Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ >>  Truyện Ngắn

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người 'anh hùng' được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gọn trong phần tổn thất của quân bạn: 'Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích'. Chấm hết! Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng võ trang Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. NHT * * * Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch 'Việt Nam hóa chiến tranh' của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phi công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài. Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là 'Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972' (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây. [1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụ ng 'Mùa Hè Đỏ Lửa' thay cho 'Easter Offensive'] Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui. Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ. Hôm đó là ngày 29 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ ! Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ. Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình. Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày. Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch. Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ. Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt. * * * Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá. Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống. Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái 'cầu' này để vào trại. Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột! Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại. 'Nhà vệ sinh' này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. 'Vấn đề' là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có 'nhu cầu', người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là 'nhà vệ sinh' ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy. Theo ký ức của tôi thì nước uống không có 'vấn đề'. Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có 'vấn đề'. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được 'chiêu đãi' bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây 'yucca' ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu. Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi. Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại. * * * Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ! Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi 'phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi', tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó. Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang. Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái ngược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng. * * * Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh. Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, tôi còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lắm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết.. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh. Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho. Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời! Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó. * * * Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây 'cầu' bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống và kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa! Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penicillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải. Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới 'khách sạn Hilton - Hà Nội' lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến. * * * Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng. Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh. Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho 'trang chủ' mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết. Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do. Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy. William S. Reeder Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)

 

Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregan. Công việc: Sỹ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Phòng Vệ thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregan, cấp bậc Thiếu Tá. (Oregon Army National Guard/State Defense Force/Interpreters Team/X.O) (ORANG/SDF/Interp. Team/XO). Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện về một người bạn cựu chiến binh Mỹ tự xưng là “người Việt gốc Mỹ”. Tôi biết Mike khoảng hai năm sau ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dù hành trang sẵn có chút ít tiếng Anh từ trước 1975, tôi vẫn phải vất vả hội nhập vào xã hội mới bằng những bước chân chập chững, e dè trong độ tuổi "bất hoặc". Thật may mắn, tôi tình cờ được gặp và quen biết Mike. Anh đã cho tôi một cái nhìn khá bao quát nước Mỹ từ phong tục tập quán đến văn hóa xã hội lẫn chính trị. Mike đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cả vật chất tinh thần để tôi có được một nghị lực, niềm tự tin, sự phấn khởi tràn trề khi bắt đầu nửa cuộc đời còn lại nơi tha phương, đất khách. Trong buổi họp mặt cựu Chiến Binh nhân dịp Memorial Day của State Guards Association of U.S (SGAUS), bàn của tụi tôi rất ồn ào với đủ mọi vấn đề trên trời dưới đất, vui nhất là những chuyện tiếu lâm xoay quanh đời sống thường nhật của người Mỹ, đặc biệt lớp tuổi về hưu phải đương đầu với nhà dưỡng lão, bệnh tật, nhất là bệnh lãng trí Alzheimer... . Hôm ấy, tôi kể chuyện một đôi vợ chồng già, Bác Sĩ nói với người vợ: tôi thấy sức khỏe ông nhà ngày càng khá hơn khi ông tìm được niềm vui nơi Thượng Đế, tin tưởng nhiều hơn vào Chúa Quan Phòng, đến nỗi, ông nghĩ Chúa đang theo giúp đỡ ông trong mọi việc, trong từng bước chân đi. Ông nói với tôi, đêm qua, khi ông vừa mở cửa nhà vệ sinh để đi tiểu thì Chúa bật đèn lên cho ông liền.... Bà vợ la lên, ngắt lời Bác Sĩ: ôi lạy Chúa tôi, ổng lại đái vào tủ lạnh của tôi rồi!!! Cả bọn cười bò lê bò càng. Cười lớn nhất là một chàng cao lớn, tóc vàng tên là Mike. Anh vỗ vai tôi: - Ê, bạn người gốc nước nào? - Việt Nam. Mike bật đứng dậy, bàn tay như hộ pháp chụp lên đầu tôi, nói thật lớn, nguyên văn bằng tiếng Việt đặc sệt giọng miền nam: - Đ.M. nãy giờ sao hổng nói? - Ủa, anh biết tiếng Việt hả? Mike vênh mặt lên, tay phải vỗ bồm bộp vào cái ngực đang ưỡn, vẫn dùng tiếng Việt: - Hai lần công tác Việt Nam, đem về Mỹ một cô giáo dạy tiếng Việt tại gia từ 1972, học và nói tiếng Việt từ hồi đó đến giờ, bộ ngu lắm sao mà không biết, biết rành quá đi chứ!! Không ngờ trong bàn lại có một số cựu chiến binh Việt Nam khác, đua nhau xổ ra những câu tiếng Việt họ còn nhớ lõm bõm: Chòi đắt ui (trời đất ơi) chào cắc Ong, mành giỏi? (chào các Ông, mạnh giỏi) Con gái Viết Nàmdde.p lám (con gái VN đẹp lắm) Ngùi Viết Nàmtót lám, đi đi mao, đin - kí đàu(người VN tốt lắm, đi đi mau, điên cái đầu !).... Riêng Mike nói tiếng Việt rất lưu loát, không hề sai một âm nào (giống như ca sĩ Delena hát tiếng Việt vậy), kể cả cách dùng chữ rất trí thức, đôi khi dí dỏm, có lúc thật tiếu lâm. Tôi đã gặp một nhân viên Bộ Ngoại Giao rành tiếng Việt đến nỗi khi tôi đùa hỏi "Anh người gì mà nói tiếng Việt ngon lành vậy" Anh trả lời tỉnh bơ "Tôi người Bắc !". Tôi cũng đã gặp một số người Mỹ chính gốc, thuộc giáo phái Mormon, họ thảo luận Kinh Thánh, đi truyền đạo Tin Lành bằng tiếng Việt thật trôi chảy, nhưng đó là nghề của họ. Còn Mike, anh nói tiếng Việt bằng cả tấm lòng: tên Mỹ của tôi là Micheal, tên Việt của tôi là Mai, theo giọng Việt Nam có nghĩa là hên, là may mắn, còn giọng Việt Bắc (?) hay Việt Trung (?) có nghĩa là hoa mai, một loài hoa rực rỡ mùa xuân ! Vợ tôi vẫn thích kêu tôi là Mai Cồ, hay Anh Cồ, hoặc Cồ ơi chỉ vì tôi bự con! Con rể của nước Đại Cồ Việt mà! Một ông thày bói VN nói số tôi phải cưới vợ họ Trần vì cả đời tôi không thích mặc áo..vv và vv ... tôi há hốc miệng ngồi nghe một chàng mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng 100% Anglo-Saxon đang chơi chữ bằng chính ngôn ngữ của tôi !!! Một đêm hội ngộ tuyệt vời, vui như chưa từng thấy từ ngày mất nước, từ ngày sống kiếp lưu vong. Một tuần sau, Mike điện thoại mời tôi đến nhà. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: gia đình Mike gồm vợ chồng và 2 con hoàn toàn sinh hoạt theo truyền thống Việt Nam và tự nhận là người VN. Mike nói: đúng ra tôi là người Việt gốc Mỹ! Người bản xứ khi nghe tôi giới thiệu là người VN, nói tiếng VN thì họ vui lắm, vài người lúc đầu cứ tưởng nước VN ở đâu đó bên Đông Âu nên mới tóc vàng, mắt xanh! Người gốc VN lại tưởng tôi là Mỹ lai, càng vui hơn, gần gũi hơn vì có 50% máu Việt Nam trong người mà, ai cũng vui. Mike dùng chữ "vui cả làng"! Cả gia đình dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính. Sống trên đất Mỹ, Mike tâm sự, nói tiếng Anh là việc đương nhiên, thế mà nhiều gia đình VN từ vợ chồng con cái đều ra vẻ hãnh diện với mớ tiếng Mỹ đôi khi trật giọng, sai văn phạm....hoặc nói đệm, câu nào cũng chêm thêm chữ Mỹ vào, trong khi cố tình lơ lớ tiếng mẹ đẻ của mình, dễ mất gốc quá, tủi hổ ông bà tổ tiên quá, uổng phí quá. Lại có cả vài người viết văn, nhiều chữ thông thường không biết, hay giả vờ không biết, lại phải dùng tiếng Anh mới thấy dổm làm sao. Tôi rất khâm phục những gia đình còn giữ vững truyền thống tốt đẹp VN. Tôi thấy những em bé VN thật dễ thương với tiếng Việt líu lo như chim hót nhưng tôi nhìn các em với cặp mắt bình thường nếu các em nói tiếng Anh, thật bình thường vì đây là nước Mỹ, sau này khi lớn lên phải học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, họ sẽ hối hận. Tiếc quá, Mike chặt lưỡi, lập đi lập lại, tiếc quá !! Anh có biết "bà lang kẹt" là ai không? Thế mà một ông VN đã tuyên bố tự nhiên như người Sàigòn, vào mỗi mùa Đông, trên giường của ông phải có ít nhất hai bà lang kẹt ngủ mới đã, mới đủ ấm !?!? Mai Liên, vợ anh, một sinh viên Đại Học Cần Thơ sinh quán Sóc Trăng. Hai người quen nhau khi Mai Liên đi học thêm Anh ngữ trong một lớp do chính Mike phụ trách phần đàm thoại và luyện giọng. Thế rồi hai người yêu nhau nhưng không thể tiến đến hôn nhân vì gia đình hai bên đều không tán thành. Mike phải xin trở lại Việt Nam lần thứ hai, kiên trì thuyết phục cha mẹ Mai Liên bằng chính tiếng Việt anh đã học được từ người tình. Cuối cùng không những cha mẹ, anh chị em của Mai Liên mà cả bà con xóm giềng cũng hài lòng với "thằng Cồ" vui tánh dễ thương lúc nào, nơi nào cũng pha trò được. Riêng gia đình Mike lúc đầu vẫn chưa mấy thiện cảm với người dâu dị tộc. Hai vợ chồng son cố gắng sống hòa hợp với mọi người, không tỏ ra khó chịu mà còn thấy vui vui với cái tên Liên vài người cố tình đọc trại thành Alien (=người lạ). Chẳng bao lâu sau tình thế hoàn toàn đảo ngược. Khi cha mẹ Mike dọn vô nhà dưỡng lão chỉ có vợ chồng Mike thăm viếng thường xuyên. Ông bà rất cảm động, thỉnh thoảng lại công khai ngỏ lời xin lỗi Mai Liên và giới thiệu với mọi người Liên là đứa con gái yêu quý nhất. Bốn gia đình anh chị của Mike tan vỡ hết ba, sự kiện phổ thông với trên 60% gia đình Mỹ bị rắc rối trong hôn nhân. Cứ một lần li dị lại một lần chia gia tài, riết giống như chuyện thường tình. Tuy nhiên, có điều lạ là sau khi chia tay, họ vẫn liên lạc qua lại với nhau, coi nhau như bạn, không ai ghen tuông gì hết. “Tạ ơn trời đất (Mike không dùng chữ Chúa) tôi có được một bà vợ tuyệt vời. Liên lo lắng chăm sóc tôi kỹ lắm từ mọi sinh hoạt đến từng miếng ăn hàng ngày. Tôi đã quen và rất thích thức ăn Việt Nam. Rất hợp lý nếu ta không biết kiêng cữ, cứ ăn tầm bậy là đưa đủ thứ bệnh tật vào thân thể mình thôi. Anh ăn cái gì anh sẽ như thứ ấy (1). Ăn nhiều rau, đậu, trái cây tươi, da thịt anh sẽ tươi. Anh ăn mỡ, cơ thể anh sẽ phải đeo mỡ (2). Tốt nhứt nên ăn chay. Gia đình tôi ăn chay mỗi tuần một lần, nhiều nhất là các loại rau. Đồ chay Liên làm ngon lắm. Món nào cũng ngon, cũng tốt cho sức khỏe vì Liên chỉ dùng dầu olive thay cho mỡ động vật, không mặn lắm, không ngọt quá như đồ ăn Mỹ, nhất là hoàn toàn không dùng bột ngọt. Đặc biệt nước mắm ăn riết rồi mê luôn nhưng điều cần thiết nước mắm mua ở chợ về phải đem nấu cho sôi lên rồi đổ lại vô chai xài vì trong nước mắm có thể có nhiều siêu vi trùng, nhất là siêu vi bệnh gan, các loại mắm cũng vậy. Chế độ ăn uống như thế làm sao bị phát phì như ba phần tư dân Mỹ hiện nay. Đến như con nít trên 6 tuổi thì phân nửa đã vượt quá trọng lượng được coi là mập rồi. Còn về thẩm mỹ, Anh thấy không, thông thường da người Mỹ trắng lại quá trắng, trắng nhễ nhại (?!)trắng như Bạch Tuyết nên trông có vẻ yếu đuối, bệnh tật, vì vậy họ phải đi phơi nắng ngoài biển hay vô các phòng nhuộm da trong các tanning clubs để cho da họ có màu đồng nâu hay màu bánh mật, nhìn rất khỏe mạnh, thể thao hơn, mốt thời thượng mà! Bà xã tôi được Trời Đất thương cho cái màu tự nhiên đó từ bé nên Ông Bà Ngoại sắp nhỏ mới đặt cho cái tên Mai Liên, anh đọc lái lại coi?!” Nghe đến đây chính tôi đã phải kêu lên: chu choa mệ tổ ơi, mần răng mà cái chi mô anh cũng biết hết rứa chừ hết biết luôn. Mike hiện nguyên hình một "chú Sam" há hốc miệng "Wh...what? What d'you say?" Ngay sau khi dành thắng lợi đem được Mai Liên về Mỹ, Mike giải ngũ. Liên đi làm 2 nghề khác nhau cho phép Mike trở lại Đại Học lấy xong bằng Kỹ Sư Điện Tử. Mike rất vui mỗi lần nhắc lại giai đoạn này: tôi sướng như Ông Trời con, ngày ngày đi học, còn Liên cực lắm, hy sinh vừa đi làm vừa lo cho tôi còn hơn Ba Má tôi ngày xưa, dĩ nhiên tôi yên tâm học xong rất nhanh. Bên Mỹ này anh muốn học là phải được, muốn học gì cũng được, muốn lấy bằng gì cũng có, chỉ cần anh có ý thích và có ý chí. Anh có thể học toàn thời gian, bán thời gian, học hàm thụ hay học ngay cả trên online. Không có tiền thì Chánh Phủ hoặc một cơ sở, một công ty hay một tổ chức nào đó ứng tiền cho mượn nếu đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên khi nộp đơn xin việc làm, người chủ chỉ căn cứ một phần trên bằng cấp, còn phần lớn dựa trên kinh nghiệm việc làm đã qua và sự giới thiệu, phê bình của các chủ cũ. Tôi là cựu chiến binh, gần lấy xong bằng Kỹ Sư thì hãng Điện Tử Intel đã nhận trước rồi. Năm đầu tiên tôi đi làm Liên chỉ còn làm một nghề, đến năm thứ hai Liên nghỉ việc hoàn toàn để đi học ngành Y tá. Đó là lý do chúng tôi chậm có con và chỉ có hai đứa. Bên Mỹ này nghe nhà nào có 3,4 con là thiên hạ lắc đầu, le lưỡi liền. Có bầu, sanh con thật dễ dàng nhưng khó nhất, đau đầu nhất là vấn đề giáo dục, không dạy dỗ con được thì lại đổ thừa "cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh", chưa chắc vậy đâu ! Có rất nhiều gia đình nuôi con đến 18 tuổi là bắt nó phải tự lập, nghĩa là đẩy nó ra ngoài xã hội, xét cho cùng điều này cũng có phần tốt. Vì vậy, cũng rất công bằng khi bố mẹ già yếu, đến phiên chúng nó sẽ đẩy bố mẹ vô nhà hưu dưỡng thôi! - Mai Lan ơi, ra chào chú đi con, Mike gọi. Một cô gái Mỹ đẹp như tài tử điện ảnh Hollywood tươi cười bước ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi xuống, nói bằng tiếng Việt rất chuẩn: - Cháu tên Mai Lan, cháu chào chú. Tôi đứng dậy, Mai Lan bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay: - Chú tên là Long, Chú rất hân hạnh được biết cháu, được quen biết gia đình cháu, một gia đình tuyệt vời, cháu là một cô gái tuyệt vời. Cháu có về VN lần nào chưa? - Dạ, cám ơn lời khen của Chú. Cháu đã về VN hai lần. Năm rồi cháu đi VN miễn phí. - Sao vậy? - Cháu có hai người bạn, hai chị em, bố mẹ họ là người Việt, hai bạn cháu không rành tiếng Việt nên bao cháu đi chung về VN để làm thông ngôn. Vui quá chừng. Bà con chòm xóm dưới quê cứ nhìn cháu chằm chằm: sao kỳ quá hè, Mỹ nói tiếng Việt còn Việt đặc thì bù trất, kỳ hén ! Lại nữa, Mỹ thì tên Việt còn Việt lại lấy tên Mỹ, ngộ ghê!! Cháu dịch lại cho hai đứa bạn nghe, tụi nó mắc cỡ quá, về đến Mỹ bắt đầu học tiếng Việt ngay. Ba má tụi nó kèm riết, cháu cũng dạy thêm, bây giờ nói được hơi nhiều rồi. Hè năm nay tụi cháu lại về VN nhưng lần này cháu phải trả tiền vé máy bay vì bạn cháu không cần thông ngôn nữa, thông ngôn thất nghiệp rồi !!Ông bà ngoại cùng gia đình mấy Cậu, mấy Dì thương cháu lắm. Cũng có thể sẽ có anh Liêm đi cùng. - Liêm là ai? - Anh Hai cháu. Ảnh tên là Uy Liêm. - Có phải đó là phiên âm tiếng Việt của chữ William không? - Dạ đúng - Thế anh cháu thích tên nào? - Cả nhà cháu thích tên Uy Liêm hơn vì đa số tên riêng của Mỹ không có ý nghĩa gì hết, thường được bắt chước từ trong Kinh Thánh. Còn tên VN có lồng nghĩa trong đó, có khi mang cả ước vọng của cha mẹ đặt ở người con. - Vậy Uy Liêm nghĩa là sao? Tôi giả vờ hỏi. - Uy là uy phong, uy nghi, uy quyền, uy lực... còn Liêm là liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm. Người có quyền uy thì phải liêm chính. Người ta khi có chút quyền chức thường hay sanh tật xấu, rồi tham nhũng, rồi phách lối. Ba má cháu muốn anh Hai khi nào có địa vị lớn thì phải sống thanh liêm. - Anh hai cháu đã có địa vị lớn chưa? - Dạ ảnh chỉ mới là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang chiến đấu ở Iraq. Còn 4 tháng nữa ảnh sẽ xong nghĩa vụ, khi trở lại Mỹ, được nghỉ phép, anh Hai sẽ theo tụi cháu về thăm Ngoại. - Anh Hai có biết tiếng Việt không? - Hết sẩy Chú ơi, dù dở nhứt nhà nhưng cũng gần ngang tầm với Ba cháu ... Mike ngồi nghe tôi khảo hạch cô con gái, miệng cứ tủm tỉm cười. Tôi thật sự cảm động, nếu không nói là choáng váng, cứ ngây người ra. Giả sử có ai đó kể tôi nghe về một gia đình như thế này, về một cô gái Mỹ thế này, về một Đại Úy Đại Đội Trưởng TQLC Mỹ như vậy... chắc chắn tôi không thể tin vì tôi đã phải chứng kiến nhiều hoàn cảnh trái ngược. Có lần, vừa bước vô nhà một người bạn VN, ngay tại phòng khách treo một tấm bảng bằng carton với chữ: "No Vietnamese!" tôi ngập ngừng, hơi tái mặt, rồi lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng bước ra ngoài. Chủ nhà chạy theo đon đả. Tôi nuốt nước miếng cho dằn cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ họng rồi chậm rãi: có phải ông không muốn tiếp khách người VN hay ông không cho phép ai ngồi trong phòng đó nói tiếng Việt ? Anh ta phân bua: tôi chỉ muốn bà Xã và các cháu luyện tiếng Anh cho thật nhuyễn để mau thành dân Mỹ thôi !?!? Vậy nếu ông vào một nhà hàng, một công viên, lên máy bay, xe lửa, xe buýt hay vô nhà một người Mỹ nào đó, ông thấy hàng chữ này, ông hiểu nó thế nào?!?! Cách đây vài chục năm, khi tình trạng kỳ thị chủng tộc còn tồn tại trên đất nước Mỹ, người ta thường thấy trên xe buýt hay công viên có đeo bảng: No dogs and negroes (cấm chó và người da đen). Đến thập niên 60 mới chấm dứt. Bây giờ ông treo "No Vietnamese" trong phòng khách nghĩa là làm sao?!?! Ông ta gỡ bảng xuống liền. Ông bà này nghe nói qua Mỹ có mấy năm đã về VN xum xue, bà con bên nhà ngạc nhiên thấy ông và gia đình lột xác nhanh quá, sức mạnh một đại cường quốc có khác. Bên này cả hai ông bà đi làm vệ sinh, quét dọn trường học, về VN khoe làm trong ngành giáo dục nên rất ít nói tiếng Việt. Riêng dân Mỹ hay người VN tại Mỹ chỉ nghe âm Mít đặc, không cần nhìn, đều biết ngay ông chánh gốc là "dân địa phương" Alaska vì, mười câu hết chín, ông đều nhắc đến tên một thành phố lớn của Tiểu Bang này: Du nô (3). Nhưng thôi, đây là đất nước tự do mà! Tự do dân chủ với lưỡng đảng đàng hoàng. Mike thường nói đùa với tôi "coi dzậy chứ hổng phải dzậy mà còn quá cha dzậy nữa" khi đề cập đến hệ thống lưỡng đảng của Hoa Kỳ hiện nay. Cứ nhìn vô gia đình Thống Đốc Tiểu Bang California: Ông chồng Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa trong khi bà vợ lại theo Dân Chủ. Khi làm việc, hai đảng kiểm soát lẫn nhau như vợ theo dõi chồng, như chồng để ý coi chừng bà vợ. Nhưng khi có những sự kiện trọng đại liên quan đến an ninh đất nước, đến sự tồn vong của quốc gia, đến sự sống còn của dân tộc Hoa Kỳ thì hai đảng chỉ là một như sau vụ 9/11 mấy năm trước đây. Hình như có một thứ siêu chính quyền đâu đó quyết định tất cả, tương tự ảnh hưởng nội ngoại trên hai vợ chồng giữ cho hạnh phúc lứa đôi bền vững, từ đó nuôi dạy con cái thành công, kinh tế gia đình thịnh vượng, cho nước Mỹ chỉ mới hơn 200 năm lập quốc đã tiến lên bá chủ hoàn cầu. Nước Mỹ đang đứng nhất trên toàn thế giới về mọi phương diện nhưng rất tiếc, nhất luôn về vô luân thường, vô đạo lý và nhất luôn về cả lãnh vực tội phạm! Đấy, Mike hướng dẫn cho tôi nhiều, rất nhiều điều, nhiều chuyện. Chúng tôi ngày càng thân hơn khi biết tôi ngày xưa cũng có một thời gian đi dạy học. Vợ chồng Mike và cháu Lan lại thích tìm hiểu sâu xa tiếng Việt hơn qua những từ ngữ Hán Nôm mà tôi đã được Ông Ngoại, một Cử Nhân Hán Văn, khoa thi cuối cùng, dạy dỗ. Nhờ vợ chồng Mike, tôi thực sự hội nhập vào xã hội Mỹ lúc nào không hay. Từ sự nhiệt tình giới thiệu của Mike, tôi được một chân Technician trong hãng Merix ở Forest Grove. Một năm sau, Mike khuyến khích và hướng dẫn vợ chồng tôi mua một cơ sở kinh doanh riêng ngay trung tâm thành phố Tigard đến nay đã tròn 12 năm. Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhanh như những áng mây ngoài khung trời rộng. Thênh thang như giấc mơ Hoa Kỳ của gia đình tôi liên tiếp nở hoa. Cho đến một ngày... Tin như sét đánh ngang tai. Hai vợ chồng Mike vừa qua đời trong một tai nạn xe! Cháu Lan gọi báo cho tôi bằng tiếng được tiếng mất, tức tưởi, nghẹn ngào. Một anh Mễ nhập cư bất hợp pháp say rượu lái xe vào đường cấm ngược chiều. Xe Toyota Camry của vợ chồng Mike nằm bẹp dí dưới gầm chiếc xe tải F350 chở đầy đồ nghề làm vườn cắt cỏ. Toán cấp cứu phải cưa xe mới đem được hai người ra nhưng cả hai đều đã tắt thở vì sức va chạm quá mạnh và vì vết thương quá nặng.... Lại thêm một nhức nhối của người Mỹ trước làn sóng nhập cư bất hợp pháp... lại thêm một vết đen tệ nạn say rượu, say xì ke lái xe DUII (4) ngày càng nhiều.... Tang lễ thật đơn giản gồm đa số người quen gia đình, bạn bè làm chung Intel với Mike và đồng nghiệp trong bệnh viện của Mai Liên. Cháu Uy Liêm được thông báo từ Iraq về để vừa kịp nhìn cha mẹ lần cuối trước khi đóng nắp quan tài. Trời Oregon chiều nay mưa buồn day dứt. Nghĩa trang Finley Sunset Hills với những dốc thoai thoải quay về hướng Tây, về hướng Thái Bình Dương mà tận cùng bên kia bờ có một vùng đất mang tên VN, quê hương yêu dấu của Mike và Mai Liên suốt cả đời người. Gió buốt miên man như xoáy sâu vào tận xương tủy. Như chưa bao giờ. Vài tia sáng yếu ớt long lanh trên những ngọn cỏ đầm đìa. Mắt tôi nhạt nhòa trong cái lạnh tái tê. Cũng xong một kiếp trong vô lượng luân hồi. Một chút gì đó có lẽ hai người đang hài lòng là vẫn còn được đi chung với nhau, vẫn còn được tay trong tay, cùng qua một thế giới khác, hy vọng sẽ tốt đẹp hơn. Ít nhất về vật chất bây giờ xác hai người vẫn còn được nằm bên nhau, hai ngôi mộ song song, cùng nhìn về quê hương VN tít mù xa thẳm cuối chân trời. Riêng tôi lòng trĩu nặng mối ân tình chưa thanh thỏa. Trong suốt cuộc đời còn lại, dù còn sống trên đất Mỹ này, hay giang hồ đó đây, hình ảnh tươi vui khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực, gương mặt dễ thương, cử chỉ ân cần, lời nói nhã nhặn nhiệt tình và đặc biệt ân nghĩa của vợ chồng Mike đã dành cho gia đình tôi chắc chắn sẽ khó phai mờ. Cám ơn Michael Erickson. Cám ơn Mailiên Trần. Xin tạm biệt.

