Tham Khảo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Siêu cường quốc Hoa kỳ đem quân sang Việt nam đánh cộng sản mười năm mà gặp toàn những thất bại. Rốt cuộc HK tháo chạy, bỏ lại dân chúng Miền Nam và một ngàn tù binh Mỹ còn sống trong các trại tù Việt cộng: tất cả sống chết mặc bay. Mọi người ngơ ngác trước hiện tượng hết sức kỳ dị và phi lý, vì đáng lẽ quân đội HK hợp với quân đội Miền Nam thừa sức đánh đuổi cộng sản và sau đó nếu cộng sản lăm le tái xâm lăng thì HK chỉ cần ngồi ở Oa sinh tân đằng hắng một tiếng là xong. Vậy chắc chắn có cái gì bí ẩn đằng sau vụ nầy? Cái bí ẩn ấy dân chúng trong nước rất khó tìm hiểu, nhưng thành phần ra hải ngoại có cơ hội và cũng có trách nhiệm khám phá để biết đường lối đấu tranh cho Quê hương. Theo chiều hướng ấy đồng bào hải ngoại đã không bỏ qua cơ hội tìm hiểu vai trò của Robert Strange McNamara, bộ trưởng quốc phòng thời chiến tranh VN. Năm 1995 McNamara xuất bản một sách với nhan đề In Retrospect – The Tragedy of Vietnam. Ông thú nhận đã có nhiều sai lầm trong cuộc chiến, nhưng rồi bằng những câu nói lươn lẹo ông ngụ ý rằng đó không thực sự là sai lỗi của ông mà do hoàn cảnh gây ra. Chẳng hạn ông nói vì ông không biết gì về Việt nam nên đã cố tìm những chuyên gia đầy đủ hiểu biết, nhưng khốn nỗi những chuyên gia ấy đã bị nghị sĩ Joseph McCarthy kết án đã lâu. Ta nên biết đầu thập niên 50 Nghị sĩ McCarthy đã vạch mặt hàng trăm tên cộng sản làm trong các bộ và cơ quan chính phủ, mà không có trường hợp nào ông đã tố cáo lầm. Thực sự ngay trong ban của McNamara có những người như tướng Edward Lansdale rất thông thạo về Bắc và Nam VN, là cố vấn của Tổng thống Diệm, đã giúp chính phủ Phi líp đánh dẹp cộng sản nổi loạn; vậy mà McNamara bỏ qua không dùng. Ông ra những điều lệ hết sức phi lý dể cản trở quân đội HK và cố tình bảo vệ địch quân. Sách của McNamara bị các báo Việt ngữ chỉ trích nặng nề. Tôi cũng đã đóng góp một bài dưới nhan đề McNamara’s Book – Confession or Self-Absolution; có cả bản dịch tiếng Việt. Một nhân vật khác cũng có vai quan trọng về vấn đề Việt nam. Đó là Henry A. Kissinger. Ông nầy là cả một hiện tượng trong phạm vi ngoại chính HK từ thập niên 60 tới nay. Mặc dầu sách báo về Kissinger có khá nhiều nhưng rất ít người biết mặt thật của ông. Bài nầy dựa vào bốn sách sau đây: Henry Kissinger, Soviet Agent, của Frank A. Capell, 120 trang, xuất bản năm 1974; Henry Kissinger, the Secret Side of the Secretary of State của Gary Allen, 140 trang, xuất bản năm 1976; Kissinger on the Couch của bà Phyllis Schlafly và Đô đốc Chester Ward (thành viên của CFR trong 15 năm, rồi bỏ vì xung khắc tư tưởng), 850 trang, xuất bản năm 1975; và sách The Unseen Hand của A. Ralph Epperson, 450 trang, xuất bản năm 1985. Alfred Heinz Kissinger (về sau đổi sang tên Henry A. Kissnger), sinh năm 1923 trong một gia đình Duđai ở Đức. Năm Henry lên 15 tuổi cả gia đình dời sang Mỹ lánh nạn Quốc xã. Henry làm việc ban đêm, đi học ban ngày. Khi mãn trung học ông nói với chúng bạn rằng cao vọng độc nhất của ông là làm một nhân viên kế toán. Năm 1943 được tuyển vào quân đội và nhờ sự giới thiệu của giảng viên Kraemer, cũng là tỵ nạn Quốc xã, ông được làm và được huấn luyện trong ngành tình báo Mỹ ở Đức. Đến năm 1946 ông được giải ngũ với cấp trung sĩ. Trở về bên nầy sự nghiệp của ông bổng nhiên thăng tiến vun vút. Ông được nhiều học bổng từ phía Rockefeller, ghi tên vào học Harvard, lấy bằng MA năm 