Untitled Document
User:
Pass:

Tin Tức >>  Sinh Hoạt LTCG

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Anh Yên thân quý Sao Anh lại bỏ đi sớm thế? Bao nhiêu công việc đấu tranh đang chờ đợi Anh! Bao nhiêu chiến hữu dân chủ đang trông vào Anh! Bao nhiêu vấn đề của Quê hương Dân tộc đang cần Anh góp tay vào giải quyết! Đó là chưa kể cái gia đình mà Anh là chỗ dựa vững chắc cho vợ con. Anh ra đi đột ngột quá, khiến gia đình hớt hơ hớt hải, bạn bè chưng hửng ngẩn ngơ và công việc dang dở bộn bề! Từ cách nửa vòng trái đất, chúng tôi trong nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền cùng bao chiến hữu dân chủ khác xót xa thương tiếc Anh, một trong những người bạn chiến đấu sớm nhất của chúng tôi tại hải ngoại. Chúng ta đã bắt đầu quan hệ với nhau cách đây 8 năm, khi xuất hiện Nhóm Lương Tâm Công giáo mà theo chỗ chúng tôi biết, Anh là một trong những thành viên tích cực. Đến khi Khối 8406 và tờ bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận hình thành cách đây gần 3 năm, Anh cũng là một trong những chuyên viên thiết kế trang mạng Tự do ngôn luận với chủ đích phục vụ cho hai thực thể này. Đã hết đâu, từ gần hai năm nay, Anh là người chủ chốt thực hiện trên 80 chương trình phát thanh Tự do dân chủ nhằm yểm trợ Khối 8406 quốc nội lẫn hải ngoại. Hàng ngày, ai nấy đều thấy bàn tay cần mẫn của Anh trên trang mạng mà Anh hết sức chăm chút. Hàng tuần, ai nấy đều nghe giọng nói sang sảng của Anh trên chương trình phát thanh mà Anh cẩn thận thực hiện. Còn nữa, mọi người khắp nơi thỉnh thoảng lại được thưởng thức những bài thơ đường luật dạng tranh đấu vừa sâu sắc ý nghĩa, vừa mạnh mẽ quyết liệt…. Chính bao tài năng và nhiệt huyết ấy làm cho chúng tôi thấy sự ra đi của Anh là một mất mát vô cùng lớn lao cho phong trào dân chủ… Tiếc Anh quá đi thôi! Sao Anh lại bỏ đi sớm thế hở Anh Yên? Anh từng hứa với tôi trong một lần tâm sự trên điện thoại là một ngày nào đó, khi đất nước trở lại thanh bình, tự do sẽ được khôi phục, và đàn chim Việt xa xứ lại tìm về tổ ấm, khi mà bản thân tôi hết dạng quản chế và nhẹ nợ tang bồng để trở về với công việc bình thường của một linh mục, coi sóc một giáo xứ, thì khi ấy Anh sẽ tình nguyện làm ông từ giữ nhà thờ. Anh còn thêm là chiều chiều, hai cha con sẽ ngồi bên nhau ôn lại những kỷ niệm của một thời hào hùng và sóng gió. Thế nhưng, thời sóng gió và hào hùng đã chấm dứt đâu, chuyện giang sơn non nước đã xong đâu mà Anh vội bỏ ra đi sớm thế? Tôi nói vậy là theo ngôn ngữ và tình cảm con người. Chứ dưới con mắt đức tin, chúng tôi tin rằng từ muôn thuở, trong ý định nhiệm mầu, Chúa đã trù liệu gọi Anh -đứa con yêu của Ngài và của Dân tộc- về với Ngài chính lúc này đây, để Anh tiếp tục sống và làm việc trong một thế giới khác và bằng cách thức khác. Từ trong vĩnh cửu của Thiên Chúa, nơi Anh sẽ trông thấy rõ ràng hơn, cảm nhận sâu sắc hơn, hoạt động mạnh mẽ hơn, trợ giúp hữu hiệu hơn, xin Anh hãy phù trợ cho gia đình, cho bạn bè, nhất là cho gia đình dân tộc, cho bạn bè chiến đấu, cho đại cuộc giải cứu Quê hương là những gì mà Anh đã tha thiết và miệt mài phục vụ ngày đêm đến hao tổn tâm lực. Xin tạm biệt Anh, chiến hữu vô cùng thân thiết của chúng tôi. Hẹn gặp nhau trên Thiên Đàng! Linh mục Phan Văn Lợi, từ Việt Nam 22g đêm mồng 3 Tết Kỷ Sửu (28-01-2009)

 

THƯ CẢM TẠ Sau Tiệc Kỷ Niệm Đệ Thất Chu Niên Của LTCG Tổ Chức Ngày 21-9-2008 Kính thưa quý bậc trưởng thượng, quý vị lãnh đạo tinh thần, quý hội đoàn tổ chức, quý cơ quan truyền thông cùng quý đồng hương tỵ nạn cộng sản Bắc Cali. Tổ Chức Lương Tâm Công Giáo vô cùng cảm kích trước sự tham dự đông đảo của quý vị trong tiệc Kỷ Niệm Đệ Thất Chu Niên Lương Tâm Công Giáo tại nhà hàng Phú Lâm ngày 21-9-08 vừa qua. Có nhiều thân hữu vì bận rộn không đến được nhưng đã gửi yểm trợ tài chánh với những lời chúc mừng chân thành. LTCG xin cảm tạ: - Hiền Tài Nguyễn thanh Liêm. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh. - Ông Nguyễn khắc Thi. Hội Trưởng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo BC. - Ông Chủ Tịch BĐD Cộng Đồng VN Bắc Cali Nguyễn ngọc Tiên và quý thành viên. - Quý ông Cựu Chủ Tịch Cộng Đồng tiền nhiệm: Ông Phạm hữu Sơn và ông Đỗ Hùng. - Diễn giả: Thi sĩ Nguyễn chí Thiện. - Phái đoàn đại diện Nguyệt san Diễn đàn Giáo dân với Bác Sĩ Trần văn Cảo, nhà văn Trần phong Vũ và hai vị thân hữu từ Nam Cali. - Cụ bà thi sĩ Trùng Quang. -Cụ Phạm văn Tường, nhân sĩ. - Giáo Sư Lưu Khôn. - Anh Hùng Lý Tống. - Quý Bác Sĩ Trần công Luyện, Trần Quyền và Hồ Vũ. - Quý Luật sư Đỗ doãn Quế, Ngô văn Tiệp và Nguyễn Tâm. - Ông Richard Hobbs, ứng cử Giám Sát Viên Quận hạt Santa Clara. - Hội Quân Cán Chính Bắc Cali. - Hội Ái Hữu HO San Francisco. - Hội Tương Trợ Lạc Việt. - Văn Bút Hải Ngoại./ Trung tâm Tây Bắc Hoa Kỳ. - Hội Phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại. - Uỷ Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia Bắc Cali. - Hội Phụ Nữ Việt Mỹ Thiện Nguyện. - Hội Ái Hữu Giáo Phận Huế. - Hội Lão Thành BC. - Little Saigon Foudation. - Phong Trào No Hồ. - Lực Lượng Chiến Sĩ Hải Quân BC. - Hội Quảng Ngãi Hải Ngoại. - Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị Bình Điền. - Học Viện Sinh Viên Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia BC. - Hội Ái Hữu Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia BC. Thi văn Đoàn Bốn Phương. - Phong Trào Vận Động Dân Chủ Cho VN. - Chương trình phát thanh Tự Do Dân Chủ-Yểm Trợ Khối 8406. - BTC Hội Tết Trung Thu 2008. - Uỷ Ban Bãi Nhiệm Nghị Viên Madison Nguyễn. - VAYO-Vietnamese-American Youth Organization. *- Chúng tôi rất biết ơn quý cơ quan truyền thông vùng Bắc Cali đã tiếp tay phổ biến rộng rãi Thư Mời của LTCG đến đồng hương. Đặc biệt, anh Huỳnh lương Thiện báo Mõ SanFrancisco yểm trợ hình cha Lý treo bên ngoài và rượu gây quỹ. Sự thương mến và tin tưởng mà quý vị dành cho LTCG là một khích lệ lớn lao khiến chúng tôi vô cùng xúc động và vững tâm hơn để tiếp bước trên con đường đấu tranh cho Quê hương và Giáo hội Việt Nam. Một lần nữa, xin chân thành tri ân và mong được quý vị lượng thứ cho những thiếu sót và lỗi lầm trong Tiệc Kỷ Niệm vừa qua. Trân Trọng TM LTCG Cao thị Tình

 

Lương Tâm Công Giáo Mừng Đệ Ngũ Chu Niên. Ngày Chúa Nhật 17-9-2006 vừa qua, LTCG đã tưng bừng kỷ niệm 5 năm hoạt động bằng một Tiệc Kỷ Niệm tại nhà hàng Kobe thuộc thành phố Santa Clara, Bắc Cali. Theo lời ông Chủ Tịch Đặng đình Hiền thì mục đích của buổi họp mặt là để có dịp gặp gỡ hàn huyên cùng thính giả và độc giả, để bày tỏ lòng biết ơn các ân nhân, các bảo trợ viên cũng như thân hữu đã nhiệt thành yểm trợ LTCG trong những năm qua. Dù LTCG chỉ là một tổ chức “sinh sau đẻ muộn” và năm năm chỉ là khoảng thời gian không dài lắm, nhưng với chúng tôi thời gian vừa qua cũng đầy thử thách, chông gai, lắm lúc tưởng chừng như sắp phải bỏ cuộc; nhưng rồi sự yểm trợ khích lệ của đồng hương đã nâng chúng tôi dậy để tiếp bước trên con đường đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo mà chúng tôi đã chọn làm mục đích hoạt động. Năm nay chúng tôi chọn nhà hàng Kobe đã khiến một số thính giả không thể tham dự hoặc bị đi lạc nên đến trễ, ngay cả Linh Mục diễn giả cũng gặp trở ngại nên giờ khai mạc đã khai mạc không được đúng giờ như lòng mong ước. Tuy nhiên buổi tiệc đã diễn ra trong không khí thân mật, chân tình giữa tiếng đàn hát rộn rã vui tươi. Ngoài chương trình văn nghệ phong phú chúng tôi có chiếu dương ảnh về những sinh hoạt của anh em LTCG và có bàn trưng bày hình ảnh, sách báo do chúng tôi in ấn và phổ biến. LTCG đã được hân hạnh đón tiếp những vị khách đặc biệt như Cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn bá Cẩn, Thiếu Tướng Bùi đình Đạm cùng những Linh Mục đã từng thương mến chúng tôi như các Linh mục Vũ ngọc Đáng, Lm Nguyễn đình Đệ của San Jose và Lm Nguyễn xuân Toàn từ San Francisco đến với LTCG lần đầu tiên. Hiện diện trong buổi tiệc có các hội đoàn và thân hữu quen thuộc, từng sát cánh trong năm năm qua, cũng như nhiều quý khách mới đến với LTCG lần đầu tiên và một số vị thuộc các cơ quan truyền thông trong vùng đã cùng lắng nghe lời chào mừng của ông Chủ Tịch LTCG Đặng đình Hiền. Ông lược qua quá trình thành lập LTCG từ năm 2001, “nhằm nói lên tiếng nói đấu tranh, phản kháng những đàn áp khống chế của Cộng sản bạo tàn, nhất là để phổ biến tư tưởng” Chúng tôi cần Tự Do Tôn Giáo”, “Tự Do Tôn Giáo hay là chết” do Linh mục Tađêo Nguyễn văn Lý khởi xướng. Tổ chức LTCG đã hoạt động rất tích cực trong nhiều công tác, điển hình như : Thu thập chữ ký cho các Thỉnh Nguyện Thư đòi CSVN trả tự do cho Lm Lý và các cháu của ngài, in ấn và phổ biến tài liệu song ngữ về sự đàn áp đạo CG của bạo quyền Hà Nội do Lm Trần xuân Tâm biên soạn, tổ chức Tưởng Niệm 50 năm chia đôi đất nước, tổ chức Hội Thảo Chống Pháp Lệnh Tôn Giáo của CSVN, in sách và phát hành CD về “Cuộc đấu tranh Ba Làng năm 1954” của tác giả Hoài Quốc Nguyễn đức Giỏi… Ngoài ra chúng tôi cũng luôn lên tiếng hỗ trợ mọi cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ ở quốc nội, từ 5 tháng nay LTCG đã kiên trì mỗi tháng 2 lần in ấn và phổ biến Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận xuất phát từ trong nước do các Lm Chân Tín, Nguyễn văn Lý, Phan văn Lợi chủ trương cùng giáo viên Nguyễn khắc Toàn, luật sư Nguyễn văn Đài với sự cộng tác của nhiều ngòi bút trong nước cũng như hải ngoại. Đây là một việc đòi hỏi nhiều công sức và tốn kém mà anh em nhóm chúng tôi với nhân sự thiếu thốn và phương tiện eo hẹp nhưng đã phải cố gắng hết sức để tiếp tay cho cao trào dân chủ ở quốc nội đang ngày càng lớn mạnh mà sự ra đời của Nhóm 8406 là một đột phá ngoạn mục. Tiếp theo là lời phát biểu của ông Chủ Tịch BĐD Cộng Đồng VN Bắc Cali Nguyễn ngọc Tiên. Sau đó diễn giả là Linh Mục Nguyên Thanh, nguyên Tuyên Uùy Sư Đòan Thủy Quân Lục Chiến QLVNCH với bài nói chuyện về đề tài : Tự Do Ngôn Luận và Cuộc Vận Động Dân Chủ Hoá Việt Nam. Trong bài này, LM nói sơ lược về nhân quyền căn bản và hiện tình tự do dân chủ tại VN nhưng ngài nhấn mạnh về phần trách nhiệm của các Tôn giáo đối với quyền Tự Do Ngôn Luận. Đặc biệt LM bày tỏ sự quan tâm đến bổn phận của giáo dân và Giáo quyền trong công cuộc đấu tranh và cổ võ cho quyền TDNL. (Xin đón nghe trong CTPT hoặc đọc trên trang nhà của LTCG). Kế tiếp những bảo trợ viên và ân nhân được tặng Bảng Tri Ân. Quan khách tham dự vừa dùng tiệc trưa vừa thưởng thức một chương trình văn nghệ đặc sắc với những tiết mục như đơn ca, song ca, hợp ca, ngâm thơ. Thật đáng tiếc vì một số khá đông khách phải ra về sớm để kịp chuẩn bị tổ chức, vào cùng buổi chiều, buổi Ca Nhạc gây quỹ cứu trợ Thương Phế Binh QLVNCH nên phần văn nghệ phải cắt bớt những tiết mục đặc biệt như hát quan họ, và phần xổ số cũng kém phần hào hứng. Tuy nhiên, buổi Tiệc Kỷ Niệm đã thành công tốt đẹp, mọi người khi ra về đã được tặng sách Cửu Bình và báo TDNL. Chúng tôi hy vọng đã bắc được một nhịp cầu với quý khách tham dự và mong ước quý vị sẽ sát cánh yểm trợ tổ chức Lương Tâm Công Giáo trong mọi hoạt động nhằm mục đích đấu tranh cho Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam. Hẹn gặp quý thính giả, độc giả và ân nhân thân hữu trong Tiệc Kỷ Niệm năm tới.