 

KHÉP LẠI QUÁ KHỨ Anh khuyên tôi: “Hãy quên đi thù hận” Về quê hương xây dựng nước non nhà Bằng tài năng học hỏi chốn phương xa Đảng, nhà nước hoan nghênh người viễn xứ ! Anh khuyên tôi hãy “khép lại quá khứ” Quên những ngày khói lửa dậy trời Nam Chiến xa Nga hằn đậm vết hung tàn Trên đường phố Sài Gòn ngày quốc hận ! Anh bảo tôi quên những ngày lận đận Cha đi tù, mẹ buôn gánh bán bưng Nuôi đàn con trong khốn khổ tột cùng Tôi phải thôi học, sáng ngô chiều sắn Vâng, tôi cố quên những ngày mưa, nắng Đi mò cua, giúp mẹ buổi cơm chiều Quên những ngày nước ngập mái tranh xiêu Đêm u tịch hãi hùng : “kinh tế mới” ! Giờ, tha phương, quê nhà xa dịu vợi Tôi sống cuộc đời dân chủ ấm no Nhưng dân tôi ĐANG khắc khoải mong chờ Ngày sụp đổ của bạo quyền tàn độc Thương quê hương, bao lần tôi bật khóc Thấy lương dân trong kiếp sống khốn cùng Thương dân hiền cam chịu kiếp lao lung Khổ đến nổi đem con mình đi bán ! Tôi chống anh KHÔNG PHẢI VÌ DĨ VÃNG Mà là vì HIỆN TẠI với TƯƠNG LAI Vì dân tôi ĐANG sống kiếp dọa đày Thế hệ trẻ nhìn TƯƠNG LAI VÔ ĐỊNH ! Thì anh ơi, nói chi lời lừa phỉnh Đến bây giờ, ai tin cộng sản đâu Nếu thật lòng xin hãy thực hiện mau Cuộc hoà giải với người dân quốc nội : Hãy ngưng ngay những hành động bỉ ổi Ngưng đuổi nhà, cưởng chiếm đất nhân dân Ngưng đào mồ, sang phẳng những mộ phần Xây khách sạn làm giàu cho đảng ủy Hãy ngưng ngay những ngón nghề phù thủy Đạo giáo quốc doanh, dân chủ cò mồi Hứa hoà hợp hoà giải ở đầu môi Nhưng cộng đảng vẫn độc quyền chúa tể Nếu thật tình thì hãy mau giải thể Đảng độc tài cộng sản (đảng vô lương) Người TỴ NẠN bốn bể sẽ hồi hương Đem tài sức hiến dâng cho đất nước Hứa với anh, tôi là người đi trước !!! TCY (17/04/2006)

 

Ngày 13 tháng 5 vừa qua, người dân Hoa Kỳ tưng bừng vinh danh người mẹ, người vợ thân yêu của mình bằng Mother’s Day với tiệc tùng, hoa tươi, quà cáp v.v.. Dù là người Việt nhưng chúng tôi cũng hòa niềm vui chung với dân bản xứ để đón mừng ngày lễ thật ý nghĩa này. Những đứa con thường ngày lo lắng học hành, công việc, bây giờ bận rộn bàn tính với nhau sẽ mua quà gì cho mẹ, sẽ mời mẹ đi nhà hàng nào hay tính tóan sẽ nấu món gì ở nhà, sẽ đưa mẹ đi chơi ở đâu…và tôi thì cũng để ý lựa chọn cho mẹ của mình một cái gì đó để bà vui trong ngày Hiền Mẫu. Tuy nhiên khi nghe một bản tin hay đọc một bài báo liên quan đến quê nhà tôi lại ngậm ngùi nhớ đến những người phụ nữ, những người mẹ VN mà bất hạnh đã theo đuổi triền miên kể từ ngày “đời ta có đảng”. Bao nhiêu giấy mực đã tốn hao nhưng chỉ ghi lại được phần nào những thống khổ điêu linh mà người phụ nữ, người mẹ người bà Việt Nam phải gánh chịu. Các chị, các bà đã chẳng bao giờ được hưởng một cuộc sống an bình để yên phận làm mẹ làm vợ bên cạnh chồng con trong một gia đình hạnh phúc khi mà đất nước đầy nhiễu nhương với vô vàn tệ nạn do nhân tai là đảng csVN đổ tai họa xuống đầu trăm họ. Bài viết này với lòng trân trọng và tình thương mến xin gửi đến tất cả chị em bạn gái, những người bà, người mẹ, người chị, người em đã can đảm vượt thắng sự sợ hãi để lên tiếng tố cáo những oan sai, những chèn ép bất công, những tha hóa trầm trọng đã đưa nước nhà đến tình trạng tụt hậu nghèo đói nói chung và cuộc sống lầm than mất nhân phẩm của giới phụ nữ nói riêng. Từ tháng Tư đen năm 75 những tưởng khi nước nhà im tiếng súng thì cuộc sống người phụ nữ sẽ tốt đẹp hơn nhưng thật ra đã 32 năm dâu bể, đá nát vàng phai, thân phận đa số chị em còn lầm than khốn khổ hơn bao giờ. Dưới sự cai trị dốt nát nhưng bạo ngược, phi nhân và vô thần của một thiểu số đầy quyền lực là đảng CSVN khiến đạo đức và luân lý băng hoại, tinh thần sa đọa, con người trở thành vô cảm, giả trá lọc lừa, đội trên đạp dưới để sống . Bao mảnh đời trẻ em, phụ nữ, lão bà phải kéo lê cuộc sống trong tăm tối không ngày mai. Những tin tức trên báo, trên mạng điện tử hàng ngày đưa lên những điều bất hạnh, những hoàn cảnh thương tâm không thể tưởng được đang xảy ra cho phụ nữ trên đất nước đã hòa bình và thống nhất hơn 30 năm. Có cần phải nhắc lại không những dịch vụ buôn người trá hình qua ngả kết hôn với người ngoại quốc. Việt Nam được biết đến như là nguồn cung cấp cô dâu hay nô lệ tình dục cho đàn ông Tàu, Đài Loan, Đại Hàn, Mã lai Á, Singapore, thậm chí đến cả Đông Âu và Nga sô. Phụ nữ Việt vì sinh kế phải tứ tán đi năm châu đến tận những nước Trung Đông để ở đợ, để làm các công việc nặng nhọc trong những điều kiện tồi tệ dưới mỹ từ “xuất khẩu lao động”. Nhà cầm quyền VN không màng đến việc bảo vệ và binh vực cho con dân mình mà chỉ lo chia chác tiền bạc rồi “đem con bỏ chợ” gây nên bao cảnh đau thương và nhục nhã mà báo chí đã tốn bao nhiêu giấy mực để nhắc đến. Những hội Phụ Nữ Đài Loan, Hiệp hội PN hành động và nghiên cứu Singapore, Hội Phụ nữ Mã Lai đều bất bình và phẫn nộ trước những sự lường gạt và ngược đãi mà người đàn bà Việt phải gánh chịu, nhưng nhà cầm quyền VN đã giả đui giả điếc để làm lơ. VN cũng có hội Liên Hiệp Phụ Nữ chỉ biết đi biểu tình đả đảo hoan hô theo lệnh đảng, cũng có các nữ đại biểu quốc hội bù nhìn chỉ 1à nghị gật làm màu mè cho chế độ độc đảng, cũng có các nữ Bộ trưởng, Phó Chủ Tịch Nước, Chủ tịch Công đoàn v..v.. đấy chứ! Nhưng họ hoặc là những người dửng dưng trước nỗi đau đồng loại, hoặc chỉ mải mê chạy theo vật chất, lợi dụng địa vị để gây nhiều tai tiếng để đòi hối lộ, để tham những, bòn rút của công, lo củng cố quyền lực và địa vị để tác oai tác quái như bà vợ Thượng tướng CA Nguyễn khánh Toàn, hay Thiếu Tá CA Võ thị Hiền đã trơ trẽn ra lịnh cho thuộc cấp lột trần Mục sư Nguyễn công Chính trước mặt bà ta để hành hung cho thỏa lòng độc ác, nào là ăn chận bớt xén khẩu phần trẻ em như bà Hiệu trưởng trường Mẫu giáo Chim Non Nguyễn thị Kim Phượng, hoặc mánh mung hối lộ để làm giàu cho cá nhân cũng như cho những tên cán bộ nhà nước nhưng khi sự việc đổ bể thì bị đưa lên giàn hỏa làm vật tế thần như các bà Lã thị Kim Oanh mấy năm trước và Nguyễn thị Tuyết Lan mới đây. Người có học thức như Phan thúy Thanh thì cam tâm làm cái loa tuyên truyền cho bạo quyền Hà Nội, để chối leo lẻo về những sự đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến, lúc nào cũng ra rả bào chữa trước sự lên án của quốc tế vì những vi phạm nhân quyền. Tôn Nữ Thị Ninh những lần qua Mỹ “rải độc” bằng những luận điệu láo khoét bịp bợm cùng các sinh viên đều bị CĐVN tại địa phương “dàn chào” kỹ càng, cảnh sát phải hộ tống để chui vội vào xe như tại San Jose, Bắc California hoặc bị sinh viên gốc Việt chất vấn gay gắt không trả lời được nên nổi cáu như tại Texas v..v Trái ngược với những người trên, trong cuộc đấu tranh cho dân chủ tự do của đất nước, trong cuộc vận động để đưa quê nhà thoát cảnh tụt hậu, đói nghèo đã xuất hiện những bóng hồng, những người mẹ người vợ, những người đàn bà bình thường với những lo toan bận bịu sinh nhai và gia đình,con cái nhưng không quên đóng góp công sức trong việc đòi công lý cho dân oan, nhân quyền cho mọi người và dân chủ cho đất nước. Việc này đã khiến các chị em phải gánh chịu những đòn thù của bạo quyền, bị sách nhiễu đêm ngày, bị ngược đãi, bị mất việc, bị hành hung, bị cướp đi khỏi vòng tay gia đình, xa cách con cái, ngay cả bị ngồi tù vì không chịu khuất phục trước sự đe dọa của bạo quyền. CSVN cũng là băng đảng Mafia đỏ đã ngang nhiên cướp nhà cướp đất của nhân dân, kể cả đất đai hương hỏa đã bao đời thừa kế, đất canh tác để nuôi sống gia đình …khiến bao người phải lâm cảnh không nhà, mất phưông tiện làm ăn sinh sống nên phẫn uất quá phải đâm đơn kiện thủ phạm là những tên cường hào ác bá. Nhưng khốn khổ thay chỉ là “con kiến đi kiện củ khoai”, bọn họ đã đút lót móc ngoặc ăn chia với nhau nên đơn từ cứ đi vòng vòng hoặc bị xử oan sai, bất công. Thế là các bà mẹ, bà vợ phải khăn gói bỏ nhà xa chồng con lên tận thủ đô lê lết nơi vườn hoa Mai xuân Thưởng, nhập vào đội ngũ dân oan, gồm cả những bà mẹ liệt sĩ, những gia đình “cách mạng” để bắt đầu cuộc sống lang thang, lây lất, đói rét cực khổ để ngày ngày vác đơn đi chầu chực khiếu kiện, những mong “đèn Trời soi xét”. Nhưng ác nghiệt làm sao, Công Lý đã bị bức tử trong xã hội chủ nghĩa, đi đến đâu họ cũng bị xua đuổi, thậm chí còn bị bắt đi tù hoặc bắt bỏ vào những “trung tâm xã hội” trá hình như những phạm nhân, mà mới đây chuyện “đem dân đi bỏ cửa rừng” đã xảy ra. May thay một tên tuổi đã nổi bật, đã gắn liền với nỗi khổ dân oan là nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, người đã can đảm dùng ngòi bút để thay họ kêu gào cho mọi người biết những ức hiếp ngang ngược của bọn quan tham, những lộng hành trắng trợn của bọn nhà nước cướp ngày, những mảnh đời rách nát, những nỗi oan ức ngất trời của dân oan. Chị thu thập dữ kiện để giúp họ điền đơn, cất giữ tài liệu của bà con để làm bằng chứng đưa lên báo. Thế là bạo quyền ra tay khủng bố, đòn dằn mặt đầu tiên vào năm 2002 là giữa đường chận xe để bắt về đồn CA với lý do có người tố cáo chị buôn ma tuý. Bị giữ lại đồn CA khi con nhỏ còn gửi ở nhà bà ngoại, TKTT đã ghi lại trong nhật ký được Đàn chim Việt Online phổ biến như sau: “Mình có thể bị bắt giam, có thể chịu tù đày để bảo vệ chính kiến nhân cách, bảo vệ những tài sản quý báu vô giá là tư tưởng của những người bị coi là tội đồ của chúng, dám đòi hỏi sự vượt bậc cấp tiến dân chủ, song con cái mình ai nuôi?...Nếu không hèn mạt nghe theo những yêu cầu của bọn chúng thì bao giờ mới được về với con, nhìn thấy mặt con đây?” Vì lòng thương con chị đành lên xe theo bọn chúng về nhà để bất lực nhìn bọn CA tịch thu lấy đi những tài liệu, sách báo, giấy tờ, đơn khiếu kiện của bà con dân oan…mà chị đã lưu trữ gom góp gần 5 năm qua. Những ngày sau đó chị và chồng con bị bao nhiêu là sách nhiễu, đàn áp, đấu tố, hăm dọa, bao vây, để cuối cùng bị bắt đi trong sự lo lắng và sợ hãi của các con vào ngày 21-4-2007 vừa qua. Thật đáng thương và đáng phục thay bà mẹ cầm bút kiên cường! Một bông hồng đang trong vòng lao lý là nữ luật sư 28 tuổi Lê thị Công Nhân, dù chưa một ngày được hưởng cuộc sống trong thể chế tự do nhưng cô đã sớm thấm nhuần tinh thần dân chủ để bất bình trước việc nhà cầm quyền hiện tại đã trắng trợn khống chế và tước đoạt các quyền căn bản của con người mà nhân dân VN xứng đáng được hưởng. Luật sư LTCN là phát ngôn viên đảng Thăng Tiến VN được thành lập hôm 8-6-2006 với mục đích thúc đẩy dân chủ, đa nguyên đa đảng ở VN. Cô cũng nỗ lực vận động cho quyền lợi công nhân, trong đó có những cô gái, những bà mẹ trẻ đã phải làm việc cật lực, đã bị bọn chủ nhân cấu kết với nhà nước bóc lột tối đa sức lao động bằng đồng tiền rẻ mạt, không bảo hiểm lao động, không có công đòan độc lập để bảo vệ quyền lợi chính đáng. Khi ra sân bay Nội Bài để đi dự hội nghị Công đoàn Tự do được tổ chức tại Warsawa thủ đô của Balan vào tối ngày 27-10-2006 cô đã bị công an csVN ngăn chận không cho xuất cảnh, tuy nhiên cô LTCN đã gửi được tiếng nói của mình đến hội nghị : “Dù nhà cầm quyền đã dùng những phưông pháp không mấy đẹp đẽ để ngăn chận không cho tôi tới Ba Lan, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ ngăn chận được lẽ phải và sức mạnh tinh thần của chúng ta. Vấn đề của chúng ta hiện nay là phải tạo áp lực đối với chính quyền, chứng tỏ cho họ thấy rằng, cần phải cải tổ luật pháp hiện nay về đình công và phải có công đòan độc lập của công nhân…” Luật sư Công Nhân cũng lên tiếng phân tích tỉ mỉ về phương diện pháp lý đối với Chỉ thị báo chí 37 của Thủ Tướng csVN Nguyễn tấn Dũng để lãnh đạo và quản lý báo chí chặt chẽ hơn cũng như kiên quyết ngăn cấm báo tư nhân hầu biến báo chí thành công cụ của chế độ độc tài tồn trị. Những hoạt động yểm trợ sự dân chủ hóa đất nước chẳng những đã đem đến những sách nhiễu đàn áp cho bản thân Ls CN mà còn liên lụy cả gia đình em gái, đặc biệt mẹ của cô là bà Trần thị Lệ, người hết lòng hỗ trợ cho con gái mình trước những mưu mô trù dập từ dựng chuyện để bôi nhọ, phỉ báng đến cấm cản, đe dọa không cho thăm nuôi, gặp mặt khi LS Lê thị Công Nhân bị bắt giam vào ngày 6-3-2007. Mới đây, báo chí còn đưa tin csVN tính kết tội bà Lệ và vợ LS Nguyễn văn Đài là chị Vũ minh Khánh “âm mưu che dấu tội phạm”. Nếu cô Ls LTCN được ngưỡng mộ vì lòng dũng cảm kiên cường:”…Tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước VN và dân tộc VN là tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi để đấu tranh, trước hết là dành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ, tự do cho người VN. Và csVN đừng có mong chờ bất cứ một điều gì là thoả hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi… Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể đi tù, nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa đó chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra..” thì bà thân mẫu Trần thị Lệ cũng đáng được tri ân và trân trọng vì sự nâng đỡ và hỗ trợ quý giá cho người nữ chiến sĩ dân chủ đó. Chúng tôi xin được chia xẻ với bà niềm đau và nỗi hận về phiên xử Ls LTCN vào ngày 11-5 mà bản án nặng nề, bất công chỉ là sản phẩm dàn dựng của chế độ luật rừng man rợ. Trong hàng ngũ những người nhận ra nhu cầu bức thiết của đất nước là phải có dân chủ, tự do, phải tôn trọng quyền con người; đã có những cơ gái rất trẻ tuổi như cô Hòang thị Anh Đào 21 tuổi ở Huế, là Thư ký đảng Thăng Tiến Việt Nam. Cô vừa bị đem ra xử cùng với LM Nguyễn văn Lý và bị án treo 18 tháng dù chẳng có tội tình gì. Cô giáo Lê thị Lệ Hằng cũng bị “tòa án Kănguru” xử phạt 18 tháng tù treo, bà mẹ 44 tuổi này cũng chỉ vì nhận ra mục tiêu chính đáng của khối 8406 để xin gia nhập nên không thóat khỏi đòn thù của bạo quyền. Bà Dưông thị Xuân, biên tập viên của báo “chui” Tập san Dân chủ Tự do bị công an dàn cảnh tông xe để ám hại. Chị Hồ thị Bích Khương một dân oan và là thành viên khối 8406 cũng bị kẻ lạ mặt chủ ý lao xe vào người làm bị thương trầm trọng. Và còn nhiều người nữa, là những bà mẹ bà vợ bình thường , là những người có nghề nghiệp chuyên môn, những trí thức trẻ đều đã thức tỉnh, không còn bị lừa dối vì những lời lẽ hoa mỹ, những xảo thuật gian trá của đảng cầm quyền nữa nên đã mạnh dạn can đảm hoạt động dù biết rằng vơ vàn phiền phức hiểm nguy đang chờ đón. Chẳng hạn nữ Luật sư Bùi kim Thành, người lâu nay tham gia giúp đỡ, tư vấn miễn phí cho dân oan đi khiếu kiện ở các tỉnh miền Nam đã bị công an đến nhà dùng vũ lực cưỡng bách đi giam giữ tại Bịnh viện Tâm thần Trung Ương II ở Biên Hòa từ tháng 11 năm 2006 đến nay mặc dù Tổ chức Ân xá Quốc tế đã lên tiếng yêu cầu nhà nước VN trả tự do cho luật sư. Một người trẻ khác là Ls Thùy Trang làm việc trong văn phòng Ls Lê quốc Quân hiện cũng đang bị giam giữ mà gia đình không hề biết tin tức. Bà Nguyễn thị Lê Hồng là đại diện nông dân trong Hiệp Hội Công Nông Việt Nam được thành lập ngày 30-10-2006 nhằm mục đích là đòi quyền thành lập Nghiệp đòan, Công đòan độc lập không lệ thuộc sự kiểm soát của đảng csVN. Đòi quyền đình công, bãi thị, đấu tranh vì quyền lợi công nhân. Khi trả lời phỏng vấn của đài RFA bà Lê Hồng cho biết nông dân là một trong những tầng lớp bị áp bức bóc lột trắng trợn bởi đảng cầm quyền. “Sự đấu tranh của Hiệp Hội là dựa vào sự đoàn kết của công nhân và nông dân chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm những gì mà nhà nước không cấm và luật nhân quyền quốc tế cho phép. Chúng tôi sẽ tập hợp công nông trong tinh thần bất bạo động, ôn hòa, phát động trong phạm vi cả nước đòi laị những yêu cầu mà chúng tôi đã đề ra trước đây của giới công nhân cũng như nông dân kết hợp thành một quần thể chặn đứng những bất công, đàn áp có thể xảy ra sau này còn hơn thế nữa…”. Tin báo chí cho biết bà mẹ này đã bị bắt hồi tháng 11-2006, côg an cs còn gian trá vu khống cho bà buôn bán ma tuý để các con bà bỏ mặc không thèm thăm nuôi mẹ nữa, thật là bọn người quỷ quyệt độc ác, hãm hại chia rẽ tình mẹ con. Những người phụ nữ can đảm gánh vác gia đình, nuôi dạy con thơ khi chồng mắc còn lao lý vì khát vọng dân chủ tự do, vì đòi hỏi quyền tự do hành đạo và truyền đạo cũng bị đày ải trăm chiều, như Vũ thúy Hà là hiền thê BS Phạm hồng Sơn hiện đang bị quản chế tại gia, Bùi kim Ngân mà chồng là nhà báo Nguyễn vũ Bình đang ốm đau trong tù ngục, Thu Hiền là vợ ls Lê quốc Quân đang bị giam sau khi tu nghiệp từ Mỹ về, các bà Nguyễn thị Hồng, Lê thị Phú Dung là phu nhân các Mục Sư Nguyễn công Chính, Nguyễn hồng Quang là đối tượng đàn áp của bạo quyền. Hai chị Thúy Hà và Kim Ngân khi được mời đến tư thất ông đại sứ Mỹ Michael Marine để dùng trà đã bị một bọn 15 tên công an côn đồ ngăn chận, nạt nộ, lôi kéo trước mặt ông và nữ Dân biểu Hoa Kỳ là bà Loretta Sanchez khiến ông đại sứ không đừng được phải lên tiếng can thiệp, yêu cầu công an đừng đối xử thơ bạo như thế với hai vị phụ nữ là khách của ông. Chị Thúy Hà còn bị tông xe khi cố gắng đến gặp ông Michael Marine lần thứ 2 theo lời mời của ông. Quả thật bọn côn đồ đang cai trị đất nước VN không còn biết cách cư xử của con người nữa. Mới đây nhìn ảnh bác sĩ Lê nguyên Sang từ giã mẹ già với mái tóc bạc phơ và vợ ký giả Huỳnh nguyên Đạo khóc bên cạnh chiếc xe sẽ chở chồng mình vào nơi tù ngục, tôi bồi hồi xúc động. Xin tạ ơn những bà mẹ, những người vợ đã chịu đựng bao nhiêu buồn đau mất mát vì chồng con chọn con đường tranh đấu cho đất nước quê hương. Và còn vô số những người đàn bà trên khắp ba miền đất nước đang ngày đêm oán hờn căm phẫn vì nhà cửa đất đai bị cướp trắng, vì cuộc sống tối tăm tuyệt vọng cùng đường, vì con cái bất hạnh bị lừa dối hoặc tình nguyện đi lấy chồng mà đúng hơn là đi làm nơ lệ tình dục xứ người để mong đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình cha mẹ anh em. Những người phụ nữ như thế đầy dẫy trên đất nước VN đã thanh bình 32 năm, thật là đau lòng không kể xiết!! Với những người phụ nữ bằng xương bằng thịt, cùng chủng tộc đất nước thì bạo quyền csVN đối xử tàn tệ như vậy, nhưng đối với những biểu tượng tôn giáo như tượng Thánh Mẫu Maria của người Công Giáo thì sao? Hẳn nhiều người đã có dịp ngậm ngùi đau lòng hay ít nữa cũng bất bình khi nhìn thấy bức tượng Đức Mẹ Sầu Bi ở giáo xứ Đồng Đinh địa phận Phát Diệm thuộc tỉnh Ninh Bình bị đập phá một cách điên cuồng. Bức tượng được đúc theo mẫu tượng Pieta tại Rôma là một trong những tuyệt tác của nhà điêu khắc thời danh Michael Angelo, diễn tả sự đau đớn sầu bi của Mẹ Maria khi ôm xác con mình là Đức Chúa Giêsu được tháo xuống từ cây thập giá. Lòng người Mẹ khi ấy hẳn đau đớn như dao cắt, tưởng chừng như có thể chết đi vì thương xót con yêu dấu. Một bức thánh tượng như thế có thể nào làm hại đến chế độ, có thể nào tuyên truyền nói xấu nhà nước hay âm mưu lật đổ đảng cầm quyền, thế mà những người cộng sản vơ thần lại mất luôn cả nhân tính như chủ tịch xã Đinh công Uy đã tuyên bố một cách đầy thù hận: “Nếu không hạ tượng thì kể cả cụt tay, tôi cũng lấy xà beng chọc nát tượng” Sự gia tăng bắt bớ và đàn áp, khủng bố những người bất đồng chính kiến, những người đấu tranh ôn hòa trong quyền hiến định bởi hiến pháp của chính chế độ cầm quyền cũng như theo Công Ước Quốc Tế về quyền Dân sự và chính trị của Liên HQ mà csVN đã ký kết, chứng tỏ những kẻ lãnh đạo đang run sợ lo lắng trước sự hiểu biết của người dân trong nước, họ sợ cả những người phụ nữ chân yếu tay mềm, họ nhìn đâu cũng thấy thế lực thù địch, ngay cả qua những biểu tượng tôn giáo là tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Sự chịu đựng của nhân dân đã mòn mỏi, sự bất hạnh của phụ nữ đã lên đến đỉnh điểm, khi nào thì những người bà, người mẹ, người vợ, người con được hưởng hạnh phúc gia đình, êm ấm bên chồng con, khi nào thì trên đất nước ta không còn cảnh mấy chục cơ gái trần truồng đứng cho ngoại nhân sờ mó nắn bóp với hy vọng được chọn làm “vợ”. Dân tộc VN ta còn bị “bịt miệng, bịt mắt” đến bao giờ? Người nữ luật sư dũng cảm Lê thị Công Nhân đã đặt hy vọng ở sự hỗ trợ của đồng bào hải ngoại:” ..Tôi rất mong muốn báo chí VN ở hải ngoại, báo giới quốc tế cũng như đồng bào trên toàn thế giới hãy nói lên tiếng nói của mình một cách mạnh mẽ, kịp thời để sau này không có những giây phút hối hận rằng chúng ta đã không làm hết sức mình trong khi chúng ta có thể làm được nhiều hơn, để giúp đỡ cho những người dân đang sống ở một đất nước nhỏ bé, nghèo khó và lạc hậu như VN..” Ước mong dịp lễ Hiền Mẫu năm nay, người Việt hải ngoại nói chung và chị em phụ nữ nói riêng, cần phải suy nghĩ về những lời tâm huyết trên của một cô gái trẻ với lòng yêu quê hương yêu dân tộc nồng nàn, đầy lý tưởng và nhiệt huyết đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho đại cuộc dân chủ hóa đất nước. Nguyện cầu Ơn Trên ban bình an cho tất cả các bà mẹ Việt Nam.

