Tham Khảo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

1 - Các nhân vật chính của đoạn Phúc Âm Thánh Gioan hôm nay, có lẽ đúng hơn là những người ngoại đạo có cảm tình với Do Thái Giáo, hơn là những người Hy Lạp chính gốc như câu Phúc Âm đề cập: - “ Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Chúa, có mấy người Hy Lạp” ( Jn 12, 20). Bởi lẽ từ ngữ “ Hy Lạp” ( hellenes), trong các Phúc Âm, thường được dùng để chỉ những ai sống- theo phong tục và văn hoá Hy Lạp, khác với phong tục và văn hoá Do Thái lúc đó. Những người ngoại giáo Hy Lạp, hay những người ngoại giáo sống theo tập quán và văn hoá hy lạp đó là những nhân vật chính của đoạn Phúc Âm hôm nay, bởi vì nhân câu hỏi bày tỏ ý kiến muốn được “ gặp ” Chúa Giêsu của họ, - “ Họ đến gặp ông Philippe, người Bethsaida, miền Galilea và xin rằng: Thưa ông, chúng tôi muốn gặp ông Giêsu…” ( Jn 12, 21). mà Chúa Giêsu bắt đầu nói lên cho chúng ta biết ý nghĩa của cuộc sống chúng ta. Tiếp theo lời yêu cầu của họ, Thánh Philippe bắt đầu sắp xếp để họ được “ gặp” Chúa Giêsu: - “ Ông Philippe đi nói với ông Andrea. Ông Andrea cùng ông Philippe đến thưa với Chúa Giêsu” (Jn 12, 22). Động tác vừa kể của Thánh Philippe gợi lại cho chúng ta bối cảnh tương tợ của Philippe và Andrea, lúc hai người lần đầu tiên được Chúa gọi: - “ Hôm sau Chúa Giêsu quyết định tới miền Galilea. Người gặp ông Philippe và nói: “ Anh hãy theo Ta”. Ông Philippe là người Bethsaida, cùng quê với ông Andrea và ông Phêrô. Ông Philippe đến gặp ông Nathanael và nói: Đấng mà sách Luật Moisen và các ngôn sứ đã nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth” ( Jn 1, 43-45). Cũng như lần trước Philippe đi báo cho Nathanael về Chúa Giêsu, lần nầy Thánh Gioan cho chúng ta biết Philippe và Andrea đế gặp Chúa Giêsu để báo cho Người biết ước muốn của “ các người Hy Lạp…chúng tôi muốn gặp ông Giêsu ” ( Jn 12, 21). Kể lại động tác của Philippe lần trước, của Philippe và Andrea lần nầy, can thiệp để cho Nathanael cũng như để cho các người Hy Lạp “ gặp” Chúa Giêsu, Thánh Gioan có ý nói với chúng ta, vai trò của người tín hữu Chúa Kitô, đã được gặp Chúa, hãy tác động làm cho nhiều người đến với Chúa. Cách hành xử của Philippe lần nầy đối với những người Hy Lạp, ngược lại với lần trước, là thay vì đi báo cho Nathanael về Chúa Giêsu, “ …đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nazareth ” , lần nầy Philippe và Andrea đang sống cuộc đời cầu nguyện và đệ đạt ý nguyện của người khác với Chúa Giêsu: - “ Thưa ông, chúng tôi muốn gặp ông Giêsu. Ông Philippe đi nói với ông Andrea. Ông Andrea cùng ông Philippe đến thưa với Chúa Giêsu…” ( Jn 12, 22). Cuộc sống của người môn đệ Chúa Giêsu là cuộc sống rao giảng, loan báo và nhân chứng Chúa Giêsu cho người khác, như Philippe đã đến báo cho Nathanael về Chúa Giêsu, nhưng cũng là cuộc sống nội tâm, cầu nguyện, nói lên ước vọng của mình và của anh em với Người. 2 - Đọc câu trả lời của Chúa Giêsu, cảm tưởng đầu tiên của người đọc, dường như không đáp ứng lại những gì hai môn đệ đến xin Người cho việc các người Hy lạp muốn gặp Ngài: - “ Chúa Giêsu trả lời: Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” ( Jn 12, 23). Người không trả lời muốn hay không muốn gặp họ, mà đề cập đến biến cố quyết định của cuộc sống trần gian của Người, “đã đến giờ ” , của cuộc khỗ nạn và sống lại, như hình ảnh của hạt lúa được gieo vào lòng đất: - “ Thật vậy, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác ” ( Jn 12, 24). Đọc câu trả lời vừa kể, chúng ta có cảm tưởng như là nhân dịp lời yêu cầu, xin được gặp Người của các người Hy Lạp, Chúa Giêsu dựa lên đó để nói lên một chủ đề khác quan trọng hơn: sự chết không phải là kết thúc động tác của Chúa Giêsu ở trần gian và là minh chứng cho lời giảng dạy của Người đều hư vô, không thực hiện được. Trái lại, cái chết của Người một cách nào đó, cùng chung với sự vinh quang sắp đến, chứng tỏ cho thấy hiệu quả sinh được nhiều hoa trái giữa loài người: - “ …còn nếu chết đi, mới sinh được nhiều hạt khác ” ( Jn 12, 24). Câu trả lời của Chúa Giêsu là một dụ ngôn ngắn ngủi về hạt lúa giống được gieo xuống đất, để nói lên một câu trả lời gián tiếp cho các người Hy lạp dân ngoại muốn được “ gặp ” Ngài. “ Nhiều hạt khác” mà cái chết của Người sẽ sinh ra, những người dân ngoại Hy Lạp có thể “ nhìn thấy ”, “ gặp được ” với ý nghĩa đầy đủ hơn bằng cặp mắt đức tin, tin vào Người và vào lời Người giảng dạy. Và đó là những gì Thánh Gioan thường ghép đôi cả hai ý nghĩa, “ thấy và tin ” cùng một động tác trong Phúc Âm Ngài: - “ Chúng tôi đã được thấy vinh quang của Người. vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một tràn đầy ân sủng và sự thật” ( Jn 1, 14). - “ Bấy giờ môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin” ( Jn 20, 8) - “ Chính môn đệ nầy làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” ( Jn 21, 24). Như vậy, những người dân ngoại Hy Lạp vừa kể, hiểu theo câu trả lời gián tiếp của Chúa Giêsu, có thể “ gặp” được Người, để “ thấy và tin ” , qua các kết quả “ sinh được nhiều hạt khác” của cuộc khỗ nạn và biến cố Phục Sinh đem lại. Trả lời như vậy, cũng có thể vì trong cuộc sống trần gian của Người. Ngài chú tâm tìm kiếm và quy tựu các con chiên lạc nhà Israel hơn: - “ Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi ” ( Mt 15, 24). Cũng vậy, Người ra chỉ thị cho các môn đệ trong lúc Người còn ở với họ: - “ Anh em đừng đi về phía dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samaria. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel ” ( Mt 10, 5-6). Nhưng sau cuộc Khỗ Nạn và Phục Sinh, “ …còn nếu chết đi, mới sinh được nhiều hạt khác ” , Chúa Giêsu muốn cho mọi người, mọi dân nước đều “ gặp” được Người, “ thấy và tin ” Người, trở thành môn đệ Người: - “ Thầy đã được giao toàn quyền trên trời, dưới đất. Vậy, anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em…” ( Mt 28, 20). 3 -Hai câu 25-26 đề cập đến cách thức “ theo” Chúa Giêsu, cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng là câu trả lời cho thỉnh nguyện các môn đệ nói lên ước vọng của các người Hy Lạp ngoại giáo: - “ Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời nầy, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ qúy trọng người ấy ” ( Jn 12, 25-26). Câu Phúc Âm về hạt giống gieo xuống đất chết đi, để có thể sinh nhiều hạt khác và câu vừa trích dẫn đặt nặng trọng trách sứ mệnh của người môn đệ Chúa Ki Tô, đến nỗi coi thường mạng sống, của cải qúy báu nhứt của con người, nói lên thái độ phải có của người môn đệ Chúa Giêsu, để đem lại kết quả những gì đòi buộc của sứ mệnh. Hai động từ “ yêu qúy ” “ coi thường ” mạng sống trong đoạn Phúc Âm vừa trích dẫn không nên hiểu theo nghĩa đen của văn mạch. Thậm chí có nhiều bản dịch trước đây dịch với ý nghĩa đối ngược “ yêu quý ” “ ghét bỏ ” loại trừ, khiến không ít người có thể hiểu lầm cho rằng mạng sống con người và của cải trần gian, ngay cả các giá trị khác của con người, như mối liên hệ huyết thống cha mẹ, vợ chồng, con cái cũng chỉ là những thực tại vô giá trị, cần phải “ ghét bỏ, coi thường” . Ai muốn theo Chúa, không thể gắn bó với của cải vật chất: - “ Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” ( Mt 6, 24). Mà ngay cả những mối liên hệ xã hội, tình cảm, huyết thống cũng phải từ bỏ: - “ Ai đến với Ta mà không ghét bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta được ” ( Lc 14, 26), Bởi vì tất cả là những thực tại vô giá trị, cuộc sống phù du, và đối ngược lại với Thiên Chúa! Ki Tô giáo là một tôn giáo tiêu cực, xem mọi thực tại trần gian đều vô giá trị, là “ cảnh phù du ” vô nghĩa, nếu chúng ta hiểu cặp động từ “ yêu qúy và coi thường” hay “yêu qúy và ghét bỏ ” theo nghĩa đen của đoạn văn. Cách hiểu không đúng đắn đó đã được chính Thánh Gioan cảnh cáo: - “ Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng, mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối. - …ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối và đi trong bóng tối, mà chẳng biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm cho mắt họ mù quáng” ( 1 Jn 2, 9-11). Không những vậy, người môn đệ Chúa Ki Tô không được ghét bỏ anh em mình, còn nói gì đến các mối liên hệ thân hữu, yêu thương, huyết thống, mà ngay cả kẻ thù của mình cũng không được ghét bỏ: - “ Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” ( Lc 6, 27). Vậy thì cặp động từ “ yêu qúy và ghét bỏ ” hay “ yêu qúy và coi thường” có liên quan đến cuộc sống ở đời nầy và sự sống đời đời trong tương lai không thể hiểu theo nghĩa đen tuyệt đối trong cách chọn lựa đời sống nầy và loại bỏ đời sống kia, lựa chọn Thiên Chúa và ghét bỏ của cải, cha mẹ, vợ con, anh em, bạn hữu như cách hiểu theo tối thượng đẳng ( superlatif), cho bằng theo cách hiểu so sánh của văn phạm ( comparatif). Thiên Chúa là giá trị tuyệt đối, là cùng đích cuộc sống hạnh phúc viên mãn và bất diệt mà mọi con người đều phải đạt đến. Đặt Thiên Chúa, giá trị tuyệt đối trên cán cân chọn lựa với các giá trị trần thế, con người dĩ nhiên phải dành mọi ưu tiên để chọn lấy Chúa, và “ coi thường ” hay coi có giá trị thấp hơn các thực tại trần thế. Bởi lẽ mọi tạo vật trần thế được Chúa dựng nên đều là những thực thể có giá trị giới hạn. Nói như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô không xem các thực tại trần thế là những đồ vật và thực tại vô giá trị, vô nghĩa. Bởi lẽ chính Thiên Chúa khị dựng nên vũ trụ, mỗi ngày sau công trình tạo dựng, Người đều nhìn lại mãn nguyện về công việc tạo dựng mình đã làm trong ngày. Chính Thiên Chúa xác nhận những gì Người dựng nên “ là đều tốt đẹp”, không phải một lần, mà là sáu lần như vậy: - “ Thiên Chúa thấy thế là điều tốt đẹp” ( Gn 1, 4.10.12.18.21.25). Và rồi thực tại trần gian “ là điều tốt đẹp” , có giá trị, Chúa dựng nên cho con cái Người, chớ không phải là những đồ vật vô giá trị, phế thải, đáng “ ghét bỏ ” . Vì chúng có giá trị, “ là điều tốt đẹp”, nên Chúa mới giao cho con cái mình “ trồng trọt và trông coi ”: - “ Đức Chúa là Thiên Chúa, đem con người đặt vào vườn địa đàng, để cày cấy và canh giữ đất đai ” ( Gn 2, 15 ). Đối với con người, giá trị của con người càng nổi bậc hơn nữa, bởi lẽ không những Chúa dựng nên con người giống hình ảnh mình, có trí khôn ngoan và lòng ao ước hạnh phúc tự do, phản ảnh trí khôn ngoan và tự do vô tận của Người: - “ Thiên Chúa sáng tạo con người giống hình ảnh mình, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” ( Gn 1, 27), mà con người còn là tạo vật duy nhứt được Chúa “ thổi hơi sức sống của Người cho” , để con người biết bắt chước hành động sống giống như Người: - “ Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khi vào mũi, và con người trở nên sinh vật ” ( Gn 2, 7). Đó là chúng ta chưa đề cập đến con người còn được Chúa nâng lên địa vị con của Người ( Mt 6, 9) và ban cho gia tài được tham dự vào bản tính Thiên Chúa ( 2 Pt 1,4). Con người với địa vị và giá trị như vậy, chắc chắn không thể là đồ vật phế thải, đáng bị khinh bỉ, “ghét bỏ, coi thường” , đê tiện hoá và tha hóa, buôn bán con người như súc vật. Nói tóm lại, con người và các thực tại vật chất có giá trị của mình được Chúa ban cho, là những thực tại, tạo vật, “ là điều tốt đẹp” được Chúa ban cho. Thiên Chúa dựng nên trần gian với giá trị của chúng, “ là điều tốt đẹp” và giao cho chúng ta “ trồng trọt và canh giữ đất đai ” , để tạo cho chúng ta và anh em chúng ta môi trường, điều kiện và hoàn cảnh sống xứng đáng với địa vị con người, hình ảnh của Thiên Chúa, được Thiên Chúa ban sức sống cho “ thổi sinh khí vào lổ mũi ” , là con Thiên Chúa và được tham dự vào bản tính Thiên Chúa. Đó là bổn phận của mỗi con người, của người tín hữu Chúa Ki Tô. Người tín hữu Chúa Ki Tô không “ ghét bỏ, coi thường ” , khinh dễ các thực tại trần gian là “ cảnh phù du ” , vô giá trị. Nhưng trong cuộc sống của mình, nhiều khi trong việc chu toàn sứ mạng chứng nhân và rao giảng Nước Thiên Chúa, người môn đệ Chúa Ki Tô phải đặt Thiên Chúa là giá trị tuyệt và chương trình cứu rỗi của Người phải được lựa chọn ưu tiên, trước mọi giá trị thực tại trần thế. Hy sinh các giá trị trần thế để “ phục vụ Thầy ” , thực hiện sứ mạng đem tình thương Chúa Cha đến cho mọi người và sự cứu rỗi Thiên Chúa ban cho anh em mình, người môn đệ Chúa Ki Tô cũng được Chúa Cha quý mến, vinh danh, như Người vinh danh Chúa Giêsu: - “ Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ qúy trọng người ấy ” ( Lc 12, 26). Đó là giá trong cuộc sống, người tín hữu Chúa Ki Tô phải lựa chọn, để phục vụ Chúa và phục vụ anh em.

 