 

THƯ CẢM TẠ Kính gửi : Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo Quý bậc trưởng thượng, Quý vị đại diện các tổ chức, hội đoàn, đoàn thể, Quý vị đại diện giới truyền thông, cùng quý ân nhân và đồng hương Bắc California. Kính thưa quý vị, Lương Tâm Công Giáo vô cùng cảm kích trước sự thương mến và ưu ái của quý vị dành cho chúng tôi, đã đến tham dự tiệc Đệ Ngũ Chu Niên ngày thành lập LTCG tại nhà hàng Kobe hôm Chúa nhật 17-9-2006. Ngoài ra, một số vị do hoàn cảnh không thể đến dự cũng đã gửi những lời khích lệ và yểm trợ tài chánh rất quý báu đến chúng tôi. Xin chân thành tri ân: - Quý linh mục: Vũ Ngọc Đáng, Nguyễn đình Đệ, Lm Nguyễn Thành, và Lm Nguyễn Xuân Toàn. - Quý vị đại diện các Giáo hội PGVNTN, GH Phật Giáo Hoà Hảo, Cao Đài. - Cựu Thủ tướng VNCH Nguyễn Bá Cẩn, - Thiếu Tướng QLVNCH Bùi Đình Đạm, - Ông Chủ tịch Nguyễn Ngọc Tiên, các thành viên BĐD và Ban Giám sát - Cộng đồng NV/TNCS/Bắc Cali. - Lực lượng SQ Thủ Đức QLVNCH, Lực lượng Hải Quân QLVNCH, Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa, Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, - Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia, Hội Ái Hữu SVSQ Học Viện CSQG/Bắc Cali, Phong Trào QDVNHĐ, Hội Lão Thành Bắc Cali, Hội Phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại, Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Bắc Cali, Hội Ái Hữu Quảng Ngãi, Hội Ái Hữu Quảng Nam, nhóm Tinh Thần Nguỵ Văn Thà. - Hội Hàng Hải Thương Thuyền Việt Nam, Hội Người Nhái, Hội cựu tù nhân Chính Trị Bình Điền, Hội Người Việt Cao Niên, Hội Tương Trợ Lạc Việt; - Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Trung Tâm Văn Bút Tây Bắc Hoa Kỳ, chương trình PT Tiếng Nói Hy Vọng v.v. - Và toàn thể ân nhân, thân hữu, đồng hương từ San Jose và các vùng phụ cận. Xin cảm tạ Truyền hình SBTN, các chương trình phát thanh: Cộng Đồng, Cư An Tư Nguy, Tiếng Dân Phát thanh, và các cơ quan truyền thông như : báo Đời Mới, Tiếng Dân, Nàng Thế Kỷ 21, Saigon USA, Ý Dân, Mõ San Francisco, Tin Việt News, và đặc biệt là Đài phát thanh Quê Hương, đã tích cực quảng bá và yểm trợ Lương Tâm Công Giáo trong thời gian qua. Đặc biệt, xin cám ơn ban nhạc Liberty và bạn nhữu. Xin cám ơn các thi sĩ và ca sĩ như Đan Hùng, Mộng Hoa và Y Thức. Và cuối cùng, xin cám ơn nhà hàng Kobe đã dành cho LTCG nhiều ưu đãi. Dù chúng tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi những sơ sót, kính xin quý vị lượng thứ và tiếp tục yểm trợ LTCG trong những ngày sắp tới. Trân trọng, San Jose, ngày 19 tháng 9 năm 2006. TM. Lương Tâm Công Giáo, Đặng Đình Hiền

 

Kính thưa Quí vị, “Tự do ngôn luận và cuộc vận động dân chủ hóa Việt Nam” là Chủ đề mà anh chị em Lương Tâm Công Giáo yêu cầu tôi phát biểu hôm nay. Đây là 2 vế của cùng một vấn đề. Nói cách khác, tự do ngôn luận là linh hồn của xã hội dân chủ.Tất cả các thể chế độc tài đều triệt tiêu tự do ngôn luận. Một đề tài rất thời sự và bao quát. Trong bài này, tôi chỉ xin sơ lược về nhân quyền căn bản và hiện tình tự do dân chủ tại Việt Nam. Nhưng sẽ nhấn mạnh đến phần thứ ba, phần trách nhiệm của chúng ta, đặc biệt của các Tôn giáo, đối với Quyền Tự Do Ngôn Luận. I-Quyền Tự Do Ngôn Luận. Tự Do Ngôn Luận, là nhân quyền căn bản được toàn thế giới công nhận. Ngay phần đầu Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền công bố ngày 10-12-1948 đã viết: “Xét rằng, việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng là nguyện vọng cao cả nhất của con người. Xét rằng, điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị (chứ không phải đảng trị) bảo vệ, để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền” Một số văn kiện Công Đồng Vatican 2 như “Sắc lệnh về Tự do Tôn Giáo” và đặc biệt “Sắc lệnh về các Phương tiện Truyền Thông Xã hội” đã viết: “…những phương tiện ảnh hưởng đến nhân loại như báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền hình và những phát minh khác được gọi là những phương tiện Truyền thông xã hội. Giáo hội đương nhiên có quyền xử dụng và làm chủ bất cứ loại nào trong các phương tiện dó, và còn có nhiệm vụ phải huấn luyện và hướng dẫn các tín hữu xử dụng các phương tiện truyền thông này. Chính quyền có bổn phận phải bảo đảm sự tự do đích thực và chính đáng của việc thông tin, sự tự do mà xã hội ngày nay rất cần để tiến bộ, nhất là quyền tự do báo chí. Chính quyền có bổn phận phải bảo đảm cho những người xử dụng có thể tự do hưởng thụ quyền lợi chính đáng”. Hiến pháp nước CHXHCH Việt Nam công bố năm 1992 điều 69 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình…” Như thế, tự do ngôn luận là nhân quyền căn bản được cả loài người công nhận. 2. Hiện tình tự do ngôn luận tại Việt Nam. Việt Nam hiện có 600 tờ báo các loại. Nhưng chỉ có một chủ nhiệm là Đảng Cộng sản Việt Nam. Có 600 tên báo khác nhau nhưng chỉ có một người quản lý là Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng. Có báo mang danh là “Công giáo và Dân tộc” thì cũng không phải của Công giáo, cũng chẳng phải của Dân tộc- (một bài viết của Thiện Cẩm trong báo này đã ca ngợi trùm Việt cộng Phạm văn Đồng là người công chính “ như thánh Giuse”). Ngay những báo của Đảng, mà Tổng biện tập có chiều hướng cởi mở đôi chút cũng lập tức bị thay thế. Trường hợp Nguyên Ngọc của báo Văn Nghệ, Tô Hòa, Võ như Lanh của Sàigòn Giải phóng, Kim Hạnh của Tuổi Trẻ là thí dụ. Báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng không ai thèm đọc. “Tờ An ninh thế giới của bộ Công an, chuyên khai thác những tin giật gân dâm chém, lừa gạt, buôn lậu, đĩ điếm, ma túy bạo lực thì lại bán rất chạy đến nỗi nhiều phụ huynh phải khuyên giới trẻ không nên đọc để tránh ô nhiễm. Hiện nay, Tổng biên tập, đại tá công an Đặng vương Hưng đã hiện nguyên hình là một tên lưu manh mạt hạt, bịp bợm dâm ô siêu đẳng, một vụ động trời được Bộ Công an dấu kỹ”(Bùi Tín: Trống đánh xuôi kèn thổi ngược). Còn những ai muốn thực thi quyền Tự do ngôn luận chính đáng thì lập tức bị guồng máy Công an đàn áp thô bạo. Trong một bài báo mới đây, ông Bùi Tín viết: “Việc đàn áp rất thô bạo các nhà báo tự do dân chủ đang diễn ra hằng ngày từ Hà nội qua Huế vào Sàigòn, đang làm dư luận quốc tế xôn xao nổi giận. Việc nhóm công an xông vào đánh đập nhà báo nữ Trần khải Thanh Thủy thành thương tật, lấy đi máy vi tính và hằng trăm tài liệu, bài viết của chị, cũng như đánh đập các thanh niên Lê trí Tuệ, Nguyễn ngọc Quang, Du Lam, Phạm bá Hải một cách du côn hiểm hóc, đấm đá các mục sư Ngô hoài Nở, Nguyễn công Chính…khiến dư luận quốc tế phải lên tiếng tố cáo đám công an Việt cộng đã biến thành những tên hung ác, những kẻ thừa hành mù quáng mất nhân tính”. May thay, đã xuất hiện tại quốc nội một cách dũng cảm và công khai Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận, hiện đã ra tới số 11, tờ báo của những người yêu hòa bình, tự do dân chủ, mà hiện nay cả thế giới đều biết. Bán nguyện san Tự Do Ngôn Luận số 10, dưới tựa đề “Côn đồ trị nước mãi nên chăng” đã viết: “Vụ thứ nhất ở trại giam Kế, tỉnh Bắc Giang…đã phơi bày ra trước mắt sự kinh hoàng tột độ cho cả hoàn cầu. Chín bị can gồm 4 tu sĩ và 5 cư sĩ Phật giáo, người bị lột trần truồng ra đánh, bị dùi cui điện dí vào dương vật, người bị gậy gỗ sắc cạnh vuốt ngược chỗ kín đến tóe máu tươi, người bị dập đầu vào tường rồi treo ngược lên trần…” Vụ thứ hai là cuộc hỏi cung anh Vũ hoàng Hải ngày 5 tháng 8 - 06 tại trụ sở công an phường 18, quận 4 Sàigòn…công an đã chửi bới tục tĩu và tung những quả đấm vào mặt anh trong suốt 4 ngày làm việc không được nghỉ ngơi. Mỗi lần anh bị choáng váng…bọn công an lại chửi rủa: Mày chết đi tụi tao càng mừng. Vụ thứ ba ngày 13-8-06, chừng 20 công an xông vào nhà ký giả Nguyễn khắc Toàn ở Hà Nội khám xét rất thô bạo, ngang nhiên tịch thu 50 ký tài liệu, mà không có án lệnh, biên bản. Bốn người còn lại, đặc biệt nhà văn Hoàng Tiến, cũng bị mời lên công an thẩm vấn và bị khám xét tương tự”. Còn biết bao nhà trí thức khác đang bị đàn áp thô bạo như Đỗ nam Hải, Bạch ngọc Dương, Nguyễn phương Anh, Nguyễn văn Đài, Trương quốc Huy, Nguyễn chính Kết, Phạm hồng Sơn v.v. Họ bị khủng bố, giam cầm, đánh đập, chỉ vì thực thi quyền tự do ngôn luận. Những bối cảnh ấy vẽ nên bức tranh Việt Nam hiện nay. 3- Trách nhiệm của chúng ta-đặc biệt của các tôn giáo trong tình hình hiện nay. Người Việt hải ngoại được hưởng mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận. Nhờ tự do ngôn luận mà đồng bào Việt nam trên toàn thế giới trở nên gần gũi hiểu biết và gắn bó với nhau hơn, tình tự dân tộc và tình yêu quê hương được củng cố, nền văn hóa Việt Nam được nuôi dưỡng, các cá nhân, đoàn thể, đảng phái quốc gia, nạn nhân của chế độ cộng sản, giữ vững được tinh thần nghĩa khí đấu tranh. Nhờ tự do ngôn luận, hải ngoại có thể chuyển về quốc nội những thông tin, tài liệu tố cáo những hành động vi phạm quyền con người của Việt cộng. Bên cạnh mặt tích cực đó, rất tiếc cũng có những tiêu cực do một thiểu số thiếu ý thức, không loại trừ bọn Việt cộng nằm vùng lợi dụng tự do ngôn luận thọc gậy bánh xe, gây chia rẽ khối đoàn kết hải ngoại. Hơn 3 triệu người Việt hải ngoại với tiềm lực kinh tế và kiến thức sẽ là một quân đoàn tinh nhuệ về chất vượt trội 3 triệu đảng viên nón cối dép râu lớp 3 trường làng nếu, vâng, nếu chúng ta đoàn kết, bắt tay nhau vượt qua bức tường lửa của tị hiềm, đố kỵ ảo, loại virus đang gậm nhấm ý chí và sức mạnh của chúng ta. Để trị đứt căn bệnh này, mỗi chúng ta quyết tâm sẽ không đánh phá lẫn nhau. Nếu có tị hiềm, nên giải quyết ở chỗ riêng tư, không đưa lên truyền thông công cộng. Nếu chỉ nghe dư luận, chúng ta đừng vội có thành kiến với bất cứ cá nhân đoàn thể nào. Chúng ta hãy chủ động đến với nhau, trao đổi với nhau, những tỵ hiềm sẽ được giải tỏa. Tôi đã thử điều này, đã chủ động tìm đến, gặp gỡ một số Hòa thượng, Thượng tọa, một số chức sắc Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, một số Mục sư của Hội thánh Tin lành. Đến đâu, tôi cũng nhận được sự tiếp đón niềm nở và chân tình. Tôi nhận thấy các vị ấy đều rất khiêm tốn, thân thiện và đầy tâm huyết. Từ đó, tôi nghiệm ra rằng, nếu chúng ta chủ động tìm đến với nhau, chìa tay ra cho nhau, chia xẻ tình thân, chia xẻ một chung trà, một ly cà phê, một cú điện thoại, chúng ta sẽ quí nhau, thân nhau, mọi đố kỵ hiểu lầm được giải tỏa. Từ đó, chúng ta mới có thể làm gì cho đất nước, cho dân tộc hơn là ngồi trong bóng tối mà phàn nàn rằng thì là cộng đồng đang nát bấy. Hiện nay, một mặt chúng ta có thể tích cực vận động các thế lực quốc tế hỗ trợ cho phong trào dân chủ trong nước. Một mặt chúng ta cần tích cực yểm trợ tài chánh, và các phương tiện thông tin cho các nhà dân chủ quốc nội, cụ thể là khối 8406, chuyển về quốc nội những thông tin, thư từ, email, sách báo, băng đĩa, vạch trần tội ác cộng sản, đập tan thần tượng Hồ chí Minh và chủ nghĩa Mác Lê. Anh chị em quốc nội đang ngày đêm đối mặt với nguy hiểm chết chóc do bạo quyền, vẫn ngẩng cao đầu bất khuất. Hằng trăm ngàn người hải ngoại chúng ta cũng quyết sẽ áo gấm về làng, nhưng sẽ không về trong tư thế cúi đầu sợ sệt như những năm tháng tủi nhục nữa. Chúng ta sẽ mang về quê hương lửa đấu tranh, lửa tự do nhân quyền cho thân nhân bè bạn. “Tự Do không thể van xin mà có, Tự Do phải đấu tranh để dành lấy”. “Hiến chế Giáo Hội trong Thế giới ngày nay” viết: “Vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của các Môn đệ Chúa Kitô, và không có gì của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng các Môn dệ Chúa”. Vậy thì, một là: Để chống lại điều ác, tất cả chúng ta, nhất là các tôn giáo cần nêu gương ĐOÀN KẾT. Phải biết rõ Việt cộng đang ra sức phá hoại khối đoàn kết, gây chia rẽ trong nội bộ tôn giáo và giữa các tôn giáo khác nhau. Quí Giám mục, Linh mục đáng kính không thể cứ rao giảng Bác ái trong nhà thờ, Quí Hòa thượng Thượng tọa đáng trọng không thể cứ thuyết phápTừ bi trong chùa, mà để mặc kẻ cướp đánh giết cướp bóc dân lành. Con chiên, tín đồ đang mong chờ quí ngài ra khỏi tháp nhà thờ, nhà chùa để chia xẻ đau thương bất hạnh của họ, nhất là của những người khốn khổ. Hai là, xin quí vị thực hiện ngay quyền Tự do ngôn luận. Thời cơ đã chín mùi. Tôi nói: Thời cơ đã chín mùi là dựa trên cơ sở khoa học của biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử của Mác đấy. Khi một xã hội mà những mâu thuẫn nội tại đã tới cực điểm, thì tự nó phải tiêu vong. Xã hội Việt nam hiện nay đầy dẫy mâu thuẫn- tha hóa tột cùng- tham ô nhũng lạm, vơ vét, cướp bóc, ăn chơi vô độ, anh vô sản trở thành đại tư bản, người lương thiện trở thành kẻ tội đồ. Kinh tế thị truờng lại có đuôi định hướng XHCN. Cả xã hội băng hoại, luân lý đảo ngược, giáo dục phá sản. Một xã hội như thế ắt và đủ mâu thuẫn để phá sản. Lịch sử các triều đại đã chứng minh điều đó. Chỉ cần chất xúc tác. Quí vị chính là yếu tố tác động làm thay đổi cục diện. Phật giáo có Pháp Vô Úy. Công giáo cũng có Lời Đức Kitô: “anh em đừng sợ”. Vậy thì đừng sợ nữa. Nếu chỉ với 3 triệu đảng viên cộng sản mà đã có tới 600 tờ báo các loại, chẳng lẽ 8 triệu tín hữu Công giáo, 8 triệu tín đồ Phật giáo Hòa hảo, hàng chục triệu Phật tử, hàng triệu đạo hữu Cao Đài, hàng triệu anh em Tin Lành, mỗi Tôn Giáo chúng ta lại không thể có được nếu không hàng trăm thì ít ra cũng phải là hàng chục tờ báo dành cho Tin đồ của mình, đây là quyền của mình, không cần phải cơ chế xin- cho, vì có xin chúng cũng không cho - xin xuất cảnh bao nhiêu cũng được, nhưng xin ra báo thì không đươc, bởi vì tự do ngôn luận không thể van xin mà có, tự do ngôn luận phải đấu tranh để dành lấy. Trước mắt, quí vị cứ thiết lập ngay những trang Web. Ra ngay một tờ báo. Không kể những phương tiện truyền thông khác như Phát thanh, Truyền hình mà quí vị có quyền sở hữu. Đến đây, tôi xin phép có đôi điều về nội bộ Công giáo, (vốn bị mang tiếng là “thời Tây thì làm tay sai thực dân, thời Mỹ thì ôm chân đế quốc, đến thời cộng sản lại “Công giáo đoàn kết”, sống chết mặc bay, im lặng là vàng). Giáo Hội đã im lặng trong nhiều việc sai trái của Việt cộng mà không có một thái dộ, một tiếng nói đáng lẽ phải có. Điển hình là các vụ: Vụ Khâm sứ Henry Lemaitre. Vụ Nhà thờ Vinh Sơn (Lm Nguyễn quang Minh đã bị đẩy xuống hố chôn sống tại trại giam cùng với Linh mục Nguyễn văn Vàng, theo bút ký của Linh mục nhạc sĩ Huyền Linh, người đã chứng kiến). Vụ Việt cộng bắt bớ các tu sĩ để chiếm đoạt cơ sỏ dòng Phước Sơn Thủ Đức. Vụ Đức Tổng Giám mục Nguyễn văn Thuận. Vụ Đức Cha Huỳnh văn Nghi và chức Giám quản Tông tòa Saigon. Vụ Việt cộng ám hại Đức Cha Hoa, Giám mục phó Qui Nhơn, vụ ám hại Đức Cha Điền, Tổng Giám mục Huế, tại bệnh viện Chợ Rẫy- Im lặng phải chăng là dồng lõa? Hai vụ điển hình khác: Vụ Việt cộng thực hiện phim “Người mang mật danh K213” năm 1986 nói về tổ chức chống cộng của Mai văn Hạnh, Lê quốc Túy, Trần văn Bá. Đoàn làm phim đã mượn Đại chủng viện Sàigòn để quay một số cảnh.Vụ án này có liên quan đến Cao đài, nhưng truyện phim lại ác ý gán cho Công giáo. Linh muc, dì phước, ông từ nhà thờ đều biến thành những người lãnh đạo tổ chức chống cộng. Các biểu tượng thánh thiện như Thánh giá trong nhà thờ biến thành nơi giấu tài liệu, bức ảnh đạo xé đôi làm ám hiệu để hai kẻ phản động nhận ra nhau, tượng Đức Mẹ trở thành cửa che chắn hầm bí mật, tòa giải tội biến thành nơi trao đổi tin tức. Nhà thờ bị xuyên tạc, bôi nhọ ác ý. Quí vị im lặng. Đến vụ Dòng Đồng Công Thủ Đức. Cha Thủ, và một số Linh mục, tu sĩ bị bắt, tài sản nhà dòng bị cướp trắng trợn. Lần này không im lặng, Đức TGM đã vội ra thông cáo như sau: “Tổng Giám mục rất tiếc là trước khi vụ việc xảy ra không một ai cho Ngài biết về những buổi họp của tổ chức mệnh danh là “Phong trào Tận Hiến” mà trong đó phổ biến những tư tưởng chống cộng, chống chế độ núp dưới mầu sắc có vẻ mê tín chứ không phải tín lý thực sự… Hoạt động như thế là vi phạm giáo luật. Dòng Đồng công là một ung nhọt cần giải phẫu để bảo đảm sức khỏe của cộng đoàn Giáo hội. Làm như vậy sẽ là lấy sức khỏe đuổi xa bệnh hoạn, lấy ánh sáng đẩy lùi bóng tối”.(Thông cáo số 43/87- Ký tên: Phaolô Bình, TGM) Trường hợp này Giám mục có lên tiếng kêu gọi “Hãy bình tĩnh chờ sự phán xét công minh của tòa án, đừng nên suy diễn hay đồn thổi tin tức hoang mang”, nhưng lại có vẻ lên tiếng thay cho Đảng, để kết tội Dòng Đồng công. Anh em, con cái trong nhà mà còn bị đối xử như thế, huống chi. Nhưng nay, trước tình thế nhân dân bị đàn áp bị cướp nhà cướp đất, các tôn giáo bi bắt bớ bách hại, các nhà đấu tranh bất bạo động cho tự do dân chủ chính đáng bị đàn áp dã man, cả xã hội quằn quại dưới chế độ thối nát tham nhũng bạo tàn sẵn sàng bán nước cho Tàu cộng- Các vị không thể im lặng né qua bên kia đường mà đi, miễn là bình an tọa hưởng và được xuất ngoại đều đều. Một tín hiệu mới đến từ Cần Thơ: Giám mục Lê phong Thuận và 124 Linh mục Giáo phận vừa nhất loạt ký tên vào đơn Khiếu tố khẩn đòi lại đất nhà thờ Thị Xã Bạc Liêu với lời lẽ rất quyết liệt: “Nếu chính quyền địa phương bất chấp đơn khiếu tố khẩn này và cứ tiến hành xây dựng trên đất nhà thờ Đức Mẹ Bạc Liêu, thì buộc lòng tất cả Giáo dân Tỉnh Bạc Liêu phải có biện pháp ngăn cản và kiên quyết bảo vệ bằng được đất của nhà thờ”. Phải chăng đây là chất xúc tác. Chúng ta hi vọng. Nhưng chúng ta cũng hi vọng hơn nữa, rằng, không phải chỉ khi nào cộng sản động chạm đến quyền lợi vật chất của Giáo Hội, quí vị mới lên tiếng, sự đấu tranh đó là rất chính đáng. Nhưng ước mong quí vị tiến thêm một bước tích cực hơn nữa, đó là lên tiếng đấu tranh cho quyền lợi tinh thần- là tự do dân chủ nhân quyền và công lý. Cho những kẻ thấp cổ bé miệng đang bị đàn áp bất công. Những con người khốn khổ không còn gì để mất, họ đang đấu tranh với bạo quyền. Những nhà dân chủ, có cả những nữ lưu can trường trước bạo lực, sẵn sàng liều thân cho công lý. Không lẽ dòng dõi các Thánh Tữ đạo lại từ chối nối gót tiền nhân? Dân tộc cần những vị dám hi sinh vì công lý như Linh mục Popielusco Ba lan.“Ai giữ sự sống mình thì sẽ mất, còn ai chấp nhận mất sự sống mình ở đời này, sẽ được sống vĩnh cửu”. Nếu Việt cộng mà đụng đến một vị nào, thì không phải chỉ có giáo dân trong một tỉnh, mà tất cả giáo dân toàn quốc và hải ngoại sẽ kiên quyết bảo vệ quí vị. Nếu mỗi Giáo phận cứ ra một tờ báo, một trang Web, thì những vụ việc bất công bạo quyền sẽ sớm được đưa ra công luận. Xin đồng hành với dân tộc. Xin đừng coi các tín hữu là bầy cừu- mà nên coi họ là đàn chiên được giao phó. Đã đến lúc chúng ta không thờ Chúa trong nhà thờ xây bằng gạch đá. Mà cần xây nhà thờ tinh thần và chân lý. Tờ báo- và các phương tiện truyền thông- chính là Ngôi Nhà Thờ tinh thần đó. Xuất bản một tờ báo, thực hiện một chương trình phát thanh thì ích lợi gấp ngàn lần xây dựng một nhà thờ (Bao nhiêu cơ sở, nhà thờ thi đua xây sẵn trước 75 để Việt cộng chiếm dụng sau 75 phải là kinh nghiệm xương máu) Để kết luận, tôi kêu mời quí vi từ nay đừng đóng góp để xây dựng các cơ sở tôn giáo lộng lẫy tiện nghi nữa- có thể xây thì ít cất thì nhiều- xin hãy vận dộng và ủng hộ cho mỗi giáo phận, mỗi địa phương có tờ báo, có nhà in, và các phương tiện truyền thông khác. Báo chí, phát thanh, internet là những phương tiện truyền giáo hữu hiệu gấp ngàn lần nhà thờ. Đồng thời, xin tích cực hỗ trợ những chương trình phát thanh, như chương trình Phát thanh Lương tâm Công Giáo của quí vị đây. Quí vị đã biết sức mạnh của Đài Âu Châu Tự Do trước đây, sức mạnh của đài Á châu Tự do hiện nay. Xin quí vị cộng tác và hỗ trợ tích cực cho Chương trình phát thanh Lương tâm công giáo. Cũng như yểm trợ tích cực cho tiếng nói của anh chị em dân chủ, khối 8406 quốc nội. Trân trọng.

