Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ >>  Văn Nghệ

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Ông Đức là sỹ quan dưới chế độ cộng hòa ở VN. Ông có một bà vợ thật đẹp và năm đứa con tuyệt vờị Ông làm chủ hai căn nhà ở Sài gòn. Ông hưởng thụ địa vị cao trong xã hội, có uy tín trong quân đội và tương đối giàu có.Ông là người chồng và người cha vui vẻ. Ông đã thành công trong cuộc sống và không còn mơ ước gì khác hơn nữa là tiến thân trong binh nghiệp. Và ngày 30-4-1975 đã đến. Cuộc sống ông Đức hoàn toàn thay đổị Ba tháng sau khi cộng sản chiếm Sài gòn, ông Đức bị bắt và phải đi học tập cải tạọ Ông phải chịu những công việc vất vả, học cải tạo, bị đói và cô đơn. Gia đình không được phép đi thăm. Ông bị đưa ra miền Bắc xa xôi, gần biên giới Tàu và bị giam giữ ở đó 13 năm. Hai năm sau ông bị bắt, bà vợ ông đi lấy người khác. Các con ông tản mác khắp nơị Cha mẹ và anh em ông đã ở hải ngoạị Công an đã tịch thu hai căn nhà của ông. Ông Đức đã mất tất cả ! Khi ra khỏi tù, ông biết đi về đâụ Ông nói với chính mình : ‘‘Tôi đã trơ trụi như khi sinh ra’’. Điều làm ông đau khổ nhất là ông không còn ai chờ đón và vui mừng ngày trở về của ông. Ông thật cô đơn và cô độc. Ông mang một nỗi khổ sâu đậm trong tâm hồn. Một ngày kia trên phố Sài gòn, ông gặp một trong những người bạn cũ của ông. -Ồ, ngạc nhiên biết bao khi gặp lại anh. Mời anh đến nhà chơị Họ đã về nhà bằng lối khác nhaụ Và người bạn nói cho ông biết, người con gái út của ông hiện cũng đang ở Sài gòn, nhưng đã làm đám cưới với một cán bộ cộng sản. - Cô ấy bây giờ là cộng sản rồi, đó là lý do tại sao cô không đi thăm anh lúc anh ở tù. Ông Đức đến thăm con gáị Cô đón tiếp ông lễ phép nhưng không vuị Cuộc gặp gỡ đầy bão tố. Sau một lúc, cô đứng dậy và nói với ông : - Mười ba năm cải tạo không thay đổi được tư tưởng sai lầm của ba sao ? Tôi không còn một điểm nào chung với ba được nữạ Cô ta bỏ ra đi ! Ông Đức dường như một xác chết. Chính lúc này, ông hiểu sâu xa thảm cảnh và sự cô đơn của ông tận đáy lòng. Ông đã thất bại không những như người chiến sỹ, như người chồng, nhưng còn là người cha nữạ Sự cô độc của ông còn bi đát hơn ông nghĩ : - Tôi không còn gia đình nữa : cả con tôi cũng từ bỏ tôị Chẳng những tôi không còn gì nữa mà ngay cả chính tôi, tôi cũng không có. Vậy tôi sống làm gì nữa ? Cuộc đời của tôi vô nghĩa ! Ông đã nghĩ đến việc tự tử. Nhưng một người bà con xa cho tiền ông vượt biên với điều kiện ông đem theo Linh, một người con trai 15 tuổicủa ho.. Ông Đức do dư.. Đi ra nước ngoài có lợi ích gì ? Tôi có tìm lại được tinh thần và sức mạnh để bắt đầu một cuộc sống mới không ? Cuối cùng ông chấp nhận vì muốn nói cho thế giới thế nào là sự tồi tệ của người công sản. Ông đã lên tàu với Linh và 20 người khác. Nhưng thảm kịch lại đến với ông nữạ Hải tặc tấn công chiếc tàu của ông. Cướp tất cả mọi sự, hãm hiếp phụ nữ, và sau đó đánh chìm chiếc tàu và Linh chết đuốị Chỉ còn ông Đức và vài người khác nữa còn sống sót, và đến Thái Lan. Hiện giờ ông Đức đang ở trong một trại Thái Lan. Tinh thần ông Đức sa sút. Ông cảm thấy có tội về cái chết của Linh. Ông tức giận Trời Phật. Tại sao lại tàn bạo với ông như thế ? Tại sao cho những thảm kịch đau khổ liên tục xảy ra với ông ? Tại sao tước đoạt tôi khỏi mọi sự và mọi người ? Có rất nhiều người giàu và hạnh phúc. Tại sao tôi mất gia đình rồi lại cắt giảm những thứ khác nữa ? Đây là sự bất công khủng khiếp ! Con người không thể sống cô độc trơ trọi một mình. Từ khi ra tù, ông Đức chưa bao giờ đặt chân đến chùạ Rồi đêm vọng Giáng Sinh ông Đức đến nhà thờ như bao người khác. Ông nghe một đoạn trong bài đọc, tác động lòng ông : ‘‘Ngài đã đến từ giàu sang và trở nên nghèo hèn’’. - Giống tôi ! Ông Đức tự nóị Những bài thánh ca Giáng Sinh đã gợi lại cho ông nhiều kỷ niệm lai láng. Đã nhiều lần, mặc dù ông là Phật giáo, nhưng ông đã tham dự lễ Giáng Sinh với vợ con ông. Bây giờ chỉ có môt mình ông. Không kiềm chế cơn xúc động, ông ngồi xuống gốc cây và bắt đầu khóc. Trên đường về lều, trong bóng tồi của những con đường trong trại ông gặp một cậu bé đang ngồi khóc. - Cháu đang làm gì ở đây ? - Cháu nhớ ba mẹ cháụ - Cháu ở đâu ? - Cháu vừa mới đến đâỵ Hai chị của cháu bị hải tặc bắt cóc rồi... Cháu muốn trở vế nhà... - Đi với bác. Ông Đức đưa cậu bé về ở chung trại bằng tre của ông và ông lấy cho cậu môt tô cơm nóng. Sáng hôm sau, ông đến văn phòng Liên Hiệp Quốc và chùa xin quần áo và thực phẩm cho cậu bé. Những tuần kế tiếp ông đã đi tìm những bé trai và gái đi một mình về chăm sóc. Từ đêm Giáng Sinh đó, dường như ông Đức tìm lại cuộc sống mới, một ý nghĩa mới trong đời sống mớị Trước hết ông quên dần nỗi buồn, cô đơn hiu quạnh của ông. Và ngược lại, ông cảm thấy một niềm vui mới, một niềm vui thật sâu xa mà ông chưa bao giờ cảm nghiệm ngay cả với vợ ông. Và ông cảm thấy tràn đầy vui thỏa trong tâm hồn như ông là con người khác. Ông tự hỏi : tại sao tôi có niềm vui này, tại sao tôi thấy cuộc đời tôi có nghĩa ? Dần dần ông đã hiểụ Con người có giá trị như tình yêu, lòng vô vị lợi, sự hỗ tương và phục vụ, tình huynh đệ và tự do nội tâm... mới xây dựng nhân cách chúng tạ Chứ không phải sự nghiệp, tiền bạc, danh vọng, đời sống gia đình. Lỗi lầm trong quá khứ của ông là sống cho chính ông, cho sự nghiệp cho hạnh phúc giàu sang. Ông đã bị mất tất cả và dẫn đưa ông đến sống cho người khác, thực hành giá trị nhân cách con ngườị Ông đã tìm thấy đó là nguồn sức của sự sống, của niềm vui và là ý nghĩa của cuộc đờị ĐỒNG HÀNH, CA

 

-Kính tăng Đạo Trưởng Lê Quang Liêm, Thượng Toạ Thích Tuệ Sỹ và LM. Phan Văn Lợi. -Kính tặng các LM. Nguyễn văn Lý, Nguyễn Hữu Giải và Chân Tín, bạn tranh đấu trung kiên cuả LM.Phan văn Lợi. Nghe vẻ, nghe ve, Nghe vè cộng sản: Đảng là Tư Bản Đỏ loét, đỏ loe, Lại luôn tự khoe: “Đỉnh cao”, “vĩ đại.” Dân là Con Cái Để Đảng dạy đời, Dạy khóc, dạy cười, Sưả lời, mớm chữ… Dân là Con Ở Hầu hạ đảng viên… Dân là Con Tin Cho Đảng mặc cả: “Muốn dân tôi khá, Quốc Tế phải nuôi!!!” Nói ngược, nói xuôi, Không hề mắc cỡ. Dân là Con Nợ, Quần quật đêm ngày, Trả nợ Đảng vay, Bao ngày chồng chất. Dân là Con Vật, Không quyền làm người. Trẻ chửa lên mười, Nước người Đảng thảy. Đàn bà, con gái, Đảng bán cho Tầu, Để làm “Cô Dâu,” Nô lệ tình dục. Dân còn chút sức, Đảng đẩy, Đảng xô Đi làm lao nô Muôn điều nhục khổ, Vô thân tứ cố, Ở đất nước người, Tiền thì Đảng xơi: Đảng mười, dân một. Tay dân Đảng cột, Miệng dân Đảng chèn, Ai dám than phiền, Đảng nghiền cho nát. Nay dân hết nhát, Chuẩn bị vùng lên, Dân Chủ, Nhân Quyền, Quyết đòi cho được, Kẻ sau, người trước, Vững bước bên nhau, Đảng ơi, chạy đâu, Sang Tàu, sang Nhật??? Bay chui xuống đất, Dân móc cũng lòi, Bay chạy lên trời, Dân lôi bay xuống! Boston, ngày 13 tháng 12 năm 2005 Caritas Carney Hospital.

 