 

Do nhiều ngả đường trên mạng lưới toàn cầu chúng tôi nhận được câu chuyện cảm động dưới đây không để tên tác giả và xuất xứ. Đọc xong người thưởng ngoại có thể đoán truyện này do một tác giả hiện đại người Hoa viết và đã đươc dịch sang tiếng Việt. Vì không rõ ngọn nguồn chúng tôi - qua những giòng này - xin phép tác giả, dịch giả và cơ sở truyền thông đầu tiên đã phổ biến chuyện ngắn này. được phổ biến tiếp để càng nhiều người hơn nữa cùng rung động vì một hoàn cảnh nghèo khó éo le và vì một thứ tình cảm thâm sâu nhất của nhân loại. (Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng) Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng thường nhổ nước bọt khi đi qua cô gái, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi “Cút cho xa!”. Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng. Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi “đứa nối dõi” sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể. Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: “Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!”. Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con. Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: “Đưa, đưa tôi...” bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: “Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!” Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có “bệnh thần kinh”, nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. Ngày nọ, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: “Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?” Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ “lệnh tiễn khách” liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: “Đừng... đừng...”. Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: “Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có kết quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?” Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, “phầm!” một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại. Bà nội ngồi thẫn thờ, hóa ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những giọt nước mắt nóng, rồi quay lại sắt mặt nói: “Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!”. Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: “Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!”. Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí. Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa. Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: “Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi”. Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ “bà lang sói”, thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết “điên” nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không? Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: “Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!” Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: “Thụ... bóng... bóng...” Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào tôi với vẻ lấy lòng. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: “Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!” Tôi tức tối đáp lại nó: “Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!” Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi “Mẹ!”, khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi “quan sát học hỏi”, bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ “cỏ lợn”. Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: “Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được...” Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: “Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà...” Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: “Đừng... đừng...” Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: “Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...” Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: “Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!” Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: “Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!” Tôi vùng vằng bĩu môi: “Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!” “A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!” Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: “Đánh tôi, đánh tôi!” Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: “Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!” Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa. Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: “Thụ... ô...” Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị thằng Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng “vút” kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp “bay” ào vào, một tay tóm cổ thằng Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra. Mẹ vì tôi gây ra đại họa, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: “Mẹ!” đây là tiếng gọi mẹ đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà thằng Hỷ nhờ tới, bố thằng Hỷ hung hãn chỉ vào cha tôi nói: “Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày, tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra”. Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà thằng Hỷ, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha. Kết quả hòa giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. “Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành họa đấy thôi!” Cha lại nhìn tôi nói: “Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!” Tôi gật đầu, tôi hiểu. Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp. Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này. 27/4/2003, lại là một Chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: “Ngọt quá, ở đâu ra?” Mẹ nói: “Tôi... tôi hái...” không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: “Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!” Mẹ cười hì hì. Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: “Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!” Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: “Mẹ mày có nói gì không?” Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay: “Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!”. Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: “Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!” Tôi nói: “Thím, thím đừng dọa cháu...” Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi... Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào...” Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi tưởng chừng cũng rớt nước mắt theo tôi. Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, “bay” thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: “MẸ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!”

 

Ngài là một linh mục, nhưng ở đấy người ta không gọi ngài là cha, mà chỉ nghe gọi là Bố, hoặc Bố Già. Tôi gặp Bố Già trong một hoàn cảnh thật tình cờ và hi hữụ. Một hôm, gần giáp tết, tôi và ba anh bạn tù được lệnh đi ra xã bắt lợn. Từ ngày vô trại, chúng tôi không biết xã ở đâu. Được đi ra ngoài và nhất là đi xa là một điều vô cùng sung sướng đối với bất cứ tù nhân nào. Đi là đi cho biết đó biết đây để mở rộng tầm mắt, và xem miền Bắc xã hội chủ nghĩa tốt đẹp ra sao. Ngoài khu vực nhốt tù được vây kín bởi hai lần rào tre bên trong và một lần kẽm gai bên ngoài, tất cả chung quanh đều là đồi núi chập chùng, rừng cây xanh ngắt, chẳng thấy làng mạc đâu. Những lần đi lấy cây hay tre nứa, có khi đi cả cây số mới nhìn thấy một vài căn nhà của dân. Cũng chỉ là những mái tranh úp xúp nghèo nàn ở rải rác như những ốc đảo, không thể gọi là làng hay xã. Nghe tên quản giáo bảo ra xã, tôi mường tượng là một nơi phồn hoa náo nhiệt, và chuyến đi chắc thú vị lắm. Vì phải đi xa nên chúng tôi được lãnh phần ăn sáng trước. Mỗi phần gồm hai khúc mì luộc. Mỗi khúc tròn bằng nửa cườm tay và dài cỡ gần gang tay. Chúng tôi cũng còn được phát luôn thêm phần ăn trưa vì chắc chắn trưa chúng tôi không về kịp. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lên đường. Lúc đi chúng tôi nhẹ nhàng thoải mái vì không phải mang vác gì. Chỉ có lúc về là hơi vất vả vì phải khiêng heo. Bốn người thành hai cặp, chúng tôi thay đổi nhau từng cặp một để khiêng cho đỡ mệt. Ông Trời cũng chiều lòng người. Hôm nay trời nắng đẹp. Đường núi thật là khô ráo dễ đi. Đường đi nhiều đoạn phải leo núi nhưng không sao, chúng tôi ai cũng đi người không. Lúc về có con heo trên vai nhưng đường lại xuống dốc. Luật bù trừ ở đây xem ra khá ứng nghiệm. Trên đường lúc đi cũng như lúc về, bọn tù chúng tôi vô cùng an tâm vì đàng sau đã có khẩu AK với đạn lên nòng và lưỡi lê lắp sẵn luôn luôn bảo vệ. Mỗi năm tết đến, dù tình trạng bết bát đến đâu thì đám tù cũng có được ba ngày tết ăn tươi. Chẳng phong lưu cũng ba ngày tết mà. Bọn tù già đầu chờ tết cũng y như lũ con nít chờ tết vậy. Chẳng khác gì. Con nít chờ mặc áo quần mới, tiền lì xì, chơi bầu cua, đốt pháo. Còn bọn tù già chờ được miếng ăn ngon. Dài cổ chờ cả năm. Đếm nhẩm từng ngày. Tết đến thật là mừng. Được ăn no cơm trắng với thịt lại không phải lao động. Chương trình ăn tết năm nay của trại chúng tôi gồm có một con trâu già đã hết khả năng lao động, hai con heo, bánh chưng với nhân khoai lang luộc nghiền nhuyễn ngào mật, kẹo bánh, và dĩ nhiên dưa hành đã muối sẵn từ trước cả tháng. Dự trù hai con heo nhưng trại mới chỉ có một con. Trâu thì đã có sẵn. Còn thiếu một con heo nữa nên trại phải mua ở ngoài và hôm nay chúng tôi đi bắt về. Heo miền núi Bắc Kỳ cũng giống như con người ngoài đó, thiếu ăn nên không lớn được và gầy trơ xương. Bọn tù già có máu tếu gọi là heo diet. Cao lắm con nào cũng chỉ tới năm chục ký là cùng. Bọn tù chúng tôi những lúc lao động ngoài rẫy hay sau giờ vô chuồng, đã phác họa thực đơn cho từng ngày tết. Cũng đã thử làm một con toán quân phân hai con heo trên đầu người cho cái tết năm nay đâu vào đấy chu đáo cả rồi. Thịt trâu cho mùng một và mùng hai. Xương trâu mùng ba. Da trâu dành riêng cho ngày ra quân mùng bốn tết. Bộ đồ lòng được chôn vào bụng các ban (hay cai tù). Cái đó khỏi nói. Luật bất thành văn trong trại tù là bất cứ mổ heo hay mổ trâu cũng thế, bộ đồ lòng bao giờ cũng được đặc biệt đem chôn tử tế. Không phải chôn dưới đất mà là chôn vào bụng các ban. Còn về hai con heo, nếu cả hai con vật đạt trọng lượng tối đa thì trại đã có 100 ký heo để ăn tết. Nhưng đây là heo hơi hay heo sống chứ chưa phải là thịt heo. Cả trại có 420 tù cải tạo, cộng thêm chừng bốn chục tên ban tức cai tù, chia nhau hai con heo vừa xương, vừa lông, vừa những thứ linh tinh trong bụng của nó nữa. Vị chi mỗi đầu người sẽ được thưởng thức khoảng 217 gram thịt heo hơi. Hơn một trăm gram thịt heo hơi này vừa làm nhân bánh chưng, vừa bầy biện pha chế đủ các món xào nấu cho ngày đầu xuân. Tết như thế kể cũng đã linh đình thịnh soạn rồi. Tuy nhiên đấy là tính trên lý thuyết. Thực tế chẳng bao giờ có sự bình quyền bình đẳng giữa tù và cai tù. Nghĩa là tù được ăn một thì cai tù ăn mười, ăn một trăm. Chưa kể bộ đồ lòng cũng được chôn vào bụng các ban. Trên đường đi tới xã, bốn chúng tôi vẫn còn hăng say bàn tán “kế hoạch” thực đơn của ngày tết. Ngày này qua ngày khác, bọn tù bàn ăn không bao giờ biết chán. Khoảng nửa đường, chúng tôi được nghỉ chân một lần. Đường núi ngoằn ngoèo, lên dốc nhiều nên dù khí hậu mùa đông giáp tết, chúng tôi cũng cảm thấy láp nháp tí mồ hôi. Hai mẩu sắn vào bụng hồi sáng đã biến mất. Chúng tôi lấy xuất ăn trưa ra thanh toán, không cần biết rồi trưa nay sẽ ra sao. Chúng tôi tới xã mặt trời đã gần đứng bóng. Lội khoảng 8 cây số đường đồi núi mất đến gần 4 tiếng đồng hồ. Tới nơi rồi mà chúng tôi vẫn không biết. Hỏi tên cán bộ bảo vệ, nó nhe hàm răng cải mả đáp: - Tới rồi đấy. Tôi không thể tin được chỗ này mà lại là xã. Chỉ có mười mấy căn nhà le ngoe nằm rải rác chung quanh một khu lòng chảo nhỏ. Hỏi ra mới biết trụ sở xã và là nơi có đông người ta ở còn cách đây những hơn ba cây số nữa. Nơi đó mới thực là xã. Xóm quê này người địa phương quen gọi là Xóm Núi cũng thuộc xã nên tên bảo vệ gọi là xã cũng không sai. Thấy khách bắt heo tới, bà chủ bán heo niềm nở chạy ra tận ngõ đón khách. Bà đúng là điển hình một bà mẹ Việt Nam trong văn chương cổ xưa và trên các tranh vẽ thời đó: tóc vấn, đội khăn mỏ qụa, răng đen, chân đất, áo nâu sồng, lưng quấn ruột tượng, mặc váy đen, một loại skirt mà ở bên Mỹ này chưa thấy có ai vẽ kiểu. Bà còn khoác ngoài một cái áo bông mầu đen cũ đã sờn gấu. Lúc ra chào khách, bà hãy còn nhai bỏm bẻm trong miệng miếng trầu đỏ nhoét. Thỉnh thoảng nhổ toẹt một bãi nước miếng trầu xuống ngay bên cạnh. Bà nói chuyện rất xởi lởi với tên cán bộ bảo vệ nhưng lại làm ra vẻ lạnh nhạt với bọn tù và giữ một khoảng cách chừng mực với chúng tôi. Bà niềm nở mời tên bảo vệ vô nhà và quay sang nói với chúng tôi như ra lệnh: - Các anh tạm ngồi nghỉ ngơi ngoài này đi. Tên cán bộ bảo vệ trước khi bước vô nhà vẫn không quên theo đúng sách vở nhắc nhở chúng tôi phải giữ nội qui nghiêm túc, không được quan hệ linh tinh. Chúng tôi vâng dạ cho phải phép, mừng thầm trong bụng vì được hưởng những giây phút thoải mái ngoài sự canh chừng của con mắt hắn. Một lúc sau bà chủ bán heo đem ra cho chúng tôi bốn khúc mì luộc khá lớn đựng trong một cái rá rách và một ấm chè xanh, hai cái bát sành để uống nước. Bà nói lớn như cố ý cho tên bảo vệ trong nhà nghe thấy: - Đồng chí cán bộ cho phép các anh ăn trưa để chốc nữa khiêng lợn đấy. Tôi nghĩ trong bụng thì ra vụ bắt heo này đã được sắp đặt trước chứ làm gì có mà nước uống với mì luộc lẹ đến thế. Chúng tôi ngồi bệt xuống dưới gốc một cây rừng già bên ngoài cổng để nghỉ. Xóm Núi là một khu thung lũng hẹp. Chung quanh núi đồi và rừng già trùng điệp.Có một con suối chảy qua. Đây là nguồn nước duy nhất cho mọi gia đình trong xóm. Nếu là một du khách có tâm hồn lãng mạn hoặc một thanh niên có tinh thần thể thao thì đây là nơi có thể nói là khá lý tưởng để làm thơ hoặc leo núi. Tại các chân núi và các triền đồi thấp, người ta trồng cấy lúa nương, khoai mì hoặc bắp. Rải rác trong thung lũng chỉ có chừng hơn một chục mái tranh. Nhà nào cũng như nhà nấy, gồm hai hoặc ba gian nhà trên và một gian nhà ngang. Gian này tách rời và nằm chắn đầu nhà trên thành một góc vuông dùng làm bếp. Trước cửa nhà trên là một khoảnh sân nhỏ. Mỗi nhà thường có trồng mấy gốc chè (trà). Có khi chè trồng thành luống trước cửa nhà phía bên ngoài khoảnh sân. Thường nhà nào cũng có vài ba con gà thả trong sân. Có nhà còn nuôi heo. Heo không có chuồng mà cũng được thả rông như gà. Xóm Núi có cuộc sống xem ra thanh bình và có thể nói đươc là trù phú xét theo tiêu chuẩn nhà quê miền núi. Đây là điều chúng tôi đặt thành nghi vấn trong đầu để tìm hiểu. Bà chủ heo từ trong nhà trở ra cho biết mọi sự đã ổn định. Chữ ổn định của bà có nghĩa là mọi chuyện đã sắp đặt đâu vào đó, không còn trở ngại gì nữa. Tên bảo vệ đã bị ông chủ nhà cầm chân bằng nửa con gà luộc với một cút (xị) rượu và cơm canh. Nó giao khoán bọn tù cho bà chủ nhà coi giữ không ngờ vực gì cả. - Nó ăn xong còn phải ngủ nữa. Bà chủ nhà cho biết như thế. Lúc này bà đổi hẳn thái độ với chúng tôi. Bà chuyện trò niềm nở và còn trấn an chúng tôi thêm: - Nó say rồi. Các anh yên tâm có ông nhà tôi ở trong nhà. Chúng tôi không lạ gì lối sống hai mặt như thế của người dân miền Bắc. Từ khi đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã gặp những con người hai mặt như thế này nhiều rồi. Lần đầu tiên lúc xuống ga xe lửa Yên Bái, bọn cán bộ huy động đồng bào ra chửi bới lăng nhục bọn tù chúng tôi. Chúng bắt đồng bào mang nước ra cho chúng tôi uống. Khi có mặt bọn cán bộ thì đồng bào làm ra vẻ căm hờn bọn “Ngụy” chúng tôi lắm, nhưng sau lưng bọn chúng, đồng bào đổi hẳn thái độ, ân cần múc nước mời chúng tôi, có khi còn lén dúi cho củ khoai, khúc mía v.v. Sống trong chế độ công sản ít có những lúc đồng bào miền Bắc sống thực với lòng mình. Quanh năm suốt tháng lúc nào người dân cũng sống trong tâm trạng giả dối đó nên họ người nào người nấy thường mang vẻ mặt đăm chiêu tư lự, ít khi thấy họ cười đùa một cách hồn nhiên. Gặp chúng tôi, biết cùng là người đồng hội đồng thuyền, bà chủ nhà mới dám bộc lộ tâm tư. Chúng tôi kể chuyện miền Nam cho bà nghe. Bà nói chuyện miền Bắc với chúng tôi. Sống ở cái xó núi này lại còn bị chính sách bưng bít thông tin của cộng sản, thực ra bà cũng chẳng biết được bao nhiêu chuyện về miền Bắc. Nhưng câu chuyện về Xóm Núi này của bà thì bà biết rành mạch lắm. Khi cộng sản tiếp quản miền Bắc vào năm 1954 thì Xóm Núi này còn toàn là rừng núi hoang vu. Bà là một trong mấy người được đưa đến đây đầu tiên. Ngày đó, ở ngay trên nền nhà hiện thời của gia đình bà,có một dẫy lán bằng nứa do đám thanh niên xung phong được đưa lên làm lâm trường dựng lên để ở. Lâm trường thì chưa thấy nhưng bọn thanh niên đói rét quá chịu không nổi bỏ trốn mất gần hết. Thế là lâm trường phải dẹp. Vào lúc này đang có phong trào đồng bào trốn di cư vào Nam và chiến dịch cải cách ruộng đất đang gây kinh hoàng khắp miền Bắc nên số người bị bắt, bị đầy không biết bao nhiêu mà kể. Xóm Núi được coi là nơi lý tưởng để lưu đầy những thành phần chống đối hoặc không theo chế độ. Những người khốn khổ này bị đưa lên lấp chỗ trống cho bọn thanh niên xung phong. Họ sống chui rúc trong những dẫy lán tre mà bọn thanh niên xung phong dựng lên. Hầu như tất cả dân xã đều là những thành phần bị chế độ kết án. Có người là phản động, có người là cường hào, kẻ là địa chủ ác ôn, người là tư sản tìm cách trốn theo Mỹ Diệm. Thành phần càng bị coi là nguy hiểm càng bị tống lên cao. Người nào được coi là ít nguy hiểm hơn thì được chỉ định cư trú tại địa điểm chung quanh trụ sở xã bây giờ. Mười mấy gia đình bị đưa lên Xóm Núi đều thuộc loại cực kỳ phản động và hung hiểm. Đợt đầu tiên bị tống lên đây gồm ba gia đình. Hai người là hạ sĩ quan trong quân đội partisan của Pháp cùng với gia đình không chịu vô Nam và một nữa là gia đình bà chủ heo. Ông chồng bà làm trùm ở một giáo xứ vùng đồng bằng thuộc địa phận Thái Bình. Giáo xứ này là một làng tự vệ chống Việt Minh. Đa số dân làng đã dắt díu nhau di cư vào Nam . Lúc đó bà trùm đau nặng nên cả gia đình đành phải ở lại rồi bị đầy lên đây. Những gia đình khác lần lần bị đưa lên sau, gồm gia đình của một ông chánh tổng, còn lại đều thuộc thành phần địa chủ ác ôn. Tới sau cùng là một người đàn ông trung niên. Ông ta bị đưa lên đây một mình. Nói đến nhân vật này, bà chủ heo mới sực nhớ ra, bà vừa chỉ tay về phía một rẫy bắp cách không xa vừa nói: - Mới thấy bố già đàng kia mà thoắt cái đã đâu mất rồi. Lúc mới tới, chúng tôi có nhác thấy một ông cụ gìa đang lui cui làm cỏ một vạt bắp gần đó, nhưng bây giờ không còn thấy đâu nữa. Tôi cũng nhớ lại nên hỏi bà chủ heo: - Có phải ông cụ cùng với mấy đứa nhỏ làm cỏ bắp ở đàng kia không? Chúng tôi mới trông thấy đây thôi mà. - Đúng rồi. - Bà chủ heo nheo mắt cười rồi quay về phía ruộng bắp gọi: - Bố già ơi, bố có đem theo điếu với lửa cho mấy anh này mượn hút với. Tiếng ông già vọng lại từ cuối ruộng bắp: - Có đây, tôi đem lại ngay. Thoáng cái đã thấy ông cụ ló đầu ra khỏi luống bắp cầm theo chiếc điếu cầy và mồi lửa đi về phía chúng tôi. Ông cụ râu tóc bạc phơ. Bộ đồ nâu rách lỗ chỗ lên mầu mốc thếch tiệp với nước da trên khuôn mặt khô hốc của ông. Tôi tò mò hỏi bà chủ heo xem ông là ai để chúng tôi tiện việc chào hỏi. Bà nói thật nhỏ vào tai chúng tôi: - Ông cha xứ của chúng tôi đấy. Bà nói tiếp liền để mô tả về ông cha xứ của bà: - Ông cụ già rồi mà chẳng bao giờ chịu để cho chúng tôi giúp đỡ gì cả đâu. Cái gì cũng làm lấy tất. Già rồi mà còn khỏe đáo để. - Kính chào cha. Cha xứ đến, cả bốn chúng tôi đều đứng lên lễ phép chào. Ngài nhìn quanh quất giây lát rồi thận trọng bảo chúng tôi: - Ấy chết các ông gọi như thế ở đây là không được đâu. Bà chủ heo chêm vào: - Gọi ông cụ là bố già được rồi. Bố con mình đợi mấy anh ra mà ra kiểu này có chán không kia chứ! Có phải không bố? Bố già cười xề xòa an ủi chúng tôi: - Ai muốn vậy đâu. Không phải tại các ông ấy. Vận nước tới biết sao được. Trưa mùa đông ở vùng cao tuy có nắng hanh nhưng trời vẫn lạnh căm. chúng tôi co ro bên đống lửa do bố gìa nhúm để sưởi và để hút thuốc lào. Rít điếu thuốc lào rồi nhấp một ngụm chè xanh đặc quạo thì thật là một cái thú trên đời, dân tỉnh thành chắc chẳng bao giờ được hưởng. Bên cạnh đống lửa, câu chuyện về Xóm Núi cứ tự nhiên như một cuốn phim với bố già là nhân vật chính và bà chủ heo là diễn viên phụ tuần tự quay lại theo khói thuốc của chiếc điếu cầy. Bố Già trước kia là một linh mục coi một giáo xứ miền duyên hải tỉnh Nam Định. Sau khi đất nước bị chia đôi, ngài tổ chức cho giáo dân của ngài và cho cả đồng bào không có đạo chung quanh đó đóng bè vượt biển vào Nam tìm tự do rất nhiều. Ngài và một ít thanh niên tâm phúc tình nguyện ở lại lo cho đồng bào ra đi, hết đợt này đến đợt khác. Cuối cùng cha con họ mới ra đi trên một chuyến bè chót. Chẳng may bè bị sóng lớn đánh bể ngoài khơi. Mười mấy thanh niên không biết sống chết ra sao. Sau này không bao giờ ngài được gặp lại họ nữa. Trôi dạt trên mặt đại dương hơn một tiếng đồng hồ giữa đêm tối sóng to gió lớn, ngài may mắn ôm được một cây bương. Cứ thế một ngày trời chịu đói, chịu rét, sóng đưa ngài dạt vào gần đến bờ thì bị công an bắt được. Chúng giam ngài tại tỉnh lỵ mấy tháng rồi tống ngài vào trại Đầm Đùn Khu Tư. Đây là một trại giam khét tiếng dữ dằn chuyên nhốt tù thứ dữ. Tù vô đây cứ coi như không có ngày về. Gần mười năm sau có lẽ công sản sợ Miền Nam đánh ra Bắc nên chúng đem cầm chân ngài trên Xóm Núi. Ở đây lúc này đã tập trung được 14 gia đình gồm ba là công giáo, còn lại là người lương. Việt Minh giao ông cha cho hai gia đình người lương quản lý để theo dõi và báo cáo chi tiết mọi sinh hoạt của ngài. Bố già lúc đó chỉ còn là một cây sậy biết đi, nhưng ngài vẫn tỉnh táo, tháo vát và vui tính. Ngài tự đi lấy cây lấy nứa về dựng một túp lều cho mình, không phải nhờ đến ai. Chỉ sau dăm sáu tháng về đây, ngài đã có thể trồng bắp và khoai lang để tự túc được về lương thực. Điểm đặc biệt là bố già lúc nào cũng tỏ ra là một người yêu đời, sống chan hòa và giúp đỡ bất cứ ai trong xóm. Dân Xóm Núi gom lại từ nhiều địa phương khác nhau, thuộc đủ mọi thành phần và giai tầng xã hội cũng như tôn giáo nên thời gian đầu họ sống rất cô độc, lạnh nhạt với nhau. Nói đúng ra là họ nghi kỵ nhau nên ai cũng thủ. Đó là tâm trạng chung trong bất cứ một xã hội cộng sản nào. Nhưng chỉ vài năm sau khi bố già tới, tình hình đã biến đổi. Ngài chiếm trọn cảm tình và sự tin tưởng của mọi người dân Xóm Núi, kể cả tên công an phụ trách an ninh xóm. Vì thế, không những ngài được nới rộng quản chế mà còn được chỉ định làm tổ trưởng tổ sản xuất có trách nhiệm trông coi chi nhánh hợp tác xã sản xuất Xóm Núi. Hợp tác xã là cái tên chỉ đặt ra theo phong trào. Ngài đem hết những hiểu biết của mình trước kia về cộng sản từ sách vở và những kinh nghiệm của ngài trong các nhà tù ra để giúp ngời dân Xóm Núi sống thích ứng với hoàn cảnh mới. Ngài chủ trương ở đây là đất rừng và đồi núi, ai canh tác được bao nhiêu tùy sức. Vấn đề là đóng thuế đủ cho xã. Ngài lập luận với bọn chính quyền xã: thế cũng là một hình thức khoán sản phẩm của nhà nước rồi. Mức thuế do xã qui định, nhưng sự qui định của xã lại tùy theo cung cách xử trí vấn đề của người dân trong xóm. Nói nôm na là dân biết sống được lòng quan thì chuyện gì cũng xong. Ai lên đây cũng với hai bàn tay không, đổi chén mồ hôi lấy miếng ăn. Có đủ miếng ăn đã là may. Thời gian đầu khi mọi người còn giữ thái độ e dè nghi kỵ nhau, tinh thần người dân Xóm Núi xuống rất thấp. Họ thất vọng, chán nản và hầu như buông xuôi. Thấy tình cảnh như vậy, bố già lập tức đề ra trong đầu một chương trình dân sinh chung cho cả xóm. Câu nói mà cộng sản dậy cho tù trong lúc ngài bị giam giữ “mình vì mọi người, mọi người vì mình” được ngài đem ra thực hành. Bắt đầu ngài tới lui từng nhà, đề nghị sửa sang, tu bổ hay thay đổi cái này cái khác. Những đề nghị của ngài nếu được gia đình đồng ý đều do chính tay ngài thực hiện. Gia đình có đóng góp thì chỉ là phụ. Mỗi ngày, ngài lao động cho mình một nửa ngày. Nửa ngày còn lại ngài làm giúp các gia đình, nay nhà này, mai nhà khác. Bọn chính quyền xã sau một thời gian theo dõi và kiểm soát, không thấy có biểu hiện nào đáng nghi ngờ, chúng chỉ định ngài làm đội trưởng đội sản xuất và trông coi hợp tác xã. Vì là ở miền núi và nhất là không có trâu bò cũng như dụng cụ canh tác nên ngài tranh đấu cho mỗi người được giao phần đất lãnh canh tối thiểu. Nghĩa là từng người tùy theo tuổi tác hay sức khỏe nhận khai phá và trồng trọt phần đất để đủ sinh sống. Tuy nhiên ngài ngầm cổ võ và khuyến khích từng người và từng nhà khai phá và canh tác tối đa nếu có thể. Do đó tuy với mức thuế khoán thường là 60%, Xóm Núi vẫn có đủ lương thực không bao giờ thiếu. Con gà trong sân gia đình nào nuôi được đều là sản phẩm thặng dư có quyền giết ăn hoặc bán . Trừ ra con heo nuôi được nếu giết ăn hay bán đi thì phải đóng thuế. Ngài còn áp dụng phương pháp vần công, đổi công của các hợp tác xã nông nghiệp miền Bắc để xây dựng nhà ở cho từng gia đình. Vì thế gia đình nào cũng có nhà cửa tương đối tươm tất để ở. Một vấn đề khó khăn cho người dân Xóm Núi lại chính là sự “thịnh vượng” bề ngoài ấy của họ. Khi người dân no mà cán bộ cách mạng đói thì đúng là một điều nghịch lý dưới chế độ cộng sản. Thấy dân có ăn, bọn chánh quyền xã bắt đầu mè nheo yêu sách. Nhận thấy có mòi bất ổn, bố gìa trong tư cách đội trưởng đội sản xuất lập tức tìm cách chận đứng ngay. Cũng chẳng có gì khó khăn. Cái khó nó đẻ cái khôn là qui luật tự nhiên. Phương pháp hữu hiệu nhất để chận họng và khóa tay bọn cán bộ là tọng cái gì đó vào miệng chúng thì chuyện gì cũng xong. Kinh nghiệm sống trong xã hội cộng sản dậy cho mọi người biết rằng con người chỉ là con vật, mà bản tính của mọi loài vật là bằng mọi cách để sinh tồn. Người dân tìm sinh tồn bằng chính bàn tay và mồ hôi mình đổ ra. Còn bọn cầm quyền CS sinh tồn bằng cây súng trong tay của chúng. Thực ra người dân Xóm Núi đã là những người cùng khổ nhất trong cái xã hội nghèo nàn miền Bắc này rồi. Họ chẳng còn có gì để cho đi ngoài miếng ăn hàng ngày của họ. Nhưng dù phải hy sinh bớt đi ít nhiều trong khẩu phần của họ để được hưởng một chút thoải mái trong cuộc sống vẫn còn hơn. Cái mà họ có thể dùng để trả giá cho cuộc sống yên vui của họ là rau quả ngoài vườn, là con gà trong sân, là chén gạo trong lu, là chai rượu nấu được. Đơn giản thế thôi. Bà chủ heo kể rằng bà nuôi được hai con heo. Một con bán cho trại tù hôm nay chúng tôi tới bắt. Con khác lớn và mập mạp hơn một chút đã bán trước cho hợp tác xã (tại xã). Con heo này bà phải đóng thuế mất già một nửa trị giá. Bộ đồ lòng dành riêng để “bồi dưỡng” cho ủy ban. Khi cân heo, chiếc cân được nhích lên khoảng vài ba ký trừ hao. Người chủ heo được đền bù những cái mất mát kia bằng cách đó theo tập tục xã hội chủ nghĩa. Một bên có lợi vì được cho không. Một bên bị ăn cướp công khai nhưng lấy lại được chút ít ân huệ. Như thế cũng thỏa mãn rồi. Những chuyện bị ăn cướp rồi được đền bù đại loại như thế đã trở thành nếp sống của người dân dưới chế độ công sản nói chung, và tại Xóm Núi nói riêng. Không một ai dám kêu ca mà trái lại còn phải coi đó như một ân huệ mà nhà nước chỉ chiếu cố cho những người xứng đáng được hưởng. Bố già dí dỏm nhận định tham nhũng là một “đức tính xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc, và ngài còn cho rằng cách thức người ta đưa và ăn hối lộ đã trở thành một “nghệ thuật giao tế” trong chế độ cộng sản. Điều này thật quan trọng. Không phải cứ đưa hối lộ là được nhận cả đâu, mà phải biết đưa cho đúng cách mới thực sự là điều quan trọng. Nếu không khéo léo thiếu tế nhị khi đưa hối lộ thì không những mất của mà còn mất luôn cả cái mạng nữa chưa biết chừng. Bởi vì dưới chế độ cộng sản, việc nhân dân bồi dưỡng cán bộ và việc hối lộ mua chuộc cán bộ nhà nước là hai hành động đã đưọc điển chế hóa hẳn hoi. Vui vẻ tự nguyện cho cán bộ ăn được coi là việc làm bồi dưỡng cán bộ. Đây là hành động có công với cách mạng. Ngược lại cho bọn cán bộ ăn mà không vui vẻ tự nguyện thì đó là hối lộ cán bộ nhà nước. Đây là một tội hình, nhẹ thì tù sơ sơ năm mười năm, mà nặng thì mất đầu như chơi. Bọn tù chúng tôi học được cả một kho kinh nghiệm sống của bố gìa. Quả thật là đi một ngày đàng học một sang khôn. Chuyến đi bắt heo của chúng tôi không uổng. Việc bố già bị đầy lên Xóm Núi là cái xui cho ngài nhưng phải được coi là cái may cho những người dân bị đầy lên đây. Trong câu chuyện, bà chủ heo lập đi lập lại với chúng tôi: - Không nhờ có bố gìa, Xóm Núi không được như thế này đâu. Cuộc sống người dân Xóm Núi được cải thiện và nâng cao rõ ràng so với hầu như toàn miền Bắc. Trong khi dân miền Bắc có nơi có người bị chết đói thì Xóm Núi vẫn chưa đến nỗi thiếu thốn cái ăn. Trong khi cả nước bị chiến tranh tàn phá thì Xóm Núi vẫn thanh bình yên vui. Nhà nước không mở trường học ở đấy nhưng bố già cũng đã tự mình tổ chức được một lớp học vào mỗi Chủ Nhật để dậy cho những người ít chữ nghĩa, không kể người lớn hay trẻ con. Ở Xóm Núi ai ai cũng có nhà ở. Người dân với nhau không ai bóc lột áp bức ai mà lại sống rất chan hòa yêu thương nhau. Thực ra cũng có áp bức bóc lột, nhưng là do bọn cán bộ nhà nước. Tuy nhiên tệ nạn này cũng đã hóa giải được tới mức có thể chịu đựng được nhờ người dân Xóm Núi biết hy sinh và tài khéo léo của bố già. Ở trong một đất nước theo xã hội chủ nghĩa, có thể nói được rằng bố già là một lãnh tụ đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Xóm Núi này, chuyện mà Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh v.v. đã phải giết đến hàng chục triệu con dân của họ để thực hiện mà cho đến lúc chết vẫn chỉ là giấc mơ. Đấy là về mặt xã hội. Một khía cạnh quan trọng khác là về mặt tôn giáo. Bố già là một linh mục công giáo. Xóm Núi là nơi ngài bị đầy ải. Ngài sống trong một căn nhà hai gian. Ngài nấu ăn ở đấy, ngủ ở đấy, dậy học ở đấy, và thậm chí làm lễ cũng ở đấy. Khi bố già mới tới, Xóm Núi có 14 gia đình thì 11 là lương dân. Chỉ có ba gia đình là công giáo. Bố già được giao cho hai gia đình bên lương quản chế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, cả hai gia đình này đều trở lại công giáo. Chín gia đình khác về sau được ngài cảm hóa cũng theo đạo của ngài. Còn lại chỉ còn hai gia đình vẫn giữ đạo ông bà. Bố già ở Xóm Núi, tuy là một linh mục nhưng ngài không bao giờ giảng đạo cho ai. Phải nói là ngài không dám giảng đạo mới đúng. Những người theo đạo đều là vì cảm mến ngài mà theo đạo của ngài. Bà chủ heo hãnh diện giới thiệu với chúng tôi bố già là ông cha xứ của bà. Thực ra Xóm Núi chẳng phải là một xóm đạo. Ông cha xứ chỉ là một tên tù bị chỉ định cư trú. Bố già cũng không có một cái gì để hành xử chức linh mục của ngài. Thậm chí đến một cuốn Phúc Âm cũng không có. Ngài không có thánh đường, không có Thánh Kinh, không giảng thuyết, nhưng chính bản thân ngài là một cuốn Thánh Kinh sống. Người ta có thể đọc được từng lời của Chúa trong lối sống và hành động của bố già. Ngài không xây cất thánh đường nguy nga tráng lệ để mở mang nước Chúa, không tổ chức lễ lạt với cờ xí trống chiêng inh ỏi để truyền bá Phúc Âm. Nguời ta tìm thấy Chúa trong chính con người đơn sơ của ngài. Hồi còn chưa đi lính, tôi có đọc câu chuyện về một linh mục giống y như bố già. Ngài là người Ý, cha Pio. Cha Pio là cha sở họ đạo Rosola, một làng quê miền núi hẻo lánh. Cha là một linh mục khác thường. Khác thường ở đây có nghĩa là chẳng được bằng ai. Phong thái thì nhà quê nhà mùa. Trí khôn thì chậm chạp, có thể nói được là dốt nát. Quê mùa dốt nát là tất cả những gì cha Pio có. Chỉ có giáo dân của ngài mới biết ngài là linh mục, nhưng lại không biết tên họ của ngài là gì. Mọi người theo thói quen gọi ngài vắn tắt bằng cái tên mộc mạc Pio, cha Pio. Những người chưa quen biết ngài, dù đang đứng đối diện với ngài cũng không thể nào nhận ra ngài là một ông cha sở. Ngài thiếu hẳn cái dáng dấp và tác phong của một ông cha sở mà người ta thường thấy: mặc áo chùng thâm, đội mũ mục đồng, tay cầm ba toong, đi rảo chung quanh nhà thờ vào những lúc rảnh rỗi. Trái lại, cha Pio, ngoài những lúc làm nhiệm vụ linh mục như giải tội, làm lễ v.v., suốt ngày lam lũ ngoài nương khoai rẫy bắp như một anh nông phu chánh hiệu con nai vàng. Giáo dân trong họ đạo mỗi khi có việc đến nhà xứ để gặp ông cha sở mà không thấy, họ biết ngay họ phải kiếm ngài ở đâu. Họ chỉ việc men theo con đường ngòng ngoèo từ nhà xứ dẫn ra ngoài rẫy. Con đường mòn này hai bên cây cối um tùm, lúa ngô rậm rạp, họ vừa đi vừa gọi tên ngài. Thế nào họ cũng tìm ra được cha sở của họ đang lúc hoặc cuốc đất, hoặc trồng bắp, hoặc vun xới mấy gốc nho đâu đó. Người ta kể lại. Có một ngày, đức giám mục địa phận mới nhậm chức, đến thăm cha Pio nhưng không gặp ngài trong nhà xứ. Đức cha bèn trở ra, ngài thấy một ông già đang chăm chú sửa sang hàng rào cây chung quanh nhà thờ. Ngài hỏi thăm ông già: - Chào ông già, ông có biết cha sở ngài đi đâu không? Ông già làm vườn có vẻ hơi lung túng. Ông cúi đầu chào đức cha, không trả lời thẳng câu hỏi mà chỉ tay về phía nhà xứ như có ý bảo cha sở đang ở trong đó. Thế rồi ông để đức cha đứng đó một mình giữa sân nhà thờ, vội vã chạy vào nhà xứ làm như đi trình báo cho cha sở biết. Ít phút sau, người ta thấy cha sở tất tả chạy ra đón đức giám mục. Đức cha nhận ra ngay cha sở chính là ông già làm vườn ngài vừa mới gặp. Tuy nhiên đức cha vẫn tươi cười tỉnh bơ, giả bộ như một người thiếu con mắt tinh đời. Hồi nhỏ, cậu Pio không có được cái may mắn cắp sách đến trường vì cả vùng quê cậu ở không có trường học. Hầu hết các trẻ em ở đây đều thất học. Riêng Pio, ngoài việc chăn cừu, còn được cái may mắn đến học chữ với cha sở một họ đạo vùng Montalbano. Pio học hành không giỏi nhưng được cái ngoan và hiền. Lớn lên cậu được gởi vào chủng viện rồi trở thành linh mục. Sau một thời gian làm tuyên úy, cha Pio được cử về làm cha sở xứ đạo Rosola. Ngoài công tác mục vụ, công việc thường xuyên của cha là làm rẩy. Nhà xứ không có ai giúp việc. Cha sở phải tự tay làm lấy tất cả mọi việc. Làm lễ cũng cha. Giật chuông, mở cửa nhà thờ cũng cha. Ăn uống cha cũng tự nấu lấy. Thậm chí áo quần rách cha tự tay khâu vá, không nhờ đến ai. Tài sản của ngài thu gọn trong một cái túi lớn. Ngài đi chợ mua ăn không cần giỏ xách. Tất cả được gói lại nhét vào một cái bao may liền với cái áo chùng thâm của ngài. Bổn đạo cười. Ngài thản nhiên trả lời: - Có sao đâu. Vậy mà tiện lắm đấy. Nói chuyện với Bố Già tôi cứ tưởng tượng ngài là cha Pio của xứ đạo Rosola. Cả hai giống nhau đặc biệt về mặt tu hành và thực hành chức linh mục. Về mặt này, bố già phải được kể là một nhà truyền giáo rất thành công. Tuy ngài không giảng đạo nhưng có nhiều người chung quanh ngài nhận ra Chúa và theo Người. Bố Già Xóm Núi mang hai hình ảnh, vừa là nhà truyền giáo vừa là một lãnh tụ cộng sản. Mặt nào ngài cũng thành công. Những chuyện xẩy ra ở Xóm Núi mặc dầu rất âm thầm nhưng không thể qua mắt được bọn cán bộ xã. Tuy nhiên chúng cũng phải mắt nhắm mắt mở làm ngơ như không biết gì, bởi vì bọn chúng một đàng không có điều gì đến nỗi phải thù ghét bố già. Đàng khác chúng đã mắc nghẹn ở cổ họng rồi. Chúng không có lý do gì để khui ra mà hành tội ngài cả. Tên công an Xóm Núi còn chưa ráo máu đầu, là cộng sản từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, không biết tôn giáo là gì, nhưng rất khoái bố già, thỉnh thoảng trước đám đông nó hỏi ngài: Sao, anh tính lấy vợ đi chứ, tôi xây dựng cho. Bố già chỉ cười thoái thác: Tôi già lão thế này ai mà chịu lấy. Bà chủ heo kể câu chuyện vui nhưng sợ buồn lòng bố già, bà phân trần với bọn tôi: - Thằng ranh con không biết cha cụ là ai. Cũng tội nghiệp. Chuyện trò giữa bọn tù chúng tôi với bố già và bà chủ heo còn đang hào hứng thì tên cán bộ bảo vệ trong nhà đã thức giấc. Nó lên tiếng gọi chúng tôi: - Các anh vào bắt lợn, khẩn trương về cho kịp. Chúng tôi đứng lên chào bố già rồi chạy vào. Công việc bắt, trói con heo tiến hành đâu vào đấy chỉ mất năm phút như những người giết heo nhà nghề. Bắt con heo xong, tên cán bộ hối về liền. Tôi hỏi nó: - Phải cân đã chứ cán bộ? - Cân rồi, năm chục ký. – Tên cán bộ trả lời. Chúng tôi hiểu ý. Con heo làm gì đến năm chục ký. Cái kiểu cân bằng mắt của tên bảo vệ hẳn là để bù lại nửa con gà và xị rượu hắn đã tống vào bụng. Chúng tôi khiêng heo ra đến cổng thì vừa lúc bố già đi làm về cũng ngang qua đó. Ngài tươi cười chào hỏi mọi người và không quên nhắn nhủ chúng tôi một câu cho phải phép: - Các anh cố gắng học tập tốt, lao động tốt để chóng được đảng và nhà nước cho về đoàn tụ với gia đình nhá. Tên cán bộ bảo vệ thấy ông già nhà quê lên lớp bọn tù, nó lấy làm hả hê lắm, nhe hàm răng cải mả ra giữa đống da thịt đỏ ối vì men rượu nói với chúng tôi: - Các anh thấy không, đảng và nhân dân ai cũng mong như thế cả. Về sớm hay muộn đều là tùy các anh cả đấy. Sâu vào trong xóm, bố già khả kính của người dân Xóm Núi cùng với hai tiểu đồng đi trước, đứa vác cuốc, đứa xách chiếc điếu cầy đang khuất dần vào vạt bắp rậm rạp. Bọn tù chúng tôi khiêng heo về trại để chuẩn bị ăn tết. Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất XUÂN TRONG TÙ Nhìn trời đàn én đến đưa thoi Mới biết ràng xuân đã đến rồi Gió nhẹ đưa hoa cười cợt ý Nắng hồng đón bướm lượn đùa chơi Xuân về ai nấy vui xum họp Tết đến mình riêng một góc trời Chó tới: "mày... tha thì chẳng chẳng" (1) Gà đi: "đời... có thế mà thôi..ôi...ôi". (2) Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Tân-Lập, Vĩnh Phú tết Canh-Tuất 1982 (1) tiếng chó sủa: ẳng ẳng) (2) tiếng gà gáy: ò ó o o)