 

STAR-TELEGRAM STAFF WRITER Dung Dinh cries on the shoulder of Ann Nhon as they join protesters waving the flag of South Vietnam during a fashion show. More photos ARLINGTON -- An annual festival aimed at celebrating international brotherhood is sparking controversy at the University of Texas at Arlington as students disagree with administrators over which flag should represent Vietnam. During a fashion show Wedneday night at the university's International Week festival, dozens of Vietnamese-American students and community members waved the yellow-and-red flag of South Vietnam that they believe university officials should display. Administrators have not allowed the yellow flag with three red stripes to be displayed. It was banned by the communist government in 1975 in one of the final moves to solidify its victory over the American-supported South Vietnamese government. University officials said they used Vietnam's current flag - red with a yellow star - to follow their policy of only using flags recognized by the United Nations. But Vietnamese students still feel offended. "How can we see this communist flag exist here in this country," said a tearful Tracy Nguyen, a 23-year-old senior at UT-Arlington. "That flag does not represent us, we are nothing like them." Many have complained to UT-Arlington Associate Provost Michael Moore. "I understand it's emotional," Moore said. "None of us are denying the pain, the tremendous human rights violations." But, he said, the university is just following its policy. "This is not a political issue for us," Moore said. "We've got the Chinese flag and the Taiwanese don't like that and vice versa." A community leader in the Vietnamese-American community said UT-Arlington should have been more sensitive about the issue. "UTA is trying to expand its international influence," said Andy Nguyen, chairman of the Vietnamese-American Community of Tarrant County. "We understand and support that. But bringing that flag here without considering the feelings of the community and the students is quite inconsiderate." Tom Ha, a Vietnamese activist, said that displaying the Vietnamese flag in front of people who fled the oppression of the communist government is like parading the swastika in front of Jews. "Many students were very distraught over this, and two girls were crying [Monday] night during the emergency meeting of the community to get a resolution to this problem," Ha said, adding that about 30 people attended the meeting. Huong Duong, a junior majoring in biology, said the International Student Office asked her to participate in International Week under the current Vietnamese flag. "That offended me," she said. Duong said that she will continue to participate in International Week, which ends Friday, but that she has distanced herself from the current Vietnamese flag. Duong said both flags should be allowed to be displayed. "Personally, I really don't care what they do with their flag. I want to show my flag," she said. Email: pmcgee@star-telegram.com

 