Việt nam có một ông già Râu dài, tóc bạc tên là Chí Minh Ông hay uống rượu một mình Khi buồn lại rủ Trường Chinh uống cùng Say sưa ông nói lung tung: Việt Nam mình sẽ sánh cùng năm châu - Này ông, chuyện ấy còn lâu!!! Câu ca dao nêu trên có lẽ được sáng tác và lưu hành tại miền Bắc từ ngày ông Hồ Chí Minh còn có thể ngồi lai rai uống rượu và ăn nói lung tung, tức là trước cái ngày ông được nhân dân ca tụng bằng hai câu ca dao khác cũng chẳng kém mùi “phản động”: “bác Hồ ta thật vẻ vang, đang từ khỏe mạnh chuyển sang… từ trần”. Phải công nhận tác giả câu ca dao tả bác uống rượu, và cả những người góp phần khẩu truyền câu ca dao, quả là trông xa thấy rộng. Ngay từ bốn, năm thập niên trước, khi đảng cộng sản Việt Nam nói riêng và cộng sản quốc tế nói chung đang làm mưa làm gió trên quả địa cầu, những người dân ấy đã đủ sáng suốt để vỗ vai bác, dù là vỗ vai bằng chữ nghĩa, mà bảo bác rằng “Này ông, chuyện ấy còn lâu!”. Quả thật, cho đến hôm nay, dưới sự lãnh đạo của cộng sản, chuyện Việt Nam có thể sánh vai cùng cộng đồng nhân loại vẫn còn lâu, lâu lắm. Trong suốt hơn nửa thế kỷ kể từ ngày cai trị miền Bắc và ba thập niên từ lúc cưỡng chiếm miền Nam, cộng sản Việt Nam đã gieo rắc muôn vàn tang thương cho dân tộc. Biết bao tiếng kêu đau đớn và phẫn uất của nhân dân đã vang lên trong suốt chiều dài lịch sử nàỵ Trong số ấy, nhiều tiếng kêu đã cô đọng thành những câu ca dao thật độc đáọ Tự ngàn xưa, cổ nhân đã nhận định là muốn tìm hiểu bản chất một chế độ thì chỉ cần xét tinh thần của người dân sống trong chế độ. Tuy nhiên, làm thế nào để biết được tinh thần người dân? Để trả lời câu hỏi, các cụ dậy rằng “dễ lắm, tinh thần người dân luôn luôn được phản ảnh qua thơ và nhạc lưu truyền trong dân gian”. Cũng vì vậy mà cụ Khổng đã bảo “thanh âm chí đạo dữ chính thông hỹ”, tức là “đạo thanh âm tương thông với chính trị”, và cụ nói rõ rằng “thơ nhạc gốc ở tình cảm, mà tình cảm gốc ở chính trị”. Từ quan niệm này, cụ đã san định Kinh Thi, gồm hơn ba trăm bài thơ mà đa số là những bài thơ “quốc phong”, tức thơ của dân gian, về đời vua Văn nhà Chu (1186 đến 1135 trước Tây Lịch) để mô tả xu hướng chính trị và luân lý của xã hội thời bấy giờ. Hôm nay, 30 năm sau ngày miền Nam đổi chủ, bắt chước cổ nhân, người viết xin dùng những câu ca dao được lưu truyền tại Việt Nam kể từ biến cố tháng tư năm 75 để minh họa bức tranh xã hội chủ nghĩa và tâm trạng người dân trong suốt 30 năm quạ Trong số những câu ca dao này, có những câu ta thán đầy thê lương ảo não, có những câu trào phúng “bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm”, có những câu châm biếm chua cay, và có cả những tiếng mắng chửi vô cùng hằn học. Có thể nói tất cả những câu ca dao ấy là một hình thức phản kháng, một thứ vũ khí đấu tranh của người dân thấp cổ bé miệng trước sự áp bức của bạo quyền. Cũng xin nói thêm, người viết rời quê hương trong ngày cuối cùng của cuộc chiến và cho đến hôm nay, sau 30 năm tỵ nạn nơi đất khách, vẫn chưa về thăm lại quê nhà để đi “thực tế” (mượn tạm ngôn từ của cộng sản) một chuyến. Vì vậy, những câu ca dao trích dẫn trong bài là những câu hoặc đã sưu tầm được trên sách báo và trên mạng lưới điện toán, hoặc do những người đã từng sống nhiều năm với cộng sản kể lại khi đến định cư tại xứ người, hoặc do các thân hữu về thăm Việt Nam mang sang làm “quà lưu niệm”. Đến hôm nay, có lẽ những người di tản đợt đầu tiên từ gần 30 năm trước vẫn còn nhớ đôi câu thơ phát xuất tại miền Nam sau ngày Sài Gòn đổi chủ. Vâng, chúng ta đã nghe nhắc đến đôi câu ấy trong những năm tháng đầu xa quê hương. Nghe mà dạ bùi ngùị Nghe mà lòng chua xót: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do Câu thơ đánh dấu sư kiện, tại Sài Gòn, nhà cầm quyền cộng sản đổi tên đường Công Lý thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Tự Do thành Đồng Khởị Ở một ý nghĩa khác, công lý đã chết tức tưởi và tự do thì đã vội vã ra đị Và đôi câu khác cũng được phổ biến khá rộng rãi trên mọi miền đất nước, từ sông Bến Hải đến tận mũi Cà Mau: Dép râu dẫm nát đời son trẻ Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai Đau đớn thay: Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội Việt Cộng về thành làm tội dân ta Ba mươi năm bị làm tội làm tình, quãng thời gian dài gấp đôi đoạn đường luân lạc của Thúy Kiều thuở trước. Từ ngày ấy đến hôm nay, bao nhiêu hàng nước mắt đã lăn dài trên gò má người dân cùng khổ. Đổi tiền và học tập cải tạo Một thời gian ngắn sau khi tống giam hàng trăm ngàn quân nhân công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào cái gọi là trại cải tạo, nhà cầm quyền đã ban lệnh đổi tiền để tước đoạt tài sản người dân miền Nam. Có lẽ những người dân miền Nam từng sống dưới chế độ cộng sản còn nhớ là chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày chiếm miền Nam, cộng sản đã ba lần đổi tiền. Lần thứ nhất vào ngày 2 tháng 9 năm 1975 theo tỷ giá quy định là 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy một đồng Giải Phóng, có nghĩa là năm đồng tiền cũ đổi lấy một xu tiền mớị Thêm nữa, mỗi hộ, tức mỗi gia đình, chỉ được đổi tối đa 200 đồng tiền mới, tức 100.000 đồng tiền cũ bất kể hộ có bao nhiêu nhân khẩụ Có nhiều người, ngay sau khi đổi tiền, cầm những tờ giấy bạc mới đứng khóc nức nở, khóc mùi mẫn nơi vệ đường. Vì vậy, người dân có câu ca dao: Năm đồng đổi lấy một xu Thằng khôn đi học, thằng ngu làm thày “Đi học” ở đây tức là bị học tập cải tạo còn “thày” tức cán bộ cộng sản phụ trách giảng dậy tại các trại cải tạọ Cả nước thiếu ăn Sau khi chiếm miền Nam, cộng sản xóa bỏ quyền tư hữu, áp đặt chế độ bao cấp như tại miền Bắc và phát tem phiếu để người dân xếp hàng mua nhu yếu phẩm tại mậu dịch, mà nhu yếu phẩm thì lúc có lúc không. Lúc bấy giờ dân miền Nam mới thấm thía hai câu nhại Kiều của người miền Bắc từ đầu thập niên 60: Bắt phanh trần phải phanh trần Cho may ô mới được phần may ô (nguyên văn: “bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao“). và Từ khi ta có Bác Hồ Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào Vài tháng sau, vật giá gia tăng một mức khủng khiếp. Rau muống là thức ăn chính của người dân. Có câu ca dao chơi chữ khá độc đáo mô tả tình trạng này: Lương chồng, lương vợ, lương con Đi ba buổi chợ chỉ còn lương tâm Lương tâm đem chặt ra hầm Với rau muống luộc khen thầm là ngon Vài tháng sau nữa, lạm phát trở thành “siêu phi mã”. Lương tháng trung bình một công nhân viên khoảng 60 đồng tiền mới, chỉ mua được 30 bó rau muống. Người dân bèn réo tên ba lãnh tụ cao cấp nhất của đảng: Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh Ba anh có biết dân tình cho không? Rau muống nửa bó một đồng Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân Rồi dân không còn đủ gạo để ăn với rau muống vì nhà cầm quyền thu gom gạo để trả nợ chiến tranh. Ngoại trừ những cán bộ trung cấp và cao cấp trong đảng, gần như cả nước đã phải nhai sắn thay cơm: Ai sinh ra cái củ mì? Hỏi : Để làm gì? Đáp : Để mà ăn! Nước nhà mãi mãi khó khăn Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì Ăn sắn, ăn mì, và đi dự các buổi học tập tại địa phương để hoan hô đảng và đả đảo Mỹ Ngụy là thời biểu bó buộc của người dân miền Nam lúc ấy: Dân đói mà đảng thì no Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày Đảng béo mà dân thì gầy Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôỉ Chỉ đôi ba năm sau, ngô sắn cũng dần cạn, nhà cầm quyền cầu viện các đàn anh Đông Âu và được đàn anh viện trợ hữu nghị cho một món thực phẩm họ thường dùng cho ngựa ăn. Đó là bo bo, thứ thực phẩm được nhà nước cường điệu gọi là "cao lương". Trong suốt một thời gian dài cả nước vêu mồm ra mà thi nhau nhai thứ cao lương nàỵ Dù có ninh kỹ và nhai kỹ đến đâu thì bo bo vẫn là thứ hạt bao tử con người không thể tiêu hóa nổi, ăn thế nào thì ra thế nấỵ Bởi vậy người dân có ca dao rằng: Hoan hô độc lập tự do Để cho tớ nhá bo bo sái hàm và: Nhân dân thì chẳng cần lo Nhà nước lo sẵn bo bo mỗi ngày Hãy chăm tay cấy tay cầy Nhịn ăn nhịn mặc chờ ngày vinh quang Khi truyền miệng câu ca dao nêu trên, người dân miền Nam hóm hỉnh đọc trại chữ "l" thành "n" để chế nhạo các cán bộ miền Bắc phát âm sai hai chữ nàỵ Vì vậy câu ca dao bỗng dưng mang một ý nghĩa khá khôi hài: Nhân dân thì chẳng cần "no" Nhà nước "no" sẵn bo bo mỗi ngày Mùa hè năm 1980, nhằm mục đích tuyên truyền, cộng sản Việt Nam đã khẩn cầu Liên Xô cho Phạm Tuân làm “lơ” phi thuyền, tháp tùng phi hành gia Victor Gorbatco trong chuyến bay vào vũ trụ trên con tầu Liên Hợp. Lúc bấy giờ đang đói vêu vì thiếu ăn, nhân dân bèn có câu: Một thằng lên vũ trụ Trăm thằng đi Mút Cu (Moscow) Nghìn thằng chè chén lu bù Để dân bảy mươi triệu đói thò cu ra ngoài Có người tức quá nên hoạnh họe: Nhân dân thiếu gạo thiếu mì Mày vào vũ trụ làm gì hở Tuân??? Và người khác thực tế hơn: Ai lên vũ trụ thì lên Còn tôi ở lại ghi tên mua mì Thiếu mặc Tình hình miền Nam trong những năm đầu tiên bị chiếm đóng thật thê thảm. Người dân đã không đủ ăn thì làm sao đủ mặc. Mỗi năm, một người chỉ được mua vài thước vải xấu theo giá chính thức từ mậu dịch. Bởi vậy, dân gian có câu ca dao cười ra nước mắt: Một năm hai thước vải thô Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra May áo thì hở lá đa Chị em thiếu vải hóa ra lõa lồ Vội đem cất ảnh bác Hồ Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm và: Có áo mà chẳng có quần Lấy gì hạnh phúc hỡi dân cụ Hồ? Có đói mà chẳng có no Lấy gì độc lập, tự do hỡi ngườỉ Thiếu đủ thứ Trong chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không những người dân thiếu ăn thiếu mặc mà là thiếu đủ thứ, từ các nhu yếu phẩm cho đến tự do và hạnh phúc: Ở với Hồ Chí Minh Cây đinh phải đăng ký Trái bí cũng sắp hàng Khoai lang cần tem phiếu Thuốc điếu phải mua bông Lấy chồng nên cai đẻ Bán lẻ chạy công an Lang thang đi cải tạo Hết gạo ăn bo bo Học trò không có tập Độc Lập với Tự Do Nằm co mà Hạnh Phúc! Tuy đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, đảng vẫn hạn chế sự đi lại của người dân. Muốn đi từ tỉnh này sang tỉnh khác, người dân phải xin giấy phép của chính quyền địa phương: Mang danh Dân Chủ Cộng Hòa Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền Xuất trình giấy phép liên miên Chứng từ thị thực ở miền nào qua Tình trạng này đã phát sinh một bài ca dao trào phúng, được phổ biến trên khắp các miền đất nước: Trăm năm trong cõi người ta Ở đâu cũng được đi ra đi vào Xa xôi như xứ Bồ Đào Người ta cũng được đi vào đi ra Đen đủi như Ăng Gô La Người ta cũng được đi ra đi vào Chậm tiến như ở nước Lào Người ta cũng được đi vào đi ra Chỉ riêng có ở nước ta Người ta không được đi ra đi vào Trong những nạn nhân của chế độ, có cả những cựu cán binh cộng sản đã hưu trí, đặc biệt là những cán bộ tập kết miền Nam. Đó là những múi chanh đã bị đảng vắt hết nước. Vì vậy, văn học dân gian có câu: Đầu đường đại tá vá xe Cuối đường trung tá bán chè đậu đen Giữa đường thiếu tá rao kem Có những người còn ở trong hoàn cảnh nghiệt ngã hơn: Ngày xưa chống Mỹ chống Tây Ngày nay chống gậy ăn mày áo cơm Kinh tế mới và thanh niên xung phong Với sự hiểu biết thiển cận về kinh tế cộng thêm một ý thức hệ bệnh hoạn, năm 1976, các lãnh tụ của đảng cho thành lập những khu kinh tế mới tại những vùng rừng thiêng nước độc. Chỉ nội trong một năm, nhà cầm quyền đã đầy khoảng 1,4 triệu người dân miền Nam đến sinh sống tại những khu hoang vu này, trong số đó có 700.000 dân Sài Gòn, hầu hết thuộc gia đình quân nhân, công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòạ Bài ca dao dưới đây thuật lại hoàn cảnh đau lòng của những người bị lưu đầy lúc bấy giờ: Đuổi dân ra khỏi cửa nhà Bắt đi kinh tế thật là xót xa Không sao sống được cho qua Nên đành lại phải trở ra Sài Gòn Chẳng ai giúp đỡ chăm nom Cùng nhau vất vưởng, lom khom vỉa hè Màn sương chiếu đất phủ che Sinh ra bệnh tật khò khè ốm đau Nhưng mà có sống được đâu Bộ đội kéo đến hàng xâu xúc liền Chúng đem bỏ tại Tam Biên Rừng sâu núi thẳm oan khiên buộc vào Sáu ngàn nhân mạng năm nào Thảy đều chết đói, biết bao nhục hình Tháng 3 năm 1976, nhà cầm quyền phát động phong trào thanh niên xung phong để cưỡng ép sinh viên học sinh về miền quê công tác, chủ yếu là đào kinh. Có một câu ca dao khá ngộ nghĩnh, được truyền bá trong các đoàn thanh niên xung phong miền Nam lúc bấy giờ. Câu ca dao tuy mắng mỏ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhưng gói ghém sự tiếc nuối những ngày tháng cũ: Mồ cha thằng Thiệu rời dinh Để tao ở lại đào kinh mỗi ngày Chuyện dài Hợp Tác Xã Với chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa, cộng sản đã truất quyền tư hữu đất đai và các phương tiện sản xuất khỏi tay nông dân qua hình thức hợp tác xã tập thể. Qua hình thức này, nhà nước kiểm soát việc phân phối thực phẩm bằng cách thu mua và ấn định thuế khóạ Câu chuyện nêu sau biểu lộ sự vô trách nhiệm của giới lãnh đạo đảng: Vào thập niên 1990, nhà nước thúc dục người dân, nhất là dân miền Trung, bỏ trồng lúa để trồng mía làm đường. Tuy nhiên, sau khi ông Fidel Castro đến thăm Việt Nam, các nhà lãnh đạo đảng hứa giúp Cuba bằng cách nhập khẩu đường mía nước này vào thị trường Việt Nam. Sau đó, nhà nước thực hiện lời hứa, nhập khẩu đường Cuba suốt mấy năm liền. Hậu quả là nông dân trồng mía bị sạt nghiệp vì số mía thu hoạch phải bán tống bán tháo hoặc vứt bỏ. Vì vậy, người dân phẫn uất truyền miệng bài ca dao sau: Bắt trồng mà chẳng thu mua Tại sao đảng nỡ dối lừa nhân dân? Tiền cầy, tiền giống, tiền phân Một trăm thứ thuế đổ thân gầy gò Dân đói mà đảng thì no Kêu trời, kêu đất, kêu Hồ chí Minh! Không những chỉ bị lỗ nặng vì trồng mía, người nông dân còn bị lao đao nhiều lần khác vì phải nghe lời nhà nước: Trồng mía, trồng ớt, trồng hành Vì nghe lời đảng mà thành bể niêu Trồng tiêu rồi lại trồng điều Vì nghe lời đảng mà niêu tan tành Năm 1992, trong một bài viết tố cáo những sai lầm của cộng sản Việt Nam, thượng tọa Thích Quảng Độ thuật lại một câu chuyện thú vị ngài đã chứng kiến trong thời gian 10 năm bị quản thúc tại xã Vũ Đoài, tỉnh Thái Bình, từ 1982 đến 1992. Lúc bấy giờ, các cụ già tại địa phương này bị xung vào đội trồng cây của hợp tác xã để trồng cây lấy điểm, cứ trồng năm cây thì được một điểm, đủ để đổi lấy một lạng thóc. Khổ nỗi các cụ tuổi cao, sức kém, đã trồng không kỹ lại thiếu chăm sóc vì “cha chung không ai khóc”, nên cây trồng chỉ vài tuần sau là úa héọ Các em bé chăn trâu cho hợp tác xã mới làm vè trêu các cụ: Hoan hô các cụ trồng cây Mười cây chết chín, một cây gật gù Nghe các cháu trêu, các cụ bèn phản pháo lại: Các cháu có mắt như mù Mười cây chết tiệt, gật gù ở đâủ Chỉ một thời gian ngắn sau, hai câu đối đáp hài hước nêu trên đã trở thành ca dao thời đại mớị Ấy thế mà cứ vài ba tháng, đảng lại phát động chiến dịch thi đua cho các hợp tác xã và thúc dục người dân làm việc bằng hai bằng ba theo lời khuyên của ông Hồ từ những ngày còn chiến tranh. Người dân bực quá nên có câu: Thi đua làm việc bằng hai Để cho cán bộ mua đài mua xe Thi đua làm việc bằng ba Để cho cán bộ xây nhà lát sân Có người còn nhạo báng: Thi đua ta quyết tiến lên Tiến lên ta quyết tiến lên hàng đầu Hàng đầu... rồi... tiến... về... đâu? Nhiều phụ nữ đã từng trải qua lắm gian nan, khổ cực với hợp tác xã mà chẳng “ăn cái giải rút gì”, tức quá bèn văng tục: Đi làm hợp tác hợp te Không đủ miếng giẻ mà che cái l.. Xã hội bất công Điều nghịch lý là trong xã hội chủ nghĩa, một mặt đảng tuyên bố đấu tranh cho công bằng xã hội thì mặt khác, các nhà lãnh đạo lại tự cho mình hưởng những quyền lợi đặc biệt. Tại Hà Nội, người dân chua chát truyền khẩu những câu ca dao sau: Tôn Đản là chợ vua, quan Vân Hồ là chợ những gian, nịnh thần Đồng Xuân là chợ thương nhân Vỉa hè là chợ "nhân dân anh hùng" Lãnh đạo giả dối Có thể nói, trong hơn 50 năm qua, cộng sản Việt Nam cai trị đất nước bằng các thủ đoạn lừa bịp và dối trá. Trong một bài viết với nhan đề Nhật Ký Rồng Rắn được phổ biến ra hải ngoại đầu năm 2001, ông Trần Độ, cựu trung tướng quân đội Nhân Dân của cộng sản, đã tố cáo thủ đoạn này qua những lời lẽ sau: “Nói thì ‘dân chủ, vì dân’ mà làm thì chuyên chính phát xít. Cái đặc điểm đó cũng có nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, trò hề, ‘nói vậy mà không phải vậy’. Suốt ngày đóng trò, cả năm đóng trò. Ở đâu cũng thấy các vai hề, ở đâu cũng thấy các trò lừa bịp. Suốt ngày đêm, suốt năm tháng cũng lúc nào cũng chỉ nghe thấy những lời nói dối, nói lừạ Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò, bắt tất cả trẻ con phải đóng trò, bắt nhiều người già phải đóng trò Đặc điểm này đã góp phần quyết định vào việc tạo ra và hình thành một xã hội dối lừa: lãnh đạo dối lừa, đảng dối lừa”. Tại Việt Nam, một trong những cơ quan mang tiếng nhất về chuyện có nói thành không, không nói ra có là nha khí tượng: Bảo nắng mà trời lại mưa Mấy thằng khí tượng đoán bừa hại tao Trời làm một trận mưa rào Mấy thằng khí tượng làm tao ướt rồi Ấy thế mà theo người dân, nghệ thuật nói khoác của nha khí tượng còn kém xa những lãnh tụ cộng sản. Dưới triều đại Lê Duẩn, người có bí danh “Anh Ba”, thì kẻ đoạt quán quân về nói khoác lại chính là đồng chí tổng bí thư. Vì vậy, dân gian phát sinh ra câu ví von: Thứ nhất anh Ba, nhì Nha Khí Tượng Câu ca dao thời đại sau đây đã nói lên bản chất dối trá và hợm hĩnh của đảng: Mất mùa là bởi thiên tai Được mùa là bởi thiên tài đảng ta Bỏ nước ra đi Có thể nói người Việt Nam là người vô cùng quyến luyến với quê cha đất tổ. Tuy nhiên, khi miền Nam bị đặt dưới sự cai trị của cộng sản, hàng triệu người dân đã buộc lòng phải bỏ nước ra đị Chồng lìa vợ, con xa mẹ xa chạ Trong những năm tháng ấy, kể sao cho xiết những đau đớn của sinh ly, của “lệ rơi thấm đá”. Thuở trước, kho tàng ca dao của dân tộc có câu: Có con mà gả chồng gần Có bát canh cần nó cũng mang qua Có con mà gả chồng xa Một là mất giỗ, hai là mất con Khi phong trào vượt biên bùng nổ vào cuối thập niên 1970, dân miền Nam đã cải biên bài ca dao nêu trên thành những câu thật dí dỏm: Có con mà gả chồng gần Nửa đêm xe đạp mang phần cho cha Có con mà gả chồng xa Tháng tháng nó gửi đô la kìn kìn Lúc bấy giờ, người dân bảo nhau câu “cái cột đèn nếu nó biết đi, nó cũng vượt biên, chứ đừng nói con người”. Đâu đâu, người ta cũng bàn về chuyện vượt biên. Ngay cả những cặp tình nhân, hôm nay còn gặp nhau, nhưng ngày mai có thể sẽ ngàn trùng cách biệt. Có một câu ca dao khá văn chương diễn tả tâm trạng của những kẻ yêu nhau thuở ấy: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Canh khuya thao thức mạn thuyền Biết người quân tử vượt biên chốn nàỏ Đất nước tang thương, kẻ ở người đi, lòng người ly tán, tất cả tội lỗi dĩ nhiên phát xuất từ bác Hồ, như câu ca dao thời đại: Bác Hồ chết phải giờ trùng Nên bầy con cháu dở khùng dở điên Thằng tỉnh thì đã vượt biên Những đứa ở lại chẳng điên cũng khùng Đổi mới Trước cảnh suy thoái trầm trọng sau nhiều năm rập khuôn một cách máy móc mô hình xã hội chủ nghĩa theo Liên Xô; nên để sống còn, đại hội VI của đảng năm 1986 phải đưa ra chính sách đổi mới, bãi bỏ chế độ bao cấp, và chấp nhận một nền kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế thì hô hào đổi mới nhưng chính trị thì dĩ nhiên vẫn là chuyện độc quyền của đảng. Cụm từ “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” bỗng một sớm một chiều được phát sinh. Lúc bấy giờ Đỗ Mười là tổng bí thư đảng, Lê Đức Anh là chủ tịch nước, còn Võ Văn Kiệt là thủ tướng. Vì vậy, người dân kháo nhau rằng: Ông Anh, ông Kiệt, ông Mười Dở khóc, dở cười biết chọn ông naỏ Ông nào, ông nảo, ông nao Một đồng một cốt làm sao bây giờ? "Cửa mở", phải có giấy tờ "Đổi mới" nhìn lại vẫn thờ mấy ông Đèn cù cứ chạy lòng vòng Dân chủ cái còng, độc lập đói ăn Hạnh phúc chú cuội cung trăng! Tham nhũng Trong lịch sử nhân loại, độc tài về chính trị bao giờ cũng sinh ra tham nhũng. Trước kia niềm mơ ước của một công dân xã hội chủ nghĩa là làm thế nào để đạt được 4Đ, tức là được vào “đảng”, để có thể ký cóp những khoản hối lộ cỏn con mà tậu một chiếc xe “đạp”, một cái “đài” (radio), và một ”đồng hồ” đeo tay (đảng, đạp, đài, đồng). Tuy nhiên, chỉ vài năm sau đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn đến sự tham nhũng công khai khiến các đảng viên đang nắm quyền trở thành giới tư bản đỏ với tài sản lên đến hàng triệu mỹ kim. Vì vậy, dân mình có những câu ca dao: Công nhân, vợ ốm con côi Lãnh đạo nhà gác, xe hơi bộn bề Bao giờ cho hết trò hề? và: Nhà ai giàu bằng nhà cán bộ? Hộ nào sang bằng hộ đảng viên? Dân tình thất đảo bát điên Đảng viên mặc sức vung tiền vui chơi Tuy sở hữu những tài sản kếch sù trong lúc quần chúng còn thiếu cơm thiếu áo, các đảng viên cầm quyền vẫn tiếp tục lải nhải điệp khúc “nhân dân là chủ, đảng là đầy tớ”. Nghe câu ví con này, các “ông chủ” bèn sôi máu lên mà sáng tác bốn câu ca dao sau: Ai về qua tỉnh Nam Hà Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông. Tớ ơi, mày có biết không? Chúng ông làm chủ mà không bằng mày! Trước đổi mới, các “ngài đầy tớ” thường chỉ nhận một “thù lao” (hối lộ) khá khiêm nhượng từ những “ông chủ” (rất nghèo). Chẳng hạn như đối với các cán bộ điện lực, điều kiện để các ông mắc điện cho các gia đình ở nông thôn nhiều khi chỉ là một buổi tiệc nhậu có thịt gà thịt lợn: Muốn cho điện sáng về nhà Ruột lợn ruột gà phải nối đến nơi Tuy nhiên, sau đổi mới, các đảng viên cầm quyền khôn ra, chỉ nhận hối lộ bằng các phong bì nhè nhẹ. Bởi vậy dân gian có ca dao rằng: Phong lan, phong chức, phong bì Trong ba thứ ấy, thứ gì quý hơn? Phong lan ngắm mãi cũng buồn Phong chức thì phải cúi luồn vào ra Chỉ còn cái phong thứ ba Mở ra thơm nức, cả nhà cùng vui Đối với các ông thanh tra của đảng, mỗi khi đến làm việc ở cơ quan hoặc địa phương nào mà được trao tay một chiếc phong bì thì các ông sẽ biến mọi thứ tiêu cực thành tích cực ngaỵ Chứng kiến tệ trạng này, người dân bèn sáng tác hai câu ca dao với cách chơi chữ cả Việt lẫn Anh đầy nghệ thuật: Thanh “cha”, thanh mẹ, thanh gì? Hễ có phong bì thì nó “thanh kiu” (thank you) Năm 1996, một tờ báo phát hành tại Đà Nẵng đã “in chui” được hai câu ca dao sau đây để nói lên bản chất đảng cộng sản trong thời kỳ đổi mới: Đảng ta là đảng thần tiên Đa lô thì được, đa nguyên thì đừng. Khi nói lái, “thần tiên” là “thân tiền” và “đa lô” thành “đô la”. Quả là hai câu độc đáọ Hiện nay, nấc thang giá trị trong xã hội Việt Nam được định đoạt bởi đồng tiền như bài vè được lưu truyền trong dân gian từ nhiều năm qua: Tiền là Tiên là Phật Là sức bật con ngưòi Là nụ cười tuổi trẻ Là sức khỏe ngưới già Là cái đà danh vọng Là cái lọng che thân Là cán cân công lý Đồng tiền là… hết ý! Một chuyện khá khôi hài nói lên tính tráo trở của người cộng sản là trước kia, nhà cầm quyền kết án người vượt biên là Việt gian, là phản bội tổ quốc. Dân vượt biên bị bắt là bị tống vào nhà giam, hoặc bị đầy vào trại cải tạọ Thậm chí, có người còn bị công an xử bắn ngay tại nơi bị bắt. Tuy nhiên, sau đổi mới, đảng đã tha thiết mời gọi Việt kiều về du lịch và bỏ vốn đầu tư tại Việt Nam. Không những thế, đảng còn ví von đồng bào hải ngoại là khúc ruột ngoài ngàn dặm của tổ quốc. Trước sự đổi trắng thay đen này, dân gian bèn có câu: Ngày đi, đảng gọi “Việt gian” Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều” Chưa đi: phản động trăm chiều Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng Song song với việc chiêu dụ Việt kiều, đảng ngày càng tỏ thái đô lấy lòng Hoa Kỳ để được hưởng lợi lộc kinh tế. Tháng 11 năm 2000, khi nhà nước đang tất bật “lo ngày không đủ tranh thủ lo đêm” để “chiêu đãi” tổng thống Clinton và phái đoàn Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm Việt Nam thì người dân rỉ tai nhau rằng: Ngày xưa chửi Mỹ hơn người Ngày nay nịnh Mỹ chẳng ai bằng mình Xã hội xuống cấp Có thể nói sách lược kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã soi mòn truyền thống đạo đức của dân tộc một cách trầm trọng. Năm 1996, bà Nguyễn Thị Hằng, thứ trưởng bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội cho biết cả nước có ít nhất 76.900 gái mại dâm. Tuy nhiên, cũng trong năm ấy, theo lời một viên chức cao cấp trong đảng tiết lộ với báo chí ngoại quốc thì chỉ riêng tại Sài Gòn đã có khoảng 300.000 phụ nữ hành nghề không vốn này, vượt xa số thống kê chính thức của giới cầm quyền. Đến nay, đã gần 9 năm trôi qua, số gái mại dâm tại Việt Nam có lẽ còn tăng cao nhiều hơn nữả Trong những năm qua, ca dao tân thời của xã hội chủ nghĩa không hiếm những câu tương tự như câu tả cảnh bến Ninh Kiều ở Cần Thơ như sau: Chiều chiều trên bến Ninh Kiều Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân Nếu trước năm 1975 tại miền Nam chỉ có một loại dịch vụ “ôm” là bia ôm xuất hiện lác đác một cách bất hợp pháp tai một vài thành phố lớn, thì hiện nay nhan nhản trên khắp các nẻo đường đất nước, ngoài bia ôm, người dân có thể thưởng thức đủ thứ dịch vụ “ôm” hợp với túi tiền từng người như cà phê ôm, chè ôm, cháo ôm, phở ôm, sổ xố ôm, hớt tóc ôm, tắm ôm, xem video ôm, ngủ ôm, câu cá ôm, v.v. Thậm chí có nhiều tiệm may còn tặng thêm món hàng đo quần áo ôm cho các đấng mày râụ Tuy nhiên, bia ôm vẫn là dịch vụ phổ biến nhất, như câu ca dao nêu sau, nghe đồn được phát xuất từ một quán bia ôm gần Văn Miếu ở Hà Nội, nơi đặt những tấm bia đá khắc tên các ông nghè, tức tiến sĩ thuở xưa: Trăm năm bia đá cũng mòn Bia chai cũng vỡ, chỉ còn bia ôm Nền giáo dục thì xuống cấp một cách thê thảm. Đây là điều hiển nhiên vì nhà giáo là những người bị hất hủi đến cùng cực trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa: Thày giáo lãnh lương ba đồng Làm sao sống nổi mà không đi thồ Nhiều thày phải đạp xích lô Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh và thê thảm hơn: Cô giáo phải bán bia ôm Ôm phải học trò, ăn nói sao đâỷ Điều đau xót và tủi nhục nhất của dân tộc trong những năm gần đây là dưới sự cai trị của những bộ óc “ưu việt, đỉnh cao trí tuệ”, nhiều phụ nữ miền Nam phải chấp thuận lấy người ngoại quốc, hầu hết là người Đài Loan và Nam Hàn, để có thể thoát cảnh đói nghèọ Tại xứ người, đa số bị đối xử như những nô lệ tình dục. Chứng kiến cảnh đau lòng này, các chàng trai đất Việt đành bùi ngùi than thở: Tiếc thay cây quế còn soan Để cho đám mọi Đài Loan nó trèo và: Tìm em như thể tìm chim Chim bay biển Bắc, anh tìm biển Đông Tìm chi cho phải mất công Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi Châm biếm và chỉ trích lãnh tụ Là nạn nhân của sự cai trị bạo tàn, người dân, nhất là dân miền Nam, đã phải cậy đến một thứ khí giới đặc biệt để chống lại kẻ mạnh là thi ca trào phúng. Trong suốt 30 năm, nhiều lãnh tụ cộng sản đã trở thành đối tượng để nhân dân “xả xú bắp” bằng ca dao châm biếm. Trong những ông này, ngoại trừ ông Hồ, ba ông bị nhắc đến nhiều nhất là tổng bí thư Lê Duẩn, chủ tịch quốc hội Trường Chinh, và thủ tướng Phạm Văn Đồng, tức những người lãnh đạo cao nhất của đảng trong 10 năm đầu tiên kể từ khi miền Nam thất thủ, thời kỳ bị xem là đen tối nhất của lịch sử dân tộc cận đạị Với ông Hồ, có khi ca dao là một bài châm biếm về khả năng lãnh đạo: Trách ai sinh thứ họ Hồ Để cho cả nước như đồ vất đi Có khi là một bài mỉa mai về tư cách và đạo đức, như chuyện bác “ăn ốc” xong rồi bắt đàn em “đổ vỏ”: Bác Hồ đại trí, đại hiền Chơi Minh Khai chán, gá liền Hồng Phong Minh Khai phận gái chữ tòng Bác Hồ sái nhất, Hồng Phong sái nhì Còn về ba ông Đồng, Duẩn, Chinh thì thoạt đầu là những lời tố cáo như: Ông Đồng, ông Duẩn, ông Chinh Vì ba ông ấy, dân mình lầm than Rồi đến sự căm phẫn: Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng Cả ba đồng lòng giết chết con tôi Cuối cùng là niềm mơ ước: Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nàỏ - Vặt lông cả đám cho tao! Có một chuyện khá khôi hài xẩy ra trong nội bộ đảng cộng sản vào năm1983. Lúc bấy giờ đại tướng Võ Nguyên Giáp bị phe Lê Duẩn và Lê Đức Thọ làm nhục, tước hết binh quyền và giao nhiệm vụ phụ trách “sinh đẻ có kế hoạch”. Trước hoàn cảnh dở khóc dở cười của đại tướng, người dân có câu ca dao chế diễu: Ngày xưa đại tướng cầm quân Ngay nay đại tướng cầm quần chị em Còn những chị em… vui tính hơn thì khúc khích rỉ tai nhau mà bảo rằng: Khi xưa trấn thủ lưu đồn Bây giờ đại tướng bịt l.. chúng em Cuối tháng 6 năm 1991, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của đảng bầu ông Đỗ Mười làm tổng bí thư và cử ra một ban chấp hành trung ương đảng gồm 146 ủy viên. Sau đại hội, có mấy ông công dân rỗi việc, mò mẫm sưu tra lý lịch của 146 ngài đỉnh cao trí tuệ này thì cả nước mới hay chỉ 10 phần trăm đạt được thành tích vẻ vang là đã hoàn tất bậc trung học. Đặc biệt, đồng chí tổng bí thư thì hoặc tự bỏ học hoặc bị đuổi học từ năm lớp bạ Bởi vậy, dân gian có câu ca dao khen đồng chí rằng: Giỏi a đồng chí Đỗ Mười Lớp ba chưa đỗ đã ngồi bí thư Một trong những thành tích đáng tủi hổ của cộng sản Việt là ồ ạt xuất khẩu nhân công sang làm lao động tại xứ người vì không tạo nổi công ăn việc làm cho người dân. Chỉ trong năm 2004, nhà cầm quyền đã đưa gần 70.000 người dân đi làm thuê tại các nước ngoài, hầu hết đến Đài Loan, Nam Hàn, và Mã Lai là những nước có nền kinh tế còn kém Việt Nam thời chưa bị họa cộng sản ở nửa thế kỷ trước. Tại những xí nghiệp thuộc những nước này, người nhân công Việt Nam bị đối xử như những nô lệ của thời đại mớị Dân gian bèn có câu châm biếm: Vẻ vang thay lãnh tụ ta Đem dân xuất khẩu bán ra nước ngoài So sánh với thực dân Pháp thuở xưa, đảng cộng sản Việt Nam hôm nay tệ hại hơn nhiều về thành tích bóc lột nhân dân và chiếm đoạt tài nguyên đất nước: Ngày xưa giặc Pháp mộ phu Ngày nay đảng bán dân ngu lấy tiền Đảng ta là đảng cầm quyền Đảng bán ruộng đất lấy tiền đảng tiêu Không những thế, để bảo đảm chiếc ghế lãnh đạo, những ông lớn của đảng còn đang tâm nhượng một phần lãnh thổ quốc gia cho Trung Quốc. Điển hình là các hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, cùng một giải đất rộng lớn bao gồm ải Nam Quan và thác Bản Giốc ở cực Bắc nước tạ Các câu ca dao nêu sau nói lên lòng phẫn uất của nhân dân trước sự kiện này: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tầu và: Tiên sư cộng sản Việt Nam Cuối đời bán cả giang san nước nhà Tương lai về đâu? Nhiều người Việt ở hải ngoại từng về thăm quê hương trong những năm gần đây cho rằng Việt Nam đã tiến một bước khá dài kể từ đổi mới, và ánh sáng ngày một sáng hơn ở cuối đường hầm. Tuy nhiên, đây chỉ là một nhận định phiến diện căn cứ trên sự phát triển tại các thành phố lớn. Đồng ý là trong gần hai thập niên qua, sau khi cộng sản trả lại phần nào quyền tư hữu cho người dân và chấp nhận tự do kinh doanh có giới hạn, nền kinh tế đã tăng trưởng khoảng bẩy, tám phần trăm mỗi năm. Con số này quả là to lớn với những nước đã phát triển nhưng không thể gọi là đáng khích lệ đối với những nước đang cố vươn lên từ nền kinh tế lạc hậu và đang sở hữu một khối lượng nhân công quá rẻ so với những quốc gia khác. Ngoài ra, phần lớn sự phát triển hiện nay bắt nguồn từ khoản “viện trợ” của “khúc ruột ngoài ngàn dặm”, tức số tiền các Việt kiều gửi về cho thân nhân và đầu tư ở Việt Nam, cũng như tiêu pha trong các chuyến về thăm quê hương. Con số này đã lên đến hơn ba tỉ mỹ kim trong năm 2004. Thêm nữa, điều đáng nói là tại Việt Nam, tài sản quốc gia không được phân chia đồng đều vì hầu hết ở trong tay các cán bộ cao cấp và giới tư bản đỏ liên minh kinh tế với họ. Đại đa số nhân dân, nhất là những người ở nông thôn, còn thiếu ăn thiếu mặc một cách trầm trọng. Nước ta bị sa vào vòng luẩn quẩn không lối thoát. Có quyền thì có tiền và khi có tiền thì giữ được quyền. Điều nghịch lý là vài thập niên sau khi vỗ ngực huênh hoang là đã tiêu diệt được chế độ phong kiến, thì ngày hôm nay, cộng sản đã biến xã hội Việt Nam trở nên phong kiến hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử. Đau đớn nhất là dưới sự cai trị của đảng, tham nhũng đã dần dần trở thành một giá trị tiêu cực của nền văn hóa dân tộc, một tệ trạng không phải một sớm một chiều có thể diệt trừ, kể cả khi chế độ cộng sản đã cáo chung. Dưới ngọn cờ chỉ đạo xã hội chủ nghĩa, Việt Nam sẽ đi về đâủ Người dân sẽ ấm no hơn chăng, sẽ hạnh phúc hơn chăng? Bốn, năm thập niên về trước, dân gian đã vỗ vai ông Hồ mà bảo “này ông, chuyện ấy còn lâu”. Câu nói ấy vẫn chính xác và sẽ còn chính xác cho đến ngày nào Việt Nam còn bị đặt dưới sự cai trị của cộng sản. Chẳng tin, cứ hỏi ông Lê Nin thì biết. Ơ hay, sao lại có chuyện Lê Nin ở đâỷ Ông ấy đã “đang từ khỏe mạnh chuyển sang từ trần” từ hơn tám thập niên rồi cơ mà! Câu chuyện như sau: Năm 1985, cộng sản Việt Nam cho xây tượng đài Lê Nin cao đến 5,2 thước trong công viên Chi Lăng, gần quảng trường Ba Đình, tại Hà Nộị Ngay sau khi tượng được khánh thành, người dân Hà Nội có bài ca dao nhại theo lời một bài vè ca tụng Lê Nin của thi nô Tố Hữụ Bài ca dao của nhân dân như sau: Ông Lê Nin ở nước Nga Sao ông lại đến vườn hoa nước nàỷ Ông ưỡn ngực, ông chỉ tay Ông xem như thể nước này của ông Ít lâu sau, cộng sản Liên Xô sụp đổ, người dân bèn “hồ hởi” đọc cho nhau nghe bản hiệu đính của bài ca dao trên. Mỗi lần đọc xong lại cùng cười hô hố một cách cực kỳ… phản động: Lê Nin quê ở nước Nga Cớ sao lại đứng vườn hoa nước nàỷ Ông vênh mặt, ông chỉ tay: - Tự do, hạnh phúc lũ mày còn xa Kìa xem gương của nước Nga Bẩy mươi năm lẻ có ra đếch gì! Đấy, ông Lê Nin nói đấy: “tự do, hạnh phúc lũ mày còn xa”. Quả là hơn sáu thập niên sau khi chết, đến ngày cộng sản Liên Xô tan rã, ông Lê Nin mới sáng mắt rạ Ngày hôm nay, gần hết tháng giêng năm 2005, tin tức từ bên nhà cho biết dịch cúm gà đã tái bùng nổ tại 23 tỉnh. Đúng một năm trước, bệnh dịch này đã hoành hành trên khắp đất nước khiến nhiều người thiệt mạng. Ngay sau khi dịch gà lắng đọng thì dịch heo lại bộc phát tại miền Nam gây biết bao thiệt hại cho dân nghèọ Trước sư kiện này, người dân đã khẩu truyền cho nhau một câu ca dao thật đặc sắc: Dịch heo nối tiếp dịch gà Bao giờ dịch đảng cho bà con vui Bao giờ thì bà con mới được vuỉ Căn cứ vào một câu ca dao thuộc loại sấm truyền được lưu hành trong dân gian từ vài thập niên trước thì ngày ấy không còn xa lắm đâu: Bao giờ Hồ cạn, Đồng khô Chinh rơi, Giáp rách, cơ đồ mới yên Xét về khía cạnh nghệ thuật, câu sấm truyền quả là đắt giá vì “hồ”, “đồng”, “chinh”, và “giáp” hiểu theo nghĩa đen là “ao hồ”, “đồng ruộng”, “cái chiêng” và “áo giáp”. Theo nghĩa bóng thì bao giờ các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, và Võ Nguyên Giáp về chầu ông tổ Mác thì bà con cả nước mới có thể an vuị Đến nay, trong số này chỉ còn ông Giáp, nhưng đại tướng nhà ta đã 94 tuổi, như ngọn đèn dầu leo lét trước gió, có muốn “cầm quần chị em” như thuở trước thì cũng chẳng còn đủ sức mà cầm. Cái ngày “Giáp rách” chắc chắn sẽ xẩy đến chỉ trong nay maị *** Trong kho tàng văn chương truyền khẩu Việt Nam, đa số những câu ca dao được truyền đến hôm nay là những câu hoặc gói ghém tình cảm con người, nhất là tình yêu nam nữ, hoặc ca ngợi hình ảnh đất nước. Rất ít câu ta thán về sự bạo ngược của chế độ cũng như chỉ trích và châm biếm giới cầm quyền như những câu ca dao thời xã hội chủ nghĩạ Điều này chứng tỏ cộng sản là chế độ gây nhiều tang thương nhất cho dân tộc chúng ta kể từ ngày lập quốc. Tuy nhiên, khi lật bất cứ tác phẩm sưu tầm ca dao nào được xuất bản tại Việt Nam trong 30 năm qua, chúng ta không bao giờ bắt gặp những câu mang nội dung tương tự những câu trích dẫn trong bài nàỵ Những câu ca dao thời hiện đại được đăng trong những tác phẩm ấy là những câu ca tụng bác và đảng, ca tụng cuộc kháng chiến chống Pháp, và cuộc chiến chống Mỹ Ngụỵ Dĩ nhiên, những câu này được sáng tác bởi lũ bồi bút của chế độ. Vì vậy, ngoài sự hiện diện trong tác phẩm, chúng không hề được lưu truyền trong dân gian. Đây là một lừa bịp trâng tráo của đảng và lũ bồi bút. Một thí dụ điển hình là năm 1977, ông Vũ Ngọc Phan hoàn tất việc sưu tập và trước tác quyển “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, trong đó có bao gồm phần “Ca dao chống Mỹ cứu nước”, với nhiều câu vè ca ngợi bác và đảng, dài đến 40 trang sách. Tác phẩm này đã được nhà cầm quyền cho in đến 10 lần tính đến năm 1994. Tuy nhiên, với bản tính lương thiện hiếm thấy so với những người cầm bút khác đã và đang phục vụ chế độ, ông Vũ Ngọc Phan đã cẩn thận ghi tên tác giả của từng bài vè trong phần chống Mỹ cứu nước. Là một học giả thành danh từ đầu thập niên 40, dĩ nhiên ông thừa hiểu ca dao là một bài thơ ngắn (thường là lục bát) từ hai câu trở lên do một người làm ra, rồi qua miệng từng người, dần dần được sửa đổi (một cách ngẫu nhiên) cho đến khi được hoàn chỉnh, tức khi đã phản ảnh đích thực được tâm lý quần chúng. Như vậy, tác giả của ca dao chính là dân gian. Một bài thơ hay vè có ghi tên tác giả không thể là một bài ca daọ Có lẽ tuy hiểu như vậy, nhưng ông Vũ Ngọc Phan vẫn phải bao gồm những bài vè này trong phần ca dao chống Mỹ để thỏa mãn yêu cầu của những người lãnh đạo đảng. Người viết hy vọng rằng ở một thời điểm không xa, sẽ có những vị thiết tha với văn hóa dân tộc bỏ công san định các câu ca dao đã lưu hành trong suốt thời gian Việt Nam bị đặt dưới ách cộng sản để ghi lại trong những tác phẩm xuất bản tại hải ngoạị Những câu ca dao “ngoài luồng” này mới thực sự có giá trị về cả hai phương diện văn học và lịch sử. Mai sau, khi đọc những tác phẩm ấy, những thế hệ tương lai có thể phần nào hiểu được nỗi khổ đau cha ông họ đã phải gánh chịu, để họ có cơ hội được làm ngườị Những tác phẩm ấy cũng sẽ khiến các nhà cầm quyền (không cộng sản) sau này phải đắn đo hơn khi cai trị đất nước, nếu không muốn trở thành “ngàn năm bia miệng” như những người cầm quyền trong năm thập niên quạ Và, cuối cùng, người viết cũng hy vọng rằng những thế hệ tương lai ấy, họ sẽ không phải khổ sở đánh vật với miếng cơm manh áo như cha ông chúng bây giờ, họ cũng không phải đón nhận, không phải truyền đi những câu ca dao có những giọt lệ đau xót ẩn dấu trong tiếng cười, như những câu ca dao đăng trong bài viết. Những thế hệ tương lai ấy, họ sẽ có thời giờ, nhiều thời giờ là khác, để đọc những câu ca dao thắm thiết tình cảm của dân tộc, họ sẽ rung động (đến xúc động) khi bắt gặp những câu như “Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Tào Khê nước chẩy vẫn còn trơ trơ”. Và họ sẽ cảm thấy yêu dân tộc hơn, yêu quê huơng hơn: yêu nồng nàn và tha thiết. Nguyễn Ngọc Bảo