 

Bao Thành và Kỳ Sơn là hai pháo đài bảo vệ cho kinh đô Kiểu Kinh về phía tây và tây nam. Trấn thủ Bao Thành Bao Quýnh và trấn thủ Kỳ Sơn Thiệu Tường là đồng liêu và là chỗ tâm giao. Cả hai đều là đại phu và là những người trung quân ái quốc. Vào một năm trời làm mưa bão dầm dề, núi Kỳ Sơn đổ. Nhiều người cho đó là điềm trời báo trước sự sụp đổ của nhà Chu . Trấn thủ Kỳ Sơn dâng biểu tâu lên vua về những thiệt hại do thiên tai gây ra và khẩn xin triều đình mở kho cứu trợ cho dân chúng Kỳ Sơn. U-Vương đã chẳng màng đến lời tâu, còn cười chê Thiệu Tường là người dốt nát không biết cai trị, rồi cách chức. Vua tôi trong triều vẫn cứ thản nhiên tiếp tục ăn chơi hưởng lạc. Nhà vua phái nội thị bủa đi tứ phương tìm gái đẹp tuyển vào cung để đờn ca múa hát và phục vụ xác thịt. Triệu Thúc Đái đang giữ chức gián quan, thấy đất nước càng ngày càng nguy ngập, bèn dâng biểu để can ngăn. U-Vương nghe lời Quắc Công dèm pha, cách chức Triệu Thúc Đái đuổi về. Bao Quýnh đang ở Bao Thành nghe tin, tức tốc vào triều để can gián vua. U-Vương giận lắm, sai quân bắt Bao Quýnh tống vào ngục. Từ bấy giờ các quan trong triều không còn ai dám can ngăn vua nữa. Bao Quýnh ở tù đã ba năm. Phu nhân và con trai ở nhà sống thiếu thốn và như bị cô lập. Các đại thần đồng triều cũng như bọn quan lại thân sơ đều sợ hãi mà xa lánh. Lâu rồi, mẹ con không lẽ cứ ngồi ôm nhau mà than khóc. Bà mẹ cuối cùng đành phải liều đẩy đứa con ra đường để tìm cách cứu nước, cứu chồng. Qua bao nhiêu đắn đo suy nghĩ, Bao Quýnh phu nhân hôm nay mới đem những điều mình ấp ủ ra bàn với Hồng Đức, đứa con trai duy nhất của mình hãy còn trẻ. Bà nhỏ nhẹ nói với con: - Con không ra bên ngoài nên không biết được việc thiên hạ. Qua nhiều năm liên tiếp, hạn hán rồi lụt lội làm mất mùa triền miên. Trời làm cơ cực một phần, nhưng tham quan của triều đình nhũng nhiễu gây thê lương còn nhiều hơn gấp bội. Bọn tham quan vơ vét bóc lột thật thậm tệ. Bá tánh vì thế sống vô cùng lầm than đói khổ. Loạn lạc triền miên. Trai tráng phần bị lùa đi lính, phần thì phiêu bạt tứ xứ để làm ăn kiếm sống. Con gái còn trinh kẻ bị bắt dâng lên cho triều đình, kẻ bị bán làm nô lệ tình dục khắp nơi tại các nước chư hầu. Còn lại bên trong các làng mạc khô cằn là các cụ già và những người không sứt càng thì cũng gẫy gọng. Bên trong triều đình thì Thiên tử hoang dâm vô đạo, ham mê tửu sắc, đêm ngày nghe đàn ca hát xướng. Nhiều khi cả tháng trời vua không thiết triều một lần. Triều thần ít khi trông thấy mặt thiên tử. Mọi việc triều chính giao vào tay bọn Tam Công là Quắc Công, Sái Công, và Doãn Cầu. Một tên làm tổng quản quân đội của thiên triều. Một tên lãnh chúa đám mật vụ côn đồ. Còn tên nữa là chưởng quản tất cả đám quan lại từ trong triều ra đến ngoài quan ải. Cả ba cấu kết với nhau làm thành một mạng lưới chuyên quyền độc đoán. Vì thế mới sinh ra nạn buôn quan bán tước. Có tiền là mua được chức quan. Khi đã có chức quan, chúng vơ vét để bù lại. Toàn thể hệ thống quan lại từ trên xuống dưới đều là những tên tham quyền ham lợi, chỉ biết trên thì nhắm mắt xu nịnh, dưới thì tham lam vơ vét. Bá tánh đói khổ, còn quan lại sống phè phỡn trên sự đói khổ của lê dân. Những người trung trực kẻ thì bị giết, người bị lưu đầy, còn lại hầu hết đều cáo thoái về cầy ruộng. Trong số những người bị đi tù có thân phụ của con đang làm quan đại phu tổng trấn Bao Thành. Chưa bao giờ đất nước sa vào cảnh điêu linh như hiện nay. Cũng chưa bao giờ bá tánh phải lầm than đói khổ như bây giờ. Con phải biết, cứu phụ thân của con là chuyện nhỏ, cứu giang sơn xã tắc này khỏi ách tàn bạo vô luân của tên bạo chúa mới là chuyện lớn phải làm của một trang nam tử như con. Con có hiểu như thế không? Hồng Đức nhìn mẹ buồn rầu thưa lại: - Thưa mẹ, mặc dầu con không thiếu quyết tâm, sẵn máu nóng báo thù, nhưng con còn nhỏ, cuộc đời chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm, lại không quen biết nhiều, làm sao con có thể làm nên việc, nếu không có cha con bên cạnh? Người mẹ không phải không hiểu lý lẽ đó. Đặt một gánh nặng quá lớn so với tuổi đời và từng trải trên vai của đứa con, bà không thể nào không lo lắng cân nhắc. Nhưng trong hoàn cảnh lẻ loi này, bà không còn cách nào khác để giải quyết. Nghe con nói xong, bà quàng tay kéo con trai ngồi sát bên mình, rồi ôn tồn giảng giải: - Cứu phụ thân con, con làm công việc này một mình đơn độc. Nhưng con đứng lên diệt bạo chúa, mọi người đều hưởng ứng theo con. Ai bảo con không có người bên cạnh. Hơn nữa, cho dù cứu được phụ thân con, ai bảo đảm gia đình mình thoát được những tai họa khác nữa sau này. Chỉ có cứu được giang sơn này thì mọi người mới được sống yên vui hạnh phúc lâu bền. Con có nghĩ như mẹ không? Hồng Đức không cần suy nghĩ, vội vàng quì xuống đất, nắm lấy bàn tay mẹ, nhìn thẳng vào mắt bà, quả quyết: - Vâng thưa mẹ, con hiểu ra rồi. Con sẽ làm theo lời mẹ dậy. Con hứa sẽ làm được cả hai điều mẹ mong muốn, vừa cứu cha con, vừa giải phóng bá tánh khỏi ách tham tàn mê muội của hôn quân. Ngày hôm sau, chàng thanh niên Hồng Đức từ giã mẹ ra đi, mang trên vai một gánh nặng thù nhà và nợ nước. / / / Hồng Đức đi Bao Thành có ý tìm gặp những thân hữu hoặc thuộc hạ cũ của cha mình khi xưa hầu mưu việc đại sự. Nhưng chuyện đời không đơn giản như chàng nghĩ. Tất cả những người quen biết mà chàng tiếp xúc họ đều từ chối. Không phải họ không có lòng, mà vì nhát sợ, trông thấy sự tàn bạo của triều đình. Suốt mấy tháng trời, sự ra đi của Hồng Đức không đem lại một kết quả nào. Chàng cảm thấy thối chí nên muốn trở về bàn bạc lại với mẹ. Điều làm chàng buồn phiền nhất là sợ khi gặp lại mẹ, nhìn thấy vẻ mặt thiểu não của bà. Nhưng bất luận thế nào chàng cũng phải trở về. Trên đường về, đi đã cả buổi, chàng nghỉ mệt. Đang lúc ngồi nghỉ chân dưới một gốc cây bên bờ sông, bất chợt chàng thấy một cô gái quẩy đôi thùng từ trong xóm ra gánh nước. Cô gái trông còn rất trẻ, chắc chắn chỉ vừa độ tuổi trăng tròn. Một cô gái nhà quê mộc mạc nhưng lại rất xinh đẹp, xuất hiện giữa khung cảnh buổi chiều hè rực rỡ với trời, mây, nước bao la, trông chẳng khác nào một bức tranh thủy mạc sống. Thật tuyệt vời. Cô gái có vẻ lúng túng vì sự có mặt của một chàng trai xa lạ. Nàng vục nước đầy hai chiếc lu sành rồi vội vã quẩy vô xóm. Hồng Đức để cho nàng đi khuất rồi mới theo dấu nước sánh trên mặt đất mà tìm đến nhà. Tới đầu ngõ, chàng bắt gặp một ông gìa đang đứng hóng mát gần một khóm trúc ngoài cổng. Chàng dừng lại lễ phép cúi đầu chào. Thấy cái dáng thư sinh của người khách lạ, ông già lên tiếng trước, hỏi: - Chẳng hay công tử có việc gì đi qua đây? - Kính chào lão bá, cháu ở xa đi ngang qua đây mà trời cũng không còn sớm. Cháu có ý kiếm một chỗ ở trọ qua đêm. Lão bá có biết xin chỉ dùm. Hồng Đức không kịp chuẩn bị trước cho tình huống bất ngờ này, nên chỉ còn cách nói dối. Nhưng làm sao chàng che mắt nổi một ông già từng trải. Con gái ông vừa gánh nước về. Ông thấy rõ chàng thanh niên theo dấu nước trên đất mà tới đây. Nhìn mặt chàng trai không quen nói láo, sắc diện trở nên bẽn lẽn, thật tội nghiệp, ông già thương hại cái dáng khờ khạo ấy, chỉ mỉm cười độ lượng: - Chỗ trọ quanh đây thì lão phu không biết. Nhưng nếu công tử không chê bai túp lều tranh này của cha con lão thì công tử cứ tự tiện ở lại đây qua đêm. Chúng tôi rất lấy làm hân hạnh được tiếp đón công tử. Hồng Đức được lời như cởi tấm lòng. Thấy ông già có vẻ như muốn gói ghém một lời giới thiệu khéo léo cô con gái trong sự mời mọc, chàng cảm thấy phấn khởi liền nhận lời: - Được như vậy thì tốt quá. Cháu không dám khách sáo. Xin hết lòng đa tạ lão bá. Chủ khách theo nhau vô nhà, một căn nhà tranh vách đất tồi tàn nhưng ngăn nắp và kín đáo. Ông già tự tay nấu nước pha trà, và sai cô con gái sửa soạn bữa cơm chiều đãi khách. Hai người đàn ông vừa uống trà vừa trò truyện. Biết được Hồng Đức là con quan đại phu Bao Quýnh trấn thủ Bao Thành trước đây, ông già vui mừng giãi bầy tâm sự: - Gia đình lão phu ở đây đã lâu đời. Lão tên là Tự Đại. Hai vợ chồng già không có con trai, chỉ sanh được một đức con gái duy nhất, đặt tên nó là Bao Tự. Chẳng bao lâu tiện nội mất. Lão phu một mình nuôi con. Trời cho nó có chút nhan sắc. Điều này làm lão lo sợ. Con gái đẹp ở vùng này hiện nay đang bị quan lính săn bắt dâng lên cho thiên tử. Lão phu lo ngaị cho đứa con gái của lão. - Thưa lão bá, không có cách nào để tránh cho Bao cô nương không bị bắt sao? Hồng Đức lo lắng cắt ngang. Lão Đại nhấp ngụm trà, trầm ngâm, mắt nhìn mông lung ngoài trời ra chiều tư lự lắm. Lão thở dài úp mở: - Thực ra thì cũng không phải là không có. Nhưng…….. - Nhưng cái gì? Xin lão bá cho biết tôn ý. Hay lão bá có điều gì khó nói thì thôi cũng không sao. Không khí bỗng dưng trở nên nặng nề. Hồng Đức cũng e dè, chàng im lặng chẳng còn biết nói gì. Một lúc lâu sau, ông già đổi đề tài câu chuyện. Lão hỏi: - Lão phu có nghe lệnh tôn bị gian thần ám hại. Chẳng hay việc này có đúng không? - Thưa lão bá, chuyện này là thiệt. Phụ thân cháu bị bọn tam công hại. Nhà vua chỉ biết nghe lời xu nịnh. Phụ thân cháu bị giam có đến gần ba năm nay rồi. Ông già chép miệng thở dài: - Thời buổi này làm dân đã khó, mà làm quan thanh liêm trung trực lại càng khó gấp bội. Những người làm quan như lệnh tôn đây không được mấy người, nhưng rồi dần dần cũng mất cả. Bá tánh lầm tham không còn biết trông cậy vào đâu. Không biết đất nước này rồi sẽ ra sao!!! Ba năm…cũng là lâu rồi đấy. Ông già ngồi trầm ngâm một lúc rồi lại tiếp tục: - Phu nhân và công tử đã có dâng biểu trần tình để minh oan cho lệnh tôn bao giờ chưa? Cũng nên thử xem sao. Hồng Đức rầu rĩ thưa: - Xin thú thật với lão bá, làm thế không được đâu. Thiên tử đã trở thành điếc đặc đối với những lời ngay thẳng từ lâu rồi. Cháu đã lặn lội mấy tháng nay để tìm xem có phương pháp nào không nhưng vô hiệu. Những chỗ quen biết xưa kia với phụ thân cháu họ đều từ chối. Cũng có người nhận giúp nhưng họ đòi nhiều tiền bạc quá, gia đình cháu thật bất lực. Lão bá có diệu kế gì xin chỉ dậy cho. Cháu mang ơn suốt đời suốt kiếp. Ông già mỉm cười hiền từ: - Nói lão phu chỉ dậy thì không dám, và mang ơn thì cũng không cần thiết. Theo ý lão phu, nếu công tử chỉ muốn cứu lệnh tôn thôi thì việc cũng không có gì khó khăn lắm. Còn nếu công tử muốn làm chuyện lớn hơn thì cũng cần phải bỏ ra một chút công sức. Tuy nhiên, dù việc lớn hay nhỏ cũng có thể làm theo cùng một nguyên tắc mà các binh gia thường hay áp dụng. Đó là lấy cái yếu của đối phương làm cái mạnh của mình mà hành động ắt có thể thành công. Hồng Đức muốn biết liền, nóng lòng hỏi: - Xin lão bá có thể giảng giải rõ hơn một chút được không? - Có gì đâu mà khó hiểu…. Nhưng thôi, chuyện còn dài. Công tử đi đường xa chắc đã mệt và đói bụng. Nghỉ ngơi một lát rồi ăn uống trước đã. Mặc cho Hồng Đức ngồi bần thần suy nghĩ, ông già cắt ngang câu chuyện, đứng dậy đi xuống bếp tiếp con gái giọn cơm. Thực ra ông đã có chủ đích rồi, nhưng ông không thể đường đột nói ra, mà cần phải thăm dò ý kiến của con gái đã, và bàn bạc những gì cần thiết trước. / / / Ăn uống xong thì trời vừa tối. Chủ khách ngồi uống trà bên ngọn đèn nhựa chai leo lét. Bao Tự đứng hầu bên cạnh cha. Hồng Đức cứ băn khoăn về câu chuyện còn dở dang hồi chiều: cái gì là cái yếu của đối phương, và cái gì là cái mạnh của mình? Chàng muốn thử phân tích cái chiến pháp mạnh, yếu mà các binh gia thường áp dụng ấy xem sao. Chàng trình bầy với ông già: - Theo cháu thấy, nhược điểm lớn nhất của triều đình hiện nay là vấn đề độc đoán và thối nát. Vua không còn biết nghe lời nói phải. Quan chỉ quen thói xu nịnh. Từ Thiên tử trở xuống ai nấy chỉ biết vơ vét để ăn chơi và hưởng lạc. Hà hiếp bá tánh và vơ vét cho thật nhiều để tận hưởng. Đây là vấn đề trọng yếu phát sinh ra các nguy cơ khác làm suy yếu chế độ. Có thể kể đến như khắp nơi nạn mua quan bán tước trở thành đường lối cơ bản trong việc chọn lựa người làm quan. Do đó, quan lại chỉ là một bọn vô luân, vô đạo, vô tài và vô tướng. Chúng bỏ tiền ra mua được chức quan rồi thì tất nhiên là phải đục khoét và vơ vét để bù lại. Bọn chúng vì phe cánh và vì miếng ăn, đối với nhau cũng như mèo với chó chứ chẳng tử tế gì. Chỉ bằng mặt mà nhiều khi còn coi nhau như thù địch. Chế độ vì thế có thể ví như một cái cây đã rỗng ruột, có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Bên ngoài bá tánh bị thiên tai rồi bị bóc lột đến tận xương tủy. Mọi người sống lầm than khổ cực như trâu chó. Thanh niên phải đi lính hay bị bắt làm phu dịch. Con gái đẹp ngoài số bị bắt tiến cung, còn lại hầu hết cũng bị ngay cha mẹ mình bán đi làm gái điếm để nuôi sống gia đình. Nói chung, người dân bất mãn và hoàn toàn mất tin tưởng vào triều đình. Chế độ nào cũng cần phải lấy dân làm gốc. Chế độ này đã mất gốc thì tất nhiên nó sẽ phải sụp đổ. Triều đình hiện nay đã không nhìn thấy điều đó lại còn lơ là mất cảnh giác. Thiên tử và cả triều thần vẫn cứ tưởng họ còn đang vững mạnh! Còn về phía bá tánh, cái mạnh của người dân là gì nếu không phải là hiện nay ai cũng đều có cơ hội lũng đoạn triều đình bằng bất cứ phương tiện nào họ có hay sao? Với tiền bạc, người ta có thể mua và sai khiến được quan viên triều đình trên dưới. Còn gái đẹp chính là chìa khóa có thể qua được bất cứ cánh cửa nào. Chỉ với hai thứ đó là có thể đốn gục cái chế độ mục nát này rồi. Hồng Đức nói hăng say đến nỗi không để ý đến cô con gái rất xinh đẹp của ông già đang đứng gần đó. Chàng giật mình và ngừng lại, cảm thấy đã quá khinh xuất bèn xin lỗi: - Cháu thật là thất lễ, đã có lời mạo phạm. Xin lão bá và Bao cô nương tha thứ. Ông già nhìn chàng cười bao dung: - Không sao. Công tử nói rất đúng. Những nhận xét và phân tích của công tử cũng là những suy nghĩ trong đầu của lão phu. Tuy nhiên cũng còn một khía cạnh khác mà công tử không đề cập đến. Đó là thế lực của các chư hầu. Hiện nay thiên tử yếu mà có nhiều chư hầu mạnh. Tuy vậy không có chư hầu nào đủ sức lấn lướt mà vượt lên, nên họ vẫn cần phải bảo vệ ngôi thiên tử để giữ thế quân bình ổn định. Nếu có cách nào làm cho các chư hầu không còn tin tưởng vào thiên tử nữa thì sự biến mới có thể xẩy ra. Chiến lược là đúng, nhưng cũng cần phải có sách lược thích hợp để vận dụng kế sách. Ông gìa trình bầy lý luận có vẻ lạ tai đối với chàng thanh niên. Ông ngừng lại ở đấy hình như có ý muốn cho chàng có thì giờ tiêu hóa hết những điều mình vừa nói. Không gian về đêm vốn đã tịch mịch càng trở nên u tịch hơn khi tiếng nói của ông dứt đoạn. Ông già nhấp ngụm trà nóng, mắt vẫn không rời khỏi bát nước trà, lại tiếp tục nói mà như đang nói với bát nước trên tay. Ông đưa ra thăm dò: - Hoàn cảnh của công tử cũng là hoàn cảnh của nhiều người khác nữa. Lão phu rất hiểu và cảm thông với công tử. Vậy thì bây giờ công tử đã có dự tính riêng cho mình như thế nào chưa? Hồng Đức lắc đầu thở dài: - Thưa lão bá, rất tiếc là cháu tài hèn sức mọn, hai bàn tay trắng lại không có kinh nghiệm. Những tính toán đều đã thất bại cả. Cháu xin lão bá cho một lời chỉ giáo và nếu có thể giúp đỡ cho cháu chóng hoàn thành được nhiệm vụ. Ông già vẫn giữ giọng trầm đều: - Giữa công tử và chúng tôi trời đất xui khiến xem ra có chỗ đồng thanh và còn có thể là đồng khí nữa đấy. Công tử có mối thù gia phụ. Gia đình tôi, tiện nội bị triều đình thảm sát. Công tử sống ở kinh đô vả lại còn trẻ chắc không biết chuyện xẩy ra tại Bao Thành này mười mấy năm về trước, lúc ấy đứa con gái này hãy còn phải bế trên tay. Ông quay sang nhìn Bao Tự, rồi quàng tay kéo con lại sát bên cạnh mình, tỏ một cử chỉ âu yếm khác thường. Trong không gian chìm lắng, ông già lại cất tiếng trầm buồn kể chuyện. Chàng thanh niên trẻ im lặng chăm chú nghe: - Chuyện xẩy ra vào lúc giặc Khương Nhung nổi loạn, Tuyên Vương ngự giá thân chinh và bị thua. Quân lính chết rất nhiều. Vua phải thân hành ra đất Thái Nguyên kiểm tra dân đinh để bắt lính bổ sung. Khi trở về ngang qua một cái chợ, vua cho dừng quân để nghỉ. Có lũ trẻ con chơi đùa ngoài chợ hát câu đồng dao thế này: Bao giờ thỏ mọc ác tà, Yểm hồ Cơ bặc ắt là mất Chu . Tuyên Vương nghe thì cả sợ, bèn bắt lũ trẻ mà điều tra. Nhưng lũ trẻ cũng không biết câu đồng dao đó từ đâu mà có. Vua về triều hội bàn với các quan, nhưng mỗi người bàn một cách. Kẻ thì cho là chuyện trẻ con chẳng đáng tin. Người thì bảo rằng ứng về điềm trong nước có loạn lạc vì yểm hồ và cơ bặc ám chỉ cung tên và túi cỏ để đựng tên. Riêng quan thái sử Bá Dương Phụ bói quẻ bàn rằng thỏ là mặt trăng chỉ âm, ác là mặt trời chỉ dương. Thỏ mọc ác tà là dấu chỉ âm thịnh dương suy. Ắt hẳn là sẽ có cái họa đàn bà can thiệp đến chính trị trong nước. Bất ngờ đúng vào lúc đó, tại hậu cung lại đồn chuyện một cung nữ từ thời tiên đế đã ngoài 50 tuổi đạp phải rãi rồng mà mang thai, đã 40 năm mới sinh được một đứa con gái. Khương hậu (vợ Tuyên Vương) thấy vậy, để giữ tiếng tăm cho hoàng gia, bắt đem đứa trẻ bỏ trôi sông. Một câu chuyện yêu quái như thế không biết từ đâu được thêu dệt rất ly kỳ khiến nhà vua liên tưởng đến cái nạn nữ họa thời Kiệt, Trụ (Thương, Ân). Tuyên Vương sợ hãi bèn hạ lệnh đi khắp mọi nơi hễ ai vớt được đứa con gái ấy đem nộp, dù còn sống hay đã chết, thì được thưởng 300 tấm lụa. Nếu có ai bắt được mà giấu giếm thì cả nhà phải chết chém. Vua cũng nhớ lại câu đồng dao “yểm hồ cơ bặc” ngày trước, nên truyền cho chợ búa khắp trong nước không ai được bán cây cung bằng gỗ dâu (yểm hồ) và túi tên bằng cỏ cơ (cơ bặc) nữa. Ai không tuân lệnh cũng bị chém đầu. Vợ chồng lão phu không biết lệnh cấm, đem cung dâu và túi cỏ ra chợ bán như thường lệ, vì đây là nghề sinh sống của gia đình lão từ lâu nay. Tiện nội mang đồ bán đi trước một quãng, còn lão phu đùm đề đứa con mới sanh lẽo đẽo theo sau. Vừa đến cửa thành, quan lính xét thấy đồ quốc cấm gùi trên lưng, tiện nội bị bắt liền tức thì. Lão phu ôm đứa con đi sau thấy vậy phải lẩn trốn mới thoát. Vua Tuyên Vương cho là câu hát của lũ trẻ đã ứng nghiệm, ra lệnh chém đầu tiện nội để trừ hậu hoạn. Cha con lão phu phải trốn tránh, đến ở cái xóm Hạc Lâm hẻo lánh này từ ngày đó đến nay. - Bá mẫu chết thật là oan ức! Hồng Đức nghe uất ức bèn thốt lên. Ông già cũng ngừng kể. Một lúc lâu sau ông mới đi vào kết luận: - Ông trời thật không phụ lòng người nên đã cho lão phu gặp được công tử. Chúng ta cùng có chung một kẻ thù, cũng nên phải cùng chung một hành động mới đúng. Lão phu đã già rồi, khó có thể thực hiện ý nguyện được. Lão xin có một đề nghị với công tử. Ông ngập ngừng có ý thăm dò phản ứng của chàng thanh niên và cũng còn để lựa lời cho thích hợp. Hồng Đức sốt ruột dục: - Lão bá có đề nghị gì xin cứ dậy bảo. Cháu xin lãnh giáo. - Có hơi đường đột một chút đấy, nhưng xin công tử tha lỗi cho. Nếu công tử không chê bai, lão phu xin được gởi gắm đứa con gái này cho nó theo hầu để công tử sai bảo. Không biết ý công tử thế nào? Ông già hỏi, nhưng xem ra đã biết trước câu trả lời của Hồng Đức rồi, nên ông quay sang nhắn nhủ Bao Tự đang đứng sát bên cạnh ông: - Con phải nghe theo lời dậy bảo của công tử cũng như nghe lời cha. Con có biết không? - Thưa cha con biết. Từ chiều đến giờ, Hồng Đức mới nghe thấy người con gái nói. Chỉ vỏn vẹn có mấy tiếng. Chàng thật sự không hiểu rõ ý nghĩa trong mấy câu ngắn ngủi của cha con ông già. Ông muốn gả con gái cho mình, hay ông tình nguyện hy sinh con gái mình cho chàng để làm kế cứu cha. Thế nào thì cũng đều là chuyện khó tin. Không dễ dàng như thế chứ! Nếu ông có ý định gả con gái thì ít ra cũng phải có cưới hỏi, và nhất là được sự ưng thuận của hai bên cha mẹ. Không thế nào có chuyện quá hấp tấp đến vô lý thế được. Còn nếu ông mưu tính kế mỹ nhân thì ít ra ông cũng nên tiết lộ cho chàng biết kế hoạch? Nếu ông tình nguyện hy sinh con gái làm mỹ nhân kế để trừ bạo chúa thì chàng cũng khó lòng mà đồng ý được, vì từ lúc gặp Bao Tự ngoài bờ sông, chàng đã bị cái đẹp của nàng hớp hồn mất rồi. Theo cách này thì chàng sẽ vĩnh viễn mất nàng. Chỉ nghĩ đến chuyện phải mất người con gái xinh đẹp này, chàng đã cảm thấy chán nản, mất nghị lực. Một đàng không thể để mất đi cơ hội, một đàng không thể không hoàn thành sứ mạng mẹ chàng trao cho lúc ra đi. Cả hai đều khó cầu toàn. Điều làm chàng thực sự bận tâm là rước Bao Tự về nhà trong hoàn cảnh gia đình như thế này thì có hợp đạo lý không. Việc cứu cha chưa hoàn thành mà đã mải mê chuyện tình cảm riêng tư. Điều đó mẹ chàng chắc chắn không tha thứ, mà người đời cũng sẽ cười chê. Hồng Đức suy tính nhanh trong đầu thấy chỉ còn cách cứ đồng ý đại đi rồi sẽ tính. Chàng hy vọng sẽ tìm ra cách giải quyết. Chàng tự tin, đứng dậy khoanh tay cung kính thưa với ông già: - Cháu xin phụng mệnh của lão bá. Cháu hứa sẽ chăm sóc tốt cho Bao cô nương. Sáng hôm sau, Bao Tự theo Hồng Đức lên đường trở về nhà. Ra đến đầu ngõ, nàng ôm cha từ biệt: - Con mong sớm có ngày được trở về bên cạnh cha. Ông già không nói gì, đưa tay vẫy ra dấu hiệu bảo đi, rồi quay đầu lủi thủi trở vào nhà. / / / Quả đúng như Hồng Đức lo ngại. Bao Quýnh phu nhân thấy con trai trở về tay không, lại còn mang theo một cô gái trẻ đẹp. Bà buồn rầu không nói gì và tỏ ra lạnh lùng với con. Cũng may mà trên đường về chàng đã biết rõ được vấn đề nên đã hình thành được một kế hoạch đem trình bầy với mẹ nên bà mới an tâm. Những gì ông già nói với chàng mới chỉ là một nửa của sự thật. Còn lại nửa kia ông già khôn khéo dành lại cho con gái nói ra. Nói trắng ra trước tất cả, ông già sợ Hồng Đức không chịu cho con gái ông đi theo. Việc tiến cung của Bao Tự như ông già kế hoạch bỏ đi mất một cơ hội hiếm hoi. Theo Bao Tự kể, nàng không phải con ruột của vợ chồng ông già mà chỉ là con nuôi. Nàng chính là đứa trẻ bị ném bỏ ngoài bờ sông. Người đàn bà đẻ ra nàng thực ra là một cung nữ trong triều đình Tuyên Vương. Cung nữ này bị hoàng tử An Kỳ, con út của Khương Hậu, tức em trai của U-Vương làm có bầu. Khương hậu không chấp nhận mối tình chủ tớ đó, nên đã cho giết chết người cung nữ và đem đứa trẻ bỏ ngoài bờ sông Thanh Thủy. Lại còn bầy ra một câu chuyện hoang đường để gạt vua. Đứa bé được vợ chồng ông già cứu sống, đưa về nuôi và nhận làm con. Bà mẹ nuôi là vợ ông già Tự Đại bị chém đầu vì tội bán cung dâu túi cỏ đúng như ông già nói. Như vậy là cả hai người đàn bà mẹ đẻ và mẹ nuôi của Bao Tự đều bị triều đình giết chết. Bao Tự từ khi lớn lên, hiểu chuyện nên thề quyết sẽ trả mối thù này. Dựa vào sự tài khéo, ý chí, và sắc đẹp của Bao Tự, cha con ông già tính kế phải vào tận hang cọp để giết cọp. Sự xuất hiện của Hồng Đức đúng là cơ hội trời cho. Ông già vì thế đã thận trọng và tỉ mỉ đi từng bước để không bị hư việc. Bao Quýnh phu nhân nghe con trình bầy, sau một đêm suy nghĩ, đến sáng cho gọi Bao Tự vào và hỏi: - Chuyện cô nương muốn báo thù cho mẹ cô là thế nào? Bao Tự kính cẩn hỏi lại: - Chắc phu nhân đã được nghe công tử kể lại? - Phải, ta đã nghe, nhưng tại sao cô nương lại phải đi qua gia đình ta mà thực hiện ý định đó? Có phải cô nương muốn gia đình ta phải mắc nợ cô không? Bao Tự cả sợ, vội vàng qùi xuống thưa: - Phu nhân đã quá lời rồi. Tiện nữ không dám. Tiện nữ và phụ thân chỉ vì quí mến công tử, và cảm mến công đức của quan đại phu khi người còn ở Bao Thành, nên mong làm một chút việc nhỏ đáp đền mà thôi. Kính xin phu nhân chấp nhận. Mẹ Hồng Đức nghe Bao Tự ăn nói lễ phép và trôi chẩy, rất lấy làm bằng lòng. Bà cho rằng con trai mình hẳn đã đem lòng yêu thương người con gái này, và ngược lại cũng thế. Bà lấy làm đau xót và thương cho cả hai đã phải hy sinh cả cái riêng tư cao quí nhất là hạnh phúc của đời mình. Bà quay mặt đi để dấu hai dòng lệ chẩy trên má. Vài hôm sau, có quan thái sử Bá Dương Phụ là chỗ thân tình ghé thăm, Bao Quýnh phu nhân ra tiếp đón. Bá Dương Phụ nhác trông thấy Bao Tự ở nhà trong nên có ý hỏi dò: - Chẳng hay công tử nhà ta mới lấy vợ, sao không cho tại hạ biết để mừng? - Dạ không phải đâu, xin đại nhân đừng hiểu lầm. Phu nhân cải chính và nhận Bao Tự là con gái út trước đây gởi tại nhà người dì ở Bao thành nay mới đem trở về nhà, lại có ý nhờ thái sư giúp tiến dẫn Bao Tự vào cung làm cung nữ để hầu hạ vua. Bá Dương Phụ rất mừng vì tin rằng kế này chắc chắn có thể cứu được Bao Quýnh ra. Nhưng ông ta lại muốn lánh mặt, không muốn đứng ra làm trung gian, nên nói với Bao Quýnh phu nhân: - Kể như chắc ăn rồi đấy, nhưng việc này nên nhờ cậy đến Quắc Công thì tiện hơn. Phu nhân đem lụa và vàng bạc đến đút lót cho Quắc Công để nhờ tâu hộ rằng Bao Quýnh có tội ở tù đã ngoài ba năm, nay đã già và đã biết hối lỗi. Nay xin đại vương khoan hồng và xin dâng con gái út của mình là Bao Tự để hầu hạ đại vương. Quắc Công bằng lòng nhận vàng bạc, gấm lụa để lo công việc. / / / Bao Tự ở trong nhà Bao Quýnh phu nhân đã gần một tháng. Đêm trước ngày được tiến vào cung, nàng nói với Hồng Đức: - Thiếp hình như đã có thai. - Đứa bé sau này sẽ là con chúng ta. Hồng Đức mừng rỡ ôm người yêu vào lòng quả quyết. Rồi lại hỏi: - Có phải nàng có điều gì không vừa lòng mà từ ngày gặp nàng tới giờ ta thấy nàng lúc nào cũng tỏ ra buồn bã không vui? - Thiếp được chàng và phu nhân hết lòng thương yêu và săn sóc thế này là quá hạnh phúc rồi. Thật sự không có gì làm thiếp phàn nàn cả. Nhưng xin chàng hiểu cho, thiếp chỉ có thể cười to lên được khi thiếp chắc chắn trừ được tên bạo chúa này mà thôi. Hồng Đức đã hiểu ra và thông cảm được tâm trạng của Bao Tự. Ngay ngày hôm sau, Quắc Công đưa Bao Tự vào ra mắt U-Vương. Nhà vua nghe Quắc Công tâu trình thì ưng ý, liền lập tức truyền cho Bao Tự vào bệ kiến. Bao Tự hôm nay trông xinh đẹp như một nàng tiên giáng trần. Nàng vốn đã đẹp tự nhiên, lại được trang điểm thật là lộng lẫy nên càng trở nên kiêu kỳ và quyến rũ hơn gấp bội. U-Vương trông thấy là mê liền và cho ở lại trong cung. Vua còn truyền chỉ thả Bao Quýnh, và còn cho phục chức như cũ. U-Vương được Bao Tự rồi thì hình như quên mất hẳn mình đang là thiên tử, trao triều chính cho tam công để bọn này muốn làm gì thì làm. Nhà vua xây cất cung Quỳnh Đài cho nàng ở và cả ngày tự nhốt mình trong đó như một tên tù của xa hoa và xác thịt. Bao Tự tuy chưa có danh phận gì, nhưng nàng không thèm tới chào hỏi ra mắt hoàng hậu theo đúng lễ nghi hậu cung, còn tìm nhiều cách để trêu tức bà ta. Thân hậu vừa ghen vừa tức giận vô cùng nên cùng con trai là thái tử Nghi Cửu tìm cách hạ nhục Bao Tự. Không dè đây lại là cái kế của nàng giăng ra để triệt hạ hoàng hậu. Chẳng bao lâu sau, Bao Tự sanh được con trai, đặt tên là Bá Phục. Nàng càng được vua sủng ái hơn. Bao Quýnh trở thành quốc cựu và Hồng Đức trở thành bào huynh của hoàng hậu. Cả hai thỉnh thoảng được phép vào cung thăm mẹ con Bao Tự. Thằng bé Bá Phục được hai người quí mến và coi như hậu tự của dòng họ Bao. Bọn tam công và các quan triều đình đều bị mua chuộc và đứng về phe Bao Tự cả. Khi Bao Tự đã hoàn toàn lèo lái được nhà vua và có thể khống chế được triều đình, nàng tiến hành bước kế tiếp là bước lên ngôi hoàng hậu. Vấn đề này không khó khăn gì đối với nàng, vì sự thất sủng của Thân hậu chính là bước tiến lên của nàng. Thân hậu là con người thiếu bao dung, tính tình lại hay ghen tương nhỏ mọn làm vua càng ngày càng chán mà xa lánh, cuối cùng bị thất sủng, rồi truất phế và đẩy vào lãnh cung. Thái Tử Nghi Cửu cũng bị chung một số phận và bị đuổi ra khỏi hoàng cung. Sau khi đã phế hậu và thái tử, U-Vương theo công luận của triều đình, lập Bao Tự làm hoàng hậu và Bá Phục làm thái tử. Ý vua đã định, triều đình nhiều người không bằng lòng, nhưng không có ai dám can ngăn vì sợ bị kết tội là phe đảng của Nghi Cửu và bị trị tội. Bá Dương Phụ trưóc kia là bạn bè thâm giao với Bao Quýnh, trước sự việc này cũng bất bình và xin từ chức. Nhiều quan viên khác cũng bắt chước từ quan theo ông. Bao Tự dẫu được phong làm chánh cung, nhưng nét mặt lúc nào cũng rầu rầu ủ dột. U-Vương truyền nhạc công và cung nữ vào cung đàn ca múa hát để nhà vua và hoàng hậu uống rượu vui chơi. Bao Tự dù thế nào cũng vẫn không tươi nét mặt. U-Vương hỏi: - Hoàng Hậu không thích ca nhạc thì thích cái gì? - Thần thiếp không thích gì cả. Chỉ nhớ hôm xưa tay cầm xé tấm lụa. Tiếng lụa xé nghe thấy cũng vui tai. - Chỉ có vậy thôi à, sao không cho trẫm biết trước? U-Vương cười rạng rỡ, truyền mỗi ngày mở kho lấy 100 tấm lụa rồi sai cung nữ đứng xé lụa cho Bao Tự nghe. Trò chơi xé lụa vậy mà gây tác dụng không nhỏ. Nó làm hao tốn công quĩ và làm cho bá tánh mang thêm gánh nặng phải phục vụ triều đình. Bao Tự dẫu hằng ngày được nghe tiếng xé lụa, nhưng vẫn không nở một nụ cười. U-Vương thất vọng lại hỏi: - Hoàng Hậu nghe tiếng xé lụa mà sao vẫn không thấy vui? - Được hoàng thượng yêu quí thế này thần thiếp vui lắm chứ, tại sao lại không? - Nàng vui nhưng sao lại không cười? - Vốn từ xưa tới giờ thần thiếp chưa bao giờ cười cả. - Thật hả? Vậy thì trẫm nhất định phải tìm ra cách làm ái hậu cười cho bằng được mới thôi. Nhất định! Nhà vua nhớ lại chuyện hồi nhỏ trong vườn thượng uyển có một đàn khỉ, tính bắt một vài con đem về cung làm trò để mua vui cho hoàng hậu, nhưng đàn khỉ ngày nay đã bị đưa ra khỏi hoàng thành vì chúng phá phách quá chừng. Vua dẫn hoàng hậu ngự giá ra ngoài dân gian tìm đến nơi có đàn khỉ. Đàn khỉ nay vẫn còn và do một người tiều phu chăm nuôi. Người này không có tên. Người ta gọi ông ta là ông Khỉ. Giống khỉ này là một giống khỉ hiếm quí, chúng được hưởng bổng lộc của triều đình, lại được chăm sóc tử tế nên triều đình thường chỉ dùng để làm quà tặng cho các chư hầu và lân bang. Chúng có bộ lông đen mướt, rất đẹp, lại rất thông minh, biết làm trò, và nhất là biết bắt chước tiếng người và các động tác của người ta. Bao Tự thấy đàn khỉ cũng tỏ ra thích thú. Vua liền cho bắt bốn con đẹp nhất và khôn nhất trong bầy, đem về cho Bao Tự. Vua hãnh diện khoe với các quan viên: đây là tứ trụ điều đình của trẫm. Mỗi khi vua ngự triều đều có đem hoàng hậu cùng với đám khỉ theo. Nghị sự xong, vua thường bắt các con khỉ ra làm trò để triều thần giải trí, cốt để các quan tung hô hoàng hậu cho nàng khoái chí mà cười. Khi làm trò, những con khỉ tỏ ra rất tài nịnh bợ, luôn mồm kêu: hoàng thượng vạn tuế, hoàng hậu thiên tuế, thiên thiên tuế. Có một lần, đang lúc các con khỉ làm trò, thấy hay quá, nhà vua quay sang hoàng hậu hỏi ý kiến để xem nên ban thưởng cho chúng như thế nào. Hoàng hậu không nghe rõ nhà vua muốn hỏi gì, tưởng vua muốn hỏi tên các con khỉ, nàng trả lời gọn một tiếng "Hầu" (hầu tức là khỉ). Lập tức vua truyền chỉ phong hầu cho tất cả bốn con khỉ, gọi là Bá Hầu, Công Hầu, Đình Hầu, và Khắc Hầu, và ban hưởng bổng lộc một vạn hộ. Từ đó khỉ cũng được mang hia, đội mão, mặc triều phục. Mỗi khi vua ngự triều đều có Bao Tự ngồi bên cạnh, và dĩ nhiên các con khỉ qúi cũng có mặt và lon ton bên cạnh Hoàng Hậu. Các quan và mọi người trong triều đều phải gọi các con khỉ này theo tước vị đàng hoàng là Vạn Hộ Bá Hầu đại nhân, hay Vạn Hộ Công Hầu đại nhân v.v. Cái trò khỉ này làm cả triều thần giận tím mặt, nhưng vì sợ vua nên họ vẫn cố gượng cười để làm vừa lòng thiên tử và hoàng hậu. Bao Tự xem trò khỉ nhưng vẫn cứ ngồi trơ, không nở được lấy dù chỉ một nửa nụ cười. Vẫn không làm được cho hoàng hậu cười, U-Vương thất vọng, một hôm lên tiếng hỏi triều thần: - Các ái khanh ai có kế gì làm cho Hoàng hậu cười được thì trẫm sẽ thưởng cho một ngàn lượng vàng. Quắc Công là tên đại thần giỏi nịnh bợ nhất trong đám quan lại, hiến kế cho vua: - Tâu Hoàng Thượng, tiên vương ngày xưa có lập ra hơn hai mươi cái chòi dưới chân núi Ly Sơn, lại làm mấy chục cái trống thật lớn, phòng khi có giặc thì đốt lửa ở trên chòi và gióng trống lên để cho các chư hầu biết có biến mà đến cứu. Lâu nay thiên hạ thái bình không được nhìn thấy cảnh đốt lửa bao giờ. Nếu hoàng thượng muốn làm cho hoàng hậu được vui thích thì xin hoàng thượng và hoàng hậu ngự giá thưởng ngoạn phong cảnh Ly Sơn một chuyến. Ban đêm hạ thần sẽ cho bầy yến tiệc ở đó để hoàng thượng và hoàng hậu cùng vui hưởng, đồng thời thần sẽ cho đốt lửa tại các chòi để báo cho các chư hầu đem quân đến. Đùa cợt với các chư hầu một phen đâu có hại gì. Hoàng Hậu thấy vậy chắc sẽ thích lắm. U-Vương nghe tâu đắc chí vỗ tay khen: - Ý kiến rất hay! Khanh cứ thế mà làm. Chẳng phải Quắc Công có sáng kiến mới mẻ gì, mà đó là gợi ý Bao Tự đã mớm cho hắn từ trước: Bữa nào ta được ra chơi ngoài Ly Sơn xem đốt lửa thì vui biết mấy. Đây là bước chót trong kế sách ba bước tiêu diệt nhà Chu mà ông già Tự Đại đã công phu nghiên cứu và dậy cho con gái. Bước thứ nhất là làm khánh tận công khố bằng việc xây cất cung Quỳnh Đài, việc xé lụa để vui chơi, và những yến tiệc quanh năm suốt tháng trong triều đình. Thứ hai là gây bất mãn làm ly gián giữa các đại thần và thiên tử qua việc phong tước cho khỉ ngang hàng với các đại thần. Sau chót là màn đốt lửa tại Ly Sơn để huỷ diệt sự tin tưởng của các nước chư hầu. Mọi việc được an bài đúng như kế hoạch của Quắc Công đã tâu trình. U-Vương và hoàng hậu ngự giá tới Ly Sơn. Trịnh Bá Hữu là chú của vua, cũng là một đại thần cảm thấy nguy cơ nên lên tiếng can ngăn nhà vua. Nhưng U-Vương nổi giận mắng lại: - Ngày nay thiên hạ thái bình, cần gì đến các chư hầu cứu viện. Trẫm cùng hoàng hậu không có gì tiêu khiển, chỉ bỡn chơi với các chư hầu một chút có hề gì. Ngày khác có nguy cấp, can dự gì đến nhà ngươi mà nhà ngươi phải lo cho mệt trí. Màn đêm vừa buông, vua truyền lệnh khai mạc cái trò chơi đế vương của mình. Lửa lập tức nổi lên từ các chòi, soi sáng khắp bầu trời. Khói đen phủ kín núi rừng. Trống đánh, chiêng khua vang lừng bốn cõi. Vua và hoàng hậu trên ngự đài vừa uống rượu vừa nhìn tứ phía thưởng thức trò chơi. Các chư hầu tưởng có biến, lũ lượt vội vã kéo quân về Ly Sơn. Tới nơi thấy cảnh tượng mới biết mình bị lừa. Họ nhìn nhau ngơ ngác và lắc đầu hậm hực. Bao Tự đứng trên lầu nhìn các chư hầu ào ào kéo tới, rồi lại đùng đùng bỏ đi tức tối, thích chí vỗ tay cười vang. Nàng mừng đến rơi nước mắt, mơ ước giá mà lúc này đây, không phải tên hôn quân khốn kiếp, mà là Hồng Đức nghe được tiếng cười của nàng. U-Vương nhìn thấy hoàng hậu cười, rất lấy làm đắc chí, mừng rỡ nói: - Một tiếng cười của hoàng hậu đủ trăm vẻ đẹp. Thật là Trời không phụ ta. Trẫm thật là thỏa mãn. Chuyện này âu cũng là nhờ cao kiến của Quắc Công mới có. Trẫm phải giữ đúng lời hứa với hắn mới được. Nói rồi, vua truyền lấy vàng đủ ngàn lượng ra thưởng cho Quắc Công. / / / Không bao lâu sau, lần này thì có biến thật. Thân hậu (vợ U-Vương) là con gái của Thân hầu, người đang cai trị đất Thân, và thái tử Nghi Cửu là cháu ngoại của ông ta. Thân hầu bất mãn với việc phế lập con gái và cháu ngoại, nên mượn quân Khuyển Nhung kéo về tấn công kinh đô Kiểu Kinh. Triều đình đang trong lúc thái bình nên không có phòng bị gì. U-Vương lo xanh mặt, bấn loạn cả lên, dậm chân, đập bàn quát hỏi Quắc Công: - Khanh có kế gì chống giặc không, nói mau? Quắc Công run sợ quì sụp xuống tâu: - Xin Hoàng Thượng mau sai người ra đốt lửa ở Ly-Sơn để kêu quân cứu viện của các chư hầu. - Khanh chỉ có kế đốt lửa là giỏi. Thôi được, đi làm gấp. Vua truyền chỉ nhưng vẫn cảm thấy nghi ngờ. Quả thật, không một chư hầu nào đem quân đến cứu vì họ sợ lại bị mắc lừa như lần trước. Vua tôi bấy giờ bàn nhau chỉ còn chạy là thượng sách. Mọi người bàn chạy. Chỉ có thái sử Trịnh Bá Hữu, chú của vua, người trước đây đã can vua đừng đốt lửa gạt chư hầu, là còn mang quyết tâm cự địch. Ông đích thân sai người đốt lửa lên một lần nữa. Chư hầu vẫn không một ai đến. Kinh thành bây giờ trở thành hoàn toàn tuyệt vọng. Một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy xẩy ra: Người sợ thì bỏ của chạy để giữ lấy thân. Kẻ lều mạng thì cướp bóc để lấy của. Địch chưa đến nơi nhưng vua tôi đã bỏ thành mà chạy trước. Bá tánh lũ lượt bồng bế nhau chạy theo. Trịnh Bá Hữu phò vua đi trước chạy ra Ly-Sơn, giữa đường bị quân Khuyển Nhung chận đánh và bị giết. U-Vương cũng chết trong trận này. Bao Tự trước khi ra đi, truyền lệnh cho Quắc Công vào lãnh cung để thả Thân Hậu đang bị giam trong đó. Nàng có ý nhờ tay Thân hậu giết U-Vương và Quắc Công, tên loạn thần số một này, vì Thân hậu biết Quắc Công trước kia đã dâng sớ xin truất phế bà ta. Quắc Công nhận lệnh nhưng hắn không thi hành vì sợ nguy hiểm đến tính mạng. Khuyển Nhung người đông thế mạnh tiến vào kinh đô Kiểu Kinh như chỗ không người. Bọn man rợ này tha hồ mà vơ vét, cướp bóc, vì chúng phải sống trong một đất nước vô cùng nghèo nàn và lạc hậu. Thiếu thốn và đói ăn triền miên khiến chúng trở nên thèm khát hết mọi thứ. Chúng tàn phá không thương tiếc cả những tiện nghi mà vì lối sống đã quen thói rừng rú, chúng cho là hoang phí và xa xỉ. Kinh đô Kiểu Kinh dưới gót chân của quân chiếm đóng chẳng mấy chốc trở nên tan hoang, trơ trụi. Thân Hầu theo quân Khuyển Nhung mà vào thành. Thân phận kẻ rước cướp vô nhà bị đối xử không hơn gì một tên đầy tớ. Ông ta chẳng có quyền hành gì dưới chế độ ăn cướp của Khuyển Nhung ngoài cái quyền ông ta tự ban phát cho mình là thu giọn những đổ nát mà quân chiếm đóng đã gây ra. Ơn huệ độc nhất quân Khuyển Nhung ban cho ông ta là được phép vô lãnh cung cứu con gái ông. Ông ta nghe nói U-Vương đã trốn ra Ly-Sơn liền vội vàng đuổi theo để có ý khuyên vua hàng giặc hầu giữ lại ngai vàng. Ông gặp vua Khuyển Nhung ở dọc đường, và được nghe kể về chuyện U-Vương đã bị giết như thế nào. Lúc đó ông mới giật mình chợt tỉnh, thở dài não nuột, tự than: - Mình chỉ muốn mượn oai hùm để răn thiên tử, không ngờ lại thành ra kẻ phản quốc bất trung. Tiếng đời sẽ cười chê khó mà rửa được. Vua Khuyển Nhung nghe được, cười lên hô hố, chế nhạo Thân Hầu: - Quốc cựu thật là ngây thơ giống như con gái mới lớn, lúc nào cũng sợ bị dụ khị. Bao Tự ra khỏi thành, lén tách rời đoàn xa giá, giắt thái tử và một thị nữ trà trộn vào đám đông, ăn mặc như thường dân, theo đoàn người lánh nạn chạy về phía Bao Thành. Dọc đường, hai mẹ con bị Khuyển Nhung bắt. Chúng giết chết thái tử, còn Bao Tự thấy xinh đẹp, chúng định bắt đem về hầu trong trướng của vua Khuyển Nhung. Nhưng nàng tự vẫn mà chết. Hồng Đức đang ở Bao Thành nghe tin kinh thành bị thất thủ, vội trở về để đi tìm Bao Tự. Trên đường chàng chứng kiến bao nhiêu là thảm cảnh của chiến tranh. Những bãi chiến trường còn vương mùi tử khí. Binh khí vương vãi khắp nơi không ai thèm lượm. Xác chết rải rác không có người chôn. Từng đoàn người lôi thôi, lếch thếch, lang thang không định hướng. Chẳng được ai tiếp tế. Chẳng được ai giúp đỡ. Mọi người đều phải tự sinh, và không thiếu người đã phải tự diệt. Hồng Đức đi từ sáng tới chiều, hỏi thăm từng người, lật xem từng xác chết trên đường. May mắn chàng tìm được Bao Tự chết nằm bên bờ một con suối. Xem chừng nàng cũng mới chết trong ngày. Một mũi đao xuyên qua ngực, đúng vào tim. Đao vẫn còn nằm trong đó. Máu khô bết lại nhuộm đỏ hết xiêm y. Chàng cẩn thận lục xét chung quanh tìm Bá Phục, nhưng không thấy. Chàng gói xác Bao Tự lại tươm tất rồi xe về xóm Hạc Lâm. Mái tranh xưa vẫn còn đó nhưng dột nát và tồi tàn đi nhiều. Ông già Tự Đại lọm khọm chống gậy ra nhận xác con gái. Lão đã già đi, tiều tụy và thiểu não, vẻ tinh anh đã biến mất. Hai người chôn xác Bao Tự bên cạnh căn nhà. Ông già đem ra trao cho Hồng Đức một cái thúng nhỏ và một gói đồ. Cái thúng bằng mây đan rất tinh xảo. Gói đồ gồm một tấm nệm gấm nhỏ mầu hồng nhạt, và một vuông mền mỏng bằng lụa quí có thêu hoa ngũ sắc. Ông già trao cho Hồng Đức và nói: - Của nó. Nên đem theo cho nó. Hồng Đức đốt những thứ đó chung cùng với vàng mã khi hạ huyệt. Chàng thắp nhang, đứng trước ngôi mộ, nghẹn ngào nói với ông già: - Đây là người vợ yêu quí của con. Chúng con đã có giao ước. Nàng đã vì con mà hy sinh cả mạng sống. Ông già không giám nhìn thẳng vào cảnh tượng trước mắt, hai tay ông run run, mắt nhắm nghiền, giọng thều thào như hơi gió: - Không phải vì một mình công tử không thôi, mà còn vì thiên hạ bá tánh nữa. Bây giờ thì con gái lão đang đoàn tụ với cả hai người mẹ của nó rồi. Nó đã có thể vui cười thoải mái như ý nó. Đây là cái giá phải trả cho một mơ ước đạt thành. Công tử cũng đừng quá buồn, nên vui lên mới phải. Xóm Hạc Lâm đón đứa con thân yêu của nó trở về. Trời Hạc Lâm vẫn xanh, rừng cây xanh, đồi núi xanh, và dòng sông xanh quanh co uốn khúc. Đứa con của Hạc Lâm có cái tên Bao Tự đã hoàn thành xuất sắc một sứ mạng cao cả. Giờ đây nàng xứng đáng được yên nghỉ giữa cái không gian đầy mầu xanh tươi đẹp này của Rừng Hạc.

