Tham Khảo >>  ĐGH Giảng Huấn

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Trọng kính các Vị Hồng Y, các Anh Em Đáng Kính trong Giám Mục Đoàn và trong Chức Linh Mục, các Cơ Quan Công Quyền và Anh Chị Em thân mến. Chúng ta đang quy tựu bên nhau trong Đại Thánh Đường Vatican để cử hành những Buổi Kinh Chiều đầu tiên của ngày Lễ Trọng Thể Mẹ Maria Chí Thánh, Mẹ Thiên Chúa và để cám ơn Chúa nhân dịp cuối năm, bằng hát lên Kinh Ngợi Khen ( Te Deum) . Cám ơn tất cả Anh Chị Em đã muốn cùng hiệp thông với tôi nhân dịp nầy, luôn luôn đầy ấp tâm tình và ý nghĩa. Trước tiên tôi xin được kính chào các Vị Hồng Y, các Huynh Đệ trong Giám Mục Đoàn và trong Chức Linh Mục , các tu sĩ nam nữ, những người được tận hiến và các tín hữu giáo dân đại diện cho cả cộng đồng Giáo Hội Roma. Một cách đặc biệt tôi xin được đón chào các Cơ Quan Công Quyền, khởi đầu từ Vị Xã Trưởng Roma, bằng cách cám ơn ngài đã ban tặng cho chén thánh, mà theo truyền thống tốt đẹp hằng năm đều được lập lại. Thành thật tận đáy lòng tôi mong ước tất cả đều không thiếu sót phận vụ của mình, để cho diện mạo Thị Xã chúng ta luôn luôn càng thích hợp hơn với các giá trị đức tin, văn hoá và nền văn minh nằm trong ơn gọi và lịch sử ngàn năm của mình. 1 -Một năm nữa đang khởi đầu kết thúc, trong khi chúng ta đang chờ đợi một năm mới khác cùng với các nỗi lo lắng kinh hoàng, bao nhiêu ao ước và luôn luôn mong đợi. Nếu chúng ta nghĩ đến đời sống, chúng ta sẽ phải ngac nhiên khi biết rằng trên thực tế đời sống ngắn ngủi và thoát qua đi mau chóng. Bởi đó không phải ít khi chúng ta nghĩ đến việctđặt ra câu hỏi: ý nghĩa nào chúng ta có thể gắn gép cho các ngày của cuộc sống mình? Có ý nghĩa gì, một cách cá biệt, chúng ta có thể gán ghép cho các ngày mệt nhọc và đau khổ ? Đây là câu hỏi chạy dài xuyên qua suốc cả lịch sử , hay nói đúng hơn là đi xuyên qua suốt tâm hồn của mỗi thế hệ và mỗi con người. Nhưng trước câu hỏi đó, có một câu trả lời, được viết trên khuôn mặt của một Hài Nhi, hai ngàn năm qua đã sinh ra tại Bethlem và ngày nay vẫn còn Đang Sống, đã vĩnh viễn trỗi dậy từ cỏi chết. Trong cấu trúc của nhân loại bị rách nát bởi bao nhiêu bất công, độc ác và bạo lực, đột nhập vào một cách bất ngờ niềm hân hoan mới mẻ và giải thoát của Chúa Ki Tô Đấng Cứu Thế, Đấng mà trong mầu nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh của Người, làm cho chúng ta chiêm ngắm được lòng tốt lành và âu yếm của Thiên Chúa. Thiên Chúa vĩnh cửu đã hội nhập vào dòng lịch sử của chúng ta và vẫn hiện diện một cách duy nhứt trong con người Chúa Giêsu, Con của Người đã trở nên người phàm, Đấng Cứu Độ của chúng ta đã đến trên mặt đất để hoàn toàn canh tân lại nhân loại và giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết, để nâng cao con người lên phẩm giá địa vị con Thiên Chúa. Giáng Sinh không phải chỉ nhắc lại biến cố thực hiện hoàn hảo chân lý nầy, có liên hệ trực tiếp đối với chúng ta, nhưng một cách mầu nhiệm và thực hữu còn ban tặng lại điều đó cho chúng ta nữa. Thật là đầy cảm hứng phấn khởi, trong buổi chiều hôm nay của một năm, lắng nghe lại lời loan báo đầy hân hoan của Thánh Tông Đồ Phaolồ nói với các tín hữu ở Galazia: - " Khi thời gian đến thời viên mãn, Thiên Chúa sai Con mình đi tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề luật , hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử " ( Gal 4, 4-5). Những lời nói đó đụng chạm thẳng đến trọng tâm lịch sử của tất cả và chiếu sáng lên lịch sử đó, hay nói đúng hơn, cứu độ lịch sử đó của mội con người, bởi vì kể từ ngày Giáng Sinh của Chúa, thời kỳ viên mãn đã đến cho chúng ta. Như vậy, không còn chỗ cho lo âu trước thời gian chóng vượt qua thoát mất đi và không trở lại. Giờ đây chúng ta có khoản thời gian để tin cậy vô tận vào Chúa, mà chúng ta biết mình được Người yêu thương, vì Người mà chúng ta sống và hướng về Người đời sống chúng ta được định hướng trong đợi chớ ngày trở lại vĩnh viễn của Người. Từ ngày Đấng Cứu Thế từ trời xuống, con người không còn là nô lệ của thời gian qua đi nữa mà không biết tại sao, con người không còn bị mệt nhọc, buồn thảm, đau khổ ấn dấu lên mình nữa. Con người là con Thiên Chúa, Đấng đã hội nhập vào thời gian chuộc lại thời gian khỏi đặc tính vô nghĩa hay tước bỏ phương diện tiêu cực của nó và để cứu độ cả nhân loại, bằng cách ban cho con người viễn ảnh mới của đời sống tình thương và vô tận. 2 - Giáo Hội sống và tuyên xưng chân lý nầy và vẫn còn có ý định loan báo cả cho ngày nay với nhiệt huyết thiêng liêng được tân trang. Trong buổi cử hành nầy, chúng ta có những lý do đặc biệt để ngôi khen Chúa bởi mầu nhiệm cứu độ của Người, tác động trong thế giới bằng thừa tác vụ Giáo Hội. Chúng ta có nhiều lý do để cám ơn Chúa về những gì Cộng Đồng Giáo Hội chúng ta trong trái tim của Giáo Hội hoàn vũ, đang thực hiện việc phục vụ Phúc Âm trong Thị Xã nầy ( Roma). Về vấn đề vừa đề cập, cùng hiệp thông với Đức Hồng Y Phụ Tá Agostino Vallini, với các Đức Giám Mục Phụ Tá, các Cha Sở và cả Hàng Linh Mục trong giáo phận, tôi ao ước được cám tạ Chúa, nhứt là đối với cuộc hành trình đầy hứa hẹn của Cộng Đồng để thích hợp hóa tiến trình mục vụ thường nhật, đáp ứng lại các nhu cầu thời đại chúng ta, qua dự án " Thuộc về Giáo Hội và đồng trách nhiệm mục vụ " . Đó là dự án có mục đích đặt việc loan báo Phúc Âm ở hàng đầu, nhằm làm cho người tín hữu tham dự các Phép Bí Tích một cách có trách nhiệm và lợi ích hơn. Như vậy khiến cho mỗi người tín hữu đều có thể nói về Thiên Chúa cho con người đương thời và loan báo Phúc Âm một cách chính xác cho những ai chưa hề được biết Chúa hay đã quên Chúa đi. Vấn đề đức tin ( questio fidei ) là thử thách hàng đầu cả đối với Giáo Phận Roma. Người môn đệ Chúa Ki Tô được mời gọi hãy làm tái sinh lại nơi mình và nơi người khác lòng nhớ nhung Thiên Chúa và niềm hân hoan được sống với Người, được nhân chứng cho Người, khởi đầu từ câu hỏi đơn sơ luôn luôn cá nhân: tại sao tôi tin? Cần phải đặt chân lý lên hàng đầu, làm cho mối tương quan giữa đức tin và lý trí là điều có thể tin được, như đôi cánh mà nhờ đó tâm thần con người có thể cất cánh lên để chiêm ngắm Chân Lý ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Enc. Fides et ratio, Prologo ) , -nhờ đó làm cho cuộc đối thoại giữa Ki Tô giáo và nền văn hoá hiện đại trở nên kết quả sung mãn; - nhờ đó có thể khám phá ra vẻ tươi đẹp và hiện đại của đức tin, * không phải chỉ như là những gì cao cả tự chính mình, đứng biệt lập, chỉ hữu ích một đôi lúc nào đó trong cuộc sống, * nhưng như là định hướng bền bỉ liên tục, ngay cả trong những việc lựa chọn đơn sơ, hướng dẫn tính cách hiệp nhứt sâu đậm của con người, khiến cho con người trở thành chân chính, năng động, hành thiện và tốt lành. Đó là làm sống động lại đức tin, nền tảng cho một nền nhân bản mới, có khả năng sinh nở ra văn hoá và chuyên cần xã hội. 3 - Trong khuôn viên quy chiếu vừa kể, trong tại Đại Hội Giáo Phận thánh sáu vừa qua, Giáo Phận Roma đã kởi đầu một cuộc hành trình tìm hiểu sâu đậm về thời điểm biến cố khởi đầu Ki Tô hữu và về niềm hân hoan của việc sinh nở ra các Ki Tô hữu trong đức tin. Thật vậy, loan báo đức tin vào Ngôi Lời nhập thể là trung tâm điểm sứ mạng của Giáo Hội và cả cộng đồng Giáo Hội phải biết khám phá ra lại bổn phận không thể thiếu với lòng nhiệt thánh được canh tân. Nhưt là các thế hệ trẻ, đang cảm thấy mất định hướng to tác hơn trước cơn khủng hoảng hiện tại, không những khủng hoảng về kinh tế, mà cả về giá trị, những người trẻ đó cần nhận biết được nơi Chúa Ki Tô, " chía khoá, trung tâm điểm và cùng đích của cả lịch sử con người " ( Gaudium et Spes, n. 10). Cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên về đức tin cho con cái mình, ngay từ lúc thiếu thời. Bởi đó cần phải trợ giúp gia đình trong sứ mạng giáo dục của mình, bằng những sáng kiến thích ứng. Đồng thời, cũng đáng được ao ước cuộc hành trình đi đến Phép Rửa, giai đoạn khởi đầu của cuộc hành trình giáo dục về bước khởi đầu Ki Tô hữu, - ngoài ra việc tạo điều kiện thuận lợi cho ý thức và cho việc chuẩn bị xứng đáng cho biến cố cửa hành Phép Bí Tích, - cần phải đặc tâm chú ý tương xứng cho những năm tiếp nối sau Phép Rửa, bằng những con đường thích hợp lưu tâm đến các điều kiện sống mà gia đình phải đối phó. Bởi đó tôi khyến khích các cộng đồng họ đạo và những thực thể khác của Giáo Hội hãy tiếp tục chuyên tâm suy tư để phát động một sự hiểu biết tốt đẹp hơn và đón nhân Phép Bí Tích, mà qua đó con người được làm cho tham dự vào chính đời sống của Chúa Ki Tô. Ước gì Giáo Hội Roma không thiếu gì các tín hữu giáo dân sẵn sàng cung cấp sự cộng tác của chính mình để xây dựng các cộng đồng sống động, cho phép Lời Chúa thâm nhập được vào trái tim của những ai không biết Chúa hay của những ai đã xa lìa Người. Đồng thời cũng đáng tạo nên những cơ hội để được gặp gỡ với Thị Xã, để tạo cơ hội đối thoại với những ai đang đi tìm Chân Lý. Các bạn thân mến, vì Thiên Chúa đã sai Con Một của Người, để chúng ta có được tình con cái dưỡng tử ( Gal 4, 5) vậy thì đối với chúng ta không có phận vụ nào to lớn hơn là đặt mình hoàn toàn phụcc vụ đồ án của Thiên Chúa. Đối với chủ đề vừa kể, tôi ao ước khuyến khích và cám ơn mọi tín hữu của Giáo Phận Roma, là những người đang cảm nhận mình có trách nhiệm đem lại một linh hồn cho xã hội nầy của chúng ta. Cám ơn Anh Chị Em, các gia đình Roma, những tế bào tiên khởi và nền móng của xã hội ! Cám ơn các thành viên của nhiều Cộng Đồng, Hiệp Hội và Phong Trào đang dấn thân làm sống động đời sống Ki Tô giáo của Thị Xã chúng ta. " Te Deum laudamus ! " Chúng con ngợi khen Chúa ! Giáo Hội nhắc nhở chúng ta là đừng kết thúc năm, mà không hướng về Chúa lòng biết ơn của chúng ta vì tất cả những ơn lành của Người. Và trong Chúa mà giờ cuối cùng của chúng ta phải được kết thúc, giờ cuối cùng của thời gian và lịch sử. Quên đi cùng đích nầy của đời sống chúng ta, có nghĩa là rơi vào hư vô, sống vô ý nghĩa. Bởi đó Giáo hội đặt trên môi chúng ta bài thánh ca cỗ Te Deum. Đây là một thánh ca đầy khôn ngoan của hàng bao thế hệ Ki Tô hữu, cảm thấy mình cần phải hướng lên cao tâm hồn của mình, trong xác tín rằng tất cả chúng ta đều ở trong tay đầy yêu thương khoan dung của Chúa. " Te Deum laudamus " Như vậy, Giáo Hội ở Roma cũng hãy cất tiếng hát lên, vì những điều lạ lùng Chúa đã và đang làm nơi mình. Vói tâm hồn đầy tràn lòng biết ơn, chúng ta chuẩn bị bước qua ngưỡng cửa 2012, trong khi tưởng nhớ rằng Chúa canh giữ trên chúng ta và bảo vệ chúng ta. Chiếu hôm nay chúng ta hãy phó thác cả thế giới trong tay Người. Chúng ta hãy đặt trong tay Người những bi thảm tang thương thế giới nầy của chúng ta và chúng ta cũng hãy dâng lên Người các hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Chúng ta hãy đặt những lời khẩn nguyện nầy trong tay Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Salus Popoli Romani ( là Sức Sống của Dân Roma ). Amen. Phỏng dịch từ nguyên bản Ý-Ngữ. Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 31.12.2011).

 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, hôm nay, trong Phụng Vụ chúng ta tưởng nhớ đến Thánh Nữ Chiara ở Assisi, vị nữ sáng lập dòng các nữ tu Clarisse, một khuôn mặt rạng rỡ sáng chói mà tôi sẽ đề cập đến ở một trong các Bài Giáo Lý sắp đến. Trong tuần nầy, như tôi đã nói sơ qua trong buổi Kinh Nhật Một ( Angelus) Chúa Nhật tuần qua, chúng ta hãy tưởng nhớ đến một vài vị Thánh Tử Đạo, những Vị ở những thế kỷ đầu của Giáo Hội, như Thánh Lorenzo, Phó Tế; Thánh Ponziano, Giáo Hoàng và Thánh Ippolito, Linh Mục; cũng như đến những Vị gần chúng ta hơn, như Thánh Nữ Teresa Benedetta Thánh Giá; Edith Stein, Thánh Nữ Bổn Mạng của Âu Châu; và Thánh Massimilliano Maria Kolbe. Tôi muốn được dừng lại một cách ngắn gọn về động tác tử đạo, hình thức tình yêu trọn hảo đối với Chúa. 1 - Tử đạo được đặt nền tảng ở đâu? Câu trả lời đơn sơ: được đặt nền tảng trên cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, trên sự hy sinh thượng đỉnh của Người cho tình yêu, hy sinh đến tận cùng trên Thánh Giá, để chúng ta có thể có được đời sống: - " Phần Ta, Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào " ( Jn 10, 10). Chúa Ki Tô là người tôi tớ đau khổ, mà tiên tri Isaia nói đến, - " Nầy đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tận cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa; cũng vậy, người tôi trung của Ta sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ " ( Is 52, 13-15), là Đấng đã hy sinh chính mình để cứu chuộc muôn người: - " Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người " ( Mt 20, 28). Chúa Giêsu khuyến khích các môn đệ Người, khuyến khích mỗi người trong chúng ta, mỗi ngày hãy nhận lấy thập giá mình và đi theo Người trên con đường tình yêu trọn vẹn đối với Chúa Cha và đối với nhân loại: - " Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được " ( Mt 10, 38-39). Đó là tính cách hữu lý của hạt giống chết đi để nẩy mầm và mang lại đời sống: - " Thật vậy, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" ( Jn 10, 24). - " Chúa Giêsu là hạt giống từ Thiên Chúa mà đến, hạt giống lúa của Thiên Chúa, được để rơi xuống trên mặt đất, để cho bị bầm dập, chà nát trong cái chết và, chính qua giai đoạn đó, được mở ra và có thể đem lại hoa qủa cho cả thế giới " ( Benedetto XVI, Visita alla Chiesa luterana di Roma [ 14.03.2010]. Vị tử đạo theo Chúa đến cùng, tự do chấp nhận cái chết để cứu thoát thế gian, trong một cuộc thử thách tuyệt đỉnh về đức tin và tình yêu ( Lumen Gentium, 42). 2 - Một lần nữa, từ đâu sinh ra nghị lực để đối đầu lại cuộc tử đạo? Từ sự hiệp nhất sâu đậm và thân thiết với Chúa ki Tô, bởi vì tử đạo và ơn gọi tử đạo không phải là kết quả của một cử chỉ gắng sức nhân loại, mà chỉ là câu trả lời đối với sáng kiến và lời mời gọi của Chúa. Đó là một quà tặng của ân sủng Chúa, khiến cho con người có khả năng dâng hiến đời mình cho tình yêu Chúa Ki Tô và Giáo Hội, và như vậy cho cả thế giới. Ơn của Nếu đọc lịch sử đời sống các Thánh Tử Đạo, chúng ta sẽ sửng sốt về cử chỉ thanh thảng và can đảm trong việc đối đầu với sự đau khổ và cái chết của các vị: quyền lực của Thiên Chúa được bày tỏ ra đầy đủ trong trong cái yếu hèn, nghèo khổ của ai tin cậy vào Người và chỉ đặt hy vọng của chính mình nơi Người: - " Nhưng Người đã quả quyết với tôi: " Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối". Bởi đó, tôi rất vui mừng và tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Ki Tô ở mãi trong tôi ( 2 Cor 10, 9). Tuy vậy, điều quan trọng cần nhấn mạnh là ơn Chúa không loại bỏ hay làm tắt nghẻn, chết ngạt sự tự do của con người đương đầu với cuộc tử đạo, trái lại ơn Chúa làm cho tự do được sung mãn hơn và được kích thích tán dương hơn: người chịu tử đạo là con người nói cách chung vẫn tự do, tự do đối với quyền lực, đối với thế giới; là con người tự do, trong một động tác cuối cùng dâng hiến cho Chúa cả đời sống mình, trong một động tác tối cao của đức tin, niềm hy vong và đức bác ái, ủy thác mình trong tay Đấng Tạo Hoá mình và Đấng Cứu Chuộc mình. Hy sinh chính mạng sống mình để hiệp nhứt mình một cách trọn hảo với Sự Hy Sinh của Chúa Ki Tô trên Thánh Giá. Nói một cách ngắn gọn, tử đạo là một động tác cao cả tình thương đáp lại tình thương vô hạn của Thiên Chúa. 3 - Anh Chị Em thân mến, như tôi đã nói thứ tư tuần trước, có lẽ chúng ta không được kêu gọi để tử đạo, nhưng không ai trong chúng ta bị loại khỏi lời kêu gọi của Chúa để sống thánh thiện, sống ở tầm mức cao độ cuộc sống Ki Tô hữu và điều đó mặc nhiên đảm nhận lấy thập giá mỗi ngày trên chính mình. Tất cả, nhứt là trong thời đại chúng ta, trong đó dường như ích kỷ chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa chiếm thế thượng phong, tất cả chúng ta phải đảm nhận như là việc chuyên cần tiên khởi và nền tảng, đó là chuyên cần tăng trưởng lên mỗi ngày trong tình yêu đối với Chúa và đối với anh em, để hoán cải đời sống chúng ta và hoán cải thế giới chúng ta. Nhờ lời cầu bàu của Các Thánh và các Vị Tử Đạo, chúng ta hãy xin Chúa đốt nóng tâm hồn chúng ta, để chúng ta có khả năng yêu thương, như Người đã yêu thương mỗi người chúng ta. Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 11.08.2010).