Kính thưa Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài Nước, Kính thưa Quý liệt vị đang mong ước Dân chủ cho Việt Nam trên toàn cầu, Cùng với bao người đang quên mình đấu tranh cho nền Dân chủ của Quê hương, chúng tôi, đại diện hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ cho Việt Nam ở quốc nội ký tên dưới đây, đồng thanh lên tiếng thay cho toàn thể người Việt trong và ngoài Nước rằng : Vận mệnh Tổ quốc đã, đang và sẽ lâm nguy do một tập đoàn độc quyền toàn trị là đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếng nói của chúng tôi vang lên đây nhằm mục đích cổ vũ các hoạt động chính trị vì ích quốc lợi dân, bênh vực mọi Nhân quyền và Dân quyền mà một Đất nước Dân chủ chân chính phải thực sự chủ trương và bảo vệ, trong đó có Quyền Thành lập và Hoạt động Đảng phái, căn cứ trên các nền tảng dưới đây : 1- Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết ngày 16-12-1966 và Việt Nam tham gia ngày 24-9-1982, điều 5,2 : “Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ bất kỳ Quyền Cơ bản nào của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn ở một Quốc gia thành viên của Công ước này”; điều 21 : “Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn ; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. 2- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều 3 : “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân”; điều 11 : “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình… bằng cách tham gia công việc của Nhà nước… bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công dân… tổ chức đời sống công cộng”; điều 50 : “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng”; điều 53 : “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và Xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả Nước và địa phương”; điều 69 : “Công dân có Quyền Tự do Ngôn luận… có Quyền Hội họp, Lập hội, Biểu tình…” 3- Hiến chế Mục vụ của Công đồng chung Vaticanô II của Giáo hội Công giáo hoàn cầu năm 1965, số 73 : “Nhờ ý thức mãnh liệt hơn về phẩm giá con người, ngày nay tại nhiều Nước trên thế giới, người ta cố gắng thiết lập một thể chế chính trị pháp lý để bảo vệ hữu hiệu hơn quyền lợi của cá nhân trong đời sống công cộng, chẳng hạn quyền được tự do hội họp, tự do lập hội, tự do phát biểu ý kiến và tự do tuyên xưng tín ngưỡng cách riêng tư hoặc công khai ; vì việc đảm bảo những quyền lợi của con người là điều kiện thiết yếu để người Công dân, với tư cách cá nhân hay đoàn thể, có thể tham gia cách tích cực vào đời sống và vào guồng máy quốc gia… Trái lại người ta lên án bất cứ thể chế chính trị nào, như hiện có ở một vài Nước, nếu nó ngăn cản quyền tự do công dân hoặc tín ngưỡng, nếu nó làm gia tăng con số các nạn nhân của tham lam và của tội ác chính trị, nếu nó làm cho việc cai trị đi lệch đường, thay vì mưu cầu công ích lại phục vụ cho một tập đoàn hay chính những người cầm quyền”; số 75 : “Tất cả mọi Kitô hữu phải ý thức về sứ mệnh đặc biệt của mình trong cộng đoàn chính trị… Trong việc tổ chức trần thế, họ phải nhìn nhận những quan điểm chính đáng dầu đối chọi nhau… Họ phải chống lại bất công và áp bức, chống độc tài và ngoan cố của một cá nhân hay một đảng phái chính trị… (bởi lẽ) những đảng phái chính trị có bổn phận cổ võ những gì họ xét thấy cần cho công ích, chứ không bao giờ được đặt quyền lợi riêng trên công ích.” 4- Thực tế chung trên toàn cầu : Tuyệt đại đa số các Quốc gia đều có một nền chính trị đa nguyên đa đảng, một bầu khí cạnh tranh chính trị công khai lành mạnh qua bầu cử và sinh hoạt chính trị dân chủ bình đẳng trong nghị trường. Đảng thắng cử lên cầm quyền và đảng thất cử trở thành đối lập, hai bên giám sát lẫn nhau và như thế tương trợ nhau, đang khi lập pháp, tư pháp, hành pháp, rồi báo chí, quân đội, tôn giáo đều hoạt động độc lập, tất cả chỉ vì ích lợi Nước nhà. Mọi Công dân có tài năng và thiện chí tại các Nước đó đều có cơ hội phục vụ công ích và xây dựng Quốc gia qua các chính đảng. Nhờ thế mà các Nước ấy nói chung đều phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo đảm các nhân quyền ; mọi cá nhân đều có cơ hội thăng tiến, mọi cộng đoàn đều có điều kiện triển nở và mọi vấn đề xã hội đều nhanh chóng tìm ra được cách giải quyết. Tuy chưa hoàn hảo, nhưng các xã hội đa nguyên đa đảng ấy đã bao hàm các khả năng cần thiết để sửa sai, đổi mới và hoàn thiện. 5- Thực tế riêng tại Việt Nam : Đảng Cộng sản là đảng độc quyền duy nhất từ hơn nửa thế kỷ qua tại miền Bắc và hơn 30 năm trên cả Nước. Tuy chỉ là một chính đảng nhưng vì hoàn toàn dựa trên học thuyết Mác-Lênin nên đảng Cộng sản chủ trương toàn trị, nghĩa là độc tài thống trị mọi mặt của đời sống cá nhân lẫn cộng đồng, từ ý thức, tâm linh, tư tưởng, tình cảm đến kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật... Học thuyết Mác-Lênin lại chủ trương vô thần trên phương diện triết lý, độc đảng trên phương diện chính trị và xã hội chủ nghĩa trên phương diện kinh tế như một chân lý vĩnh viễn bất khả nhượng, trói buộc mọi Công dân. Thành ra đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đầu độc lương tri và cưỡng bức lương tâm con người, nhào nặn Nhân dân thành những thần dân hoàn toàn quy phục đảng qua việc độc quyền thông tin và giáo dục ; đã tiêu diệt các đảng phái quốc gia khác từng sát cánh kháng cự thực dân và đang cấm cản các đảng phái chính trị khác bằng điều 4 Hiến pháp năm 1992 ; đã và đang bách hại các tôn giáo, biến tòa án, quốc hội, chính quyền, báo chí, công an, quân đội, thậm chí các giáo hội thành công cụ cho riêng mình ; đã và đang đặt mọi luật lệ từ Hiến pháp đến các bộ luật, pháp lệnh, nghị quyết, thông tư… dưới ý muốn độc đoán của đảng, của bộ chính trị, thậm chí của vài nhân vật quyền uy nhất trong đảng ; đã và đang quản lý điều hành một nền kinh tế tư bản gian trá và khập khiễng vì mê muội, ngoan cố, gượng ép kéo theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” tai quái và không tưởng. Bởi thế, hiện trạng Việt Nam là sự hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội ; là cán bộ đảng viên lộng quyền và tham nhũng tràn lan và ngang nhiên ; là Nhân dân bị bóc lột tài sản và công sức, bị hăm dọa cuộc sống và nghề nghiệp ; là dân tình điêu đứng và phẫn uất ; là giới trẻ mất niềm tin, lý tưởng sống và định hướng tương lai ; là các tôn giáo bị lũng đoạn và tước đoạt ; là đồng bào hải ngoại ngao ngán và bất hợp tác ; là biên cương Tổ quốc bị ngoại bang lấn chiếm và đe dọa ; là chính thể bị phê phán lạc hậu, độc tài và Quốc thể bị coi thường ; là Đất nước thụt lùi tụt hậu thậm chí tới cả trăm năm so với nhiều Nước trong khu vực. Các bảng xếp hạng mọi mặt trong đó Việt Nam luôn đứng bậc thấp và các bản báo cáo tình hình trong đó Việt Nam luôn bị điểm mặt do các Chính phủ và Tổ chức Quốc tế công bố hằng năm là những bằng chứng. Mọi biện pháp do đảng Cộng sản đưa ra đều mang tính chắp vá, nửa vời, nhằm xoa dịu Nhân dân và che mắt Quốc tế, chẳng hề giải quyết được chuyện gì. Tất cả chỉ vì độc đảng, mà lại độc đảng Mác xít cộng sản ! Đứng trước thảm trạng và nguy cơ đó, cũng như trước viễn ảnh đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mù quáng kiên trì học thuyết Mác-Lênin sai lầm và chế độ xã hội chủ nghĩa phá sản, đồng thời cho đảng viên chức quyền được làm kinh tế không giới hạn quy mô, chúng tôi tha thiết và đồng thanh lên tiếng : 1- Đòi buộc đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trước hết phải lập tức hủy bỏ điều 4 Hiến pháp năm 1992, một điều khoản tai quái, ngang ngược không hề có trong một bản Hiến pháp nào trên thế giới, ngoại trừ Hiến pháp Liên xô (điều 6) vốn đã bị nhân dân Nga vất vào sọt rác lịch sử, tiến đến việc thay thế bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa năm 1992 bằng một Bản Hiến pháp khác văn minh dân chủ hơn. Thứ đến phải phi đảng hóa quốc hội, tòa án, nhà nước, quân đội, công an, trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp, hội đoàn,… 2- Kính mời các Đảng phái Dân chủ đang hoạt động âm thầm tại Quê hương hãy can đảm xuất hiện hoạt động công khai ; hãy hiên ngang tự xác lập vị trí của mình trước Quốc Dân, không cần đợi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam độc đoán lạm quyền “cho phép”, vì chẳng một đảng nào được lạm quyền ban phép cho đảng khác hoạt động cả ; hãy kiên cường cạnh tranh bình đẳng với đảng Cộng sản, không chấp nhận tỷ lệ dưới 50% trong Quốc hội mà đảng CS có thể sẽ thí ban cho để chỉ làm bù nhìn trang trí cho một nền dân chủ giả hiệu mà thôi, vì chính toàn Dân sẽ quyết định tỷ lệ này qua một cuộc bầu cử và ứng cử tự do, công bằng, minh bạch. Hiện nay hàng trăm cá nhân đã minh danh trực diện đấu tranh cho Dân chủ với nhà cầm quyền cộng sản nguyên chỉ bằng các phương cách ôn hòa ; và nhà cầm quyền cộng sản đã tỏ ra rất lúng túng bế tắc không sao tìm ra cách đối phó hợp tình hợp lý giữa cộng đồng quốc tế. Vì thế lúc nầy chính là lúc hoàn toàn thích hợp, nếu không sẽ quá muộn, để Quý Đảng phái Dân chủ cùng nhau công khai trực diện đấu tranh với đảng cộng sản đang càng lúc càng lún sâu vào khủng hoảng không lối thoát. 3- Kính mời các đảng viên cộng sản phản tỉnh hãy hành động quyết liệt là tách rời ngay lập tức thực thể chính trị đã phản bội lý tưởng của mình, đã lợi dụng công sức xương máu của mình, đã gần một thế kỷ không chỉ mắc phải sai lầm khiếm khuyết mà là đã phạm tội ác có hệ thống và tổ chức, như Nghị quyết 1481 của Nghị viện Hội đồng Âu châu lên án ngày 25-01-2006 vừa rồi. Đó là cách thức duy nhất và tốt nhất để Quý vị tiếp tục con đường yêu Nước, phục vụ Đồng bào, lấy lại thanh danh của mình trước Nhân dân và lịch sử. 4- Kính mời Đồng bào toàn quốc hãy bảo vệ, hỗ trợ và gia nhập các đảng tân lập phi cộng sản. Làm thế là chúng ta tự giải thoát mình khỏi ách độc tài đã đè đầu đè cổ Dân ta từ hơn 60 năm qua, là thực thi các quyền dân sự và chính trị cơ bản của mình hầu tạo điều kiện cho Đất nước phát triển như mọi Nước có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. 5- Yêu cầu 2 lực lượng Quân đội và Công an cảnh sát hãy ý thức rằng tự bản chất mình là 2 thực thể phục vụ Nhân dân và công ích, luôn đứng bên ngoài mọi tranh chấp đảng phái, chứ không phải là công cụ của riêng đảng Cộng sản, để đảng tiếp tục sai khiến mà đàn áp Nhân dân đang đòi thực thi quyền đa nguyên chính trị và các quyền chính đáng khác đi kèm. 6- Kính xin các nhà trí thức và các bậc tu hành vốn hiểu hơn ai hết về tai họa của độc đảng độc tài và thiện ích của đa nguyên dân chủ, hãy “hết sức quan tâm đến việc giáo dục cả về công dân cả về chính trị mà ngày nay rất cần thiết cho mọi người, nhất là cho giới trẻ”, hãy dùng quyền lực và khả năng tinh thần của mình để hướng dẫn, hỗ trợ, bênh vực những Công dân dấn thân làm “chính trị, một nghệ thuật khó khăn nhưng đồng thời rất cao cả” (Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ, số 75). 7- Kính xin Đồng bào hải ngoại và các Chính phủ, Tổ chức Quốc tế hãy hỗ trợ bằng mọi cách thức, phương tiện để các đảng tại Việt Nam được thành hình và hoạt động, hầu Nhân dân Việt Nam cũng được hưởng bầu khí tự do chính trị như ở những miền đất dân chủ của Quý vị. Điều này quan trọng và cần thiết hơn việc đổ tiền của qua kiều hối và ngoại viện cho một chính quyền độc đảng vốn sẽ tuỳ tiện sử dụng những ngân khoản này hầu duy trì quyền lực, gia tăng quyền lợi và để lại những món nợ quốc tế ngày càng đè nặng lên Nhân dân Việt Nam như hiện trạng cho thấy. Chúng tôi nguyện xin Ơn Trên, qua lời chuyển cầu của các Bậc Tiền nhân vốn từng dạy dỗ con cháu Lạc Hồng tinh thần bao dung hòa hợp, chúc lành cho toàn thể Dân Việt trong công cuộc bẻ gãy ách độc đảng độc tài và xây dựng nền chính trị đa đảng đa nguyên là giải pháp cứu nguy Dân tộc duy nhất thích hợp hiện nay. Kêu gọi từ Việt Nam ngày 06-4-2006 1. Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế 2. Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, Sài Gòn 3. Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn 4. Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội 5. Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế 6. Gs Trần Khuê, Sài Gòn 7. Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế 8. Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội 9. Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế 10. Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp 11. Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế 12. Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long 13. TT Thích Không Tánh, Sài Gòn 14. Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội 15. Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế 16. Cựu Sĩ quan Trần Dũng Tiến, Hà Nội 17. Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế 18. Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội 19. Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế 20. Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội 21. Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế 22. Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn 23. Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn 24. Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn 25. Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn 26. Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn 27. Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế 28. Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội 29. Lm Đa Minh Phan Phước, Huế 30. Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn 31. Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế 32. Vũ Thuý Hà, Hà Nội 33. Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế 34. Bùi Kim Ngân, Hà Nội 35. Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế 36. Bs Nguyễn Xuân An, Huế 37. Gv Đặng Hoài Anh, Huế 38. Gv Đặng Văn Anh, Huế 39. Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang 40. Gs Nguyễn Kim Anh, Huế 41. Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng 42. Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu 43. Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế 44. Gv Lê Cẩn, Huế 45. Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ 46. Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi 47. Ths Đặng Quốc Cường, Huế 48. Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết 49. Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng 50. Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi 51. Gv Hồ Anh Dũng, Huế 52. Gs Trương Quang Dũng, Huế 53. Bs Hà Xuân Dương, Huế 54. Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết 55. Bs. Hồ Đông, Vĩnh Long 56. Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng 57. Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ 58. Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế 59. Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế 60. Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng 61. Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu 62. Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu 63. Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng 64. Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế 65. Gv Lê Lệ Hằng, Huế 66. Gs Đặng Minh Hảo, Huế 67. Nv Trần Hảo, Vũng Tàu 68. Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang 69. Gv Văn Đình Hoàng, Huế 70. Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế 71. Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn 72. Gv Phan Ngọc Huy, Huế 73. Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế 74. Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế 75. Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng 76. Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng 77. PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế 78. Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế 79. Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế 80. Nv Bùi Lăng, Phan Thiết 81. Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn 82. Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng 83. Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng 84. Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng 85. Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế 86. Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn 87. Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn 88. Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ 89. Gv Phan Văn Mậu, Huế 90. Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ 91. Gv Ma Văn Minh, Huế 92. Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn 93. Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng 94. Ths Đặng Hoài Ngân, Huế 95. Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng 96. Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn 97. Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ 98. Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long 99. Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang 100. Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng 101. Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng 102. Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng 103. Bs. Tạ Minh Tâm, Cần Thơ 104. Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế 105. Gv Văn Bá Thành, Huế 106. Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng 107. Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn 108. Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết 109. Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế 110. Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng 111. Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn 112. Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang 113. Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi 114. G/v Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ 115. Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng 116. Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn

 

Địa chỉ : His Majesty the King of Thailand Royal Palace Bangkok Thailand C/o Royal Thai Embassy Mailto: Rtecanberra@mserv.mfa.go.th. Cc: Royal Thai Consulate-General Sydney Mailto: Thaicon-sydney@diplomats.com. Secretary of State Department of State Washington DC 20520 USA Mailto: Secretary@state.gov. American Citizen Services Bangkok Acsbkk@state.gov. # # # # # # # Mẫu Ðơn Gởi Chính Phủ Thai Lan The Vietnamese-American Communities in the United States and all over the world are gravely concerned by the decision from the Thai Government to extradite Mr. Ly Tong, an American citizen to Vietnam, where he had left as a political refugee. We call upon you to intervene for the immediate release of Mr. Ly Tong and transfer him back to the United States. Since November 10, 2000, Ly Tong, a Vietnamese-American rented an air plan to fly from Thailand to Saigon, and disseminated some anti-communist fliers . A sentence of 7 years and 4 months imprisonment had been imposed on Ly Tong by Thailand, and his term only remains to be until May 17, 2006. In July 2005, Uong chu Luu, Socialist Republic of Vietnam’s Minister of Justice visited Thailand where he signed an extradition treaty with Thaniland, and asked Thailand to extradite Ly Tong to Vietnam. 1 – Though, Thailand is not a signatory to the United Nations Refugee Convention, but the principle of non-refoulement, is binding on all states as international customary law. No state may return an individual to a country where he or she might be persecuted and unfairly sentenced. 2 – The “crimes” that Mr. Ly Tong committed were based on his political believe, and his duties as a soldier that he had learned from those years of training in the Republic of Vietnam Air Force. We believe, Mr. Ly Tong’s crime is politically motivated, and should not fall within the bounds of the extradition agreement between Thailand and Vietnam. Therefore, Thailand should not allow the extradition of Mr. Ly Tong. 3 - The “crimes” that Mr. Ly Tong committed, happened on November 2000 prior to the extradition treaty between Thailand and Vietnam that Uong chu Luu signed with Thailand in July 2005. Therefore, there was no extradition treaty between Thailand and Vietnams at the time Ly Tong’s crime occurred. 4 – We also call upon you to consider Mr. Ly Tong age, and health. Mr. Ly Tong is now a sixty years old man, who had spent years of his life in Vietnam’s forced labor camp and seven years in Thailand’s prison; and now he is going on in hunger strike in protest of his extradition to Vietnam. Thank you very much for your attention and consideration, Sincerely Yours, Ký Tên Chính Phủ Thai Prime Minister Pol. Lt. Col. Thaksin Shinawatra thaksin@thaigov.go.th.. Deputy Prime Minister Mr. Somkid Jatusripitak Somkid@thaigov.go.th.. Minister Attached to the Prime Minister's Office Mr.Suranand Vejjajiva Suranand@thaigov.go.th.. Minister of Defence Gen.Thammarak Isarangura Na Ayutthaya Thammarak@thaigov.go.th.. Minister of Finance Mr.Thanong Bidaya Thanong@thaigov.go.th.. Deputy Minister of Finance Mr. Varathep Ratanakorn Varathep@thaigov.go.th.. Minister of Foreign Affairs Mr.Kantathi Suphamongkhon Kantathi@thaigov.go.th.. Minister of Tourism and Sports Mr. Pracha Maleenont Pracha@thaigov.go.th.. Minister of Social Development and Human Security Mr. Watana Muangsook Watana@thaigov.go.th.. Minister of Information and Communication Technology Mr. Sora-at Klinpratoom Sora-at@thaigov.go.th.. Minister of Commerce Mr. Somkid Jatusripitak Somkid@thaigov.go.th.. Deputy Minister of Commerce Mr.Preecha Laohapongchana Preecha@thaigov.go.th.. Minister of Interior ACM.Kongsak Wanthana Kongsak@thaigov.go.th.. Deputy Minister of Interior Mr.Sermsak pongpanit Sermsak@thaigov.go.th.. Minister of Justice Pol.Gen. Chitchai Wannasathit Chitchai@thaigov.go.th.. Minister of Culture Mrs.Uraiwan Thienthong Uraiwan@thaigov.go.th.. Minister of Education Mr. Chaturon Chaisang Chaturon@thaigov.go.th.. Deputy Minister of Education Mr.Rung Kaewdaeng Rung@thaigov.go.th..