 

Ý NGHĨA MÀU ÁO TRẮNG (Xin gởi về quê hương và dân tộc Việt Nam với niềm tin quang phục) Đã là người, ai mà không tình cảm Tình cảm Quê hương, thân tộc, bạn bè Tình thiêng ấy nếu bị đời xúc phạm Người sẽ thấy lòng đau đớn, tái tê Trong đau khổ, có người quì, vuốt mặt Nhưng có ngươì dũng cảm đứng vùng lên Bởi máu họ, máu hào hùng, bất khuất Thà chết vinh hơn sống nhục gông xiềng Đã là người, ai không mong được sống Sống cuộc an lành, hạnh phúc, ấm no Được học, được nhìn, trời cao, biển rộng Được hưởng công bình, dân chủ, tự do ! Những quyền ấy, quyền làm người, căn bản (Dù có khác nhau ngôi vị nghèo, giàu) Nếu ai cướp hay manh tâm thủ đoạn Ta phải đứng lên, đối mặt, đương đầu Nhưng ta đứng lên không cần bạo động Chỉ mặc một màu ÁO TRẮNG TINH KHÔI Bởi MÀU TRẮNG thiêng liêng từng ý sống Màu trong lành, mẹ ủ thuở nằm nôi Và MÀU TRẮNG cũng đưa ta về đất Đem ta vào miên viễn với thiên thu Nên màu trắng là màu cao quí nhất Tinh khiết, thanh cao, không hận, không thù Bởi trong sạch nên tượng trưng công lý Cho Tự Do, cho Dân Chủ, Công bằng Và màu trắng còn hàm bao thiện chí Của tình ngươì trong thế giới văn minh Ta hãy mặc cho ta MÀU ÁO TRẮNG Mỗi tháng hai ngày, Mồng Một, Mười Lăm Là ta đã thét lên trong thầm lặng Đòi lại Tự Do, Dân Chủ, Công Bằng Ngô Minh Hằng RỪNG NGƯỜI ÁO TRẮNG (Gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam - riêng tặng những chiến sĩ đang thật sự dấn thân trong công cuộc đòi tự do, dân chủ cho dân nước ) Hãy tưởng tượng một RỪNG NGƯỜI ÁO TRẮNG Đang cư tang vì sông núi đau buồn Màu tang trắng, màu ĐẤU TRANH THẦM LẶNG Điểm mặt độc tài, giải phóng quê hương Hãy tưởng tượng từ nhánh cây, ngọn cỏ Từ chiếc xe, con phố chợ, đường làng Đều có chít một vành tang trắng nhỏ Nhưng lớn vô cùng, chấn động rền vang ... Hãy tưởng tượng nhà tù rồi vỡ nát Cho nhà thương, trường học, mái nhiều hơn Hãy tưởng tượng lửa thiêu tàn sa mạc Nhưng rừng cây CHÍNH KHÍ vẫn xanh rờn Hãy tưởng tượng lâu đài ma sập xuống Và tan hoang trong muôn tiếng reo mừng Hãy tưởng tượng cờ Vàng bay khắp nước Người vui bên người, mắt lệ rưng rưng ... Hãy tưởng tượng, nhà dân, dân sẽ ở Không sợ người quy hoạch, cướp tinh vi Hãy tưởng tượng một ngôi sao máu đỏ Vỡ tan tành sóng bạc cuốn trôi đi Hãy tưởng tượng ta nói điều ta nghĩ Không sợ vu oan, phản động, nhốt tù Tai chẳng phải nghe những điều phi lý Mắt hết nhìn nhau nghi hoặc, oán thù.. Hãy tưởng tượng một RỪNG NGƯỜI ÁO TRẮNG Đi giữa quê hương HÀ NỘI - SÀI GÒN Hãy tưởng tượng bình minh ngời ngũ sắc Tô điểm đất trời, rực rỡ nước non Tưởng tượng đó sẽ trở thành sự thật Sự thật tất nhiên, sự thật oai hùng Bởi MÀU TRẮNG, màu quật cường bất khuất Vì công bằng mà diệt bạo, trừ hung Bền lòng nhé, hỡi anh em, hỡi chị Hỡi toàn dân, mau dựng một phong trào Vì chính nghĩa, đập tan guồng thống trị Vì tương lai, xin ngước mặt, tự hào Ngô Minh Hằng

 