 

GH-6A25 - CHÂN DUNG THÁNH TARCISIO: THÁNH THỂ, KHO TÀNG VÔ GIÁ, CHÚA GIÊSU TRỞ THÀNH THỨC ĂN, SỰ NÂNG ĐỞ VÀ SỨC MẠNH ĐỂ ĐẾN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI. ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, tôi ao ước được diễn tả nỗi vui mừng của tôi hôm nay là được hiện diện giữa Anh Chị Em, trên Công Trường nầy, nơi mà Anh Chị Em tựu hợp lại cho Buổi Yết Kiến Chung nầy, trong đó có sự hiện diện có ý nghĩa của đoàn Hành Hương vĩ đại Âu Châu các " Quản Trị Viên " ( Ministranti, các cô chú giúp lễ, quản trị chăm sóc lo việc phục vụ bàn thờ ). Các Anh Chị Em trẻ nam nữ thân mến, tôi xin hân hoan chúc mừng đón mừng Anh Chị Em ! Nhưng bởi vì phần lớn các quản trị viên hiện diện tại Công Trường là những người nói tiếng Đức, do đó tôi xin được nói với họ bằng tiếng mẹ đẻ của tôi. 1 - Các nam nữ quản trị viên và các bạn thân mến, các khách hành hương ngôn ngữ Đức thân mến, hân hoan được đón mừng tất cả Anh Chị Em đến đây, ở Roma ! Tôi xin được thân tình chào hỏi Anh Chị Em. Cùng với Anh Chị Em, tôi cũng xin được chào mừng Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tarcisio Bertone; ngài cũng có tên là Tarcisio như vị Quan Thầy của Anh Chị Em. Anh Chị Em đã có nhã ý mời ngài và ngài, mang danh tánh Thánh Tarcisio, hài lòng hiện diện nơi đây giữa các Quản Trị Viên trên thế giới và các Quản Trị Viên người Đức. Tôi xin chào các Anh Em thân thương trong chức Giám Mục và trong chức Linh Mục, các Thầy Phó Tế, là những vị muốn tham dự vào buổi Yết Kiến hôm nay. Tôi xin hết lòng cám ơn Đức Giám Mục Phó Basilea, Đức Cha Martin Gaechter, Chủ Tịch của " Coetus Internationalis Ministrantium " ( Tập Thể Quốc Tế các Quản Trị Viên ), về những lời chào hỏi của ngài đối với tôi, về món quà trọng đại, tượng Thánh Tarcisio và về khăn quàng cổ mà ngài đã trao tặng tôi. Tất cả những điều đó làm tôi nhớ lại khoản thời gian trong đó tôi cũng đã là quản trị viên. Tôi xin cám ơn ngài, nhân danh Anh Chị Em, cả về công việc trọng đại mà ngài đã thực hiện giữa Anh Chị Em, cùng với các cộng sự viên và tất cả những ai đã làm cho buổi gặp gỡ tươi vui hôm nay có thể thực hiện được. Tôi cũng xin được cám ơn các cổ động viên Thụy Sĩ và tất cả những ai bằng nhiều phương thức khác nhau đã ra công làm việc để thực hiện tượng Thánh Tarcisio. Anh Chị Em thật đông đảo ! Tôi đã bay lượng trên Công Trường Thánh Phêrô bằng trực thăng và tôi đã thấy tất cả các màu sắc và niềm vui đang hiện diện trong Công Trường nầy ! Như vậy, không những Anh Chị Em đã tạo nên quang cảnh ngày lễ hội trong Công Trường, mà Anh Chị Em còn làm cho tâm hồn tôi được nức lòng hân hoan ! Cám ơn ! Tượng Thánh Tarcisio đến với chúng ta sau một cuộc hành trình lâu dài. Trong tháng 9 năm 2008 tượng đã được trình diện ở Thụy Sĩ, trước sự hiện diện của 8000 quản trị viên: chắc một vài người trong Anh Chị Em có mặt lúc đó. Từ Thụy Sĩ, tượng đã đi ngang qua Luxembourg, đến Hung Gia Lợi. Hôm năy chúng ta vui mừng đón rước tượng, hân hoan được biết rõ hơn chân dung nầy của những thế kỷ đầu của Giáo Hội. Sau đây - như Đức Cha Gaechter đã nói - bức tưọng sẽ được đặt gần các Hầm Mộ Đạo ( Catacombe) Thánh Callisto ( ngoại ô Roma ), nơi Thánh Tarcisio đã được chôn cất. Lời mến chúc mà tôi muôn được gởi đến tất cả là ước gì nơi đó, các Hầm Mộ Đạo Thánh Callisto và bức tượng nầy, có thể trở thành định điểm quy chiếu của các quản trị viên và của những ai ước mong theo Chúa Giêsu sát gần bên cạnh Người, qua đời sống Linh Mục, Tu Sĩ và Truyền Giáo. Ước gì tất cả có thể nhìn đến cậu trẻ can đảm và mạnh dạn nầy, trong việc canh tân lại cuộc sống dấn thân vào tình thân hữu với chính Chúa, để học hỏi luôn luôn biết sống với Người, bằng cách bước theo con đường mà Lời Người chỉ dẫn cho chúng ta và theo gương chứng nhân của các thánh và các vị tử đạo, mà nhờ Phép Rửa, chúng ta đã trở thành anh em với các vị. 2 - Thánh Tarcisio là ai? Chúng ta không có nhiều tin tức về ngài. Chúng ta đang ở vào những thế kỷ đầu của lịch sử Giáo Hội, chính xác hơn là vào thế kỷ thứ 3. Chúng ta được thuật lại : đó là một câu thanh niên thường xuyên lui tới các Hầm Mộ Đạo Thánh Callisto đây, ở Roma và anh rất trung thành với các công việc bổn phận Ki Tô hữu của anh. Anh rất yêu mến Thánh Thể và, từ nhiều yếu tố được biết, chúng ta có thể kết luận rằng anh đã có được " chức giữ cửa ", tức là một quản trị viên. Đó là những năm mà hoàng đế Valeriano bách hại năng nề các tín hữu Chúa Ki Tô, khiến cho họ phải lén hợp nhau trong các nhà tư hay, đôi khi, ngay cả dưới các Hầm Mộ Đạo, để nghe Lời Chúa, cầu nguyện và cử hành Thánh Lễ. Ngay cả thói quen đem Mình Chúa cho các tù nhân và người đau ốm cũng luôn luôn trở thành nguy hiểm hơn. Một ngày kia, khi vị Linh Mục hỏi, như ngài vẫn thường làm, ai sẵn sàng đem Mình Chúa đến cho các anh chị em đang mong đợi, anh Tarcisio đứng dậy và nói: " Xin hãy sai con ". Câu thanh niên trẻ đó có vẻ như còn quá trẻ cho một công việc phục vụ với nhiều đòi hỏi như vậy. - " Tuổi trẻ của con - anh Tarcisio nói - sẽ là nơi trú ẩn tốt đẹp hơn cho Thánh Thể ". Vị Linh Mục bị thuyết phục, liền giao cho anh chiếc Bánh Qúy Giá đó và nói với anh: - " Tarcisio, con hãy nhớ rằng một kho tàng thiên quốc đã được giao cho các việc chăm lo bảo bọc yếu đuối của con. Con hãy tránh các lối đí có nhiều người qua lại và hãy nhớ rằng các của cải thánh không nên ném đi cho chó và không ném các viên ngọc qúy cho heo. Con giữ gìn với lòng trung tín và bảo đảm chắc chắn các Mầu Nhiệm Thánh chăng ? " - " Con sẽ thà chết - Tarcisio trả lời - hơn là chuyển giao các Mầu Nhiệm Thánh đó ". Trong lúc đi đường anh gặp một vài bạn hữu, đến gần anh và mời gọi anh hội nhập với họ. Bị anh trả lời từ chối, các bạn hữu đó - là những người ngoại đạo - trở nên nghi ngờ và càng nằng nặc đòi buộc Tarcisio hơn. Họ phát giác ra là Tarcisio đang siết chặt một cái gì đó trên ngực mình và có vẻ như là để bảo vệ nữa. Họ bắt đầu tìm cách giựt vật đó khỏi anh nhưng vô hiệu quả; cuộc chiến càng lúc càng trở nên ác liệt hơn nhứt là khi họ biết được Tarcisio là Ki Tô hữu. Họ đấm đá anh, ném đá anh, nhưng anh nhứt định không nhượng bộ. Đang lúc hấp hối, Tarcisio được một sĩ quan của Toà Án tên là Quadrato chở anh đến một vị Linh Mục. Vị sĩ quan nầy sau đó, cũng trong lén lúc, trở thành Ki Tô hữu. Đến nơi Tarcisio đã tắt thở, nhưng vẫn còn ôm chặt vào ngực một túi vải nhỏ với Mình Thánh Chúa. Anh liền được chôn trong các Hầm Mộ Đạo Thánh Callisto. Đức Giáo Hoàng Damaso truyền cho viết lên mộ của Tarcisio, theo đó thì anh chết năm 257. Danh sách Các Thánh Tử Đạo Roma xác định là Tarcisio mất đi ngày 15 tháng 8 và cũng trong cùng một danh sách cũng ghi lại truyền thống truyền miệng cho rằng trên thân thể Thánh Tarcisio không còn tìm được Bí Tích Cực Thánh nữa, cả trong tay cũng như trong y phục. Điều đó được giải thích rằng miếng bánh đã được hiến tế, được bênh vực bảo vệ bằng sinh mạng của vị tử đạo bé nhỏ, đã trở thành thịt của chính thịt của anh, như vậy cùng với chính thân thể của anh, bánh tận hiến đã trở thành một bánh tinh tuyền duy nhứt để dâng lên Chúa. 3 - Các quản trị viên nam nữ thân mến, nhân chứng của Thánh Tarcisio và truyền thống tươi đẹp nầy dạy cho chúng ta tình yêu thương sâu đậm và lòng tôn kính cao cả, mà chúng ta phải có đối với Phép Thánh Thể: đây là một tài sản qúy báu, một kho tàng có giá trị không thể đo lường được, là Bánh của sự sống, là chính Chúa Giêsu trở nên lương thực, sự nâng đở và sức mạnh cho con đường chúng ta bước đi mỗi ngày và là con đường rộng mở hướng về sự sống đời đời; là ân huệ cao cả nhứt là Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Tôi nói với Anh chị Em đang hiện diện ở đây và qua Anh Chị Em, với tất cả quản trị viên trên thế giới ! Anh Chị Em hãy quảng đại phục vụ Chúa Giêsu hiện diện trong Phép Thánh Thể. Đây là một phận vụ quan trong, cho phép Anh Chị Em đặc biệt ở sát gần bên Chúa và làm cho Anh Chị Em lớn lên trong một tình thân hữu đích thực và sâu đậm với Người. Hãy giữ lấy khư khư tình thân hữu nầy trong trái tim Anh Chị Em như Thánh Tarcisio, sẵn sàng dấn thân mình, để chiến đấu và hy sinh đời sống để Chúa Giêsu có thể đến được với tất cả mọi người. Anh Chị Em cũng vậy, hãy thông ban cho các bạn đồng lứa tuổi với Anh Chị Em ân huệ của tình thân hữu nầy, với niềm hân hoan, hăng say, không sợ sệt, để cho họ cũng cảm nhận được rằng Anh Chị Em biết được Mầu Nhiệm nầy, là Mầu Nhiệm đích thực và Anh Chị Em đang yêu thương! Mỗi lần Anh Chị Em đến gần bàn thờ, Anh Chị Em có diễm phúc chứng kiến được tác động cao cả tình thương của Chúa, Đấng vẫn còn muốn tiếp tục ban chính Người cho mỗi người chúng ta, làm gương mẫu cho chúng ta, giúp đỡ chúng ta và cho chúng ta nghị lực để sống tốt đẹp. Với động tác làm phép ( consacrazione ) - Anh chị Em biết - miếng bánh nhỏ bé trở thành Mình Chúa Ki Tô, ly rượu đó trở thành Máu Chúa Ki Tô. Anh Chị Em có diễm phúc được sống gần Mầu Nhiệm không thể diễn tả được nầy ! Anh Chị Em hãy tác động với tình thương, lòng sùng kính và trung tín phận vụ quản trị viên của mình. Anh Chị Em đừng vào nhà thờ để cử hành Thánh Lễ một cách máy móc, bên ngoài, nhưng hãy chuẩn bị nội tâm của mình cho Thánh Lễ ! Bằng cách giúp các Linh Mục của Anh Chị Em trong việc phục vụ bàn thờ ( quản trị viên ) , Anh Chị Em góp phần làm cho Chúa Giêsu ở gần, khiến cho mọi người cảm nhận được và ý thức hơn: Người đang ở đây; Anh Chị Em cộng tác để Người có thể hiện diện hơn nữa trong thế gian, trong đời sống hằng ngày, trong Giáo Hội và ở mọi nơi. Các bạn thân mến, các bạn cho Chúa Giêsu mượn đôi tay của các bạn, tư tưởng của các bạn, thời gian của các bạn. Chúa Giêsu sẽ không thiếu trả công cho các bạn, ban cho các bạn niềm vui tươi đích thực làm cho các bạn cảm nhận được đâu là niềm hạnh phúc hoàn hảo. Thánh Tarcisio đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng tình yêu có thể đưa chúng ta đến hy sinh mạng sống vì một của cải đích thực, vì điều tốt đẹp thực sự, vì Chúa. Có lẽ đối với chúng ta không có đòi hỏi phải tử đạo, nhưng Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta phải trung thành trong các việc nhỏ, quy hướng nội tâm, tham dự trong tâm hồn, đức tin của chúng ta và sự cố gắng để giữ luôn hiện diện kho tàng đó trong cuộc sống thường nhật. Người đòi buộc chúng ta lòng trung thành trong những phận vụ hằng ngày, nhân chứng cho tình thương của Người, giao tiếp với Giáo Hội bởi xác tín nội tâm và bởi niềm tươi vui Người đang hiện diện. Như vậy, chúng ta có thể làm cho bạn hữu chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đang sống. Trong thái độ chuyên cần đó, xin Thánh Maria Vianney cầu bàu cho chúng ta, là vị Thánh mà hôm nay phụng vụ tưởng nhớ đến, vị Cha Sở khiêm tốn ở Pháp, người đã thay đổi một cộng đồng nhỏ bé và đã ban tặng cho thế giới một ánh sáng mới. Gương của hai vị Thánh Tarcisio và Gioan Maria Vianney thúc đẩy chúng ta thương yêu Chúa Giêsu mỗi ngày và thực hiện ý muốn của Người, như Đức Trinh Nữ Maria, trung thành với Con của Mẹ cho đến cùng. Một lần nữa , xin cám ơn tất cả! Xin Chúa chúc lành cho Anh Chị Em và chúc Anh Chị Em trở về Quê Hương mình bình an. Phỏng dịch từ bản văn Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 04.08.2010).