1952, bằng tiến sĩ năm 1954 về khoa chính trị. Đồng thời ông cầm đầu nhiều nhóm thảo luận; làm chuyên viên tham khảo cho nhiều cơ quan chính phủ; làm nhân viên có lương bổng của Nelson Rockefeller; được giới thiệu vào Hội đồng Ngoại giao (CFR) là tổ chức uy danh nhất và là thâm cung của chính trường HK. Nixon cũng là người của Nelson Rockefeller; nhưng trước khi Nixon trúng tổng thống năm 1968, Kissinger nói công khai ông sẽ không bao giờ làm việc dưới Nixon. Sau khi trúng cử việc đầu tiên Nixon làm là bổ nhiệm Kissinger làm cố vấn đặc biệt và đến năm 1973 lại bổ nhiệm ông làm ngoại trưởng. Đó là hai chức cao nhất trong nội các, nhưng chưa xứng với vai trò vỹ đại của Kissinger, vì ông hoàn toàn thao tác, điều khiển tổng thống về toàn bộ ngoại chính của HK, để sửa đổi liên hệ giữa khối cộng sản và thế giới tự do, dọn đường cho Trật tự Mới toàn Cầu. Đồng thời ông được quần chúng khắp nơi tôn kính thán phục như một thần tượng. Chính khách nào được bắt tay với Kissinger là cả một vinh dự lớn lao. Vậy cái gì, lực lượng nào đã đẩy Kissinger lên đỉnh cao quyền lực, đã gài ông vào Bạch ốc để thực hiện những kế hoạch lớn lao? Để phần nào giúp độc giả tìm câu giải đáp sau đây là một chuyện bí sử về Kissinger trong thời kỳ ông ở Đức. Sau Thế chiến II KGB tổ chức một ổ gián điệp và đặc công ở Phôlan, tên là ODRA, với mục đích thâm nhập tình báo Tây phương, nhất là Mỹ và Anh. Đầu thập niên 50 một đại tá Phôlan tên là Michael Goleniewski thành công len lỏi vào tổ chức ấy. Trong khoảng 10 năm ông chuyển cho tình báo Mỹ 5,000 tài liệu tối mật, 160 cuộn vi phim báo cáo mật, 800 trang báo cáo khác, hàng trăm tên của đặc công và điệp viên cộng sản đang ở Tây Âu. Năm 1961 ông đào thoát sang Mỹ vì sợ KGB khám phá được hoạt động của ông. Bộ Ngoại giao tra vấn ông trong ba năm và xác nhận trước một ủy ban Thượng viện rằng suốt thời gian ấy Goleniewski không khai điều gì sai hoặc thiếu chính xác. Nhờ những tiết lộ nầy hằng trăm điệp viên và đặc công bị phát hiện ở Phôlan, Anh, Pháp, Tây Đức, Xụy điển, Đan mạc. Năm 1963 Quốc hội thông qua Nghị quyết HR 5507 để tuyên dương những đóng góp của Goleniewski cho nỗ lực về an ninh và tình báo. Ký giả Alan Stang đã phỏng vấn Goleniewski về những chuyện nầy và đăng bài trong tạp chí American Opinion, March 1976 (tạp chí nầy là tiền thân của tạp chí The New American). Tổ chức ODRA có giám đốc địa phương dưới quyền chỉ huy của một văn phòng ở Mốtcô. Năm 1954 giám đốc Kujun bị loại, đại tá Wozniesienski thay thế. Về sau ông nầy được đại tá Skulbaszewski thay thế; và đến năm 1956 Goleniewski thay thế ông nầy. Goleniewski nói với Alan Stang rằng họ lưu lại cho ông tất cả văn phòng, hồ sơ và một tủ két. Tủ nầy chứa 1500 trang tài liệu, có tên mã và tên thật của những đặc công và điệp viên ODRA ở Âu châu. Một tên trong đó là Ernst Bosenhard làm việc ở trụ sở tình báo Mỹ tại Oberammergau, Đức. Ông nầy đã gửi rất nhiều tài liệu mật cho Mốtcô và bị kết tội gián điệp năm 1951. Một tên khác là Bor cùng làm việc với Bosenhard ở Oberammergau, tên thật là Henry A. Kissinger. Tài liệu nầy được cập nhật năm 1954; theo đó Bor đã về Mỹ, hiện đang ở đại học Harvard và kín đáo cộng tác với CIA. Vì những tiết lộ của Goleniewski rất nhiều đặc công và điệp viên bị phát hiện. Chẳng hạn ở Đức chính phủ Willy Brandt bị đổ vì đã cho đặc công của NX là Guillaume giữ nhiều chức vụ quan trọng. Còn ở Mỹ chính phủ biết nhưng chôn vùi tin tức về