 

"Nhân Văn - Giai Phẩm" là một tư trào trong giới trí thức miền Bắc Việt Nam hồi giữa thập niên 50. Nó phản ánh những băn khoăn, trăn trở, suy nghĩ của những người trí thức nhạy cảm trước tình cảnh đau thương của người dân, họ phê phán những điều tệ hại trong xã hội hồi đó và khẩn khoản đề đạt lên ban lãnh đạo của đảng cộng sản (lúc đó mang tên Đảng lao động) những đề nghị để cải tiến tình hình. Tư trào đó nói lên khát vọng dân chủ tự do, nhất là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do sáng tác. Xét sâu xa về thực chất thì đó là một trào lưu dân chủ, bước đầu của sự chống đối chính sách của đảng cầm quyền và chế độ mà đảng ấy áp đặt cho nhân dân. Đúng vậy, đây chỉ là bước đầu mà thôi. Sự chống đối hồi đó còn ở mức độ rất thấp, rất ôn hòa, hoàn toàn chỉ biểu hiện trên mặt báo chí, dưới hình thức văn nghệ, trong lời nói dè dặt, nhẹ nhàng, có khi bóng bẩy, ẩn dụ. Cố nhiên, trong chế độ cực quyền hết sức khắc nghiệt hồi đó, khi mọi người chỉ được phép ca ngợi đảng và lãnh tụ hoặc chỉ biết giữ mồm giữ miệng làm thinh, thì những lời lẽ dù nhẹ nhàng, dè dặt, nhưng công nhiên phê phán sự lãnh đạo của đảng, đã là một sự thách thức lớn đối với chế độ đương thời và là sự thể hiện cao độ lòng dũng cảm đáng phục của lớp sĩ phu Bắc Hà. Hồi giữa thập niên 50, tư trào "Nhân Văn - Giai Phẩm" cuốn hút khá mạnh trí thức miền Bắc thuộc đủ mọi giới: nhà văn, nhà thơ, giáo sư, luật sư, nhạc sĩ, họa sĩ, kỹ sư, diễn viên, ca sĩ, sinh viên, học sinh... Các quan điểm về văn học, nghệ thuật, cũng như về chính trị, kinh tế của tư trào này được trình bày rõ nét nhất trên tờ báo "Nhân Văn" và các tập "Giai Phẩm", nên người ta gọi tư trào này bằng cái tên "Nhân Văn - Giai Phẩm" . Bối cảnh chung Để hiểu được nguyên nhân ra đời của tư trào này, cần phải nhắc lại tình hình Việt Nam, nhất là miền Bắc Việt Nam hồi thập niên 50 và vài sự kiện đáng kể trên thế giới thời đó. Sau khi nắm được quyền bính ở nhiều vùng trong nước, đảng cộng sản đã quên ngay những lời hứa hẹn về dân chủ, tự do mà họ đã hào phóng tung ra khi chưa cầm quyền và ngày càng siết chặt nền chuyên chế của một nhóm người trong đảng đối với nhân dân mà, mỉa mai thay, họ gọi một cách bịp bợm là nền chuyên chính dân chủ nhân dân! Tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết sau thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ; đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, chính quyền của đảng cộng sản tiếp nhận miền Bắc. Ngay sau đó, một triệu dân miền Bắc, đa số là nông dân công giáo, đã bỏ nhà cửa, ruộng đất, tài sản chạy vào miền Nam để thoát khỏi nền thống trị cộng sản. Cuộc cải cách ruộng đất, kèm theo việc chỉnh đốn tổ chức, bắt đầu từ năm 1953, được mở rộng hầu như khắp miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1956, đã gây nên một làn sóng bất bình to lớn trong nhân dân vì những hành động quá tàn bạo chẳng những đối với địa chủ, mà cả đối với nông dân, cán bộ, đảng viên ở nông thôn nữa. Một số nơi đã xảy ra những "vụ lộn xộn", mà đặc biệt nghiêm trọng là ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nông dân đã nổi dậy chống chính quyền đến nỗi các lãnh tụ cộng sản phải điều quân đến đàn áp tàn khốc. Từ tháng 9 năm 1955, toàn miền Bắc, đặc biệt là ở thành thị, đảng cộng sản siết chặt hơn nữa sự kiểm soát nhân dân bằng cái chế độ gọi là "quản lý hộ khẩu", theo đúng khuôn mẫu Liên Xô và Trung Quốc. "Quản lý hộ khẩu" càng làm nổi bật hơn nữa tính chất cảnh sát của chế độ miền Bắc. Đến lúc đó thì sự kiểm soát của đảng cộng sản đối với cuộc sống của người dân đã đến mức toàn diện: cả về sự cư trú, đi lại, cả về sự sản xuất, làm ăn, cả về tư tưởng, tình cảm... Bạn đọc chắc khó lòng tưởng tượng một điều (gần như là một điều luật bất thành văn) mà hồi đó hầu như mọi người phải tuân theo: chẳng những cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên, cán bộ chỉ huy và binh sĩ trong quân đội, mà cả các viên chức, nhân viên công sở mỗi khi lập gia đình đều phải báo cáo trước và được sự "thông qua" của cấp bộ đảng! Trong một chế độ như vậy, lẽ dĩ nhiên, mọi quyền tự do của công dân, mọi quyền của con người bị chà đạp không thương xót. Vì thế bầu không khí chính trị, xã hội rất ngột ngạt và căng thẳng đè nặng trên cả miền Bắc Việt Nam. Trong lúc đó, trên thế giới đã xảy ra nhiều sự kiện có tác động khá mạnh đến tâm tư của con người. Mặc dù bị nhà cầm quyền ra sức bưng bít, những cuộc đấu tranh tư tưởng, học thuật trong giới trí thức các nước gọi là "xã hội chủ nghĩa", như Ba Lan, Hungarie, Nam Tư... và ngay cả ở Trung Quốc láng giềng dưới chế độ hà khắc của họ Mao (cuộc tranh luận giữa Hồ Phong và Chu Dương) đã làm nhiều người trí thức bàn tán xôn xao. Nhưng đặc biệt gây chấn động mạnh nhất đối với dư luận xã hội là tiếng vang của Đại hội XX Đảng cộng sản Liên Xô (ĐCSLX) hồi tháng 2 năm 1956. Qua những tin tức đã bị cắt xén, tỉa gọt, dư luận xã hội, nhất là trong giới trí thức, đã biết được phần nào về những hành động tàn bạo, những tội ác man rợ của Stalin, người mà giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã luôn luôn tôn vinh hơn thánh sống. Lẽ tự nhiên, dư luận xã hội không thể không liên hệ những hành động tội ác của Stalin với hành động của những học trò ông ta và của họ Mao trên đất nước Việt Nam. Lòng bất bình của nhân dân càng thêm sôi sục. Để tránh nguy cơ một cuộc bùng nổ xã hội, giới lãnh đạo cộng sản, hồi tháng 9 năm 1956, bắt buộc phải thừa nhận những "sai lầm" trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, phải tiến hành "sửa sai" và phải vờ vĩnh "trừng phạt" những kẻ phạm "sai lầm". Đồng thời họ hứa hẹn "mở rộng" dân chủ và tự do. Còn ở Đông Âu, sau vụ bạo động ở Poznan (Ba Lan) thất bại, nhân dân Hungarie đã vùng lên trong một cuộc khởi nghĩa mãnh liệt để chống lại nền thống trị cộng sản mà Liên Xô đã áp đặt cho họ. Ngày 2.11.1956, xe tăng Liên Xô đã đè bẹp cuộc khởi nghĩa nhân dân ở Budapest. Những tin tức ấy làm cho tình hình ở miền Bắc thêm sôi động. Đấy, tư trào "Nhân Văn - Giai Phẩm" đã xuất hiện trong bối cảnh như thế. Sau đây xin tóm lược những trang sử bi đát của tư trào đó. Dâng sớ Thiên Tào Hồi cuối năm 1954 đầu năm 1955, một nhóm văn nghệ sĩ trong quân đội - gồm toàn những người đã tham gia kháng chiến chống Pháp lâu năm, nhiều người đã dự trận Điện Biên Phủ và là đảng viên cộng sản - đã họp nhau lại để chuẩn bị những đề nghị (chứ không phải là yêu sách!) với đảng cầm quyền nhằm cải tiến công tác văn nghệ trong quân đội. Đề nghị thì nhiều, nhưng chung quy có thể thu gọn trong một câu mà nhà văn Trần Dần đã thay mặt cả nhóm đứng ra trình bày với Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ chính Trị, chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội: "Trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ". Như thế có nghĩa là văn nghệ sĩ chấp nhận sự lãnh đạo chính trị của đảng, còn đảng thì phải thừa nhận rằng sáng tác văn nghệ là công việc của văn nghệ sĩ, đảng đừng can thiệp thô bạo vào việc sáng tác của họ. Chỉ có thế thôi! Nhưng những người lãnh đạo của đảng đã vội hô hoán lên là nhóm văn nghệ sĩ kia "phủ nhận sự lãnh đạo của đảng", là "quan điểm tự do tư sản, phản động!" Thế là nhiều người bị nghi ngờ, theo dõi, giám sát, trước hết là Trần Dần. Hồi đó, những người lãnh đạo đã nhanh chóng quên bẵng quyển sách viết về trận Điện Biên Phủ, "Người người lớp lớp", mới xuất bản và được hoan nghênh của nhà văn! Cũng cần nói thêm rằng, hồi đó, Trần Dần đang gặp phải bi kịch lớn trong cuộc đời riêng. Sau khi về Hà Nội, nhà văn trẻ tuổi ấy đã yêu một thiếu nữ ngoài 20 tuổi. Lẽ dĩ nhiên, đó là chuyện bình thường. Nhưng dưới con mắt đầy "cảnh giác" của những người lãnh đạo thì đó là việc không bình thường chút nào, vì người yêu của nhà văn là một cô gái Hà Nội, nghĩa là ở vùng bị địch chiếm trước đây(!), hơn nữa, lại là một giáo dân Thiên Chúa giáo(!), lại còn được ủy quyền cho thuê mấy ngôi nhà(!) mà chị đã tự nguyện giao lại cho chính quyền thành phố. Cho nên mối tình đó "chưa được công nhận", không được tán thành. Người ta xét đoán về "lập trường", "quan điểm", về "giai cấp tính", "tư tưởng tính", về "ảnh hưởng tư sản"... Hoàng Cầm đã viết: "Người ta rút những câu to lớn nhất trong hàng chục pho sách chính trị để quy kết cho một mối tình". Và Trần Dần càng bị nghi ngờ là đã bị "trúng viên đạn bọc đường", bị "sa lưới địch"! Vuốt râu hùm Tiếp đó, vào giữa tháng 3 năm 1955, có cuộc phê bình tập thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu xuất bản hồi cuối năm trước. Giá như Tố Hữu là một người bình thường thì có lẽ không có chuyện gì xảy ra cả. Đằng này nhà thơ Tố Hữu lại là ủy viên Trung ương đảng, trưởng ban tuyên huấn trung ương của đảng, người nắm trong tay vận mệnh của nền văn hóa, văn học, nghệ thuật của cả miền Bắc "xã hội chủ nghĩa", cho nên việc phê bình thơ Tố Hữu vô hình trung có tính chất chính trị cao! Trong lúc bao nhiêu kẻ nịnh bợ ca ngợi, bốc thơ Tố Hữu lên tận mây xanh, thì một số nhà văn, nhà thơ "cứng đầu", như Hoàng Cầm, Hoàng Yến, Lê Đạt, Trần Dần... lại dám nói đến mặt yếu kém của thơ Tố Hữu! Đặc biệt, Trần Dần đã nhận xét thơ Tố Hữu "nhỏ bé, nhạt nhẽo trước cuộc sống vĩ đại" và "Tố Hữu mắc sai lầm thần thánh hóa lãnh tụ". Cả gan chê "thơ cách mạng" của Tố Hữu là nhỏ bé, nhạt nhẽo, Trần Dần lại còn dám động đến lãnh tụ! Tội tày trời! Lại một làn sóng ào ạt đả kích nhóm văn nghệ sĩ "cứng đầu" trên báo chí, trong các buổi họp bằng những lời buộc tội rùm beng "tư sản", "phản động", "phản cách mạng", dường như hòa nhịp với các trận đấu tố trong cải cách ruộng đất đang mở rộng ở nông thôn. Thế là Trần Dần và Tử Phác bị bắt giam. Trong thời gian đó, giải thưởng văn học 1954 được công bố. Về thơ: giải nhất - Tố Hữu; giải nhì - Trần Hữu Thung, Xuân Diệu, Tú Mỡ; giải ba - Hồ Khải Đại. Về truyện: Giải nhất - Nguyên Ngọc, Tô Hoài; giải nhì - Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Văn Bổng; giải ba - Phùng Quán, Trần Kim Trác. Ba người nữa được giải khuyến khích. Còn những nhà văn, nhà thơ như Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, v.v... thì không hề được chú ý tới. Nhà văn lão thành cương trực Phan Khôi đã nói tới trong tập "Giai Phẩm Mùa Thu" những bê bối trong việc này. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng vạch ra sự bất công đối với Trần Dần. Nhiều văn nghệ sĩ nói rõ tính chất bè phái, bênh che cho nhau của những người lãnh đạo văn nghệ để đưa những tác phẩm xoàng của họ lên chiếm giải. Sau ba tháng bị giam giữ, Trần Dần và Tử Phác được thả ra với cái án kỷ luật quái gở "cấm sáng tác" và bị đưa xuống nông thôn "tham quan" cải cách ruộng đất. Nợ văn chương Đầu năm 1956, một số nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Văn Cao, Sỹ Ngọc, Nguyễn Văn Tý, v.v... chủ trương ra tập "Giai Phẩm 1956" (sau này gọi là "Giai Phẩm Mùa Xuân") do nhà xuất bản Minh Đức, tức là Trần Thiếu Bảo, một người đã từng theo kháng chiến, ấn hành. Trong tập đó, đáng chú ý có các bài "Chống công thức", "Ông bình vôi" của Lê Đạt, "Cái chổi quét rác rưởi" của Phùng Quán và bài thơ "Nhất định thắng" của Trần Dần làm trong nhà giam. "Giai Phẩm Mùa Xuân" vừa ra khỏi nhà in lập tức bị những người lãnh đạo văn nghệ, như Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi... mạt sát đả kích dữ dội và bị thu hồi. Hoàng Cầm kể lại: "Người ta cho rằng cái bè phái độc quyền trong giới văn nghệ bị công kích (bắt đầu từ cuộc phê bình tập thơ "Việt Bắc") đã tìm cách trả thù"... "Từ những ngày Tết mưa lã chã, cái bè phái độc quyền trong văn nghệ bắt đầu họp đứng họp ngồi để tìm cách đối phó với cái "Giai Phẩm". Một không khí ngạt thở đè nặng lên những anh em có bài trong tập sách đó. Rồi đến một đêm, bài thơ "Nhất định thắng" bị đem ra luận tội"... Trong đêm đấu tố thơ Trần Dần tại cuộc họp đông đảo văn nghệ sĩ trong Hội Văn Nghệ (sau này là Hội Nhà Văn) nhà thơ Trần Dần bị quy là phản động. Hoàng Cầm viết tiếp: "Thôi thế là đêm luận tội này đã đóng cái án tử hình xuống một bài thơ, xuống một con người, đồng thời là một sự đe dọa nặng nề chung cho anh chị em văn nghệ sĩ đang muốn tìm những lối sáng tác khác với cái bè phái kia". Thực ra những lời buộc tội các tác giả có bài trong "Giai Phẩm Mùa Xuân" mà lũ cai tù văn nghệ và đám bồi bút theo đóm ăn tàn đưa ra, có tính chất vu khống đến mức lố bịch. Bài thơ "Ông bình vôi" của Lê Đạt có những câu: "Những kiếp người sống lâu trăm tuổi Y như một cái bình vôi Càng sống càng tồi Càng sống càng bé lại..." thì người ta không đưa ra luận tội công khai trước đám đông, vì sợ động đến "Cha già dân tộc", mà cẩn thận găm vào hồ sơ hình sự như một tội tày đình để hỏi tới sau này. Còn Trần Dần bị buộc tội là "phản bội", "phản động", "bôi đen chế độ", "xuyên tạc thực tế tốt đẹp của miền Bắc"... vì trong bài "Nhất định thắng", ông đã "phơi bày" những nét chân thật, như chuyện "đi Nam" (ý nói việc dân chúng miền Bắc bỏ chạy vào miền Nam), "hàng ế", "hai năm chưa thống nhất đất nước"... Những câu thơ nói lên tâm trạng tác giả lúc buồn "Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ" được láy đi láy lại trong bài thì bị kết tội là tác giả "cố tình nhấn mạnh Đảng là nguyên nhân của cái xã hội thê thảm ở miền Bắc". Có người nói: "Cờ đỏ là cờ của Đảng, của đất nước, nó phải tung bay trong nắng ấm, gió lộng, chứ không thể rủ xuống dưới mưa sa"! Thực ra, trong lúc hăng say đánh "phản động", không mấy ai nhớ đến vài đoạn khác của tác giả như: "Trời đã thôi mưa... thôi gió Đã thấy nắng lên trên màu cờ đỏ"... hoặc "Hôm nay Trời đã thôi mưa, thôi gió Nắng lên đỏ phố, đỏ nhà Đỏ mọi buồng tim lá phổi Em ơi! Đếm thử bao nhiêu ngày mưa"... Trần Dần còn bị buộc tội "phạm thượng" nghiêm trọng, vì hai câu thơ này nữa: "Ôi! Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người Người vẫn thường hốt hoảng trước tương lai"... Người sao lại viết hoa? người viết hoa "chỉ có thể dùng để tôn xưng Hồ chủ tịch"! Tội "phạm thượng" tày trời! Phan Khôi đã viết trong bài "Phê bình lãnh đạo văn nghệ" rằng khi nghe lời "phê phán" như vậy, ông ngỡ như mình đang chiêm bao sống dưới cái thời quân chủ, khi những chữ thuộc về Hoàng thượng thì "bá tánh" không được dùng! Thực ra, đêm đấu tố thơ Trần Dần chủ yếu là nhằm khủng bố tinh thần văn nghệ sĩ, chứ không phải để quyết định số phận của ông, vì số phận của ông đã được giới lãnh đạo đảng cầm quyền quyết định từ trước rồi: ông bị bắt lần thứ hai! Trong nhà giam, phẫn uất quá nhà thơ cắt cổ tự tử, nhưng không chết, sau này vẫn mang cái sẹo ở cổ. Những chuyện đó xảy ra hồi tháng 2 năm 1956. Cũng trong tháng đó đã diễn ra cuộc Đại hội XX lịch sử của ĐCSLX, còn trong tháng 4 thì Trung ương Đảng lao động Việt Nam (ĐLĐVN) đã bàn về Đại hội XX. Từ 28.4 đến 3.5.1956, hội nghị cán bộ trung cao cấp họp để nghiên cứu các nghị quyết của Đại hội XX và của Trung ương ĐLĐVN. Chính tại hội nghị này, được ảnh hưởng của làn gió phê bình của Đại hội XX, nhiều cán bộ đã mạnh dạn vạch trần tệ sùng bái cá nhân trong đảng, vạch trần nạn độc tài, độc đoán, những sai lầm trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, quản lý hộ khẩu, thương nghiệp (lúc đó gọi là mậu dịch)... Tình trạng căng thẳng cao độ trong xã hội đã ảnh hưởng mạnh đến bầu không khí sôi sục của hội nghị. Ngày 5.5, Trần Dần được thả ra. Ngày 26.5, Lục Đỉnh Nhất tuyên bố phong trào "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" ở Trung Quốc. Ngày 13.6, tờ"Nhân Dân Nhật Báo" ở Bắc Kinh đăng bài đó thì sinh viên Việt Nam liền dịch và đăng ngay trên báo tường trường đại học tổng hợp Hà Nội, trong lúc đó báo "Nhân Dân" ở Hà Nội cứ chần chừ mãi đến ngày 30.9 mới đăng. Trước sức ép của dư luận trong đảng và ngoài xã hội, mãi đến tháng 9.1956, hội nghị Trung ương đảng mới thừa nhận "những sai lầm nghiêm trọng" trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đề ra việc "sửa sai" và "cất chức" Trường Chinh, Hồ Viết Thắng, Lê Văn Lương và Hoàng Quốc Việt. Trung ương đảng cũng đã quyết định "mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền tự do dân chủ". "Quả bom tạ" Một làn gió mát đầy hy vọng thổi vào tâm hồn những người trí thức, văn nghệ sĩ yêu tự do. Vì thế, những người trước đây đã ra "Giai Phẩm Mùa Xuân" (tập ấy đã bị thu hồi), lần này lại chủ trương ra "Giai Phẩm Mùa Thu" tập I, tập II và "Giai Phẩm Mùa Đông". Ngày 29.8, "Giai Phẩm Mùa Thu" tập I ra mắt với những bài "Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ" của Trương Tửu, "Bức thư gửi một người bạn cũ" của Trần Lê Văn, "Chống tham ô lãng phí" của Phùng Quán và đặc biệt là bài phê bình nảy lửa "Phê bình lãnh đạo văn nghệ" của Phan Khôi. Độc giả miền Bắc Việt Nam từ bấy lâu chỉ được đọc những lời ngọt ngào tâng bốc lãnh đạo, bây giờ được nghe những lời thẳng thắn, đĩnh đạc, mạnh dạn phê bình lãnh đạo, thốt ra từ miệng một nhà nho cương trực đã 70 tuổi. Hồi đó, trên tờ "Thời Mới" ở Hà Nội (tờ báo tư nhân còn sót lại của ông Hiền Nhân), có người viết rằng bài viết của cụ Phan như một "quả bom tạ" thả xuống Hà Thành. Hơn 20 ngày sau, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy... cho ra đời tờ báo "Nhân Văn", do Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy làm thư ký tòa soạn. Số 1 của báo "Nhân Văn" ra ngày 20.9, tuyên bố là "báo "Nhân Văn" đứng dưới sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam, theo chủ nghĩa Mác-Lênin với tinh thần thực tiễn, để xúc tiến công cuộc củng cố miền Bắc, thống nhất nước nhà, để đi đến thực hiện xã hội chủ nghĩa, theo như ý muốn của Đảng cũng là ý muốn của nhân dân cả nước". Trong số đó, có những bài làm độc giả rất chú ý, vì tính chất khác thường, như "Y³ kiến của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường Giáo sư đại học" về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ, bài "Chống bè phái trong văn nghệ" của Trần Công, nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn nêu rõ sự độc đoán của nhóm người lãnh đạo văn nghệ, bài thơ "Nhân câu chuyện mấy người tự tử" của Lê Đạt, với lời kêu gọi "Phải hiểu, phải yêu, phải trọng con người" và đặc biệt là bài hồi ký "Con người Trần Dần" của Hoàng Cầm, hé tấm màn bí mật về sự đàn áp tự do tư tưởng, tự do sáng tác, về việc Trần Dần hai lần bị bắt. Báo "Nhân Văn" vừa ra đã có tiếng vang rất lớn trong nhân dân các thành phố, người ta chuyền tay cho nhau đọc và bàn tán sôi nổi. Ngày 25.9, báo "Nhân Dân" của đảng đăng bài của Nguyễn Chương (dù không nêu chức danh, nhưng ai cũng biết đó là phó trưởng ban tuyên huấn trung ương của đảng) với những lời vu cáo chính trị hoàn toàn vô căn cứ, cố ghép báo "Nhân Văn" vào tội chính trị: "Muốn nhân việc phê bình lãnh đạo văn nghệ hẹp hòi, mệnh lệnh mà làm cho người ta tưởng rằng toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam và toàn bộ chế độ chính trị ở miền Bắc là độc đoán, độc tài, chà đạp con người, không có nhân văn". Tiếp sau đó là một loạt bài khác đăng trên các báo của đảng cũng lặp lại những luận điệu tương tự: báo "Nhân Văn" đánh vào đảng lãnh đạo, vào chế độ, nói một cách khác, "phản động", "phản cách mạng"! Đồng thời Sở báo chí trung ương của Thủ tướng hạn chế lượng giấy mà báo "Nhân Văn" được mua để in và bày ra trò thi hành kỷ luật báo "Nhân Văn". Còn Bộ công an, lẽ cố nhiên, từ lâu đã được lệnh "bám sát các đối tượng" văn nghệ sĩ chống đối này. Trong lúc đó, người dân thành thị "đói khát sự thật" đã lâu ngày, say sưa tìm đọc, cổ động cho báo "Nhân Văn"; nhiều độc giả quên cả sợ, công khai bênh vực báo "Nhân Văn", đập lại luận điệu vu khống của các báo đảng. Tờ "Trăm Hoa" của nhà thơ Nguyễn Bính không chịu đăng bài chỉ trích báo "Nhân Văn" do Thiết Vũ, cán bộ của Sở báo chí, đưa đến, sau đó Nguyễn Bính bị Thiết Vũ hành hung. Sinh viên cho ra tờ "Đất Mới" do Bùi Quang Đoài làm chủ bút, còn tờ "Thời Mới" của Hiền Nhân lâu nay vẫn hiền lành, giờ đâm ra "trở chứng", cứ nêu ra những "sai lầm" của đảng và đề nghị sữa chữa... Vượt qua biết bao nhiêu trở ngại do nhà cầm quyền gây ra, báo "Nhân Văn" tiếp tục ra đều đến số 5. Bạn đọc hoan nghênh "Y³ kiến nhà sử học Đào Duy Anh" về mở rộng tự do, dân chủ và các bài bàn về vấn đề đó, như "Nỗ lực phát triển tự do, dân chủ" của Trần Duy, "Hiến pháp Việt Nam và Hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do, dân chủ, như thế nào" của Nguyễn Hữu Đang, "Bài học Ba Lan và Hung-ga-ri" của Lê Đạt (ký bút danh Người Quan Sát), đã nêu ra những đề nghị đáng chú ý. Về văn nghệ, kịch "Xem mặt vợ" của Hoàng Tích Linh, truyện ngắn "Con ngựa già của Chúa Trịnh" của Phùng Cung, chuyện vui "Thi sĩ máy" của Như Mai (ký bút danh Châm Văn Biếm), thơ Văn Cao, Hoàng Tố Nguyên, đăng trên báo đều được độc giả tán thưởng. Nhưng sức ép của giới cầm quyền ngày một mạnh: người ta tổ chức những buổi nói chuyện ở các trường, các công sở, các khu phố "vạch mặt" báo "Nhân Văn" chống đảng, chống chế độ, gây khó khăn cho việc đấu tranh thống nhất nước nhà... vì thế không được đọc và phổ biến báo ấy. Thế mà nhiều sinh viên, học sinh có cảm tình với báo vẫn tự nguyện mang báo đi bán. Trong lúc đó, tiếng vang của cuộc nổi dậy ở Hungarie đã làm cho nhà cầm quyền lo sợ. Bộ chính trị Trung ương đảng quyết định chấm dứt tình trạng "dân chủ không có lãnh đạo" này. Thế là "nhà đạo diễn" Tố Hữu đã... tổ chức mọi việc! Trận càn quét Tức thì một loạt bài trên báo chỉ của đảng hô hoán lên rằng "từ số 4 và số 5, báo "Nhân Văn" đã chuyển hẳn sang vấn đề chính trị" (lời buộc tội mập mờ nhưng rất nguy hiểm!), và những cây bút chính của báo được gán cho những "mỹ từ", như "bọn phá hoại", "phản cách mạng"... Đến trung tuần tháng 12, Tố Hữu la ó lên rằng trong số 6, Nguyễn Hữu Đang viết bài xã luận trắng trợn xúi giục quần chúng biểu tình nhân dịp Quốc hội sắp họp, mặc dù số 6 mới lên khuôn, chưa in. Thế là cán bộ Liên hiệp công đoàn Hà Nội được lệnh phải tức tốc đến nhà in Xuân Thu bắt công nhân "hãm" việc in báo lại. Và thật là nhịp nhàng, "đồng bộ" như trong một chiến dịch, ngày 15.12.1956, báo "Nhân Dân" đăng lời tuyên bố của 235 văn nghệ sĩ Nam Bộ (trên báo chí chỉ công bố tên 41 người) lên án "báo "Nhân Văn" là một phương tiện để cho địch lợi dụng gây sự hiểu lầm miền Bắc, gây chia rẽ Bắc Nam"! Cũng trong ngày hôm đó, 180 nhà báo ở Hà Nội (hoàn toàn không ghi tên ai cả) lên án báo "Nhân Văn" "nói sai sự thật, xuyên tạc nhiều vấn đề với dụng ý bôi xấu chế độ ta", "gây hoang mang, chia rẽ trong nhân dân và vô cùng phương hại đến công cuộc giành thống nhất nước nhà"! Cũng trong ngày hôm đó, bác sĩ Trần Duy Hưng, chủ tịch U±y ban hành chính thành phố Hà Nội ra quyết định đóng cửa báo "Nhân Văn". Cũng trong ngày hôm đó, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh ra sắc lệnh về báo chí, trong đó có quy định: nếu vi phạm những điều cấm, như tuyên truyền chống chế độ, chống chính phủ, nói xấu các nước bạn, xúi giục dân chúng làm loạn... thì bị phạt tù từ 5 năm đến chung thân, bị tịch thu một phần hay toàn bộ tài sản. Sắc lệnh được công bố thì các tờ báo "Trăm Hoa", "Giai Phẩm", "Đất Mới"... đều bị bóp chết không kèn không trống. Hồn tự do vẫn sống Để bù lại lỗ trống, đảng cầm quyền cho ra tờ tuần báo"Văn" của Hội nhà văn do đảng lãnh đạo. Thế nhưng, báo "Nhân Văn", "Giai