Đoạn Phúc Âm Thánh Gioan Chúa Nhật hôm nay là đoạn kết luận cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicodemo, gồm ba phần: - câu 14-16: sứ điệp Chúa Giêsu : nói với ông Nicodemo và những ai nghe Người, được nhấn mạnh bằng cách lập đi lập lại điệp khúc: “để ai tin vào Người, thì đưọc sống muôn đời…, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. - câu 17-18: cũng cùng sứ điệp trên nói với Nicodemo, dưới hình thức tiêu cực, bằng động từ “ lên án”: “ Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian…, Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án…, những kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa…”, - câu 19-21: diễn tả tiếp nối các việc làm ngay chính, diễn ra trong ánh sáng của Thiên Chúa và việc làm đen tối, gian dối ẩn nấp trong bóng tối: “ …nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì việc họ làm đều xấu xa…, ai làm điều ác thì ghét ánh sáng… để các việc làm của họ khỏi bị chê trách. Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng…các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa”. Đoạn Phúc Âm Thánh Gioan hôm nay nằm trong phần các câu kết thúc cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicodemo, trong đó Chúa Giêsu muốn nói với ông sứ điệp Người muốn khuyên bảo ông và những ai nghe Người. Hiểu như vậy, chúng ta thấy các câu 14-16 là câu Chúa Giêsu trả lời cho câu hỏi được Nicodemo đặt ra về việc làm sao con người có thể được tái sinh ra trong Thánh Thần ở câu Jn 3, 9: - “ Làm sao chuyện ấy có thể xảy ra được? ” ( Jn 3, 9). Một biến cố vượt quá tầm mức tự nhiên như vậy, “ tái sinh ra trong Thánh Thần, hoàn toàn biến đổi con người để con người có thể đến và diện kiến Nước Thiên Chúa, có thể thực hiện được, khi “Con Thiên Chúa sẽ được giương lên cao”: - “ Như ông Moisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời ” ( Jn 3, 14). 1 - Việc so sánh con rắn đồng được giương lên trong sa mạc với biến cố Chúa Giêsu sẽ chịu chết trên Thánh Giá, được hiểu ý nghĩa của rắn đồng được giương lên là hình ảnh dân Do Thái được cứu rỗi: - “ Ngay cả khi dân Chúa bị thú dữ hung hăng xông vào và rắn trường ra cắn chết, thì cơn thịnh nộ của Ngài cũng không kéo dài vô tận. Họ phải chịu hành hạ ít lâu, như là chịu một lời cảnh cáo; rồi họ được một dấu hiệu cứu thoát, nhắc họ nhớ đến luật Ngài truyền. Vì bất cứ ai ngước lên đều được cứu, không phải do bởi vật họ nhìn, nhưng do chính Ngài, Đấng Cứu Độ muôn người hết thảy ” ( Sap 16, 5-7). Biến cố Chúa Giêsu , “được giương lên” , đối với Thánh Gioan là biến cố cứu rỗi quyết định cho mọi người, được Ngài nhắc đến trong hai câu Phúc Âm khác: - “ Người bảo họ: Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết Ta là Đấng Hằng Hữu” ( Jn 8, 28), - “ Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” ( Jn 12, 32). Tuy nhiên ý nghĩa của các ngôn từ vừa kể, “được giương lên…Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta”, không thể chỉ hiểu theo ý nghĩa hạn hẹp, giới hạn vào biến cố Chúa Giêsu chịu tử hình trên Thánh Giá, mà gồm cả tiến trình Chúa Giêsu “ lên ” cùng Chúa Cha, khởi đầu từ biến cố Tử Nạn, Phục Sinh và Thăng Thiên “ lên” cùng Chúa Cha, kết thúc tiến trình song song và ngược chiều được thực hiện trước đó, tiến trình Con Thiên Chúa Nhập Thể, “ xuống ” để sống bên cạnh, sống giữa và sống với nhân loại, được Thánh Gioan làm cho nổi bậc trong Lời Tựa của Phúc Âm: - “ Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa Và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Ngôi Lời đã trở nên người phàm Và cư ngụ giữa chúng ta…” ( Jn 1, 1.14). Tiến trình cứu rỗi nhân loại “ Nhập Thể ” và “được giương lên cao”, đi về với Chúa Cha như vừa thấy của Chúa Giêsu, nếu để ý chúng ta thấy được là Thánh Gioan dùng từ ngữ để nói lên đó là tiến trình cứu rỗi “ cần phải được thực hiện”, - “ Con Người cũng sẽ phải được giương lên cao như vậy ” ( Jn 3, 14). Ý nghĩa vừa kể, chúng ta có thể gặp trong Phúc Âm Thánh Marco, để nói lên cuộc khỗ nạn của Chúa Giêsu cũng nằm trong chương trình cứu rỗi theo thánh ý Chúa Cha, cần phải được thực hiện: - “ Con Người phải chịu nhiều đau khỗ, bị các kỳ mục, thượng tế và các kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại ” ( Mc 8, 31). Hình ảnh Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa “ sẽ phải được giương lên”, được Thánh Gioan viết ra liên tưởng đến sách tiên tri Isaia: - “ Nầy đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” ( Is 52, 13). Như vậy, Thánh Gioan nhận ra Chúa Giêsu vẫn là Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa, như Ngài đã nhấn mạnh cho chúng ta ở Lời Tựa, ngay cả lúc Người chịu khỗ nạn. Đúng hơn đối với Thánh Gioan, lúc Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, “được giương lên cao”, chính là tột đỉnh của công trình cứu rỗi cho hết mọi người, “ Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” hay “các ông sẽ biết Ta là Đấng Hằng Hữu”. Lúc Người chịu khổ nạn “ phải được giương lên cao” trên Thánh Giá là lúc Người hoàn tất công trình cứu chuộc để cứu mọi người, “ Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” và lúc Người “ phải được giương lên cao”, khi trở về cùng Chúa Cha, ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang, là lúc Người hân hoan đón nhận tất cả anh em nhân loại của Người về với Người: - “ Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 20). Chúa Giêsu chịu khỗ nạn chết đi và lên trời , ngự bên hữu Chúa Cha, “ phải được giương lên ”, không có gì hơn là Người hoàn tất chương trình thánh ý Chúa Cha, đã được Thánh Kinh tiên báo. Điều đó nói lên một cách rõ ràng hơn nữa Người đang thực hiện đồ án tình thương của Chúa Cha đối với con người chúng ta. - “ Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ” ( Jn 3, 16). 2 – Chúng ta có thể nói đoạn Phúc Âm hôm nay được viết ra để làm nổi bậc lên tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Tình thương đó được thể hiện qua câu Phúc Âm chúng ta vừa đọc. Thiên Chúa không tiếc gì hết đối với con người, “…Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một ” của Người cho chúng ta, để cứu chúng ta. Một cách khác để chứng tỏ tình thương trổi vượt đó, được Thánh Gioan viết ra bằng cách lập đi lập lại các “ mệnh đề chung cục” ( propositions finales): - “ …để ai tin vào Người…, để thế gian nhờ Con của Người…, để thiên hạ thấy rõ các việc làm của người ấy đã được thực hiện trong Chúa” ( Jn 3, 15.16.17…) Và mục đích cuối cùng của các mệnh đề chung cục vừa kể là để nói lên cho biết thánh ý Chúa, không ai có thể lầm lẫn được: - “ …Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì sẽ được sống muôn đời…Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ” ( Jn 3, 15- 16 ). Tình thương của Thiên Chúa được tỏ ra cho con người một cách minh bạch như vậy, không ai có thể lầm lẫn được, “ sẽ được sống muôn đời…; khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời; nhờ Con của Người mà được cứu độ ” ( Jn 3, 15-17). Nhưng đọc các câu kế tiếp của Phúc Âm, chúng thấy thái độ chọn lựa của con người, hay ít nữa là của một số người, là thái độ bất cần hay ngược lại đồ án Chúa muốn cho họ. Một vài người từ chối tiếp nhận, để che giấu hành động đen tối, xấu xa, gian manh của họ. Những người khác tiếp nhận, vì họ sống lương thiện, công chính, không có gì phải che giấu: - “ Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta chọn bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa”. - “ Những kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” ( Jn 3, 19-21). Đọc câu 17 ở phần hai, chúng ta thấy rằng Chúa Cha ban Con Một của mình cho thế gian ( Jn 3, 16) là do tình thương của Người thương yêu thế gian tận tình, đến để “ ban sự sống muôn đời ” cho thế gian, chớ không phải để lên án thế gian: - “ Quả vậy, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án ( Hy Lạp, krino ), nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ ” ( Jn 3, 17). Nhưng đọc những câu kế tiếp, chúng nhận thức được môt cái gì đó bí ẩn trong đoạn Phúc Âm. Mặc dầu mục đích tình thương của Thiên Chúa sai Con của Người đến “ không phải để lên án” (krino), mà để thế gian “ nhờ Cơn của Người mà được cứu độ ”. Tuy vậy, chính trước sự hiện diện của Chúa Giêsu, nhiều người đã bị lên án: - “ những kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa…ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chọn bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” ( Jn 3, 18.20). Suy nghĩ kỷ hơn, chúng ta thấy rằng sự chọn lựa quyết định và tối hậu, chính là tin vào Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hay không tin, chỉ có vậy. Bởi vì chỉ có nơi Chúa Giêsu con người mới có thể biết được và tiếp nhận tình thương của Chúa dành cho mình và đời sống hạnh phúc viên mãn và vĩnh cữu, - “ …để ai tin vào Người thì được sống muôn đời…; Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để nhờ Con của Người, mà được cứu độ ” ( Jn 3, 15.18). Hiểu như vậy, chúng ta có thể nói một cách nôm na rằng Thiên Chúa đã làm hết cách, đã không tiếc bất cứ điều gì đối với chúng ta, chính Con Một của Người, Người cũng không tiếc ban cho chúng ta hay nói như Thánh Gioan: - “ Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” ( Jn 1, 14). Như vậy phần rỗi của chúng ta, việc “được sống muôn đời …; mà được cứu độ ”, chúng ta phải tự chính mình quyết định lấy. Thiên Chúa dựng nên chúng ta giống hình ảnh Người, giống như Người ( Gen 1, 27), có trí khôn ngoan và lòng ước muốn tự do phản ảnh lại con người của Người. Nhưng Thiên Chúa không thể can thiệp, áp bức, hạn chế tự do của con người, dầu cho hạn chế, áp bức để ban cho chúng ta “được sống muôn đời ”. Đó cũng là những gì Thánh Tommaso d’Aquino nói với chúng ta: - “ Thiên Chúa dựng nên chúng ta không cần có chúng ta, nhưng không thể cứu chúng ta nếu không có chúng ta” . Còn nữa, nếu để ý đọc kỷ đoạn Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy trong cách diễn tả cử chỉ “ lên án” hay “…được sự sống muôn đời…; nhờ Người mà được cứu độ…” , Chúa Giêsu không dùng các động từ ở thì tương lai, mà là ở thì hiện tại và quá khứ: - “ …để ai tin vào Người thì được sự sống muôn đời ” ( …afin que tout homme qui croit, ait par Lui la vie éternelle) ( Jn 3, 15), ( La Sainte Bible, L’École Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1401) - « …những kẻ không tin, thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một… » (…qui ne croit pas, est déjà condamné, parce qu’il n’est pas cru » ( Jn 3, 18) ( id.). Qua cách dùng động từ ở thì quá khứ và hiện tại như vừa kể, chúng ta thấy rằng Thánh Gioan có ý nói với chúng ta tin vào Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa, để thi hành thánh ý Người hay từ chối lời dạy bảo của Chúa Giêsu, có lối sống gian dối, ẩn nấp trong bóng tối, « vì các việc họ làm đều xấu xa » ( Jn 3, 19), là cử chỉ hành xử lựa chọn hay từ chối « sự sống muôn đời ». Đó không phải chỉ là phần thưởng trong tương « hầu ngày sau được hưởng phước đời đời » , được hay không được trong tương lai, mà là chọn hay từ chối cuộc sống, hội nhập vào đời sống với Chúa ngay trong hiện tại , ngay ở thời điểm chúng ta đang sống: - « Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy » ( Jn 14, 23). Chúng ta, người tín hữu Chúa Ki Tô, là người đang « tin vào Chúa Ki Tô để được sống muôn đời », nếu vì lý do nào đó mà chúng ta chúng ta chưa hội nhập vào cuộc sống mà Chúa đang ưu ái ban cho chúng ta, thời gian Mùa Chay, chúng ta hãy hối cải, mở rộng tâm hồn đón nhận và thông hiệp với Chúa, khởi đầu cuộc sống mà Thánh Gioan dùng động từ ở thì hiện tại ( temps présent) để thúc giục chúng ta hãy bắt đầu ngay : - « …để ai tin vào Người, thì được sống muôn đời » ( Jn 3, 15). Bắt đầu sống với Chúa, hưởng hạnh phúc « cuộc sống muôn đời » với Người, ngay từ giờ phút nầy. Đó chính là ân huệ và địa vị đặc biệt của người tín hữu Chúa Ki Tô !

 

Đặc tính của đoạn Phúc Âm Thánh Gioan nay, tường thuật lại việc Chúa Giêsu đuổi những người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, là việc Ngài nhắc đến thời gian liên quan đến Lễ Vượt Qua của Do Thái để làm bối cảnh, trong khi các tác giả Phúc Âm Nhất Lãm khác chỉ đề cập đến biến cố có liên quan đến cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu: - “Gần đến Lễ Vượt Qua của người Do Thái… ” ( Jn 2, 13) Thời gian tính trên, “ gần đến Lễ Vượt Qua ”, được ghi lại để diễn tả lòng tin của nhiều người, nhưng các niềm tin đó không phải là những gì Chúa Giêsu kỳ vọng nơi họ: - “…có nhiều kẻ tin vào danh Người, bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. Nhưng chính Chúa Giêsu không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, và không cần ai làm chứng về Con Người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người ” (Jn 2, 23-25). Trong khi tường thuật lại các biến cố xảy ra ở Giêrusalem, Thánh Gioan chen vào sau mỗi đoạn tường thuật những dòng suy nghĩ của các môn đệ: Sau khi tường thuật lại việc xua đuổi các người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, các môn đệ suy nghĩ: - “Các môn đệ Người nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây đã phải thiệt thân” (Jn 2, 17). Cũng vậy, sau cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các người Do Thái, các môn đệ nghĩ đến: - “Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Các vị tin vào Thánh Kinh và lời Chúa Giêsu đã nói” (Jn 2, 21-22). * Trước hết chúng ta thử tìm hiểu một vài giải thích cho hành động của Chúa Giêsu đối với các người buôn bán và những kẻ đổi tiền trong Đền Thờ; *- kế đến ý nghĩa cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các người Do Thái; *- và sau cùng ý nghĩa các câu bình luận của các môn đệ được Thánh Gioan thuật lại. 1 - Trước hết sự hiện diện của các người buôn bán và những kẻ đổi tiền trong Đền Thờ Giêrusalem lúc đó được giải thích bằng nhu cầu của các tín hữu hành hương đến Đền Thờ cầu nguyện và dâng lễ phải mua thú vật ở đó để dâng lễ toàn thiêu và phải đổi tiền địa phương của họ ra đồng tiền duy nhứt, được chấp nhận tại đền thờ, để cúng hiến và trả thuế thập phân. Loại tiền tệ duy nhứt được chấp nhận đó, do giáo quyền sở tại lúc đó cho in ra tại Tiro. Đối với Chúa Giêsu, quy chế tế tự, giết chiên bò làm lễ toàn thiêu, cúng hiến bồ câu, cũng như đổi tiền bắt buộc để dâng cúng và trả thế thập phân mà giáo quyền Do Thái cho là cần thiết và hợp tình, hợp lý và hợp đạo lúc đó, là những quy chế hạ thấp phẩm giá con người, lạm dụng và làm mất đi tính cách thiên thánh của nơi tế tự: - “ …đừng biến nhà Cha Ta thành nơi chợ búa ” ( Jn 2, 16). Ngoài ra phản ứng đối với những lạm dụng và cách hành xử bất xứng vừa kể đối với nơi thiên thánh để thờ phượng, hành động của Chúa Giêsu cũng muốn nói lên cho mọi người biết thời gian thờ phượng theo hình thức, tập tục, câu nệ và nô lệ vừa kể của Cựu Ước đã chấm dứt, liên tưởng đến những gì tiên tri Zaccaria tiên báo về thời gian cứu rỗi đến: - “Mọi nồi niêu ở Giêrusalem và ở Giuda sẽ được thánh hiến cho Đức Chúa các đạo binh.Tất cả những người đang hy lễ sẽ đến lấy những nồi niêu đó mà nấu nướng. Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong nhà Chúa các đạo binh nữa” (Zc 14, 21). Đó là thời gian cứu rỗi đã đến: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong nhà Chúa các đạo binh nữa”. Như vậy với động tác xua đuổi các người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, Chúa Giêsu có ý nói cho dân chúng biết thời gian thờ phượng Chúa trong nô lệ, câu nệ, bó buộc của luật lệ Cựu Ước đã chấm dứt và chính Người là sự cứu rỗi đang hiện diện ở giữa họ. Nếu chú ý chúng ta thấy câu nói của Chúa Giêsu lúc trách móc các người buôn bán và đổi tiền: - “ Đem tất cả những thứ nầy ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Ta thành nơi chợ búa” ( Jn 2, 16), Chúa Giêsu không tỏ ra thái độ tiêu cực đối với Đền Thờ, tượng trưng cho tôn giáo lúc đó, được Người gọi là “ nhà Cha Ta ”, là nơi thiên thánh để thờ phượng Thiên Chúa. Có chăng, Người tỏ thái độ tiêu cực đối với hành động của những người buôn bán và đổi tiền, cũng như đối với giáo quyền lúc đó đã tạo nghị thức tế tự, chiên bò, súc vật và tiền bạc đổi chác cộng hưởng, “ biến nhà Cha ta thành nơi chợ búa ”. Như vậy thái độ của Chúa Giêsu là thái độ bênh vực ý nghĩa và giá trị thiên thánh của tôn giáo. Có lẽ hiểu được ý nghĩa đó, Chúa Giêsu hành động như người có uy quyền tôn giáo để bênh vực ý nghĩa và giá trị tôn giáo, nên các người Do Thái mới đặt vấn nạn với Người: - “Ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như vậy?” ( Jn 2, 18). Hay hỏi cách khác, ông hành động cho thấy là thời gian quy chế tế tự Cựu Ước không còn giá trị, và thời điểm của Đấng Cứu Thế đã đến như đã nói, “ Vậy ông có dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi để ông hành xử như Đấng Cứu Thế không?”. Trong câu trả lời, Chúa Giêsu dùng động từ ở thể “ mệnh lệnh cách” ( impératif): - “ Các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại ” ( Jn 2, 19). Dùng động từ ở thể “ mệnh lệnh cách ” vừa kể, câu Phúc Âm không thể chỉ hiểu theo ý nghĩa dưới thể “điều kiện cách” ( conditionnel), “nếu các ông có phá hủy…Ta sẽ xây dựng lại ”, mà là một mệnh đề mệnh lệnh tính có tính cách thách thức, tương tợ như một vài đoạn các tiên tri thách thức dân Do Thái trong Cựu Ước: - “ Hỡi con cái Israel, cứ đến Betel mà phạm tội! Cứ đến Galgala mà phạm tội nữa đi! Sáng sáng hãy tiến dâng hy lễ, và cứ ba ngày lại dâng cúng thuế thập phân” ( Am 4, 4), để đưa họ đến thảm bại và nô lệ ngoại bang. Hiểu như vậy, câu nói của Chúa Giêsu ở thể “ mệnh lệnh cách ” có ý nghĩa thách thức rằng, các người cứ tiếp tục cách ăn thói ở như vậy đi, các người sẽ làm cho Đền Thờ bị hủy diệt. Theo văn mạch, chúng ta thấy với câu trả lời vừa kể, - bên ngoài chúng ta có cảm tưởng rằng Chúa Giêsu từ chối trả lời lại cho việc “ông lấy dấu nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như vậy?” ( Jn 2, 18), - nhưng trên thực tế Người đã cho họ câu trả lời, hàm ý khuyên bảo họ rằng cách thức sống tôn giáo của họ, với sự đồng thuận của giáo quyền lúc đó, là cách hành xử ngược lại ý muốn của Cha Ngài và ngược lại mục đích của Đền Thờ được xây dựng: - “ Đem tất cả những thứ nầy ra khỏi đây và đừng biến nhà Cha Ta thành nơi chợ búa!” ( Jn 2, 16). Và điều đó nói lên cho họ rằng cách hành xử của Người, đuổi kẻ buôn bán và người đổi tiền bạc ra khỏi Đền Thờ, chính là cách hành xử theo ý muốn của Thiên Chúa. 2 - Kế đến ngoài ra hình thức có tính cách tố cáo và thách thức của câu nói, câu trả lời của Chúa Giêsu hàm chứa lời an ủi và niểm hy vọng cứu rỗi: ngay cả với tội lỗi con người có thể phá hủy Đền Thờ đi nữa, Đền Thờ đó sẽ do chính Người xây dựng lại: - “ Các ngươi cứ ( cố chấp mà) phá hủy Đền Thờ nầy đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại ” ( Jn 2, 19). Điều vừa kể cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa con người không thể bị tính tình ương ngạnh, bất chấp của con người mà có thể xoá bỏ được. Tình thương bao la của Thiên Chúa và lòng rộng lượng khoan dung hải hà của Người bao phủ lên tội tỗi và vượt thắng lòng ương ngạnh bất chấp của con người, “ - các ông cứ phá hủy Đền Thờ nầy đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại ”. Đọc Phúc Âm Thánh Gioan, rất thường khi chúng ta gặp được Thánh Gioan dùng từ ngữ với hai hoặc nhiều ý nghĩa. Ý nghĩa thông thường của câu Phúc Âm vừa kể là ý nghĩa “ …nội trong ba ngày Ta “sẽ xây dựng lại Đền Thờ ”, mà các ngươi phá đi ”. Đó cũng là ý nghĩa mà những người đối thoại với Chúa Giêsu lúc đó hiểu như vậy. Bởi đó họ chất vấn Người: - “Đền Thờ nầy phải mất bốn mươi năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao ?” ( Jn 2, 20). Nhưng động từ “ relever ” ( en trois jours je le releverai, La Sainte Bible, L’École Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1400), cũng như động từ Ý Ngữ « risorgere » ( e in tre giorni le farò risorgere, La Bibbia di Gerusalemme, EDB, Bologna 1986, 2270), ngoài ra ý nghĩa “ xây dựng lên” còn có ý nghĩa là “ trỗi dậy, đứng lên lại ”. Chính ý nghĩa vừa kể của Phúc Âm Thánh Gioan làm định hướng cho người tín hữu Chúa Kitô đọc câu trả lời của Người trong văn mạch liên quan đến ngày Chúa Nhật Phục Sinh vinh hiển của Chúa Giêsu, “…nội trong ba ngày, Ta sẽ làm cho trỗi dậy ”. Và đó cũng chính là lời bình luận tường thuật lại ý nghĩa đối với các môn đệ, cho chúng ta hiểu được tâm tình các ngài: - “ Nhưng Đền Thờ Chúa Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó với họ. Họ tin vào Kinh Thánh và vào lời Chúa Giêsu đã nói ” ( Jn 2, 21-22). Câu Phúc Âm vừa kể là câu được Thánh Gioan viết lại với suy nghĩ sau biến cố Phục Sinh. Trên thực tế lúc đó, không những các người Do Thái mà cả các môn đệ Chúa Giêsu cũng chưa hiểu nổi lời Người giảng dạy. Lời giảng dạy của Người chỉ trở nên minh bạch dễ hiểu với ánh sáng Phục Sinh: - “ Vậy khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói với họ điều đó…”. Dầu vậy, đọc Phúc Âm trong viễn ảnh Phục Sinh, Thánh Gioan cũng đã gợi ý cho chúng ta trong mấy câu trước đó, trong câu 17, sau khi Chúa Giêsu xua đuổi người buôn bán và kẻ đổi tiền khỏi đền thờ, ngụ ý cho thấy hậu quả của việc làm: - “ Các môn đệ nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con đây sẽ phải thiệt thân” ( Jn 2, 17). Câu nói vừa kể được Thánh Gioan trích lại từ Thánh Vịnh 69: - “ Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân Lời kẻ thoá mạ Ngài, nay chính con hứng chịu” ( Ps 69, 10). Tuy nhiên so câu của Thánh Vịnh 69 “…mà con phải thiệt thân ”, Thánh Gioan biến đổi thì hiện tại của động từ “ con phải thiệt thân”, thành thì tương lai “ mà con đây sẽ phải thiệt thân” ( Jn 2, 17), có ý giải thích hành động của Chúa Giêsu trong việc thanh tẩy Đền Thánh liên quan đến biến cố khổ nạn Thánh Giá sắp tới. Chúa Giêsu vì hoàn toàn trung thành với ý nghĩa thuần túy tôn giáo cao đẹp của Đền Thờ , “ nhà Cha Ta”, nơi thiên thánh Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người, mà ra tay hành động, sẽ bị lên án tử hình. 3 – Và chính đó cũng là mục đích để Người trỗi dậy từ cõi chết, tiếp tục mạc khải Thiên Chúa hiện diện ở giữa con người, mặc dầu phải trải qua đoạn đường Thánh Giá: “ - khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và vào lời Chúa Giêsu ” ( Jn 2, 22). Như vậy trong Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta có thể kết hợp ý nghĩa của câu Thánh Vịnh 69, tiên báo cuộc khỗ nạn của Chúa Giêsu, “ mà con đây sẽ phải thiệt thân ” ( Ps 69, 10) , và câu tuyên bố của Chúa Giêsu về biến cố Phục Sinh: “…nội trong ba ngày, Ta sẽ cho trỗi dậy” ( Jn 2, 19 ), được xem như là nội dung của đức tin các môn đệ Chúa Giêsu: - “ Vậy khi Người cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó ”. Với các mối liên kết vừa kể, Thánh Gioan có ý nói với chúng ta khi suy niệm và chú giải Thánh Kinh (Cựu Ước), không những chúng ta phải chú giải dưới ánh sáng các lời giảng dạy của Chúa Giêsu, “ …nhớ lại Người đã nói điều đó”, mà còn cả dưới ánh sáng biến cố Phục Sinh, “ Vậy khi Người từ cỏi chết trỗi dậy…”. Qua những gì chúng ta vừa suy niệm, chúng ta hiểu được rằng mười điều răn bài đọc thứ nhứt chúng ta đã lắng nghe, không thể chỉ được đọc và chú giải theo hình thức, mà là những lời mời gọi sống thực tế, sống đích thực, theo gương Chúa Giêsu, sống trung thành với Thiên Chúa, bởi vì mỗi tín hữu Chúa Kitô là người đang sống với Chúa, có Chúa sống trong tâm hồn mình, sống với mình: - “ Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy và Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ” ( Jn 14, 23). Người tín hữu Chúa Kitô là người đang sống với Chúa, có Chúa sống trong lòng mình, không có cách sống nào khác hơn là sống bằng sự thật và tình thương đối với Chúa và đối với anh em.Cha Mọi cách sống tôn sùng thần tượng, ẩn nấp dưới hình thức dù tế nhị đến đâu, viện cớ vô căn cứ để khoát lên bên ngoài các y phục, hành xử gian dối, viện cớ chu toàn bổn phận tôn giáo của mình để trục lợi, cúi đầu vâng theo quyền lực và của cải, đặc quyền, sống thoải mái, như giáo quyền ở Giêrusalem lúc đó đã làm, Chúa đều biết và đều không phải là cách sống với Chúa như Chúa muốn. Bịt mắt, bưng tai, câm miệng, không muốn thấy, không muốn nghe, không muốn nói lên những bất công trong cuộc sống cùng cực, bất hạnh của anh em mình, là hành động tiếp tục biến chế ra nghi lễ tế tự, in tiền ở Tiro, tạo ra cảnh buôn bán súc vật, đổi tiền ở Đền Thờ của giáo quyền lúc đó, khiến Chúa Giêsu phải có tác động quyết liệt: - " Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán " ( Jn 2,16). Mỗi tín hữu Chúa Kitô có Chúa sống với mình và sống trong tâm hồn mình, biết rõ mọi suy tư, ước muốn và lo lắng của mình, hãy sống với Chúa và với anh em bằng tình thương và trong sự thật: - “ Nầy chị, hãy tin Ta: đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi nầy hay tại Giêrusalem…Nhưng đã đến giờ- và chính lúc nầy đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thánh Thần và sự thật…” ( Jn 4, 21.23).