 

Có lẽ ít nhiều trong chúng ta có lúc nào đó hy vọng sẽ có một”Gandhi cho VN”, một vị lãnh tụ có thể đưa ra lời hiệu triệu kêu gọi toàn dân đứng lên đòi tự do, nhân quyền và dân chủ tại VN. Có lẽ đó là một trong những nguyện vọng chính đáng của chúng ta. Để xem nguyện vọng đó có thể thực hiện được không, chúng ta thử nhìn vào bối cảnh của hai đất nước: Ấn Độ trong thời kỳ đô hộ của người Anh và Việt Nam ngày nay dưới chế độ cs. So sánh hai bối cảnh, sẽ có những điểm tương đồng và dị biệt như sau: 1. Những điểm tương đồng: a) Cả hai đều không có độc lập và chủ quyền. Ấn Độ là thuộc địa của Anh. VN cộng sản thực chất chỉ là tôi mọi cho quốc tế cs. CsVN hết lệ thuộc vào Nga lại nô lệ cho Tàu. b) Ấn độ có xung đột tôn giáo: Ấn Độ Giáo và Hồi Giáo. VN trước 1975 đã bị việt cộng giựt dây, gây mâu thuẫn và xung đột giữa Phật Giáo và Công Giáo. Hiện tại, csVN vẫn tìm cách gây chia rẽ và lũng đoạn hàng ngũ tôn giáo để dễ bề thống tri. c) Ấn Độ đặc biệt có kỳ thị giữa các đẳng cấp và giai cấp. VN có khác biệt về ý thức hệ và nhân sinh quan giữa hai miền Nam Bắc. Hơn nữa VN hiện tại có hai giai cấp rõ rệt: giai cấp thống trị là đảng csVN, và giai cấp bị trị là giai cấp công nông. 2. Những điểm dị biệt: a) Trong thời kỳ Anh thuộc, Ấn Độ có thiếu tựï do nhưng không mất hoàn toàn tự do như tại VN. Ấn Độ vẫn có những tờ báo, chương trình phát thanh, mặc dù có sự kiểm soát ngầm của người Anh, nhưng vẫn do người Ấn chủ trương và hoạt động. Người Ấn có quyền tự do lập hội, có quyền đi lại, có quyền đi du học để phát triển tài năng, cũng như có quyền chọn lựa đi làm ăn phương xa. Trái lại, csVN đã tước đoạt tất cả các quyền tự do căn bản để sống và làm người tại VN. b) CsVN chủ trương bần cùng hóa nhân dân bằng cách tước đoạt quyền tư hữu của con người. Ấn độ vẫn có tự do kinh doanh và thương mại trong khuôn khổ của pháp luật. CsVN chủ trương chính sách ngu dân để dễ cai trị trong khi Ấn Độ có điều kiện phát triển giáo dục. c) Dù là thuộc địa, người Anh vẫn áp dụng luật pháp của Anh Quốc, mặc dù trong giới hạn, trên các thuộc địa mình. Các nhà đấu tranh cho Ấn Độ đã dựa vào luật để tranh đấu cho những quyền lợi của dân bản xứ. Còn tại VNcs, chỉ có luật rừng, nghĩa là không có luật gì cả. Chỉ có luật bảo vệ chế độ độc tài cs là trên hết. Nhìn lại bối cảnh của hai đất nước, liệu chúng ta có thể tìm thấy một Gandhi cho VN hay không? Chúng ta cần nhìn đến hai điểm sau đây: I. Trước hết chúng ta cần khẳng định rằng không thể nào tìm gặp một Gandhi tại hải ngoại bởi vì hải ngoại chỉ có bỗn phận hổ trợ về mọi mặt cho đồng bào quốc nội mà thôi. Lực lượng nòng cốt và tiên quyết để quyết liệt với chế độ csVN chính là quốc nội. Chỉ những ai đang sống và đồng hành đấu tranh với đồng bào trong nước, ngay giữa lòng dân tộc, mới đủ tư thế và cươngvị trở thành một Gandhi đưa ra lời hiệu triệu. Thánh Gandhi, nếu không trở về nước, có lẽ nước Ấn không bao giờ có một Gandhi. Sau khi tốt nghiệp luật khoa tại Anh Quốc, Gandhi trở về Ấn hành nghề luật sư nhưng không thành công. Được giới thiệu, ông qua Nam Phi biện hộ cho một công ty người Ấn. Vụ cãi hoàn toàn mang tính cách thương mại và vụ cãi đã thành công. Trước khi ông trở về nước, tình cờ khi ông ghé qua Natal, một thành phố lớn của Nam Phi, tại đây ông đã giúp cộng đồng người Ấn chống lại dự luật tước quyền bầu cử của người Ấn tại Natal. Thừa thắng, ông giúp họ chống lại dự luật đánh thuế cao những người lao động Ấn Độ đến làm việc tại Nam Phi theo khế ước. Những vụ kiện pháp luật này giúp ông ý thức hơn về quyền độc lâp và tự trị của dân Ấn. Nếu Gandhi, vì sự thành công tại Nam Phi, đưa gia đình qua và lập nghiệp tại Nam Phi, có lẽ ông sẽ không bao giờ trở thành một “Gandhi” cho dân tộc Ấn. Chỉ khi ông về nước, cùng đồng hành đấu tranh với dân tộc Ấn, một Gandhi, một lãnh tụ, một vị lãnh đạo tinh thần, một người cha chung đã đến với dân tộc Ấn. Một Gandhi chỉ có thể tìm thấy và gầy dựng tại VN mà thôi. Nếu nhìn vào hoàn cảnh hiện tại tại VN, chúng ta có thể nói rằng khó có thể tìm thấy một Gandhi bởi vì nhiều lý do phát xuất từ sự kiểm soát chặt chẽ cộng với sự đàn áp, trù dập và vu khống có hệ thống của chế độ công an trị tại VN. Một trong hai vị, Hòa Thượng Thích Quảng Độ và Hòa Thượng Thích Huyền Quang có khả năng và tư thế để trở thành một Gandhi cho VN. Tiếc rằng, csVN đã dùng mọi thủ đoạn để phân tán Giáo Hội Phật Giáo VN nói chung, hơn nữa họ còn trù dập và cô lập các ngài không cho các ngài cơ hội quy tụ sức mạnh toàn dân. Đạo Trưởng Lê Quang Liêm có thừa uy dũng để trở nên một Gandhi cho VN. Tiếc rằng vì tính cách địa phương của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo nên ảnh hưởng không được lớn lao. Tương tự như thế, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang khó lòng vượt lên trên những giới hạn của Giáo Hội của ông. Một trong những LM Chân Tín, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi, và Nguyễn Hữu Giải, có thừa can đảm và dũng lực để trở thành một Gandhi. Tiếc thay, các LM này lại lệ thuộc vào Giám Mục bản quyền, và trên hết là Hội Đồng Giám Mục VN (HĐGMVN). Trong giai đoạn hiện tại, HĐGMVN, vói cơ cấu tổ chức của Giáo Hội Công Giáo, kèm theo sự liên đới với cộng đồng quốc tế, là tiếng nói có sức mạnh hơn cả. Chỉ cần một vị Giám Mục, đại diện cho HĐGM, mang tinh thần của cố TGM Nguyễn Kim Điền, nói lên tiếng nói chung cho toàn Giáo Hội Công Giáo VN, vị này sẽ là một Gandhi cho VN. Tiếc thay csVN đã tìm cách lũng đoạn và chia rẽ hàng ngũ Giám Mục. Vì thế niềm hy vọng nơi HĐGMVN có lẽ không thành tựu. II. Nếu không tìm được một Gandhi cho VN, liệu chúng ta có thể tìm thấy một Jerzy cho VN hay không? Vậy Jerzy là ai? Vào tháng 08/1980, bất chấp sự phản đối và áp lực từ phía chính quyền cs Ba Lan, Công Đoàn Đoàn Kết (CĐĐK) ra đời, đánh dấu một thắng lợi lớn lao của giai cấp công nhân, và là một bước ngoặc lịch sử trong công cuộc đấu tranh cho tự do và nhân quyền tại Ba lan. Cha Jerzy Popieluszko đồng ý làm tuyên úy cho CĐĐK. Sự chọn lựa này là một chọn lựa định mệnh bởi vì từ nay cha trở thành vị lãnh đạo tinh thần cho công đoàn, một người bạn kết nghĩa của anh chị em công nhân, một vị linh mục cho toàn dân Ba Lan,và là một cái gai cần phải nhổ đi đối với chính quyền cs. Vì CĐĐK trở nên một thách đố lớn cho cs Ba Lan và cs Nga nên cuối năm 1981 chế độ cs Ba Lan công bố “tình trạng chiến tranh” khiến các lãnh tụ công đoàn phải rút vào bóng tối để tránh khủng bố của lực lượng công an mật vụ. Bất chấp sự hăm dọa và lệnh thiết quân luật của chế độ, cha Jerzy vẫn tìm cách đi lại để ủy lạo và nâng đỡ các công nhân và gia đình của họ. Chính cha đã chạy ngược xuôi tìm nguồn tài trợ để có thể giúp đỡ những gia đình đang túng quẫn, đặc biệt những công nhân tham gia công đoàn đang bị bách hại. Cha lo phân phát quần áo, chia sẻ thực phẩm và thuốc men cho mọi người, trong khi chính cha, sức khỏe gần như kiệt quệ và quần áo cũng không được lành lặn. Lech Valesa, chủ tịch của CĐĐK đã phải thốt lên: “Quả thực cha đã quên bản thân mình.” Hằng tháng cha Jerzy dâng một Thánh Lễ đặc biệt: “Thánh Lễ Cầu Cho Quê Hương.” Dần dần, Thánh Lễ Cầu Cho Quê Hương đã quy tụ hàng chục nghìn người tham dự khiến công an mật vụ tìm cách ngăn cản và làm khó dễ. Mặc kệ, cha vẫn hiên ngang nhắc lại lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong dịp Ngài viếng thăm Ba Lan: “Đừng sợ, hãy kiên vững cho đức tin và chân lý.” Cha luôn nhắc bảo mọi người rằng hãy thắng vượt sợ hải, bởi vì chỉ có vượt sợ hãi mới chiến thắng sự áp bức. Hăm dọa không có kết quả, cs Ba Lan đã tìm cách sát hại ngài. Một lần một quả bom đã phát nổ trong căn phòng nơi cha thường chuẩn bị cho Thánh lễ buổi sáng. Hôm đó, vì bị bệnh nên cha thoát chết. Lần khác mật vụ dàn xếp một tai nạn giao thông để thủ tiêu cha, lần này, nhờ ơn trên cha lại thoát hiểm. Không sợ hãi cha tuyên bố: “Là linh mục thì phải theo đuổi con đường công chính cho đến cùng.” Chính sự hy sinh cao cả, sự can đảm phi thường và sự dấn thân khôn lường của cha đã mang lại niềm hy vọng cho mọi người, và niềm tin vào ngày mai cho quê hương Ba Lan. Và điều tệ hại đã xảy đến cho cha. Ngày 19-10-1984, cha đã bị mật vụ bắt cóc và thảm sát. Phải chăng “viên đá người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường?” Cái chết của cha, tưởng chừng như một thất bại, đã trở thành một biểu tượng của chiến thắng. Khi còn sống cha đã không hoàn thành mục đích, nhưng chết đi cha đã mang lại sự thành công vượt bực. Cái chết của cha đã mang lại sức mạnh và niềm tin cho công nhân và cho dân tộc Ba Lan. Cha gục xuống nhưng toàn quốc đứng lên đòi hỏi công lý và tự do. Cha ra đi nhưng để lại một di sản đồ sộ của ý chí, sự đoàn kết và một tinh thần bất diệt. Trong Thánh Lễ an táng, Lech Valesa, chủ tịch CĐĐK tuyên bố: “Công Đoàn Đoàn Kết sống, bởi vì chính cha Jerzy đã cống hiến đời cha cho dân tộc Ba Lan và cho Công Đoàn.” Từ đó, cũng từ ngôi mộ đầy uy linh của cha, niềm tin đã biến thành sức mạnh. CĐĐK càng thêm vững mạnh dẫn tới sự sụp đổ của chế độ cs Ba Lan. Nếu không thể tìm thấy một Gandhi cho VN, chúng ta có thể tìm thấy, không những một mà là nhiều Jerzy cho VN. Jerzy ở đây không chỉ đơn thuần là một linh mục, mà là hình ảnh của những ai yêu chuộng tự do, nhân phẩm, quan tâm đến đời sống giai cấp lao động, và đấu tranh cho công bằng, quyền sống và quyền làm người của đồng bào. Từ định nghĩa đó, Việt Nam không thiếu những Jerzy. Gần đây, thế giới nghiêng mình trước sự can đảm dấn thân cho tự do và công bằng của 22 nhà đấu tranh cho dân chủ khi họ ký tên vào Lời Kêu Gọi ủng hộ phong trào đình công tại VN. Đó là LM Nguyễn Cao Lộc, LM Chân Tín, LM Hồ Văn Quý, LM Nguyễn Văn Hội, LM Nguyễn Hữu Giải, LM Hoàng Cẩn, LM Lê Văn Nghiêm, LM Nguyễn Văn Lý, LM Phan Phước, LM Trần Văn Quý, LM Phan Văn Lợi, Đạo Trưởng Lê Quang Liêm, GS Hoành Minh Chính, GS Trần Khuê, Cựu Đại Tá Phạm Quế Dương, MS Nguyễn Hồng Quang, Tu Sĩ Lê Văn Sách, Nhà Văn Hoàng Tiến, Nguyễn Khắc Toàn, GS Nguyễn Chính Kết, KS Đỗ Nam Hải. Phải, họ chính là những Jerzy cho công nhân và cho VN. Hòa Thượng Thích Quảng Độ, HT Thích Huyền Quang, mặc dù không ký vào Lời Kêu Gọi, nhưng qua sự dấn thân đấu tranh cho dân chủ và tự do, các ngài nghiễm nhiên đã là những Jerzy của VN. Các công nhân Nguyễn tấn Hoành, Huỳnh Ngọc Cảnh, Nguyễn Tấn Dung, Dương Thái Phong, Huỳnh Tiến, Vũ Hà, Nguyễn Thị Tuyết, Hoàng Anh Tuấn, những người tranh đấu cho quyền sống của anh chị em công nhân, đều có tiềm năng để trở thành những Jerzy cho công nhân. Đã có những Jerzy và những tiềm năng sẽ trở thành Jerzy, tất nhiên phải có một công đoàn. Theo nhận định của tôi, cần thành lập một Công Đoàn (tương tự CĐĐK Ba Lan) hay một Tổng Công Đoàn cho toàn công nhân mà thôi, bởi vì nhiều công đoàn riêng biệt sẽ bị phân tán sức mạnh và tạo điều kiện cho cs cài người vào lũng đoạn và phá hoại. Một công đoàn độc lập không dễ gì thành lập trong một chế độ độc tài cs. Phải đấu tranh mới thành hình được, đó là quy luật sống còn trong chế độ độc tài cs. CĐĐK Ba Lan với sự đấu tranh bền bĩ và sự quyết tâm cao độ của ban lãnh đạo và công nhân mới thành hình được. Như trong bài viết trước đây, Một Cuộc Tổng Đình Công Toàn Diện, tôi đã phân tích về những thuận lợi cho việc thành lâp một công đoàn tại VN: 1. Chúng ta có thể tự thành lập một công đoàn bởi vì chúng ta đã và đang có một sức mạnh: sức mạnh đình công. Đó là sức mạnh của giai cấp bị trị và chế độ cs không thể nào tiêu diệt được. 2. Hiện tình thế giới và tại VN đã thay đổi nhiều rồi. Bản chất chế độ độc tài csVN vẫn còn đó nhưng chính sách kinh tế đổi mới của chính họ đã gần như vô hiệu hóa “bức màn sắt” của chế độ cs. Sự đầu tư của các công ty ngoại quốc, đặc biệt các hãng thương mại của Hoa Kỳ sắp sửa đầu tư vào VN, sự hiện diện của ngoại quốc, các nhà báo, các cơ quan truyền thông, các cơ quan nhân quyền sẽ hậu thuẫn cho chúng ta nếu chúng ta quyết tâm thành lập một công đoàn. Trước kia, phía sau “bức màn sắt”, cs Nga, Tàu và VN đã thảm sát hàng triệu triệu công nông để ngăn ngừa một cuộc tổng đình công toàn diện và các cuộc nổi dậy khác hầu bảo vệ chế độ độc tài. Ngày nay, điều này khó có thể thực hiện bởi vì tình hình đã thay đổi như chúng ta vừa kể trên. 3. Sự ủng hộ quyết liệt của đồng bào hải ngoại. Dĩ nhiên csVN sẽ không dễ dàng cho thành lập một công đoàn tự do không cs tại VN. Họ sẽ dùng mọi biện pháp và thủ đoạn gian manh nhất để triệt tiêu ý chí đấu tranh của công nhân. Vì thế, người Việt hải ngoại có bổn phận gắn liền với mọi hình thức sinh hoạt của một công đoàn không cs bên VN. Có vậy công đoàn này mới có thể đứng vững và đương đầu với csVN. Đây là giai đoạn lịch sử rất quan trọng liên hệ tới vận mệnh của cả một dân tộc. Xin đừng bỏ qua cơ hội lịch sử này. Xin cùng nhau lên tiếng và ủng hộ quyết liệt phong trào đình công tại VN. Trong giai đoạn này, chúng ta cần chú ý tới hai điểm hệ trọng: A. Tại Quốc Nội: Ngoài việc lên tiếng ủng hộ, cần phải đi đến thành lập một công đoàn độc lập không cs cho công nhân. Chỉ có một công đoàn mới có thể bảo vệ cách hữu hiệu quyền sống và quyền làm việc của công nhân. Và chỉ có một công đoàn có sức mạnh và thực lực mới có thể dẫn đến sự chiến thắng trường tồn cho công nhân và cả một dân tộc. B. Tại Hải Ngoại: Cần phải chú trọng tới những hoạt động cụ thể để hổ trợ quốc nội: a) Thành lập một ủy ban pháp lý liên hệ với công đồng quốc tế, đặc biệt với các nghiệp đoàn công nhân trên thế giới, hầu bảo vệ các công nhân và phong trào đình công tại VN. b) Thành lập một ban vận động gây quỹ để có thể hổ trợ đắc lực về tài chánh và tinh thần cho những ai vì đình công mà bị làm khó dễ tại VN. Chúng ta đã và đang có những người con của Mẹ Việt Nam sẵn sàng trở nên những Jerzy cho công nhân và cho VN. Nếu hải ngoại thực hiện được những điểm căn bản nêu trên, tôi hy vọng các công nhân và các nhà đấu tranh cho dân chủ tại VN sẽ vững tâm hơn để tiếp tục tranh đấu cho sự thành hình một công đoàn. THAY LỜI KẾT: Đã lâu lắm rồi quê hương ngụp lặn trong gông cùm, lầm than và tăm tối. Đã lâu lắm rồi âm thanh của tự do và hy vọng không còn đọng lại trên môi miệng của người dân Việt. Phải chăng làn sóng đình công tại VN đã thực sự trở nên tiếng chuông tự do, tiếng chuông vang lên từ những nguyện ước sâu thẳm và những hoài bão khôn cùng của mỗi người trong chúng ta? Một đại diện công nhân trong Thánh Lễ an táng cha Jerzy đã nói thay cho lời tiễn đưa: “Cha Jerzy, cha có nghe tiếng chuông tự do vang xa không?” Phải, tiếng chuông tự do đó đã vang xa, len lõi vào mọi hang cùng ngõ hẻm, thấm nhập vào tận tâm khảm của mọi người dân Ba Lan, để rồi bùng lên một sức mạnh vô song lật đổ chế độ bạo tàn. Xin mượn lời nói đó để nói với tất cả anh chị em công nhân tại VN rằng, tiếng chuông tự do anh chị em đã rung lên sẽ tiếp tục vang vọng khắp mọi nẻo đường VN, sẽ thấm nhập vào tận tâm hồn của mọi dân Việt, sẽ báo hiệu một bình minh tươi đẹp cho Quê Hương, bởi vì tiếng chuông đó đã thực sự mang lại niềm tin và hy vọng cho một dân tộc.