Phẩm", cũng như "Trăm Hoa", "Đất Mới"... dù bị giết chết, mà tinh thần "Nhân Văn - Giai Phẩm" - tức là lòng khao khát tự do, dân chủ - vẫn còn sống mạnh mẽ. Báo "Nhân Văn" lại "hiện hồn" trên những trang báo "Văn". Sau thời kỳ đầu "theo đúng lập trường của đảng", báo "Văn" với những cây bút có tiếng như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Tế Hanh... dần dần trở nên "lệch lạc". Trên trang báo số 21, ngày 17.9.1957, Phùng Quán lại xuất hiện với bài thơ "Lời mẹ dặn": "Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét, Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng không nói yêu thành ghét, Dù ai cầm dao dọa giết Cũng không nói ghét thành yêu... " Đến số 24, Hoàng Cầm ra mắt bạn đọc tuần báo "Văn" với "Tiếng hát". Rồi Trần Duy vẽ tranh châm biếm "Một phương pháp xây dựng nghệ thuật", Minh Hoàng cho ra "Đống máy", Phan Khôi cho ra "Ông Năm Chuột". Bạn đọc gặp lại Trần Dần trên trang báo "Văn" với bài thơ "Hãy đi mãi". Không thể chịu được nữa! "Hồn" của "Nhân Văn - Giai Phẩm" vẫn còn phảng phất đâu đây trong giới trí thức miền Bắc! Đảng đành phải làm một việc thất nhân tâm: đình bản tuần báo "Văn" do chính tay đảng đã đưa ra! Thế là báo này chỉ ra vẻn vẹn được 37 số đã chết yểu! Nhưng, như thế vẫn chưa "đào tận gốc trốc tận ngọn" cái khát vọng tự do, cái tinh thần "Nhân Văn - Giai Phẩm" đáng ghét kia được, nên giới lãnh đạo của đảng đã thi hành một kế hoạch "triệt để". Lại càn quét, lại đấu tố Việc đầu tiên là đảng giao cho Tiểu ban văn nghệ trung ương tiến hành kiểm tra nghiêm ngặt toàn bộ tổ chức, cán bộ của Hội nhà văn, ngành và Hội âm nhạc, ngành và Hội mỹ thuật, ngành sân khấu, ngành điện ảnh, các trường đại học, nhất là khoa văn, khoa sử. Theo báo cáo của Tố Hữu đọc ngày 4.6.1958 tại Hội nghị Ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật thì "nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" đã lũng đoạn nặng nề về tư tưởng và tổ chức những cơ quan xung yếu của Hội nhà văn. Từ báo "Văn" đến nhà xuất bản, từ Ban nghiên cứu sáng tác, Ban liên lạc với nước ngoài đến câu lạc bộ, quỹ sáng tác" (xem sách "Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta với thời đại ta" của Tố Hữu, tr. 151). Đối với các ngành và các hội văn học, nghệ thuật khác, Tố Hữu cũng có nhận xét tương tự. Thế là một đợt "chỉnh đốn tổ chức" được tiến hành nhằm thải loại những người "có vấn đề" và đưa những người "có lập trường vững" để thay thế. Trong các trường đại học, người ta gạt ngay những người "có liên quan" đến "Nhân Văn - Giai Phẩm" ra khỏi bục giảng. Tiếp đó, Bộ chính trị Trung ương đảng ra nghị quyết ngày 6.1.1958 về việc chấn chỉnh công tác văn nghệ, do Trường Chinh ký. Cũng theo lời của Tố Hữu: "dưới ánh sáng của nghị quyết Bộ chính trị, mở ra hai lớp học tập cho ngót năm trăm anh chị em văn nghệ sĩ" (Sđd, tr. 152). Cái gọi là "học tập" đó của "anh chị em văn nghệ sĩ" có thực chất là gì? Trên danh nghĩa công khai, các lớp "học tập" do Tiểu ban văn nghệ trung ương của đảng phụ trách, nhưng Tiểu ban này phối hợp rất chặt chẽ với một vụ của Bộ công an lo cái việc gọi là "bảo vệ văn hóa". Tất cả những ai có giấy triệu tập đều phải có mặt. Ban lãnh đạo lớp "học tập" bí mật sơ bộ "phân loại" những người đến lớp, đại thể ra thành mấy loại: "đối tượng" (tức là đối tượng đấu tranh, những người sẽ bị "đấu", ban lãnh đạo xếp họ vào loại "bọn phản động", "bọn phá hoại"...), "những người có vấn đề" (tức là những người bị coi là có "sai lầm", nhưng chưa hẳn là "ngoan cố"), "những người lưng chừng" (tức là những người chưa tích cực đấu tranh) và "chỗ dựa" (tức là những người "có lập trường vững" và tích cực đấu tranh, trong đám này không ít kẻ ghen tỵ, bọn vô tài tâng công, nịnh bợ cấp trên (2) để ngoi lên địa vị). Khi chia tổ, người ta chú ý phân bố làm sao ở mọi tổ đều có "chỗ dựa" mạnh để bảo đảm "thắng lợi". Mở đầu lớp học, ban lãnh đạo tuyên bố rõ trong cuộc đấu tranh, mỗi người chỉ có một chỗ đứng, hoặc về "phe ta" hoặc về "phe địch", không thể lưng chừng. Tố Hữu nói một cách văn vẻ là "lựa chọn đất đứng nào trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta" (Sđd, tr. 133). Học xong nghị quyết Bộ chính trị, mỗi người phải "liên hệ", làm "kiểm thảo" để "bộc lộ" sai lầm của mình, rồi trình bày trước tổ để mọi người "góp ý kiến", "chất vấn", "phê phán", còn người "kiểm thảo" thì phải trả lời mọi câu "chất vấn" cho đến khi nào tổ "chấp nhận". Đối với những "đối tượng" và những người "có vấn đề" thì thực chất của quá trình này là một "cuộc đấu tố" với mọi kiểu "tố giác", "hỏi cung tập thể", "mớm cung" để người "kiểm thảo" cuối cùng phải nhận "tội". Những "đối tượng", sau thời gian "học tập" ở lớp, còn "được" công an "làm việc" một cách tích cực. " Tố đại hội " Để chuẩn bị dư luận cho việc đàn áp nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" từ cuối tháng 3 đến tháng 5, tháng 6, tất cả các báo của đảng đồng loạt đăng những bài "tố cáo", "vạch mặt" với lời lẽ rất thô bỉ nhưng không có chứng cớ cụ thể gì. Đọc những bài ấy, độc giả khách quan không thể không liên tưởng đến những lời "tố khổ" của những người nông dân bị đội cải cách ruộng đất xúi giục trong các trận "đấu" địa chủ thật cũng như địa chủ bị quy oan. Đây là "mẫu mực" của lối đấu tố thời đó (mà sau cải cách ruộng đất, nông dân gọi là "tố điêu", "tố đại hội") thốt ra từ miệng những người mang danh là trí thức! Nguyễn Đình Thi lớn tiếng "vạch mặt": "Rọi sáng vào cái ổ "Nhân Văn - Giai Phẩm" ấy, chúng ta thấy hiện lên những tên tác động tinh thần, mật thám, những bọn lái buôn văn nghệ, những tên phản cách mạng già đời, tất cả bọn chúng ngoặc với một số người văn nghệ từ chỗ sa đọa đi tới phản động về chính trị... Trong đời sống, những phần tử "Nhân Văn - Giai Phẩm" đã trở lại là những "cậu ấm con quan", "công tử nhà giàu", có cả những chủ nợ lãi, chủ nhà thổ lậu, hoặc những kẻ sống nửa lưu manh, không có đất đứng trong xã hội" ("Nhân Dân", số 1511, 1.5.1958). Xuân Dung "tố" Thụy An làm "gián điệp": "... có người (hiện đương ở Hà Nội) lại trông thấy Thụy An ngồi chung xe với tên tướng giặc Cô-nhi, ấy là chưa kể có tin nó vào Sài Gòn rồi lại trở ra Hà Nội, một tháng trước khi tiếp quản... Giải phóng thủ đô, nhiều người lạ lùng vì sự có mặt của con này. Riêng với cái việc xuống Hải Phòng khi ta chưa tiếp quản, rồi lại về Hà Nội một cách đàng hoàng cũng đủ cho ta suy nghĩ" ("Thủ Đô", 23.4.1958). Hồng Vân "tố cáo" Nguyễn Hữu Đang: "Hắn là con một tên chánh tổng ở Thái Bình. Chính gia đình địa chủ cường hào này đã rèn luyện cho hắn cái đầu óc thích "ăn trên ngồi trốc", thích địa vị với nhiều thủ đoạn nham hiểm và tàn nhẫn... Trong chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc lồng lộn khủng bố, toàn bộ Đảng ta rút vào bí mật. Không những các cán bộ, đảng viên, mà cả những đoàn viên thanh niên dân chủ cũng bị lùng bắt. Còn Nguyễn Hữu Đang vẫn hoạt động công khai trong phong trào truyền bá quốc ngữ" (Tạp chí "Văn Nghệ", số 12, 5.1958). Xuân Ba "đấu" Trần Thiếu Bảo: "Là con một chủ hàng cơm ở Thái Bình, do lừa lọc gian giảo, bợ đỡ bọn công sứ và quan lại phong kiến trở nên giàu có, Trần Thiếu Bảo mở hiệu sách Minh Đức, sau đó lại chạy chọt để được làm hội viên Hội trí thể dục do tên công sứ Pháp làm hội trưởng... Được tên tơ-rốt-kít Trương Tửu mách nước, bọn chúng tổ chức lễ kỷ niệm Vũ Trọng Phụng (Vũ Trọng Phụng là người thế nào và đánh giá tác phẩm Vũ Trọng Phụng ra sao, sau này sẽ được nhân dân chứng minh thêm)" (Sách "Bọn "Nhân Văn - Giai Phẩm" trước tòa án dư luận", tr. 53). Hoài Thanh "luận tội" Trương Tửu: "Cách mạng Tháng Tám thành công ngày 19.8.1945. Ba tuần sau, vào ngày 10.9.1945, Trương Tửu xuất bản quyển "Tương lai văn nghệ Việt Nam". Trong quyển sách cũng như trong lời tựa, hoàn toàn không có lấy một lời nói đến Cách Mạng Tháng Tám... Vẫn một lối huênh hoang và bịp bợm cũ, nó làm như chỉ có nó mới là triệt để cách mạng. Một mặt nó bóp méo, bịa đặt để vu khống... Một mặt khác nó xuyên tạc lời nói của các lãnh tụ. Nó trích dẫn Mác đả kích chính quyền phản động cũ để gián tiếp đả kích chính quyền ta" ("Văn Nghệ", số 11, 4.1958). Để sổ toẹt đoạn đường theo kháng chiến của Trương Tửu, Bùi Huy Phồn viết: "Có người thấy Trương Tửu theo đuổi được chín mười năm (kháng chiến) cũng là một điều kỳ lạ. Tôi thì tôi muốn đặt ngược lại vấn đề: Trương Tửu theo kháng chiến có phải là thực tâm tán thành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của chúng ta, hay còn vì "mục đích" gì khác nữa?"; "...Trong khi giảng dạy ở trường đại học, hoặc nói chuyện với những sinh viên thân cận, Trương Tửu đưa ra một mớ lý luận sặc mùi tơ-rốt-kít nếu không là gián điệp: nào là "giai cấp công nhân sắp hết vai trò sản xuất, quân đội sắp hết vai trò chiến đấu trong thời đại nguyên tử này". Đề làm gì, nếu không nhằm làm tê liệt ý chí đấu tranh và sản xuất của các tầng lớp cơ bản trong nhân dân ta?" ("Văn Nghệ", số 12, 5.1958). Phạm Huy Thông "vạch mặt" Trần Đức Thảo: "Trở nên môn đệ của Giăng Pôn Xác, Thảo đã tham gia những hoạt động văn hóa và chính trị phản động của nhóm "Thời Nay" do Xác chỉ huy, nêu cao thuyết "sinh tồn", một thuyết phản động về triết học và chính trị, chủ yếu nhằm chống lại phong trào cộng sản ở các nước phương Tây... Thảo vu khống Đảng cộng sản Pháp có đầu óc đế quốc thực dân(!), phỉ báng chính sách ngoại giao của ta mà Thảo cho là đầu hàng, phản bội(!). Nói về Hiệp ước sơ bộ 6.3.1946, Thảo đã phụ họa với bè lũ tơ-rốt-kít, chống lại chính phủ ta và đã thốt lên những lời thóa mạ thô bỉ, rất hỗn xược với các lãnh tụ của ta" ("Nhân Dân", 4.5.1958). Thế Lữ viết về Phan Khôi: "Phan Khôi phản cách mạng, ngấm ngầm chống đảng lãnh đạo cách mạng từ trong kháng chiến, đó là việc hiện giờ ta đã thấy rõ hiển nhiên... Phan Khôi vẫn khoe là được Hồ chủ tịch tặng một chiếc áo lụa, và kể cho tôi nghe một chuyện gặp Hồ chủ tịch. Ơ± chuyện được áo, tôi không thấy ông ta tỏ ra một ý nào gọi là cảm kích. Phan Khôi không cảm thấy được rằng một cử chỉ đơn giản đó của Người biểu trưng cho một tình bao dung nhân ái rộng lớn dồi dào của đạo đức cách mạng" ("Nhân Dân", số 1501, 12/4/1958). Có biết bao "lời vàng ngọc" khác đã được viết lên trên các báo của đảng để "tố cáo" Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Trần Duy và những người khác trong nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" không thể kể hết được! Cuối cùng, những người được gọi là "bị ảnh hưởng tư tưởng "Nhân Văn - Giai Phẩm", như nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Tế Hanh, nhà văn Tô Hoài cũng phải viết bài trên báo đảng để nhận "tội" (xem "Nhân Dân" số 1451, 2.3.1958, số 1461, 12.3.1958, số 1463, 14.3.1958). Rồi hàng loạt, hàng loạt bài của các giới, công nông binh, trí thức... phát biểu ào ào trên báo, mặc dù số đông tác giả các bài này chưa hề đọc, thậm chí chưa hề biết mặt tờ "Nhân Văn" hay các tập "Giai Phẩm"! Sau cùng là những bài "thú tội" của Trần Dần, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm và Văn Cao được đăng lên báo. Đạp xuống bùn đen Đến lúc này thì ban lãnh đạo đảng đã có thể hò reo mừng "thắng lợi" và Tố Hữu đã có thể rầm rộ "báo công" trước đảng: ngày 4.6.1958, ông đọc "Báo cáo tổng kết cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại "Nhân Văn - Giai Phẩm"" tại hội nghị Ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật. Ông nói: "...cuộc đấu tranh từ năm tháng nay chống nhóm phá hoại "Nhân Văn - Giai Phẩm" trên mặt trận văn nghệ, một cuộc đấu tranh quyết liệt, có tính chất quần chúng và toàn quốc, chưa từng thấy mấy chục năm nay... Dưới sự lãnh đạo kiên quyết và sáng suốt của đảng ta, cuộc giao phong tư tưởng vừa qua đã giành được thắng lợi lớn" (Sách "Xây dựng một nền văn nghệ lớn... ", tr. 133). Dường như tự coi mình là tổng công tố kiêm chánh án Tòa án Tối cao, ông lớn tiếng tuyên bố: "Lật bộ áo "Nhân Văn - Giai Phẩm" thối tha, người ta đã thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách "chống cộng", phim ảnh khiêu dâm" (Sđd, tr. 138). Và - cũng như bọn cai tù văn nghệ tay chân của mình - ông tự cho phép tha hồ thóa mạ, sỉ nhục trí thức, văn nghệ sĩ cách đây không lâu còn ở trong hàng ngũ của đảng hoặc đứng dưới lá cờ của đảng cộng sản, bằng những từ ngữ thô bỉ nhất: "bọn trốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo", "bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng", "bọn Trần Dần, Tử Phác, những tên phản Đảng, những đứa con hư của Hà Nội cũ", "tên mật thám Trần Duy", "bọn Phan Khôi, mật thám cũ của thực dân Pháp", "bọn gián điệp Thụy An"... (Sđd, tr.141, 146...). Cuối cùng, Tố Hữu kết "tội" nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" đã "ra mặt phản cách mạng, đánh thẳng vào chế độ và sự lãnh đạo của đảng... âm mưu gây biến động", "lũng đoạn Hội nhà văn và các cơ quan nghệ thuật, xây dựng "pháo đài" chống cách mạng ở trường đại học", "kích thích chủ nghĩa cá nhân tư sản, bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản", "khiêu khích nhân dân chống lại chế độ và Đảng lãnh đạo", "chống lại nền chuyên chính vô sản", "chống lại toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa", "gieo rắc chủ nghĩa dân tộc tư sản", "chống lại chủ nghĩa quốc tế vô sản", "ra sức chửi rủa cái mà chúng gọi là chủ nghĩa Xta-lin, vu khống Đảng ta là "giáo điều", "nô lệ" và vu khống các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc". Tố Hữu lên án nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" là "phản động", "phản cách mạng" vì đã "phản đối văn nghệ phục vụ chính trị, đòi "tự do độc lập" của văn nghệ, rêu rao "sứ mạng chống đối" của văn nghệ, phản đối văn nghệ phục vụ công nông binh, nêu lên con người trừu tượng", "đả kích văn nghệ kháng chiến của ta", "phủ nhận hoàn toàn phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, coi đó chỉ là một sản phẩm của "thời kỳ Xta-lin", "đòi "trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ" thực ra là đòi đưa quyền lãnh đạo văn nghệ vào tay bọn phản cách mạng"... (Sđd, tr.144-193). Sau đó, các ban chấp hành các hội văn học nghệ thuật đã họp để ra nghị quyết khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt ra khỏi Hội nhà văn, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh ra khỏi ban chấp hành; khai trừ Trần Duy ra khỏi Hội mỹ thuật, Sỹ Ngọc, Nguyễn Sáng ra khỏi Ban chấp hành; khai trừ Tử Phác, Đặng Đình Hưng (thân sinh nhạc sĩ Đặng Thái Sơn) ra khỏi Hội nhạc sĩ sáng tác, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý ra khỏi Ban chấp hành... Đó là mặt công khai, còn mặt "không công khai tuyên bố" thì một loạt văn nghệ sĩ, trí thức bị sa thải khỏi cơ quan, công sở, trường học, nhiều người bị bắt bớ, giam giữ, xét hỏi... Vẫn chưa đủ! Cần phải lập hồ sơ để dựng lên một vụ án! Một vụ án "điển hình"! Để trí thức, tư sản chống đối phải khiếp sợ khi đảng đưa miền Bắc "tiến lên chủ nghĩa xã hội"! " Sổ đen" hay "sổ vàng "? Dưới đầu đề "Cái ổ chuột "Nhân Văn - Giai Phẩm" bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận", người ta đã công bố danh sách (một loại sổ đen) để bôi nhọ những văn nghệ sĩ đã tham gia "Nhân Văn - Giai Phẩm". Mời các bạn xem một đoạn để nhớ đến (như sổ vàng ghi công) những người đã bị đàn áp vì đấu tranh cho tự do và dân chủ: "Qua sự phát hiện của hai cuộc hội nghị (Tố Hữu thì nói là hai lớp học tập) nói trên, chúng ta được biết nhóm phá hoại "Nhân Văn - Giai Phẩm" bao gồm những tên đầu sỏ, những "cây bút" đã viết "hoặc nhiều hoặc ít" cho "Nhân Văn - Giai Phẩm" như: Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Sỹ Ngọc, Chu Ngọc, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Phùng Quán, Trần Công, Trần Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huế, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm Văn Biếm, Hữu Thung, Nguyễn Khắc Dực, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh Bình, Yến Lan, Nguyễn Thành Long, Trần Lê Văn, Lê Đại Thanh, v.v... Nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt)". (Sách "Bọn "Nhân Văn - Giai Phẩm" trước tòa án dư luận", tr. 309-310). Sau đó, còn thêm Hữu Loan và vài người khác nữa. Hồ sơ đã lập xong, giới lãnh đạo đảng đã quyết định đưa một số người trong nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" ra xét xử tại tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hồi đầu năm 1960. Để tránh tiếng xử "vụ án văn chương", theo chỉ thị cấp trên, tòa phải xử thành "vụ án gián điệp", phải xử "nhanh gọn" và hạn chế đến mức tối thiểu số bị cáo đưa ra tòa để dư luận không xôn xao nhiều. Năm người bị đưa ra xét xử là: Lưu Thị Yên (Thụy An), Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo (Minh Đức) và hai tòng phạm - Phan Tài, Lê Nguyên Chi. Kể ra thì buộc tội gián điệp cũng "hơi khó" vì thực ra không có bằng chứng gì cụ thể, ngoài một chi tiết là Thụy An có quen biết với Maurice Durand, một nhà Việt học người Pháp ở trường Viễn Đông Bác Cổ! Nhưng tòa án của nền chuyên chính vô sản cũng đã có cách: Maurice Durand phải coi là "điệp viên" của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thụy An quen biết, giao thiệp với M. Durand, tất nhiên là "gián điệp". Nguyễn Hữu Đang và Trần Thiếu Bảo cùng Thụy An cộng tác với nhau để ra báo "Nhân Văn" và "Giai Phẩm", dĩ nhiên đều là gián điệp! Vả lại, phiên tòa tuy được tuyên bố là "công khai", nhưng các nhà báo nước ngoài không được đến dự, còn các nhà báo trong nước và dân chúng thì... chỉ những người có "giấy mời" mới được vào. Còn luật sư biện hộ thì đã do đảng lựa chọn rồi, họ chẳng có trách nhiệm gì với thân chủ của họ! Thế là ngày 21.1.1960, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên án các "tên gián điệp" Lưu Thị Yên (Thụy An) và Nguyễn Hữu Đang, mỗi người 15 năm tù, Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà xuất bản Minh Đức - 10 năm tù, hai tòng phạm Phan Tài và Lê Nguyên Chi - mỗi người 5 năm tù. Các báo đưa tin giật gân này với dòng tít lớn: "Tòa án nhân dân Hà Nội đã xử vụ gián điệp Nguyễn Hữu Đang - Thụy An" (3). Người dân Hà Nội bàng hoàng, nín lặng; nhiều người hoài nghi: không khéo lại như hồi cải cách ruộng đất! Tuy nhiên, "vụ án gián điệp" mới chỉ là "phần nổi của băng đảo" mà thôi, còn "phần chìm" của nó ít ai được biết. Đó là hàng chục văn nghệ sĩ tài ba, giáo sư đại học uyên bác, nói chung là trí thức, khao khát tự do, có đầu óc biết suy nghĩ, bị bắt bớ, tù đày, bị tước quyền công dân trong nhiều năm mà không hề được xét xử công khai, minh bạch, như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Duy, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Trương Tửu, Trần Đức Thảo,v.v... Đó là trên một trăm văn sĩ, thi sĩ, giáo sư, giáo viên, luật sư, sử gia, nhạc sĩ, họa sĩ, kịch sĩ, sĩ quan... bị bắt giữ, xét hỏi, sa thải, mất việc, bị tước quyền sáng tác, bị cô lập, bị ghi vào lý lịch, ghi vào sổ đen để suốt đời bị kỳ thị, con cái bị vạ lây. Đó là hàng ngàn, có người nói hàng chục ngàn người ("Mặt Thật" của Thành Tín, tr. 161), ở các địa phương, các ngành, các đoàn thể... đã có cảm tình với "Nhân Văn - Giai Phẩm", đã ủng hộ công khai và bí mật, đã bênh vực, tàng trữ, chuyền tay nhau đọc các báo "Nhân Văn", "Giai Phẩm", "Đất Mới" cũng bị bắt giữ, xét hỏi, giam ngắn hạn, mất việc, bị cảnh cáo ghi lý lịch. Những người đó trong dân gian gọi là "Nhân Văn tỉnh", "Nhân Văn huyện", "Nhân Văn xóm"... Thật là một bi kịch lớn của nhân dân! Bao nhiêu đau thương! Biết bao cuộc đời tan vỡ! Số phận sĩ phu Thiết tưởng nên nhắc qua số phận bi đát của một số người đã tích cực tham gia hoặc ủng hộ "Nhân Văn - Giai Phẩm". Phan Khôi (bút danh Chương Dân), một nhà nho, nhà báo tài ba, đã từng viết cho nhiều báo từ Bắc chí Nam, từng làm chủ nhiệm báo "Sông Hương", là người khởi xướng và cổ vũ phong trào thơ mới với bài "Tình già". Là một nhà nghiên cứu và bình phẩm văn thơ giỏi, với tác phẩm "Chương Dân thi thoại". Những bài ông viết về ngôn ngữ học rất có giá trị (xem tác phẩm"Việt ngữ nghiên cứu" của ông). Ông đã tham gia suốt cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông làm chủ nhiệm báo "Nhân Văn". Khi tư trào "Nhân Văn - Giai Phẩm" bị đàn áp, ông đã trên 70 tuổi, bị đấu tố dữ dội, bị vu khống làm mật thám cho Pháp, bị sỉ nhục vì đã thẳng thắn công khai phê bình lãnh đạo văn nghệ, công khai đưa ra ánh sáng những vụ bê bối bao che cho nhau của giới lãnh đạo, vì đã đứng đầu tờ "Nhân Văn" mà Tố Hữu coi là "lá cờ phản cách mạng, đánh thẳng vào Đảng và nhà nước" (Sđd, tr. 145). Ông đã qua đời ngày 6.1.1959 trong nỗi uất hận. Nguyễn Hữu Đang, vốn là một đảng viên đảng cộng sản lâu năm, là Phó hội trưởng Hội truyền bá chữ quốc ngữ, người lãnh đạo Hội văn hóa cứu quốc, trưởng ban tổ chức lễ tuyên bố độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) ngày 2.9.1945, thứ trưởng Bộ thanh niên, sau đó là thứ trưởng Bộ tuyên truyền trong chính phủ đầu tiên của nước VNDCCH. Bị coi là "linh hồn" của báo "Nhân Văn", ông bị đấu tố dữ dội, bị giam cầm, bị vu khống, rồi bị đưa ra xử án "gián điệp" và bị kết án 15 năm tù ngồi, chỉ vì trong nhiều bài viết ông đã nhận xét dè dặt "các quyền tự do dân chủ bị hạn chế quá nhiều" và đề nghị (cũng dè dặt) sửa đổi hiếp pháp hoặc bổ sung hiếp pháp 1946, đề nghị thực hiện quyền tự do dân chủ thực sự. Mãn hạn tù, ông trở về quê ở Thái Bình sống rất cực nhục và cô đơn, bị theo dõi như một "đối tượng" nguy hiểm. Trong bài báo gần đây, Phùng Quán đã kể lại chuyến đến thăm ông, khi ông gần 80 tuổi, sống rất nghèo khổ, ông thu góp từng vỏ báo thuốc lá để đổi lấy cóc, nhái, rắn làm thức ăn. Không có nhà cửa, ông ở đậu, và không muốn làm phiền chủ nhà khi mình chết, ông đã tìm cho mình một trũng vừa người dưới gốc bụi tre gần nhà để khi cảm thấy sắp đến giờ lâm chung thì bò ra đấy trút hơi thở cuối cùng! Trương Tửu (bút danh Nguyễn Bách Khoa), giáo sư đại học, một nhà nghiên cứu uyên bác, trước đây đứng đầu nhóm "Hàn Thuyên", tác giả "Nguyễn Du và truyện Kiều", "Hai bà Trưng", "Tương lai văn nghệ Việt Nam", v.v... Khi trào lưu "Nhân Văn - Giai Phẩm" bị đàn áp, ông bị đấu tố dữ dội, bị đưa ra cho sinh viên đấu tố, xỉ vả, sau đó bị đuổi khỏi trường, bị bắt và bỏ tù từ năm 1957, vì ông bị giới lãnh đạo quy là "trốt-kít", vì ông đã có những quan điểm không giống họ, ông đòi hỏi phải có một chính sách "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" và cho rằng văn nghệ sĩ không nên làm chính trị, văn nghệ sĩ chân chính xưa nay đều đối lập với chính trị của giai cấp cầm quyền... Cũng như Trần Đức Thảo, ông đòi "trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ", "trả chuyên môn cho các nhà chuyên môn", đòi thực sự mở rộng tự do dân chủ và các quyền tự do chân chính. Bị tù đày trong nhiều năm mới được thả ra; về nhà, ông làm nghề châm cứu để sinh sống. Hơn 30 năm ôm hận, vị giáo sư đại học có tài ba đang sống những ngày buồn đau của một nhà văn già trên 80 tuổi bị hắt hủi. Trần Dần đã theo quân đội suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, là nhà văn, nhà thơ đang sung sức hồi những năm 50; thơ văn của ông hồi đó đang kỳ nở rộ, mang nặng những băn khoăn, nghĩ ngợi của con người có lương tâm và thể hiện những tìm tòi mới mẻ. Ông là người đầu tiên dũng cảm đưa ra yêu sách với giới lãnh đạo "trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ". Vì hăng hái tranh đấu cho tự do sáng tác, ông bị bắt giam sớm nhất, hồi tháng 6 năm 1955. Sau bài "Nhất định thắng" được đăng trên "Giai Phẩm Mùa Xuân", ông bị đấu tố và bị bắt giam lần thứ hai, hồi tháng 2 năm 1956. Còn khi trào lưu "Nhân Văn - Giai Phẩm" bị đàn áp, ông lại bị đấu tố dữ dội, bị bắt, bị bỏ tù trong nhiều năm. Đến khi được thả ra, ông buồn đau, thờ thẫn, như người mất hồn... Và thực sự ông đã trở thành một người bệnh tâm thần! Lê Đạt, một nhà thơ có tài, mang đầy những mộng ước sáng tạo, hăng say tìm tòi và cổ vũ cái mới. Vì làm bài thơ "Ông bình vôi", ông bị buộc tội ám chỉ "lãnh tụ", "phạm thượng", vì lời kêu gọi "chống công thức, giáo điều" mà bị buộc tội là phản nghịch, xúi giục nhân dân nổi dậy chống Đảng, chống nhà nước, ông bị đấu tố dữ dội, bắt bớ, tù đày trong nhiều năm. Sau khi ở tù ra, ông trở về với mẹ già, sống cô đơn và làm nghề mua bán giấy cũ để sống. Và bao nhiêu người khác nữa, giáo sư đại học, triết gia Trần Đức Thảo, giáo sư đại học, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, họa sĩ, nhà văn Trần Duy, nhà thơ nổi tiếng Hoàng Cầm, nhạc sĩ lừng danh, đồng thời là nhà thơ có tài Văn Cao, nhạc sĩ Tử Phác, nhạc sĩ Đặng Đình Hưng, nhà thơ, nhà soạn kịch Đoàn Phú Tứ, nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Bính, nhà văn Thụy An, thời trước đã làm chủ nhiệm báo "Đàn Bà", người xuất bản thiết tha với nền văn học nước nhà Trần Thiếu Bảo (Minh Đức), v.v... cũng chịu số phận chung: cuộc đời tan nát thảm thương! Hậu quả không chỉ một thời Vụ án "Nhân Văn - Giai Phẩm" là một tội ác ghê rợn của giới lãnh đạo đảng cầm quyền, không những nó chà đạp lên nhân phẩm, tự do, quyền của con người, giày xéo lên cuộc sống vật chất và tinh thần của bao nhiêu văn nghệ sĩ, trí thức tiên tiến nhất, sáng tạo nhất của một thời, mà nó còn hủy hoại cả một thế hệ văn nghệ sĩ đầy sức sống hồi đó, gieo rắc đầu óc sợ sệt của kẻ nô lệ, đè nén tinh thần độc lập và mạnh dạn sáng tạo của các thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ lớp sau. Sự độc tài, chuyên chế, lộng hành của giới lãnh đạo nhân danh nền chuyên chính vô sản, hồi đó đã lên đến cao độ. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo, thuộc thế hệ sau, đã viết rất đúng trong bài thơ "Nhớ Nguyễn Bính": ..."Anh mang theo xuống đất cái thời Đến nghĩ ngợi cũng cần xin phép". Nhà thơ Trần Nam Hương, trong bài "Tạ lỗi cánh đồng" đã thổ lộ: "Đã có một thời nỗi đau ta phải giấu Ta đánh mất ta trong nửa con người Bài thơ phải cắt đi phần thật nhất Trang báo ta cầm chỉ đọc những niềm vui". Hậu quả của sự thống trị cộng sản là cả một nền văn học, nghệ thuật, giáo dục, đạo đức của miền Bắc bị lụn bại, méo mó, què quặt và hầu như cả một thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc bị đánh gục, bị dìm trong nỗi sợ triền miên. "Cứng" như Nguyễn Tuân mà cũng sợ. Đến cuối đời, ông đã bộc bạch: "Tao còn sống đến bây giờ là nhờ biết sợ". Cố nhiên, có những người không sợ, nhưng số đó rất hiếm. Có lẽ Nguyễn Chí Thiện là nhà thơ trẻ tuổi độc nhất vô nhị, đơn thương độc mã, dùng thơ ca dũng cảm chiến đấu chống đảng cộng sản, chống ách thống trị cộng sản. Nhưng những lời thơ hùng tráng, tiếng ca thống thiết của ông, cũng như chính con người của ông bị đảng cầm quyền giam chặt, giấu kín trong trại tù 27 năm trời, nên hầu như không mấy ai biết đến. Cho đến giờ, thơ ông vẫn là đồ quốc cấm. Hãy sám hối! Nói đến trách nhiệm chính trong vụ án "Nhân Văn - Giai Phẩm", cũng như trong sự méo mó, què quặt của nền văn học, nghệ thuật, giáo dục, đạo đức của miền Bắc trong một thời gian dài thì phải kể trước hết đến Bộ chính trị Trung ương đảng đứng đầu là Chủ tịch đảng Hồ Chí Minh và các Tổng bí thư Trường Chinh, Lê Duẩn (Trường Chinh làm Tổng bí thư cho đến tháng 9/1956; Hồ Chí Minh kiêm nhiệm Tổng bí thư từ tháng 9/1956 đến tháng 9/1960; Lê Duẩn làm Tổng bí thư từ tháng 9/1960 cho đến khi mất). Bộ chính trị thực tế độc quyền quyết định mọi việc. Còn trực tiếp phụ trách tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục hồi đó là Trường Chinh, cho nên trách nhiệm trực tiếp của Trường Chinh rất lớn. Vâng, chính ông Trường Chinh ấy đã từng làm chủ tịch ủy ban cải cách ruộng đất, một cuộc cải cách rập khuôn Trung Quốc, đã gây ra bao nhiêu tang thương cho dân tộc. Có người cho rằng sau cải cách ruộng đất, Trường Chinh bị mất uy tín lớn vì những sai lầm nghiêm trọng đã bị phát hiện, nên vớ lấy cơ hội có tư trào "Nhân Văn - Giai Phẩm" này để lập công với đảng hòng lấy lại uy tín. Y³ kiến đó đúng hay sai thì còn phải bàn cãi. Nhưng điều này thì chắc chắn: Trung ương đảng đã chịu nhận những "sai lầm" trong cải cách ruộng đất, đã cho Trường Chinh thôi chức Tổng bí thư, nhưng lại vẫn để ông làm ủy viên Bộ chính trị và Trung ương đảng lại vẫn để Bộ chính trị rập khuôn Trung Quốc đem phương pháp "đấu tố" ở Trung Quốc để áp dụng đối với trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam, cho nên, trách nhiệm của Trung ương đảng rất lớn. Cùng chịu trách nhiệm, phải đặc biệt nói đến Tố Hữu, chính ông là người bày mưu đặt kế, giúp Trung ương "chỉ huy" cái mà ông gọi là "trận giao phong tư tưởng" này. Ông là người hùng hổ, hò hét cổ vũ và trực tiếp điều khiển mọi việc "đấu tố", đàn áp trí thức, nên nhiều người cho là ông làm với tinh thần tâng công để leo lên địa vị cao. Có người nói: Tố Hữu là Hồ Viết Thắng trên "mặt trận" văn hóa, văn nghệ. Sự so sánh đó có mặt đúng vì cả hai ông đều dùng phương pháp rất tàn bạo, người thì đối với nông dân, người thì đối với trí thức, và đã gây ra vô vàn đau thương cho người dân. Nhưng có mặt không đúng là Hồ Viết Thắng sau đợt 5 cải cách ruộng đất, đợt mà đảng gọi là "chiến dịch Điện Biên Phủ ở nông thôn", hy vọng sẽ được vào Bộ chính trị, thì ông bị đưa ra khỏi Trung ương; còn Tố Hữu, sau trận đàn áp trào lưu "Nhân Văn - Giai Phẩm", thì lên như diều: được đưa vào Ban bí thư, rồi vào Bộ chính trị. Nhưng sự so sánh đó đúng hay không đúng thì chẳng mảy may làm giảm nhẹ số phận bi đát của người dân bình thường. Cùng chịu trách nhiệm, cũng phải đặc biệt nhắc đến Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương, Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ chính trị, chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội, Trần Quốc Hoàn, ủy viên Bộ chính trị, bộ trưởng Bộ công an và Hoàng Quốc Việt, ủy viên Bộ chính trị (từ tháng 9.1960, ủy viên Trung ương), viện trưởng Viện kiểm sát tối cao, là những người góp phần đắc lực nhất trong vụ đàn áp này. Ngoài ra, không thể không nhắc tới đám "cai tù văn nghệ" như Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Chương, Hồng Chương, Xuân Trường, Như Phong, Quang Đạm, Hoàng Xuân Nhị, Hồng Cương, Chính Hữu, v.v... cùng với lũ bồi bút theo đóm ăn tàn và công an văn hóa đã góp sức đàn áp, đấu tố, trừng trị, đè nén văn nghệ sĩ, trí thức cả về mặt thể chất lẫn về mặt tư tưởng, tinh thần. Họ đã được đảng cầm quyền trả công xứng đáng, đãi ngộ hậu hĩnh. Cùng chịu trách nhiệm với Trung ương đảng, còn phải nói đến toàn bộ đảng cộng sản cầm quyền, trong đó có cả người viết những dòng này, vì hồi đó là một thành viên và cán bộ của đảng. Mọi đảng viên đều phải chịu trách nhiệm về việc làm của đảng. Hồi đó, hoặc vì mê muội, sùng bái cấp trên, hoặc vì sợ sệt ngậm miệng làm thinh để được an thân, nên nói chung, các đảng viên phó mặc Trung ương đảng muốn làm gì thì làm. Lẽ nào vì thế mà tránh né được trách nhiệm trong việc này? Cùng chịu trách nhiệm còn phải nói đến chính bản thân văn nghệ sĩ, trí thức miền Bắc hồi đó, nhất là các vị có uy tín lớn, vị thế cao. Những văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà phê bình nổi tiếng từ thời tiền chiến, nhờ tương đối có tự do sáng tác mà đã tạo nên những bông hoa tươi thắm của nền văn học, nghệ thuật nước nhà một thời, thì nay nhiều người vì sợ hãi đã phải đứng vào - hoặc bị lùa vào - trận tuyến chống "Nhân Văn - Giai Phẩm", gượng gạo phê phán hoặc miễn cưỡng ký tên vào những bản tuyên bố, tố cáo... Số im hơi lặng tiếng được thì rất ít. Ngoài ra, còn một số không ít đã xông tới với tâm địa tâng công, hùa theo "đánh đòn hội chợ" vào các bạn đồng nghiệp đang tranh đấu gay go cho nền tự do chung, cho tự do tư tưởng, tự do sáng tác. Chính giữa lúc lưỡi gươm chuyên chính vô sản (mà thực ra có phải là chuyên chính của giai cấp vô sản đâu, thậm chí cũng không phải là của đảng, mà là của một nhóm nhỏ mấy người!) đang giáng xuống đầu các văn nghệ sĩ khao khát tự do, các trí thức nặng tình với dân chủ, thì hồi tháng 7.1957, nhà thơ trữ tình Xuân Diệu, tác giả các tập "Thơ thơ" và "Phấn thông vàng" nổi tiếng hồi tiền chiến, lại tung ra bài thơ "Chuyên chính vô sản", có những câu đọc lên nghe rợn cả người vì sự suy đồi đạo đức: ..."Ôi êm ái khi tay cầm vũ khí, Chuyên chính của ta là thép cương kiên..." ..."Mặc chúng nó kêu lá rụng, hoa tàn Tôi thẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính". Chế Lan Viên, tác giả tập thơ "Điêu tàn" nổi tiếng, cũng hăng hái không kém, ông xông xáo đang cố ngoi lên để được chỗ ngồi cao, được trọng vọng trong "bàn tiệc lớn", để rồi khi ở buồng riêng viết trong bài "Bánh vẽ" với những câu nghe đến xấu hổ: "Chưa cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn Cầm lên nhấm nháp..." Thế thì còn nói chi đến lớp văn nghệ sĩ đàn em! Khi nói đến trách nhiệm chung và riêng, người viết những dòng này không nhằm mục đích kêu gọi hận thù, càng không phải để kêu gọi báo thù! Không! Ngàn lần không! Mà chính là để mọi sự phải được minh bạch, rõ ràng trước Lịch sử. Lịch sử mà Lê Đạt đã nói đến trong bài thơ "Nhân câu chuyện mấy người tự tử": "Lịch sử luôn luôn duyệt lại Không ai lừa được cuộc đời Rồi các anh sẽ phải trả lời Trước tòa án ngày mai". Khi chúng tôi nói đến trách nhiệm, chính là để kêu gọi một sự sám hối chung và riêng trước Lương tâm của mỗi người (4). Vì chỉ có sự sám hối chân thật mới có thể bảo đảm chắc chắn trong tương lai sẽ không còn sự lộng hành, độc tài độc đoán và những tấn thảm kịch của nhân dân sẽ không còn tái diễn. Vì chỉ có sự sám hối chân thật mới hy vọng xóa bỏ được cái chế độ cực quyền mà phần lớn loài người đã vứt ra bãi rác của Lịch sử, mới hy vọng xây dựng nên một xã hội tự do, dân chủ đích thực trên đất nước ta. "Cởi trói" ? Tháng 10 năm 1987, trong một cuộc gặp mặt văn nghệ sĩ, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố "cởi trói" cho văn nghệ sĩ. Báo chí Hà Nội đưa tin "anh chị em văn nghệ sĩ hồ hởi, phấn khởi hoan nghênh" lời tuyên bố đó. Hầu như không mấy ai nhận rõ toàn bộ tính chất lăng nhục văn nghệ sĩ, trí thức trong cái chữ "cởi trói" trịch thượng ấy, vì nó khẳng định tình cảnh "bị trói", bị mất tự do của họ từ trước đến nay dưới chế độ của đảng, vì nó xác nhận rõ ràng tính chất độc tài, đảng trị của chế độ, vì nó nhấn mạnh quyền tối thượng của đảng cộng sản trong việc quyết định số phận của họ, theo lối nói dân gian là "quyền sinh quyền sát" trong tay đảng, vì nó chứng thực thân phận nô lệ của họ: "trói" hay "cởi trói", hay "lại trói" cũng là quyền của đảng! Chắc là Tổng bí thư đảng không hề có ý định lăng nhục trí thức, văn nghệ sĩ, nhưng cái tâm lý của kẻ thống trị độc quyền đã thâm căn cố đế, ăn sâu vào tiềm thức các lãnh tụ cộng sản đến nỗi chữ đó phụt ra từ miệng Tổng bí thư một cách hoàn toàn tự nhiên! Và chúng ta chẳng lạ gì khi thấy hai năm sau, đảng không còn nhắc đến chính sách "cởi trói" nữa, còn dây dợ trói buộc vốn có trong tay đảng thì đã từ từ thít chặt lại rồi! Thời kỳ "lại trói" đã bắt đầu từ năm 1989! "Cởi trói" cho văn nghệ sĩ là một đề tài rộng. Ơ± đây, chỉ xin đề cập đến việc "cởi trói" cho văn nghệ sĩ, trí thức đã từng tham gia hoặc ủng hộ tư trào "Nhân Văn - Giai Phẩm" mà thôi. Chúng ta đã thấy gì? Những người bị giam giữ lần lượt và lẳng lặng ra khỏi tù, một số đổi án tù thành quản thúc, sau đó bỏ cả việc quản thúc, nhưng cơ quan an ninh vẫn bí mật coi họ là "đối tượng" để theo dõi. Rồi họ nhận được thẻ cử tri, được đi bầu quốc hội, dù chẳng có quyết định chính thức của một tòa án nào khôi phục quyền công dân cho họ. Hồi 1989, một số đã "được cho sinh hoạt lại" ở Hội nhà văn, nhưng không ai được trở lại công việc của họ. Rồi một số được mời đi dự Đại hội nhà văn. Gần đây một số đã được lĩnh tiền hưu. Thế là hết! Không một lời công khai của đảng và chính phủ nhận "lỗi", xin "lỗi"! Không một lời chính thức "minh oan"! Không một sự phục hồi danh dự, bồi thường danh dự! Giới lãnh đạo cộng sản nhất mực từ chối việc chính thức và công khai xét lại vụ án "Nhân Văn - Giai Phẩm" kéo dài trên 30 năm trời. Họ cãi chày cãi cối: "Sự việc xảy ra đã lâu rồi, nhiều người không còn sống nữa, thì chẳng nên nhắc lại làm gì chuyện cũ", mặc dù ai cũng biết là đại đa số những người trong vụ án ấy vẫn sống sờ sờ trước mặt họ! Thậm chí trắng trợn hơn, Trần Trọng Tân, ủy viên Trung ương đảng, trưởng ban tư tưởng, văn hóa trung ương, đã tuyên bố: "Đảng có sai đâu mà phải xét lại!" Nghe nói nhà văn Phùng Quán đã gửi đơn cho Tòa án tối cao và Viện kiểm sát tối cao đòi nhà nước phải bồi thường thiệt hại vật chất cho văn nghệ sĩ bị kết án oan trong vụ "Nhân Văn - Giai Phẩm", nhưng cả tòa án lẫn viện kiểm sát của cái nhà nước tự xưng là "pháp quyền" ấy đã lờ tịt! Thật là một thái độ gian giảo của một kẻ quịt nợ! Tập đoàn thống trị cộng sản hiện nay sợ nhắc đến và xét lại vụ án "Nhân Văn - Giai Phẩm", sợ "rút dây động rừng", vì lôi ra ánh sáng vụ án ấy thì còn biết bao nhiêu vụ án khác nữa! Từ những vụ ám hại các thủ lĩnh và đảng viên các đảng phái đối lập hay có thể trở thành đối lập, các vụ đàn áp, tàn sát các tu sĩ, tăng ni, tín đồ Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tin Lành...; các vụ giam cầm hãm hại những người bất đồng chính kiến, như việc bỏ tù nhà thơ Nguyễn Chí Thiện 27 năm trời, cho đến các cuộc đàn áp, thanh trừng nội bộ, như "vụ án xét lại - chống Đảng" (còn gọi là "vụ án Hoàng Minh Chính"), vụ án Hoàng Văn Hoan và những người cùng tư tưởng với ông, trong đó có thượng tướng Chu Văn Tấn...; cho đến các vụ đàn áp, bắt bớ, ám hại tăng ni, Phật tử trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; cho đến gần đây là "vụ án Nguyễn Đan Quế và Cao trào Nhân bản", "vụ án Đoàn Viết Hoạt và Diễn đàn Dân chủ", các vụ án các Thầy Hải Tạng, Trí Tựu, Hải Thịnh, Hải Chánh, Hạnh Đức, vụ án đàn áp, bắt bớ những người đứng đầu Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ, v.v... Đó là chưa kể đến những "vụ án" trong cải cách ruộng đất, vụ đàn áp nông dân Quỳnh Lưu và các nơi khác đã nổi dậy, các "vụ án" trong các cuộc "cải tạo xã hội chủ nghĩa", các vụ án ở các vùng dân tộc thiểu số, v.v... và v.v... Nếu lôi ra ánh sáng tất cả các vụ ấy thì ta sẽ thấy phơi bày ra cả một chuỗi dài tội ác đối với nhân dân mà kẻ tội phạm chắc chắn sẽ là tập đoàn thống trị cộng sản. Đó là lý do tại sao họ không chịu xét lại bất cứ một vụ án nào kể từ ngày họ cầm quyền đến nay. Về mặt này thì họ rất ngoan cố. Hồn tự do bất diệt Trước nguy cơ sụp đổ vì khủng hoảng trầm trọng của chế độ xã hội chủ nghĩa, giới cầm quyền đã phải nới lỏng phần nào về kinh tế, trong lúc vẫn siết chặt về chính trị, rồi lớn tiếng hô to là "cởi trói", "đổi mới". Nhưng những trò ảo thuật đó khó lọt qua cặp mắt sáng suốt của nhiều người. Ngay từ năm 1988, nhà thơ Nguyễn Duy đã hỏi: "Đổi mới thật không hay giả vờ đổi mới? Máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?" Dù vậy, văn nghệ sĩ, trí thức cũng không bỏ lỡ cơ hội để vươn lên. Tinh thần "Nhân Văn - Giai Phẩm", hồn tự do bất diệt, bị đè nén, vùi dập hơn 30 năm, giờ lại trỗi dậy và đã tạo nên một bước chuyển mình mới của văn học, nghệ thuật, với Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Phùng Gia Lộc, Trần Mạh Hảo, Lê Lựu, Xuân Cang, Trần Huy Quang, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trần Vàng Sao, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Bùi Minh Quốc... trong văn thơ; Trần Văn Thủy, Đặng Nhật Minh, Việt Linh... trong điện ảnh; Văn Cao, Hoàng Diệp... trong âm nhạc; Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bửu Chỉ... trong hội họa; Lưu Quang Vũ, Tất Đạt... trong ngành kịch; Lại Nguyên Ân, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Vương Trí Nhàn... trong lý luận và phê bình. Và rất nhiều người khác nữa thuộc thế hệ mới lên. Thế nhưng, tập đoàn thống trị cộng sản run sợ khi thấy văn nghệ sĩ xông xáo lao vào những đề tài vô cùng bức xúc của xã hội, phanh phui những hành vi tội lỗi xúc phạm đến cuộc sống của con người, vạch trần những bất công xã hội và tầng lớp bóc lột mới trong xã hội - bọn cường hào mới, những cán bộ có chức có quyền ức hiếp thường dân, thì đảng vội vàng "lại trói" văn nghệ sĩ, trí thức: tờ "Lang Bian" ra đến số 3 thì bị đóng cửa, tổng biên tập Bùi Minh Quốc bị khai trừ ra khỏi đảng; tạp chí "Sông Hương" cũng bị đóng cửa, tổng biên tập Tô Nhuận Vĩ bị thi hành kỷ luật; nhà văn Nguyên Ngọc bị cách chức tổng biên tập tuần báo "Văn Nghệ"; nhà báo Vũ Kim Hạnh bị cách chức tổng biên tập báo "Tuổi Trẻ"... chỉ vì các báo và các tổng biên tập ấy đã mạnh dạn " đổi mới", dám nói lên sự thật hoặc một phần sự thật! Thật là nghịch lý! Đảng tuyên bố "đổi mới" thế mà những tờ báo, nhà báo, nhà văn... hăng hái "đổi mới" lại bị đảng trừng phạt! Thanh trừ xong các tờ báo và tổng biên tập mạnh dạn "đổi mới", đảng càng siết chặt chế độ kiểm duyệt và bắt đầu đàn áp mạnh những người tranh đấu cho tự do, dân chủ. Tháng 4 năm 1991, nữ văn sĩ Dương Thu Hương, tác giả "Bên kia bờ ảo vọng", "Những thiên đường mù", "Tiểu thuyết vô đề", đã bị bắt giam, những người ngưỡng mộ nhà văn cũng bị trù dập, bắt bớ. Trên 1000 nhân vật nổi tiếng ở phương Tây đã lên án hành động độc tài của nhà cầm quyền Việt Nam và đòi phải trả tự do cho nhà văn gan dạ. Phu nhân của Tổng thống Pháp Francois Mitterand cũng đã trực tiếp can thiệp. Cuối cùng nhà cầm quyền Hà Nội buộc lòng phải thả nhà văn ra. Tiếp đó họ lại bắt bớ, giam cầm, rồi đưa ra xử án rất nặng những chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền và tự do, dân chủ, như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, sáng lập viên Cao trào Nhân bản, giáo sư Đoàn Viết Hoạt và nhóm "Diễn Đàn Tự Do", bất chấp sự phản đối của dư luận thế giới. Đến cả những người lãnh đạo Câu lạc bộ Những người kháng chiến cũ, như các ông Tạ Bá Tòng, Nguyễn Hộ... cũng không thoát khỏi sự đàn áp, giam cầm, quản thúc. Tuy nhiên, khác hẳn với thời kỳ những năm 50, 60, văn nghệ sĩ, trí thức Việt Nam không còn khiếp sợ như trước: tình trạng a dua, hùa theo lãnh đạo để đánh bạn cầm bút hầu như không còn thấy, trừ một vài cá biệt "lộn giống" - nhà văn-chỉ điểm; trái lại, đang âm ỉ sự chống đối ngấm ngầm, thầm lặng đôi khi đã trở thành công nhiên, trực diện; một số tác phẩm văn nghệ bị cấm ở trong nước đã được đưa ra nước ngoài xuất bản, như "Ly Thân" của Trần Mạnh Hảo, "Tiểu Thuyết Vô Đề" của Dương Thu Hương và những bài luận văn của Hà Sĩ Phu (Nguyễn Xuân Tụ), Nguyên Phong Hồ Hiếu, Lữ Phương, Nguyễn Kiến Giang, Linh mục Chân Tín, v.v... Cùng với tiếng nói vô úy đại hùng của Hòa thượng Thích Huyền Quang, quyền Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã vang lên những lời lẽ đanh thép của Dương Thu Hương, tiến sĩ Phan Đình Diệu, nhà ngôn ngữ họa Nguyễn Phan Cảnh... tố cáo chế độ cực quyền. Hồn tự do bất diệt dù bị đè nén, vùi dập, nhưng vẫn âm ỉ, ngấm ngầm chờ dịp lại bùng lên. Bùng lên! Cho đến ngày chế độ cực quyền cộng sản đã bị loài người lên án, sẽ phải sụp đổ trên đất nước chúng ta. Cũng như Nguyễn Chí Thiện đã tiên đoán cách đây mấy chục năm, chúng ta tin rằng ngày đó nhất định sẽ đến: "Sẽ có một ngày, Con người hôm nay Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất Đảng, Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng oan khiên, Về với miếu đường, mồ mả gia tiên..." 21.8.1994 Trần Minh Chú thích: 1. Bài này đã đăng trên tạp chí "Thế giới Ngày Nay" ở Hoa Kỳ số 124 (11 & 12.1994), trên tờ "Thiện Chí" ở Đức số 25, tờ "Viet Nam-Forum" , số 2-3, do Nguyễn Thị Thu Cúc dịch ra tiếng Đức. 2. Nhà thơ Hữu Loan đã vạch mặt đám này trong bài "Cũng những thằng nịnh hót". 3. Gần đây, khi trả lời phỏng vấn của bà Thụy Khuê (đài RFI), ông Nguyễn Hữu Đang dường như phủ nhận việc ông bị đưa ra xét xử với tội gián điệp. Nghe anh Bạch Thái Quốc nói lại chuyện đó, thật tình tôi thấy thương và rất thông cảm với tình cảnh của ông, một người "còn ở trong lòng chế độ" mà phải trả lời cho "đài phát thanh nước ngoài" về một vấn đề quá tế nhị như vậy! Để làm sáng tỏ vấn đề này, xin các bạn cứ khách quan xem xét: a) tại sao trong gần ba năm trời trước khi xử án, những người "lãnh đạo" văn nghệ, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, v.v... cứ mỗi lần mở miệng ra nói về nhóm "Nhân Văn - Giai Phẩm" là họ cứ gắn với "bọn gián điệp, mật thám" và họ cố đưa tên Thụy An đứng đầu sổ trong nhóm đó, dù rằng khách quan mà xét, Thụy An có thể chỉ là người cảm tình với "Nhân Văn - Giai Phẩm" mà thôi ? b) tại sao người ta đưa Nguyễn Hữu Đang ra xử cùng với Thụy An, là người mà "các vị tai to mặt lớn" kia và báo chí của họ đều gán cho cái nhãn hiệu "gián điệp", nếu không phải để buộc tội cho ông Đang cũng là "gián điệp" và để cả hai người "lĩnh" mức án ngang nhau? c) tại sao công tố viên khi đọc cáo trạng lại cứ gắn hoạt động của "Nhân Văn - Giai Phẩm" mà họ cho ông Đang là "chủ mưu" với hoạt động gián điệp, phá hoại đấu tranh thống nhất ? d) tại sao đài truyền thanh của thành phố Hà Nội, theo lệnh của Ban tuyên huấn trung ương do Tố Hữu làm trưởng ban, khi truyền thanh tại chỗ lại cứ ra rả nói suốt ngày là xử vụ án gián điệp? e) tại sao hôm sau ngày xử án, tất cả các báo ở Hà Nội lại đưa tin về vụ xử án gián điệp Nguyễn Hữu Đang - Thụy An? Về điều này, nhân thể nói thêm, trong sách "Trăm hoa đua nở trong đêm tối Việt Nam. Chủ nghĩa cộng sản và trào lưu bất đồng chính kiến 1954-1956" (xuất bản năm 1991, bằng tiếng Pháp) của Georges Boudarel, một cựu đảng viên cộng sản Pháp và cộng sản Việt Nam với bí danh Đại Đồng, đã từng sống và hoạt động tại Việt Nam suốt trong thời kỳ đó, cũng viết: Nguyễn Hữu Đang, linh hồn của các xuất bản phẩm nói trên, bị kết án nặng nhất "bởi lời buộc tội thật bí ẩn là gián điệp" ("sous une énigmatique accusation d'espionnage"). Còn trong sách "Mặt Thật" xuất bản năm 1993 của Thành Tín, tức Bùi Tín, nguyên phó tổng biên tập báo "Nhân Dân" cũng viết: "Sau 3 năm đấu tranh một chiều... vụ án văn học lớn nhất trong lịch sử Việt Nam này tạm kết thúc ngày 21 tháng Giêng năm 1960 với tin giật gân có tít là: "Tòa án nhân dân Hà Nội đã xử vụ án gián điệp Nguyễn Hữu Đang - Thụy An" (tr.157). - Chú thích thêm ngày 2.10.96. TM. 4. Tấm gương sáng về sự chân thành sám hối là nhà văn Bửu Tiến. Tại Đại hội Nhà văn năm 1989 tại Hà Nội, ông đã thành thật nói trước Đại hội: "Xin lỗi anh em Nhân Văn - Giai Phẩm, và trừu tượng hơn, xin tạ tội với tự do dân chủ, giấc mơ ngàn đời của nhân loại và bản thân". Điều đó đã đem lại cho ông sự thanh thản trong lòng và gây được sự kính trọng của các bạn đồng nghiệp đối với ông, một người có lương tâm trong sáng.