(Xin gởi đến quí bạn đọc và thân hữu một chuyện ngắn mới viết. Ý chính (main idea) là một câu chuyện có thật xẩy ra trong gia đình một người bạn của người viết. Người viết chỉ thêm mắm thêm muối (fictionalize) tình tiết thành một chuyện kể để hấp dẫn người đọc thôi. Mong rằng quí bạn đọc và thân hữu mua vui được trong chốc lát. Thành thật cám ơn) BÀ CỐ Bà Chiến dắt díu ba đứa con, hai trai một gái, theo dòng người xuôi Nam trong phong trào tự phát “Nam ra nhận họ, Bắc vô nhận hàng” sau ngày con sông Bến Hải được dán liền lại bằng một mảnh giẻ mầu máu tươi đỏ lòm. Ba đứa con bà nay đã khôn lớn. Thằng Tiến, con trai cả đi bộ đội bị thương, đã được phục viên. Cứ vài ba tuần mới thấy nó về nhà một lần, tụ tập bạn bè ăn nhậu, rồi lại đi biền biệt. Bà Chiến chẳng biết nó đi đâu. Bà hỏi, nó trả lời cụt ngủn: đi làm ăn. Chỉ có thế. Đứa con gái út tên Lan cũng gần như anh nó. Nó cũng đi, nhưng chỉ đi ban đêm. Ban ngày nó ở nhà. Công việc duy nhất ở nhà của nó là ngủ. Nó đúng là một chiếc đồng hồ người. Chiều nào cũng thế, nó ra khỏi nhà đúng vào lúc đèn đường bật sáng, và trở về sáng hôm sau khi người đưa thơ đến từng nhà khoảng 10 giờ, bắt đầu giờ ngủ của nó. Hai đứa con này hầu như không ăn cơm ở nhà bao giờ nên bà Chiến được rảnh. Một mình bà ăn uống sao cũng được. Còn người con trai thứ, thầy Sáu Hóa, thì đã đi tu từ mấy năm nay, được Nhà Chung nuôi. Nhưng từ hơn một tuần nay bà Chiến trở nên bận rộn vì có thầy Sáu Hóa ở nhà. Trong thời gian chờ đợi để được thụ phong linh mục, đức giám mục địa phận cho thầy Sáu về nhà ở với mẹ. Vì thế, bà phải lo cơm nước, giặt giũ, và làm những công việc lặt vặt mỗi khi thầy Sáu cần. Việc thầy Sáu cần cấp bách bây giờ là làm sao kiếm cho ra đủ số tiền mà mụ chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc đòi để thông qua vấn đề cho phép thầy được chịu chức. Vấn đề này mẹ con thầy đã bàn qua tính lại nhiều lần, nhưng chưa tìm ra được giải pháp. Bà Chiến nhất định thúc con phải tìm ra cho bằng được. Lan đi cả đêm như thường lệ. Sáng nay không hiểu sao nó lại mò về sớm. Nó vừa thò đầu vào trong nhà thì bà Chiến đã chộp lấy liền, hạch sách: - Bây giờ mới thấy mặt. Ngủ đâu? Sao dậy trễ thế? - Tại má thức sớm lại bảo con dậy trễ. – Con Lan trả lời mẹ. Thế là huề. Bà Chiến chẳng mấy khi giáp mặt con, bà muốn kiếm dịp để dậy bảo con gái cho bớt tính phóng túng bừa bã đi, nhưng xem chừng bà phải chịu thua ngay hiệp đầu. Không đấu lại được con gái, bà kiếm cớ để đuổi nó đi: - Mày lên lầu mời thầy Sáu xuống ăn sáng. Đồ ăn nguội hết rồi. Con Lan nghe nói “mời thầy Sáu” nó không phản đối, nhưng nhăn mặt hí một cái thật dài rồi chạy lạch bạch lên lầu, chõ miệng vào phòng thầy Sáu Hóa nói lớn: - Anh xuống ăn sáng, má làm xong rồi kìa. Thầy Sáu Hóa đi xuống, ngồi vào bàn ăn. Bà Chiến lại đem chuyện ra bàn. Bà hỏi thầy: - Việc này rồi thầy tính sao đây? - Tùy má thôi chứ con biết tính sao bây giờ. - Thầy Hóa trả lời mẹ. - Việc của thầy mà thầy bảo tùy má là tùy thế nào? Nghe giọng điệu giận hờn của mẹ, thầy Hóa đâm hoảng, đánh bạo thưa: - Thôi hay là con xin đức cha cho phép chờ cho đến khi nào có tiền thì hãy truyền chức. Bà Chiến nghe giận quá ngồi im một đống. Một lúc lâu sau thầy Sáu lại rụt rè nêu sáng kiến mới với mẹ: - Hay mẹ cầm tạm căn nhà này đi. Có được không? Ngược lại thì bây giờ người đâm hoảng lại chính là bà Chiến. Không phải bà không nghĩ đến giải pháp con bà vừa đề nghị, nhưng thực tế là bà thấy việc này không thể được. Cầm nhà thì dễ rồi, nhưng tiền đâu để trả lời hàng tháng. Ba tháng thôi không trả đủ thì ngôi biệt thự kể như mất toi. Thầy Hóa không hiểu chuyện đời nên nói liều. Bà không trách. Nhưng còn ý kiến hoãn chịu chức? Bà lo việc này mà hoãn thì bao nhiêu công lao của bà sợ phải đổ sông đổ biển hết. Trước hết là đối với thành ủy. Quyền hành nằm trong tay nó. Nó tưởng mình dở trò gạt nó thì sức mấy mà nó để yên. Nó cho ngâm tôm luôn thì làm gì được nó. Bà đã có kinh nghiệm đầy mình với tụi này rồi. Nó gạt người ta thì được chứ không bao giờ chịu để người khác gạt mình. Còn vấn đề nữa bà không thể không nghĩ tới. Tuy rằng chưa gởi thiệp báo chính thức, nhưng các chỗ quen biết xa gần đã được bà báo miệng trước cả rồi. Bây giờ biết ăn nói sao với người ta. Ai biết hoãn vì lý do gì. Rồi thì trăm điều trăm chuyện người ta dựng đứng lên. Chuyện nào cũng như là thật cả. Tốt thì chẳng thấy, nhưng xấu thì chắc chắn không thiếu. Mặt mũi bà còn để vào đâu. Nhưng cái quan trọng nhất vẫn là bà Chiến sợ thầy Sáu nản chí phá ngang thì công của bà từ trước tới nay sẽ là công dã tràng. Trước kia bà đã từng nói với Hóa: Con là cái gậy chống của má lúc má về già. Trong ba đứa con của bà, Hóa là đứa bà tin tưởng nhất. Bà nhất định phải vạch cho nó một con đường đi, hướng dẫn nó để sau này bà có thể nương nhờ vào nó. Thằng con lớn là Tiến có tài làm ra tiền, nhưng qúa liều lĩnh, sống rất bạt mạng. Bao nhiêu lần bà Chiến suýt đứng tim vì hành động bán trời của thằng con này. Ngược lại, Lan con gái út của bà không làm ra được đồng cắc bạc nhưng xài tiền thì lại cực giỏi. Bọc tiền của bà cất giấu ở đâu nó cũng mò ra để chôm chĩa. Hóa thì không thế. Nó luôn quanh quẩn ở bên cạnh mẹ. Học không giỏi nhưng được cái chịu khó. Đó là niềm hy vọng còn lại của bà Chiến. Bà bôn ba từ Bắc vô Nam cũng vì tương lai của con cái. Bí mật lớn của gia đình vợ chồng bà Chiến là có một người em làm sĩ quan nhẩy dù của chế độ miền Nam. Ông Chiến là bộ đội phòng không bảo vệ Hànội chết vì bom Mỹ. Trước khi chết ông mới tiết lộ cho vợ biết. Vì thế ngay sau khi Saigon thất thủ, bà vội vàng dắt díu ba đứa con vô Saigon tìm em chồng. Trong cảnh hỗn loạn của tình hình lúc đó, bà chẳng thể nào tìm lại được người thân. Bà đành dắt con ra nương tựa ông cha xứ của một họ đạo gần khu Bà Quẹo. Ông cha xứ cho bà một giải đất trống bên bờ một con lạch. Giáo dân trong họ đạo có lòng tốt dựng lên cho mẹ con bà một mái tranh để che nắng che mưa. Bà chẳng có nghề ngỗng gì nhưng được cái cần cù và chịu khó. Bà biến con lạch thành một khu trồng rau muống nước. Vào lúc mà rau muống và củ mì là hai món cao lương của mọi gia đình thì bà Chiến đúng là nhà kinh doanh có tài tiếp cận thị trường. Sau ít năm bà bỏ ống được một số vốn. Bà sang được một miếng đất chó ỉa trên đường Trương Minh Giảng cũ, gần lăng Cha Cả. Chuyện này cũng phải nói là nhờ thằng Tiến con bà. Thằng Tiến lúc này đã đi bộ đội. Nó chỉ là tên lính quèn, nhưng nó đóng quân hàm đại úy mang khẩu súng lục ngang hông dẫn mẹ đến phường thương lượng chuyện sang đất. Trong lúc cả miền Nam còn đang hoảng hồn co cụm lại, bọn phường khóm người Nam thấy ông đại úy oai phong đi cùng với bà mẹ thuộc diện gia đình liệt sĩ nói năng gì thì cũng răm rắp làm theo. Bà Chiến dúi cho bọn “cách mạng 30” đó mớ bạc giấy nói rằng để các chú uống cà phê, chúng còn cám ơn rối rít. Bà Chiến xây dựng được thành một ngôi biệt thự như hiện nay cũng phải mất năm bẩy năm trời. Cọc sắt và xi-măng thì “đại úy” Tiến rinh về. Nhân công thì vài ba thằng bạn công binh của Tiến rỉ rả làm từ từ, vật liệu có đến đâu làm đến đó. Nhưng cũng có nhiều thứ vật liệu phải mua sắm và khi cần phải có nhiều nhân công biết việc. Công đoan đó đòi hỏi phải có tiền. Cũng lại do sáng kiến liều mạng của thằng Tiến. Nó lại mang quân hàm đại úy với khẩu súng ngang hông, bỏ túi theo tờ chứng từ làm chủ miếng đất do phường cấp và bằng liệt sĩ ra ngân hàng để vay tiền. Chuyện này thì dễ dàng thôi. Nhà băng thấy có miếng giấy đất thế chấp nên mượn bao nhiêu cũng được. Việc hoàn trả ngân hàng thì đó là chuyện về sau. Từ khi thầy Hóa có bà mẹ nuôi bên Mỹ thì bà Chiến đã có tiền từ từ trả cho nhà băng. Cơ ngươi đó bà thật sự không trông mong gì thằng Tiến và con Lan giữ được. Giữ được ngày nào hay ngày đó thôi. Còn tương lai bà, bà Chiến đã tính cột chặt vào với người con trai thứ là thầy Hóa. Bà cố gắng cho Hóa ăn học. Bôn ba từ Bắc vô Nam dưới chế độ này, bà nghiệm ra được một điều là không phải con dòng cháu giống trong đảng thì không bao giờ ngóc đầu lên được. Cho rằng Hóa có đậu được bằng cấp đi chăng nữa thì cũng chỉ làm đầy tớ cho thiên hạ. Mà ra trường đã dễ gì kiếm được việc làm. Vì thế bà cần tìm một lối thoát vững chắc cho mẹ con bà. Lối thoát đó là cho Hóa đi tu làm ông cha. Đối với bà, tại Việt Nam không có cái nghề nào danh gía, nhàn hạ, vững chắc và sướng cái thân cho bằng làm nghề ông cha xứ. Nếu cao hơn nữa thì lại càng cao danh giá và ấm thân hơn. Trước mắt là học lên đại học, tiền bạc gia đình không phải lo. Thời buổi này cha mẹ lo cho con học mẫu giáo cũng đã muốn khùng rồi, nói gì đến học lên đại học. Học xong làm ông cha trông coi một họ đạo, mọi việc chỉ cần đứng chỉ tay năm ngón. Ông cha sai bảo ai dám không nghe. Cả ngày chỉ có việc sáng dậy làm lễ. Ăn có người hầu. Mặc có người lo. Ở nhà cao cửa rộng. Đám cưới, đám ma, đám gì cũng có tiền, chưa kể đến quà cáp biếu xén. Cần tiền đi Mỹ một chuyến là xài mệt nghỉ. Nhu cầu linh mục thì nhiều mà số người tình nguyện ít, nên không bao giờ bị thất nghiệp. Cán bộ đảng có khi còn lo mất chức chứ ông cha xứ thì không. Vấn đề kỷ luật trong giáo hội hiện nay xem ra cũng dễ dãi hơn trước kia nhiều. Ông cha có bồ có bịch không thiếu, thậm chí có cả vợ con đùm đề như cha Phan Khắc Từ cũng không thấy bề trên nào phiền trách. Thầy Sáu sau này làm cha rủi có sai quấy gì cũng không phải là điều đáng lo ngại đối với bà Chiến. Ngày trước thì chắc chắn là không được rồi. Làm ông cha xứ, điều đáng quan ngại nhất là cách thức phải đối phó với chính quyền để được sống yên ổn. Có nhiều linh mục ngoài Bắc cũng như trong Nam đi tù không có ngày về. Có vị chết trong tù. Bà chiến rất sợ chuyện đó sẽ xẩy đến cho con bà sau này. Nhưng được cái là bây giờ cũng đã khác rồi, may mắn là các đức cha đã sáng suốt tìm ra và chỉ dậy cho các linh mục cũng như giáo dân cách thức để được sống an toàn trong thời buổi khó khăn này. Sự chỉ dậy của đức cha địa phận và cả của cha xứ của bà rất thực tế và các ngài còn là mẫu mực để con chiên bổn đạo bắt chước. Chủ yếu là phải sống Phúc Âm ngay chính giữa lòng dân tộc mà không ở một chỗ nào khác. Điều này thì bà Chiến đã hiểu rõ. Ngay từ hồi còn ngồi bệt dưới đất học i-tờ ngoài Hànội, bà Chiến đã được học đảng là giai cấp công nhân, mà giai cấp công nhân là dân tộc Việt Nam, vậy đảng ta chính là dân tộc VN. Vì vậy sống trong lòng dân tộc có nghĩa là sống trong lòng bàn tay của đảng. Giản dị có vậy thôi. Cái thứ lý luận tam đoạn gian manh này ứng dụng vào thực hành là muốn cho được tốt đạo đẹp đời thì không gì hơn là thực hành lối sống đạo theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là chỉ cần tuân theo mọi đường lối chính sách của đảng và nhà nước là xong. Không có gì rắc rối cả. Những hiểu biết trên bà Chiến đã đem ra truyền thụ dần dần cho con trai. Thầy Sáu Hóa luôn tỏ ra là người mau tiếp thu. Còn một điều bà suy nghĩ mà không nói ra với con là sau này khi Hóa làm linh mục thì tất nhiên bà sẽ là bà cố, mẹ ông cha. Bà sẽ có địa vị trong cộng đoàn giáo xứ. Ông cha xứ cũng phải trọng nể bà. Giáo dân gặp bà cố ai nấy đều cung kính chào hỏi. Các buổi hội họp bà cố có chỗ ngồi đặc biệt. Tóm lại, bà sẽ không còn là người bị bỏ quên như trước đây nữa. Trường hợp bà theo con đến giáo xứ nào thì tất nhiên bà cố cũng được đối xử như ông cha. Vấn đề nó là như thế. Nếu thầy Hóa mà làm hỏng việc này thì thật là uổng công cả đời của bà. Trong tình thế này, bà Chiến cảm thấy không thể nông nổi. Bà cần phải mền dẻo với con mới xong. Bà nhỏ nhẹ giải thích với thầy Sáu: - Những sáng kiến của thầy má đều đã nghĩ tới, nhưng không được đâu. - Vậy má tính sao xin cho con biết. - Thầy Hóa xuống nước. Bà Chiến đã tính cả rồi nhưng bà vẫn muốn thăm dò tình hình trước, bà nói: - Hay là thầy thử lại viết thư sang Mỹ xem. Thầy Hóa ái ngại trả lời mẹ: - Nhưng mà người ta mới gởi về cho con đây mà. - Má biết thế. Má cũng thấy ngại lắm, nhưng hoàn cảnh đặc biệt chắc người ta cũng thông cảm. Thầy cứ viết thư thử coi. Nói là lần cuối cùng và chỉ dám mượn đỡ thôi. Má hứa với con má không dám bắt con làm phiền người ta lần khác nữa đâu. Thầy Hóa không còn dám có ý kiến gì khác. Ăn sáng xong, thầy lên phòng viết thư và bà Chiến đem ra bưu điện gởi đi ngay trong ngày. Ba ngày sau, cụ Nghị ở bên Mỹ nhận được thơ của thầy Hóa. Cụ cảm thấy lo lắng và thương thầy Hóa quá đỗi. May mà tiền cụ đã có sẵn. Cụ thu xếp đi gởi về cho thầy Hóa liền. Cụ Nghị sửa soạn xong, bước ra khỏi phòng, rồi đi thẳng xuống bếp. Bếp núc vắng tanh. Cụ lẩm bẩm một mình: Quái lạ, nó đi đâu rồi, đang làm bếp mà? Cụ lại trở lên các phòng, dáo dác đi tìm, vừa đi vừa cằn nhằn: Thế này thì trễ mất thôi, cần gấp lắm mà. Vẫn không thấy ai, cụ hé mở cửa sau, gọi với ra: - Con Minh đâu, có ngoài ấy không? Có tiếng con gái vọng vào: - Vô liền. Vô liền. Thấy Minh trở vào, tay cầm mấy trái táo vừa mới hái, cụ Nghị bảo con: - Mày chở mẹ ra chợ một chút liền có được không? - Gì mà gấp thế? - Tao có chuyện cần. - Mẹ mua sắm gì mà phải đi chợ? Cần gì nói con mua cho. Gìa rồi không ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe, tới lui hoài chi cho mệt. Nói vậy thôi chứ Minh vẫn chiều ý mẹ. Nàng chỉ lấy tay vuốt lại mớ tóc, sửa sơ lại bộ đồ trên người, rồi dìu mẹ ra xe. Nàng cẩn thận đặt mẹ ngồi lên ghế, cột giây seat-belt, đóng cửa lại, về ghế ngồi rồi mở máy. Trước khi cho xe chạy, nàng hỏi mẹ: - Đi chợ nào đây? - Thì đi chợ Senter chứ còn chợ nào nữa. 10 phút sau, hai mẹ con ra tới chợ. Cụ Nghị nói với con: - Thả mẹ xuống đây rồi về nhà hay có đi đâu thì đi. Chừng nửa giờ sau trở lại đón mẹ được rồi. Một thái độ khả nghi. Chưa bao giờ xẩy ra như thế. Minh thắc mắc trong đầu nhưng vẫn làm bộ như không nghi ngờ gì cả. Nàng ngừng xe trước cửa chợ. Đỡ mẹ xuống rồi lên xe phóng đi. Chạy xe vòng vòng chừng mươi phút, Minh quay trở lại chợ. Nàng đậu xe ở đàng xa rồi kiếm một chỗ khuất để quan sát. Một lúc sau nàng nhìn thấy mẹ. Cụ Nghị không từ trong chợ bước ra, mà từ một văn phòng chuyển tiền về Việt Nam ở gần đó. Minh vội vàng chạy đến đón đầu mẹ, cau mặt hỏi: - Mẹ đi đâu đây, sao nói đi chợ? Cụ Nghị như đứa trẻ ăn vụng bị bắt tại trận, ú ớ trả lời con: - Ờ thì tao đi chợ rồi ghé đây một chút hỏi thăm….. - Thôi mẹ đừng nói dóc nữa. Mẹ lại gởi tiền nữa phải không? Gởi cho ai? Bao nhiêu? Đưa receipt con coi. Mẹ nàng lúng túng ra mặt, không dám đưa receipt cho con. Minh vẫn còn biết tế nhị, không muốn làm mất mặt mẹ giữa đám đông. Nàng kéo mẹ ra xe, vừa đi nàng vừa hăm he: - Thôi lên xe con sẽ nói chuyện với mẹ sau. Nói thế chứ trên đường về Minh chẳng nói gì. Còn mẹ nàng thì ngồi im thin thít. Không khí thật nặng nề. Mãi đến chiều, Đông, anh của nàng đi làm về, có mặt cả ba mẹ con, nàng mới đem câu chuyện ra nói. Trước mặt mẹ và anh trai, nàng nghẹn lời nói như muốn khóc: - Con không thể chịu đựng nổi cái tình trạng này mãi được nữa. Mẹ thử suy nghĩ lại coi mẹ làm như thế có đúng không. Con nói ra thì bảo con hẹp hòi, bất hiếu. Nhưng con hết chịu đựng nổi nữa rồi. Đông không hiểu chuyện gì xẩy ra. Anh lo lắng hỏi em: - Có chuyện gì mà phải như thế? Chuyện gì? - Chuyện gì thì anh hỏi mẹ đi. – Minh hậm hực trả lời anh. Cụ Nghị đã tính giữ im lặng cho qua chuyện, nhưng rồi cụ cũng phải lên tiếng: - Có gì đâu, mẹ gởi về chút đỉnh ấy mà. - Mẹ lại gởi tiền nữa? Mẹ mới gởi hôm nào đây thôi. Hôm nay lại gởi nữa? – Đông hơi sẵng giọng với mẹ. Cụ Nghị cố lờ đi, không đả động tới số tiền mà từ tốn phân trần với các con: - Mẹ đã nói rồi. Chút đỉnh thôi chứ có nhiều nhặn gì đâu. Chuyện chẳng có đáng gì. Thầy Sáu sắp chịu chức rồi, tốn phí đủ thứ. Thầy mồ côi mồ cút thấy cũng tội nghiệp. Mẹ không lo thì ai lo cho thầy? Giúp cho thầy là giúp cho Giáo Hội, giúp cho Chúa đấy. Người ta làm cha rồi người ta cầu nguyện cho không ơn phước lắm sao? Các con phải suy nghĩ như thế chứ. Mẹ gìa rồi. Mẹ làm một chút công việc tích đức. Các con chiều mẹ một tí có được không? Minh và Đông nghe mẹ xuống nước, cũng cảm thấy tội cho me, không muốn rầy rà gì thêm. Cụ Nghi chỉ nói bấy nhiêu rồi cụ đứng lên đi khỏi. Cụ vừa bước ra cửa thì một mảnh giấy nhỏ từ trên người cụ rớt xuống thảm. Cụ không biết. Minh với nhặt lên. Thì ra là cái receipt gởi tiền. Nàng liếc mắt ngó qua, rồi đưa cho anh. Đông cầm miếng giấy đọc. Anh thở dài, mặt hơi biến sắc. Biết Minh cũng đang bàng hoàng như mình, Đông làm bộ thản nhiên vỗ vai cô em an ủi: - Thôi chuyện đã rồi. Em cũng đừng làm khó gì mẹ nữa. Mẹ cũng đã già rồi. Mọi việc để anh lo. Cứ tin tưởng anh đi. Chuyện sóng gío trong gia đình cũng như cơn bão. Gío mưa ập đến cũng mau, rồi qua đi cũng lẹ. Ồn ào một lúc, rồi gia đình lại trở lại bình thường. Đông vẫn ngày ngày đi làm. Minh vừa đi học vừa có bổn phận chăm sóc mẹ. Cụ Nghị hàng ngày đi nhà thờ đọc kinh, xem lễ. Ở nhà cụ làm công việc bếp núc hoặc lặt vặt giúp con gái. Công việc của cụ quanh năm suốt tháng chỉ có thế. Cụ không phải lo nghĩ chuyện cơm áo như hồi còn ở Việt Nam hay như những ngày đầu mới sang Mỹ. Cụ sống, ăn với con, ở với con, mỗi bữa chỉ lưng chén cơm, thức ăn có gì ăn nấy, quần áo đồ dùng có thế nào mặc thế nên chẳng tốn hao gì. Mỗi tháng Đông còn cho mẹ dăm ba trăm để cụ bỏ nhà thờ hay giúp cho những vụ quyên góp của các cha, các sơ từ Việt Nam qua. Tiền đó còn dư ra cùng với tiền già trợ cấp hàng tháng cụ gom lại để gởi về giúp cho thầy Sáu Hóa.Từ ngày còn ở Việt Nam và bây giờ sang đến Mỹ, mặc dù qua bao nhiêu sóng gío vùi dập, gia đình cụ Nghị sống rất bình thản và hạnh phúc. Tên Nghị thực ra không phải là tên của cụ, mà là chức vụ của chồng cụ ngày trước, ông Trần Quyết làm nghị viên hội đồng tỉnh. Ông nghị viên mất vì “bệnh tù” sau khi đi cải tạo về một thời gian. Lúc đó Minh mới chập chững biết đi. Đông học chưa hết cấp 3 phải bỏ học bươn chải với mẹ để sống. Gia đình cụ vì thế cũng được đi Mỹ theo diện HO. Sang đây Đông vừa đi làm vừa học. Anh cũng đã đậu được cái bằng kỹ sư. Là một chuyên viên giỏi nên chưa bao giờ Đông thất nghiệp. Đồng lương kiếm được cũng khá đầy đủ để có thể lo cho mẹ già và em gái đi học. Đã ngoài 40 rồi nhưng Đông chưa nói năng gì đến chuyện lấy vợ. Sự hy sinh bản thân của Đông là yếu tố chính giúp gia đình cụ Nghị sống thuận thảo đùm bọc nhau. Người ngoài nhìn vào ai cũng khen. Từ ngày được một hội đoàn trong giáo xứ giới thiệu, cụ Nghị nhận đỡ đầu cho một chủng sinh ở Việt Nam mới được nhận vào chủng viện. Chủng sinh này tên Hóa. Thầy Sáu Hóa lúc này đã học xong thần học năm cuối cùng và sắp được chịu chức linh mục. Cụ tỏ ra lo lắng và chăm sóc thầy Hóa có lẽ còn hơn cả con ruột. Không mấy tháng cụ không gởi tiền về cho thầy. Cụ nói để thầy giúp đỡ và lo cho người nghèo. Lần đầu tiên viết thư sang cho cụ Nghị, thầy Hóa cho biết thầy là một thanh niên mồ côi không cha, không mẹ, cũng không có anh em. Thầy học giỏi lại có chí hướng đi tu nên được cha xứ đỡ đầu và gởi vào chủng viện. Thỉnh thoảng thầy còn khoe với cụ khi thì thành lập ca đoàn cho giáo xứ này, khi thì bảo trợ cho lớp mẫu giáo tình thương ở họ đạo nọ. Những lá thư như thế đều có tác dụng đánh mạnh vào lòng đạo đức và từ tâm của cụ Nghị. Đôi khi nghe thầy Hóa phải lo những công việc to lớn và tốn kém, cụ còn quyên góp tiền bạc từ các bà trong giáo xứ mà cụ quen biết để gởi về cho thầy. Cụ nghĩ dịp lễ thụ phong và mở tay chắc thầy Hóa cũng phải tốn phí nhiều nên cụ đã chuẩn bị tiền bạc từ lâu và đã gởi về trước rồi. Nhưng đùng một cái lại nhân được thư thầy cho biết còn một chút trở ngại ở trên thành ủy, nên thầy cũng cần phải tốn phí thêm chút đỉnh. Thầy nói không biết nhờ cậy ai ngoài “mẹ cố” ở bên này. Tiếng mẹ cố nghe nó thân thiết làm sao. Danh từ này thầy Hóa mới dùng để gọi cụ Nghị lúc gần đây ngày thầy báo tin cho cụ thầy sắp được chịu chức linh mục. Cụ Nghị thấy mình sắp được làm mẹ ông cha nên có vẻ hãnh diện với những người quen biết lắm. Cụ khoe với mọi người. Vì thế, tinh thần cụ có phần phấn chấn hơn trước. Sức khỏe cụ xem ra cũng dồi dào hơn. Số tiền cụ gởi về cho thầy Sáu lo chạy trên ủy ban là tiền cụ dành dụm kín đáo có ý để đem về mừng cha Hóa ngày làm lễ mở tay, nhưng thấy thầy cần gấp nên cụ gởi về trước. Cụ nghĩ trong bụng cho thì bề nào cũng là cho, cho trước hay cho