 

1 - Đoạn Phúc Âm hôm nay của Thánh Marco thuật lại cho chúng ta biến cố Chúa Giêsu được biến đổi hình dạng, gồm các phần : - biến cố được biến đổi hình dạng ( Mc 9, 3-4), - phản ứng của Thánh Phêrô ( câu 5-6), - lời bình luận từ trời cao ( câu 7), - đoạn kết thúc ( câu 8-10 ). Đoạn tường thuật lại biến cố được khởi đầu từ câu 2 : - « Sáu ngày sau, Chúa Giêsu đem ông Phêrô, ông Giacobê và ông Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một nơi, chỉ một mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao (Mc 9, 2). Và đoạn kết thúc được Thánh Marco thuật lại với nhiều ý nghĩa khi Chúa Giêsu và các môn đệ xuống núi : - « Ở trên núi xuống, Chúa truyền cho các ông không được kể cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hõi nhau xem câu « từ cõi chết sống lại » nghĩa là gì ? ( Mc 9, 9-10). Trong đoạn thuật lại Chúa Giêsu được biến đổi hình dạng, Thánh Marco nhấn mạnh đến phẩm chất đặc biệt y phục Chúa Giêsu lúc đó, « rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian có thể giặt trắng như vậy được » ( Mc 9, 3). Trước hết bản dịch Việt Ngữ của chúng ta diễn tả biến cố, không lột hết được ý nghĩa của câu Phúc Âm Thánh Marco muốn nhấn mạnh : - « Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh… » (Mc 9, 2-3a) ( Thánh Kinh Trọn Bộ, NXB TPHCM 1998, trg. 1916). Bản dịch Việt Ngữ dùng dịch động từ « biến đổi » ở chể chủ động ( actif) : « Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông… », trong khi đó thì Thánh Marco dùng động từ « biến đổi » ở thể thụ động ( passif ), mà các nhà chú giải Thánh Kinh gọi là « thể thụ động thần học » ( passif théologique), cách diển tả rất quen thuộc trong Do Thái giáo, để chỉ sự hiện diện và động tác của Thiên Chúa mà không phải đề cập đến Thánh Danh Người, để kính trọng Người. Bởi đó câu Phúc Âm vừa kể được Thánh Marco viết dưới thể thụ động : 4 « Et il fut transfiguré devant eux et ses vêtements devinrent resplendissants,… » ( La Sainte Bible, l’École Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1340). Do đó, để lột hết ý nghĩa, chúng ta phải dịch : « Và Người được ( Chúa Cha ) biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ… ». Dịch như vậy, chúng ta hiểu được Thánh Marco có ý nói cho chúng ta biết quang cảnh mà các môn đệ đang chứng kiến thuộc lãnh vực thần thánh, vì đang có Thiên Chúa hiện diện và tác động. Đặc tính của quang cảnh vừa kể càng được nhấn mạnh hơn nữa, khi Thánh Marco kể lại cho chúng ta là y phục của Chúa Giêsu trở nên rực rỡ, mà không có thợ giặt nào trên trần gian nầy có thế làm cho trắng tinh và rực rỡ như vậy được : - « Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt được như vậy » ( Mc 9, 3). Y phục của Người rực rỡ, trắng tinh mà không thợ giặt nào ở trần gian có thể giặt trắng được như vậy. Điều đó có nghĩa là y phục của Chúa Giêsu không còn phải là y phục trần gian, là y phục trên trời, thuộc Vương Quốc của Thiên Chúa. Điều đó cho thấy quang cảnh mà các môn đệ đang chứng kiến là quang cảnh triều thần thiên quốc. Và đó cũng là điều giải thích tại sao các môn đệ không dám nhìn thẳng vào chân dung Chúa Giêsu chói lọi, trong vinh quang của Thiên Chúa hiện diện lúc đó, mà dám chỉ run sợ nhìn vào y phục « rực rỡ, trắng tinh » của Ngài. 2 – Quang cảnh triều thần thiên quốc vừa kể còn được diển tả một cách uy nghiêm long trọng hơn nữa với sự hiện diện của tiên tri Elia và Moisen : - « Và ba môn đệ thấy ông Elia cùng ông Moisen hiện ra đàm đạo với Chúa Giêsu » ( Mc 9, 4). Theo Cựu Ước, tiên tri Elia, về cuối đời được Chúa rước thẳng lên trời ( 2 Re 2). Ông Moisen thì theo sách Đệ Nhi Luật, chết và được chôn cất. Nhưng theo truyền thống Do Thái thì ông cũng được Chúa đem thẳng lên trời. Do đó, quang cảnh Chúa Giêsu được biến đổi hình dạng, y phục rực rỡ, trắng tinh và « đang đàm đạo » với tiên tri Elia và Moisen là quang cảnh triều thần thiên quốc, chớ không phải chỉ là « ngọn núi cao », nơi Chúa Giêsu dẫn các môn đệ đến lúc ban đầu. Quang cảnh rực rỡ và triều thần thiên quốc đó được chính Thánh Phêrô thích thú thốt lên, cho thấy rằng các ông đang chứng kiến một cảnh tượng trọng đại cao cả mà Thiên Chúa muốn tõ ra cho : - « Thưa Thầy ở đây thích thú lắm ! » ( Mc 9, 5), được diễm phúc tham dự vào cuộc sống thiên quốc như thế nầy. Điều đó cho thấy rằng Phêrô ý thức được mình và hai anh em môn đệ được diểm phúc tham dự vào quang cảnh thiên quốc đang diển ra. Nhưng câu nói vừa kể cũng có ý nghĩa « Chúng con ở đây thì hay lắm ! », như vậy chúng con sẵn sàng ở đây để phục vụ Thầy, phục vụ Elia và Moisen : - « Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho Moisen và một cho Elia » ( Mc 9, 5), Với cả hai ý nghĩa có thể hiểu được của câu nói vừa kể, mục đích của Thánh Phêrô là làm sao kéo dài thêm diễm phúc mà các ông đang được chứng kiến, biến ngọn núi cao thành thánh điện để có thể tiếp tục được chiêm ngưỡng vinh quang thiên quốc của Chúa Giêsu, của Elia và Moisen. Nhưng chính Thánh Marco cho chúng ta biết Thánh Phêrô, đứng trước vinh quang triều thần thiên quốc vừa kể, nói như người mất hồn, mất trí, nói mà không biết mình đang nói gì : - « Thực ra ông không biết mình đang nói gì, vì các ông kinh hoàng » ( Mc 9, 6). Câu Phúc Âm vừa trích dẫn thêm một lần nữa, chứng minh một cách gián tiếp, sự hiện diện của Thiên Chúa: sự rung sợ, bấn loạn là phản ứng tự nhiên của con người trước sự cao cả của Thiên Chúa. Diễn tả bằng tất cả những yếu tố vừa kể, bằng cách - dùng động từ « biến đổi » ở thể thụ động thần học; - diễn tả ánh sáng rực rỡ, trắng tinh y phục Chúa Giêsu ; - diển tả bằng thái độ thích thú và câu nói của Thánh Phêrô như người mất hồn muốn dựng ba lều cho Chúa Giêsu , ông Elia và Moisen - và sự kinh hoàng bấn loạn « …vì các ông kinh hoàng » của các môn đệ, Thánh Marco có ý nói với chúng ta sự hiện diện và động tác của Thiên Chúa trong biến cố. Thiên Chúa hiện diện và tác động trong biến cố Chúa Giêsu được biến dạng, khiến cho con người run sợ trước vinh quang, oai linh và quyền lực của Người. Trong cuộc sống, trong dòng lịch sử nhân loại, cũng như trong cuộc sống của mỗi người không phải là không có Chúa hiện diện và tác động. Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng nhận ra và hiểu biết những gì Chúa muốn nói vớí mình. Thánh Phêrô bấn loạn trước vinh quang huy hoàng của Thiên Chúa, - « Thực ra ông không biết mình đang nói gì, vì các ông kinh hoàng » ( Mc 9, 6). Kế đến ngay cả lúc Thầy trò xuống núi, các môn đệ cũng không hiểu được ý nghĩa của biến cố chói loà vừa mới chứng kiến : - « …các ông tuân lệnh, nhưng vẫn bàn hõi nhau xem câu « từ cõi chết sống lại » nghĩa là gì » (Mc 9, 10). Hỏi như vậy, không phải các môn đệ không hiểu được ý nghĩa câu Chúa Giêsu nói với các ông « từ cõi chết sống lại nghĩa là gì », bởi lẽ niềm tin kẻ chết sẽ sống lại là niềm tin tôn giáo được phổ biến trong Do Thái giáo. Có chăng ý nghĩa mà các ông chưa hiểu là câu nói đó áp dụng cho Chúa Giêsu, « trước khi Con Người từ cõi chết sống lại », bao giờ sẽ được thực hiện và các ông phải còn chớ đợi đến bao lâu : - « Chúa Giêsu truyền cho các ông không được nói với ai những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại » ( Mc 9, 10). Nói lên câu nói đó với các môn đệ, Chúa Giêsu có ý cho các ông biết mối liên quan giữa biến cố Người được biến dạng và biến cố Phục Sinh sắp đến: biến cố được biến dạng là những gì cho các ông được nếm trước vinh quang của Chúa Phục Sinh. Nhưng các môn đệ, cũng như chúng ta trong cuộc sống hằng ngày không dễ gì lãnh hội được ý nghĩa những gì Chúa muốn nói với chúng ta. Không những các môn đệ không hiểu, - « …vẫn bàn hỏi nhau xem câu « từ cõi chết sống lại » nghĩa là gì », mà chính Thánh Phêrô sau những gì được chứng kiến và thích thú, - « thưa Thầy, ở đây thích thú lắm ! Con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Moisen và một cho Elia » ( Mc 9, 5) cũng không hiểu được mối tương quan giữa biến cố Chúa Giêsu được biến dạng trong Phúc Âm hôm nay và biến cố vinh quang Phục Sinh. Bởi đó, Phêrô không muốn chấp nhận cuộc đau khổ và tử nạn để đi đến Phục Sinh của Chúa Giêsu : - « Xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp phải những chuyện ấy » ( Mt 16, 22). 3- Những gì Thánh Marco kể lại cho chúng ta hôm nay về biến cố Chúa Giêsu được biến dạng hiển vinh cho thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa chúng ta, các tín hữu Người, cũng giống như lúc Người còn ở với các môn đệ , ngay cả trong biến cố vừa kể. Chúa Giêsu hiện diện thực sự giữa các môn đệ, được biến dạng hiển vinh trước mặt các ông, nhưng không phải theo cách hiểu đơn sơ của các ông, được Thánh Phêrô thốt lên: - « Thưa Thầy, ở đây thích thú lắm » ( Mc 9, 5). Chương trình hành động của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại và trong lịch sử mỗi người không hẵn luôn luôn theo chiều hướng cách hiểu và ý muốn của con người. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại, cũng như trong cuộc sống mỗi người chúng ta không phải hàm chứa ý nghĩa mọi chuyện đã xong suôi, cả cuộc chiến đấu với tội lỗi và sự ác cũng đã kết thúc, Chúa đã chuyển cuộc sống nhân loại hiện tại của chúng ta vào ánh sáng huy hoàng của triều thần thiên quốc, « Thưa Thầy, ở đây thích thú lắm !». Sự hiện diện và can thiệp của Chúa vào cuộc sống chúng ta đúng hơn là để thúc giục chúng ta vâng nghe theo chiều hướng những gì Chúa Cha phán với chúng ta từ đám mây : - « Đây là Con yêu dấu của Ta, các con hãy vâng nghe Người » ( Mc 9, 7). Với đức tin, người tín hữu Chúa Ki Tô biết chắc chắn có Thiên Chúa đang hiện diện và tác động trong tâm hồn mình, để trợ giúp mình : - « Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy và Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy » ( Jn 14, 23). Và một khi họ biết nghe theo lời Chúa Cha từ đám mây khuyên bảo - « …các con hãy vâng nghe Người », « …tuân giữ lời Thầy », không phải chỉ nghe thoáng qua ( sentire) mà là lắng nghe (« écoutez- le », La Sainte Bible, id., 1340),« vâng nghe và tuân giữ », đem những gì Chúa dạy trong Phúc Âm sống và thực hiện trong cuộc sống, người tín hữu Chúa Ki Tô biết chắc chắn mình sẽ được diện kiến trong vinh quang Chúa Ki Tô Phục Sinh, « …khi Con Người từ cõi chết sống lại », và thốt lên như Thánh Phêrô : 15 « Thưa Thầy, ở đây thích thú lắm » ( Mc 9, 5), Niềm bảo chứng đó được Chúa Giêsu long trọng tuyên hứa với Giáo Hội và với mỗi người chúng ta, bởi vì người tín hữu Chúa Ki Tô luôn có Chúa hiện diện và tác động trong cuộc sống mình : - « Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế » ( Mt 28, 20).