 

Báo " Người Hà Nội " Kể Tội Đảng Ăn Xác Chết Số Báo Ngày 8-6-2005 Chụp Photocopy Bán Khắp VN, Giá Gấp 10 Lần. Phó Tổng Biên Tập Bị Đuổi Một truyện ngắn đang làm công an CSVN sôi động, mở chiến dịch tổng bố ráp toàn quốc, tịch thu các bản photocopy, và hù dọa tác giả “phản động” trong mấy tuần lễ qua. Sau đây là tường thuật của web Đối Thoại (www.doi-thoai.com) về cơn sốt mới này, và kèm đó là toàn văn truyện ngắn Chị Cả Bống của nhà văn Phạm Lưu Vũ. ĐT : Truyện ngắn Chị Cả Bống xuất hiện đầu tiên trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 8/6/05. Lập tức toàn bộ số báo bị tịch thu. Ông phó tổng biên tập cho in bài "nổi loạn" này bị mất chức. Tác giả đang bị công an hù dọa liên tục. Hiện tại số báo ngày 8/6 này đang được phôtô truyền tay nhanh chóng tại Hà Nội, vượt xa cả số phát hành chính thức là 2000 tờ. Những số báo đã lỡ gởi ra trước khi có lệnh tịch thu mà các đại lý nhanh tay giấu được ngay lập tức được bán với giá gấp 10 lần ( 20. 000 đồng một tờ). Tại Sài Gòn nơi tác giả lấy bối cảnh để viết, giá lên gấp hai mươi, ba mươi lần. * Chị Cả Bống - Truyện ngắn : Phạm Lưu Vũ - Chiều tà, một người đàn ông phóng như ngựa phi nước đại về phía tây thành phố, nơi ấy có nhà tù với cái tên rất đẹp là "Hoà khí". Tới cổng gác, ông ta trình thẻ căn cước cho lính canh. Sau khi xem chứng minh thư, lính canh dẫn ông vào văn phòng nộp hồ sơ. Một người đứng tuổi đeo kính trắng nhận hồ sơ rồi bảo : - Dẫn tới khu nhà chờ, đợi thẩm tra hồ sơ, ba tuần sau có kết quả. Lính canh lại dẫn ông ta đi, khu nhà chờ gồm vài dãy nhà cấp 4 sập xệ và rêu mốc, rất đông người ở kín các gian phòng, đàn ông, đàn bà, lớn bé, già trẻ, đủ cả... Điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ song không ai ta thán, đơn giản họ chỉ ở lại đây có vài tuần. Từ khi lập ra khu nhà chờ này không lúc nào vơi người. Ngày nào cũng có người đi lại, ngày nào cũng có người đến. Giống như người đàn ông kia, mọi người chờ thẩm tra hồ sơ, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được vào tù. Tiêu chuẩn đơn giản nhưng không phải không kỹ càng, chỉ những người lương thiện không dính tý lưu manh nào mới được vào tù. Tất nhiên lũ bất lương đừng hòng bén mảng tới. Chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, ở xứ xở này, không có chuyện gì là không xảy ra kể cả những chuyện ngược đời, đơn giản mọi người không những thích đùa mà còn đùa rất dai; 5 giờ rưỡi sáng, kỹ sư Hoàng thức dậy, vợ và đứa con trai mười tuổi của anh đang ngủ say. Đứa con gái 17 tuổi của anh đêm qua không về, chị giúp việc cũng đã dậy từ lúc nào, đèn dưới bếp hắt lên mấy vệt sáng le lói qua khe cửa. Mười phút cho việc vệ sinh cá nhân, 25 phút cho việc mở các loại cửa. Như mọi nhà trong thành phố, từ lâu anh đã biến căn hộ của mình thành một pháo đài. Các cửa sổ ngoài việc lắp chấn song bằng thép dày, còn được giằng ngang ba ống thép to bằng cổ tay, chia đều từ trên xuống dưới. Cửa đi cũng bằng thép đúc, bên ngoài dán một lớp gỗ mỏng. Tính từ trong ra đến cửa, còn năm lớp cửa như thế, tất cả đều có khoá đặc biệt, mỗi cửa gồm ba chiếc khác loại nhau. Mở đến lần cửa cuối cùng thì vợ con anh cũng vừa trở dậy. Những việc chuẩn bị cho một ngày mới diễn ra đã thành nếp. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng chị giúp việc hai vợ chồng dắt xe đi làm. Chị kiêm thêm nhiệm vụ đưa con tới trường, chiều về ghé qua chợ mua thức ăn cho ngày hôm sau. Trước khi ra cổng, anh một lần nữa kiểm tra trên người vợ con xem có đeo bất cứ loại trang sức nào không, nhắc vợ cẩn thận kẻo bị cướp... Anh lại lần lượt khoá tất cả các cửa từ trong ra ngoài, trong lúc vợ đứng giữ xe. Đứng bên ngoài thò tay qua các lỗ cửa thực hiện những thao tác của người mù, mười phút nữa cho công việc ấy, xong xuôi vợ chồng con cái chia thành hai ngả phóng xe đi. Kỹ sư Hoàng làm việc tại một cơ quan thiết kế gần trung tâm thành phố. Mới ngoài 40 mà tóc anh đã gần như bạc trắng, thằng con trai lớn 19 tuổi đang ở trung tâm cai nghiện, đứa con gái thứ hai 17 tuổi đua đòi chúng bạn bỏ cả học đi vũ trường thâu đêm, suốt sáng. Không phải vợ chồng anh không biết dạy con mà là bất lực. Con đường đời biết bao nhiêu cạm bẫy, nó gài khắp mọi nơi, mọi chốn, gài trên mỗi bước chân. Già đời chững chạc như vợ chồng anh, ngày nào cũng phải nhắc nhau từng tí một mà vẫn ngay ngáy lo rằng không biết lúc nào, cái bẫy nào sẽ ụp xuống mình đây ? Kỹ sư Hoàng chợt lạnh người. Có tiếng còi nghe rợn tai, một cảnh sát giao thông bước quả quyết từ trên vỉa hè xuống đường vừa huýt còi, vừa chỉ thẳng cái dùi cui vằn vện vào mặt anh, một cảnh sát khác ngồi vắt vẻo trên yên xe máy phân khối lớn sơn màu trắng. Chưa kịp hiểu mình có sai luật hay không anh vội đạp phanh, chiếc xe dừng tắp lại. - Kiểm tra giấy tờ! Người cảnh sát vừa rút chiếc còi ra khỏi miệng vừa giơ tay lên mũ chào như một cái máy, vừa ra lệnh cho anh. Cầm giấy tờ của anh đưa cho anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, anh cảnh sát ấy lại tiếp tục đút còi vào miệng cầm gậy trỏ xuống đường chọn bắt xe khác. Anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, lướt qua đống giấy tờ của một anh khác. Không nói năng anh ta đưa mắt ngó lơ đi chỗ khác như thể chờ ai đến đọc giùm. Cũng như một cái máy, kỹ sư Hoàng dựng xe, móc bóp, rút ra một tờ đẹp đẽ vuông vắn có in hình lãnh tụ, bước tới chỗ anh ta. Đến cơ quan, vừa kịp giờ làm việc, chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia là một thẩm phán toà án, người đang xử lý vụ kiện đòi nợ của cơ quan anh. Bằng một giọng rất lễ phép anh thẩm phán nhắc khéo anh rằng vụ kiện của cơ quan anh sẽ có thể bị đình chỉ vì phía anh chưa nộp chi phí cho việc thẩm tra. Nhân tiện anh ta nhắn rằng bữa nhậu chiều qua vì điện thoại cho anh không được mà anh ta và đám chiến hữu bên viện kiểm soát phải ký nợ nhà hàng một khoản kha khá, lúc nào anh ghé qua thanh toán giùm... Chiều hôm đó về nhà, kỹ sư Hoàng chưa kịp mừng vì tin cô con gái đã trở về đang nằm bẹp trên gác thì đã nghe vợ mếu máo báo tin chiếc xe máy của chị bị cướp, mẹ con phải đi bộ về. Thực ra chị đã dối anh, chiếc xe máy đó chị đã buộc phải thế chấp để chuộc cô con gái từ cái động của một mụ tú bà, vì cô còn nợ mụ một khoản tiền vay mua son phấn với mức lãi 40 % một ngày. Thế coi như của đi thay người. Kỹ sư Hoàng chưa kịp phát điên lên vì giận dữ thì may quá nhà có khách. Ông trưởng khu phố và mấy cán bộ của Uỷ ban lừng lững bước vào : - Chúng tôi đến nhắc anh về khoản đóng góp xây nhà tù - Ông trưởng khu vào đề ngay, nhân tiện báo để anh biết tháng trước có xe chở vật liệu đến đây, anh đã thuê thợ sửa nhà mà không xin phép. Uỷ ban đã nắm được việc này, nếu anh không thu xếp ngay thì sẽ bị lập biên bản thu giữ giấy tờ nhà, giấy tờ đất. Kỹ sư Hoàng ngớ ra, quả thật tháng trước anh có thuê thợ lắp thêm một lần cổng nữa, phải xây mấy mét vuông tường, tưởng việc nhỏ, không phải xin phép, ai ngờ... Thôi đành "thu xếp" cho mấy vị trong Uỷ ban, nhưng còn khoản đóng góp xây nhà tù ? - Can phạm bây giờ nhiều quá ông trưởng khu phố giải thích. Đấy anh xem, trong nhà gặp lưu manh, ra đường đụng kẻ cướp, đủ các kiểu ăn cướp; rồi còn lũ ăn trộm, lừa đảo cho vay nặng lãi, nhà tù nào cũng chật ních, phải xây thêm. Ngân sách không kham nổi phải áp dụng phương pháp "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Phố ta được giao chỉ tiêu góp vốn xây 500 mét vuông nhà tù, thế mà ngẫm lại vẫn chưa đủ cho số tội phạm của chính phố ta đang nằm trong đó, chưa kể số sắp phải vào tù nay mai... Đoàn cán bộ khu phố về được một lúc thì lão Tiến cụt giò đến, đó là một lão già vô tích sự nhà kế bên. Lão bị cụt một bên giò từ hồi chiến tranh, giờ sống bằng số tiền thương tật, thỉnh thoảng con cháu dấm dúi gặp chăng hay chớ cho thêm. Suốt ngày chẳng làm trò gì, chỉ hay la cà hết nhà này đến nhà khác kiếm câu chuyện làm quà. Nhà kỹ sư Hoàng là một trong những nơi lão hay mò đến. Lão dở hơi ấy liến thoắng như thể đã tỏ tường mọi chuyện : - Họ đến đòi tiền đóng góp xây nhà tù phải không ? Anh kỹ sư này tôi nói anh xem có đúng không nhé: - Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá, phải góp tiền xây nhà tù cho bọn bất lương ở, lại còn phải nai lưng nuôi chúng nữa, trong khi bọn lưu manh ngày càng chiếm đa số, người lương thiện ngày càng giảm đi. Biết đâu đến một lúc nào đó, những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. Khi ấy tất nhiên bọn lưu manh tha hồ ở ngoài, vì lương thiện bây giờ đâu có nhiều nhặn gì, vừa bắt chính bọn chúng phải nai lưng ra làm đề nuôi người lương thiện, như thế có phải là công bằng không ? Kỹ sư Hoàng phì cười vì cái lý sự ấy của lão Tiến cụt, vừa lúc ấy, chuông điện thoại trong nhà đổ dồn, vợ anh nghe xong, mặt tái mét ra báo tin dữ : - Anh tới ngay bệnh viện Chúng Sinh. Thằng Phúc con chị cả bị cướp giật té xe, chấn thương sọ não đang nằm cấp cứu trong ấy. Chị Cả Bống là chị gái kỹ sư Hoàng ở dưới quê, anh chị có ba thằng con trai thì hai thằng lớn theo bố làm nghề xin đểu kiêm trấn lột ở bến đò Đuôi Cáo bị đâm lòi ruột, chết cả ba bố con từ năm kia. Cũng là cái số thôi. Làng khối người làm nghề ấy hoặc hao hao nghề ấy mà có sao đâu, chỉ thỉnh thoảng lại thấy đi ở tù, vài năm về còn lưu manh hơn trước. May còn lại một mình thằng út tên Phúc ngoan, hiền, học giỏi. Năm ngoái đỗ đại học lên ở ký túc xá. Nó thương cậu mợ Hoàng nghèo nên không muốn nhờ vả. Chị Cả bán hết mảnh vườn còn lại sắm cho nó cái xe máy cũ làm phương tiện đi lại. Hôm ấy đang làm cỏ ngoài đồng có người gọi về cái trạm điện thoại công cộng ở đầu làng báo tin nó bị nạn. Chị nghe nhắn lại mà muốn quỵ luôn xuống ruộng. Vội vã chạy về nhà, chị vét vội mấy bơ lạc, bơ gạo nếp cho vào mấy cái bao ruột tượng tất tả chạy ra bến đò Đuôi Cáo. Vừa mới mon men gạ bán ở các hàng quán quanh đó, bất ngờ gặp mấy anh quản lý thị trường, chị bị bắt vào trụ sở. Lạy van thế nào họ cũng không nghe, còn dẫn hết "nghị định 01" đến "thông tư 04" gì đó ra đọc sang sảng vào hai cái tai đã chỉ còn nghe thấy tiếng lùng bùng của chị. Kết quả mấy bơ lạc ấy bị tịch thu vì lý do bao bì không có nhãn hiệu hàng hoá ! Thật khốn khổ cho chị, chỉ do cuống lên vì đứa con cuối cùng còn sót lại đang gặp nạn, muốn bán tống bán tháo mấy món tài sản ít ỏi ấy cho thật nhanh để lấy tiền đi xe lên thành phố. Chứ có phải chị buôn gian bán lận gì đâu ? Còn tiền thuốc thang, nói dại, nếu nó bị nặng chị chưa biết sẽ trông vào đâu, một viên thuốc cảm bằng cái cúc áo bây giờ giá bằng ba bốn cân thóc. Giờ thì ngay đến việc lên nhìn mặt con cũng bị chặn đứng lại rồi. Không có tiền ai người ta cho chị đi xe hàng trăm cây số ? Càng nghĩ chị càng quýnh quáng chân tay, cuống cuồng, đứng chôn chân một chỗ, đầu óc mụ đi, mắt ráo hoảnh, vô hồn nhìn phía trước như một bức màn sương... bỗng từ trong cái màn đục lờ ấy, một bóng trắng hiện ra quằn quại, máu bê bết hiện ra chập chờn lúc xa xa, lúc ập ngay trước mặt, gió lạnh quất gai người. Phảng phất màu tanh của máu tươi. Tai chị nghe rõ ràng tiếng kêu cứu của đứa con trai. Chị bàng hoàng nhận ra đó là tiếng rên từ địa ngục, tiếng của một âm hồn không còn ở cõi nhân gian này nữa: - Mẹ ơi, con chết rồi. Họ đang mổ bụng con. Mẹ ơi... Chị cả Bống hốt hoảng lao tới, giơ hai tay túm lấy bóng con, chợt cái bóng như có người giằng lấy, chập chờn quăng qua quăng lại trước mặt chị rồi mờ dần mờ dần, vẫn còn ri rỉ tiếng kêu cứu của oan hồn, rồi tất cả lịm đi. Cả tiếng kêu cứu lẫn cái bóng máu me chợt tắt ngấm bởi một tràng cười ré lên sằng sặc như của lũ ma quỷ nhưng không phải vọng lên từ địa ngục, tiếng cười ấy rõ ràng đang ở cõi nhân gian hiện hữu này... Chị cả Bống sau này phát điên không về làng nữa, cứ lê la liếm láp ở quanh cái bến đò có cái tên rất ấn tượng là bến đò Đuôi Cáo ấy. Nhưng chị không điên ngay lúc đó, có người chứng minh là sau khi ra khỏi trụ sở ban quản lý thị trường chị vẫn còn tỉnh táo nhớ ra trong người còn sót mấy đồng tiền lẻ. Chị lần vào trạm điện thoại công cộng gọi điện báo cho cậu em trai. Đó là tất cả những gì chị làm được cho đứa con. Sau đó chị mới phát điên. Kỹ sư Hoàng đến bệnh viện Chúng Sinh thì trời đã tối. Tìm tới phòng cấp cứu, anh hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, cô hộ lý mặc blu trắng bảo: - Biết ai là phúc với hoạ gì ở đây. Đi mà hỏi trực ban. Phòng cấp cứu rộng mênh mông, đầy những giường là giường, giường nào cũng ít nhất hai người nằm trở đầu đuôi. Đủ các kiểu tai nạn, vỡ đầu, gãy chân, lòi ruột, lòi xương. Ánh đèn nê ông trắng bệch soi loang lổ những máu me bông gạc. Nồng nặc một thứ mùi vừa tanh tanh máu, vừa ngầy ngậy thuốc tây. Bóng những blouse trắng đi qua lại giữa các giường như ma trơi. Làm sao nhận ra đứa cháu bây giờ ? Kỹ sư Hoàng vội vã đến phòng trực ban. Phòng trực ban cấp cứu nằm cuối dãy hành lang đầy những kẻ nằm người ngồi vạ vật rất chi là bệ rạc. Trong phòng có mấy người cũng mặc blouse trắng đang chụm đầu bàn bạc nhỏ to : - Cái mật hôm trước bán vội quá. Ngay hôm sau có người tới trả cao hơn cả chục triệu, tiếc đứt ruột - một người nói. - Cái này đếch bán nữa, đem ngâm rượu. Hũ rượu trước hết con mẹ nó rồi. Mấy lão hen suyễn kinh niên uống vào là khỏi, để giành bán cho các lão ấy. Gớm họ vừa chi tiền vừa cám ơn rối rít ấy chứ - một người khác nói. - Thôi được rồi! Người thứ ba nói - các ông xuống làm ngay đi, thằng này căn cước ghi rõ ràng: - 19 tuổi. Đã kiểm tra, đảm bảo còn nguyên dương ( đàn ông chưa xuất tinh lần nào) chết do chấn thương sọ não vừa được mấy phút. Cái mật này mới tuyệt hảo, để quá hai tiếng có mà hỏng mẹ nó cả chì lẫn chài. Đã điện thoại cho bên công an rồi, họ bảo cứ mổ đi, có gì đừng "quên" họ là được. Hai người kia vội vã đứng dậy lao nhanh ra khỏi phòng, vừa lúc ấy kỹ sư Hoàng bước vào: - Bác sĩ làm ơn cho hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, 19 tuổi, sinh viên năm thứ hai, nghe nói bị chấn thương sọ não có cấp cứu ở đây không, nằm giường số mấy? Tôi là cậu ruột cháu - kỹ sư Hoàng vừa hỏi vừa tự giới thiệu . Anh bác sĩ còn lại trong phòng thoáng một chút giật mình. Anh ta làm như nghĩ ngợi điều gì rồi ngập ngừng: - Tên Phúc, sinh viên, 19 tuổi.. A... anh... à bác ngồi chờ cháu một lát. Linh cảm thấy có gì nghiêm trọng xảy đến với đứa cháu, lại cứ tưởng anh bác sĩ kia vì thông cảm với nỗi đau của mình mà chưa nỡ nói ngay. Kỹ sư Hoàng vừa lo sợ vừa cảm động nhìn anh bác sĩ đang cúi gằm mặt, tay lần giở một cuốn sổ to tướng chậm rãi lần một hồi. Mồ hôi đã toát ra lấm tấm trên khuôn mặt đỏ như gà chọi, anh bác sĩ chợt ngẩng lên bảo : - Trong sổ này không thấy có tên Phúc. Bác ngồi đây chờ cháu đi lấy sổ khác. Nhớ là đừng đi đâu đấy. Nói xong anh ta gập sổ rồi vội vã ra khỏi phòng, không quên đóng sập cửa lại, còn một mình trong phòng, kỹ sư Hoàng lòng như lửa đốt. Bỗng chuông điện thoại reo vang, một hồi, hai hồi... chừng như người đầu dây bên kia có việc cần gọi cho bằng được. Kỹ sư Hoàng do dự giây lát rồi nhoài người với lấy cái ống nghe, định nói cho bên kia chờ lát nữa gọi lại. Vừa áp ống nghe lên tai, kỹ sư Hoàng chợt nghe ngay một giọng nói dằn từng tiếng : - Trực ban cấp cứu phải không? Bảo với pháp y rằng cái mật lần này tuyệt đối không được bán nghe chưa! Chú Sáu bên Uỷ ban đăng ký rồi đấy. Kỹ sư Hoàng chưa kịp hiểu mô tê ra sao thì người đầu dây bên kia đã dập máy. Sau khi định thần suy nghĩ kết hợp với mấy câu cuối nghe được loáng thoáng lúc mới bước vào phòng, kỹ sư Hoàng chợt lạnh người với một nỗi nghi ngờ. Anh với cuốn sổ lúc nãy mở ra. Ngay giữa trang cuối cùng, rõ ràng có tên nạn nhân Nguyễn Hồng Phúc, 19 tuổi, sinh viên, té xe, nhập viện lúc... giờ... ngày - người đưa đến: Phạm văn A - bạn cùng lớp. Bỗng cánh cửa sịch mở, anh bác sĩ khi nãy ùa vào. Nhìn thấy cuốn sổ trên tay kỹ sư Hoàng, anh ta thoáng một giây bối rối rồi lập tức liến thoắng : - Cháu quên không đọc trang cuối, đúng là có... Anh ta chưa kịp nói hết câu kỹ sư Hoàng đã ngắt lời: - Tôi biết hết rồi, anh không phải giải thích. Rồi chẳng muốn nói gì thêm, nữa kỹ sư Hoàng ném trả cuốn sổ, hấp tấp lao nhanh ra khỏi phòng, anh bác sĩ hé cửa ngó theo, hơi lắc đầu, mỉm một nụ cười ý nhị rồi đóng cửa lại, ung dung quay vào. Chuông điện thoại lại reo, anh ta cầm lấy ống nghe : - Dạ... dạ... à thế ạ... Báo cáo, xong xuôi cả rồi ạ. Thế thì chú nói chú Sáu chuẩn bị rượu tốt để ngâm, cháu sẽ bảo anh em mang sang ngay bây giờ ạ. Kỹ sư Hoàng xuống đến nhà xác thì Phúc đã nằm trong ngăn lạnh. Một không khí thê lương sặc mùi tử khí. Nền nhà vương đầy những bó nhang cụt, những cục nến gãy, những mẩu giấy tiền vàng mã... làm quang cảnh nơi đây giống như vừa xảy ra một vụ cướp. Viên quản lý nhà xác nghe trình bày, quan sát anh từ đầu đến chân bằng cặp mắt âm u như cặp mắt quỷ rồi chẳng nói chẳng rằng, ông ta lừ lừ tiến đến kéo một ngăn tủ ra. Kỹ sư Hoàng lạnh toát người nhìn trân trân cái xác... "Đúng thằng Phúc rồi, chị Cả ơi, khổ thân chị quá"... Không giữ nổi bình tĩnh, anh khuỵu xuống gục đầu vào ngăn tủ. Mùi máu tanh tưởi ập vào giác quan. Anh chợt tỉnh, ngẩng phắt lên, lấy tay lật manh áo trước bụng đứa cháu... một vết mổ cẩu thả còn chưa khít miệng với mấy mũi khâu vội vàng, dúm dó: - Các người đã mổ cháu tôi... các người đã... Tôi sẽ kiện, kỹ sư Hoàng gào lên trong nước mắt. - Híc... viên quản lý nhà xác cất tiếng, giọng cũng âm u như phát ra từ bụng gã : Tha hồ cho ông kiện, tất cả những cái chết bất đắc kỳ tử thế này đều phải mổ hết, luật pháp quy định như vậy. Hừ có mà điên mới đi kiện luật pháp. À mà tôi đã vi phạm nội quy khi cho ông xem xác, lấy gì chứng minh ông là người nhà bây giờ? Mời ông đi khỏi đây. Nói xong gã đưa tay đóng sập ngăn tủ lại. - Nhưng tôi... kỹ sư Hoàng chưng hửng... vậy còn cháu tôi? - Trước hết phải có giấy tờ chứng minh ông là người nhà của nạn nhân đã, rồi sau đó phải làm đầy đủ thủ tục mới mang được lấy xác ra khỏi đây. Mà ông định cõng xác trên lưng mang về hay sao? Viên quản lý lạnh lùng phán. Kỹ sư Hoàng có vẻ hiểu ra những việc cần làm, anh thất thểu bước ra khỏi nhà xác gọi điện về nhà bảo vợ chuẩn bị căn cước, sổ hộ khẩu lên phường xin giấy chứng nhận rồi tìm đến một tiệm bán quan tài. Ông chủ tiệm quan tài có tên "Nhân nghiã đường" hăng hái đón khách. Chỉ vào đống quan tài đủ các kiểu loè loẹt đang bày la liệt, bảo kỹ sư Hoàng: - Tuỳ bác chọn cái nào thì chọn. Bác cho biết địa chỉ, số nhà, giờ khâm liệm... chúng tôi sẽ cho người đến lo liệu. - Không phải liệm ở nhà mà là ở nhà xác bệnh viện chúng sinh. Kỹ sư Hoàng ngắt lời. - Thế thì không được rồi. Ông chủ Nhân nghiã đường lắc đầu - tôi không bán được cho bác đâu, cũng không làm gì được hết. - Tại sao lại như thế? Kỹ sư Hoàng kinh ngạc thốt lên? - Chắc đây là lần đầu tiên nhà bác có người chết ở bệnh viện - ông chủ Nhân nghiã đường giải thích - bệnh viên có luật của họ, muốn lấy được xác ra phải có cửa. Quan tài mua tiệm nào do họ chỉ, khâm liệm, ma chay... tất tần tật do người của họ làm hết. Có thế họ mới ăn chứ, độc quyền mà. - Té ra phải như vậy. Kỹ sư Hoàng cay đắng nghĩ rồi rời khỏi tiệm "Nhân nghiã đường". Quay lại chỗ nhà xác chờ một lúc lâu thì vợ anh mang giấy tờ tới. Mấy đứa bạn học của Phúc biết tin cũng đã tìm đến, mang theo nhang hoa và trái cây. Lúc này đêm đã gần khuya, mắt đỏ hoe vợ anh mếu máo: - ối anh ơi, vẫn chưa thấy tăm hơi chị cả đâu, em đến nhà ông chủ tịch nói mãi ông ấy mới ký cho cái giấy chứng nhận, lại vừa đóng lệ phí, vừa bồi dưỡng hết mấy trăm. Cháu nó nằm đâu để em vào thắp nén nhang cho cháu. Kỹ sư Hoàng dẫn vợ và đám bạn của Phúc vào, trình mớ giấy tờ cho viên quản lý. Gã này săm soi một lát rồi lắc đầu : - Không được, trường hợp này công an còn phải điều tra, vả lại khi nãy ông còn định kiện tụng gì nữa cơ mà? Sáng mai đến giải quyết. - Chẳng lẽ để đứa cháu lạnh lẽo qua đêm không một chút khói nhang an ủi linh hồn? kỹ sư Hoàng lúc này đã mụ mẫm hết tinh thần, cụt què cả ý chí, anh chỉ còn biết vớt vát như một cái máy : - Tôi xin ông, ấy là tôi chót nhỡ mồm. Tôi không kiện tụng gì đâu. Mọi việc giao cho các ông "lo" hết. Chỉ mong sao mang cháu về nhà... - Vậy thì về viết cam đoan đi, viên quản lý hạ giọng - nhưng cứ phải sáng mai mới giải quyết. Không có giấy của công an thì bố tôi cũng không dám giao xác cho các người. Sáng sớm hôm sau. vừa thò mặt đến cổng nhà xác bệnh viện Chúng Sinh đã có mấy kẻ mặt mũi rất chi là khả nghi túm lấy kỹ sư Hoàng. - Xác của bác là xác tai nạn giao thông phải không? Giá chót tám triệu, chúng em lo mọi thủ tục chiều lấy xác ra... quan tài khâm niệm 12 triệu nữa bao trọn gói - một người trong bọn bảo. - Tại sao lại phải đến chiều? Làm ngay trong sáng nay không được sao? kỹ sư Hoàng hỏi lại. - Hì các bác này đúng là chưa "chết" lần nào. Phải đợi công an người ta hoàn tất hồ sơ chứ... một người khác giải thích - mà chúng em phải đưa bác đến làm tờ khai, chiều lấy được là con nhanh, với điều kiện phải có bồi dưỡng... không thì cứ đợi đấy. Đám người ấy quả là thạo việc, rốt cục chiều hôm ấy kỹ sư Hoàng cũng đưa được xác đứa cháu về nhà sau khi đã được khâm liệm cẩn thận. Vẫn không thấy bóng dáng chị cả đâu, linh tính xảy ra chuyện chẳng lành, kỹ sư Hoàng bàn với vợ cùng mấy đứa bạn của Phúc trông nom nhang khói, để anh về làng đón chị Cả lên . Có mấy kẻ lạ mặt lảng vảng ngoài cổng nghiêng ngó hỏi thăm, mấy đứa bạn của Phúc chạy ra nghe ngóng rồi vào bảo: - Mấy thằng cò nghiã địa bác ạ. Nó bảo đất chôn mặt tiền lối đi là 12 triệu, phía trong tám triệu, chưa kể tiền lo giấy phép chôn và công đào huyệt lấp đất xây mộ, tuỳ theo to nhỏ tính riêng. Nếu túng tiền thì chôn đứng. Chôn đứng rẻ hơn một nửa, tất nhiên đất rộng chỉ bằng 1/3. Nghiã địa bây giờ khối người phải chôn như thế, thành ra đầy những ma đứng, linh hồn đứng, đứng vĩnh hằng. Vội vã phóng về quê, kỹ sư Hoàng hoảng hốt lạnh người khi hàng xóm bảo chị Cả Bống đã lên thành phố từ chiều hôm qua, mấy nhà khác thấy anh về đổ đến hỏi thăm. Có người chợt nhớ ra bảo: - Sáng nay đi chợ thấy ở bến đò Đuôi Cáo có ai nhang nhác bác Cả Bống ấy. Hay là bác sang tìm thử xem. Không kịp suy tính, kỹ sư Hoàng vội vã lao sang bến đò, tìm khắp các hàng quán hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Chợt anh nhìn thấy dưới bờ sông sát mép nước, một người đàn bà đầu tóc rũ rượi đang ngồi ném những nắm cát xuống dòng sông... kỹ sư Hoàng vừa nghi hoặc, vừa thận trọng tiến lại gần... "Ai như chị Cả? Anh cất tiếng gọi... một tiếng, hai tiếng... Người đàn bà chợt quay phắt lại... Đúng là chị, chị nhìn anh với đôi mắt thất thần, khuôn mặt răn reo, lem luốc cát. Bỗng chị lảo đảo lao đến, ôm chầm lấy anh, gào lên nức nở : - ối! Con ơi, con về với mẹ đây rồi, người ta cướp cái gì của con, con chết có đau không? Con về đây báo oán mẹ... mẹ không đến được với con... con ơi !!!!! Cứ thế chị gào mãi, gào mãi, tiếng gào rợn cả một khúc sông. Kỹ sư Hoàng hai tay nâng khuôn mặt chị, miệng hoảng hốt nhắc đi nhắc lại: - Em đây mà, Hoàng đây mà! Song chị đâu có nghe, đâu có thấy, chỉ một mực gào tên con... dần dần tiếng chị khản đặc chỉ còn như tiếng thở lào phào... Người chị bỗng lả đi, từ từ khuỵ xuống. Kỹ sư Hoàng quỳ xuống theo, hai chị em ôm nhau quỳ trên bãi cát, hoàng hôn bắt đầu buông, trăng chiều rực lên đỏ thẫm. Qua màn nước mắt, anh cảm thấy tất cả không gian như chìm trong biển máu, bên tai anh chợt vọng lên văng vẳng giọng nói của lão Tiến cụt hôm trước: - Làm người lương thiện xã hội chủ nghĩa bây giờ vất vả quá... biết đâu đến một lúc nào đó những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. /.

