu được rằng mười điều răn bài đọc thứ nhứt chúng ta đã lắng nghe, không thể chỉ được đọc và chú giải theo hình thức, mà là những lời mời gọi sống thực tế, sống đích thực, theo gương Chúa Giêsu, sống trung thành với Thiên Chúa, bởi vì mỗi tín hữu Chúa Kitô là người đang sống với Chúa, có Chúa sống trong tâm hồn mình, sống với mình: - “ Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy và Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ” ( Jn 14, 23). Người tín hữu Chúa Kitô là người đang sống với Chúa, có Chúa sống trong lòng mình, không có cách sống nào khác hơn là sống bằng sự thật và tình thương đối với Chúa và đối với anh em.Cha Mọi cách sống tôn sùng thần tượng, ẩn nấp dưới hình thức dù tế nhị đến đâu, viện cớ vô căn cứ để khoát lên bên ngoài các y phục, hành xử gian dối, viện cớ chu toàn bổn phận tôn giáo của mình để trục lợi, cúi đầu vâng theo quyền lực và của cải, đặc quyền, sống thoải mái, như giáo quyền ở Giêrusalem lúc đó đã làm, Chúa đều biết và đều không phải là cách sống với Chúa như Chúa muốn. Bịt mắt, bưng tai, câm miệng, không muốn thấy, không muốn nghe, không muốn nói lên những bất công trong cuộc sống cùng cực, bất hạnh của anh em mình, là hành động tiếp tục biến chế ra nghi lễ tế tự, in tiền ở Tiro, tạo ra cảnh buôn bán súc vật, đổi tiền ở Đền Thờ của giáo quyền lúc đó, khiến Chúa Giêsu phải có tác động quyết liệt: - " Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán " ( Jn 2,16). Mỗi tín hữu Chúa Kitô có Chúa sống với mình và sống trong tâm hồn mình, biết rõ mọi suy tư, ước muốn và lo lắng của mình, hãy sống với Chúa và với anh em bằng tình thương và trong sự thật: - “ Nầy chị, hãy tin Ta: đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi nầy hay tại Giêrusalem…Nhưng đã đến giờ- và chính lúc nầy đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thánh Thần và sự thật…” ( Jn 4, 21.23).