 

Nhà dân chủ Lê Chí Quang Trước thềm đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam, tôi với tư cách là một công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng muốn có vài ý kiến đóng góp xây dựng cho văn kiện Đại hội Đảng, nhưng nghĩ rồi lại thôi vì sợ vạ miệng như trước đây. Nhưng trước sự chuyển biến và vận động không ngừng của thế giới trong giai đoạn hiện nay. Dân chủ và hội nhập là xu thế tất yếu của lịch sử, và chúng ta dù muốn hay không cũng không thể đứng ngoài dòng chảy của thời đại. Tôi cũng xin có vài dòng suy nghĩ, nhưng không phải về văn kiện đại hội mà về Dân chủ và tương lai của Dân tộc trong giai đoạn sắp tới, mong tới được tay các quý vị, để các vị cùng suy ngẫm. 1. Dân chủ tại Việt Nam: Vào dịp cuối năm 2001 trong 1 buổi gặp với ông Hoàng Minh Chính và ông Trần Khuê, các ông ấy đều khẳng định chỉ vài năm nữa là VN sẽ có DC. Điều đó không khỏi làm tôi ngạc nhiên. Cũng vào dịp tết năm đó, khi trả lời phỏng vấn đài Little Radio, phóng viên có hỏi tôi năm 2002 VN sẽ có DC không. Tôi khẳng định rằng: "năm 2002 sẽ là một năm rất khó khăn cho những người tranh đấu cho DC tại VN". Và điều đó đã đúng. Hàng loạt vụ bắt bớ, rồi tù đày những người DC trong nước đã diễn ra trong năm 2002. Gần đây nhất trong một lần trả lời phỏng vấn RFA tôi cũng nhắc lại rằng "trong tương lai gần VN chưa thể có DC và vấn đề DC tại VN lại phụ thuộc vào DC tại 1 quốc gia khác chứ không phải do những người DC trong nước và do nhân dân VN quyết định". Có người cho rằng tôi bi quan, hoặc có cái nhìn hạn hẹp. Tôi xin khẳng định với họ rằng: "tôi không bao giờ bi quan, trái lại tôi là người rất lạc quan, nhưng tôi có cái nhìn khách quan về thực trạng DC tại VN đang diễn ra, xem xét nó dưới góc độ khác nhau và tất cả các yêu tố ảnh hưởng khác". Trước tiên chúng ta hãy nhìn những người trong nước đang đấu tranh cho DC tại VN nhé: Hầu hết họ là các cán bộ về hưu, tuổi đã ngoài "thất thập cổ la hy" sống chủ yếu bằng lương hưu của nhà nước, hoặc bằng tiền chu cấp của con cái và gia đình. Nhiều người lại mang trong mình những bạo bệnh mà cuộc sống chỉ tính bằng tháng bằng ngày, thì lấy sức đâu mà làm DC. Không tiền bạc, không báo trí để vận động, không tổ chức nào, nghiệp đoàn nào, quân đội nào ủng hộ. Xưa kia những người cầm quân nổi dậy thời phong kiến thường là các hào trưởng, lãnh chúa, tù trưởng có trong tay hàng vạn hộ, nhất hô bá ủng mới làm nên đại cục, chứ trông mong vào mấy ông già ở cái tuổi "gần đất xa trời" đang "chống gậy" đi tìm DC thì làm được điều chi?... Công bằng mà nói, có được phong trào lan rộng trong giới trẻ như hiện nay thì cũng phải kể đến công lao của họ những người đã dũng cảm đi trước, chịu bao thiệt thòi, khổ ải, tù đày để gây dựng phong trào, để Quốc tế va đồng bào Hải ngoại biết mà lên tiếng. So với 20 năm về trước bây giờ DC tại VN bây giờ có khá hơn nhiều cũng phải nhắc đến tên của họ. Cũng nhờ có các Ông như: Thanh Giang, Hoàng Minh Chính, Trần Độ, Hà Sỹ Phu...v. thì mới có được những trí thức trẻ như Hồng Sơn, Vũ Bình, Phan Thế Hải, Nam Phương... tiếp bước. Nhưng vài bài viết tích cực của họ dưới con mắt nhà cầm quyền cũng chỉ làm thay đổi chút ít chứ chưa thể làm lung lay thể chế chính trị. Nhưng gần đây nhiều người DC trong nước lại mắc phải những căn bệnh cực kỳ nguy hiểm đó là bệnh "háo danh"... Chỉ vì tranh nhau cái danh ảo.... "lãnh tụ"... của phong trào DC mà họ sẵn sẵn sàng nói xấu, bôi nhọ, vụ vạ tố giác nhau. Nói xấu nhau chưa đủ. Họ còn mang cả tông chi họ hàng gia đình của nhau ra để nói xấu. Rồi không ít kẻ xuất thân từ lưu manh, mượn danh "làm dân chủ" để mưu cầu những tư lợi cá nhân bọn đó là một thứ cơ hội chính trị, thứ lưu manh chính trị, gây mất lòng tin và sự nể trọng của đồng bào trong và ngoài nước cùng bạn bè quốc tế. Thử hỏi một khi có quyền lực trong tay, họ có thanh trừng nhau, và rồi lại trở thành độc tài, lại tham nhũng như các thể chế độc tài trong lịch sử không?... Lúc này là lúc cần đoàn kết nhau lại để đứng lên thì lực lượng DC lại chia bè chia phái đấu đá nhau, một số người trẻ vẫn còn trong vòng lao lý làm sao mà nghĩ đến DC... nghĩ mà đau lòng và chua xót cho phong trào DC tại VN hiên nay. Vậy điều gì sẽ mang đến DC cho VN? Chắc có người sẽ hỏi tôi câu đó... hay... đảng CS VN sẽ mang DC đến cho nhân dân VN... Điều đó có thể có và cũng có thể không.... Đúng... khi Đảng đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của Đảng, lợi ích của bản thân các đảng viên. (Nhưng điều này xem ra không tưởng vì "giai cấp thống trị không bao giờ chịu từ bỏ quyền lực của mình" mà quyền lực đó lại mang đến cho họ những bổng lộc vô hạn thì làm sao họ dễ từ bỏ.) Không khi Đảng nghĩ ngược lại. Còn người dân thì sao? Họ có muốn DC không? để trả lời câu hỏi này xin hãy tìm hiểu về tính cách và văn hoá Việt Nam. 2. Tính cách văn hoá, và ước vọng DC của con người Việt Nam Chủ nghĩa CS như căn bệnh cúm gia cầm tồn tại giai dẳng trên mảnh đất Á Châu cũng là nhờ bám rễ vào văn hoá nơi đây. Như chúng ta đã biết. Châu Á chịu ảnh hưởng của văn hoá TQ, nói đến VH TQ là nói đến Nho giáo mà đại diện tiêu biểu là Khổng Tử. Nho giáo dạy cho con người ta chỉ biết phục tùng vua chúa hoặc mở rộng ra là giai cấp thống trị một cách mù quáng. Nho giáo về mặt tích cực cũng có điểm tốt, nó khơi dạy chúng ta tình yêu thương con người với con người, sự tôn trọng giữa người trẻ với người lớn tuổi. Sự trung, hiếu, thảo trong gia đình, tinh thần đoàn kết để chống giặc ngoại xâm. Nhưng trong thời bình lại dạy con người phục tùng vô điều kiện giai cấp thống trị. Vua chúa là thiên tử và thần dân là con cháu của Quân vương. Vua chúa là cha là mẹ có nhiệm vụ lo lắng cho bát cơm manh áo của dân, và khi cần cũng có thể quất roi vào đít dân để dạy bảo dân biết vâng lời. "Quân xử thần tử thần bất tử bất chung..." trong gia đình thì "phụ xử từ vong tử bất vong bất hiếu". Và "hữi khai tất tiên". Châu Á lại là vùng đất của Văn minh nông nghiệp, 70-80% là nông dân. Trong một bầu "khí quyển nông nghiệp" , cộng với sự chi phối của Nho giáo về ý thực hệ, nên tầm suy nghĩ của con người không vượt qua nổi luỹ tre làng. Tất cả những điều đó tạo nên con người Á Châu một thứ chủ nghĩa Duy tín và Duy an. Tín: một cách mù quáng vào các đấng bậc đứng trên mình, coi họ như người "cầm lái vĩ đại" có thể lo lắng cho các "thảo dân". An: Muốn bình an trong cuộc sống, và không muốn có sự đổi thay, hay những bước đột phá, bước ngoặc để tạo đà cho một sự thay đổi lớn trong cuộc sống, kiểu như "chín bỏ làm mười", hay "dĩ hoà vi quý", và "một sự nhịn là chín sự lành." Tất cả những tính cách đó vô hinh chung trở thành vật chủ trung gian dễ cho thứ virut CS sống kí sinh để lan truyền căn bệnh độc tài mà chưa tìm ra thứ Văcxim nào chữa nổi. Mấy chục năm sống dưới thời bao cấp khó khăn, buộc con người "đói đầu gối phải bò", mánh lới, chộp giật, chôm chỉa. Nói tóm lại, người ta phải xoay xở đủ mọi cách để mà kiếm sống. Giai cấp thống trị thì vỡ mộng ảo tưởng xây dựng một thứ chủ nghĩa Quốc tế CS, đành quay về cố thủ tại mảnh đất Á Châu. Từ một chủ nghĩa mang màu sắc Quốc tế, trở thành một thứ tà giáo. "Kiên định" buộc chặt vào ý thức hệ người dân vài nước Á Châu. Để giữ vững quyền lực, và địa vị thống trị, những người Cộng sản buộc phải linh hoạt hơn trong những vấn đề kinh tế, "... vận dụng linh hoạt và sáng tạo chủ nghĩa Marx vào thực tiễn cách mạng....", một cách nói văn hoa cho hành vi "đào mồ chôn chủ nghĩa Marx". Về phương pháp tuyên truyền, những người CS từ chỗ là học trò của Hitle lại trở thành thầy của Hitle. Như chúng ta đã biết, trong tác phẩm "Cuộc chiến đấu của tôi-1929" Hitle đã bàn về phương pháp tuyên truyền gọi là: "nói dối vụ lớn" : Một sự việc cho dù dối trá đến đâu, nhưng được người ta nói đi nói lại nhiền lần, tổ chức các cuộc hội thảo, mit tinh giương cao các biểu ngữ khẩu hiệu. Người nghe mãi rồi cũng quen, cho rằng đó là sự thật. Xưa kia mẹ Tăng Sâm đang ngồi dệt vải. Có người chạy vào bảo Tăng Sâm giết người, bà ta không tin. Một lúc sau người khác lại vào báo Tăng Sâm giết người, bà ta bán tín bán nghi. Người thứ ba vào nói Tăng Sâm giết người, bà ta khăn gói bỏ nhà đi trốn. Mới chỉ có ba lần mà đã làm cho người ta tin, thì đằng này, hàng trăm phương tiện thông tin đại chúng của chính phủ không ngày nào là không "nói dối vụ cực lớn" nghe đến hành tỷ lần, làm gì mà người dân chả tin. Chúng ta cứ xem những ngày Quốc khánh hay ngày lễ tại các nước Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, hàng nghìn người tay mang khẩu hiệu, cờ quạt, ảnh các lãnh tụ, đi "lệu dệu" trên đường, và họ hô vang các khẩu hiệu như Đảng quang vinh, lãnh tụ vĩ đại, Chủ nghĩa xã hội muôn năm ta cũng đủ thấy rõ. Trông họ tôi thấy họ vừa đáng khinh, vừa lố bịch, vừa đáng tội nghiệp. Đáng khinh về sự ngu dốt, lố bịch về hành vi, và tội nghiệp vì họ bị biến thành công cụ cõng giai cấp thống trị vào cỗi Tư bản mà không hề hay biết gì. Với những tính cách Á Đông cộng với thủ đoạn tuyên truyền khôn khéo thì mấy ai đã hiểu được bản chất đích thực về Chủ nghĩa XH. Và tất cả những cái cộng với những khó khăn của cuộc sống đã tạo nên một thứ chủ nghĩa mới tại các nước CS Á Châu. Chủ nghĩa... Duy láo... Một xã hội bị lưu manh hoá, bê tha hoá, bại hoại hoá về mọi mặt. Tất cả các hành vi xấu xa trong xã hội trước thì giờ đây nó không còn thuộc phạm trù về đạo đức trong xã hội ngày nay. Điều đó có nghĩa rằng người ta không hề xấu hổ về hành vi hay việc làm lưu manh của mình, vị họ coi đó là bình thường. Những kẻ khủng bố Hồi Giáo cực đoan cho rằng hành vi đánh bom tự sát giết hại dân thường vô tội là đúng và chính đáng, thì công dân mấy nước CS tin vào Đảng và Chủ nghĩa XH, không khác nhau là mấy. Nghĩ thật đau xót cho Dân tộc. Vậy thử hỏi Dân có muốn dân chủ không?....! Họ không muốn DC vì họ không biết và không hiểu gì về DC. Ở VN hiện nay, khách quan mà nói 60% dân vẫn tin vào Đảng vào Bác và vào CNXH. Họ coi một vài hành vi xấu của một số Đảng viên bị phát giác chỉ là con sâu bỏ rầu nồi canh (đâu biết rằng cả nồi canh toàn sâu và rác rưởi) chứ còn Đảng vẫn đúng và con đường mà Đảng và Bác đã lựa chọn vẫn là kim chỉ nam dẫn dắt nhân dân đến thiên đường của... địa ngục. Hầu hết những người này là ít học và ở vùng nông thôn nên ít có thông tin. Nhưng trong số này cũng có những kẻ cuồng tín cực đoan một cách vô học. Họ được gọi là Duy tín. 30% dân không còn tin vào Đảng nhưng họ bàng quan trước thực tế cuộc sống, họ chỉ lo làm giàu, lo miếng cơm manh áo và không muốn giây vì sợ vạ lây. Họ là những người sống và làm việc tại các đô thị hoặc là các công chức của nhà nước. Họ tôn thờ chủ nghĩa Duy an. 10% còn lại cũng không tin vào đảng nhưng lợi dụng Đảng như một phương tiện để đạt cho được mục đích cá nhân. Tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc với những người trong số 10% này và xin các vị hãy nghe họ nói: "Thế này là DC quá rồi còn gì... còn muốn dân chủ đến đâu nữa..." và "DC nữa thì loạn..." và "mỗi quốc gia có một cách sống riêng, không thể mang DC của Mỹ sang áp dụng tại VN được..." và "nước nào mà chả có tham nhũng, Mỹ cũng có tham nhũng, Nhật cũng có tham nhũng....vv và vv..." hay "Đảng nhựong đất cho TQ vì nước ta là nước nhỏ, không nhượng cho nó,nó đánh cho, ta cần ổn định để phát triển, để xây dựng đất nước, XD xã hội dân chủ văn minh... ta nhường một bước để tiến... tám bước..." Hết bàn... Còn phải nói về phương pháp nguỵ biện thì Đảng là bậc thầy. Đến đây tôi bắt đầu cảm thấy thương cho... không phải họ mà là con cháu họ. Các cháu sẽ phải suốt đời sống trong nỗi hổ thẹn vì cha ông các cháu đã đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích của Dân tộc. Hay gần đây trong hội nghị Trung ương 13 Tổng bí NĐM lại tuyên bố: "... Thế giới bây giờ phát triển quá nhanh nhiều khi lý luận của chúng ta không theo kịp thời đại,thì vài năm ta phải thay đổi lý luận một lần"... Đúng là