sau cũng thế. Người ta cần gấp mà. Cụ biết cụ gởi tiền cho thầy Sáu hoài các con cụ không bằng lòng. Nếu Minh và Đông biết cụ gởi một món tiền lớn chắc thế nào cũng có chuyện rắc rối. Mà quả đúng thật. Mười hai ngàn dollars từ Mỹ về đến Saigon, con đường dài nửa vòng trái đất mà chỉ mất không đến một ngày trời. Nó bay lẹ hơn máy bay phản lực. Người ta đem tiền đến trao tận nhà. Thầy Sáu Hóa nhận tiền trước mặt mẹ. Bà Chiến tức khắc phác họa một chương trình làm việc trong đầu rồi nói với thầy Sáu: - Mọi sự Chúa lo liệu cả. Thầy Sáu cứ ở nhà nghỉ ngơi. Tôi đi lên hầu Đức Cha ngay rồi ra thành ủy nữa là xong. Công việc của thầy đúng như đã dự liệu. Hôm nay bà Chiến ra ngoài ăn mặc tề chỉnh hơn mọi khi. Có thể nói là sang trọng nữa. Bà tự nhủ: bề gì cũng sắp làm mẹ ông cha rồi. Bà cố lên hầu đức cha mà ăn mặc luộm thuộm quá coi sao được. Vả lại còn phải gặp phó bí thư thành ủy nữa, mẹ ông cha không tươm tất? Nó khinh cho. Không để mất mặt như thế được. Bà tự tin vào lý luận của mình và bước lên taxi đi lên hầu đức cha. 2 giờ đúng. Đức cha vừa ngủ trưa dậy. Ngài còn đang dùng bữa “tea Ăng Lê” ở phòng ăn thì cha thư ký bước vào trình: - Kính thưa Đức Cha có khách. - Bà cố Chiến hẳn? - Thưa vâng, Đức cha quả thánh đoán. - Thần thánh gì, việc phải đến thì nó đến thôi. Tôi ra liền. Đức Cha cũng đang nóng lòng về chuyện thành ủy đòi làm tiền vụ truyền chức cho thầy Sáu Hóa. Ngài vội vã bữa ăn và ra liền. Bước vào phòng khách, đức cha cho bà Chiến hôn nhẫn xong liền tươi cười hỏi ngay: - Thế nào bà cố? Công việc đến đâu rồi? Bà Chiến được đức cha gọi là bà cố thấy sướng rên, nhưng vẫn làm bộ chữa thẹn trả lời đức cha: - Kính thưa đức cha, thầy Sáu chưa được phong chức mà con đã được đức cha phong chức trước rồi. Đức cha thật thà xác nhận: - Trước sau gì cũng phải vậy thôi. - Thân lậy Đức Cha, công việc con lo muốn hụt hơi luôn, nhưng Chúa thương mọi sự đều đã đâu vào đấy cả, chỉ còn đợi lệnh Đức Cha ban nữa là xong thôi. - Ô hay sao lại đợi lệnh tôi? Việc đạo thì giám mục lo, còn việc nhà nước người ta tính thế nào thì gia đình cứ tùy tiện làm thế nào đấy được thì làm chứ. - Con sợ lỗi phép đạo nên con phải xin phép Đức Cha trước rồi mới dám làm. Đức Cha không cấm thì xin phép Đức Cha con đi lo ngay. Ở nhà thờ, bà Chiến nghe nhiều người xì xào chuyện bà định đút lót chính quyền để thầy Sáu Hóa được chịu chức. Nhiều người cho là có tội nên bà còn lo ngại. Vì thế cần phải có phép của đức cha thì bà mới yên tâm. Tuy đức cha không nói rõ ngài có cho phép hay không, nhưng bà chiến hiểu là ngài đã đồng ý. Bà chỉ cần có thế là yên tâm để lo công việc. Bà cúi đầu chào đức cha rồi quay ngoắt bước ra, quên cả một lời cám ơn cho phải phép. Bà mừng rỡ bước ra khỏi phòng khách đức cha. Mặt tươi rói, bà đi như chạy ra đến đường. Bà nhẩy xô ra giữa lộ để kêu taxi khiến nhiều xe cộ phải ngừng lại. Chiếc taxi trờ tới để tránh một tai nạn giao thông, bà lách qua mở cửa xe nhẩy lên ngồi rồi dục tài xế: - Đi ủy ban. Anh tài xế không biết khách muốn đến ủy ban nào vì trong thành phố rộng lớn này có rất nhiều ủy ban. Hắn lại thấy bà Chiến ăn mặc sang trọng tưởng thuộc loại mệnh phụ phu nhân nên lễ phép hỏi. - Thưa bà ủy ban nào ạ? Bà Chiến chợt nhớ ra liền cải chính: - Không, thành ủy. Đi đường chốc chốc bà lại dục tài xế chạy cho mau. Đến nơi bà móc trong bóp ra một nắm tiền. Bà chẳng thèm đếm, đưa cả cho tài xế. Anh tài xế mừng húm yên trí hôm nay vớ được khách sộp. Anh cầm nắm bạc chỉ liếc qua, chẳng cần kiểm lại, nở một nụ cười hóm hỉnh với bà khách quí: - Bà đi mạnh giỏi. Chúc bà may mắn. Bà Chiến đã ra vào hết ủy ban này đến ủy ban nọ từ Hànội vô đến đây nên bà mạnh dạn theo thói quen và tự tin. Bà xuống xe và xăm xăm bước vào trụ sở. Tên công an gác cổng chận lại hỏi: - Chị đi đâu? - Cho gặp đồng chí phó bí thư. Tên công an trố mắt nhìn người đàn bà ăn mặc sang trọng từ đầu đến chân để đánh giá theo nghiệp vụ của hắn. Công tác chuyên môn này kéo dài chỉ vỏn vẹn trong nháy mắt. Thấy không có gì khả nghi, hắn hất hàm một cái đúng điệu công an hỏi bà Chiến những chi tiết cần thiết theo thủ tục xin tiếp xúc với thượng cấp của hắn để báo cáo vô trong. Tùy theo từng loại vấn đề xin gặp, tên bí thư có thể không tiếp, có thể bắt chờ một vài tiếng đồng hồ, cũng có thể thoái thác bằng cách trả lời “đồng chí phó bí thư mắc họp, khi khác trở lại”. Tuy nhiên loại vấn đề như vấn đề của bà Chiến bao giờ cũng mang số ưu tiên một. Bà mới chờ chừng vài phút thì đã có tiếng từ bên trong truyền ra qua chiếc máy intercom: - Cho người ta vào. Một tên công an khác từ trong cổng gác bước ra nói như ra lệnh: - Chị đi theo tôi. Bà Chiến là dân Bắc Kỳ 75 nên đã quá quen thuộc với lối xưng hô và cung cách làm việc mang đặc tính công an này của tên lính. Bà lẳng lặng đi theo hắn. Chỗ này bà đã tới một lần nhưng hình như hôm nay đã khác: rộng lớn hơn và đẹp hơn. Lần trước là lần bà đi theo mụ chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, người có trách nhiệm trực tiếp lo các vấn đề về tôn giáo của thành ủy. Cách đây hơn một tháng đích thân mụ dẫn bà Chiến lên gặp tên phó bí thư về vụ thầy Sáu Hóa chịu chức linh mục. Văn phòng thành ủy sau khi nhận được văn thư của tòa giám mục xin truyền chức linh mục cho thầy Sáu, đã làm việc với bên Mặt Trận và chính mụ chủ tịch Mặt Trận đã dẫn bà Chiến lên gặp tên phó bí thư. Lý lịch thầy Sáu đã được mặt trận tìm hiểu cặn kẽ bên công an và được mụ chủ tịch báo cáo với tên phó bí thư là đáng được chiếu cố: thành phần gia đình liệt sĩ, chấp hành tốt mọi luật pháp và chính sách của nhà nước, có anh đã thi hành xong nghĩa vụ quốc tế và đã phục viên, vào Nam sinh sống theo chính sách “rải mạ” của đảng, đương sự đã được Mặt Trận xây dựng và có nhiều biểu hiện tốt đối với đường lối và chính sách của đảng và nhà nước ta ….. Các điều kiện về lý lịch kể như không có gì trở ngại. Còn lại là vấn đề chính sách nữa mà thôi. Mụ chủ tịch Mặt Trận (chứ không phải tên phó bí thư) là người thi hành chánh sách của đảng và nhà nước. Mụ yêu cầu bà Chiến ủng hộ quĩ kiến thiết thành phố chút đỉnh nữa là xong. Mụ bảo đảm với bà như thế. Mụ ra gía là hai chục cây vàng hoặc mười ngàn dollars Mỹ. Việc này được hiếu là trách nhiệm của bên Mặt Trận và mụ chủ tịch có bổn phận thi hành. Ban bí thư thành ủy vì cần giữ sự liêm khiết cho bản thân và tính trong sáng cho đảng nên không dính dáng gì tới vấn đề tiền bạc. Bà Chiến năn nỉ xin bớt thì mụ nói tỉnh bơ: - Có vậy thôi mà còn bớt xén gì nữa. Diện chính sách mới được đảng ưu đãi đấy. Đã nói đến được đảng ưu đãi rồi thì bà Chiến đành phải chịu thua. Nhưng vẫn chưa hết. Mụ Mặt Trận còn thòng thêm một câu làm bà ngẩn người ra: - Còn vấn đề bồi dưỡng thì chị cho thêm hai nghìn được rồi. Chỗ chị em đấy. Bà Chiến đã sống trong lòng chế độ từ ngày còn trong bụng mẹ nên bà hiểu rõ thế nào là kiến thiết và thế nào là bồi dưỡng của mấy ông bà đảng viên. Nói huỵch toẹt ra mười ngàn kiến thiết là để xây biệt thự cho tên phó bí thư ngoài Vũng Tầu. Còn hai ngàn bồi dưỡng là tiền cò của mụ Mặt Trận lo chạy việc. Chuyện rõ ràng như thế chẳng thế nào che mắt bà Chiến được. Nhưng bà vẫn phải nuốt giận vào sâu trong bụng vì bà đang cần đến những tên này. Bà phải làm bộ tươi cười để tỏ ra mình hiểu biết chính sách, đồng thời cũng cần phân trần rạch ròi cho mụ Mặt Trận biết, bà nói: - Tôi cũng biết các đồng chí trong ban bí thư rất cần tiền để xây dựng những công trình này nọ cho thành phố, và bà chủ tịch đi chỗ này chỗ nọ cho tôi cũng không phải là không tốn hao, nhưng thực tình mà nói, kiếm cho ra số tiền đó ngay cũng không phải dễ. Mụ Mặt Trận cũng không phải tay vừa. Mụ chận họng bà Chiến liền: - Khó thì cũng có khó thật đấy, nhưng là khó với người ta kìa, còn với chị thì lại khác. Anh Hóa lên làm ông cha rồi đi Mỹ một chuyến thì lời gấp trăm gấp ngàn ngay thôi. Chị không thấy đấy, ông đức cha rồi các ông cha, ông nào đi Mỹ về mà không ôm về cả đống dollars. Chị thấy có đi đâu mà thiệt. Tôi nói có đúng không? Mụ chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc đang đi guốc trong tim gan bà Chiến. Cách tính toán của mụ sao đúng y chang cách tính trong đầu người đàn bà sành sỏi này. Việc năn nỉ bọn cán bộ cũng là nói cho có nói để xoa dầu vào cái tính tự cao tự đại của chúng một phần. Phần khác là kiềm chế bớt máu tham lam vô độ của chúng. Thế thôi. Giá chúng ra giá gấp đôi gấp ba thì bà cũng phải chịu, chả làm thế nào được. Tới văn phòng thành ủy, tên công an mở cửa cho bà Chiến vô rồi đóng cửa lại. Tên phó bí thư chỉ bộ salon mời bà ngồi chờ. Chỉ một thoáng sau cánh cửa lại xịch mở và mụ chủ tịch Mặt Trận bước vô. Mụ vô đề liền, tỉnh bơ nói với bà Chiến một cách sống sượng: - Chị mang theo đủ chứ? - Vâng, mang đủ. Bà Chiến vừa trả lời vừa mở bóp lấy gói bạc ra đặt lên bàn. Mụ chủ tịch Mặt Trận nhoài người vồ lấy nhét vào bóp của mụ. Bà Chiến ngơ ngác, phải nhắc nhở mụ: - Xin bà kiểm lại xem có thiếu đủ gì không. Mụ nhoẻn miệng cười thật đểu cáng hỏi lai: - Chị dám thiếu sao? Tôi dư biết là đủ rồi. Bà Chiến coi như công việc đã xong xuôi và không còn lý do gì để ngồi lại nữa. Bà toan đứng lên để ra về. Tên phó bí thư cảm thấy sượng sùng vì cái lối tiếp khách quá trơ trẽn của cán bộ thuộc quyền, hắn lên giọng vuốt ve và trấn an bà Chiến: - Chị Chiến lo công việc thật mau lẹ và chu đáo. Tôi biểu dương tinh thần hợp tác rất cao của chi. Chị cũng nên nhớ là gia đình chị là gia đình liệt sĩ, thuộc diện chính sách. Đảng và nhà nước ta luôn luôn tạo mọi điều kiện cho những người như mẹ con chị được thăng tiến trong đời sống xã hội. Đảng cũng biết chị mới vào Nam làm ăn. Cuộc sống vẫn còn có chỗ chưa được như mong muốn. Nhưng đây là tình hình chung. Trong lúc đất nước ta vẫn còn nghèo, nhân dân chưa được no ấm thì mỗi người cũng cần phải ý thức điều đó, đóng góp một chút tùy theo hoàn cảnh vào công việc chung. Gia đình chị là gia đình liệt sĩ, thuộc diện chính sách, một chút đóng góp của chị chỉ là tối thiểu. Tôi tin là đảng và nhà nước nói chung, và chúng tôi ở đây nói riêng sẽ đặc biệt chiếu cố đến hoàn cảnh của gia đình chị, nhất là anh Hóa sắp tiến thân lên một địa vị mới. Cho tôi và các đồng chí trong tỉnh ủy gởi lời chúc mừng đến tân linh mục. Chúng tôi chắc chắn sẽ còn gặpgỡ và làm việc với anh Hóa nhiều. Chị yên tâm. Mấy câu vuốt ve man trá nhưng cũng chứa đầy đe dọa của tên phó bí thư thành ủy vậy mà có phần nào hiệu lực. Bà Chiến đã dằn sự uất nghẹn xuống. Bà cám ơn tên tỉnh ủy và mụ Mặt Trận rồi tươi cười bước ra. Tên cán bộ hình như cảm thấy chưa yên tâm lắm, hắn còn dọa với theo: - Chắc chúng tôi cũng còn phải trao đổi nhiều với tân linh mục nữa đấy. Lễ truyền chức không còn gì trở ngại. Chỉ còn một tháng nữa là đến ngày như đã dự trù. Vấn đề đầu tiên còn lại là gởi thiệp mời. Gia đình chỉ mời những người trong bà con dòng họ hay làng xóm, còn các cấp trong chính quyền hay trong giáo hội là do tòa giám mục phụ trách mời. Riêng thầy Sáu Hóa còn phải nghĩ đến việc đối xử với bà “mẹ cố” ở bên Mỹ làm sao cho ổn. Đây không phải là vấn đề nhỏ. Cụ Nghị đã mấy lần hứa sẽ về Việt Nam tham dự lễ thụ phong và mở tay của thầy Sáu. Cụ nói thầy không còn cha mẹ anh em gì, mà cụ đã nhận thầy là dưỡng tử thì cụ phải về và có mặt trong ngày đại hỉ của thầy cho có mẹ có con để thầy khỏi tủi. Thầy Sáu không thể không gởi thiệp sang cho cụ Nghị, nhưng vấn đề là chỉ báo tin thôi hay mời cụ về dự lễ? Thầy đã trót nói với cụ Nghị về hoàn cảnh gia đình của mình nên vấn đề mới trở nên rắc rối. Cuối cùng thì thầy Sáu quyết định chỉ báo tin. Còn chuyện mời thì thầy khôn khéo nói rằng thầy rất muốn mời nhưng vì cụ đã già cả, việc đi lại khó khăn nên thầy không dám bắt tội cụ phải vất vả vì mình. Thầy Sáu hứa sau này nhất định sẽ có cơ hội sang Mỹ viếng an mẹ cố. Cụ Nghị không được mời nên cụ thường tỏ ra buồn bực. Anh em Đông và Minh biết điều đó nên cũng cảm thấy áy náy và bực bội. Hai anh em bàn nhau tìm cách nào để làm cho mẹ vui đồng thời có thể giúp mẹ tìm hiểu cho rõ vấn đề mà cả hai anh em lâu nay vẫn nghi hoặc. Đối với Đông thì đây là dịp may đã đến, anh có thể thực hiện lời đã hứa với em gái trước đây: mọi việc hãy để anh lo. Cứ tin tưởng anh đi. Ngay chiều hôm đó, Đông liên lạc về Saigon với một người bạn thân để sắp xếp chuyến đi về Việt Nam cho mẹ. Anh kể cho bạn nghe tất cả mọi chi tiết của vấn đề, ý định của anh, lý do mẹ anh về, rồi bàn những việc cần làm và phải làm như thế nào. Tóm lại là một kế hoạch tỉ mỉ và chu đáo. Thỏa thuận với nhau xong, Đông chạy đi lấy hai cái vé máy bay cho mẹ và cho em. Chiều đi làm về, việc đầu tiên của Đông là gặp mẹ anh. Anh giơ hai chiếc vé máy bay ra trước mặt mẹ khoe: - Có cái này cho mẹ này. - Cái gì vậy? - Cụ Nghị hỏi. - Vé máy bay cho mẹ về Việt Nam đấy. - Mẹ đã nói mẹ không có về mà. Xem ra cụ Nghị cũng chẳng lấy làm vui, Đông cố ra sức giỗ ngọt và khuyên giải mẹ để bà cụ đừng làm hỏng kế hoạch của mình. Anh trấn an rằng mẹ đi với em Minh chứ không phải đi một mình. Rằng anh đã sắp xếp chuyến đi cho mẹ đâu vào đấy cả rồi. Rằng mẹ về Saigon đã có người lo cho mẹ v.v. và v.v. Anh còn dèm pha với mẹ việc thầy Hóa không mời là việc thiếu cả tế nhị và lịch sự. Anh đồng ý với mẹ là không nên về, vì người ta ai cũng phải có tự ái. Tuy nhiên anh muốn mẹ về kỳ này là để mẹ đi chơi một chuyến. Anh lý luận rằng còn đi được thì nên đi, mai mốt dù mẹ có muốn đi cũng không còn đi nổi nữa. Đông còn đề nghị với mẹ nếu muốn, mẹ anh cứ đến dự lễ của thầy Hóa nhưng chỉ đi như tình cờ tham dự thôi, có gặp cũng không nên cho thầy Hóa biết mẹ là ai. Cụ Nghị nghe con trai thuyết một hồi xem chừng cũng đã mềm lòng. Cụ đứng dậy lẳng lặng đi vô phòng. Đông và Minh hiểu ý mẹ, hai anh em cứ tiến hành sắp xếp chuyến đi như đã dự trù. Đây là lần thứ hai cụ Nghị trở về thăm nhà. Nói là thăm nhà nhưng thực ra chẳng còn nhà đâu mà thăm. Gia đình, bà con cụ đã đi Mỹ hầu hết. Chỉ còn vài ba người ở lại nhưng đều là bà con xa. Mẹ con cụ về Saigon ở khách sạn như bạn của Đông đã sắp xếp. Những ngày đầu rảnh rỗi Minh đưa mẹ đi thăm bà con, bạn bè, rồi đi Nha Trang, Đà Lạt chơi. Đúng ngày cha Hóa ăn mừng mở tay, Minh đưa mẹ từ Vũng Tầu về Saigon và đến nhà chào mừng tân linh mục. Cha Hóa làm lễ mở tay tại một giáo xứ ngoại ô Saigon, vùng Bà Quẹo, nhưng tiệc mừng lại tổ chức tại tư gia bà cố Chiến trên đường Trương Minh Giảng. Minh cố ý đưa mẹ đến trễ. Tư gia là một biệt thự khá sang trọng có lầu. Chung quang khu nhà có tường xây bao bọc. Mặt trước là một dàn hoa bông giấy phủ kín bức tường làm cho căn nhà thêm quí phái và kín đáo. Qua một cái cổng sắt, Cụ Nghị và con gái được dẫn thẳng vô đi qua một hành lang rợp bóng cây, tới một cái sân sau khá rộng. Tất cả đều láng xi măng sạch sẽ. Một chiếc màn dù căng phủ kín cái sân. Trong ngoài chỗ nào cũng giăng hoa kết đèn, giống như một đám cưới sang trọng. Cỗ bàn bầy ngoài trời la liệt, khách khứa ngồi hầu như không còn chỗ trống. Phòng khách ở đàng sau trông ra cái sân này. Mẹ con cụ Nghị được dẫn vào phòng khách. Ở đây cũng bầy cỗ bàn nhưng dành cho khách VIP. Thấy có khách vô, cha Hóa và bà cố ra tận cửa đón tiếp. Sau khi nghe cha Hóa tự giới thiệu và giới thiệu bà cố, Minh lanh miệng lên tiếng ngay vì sợ mẹ rủi ro làm bể chuyện. Nàng nói đại khái mẹ con nàng ở Mỹ về, trú ngụ ở gần đây, nghe biết cha Hóa mới đựợc thụ phong nên tiện ghé chào mừng cha và thăm bà cố. Thấy khách là Việt kiều Mỹ, cha Hóa liền khoe cha cũng có bà cố nuôi ở bên Mỹ. Cha có mời mẹ nuôi về dự lễ nhưng bà mắc bận không về được. Cha Hóa và bà cố nài nỉ mời khách ở lại dự tiệc nhưng mẹ con cụ Nghị nhất định từ chối lấy lý do còn nhiều nơi phải thăm và nhiều chỗ phải đi nên không có thì giờ. Minh lấy trong bóp ra một phong bì trắng đã dán kỹ đưa cho cha Hóa, nàng nói chỉ là một chút quà mọn kính biếu cha để xin cha cầu nguyện cho rồi xin phép đưa mẹ ra về liền. Cha Hóa và cả bà cố tiễn mẹ con cụ Nghị ra đến tận cổng. Ngồi trên taxi trở về khách sạn, cụ Nghị thở dài chán nản nói với con: - Về thôi. - Đang về mà mẹ. – Minh không hiểu ý mẹ nên trả lời lạc đề. - Mẹ nói là về Mỹ. Minh biết mẹ mình thất vọng lắm. Nàng ôn tồn vuốt ve mẹ: - Còn những tuần nữa mới có chuyến bay. Con cố gắng đổi chuyến bay sớm hơn nhưng không biết có được không. Thôi mẹ đừng buồn. Mẹ thích đi chơi đâu con đưa mẹ đi. Con cũng không muốn ở lại đâu. Việc cụ nghị đòi tức tốc trở về Mỹ không làm cho Minh ngạc nhiên tí nào. Chính nàng cũng đang có tâm trạng như mẹ. Việc làm cho mẹ nàng khám phá ra được chân tướng của sự việc là mục đích của chuyến đi mà nàng đã đạt được. Nàng dự tính sẽ đổi chuyến bay để đưa mẹ trở về Mỹ càng sớm càng tốt. Gần về đến khách sạn, cụ Nghị vẫn cứ ngồi đăm chiêu ủ rũ. Minh sực nhớ lại vấn đề cái phong bì đưa mừng cho cha Hóa, nàng hỏi mẹ thăm dò: - Con biết mẹ đang nhớ đến cái phong bì mừng cho cha Hóa. Có phải không? Cụ Nghị vẫn ngồi lặng thinh, Minh nói thêm: - Mẹ bận tâm làm gì, chút quà nhỏ thôi mà, có gì đâu, mẹ biết không, để khỏi mất mặt với người ta thôi. Việc như thế mà cụ Nghị cũng không nhớ và không nghĩ đến, cụ tự trách mình nhưng không nói ra. Thấy con gái biết xử sự, cụ cảm thấy yên ủi, cụ quay sang nhìn con gái với vẻ hài lòng. Minh cho rằng thế nào mẹ cũng nghĩ đến số tiền trong đó, nhưng nàng thì nghĩ khác. Nàng tưởng tượng tối nay khi cha Hóa mở phong bì ra chắc sẽ phải chưng hửng và sượng sùng lắm. Quả thật, sự việc không ngoài tài đoán việc của Minh. Đến gần khuya cha Hóa mới hết khách. Cha mệt nhoài. Vì đãi ăn tại nhà mà chỗ tiếp khách lại chật chội nên chủ nhà phải chia số khách mời thành nhiều đợt. Mãi đến mười giờ đêm đợt khách cuối cùng mới ra về. Bà cố Chiến dục con đi nghỉ sớm để lấy lại sức. Việc giọn dẹp bà cố giao cả cho đám người phụ việc. Bà vào phòng riêng đóng kín cửa lại để kiểm điểm số tiền mừng. Những chiếc phong bì lớn nhỏ nằm xếp lớp đầy ắp một ngăn tủ đựng đồ của bà. Bà cố Chiến mở khóa đổ ra đếm, nhưng chỉ đếm được một phần nhỏ mà đã thấy mỏi mệt quá. Bà lại dồn trở lại hộc tủ để đợi đến mai. Bà cố thầm cầu xin được đủ số tiền mua cho tân linh mục một chiếc xe auto con đời mới thật xinh, thật đẹp để cha có phương tiện mà đi làm việc tông đồ cho Chúa. Cha Hoá nghe lời mẹ cũng uể oải bước lên cầu thang để lên lầu. Dưới nhà đã im hẳn tiếng ồn ào, thỉnh thoảng chỉ còn lại tiếng đũa chén va vào nhau do những người dọn dẹp vụng về làm kêu lách cách. Cha bước vào phòng đóng cửa lại. Bây giờ ngài mới nhớ đến chiếc phong bì mẹ con bà khách từ Mỹ về đưa mừng. Cha thọc tay vào túi. Chiếc phong bì vẫn còn nằm yên trong đó. Cha đã có kinh nghiệm và phân biệt rõ ràng các loại phong bì trong nước hay ngoại quốc. Các phong bì đưa mừng nếu là phong bì Việt Nam, cha đưa hết cho bà cố, còn phong bì ngoại quốc, cha cẩn thận đút vào túi. Cha rút ra chiếc phong bì trắng tinh. Ngài bật thêm chiếc đèn bàn rồi đưa lên soi. Cha lấy cái kéo, từ từ cắt đứt một đầu, đưa hai ngón tay vào bên trong, rút tờ giấy ra coi. Cha ngạc nhiên đến sững sờ. Chỉ là một tờ giấy trắng. Cha vội vàng mở ra đọc: Kính chúc cha sức khỏe và dồi dào ơn Thánh Chúa để cha chu toàn sứ mệnh Chúa trao ban cho cha. Bà quả phụ Trần Quyết USA. Đúng là tên của mẹ cố ở bên Mỹ. Không thể nào nhầm lẫn được. Cha Hóa xám mặt, ngã người xuống ghế. Tờ giấy rơi xuống bàn. Cha mệt lả. Chân tay rã rời. Mắt nhắm nghiền. Đầu óc cha xoay tròn. Cha không còn biết cha đang nghĩ gì nữa. Vừa lúc đó, bà cố Chiến từ bên ngoài mở cửa bước vào. Thấy con có vẻ mệt mỏi thái quá, bà cố hỏi: - Cha mệt lắm hả? Con giọn giường cho cha đi nghỉ sớm nhá. Cha Hóa nói thều thào như người sắp chết: - Hỏng hết rồi. - Cái gì hỏng? - Bà cố ngạc nhiên hỏi. - Bể bạc hết trơn rồi. Mẹ cố ở bên Mỹ về. Bà cố chộp lấy tờ giấy trên bàn, mở banh ra đọc. Bà đã hiểu ra. Bất chợt, bà cố đùng đùng nạt ông cha con: - Tưởng gì. Có vậy thôi mà làm như chết đến nơi rồi. Còn tôi đây, cha không có gì phải lo. - Nhưng người ta …….. - Không có nhưng gì hết. Người đàn bà đó từ nay không còn cần thiết nữa. Bà cố Chiến nói xong giận dữ xô cửa bỏ ra ngoài. Cha Hoá vẫn ngồi bất động, ngả đầu trên lưng ghế, hai mắt vô hồn nhìn lên trần nhà. Gian phòng im lặng như tờ, chỉ còn nghe tiếng chiếc máy lạnh kêu xè xè đơn điệu.