 

Con người và việc nhận biết phẩm giá của con người là trung tâm tư tưởng xã hội của Giáo Hội, nhưng đó cũng là những suy tư liên quan đến huấn dụ luân lý của Giáo Hội. Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Mục Dụ Gaudium et Spes ( GS), " Giáo Hội giữa trần thế hiện đại " , đã khai thác Hiến Chế thành chính tài liệu Nhân Vị Chủ Nghĩa Kitô giáo. Chương I của phần đầu được đặt dưới tựa đề " Phẩm giá con người " ( GS, 11-22), đã được diễn giải dài và sâu rộng quan niệm về con người và giá trị độc đáo của con người, như những gì Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II xác nhận trong Thông Điệp Centesimus Annus của Ngài. Như ngài cho biết những diễn giải đó trong Hiến Chế - " đã đươn kết và, một cách nào đó, đã hướng dẫn và cả Thông Điệp của Ngài và cả Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ( CA, 11). Phẩm giá con người là nền tảng của cả đời sống xã hội và xác định những nguyên tắc định hướng cho cuộc sống đó. Nhãn quang vừa kể đối với con người là những gì ai trong chúng ta cũng có thể nhận thức được và đồng thời, đó cũng là hoa trái của lý trí được đức tin soi sáng và mạc khải cho, bởi lẽ - " Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thề " ( GS, 22). Lòng kính trọng đôi với con người như trong thực thể duy nhứt của mình và tính cách thiên thánh của con người là giá trị mà ngày nay ai cũng nhìn nhận ( hay ít ra nên biết cũng phải biết nhìn nhận ). Nhưng đối với Giáo Hội điều nhìn nhận đó được đặt trên nhiều lý chứng thần học: - con người được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Người; - Con Thiên Chúa, trong công cuộc nhập thể của Người, đã thực sự trở thành con người và làm vinh danh cho hoàn cảnh con người; - nhân loại ( và mỗi người trong chúng ta) đều được cứu chuộc bằng cuộc khổ nạn, tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô, Đấng mở rộng cửa cho con người con đường " thiên thánh hoá " : ơn gọi của chúng ta gồm có cả chiều hướng trở nên thiên thánh hoá, bởi lẽ chúng ta có được đời sống thông hiệp vào bản thể Thiên Chúa, được Thiên Chúa thương yêu của chúng ta ban cho: - " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu) Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì tất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa , sau khi thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trên trần gian " ( 2 Pt 1, 4). Phẩm giá bất khả xâm phạm của con người Trong nhãn quang đó về con người, trước hết Công Đồng nhấn mạnh rằng con người có phẩm giá bất khả xâm phạm, bởi lẽ mỗi con người đều được Chúa " dựng nên giống hình ảnh Người " ( Gen 1, 27; GS,12). Qua các tư tưởng Thánh Kinh và Tổ Phụ Học về hình ảnh Thiên Chúa, Giáo Hội quyết liệt xác nhận phẩm giá và tính cách thiên thánh nầy của con người, bởi chính sự kiện con người là con người với địa vị như vừa nói. Lời tuyên bố trên chứa đựng nhiều ý nghĩa: - Trước hết lời xác quyết trên cho biết ý nghĩa về con người , chúng ta không thể thấu hiểu được ý nghĩa sâu thẩm của câu nói, nếu chúng ta không đặt con người có liên hệ với Thiên Chúa, nguồn mạch và cùng đích sự sống mình. - Ngoài ra Giáo Hội cũng nhấn mạnh rằng phẩm giá của con người là do biến cố con người được dựng nên, tức là con người có đuợc sự sống nhờ Thiên Chúa ban cho. - Hơn nữa, dù cho con người đang ở trong bất cứ trạng thái nào, Thánh Kinh xác quyết rằng hình ảnh Thiên Chúa trong con người không thể xoá tẩy đi được. Trong viễn ảnh nhân loại học nầy, quan niệm " hình ảnh Thiên Chúa " cho biết rằng dòng giống con người, tất cả mọi người, đều có cùng một hoàn cảnh, địa vị như nhau và nhờ đó có thể đưa đến một kết luận nền tảng về con người, về phẩm giá nhân loại của con người, vượt hẵn lên trên lằn mức quan niệm thể chế xã hội theo thủ tục thói quen thông thường. Những gì theo Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội huấn dạy chúng ta, đó là quan niệm khi Giáo Hội xác định bênh vực và thăng tiến các quyền của con người " phổ quát và bất khả xâm phạm ": - " Sự lệ thuộc nhau mỗi ngày một chặt chẽ hơn và dần dần lan rộng trên toàn thế giới, vì thế công ích, tức là toàn bộ điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng - ngày nay mỗi lúc một nới rộng tầm phổ quát hơn và do đó bao hàm những quyền lợi và những nghĩa vụ của toàn thể nhân loại. Bất cứ tập thể nào cũng phải tôn trọng nhu cầu và những nguyện vọng chính đáng của các tập thể khác, hơn nữa, phải tôn trọng công ích của toàn thể nhân loại. Nhưng đồng thời con người càng ngày càng ý thức hơn về phẩm giá cao trọng của nhân vị, bởi vì con người vượt trên mọi loài thọ tạo và vì những quyền và bổn phận của con người là những gì phổ quát và bất khả xâm phạm. Vậy cần phải cho con người được tất cả những gì thiết yếu, mà con người phải có để thực sự sống đời sống con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền bảo toàn danh thơm tiếng tốt, quyền được kính trọng, quyền được thông tin xứng hợp, quyền hành động theo quy tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng cả trong phạm vi tôn giáo nữa " ( GS, 26). Nhãn quang vừa kể cũng hàm chứa phẩm giá con người không hoàn toàn tùy thuộc vào các thành công hay khả năng của cá nhân con người, mà do tình yêu thương của Thiên Chúa được thể hiện nơi con người. Những hậu quả luân lý liên hệ đến xác quyết vừa kể là những điều tối :quan trọng đối với những gì bảo vệ đang tranh cải hiện nay. Từ những xác quyết đó, chúng ta có thể tìm ra được những luận đề chống lại việc phá thai, cách chết nhẹ nhàng nhờ những người tim thuốc ( euthanasie) họặc do việc pha trộn tinh trùng bất tự nhiên ( clonazione ) trong việc bảo đảm chữa trị cho trẻ em bị khuyết tật: - " Nhất là thời nay, chúng ta có bổn phận khẩn thiết phải trở nên người lân cận của bất cứ người nào và tích cực giúp đỡ khi họ đến với chúng ta, hoặc đó có thể là một người già lão bị mọi người bỏ rơi, hoặc một công nhân ngoại quốc bị khinh khi một cách bất công, hoặc một người lưu vong, hay một đứa bé sinh ra do cuộc tình duyên bất hợp pháp, chịu đau khổ bất công vì tội lỗi không phải do mình phạm, hoặc một người đói ăn đang kêu gọi lương tâm của chúng ta, làm vang lại lời của Chúa: Bao nhiêu lần các ngươi làm những điều đó cho một trong những người hèn mọn là anh em Ta đây, là các ngươi làm cho chinh Ta vậy " ( Mt 25, 40). Trong tư tưởng sy tư về các vấn đề công lý trong kinh tế và xã hội, nhãn quang trên của Giáo Hội cũng khước từ mọi phân chia giai cấp thứ bậc tùy theo nguồn gốc hay khả năng cá nhân. Và Giáo Hội luôn đứng về phía quan niệm kính trọng mỗi người, mặc cho kết quả mà con người đó có khả năng đạt đến ( những người bị khuyết tật, thiếu năng lực vốn liếng, vô gia cư ...: - " Càng ngày càng phải nhận thức sự bình đẳng giữa mọi người hơn, bởi vì mọi người đều có tâm linh và được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, nên có cùng một bản tính và cùng một nguồn gốc, hơn nữa vì được Chúa Kitô cứu chuộc, nên họ đều được mời gọi như nhau và cùng hưởng chung một cùng đích nơi Thiên Chúa. Dĩ nhiên mọi người không bằng nhau, vì không có khả năng thể chất như nhau và những năng lực trí tuệ, tinh thần như nhau. Tuy nhiên phải vượt lên trên và vượt bỏ mọi hình thức kỳ thị về những quyền lợi căn bản của con người, hoặc trong phạm vi xã hội, hoặc trong phạm vi văn hóa, kỳ thị vì phái tính, chủng tộc, màu da, đị vị xã hội, ngôn ngữ hay tôn giáo, bởi lẽ hành động như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa " ( GS, 29). Hơn nữa, các tư tuởng nhân chủng học có liên hệ với đức tin còn trải rộng ra hơn nữa tư tưởng bình đẳng, nền tảng giữa tất cả mọi con người. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, là nền tảng thiết định nên tình trạng bình đẳng giữa các con người với nhau. Một cách nào đó, mọi con người đều được Chúa Kitô liên hệ đến, là Đấng đã chia sẻ hoàn cảnh của họ ngay cả cho đến đến lúc Người chết đi: - " Thật vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thục sự được sáng tỏ trong Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Bởi vì Adam, con người đầu tiên đã là hình bóng của Adam sẽ đến, là Chúa, trong khi mạc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người về mình và tỏ cho họ biết thiên chức cao cả của họ...Là Chiên vô tội, Người tự ý đổ máu ra, để cho chúng ta được sống, và chinh trong Người, Thiên Chúa đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa và hòa giải giữa chúng ta với nhau, cũng như đem chúng ta ra khỏi ách nô lệ của tội lỗi, bởi đó mỗi người chúng ta có thể nói như Thánh Tông Đồ rằng: " Con Thiên Chúa đã yêu thương tôi, lại hiến thân cho tôi nữa " (GS, 22). Tư tưởng vừa kể nói lên một chương trình tổng quát, ngược lại với quan niệm về nhân chủng học tự nhiên hay tâm lý học của con người có khuynh hướng đặt lên những trạng thái bất bình đẳng tùy theo tập tục, thói quen hay sự phát triển của xã hội mà mình đang đề cập. Nơi Chúa Kitô mọi người đều bình đẳng như nhau, có chính cùng một phẩm giá như nhau, dầu cho hoàn cảnh của họ thế nào đi nữa. Con người liên hệ với hoàn cảnh mình đang sống. Một loạt các tư tưởng nhân chủng học được Công Đồng làm nổi bậc lên, đó là hoàn cảnh sống của thân thể nam nữ. Con người hội nhập vào hoàn cảnh sống của trần thế: - " Sự hiệp nhứt giữa linh hồn và thể xác, con người tổng hợp nơi mình điều kiện sống của thể xác bằng những yếu tố vật chất . Và nhờ đó các yếu tố vật chất được nâng cao lên địa vị thượng đỉnh của mình và cất mình lên được để ngợi khen Thiên Chúa , Đấng Tạo Dựng nên mình ( Dan 3, 57-90). Điều đó cho thấy không ai có quyền khinh thị đời sống thể xác của con người: - " Con người duy nhứt với xác và hốn. Xét về thể xác, con người là một tổng hợp những yếu tố thuộc thế giới vật chất. Vì thế, nhờ con người, những yếu tố ấy đạt tới tuyệt đỉnh của chúng và tự do dâng lời ca tụng Đấng Tạo Hoá, Vậy con người không được khinh miệt đời sống thể xác. Trái lại, con người phải coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng vì thân xác ấy do Chúa tạo dựng và phải được sống lại ngày sau hết..." ( GS, 14). Ngoài ra có được một thân xác, điều đó có nghĩa là chúng ta phải chú tâm lưu ý về các giới hạn và các khả năng sinh vật học của thân xác chúng ta. Ví dụ như thuốc phiện, là vật thể không tôn trợng thân xác chúng ta. Chúng ta có bổn phận chăm lo cho sức khoẻ chúng ta, bằng cách tôn trọng đặc tính vẹn toàn của thân thể. Con người là thành phần của thế giới vật chất. Sau cùng, với tư cách là con người có thân xác, chúng ta là thành phần của thể giới vật chất và của môi trường sinh thái học, mà chúng ta luôn luôn có liên hệ. Điều đó đòi buộc chúng ta phải có chú tâm và động tác làm cho môi trường sinh thái là một nơi ai cũng có thể sống được. Bởi đó huấn dụ xã hội của Giáo Hội dạy , cần phải lưu tâm và tiên liệu đến đối với các hậu quả tiêu cực tiêu cực đôi khi có thể xảy ra, có hại cho đời sống và môi trường, bởi vì chúng ta trực tiếp có trách nhiệm vật chất ( CV, 48-51). Con người nhất thiết phải có đời sống tương quan. Yếu tố thứ ba được Công Đồng nêu lên, đó là gồm những gì thuộc lãnh vực tư tưởng nhân chủng học, có liên hệ đến các chiều hướng liên quan đến cuộc sống con người. Thật vậy, nếu con người " được dựng nên giống hình ảnh và ở lại trong tình yêu ảnh Thiên Chúa " ( Gen 1, 27), thì Thiên Chúa là một Thiên Chúa gồm có Ba Ngôi. Đấng Thiên Chúa đó " là tình yêu ": - " Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu ...Còn chúng ta, chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu : ai ở lại trong tình yêu, thì ở lại trong Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy " ( 1 Jn 4, 8.16). Thiên Chúa ban tặng tất cả chính Người, chiếu toả một ánh sáng trên ý nghĩa con người là con người, và chính con người gặp được đặc tính hoàn hảo con người của mình trong tình yêu và trong trao đổi, ban cho và đón nhận tình yêu. Điều đó làm cho con người trở nên giống sự thông hợp giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự thông hiệp yêu thương giữa con người với con người, cho thấy rằng trên mặt đất nầy, là tạo vật duy nhứt mà Thiên Chúa tạo dựng nên cho chính mình, và chỉ có thể tìm được trạng thái trọn hảo của mình, chỉ có khi nào con người biết ban tặng chính mình cho anh em đồng loại của mình: thái độ phải có nầy tương đồng với sự kết hợp giữa Chúa Ba Ngôi: - " ...hơn nữa, khi cầu nguyện với Chúa Cha: xin cho mọi người nên một...như chúng ta là một " ( Jn 17, 21-22) Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng, mà lý trí con người không thể tự đạt tới được. Như vậy Chua Giêsu đã nói lên một tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của các cái Chúa trong chân lý và đức ái. Sự tương tự nầy cho thấy con người, tạo vật duy nhứt ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân " ( GS, 24). Công đồng Vatican II khai triển hậu quả nhân chủng học vừa kể qua quan niệm xã hội và cộng đồng nhân loại của con người: nếu con người có phẩm giá thiên thánh, con người cũng có bản tính xã hội. Và như vậy phẩm giá của mình sẽ không thể thành đạt được vào bảo đảm được, nếu con người không sống trong lòng cộng đồng xã hội con người trao đổi cho nhau và yêu thương nhau. Đức Thánh Cha Benedictus XVI nhắc lại tư tưởng đó trong Thông Điệp Caritas in Veritate của ngài: - " Tạo vật con người, vì có bản tính thiêng liêng, nên thành thân được trong các mối liên hệ giũa người với người " ( CV, 53). - " Đặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sụ thăng tiến của nhân vị và sự phát triển của xã hội lệ thuộc nhau. Thực vậy, nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội, bởi vì tự bản chất nhân vị phải hoàn toàn cần đến đời sống xã hội. Cho nên đời sống xã hội đối với con người, không phải là một cái gì phụ thuộc, vì do đó nhờ trao đổi với người khác, nhờ phục vụ lẫn nhau và nhờ đối thoại với anh em, con người được thăng tiến mọi khả năng của mình và có thể đáp ứng được thiên chức của mình " ( GS, 25). Trong viễn ảnh vừa kể, các tổ chức đặt nền tảng trên một cá nhân xã hội cho các lãnh vực kinh tế và luật pháp có thể là những gì được thực hiện có ít nhiều thuận lợi cho con người, cho mỗi cá nhân được triển nở nhiều hay ít trong cộng đồng: - " Đặc tính xã hội của con người cho thấy rõ sự thăng tiến của nhân vị và sự phát triển xã hội lệ thuộc nhau, Thực vậy nhân vị chính là và phải là nguyên thủy, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội, bởi vì tự bản chất, nhân vị phải hoàn toàn cần đến đời sống xã hội " ( GS, 25 ) Bởi đó một nhãn quang chính đáng về nhân vị không thể đặt nền tảng trên một cá nhân riêng rẻ nào đó, cũng không thể giới hạn xác nhận một cá nhân riêng rẻ nào đó, dựa chỉ dựa trên phẩm chất tự tại nào đó của anh ta, mà phải đặt cá nhân đang bàn không " tách rời các liên hệ với người khác trong xã hội, không bao giờ được tách rời một cá nhân ra khỏi người khác ". Huấn dụ của Giáo Hội rút ra từ đó tất nhiều điều liên hệ: nhứt là qua động hiện tại là phát triển nhằm thăng tiến hay hăm doạ đời sống con người, mà chúng ta đang cùng chung sống trong xã hội. - Ngoài ra Giáo hội còn khuyến khích nên có nhãn quang về xã hội dưới tính cách tập thể, với đặc tính chú ý không thể thiếu đối với những quốc gia nghèo khổ. đòi buộc Về vấn đề liên đới nền tảng nầy giữa con người với nhau, Giáo Hội khẳng quyết rằng " mọi người đều có quyền tham dự vào đời sống kinh tế ( Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội, CDSC, 333) . Đây là đòi buộc căn bản tuyệt đối mà mọi người đều phải có quyền được bảo đảm có được, nhứt là qua quyền làm việc, bởi lẽ đó cũng là quyền con người tham dự vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa: - " Hoạt động trong các xí nghiệp kinh tế là việc hợp tác giữa các nhân vị, đó là những con người tự do và tự lập được tạo dụng giống hình ảnh Thiên Chúa... " ( GS, 67); ( Laborem excercens, LE, 4). Nói một cách tổng quát, nguyên tắc nầy về vai trò nhân vị trung tâm điểm của con người trong tổ chức đời sống xã hội là căn cội của nguyên tắc đới và phụ túc bảo trợ, là hai cột trụ nền tảng của Huấn Dụ Xã Hội. - Với tính cách bắt buộc của nguyên tắc liên đới, con người phải cộng tác với những người khác, vì công ích cho xã hội. - Với đặc tính của nguyên tắc phụ túc bảo trợ , Quốc Gia cũng như những cơ quan công quyền khác không được thay thế sáng kiến và trách nhiệm của các cá nhân và công đồng trung gian ở những gì mà tầm mức của họ có thể thi hành được. Theo nguyên tắc nầy, Quốc Gia và xã hội phải trợ giúp các thành phần chi nhánh, để chính họ đứng ta thực hiện, nhứt là thưc hiện đáp ứng kịp thời và thoả đáng các nhu cầu địa phương đòi hỏi. Sau cùng lòng kính trọng phẩm giá con người thúc đẩy chúng ta hãy đặc tâm chú ý đến những thành phần xã hội nghèo khỗ. Thật vậy luôn luôn Giáo Hội xác nhận rằng mức công bình xã hội được đo lường bằng phương thức tối thiểu mà xã hội dành cho những người nghèo khó. Điều đó cũng là những gì Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã nhắc lại, khi Ngài xác nhận rằng các người môn đệ Chúa Kitô được kêu gọi - " hãy chọn lấy hay dành yêu thương ưu tiên hơn cho những người nghèo khó " ( Sollecitudo Rei Socialis, SRS, 42), và hãy biết đánh giá các cách sống, thể chế chính trị và các cơ chế quản trị quốc gia, để có thái độ thích ứng chính đáng của môn đệ Chúa Kitô đối với tình thế, - đối xử thế nào với người nghèo khỗ, - có biết đặt nhân vị là nguyên cội, chủ thể và cùng đích của quốc gia hay không. - " Ơn gọi Kitô giáo nhằm thăng tiến trợ giúp cho con người tiếp đạt được con đường phát triển tất cả mọi người và phát triển toàn vẹn con người " ( CV, 18) .