một thứ lý luận theo kiểu A Quy. Đấy là những người theo Chủ nghĩa Duy Láo.... Vậy nước ta có thể có DC được không chắc tôi không cần phải trả lời các vị cũng rõ. Cũng có người cho rằng DC sẽ đến từ từ, và thế hệ những người lãnh đạo trẻ trong Đảng sẽ thay đổi cách suy nghĩ. Vậy tôi cũng xin thưa để các vị được rõ. Trẻ thì không thể làm lãnh đạo được và nếu có làm lãnh đạo thì cũng phải qua các nấc thang quyền lực từ thấp đến cao. Cứ qua mỗi nấc thang, con người lại bị lưu manh hoá đi một bậc, và khi lên đến đỉnh thì con người đó đã trở thành "ngợm" thành "hàng lởm" rồi còn gì. Các vị cứ thử nhìn các Đảng viên trẻ tuổi như Lương Quốc Dũng, Mai Thanh Hải, Bùi Tiến Dũng, thì sẽ thấy rõ. Những thế hệ tiền bối có làm điều gì sai trái đi chăng nữa thì họ vẫn còn chút ít lương tâm, bởi vì họ còn thừa hưởng chút xíu sự giáo dục thời phong kiến, nên cấp độ tha hoá của họ chỉ tiến theo cấp số cộng. Còn bây giờ thế hệ trẻ bây giờ được thừa hưởng các gien biến chất của cha ông chúng, lại sống trong một xã hội bị lưu manh hoá, và được đào tạo dưới mái trường XHCN nên mức độ tịêm tiến trong sự tha hoá theo cấp số nhân. Và những cán bộ trẻ như trên được dán một cái mác nghe rất "kêu"... "con người mới XHCN". Liệu có ai trong số các vị mong muốn họ trở thành lãnh tụ để mang đến DC cho chúng ta không. Tôi chợt nghĩ không may những "con người mới" này mà lên làm lãnh tụ của chúng ta thì không biết XH sẽ khủng khiếp đến mức nào. Cũng có người hy vọng rằng XH sẽ tiến dần đến DC vì gần đây một vài vị lãnh đạo Đảng đã từng tuyên bố: "phải lắng nghe và chấp nhận những ý kiến trái ngược", và báo trí trong nước cũng đã từng đăng những ý kiến đó một cách công khai. Nhưng xin thưa đấy là một cách nói có văn hoá để dò xét và kiểm tra sự chung thành của lòng dân, theo kiểu chiến dịch "trăm hoa đua nở" tại TQ. Trong thập niên 60 của thế kỷ trước. Tất cả những người mạnh bạo trong việc đóng góp ý kiến trái ngược này, trước sau cũng bị "săm soi" bị đặt dưới thước ngắm của cơ quan An ninh VN (tôi là một ví dụ điển hình). Gần đây báo chí trong nước có được đăng một số các bài viết có ý kiến trái ngược cũng chỉ là hình thức cho có vẻ DC chứ nó không bao giờ vượt qua được một hành lang chật hẹp của cái gọi là DC XHCN. Chắc các vị vẫn chưa quên những vụ bán độ và cá độ bóng đá của một số cầu thủ trong đội tuyển quốc gia, và một số huấn luyện viên các câu lạc bộ, trong đó điển hình là vụ cá độ của Tổng giám đốc MPU 18 Bùi Tiến Dũng lên đến vài triệu USD. Các báo trí đang được đà tưa tin nóng hổi, thì tại kỳ họp ban Văn hoá tư tưởng TW cuối năm ông PVK lại phát biểu: "Gần tết rồi các đồng chí đưa toàn tin xấu đón năm mới giông cả năm, vả lại nước ngoài nó thấy ta tham nhũng nhiều quá nó không dám đầu tư vào ta nữa... Các đồng chí có tin tốt thì hãy đưa..." . Quả nhiên ngày hôm sau các báo đều "câm họng". Xin thưa đấy là tự do báo chí tại VN. Người VN đã quen và thích nghi với cuộc sống hiện tại, thời bao cấp khó khăn bằng mấy họ vẫn cắn răng mà chịu thì bây giờ cuộc sống có dễ thở hơn đôi chút là họ cảm thấy hài lòng lắm rồi. Chữ Tín, chữ An, chữ Láo, hình thành một phương châm sống "cùng tắc biến, biến tắc thông ". Cái cây sống trong sa mạc đã quen thích nghi với khí hậu khô cằn, ta mang nó về vùng đất màu mỡ chưa chắc nó sống nổi. Con chim sống trong lồng, đã quen với việc mất tự do, đổi lại nó có miếng ăn đầy đủ, nếu thả nó về môi trường thiên nhiên hoang dã, nó sẽ chết. Người VN cũng vậy. Tôi giả sử nếu bây giờ VN có DC, một xã hội kỷ cương và ổn định thì những người Tín, An, Láo có thích nghi được không. Chúng ta nhìn sang các nước Đông Âu, khi các nước này có DC một thế hệ những người sống dưới thời CS bị bỏ đi, vì họ không thể thích nghi được với cuộc sống mới. Vậy làm sao có được DC tại VN?... Câu trả lời thuộc về các vị. Còn một điều hết sức quan trọng là VN nằm trong vùng chịu ảnh hưởng, hay còn gọi là vùng đệm của TQ, và khi TQ chưa thay đổi được thể chế chính trị thì VN chưa thể có sự thay đổi nào dẫn đến DC. 3. Những ảnh hưởng của TQ tại VN Trong chiến lược lâu dài của TQ là xây dựng những vùng đệm hay vùng an toàn quanh TQ, và VN là một trong những khu vực đó. Xin quý vị chớ nhầm lẫn giữa vùng đệm của TQ và vùng "sân sau" của Mỹ. Vùng "sân sau" theo học thuyết của Tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ là James Monroe đề xướng, đến đời tổng thống thứ 16 là Theodore Roosevelt phát triển thành Hệ luận "Chiếc gậy lớn". Học thuyết đó là việc chống sự cam thiệp của các nước Châu Âu thời bấy giờ vào các nước Trung và Nam Mỹ, và cho phép Hoa Kỳ có thể dùng sức mạnh QS đối với các nước trong khu vực nếu ở đó xảy ra những bất ổn về chính trị. Vùng đêm, vùng an toàn mà TQ dựng lên cũng không giống với học thuyết của Stalin. Vùng an toàn của Stalin là các nước thuộc Đông Âu để bảo vệ biên giới phía tây của Liên Xô chống lại Minh ước NATO. Và Liên Xô cũng sẽ can thiệp nếu tại đấy sảy ra bất ổn về chính trị. Như LX đã từng đưa quân vào Hungary 1956, Tiệp 1968. Các vùng an toàn do LX dựng lên đều bị LX chi phối về chính trị. Vùng đệm theo học thuyết của Mao, Đặng, và những thế hệ sau này bước tiếp, là vùng không những chiụ sự chi phối của TQ về chính trị, phụ thuộc về kinh tế, mà mục đích sâu sa hơn là làm các nước này suy yếu để dễ bề thôn tính. Chúng ta hãy quan sát các nước VN, Lào, Cămpuchia, Miến Điện, Bắc Hàn sẽ thấy rõ. Những quốc gia nào có thể dùng quân sự thôn tính được thì TQ làm ngay như chiếm vùng Tân Cương, Tây Tạng, mang quân chiếm Mông Cổ nhưng không thành, Những quốc gia nào mà không theo họ, thì họ gây hấn tại biên giới như với Pakittan, Â'n Độ, Liên Xô trong những thập niên 60. Gần đây TQ còn ủng hộ phiến quân theo chủ nghĩa Mao tại Nêpan, và Du kích CS tại Philipin, là không ngoài những mục đích trên. Hãy nghe những tuyên bố của những nhà lãnh đạo TQ sẽ rõ. Tại hội nghị quân uỷ TW tháng 9/1959 Mao tuyên bố: "Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta," Và cuộc họp Bộ CT Ban chấp hành TW đảng CS TQ tháng 8/1965 Mao lại tuyên bố: "Chúng ta phải dành cho được ĐNA, bao gồm miền nam VN, Thái Lan, Miến Điện, Malaixia, Xingapo... Một vùng như ĐNA rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém để lấy...". Ngay kể cả lúc tình hữu nghị keo sơn gắn bó hai nước theo kiểu "môi hở răng lạnh" TQ vẫn có ý đồ xâm lược VN. Ngày 30/3/1973 công an Bắc Việt bắt được 1 tên gián điệp TQ là Lê Xuân Thành tại Quảng Ninh, trong người hắn có mang chỉ thị mật của Quân uỷ TW đảng CS TQ trong đó có ghi rõ: "... Nước ta và nhân dân Việt nam có mối hằn thù dân tộc hàng nghìn năm nay... Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mói có thể buộc họ trong tình trạng hiện nay... Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như Đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta...". Sau chiến dịch biên giới 1950 VN mở được cánh cửa thông sangTQ thì đó cũng là lúc VN nằm trong vòng kiểm toả của Trung Cộng. Mọi đường lối kinh tế, chính trị ngoại giao pháp luật của VN cho đến ngày nay đều học theo cái nhãn hiệu "Made in China". Điều này không cần phải thống kê ra đâu chắc các vị cũng hiểu. Và những nhà lãnh đạo CS VN thì càng phải hiều rõ hơn ai hết. Nhưng trước trào lưu DC trên thế giới lên cao, kéo theo sự sụp đổ của các thể chế độc tài CS tại LX và Đông Âu những người bảo thủ trong Đảng lại càng phải bám vào TQ, họ coi TQ như con bò sữa và bám vào cái "vòi" sữa hòng mong con bò mẹ xuất ra những dòng năng lượng cho họ củng cố quyền lực. Nhưng eo ôi hãy nhìn lại đi TQ không phải là con bò cái đâu... Gần đây một số lưc lượng tiên tiến trong đảng cũng tỏ ra có chút trí khôn khi chơi trò "gián điệp hai mang" bắt tay với Mỹ về kinh tế và hợp tác về QS để làm giàu, chơi với TQ để củng quyền lực. Tôi nghĩ VN hiện nay như cô gái lẳng lơ, ban ngày "hót" diệu "wo ai ni" với TQ đêm về lại ủng oẳng bài "l like your money" với Hoa Kỳ. Còn về phía Hoa Kỳ cũng không muốn làm căng với VN trên hồ sơ nhân quyền vì sợ VN nhảy hẳn vào lòng TQ điều mà Mỹ hề không muốn, nên VN vẫn còn là bài toán chưa có lời giải. Về phần TQ càng phải giữ chặt VN trong tay nếu để mất VN TQ sẽ bị "hồi mã thương". Tóm lại chính quyền CS các nước còn lại tại á Châu, một mặt quay sang đường lối KT kiểu Tư Bản, một mặt thay đổi lý luận theo kiểu A Quy. Và dù phương pháp và mánh lới có "nhuận tràng" đến đâu đi chăng nữa vẫn không che đậy được bản chất "Đảng CS là đội tiên phong... Lãnh đạo Nhà nước và xã hội" . Thế đấy các vị ạ, tương lai DC còn xa vời phải không? Vả lại làm DC không phải là chỉ biết phá, mà còn phải biết xây. Nếu bây giờ VN có DC (tôi cứ giả xử như vậy) sẽ có một khoảng trống quyền lực không được lấp đầy. Rồi những kẻ cơ hội CT, lưu manh CT sẽ nhảy vào xâu xé. Cuối cùng dân vẫn là những nguoi chịu thiệt thòi nhất. Nói như TS Hà Sỹ Phu: "cái nhà có dột vẫn còn là cái nhà, cái nhà mà bị phá đi, phải có cái khác tốt hơn. Nếu không có cái mới lấy đâu chỗ trú mưa". Nhìn vào một số kẻ tự cho mình là DC như hiện nay tôi thấy "buồn nôn" quá, thà rằng đừng làm DC còn hơn. Nói như vậy không phải tôi không muốn DC những cứ nhìn tình hình các vị sẽ thấy rõ. Và nếu những người lãnh đạo bảo thủ trong Đảng đọc đến đây chắc hẳn sẽ mừng vì họ nghĩ rằng còn duy trì được quyền lực dài lâu. Nhưng xin các vị chớ mơ vội vì.... Ngày Tận Thế Đang Đến Gần. 4. Ngày tận thế của CS Trung Quốc Trung Quốc hiện nay là nước có GDP đứng hàng thứ 4 trên thếgiới.Cứ nhìn vào sự phát triển KT, QS của TQ mọi người sẽ cho rằng TQ sắp thống trị cả Thế giới, nhưng tôi lại nghĩ ngược lại. Tôi cho rằng sự phát triển hiện nay tại TQ là rất "vô học" (vô học là cách gọi của tác giả), và đang tiềm ẩn một nguy cơ khủng hoảng cao trong XH. Thật vậy: Mức tăng trưởng KT hàng năm của TQ là 9% nhưng chủ yếu là do vốn của các công ty nước ngoài không phải do các công ty trong nước. Mà việc tăng trưởng lại do xuất khẩu không phải do tiêu dùng nội địa. TQ có lợi thế xuất khẩu vì đồng Nhân dân tệ bị nhà nước khống chế giá trị thấp hơn giá trị thực của nó so từ 15%-30%, và vì TQ trả lương cho người lao động rất thấp, nên hàng hoá của TQ mới có lợi thế trên thị trường, Điều gì sảy ra nếu TQ bị buộc phải nâng đông Nhân dân tệ lên đúng giá trị thực của nó. Hàng hoá TQ sẽ không bán được trên thị trường vì nó cùng chủng loại với hàng hoá các nước trong khu vực ĐNA, đều là những thứ có hàm lượng trí tuệ không cao như lắp ráp linh kiện và dệt may. Khi đó hàng TQ không còn lợi thế về giá người ta sẽ đổ đi mua hàng của các nước trong khu vục vì hàng của các nước ĐNA tốt hơn. Hàng triệu lao động TQ sẽ thất nghiệp. Sự phát triển của TQ lại phụ thuộc hoàn toàn vào năng lượng nhập khẩu, điều gì sảy ra khi các nguồn cung cấp đó bị cắt, hoặc bị gián đoạn. TQ thi hành một chính sách cạnh tranh không lành mạnh trong KT như trợ giá cho các hàng hoá xuất khẩu, đều này đã làm các nước nhập khẩu không hài lòng. Trong hai năm 2004-2005 Mỹ và liên minh Châu Âu đã áp dụng mức thuế chống bán phá giá lên các mặt hàng của TQ như: Thuỷ sản, giầy da, vải sợi làm các doanh nghiệp xuất khẩu của TQ lâm vào tình trạng khó cạnh tranh trên thị trường. TQ thiếu các biện pháp bảo vệ so hữu trí tuệ, nạn đánh cắp so hữu trí tuệ, sao chép sản phẩm VH tại TQ đứng hàng đầu thế giới. Nhiều công ty công nghệ cao của Nhật và Mỹ và Châu Âu không tiếp tục đầu tư vào TQ mà chuyển sang các nước khác, vì họ sợ sản phẩm của họ bị TQ ăn cắp hoặc làm nhái. Tăng trưởng KT quá nóng nên không kịp tăng trưởng các cơ sở hạ tầng vật chất và các phúc lợi và an sinh xã hội, nông dân lại không được bảo hiểm y tế cũng như các chế độ hưu bổng. Sự phát triển lại chỉ tập trung tại các vùng phía đông nên tạo khoảng các giữa nông thôn và thành thị, tạo hố sâu ngăn cách trong XH giữa người giầu và người nghèo, giữa người ở phía đông với người tại phía tây. Tỷ lệ chênh lệch hiện nay là 3.1/1, so với 1.8/1 trong thập niên 80. Vì chỉ chú trọng tới xuất khẩu không có các biện pháp kích cầu nên tiêu dùng nội địa tại TQ trong 10 năm qua đã giảm 10% từ 46% năm 1995 đến 36% năm 2005. Cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có nghĩa là không tôn trong quyền sở hữu về đất đai của ND, nhưng do nhu cầu phát triển KT, đất nông nghiệp bị quốc hữu hoá, công nghiệp hoá mà không được đền bù, hoặc đền bù không đáng kể. ND mất ruộng đất bị đẩy ra thành phố tạo một sự quá tải tại các vùng đô thị. Người ND do không có nghề nghiệp gì nên tại các đô thị họ phải làm việc vất vả với đồng lương bèo bọt. Các viên chức chính phủ tại địa phương trắng trợn cướp đất của dân chia cho người trong gia đình, càng tạo sự căm phẫn trong nhân dân. Do áp dung chính sách sinh một con từ năm 1979 nên 1 người trưởng thành ngày nay phải cáng đáng 2 bố mẹ và 4 ông bà tổng cộng là 6 người. Nếu anh ta lấy vợ và có 1 con tổng cộng anh ta phải nuôi 14 miệng ăn. Không còn đất để canh tác 14 miệng ăn đó phải trông cậy vào 1 người, người đó lại bị trả một đồng lương rẻ mạt, và nếu anh ta lại thất nghiệp, thì điều gì sẽ sảy ra. Bộ máy chính quyên khổng lồ quan liêu, bộ máy Đảng cũng thế, Nên người lao động phải cõng trên lưng hàng triệu kẻ ăn không ngồi rồi. Gây nhiều bất bình trong XH. Mỗi năm có hoảng 1 triệu viên chức bị tố các tham ô mà không bị xử lý. Hàng năm quan chức tham ô của TQ gửi tiền ra nước ngoài 3-5% GDP. Phát triển KT một cách bừa bãi không tính toán quy hoặch một cách khoa học nên môi trường sinh thái bị huỷ hoại nghiêm trọng. Sự khô cạn của sông Hải hà và sông Hoàng Hà, sự ô nhiễm trên các sông Dương Tử, và sông Hoài, biến những vùng đất trù phú xưa kia thành hoang mạc. Đồng cỏ tại các vùng Mội Mông,Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương biến mất. Tình trạng chặt phá rừng lấy gỗ xuất khẩu không kiểm soát được dẫn đến tình trạng hạn hán, lũ lụt, đất bị sa mạc hoá bão cát đang diễn ra như cơm bữa. 75% của 50.000km sông bị ô nhiễm không phù hợp cho cá sinh sống. 1/3 lượng nước ngầm bị ô nhiễm. Đất đai ô nhiễm những vùng đất của TQ bị bỏ hoang tăng từ 1000 km vuông lên 2460 km vuông. Đất trồng trọt trên đầu người giảm từ 2mẫu năm 1980 xuống còn 1.43 mẫu vào năm 2003. Chỉ trong vòng vài năm TQ thu hồi hàng trăm triệu mẫu đất của nông dân, nhưng chỉ 43% trong số đó được đưa và sử dụng, số còn lại bị bỏ hoang. Hàng chục thứ thuế vô lý đè lên đầu người nông dân. Các viên chức chính quyền tại địa phương tham nhũng chiếm đất của nông dân đẩy ND vào con đường bần cùng hoá "tức nước vỡ bờ" người dân bắt đầu đứng lên phản kháng. Chỉ riêng trong năm 2005 ở TQ sảy ra 87.000 vụ biểu tình và hầu hết bị đàn áp một các dã man. Tại TQ hiện có hơn 100 triệu người sống dưới mức nghèo khổ, thu nhập dưới 1 USD / ngày. 1/2 dân số nông thôn không có nước sách để dùng, và do môi trường bị ô nhiễm nặng, nên TQ là trung tâm phát sinh các dịch bệnh như: SARS, bệnh Lợn đóng giấu, bệnh Cúm gia cầm, hàng trăm triệu người nhiễm HIV, tạo một gánh nặng cho XH. Năm 1997 tại Châu á xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, TQ tránh được vì TQ khi đó chưa phải là thành viên của tổ chức thương mại thế giới. Cuộc khủng hoả đó có nguyên nhân là các nhà đầu tư tài chính quốc tế ồ ạt rút vốn và bán tháo cổ phiếu của mình trên thị trường. Năm 2001 TQ là thành viên thứ 143 của tổ chức WTO. Điều đó có nghĩa là TQ sẽ buộc phải mở cửa thị trường tài chính trong nước cho tư bản nước ngoài, và các nhà tư bản cũng có quyền mua cổ phiếu của các công ty của TQ. Trong những năm sắp tới do sức ép của Châu Âu và Hoa Kỳ TQ sẽ phải nâng giá đồng Nhân dân tệ lên, nó sẽ khiến hàng hoá của TQ khó cạnh tranh trên thị trường, một khi thấy không có lãi các nhà Tư bán sẽ rút vốn, và một cuộc khủng hoảng tài chính tương tự như tại Châu á sẽ sảy ra. Hiện TQ đã cho phép Đảng viên được làm KT, và không hạn chế về mức độ quy mô. Tưởng rằng làm như vậy Đảng sẽ lôi kéo được một lực lượng ủng hộ mình, nhưng xin thưa: Vì chỉ độc Đảng nên thiếu một cơ chế giám sát và những chế tài ràng buộc, càng tạo điều kiện cho Đảng viên tham nhũng và hợp thức hoá tài sản ăn cướp của dân. Điều đó càng khoét sâu mối ngăn cách giầu nghèo, đẩy thêm những bất công trong xã hội. Tóm lại sự phát triển KT tại TQ hiện nay chỉ là cách lấy mồ hôi nước mắt, và tài sản của người nghèo chia cho người giàu và chủ yếu là các Đảng viên và người thân trong gia đình họ. Nó hoàn toàn đi ngược lại tôn chỉ của Chủ Nghĩa Marx và khẩu hiệu mà những người CS đề ra khi còn ở trong bào thai. Tất cả những điều kể trên sẽ như những ngọn lửa âm ỷ cháy và chỉ cần một cơn gió nó sẻ thổi bùng lên ngọn lửa đốt cháy thể chế chính trị CS tại TQ. Còn giới trí thức đang đấu tranh cho DC tại TQ hiện nay mạnh hơn bao giờ hết. Họ có hàng vạn người, cũng xin các vị nhớ cho rằng TQ có Thiên An Môn trước cả cuộc cách mạng Nhung tại Đông Âu. Điều đó có nghĩa là họ đã nhận thức và giác nhộ trước rồi. Vụ đàn áp tại Thiên An Môn, hay việc bức hại những học viên của Môn Phái Luân Công chỉ gây thên sự căm phẫn trong nhân dân mà thôi. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã xé tan bức màn sắt của CNCS tại TQ. Chính quyền TQ đã cố gắng dựng lên những "Vạn lý tường lửa" để ngăn chặn, nhưng cũng không thể chặn nổi. Người ta gửi cho nhau những email theo kiểu Spam và cả các công chức trong bộ máy nhà nước và cả các cơ quan hành chính nhà nước cũng nhận được, họ nhắn tin cho nhau qua điện thoại di động, dạy cho các vượt tường lửa. Tất cả những hành động đó chỉ cần thời cơ là một nguyên nhân đổ vỡ về KT hoặc một sự thay đổi về quyền lực trong Đảng là nông thôn và thành thị nhất tề đứng dậy. Những nhà lãnh đạo CSTQ hiện nay cũng khó có thể trông cậy và quân đội như dưới thời Mao, Đặng, vì họ đều xuất thân từ viên chức hành chính nên không có mối quan hệ thân thuộc như trước. điều đó có nghĩa là khó có thể trông cậy vào quân đội để đàn áp dân chúng. Sự sụp đổ của CS TQ sẽ diễn ra không lâu nữa, vì đó là quy luật tất yếu của lịch sử. Kèm theo nó là hiệu ứng Đôminô đối với các nước nằm trong vùng đệm của TQ. Điều này đã từng xảy ra tại Đông Âu sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã. Việt Nam cũng không thoát khỏi sự ảnh hưởng này. Nhưng có điều ai sẽ lấp đầy khoảng trống quyền lực đó, bài toán này xin nhờ những nhà lãnh đạo trong Đảng giải giúp. Đảng có thể tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, nếu Đảng nhận thức được vấn đề. Chỉ cần công khai xin lỗi trước dân chúng về những lỗi lầm cũ do ấu trĩ và ngu dốt. Tịch thu tài sản của bọn tham nhũng, Nêu cao khẩu hiệu Hoà hợp và hoà giải dân tộc đoàn kết với các lực lượng tại Hải ngoại để cùng bắt tay XD lại đất nước.Dân ta vốn giàu lòng nhân ái và vị tha tôi thiết nghĩ nhân dân sẽ quên đi hoặc bỏ qua khứ lỗi lầm trong quá khứ của Đảng. Và đa nguyên là điều không thể thiếu trong một thể chế chính trị DC. Tên gọi XHCN hay CSCN cũng không quan trọng, miễn là ở đó thực sự DC, và người dân có quyền trực tiếp bầu chọn những người xứng đáng đại diện cho mình vào Quốc Hội và các cơ quan quyền lực nhà nước khác. Bằng không Đảng sẽ phải trả lại quyền lực cho ND, để ND tự quyết định vận mệnh của DT mình. 5. Cục diện của thế giới trong nửa đầu thế kỷ 21 và tương lai dân tộc Việt Sự sụp đổ của chính quyền CS TQ là không phải bàn cãi. Nhưng kéo theo nó, là một hiệu ứng Đôminô, các quốc gia trong vùng ảnh hưởng của TQ sẽ có DC. TQ Sẽ sát nhập với Đài loan đó là điều Mỹ không mong muốn nhưng phải chấp nhận. Tiềm lực KT và QS của TQ sẽ tăng lên gấp bội điều đó sẽ làm Hoa Kỳ lo ngại. Để khống chế sự ảnh hưởng của TQ Mỹ sẽ phải liên minh với một số nước trong khu vực bao gồm Nhật Bản, ấn Độ và Việt Nam, và Inđônêxia. Nhật Bản đã là đồng minh cũ của Mỹ, Ấn Độ và Inđônêixa đang dần trở thành đồng minh của Mỹ vì ấn Độ và Inđônêxia cũng lo ngại sự bành trướng của TQ. Nhưng riêng trong quan hệ với ấn Độ và Inđonêxia khó mà khăng khít được vì ấn Độ từ trước tới giờ vẫn tự hào là nước trung lập, còn Inđônêxia thì phần đông dân số theo đạo Hồi, nên khó mà có quan hệ sâu sắc với Mỹ. Cho nên Việt Nam là cái đích mà Mỹ muốn ngắm tới. Sở dĩ Mỹ muốn nhắm tới VN là vì VN có chung đường biên giới với TQ, VN và TQ có mối thâm thù sâu sắc từ xa xưa, nhân dân VN lại dũng cảm trong chiến đấu chống ngoại xâm, và VN lại ở vào địa thế quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ trong thế kỷ 21. Việt Nam có quân cảng Cam Ranh, là quân cảng tốt nhất thế giới hiện nay. Nó án ngữ con đường từ Nam Thái Bình Dương sang ấn Độ Dương, tại đây 40% lượng vận tải hàng hoá và 60% lượng dầu vận tải bằng đường biển đi qua khu vực này. 90% lượng dầu nhập khẩu của TQ, Đài loan Hàn Quốc, đều phải đi qua đây. Mà cách tốt nhất để khống chế TQ là khống chế nguồn cung cấp năng lượng. Điều cuối cùng quan trong nhất là Việt Nam từng là đồng minh xương máu của Mỹ trên mặt trận xưa. "... Tôi dám đánh cá với tương lai là chúng tôi sẽ trở thành đồng minh của các bạn..." , là câu nói của Tổng thống Bill Clinton tại Sài Gòn trong chuyến thăm VN năm 2000. Trong nửa đầu thế kỷ 21, khi thế giới chưa tìm ra nguồn năng lượng hữu hiệu thay thế cho dầu mỏ thì Châu á sẽ là tâm điểm chú ý của thế giới. Châu á bao gồm Trung Đông, Trung á (các nước CH thuộc Liên Xô) và vành đai ấn Độ Dương - Nam Thái Binh Dương - và tới biển Nhật Bản. 2/3 dân số của thế giới sống tại khu vực này. Vùng Trung Đông và Trung á là "trái tim" năng lượng của TG còn vành đại Nam Thái Bình Dương -ấn Độ Dương là "mạch máu" năng lượng của TG. Vùng kể trên là vùng phát triển năng động nhất thế giới hiện nay, và cũng là vùng tiềm ẩn nhiều bất ổn về chính trị, Trong nửa đầu thế kỷ 21 mọi xung đột vũ trang, chiến tranh nóng hoặc lạnh đã và sẽ diễn ra tại khu vực này. Các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ đang trên con đường tìm đến DC và sẽ trở thành đồng minh của Mỹ. Hoa Kỳ cũng đang củng cố những ảnh hưởng của mình tại Trung Đông mà 2 cuộc chiến tại ápganitan, Irăc ngoài nguyên nhân chống khủng bố nhưng sâu xa hơn nữa là dầu hoả, đã chứng minh điều kể trên. Trong chiến lược toàn cầu của Mỹ giai đoạn tới là sẽ kiểm soát khu vực này, Trên vành đai ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương, Mỹ cần 3 căn cứ Hải quân. Một tại biển ả Rập, Một tại Vịnh Bengan, và một tại Cam Ranh. Có 3 căn cứ này Mỹ và vài căn cứ tại Trung Đông và Trung á Mỹ sẽ tiếp tục bá chủ thế giới. Hiện Hoa Kỳ đang rút dần quân tại Châu Âu, Nhật, Và Hàn Quốc, là chuẩn bị triển khai cho một vòng cung chiến lược mới, và ngoài Mỹ ra thì chưa có quốc gia nào có đủ tiềm lực về QS và kinh tế để làm việc này. Tương lai của dân tộc Việt Không gì bằng tự đứng trên đôi chân của chính mình. Nhưng hiện nay điều đó là không tưởng tại VN. Trong thế kỷ qua và hiện tại chúng ta chưa có những người kiệt xuất về văn hoá, chính trị, kinh tế, mà chỉ toàn "đồ đểu" nên đã đưa dân tộc ta đến thảm trạng như hiện nay. Dựa vào một cường quốc nào đó làm điểm tựa và rồi đứng lên xây dựng lại đất nước. Khi nước nhà có DC sẽ có nhiều cường quốc lấy lòng VN. Hãy tìm một quốc gia "tử tế". Tôi chợt nghĩ VN khi đó như một cô gái xuân thì xinh đẹp, ở nông thôn mới ra thành thị còn nhiều bỡ ngỡ. Xung quanh cô ta có rất nhiều kẻ giầu có muốn ve vãn. Tử tế cũng có, mà lợi dụng cũng có. Nếu khôn ngoan cô có thể kiếm được một tấm chồng giàu có và tử tế, rồi qua chồng, cô có thể học tập để vươn lên trở thành một quý bà đáng kính. Bằng không chắc quý vị cũng hiểu chuyện gì sẽ sảy ra... Nhưng con đường tìm kiếm DC vẫn còn ở phía trước, và vẫn còn thời gian cho chúng ta suy nghĩ cho một bước đi mới của Dân tộc, nhưng tôi tin chắc rằng mùa xuân năm Nhâm, năm Giáp, mai, đào sẽ nở rộ trên quê hương. Thăng Long rồng lại cất cánh, Sài Gòn lại trở về tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông, và mảnh đất Đại Việt mãi mãi xanh tươi. Xuân Bính Tuất. Công dân 22 phố Trung Liệt Đống Đa Hà Nội.