 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, sáng hôm nay - sau một vài bài giáo lý về một số nhà thần học cao cả khác nhau - tôi muốn được giới thiệu Anh Chị Em một khuôn mặt quan trọng khác trong lịch sử thần học: đó là vị Chân Phước Gioan Duns Scot, vào vào cuối thế kỷ XIII. Một ghi chú được khắc trên ngôi mộ ngài lược tóm địa danh tiểu sử ngài: - "Anh Quốc đón rước ngài; Pháp Quốc huấn dạy ngài; Koeln, bên Đức, còn giữ lại di hài của ngài; ở Tô Cách Lan ( Scozia ) ngài được sinh ra ". Chúng ta không thể thờ ơ đối với các nguồn tin nầy, cũng bởi vì chúng ta có rất ít tin tức về đời sống của Duns Scot. Có lẽ cậu được sinh ra năm 1266, trong một làng có tên là Duns, gần Edimburg. Được ơn của Thánh Phanxicô Assisi lôi cuốn, anh gia nhập vào gia đình các Tiểu Đệ , và năm 1291 được truyền chức Linh Mục. Được Chúa ban cho một trí khôn ngoan sáng lạng và có khuynh hướng suy luận, trí khôn ngoan đó làm cho Cha Gioan Duns Scot được truyền thống gán cho là " Doctor subtilis" ( Vị Tiến Sĩ Tinh Vi ". Duns Scot được hướng dẫn vào việc học hỏi triết học và thần học tại các Viện Đại Học thời danh ở Oxford và Paris. Sau kết thúc một cách tốt đẹp chương trình học vấn, Cha bắt đầu dạy thần học ở Đại Học Oxford và Cambridge, rồi kế đến ở Paris, bằng cách khởi đầu bình luận, như các vị Sư Phụ thời đó, các Tư Tưởng Phán Quyết ( Sentenze ) của Pietro Lombardo. Các tác phẩm chính yếu của Duns Scot, kết quả của những lớp học đó, và có tựa đề theo địa danh ở nơi Cha giảng dạy: - Opus Oxoniense ( Tác Phẩm ở Oxford ), - Reportatio Cambridgensis ( Tường Thuật ở Cambridge ), - Reportata Parisiensia ( Được Tường Thuật ở Paris ). Cha Duns Scot rời khỏi Paris, khi xảy ra mối tương phản quan trọng giữa Vua Philips IV và Đức Giáo Hoàng Bonifacio VIII, bởi lẽ Cha Duns Scot thích tự lựa chọn cuộc lưu vong, hơn là ký tên vào một tài liệu chống lại Đức Giáo Hoàng, theo như chỉ thị áp đặc của Vua đối với tất cả các tu sĩ. Như vậy, vì lòng yêu thương đối với Tông Toà của Thánh Phêrô - cùng chung với các Thầy Dòng Phanxicô, Cha bỏ xứ ra đi. 1 - Anh Chị Em thân mến, sự kiện vừa kể mời gọi chúng ta nhớ đến, trong lịch sử Giáo Hội, biết bao nhiêu lần các tín hữu gặp phải sự oán thù và cả đến chịu đựng các cuộc trấn áp vì lòng trung thành và lòng tôn kính của mình đối với Chúa Ki Tô, đối với Giáo Hội, và đối với Đức Giáo Hoàng. Tất cả chúng ta nhìn với lòng ngưỡng mộ các tín hữu nầy, bởi vì anh chị em đó dạy chúng ta biết gìn giữ như là một của cải qúy giá đức tin vào Chúa Ki Tô và sự thông hiệp với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và, như vậy, với Giáo Hội hoàn vũ. Tuy nhiên các mối tương quan giữa vua Pháp Quốc và Đấng Kế Vị Đức Bonifacio VIII không bao lâu được trở lại thân hữu với nhau, và như vậy năm 1305 Cha Duns Scoto có thể trở vào Paris lại để dạy thần học ở đó với tước vị là " Magister regens ", theo từ ngữ ngày nay có thể nói là giáo sư thường nhiệm ( professore ordinario ). Kế đến các Đấng Bề Trên sai Cha đến Koeln, như là giáo sư tại Học Viện Thần Học Phanxicô, nhưng Cha chết đi ngày 8 tháng 11 năm 1308, lúc chỉ mới có 43 tuổi. Dù sao, Cha cũng để lại một số đáng kể các tác phẩm. Do danh tiếng đời sống thánh thiện mà Cha có được, việc tôn kính Cha được mau chóng loan truyền trong Dòng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Đáng Kinh Gioan Phaolồ II muốn xác nhận một cách trọng thể Cha là vị Chân Phước, ngày 20 tháng 3 năm 1993, bằng cách xác nhận Cha là - " Ca Sĩ của Ngôi Lời Nhập Thể và là Người Bênh Vực cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ". Trong cách diễn tả vừa kể được đức kết việc góp phần lớn lao của Cha Duns Scot cho lịch sử thần học. Trước hết Cha Duns Scot suy niệm về Mầu Nhiệm Nhập Thể và, khác với nhiều tư tưởng gia Ki Tô giáo thời đó, Cha bênh vực rằng Con Thiên Chúa vẫn xuống thế trở nên người như thường, kể cả nếu nhân loại không phạm tội. Cha xác quyết trong Reportata Parisiensa: - " Nghĩ rằng Thiên Chúa từ bỏ công trình, nếu Adong không phạm tội, có lẽ là lối suy nghĩ không hợp lý ! Như vậy, tôi xác quyết rằng việc sa ngã không phải là nguyên cớ cho việc tiền định cho Chúa Ki Tô , và rằng - ngay cả không có ai sa ngã, thiên thần lẫn con người cũng vậy - trong giả thuyết nầy, Chúa Ki Tô vẫn được tiền định trong cùng một đường lối " ( in III Sent., d. 7, 4). Có lẽ đây là tư tưởng làm cho mọi người hơi bất ngờ, nhưng là tư tưởng được phát sinh, bởi vì đối với Duns Scot, việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, đồ án của Chúa Cha từ muôn thuở trong chương trình tình yêu của Người, là việc hoàn hảo công trình sáng tạo và làm cho mọi tạo vật, trong Chúa Ki Tô và nhờ Người, được đầy ấp ơn sủng, để ngợi khen và vinh danh Chúa đến muôn đời. Cha Duns Scot, mặc dầu trên thực tế ý thức rằng, vì nguyên tội, Chúa Ki Tô đã cứu độ chúng ta qua Khổ Nạn, Tử Nạn và Phục Sinh của Người, Cha vẫn xác nhận rằng Nhập Thể là công trình cao cả và tươi đẹp nhứt của cả lịch sử cứu rổi, và công cuộc Nhập Thể đó, không bị ảnh hưởng lệ thuộc vào bất cứ yếu tố ngẩu nhiên nào, mà là ý kiến nguyên thủy của Thiên Chúa để sau cùng kết hợp tất cả tạo vật lại với Người trong con người và trong thể xác của Chúa Con. Là đệ tử trung thành của Thánh Phanxicô Assisi, Cha Duns Scoto thích chiêm niệm và giảng dạy Mầu Nhiệm Khổ Nạn cứu độ của Chúa Ki Tô, phương thức diễn tả tình yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa, Đấng thông ban ra bên ngoài mình, với lòng đại lượng tối cao, các tia sáng lòng tốt lành và tình yêu Người ( cfr Tractatus de primo principio, c. 4 ). Và tình yêu đó không phải chỉ được mạc khải trên núi Calvario, mà cả trong Phép Thánh Thể, mà Cha Duns Scoto rất sùng kính và Cha thấy đó như là Bí Tích của sự hiện diện hiện thực của Chúa Giêsu và như là Bí Tích hiệp nhứt và thông hiệp, khiến cho chúng ta, người nầy yêu thương người kia và thương yêu Thiên Chúa, như là Của Cải Tuyệt Đỉnh chung cho mọi người ( cfr Reportata Parisiensia, in IV Sent., d.8, q.1, n.3). Anh Chị Em thân mến, nhãn quang thần học nầy, thần học " Ki Tô Luận " mãnh liệt, mở ra cho chúng ta chiêm ngắm, sửng sốt và biết ơn: Chúa Ki tô là trung tâm lịch sử và vũ trụ, là Đấng làm cho đời sống chúng ta có ý nghĩa, địa vị và giá trị ! Như ở Manila Đức Phaolồ VI, hôm nay tôi cũng muốn thét lên trước thế giới: - " Chúa Ki Tô là Đấng mạc khải Thiên Chúa vô hình, là người con trưởng nam của mọi tạo vật, là nền tảng của mọi sự vật. Người là Vị Thầy của nhân loại, là Đấng Cứu Độ; Người được sinh ra, chết đi và sống lại vì chúng ta. Người là trung tâm điểm lịch sử của thế giới; Người là Đấng biết và thương yêu chúng ta, Người là bạn đồng hành và là người bạn của cuộc sống chúng ta... Có lẽ tôi nói không bao giờ hết về Người " ( Omelia, 29.11.1970). 2 - Không những chỉ vai trò của Chúa Ki Tô trong lịch sử cứu rổi, mà cả phận vụ của Mẹ Maria cũng là đối tượng suy tư của Vị " Doctor subtilis ". Trong thời của Duns Scot, phần lớn các nhà thần học chống lại một phản biện, được coi là dường như không thể nào vượt thắng được, đó là phản biện chống lại tín điều, theo đó thì Mẹ Maria Chí Thánh được khỏi nguyên tội ngay từ lúc đầu tiên Mẹ được đầu thai trong lòng mẹ mình. Bởi lẽ việc cứu rổi cho mọi người là công trình được Chúa Giêsu thực hiện. Do đó, thoạt nhìn, có lẽ cách xác quyết của tín điều trên có thể không được vững chắc, như thể là Mẹ Maria không cần nhờ Chúa Ki Tô và sự cứu độ của Người. Bởi đó các nhà thần học chống lại giả thiết đó. Trước tình trạng như vậy, để làm cho mọi người hiểu được sự đặc ân miễn nhiễm nầy đối với nguyên tội, Cha Duns Scot khai triển một luận cứ, mà sau đó cũng được Đức Thánh Cha PIO IX dùng năm 1854, khi ngài long trọng xác nhận tín điều về Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Luận cứ đó là chủ đề về " Sự Cứu Độ Tiên Liệu " ( Redenzione preventiva ), theo đó thì " Vô Nhiễm Nguyên Tội " là công trình tuyết hảo của việc Cứu Độ, được Chúa Ki Tô thực hiện, bởi vì mãnh lực của tình yêu Người và của sự can thiệp của Người, Người đã đạt được cho Mẹ Maria được gìn giữ khỏi nguyên tội. Như vậy Mẹ Maria đã hoàn toàn được Chúa Ki Tô cứu độ, ngay cả trước khi Mẹ được cưu mang. Các Thầy Dòng Phanxicô, các anh em của Cha đã đón nhận và hân hoan loan truyền chủ đề nầy, và các nhà thần học khác - thường cả với lời tuyên hứa long trọng - hứa rằng mình sẽ chuyên lo bênh vực và hoàn hảo hoá chủ thuyết đó. Về vấn đề vừa kể, tôi muốn làm sáng tỏ một yếu tố, mà tôi nghĩ là quan trọng. Các nhàn thần học có giá trị, như Duns Scot về tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, với sự cộng tác bằng tư tưởng của họ, họ đã làm thêm sung mãn điều mà Cộng Đồng Dân Chúa đã tin một cách bộc phát về Đức Trinh Nữ Phúc Đức, và Cộng Đồng Dân Chúa đã diễn tả ra bằng các động tác sùng kính hiếu thảo, bằng các lối trình bày nghệ thuật, và nói cách chung, bằng đời sống Ki Tô hữu. Như vậy đức tin vào tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội, cũng như vào tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã hiện hữu trong Cộng Đồng Dân Chúa, trong khi đó thì nền thần học chưa tìm được chìa khoá để giải thích được hoàn hảo tín điều của đức tin. Như vậy Cộng Đồng Dân Chúa đi trước các nhà thần học và tất cả những gì vừa kể là nhờ " sensus fidei " ( ý nghĩa thiêng liêng của đức tin ) , tức là khả năng được Chúa Thánh Thần ban cho, giúp cho họ có khả năng nắm lấy được thực thể của đức tin, với lòng khiêm nhường của con tim và lý trí. Trong ý nghĩa vừa kể, Cộng Đồng Dân Chúa là " bậc thầy đi trước " và kế đến họ phải được tìm hiểu sâu xa hơn và được thần học đón nhận bằng lý trí. Ước gì các nhà thần học biết lắng nghe nguồn mạch đức tin nầy và gìn giữ lòng khiêm nhường và đơn sơ của những kẻ bé mọn! Một vài tháng qua tôi đã nhắc nhở đến, khi nói: - " Có những tài năng cao cả, những nhà đại chuyên môn, các nhà đại thần học, các sư phụ của đức tin, đã dạy chúng ta nhiều điều. Các vị đó đã thâm thấu vào vào các chi tiếc Thánh Kinh...nhưng các vị đã không thể thấy được chính mầu nhiệm, chính nhận cội...Điều chính yếu vẫn còn nằm ẩn giấu! Trái lại, ngay cả trong thời đại chúng ta cũng có những kẻ bé mọn biết được mầu nhiệm đó. Chúng ta đang nghĩ đến Thánh Bernadette Soubirous, đến Thánh Teresa ở Lisieux, với cách đọc Thánh Kinh mới mẻ " không có tính cách khoa học ", nhưng lại đi thẳng vào tâm của Thánh Kinh " ( Omelia S. Messa con i Membri della Commissione Teologica Internazionale, 1 dicembre 2009 ) 3 - Sau cùng, Cha Duns Scot đã khai triển một điểm mà cách suy nghĩ tân tiến của chúng ta rất nhạy cảm. Đó là chủ đề về tự do và mối liên hệ của nó đối với ý chí và lý trí. Vị tác giả của chúng ta nhấn mạnh đến tự do như là phẩm chất nền tảng của ý chí, bằng cách khởi đầu với việc đặt khuynh hướng ý chí định, được phát triển ngược lại với lý trí chủ nghĩa của Thánh Augustino và Thánh Tôma. Đối với Thánh Tôma Aquino, theo gương Thánh Augustino, tự do không thể được coi là đặc tính bẩm sinh của ý chí, mà là kết quả của việc cộng tác phối hợp giữa ý chí và lý trí. Một tư ưởng về tự do bẩm sinh và tuyệt đối được đặt trong ý chí đi trước lý trí, nơi Thiên Chúa cũng như trong con người, có cái nguy đưa đến tư tưởng về cả một Thiên Chúa không có liên quan gì đến sự thật và điều tốt lành. Lòng ao ước cứu giải được tính cách siêu việt tuyết đối và khác biệt của Chúa, qua một quan niệm nổi bậc triệt để và không thể thấu hiểu được ý chí của Người là quan niệm không lưu ý đến việc Thiên Chúa đã mạc khải chính Người nơi Chúa Ki Tô là Thiên Chúa " Ngôi Lời ", Đấng đã hành động và vẫn hành động đầy tình yêu thương đối với chúng ta. Dĩ nhiên, như Duns Scot xác quyết trong đường hướng thần học Phanxicô, rằng tình yêu vượt thắng sự hiểu biết và có khả năng hiểu được tư tưởng càng lúc càng hơn , nhưng luôn luôn vẫn là tình yêu của Thiên Chúa " Ngôi Lời " ( cfr Benedetto XVI, Discorso a Regensburg, Insegnamento di Benedetto XVI, II ( 2006 ), p. 261). Nơi con người cũng vậy, tư tưởng về tự do tuyệt đối, được đặt trong ý chí, mà quên đi mối liên hệ với sự thật, là không biết rằng chính sự tự do cần phải được giải thoát khỏi những lằn mức do tội lỗi đưa đến. Trong khi nói chuyện với các chủng sinh Roma - năm rồi - tôi đã nhắc nhớ rằng: - " tự do ở mọi thời đại là giấc mơ to lớn của nhân loại, ngay từ lúc đầu, mà nhứt là trong thế hệ tân tiến " ( Discorso al Pontifcico Seminario Romano Maggiore, 20 febbraio 2009). Nhưng, chính lịch sử hiện đại, ngoài ra kinh nghiệm hằng ngày của chúng ta, dạy chúng ta rằng tự do chính đáng, và giúp kiến tạo một nền văn minh thật sự nhân bản, chỉ khi nào tự do đó được hoà hợp với chân lý. Nếu tách rời ra khỏi chân lý, một cách thảm đạm tự do trở thành nguyên lý làm đổ nát mối quân bình nội tại của con người, nguồn mạch cho thái độ ngạo mạn ỷ lại của kẻ mạnh và bạo lực, tạo nên đau khổ và tan thương. Tự do, cũng như tất cả các khả năng mà con người đuợc ban cho, tăng trưởng và hoàn hảo hoá, Cha Duns Scot xác nhận, khi con người rộng mở mình ra với Thiên Chúa, bằng cách định giá bẩm tính cho việc lắng nghe tiếng của Người, mà ngài gọi là potentia oboedentialis ( khả năng vâng lời ) , khi chúng ta đặt mình lắng nghe sự Mạc Khải của Thiên Chúa, lắng nghe Lời Chúa, để đón nhận, lúc đó chúng ta được đụng chạm đến bởi một sứ điệp làm cho đời chúng ta đầy ánh sáng và hy vọng, và chúng ta thực sự tự do. Anh Chị Em thân mến, vị Chân Phước Duns Scot dạy chúng ta rằng trong đời sống chúng ta, - điều thiết yếu là tin rằng Chúa ở gần chúng ta và thương yêu chúng ta trong Chúa Giêsu, - và như vậy, nuôi dưỡng một tình yêu sâu đậm đối với Người và đối với Giáo Hội của Người. Chúng ta hãy là những chứng nhân cho tình yêu nầy ở trần gian. Xin Mẹ Maria Chí Thánh giúp chúng con biết đón nhận tình yêu vô hạn nầy của Chúa, tình yêu mà chúng con sẽ hưởng được trọn vẹn muôn đời trên Trời, khi sau cùng linh hồn chúng con được hiệp nhứt vĩnh viễn với Chúa, trong mối thông hiệp với các Thánh. Phỏng dịch tư nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 07.07.2010 ).

 