 

Bác sĩ Lưu H. sinh 1971 ở Huế, Việt Nam, vượt biên tìm tự do năm 1980, sang Mỹ, lớn lên ở San Jose. Bác sĩ Lưu H. học tại UCLA, sau đó tại Uniformed Services University, Bethesda, MD. Bác sĩ Lưu H. vinh thăng Thiếu Tá thời gian gần đây. Nguyễn Văn Đức -------------------------------------------------------------------------------- Ký Sự chiến trường Iraq (bài 2) Nguyên tác Anh ngữ: Thiếu Tá Quân Y Lưu H. Người dịch: Nguyễn T. Bác sĩ Thiếu Tá Lưu H. Vận may đã hết. Hai tháng đầu tại Iraq, chúng tôi gắng tránh mọi thương vong. Cũng có một vài trường hợp thương tích trầm trọng phải di tản về Hoa Kỳ nhưng dầu sao chúng tôi cũng tránh được chết chóc. Trong cuộc chiến này, thương tích phần lớn là do mìn, xe bom, pháo kích, hỏa tiễn, tai nạn xe cộ hơn là do trực chiến. Một hay vài trường hợp này xảy ra hàng ngày. Trong tháng thứ ba và thứ tư, chúng tôi bị mười một người thiệt mạng. Hàng loạt vụ tử thương tiếp nối quá nhanh làm chúng tôi không kịp hoàn hồn. Vẫn biết rằng khó lòng tránh tổn thất nhưng tôi không ngờ rằng tổn thất lại thường xuyên như thế. Cái chết của hai nhân vật đặc biệt đã ảnh hưởng đến tôi sâu đậm. Ngày hôm đó, như thường lệ, tôi đang nghe ngóng tin tức qua lưới truyền thanh trong túp lều trị chấn thương thì được lệnh yêu cầu sĩ quan tiếp liệu S4 phải cung cấp túi đựng xác cho các toán thuộc bộ chỉ huy. Bất hạnh thay, túi đựng xác cứ phải gởi đến hoài cho các toán tuần tiễu để đựng xác dân Iraq do họ phát giác ra. Nhiều người bị hành quyết bằng một phát đạn vô đầu. Lý do để hành quyết là do làm cảnh sát cho Mỹ hoặc chỉ cốt gây hoảng sợ cho dân chúng. Đôi khi sự giết chóc không hẳn vì lý do chính trị mà vì lý do tham tiền. Mặc dù chúng tôi được cung cấp túi đựng tử thi đầy đủ nhưng hiếm khi toán tuần tiễu mang theo vì e xui xẻo. Vì không có yêu cầu khẩn cấp nên tôi cũng chẳng ngại có điều chi xẩy ra. Tôi rời lều cứu thương sau khi báo cho nhân viên biết sẽ có yêu cầu gởi túi đựng xác đi, thế thôi. Đối phó với hậu quả của tử vong cũng là một phần của chiến tranh. Một khi đã quyết định không còn cứu sống được nữa, sĩ quan S4 có nhiệm vụ phải tàng trữ xác và di chuyển về khu chứa xác gần nhất. Tuy nhiên, yêu cầu giải quyết tử thi thường dồn dập đưa tới trung đội cứu thương bởi vì mọi người tránh giữ xác kể luôn cả túi đựng xác. Khi tôi quay trở lại thì được lệnh khẩn cấp gửi 3 túi đựng xác cho một chiếc xe đã trực sẵn trước cổng. Hạ sĩ quan chịu trách nhiệm lập tức báo cho tôi biết là túi đụng xác dành cho 2 sĩ quan của đơn vị tôi, Đại Úy Hill, trưởng toán E vừa được lệnh điều đi và Đại Úy Farmer, sĩ quan thay thế, hai người đang ngồi với nhau trên xe để bàn giao thì xảy ra chuyện. Tôi biết họ rất rõ và thoạt tiên không tin đó là sự thật. Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra. Chuyện gì đã xảy ra? Họ đang ở đâu? Quan trọng hơn, tin tức có chính xác không? Chúng tôi đều đã trải qua tin tức hỏa mù của chiến tranh và từng nhận nhiều tin tức sai lầm. Ngay lúc đó, tôi thực sự hy vọng đó chỉ là một tin lầm lẫn. Tôi và Thiếu Tá Bryant, sĩ quan phụ tá Trung Đội cứu thương, bèn quyết định đến Trung Tâm Hành Quân Chiến Thuật (TOC) để tìm hiểu tin tức chính xác đồng thời để yểm trợ cho diễn biến mới này. Chỉ Huy Phó Trung Tâm Hành Quân đang đứng ở phía ngoài bận đàm thoại qua máy truyền tin. Nhìn gương mặt của ông ta là tôi đã biết ngay rồi. Hai Đại Úy của chúng tôi đã thiệt mạng. Đúng là một nhân vật chuyên nghiệp, sĩ quan Chỉ Huy Phó đang kêu một Đại Úy từ một căn cứ khác đến nhận lệnh thay thế chỉ huy toán E. Đồng thời, ông ta dùng một máy truyền tin khác để ra lệnh bảo vệ địa điểm và lượm xác. Ông ta ngừng một lát vừa đủ để thâu tóm ngắn gọn tình hình cho chúng tôi biết. Rõ ràng là một xe phát nổ tự động đã nổ tung cách căn cứ khoảng 10 cây số, nơi mà toán E đang làm nhiệm vụ kiểm soát. Đến nay thì chúng tôi đã hiểu tai hại của xe phát nổ tự động như thế nào. Quân phiến loạn đã biết rằng chúng có thể chứa nhiều chất nổ hơn, gây nhiều thiệt hại hơn với một xe chất đầy bom. Hoặc là chúng để xe bên vệ đường hoặc là chúng lái xe đến mục tiêu. Có rất nhiều xe bị nằm đường trên lộ chính nên không biêt đâu là xe bom hay không. Tự lái xe đâm vô mục tiêu thì dễ cho chúng thực hiện chính xác ý đồ tiêu diệt. Tuy nhiên, lái xe bom ít được chúng dùng hơn vì như vậy là phải hy sinh tài xế. Một chiếc xe đến gần trạm kiểm soát thì toan quay đầu trở lại. Binh lính chận xe thì tên tài xế bỏ xe tháo chạy. Đại Úy Hill bắt tên tài xế đưa trở lại xe và khởi sự lục soát chiếc xe. Tên này dịu dần sau một lát vùng vẫy làm như là hắn bối rối. Cả hai vị Đại Úy đứng sau lưng hắn chừng 10 feet khi ra lịnh hắn mở thùng xe. Vừa được mở ra, xe liền phát nổ làm văng cả 3 người và cái xe ra xa cách đó cả trăm feet. Lúc mà tôi nghe kể như vậy tôi đã vang lên trong đầu câu hỏi: "Tại sao mấy Đại Úy lại phải đích thân làm như vậy?!". Tôi đã không hỏi, vì chúng tôi còn nhiều việc quan trọng khác cần làm hơn. Chỉ Huy Trung Đội cứu thương lúc đó đang ở trại khác; ông ta kêu tới và ra lệnh di tản 3 xác người ra khỏi hiện trường mang đến bệnh viện. Di tản cứu thương (medevac) thường chỉ dành cho bệnh nhân còn sống và di tản khỏi chiến trường chỉ dành cho những truờng hợp thương tích nguy kịch có thể làm mất mạng, què tay chân hay mù. Đó là một nguồn cứu cấp quí giá và luôn luôn là bịnh nhân được chuyển đi kịp thời. Chúng tôi không mong đợi họ chịu chuyển xác đi trong khi có thể có các chiến sĩ bị thương ở nơi khác. Tuy nhiên, ở đơn vị tiền tuyến đã khá lâu tôi dư biết là đừng có bất tuân thượng lệnh ngay. Muốn cấp trên thay đổi ý định, phải đưa ra một phương cách khác. Tôi bày tỏ cho sĩ quan Chỉ Huy Phó biết nỗi lo ngại của chúng tôi, e rằng toán di tản cứu thương khi tới nơi sẽ từ chối đem xác đi. Câu trả lời của ông ta là: "Bác sĩ, bác sĩ biết hơn ai hết, biểu tôi phải làm sao đây. Tôi không muốn ‘các đứa con’ của tôi phải phơi xác ngoài trời lâu hơn nữa." Để tránh xung đột ý kiến, tôi ra lịnh đem xác trở về căn cứ cứu thương để thu ngắn đoạn đường di tản. Lý luận của tôi là họ cần được khai tử bởi một y sĩ (ghi nhận giờ chết của họ), và tôi sẽ có thì giờ để dàn xếp một cuộc chuyển xác sau đó. Tôi biết là ông sĩ quan Chỉ Huy Phó quan tâm rất nhiều đến thuộc hạ của ông khi ông dùng danh từ "my boys" để chỉ họ, thân thương như là đối với hai đứa con ông đang ở tại quê nhà. Trước khi tôi tìm cách dàn xếp, tôi yêu cầu ông đừng đến nhìn xác cho đến khi tôi gọi lại ông. Tôi đã hình dung ra mức độ của sự tàn sát và tôi muốn tránh cho ông cảnh đau thương càng nhiều càng tốt. Chúng tôi quay về căn lều trị chấn thương để thông báo cho hạ sĩ quan trưởng cần làm những gì. Trước khi tôi kịp chấm dứt suy nghĩ, ông hạ sĩ quan trung đội đã nói liền một hơi: "Chúng tôi đã xin được trực thăng chở xác [còn gọi là "máy bay thiên thần " (Angel flight)], họ sẽ đến nội đêm nay. Nhưng chúng tôi có vấn đề với bộ phận nhà ăn, họ không cho mượn xe freezer." Có trực thăng chở xác! Thiệt là cám ơn Trời, sau này tôi sẽ hỏi làm sao xin được một chuyến bay như vậy, nhưng bây giờ thì tôi phải giải quyết vụ xe có freezer trước đã. Khi chúng tôi mới tới chúng tôi đã đặt xin một xe có freezer nhưng đề nghị bị trả về. Kế hoạch để đối phó với bất ngờ của chúng tôi là sử dụng một trong những xe freezer của bộ phận nhà ăn. Khi tôi tiến về phía nhà ăn thì tôi nói với toán của tôi là mình chỉ còn chừng 20 phút. Tuy nhiên, phía nhà ăn thì họ tỏ ra bối rối, rõ ràng họ không muốn giải quyết các tử thi. Nhưng khi họ được biết rõ chính là hai vị Đại Úy của chúng tôi thì họ nhanh chóng dọn dẹp sạch sẽ một xe trailer trong đó có phòng lạnh. Tôi gọi truyền tin về báo cho toán biết là chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng, họ cần ra cổng "nhận hàng" và hộ tống vào. Tôi cũng yêu cầu nhân viên cứu thương sẵn sàng vật dụng liệm xác. Trung Sĩ trung đội là một cựu chiến binh lúc này đang thi hành nhiệm vụ kỳ 2 biết rằng điều tôi yêu cầu sẽ gây khó khăn cho các nhân viên cứu thương. Họ chưa quen dày dạn, phần đông họ chỉ nhìn thấy sự chết một lần khi đến cứu cấp một chiếc xe bị tai nạn một tháng trước đây. Thương binh thì khác hẳn tử thi và họ chưa bao giờ được huấn luyện việc liệm xác. Ông ta đành yêu cầu tự nguyện. Ai ngờ tất cả nhân viên đều tình nguyện trừ một người. Anh không đành tâm làm việc đó và ngày hôm sau anh kể với tôi: "Đại Úy Hill là trung đội trưởng trung đội tôi từ 2 năm qua. Tôi không muốn nhìn xác ông tan nát như vậy. Tôi chỉ muốn giữ hình ảnh đẹp của Đại Úy khi còn sống. Mong rằng ông không có ý nghĩ xấu về tôi." Phải mất một tuần sau anh mới quên việc đó đi được. Chúng tôi đang định đặt một mảnh ván nối lên trailer thì chợt thấy một xe có đường ray kéo tới. Đại Úy Edward chạy lên phía trên đường ray để hướng dẫn chiếc xe xác chạy vào trailer. Cũng như hai Đại Úy của chúng tôi, ông ta tốt nghiệp Trường Võ Bị West Point nên tôi hiểu việc làm này đau đớn cho ông ta biết chừng nào. Mặt ông rầu rĩ và trong suốt tiến trình, ông im lặng không nói một lời. Nhân viên cứu thương nhanh chóng nhảy xuống xe khi cửa sau mở ra. Trong khi họ ráng di chuyển các túi đựng xác từ một khu vực chật hẹp, trưởng xa là Đại Úy Ray la lên "đừng có đụng vào đâu hết!". Nhân viên cứu thương từng được huấn luyện để hành động nhanh chóng đưa bịnh nhân xuống xe để bắt đầu điều trị. Tuy nhiên đối với các tử thi này lại khác, vấn đề thật nhạy cảm. Thêm vào nữa chúng tôi không quen làm việc có nhiều sĩ quan vây quanh. Thật là căng thẳng. Tôi vỗ vai họ và thì thầm: "Làm từ từ thôi." Ba túi đựng xác và vật dụng cá nhân được chuyển qua trailer. Trong thâm tâm tôi biết hỏi như vậy nghĩa là gì nhưng tôi cũng không dừng được câu hỏi: "Xác người Iraq có trong mấy túi này không?" Cái cách mà Đại Úy Ray nhìn tôi làm tôi hiểu rằng "Không có." Tôi nói với toán của tôi là chúng ta bắt đầu bằng 2 cái túi lớn. Trước khi chúng tôi khởi sự, Thiếu Tá Bryant quay nhìn tôi và thì thầm: "Các anh đã sẵn sàng chưa?" Tôi nhắm mắt lại và hít nhanh một hơi thở sâu. Trí óc tôi chuyển qua vai trò của một y sĩ. Trước mặt tôi là hai bịnh nhân của tôi và điều tôi cần làm là sắp xếp họ lại sao cho ngay ngắn với sự trợ giúp của các nhân viên của tôi. Tôi muốn khuôn mặt của họ được ngẩng lên ở vị thế đàng hoàng, coi sao cho được. Tôi đang làm việc nửa chừng thì quay nhìn quanh tôi nhận thấy ông sĩ quan Chỉ Huy Phó đang bước lên về phía chiếc cáng. Tôi nói: "Thiếu Tá, tôi đã nói là Thiếu Tá hãy chờ tôi." "Biết vậy, Bác sĩ, xin cảm phiền; Tôi phải nhìn thấy mấy đứa con tôi lần cuối." Tôi ngừng lại hít vài hơi thở sâu để kìm giữ xúc cảm và ông ta hỏi tôi có sao không. Tôi không trả lời ông mà bước về phía cha Tuyên úy đang lệ trào nơi gò má. Tôi nói nhỏ với cha là mọi việc sẽ xong trong vài phút nữa để cha có thể làm những nghi thức tôn giáo sau cùng cho hai Đại Úy và đề nghị cha hỏi mọi người xem có ai muốn chào tiễn biệt họ lần cuối. Binh sĩ thuộc toán E đứng xếp hàng phía ngoài trailer, từng người một bước lên xe chào tiễn biệt. Người thì nhanh chóng, người còn tần ngần đứng lại. Kẻ thì im lặng chịu đựng, kẻ khác nhỏ lệ khóc. Trong lúc đứng phía ngoài nhìn họ, tôi nhận thấy máu lem trên hai bàn tay và cánh tay áo. Tôi đi về phía bên cạnh xe tang bảo một nhân viên của tôi lấy nước rửa tay. Nước xối qua tay mang lại cho tôi một cảm giác kỳ lạ và nhiều ý tưởng xuyên qua đầu tôi. Đây là máu của các bạn tôi, tôi có vô tình thiếu nghiêm chỉnh quá không? Tôi có xúc phạm binh lính của người quá cố khi họ lần lượt đi ngang qua? Quãng thời gian chúng tôi sửa soạn cho thi hài với tôi nhanh và mờ nhạt, nhưng trái lại việc tẩy rửa máu để lại trong tôi nỗi đau dài. Máy bay chở xác đã đến trước khi mọi người chào tiễn biệt xong. Chỉ Huy Phó Đơn Vị đi tới nói với họ xin hãy chờ. Sau này ông ta kể cho tôi nghe cuộc gặp gỡ đó. Các phi công hỏi ông: "Thưa Thiếu Tá, chúng tôi đến đây chở hai thiên thần gãy cánh, Thiếu Tá có biết chi về họ?". Thế là ông ta rũ người ra và oà khóc. Sau khi mọi người chấm dứt, chúng tôi mang hai tử sĩ lên một chiếc xe cứu thương và tôi đi cùng với họ ra sân bay. Lúc đó tôi mới thấu hiểu ý nghĩa của những chuyến bay chở xác. Mọi người đều rất chuyên nghiệp và kính cẩn. Họ chào kính người quá cố và mang họ vô trực thăng. Chúng tôi đứng nghiêm chào lần cuối mặc dầu gió thổi bạt thật mạnh khi trực thăng cất cánh. Đây là lúc đặt câu hỏi và trả lời. Hai Đại Úy đã chỉ huy đúng mức ngoài tiền tuyến. Họ không bao giờ đòi hỏi quân của họ làm những gì mà những người này không chuẩn bị sẵn sàng để làm, và điều này bao gồm luôn cả công việc nguy hiểm là khám xét xe. Chỉ là vận xui cho hai vị vào ngày đó. Số lượng chất nổ trong xe dự định để gây thiệt hại nhiều hơn là hai người lính ở điểm kiểm soát. Tài xế xe nổ này định lái xe đi đâu đó có thể là đến một cái chợ hoặc một nơi tuyển mộ cảnh sát. Sự hy sinh của hai Đại Úy đã ngăn ngừa được nhiều cái chết khác. Tôi biết cả hai người đều tính khí thoải mái và điềm đạm. Trong hai tháng đầu chúng tôi thường gặp nhau trong các buổi họp nhận chỉ thị. Tôi không có nhớ là Đại Úy Hill có bao giờ nói với tôi là anh sắp có một đứa con nhưng cách này hay cách khác tôi biết là anh đang mong chờ một cháu bé. Trước đây ở quê hương tôi đã chăm sóc cho nhiều sản phụ và tôi nhớ lờ mờ là đã có chăm sóc cho vợ của anh lúc chị mới mang bầu. Sau này tôi mới biết rằng chị sẽ sanh con trong vòng 2 tuần tới. Anh đã tính xin thuyên chuyển qua việc khác để dễ dàng về thăm vợ lúc bể bầu. Con trai anh ra đời hai ngày sau và không bao giờ có cơ hội gặp cha. Còn Đại Úy Farmer thì luôn luôn có nụ cười nở trên môi. Giọng anh nhẹ nhàng nhưng cung càch chỉ huy chuyên nghiệp của anh làm cho binh lính phải lập tức kính trọng. Kể chuyện gia đình, mắt anh sáng lên khi đề cập đến vợ và con. Đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Tôi đi loanh quanh xem có ai cần thuốc ngủ. Vài người nhận thuốc, phần lớn khác thì tỏ ra cứng cỏi chiến đấu với quỉ dữ nơi chính bản thân. Tôi tin tưởng rằng việc dùng thuốc không phải là hành vi yếu đuối mà chỉ là một phương cách để làm cho tinh thần ổn định. Tôi dùng môt viên thuốc ngủ nhưng chỉ hai giờ sau, lúc 4 giờ sáng là đã tỉnh dậy. Đêm đó tôi mơ thấy lúc lần đầu tiên gặp Đại Úy Farmer, tôi bắt tay anh và thán phục cung cách ung dung của anh. Lúc này chúng tôi đang ở Kuwait và tình hình rất căng thẳng. Lúc đó anh đang là sĩ quan tiếp liệu (S4) còn chúng tôi lúc nào cũng đòi thêm đồ tiếp tế. Anh thỏa mãn mọi đòi hỏi của chúng tôi, kể luôn cả những đòi hỏi vô lý dù phải tiếp tục lấy thêm đồ tiếp tế ở các căn cứ khác. Trong lúc nằm trên giường nhìn trừng trừng vào đêm tối, mắt tôi tuôn lệ trào. Lệ cứ tuôn ra tự nhiên, dường như cả một giếng u sầu đang cạn dần. Tôi không biết việc đó kéo dài bao lâu nhưng tôi biết rằng sáng sớm hôm đó, tôi đã âm thầm chào tiễn biệt anh một lần cuối. Tang lễ quân đội là môt kinh nghiệm mới mẻ đối với tôi. Sau khi đã dự môt lần, tôi không còn bao giờ muốn dự tiếp nữa, chỉ làm đau lòng thắt ruột. Cả trăm người hiện diện kể cả một Tư Lệnh vùng và bộ tham mưu của ông ta đang đóng căn cứ tại một vùng khác ở Iraq. Đó là một buổi chiều ấm áp, chim hót véo von trên các cành cây. Cha Tuyên Úy làm thủ tục thường lệ sau đó là Tướng Tư Lệnh. Đại diện của một đơn vị trực tiếp với những người quá cố đọc điếu văn. Các Đại Úy được mọi người kính trọng và yêu mến. Lúc gọi điểm danh là lúc tôi chịu không nổi. Truyền thống của quân đội là gọi tập hợp và điểm danh. Niên trưởng hạ sĩ quan sẽ kêu tên các binh lính thuộc đơn vị và ai hiện diện đều hô có mặt. Lúc kêu tên các tử sĩ thì chỉ có sự im lặng. Sau khi ngừng một lát, ông hô to hơn họ của Nguời Lính và cấp bậc của người này. Lần này, cũng không ai trả lời. Tôi cảm thấy như mắc nghẹn nơi cổ họng. Ông hô to lần thứ ba, giọng vô cùng khẩn trương, lần này toàn bộ tên họ và cấp bậc của người quá cố. Im lặng vài giây và sau đó là một loạt súng nổ chào. Chúng tôi đứng nghiêm và sau mỗi loạt súng nổ phá tan bầu im lặng, chúng tôi lại cảm thấy hơi rùng mình và lệ cứ tuôn trào sau những cặp kiếng đen của chúng tôi. Tổn thất của chúng tôi nhỏ bé so với các cuộc chiến tranh khác nếu tính về con số. Tuy nhiên mỗi tổn thất là một giá đắt cho bản thân binh lính và gia đình của họ ở nhà. Trong khi xếp đặt ngay ngắn các tử thi và để những thuộc hạ của họ chào biệt lần cuối, chúng tôi hy vọng rằng ít ra cũng đem lại cho họ một cái chết vinh dự. Biết bao quân nhân Mỹ tử trận trong cuộc chiến Việt Nam đã không được chôn cất tử tế, gia đình của họ lại chỉ có tin tức mơ hồ không biết xác của họ vất vưởng nơi nào. Điều này càng đặc biệt đúng với các chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Mặc dầu là cả bọn chúng tôi nói chung đã "không được may mắn", nhưng tôi biết chúng tôi còn may mắn biết bao khi đứng ở phía bên này của cuộc chiến. Thật là đau lòng nhìn thấy rất nhiều người phải bỏ mạng giữa tuổi thanh xuân, nhưng đó là điều không tránh khỏi trong bất cứ cuộc chiến tranh nào. Trong số 11 người tử trận ở đơn vị tôi, phần đông họ ở lứa tuổi chỉ trên hai mươi, thậm chí còn có em mới 19 tuổi. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được các thanh niên này sẽ còn đóng góp những gì cho quê hương xứ sở nếu cuộc đời của họ không bị đứt ngang quá sớm.