 

1 - Đoạn Phúc Âm Thánh Marco thuật lại biến cố Chúa Giêsu chịu cám dỗ ( Mc 1, 12-13) thật ngắn ngủi so với các đoạn tường thuật Phúc Âm Thánh Matthêu và Thánh Luca. Điều vừa kể cho thấy những gì Thánh Marco viết lại dựa vào một truyền thống khác. Hai câu ngắn gọn của Thánh Marco: - “ Thánh Thần liền đẩy người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa 40 ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có thiên sứ hầu hạ Nguời ” ( Mc 1, 12-13). Sau đoạn tường thuật ngắn vừa kể, Thánh Bộ Phụng Vụ trích thêm hai câu kế tiếp để hướng dẫn chúng ta cùng bắt đầu hành trình với Chúa Giêsu vào cuộc sống công cộng của sứ mạng rao giảng Tin Mừng và thực hiện ơn cứu rỗi của Người ( Mc 1, 14-15). Trong đoạn thuật lại biến cố bị cám dỗ trong hoang địa, nếu để ý chúng ta thấy nhân vật giữ vai chính chủ động của biến cố, chỉ định nơi chốn và hướng dẫn các diển biến, không ai khác hơn là Chúa Thánh Linh: - “ Thánh Thần liền đẩy Người vào hoang địa…” ( Mc 1, 12). Nêu lên hình ảnh và động tác đó của Chúa Thánh Linh, Thánh Marco có ý liên tưởng đến những gì đã xảy ra lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa dưới sông Giordano, mà Ngài đã kể lại cho chúng ta trước đó: - “ Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra và thấy Thánh Thần như chim bò câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con ” ( Mc 1, 10-11). Sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trên sông Giordano lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa để xác nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, cũng vậy biến cố Chúa Giêsu sống 40 ngày trong hoang địa, sống giữa loài dã thú và bị Satan cám dỗ trong đoạn Phúc Âm hôm nay, nói cho chúng ta biết Chúa Giêsu vẫn là Con Thiên Chúa, “ Con là Con yêu dấu của Cha ”, là Đấng từ Chúa Cha mà đến để loan báo Tin Mừng cho nhân loại,Triều Đại Thiên Chúa đã đến. Bởi lẽ các động tác của Người vẫn được Chúa Thánh Linh xác định và hướng dẫn: - “ Thánh Thần liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở đó 40 ngày…” ( Mc 1, 12). Thánh Marco không cho chúng ta biết kết quả của cuộc chiến đấu giữa Chúa Giêsu và Satan ra sao trong đoạn tường thuật hôm nay, bởi lẽ Ngài sẽ kể cho chúng ta uy quyền của Chúa Giêsu trên Satan ở những dòng kế tiếp, Chúa Giêsu chỉ cần ra lệnh là Satan cút đi, - “ Nhưng Chúa Giêsu quát mắng nó: Câm đi, xuất ra khỏi người nầy! Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng và xuất ra khỏi anh ta. Mọi người đều kinh ngạc, đến nỗi họ bàn với nhau: Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có quyền. Ông ấy ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh ” ( Mc 1, 25-27), cũng như biện luận với những ai kém lòng tin về quyền năng của Người và những gì quan trọng Nguời muốn loan báo cho họ: - “ Người liền gọi họ đến, dùng ngụ ngôn mà nói với họ: Satan làm sao trừ Satan được? Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền; nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững: Vậy Satan mà chống Satan, Satan tự chia rẽ, thì không thể tồn tại, nhưng đã tận số. Không ai vào một nhà người mạnh, mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó” ( Mc 3, 23-27). Nói cách khác, Thánh Marco không đề cập đến kết quả của “ cuộc chiến cám dỗ ” giữa Chúa Giêsu và Satan hôm nay, để dần dần hướng dẫn chúng ta theo dỏi Phúc Âm Ngài để tăng trưởng đức tin chúng ta, xác tín vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa, có quyền “ ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh ” ( Mc 1, 27). Và dĩ nhiên Chúa Giêsu là Thiên Chúa không phải chỉ đến để “ chữa nhiều người đau ốm, mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ…” ( Mc 1, 34). Sứ mạng của Người là đến để loan báo và thực hiện cho chúng ta một Tin Mừng quan trọng mà mọi người đang mong đợi, nói như Thánh Matthêu: - “ Còn nếu Ta dựa vào Thánh Thần của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông ” ( Mt 12, 28 ). 2 – Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, để diễn tả cảnh sống 40 ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu, Thánh Marco dùng ba động từ ở “ thì bán khứ ” ( imparfait), để chỉ động tác đã xãy ra, lập đi lập lại và kéo dài trong thời gian : “ở trong hoang địa và bị Satan cám dỗ, sống với dã thú, các thiên thần hầu hạ Người ” ( ba động từ vừa kể ở thì bán khứ, chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng qua các bản văn Hy Lap hay ngôn ngữ Tây Âu) Tuy nhiên văn bản của đoạn Phúc Âm Thánh Marco không nói cho chúng biết “ Chúa Giêsu chịu Satan cám dỗ, sống giữa các loài dã thú, có thiên sứ hầu hạ ” là những bối cảnh tuần tự liên tiếp xảy ra nối tiếp nhau hay đươn kết nhau. Nhưng dù sao, cách chú giải được nhiều học giả Thánh Kinh chấp nhận là diễn tả lại quang cảnh vừa kể, Thánh Marco có ý nói lên cuộc sống của Chúa Giêsu được đề cập, mường tượng lại cảnh sống của Tổ Phụ Adong và Eva của chúng ta trong vườn địa đàng. Theo truyền thống của Talmud (ở đoạn sách Khải Huyền của Do Thái), diễn tả Tổ Phụ Adong và Eva trong vườn địa đàng, ngồi ăn “được các thiên sứ nướng thịt và rót rượu cho”. Đối với các dã thú, là các súc vật sống trong hoang địa, hung hăng không phải là những con vật có thể sống chung với con người. Đó là những gì sách tiên tri Isaia cho chúng ta biết ở những chương đầu: - “ Tại đó, dã thú đến nằm nghỉ, cú vọ ở đầy nhà, đà điểu tới trú ngụ, và bay để mà nhảy nhot tung tăng ” ( Is 13, 21). - “ Đó sẽ là lãnh địa của nhiếm và kên kên,là nơi cho loài cú, loài quạ…trong các lâu đài của nó, gai góc mọc um tùm,các đồn lũy kiên cố đầy những tầm ma và cỏ dại. Nó sẽ là hang ổ sói rừng, là sân chi đà điểu ” ( Is 34, 11.13). Tuy nhiên cảnh tương phản, không thích hợp cho cuộc sống con người như vừa kể sẽ không còn nữa, khi Đấng Cứu Thế đến, con người và thú vật có thể sống trìu mến bên nhau: “ Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ, Bò to và sư tử non được nuôi chung, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ. Trẻ thơ đang đùa giỡn bên rắn lục, Bé thơ vừa thôi sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang” ( Is 11, 6-8). - “ Sói với chiên cũng sẽ cùng nhau ăn cỏ. sư tử cũng ăn rơm như bò, còn rắn sẽ lấy bụi đất làm lương thực. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp Núi Thánh Ta ” ( Is 65, 25). Nói cách khác, thời Đấng Cứu Thế đến sẽ là thời thanh bình, đồng thuận, thương yêu giữa người và người ,người và thú vật thể chung sống yên ổn với nhau. Trong khi đó thì cuộc sống của ông Adong và bà Eva được sách tiên tri Khải Huyền của tiên tri Osé cho biết là dã thú tấn công con người sau khi ông bà đã phạm tội. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được Thánh Marco nói lên cuộc sống 40 ngày của Chúa Giêsu trong hoàng địa, “ sống với dã thú và được thiên thần hầu hạ ”, là hình ảnh của một Tổ Phụ Adong mới, đem lại cuộc sống hạnh phúc an bình cho dòng tộc mới của con người hay “ Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông ” ( Mt 12, 28). Như Tổ Phụ Adong và Eva của chúng ta sống trong vườn địa đàng bị Satan cám dỗ, Chúa Giêsu Tổ Phụ mới của nhân loại mới cũng bị Satan cám dỗ, nhưng thay vì qụy ngã như hai Tổ Phụ tiên khởi, Chúa Giêsu chiến thắng Satan, để dòng tộc nhân loại của Người có thể trở lại sống hoà thuận với thú vật và thân hữu yêu thương nhau, được các thiên sứ giúp đỡ như khi Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta lúc ban đầu, “ giống hình ảnh Ngài ” ( Gen 1, 27). Chúa Giêsu, Adong mới, đến để đem lại cho chúng ta hình ảnh tiên khởi của chúng ta “ giống hình ảnh Thiên Chúa”, trở lại sống trong tình thương yêu với Chúa, lúc Chúa tạo dựng chúng ta. Chúa Giêsu, Tổ Phụ mới của dòng tộc nhân loại mới, đã chiến thắng Satan, dẹp bỏ đi những trói buộc của tội lỗi và gian ác, tha hoá và đê tiện hoá con người. Từ nay, mỗi người chúng ta, con cái của dòng tộc mới, được tự do, có khả năng đáp ứng lại lời mời gọi của Thiên Chúa, sống lại cuộc sống trong vườn địa đàng trước khi Tổ Phụ Adong và Eva phạm tội, sống thân tình với Chúa, sống hoà thuận với tạo vật và thân hữu với các thiên thần, được các vị giúp đở: “ …sống giữa loài dã thú và có thiên sứ phục vụ ”. Và đó là những gì Thánh Marco cho chúng ta biết Chúa Giêsu muốn báo cho chúng ta: - “ Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” ( Mc 1, 15). Nhưng muốn bắt đầu bước vào tương lai đầy hứa hẹn như vừa kể, chúng ta hãy cởi bỏ con người cũ, con người với những vấp phạm, vết tích oen ố của bản tính thừa hưởng từ hai Tổ Phụ tiên khởi, để bước theo Chúa Giêsu, bước theo con đường cứu rỗi của Người: - “ Anh em hay sám hối và tin vào Tin Mừng ” ( Mc 1, 15). 3 – “ Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng ”. Nội dung của Tin Mừng đó là “ Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần ”, mà Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại, trong đó con người được tái tạo lại cuộc sống tự do, bình an, hoà thận và thân tình trong vườn địa đàng trước nguyên tội, con người “ giống hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa ”. Nhưng con người không phải chỉ là pho tượng gỗ đá, một bức tranh tuyệt tác nhưng bất động vô tri, mà là một tạo vật được Chúa dựng nên và ban cho sức sống với tình thương của Người: - “ Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật ” ( Gen 2, 7). Điều vừa kể cho thấy con người không phải chỉ được dựng nên “ giống hình ảnh Thiên Chúa ”, nhưng vô tri bất động, mà còn được Chúa “ thổi sinh khí vào lỗ mũi ”, ban cho sức sống, trí khôn ngoan và lòng ao ước hạnh phúc tự do để “ hành động giống như Thiên Chúa ”, để triển nở chính mình, luôn hướng về Thiên Chúa, bắt chước Thiên Chúa, kho tàng hạnh phúc vô tận, cùng đích của đời mình. Điều vừa kể cho chúng ta hiểu được tại sao, để có đầy đủ hạnh phúc đáp ứng lại ước vọng của chúng ta, Chúa Giêsu khuyên chúng ta: - “ Vậy anh em hãy trở nên trọn hảo như Cha anh em trên trời là Đấng trọn hảo ” ( Mt 5, 48). Dĩ nhiên, giữa chúng ta là tạo vật và Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá dựng nên chúng ta, có một khoản cách vô tận, không thể nào chúng ta có thể bắt chước để “ bằng ” Thiên Chúa, - “ như Cha anh em ở trên trời là Đấng trọn hảo ” được. Nhưng không ai có thể cấm chúng ta bắt chước, trong cách ă n thói ở của chúng ta , càng trở nên giống Thiên Chúa bao nhiêu, chúng ta càng gần nguồn hạnh phúc vô tận làm cho chúng ta sống hạnh phúc với Người bấy nhiêu, chúng ta càng triển nở hoàn hảo con người chúng ta bấy nhiêu. Nói cách khác: - “ Ngươi phải yếu mến Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi ” ( Mc 12, 30 ). Kế đến chúng ta được Chúa dựng nên “ giống hình ảnh Thiên Chúa ” và “ thổi sinh khí vào lỗ mũi ” để chúng ta có khả năng bắt chước hành động giống như Người. Và hành động của Thiên Chúa là yêu thương hết mọi người, bởi lẽ mọi người đều là những đứa con được chính Người sinh ra. Điều đó cắt nghĩa tại sao Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta phải yêu thương và cầu nguyện cho cả những kẻ bách hại chúng ta: - “ Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đải anh em: Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như trên kẻ bất chính” ( Mt 5, 44-45). Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được lời mời gọi loan báo mà Giáo Hội muốn gởi đến người tín hữu Chúa Ki Tô trong mùa chay: - “ Thời kỳ đã mãn, Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15) Trong thời gian Mùa Chay, người tín hữu Chúa Ki Tô ăn chay, thống hối . Nhưng - không phải trong thái độ “ rầu rĩ …,ra vẻ thiểu nảo nhu bọn đạo đức giả…” ( Mt 6, 16 ) - hoặc trong sợ sệt của những kẻ “ tuân giữ lề luật ” một cách nô lệ, - mà như những đứa con, hối cải để “ cập nhật” cách hành xử của mình trở lại, theo đúng phương cách của Cha mình, bắt chước cách hành xử của Thiên Chúa là “Cha anh em trên trời là Đấng trọn hảo”, đối với Chúa và đối với anh em, ngay cả khi người anh em đó là kẻ thù, là kẻ ngược đải chúng ta. Tục ngữ Việt Nam chúng ta có câu: - “ Cha nào, con nấy, talis Pater, qualis filius”.

 