GH-6A23 - CHÂN DUNG THÁNH GIUSEPPE CAFASSO: LINH MỤC VỚI ĐỜI SỐNG NỘI TÂM DỒI DÀO VÀ NHIỆT HUYẾT CHĂM LO MỤC VỤ. ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, một ít ngày qua chúng ta đã kết thúc Năm Dành Cho Linh Mục: một thời gian ân sủng, đã và sẽ đem đến hoa trái qúy già trong Giáo Hội. Đây là một thời điểm thuận tiện để nhớ đến trong kinh nguyện tất cả những ai đã đáp ứng lại ơn gọi đặc biệt nầy. Trên bước đường nầy đã đồng hành với chúng ta, như là những mẫu và là những vị cầu bàu, Thánh Cha Sở họ Ars và những khuôn mặt các vị Thánh Linh Mục khác. Các vị thật là ánh sáng đích thực trong lịch sử Giáo Hội. Hôm nay, như tôi đã tiên báo thứ tư tuần trước, tôi muốn được nhắc đến một khuôn mặt khác, nổi bậc trong nhóm " Các Thánh Xã Hội " ở Torino trong thế kỷ 18: đó là Thánh Giuseppe Cafasso. 1 - Tưởng nhớ đến ngài là điều tôi nghĩ chúng ta phải làm, bởi vì chính một tuần lễ qua là giáp 150 năm ngài mất đi, tại kinh đô Vùng Piemonte ngày 23 tháng 6 năm 1860, lúc ngài được 49 tuổi. Ngoài ra tôi cũng thích được nhắc lại rằng Đức Giáo Hoàng Pio XI , ngày 1 tháng 11 năm 1924, trong khi xác nhận các phép lạ để phong thánh cho Thánh Gioan Maria Vianney, cũng đã cho phổ biến một nghị định cho phép phong chân phước cho Cafasso, đặt hai khuôn mặt Linh Mục đó cạnh nhau bằng những lời sau đây: - " Không phải là không do một sự can thiệp đặc biệt và ban ơn lành của Thiên Chúa, mà chúng ta chứng kiến biến cố mọc lên nơi chân trời Giáo Hội các vì tinh tú mới, đó là Cha Sở họ Ars và vị Chân Phước Người Đầy Tớ Chúa, Giuseppe Cafasso. Chính hai khuôn mặt tươi đẹp, thân thương, thích hợp do Chúa Quan Phòng phải được trình diện cho chúng ta hôm nay; bé nhỏ và khiêm nhường, khó nghèo và đơn sơ, nhưng đầy vinh quang là khuôn mặt của Cha Sở họ Ars, và khuôn mặt Linh Mục tươi đẹp kia, vĩ đại, phức tạp, sung mãn, vị thầy và vị đào tạo các Linh Mục, đó là vị Chân Phước Giusppe Cafasso ". Đó là những hoàn cảnh tặng cho chúng ta cơ hội để biết được sứ điệp, sống động và hiện đại, được thoát xuất ra từ cuộc sống của vị thánh nầy. Ngài không là cha sở như Cha Sở họ Ars, mà đúng hơn là người đào tạo các cha sở và các linh mục của giáo phận, giữa những vị đó là Thánh Gioan Bosco. Ngài không thiết lập, như các Thánh Linh Mục khác thế kỷ 18 ở Vùng Piemonte các tu viện, bởi vì " sự thiết lập" của ngài là " mái trường sống và thánh thiện của Linh Mục ", mà ngài thực hiện, bằng mẫu gương và lời giảng dạy, trong " Giáo Hội Học Viện Thánh Phanxicô Assisi " ở Torino. Giuseppe Cafasso sinh ra ở Castelnuovo Asti, cùng quê hương với Thánh Gioan Bosco, ngày 15 tháng giêng năm 1811. Cậu là nguời con thứ ba trong bốn đứa con. Cô em cuối cùng là Marianna, sẽ là mẹ của vị Chân Phước Giuseppe Allamano, vị sáng lập hội các Nam Nữ Truyền Giáo Đức Mẹ được An Ủi ( Missionari e Missonarie della Consolata ). Câu Giuseppe được sinh ra ở Vùng Piemonte thế kỷ 18, Vùng đang phải gánh chịu nhiều vấn đề xã hội nặng nề, nhưng cũng là thời điểm có nhiều vị Thánh dấn thân để tạo ra được những gì khá hơn. Các vị được liên kết với nhau bởi tình yêu hoàn toàn cho Chúa Ki Tô và bởi đức bác ái sâu đậm đối với kẻ nghèo khó: ân sủng của Chúa gieo rải và nhân lên các hạt giống thánh thiện ! Anh Cafasso học xong trung học và hai năm triết học trong Học Viện ở Chieri , và năm 1830 anh vào Chủng Viện thần học , nơi mà năm 1833 anh được truyền chức Linh Mục. Bốn tháng sau Cha Cafasso đi vào nơi mà đối với Cha luôn luôn là nơi chính yếu và " đoạn đường" duy nhứt của cuộc đời Linh Mục mình: đó là " Giáo Hội Học Viện Thánh Phanxicọ Assisi " ở Torino. Cha Cafasso vào để hoàn hảo hoá kiến thức mục vụ của mình, thì chính nơi đó Cha đã làm cho đăm hoa kết quả các tài năng linh hướng của mình và tinh thần bác ái cao cả của mình. Thật vậy Học Viện không phải chỉ là một trường dạy về thần học luân lý, nơi mà các Linh Mục trẻ, nhứt là đến từ các vùng đồng quê, theo học để biết giải tội và giảng dạy, mà còn là một học đường đích thực về đời sống Linh Mục, nơi đó các Linh Mục được huấn luyện theo tinh thần của Thánh Ignazio di Loyola và theo thần học luân lý và mục vụ của Vị Đại Giám Mục, Thánh Alfonso Maria de Liguori. Khuôn mẫu của người Linh Mục mà Cafasso gặp được trong Học Viện và chính Cha cũng góp công để củng cố - nhứt là với tư cách là vị Viện Trưởng - đó là - mẫu gương một vị chủ chăn đích thực với đời sống nội tâm dồi dào - và một lòng nhiệt huyết chăm lo mục vụ: * trung thành với kinh nguyện, * chuyên cần trong việc giảng dạy, * trong giáo lý, * chuyên cần trong việc cử hành Thánh Lễ và thừa tác viên của Bí Tích Giải Tội, theo mẫu gương được hội nhập bởi Thánh Carlo BorromeoThánh Francesco di Sales và được Công Đồng Trento phát huy. Một câu nói rất thích hợp của Thánh Gioan Bosco đúc kết ý nghĩa của chương trình huấn luyện của Cộng Đồng đó: - " Trong Học Viện, học để trở thành Linh Mục ". 2 - Thánh Giuseppe Calasso tìm cách thực hiện khuôn mẫu vừa kể trong việc đào tạo các Linh Mục trẻ, để đến phiên các ngài, các ngài cũng trở thành những nhà đào tạo các Linh Mục, Tu Sĩ và giáo dân khác, theo một chuổi đặc biệt và hữu hiệu. Với ngôi vị là người giảng dạy thần học luân lý ngài giáo dục để các đệ tử của ngài trở thành - những vị giải tội tốt lành - và những cha linh hướng, biết lo lắng về điều tốt đẹp thiêng liêng của con người, được mọi người yêu chuộng vì có được trình độ cân bằng trong việc làm cho người khác cảm nhận được lòng đại lượng của Thiên Chúa, và đồng thời, cũng là người có được ý nghĩa xác đáng và sống động đối với tội lỗi. Có ba đức tính chính của Cafasso với ngôi vị là nhà giảng dạy, như Thánh Gioan Bosco còn nhắc lại: - trầm tỉnh, - cảm nhận được - và khôn ngoan. Đối với ngài, việc đo lường của lời giảng dạy được loan truyền được chuẩn định bằng mầu nhiệm giải tội, mà ngài đã dành nhiều giờ trong ngày. Chạy đến ngài có các Giám Mục, Linh Mục, Tu sĩ, giáo dân có tiếng tăm và dân chúng đơn sơ, bởi vì đối với tất cả, ngài biết dành cho thời giờ cần thiết. Đối với nhiều người sau đó trở thành Thánh và các vị sáng lập các dòng tu, chính ngài là người cố vấn thiêng liêng khôn ngoan. Lời giảng dạy của ngài - không bao giờ là những lời trừu tượng, chỉ dựa vào sách vở mà người ta thường dùng thời đó, - nhưng là lời dạy dỗ được thoát xuất từ kinh nghiệm sống động lòng nhân từ của Chúa - và từ sự hiểu biết sâu đậm về tâm hồn con người, thâu nhận được trong thời gian lâu dài trải qua trong toà cáo giải và trong việc hướng dẫn linh hướng: trường dặy của ngài thật là một học đường của đời sống Linh Mục. Bí quyết của ngài thật đơn sơ: là người của Thiên Chúa; trong những động tác bé nhỏ hằng ngày, hãy làm " điều gì có thể biến thành vinh quang hơn cho Thiên Chúa và lợi ích cho các linh hồn " . Ngài yêu thương Thiên Chúa một cách hoàn toàn, - được đánh động bằng một đức tin có gốc rễ sâu đậm, - được trợ lực bằng những lúc cầu nguyện lâu dài và sâu xa, - sống một đức bác ái thành thật đối với mọi người. Ngài hiểu biết về thần học luân lý, nhưng cũng hiểu biết các trạng thái và tâm hồn của dân chúng, mà ngài muốn gánh vác để chăm lo điều tốt lành cho họ, như người mục tử nhân lành. Biết bao nhiêu người có được ơn ở gần ngài, nhờ đó họ đã được hoán chuyển thành những mục tử nhân lành và những cha giải tội với đầy đủ khả năng. Ngài chỉ một cách rõ ràng cho tất cả các linh mục sự thánh thiện phải đạt đến trong phận vụ mục vụ của mình. Vị Chân Phước Clemente Marchisio, vị sáng lập dòng các Nữ Tử Thánh Giuse, đã xác nhận: - " Vào Học Viện, như là một tay lý lắt và như một thủ lãnh đầy khiếp sợ, không biết Linh Mục có nghĩa là gì, tôi ra khỏi đó hoàn toàn đổi khác, hiểu biết được một cách chính đáng địa vị của người Linh Mục ". Biết bao nhiêu Linh Mục được ngài đào tạo trong Học Viện và được ngài lưu tâm theo dõi một cách thiêng liêng ! Giữa những vị nầy - như tôi đã nói - nổi bậc lên Thánh Gioan Bosco, là người có được ngài làm cha linh hướng trong suốt 25 năm, từ 1835 đến 1860: trước tiên Bosco với tư cách là học trò giúp lễ, rồi như là Linh Mục và sau cùng như là sáng lập viên. Như vậy, tất cả những chọn lựa căn bản đời sống của Thánh Gioan Bosco đều có được Thánh Giuseppe Calasso như là người cố vấn và hướng dẫn, nhưng theo một đường hướng chính xác: Thánh Calasso không bao giờ tìm đào tạo ra nơi cha Bosco như là một đệ tử của mình " theo hình ảnh mình và giống như mình ", và Cha Bosco không chép, sao y bản chính Thánh Calasso. Dĩ nhiên Cha bắt chước ngài trong các nhân đức con người và nhân đức Linh Mục - bằng cách định nghĩa ngài là " khuôn mẫu của đời sống Linh Mục" , cho bằng theo các thói quen cá nhân và theo ơn gọi của chính mình. Một dấu chỉ sự khôn ngoan thiêng liêng của sư phụ là trí óc sáng suốt của người đệ tử. Thầy không áp đặt trò, cho bằng tôn trọng trò trong con người của anh ta và giúp cho anh ta đọc thấy được đâu là ý muốn của Thiên Chúa đối với mình. Các bạn thân mến, đây là một lời giảng dạy qúy báu cho tất cả những ai dấn thân chuyên cần trong việc đào tạo và huấn dạy các thế hệ trẻ và cũng là một sự nhắc nhở mãnh liệt cho thấy có được việc linh hướng trong đời sống quan trọng dường nào, để giúp chúng ta biết được điều Chúa muốn nơi chúng ta. Với một cách nói đơn sơ và sâu xa, Vị Thánh của chúng ta xác nhận: - " Cả sự thánh thiện, sự trọn hảo và lợi nhuận của một con người đó là thi hành trọn hảo ý muốn của Chúa ( ...). Hạnh phúc thay, nếu chúng ta đạt dến được mức độ rót cả trái tim chúng ta vào trong trái tim Chúa, kết hợp các ước ao của chúng ta, ý chí chúng ta với ý chí của Người để tạo thành một trái tim và một ý chí duy nhứt: muốn những gì Chúa muốn, muốn theo phương thức, trong thời điểm, trong các hoàn cảnh mà Người muốn và ao uớc tất cả những điều đó, không phải vì lý do gì khác hơn là vì Chúa muốn như vậy ". 3 - Nhưng còn một yếu tố khác, đặc điểm sứ mạng của Vị Thánh chúng ta: đó là sự lưu tâm đến những người thấp hèn nhứt, nhứt là đối với các tù nhân, mà ở Torino thời thế kỷ 18, họ phải sống ở những nơi vô nhân đạo và hạ thấp phẩm giá con người. Ngay cả trong lãnh vực phục vụ tế nhị nầy, được thực hiện trong hơn hai mươi năm, ngài vẫn luôn luôn là vị mục tử nhân lành, hiểu biết và thông cảm: đó là đức tính được các tù nhân cảm nhận, khiến cho họ rồi cũng được tình yêu thương thành thật chinh phục, tình yêu thương phát xuất từ chính Thiên Chúa. Sự hiện diện đơn sơ của Cha Cafasso đã tạo được điều tốt lành: ngài làm cho mọi người được thanh thoảng trong sáng, đánh động được các trái tim đã trở nên chai đá vì các diễn biến của cuộc sống và nhứt là soi sáng và đánh thức được những lương tâm dửng dưng. Trong những thời gian đầu sứ vụ của ngài giữa các tù nhân, ngài thường dùng đến những bài giảng rộng lớn làm cho gần như cả dân chúng trong tù bị lôi cuốn. Nhưng với thời gian qua đi, ngài dành ưu tiên cho bài giáo lý bé nhỏ, được thực hiện trong các cuộc nói chuyện và gặp gỡ cá nhân: kính trọng đối với các tình trạng của mỗi người, ngài đề cập đến những chủ đề quan trọng của đời sống Ki Tô giáo, bằng cách - nói đến lòng tin cậy phó thác vào Thiên Chúa, vâng theo Thánh Ý Người, - nói đến lợi ích của lời cầu nguyện và các Bí Tích, mà mục đích cuối cùng là Phép Bí Tích Cáo Giải, là cuộc hội ngộ với Thiên Chúa đã trở nên cho chúng ta lòng nhân từ không biên giới. Các người bị kết án tử hình là những đối tượng của các việc chăm sóc nhân tính và thiêng liêng một cách rất đặc biệt. Ngài đi theo người bị kết án đến nơi tử hình, sau khi đã cho xưng tội và ban Phép Thánh Thể cho, 57 người bị kết án tử hình. Ngài ở bên cạnh họ với tình thương yêu sâu đậm cho đến hơi thở cuối cùng cuộc đời trần thế của họ. Chết đi ngày 23 tháng 6 năm 1860, sau một cuộc sống được hiến dâng hoàn toàn cho Chúa và một cuộc sống bị tiêu hao cho người thân cận. Vị Tiền Nhiệm của tôi, Đức Giáo Hoàng đáng kính Pio XII, ngày 9 tháng 4 năm 1948 đã tuyên dương ngài là quan thầy của các nhà tù Ý, và với Huấn Dụ Tông Đồ Menti nostrae , ngày 23 tháng 9 năm 1951, ngài đã giới thiệu Cha Cafasso như là mẫu gương cho các Linh Mục chuyên cần trong phép Cáo Giải và trong việc hướng dẫn linh hướng. Anh Chị Em thân mến, ước gì Thánh Giuseppe Cafasso là một nhắc nhở cho tất cả - hãy tăng cường lên bước đường đi đến sự trọn hảo của đời sống Ki Tô giáo, đến sự thánh thiện; - một cách đặc biệt, là điều nhắc nhở đối với các linh mục về tầm quan trọng phải dành thời gian cho Bí Tích Cáo Giải và cho việc hướng dẫn linh hướng - và là sự nhắc nhở cho tất cả chúng ta sự chú ý mà chúng ta phải có đối với những ai đang cần được giúp đỡ. Xin lời cầu bàu của Đức Trinh Nữ Maria Phúc Đức trợ giúp chúng ta, Đấng mà Thánh Giuseppe Cafasso rất tôn sùng và gọi là - " Mẹ thân yêu của chúng ta, sự an ủi của chúng ta và niềm hy vọng của chúng ta ". Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 30.06.2010).

 

GH-6A22 - CHÂN DUNG THÁNH TÔMA AQUINO ( 3 ) : THIÊN CHÚA TỰ HIỆN HỮU NƠI MÌNH, NGUYÊN THỦY VÀ CÙNG ĐÍCH CỦA MỌI LOÀI. ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, hôm nay tôi muốn được bổ túc thêm, với phần thứ ba, các bài giáo lý của tôi về Thánh Tôma Aquino. Mặc dầu trên bảy trăm năm sau cái chết của ngài, chúng ta cũng có thể học hỏi được nơi ngài nhiều điều. Điều vừa kể, Vị Tiền Nhiệm của tôi, Đức Thánh Cha Phaolồ VI, trong một bài nói chuyện ngày 13 tháng 9 ở Fossanova, nhân dịp giáp 700 năm biến cố chết đi của Thánh Tôma, tự hỏi mình: - " Kính thưa sư phụ Tôma, chúng con có thể học được những gì nơi ngài ? ". Và Đức Thánh Cha trả lời như sau: - " Đó là niềm tin tưởng vào chân lý của tư tưởng tôn giáo công giáo, tư tưởng mà ngài đã bênh vực, trình bày, mở rộng ra cho khả năng hiểu biết của trí khôn con người " ( Insegnamenti di Paolo VI, XII [ 1974], pp. 833-834). Cũng trong cùng ngày, ở Aquino, luôn luôn đề cập đến Thánh Tôma, Đức Thánh Cha đã xác quyết: - " Tất cả chúng ta là những tín hữu của Giáo Hội, chúng ta có thể và chúng ta phải, ít nhứt với một trương độ nào đó, là những đệ tử của ngài " ( ibid., p. 836). 1 - Như vậy chúng ta cũng hãy theo học dưới mái trường của Thánh Tôma và của sản phẩm tuyệt tác của ngài, quyển Summa Theologiae ( Thượng Đỉnh của Thần Học ). Tuyệt tác đó vẫn còn chưa được kết thúc, tuy nhiên là một tác phẩm đồ sộ chứa đựng 512 câu hỏi và 2669 chủ đề. Đây là một tác phẩm suy tư dày đặc, trong đó trí khôn con người được quy hướng về các mầu nhiệm của đức tin một cách sáng suốt và sâu đậm, bằng cách đươn kết các câu hỏi với trả lời, trong đó Thánh Tôma đào sâu lời giảng dạy của Thánh Kinh và của các Giáo Phụ, nhứt là của Thánh Augustino. Trong động tác suy nghĩ đó, đáp ứng lại các câu hỏi đích thực của thời đại ngài, mà thường khi cũng là những câu hỏi của thời đại chúng ta, Thánh Tôma cũng dùng phương pháp và tư tưởng của các triết gia cổ xưa, nhứt là của Aristotele, làm cho ngài có thể diễn tả bằng những phương thức chính xác, trong sáng và sâu thẩm của các chân lý đức tin, theo đó thì chân lý là ơn sủng của đức tin, chiếu sáng lên và làm cho chúng ta có thể đạt đến được, nhờ sự suy nghĩ của chúng ta. Tuy vậy, sự gắng sức gắng công đó - vị Thánh Aquino nhắc lại trong đời sống của ngài - được chiếu sáng bằng lời cầu nguyện, bằng ánh sáng đến từ Trên Cao. Chỉ có ai sống với Chúa và với các mầu nhiệm của Người mới có thể hiểu được những gì các mầu nhiệm nói với mình. Trong tác phẩm Summa Theologiae, Thánh Tôma khởi điểm từ sự kiện có ba cách khác nhau Thiên Chúa hiện hữu và bản thể của Thiên Chúa: - Thiên Chúa tự hiện hữu nơi chính mình, là nguyên thủy và cùng đích của tất cả mọi loài, bởi đó mọi loài thoát xuất ra từ Người và tùy thuộc vào Người; - kế đến Thiên Chúa hiện hữu qua Ân Sủng của Người trong đời sống và trong động tác của người tín hữu Chúa Ki Tô, của các thánh; - và sau cùng Thiên Chúa hiện hữu một cách đặc biệt trong Ngôi Thiên Chúa của Ki Tô, thực sự kết hợp với con người Chúa Ki Tô và tác động trong các Phép Bí Tích, từ nơi đó thoát xuất ra động tác cứu rổi của Người. Bởi đó, cấu trúc của tác phẩm vĩ đại nầy ( cfr. Jean-Pierre Torelli, La " Summa " di San Tomaso, Milano 2003, pp. 29-75), - một công trình khảo cứu " với một nhãn quang thần học " về sự trọn hảo của Thiên Chúa ( cfr. Summa Theologiae, Ia, q. 1, a.7), - được kiến tạo thành ba phần và được giải thích bởi chính " Doctor communis " ( Vi Tiến Sĩ của mọi người ) - Thánh Tôma - bằng những lời nói sau đây: - " Mục đích chính của học thuyết thánh thiện là làm cho con người biết được Thiên Chúa, không những biết Thiên Chúa như nơi chính Người, mà còn biết Người như là nguyên thủy và cùng đích của mọi sự, và nhứt là cùng đích của loài thọ tạo có trí khôn. Trong ý định trình bày học thuyết nầy, trước hết chúng ta đề cập đến Thiên Chúa, phần thứ hai là động tác của tạo vật hướng về Thiên Chúa, và phần thứ ba chúng ta đề cập đến Chúa Ki Tô, là Đấng, với tư cách con người, là con đường đưa cho chúng ta lên đến Chúa " ( ibid., I.q.2). Đây là một con đường vòng tròn: Thiên Chúa hiện hữu nơi chính Người, thoát ra khỏi Người và nắm lấy tay chúng ta, như vậy với Chúa Giêsu chúng ta trở về với Thiên Chúa, chúng ta hiệp nhứt với Thiên Chúa và Thiên Chúa là tất cả cho tất cả. a ) Như vậy phần thứ nhứt của Summa Theologiae nghiêng cứu về Thiên Chúa nơi chính Người, về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và về động tác tạo dựng của Thiên Chúa. Trong phần nầy chúng ta cũng gặp được một sự suy nghĩ sâu xa đích thực về thực thể của con người, như là tạo vật được bàn tay Chúa dựng nên, kết quả tình yêu của Người. Một đàng chúng ta là một tạo vật, tùy thuộc vào Người, chúng ta không phải tự mình mà có được, nhưng đàng khác, chúng ta có được một sự hiện hữu tự lập, như vậy không phải chúng ta chỉ là những gì hình dáng bên ngoài - như một vài triết gia của học thuyết Platon chủ trương - mà là những thực thể được Chúa muốn như vậy, và với giá trị nội tại của chúng ta. b) Trong phần thứ hai, Thánh Tôma nhìn nhận con người, được Ơn Chúa thúc đẩy, trong ước vọng của mình có lòng ao ước muốn biết được và yêu thương Thiên Chúa, để có được sống hạnh phúc trong thời gian và vô tận. Trước tiên, tác giả trình bày những nguyên tắc thần học của động tác luân lý, bằng cách nghiêng cứu xem như thế nào, trong cách chọn lựa của con người để thực hiện những động tác tốt lành, lý trí, ý chí và các ước muốn bổ túc cho nhau, và còn thêm cả sức mạnh của Ơn Chúa qua các nhân đức và các ơn của Chúa Thánh Thần, cũng như với sự trợ lực giúp cho bởi lề luật luân lý. Như vậy con người là một thực thể sống động, tìm hiểu về chính mình, tìm cách trở nên chính mình và trong ý nghĩa đó tìm cách hoàn thành các động tác cấu tạo nên mình, thực sự làm cho mình trở thành con người. Và đây là động tác có sự can dự vào của lề luật luân lý, Ơn Chúa, lý trí, ý chí và các ước vọng của mình. Trên nền tảng đó, Thánh Tôma phát họa ra diện mạo của con người sống theo Chúa Thánh Thần và như vậy trở thành hình ảnh của Thiên Chúa. Cũng chính ở đây nhà thần học Aquino dừng lại chú tâm nghiêng cứu ba nhân đức thần học - đức tin, niềm hy vọng và đức bác ái - tiếp theo việc học hỏi sâu xa về hơn năm mươi đức tính luân lý, được thiết định chung quanh bốn nhân đức định hướng - đức khôn ngoan thận trọng, công bình, tiết độ và can đảm. Sau đó ngài kết thúc bằng sự suy nghĩ về các ơn gọi khác nhau trong Giáo Hội. c) Trong phần thứ ba của Summa Theologiae Thánh Tôma nghiêng cứu về mầu nhiệm của Chúa Ki Tô - đường và sự sống - mà qua Người chúng ta cò thể đến được với Chúa Cha. Trong phần nầy ngài viết những trang có lẽ không ai có thể vượt hơn được về Mầu Nhiệm Nhập Thể và Khổ Nạn của Chúa Giêsu, bằng cách thêm vào kế tiếp một phiên khảo luận rộng lớn về Bảy Phép Bí Tích, bởi vì trong đó Ngôi Lời Nhập Thể ban phát các đặc ân của cuộc Nhập Thể để chúng ta được cứu rổi, để cho cuộc hành trình đức tin của chúng ta đến với Thiên Chúa và với sự sống đời đời, khiến cho những đặc ân đó ( qua các Phép Bí Tích ) gần như ở lại hiện hữu vật chất với thực tại của tạo vật, đánh động chúng ta tận trong nội tâm. Nói về các Phép Bí Tích, Thánh Tôma dừng lại một cách đặc biệt về Phép Thánh Thể, mà ngài rất sùng kính, đến nỗi, theo các nhà viết tiểu sử cổ, ngài thường dựa đầu mình vào Nhà Tạm ( có để Mình Thánh Chúa ) như là để nghe tiếng đập của Trái Tim Thiên Chúa và con người của Chúa Giêsu. Trong một tác phẩm bình luận về Thánh Kinh, Thánh Tôma giúp chúng ta hiểu được tính cách thượng đẳng của Phép Thánh Thể, khi ngài viết: - " Thánh Thể là Phép Bí Tích cuộc Khổ Nạn của Chúa chúng ta, bởi vì là Phép Bí Tích chứa đựng nơi mình Chúa Giêsu Ki Tô chịu đau khổ vì chúng ta. Bởi vậy tất cả những gì có tác dụng cuộc Khổ Nạn của Chúa chúng ta, cũng có tác dụng trong Phép Bí Tích nầy, bởi lẽ Phép Bí Tích Thánh Thể không có gì khác hơn là áp dụng nơi chúng ta cuộc Khổ Nạn của Chúa " ( In Joannem, c.6, lect.6, n. 936). Như vậy chúng ta hiểu được tại sao Thánh Tôma và các thánh khác đã cử hành Thánh Lễ bằng nước mắt rơi vì đồng cảm thông chia xẻ với Chúa đã hiến dâng mình cho chúng ta, nước mắt vui mừng và cám ơn. Anh Chị Em thân mến, học hỏi được nơi các thánh, chúng ta hãy yêu thương Phép Bí Tích nầy ! Chúng ta hãy chăm chỉ tham dự Thánh Lễ, đón nhận các hiệu quả thiêng liêng, chúng ta hãy nuôi dưỡng mình bằng Mình và Máu Chúa, để không ngừng được nuôi dưỡng bằng Ơn Chúa! Chúng ta hãy thích thú thường xuyên dừng lại, mặt đối mặt, gần gủi bạn bè với Phép Bí Tích Cực Thánh. 2 - Những gì Thánh Tôma đã diễn tả theo tinh thần xác thực của khoa học trong tác phẩm Summa Theologiae, trong tác phẩm Summa contra Gentiles ( Thượng Đẳng chống lại các lý luận của dân ngoại ) cũng được diễn tả ra trong bải giảng của ngài, để nói với sinh viên và các tín hữu. Năm 1273, một năm trước khi ngài chết đi, trong cả Mùa Chay, ngài đã thốt lên những bài giảng trong thánh đường Thánh Domenico Maggiore ở Napoli. Nội dung của những bài giảng nầy đã được thu thập và tổn giữ: Đó là những " Opuscoli " ( quyển sách nhỏ ) trong đó ngài - giải thích Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, - chú giải lời cầu nguyện của Kinh Lạy Cha, - chú giải Mười Điều Răn và bình luận kinh Kính Mừng. Nội dung bài giảng của vị " Doctor Angelicus " ( Tiến Sĩ Thiên Thần) gần như hoàn toàn đáp ứng lại cấu trúc của " Catechismo della Chiesa Cattolica " ( Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo ). Thật vậy, trong bài giáo lý và trong bài giảng, ở thời điểm canh tân sự chuyên cần rao giảng Phúc Âm như thời điểm của chúng ta, không bao giờ được thiếu đi các chủ đề nền tảng nầy: - điều chúng ta tin, thì đây là Kinh Tin Kính, - điều chúng ta cầu nguyện, thì đây là Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng, - điều mà chúng ta sống, điều Mạc Khải Thánh Kinh dạy chúng ta, thì đây luật tình yêu đối với Chúa và đối với người thân cận, - và Mười Điều Răn, như là những gì giải thích rõ hơn giới răn của tình yêu. Tôi muốn được đề nghị một vài nội dung đơn sơ, thiết yếu và có tính cách thuyết phục lời giảng dạy của Thánh Tôma. a ) Trong quyển sách nhỏ về Kinh Tin Kính các Thánh Tông Đồ, ngài giải tích giá trị của đức tin. Nhờ đức tin, ngài nói, linh hồn con người hiệp nhứt với Thiên Chúa và tăng trưởng lên như mầm non của sự sống đời đời. Cuộc sống nhận được một định hướng vững chắc, và chúng ta vượt thắng một cách dễ dàng các cơn cám dỗ. Đối với những ai phản đối cho rằng đức tin là môt điều xuẩn động, bởi vì làm cho con người tin vào một điều gì mà không xảy ra được dưới kinh nghiệm của các giác quan, Thánh Tôma tặng cho chúng ta một câu trả lời rất mạch lạc, và nhắc nhớ rằng điều nghi ngờ đó không có lý chứng, bởi vì lý trí con người có giới hạn và không thể biết được tất cả. Chỉ cókhi nào chúng ta có thể biết được một cách hoàn hảo tất cả những gì thấy được và không thấy được, lúc đó mới thực sự là một điều khờ dại chấp nhận chân lý đức tin. Đàng khác, Thánh Tôma lưu ý, không thể sống được, nếu chúng ta không tin tưởng vào kinh nghiệm của người khác. kinh nghiệm mà cá nhân mình không đạt đến được. Như vậy, là điều hợp lý tin vào Chúa, Đấng mạc khải Người cho chúng ta và tin vào nhân chứng của các Tông Đồ: các vị là một thiểu số ít oi, đơn sơ và khó nghèo, bị tan nát bởi lý do của việc Thầy của mình bị Đóng Đinh. Tuy vậy, nhiều nhà thông thái, qúy tộc và giàu có đã trở lại trong một thời gian ngắn khi nghe lời giảng dạy của các vị. Thật vậy, đây là một biến cố lịch sử lạ lùng,khó có thể có một câu trả lời hợp lý nào khác, nếu không phải là do cuộc hội ngô của các Tông Đồ với Chúa Phục Sinh. b ) Chú giải điều của Kinh Tin Kính về việc Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, Thánh Tôma có một vài suy nghĩ. Ngài xác nhận rằng đức tin Ki Tô giáo, nhìn vào Mầu Nhiệm Nhập Thể, được xác tín vững vàng hơn. Niềm hy vọng được vươn lên với nhiều tin tưởng hơn, khi nghĩ rằng Con Thiên Chúa đã đến giữa chúng ta, một người như chúng ta, để nói cho con người biết chính bản tính Thiên Chúa của mình; đức bác ái được bắt đầu, bởi vì không có dấu chứng nào hiển nhiên tình yêu của Thiên Chúa cho chúng ta, hơn là thấy được Đấng tạo dựng vũ trụ làm cho mình trở thành tạo vật, một người như chúng ta. Sau cùng, nhìn vào mầu nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy nóng bỏng lên trong con người chúng ta lòng ao ước đến được với Chúa Ki Tô trong vinh quang. Dùng một cách so sánh đơn sơ và hữu hiệu, Thánh Tôma nhận xét: - " Nếu người anh em của một vị vua đang ở xa, chắc chắn anh ta cháy lòng ao ước muốn sống bên cạnh. Vậy thì Chúa Giêsu trở thành anh em của chúng ta, bởi đó chúng ta phải ao ước sống bên cạnh Người, trở nên một trái tim duy nhứt với Người " ( Opuscolo teologico - spirituali, Roma 1976, p. 64). c ) Trình bày Kinh Lạy Cha, Thánh Tôma cho thấy rằng Kinh Lạy Cha hoàn hảo tự chính mình, bởi vì là Kinh có tất cả năm đặc tính mà một bài lời cầu phải có: - tin tưởng và bình yên phó thác; - nội dung thích hợp, bởi vì - theo Thánh Tôma - khó mà biết được chính xác điều gì cần phải van xin, điều gì không, bởi vì chúng ta đang gặp khó khăn đứng trước các ao ước phải lựa chọn " ( Ibid., p.120). - Và rồi thứ tự trước sau của những điều van xin cũng thích hợp, lòng nhiệt quyết bác ái và thành thật khiêm nhường. d) Thánh Tôma, cũng như tất cả các thành, là một trong những vị rất sùng kính Đức Mẹ. Ngài đã gọi Mẹ bằng một danh từ tuyệt diệu: " Triclinium totius Trinitatis " , Triclinium là nơi nghỉ ngơi của Chúa Ba Ngôi, bởi lẽ vì lý do Nhập Thể, không có ở nơi bất cứ một thọ tạo nào, cả Ba Ngôi Thiên Chúa cư ngụ như nơi Mẹ và Chúa Ba Ngôi tìm được thích thú và vui sướng sống nơi linh hồn Mẹ đầy ơn phước. Nhờ lời cầu bàu của Mẹ, chúng ta có thể có được mọi giúp đở. Với một lời cầu nguyện, mà theo truyền thống được gán cho Thánh Tôma và đó là, dù sao đi nữa, cũng phản ảnh các yếu tố của lòng sùng kính sâu xa của ngài đối với Mẹ Maria, chúng ta cũng có thể thốt lên: - " Lạy Đức Trinh Nữ Maria đầy ơn phước và rất dịu dàng, Mẹ Thiên Chúa..., con xin ủy thác cho trái tim nhân từ của Mẹ đời sống con...Xin Mẹ rất dịu dàng của con, xin cho con lòng yêu thương đích thực, nhờ đó con có thể yêu thương với tất cả con tim Con Chí Thánh của Mẹ và yêu thương Mẹ, sau Người, hơn tất cả mọi sự và yêu thương người thân cận trong Chúa và vì Chúa ". Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 23.06.2010)

 