 

Ô hô! Xưa, truyền tụng bài Điếu Cổ Chiến Trường Văn, lời Lý Hoa đã dãi dầu cùng thiên cổ. Nay, đọc lại Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, tiếng Đồ Chiểu còn sang sảng với non sông.. Than ôi Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, trung nghĩa đài lửa thắp nhớ người xưa. Đất linh thiêng vùi chôn thân xác, đàn trận vong lời vẳng tận thiên thu. Vận nước đến thời Anh hùng mạt vận Hai mươi năm xây đắp quốc gia, ngăn sóng đỏ, cầm gươm giữ nước Một thế kỷ lầm than dân tộc, xót thế thời, đứng dậy dưới cờ. Tháng tư đen, bỗng tình cảnh xảy đàn tan nghé Ất mão buồn, chợt tang thương tan cửa nát nhà Phe Cộng hung hăng, đằng sau Nga Tàu tận tình chi viện, xe tăng súng lớn thừa thãi ê hề, đạn vung vãi tối trời mù đất Phía ta thế thủ, mặt trước đồng minh buông tay không giúp, máy bay tàu thủy thiếu thốn xăng dầu, pháo nhỏ giọt làm sao chiến thắng. Muốn tận tình tranh đấu, mà ai xui bỏ đất bỏ dân. Thích xông thành đụt pháo, ngỡ mình đang giữ xóm giữ làng. Cơ đồ mất, tướng quân tử tiết, sáng trưng tinh đẩu, linh hiển thành phúc thần phù hộ non sông Chính quyền tan, dân chúng khóc than, xâm lược đã bạo tàn bắt người cướp của. Nhớ linh xưa, Mắt biếc môi hồng, tuổi trai trẻ dập dồn bao ước vọng Đôi mươi xanh tóc, vào lửa binh đâu ngại chuyện tương lai Nhập binh ngũ phận kẻ nam nhi, đời chinh khách dậm ngàn vó ngựa Khoác nhung bào kiếp sống hào hùng, thân bách chiến xá gì sinh tử Mùa hè đỏ lửa, ghìm tay súng giữ vững biên cương. Mậu thân khói tỏa, vững niềm tin yên bình phố thị. Bảo quốc trấn không, cánh chim trời dọc ngang, đi chẳng về, không trung gửi xác thân. Đại dương vùng vẫy, kình ngư ngoài biển lớn, bỏ bến bờ, sóng dữ náu hình hài. Nào nhảy dù, biệt động,.. trăm trận xông pha, chiến tích đã nức danh kim cổ Nào thiết giáp, pháo binh,.. khí thế đằng đằng, sấm sét dáng lên đầu giặc dữ. Dù chán ghét chiến chinh, nhưng vẫn phải dấn thân binh lửa. Mặc tình đời đen bạc, mãi một lòng báo quốc trung trinh. Trí vốn quen sách vở thư sinh, bỏ trường lớp đi vào chiến trận. Óc chất chồng lục thao tam lược, có xá gì làn đạn mũi tên. Ghét giặc bạo tàn, pháo kích dân lành, chẳng xót thương đồng bào ruột thịt. Chở che bá tánh, chiến địa tung hoành, sức đoạn kình yên hàn xã tắc. Nào ngờ đâu Da ngựa bọc thây, chữ quy khứ đã đành về âm cảnh. Đầu non trăng dãi, câu chiêu hồn đủ sót chốn dương gian. Bàn cờ thua, ai cứu được giang san. Gặp vận bĩ, liều thân cùng đất tổ. Hỡi ơi! Một trận tan tành, Trời thủ đô vần vũ áng mây tang. Muôn dân thương khó, Đất phương nam ngơ ngác ngọn cờ hàng. Cuối tháng tư, thế cùng lực tận, tướng trấn ải cam đành tự tận, nêu tiếng thơm để lại ngàn sau. Đầu tháng năm, hàng ngũ vỡ tan, quân tử thủ liều tấm thân, đời anh kiệt ghi cùng sử sách. Mặt trận Sài Gòn ngày rã ngũ, cả tiểu đội nắm tay ôm lựu đạn, sống cùng nhau và chết cũng cùng nhau. Bản doanh Cần Thơ đêm buông súng, khắp quân đoàn lệ khóc thương tư lệnh, sinh vi tướng và tử cũng vi thần. Bao nhiêu người gục ngã, vạn chiến sĩ vô danh tô máu sắc cờ. Bấy nhiêu gương nghĩa dũng, muôn anh linh hiến mình vì nước hy sinh. Thế mà Đài tưởng niệm chỉ đành trong tâm tưởng, phận kẻ thua đâu có được đền miếu huy hoàng. Bức tượng Tiếc Thương đem dập vùi hoang phế, khiến nhân tâm đau xót thảm thương. Nghĩa trang Quân Đội đành rêu loang cỏ áy, xui quốc dân thống hận đoạn trường. Ở hải ngoại, muôn lòng tưởng niệm, cuối tháng tư thắp nén nhang thơm. Nơi lưu lạc, vạn lời thương cảm, đầu tháng năm đốt nến nhớ người. Vọng hồn trung liệt Ly rượu nồng tựa nước mắt muôn thu Tưởng đấng hùng tài. Chén nước trong giống suối nguồn son tạc. Thác chẳng cần đền miếu, sống muôn thuở lừng danh Sống không kể gian nguy, thác ngàn năm nhang khói. Ơi hỡi anh hùng chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Về đây chứng giám. Hồn linh thượng hưởng.