" Thánh Công Đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc tông đồ của Dân Thiên Chúa, nên chú tâm hướng về các Kitô hữu giáo dân, những người có phần cá biệt và cần thiết trong sứ mệnh của Giáo Hội, như đã được nhắc đến trong những văn kiện khác" ( A A, Lời Mở Đầu). Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem ( A A ) được khởi đầu bằng những lời văn chúng ta vừa trích dẫn, để diễn tả rõ hơn sự tham dự của các tín hữu giáo dân vào Hiến Chế cấu trúc nội bộ ( Lumen Gentium ) cũng như Hiến Chế hoạt động đối ngoại, rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội ( Gaudium et Spes). Thánh Công Đồng nhận biết rằng Giáo Hội có liên hệ với các thành phần khác nhau của cộng đồng tín hữu giáo dân, được Hiến Chế Lumen Gentium định nghĩa là thành phần của " Cộng Đồng Dân Chúa ". Nhưng với sắc lệnh đang bàn, các nghị phụ Công Đồng trả lại cho các tín hữu giáo dân sứ mạng nguyên thủy của họ là loan báo Chúa Kitô Phục Sinh. Đã từ nhiều năm qua Giáo Hội nhận biết lòng hăng say hy sinh nầy của người tín hữu giáo dân , nhưng nhận biết cá tính đặc biệt của họ là ủy thác cho họ phận vụ có nền tảng của họ trong phận vụ mới rao giảng Phúc Âm trong một xã hội thay đổi mới thời đại chúng ta. Đó là phận vụ mà Giáo Hội không thể làm lơ được. Chương I Ơn gọi tông đồ của người tín hữu giáo dân. - " Người tín hữu giáo dân thực sự thi hành việc tông đồ bằng công việc của mình để rao giảng Phúc Âm và thánh hoá nhân loại, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn hảo hóa những sự việc trần thế, thế nào cho công việc của họ thuộc lãnh vực nầy nhân chứng tỏ tường về Chúa Kitô và góp phần vào việc cứu độ nhân loại ". Tất cả đều có người tín hữu giáo dân phải là những chi thể sống động của một thân thể duy nhứt, được kêu gọi làm cho thân thể đó tuần hành nhịp nhàng và sống động. Nền tảng ơn gọi tông đồ của người tín hữu giáo dân là vì người giáo dân thuộc về Giáo Hội, hoa trái của việc kết hợp với Chúa Kitô là đầu, nhờ Phép Rửa. Hoa trái đó triển nở hơn nữa khi họ đón nhận được Chúa Thánh Thần trong Phép Thêm Sức. Người tín hữu giáo dân có " quyền " và " bổn phận " phải hành xử việc tông đồ, mà chính Chúa dành cho họ và cũng do thực thể hội nhập vào Chúa Kitô là đầu. Nhưng vai trò cá biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội đòi buộc họ phải có một đời sống thiêng liêng sâu đậm. Đó là một cuộc sống thiêng liêng, được sống trong đời sống hằng ngày, một đời sống thiêng liêng " đơn sơ ", nhưng có liên hệ với mọi phương diện của cuộc sống trần gian, mỗi người một cách cá biệt, khác nhau, tùy theo hoàn cảnh sống của mình, hôn nhân và gia đình, độc thân hay góa bụa, bệnh tật, hoàn cảnh chức nghiệp và xã hội khác nhau. Bởi đó người tín hữu giáo dân luôn luôn được mời gọi hãy dung trồng các đức tính và tài năng nhân tính của mình thích hợp với các hoàn cảnh và trạng thái mà mình phải phục vụ, qua các ân sủng đã nhận được. Mẫu gương hoàn hảo mà mình nên bắt chước, đó là gương mẫu của Đức Thánh Trinh Nữ Maria , Nữ Vương các Tông Đồ, biểu tượng tuyệt vời cho gương phối hợp giữa đời sống thánh thiện và sứ mạng tông đồ. Chương II - Mục đích tông đồ của người tín hữu giáo dân. - " Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại, nhưng cũng bao hàm việc canh tân cả trật tự trần thế. Do đó sứ mệnh của Giáo Hội không những là đem Phúc Âm của Chúa Kitô và ân sủng của Người cho nhân loại, mà còn đem cả tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế " ( A A 2, 5 ). Động tác tông đồ có hai phương diện: linh thiêng và thực thể trần thế. Thật vậy, mục đích của động tác tông đồ là lan truyền phổ biến Vương Quốc Chúa Kitô ra khắp mặt đất, qua việc lời rao giảng Phúc Âm và thánh hoá con người, bằng cách khuyến khích can đảm và hoàn hảo hóa trật tự trần thế. Bởi đó, nhân chứng và đời sống gương mẫu của người tín hữu giáo dân là những gì thiết yếu cho mục đích. Người tín hữu giáo dân được kêu gọi hiểu biết và và phổ biến các giá trị Kitô giáo trong xã hội, mặc cho phải luôn luôn đối đầu với các khó khăn và tấn công không ngừng đối với các nguyên lý đức tin Kitô giáo. Như vậy, người tín hữu giáo dân là những nhân chứng của Chúa Kitô giữa thế trần, nhân chứng cho tình yêu thương của Chúa Kitô đối với cả nhân loại. Thật vậy, bác ái là động tác đích thực của các tông đồ giữa trần thế: - " Từ đó, mọi người ta sẽ Nguời biết anh em là môn đệ của Thầy, đó là anh em có lòng yêu thương nhau " ( Jn 13, 35 ). Người tín hữu giáo dân, hiện là môn đệ của Kitô, phải thể hiện động tác bác ái của mình trong khi vẫn trọng kính tự do và phẩm giá của con người mà mình đang trợ giúp cho. Nói một cách ngắn gọn, mục đích việc tông đồ của người tín hữu giáo dân là phải thể hiện, nói lên sứ mạng phục vụ con người trong sự thật , bác ái và công chính, như Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã nhấn mạnh trong bài thuyết giảng của ngài, nhân dịp giáp 20 năm Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem được công bố. Chương III - Các lãnh vực tông đồ khác nhau. - " Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại, nhưng cũng bao hàm việc canh tân tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ mệnh của Giáo Hội không những là đem Phúc Âm của Chúa Kitô và ân sủng của Người cho nhân loại, mà còn đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế " ( A A 3, 5 ). Người tín hữu giáo dân thực hiện việc tông đồ đa diện của mình trong Giáo Hội, cũng như giữa trần thế. Trên hai phạm vi vừa kể, nhiều lãnh vực tông đồ được mở ra. Các lãnh vực đó là các cộng đồng Giáo Hội, gia đình, giới trẻ, hoàn cảnh xã hội, tổ chức quốc gia và trật tự quốc tế. Động tác của người tín hữu giáo dân, trong đó việc tham dự của nữ giới càng lúc càng chiếm phần quan trọng hơn, là những gì cần thiết cho cộng đồng Giáo Hội và không thể thiếu được, bởi lẽ đó cũng chính là động tác của các vị chủ chăn. Người tín hữu giáo dân phải cộng tác trong nội bộ cộng đồng Giáo Hội và cộng tác với các linh mục. Tín hữu giáo dân là chiếc cầu nối liền cộng đồng Giáo Hội và lãnh vực xã hội có liên can đến mình, để loại bỏ đi khoản cách giữa Giáo Hội và những ai còn đang ở xa hoặc đứng ra bên ngoài. Việc tham dự vào đời sống phụng vụ của cộng đồng, nhờ đó Người tín hữu giáo dân chia xẻ các Phép Bí Tích, làm cho các động tác tông đồ trở nên sống động hơn và thiết thực hơn. Việc thông hiệp, nhân chứng, đào tạo để truyền bá Phúc Âm, cùng với các động tác của các nhà truyền giáo, cần phải có mục đích là để lan rộng hơn, vượt khỏi biên giới của dịa phương, các họ đạo. Người tín hữu giáo dân là những tông đồ trong xã hội, tông đồ cho một xã hội mà nhân cội thiết yếu là gia đình, hoa trái của " hôn nhân ". Gia đình được thành lập qua việc thánh thiện hoá tình yêu hôn nhân, được coi như là sự hiệp nhứt giữa Chúa Kitô và Giáo Hội Người. Đôi vợ chồng phải thăng tiến chính đáng sứ mệnh mà mình được Chúa giao cho và gánh lấy các động tác, suy tư và quyết định có liên hệ đến sứ mệnh đó bằng lời cầu nguyện dâng lên Chúa. Sắc Lệnh loan báo nhiều động tác tông đồ của gia đình: đó là nuôi nấng trẻ em bị bỏ rơi, tham gia vào đời sống học đường, nâng đỡ những gia đình gặp phải khó khăn, những cá nhân trong cơn hoạn nạn, những người già nua, giúp đỡ các đôi lứa đang chuẩn bị hôn nhân: - " Gia đình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa sứ mệnh trở nên tế bào đầu tiên và sống động của xã hội. Gia đình sẽ chu toàn được sứ mệnh đó, nếu gia đình tỏ ra như một đền thờ của Giáo Hội trong nhà mình, nhờ yêu thương nhau và cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa , nếu toàn thể gia đình cùng nhau tham dự vào việc phụng vụ của Giáo Hội, sau cùng, nếu gia đình tỏ ra hiếu khách, cũng như cổ võ đức công bằng, cũng như những việc khác, giúp các anh em đang túng thiếu. Trong việc tông đồ của gia đình, cần phải kể đến những việc như nhận làm con những đứa trẻ bị bỏ rơi, ân cần tiếp đón những khách lạ, cộng tác với học đường, khuyên bảo và giúp đỡ thanh thiếu niên . giúp những người đã đính hôn cho việc hôn nhân của họ được tốt đẹp, giúp dạy giáo lý, nâng đỡ những đôi vợ chồng cũng như những người gặp khó khăn về vật chất hay tinh thần, mà còn cung cấp cho họ những tiện nghi chính đáng của tiến bộ kinhời gọi hãy cộng ta tế " ( A A III, 11). Đôi vợ chồng công giáo còn có bổn phận bênh vực các quyền của gia làm chính quyền lưu tâm đến các nhu cầu thiết thực của gia đình, là những nhu cầu thay đổi theo thời gian. Như vậy, cũng như các mối liên hệ gia đình thay đổi, nhứt là đối với giới trẻ. Trọng luợng của giới trẻ trong xã hội càng lúc càng tăng trưởng thêm đáng kể, bởi đó cần phải có một động tác tông đồ chính đáng. Nhưng chính các cô cậu trẻ phải là những tông đồ tiên khởi và trực tiếp đối với giới trẻ, cũng vậy, chính vì các cô chú trẻ là những nhân chứng đích thực của Chúa Kitô đang sống giữa họ. Những bậc trưởng thành phải là mẫu gương tông đồ, cung cấp các trợ lục và kích thích , nâng đỡ để cho giới trẻ đang lớn lên hướng về tương lai, nhưng vẫn phải luôn luôn ý thức và kính trọng các truyền thống tốt đẹp. Như vậy, người tín hữu giáo dân có phận vụ tông đồ đối với hoàn cảnh xã hội của mình, phận vụ mà chỉ có họ mới có khả năng tiếp tục thăng tiến, trong lãnh vực làm việc, trong các mối tương giao gia đình. Trong cuộc sông hằng ngày, những lúc thông thường, cũng như trong những hoàn cảnh phức tạp, đối với các việc quết định bé nhỏ cũng như lớn lao, phận vụ tông đồ của người tín hữu giáo dân gồm trong việc thấm nhuần tinh thần Kitô giáo vào tâm thức, lề luật của cộng đồng xã hội, trước tiên bằng chính cuộc sống chính đáng của mình với đức tin, qua những công việc có thể bao gồm cả các hoàn cảnh và địa thế khác nhau trong lãnh vực quốc nội và quốc tế, cùng với việc hằng bền tâm loan báo Phúc Âm: - " Ở mọi nơi và mọi lúc, nhứt là trong những miền mà hạt giống Phúc Âm vừa được gieo vãi, hoặc trong những nơi Giáo Hội mới được thành lập hay trong những nơi Giáo Hội đang gặp phải những trở ngại lớn lao, những gia đình Kitô giáo vẫn là chứng nhân qúy giá nhứt của Chúa Kitô đối với thế gian, với tất cả đời sống gắn liền với Phúc Âm và tỏ ra là gia đình Kitô giáo gương mẫu " ( A A III, 11). Chương IV. - Các phương cách hành xử tông đồ như các cá nhân. Động tác tông đồ, người tín hữu giáo dân có thể hành xử với tư cách cá nhân hay theo phương thức cộng đồng hoặc hiệp hội. Trên thế giới có những nơi và hoàn cảnh cá biệt, trong đó việc tông đồ cá nhân giữ một vai trò tối quan trọng để chứng nhân và truyền bá sứ điệp Phúc Âm. Bằng động tác và lời nói, được Chúa Kitô soi sáng, dạy bảo cho và đặc dành cho Chúa Kitô, người tín hữu giáo dân quen thân với những người có đức tin, để tăng cường thêm đức tin cho họ nhứt là bằng tinh thần bác ái trọng đại: - " Hình thức đặc biệt cũa hoạt động tông đồ cá nhân là giúp giáo dân nhân chứng bằng đời sống, phát xuất từ đức tin , lòng trông cậy và đức bác ái. Đó là dấu chỉ thich hợp trong thời đại chúng ta và biểu lộ Chúa Kitô sống động trong các tín hữu của Người. Cùng với việc tông đồ bằng lời nói, mà trong một số hoàn cảnh lại rất cần thiết việc người giáo dân rao giảng Chúa Kitô, cắt nghĩa và phổ biến giáo lý của Người tùy theo hoàn cảnh và tài năng của mỗi người, đồng thời họ cũng trung thành tuyên xưng giáo lý của Người nữa " ( A A IV, 16). Việc hoạt động tông đồ tập thể hay được tổ chức thành hiệp hội có tầm quan trọng can bản , bởi vì đáp ứng lại được các nhu cầu của con người và của các tín hữu Kitô giáo sống trong xã hội. Đó là những gì nói lên cách sống thông hiệp và đoàn kết của Giáo Hội trong Chúa Kitô. Các hiệp hội tông đồ có mục đích và hình thức khác nhau, nhưng tất cả đều phải hợp nhau để hoàn thành sứ mệnh Giáo Hội giũa trần thế. Các hiệp hội hoạt động giữa trần thế với mục đích nầy là hoạt động đồng nhịp hoà hợp với Hàng Giáo Phẩm trong Giáo Hội, Đạo Binh Đức Mẹ, Phong Trào Giáo Dân, Công Đoàn Công Giáo...chẳng hạn, cũng như những hiệp hội khác đang có những động tác tông đồ thật qúy giá. Thật vậy, họ đang cộng tác rao giảng Phúc Âm, thánh hoá con người , giáo dục lương tâm Kitô giáo, để thấm nhuần tinh thần Kitô giáo các cộng đồng và môi trường khác nhau , mà họ có dịp tiếp xúc. Sau cùng một lòng biết ơn cá biệt được dành cho tất cả các tín hữu giáo dân, độc thân hay có gia đình, luôn luôn hoặc đôi khi cộng tác với các hiệp hội khác bằng khả năng chuyên môn của mình. Chương V. - Hệ thống thứ tự phải tuân giữ trong động tác tông đồ. Trong bất cứ trường hợp nào, động tác tông đồ của người tín hữu giáo dân phải được hội nhập vào động tác tông đồ của cả Giáo Hội, theo hình thức cộng tác được Hàng Giáo Phẩm thiết định, để bảo đảm cho việc sắp xếp phối hợp, nhưng vẫn luôn luôn tôn trọng đặc tính của mỗi lãnh vực:, - " Vì muốn cổ võ tinh thần hiệp nhứt, để bác ái huynh đệ nổi bậc lên trong mọi hoạt động tông đồ của Giáo Hội, để đạt được những mục đích chung, cũng như để tránh những cạnh tranh nguy hại, cần phải có sự tôn trọng lẫn nhau và sự phôi hợp thích đáng giữa các tổ chức tông đồ trong Giáo Hội, miễn là đặc tính riêng của mỗi tổ chức vẫn được duy trì " ( A A V, 23). Phận vụ của Hàng Giáo Phẩm là kích thích việc tông đồ của các tín hữu giáo dân, cung cấp cho họ những nguyên tắc và trợ lực tinh thần, định chế hoạt động tông đồ vì lợi ích chung của Giáo Hội. Dành mọi dễ dàng cho việc cộng tác, trong các giáo phận các đóng góp ý kiến cho việc tông đồ của Giáo Hội, bên cạnh Toà Thánh cần có một ủy ban cố vấn đặc biệt nhằm thúc đẩy tông đồ giáo dân, như là trung tâm cung cấp cho tin tức về các động tác và sáng kiến, trợ lực cho Hàng Giáo Phẩm cũng như giáo dân, ví dụ như Thánh Bộ Giáo Dân chẳng hạn. Giữa những mục đích đang nhằm cũng gồm có sự hợp tác giữa các tín hữu công giáo và các Kitô hữu khác, cũng như với những người ngoài Kitô giáo, nhưng cùng cộng tác với nhau cho gia tài Phúc Âm chung và các giá trị chung của con người. - " Vì cùng chung gia sản Phúc Âm và do đó cùng chung một bổn phận làm chứng cho Chúa Kitô, người công giáo nên và thường phải cộng tác với các Kitô hữu khác, hoặc cá nhân với cá nhân, hoặc giữa các cộng đồng Giáo Hội trong các hoạt động, cũng như trong các hội đoàn trên bình diện quốc gia hay quốc tế. Vì cùng chung những giá trị nhân bản, nên người Kitô hữu đang theo dõi mục đích tông đồ cũng thường phải cộng tác với những người tuy không theo Kitô giáo, nhưng cũng nhìn nhận những giá trị nhân bản đó " ( A A V, id:). Chương VI. - Huấn luyện để làm tông đồ. Muốn cho công việc tông đồ được thực hiện một cách hữu hiệu, người tín hữu Chúa Kitô cần phải có được một nền huấn luyện tương xứng. Các nền tảng và các nguyên tắc của công cuộc huấn luyện đó là những gì đã được Công Đồng Vatican II cung cấp cho. Giả sử cuộc huấn luyện đó là huấn luyện về nhân bản: người tín hữu giáo dân phải được đặt hội nhập vào môi trường con người và xã hội trong đó mình phải hoạt động. Nền tảng của việc huấn luyện là huấn luyện về mặt thiêng liêng. Người tín hữu giáo dân phải được dạy bảo cho biết chu toàn động tác của mình trong đức tin. Ngoài ra còn cần phải được chuẩn bị cho một nền thần học và luân lý học, nhưng không bao giờ được lơ là với nền văn hoá và kỷ thuật cần được trang bị. Người tín hữu giáo dân cần được trang bị cho một gia sản hiểu biết sâu sắc về những sinh động của xã hội, mà mình được hội nhập vào đó, có được các phương tiện trong tay, định hướng các động tác tông đồ nhằm vào các nguyên tắc căn bản khởi thủy và cuối cùng của đức tin. Nền huấn luyện cho việc tông đồ kéo dài suốt cuộc đời, khởi đầu từ thời còn thơ ấu nhờ cha mẹ, được tiếp tục kế đến trong các cộng đồng Giáo Hội và tạm thời, đôi khi trong các họ đạo và học đường. Các linh mục, giáo lý viên, các thầy cô giảng dạy cung cấp cho, mỗi người tùy theo lãnh vực của mình, một nền huấn luyện tín lý, đạo đức thiêng liêng và các động tác thiêt thực. Một bước tiến thêm nữa, đó là một nền giáo dục phải thoả đáng đáp ứng lại các động tác tông đồ cần phải hành xử. Việc tông đồ truyền bá Phúc Âm và thánh hoá con người cần phải kích thích phát huy việc đối thoại với các tín hữu cũng như với những người không có đức tin, để loan truyền sứ điệp của Chúa Kitô và được khởi đầu bằng nhân chứng qua cuộc sống: - " Những công cuộc bác ái và từ thiện là một bằng chứng hùng hồn về đời sống Kitô giáo, nên việc huấn luyện tông đồ cũng cần phải khuyến khích thực hiện những công cuộc đó, để cho các đồ đệ của Chúa Kitô ngay từ thiếu thời đã biết chia xẻ nỗi đau khổ của người anh em và rộng lòng giúp đỡ những anh em thiếu thốn " ( A A VI, 31). Công Đồng Vatican II nhận biết và rất hài lòng về những gì trợ lực dành cho việc tông đồ giáo dân, nhưng đồng thời cũng kích thích các giáo phận, cũng như họ đạo, nên tạo nên các trung tâm nghiêng cứu và học hỏi cho sắc thái tông đồ đang bàn: - " Thánh Công Đồng cũng vổ võ sự thiết lập những trung tâm thu thập tài liệu nghiêng cứu cho hết mọi hoạt động tông đồ, không những về khoa thần học mà cả về các khoa học khác như nhân chủng học, tâm lý học, xã hội học, phương pháp học, để phát triển tài năng của giáo dân nam cũng như nữ, giới trẻ cũng như giới trưởng thành " ( A A VI, id.). Lời kêu gọi cuối cùng. Tất cả các tín hữu Chúa Kitô đều được kêu gọi hãy cộng tác dưới nhiều hình thức và phương thế khác nhau, cho cùng một công việc tông đồ duy nhứt của Giáo Hội. Giáo Hội đang phải tiếp tục thích ứng hóa mình đối với các nhu cầu mới của thời đại, bằng cách đại lượng hành động trong công việc của Chúa, vì biết rằng việc nhọc công gắng sức của mình không bao giờ là điều vô ích nơi Chúa: - " Như vậy, người giáo dân hãy chứng tỏ mình là cộng tác viên của Chúa, cộng tác vào cùng một công cuộc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Những cộng tác viên phải luôn luôn thích nghi với những đòi hỏi của thời đại và không ngừng ra sức phục vụ Chúa, bởi lẽ biết rằng khó nhọc của mình không phải là uổng phí trong Người " ( A A , 33 ).

 