CHÂN DUNG THÁNH TÔMA AQUINO ( 2 ): ĐỨC TIN CỦNG CỐ, BỔ TÚC VÀ SOI SÁNG CHO CHÂN LÝ MÀ LÝ TRÍ CON NGƯỜI KHÁM PHÁ RA ĐƯỢC. ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, hôm nay tôi muốn tiếp tục giới thiệu với Anh Chị Em Thánh Tôma Aquino, một nhà thần học với giá trị cao cả đến nỗi nghiêng cứu về tư tuởng của ngài đã được chính Công Đồng Vatican II khuyên bảo một cách rõ rệt trong hai văn kiện, Nghị định Optatam totius, về việc đào tạo Linh Mục, và Tuyên Ngôn Gravissimum educationis, về nền giáo dục Ki Tô giáo. Ngoài ra, đã từ năm 1880, Đức Giáo Hoàng Leone XIII, là người rất ngưỡng mộ ngài và là vị cổ vỏ các công trình nghiêng cứu về Thánh Tôma Aquino, đã muốn tuyên dương Thánh Tôma là Quan Thầy các Học Viện và Đại Học Công Giáo. 1 - Nguyên nhân của cử chỉ ngưỡng mộ nầy - không chỉ hệ tại ở nội dung nền giảng dạy của ngài, - mà còn ở cả phương thức mà ngài đã áp dụng, nhứt là ở sự tổng hợp mới mẻ - và việc phân tách khác biệt giữa triết học và thần học. Các Giáo Phụ đã phải đương đầu với các ngành triết học khác nhau theo hệ thống Platon, trong đó triết học được xem như là một nhãn quang hoàn hảo về thế giới và về đời sống, kể cả vấn đề Thiên Chúa và tôn giáo. Đối với các luồng triết học nầy, các Giáo Phụ đã khai triển một nhãn quang đầy đủ về thực thể ( essere ) , khởi đầu từ đức tin và bằng cách dùng các yếu tố của chủ thuyết Platon, để trả lời cho những câu hỏi thiêt yếu về con người. Nhãn quang nầy, dựa trên mạc khải Thánh Kinh và được khải triển theo chủ thuyết Platon, được hoàn hảo hoá dưới ánh sáng đức tin, được các vị gọi là " nền triết học của chúng ta ". Như vậy từ ngữ " triết học " không phải chỉ là cách diễn tả một hệ thống thuần lý, và bởi đó tách rời khỏi lý trí, mà có ý nói lên một nhãn quang bao gồm về thực thể, được cấu trúc trong ánh sáng đức tin, nhưng được thiết lập và suy tư bằng lý trí. Dĩ nhiên đây là một nhãn quang vượt qua khỏi chính khả năng của lý trí, nhưng cũng chính vì đó mà thoả mãn được các nhu cầu của lý trí. Đối với Thánh Tôma, việc gặp gỡ với nền triết học tiền Ki Tô giáo của Aristotele ( chết đi khoản năm 322 trước Thiên Chúa Giáng Sinh ) mở ra một viễn ảnh mới. Triết học của Aristotele là một nền triết học được khai triển mà không có sự hiểu biết về Cựu Ước và Tân Ước, là một cách giải thích về thế giới không có sự mạc khải cho, chỉ dựa vào lý trí đơn thuần. Và lối lý luận thuần lý đó đã đưa đến kết quả có tính cách thuyết phục. Như vậy hình thức cổ " triết lý của chúng ta " của các Giáo Phụ không thể tiếp tục được một cách trôi chảy. Mối tương quan giữa triết học và thần học, giữa đức tin và lý trí, cần phải được suy nghĩ lại. Một nền " triết học " hoàn hảo và có tính cách thuyết phục tự mình hiện hữu đã có, tính cách hợp lý trước khi có đức tin, và kế đến là nền " thần học " , là cách suy tư với đức tin và trong đức tin. Vấn đề cấp thiết lúc đó là thế giới của lý trí, nền triết học được khai triển không có Chúa Ki Tô, và thế giới của đức tin có thể hoà hợp với nhau được không? Hay là loại trừ nhau? Không thiếu những yếu tố xác nhận là có đối nghịch giữa hai thế giới vừa kể, nhưng Thánh Tôma xác tín mãnh liêt rằng cả hai có thể hoà hợp nhau - hay nói đúng hơn, nền triết học được khai triển không có sự hiểu biết đối với Chúa Ki Tô như là nền triết học đang mong đợi ánh sáng của Chúa Giêsu, để có thể trở nên hoàn hảo. Đó là " điều bất ngờ " trọng đại của Thánh Tôma, đã thiết định cuộc hành trình với tư cách là tư tưởng gia của ngài. Chứng minh cho thấy tính cách độc lập giữa triết học và thần học, nhưng đồng thời cũng nói lên mối liên hệ giữa hai lãnh vực đó với nhau, đó là sứ mệnh lịch sử của vị sư phụ cao cả đó. Điều đó làm cho chúng ta hiểu được, trong thế kỷ XIX, khi có những chủ thuyết cho rằng có sự xung khắc quyết liệt giữa lý trí hiện đại và đức tin, Đức Giáo Hoàng Leone XIII đã chỉ Thánh Tôma như là vị hướng dẫn cuộc đối thoại giữa lãnh vực nầy và lãnh vực kia. Trong công trình nghiêng cứu thần học của ngài, Thánh Tôma đã giả định và thực hữu hoá mối tương quan đó. Đức tin củng cố, bổ túc và soi sáng cho chân lý, mà lý trí con người khám phá ra được. Lòng tin tưởng mà Thánh Tôma dành cho hai dụng cụ nầy của sự hiểu biết - đức tin và lý trí - có thể được quy hướng về sự xác tín rằng cả hai đều thoát xuất từ nguồn mạch duy nhứt của chân lý, đó là " Logos ", Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng tác động trong công cuộc sáng tạo, cũng như trong công trình cứu rổi. 2 - Cùng chung với sự hoà hợp được giữa lý trí và đức tin, đàng khác, chúng ta cũng phải nhận thức rằng cả hai đều cần có các tiến trình hiểu biết khác biệt nhau. Lý trí đón nhận chân lý bởi năng lực hiển nhiên nội tại, được trung gian điều giải hay tức khắc; đức tin, trái lại, chấp nhận chân lý dựa trên uy quyền của Lời Chúa mạc khải chính Ngài cho. Thánh Tôma viết lên lúc khởi đầu của quyển Summa Theologiae ( Thượng Đẳng của Nền Thần Học): - " Khoa học có hai lãnh vực: một vài môn phát khởi từ những nguyên tắc đã được biết nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, như toán học, hình học và những môn khác tương tợ; những môn khác phát khởi từ những nguyên tắc đã được biết nhờ một môn khoa học cao hơn:môn viễn ảnh quang ( prospectiva ), từ những nguyên tắc được biết đến của môn hình học, và âm nhạc, nhờ các nguyên tắc được biết của môn toán học. Cũng giáo lý thánh ( tức là thần học ) là môn khoa học, bởi vì thoát xuất từ các nguyên tắc được biết qua ánh sáng của một môn khoa học thượng đẳng hơn, đó là môn khoa học của Chúa và của các Thánh " ( I, q. 1.a.2). Sự phân biệt bảo đảm tính cách tự lập các môn khoa học của con người, cũng như các khoa học thần học. Tuy nhiên phân biệt ( distinzione ) không có nghĩa là tách biệt ( separazione ), mà đúng hơn là hàm chứa một sự cộng tác với nhau và có lợi cho nhau. Thật vậy, đức tin bảo vệ cho lý trí khỏi bị các cơn cám dỗ đâm ra thối chí trong khả năng của chính mình, kích thích lý trí luôn luôn mở rộng mình ra cho những chân trời mới rộng rải hơn, làm cho lý trí luôn năng động tìm kiếm các nền tảng và khi lý trí được áp dụng cho lãnh vực siêu nhiên của mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, lý trí làm cho công việc của mình trở thành sung mãn hơn. Theo Thánh Tôma, ví dụ, lý trí con người có thể đạt đến xác quyết sự hiện hữu của một Thiên Chúa duy nhứt, nhưng chỉ có đức tin, đón nhận sự Mạc Khải của Thiên Chúa, mới có khả năng thấu hiểu được mầu nhiệm Tình Thương của Một Chúa Ba Ngôi. Đàng khác, không phai chỉ có đức tin mới giúp lý trí. Cả lý trí, với những phương thức của mình, cũng có thể làm được những gì quan trọng cho đức tin, phục vụ đức tin bằng ba cách mà Thánh Tôma lược tóm trong lời nói đầu của quyển chú giải về " De Trinitate " ( Chúa Ba Ngôi ) của Boezio : - " Chứng minh cho thấy nền tảng của đức tin; giải thích bằng các điều giống nhau các chân lý của đức tin; chống đối lại các vấn nạn chống lại đức tin " ( q. 2. 2, a. 2). Cả lịch sử của nền thần học, thật ra, là động tác sự chuyên cần nầy của lý trí, - chứng tỏ cho thấy tính cách hữu lý của đức tin, - cấu trúc liên kết và hoà họp nội tại của đức tin, - tính cách hữu lý và khả năng phát huy điều tốt lành cho con người. Tính cách hợp lý của các lối suy luận thần học và ý nghĩa hiểu biết hiện thực của các lý luận đó được đặt nền tảng trên giá trị của ngôn ngữ thần học, mà theo Thánh Tôma, nói cách chung là cách diễn tả bằng ngôn từ tương tự. Khoản cách giữa Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo, và thực chất các tạo vật của Người là khoản cách vô tận; sự không giống nhau luôn luôn lớn hơn là sự giống nhau ( cfr DS 806). Mặc dầu vậy, trong sự khác biệt giữa Đâng Tạo Hoá và các tạo vật, có một điều giống nhau giữa thực thể của tạo vật và thực thể của Đấng Tạo Hoá, cho phép chúng ta có thể dùng ngôn ngữ loài người để nói được về Thiên Chúa. 3 - Thánh Tôma đã thiết lập nên chủ thuyết về sự tương tợ, ngoài ra những cách lý luận hoàn toàn có tính cách triết học, cả với sự kiện là qua mạc Khải chính Thiên Chúa đã nói với chúng ta và như vậy, đã cho phép chúng ta nói về Người. Tôi nghĩ rằng đây là điều quan trọng nhắc lại chủ thuyết nầy. Thật vậy đó chính là chủ thuyết gíup chúng ta vượt thắng được một vài vấn nạn của chủ nghĩa vô thần hiện đại, chối bỏ rằng ngôn từ tôn giáo không có khả năng nói lên ý nghĩa thực sự khách quan. Và cũng từ đó họ cho rằng ngôn từ ttôn giáo chỉ có tính cách chủ quan hay đơn sơ xúc động tình cảm. Vấn nạn vừa kể là kết quả của sự kiện cho rằng tư tưởng thực định ( pensiero positivo) xác tín rằng con người không biết được bản chất , mà chỉ hiểu được các động tác có thể thí nghiệm được của thực thể. Với Thánh Tôma và với đại truyền thống triết học, chúng ta xác tín rằng, trên thực tế, - con người không những chỉ biết các động tác, các vật thể của khoa học thiên nhiên, - mà còn biết được điều gì đó của chính thực thể - ví dụ như biết được con người, cái Tôi của người khác, chớ không phải chỉ dáng sắc vật lý và sinh học của bản thể anh ta. Dưới ánh sáng lời dạy dỗ nầy của Thánh Tôma, thần học xác nhận rằng, dầu cho có hạn hẹp cũng vậy, ngôn ngữ tôn giáo có mang nơi mình ý nghĩa - bởi vì chúng ta đang đụng chạm đến bản thể - như một cây tên đang hướng về một thực thể có ý nghĩa. Sự hoà hợp căn bản nầy giữa lý trí con người và đức tin Ki Tô giáo được nói lên trong một nguyên tắc nền tảng khác của tư tưởng Thánh Tôma Aquino: - Ơn Chúa không không xoá bỏ đi, mà giả định và hoàn hảo hoá bản tính con người. Bản tính con người, thật vậy, ngay cả sau khi phạm tội, không hoàn toàn bị phá hủy, mà chỉ bị tổn thương và mềm yếu đi. Ơn Chúa, được Thiên Chúa rộng ban cho và được thông ban cho chúng ta qua Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, là một quà tặng hoàn toàn nhưng không, nhờ đó bản tính được chữa lành, tăng cường và giúp đở để chúng ta đạt được điều ước muốn bẩm sinh trong tâm hồn của mỗi người nam cũng như nữ: đó là hạnh phúc. Mọi khả năng của bản tính con người được thanh tẩy, biến đổi và được nâng lên cao nhờ ơn Chúa. Một áp dụng quan trọng của mối tương quan nầy giữa bản tính và ơn Chúa được báo cho chúng ta biết trong thần học luân lý của Thánh Tôma Aquino, mà hiện nay chúng ta cảm thấy đang thịnh hành. Ở trung tâm điểm lời giảng dạy của ngài trong lãnh vực nầy, ngài đặt lề luật mới, đó là lề luật của Chúa Thánh Thần. Với một cái nhìn Phúc Âm sâu đậm, ngài nhấn mạnh đến sự kiện là lề luật nầy chính là Ơn của Chúa Thánh Thần, được ban cho tất cả những ai tin vào Chúa Ki Tô. Cùng chung với Ân Sủng đó là lời giảng dạy trên văn bản hay bằng lời nói về các chân lý tín lý và luân lý, được Giáo Hội chuyển đến chúng ta. Thánh Tôma nhấn mạnh phận vụ căn bản, trong đời sống luân lý, động tác của Chúa Thánh Thần, của Ân Sủng, từ đó thoát xuất ra các nhân đức thần học và luân lý, khi ngài cho biết rằng mỗi tín hữu Chúa Ki Tô đều có thể đạt được viễn tượng cao cả của " Bài giảng Trên Núi ", nếu biết sống trong mối liên hệ đích thực của đức tin trong Chúa Ki Tô, nếu mở rộng con người mình ra cho động tác của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, Thánh Tôma Aquino thêm: - " mặc dầu ân sủng có hiệu quả hơn bản tính, dầu vậy, bản tính thiết yếu hơn cho con người " ( Summa Theologiae, I a, q.29, a. 3), Bởi đó, trong viễn ảnh luân lý Ki Tô giáo, lý trí có một chỗ đứng, bởi lẽ lý trí có khả năng nhận định lề luật luân lý thiên nhiên. Lý trí có thể nhận biết đưọc lề luật đó, bằng cách chuẩn định điều gì tốt nên làm và điều gì cần phải tránh để đạt được hạnh phúc đang ở trong con tim của mỗi người. Lý trí cũng quy định trách nhiệm đối với những người khác và như vậy, quy định phải tìm kiếm công ích. Nói cách khác, các nhân đức của con người, thần học và luân lý, có gốc rễ trong bản tính con người. Ân sủng Thiên Chúa đi theo, trợ lực và thúc đẩy dấn thân luân lý, tuy nhiên tự mình, theo Thánh Tôma, mọi con người, tín hữu hay không tín hữu, đều được mời gọi hãy nhận biết các đòi buộc của bản tính con người, được thể hiện ra trong lề luật thiên nhiên và được mời gọi hãy để cho lề luật thiên nhiên gợi ý cho mình trong khi thiết định ra những lề luật thực định ( leggi positive ), tức là những luật lệ được ban hành bởi các quyền lực dân sự và chính trị, để sắp đặt cuộc sống chung của nhân loại. 4 - Khi lề luật tự nhiên và trách nhiệm hàm chứa trong lề luật đó bị chối bỏ, cuộc sống luân lý theo tương đối chủ nghĩa được phát sinh ra một cách thảm đạm, đối với cá nhân cũng như đối với tập thể trong Quốc Gia trên phương diện chính trị. Sự bảo vệ các quyền phổ quát của con người và việc xác nhận giá trị tuyệt đối của phẩm giá con người đòi buộc phải có một nền tảng. Không phải chính lề luật tự nhiên ( legge naturale) là nền tảng nầy, với các giá trị không thể chuyển nhượng mà lề luật đó xác định hay sao? Vị Chân Phước Gioan Phaolồ II đã viết lên trong Thông Điệp Evangelium Vitae ( Phúc Âm của đời sống) những lời vẫn còn có giá trị hiện đại: - " Như vậy, cần khàm phá ra một cách khẩn cấp, cho tương lai xã hội và cho sự phát triển của một nền dân chủ lành mạnh, sự hiện hữu các giá trị nhân bản và luân lý thiết yếu và bẩm sinh, là những điều thoát xuất từ chính chân lý của bản thể con người, diễn tả và bảo vệ phẩm giá con người: đó là những giá trị mà không một cá nhân nào, một thành phần đa số nào và một Quốc Gia nào có thể tạo dựng ra, sửa đổi hay tiêu diệt được, nhưng là những giá trị phải được nhận biết, kính trọng và thăng tiến " ( n. 71). Để kết thúc, Thánh Tôma giới thiệu cho chúng ta một quan niệm quảng bác và đầy tin tưởng về lý trí con người: - quảng bác, bởi vì không bị giới hạn trong những khuôn viên của cái gọi là lý trí thực nghiệm - khoa học, mà là rộng mở ra cho cả thực thể con người và như vậy cũng cho cả các vấn đề căn bản và bất khả khước từ của cuộc sống nhân loại; - đầy tin tưởng, bởi vì lý trí con người, nhứt là nếu lý trí đó chấp nhận các ước vọng của đức tin Ki Tô giáo, là lý trí phát huy một nền văn minh nhận biết phẩm giá của con người, tính cách bất khả xâm phạm của các quyền của con người và các bổn phận bắt buộc không thể thiếu. Bởi đó không có gì là bất ngờ, ý thức hệ về phẩm giá con người, nền tảng của việc nhận biết các quyền bất khả xâm phạm của con người, được trở nên trưởng thành trong các bối cảnh của các tư tưởng đã đón nhận gia sản của Thánh Tôma Aquino, là vị có quan niệm rất cao cả về tạo vật con người. Ngài định nghĩa tạo vật con người đó, bằng ngôn từ triết học chặt chẽ của ngài, như là - " những gì hoàn hảo nhứt có được trong thiên nhiên, nghĩa là một chủ thể hiện hữu trong một bản tính có lý trí " ( Summa Theologiae, Ia, q. 29, a.3). Đặc tính sâu thẩm của tư tưởng Thánh Tôma Aquino phát sinh ra - chúng ta đừng bao giờ quên - từ đức tin sống động và từ nhân đức nhiệt huyết của ngài, mà ngài diễn tả ra trong các lời cầu nguyện được Chúa soi sáng, như là lời nguyện nầy, trong đó ngài xin Chúa: - " Hãy ban cho con, con nguyện xin Chúa, một ý chí đi tìm Chúa, môt đức khôn ngoan gặp được Chúa, một đời sống mà Chúa hài lòng, một lòng bền tâm mong đợi Chúa trong tin cậy và một niềm tin cậy phó thác mà kết thúc sau cùng chiếm được Chúa ". Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 16.06.2010).

 

GH-6A20 - CHUYẾN CÔNG DU MỤC VỤ Ở CIPRO: CẦN PHẢI ĐẶT ĐỊNH CHẾ LUẬT THỰC ĐỊNH TRÊN NỀN TẢNG CÁC NGUYÊN TẮC LUÂN LÝ VÀ LUẬT TỰ NHIÊN. ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, hôm nay tôi muốn được dừng lại nói về chuyến công du mục vụ của tôi ở Cipro, mà dưới nhiều phương diện, được đặt trong sự tiếp nối của những chuyến đi trước, đến Thánh Địa và đến Malta. Cám ơn Chúa, chuyến thăm viếng mục vụ nầy được trôi chảy tốt đẹp, bởi vì đã đạt được những mục đích của nó. Chính chuyến đi, tự nó, đã nói lên một biến cố lịch sử. Thật vậy, cho đến nay, Đức Giám Mục Roma chưa hề đến miền đất được chúc phúc bởi động tác tông đồ của Thánh Phaolồ và Barnaba, và theo truyền thống là miền đất được xem là phần của Thánh Địa. Theo dấu chân của vị Thánh Tông Đồ các dân ngoại, trước tiên là để củng cố đức tin của các cộng đồng công giáo, thiểu số nhưng rất năng động trên Đảo, và cũng để khuyến khích họ hãy tiếp tục con đường hướng về hiệp nhứt toàn vẹn giữa các Ki Tô hữu, nhứt là đối với các anh em Chính Thống Giáo. Đồng thời tôi cũng muốn được ôm lấy tất cả các sắc dân miền nam và chúc lành cho họ nhân danh Chúa, nguyện xin Chúa ban cho ơn hoà bình. Tôi cũng có được kinh nghiệm một cuộc tiếp đón thân tình, đã được dành cho tôi và nhân dịp nầy tôi muốn được bày tỏ một lần nữa lòng biết ơn sống động của tôi - đối với Đức Tổng Giám Mục Cipro của các người công giáo theo nghi thức Maronite, - với Đức Ông Joseph Soueif, - với Đức Ông Chân Phước Fouad Twal, - cùng chung với các cộng sự viên, bằng cách lập lại cho mỗi người lòng ngưỡng mộ của tôi về động tác tông đồ của các vị. Lòng biết ơn cảm nhận tự thâm tâm của tôi cũng được bày tỏ ra cho - Thượng Hội Đồng Chính Thống Giáo ở Cipro, - đặc biệt đối với Đức Chân Phước Chrysostomos II, - với Đức Tổng Giám Mục giáo phận Nea Giustiniana và của cả Đảo Cipro, mà tôi đã có dịp ôm lấy trong tình huynh đệ, - và đối với cả Tổng Thống Cộng Hoà, - với tất cả mọi quyền bính dân sự - và đối với tất cả những ai đáng được khen thưởng vì đã ra công sức, làm cho cuộc viếng thăm mục vụ của tôi được thành công. 1 - Chuyến viếng thăm mục vụ của tôi được khởi sự ngày 4 tháng sáu đến thị trấn cổ Paphos, nơi mà tôi cảm nhận được bao phủ trong một bầu không khí dường như là tổng hợp cảm nhận được của hai ngàn năm lịch sử Ki Tô giáo. Các di tích khảo cổ còn hiện diện ở đó là dấu chứng của một gia sản cổ và vinh quang thiên thánh, mà ngay cả ngày hôm nay vẫn còn có giá trị đối với cuộc sống của Xứ Sở. Bên cạnh thánh đường Thánh Ciriaca Chrysopolitissa, nơi phượng tự Chính Thống Giáo, nhưng cũng được mở ra cho cả các tín hữu Công Giáo và Anh Giáo, ở bên trong địa điểm di tích khảo cổ, một Thánh Lễ Hiệp Nhứt cảm động đã được cử hành. Cùng với Đức Tổng Giám Mục Chrysostomos II và các vị đại diện cho các Cộg Đồng Armenia, Lutero và Anh Giáo, chúng tôi đã cùng nhau tuyên hứa lại trong tình huynh đệ và không thể khước từ được công cuộc chuyên cần dấn thân cho hiệp nhứt Ki Tô giáo. Tâm tình đó, tiếp đến tôi cũng bày tỏ ra cho Đức Chân Phước Chrysosyomos II trong một cuộc hội kiến thân tình tại tư dinh của ngài, và cũng trong cuộc gặp gỡ đó, tôi cũng đã cảm nhận được Giáo Hội Chính Thống Giáo ở Cipro có liên hệ thế nào với số phận của dân chúng đó, bằng cách giữ gìn lòng kín trọng và biết ơn đối với Đức Tổng Giám Mục Macario III, được mọi người đều xem là người cha và là ân nhân của Đất Nước. Chính tôi cũng muốn cung kính ngài bằng cách dừng lại giây lát trước tượng của ngài. Đặc tính gắn liền với truyền thống vừa kể không cản trở Cộng Đồng Chính Thống Giáo dấn thân nổ lực một cách quyết liệt trong việc đối thoại hiệp nhứt Ki tô giáo cùng chung với Cộng Đồng Công Giáo, bởi lẽ cả hai đều được làm cho sống động bởi lòng ước muốn thiết lập lại mối thông hiệp hoàn hảo và ai cũng thấy được giữa các Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương. Ngày 5 tháng sáu, ở Nicosia, thủ đô của Đảo, tôi bắt đầu đoạn thứ hai của cuộc hành trình, bằng cách đến thăm viếng vị Tổng thống Cộng Hoà, là người đã đón rước tôi một cách rất lịch thiệp. Trong cuọc gặp gỡ với Quyền Bính Dân Sự và Bộ Phận Ngoại Giao Đoàn, tôi đã nói lên tinh cách quan trọng của vệc đặt nền tảng cho luật pháp thực định ( legge positiva) trên nền tảng các nguyên tắc luân lý và luật tự nhiên, để phát huy chân lý luân lý trong cuộc sống công cộng. Đó là một lời mời gọi theo lý trí, dựa trên các nguyên tắc luân lý và chứa đầy những hệ lụy đến các nhu cầu của xã hội ngày nay, mà thường khi chúng ta không còn nhận ra truyền thống văn hoá, mà trên nền tảng đó xã hội được kiến tạo nên. 2 - Phụng vụ Lời Chúa, được cử hành tại trường tiểu học Thánh Marone, đã là một trong những giây phút đầy gợi cảm nhứt trong cuộc gặp gỡ với Cộng Đồng Công Giáo ở Cipro, với các thành phần công giáo Maronite và La Tinh. Và đó là cơ hội cho tôi biết được thật gần lòng tông đồ nhiệt thành của các tín hữu công giáo ở Cipro. Lòng nhiệt thành đó cũng được thể hiện ra bằng hoạt động giáo dục và bảo trợ xã hội với hàng chục cấu trúc, dành cho việc phụng vụ cộng đồng, được chính quyền cũng như cả dân chúng ngưỡng mộ. Đây là một thời điểm vui vẻ và lễ lạc, được nhiều trẻ thơ, giới trẻ và thanh thiếu niên làm cho sống động. Nhưng trong bầu không khí đó cũng không thiếu đặc tính tưởng nhớ, làm cho ai cũng nhận ra được một cách cảm động linh hồn của Giáo Hội Maronite, mà năm nay kỷ niệm Lễ giáp 1600 năm sự chết đi của vị Thánh Sáng Lập Viên Marone. Về khía cạnh vừa kể, sự hiện diện của một vài tín hữu Công Giáo Maronite, có nguồn gốc từ bốn làng trên Đảo, nơi mà các tín hữu Chúa Ki Tô đang chịu đau khổ và hy vọng. Đối với họ, tôi đã tỏ ra tình thông cảm cha con đối với các ước vọng và những khó khăn họ đang gặp phải. Cũng trong chính buổi cử hành đó, tôi đã có thể ngưỡng mộ được cuộc dấn thân tông đồ của công đồng Ki Tô hữu La Tinh, được vị Thượng Phụ Giáo Chủ La Tinh ở Giêrusalem lo lắng đốc thúc và lòng nhiệt thành mục vụ của các Tiểu Đệ ở Thánh Địa, là những người đang phục vụ dân chúng với lòng quảng đại không ngừng nghỉ. Các tín hữu công giáo theo nghi thức La Tinh, rất năng động trong lãnh vực bác ái, dành sự chú ý đặc biệt của mình cho giới lao động và những người có nhu cầu cần được giúp đỡ nhứt. Đối với tất cả, công giáo La tinh hay công giáo Maronite, tôi đã bảo đảm với các anh em đó lòng tưởng nhớ của tôi đến anh em trong kinh nguyện, khuyến khích anh em hãy nhân chứng Phúc Âm ngay cả trong công việc nhẫn nại tin tưởng nhau giữa các người Ki Tô hữu và không Ki Tô hữu, để xây dựng một nền hoà bình lâu dài và một cuộc sống hoà hợp giữa các dân tộc. Tôi cũng đã muốn lập lại lòng tin tưởng và hy vọng trong Thánh Lễ, được cử hành ở họ đạo Thánh Giá ( Santa Croce ) trước mặt các Linh Mục, các người đã được khấn hứa hiến tế, các Thầy Phó Tế, các giáo lý viên và các thành viên của các hiệp hội và phong trào giáo dân của Đảo. Khởi đầu từ cuộc suy tư về mầu nhiệm Thánh Giá, tôi đã nói lên lời kêu gọi khẩn thiết sau đó đối với tất cả các tín hữu công giáo ở Trung Đông, để cho, mặc dầu trước những thử thách to lớn và những khó khăn ai cũng biết, họ đừng buôn rơi trước nỗi ngã lòng và trước cơn cám dỗ bỏ nước di dân, bởi vì sự hiện diện của các anh em đó trong xứ sở là một dấu chứng bất khả thay thế cho niềm hy vọng. Tôi đã bảo đảm cho họ, nhứt là đối với các Linh Mục và các tu sĩ, sự liên đới nồng nhiệt và thân tình của cả Giáo Hội, cũng như lời cầu nguyện không ngừng để Chúa giúp họ luôn luôn là sự hiện diện sống động và đem lại bình an. 3 - Chắc chắn thời điểm thượng đỉnh của chuyến công du tông đồ là việc trao " Dụng Cụ Làm Việc " ( Instrumentum laboris ) Phiên Họp Đặc Biệt của Thượng Hội Đồng Giám Mục cho Trung Đông. Biến cố đó được xảy ra ngày Chúa Nhật 6 tháng sáu trong Vận Động Đại Sảnh ( Palazzo ) ở Nicosia, sau khi Thánh Lễ được cử hành trọng thể đã kết thúc, với sự tham dự của các Thượng Phụ Giáo Chủ và các Giám Mục của nhiều cộng đồng khác nhau ở Trung Đông. Cộng đồng dân Chúa đều đồng thanh tham dự, " cùng muôn tiếng reo mừng tán tạ, giữa sóng người trẩy hội tưng bừng " ( Ps 42, 5 ). Chúng tôi đã chứng kiến trực tiếp, cũng nhờ sự hiện diện của nhiều người di cư, họ đã tạo nên một nhóm đáng kể trong dân cư của Đảo, nơi mà họ hội nhập vào không có gì khó khăn. Cùng nhau, chúng tôi đã cầu nguyện cho linh hồn Đức Giám Mục Luigi Padovese ( người Ý ), Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Thổ Nhỉ Kỳ, mà cái chết bất ngờ và thảm đạm của ngài đã để lại cho chúng tôi niềm đau xót và hải hùng. Chủ đề của Thượng Hội Đồng cho Trung Đông, sẽ được khai diễn ở Roma trong tháng mười, nói về sự hiệp thông và rộng mở ra cho hy vọng: " Giáo Hội ở Trung Đông: thông hiệp và nhân chứng ". Biến cố quan trọng đó được diễn tả như là các người công giáo trong vùng đó, dầu trong các nghi thức khác nhau, nhưng đồng thời nên có những nổ lực tìm kiếm đối thoại và can đảm cho tương lai. Trong tạm thời, phiên hợp của Thượng Hội Đồng sẽ được tình thương yêu cầu nguyện của cả Giáo Hội, mà trong tâm khảm của mình Trung Đông đang chiếm một chỗ đặc biệt, bởi vì chính đó là nơi mà Thiên Chúa đã tỏ Người ra cho cha ông chúng ta biết được trong đức tin. Tuy vậy, cũng không thiếu việc đặc tâm chú ý đến các chủ thể khác trong xã hội trên thế giới, là những nhân vật chính được mọi người biết tới, được mời gọi hãy dấn thân chuyên cần tác động không ngừng, - để cho vùng đó có thể vượt thoát được các tình trạng đau khổ và đối chọi vẫn đang còn tạo cho cả vùng phiền muộn - và để cho vùng sau cùng tìm gặp lại được hoà bình và công chính. Trước khi giả từ Cipro, tôi đã muốn được viếng thăm Nhà Thờ Chính Toà Maronite ở Nicosia , nơi đó cũng có sự hiện diện của Đức Hồng Y Pierre Nasrallah Sfeir, Giáo Chủ Maronite ở Antiochia. Tôi đã lập lại lòng gần gũi thành thật và lòng nhiệt tâm hiểu biết đối với mỗi cộng đồng của Giáo Hội Maronite rải rác trên khắp Đảo, mà trên các bờ biển đó các tín hữu Maronite đã đến trong nhiều thời điểm khác nhau và các anh chị em đó thường khi đã phải chịu thử thách nặng nề để vẫn trung thành được với di sản Ki Tô giáo cá biệt của mình. Các kỷ niệm lịch sử và nghệ thuật của anh chị em Maronite tạo nên gia nghiệp văn hoá cho cả nhân loại. Anh Chị Em thân mến, tôi đã trở về Vatican với tâm hồn đầy lòng biết ơn đối với Chúa và với những tâm tình yêu mến thành thật và lòng ngưỡng mộ đối với dân chúng ở Đảo Cipro, là những người làm cho tôi cảm nhận được tiếp đón và thấu hiểu. Trong đất đai cao qúy của Cipro, tôi đã được thấy động tác tông đồ các truyền thống khác nhau của một Giáo Hội duy nhứt của Chúa Ki Tô và tôi đã có thể như là nghe được tiếng của bao nhiêu con tim hướng về cùng một nhịp đập. Điều đó đúng như chủ đề của chuyến đi xác nhận: " Một trái tim, một linh hồn ". Cộng Đồng công giáo ở Cipro, trong các mối tương quan maronite, armenia va la tinh, đang cố gắng không ngừng để trở thành một trái tim duy nhứt và một linh hồn duy nhứt, trong cấu trúc nội bộ của mình, cũng như trong các mối giao hảo thân tình và xây dựng với các anh em chính thống giáo và với các cách thể thiện Ki Tô giáo khác. Ước gì dân chúng Đảo Cipro và các Quốc Gia Trung Đông khác, cùng với các chính quyền của mình và các đại diện các tôn giáo khác nhau, có thể chung nhau kiến trúc được một tương lai hoà bình, thân hữu và cộng tác hỗ tương. Và chúng ta hãy cầu nguyện, nhờ lời cầu bàu của Mẹ Maria Chí Thánh, xin Chúa Thánh Thần làm cho chuyến công du tông đồ nầy được kết quả sung mãn và xin Người làm sống động trong cả thế giới sứ mạng của Giáo Hội, được Chúa Ki Tô thiết lập để loan báo cho tất cả Phúc Âm của chân lý, tình thường và hoà bình. Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 09.06.2010).