 

Sáng nay mở máy computer để coi thư, thấy mấy bài viết về Mẹ khiến lòng tôi nao nao. Ngày còn nhỏ đi học lớp Ba lớp Tư, tôi vẫn còn nhớ nguyên bài thơ học thuộc lòng về Mẹ: "Mỗi lần nắng mới hắt bên song , Xao xác gà trưa gáy não nùng. Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng, Chập chờn sống lại những ngày không. Tôi nhớ Mẹ tôi thuở thiếu thời, Lúc người còn sống tôi lên mười. Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội, Áo đỏ người đưa trước dậu phơi. Hình dáng Mẹ tôi chửa xoá nhòa, Hãy còn mường tượng lúc vào ra, Nét cười đen nhánh sau tay áo, Trong ánh trưa hè trước dậu thưa." Tôi quên tên tác giả bài này rồi. Chẳng quan trọng gì vì tôi chỉ lưu ý đến cảm xúc của bài thơ về Mẹ. Người Mẹ của tôi. Cảm xúc luôn hiện ra rõ rệt cùng với hình ảnh người Mẹ hiền. Hình ảnh người Mẹ thật của tôi tuy mờ nhạt đi nhưng Mẹ lại hiện rõ hơn lên qua hình ảnh Người Mẹ Việt Nam. Mẹ hiền từ duyên dáng luôn chỉ biết sống lo cho chồng và cho các con. Tôi nhớ những ngày trông ra ngõ chờ Mẹ đi chợ về. Mẹ mang tấm báng đa nướng chia cho mỗi đứa con một phần tư tấm bánh. Tôi nhớ có những buổi cơm tối thiếu gạo nên Mẹ phải chia cho mỗi con một chén cơm nhỏ. Phần Mẹ cũng chỉ có một chén nhỏ vét nồi thôi dù mai Mẹ lại phải dậy sớm đi chợ sớm. Lúc đó đang vào mùa đói kém. Tôi nhớ hình ảnh một người Mẹ cặp mắt thất thần, bỏ hết mọi sự chỉ gánh được hai đứa con chạy loạn khi CS đánh chiếm Miền Trung. Tôi nhớ chuyện người Mẹ bị giặc bắn pháo nằm chết bên dường của "Đại Lộ Kinh Hoàng" vì chúng gọi bà thuộc "bọn phản động theo giặc đáng chết". Người Mẹ nằm chết nhưng đứa con nhỏ vẫn ôm xác mẹ tìm vú để bú sữa từ xác Mẹ đã mất hết máu, hết sữa cho con. Có ai cứu em bé đó không? Ai cũng đã kiệt sức với nắng nóng với đói khát cùng gánh nặng của gia đình mình rồi. Tôi nhớ đến chuyện kể một người Mẹ vì sĩ diện là vợ Sĩ Quan VNCH, không muốn cho ai biết mình thiếu đói, đành chịu nhịn đói chết gục trong nhà trong khi các con nhỏ đi xin ăn trong các quán ăn khi cs mới vào chiếm Miền Nam. Các con đó đã được cứu mang qua Mỹ. Tôi nhớ chuyện kể một ngưòi Mẹ phải trở nên hung dữ như sư tử để bảo vệ con mình. Mẹ đã can đảm liều chết chống lại bọn cán bộ cs muốn bắt con nhỏ của Mẹ để tra tấn khảo của của gia đình để chúng cưóp hết. Tôi nhớ chuyện những người Mẹ vì thương chồng thương con, mong chồng "cải tạo" được chóng về nên đã nghe lời dụ dỗ đi vùng "kinh tế mới". Chồng chẳng được về mà nhà cửa bị cuớp phải trở về Saigòn sống lất lây trong các nghĩa trang, chung với những nấm mồ người chết. Tôi nhớ chuyện ngưòi Mẹ vượt biên bị cướp biển giết chồng vất xuống biển rồi hãm hiếp bà. Tôi nhớ cặp mắt vô hồn vô cảm của bà nhìn xa xăm ra biển. Người Mẹ không muốn sống nhưng bà sẽ phải sống để lo cho đứa con của chồng và một đứa con bà sẽ sinh ra của tên hải tặc đã hiếp dâm bà. Tôi nhớ chuyện người Mẹ của bốn đứa con nhỏ vượt biên qua đươc Mỹ đã cố gắng đi làm nuôi các con nên người hy vọng người chồng còn trong trại cải tạo sẽ có ngày được thả ra. Tôi nhớ sự can đảm và liều lĩnh của bà khi tập cho các con từ sáu tuổi xuống đến ba tưổi phải biết lo cho nhau, biết coi sóc nhau. Chúng nó phải săn sóc nhau, lo nấu cơm cho nhau ăn để bà đi làm thêm cho có tiền gởi về giúp gia đình và thăm nuôi chồng! Để lo cơm nước những đứa bé đó phải bắc ghế lên mới lấy được nước nấu cơm từ vòi nước. Tôi nhìn thấy một người Mẹ Việt Nam yêu thương con hơn chính mình, gọi con là "trái tim của Mẹ" nhưng rất nghiêm khắc với con để con khi thành người thì con vẫn giữ được tâm hồn Viện Nam dù con có trở nên bất cứ "Ông Bà" gì trong xã hội ở xứ người này. Tôi mong nước Việt Nam chóng đươc thoát ách độc tài cộng sản để tôi được trở về thoải mái nhìn, sống lại những kỷ niệm xưa, được nhìn thấy những người Mẹ Việt Nam không còn phải khổ nhục mang con đi bán hay sợ bị kẻ lạ bắt con mình đem đi bán như những con thú nơi xứ người nữa. Ngày "Mother's Day" tại xứ Mỹ hôm nay tôi cầu xin cho người phụ nữ tại quê hương tôi mau tìm lại được niềm tin, sự hãnh diện lòng can đảm của tổ tiên. Cầu cho họ sống xứng đáng là con cháu của Bà Trưng Bà Triệu. Những người Việt Nam tại hải Ngoại có thể giúp họ được bằng cách làm sao cho đảng csVN mau tiêu tan đi.

 

Nhớ linh xưa : Công dân đôn hậu, Chiến sĩ anh hùng. Quyết tâm diệt bạo, Nhất chí trừ hung. * Thời loạn lạc, quyết chiến đấu bảo vệ quê hương, Buổi hòa bình, nguyện hy sinh cứu nguy dân chúng. * Theo gương Tiền Bối, bảo vệ Gia Quy, dạy cháu con gần chốn thanh liêm, Nối chí Ông Cha, vun bồi Quốc Pháp, khuyên bè bạn xa nơi tham nhũng. Bỗng đất bằng nổi sóng : * Tà quỷ Hồ Mao dẫy đầy Nam Á, chém giết sinh linh, Ôn thần Lê Mác tràn ngập Đông Âu, chôn vùi quần chúng. * Nhờ hồn thiêng sông núi phù trì, chiến đấu triền miên, luôn phô bày ý chí kiên cường, Cậy tú khí chung linh giúp rập, xông pha liên tục, vẫn chứng tỏ tinh thần anh dũng. Thế nên : * Khắp thế giới hoan nghênh, viện trợ khí nhuệ cơ tân, diệt Mác Lê xương trắng khắp đồi, Cả hoàn cầu ủng hộ, tạo thành nhân hòa địa lợi, chống Cộng Sản máu hồng tràn vũng. Hồi tưởng lại : * Chín mươi hai tháng, xứ Bắc phá hủy cơ ngơi, “Bác” u mê chẳng dứt nổ mìn, Hai mươi mốt năm, trời Nam dựng xây nhà cửa, “Đảng” cuồng tín không ngưng nổ súng. * Nơi đất Bắc, đã gội tuyết, tắm sương, dù máu đổ, tinh thần chẵng chút hoang mang, Chốn trời Nam, lại giầm mưa, giãi nắng, dẫu xương tan, ý chí không hề nao núng. Nhưng hỡi ôi ! * Vì Đảng phái lợi quyền, bạn đồng minh phản phúc, sấp mặt nuốt lời bỏ cuộc, hết sức vô lương, Bởi cá nhân danh vọng, người lãnh đạo u mê, gục đầu ngậm bả dâng thành, vô cùng trào phúng. * Buồn, bởi Nước hùng cường, phút chốc trở nên tan rã suy vi, Đau, vì Quân thiện chiến, bỗng nhiên phải án binh bất động. * Lòng căm hờn trước cảnh Quốc Phá Gia Vong, Dạ sôi sục vì nạn Dầu Sôi Lửa Bỏng. * Tướng sĩ lấy câu vị quốc vong thân, nguyện sơn hà nhận lắm phúc dày, Đồng bào dùng lời Quân Dân cá nước, cầu xã tắc hưởng đầy ân sủng. * Sống chiến đấu vì nước, chí kiên cường anh dũng, để vang tiếng sử hồn, Chết hy sinh theo thành, gương tuẫn tiết uy linh, làm rạng danh binh chủng. Đau đớn thay !! * Vận nước suy vi, tinh thần dù lồng lộng ngút trời, cánh hồng hộc khôn chặn nổi cuồng phong, phó mặc mây trôi, Giang sơn nghiêng ngửa, ý chí dẫu bao la rợp đất, đuôi kình ngư khó tạo ra bão táp, đành như sao rụng. * Cả nước hoảng kinh, già trẻ tìm đường chạy giặc, nghìn trùng sóng cả, giặc biển hãm hiếp, giết người, hết sức dã man, Toàn dân ngơ ngác, gái trai kiếm cách vượt biên, vạn dặm rừng sâu, hổ lang giày vò, xé xác, vô cùng kinh khủng. * Núi Trường Sơn, chôn vùi mươi vạn trẻ già, cọp nuốt cành hông Biển Thái Bình, thủy táng trăm nghìn trai gái, cá xơi đầy bụng Hỡi ôi ! * Sinh ly dạo ấy,oán quân thù tạo nạn binh đao, kìa xương trắng chất đống như cồn, Tử biệt từ đây, hận giặc Cộng gây ra đấu tố, nọ máu hồng chảy dài thành vũng. * Hồn vẫn lãng đãng chốn rừng già, hương lạnh, khói tàn, ai thân nhân hoa quả cầu siêu, Phách còn vật vờ nơi biển cả, chuông im, mõ lặng, ai huynh đệ đèn nhang thờ cúng. Hôm nay, nơi đất khách xứ người, nhớ ân sâu nghĩa nặng, tạc tượng phụng thờ. Ngày mai, chốn quê Cha, đất Tổ, tưởng công đức cao dầy, xây lăng trì tụng. Nay chúng tôi : Đốt nén hương chính Nghĩa Quốc gia, cầu nguyện anh hồn Liệt sĩ, Hội Quần Tiên muôn thuở cúng dường, Dâng chén rượu ân tình Việt Tộc, ước mong Linh ảnh Lương Dân, chốn Thiên Quốc nghìn đời thờ phụng. Cầu mong : Anh hồn giác ngộ đáp lời, phù quân đội đập tan chuyên chính, toàn dân bẻ gẫy xích xiềng, Linh Ảnh thiêng liêng thuận ý, giúp nhân dân giải thể độc tài, cả nước thoát vòng tù túng. Thượng Hưởng 6 tháng 4 năm 2005

 

Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết. Tôi hơn em sáu tuổị Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẩm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngôì ăn cơm bên ngọn đèn dầu , tôi và em hỏi han, an ủi me.. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng. Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiềụ Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn. Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổị Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết qủa là tôi đã đỗ được bằng tiểu học năm đó. Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưạ Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi . Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đị Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trâm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng họ Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở... Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào "tuổi ngọc", nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tàị Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổị Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi "quyền huynh thế phụ". Nhiều lúc nhìn mẹ , nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đị Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoạ Mẹ ở một mình với em ở Đà nẳng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư giạ Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em. Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế. Lật đật trở vào Đà nẳng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt . Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giâỵ Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và oà lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lạị Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tỉnh mach ở đầụ Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa ... Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ saỵ Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc ... nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má. Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lă.ng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậỵ Hai anh em hôn lên trán mẹ gỉa từ. Em vuốt mắt me.. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi... Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẩm cả vạt áo me bạc màu . Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôị Em mới mười ba tuổi ... Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữạ Nhưng em thì phải trở lại trường. Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôị Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi , cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều . Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời . Tôi vào trường Võ bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao gi dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lờị Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rờị Tôi đưa em đi thăm me.. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng. Em lớn lên và ngày càng giống me.. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ qúa sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người . Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn... Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm quạ Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhở có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ.... Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng . Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nóị Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già. Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lể nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những "kỳ tích" của bạn tôi, của Mễ, của Lô .... Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm . Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lể ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng , trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuyạ Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim củ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh ... Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôị Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậụ Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo . Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vi.. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới , tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em. Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì "tai nạn" xảy rạ Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù. Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng , những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long. An Lộc ... đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôị Tôi được giải thưởng văn học với bút ký "Mùa hè đỏ lửa". Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạỵ Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rãnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháụ Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lãnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xạ Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh nàỵ Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạọ Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng me.. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã qúa già, làm sao lo phụ với em đâỵ Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em ... Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửị Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu , đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệụ Tù nhân đông qúa ... Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em.Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhoà. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù. Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được , bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn nguời đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gáị Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổị Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nộị Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nàọ Bố thích lắm, bố hưá sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc dến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấỵ Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mủi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết. Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi . Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy truởng trại tiết lộ về điạ vị không nhỏ của người nàỵ Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoàị Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ . Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của me.. Bố nói là có đọc văn tôị Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng , bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dững dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình. Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấỵ Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây gi tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thự Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc. Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nàọ Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờđã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạọ Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhở có mệnh hệ nào ... Tôi thẩn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi , khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiềụ Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ? Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổị Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một aị Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Nguời chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung uý Trần nguyên Tuấn . Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xaọ Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hoá đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ nàỵ Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhoà, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi .... Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lô.. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du ...

 

1. Với quân binh Thế Chiến lần Hai “Em ơi, khi thức giấc Hãy nhớ, Sáng hôm nay… Dăm phút ngắn chóng vánh Ngàn trai trẻ tan thân (*)” Nửa thế kỷ dần qua Vẫn nghe ra tiếng thét Người Lính giữa vũng lửa Vịnh biển lềnh thây trôi. Ôi phút giây kinh hãi Chuỗi mìn giây nổ bùng Thịt xương tung vươn vãi Nước quánh lườm máu tươi. Chiến địa chợt lắng xuống Hồi kèn đồng chiêu hồn Đội biệt động bật khóc Chôn gã bạn mất đầu. Binh lửa rồi cũng hết Kẻ sống sót trở về Giữa lặng thinh tê buốt Giọt nước mắt muộn rơi… (*) Lời Thủ Tướng Anh, Winston Churchill nói với Bà Clementine buổi sáng 6 Tháng 6, 1944 khi Chiến Dịch Overlord bắt đầu. 2. Với Người Lính miền Nam Súng, đạn, chập ba-lô Chụp xuống hơn sức nặng Nhẩy trực thăng gào khản Bãi ruộng mìn, chông giăng. Anh đứng dẹp biểu tình Anh chống phe đảo chính Trần trụi giữa đạn khói Chửi, gào, đá.. ném nhanh Nuốt vội gói cơm sấy Từ vũng lửa điêu linh Góc đồn nhỏ hẻo lánh Ôm vợ chờ thai sinh. Thật với sức “nên Thánh” Anh chiếm lại Cổ Thành Đánh giải vây An Lộc Phá đả viện Kontum. Đóng quân đêm chỗ lạ Trên chiếc võng cơ hàn Dụi điếu thuốc cháy dỡ Thầm tiếng thở tân toan Buổi cuối cùng thống nhục Bên lề đường nghĩa trang (*) Cởi giây chạc đeo đạn Bật khóc với Sàigòn!! GI coming home! Tung vòng hoa ngũ sắc Lính Việt biết đi đâu? Chập chùng vây cờ đỏ.. (*) Đường Phan Thanh Giản, Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi Sàigòn, sáng 30 tháng Tư, 1975. 3. Hậu chiến nơi Sàigòn Giữa lòng đường nghẹt xe Ầm vỡ lầy bụi đất Thân người mặc áo rằn Che nửa phần cùi cụt Người lính mất hai chân Nằm đủ tấm ván hụt Chống lên trời ngón loét Không một tiếng kêu than. 4. So sánh việc và người xưa, nay Ngũ Tử Tư âu lo vận nước ngỗn ngang Thức qua đêm… Tóc hốt nhiên trắng xóa. Y Sĩ Đại Úy Quân Đội Cộng Hòa Tên Kim Long Người miền Nam Họ Nguyễn. Ngồi suốt ba- trăm sáu-mươi lăm ngày dài qua năm, nơi Trại Long Giao. Trừng mắt nhìn khoảng trống Mòn khô chiếu mủn rộng hai gang. Chuyển ra Bắc. Hộc máu tươi, Uất khí chết dần.. Huyệt cạn lấp hốc núi Đêm khuya tăm tối trời không trăng. 5. Trí nhớ của một người Việt Nam nhân ngày Tết ở Mỹ. Không khói giòng sông.. ngày Mồng Ba Không hơi pháo mờ lung ngõ nhỏ Áo mới rách tơi, quai dép dứt Bồng em khiếp hoảng càn đạn, bom. Mẹ, cha chết thảm giờ Giao Thừa Bàn thờ xô sập ông bà nội Bát hương, đèn, nến thấm máu tươi Màu đỏ nhừ.. cờ ai mới nhướng Ba mươi-bảy năm nghiệp phận tân toan Hai mươi lăm năm căng thân xa xứ Buổi xuân ngồi lặng nơi quê người Hiểu rằng.. sống cũng gây nên tội. Cách mạng là gì.. cách mạng mùa Thu? Di cư “năm- tư”.. cờ nào giải phóng? Trí nhớ khởi đi từ lần Mậu Thân Người chập người dầm sôi vũng lửa. Sống sót phải chăng hẳn nhiên phép lạ Suốt năm “bảy-hai” bao đợt pháo xung Qua bãi Hải Lăng, qua trầm Mỹ Chánh Tay che, tay đỡ, nhỏ em run khan Chân yếu mỗi ngày cố gượng đứng Nuôi em, nuôi thân lượng máu kiệt dần “Bảy-lăm” lội nhào ra vụng biển Đầu, tóc, tay, chân quấn xoắn xà lan Những đêm vượt biên thấy hiện quỷ ma Những ngày lưng chén thiếu thoảng hơi gạo Bùn hôi, nước uế, bàn tay trần Bốc bãi lầy xây mau lên chủ nghĩa Trại tỵ nạn hiểu thêm phận người Miếng ăn khổ nhục nuốt với lệ rơi Đêm đêm gió biển luồng qua đồi Sơ ngày mai.. mong ngày đừng tới Năm mươi tiểu bang nước Mỹ rộng Xa lộ trùng trùng lạ lẫm mênh mông Bóng tối thầm thì khuya khoắt khắc khoải Đã có một lần.. tuổi trẻ, quê xưa Cứ tưởng như câu chuyện không thật Hãy nghĩ tựa giấc mơ chưa tỉnh Nhìn lên ngày Tết bức tranh Tàu Câu chúc lạnh khô chữ, nghĩa Mỹ.