Đoạn Phúc Âm Thánh Marco Chúa Nhật hôm nay thuật lại cho chúng ta Chúa Giêsu làm phép lạ chữa người bị phong hủi. 1 - Để dễ hiểu hơn tâm tình của dân chúng lúc đó đối với người mắc bệnh phong hủi, chúng ta nên đặt đoạn Phúc Âm liên quan đến Cựu Ước, đến các chương 13-14 sách Levi, mà chúng ta đã nghe ở bài đọc thứ nhứt: - “ Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xõa tóc, che râu và kêu lên: Ô uế! Ô uế! Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ra ô uế; nó ô uế: nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó, là một nơi bên ngoài trại ” (Lv 13, 45-46). Từ ngữ “ phong hủi ” được dùng để chỉ các chứng bệnh ngoài da, mà mọi người coi như là bệnh có thể nguy hiểm đến tánh mạng, trọng bệnh. Do đó người mắc bệnh phong hủi được coi là “ ô uế! ô uế!”. Ô uế không có nghĩa là dơ bẩn vật chất, hôi hám, cho bằng hèn hạ, đê tiện, đáng khinh bỉ, ngược lại với những gì trong sạch, cao cả, thánh thiện được biểu tượng bằng sự hiện diện của Thiên Chúa. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được tâm trạng dân Do Thái lúc đó đối với người mắc bệnh phong hủi, không xứng đáng ở chung đụng với những người khác sống trong lều trại của dân chúng, nơi có lều chứa đựng các bia đá Luật Moisen, nơi có Thiên Chúa hiện diện. Bởi đó chúng ta có thể hiểu được tại sao Luật Moisen bắt buộc người mắc bệnh phong hủi phải “…ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại ” ( Lv 13, 46). Không phải ở chung chạ có thể lây bệnh truyền nhiểm, cho bằng người mắc bệnh phong hủi được coi là không xứng đáng, “ô uế ” , đứng trước người khác và đứng trước “ hòm bia Luật Moisen”, có Thiên Chúa hiện diện. Nói cách khác, quan niệm đối với người mắc bệnh phong hủi lúc đó là quan niệm liên hệ đến tôn giáo, phụng vụ tế tự, hơn là quan niệm vệ sinh, sức khoẻ. Điều đó cắt nghĩa tại sao người mắc phong hủi khi khỏi bệnh phải đến trình diện trước các thầy tư tế, để được chuẩn định xứng đáng hay chưa xứng đáng tham dự các buổi tế tự Thiên Chúa, chớ không phải trình diện trước thầy thuốc để xác nhận bịnh trạng: - “ …hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng những gì ông Moisen đã truyền, để làm chứng cho mọi người biết…” ( Mc 1, 44). Người mắc bệnh phong hủi, cho đến lúc nào còn mắc bệnh, chưa được các tư tế chuẩn y đã khỏi bệnh, là người không có đủ tư cách thuộc về cộng đồng dân chúng Do Thái, bị loại ra khỏi những buổi tế tử tôn vinh Thiên Chúa. 2 – Thánh Marco thấu hiểu tâm thức đó của người Do Thái, nên trong văn bản Hy Lạp, thay vì dùng động từ “ chữa lành, chữa khỏi ” , Ngài dùng động từ “ thanh tẩy, chữa sạch” ( Hy Lạp, katharizo) - “ Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch ( katharizo). Người động lòng thương, giơ tay đụng vào anh và phán: Ta muốn, anh sạch đi ( katharizo)…” ( Mc 1, 40-41). Cũng vậy, hai câu Phúc Âm kế đến Thánh Marco dùng từ ngữ “ làm cho sạch” dưới hình thức danh từ ( katharismos): - “ Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh có lại được sự sạch sẽ ( katharismos). Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi và bảo anh: Coi chừng, đừng nói với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì chính anh được sạch ( có lại được sự sạch sẽ, katharismos), thì hãy dâng những gì ông Moisen đã truyền…” (Mc 1, 43-44). Dĩ nhiên cử chỉ của Chúa Giêsu là tác động chữa trị, chớ không phải chỉ rửa sạch, - “ Người chạnh lòng thương, giơ tay ra và đụng vào anh…” ( Mc 1, 41). Chứng bệnh được chữa khỏi, bệnh nhân được hồi phục sức khoẻ, địa vị xã hội và tôn giáo của mình, “ …hãy đi trình diện tư tế, và vì chính anh được sạch, thì hãy dâng những gì ông Moisen đã truyền…”. Dùng lại ngôn từ tôn giáo và tế tự, được liên tưởng đến sách Levi như đã nói, Thánh Marco có ý diễn tả trạng thái đối ngược giữa những gì người bệnh phong hủi yêu cầu và được Chúa Giêsu đáp ứng chữa khỏi ở các câu 40-42: - Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch. Người chạnh lòng, giơ tay đụng vào anh và phán: Ta muốn, anh sạch đi. Lập tức chứng phong hủi biến khỏi và anh được sạch” ( Mc 1, 40-42), trái với tập tục chữa bệnh của dân Do Thái theo luật Moisen, phải theo thể lệ của các tư tế xác nhận: - “ Đừng nói với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh được sạch, thì hãy dâng những gì ông Moisen đã truyền…” ( Mc 1, 44). Điều vừa kể cho thấy Nước Thiên Chúa hiện diện nơi con người Chúa Giêsu là những gì vượt lên trên Luật Moisen, Thiên Chúa có thể can thiệp vào cuộc sống con người lên trên Luật Moisen, chữa cho người mắc bệnh hủi được lành không cần qua tư tế. 3 - Ở phần đầu của đoạn Phúc Âm, lời nói của người mắc bệnh phong hủi vừa là lời nguyện xin vừa là lời tuyên xưng đức tin: - “ …anh qùy xuống van Ngài: Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch…” ( Mc 1, 40), là một lời cầu nguyện. Đứng trước nhu cầu của con người, Chúa Giêsu mềm lòng. Có những lời cầu nguyện không thể nào Chúa dửng dưng được: “ Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch…”. Là một cử chỉ khiêm tốn làm rung động trái tim Chúa Giêsu, làm cho Chúa Giêsu phải ra tay cứu giúp, ngay cả lúc thời điểm chưa đến: - “ Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay và bảo: Coi chừng, đừng nói với ai cả…” (Mc 1, 43). Lời cầu nguyện của người mắc bệnh phong hủi không thể để cho Chúa dửng dưng được. Ước gì những lời cầu nguyện của chúng ta cũng có tâm tình, cung điệu và cường độ như lời cầu của người mắc bệnh phong hủi, nói với Chúa những bất hạnh, giới hạn và bất lực của chúng ta, lột trần con người nhỏ hèn và yếu đuối của chúng ta trước mặt Người. Kế đến lời cầu nguyện của người mắc bệnh phong hủi cũng là lời tuyên xưng đức tin, - “ Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch…”. Đó là cử chỉ nhận biết quyền năng Thiên Chúa của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu là Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng hành động thực hiện những gì như ý mình muốn. Đó là tư tưởng được Thánh Marco thuật lại, liên tưởng đến câu nói trong sách Khôn Ngoan: - “ Người lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con, nhưng có thể xử đụng quyền năng bất cứ khi nào Người muốn” ( Sap 12, 18 ). Đó là lời tuyên xưng đức tin của người mắc bệnh phong hủi, của Thánh Marco, của các Cộng Đồng Ki Tô tiên khởi và cũng là của chúng ta. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền hành động, thực hiện được những gì mình muốn, - “ Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con sạch…Ta muốn, anh sạch đi ” ( Mc 1, 40.42). Chúa Giêsu có quyền năng hành động chữa trị, “ …nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho con được sạch ” : Chúa Giêsu là Thiên Chúa. 4 - Ngoài ra đoạn Phúc Âm Thánh Marco cũng thuật lại cho chúng ta mối tương phản giữa cử chỉ của Chúa Giêsu đối với người mắc bệnh phong hủi, Người lắng nghe và thoả mãn lời cầu xin chữa trị cho anh , trái với cách cư xử của anh trước lời dặn bảo của Người: - “ Nhưng Người nghiêm giọng, đuổi anh đi ngay và bảo anh: Coi chừng, đừng nói gì với ai cả…” (Mc 1, 43). Mặc dầu được Người “ nghiêm giọng ” và dặn do như vậy, - “ Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy đi khắp nơi…” ( Mc 1, 45). a) Trước hết dựa trên chính văn mạch được Thánh Marco thuật lại, thái độ không vâng lời những gì Chúa Giêsu dặn bảo cho thấy người mắc bệnh phong hủi phân biệt rõ ràng - thái độ phải làm nhân chứng cho Chúa Giêsu, là Đấng được Thiên Chúa sai đến, có quyền năng như Thiên Chúa, hành động thực hiện những gì mình muốn - và bổn phận phải tuân giữ những gì Luật Moisen truyền dạy, “…nhưng hãy đi trình diện tư thế, và vì anh được sạch, thì hãy dâng những gì ông Moisen đã truyền…” ( Mc 1, 44). Thuật lại cách hành xử vừa kể của người mắc bệnh phong hủi được chữa khỏi, Thánh Marco có ý cho chúng ta thấy địa vị và quyền năng trổi thượng của Chúa Ki Tô hơn những gì đã được truyền dạy trong sách Torah của Luật Moisen. Người mắc bệnh phong hủi được chữa sạch ngay cả trước khi chu toàn các bổn phận được Moisen truyền cho: - “ …và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng những gì ông Moisen đã truyền, để làm chứng cho người ta biết ” ( Mc 1, 44). Viết lên điều vừa kể của phép lạ chữa người mắc bệnh hủi, Thánh Marco tuyên đoán sẽ có những cuộc đối chất, đụng độ giữa cách hành xử, những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, giữa các tín hữu của ngài với nền tôn giáo Cựu Ước của Do Thái sẽ xảy ra từ chương II trở đi. b) Dùng động từ “ rao truyền ” ( Hy Lạp, keruso ) của cử chỉ người mắc bệnh hủi được chữa lành, cho thấy Thánh Marco có ý nói lên sức mạnh của sứ điệp Ki Tô giáo phải được “ rao truyền ” , tuyên xưng và làm nhân chứng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, - “ có thể xử dụng quyền năng, bất cứ khi nào Người muốn ” ( Sap 12, 18), nơi người tín hữu Chúa Ki Tô không gì có thể cản nỗi. Người tín hữu Chúa Ki Tô không thể bưng bích, che giấu đức tin của mình, mà là phải “ rao truyền” , làm chứng nhân những gì Chúa đã mạc khải cho mình, như gương người mắc bệnh hủi được chữa khỏi: - “ Chẳng ai thắp đèn rồi lại để dưới đáy thùng, nhưng để trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà ” ( Mt 5, 15). Đó là những gì người mắc bệnh hủi được chữa khỏi đã làm gương cho mọi tín hữu Chúa Ki Tô: “rao truyền ” , làm nhân chứng cho Chúa Ki Tô và cho chân lý. c) Sau cùng câu Phúc Âm chúng ta suy niệm hôm nay ( Mc 1, 44) có cách diễn tả tuơng tợ và đối ngược với những gì Thánh Marco thuật lại ngày Phục Sinh, khi các phụ nữ sáng sớm đến viếng mộ Chúa Giêsu, gặp thiên sứ báo tin cho các bà và các bà kinh hãi bỏ chạy: - “ Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai vì sợ hãi ” ( Mc 16, 8). Viết lại sự kiện vừa kể về thái độ các phụ nữ ở phần cuối Phúc Âm, Thánh Marco có ý khuyên những ai đang đọc phần cuối của Phúc Âm Ngài hãy dần dở lại những trang đầu của Phúc Âm, kể cả trang về người mắc phong hủi được chữa khỏi hôm nay. Chúng ta sẽ thấy rằng sứ mạng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, công trình cứu rỗi được Chúa Giêsu thực hiện và sự sống lại của Người, không đặt nền tảng trên ý chí của nhân loại, mà từ ý muốn của Thiên Chúa. Chính dựa trên quyền năng của Thiên Chúa mà Phúc Âm, Tin Mừng của Chúa Giêsu Phục Sinh, được rao giảng khắp nơi, chớ không dựa vào ý chí của con người, “ …liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía ” của các bà. Với lòng xác tin như vậy, Thánh Phaolồ mời gọi mọi tín hữu Chúa Ki Tô, trong khiêm nhượng và ý thức nhân chứng của mình trong cuộc sống, mọi động tác, cách cư xử, lời ăn tiếng nói, hãy “ làm tất cả để vinh danh Thiên Chúa ”: - “ Vậy dù khi ăn, dù khi uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa ” ( 1 Cor 10, 31).

 

Hiến Chế Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II, năm 1964, nói về " Cộng Đồng Dân Chúa", Hiến Chế có ý hiểu là Cộng Đồng đó gồm có cả các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân: - " Sau khi xác định nhữnh chức vụ của phẩm trật, Thánh Công Đồng sẵn sàng đề cập đến bậc sống của các Kitô hữu được gọi là giáo dân. Mặc dầu tất cả những gì nói về Dân Chúa đều có liên quan đến giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ, nhưng có một số điều đặc biệt thuộc về giáo dân nam nữ, về địa vị và sứ mệnh của họ, hoàn cảnh đặc biệt thời đại chúng ta đòi hỏi phải tìm hiểu nền tảng của những điều đó một cách thấu đáo hơn " ( LG, 30). I - Giáo dân trong Giáo Hội. Các vị chủ chăn biết - các tín hữu giáo dân cộng tác lợi ích cho Giáo Hội bao nhiêu, - tự mình chủ chăn đơn độc không thể đảm trách nổi cả gánh nặng sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội, - mình phải nhận biết các sứ mạng và ân sủng của giáo dân, như vậy, tất cả đều nên cộng tác với nhau, trong tầm mức khả năng của mình, vì công ích. II - Bản chất và sứ mệnh của giáo dân. " Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất những người tín hữu Chúa Kitô không có chức thánh hoặc tu trì được Giáo Hội công nhận; nghĩa là những người tín hữu Chúa Kitô được hiệp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ Phép Rửa, đã trở thành Dân Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô, theo cách thức của họ. Họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và giữa trần thế theo phận vụ riêng của mình" ( LG, 31). Như vậy - Sứ mạng của hàng giáo phẩm: SỨ MẠNG LIÊN HỆ ĐẾN MẦU NHIỆM CHỨC THÁNH. - Sứ mạng của hàng tu sĩ: NHÂN CHỨNG GIỮA THẾ GIAN TINH THẦN CÁC MỐI PHƯỚC THẬT. Trong khi đó thì sứ mạng của người tín hữu giáo dân là TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA - Trong khi hành xử các sự việc và sự vật trần thế theo thánh ý Chúa, - Đương đầu hằng ngày với các bổn phận và việc làm của mình giữa thế gian, trong gia đình và ngoài xã hội. - Cộng tác từ trong nội tại thế gian, để thánh hoá thế gian, bằng cách hành động theo tinh thần Phúc Âm. - Chứng tỏ Chúa Kitô cho những người khác biết, với nhân chứng bằng đời sống của mình trong tinh thần nồng nhiệt của đức tin, niềm hy vọng và bác ái. - Nhận biết và chăm lo các sự việc trần thế, thế nào để chúng được thực hiện và hằng tăng trưởng lên theo thánh ý Chúa Kitô. - Làm cho các sự việc và sự vật trần thế trở thành những thực thể ngợi khen Đấng Tạo Hoà và Đấng Cứu Thế. III - Địa vị của người tín hữu giáo dân trong Cộng Đồng Dân Chúa. " Giáo Hội do Chúa thiết lập, được tổ chức và điều hành theo nhiều thể thức khác nhau thật lạ lùng. " Vì như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể, mọi chi thể không có cùng một nhiệm vụ; cũng vậy, chúng ta tuy là nhiều người, nhưng là một thân thể trong Chúa Kitô, nên mỗi người chúng ta là chi thể của nhau " ( Rom 12, 4-5 ). Qua những tư tưởng vừa kể của Thư gởi cho các tín hữu Roma, Thánh Phaolồ cho chúng ta biết - địa vị chung đồng đẳng của các phần thân thể Chúa Kitô phục sinh, - đồng đẳng trong ơn sủng, bởi lẽ tất cả là con cái Thiên Chúa, - đồng đẳng được ơn kêu gọi trở nên thánh thiện. Mặc dầu mỗi người có những phận vụ khác nhau, giữa các tín hữu mỗi người đều có địa vị thực sự đồng đẳng như nhau, nhìn theo phẩm giá và động tác để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô. Sự khác biệt được Chúa đặt nên giữa các giáo sĩ thừa tác viên và người tín hữu giáo dân, tự bản chất của mình là đặc tính liên đới hợp nhất với nhau, bởi lẽ các vị chủ chăn và tín hữu được gắn bó liên kết với nhau bởi mối tương giao trong cộng đồng: - theo gương Chúa Giêsu, các vị chủ chăn được nâng lên để phục vụ nhau và cùng nhau phục vụ giáo dân. - về phía người tín hữu giáo dân, các giáo dân cộng tác với các vị chủ chăn và với các đấng bậc sư phụ hướng dẫn cho: " Bởi đó chỉ có một Dân Thiên Chúa được Người tuyển chọn: " chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin và một phép rửa ( Eph 4, 5 ). Các chi thể cùng chung một phẩm giá vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được làm con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng và một đức bác ái không phân chia. Vì thế trong Chúa Kitô và trong Giáo Hội, không còn có sự hơn kém vì nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ..." không còn là Do Thái hoặc Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ vì anh em hết thảy đều là một trong Chúa Giêsu Kitô" ( Gal 3, 28; Col 3, 11) ( LG, 32). IV - Hoạt động tông đồ của người tín hữu giáo dân. Người tín hữu giáo dân - được quy tựu thành Dân Thiên Chúa, - được thiết lập thành một Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô, dưới sự lãnh đạo của một đầu nảo duy nhứt, - được kêu gọi cộng tác như là những chi thể sống động với tất cả năng lực mà mình nhận được từ Đấng Tạo Hoá và ân sủng từ Đấng Cứu Thế: " Các tín hữu được quy tựu thành Dân Thiên Chúa và cấu tạo thành Thân Thể duy nhứt của Chúa Kitô , dưới quyền lãnh đạo của một Đầu duy nhứt. Dù họ là ai, họ cũng được kêu gọi dùng hết sức lực đã nhận lãnh được do lòng từ ái của Đấng Tạo Hoá và do ân huệ của Đấng Cứu Thế, để phát triển và thánh hoá Giáo Hội không ngừng, như những chi thể sống động. Bởi đó, giáo dân làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mạng cứu độ của Giáo Hội. Mỗi tín hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc nhận lãnh Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Các Bí Tích, nhứt là Bí Tích Thánh Thể, thông ban và nuôi dưỡng họ trong đức ai đối với Thiên Chúa và đối với loài người, nhân đức nầy là linh hồn của mọi hoạt động tông đồ ..." ( LG, 33). Như vậy qua các Phép Bí Tích Rửa Tội, Thêm Sức và Phép Thánh Thể, người tín hữu giáo dân được Chúa kêu gọi và có sứ mạng cộng tác để phát triển Giáo Hội và thánh hoá chính mình cũng như thánh hoá thế gian. Tác vụ tông đồ của người giáo dân là tham dự vào sứ mạng cứu rổi của Giáo Hội. Đó là tác vụ tông đồ mà mọi tín hữu Chúa Kitô đều được kêu gọi tham dự vào qua Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Qua các Phép Bí Tích, nhứt là Phép Thánh Thể mọi tín hữu đều được thông ban cho tình yêu thương đối với Thiên Chúa và với mọi người. Lòng yêu thương đó là linh hồn của động tác tông đồ. Mọi tín hữu Chúa Kitô, nhứt là người tín hữu giáo dân, được kêu gọi làm cho thể hiện và biến thành động tác lòng yêu thương đó trong Giáo Hội, ở những nơi và trong các hoàn cảnh mà điều đó không thể trở thành muối và ánh sáng thế gian, nếu không có họ. Mỗi người tín hữu giáo dân, với những ân sủng mà mình nhận được, là nhân chứng và dụng cụ sống động của chính sứ mạng Giáo Hội " tùy theo tầm mức ân sủng được Chúa Kitô ban cho " ( LG, id.) Người tín hữu giáo dân được kêu gọi - cộng tác trong tác động tông đồ với Hàng Giáo Phẩm, - hành xử một vài phận vụ của chính Hàng Giáo Phẩm. Như vậy, tất cả mọi tín hữu giáo dân đều phải hành động, để cho đồ án cứu độ của Chúa được thông đạt đến mọi người và đến khắp nơi trên mặt đất. a ) Người tín hữu giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế chung của tất cả mọi chi thể Cộng Đồng Dân Chúa. " Chúa Giêsu Kitô , Thượng Tế vĩnh cửu, vì cũng muốn giáo dân tiếp tục cộng việc làm chứng và phục vụ của mình, nên đã nhờ Thánh Thần ban cho họ sự sống và không ngừng thôi thúc họ thực hành những điều thiện hảo ..." ( LG, 34). Thật vậy, tất cả động tác của người tín hữu giáo dân, từ kinh nguyện cho đến các sáng kiến tông đồ, đời sống đôi lứa vợ chồng và gia đình, công việc thường ngày, các an ủi nâng đỡ thiêng liêng và thể xác, nếu họ thể hiện trong Thánh Thần, và cả những khó khăn bực bội trong cuộc sống, nếu được họ nhẫn nại gánh lấy, tất cả đều trở thành của lễ thiêng liêng được hướng dâng lên cho Thiên Chúa, nhờ Chúa Kitô và hiến dâng thế giới cho Thiên Chúa : " Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng , và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Chúa Giêsu Kitô " ( 1 Pt 2, 5 ). b) Người tín hữu giáo dân tham dự vào thiên chức ngôn sứ của Chúa Kitô. " Chúa Kitô, vị Ngôn Sứ cao cả, Đấng đã dùng chứng tích đời sống và sức mạnh của lời nói để công bố vương quốc của Chúa Cha...Người chu toàn chức vụ đó, không những nhờ hàng Giáo Phẩm là những người nhân danh và lấy quyền Người giảng dạy, nhưng nhờ cả các giáo dân đã được Người đặt làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ để sức mạnh Phúc Âm được sáng ngời lên trong đời sống thường ngày, trong gia đình và ngoài xã hội ..." ( LG, 35). Chúa Kitô, vị Đại Ngôn Sứ, thiết định các tín hữu giáo dân thành nhân chứng của Người, ban cho họ ý thức được ý nghĩa đức tin của họ và ân sủng của Lời Người trong Phúc Âm, nhờ đó Phúc Âm được chiếu rạng lên trong đời sống thường nhật, trong gia đình, ngoài xã hội. Người tín hữu giáo dân cho thấy mình là con cái của lời Chúa hứa, khi họ vững mạnh trong đức tin và niềm hy vọng, biến thời gian hiện tại đang sống thành lợi ích và trông đợi niềm vinh quang tương lai với lòng kiên nhẫn. Niềm hy vọng đó, họ không được để ẩn giấu trong tâm hồn, mà còn phải được thể hiện ra trong các cấu trúc đời sống xã hội. Ngưòi tín hữu giáo dân trở thành nền tảng hữu hiệu của đức tin, nếu họ biết phối hợp lời tuyên xưng đức tin của mình hội nhập vào cấu trúc cá biệt của đời sống thường nhật. - hôn nhân và gia đình có giá trị cao cả trong đời sống, nơi mà đôi vợ chồng được ơn riêng của Chúa kêu gọi đối với họ, người nầy cho người kia và cha mẹ cho con cái là những nhân chứng đức tin và tình yêu thương của Chúa Kitô. - mặc cho bận bịu phải chăm lo các vấn đề và các việc trần thế, người tín hữu giáo dân có thể và phải tác động rao giảng Phúc Âm cho thế giới. * trong trường hợp thiếu các vị giáo sĩ hay vì các vị bị ngăn cản, người tín hữu giáo dân có thể thay thế cho các vị trong một vài thánh vụ, tùy theo điều kiện cho phép của mỗi người. * một vài người tín hữu giáo dân khác cũng có thể hy sinh cả đời sống mình cho Nước Chúa Kitô giữa trần thế. * họ nên chăm lo tìm hiểu sâu đậm hơn chân lý đã được mạc khải cho * cùng nhau khẩn xin Chúa ban cho ân sủng hiểu biết hơn: " ...Dù có một số giáo dân đã dốc toàn lực vào việc tông đồ, tất cả vẫn phải cộng tác vào việc mở mang và phát triển Nước Chúa Kitô trên trần gian. Vì vậy, giáo dân phải khéo léo tìm hiểu sâu xa hơn chân lý Chúa mạc khải, và tha thiết nài xin Chúa ban ơn khôn ngoan cho mình " ( LG, 35). c) Người tín hữu giáo dân tham dự vào tước vương giả. Chúa Kitô ao ước trải rộng - vương quốc chân lý và sự sống - vương quốc thánh thiện và ân sủng - vương quốc công lý, hoà bình và tình yêu thương của Người bằng cả nhờ phương thức các người tín hữu giáo dân: * " Chúa Kitô đã hạ mình vâng lời cho đến chết, và vì đó Người được Chúa Cha tôn vinh ( Ph 2, 8-9), đã vào trong vinh quang nước Người. Mọi vật phải suy phục Người, cho đến khi Người cùng với mọi tạo vật suy phục Chúa Cha, dể Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi người ( 1 Cor 15, 27-28). Người cũng thông ban cho các môn đệ quyền bính đó để họ được hưởng sự tự do vương giả và chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi họ, bằng đời sống từ bỏ và thánh thiện ( Rom 6, 12). ...Thật thế, Chúa cũng muốn nhờ cả giáo dân để mở rộng nước Người, nước của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hoà bình..." ( LG, 36). Bởi đó người tín hữu giáo dân - phải nhận biết bản tính sâu xa của mọi vật, giá trị và định hướng của chúng nhằm tôn vinh Thiên Chúa, - phải biết trợ lực giúp đỡ nhau để có được một cuộc sống thánh thiện, ngay cả bằng những công việc trần thế, để cho thế gian được thấm nhuần Thánh Thần của Chúa Kitô, và đạt được một cách hữu hiệu cùng đích công lý, hòa bình và bác ái của mình, Người tín hữu giáo dân với thẩm quyền của mình, phải biết góp phần để cho tạo vật được dựng nên tiến triển lên nhằm lợi ích cho tất cả mọi người. Khả năng góp phần của họ là góp phần - bằng việc làm, - bằng kỷ thuật, - bằng văn hoá được phát huy và phổ biến hợp lý, nhờ đó nền tiến bộ phổ quát trong tự do nhân loại và Kitô giáo được thể hiện. Như vậy, Chúa Kitô nhờ phương thiện chi thể của Giáo Hội, sẽ soi sáng càng lúc càng nhiều hơn cho cả xã hội loài người bằng Ánh Sáng Cứu Độ của Người. Bằng cách chung sức cộng tác với nhau, người tín hữu giáo dân - lành mạnh hoá các thể chế, cơ chế và hoàn cảnh thế gian, khiến cho các thực thể đó thích hợp với lề luật công lý, - tạo điều kiện thuận lợi để thực hành các đức tính, - thấm nhuần văn hoá và động tác con người bằng giá trị luân lý. Tác động như vậy, người tín hữu giáo dân dọn sẵn đồng ruộng để gieo giải lời Chúa và tinh thần hoà bình được loan báo hội nhập được vào thế gian. Người tín hữu giáo dân phân biệt nhau giữa quyền và bổn phận thuộc thẩm quyền của họ. Họ có thể là - thành phần của Giáo Hội, - thành phần của xã hội con người. Ước gì họ tìm kiếm phương thức để hoà hợp với nhau, bằng phương thức ghi nhớ rằng mỗi sự việc hay vật thể trần thế phải được tinh thần Kitô giáo hướng dẫn, bởi lẽ không có động tác nào của con người, cả những động tác thuần nhứt trần thế, đều có thể tách mình ra khỏi giới răn của Thiên Chúa. d) Tín hữu giáo dân và hàng giáo phẩm. * " Như mọi Kitô hữu khác, giáo dân cũng có quyền được các chủ chăn có chức thánh ban phat dồi dào ơn trợ lực chứa đựng trong kho tàng thiêng liêng của Giáo Hội, đặc biệt là Lời Chúa và các Phép Bí Tích. Như con cái Chúa và như anh em trong Chúa Kitô, họ cũng sẽ trình bày với các vị ấy những nhu cầu và khát vọng của mình một cách tự do và tín cẩn ..." ( LG, 37 ). Qua những dòng vừa được trích dẫn, người tín hữu giáo dân có quyền nhận được của cải thiêng liêng ( Lời Chúa và các Phép Bí Tích), cũng như có khả năng và đôi khi cũng là bổn phận phải trình bày đến các vị giáo sĩ cho các vị biết ý kiến của họ liên quan đến những gì lợi ích cho Giáo Hội, luôn luôn với tinh thần tôn trọng sự thật, đầy nghị lực và khôn ngoan , cũng như lòng kính trọng đối với các đấng bậc có chức thánh, đại diện cho Chúa Kitô. Người tín hữu giáo dân phải chấp nhận những gì các vị chủ chăn của mình, nhân danh phận vụ huấn dạy và của mình và quyền năng của Giáo Hội , cũng như khuyên dạy họ cầu nguyện lên Chúa: * " Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng các vị lãnh đạo của mình cho Thiên Chúa, để các ngài hoan hỉ, không than phiền thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn chúng ta, như những người sẽ phải trả lẽ ( Dt 13, 17) ( LG, 37) ". V - Các vị chủ chăn và tín hữu giáo dân. " Phần các chủ chăn có chức thánh, các ngài phải nhìn nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của giáo dân trong Giáo Hội. Các ngài nên chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, tin cẩn giao cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo Hội , cho họ tự do và có quyền để hành động. Hơn nữa, các ngài còn nên khuyến khích họ tự đảm nhận lấy công việc " ( LG, 37b). Qua những gì vừa trích dẫn, chúng ta thấy được các mối tương quan giữa các vị chủ chăn và người tín hữu giáo dân là mối tương quan trong thương yêu, tin tưởng, phó thác và tôn trọng lẫn nhau, nhằm đem lại lợi ích cho Giáo Hội. Trong nhãn quang vừa kể, chúng ta thấy được xác tín - tinh thần yêu thương và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân đối với các vị chủ chăn có chức thánh lãnh đạo, - nhằm năng lực thúc đẩy lòng hăng hái và nghị lực của người tín hữu giáo dân hợp tác với các động tác của các vị chủ chăn, - phần các vị chủ chăn, nhờ kinh nghiệm trên hiện trường của người tín hữu giáo dân, các vị có thể phán đoán chính xác và thích hợp hơn các vấn đề liên quan đến đời sống đạo đức, cũng như thuộc các lãnh vực trần thế. Như vậy Giáo Hội , đầy năng lực và khôn ngoan trong các chi thể, có thể thực hiện một cách hữu hiệu hơn sứ mạng đem lại đời sống cho thế gian. VI - Kết luận. * " Trước mặt nhân loại, mỗi giáo dân phải là chứng nhân của sự phục sinh và sự sống của Chúa Giêsu Kitô, đồng thời cũng là dấu hiệu của Thiên Chúa hằng sống ..." ( LG, 38). Cùng chung nhau, mỗi người một phần của mình, phải nuôi dưỡng thế gian bằng hoa trái thiêng liêng và loan truyền tinh thần yêu thương người nghèo hó, nhân lành và xây dựng hoà bình mà Chúa đã tuyên bố trong Tám Mối Phước thật: * " Vì Nước Trời là của họ " ( Mt 5, 2-12).