 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, sau một vài bài giáo lý về chức linh mục và về các chuyến đi cuối cùng của tôi, hôm nay chúng ta hãy trở lại chủ đề chính của chúng ta, đó là chủ đề về việc suy ngẫm về một vài nhà tư tưởng quan trọng của thời Trung Cổ. Gần đây nhứt, chúng ta đã gặp được dung nhan cao cả của Thánh Bonaventura, tu sĩ dòng Thánh Phanxicô, và hôm nay tôi muốn được nói đến vị mà Giáo Hội gọi là " Tiến Sĩ của tất cả mọi người " ( Doctor communis), đó là Thánh Tôma Aquino. Vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II, trong Thông Điệp Fides et Ratio của ngài đã nhắc lại rằng Thánh Tôma - " vẫn luôn luôn được Giáo Hội đề nghị như là vị sư phụ của tư tưởng và mẫu gương của phương thức chính đáng để đề cập đến thần học " ( n. 43). Điều đó không làm cho chúng ta ngạc nhiên tại sao, sau Thánh Augustino, giữa những nhà văn được đề cập đến trong Sách Giáo Lý Công Giáo , Thánh Tôma được nhắc đến hơn bất cứ một vị nào khác, được nhắc tới đến 61 lần ! Ngài cũng được gọi là vị Tiến Sĩ Thiên Thần ( Doctor Angelicus), có lẽ do các đức tính của ngài, mà nhứt là do đặc tính trổi vượt của tư tưởng và đời sống trong sạch của ngài. 1 - Tôma được sinh ra giữa năm 1224 và 1225 trong một lâu đài thuộc sở hữu của gia đình ngài, qúy tộc và khá giả, ở Roccasecca, chung quanh Aquino, gần tu viện danh tiếng Montecassino, nơi mà cậu Tôma được cha mẹ gởi đến để nhận được những yếu tố sơ đẳng nền giáo dục của mình. Một vài năm sau, cậu được di chuyển đến thủ đô của Vương Quốc Sicilia, ở Napoli, nơi mà vua Federico II đã thiết lập lên một Đại Học lừng danh. Ở Đại Học đó được giảng dạy, không phải bị giới hạn như ở những nơi khác, về tư tưởng của nhà triết học Hy Lạp Aristotele, mà vào đó cậu Tôma được hội nhập và lập tức cậu có trực giác được về giá trị cao cả của tư tưởng triết học đó. Nhưng nhứt là trong những năm sống ở Napoli, ơn gọi vào dòng Đa Minh được phát sinh nơi cậu. Thật vậy Tôma được hấp dẫn bởi lý tưởng của Dòng, được Thánh Đa Minh ( Domenico) thiết lập không mấy năm trước đó. Tuy nhiên, khi cậu mặc áo dòng Đa Minh, gia đình không chấp nhận sự lựa chọn đó và cậu phải bỏ dòng trỡ về sống một vài thời gian với gia đình. Năm 1245, bấy giờ anh đã trưởng thành, anh có thể lấy lại con đường của mình để đáp lại tiếng gọi của Chúa. Anh được gởi đi Paris để học thần học dưới sự hướng dẫn của một vị thánh khác, Thánh Albert Cả ( Alberto Magno), mà tôi đã có dịp đề cập đến gần đây. Albert và Tôma thắt chặt một mối tình bằng hữu chân chính và sâu đậm. Cả hai đều học hỏi để biết kính trọng nhau và thương mến nhau, đến nỗi Albert muốn cho người đệ tử của mình đi theo mình về Koeln ( Đức Quốc), nơi mà Albert được các Đấng Bề Trên của Dòng sai đến để thiết lập một học viện thần học. Như vậy thầy Tôma đã lĩnh hội được tất cả các tác phẩm của Aristotele và của các nhà bình luận người Ả Rập, mà Albert đã chỉ dẫn và giải thích cho thầy. Trong thời kỳ đó, nền văn hoá của thế giới La Tinh đã được kích động sâu đậm bởi việc gặp gỡ với các tác phẩm của Aristotele, là những tác phẩm vẫn chưa được biết đến trong khoản thời gian dài. Đó là những bản văn viết về - bản tính của sự hiểu biết, - về khoa học thiên nhiên, - về siêu hình học, - về linh hồn và về luân lý, với nhiều thông báo dồi dào và những trực giác có giá trị và có tính cách thuyết phục. Đó là một cái nhìn đầy đủ về thế giới, được khai triển không có và trước Chúa Ki Tô, chỉ bằng lý trí thuần túy, và có vẻ được khắc sâu vào lý trí như là " nhãn quan duy nhứt ". Như vậy đó là một mối hấp dẫn không thể tưởng tượng được để giới trẻ thấy được và biết được nền triết học nầy. Nhiều người hân hoan đón nhận, hay nói đúng hơn là với niềm hân hoan không suy tính, kiện hành lý khổng lồ nầy của sự hiểu biết, cho họ có cảm tưởng là có thể canh tân một cách có lợi ích nền văn hoá, mở ra các chân trời hoàn toàn mới mẽ. Trong khi đó thì có những người khác lo sợ rằng tư tưỏng ngoại đạo của Aristotele có lẽ ngược lại với đức tin Ki Tô giáo, và như vậy họ khước từ học hỏi tư tưởng đó. Hai nền văn hoá gặp gỡ nhau: nền văn hoá tiền Ki Tô giáo của Aristotele, với lý trí triệt để của mình, và nền văn hoá cổ Ki Tô giáo. Một vài giới được hưóng dẫn đến việc khước từ Aristotele, và đó cũng do việc nhà hiền triết đó được giới thiệu bởi các nhà bình luận người Ả Rập, như Avicenna va Averroè. Thật vậy, chính các ông là những người đã chuyển đạt cho thế giới La Tinh nền triết học của Aristotele. Ví dụ như, những người nầy dạy bảo rằng con người không có trí khôn ngoan cá nhân, mà chỉ có một trí khôn duy nhứt tổng thể, một bản thể trí khôn chung cho tất cả mọi người, tác động trong tất cả như là " trí khôn duy nhứt ": và từ đó đưa đến việc con người không còn là một nhân vị cá thể. Một điểm khác có thể tranh cải, được các nhà bình luận Ả Rập chuyển đạt cho, đó là tư tưởng cho rằng thế giới luôn luôn vĩnh cửu như Thiên Chúa. Từ đó chúng ta có thể hiểu được việc phát động ra những cuộc tranh cải không bao giờ kết thúc trong giới đại học hay trong lãnh vực Giáo Hội. Nền triết học của Aristotele lúc đó được phổ biến cả trong giới dân chúng bình dân đơn sơ. 2 - Thầy Tôma Aquino, theo trường phái của Albert Cả, thực hiện một động tác quan trọng căn bản cho lịch sử triết học và thần học, hay đúng hơn là cho lịch sử nền văn hoá: thầy nghiêng cứu sâu đậm Aristotele và các bình luận gia của ông, tìm cho mình có được những bản dịch mới bằng tiếng La Tinh các bản văn gốc tiếng Hy Lạp. Như vậy, thầy không cần phải cậy nhờ nữa vào các bình luận gia Ả Rập, nhưng tự mình có thể đọc được các bản văn gốc và từ đó chính thầy đứng ra bình giải phần lớn các tác phẩm của Aristotele, bằng cách phân biệt trong đó - điều gì có giá trị - và điều gì có thể nghi ngờ hay khước từ toàn thể, - cho thấy đâu là những điều thích hợp với các thực tại của Mạc Khải Ki Tô giáo. Thầy còn dùng rộng rãi và chính xác tư tưỏng của Aristotele trong việc trình bày các điều mà mình đã viết về thần học. Nói cho cùng, Tôma Aquino chứng minh rằng giữa đức tin Ki Tô giáo và lý trí có một sự hoà hợp tự nhiên. Và đó là công trình lớn lao của Tôma, trong lúc đang xảy ra cuộc chạm trán giữa hai nền văn hoá - lúc đó người ta có cảm tưởng rằng đức tin phải đầu hàng trước lý trí -, trái lại thầy Tôma chứng minh rằng cả hai đều có thể cùng đi chung với nhau, cho thấy rằng khi nào lý trí tỏ ra không thể đồng thuận được với đức tin, đó không phải là lý trí và khi nào đức tin tỏ ra không phải là đức tin nữa, bởi vì đức tin đó đi ngược lại lý lẽ chính đáng của lý trí. Như vậy thầy Tôma đã tạo nên một cuộc tổng hợp làm cho nền văn hoá được phát triển qua nhiều thế kỷ kế tiếp. Nhờ được Chúa ban cho trí khôn ngoan đỉnh tuệ, thầy Tôma được mời đến Paris như là giáo sư thần học của học viện Đa Minh. Ở đây Tôma cũng bắt đầu sáng tác văn chương, bởi vì giáo sư thần học, mà Tôma vẫn tiếp tục cho tới khi chết. Và Tôma đã có tài cá biệt thần tình: đó là cách chú giải Thánh Kinh, bởi vì giáo sự thần học là người có tước vị chú giải Thánh Kinh; phê bình các bản văn của Aristotele, là những tác phẩm dày cộm. Giữa những tác phẩm đó có bộ " Đỉnh Tối Thượng của nền Thần Học" ( Summa Theologiae), gồm những bài bình luận và những bài diễn giải về nhiều chủ đề khác nhau. Để giúp ngài trong việc sắp xếp các bản văn được viết ra, Tôma có một vài thư ký, trong đó có vị tu sĩ cùng dòng, tên là Reginaldo di Piperno luôn luôn trung thành theo thầy và thầy Tôma cảm thấy mình liên hệ với thầy Reginaldo bằng một mối thân tình liên hệ anh em và thành thực, với đặc tính hoàn toàn phó thác và tin tưởng. Đó là một đặc tính của các thánh: nuôi dưỡng tình bằng hữu, bởi vì đó là một trong những đặc tính cá biệt cao qúy của tâm hồn con người và trong đó chứa đựng một điều thiên thánh gì đó, như chính thầy Tôma đã giải thích trong " một vài câu hỏi " ( questiones ) của bộ sách Summa Theoligiae, trong đó ngài viết: - " Bác ái là tình thân hữu chính yếu giữa con người với Thiên Chúa, và với những thực thể khác thuộc về Người " ( II, q. 23, a.1). Thầy Tôma không ở lại lâu dài và cố định tại Paris. Năm 1259 thầy tham gia vào Thượng Hội Đồng Chung của các thầy Đa Minh ở Valenciennes, trong đó thầy là thành viên của một ủy ban thiết định chương trình đào tạo cho Dòng. Kế đến từ năm 1261 đến 1265, Tôma ở Orvieto. Đức Giáo Hoàng Urbano IV rất có lòng ngưỡng mộ thầy, giao cho thầy soạn thảo ra các bản văn phụng vụ cho Lễ Mình Thánh Chúa, mà chúng ta cử hành ngày mai, được thiết lập nhân dịp phép lạ Thánh Thể xảy ra ở Bolsena. Thầy Tôma có một tâm hồn ngưỡng mộ Phép Thánh Thể. Các lời kinh phụng vụ của Giáo Hội được hát lên để cử hành mầu nhiệm sự hiện diện hiện thực Mình và Máu Chúa trong Thánh Thể được gán cho đức tin và sự hiểu biết khôn ngoan của thầy. Từ năm 1265 đến 1268 Tôma ở Roma, là nơi mà có lẽ ngài điều khiển một Học Viện ( Studium ) của Dòng, và đó cũng là nơi mà ngài bắt đầu viết ra Summa Theologiae ( cfr Jean-Pierre Torelli, Tommaso d'Aquino. L'uomo e il teologo, Casale Monf., 1994, pp. 118-184). 3 - Năm 1269, Tôma được kêu gọi trở lại Paris để dạy khóa hai của chương tình huấn dạy. Dĩ nhiên như chúng ta biết, các sinh viên rất hứng khởi về các lớp học của ngài. Một cựu sinh viên của ngài cho biết là một đoàn lủ đông đảo các sinh viên theo các khóa học của Tôma, đến nỗi các phòng học khó mà đủ chỗ để chứa nổi họ và anh còn tiếp, trong quyển nhật ký riêng, có ghi: " nghe ngài, đối với tôi là một niềm hạnh phúc sâu đậm ". Lời giải thích về Aristote của Tôma không phải đều được mọi người đồng thuận chấp nhận, nhưng ngay cả những đối thủ của ngài trong lãnh vực hàn lâm viện, như Goffredo di Fontaines, ví dụ, cũng xác nhận rằng học thuyết của Tôma trổi vượt hơn các học thuyết khác vi lợi ích và giá trị, đưọc dùng để cải tiến học thuyết của các vị tiến sĩ khác. Có lẽ để kéo Tôma ra khỏi những cuộc tranh luận sôi nổi đang có, các Đấng Bề Trên một lần nữa gởi thầy đến Napoli, để cho vua Carlo I dùng, bởi vì nhà vua đang có ý sắp xếp lại các chương trình học của đại học. Ngoài ra chuyên tâm học hành và huấn dạy, Tôma cũng chuyên cần giảng dạy dân chúng. Và dân chúng cũng thích đến để nghe ngài. Tôi có thể nói rằng đây là một ân huệ lớn lao, khi các nhà thần học biết nói một cách đơn sơ và đầy nhiệt huyết với dân chúng. Đàng khác, phận vụ giảng dạy cũng giúp cho chính các nhà học hỏi thần học có được một nền mục vụ thực tiển và được dồi dào thêm việc nghiêng cứu của mình bằng các kích thích sống động. Những tháng cuối cùng cuộc đời trần thế của Tôma được bao phủ bằng một bầu không khí huyền bí, tôi có thể nói như vậy. Trong tháng mười hai năm 1273 Tôma gọi người bạn và là người thư ký của mình Reginaldo để nói cho ông ta biết rằng ngài quyết định ngưng làm việc, bởi vì trong khi cử hành Thánh Lễ, Cha Tôma đã biết, do một biến cố mạc khải siêu nhiên, rằng tất cả những gì Cha đã viết ra đến lúc đó chỉ là " một nhóm rơm". Đó là một biến cố huyền bí, giúp chúng ta biết được không những lòng khiêm nhường của Cha Tôma, mà còn biết được những gì Cha có khả năng suy nghĩ và nói lên về đức tin, dầu cho cao cả và trong sáng, vẫn bị sự cao trọng và vẻ đẹp của Thiên Chúa vượt hơn lên trên muôn ngàn lần, là những gì sẽ được mạc khải cho một cách đầy đủ trên Thiên Đàng. Một vài tháng sau, luôn luôn vẫn đang bị thu hút bằng một cuộc suy niệm, Cha Tôma chết đi, trong khi Cha đang hành trình đến Lyon, nơi mà Cha đến để dự phần vào Công Đồng Hiệp Nhứt Ki Tô Giáo, được Đức Giáo Hoàng Gregorio X đề xướng. Cha chết đi trong tu viện dòng Cêteaux ở Fossanova, sau khi đã nhận được " Thể Thức cho người ra đi " ( Viatico) với tâm tình nhân đức cao cả. Cuộc đời và lời giảng dạy của Thánh Tôma Aquino có thể được tóm kết trong một giai đoạn, được các nhà viết tiểu sử cổ lưu truyền. Trong lúc vị Thánh đang cầu nguyện, như thường lệ, trước tưọng Thánh Giá, một buổi sáng sớm trong nhà nguyện Thánh Nicola, ở Napoli, ông từ nhà nguyện Domenico da Caserta, nghe được một cuộc đối thoại. Cha Tôma đang lo lắng hỏi Chúa những gì mình viết ra về các mầu nhiệm đức tin Ki Tô giáo có đúng không. Và Tượng Thánh giá trả lời: - " Con đã nói tốt lành về Ta, Tôma. Con muốn Ta thưởng con bằng phần thưởng gì ?". Và câu trả lời mà Tôma xin, đó cũng là điều chúng ta, bạn hữu và môn đệ Chúa Giêsu muốn được nói với Người: - " Không có gì ngoài ra Chúa, lạy Chúa " ( Ibid., p. 320). Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 02.06.2010).