 

1 - Chủ đề của đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, ( Mc 1, 21-28), đề cập đến cuộc chạm trán giữa Chúa Giêsu và “ thần ô uế ” hay quỷ dữ muốn làm hại con người. Biến cố xảy ra được xác định vào một ngày thứ bảy, trong hội đường giữa sự sửng sốt và kinh ngạc của những người hiện diện. Họ sửng sốt và kinh ngạc trước tiên về cách giảng dạy của Chúa Giêsu và sau đó là về biến cố Người xua đuổi qủy dữ: - “ Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các kinh sư… Mọi người đều kinh ngạc, đến nỗi họ bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì? Giáo lý thí mới mẻ, Người lại có uy quyền. Người ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh ”( Mc 1, 22.27). Trước hết về lời giảng dạy của Người, chúng ta thấy câu Phúc Âm Thánh Marco không nhấn mạnh đến nội dung là Chúa Giêsu giảng dạy điều gì cho dân chúng trong hội đường ngày thứ bảy hôm đó. Không nhấn mạnh như vậy, Thánh Marco muốn làm cho chúng ta không chú ý đến sự kiện Chúa Giêsu giảng dạy cũng như nội dung Người giảng dạy điều gì, cho bằng tư cách giảng dạy của Người làm cho dân chúng ngạc nhiên: - “ Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các kinh sư…” ( Mc 1, 22). Nhưng viết như vậy, chắc chắn Thánh Marco cũng có ngụ ý rằng ai đọc Phúc Âm của Ngài cũng có thể tự đoán lấy được nội dung mới mẻ của những “ lời giảng dạy của Người ”. Chắc chắn hôm đó Chúa Giêsu không giải thích Lề Luật Moisen trong sách Torah của Do Thái, bao gồm năm quyển sách đầu tiên của Thánh Kinh ( Sáng Thế Ký, Xuất Hành, Lê –Vi, Dân Số và Đệ Nhị Luật), như những gì các kinh sư giải thích trong các hội đường ngày thứ bảy. Lời dạy của Chúa Giêsu khác với những gì chứa đựng trong Luật Moisen, mà các kinh sư thường dạy. Chúng ta biết được điều đó, khi Thánh Marco đề cập đến các kinh sư trong câu Phúc Âm vừa đọc: - “ Thiên hạ sửng sốt về lời dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các kinh sư…”. Nội dung mới mẻ làm cho “ thiên hạ sửng sốt ” như vừa kể, chúng ta có thể đoán được, bởi lẽ Thánh Marco đã đề cập đến không lâu trước đó. Và đó là chủ đề chính yếu của các lời giảng dạy trong suốt cuộc đời Chúa Giêsu: “ - Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Nghe nội dung của sứ điệp vừa kể và được Chúa Giêsu giải thích cho lúc đó, dân chúng ngạc nhiên so với những gì họ thường được nghe trong các ngày thứ bảy: - “…giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có thẩm quyền ” ( Mc 1, 27). 2 - Thẩm quyền mà dân chúng nhận ra nơi Chúa Giêsu, không phải vì Người tỏ ra có trí óc thông minh lỗi lạc cũng như đầy kinh nghiệm, thông suốt nội dung của chủ đề được trình bày, cho bằng tư cách có uy tín, quyền năng giảng dạy. Và rồi vì đề tài giảng dạy là đề tài tôn giáo, nói về “ thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần ” , do đó thẩm quyền của người đứng ra dạy bảo cho những gì vừa kể là thẩm quyền phát xuất từ Thiên Chúa. Nói cách khác, Chúa Giêsu được dân chúng lúc đó nhận thức là Đấng không phải tự mình đứng ra nói cho họ về Triều Đại Thiên Chúa, mà là Đấng được Thiên Chúa ủy thác cho. Hiểu như vậy, chúng hiểu được tại sao dân chúng cảm nhận được sự khác biệt giữa tư cách giảng dạy của Người và của các kinh sư: - “ …vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chớ không như các kinh sư…” ( Mc 1, 22). Chắc chắn viết lại cảm nhận vừa kể của dân chúng, Thánh Marco viết lại để nói lên xác tín của các cộng đồng Ki Tô hữu tiên khởi lúc đó và cũng là xác tín của chúng ta hiện tại. Đó là Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến để hoàn thành lời hứa được chứa đựng trong sách Đệ Nhi Luật, mà chúng ta đọc ở bài đọc thứ nhứt. Đó là lời hứa một ngôn sứ như Moisen sẽ được sai đến để chia xẻ đời sống với Israel và loan báo trung thực những gì Chúa muốn dạy bảo cho dân Người: - “ Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng. Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy và người ấy sẽ nói với tất cả những gì Ta truyền cho người ấy ” ( Dt 18, 18). Và rồi cũng chính trong sách Đệ Nhi Luật, ở phần cuối, Thiên Chúa lại phán sẽ không còn cho một ngôn sứ nào khác, ngoài Moisen, để truyền dạy cho dân những gì Người muốn dạy bảo: - “ Trong Israel không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như Moisen, người mà Chúa biết rõ, mặt giáp mặt ” ( Dt 34, 10). Mối mâu thuẩn đó có thể được giải thích bằng sự hiện diện của Chúa Giêsu, đến để thực hiện biến cố quyết định của công việc cứu rỗi. Như vậy - một đàng Chúa Giêsu đến để thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa , “ Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy” ( Dt 18, 18 ), - đàng khác, thật ra ngoài Moisen ra, không còn có ngôn sứ nào khác như ông nữa đã xuất hiện, bởi vì biến cố Đấng Cứu Thế một đàng xảy ra trong lịch sử Israel, nhưng đàng khác Đấng Cứu Thế đến để khởi đầu thời điểm cuối cùng, thời điểm ơn cứu rỗi được Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người: - “ Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng ” ( Mc 1, 15). 3 - Câu 27 của đoạn Phúc Âm Thánh Marco cho chúng ta biết dân chúng kinh ngạc vì thấy Chúa Giêsu ra lệnh trục xuất “ thần ô uế ” Họ kinh ngạc không phải do sự kiện trục xuất được qủy dữ, cho bằng tư cách Chúa Giêsu đứng ra trục xuất qủy. Chúa Giêsu không cần thực hiện các nghi thức rườm rà, cũng không cần cầu khẩn khấn xin ai, mà chỉ dõng dạc ra lệnh bằng chính quyền lực của mình: - “ Mọi người đều kinh ngạc, đến nỗi họ bàn tán nhau: Thế nghĩa là gì?... Ông ấy ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh ” ( Mc 1, 27). Mệnh lệnh của Chúa Giêsu truyền cho “ thần ô uế ” cũng có hiệu lực làm cho chúng tháo chạy như mệnh lệnh của Thiên Chúa. Nếu lúc khởi đầu đoạn Phúc Âm, Thánh Marco cho chúng ta biết về những điều Chúa Giêsu giảng dạy và tư cách có thẩm quyền giảng dạy của Người, - “ Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền ” ( Mc 1, 22), thì ở phần cuối, Phúc Âm cho chúng ta biết dân chúng kinh ngạc do uy quyền giảng dạy cùng với quyền năng trục xuất qủy dữ của Ngài, - “ …giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Người lại ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh” ( Mc 1, 27). Trục xuất qủy dữ ra khỏi con người là một yếu tố quan trọng trong các hoạt động của Chúa Giêsu, liên hệ mật thiết với “ giáo lý thì mới mẻ ” của Người. Bởi lẽ Chúa Giêsu đến không phải chỉ để khởi đầu một kỷ nguyên mới với “ giáo lý thì mới mẻ ” thôi, mà cũng để khởi đầu “ Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần ” , Thiên Chúa đã đến và ở giữa con người cùng với quyền lực làm cho ma qủy bị hủy diệt. Cũng trong câu 27 vừa kể, Thánh Marco đưa ra câu hỏi, nhưng bỏ lửng không có câu trả lời, - “ Mọi người đều kinh ngạc, đến nỗi họ bàn tán nhau: Thế nghĩa là gì?...”. Không đưa ra câu trả lời, chắc chắn Thánh Marco viết có dụng ý lôi cuốn cả những ai đọc Phúc Âm Ngài, cùng tham dự các nỗi“ kinh ngạc”“ sửng sốt ” của những người trong cuộc lúc đó. Và với các nỗi“ kinh ngạc ”“sửng sốt ”, người đọc được mời gọi theo dõi những dòng khác trong Phúc Âm để có thể biết được câu trả lời thỏa đáng. 4 – Tư tưởng cuối cùng của đoạn Phúc Âm hôm nay, chúng ta có thể suy niệm, đó là căn cội của Chúa Giêsu. Nếu ở những dòng trên, chúng ta thấy Thánh Marco phải cố công, có ý tường thuật lại tư cách uy quyền của Chúa Giêsu trong việc giảng dạy và quyền năng của Người trong việc truyền lệnh trục xuất quỷ dữ, để chứng minh nguồn gốc của Chúa Giêsu từ Thiên Chúa, Người được Thiên Chúa sai đến, Người là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu là Thiên Chúa, “ Người lại ra lệnh cho các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh…”, thì đối với qủy dữ, các công sức đó được cố gắng cũng bằng thừa, bởi lẽ chúng thừa biết Chúa Giêsu là ai: - “ Ông Giêsu Nazareth, chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” ( Mc 1, 24). Chúa Giêsu là Thánh, là “ Đấng Thánh của Thiên Chúa ” , là Đấng thuộc về lãnh vực Thiên Chúa, là Đấng Thượng Đẳng, vượt trên lãnh vực trần thế. Qủy dữ biết điều đó, nhưng kỳ vọng rằng Chúa Giêsu đừng nhúng tay vào lãnh vực trần thế, như vậy chúng rảnh tay tự tung tự tác đối với con người: - “ …chuyện chúng tôi can gì đến ông?”. Chính đó là hình ảnh của một Thiên Chúa, ở trên trời xa thẳm, tách biệt và không liên hệ gì đến lãnh vực trần thế, là những gì qủy dữ mong muốn và chúng mong muốn con người cũng có một Thiên Chúa như vậy. Nhưng Chúa Giêsu là Đấng đã nhận Chúa Thánh Thần trong phép rửa, - “ Thánh Thần như chim bò câu ngự xuống trên mình” và là Con Chúa Cha, - “ Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” ( Mc 1, 11), đến ở giữa con người và ra lệnh trục xuất qủy dữ, như là tai họa của con người. Đọc đoạn Phúc Âm hôm nay với biến cố Chúa Giêsu trục xuất qủy dữ trong nhãn quang vừa kể, chúng tha có thể thấy được trục xuất qủy - không những Chúa Giêsu cho chúng ta thấy quyền năng của Thiên Chúa đè bẹp ma qủy, - mà còn nói lên cho con người tình thương và lòng thương hại của Thiên Chúa đối với con người. Con người được dựng nên với những điều kiện, yếu đuối và giới hạn của mình trong cuộc sống. Nhưng Thiên Chúa không bỏ mặc con người với những bất toàn và khó khăn của mình. Con người có thể cảm thấy được Thiên Chúa ở với mình và trợ giúp mình trong cuộc sống. Chúa Giêsu là - “ Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta ” ( Jn 1, 14) .