 

PHẬN VỤ QUẢN TRỊ: HƯỚNG DẪN ĐOÀN CHIÊN ĐƯỢC GIAO PHÓ ĐẾN ĐÂU CHÚA MUỐN, CHỚ KHÔNG PHẢI THEO CHIỀU HƯỚNG TIỆN LỢI VÀ DỄ DÀNG. ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh chị Em thân mến, Năm Dành Cho Linh Mục sắp được kết thúc; bởi đó tôi đã bắt đầu trong các bài giáo lý cuối cùng đề cập đến các phận vụ thiết yếu của linh mục, đó là giảng dạy, thánh hóa và quản trị ( governare). Tôi đã thực hiện hai bài giáo lý, một về phận vụ thánh hoá, nhứt là về các Bí Tích, và một về phận vụ giảng dạy. Như vậy, còn lại cho tôi phải nói về sứ mạng của Linh Mục là sứ mạng cai trị ( quản trị, governare) , hướng dẫn, bằng quy chính uy quyền của mình, phần dân chúng mà Chúa giao phó cho Linh Mục. 1 - Làm sao có thể hiểu được, theo văn hoá hiện đại, chiều kích vừa kể, gồm có quan niệm uy quyền và bắt nguồn từ sự mạng, mà Chúa đã giao phó cho chăn dắt đoàn chiên của Người ? Đối với chúng ta, những người tín hữu Chúa Ki Tô, uy quyền thực sự là gì? Các kinh nghiệm văn hoá, chính trị và xã hội của quá khứ gần đây, nhứt là các cuộc độc tài ở Đông Âu và Tây Âu trong thế kỷ XX, làm cho con người ngờ vực về quan niệm nầy. Một điều nghị ngờ, không phải ít khi, được diễn tả ra bằng chủ trương cần phải loại bỏ mọi uy quyền, mà không thoát xuất từ con người và uy quyền đó phải được đặt dưới sự kiểm soát của con người. Nhưng chính vào lúc nhìn vào các chế độ, trong thế kỷ qua, đã gieo rắc khủng khiếp và chết chóc, làm cho chúng ta bị bắt buộc phải nhớ lại rằng, mọi uy quyền, ở mọi lãnh vực, khi được đem ra thực hiện mà không quy chiếu về Đấng Thượng Đẳng, nếu tách rời khỏi Uy Quyền Tối Thượng là Thiên Chúa, sẽ không tránh khỏi đưa đế kết quả chống lại con người. Như vậy cần nhận thức rằng uy quyền của con người không phải là cùng đích, mà luôn luôn và chỉ là một phương thế và cần phải nhớ trong mọi thời đại, cùng đích chính là con người, được Thiên Chúa dựng nên với nhân phẩm của mình bất khả xâm phạm và được mời gọi thông giao với Đấng Sáng Tạo ra mình, trong quãng đường cuộc sống trần thế. Như vậy, đó là một uy quyền được hành xử với trách nhiệm trước mặt Chúa, trước Đấng Tạo Hoá. Một uy quyền được hiểu như vậy, có mục đích duy nhứt là quyền năng để phục vụ đem đến điều tốt đẹp đích thực cho con người và là sự trong suốt Tốt Lành Tối Thưọng duy nhứt là Thiên Chúa. Uy quyền đó không phải là những gì xa lạ đối với con người, trái lại, mà là một trợ lực quý báu trên con đường đưa con người đến sự thực hiện hoàn hảo chính mình trong Chúa Ki Tô, hướng về phẩn rổi. Giáo Hội được mời gọi và dấn thân hành xử loại uy quyền nầy. Đó là phục vụ. Và Giáo Hội không hành xử với danh nghĩa của chính mình, mà nhân danh Chúa Giêsu Ki Tô, Đấng đã nhận lãnh từ Chúa Cha mọi quyền trên trời, dưới đất ( Mt 28, 18). Thật vậy, qua các vị Chủ Chăn của Giáo Hội, Chúa Ki Tô chăn dắt đoàn chiên của Người: chính Người là Đấng dẫn dắt, bảo vệ, sửa chữa những sai trái, bởi vì Người yêu thương sâu đậm đoàn chiên của mình. Nhưng Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Tối Thượng của linh hồn chúng ta, đã muốn rằng Cộng Đoàn Tông Đồ, hôm nay là các Giám Mục, trong thông hiệp với Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và các Linh Mục, là những vị cộng tác viện của Người, tham dự vào sứ mạng nầy của Người bằng cách chăm lo cho Dân Chúa. Các vị là những vị huấn dạy họ trong đức tin, định hướng, năng động hoá và nâng đở cộng đồng Ki Tô hữu. Hay nói như Công Đồng: - " bằng cách chăm lo, nhất là làm cho các tín hữu, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, sống ơn gọi của họ theo Phúc Âm, thực hành đức bác ái thành thật và bằng động tác, giúp cho họ hành xử quyền tự do, mà Chúa Ki Tô đã giải thoát chúng ta " ( Presbyterium Ordinis, 6). Như vậy, mỗi vị Chủ Chăn là một vị trung gian, mà qua đó Chúa Ki Tô yêu thương con người: nhờ phận vụ thừa tác viên của chúng ta - các Linh Mục thân mến - và qua chúng ta mà Chúa đến được với các linh hồn, dạy dỗ, giữ gìn, hướng dẫn các linh hồn. Thánh Augustino, trong quyển " Chú Giải Phúc Âm Thánh Gioan" (Commento al Vangelo di san Giovanni ) nói: - " Như vậy ước gì việc chăn dắt đoàn chiên Chúa là một sự chuyên cần dấn thân " ( 123, 5). - " Đây là điều luật tối cao về cách sống của vị thừa tác viên của Chúa, một tình yêu thương vô điều kiện, như lòng thương yêu của Mục Tử Nhân Lành, đầy tươi vui, rộng mở cho tất cả mọi người, chú tâm đến những ai thân cận và đặc tâm lo lắng cho những ai xa cách " ( cfr. S. Agostino, Discorso 340, 1; Discorso 46, 15). - " ...tế nhị đối với những người yếu đuối, thấp kém, đơn sơ, người tội lỗi, để cho họ thấy được lòng đại lượng vô biên của Thiên Chúa , bằng các lời trấn an đầy hy vọng " ( cfr Id., Lettera 95, 1). 2 - Phận vụ vừa kể được đặt nền tảng trên Phép Bí Tích, nhưng hiệu lực của nó không phải độc lập khỏi cách sống cá nhân của vị Linh Mục. Để là Mục Tử theo tâm tình của Thiên Chúa ( cfr Ger 3, 15), cần phải có được cuộc sống đâm rễ sâu xa trong tình thân hữu sống động với Chúa Ki Tô, - không phải chỉ qua lý trí hiểu biết, - mà còn gồm cả sự tự do và ý chí, một xác tính rõ rệt về căn tính ( identità), mà mình đã nhận được trong Phép Truyền Chức Linh Mục, với một tâm hồn sẵn sàng vô điều kiện để dẫn dắt đoàn chiên được Chúa ủy thác cho đến đâu Chúa muốn, chớ không phải theo định hướng có vẻ tiện lợi và dễ dàng. Điều vừa kể, trước hết đòi buộc ohải có lòng sẵn sàng, liên tiếp và càng lúc càng tăng trưởng thêm để cho chính Chúa Ki Tô điều khiển cuộc sống linh mục của các Linh Mục. Thật vậy, không ai thực sự có khả năng chăn dắt đoàn chiên của Chúa Ki Tô, nếu không có được cuộc sống sâu đậm và thực sự vâng lời Chúa Ki Tô và vâng lời Giáo Hội, và tính cách dễ dạy của Dân Chúa đối với các vị Linh Mục tùy thuộc vào thái độ dễ dạy của các Linhh Mục đối với Chúa Ki Tô. Bởi đó, ngay tại nền tảng của sứ vụ mục vụ, luôn luôn phải có mối gặp gỡ giao tiếp cá nhân và liên tục với Chúa, có được sự hiểu biết sâu xa về Người, tương hợp ý chí riêng của mình với ý chí của Chúa Ki Tô. Trong các thập niên cuối cùng nầy, từ ngữ " mục vụ " thường đưọc niệm " phẩm trật " ( gerarchico), cũng như trong cùng một lối đối kháng, tư tưởng " thông hiệp " được biện giải. Có lẽ đây là một điểm nhìn về từ ngữ " phẩm trật " có thể đem lại lợi ích. Phẩm trật là từ ngữ được truyền thống dùng để nói đến cấu trúc uy quyền bi tích trong Giáo Hội, được xếp đặt thành ba cấp bậc của Bí Tích Truyền Chức: Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế. Trong quan niệm của dân chúng thường đặt nặng, đối với thực thể " phẩm trật ", đó là yếu tố vâng phục và yếu tố lề luật. Bởi đó, đối với nhiều người, tư tưởng " phẩm trật " có vẻ như đối ngược lại tính cách mềm dẻo và đầy sức sống của ý nghĩa mục vụ và có lẽ cũng ngược lại với tinh thần khiêm nhường của Phúc Âm. Nhưng đây là cách hiểu sai về ý nghĩa " phẩm trật ", do những cuộc lạm quyền và cuộc sống tranh đua chức vị trong lịch sử. Đó là những trường hợp lạm quyền chớ không phải thoát xuất từ cách sống hiện thực của " phẩm trật ". Ý kiến chung cho rằng " phẩm trật " là một cái gì đó có liên hệ đến quyền thống trị và như vậy không phải là cách hiểu đúng nghĩa đích thực của Giáo Hội, của hiệp nhứt trong tình thương của Chúa Ki Tô. Nhưng như tôi đã nói, đó là cách giải thích sai lạc, có nguồn gốc trong các việc lạm quyền trong lịch sử, không đáp ứng lại ý nghĩa đích thực " phẩm trật " là gì. Chúng ta hãy bắt đầu bằng chính từ ngữ. Nói cách chung, ý nghĩa của từ ngữ " phẩm trật " có thể là " quyền cai trị thiên thánh " ( sacro dominio ) : Nhưng ý nghĩa đích thực của từ ngữ không phải như vậy, mà là " có nguồn gốc thiên thánh " ( origine sacra ). Điều đó có nghĩa là uy quyền nầy không thoát xuất từ con người, mà có nguồn gốc thiên thánh, trong Phép Bí Tích. Hiểu như vậy là đặt con người vào ơn gọi, vào mầu nhiệm của Chúa Ki Tô, làm cho cá nhân con người trở thành người phục vụ Chúa Ki Tô và chỉ với tư cách là người phục vụ Chúa Ki Tô, con người đó mới có thể cai trị, hướng dẫn cho Chúa Ki Tô và với Chúa Ki Tô. Như vậy ai là người hội nhập vào Chức Thánh của Phép Bí Tích, " phẩm trật " không phải là con người chuyên chế tự tôn ( autocrate ), mà là người hội nhập vào mối liên hệ mới, vâng lời Chúa Ki Tô. Là người liên kết với Người trong mối thông hiệp với các thành phần khác của Chức Thánh, của Chức Linh Mục. Và ngay cả Đức Giáo Hoàng - định điểm quy chiếu của tất cả các Mục Tử và của sự hiệp thông trong Giáo Hội - cũng không phải làm điều gì mình muốn; trái lại, Đức Giáo Hoàng là người canh giữ đức vâng lời đối với Chúa Ki Tô, vâng lời đối với lời giảng dạy của Người, được tóm kết trong " lề luật đức tin " ( regula fidei ), trong Kinh Tin Kính của Giáo Hội, và phải là người đi trước trong việc vâng lời Chúa Ki Tô và vâng lời Giáo Hội của Người. Như vậy " phẩm trật " hàm chứa ba mối liên quan: - trước tiên là liên quan với Chúa Ki Tô và với mệnh lệnh mà Người đã truyền cho Giáo Hội; - kế đến là liên quan với các Mục Tử khác trong mối thông hiệp duy nhứt của Giáo Hội; - và liên quan với các tín hữu, được giao cho mỗi Mục Tử, trong phẩm trật của Giáo Hội. Như vậy chúng ta hiểu được, thông hiệp và phẩm trật không có gì là điều nầy đối nghịch với điều kia, mà ảnh ưởng lẫn nhau. Cả hai đều chỉ là một điều duy nhứt, đó là thông hiệp phẩm trật. Như vậy, người Mục Tử chính là người hướng dẫn và gìn giữ bảo vệ đoàn chiên, và như vậy tránh cho chúng khỏi bị thất lạc. Ngoài cái nhìn rõ ràng và thuần nhất thiêng liêng, khó mà có thể hiểu được bổn phận của các Linh Mục chính là bổn phận cai trị. Trái lại, bổn phận đó được nâng đở bởi tình yêu đích thực nhằm cứu rổi mỗi tín hữu, là bổn phận đặc biệt qúy giá và cần thiết ngay cả trong thời đại chúng ta. Nếu mục đích là đem lời rao giảng của Chúa Ki Tô và dẫn dắt con người đến cuộc gặp gỡ cứu độ với Người, để họ có được sự sống, phận vụ hướng dẫn được xem như là một phục vụ được sống bằng cách hiến dân hoàn toàn con người của mình, để xây dựng đoàn chiên trong chân lý và trong sự thánh thiện, bằng cách thường khi phải đi ngược dòng thời đại và phải nhớ rằng ai là kẻ lớn hơn hết, phải hành xử như là kẻ bé mọn nhứt, và ai là người cai trị, phải hành xử như kẻ phục vụ ( Lumen Gentium, 27). 3 - Ngày hôm nay, một linh mục có thể múc lấy ở đâu sức mạnh đó, để thi hành sứ mạng của mình, để trung thành hoàn toàn với Chúa ki Tô và Giáo Hội, với một lòng hy sinh toàn vẹn cho đoàn chiên? Câu trả lời chỉ là một câu duy nhứt: trong Chúa Ki Tô. Phương cách cai trị của Chúa Ki Tô kông phải là cách thống trị, mà là phục vụ khiêm nhường và yêu thương của động tác Rửa chân. Và vương vị của Chúa Ki Tô trên hoàn vũ không phải là một cuộc khải hoàn trần thế, nhưng tuyệt đỉnh của vương vị đó thể hiện trên gỗ của Thánh Giá, trở thành sự phán xét đối với thế gian và là điểm quy chiếu cho việc hành xử uy quyền, diễn tả thật sự đức bác ái mục vụ. Các Thánh, và giữa các ngài là Thánh Gioan Maria Vianney, đã hành xử với tình yêu và tận tâm phận vụ chăm sóc một phẩn Dân Chúa được giao cho, bằng cách cho thấy các ngài là những con người mạnh dạn và quyết định, với một mục đích duy nhứt là phát động được điều tốt lành cho các linh hồn. Các ngài có khả năng trả giá bằng chính mình, cả đến tử đạo, để vẫn luôn trung thành với chân lý và công lý Phúc Âm. Các Linh Mục thân mến, - " anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ, không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy " ( 1 Pt 5, 2). Như vậy, anh em đừng sợ hướng dẫn đến Chúa Ki Tô mỗi người giữa các anh em, mà Người đã phó thác cho anh em. Anh em hãy vững tin rằng mỗi lời nói và mỗi cử chỉ, nếu phát xuất từ sự vâng lời đối với ý muốn của Chúa, đều sẽ mang lại kết quả. Anh em hãy biết sống, bằng cách ngưỡng mộ các ưu điểm và nhận biết giới hạn của nền văn hoá mà chúng ta được hội nhập vào, với lòng xác tín rằng rao giảng Phúc Âm là việc phục vụ cao cả hơn, mà anh em có thể làm cho con người. Thật vậy, trong cuộc sống dưới đất nầy, không có một điều tốt lành nào lớn hơn là dẫn dắt con người đến với Chúa, đánh thức đức tin dậy, nâng con người khỏi cảnh thụ động và tuyệt vọng, đem đến cho họ hy vọng rằng Thiên Chúa đang ở gần bên và đang hướng dẫn lịch sử cá nhân và lịch sử thế giới. Để kết luận, đây là ý nghĩa thâm sâu và sau cùng của bổn phận cai trị ( hay quản trị ) mà Chúa ủy thác cho chúng ta. Đó là tạo ra Chúa Ki Tô trong các tín hữu, qua tiến trình thánh hoá, đó là chuyển đổi các định chuẩn, bậc thang giá trị, các thái độ, để cho Chúa Ki Tô sống trong mỗi tín hữu. Thánh Phaolồ tóm kết như sau động tác mục vụ của ngài: - " Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Chúa Ki Tô được thành hình nơi anh em" ( Gal 4, 19). Anh Chị Em thân mến, tôi muốn được xin Anh Chị Em cầu nguyện cho tôi, người Kế Vị Thánh Phêrô, đang có một phận vụ cá biệt trong việc quản trị Giáo Hội của Chúa Ki Tô, cũng như cho tất cả các Giám Mục và Linh Mục. Xin Anh Chị Em cầu nguyện, để chúng tôi biết chăm sóc tất cả các con chiên, cả những con đang bị lạc, chăm sóc đoàn chiên được giao phó. Đối với Anh Em, các Linh Mục thân mến, tôi thân mời Anh Em nhân những dịp Cử Hành kết thúc Năm Dành Cho Linh Mục, vào các ngày 9, 10 và 11 tháng sáu tới, đây ở Roma: chúng ta sẽ suy niệm về việc sám hối và về sứ mạng, về ơn Chúa Thánh Thần và về mối liên hệ với Mẹ Maria Chí Thánh, chúng ta sẽ hứa lại các lời hứa linh mục của chúng ta, được cả Dân Chúa nâng đở. Xin cam ơn ! Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 27.05.2010)