Goleniewski; các báo cũng im lặng bỏ qua. Bởi vậy các đặc công và điệp viên không bị gì cả. Thậm chí một trong những người mà Goleniewski tố cáo đã vươn lên đỉnh cao quyền lực. Năm 1971 tên của Goleniewski bắt đầu xuất hiện nhiều hơn trêm báo chí. Tờ Daily Mirror ở New York được độc quyền đăng tài liệu “Những Kỷ Niệm và Quan Sát, của Hoàng tử Aleksei Nicholaevich Romanoff, Thừa kế Ngai Hoàng đế Đại Nga, Tsarevich (thái tử) và Đại Công tước Nga”. Trước đó Goleniewski đã nộp cho văn phòng thủ bạ ở New York nhiều tài liệu về căn cước của mình trong một vi phim số 359 trang 1795-1937. Sau Cách mạng 1917 chính phủ Bôsơvít tuyên bố đã bắt toàn hoàng gia, gồm vua, hoàng hậu, con trai độc nhất và bốn con gái, và giam ở Ekaterinburg, một thị xã nhỏ; về sau bị giết tất cả và chôn ở một cái mỏ đã ngừng khai thác. Nhà khảo cứu đã khai quật rất kỹ càng nhưng không tìm được vết tích gì cả. Người ta bát đầu nghi ngờ lời tuyên bố của chính phủ và có những tin đồn cả gia đình đã được cứu thoát. Một trong những lý do để nghi ngờ là hiệp định Brest-Litovsk giữa Nga và Đức ký ngày 3 III 1918 để chấm dứt chiến tranh giữa hai nước. Một điều kiện trong hiệp định là chính phủ Lenin sẽ không hãm hại hoàng gia. Lại thêm một chuyện nữa là một phụ nữ ở Pháp tự xưng là Anastasia một trong bốn con gái của Nga Hoàng. Một chuyên gia về lằn xoáy của tai đã so sánh tai bà nầy và tai của Anastasia trong hình chụp thời trước và kết luận là đúng. Sự nghi ngờ đồn đại hầu như tiêu biến khi ông Goleniewski xuất hiện ở Mỹ. Ông khai rằng toàn thể hoàng gia được bốc ra khỏi Ekaterinburg, được giấu đàng sau các xe vận tải, rồi xuống tàu thủy đi đến những hải cảng an toàn. Ông Herman E. Kimsey, cựu trưởng ban Khảo cứu và Phân tích thuộc bản doanh CIA, đã làm một chứng chỉ có tuyên thệ nói rằng ông tuyệt đối tin chắc đại tá Goleniewski chính là Aleksey, con trai của Nga Hoàng Nicholai II, vì mọi cuộc kiểm tra đều đúng cả. Đó là những cuộc so sánh chỉ ngón tay của Goleniewski với chỉ ngón tay của Aleksei trong cuộc viếng thăm nước Anh của ông nầy năm 1909 và chỉ ngón tay mới hơn đang lưu trữ ở Anh; so sánh chỉ đế chân bây giờ với chỉ đế chân trong giấy khai sinh và các hồ sơ sức khỏe có ở Anh; so sánh biểu đồ răng bây giờ và biểu đồ giữ ở văn phòng ông Kostrycki ở Paris đã từng là nha sĩ của gia đình Nga Hoàng; so sánh khôn mặt, nét chữ viết tay bây giờ và thời trước; thử máu có chứng bệnh huyết hữu (hemophilia) như trong ký lục sức khỏe thời xưa (máu không thể đông đặc khi chảy ra); sự nhận diện của những chúng bạn thời thiếu niên. Về sau ông Kimsey bị ám sát bằng cách cố tình chuyền máu sai. Tất cả những lời khai và bằng chứng bị chính phủ bỏ qua. Bởi thế ông Goleniewski mặc dầu cố gắng nhiều nhưng không thể đem ra tòa để được chứng nhận là kẻ thừa kế ngôi Nga hoàng. Một lý do là nếu như thế thì chính phủ phải chấp nhận lời ông khai về Kissinger là đúng. Lý do khác là Nga Hoàng đã ký quỹ hàng triệu mỹ kim ở các nhà băng quốc tế, bây giờ đáng giá hàng tỷ. Nếu căn cước của ông được chính thức hóa thì ông có lý luận rất mạnh trước tòa án để đòi lại số tiền ấy. Tóm lại, trong cuộc tra vấn ba năm và khám nghiệm tỷ mỷ, từ danh sách hàng trăm đặc công và điệp viên ở Âu châu và Mỹ châu, từ các tổ chức tình báo của NX, cho đến danh tánh của ông, người ta không tìm được điều gì ông nói sai. Hơn nữa những tiết lộ của ông một phần đã được đăng báo, phần kia các viên chức có thể tìm gặp dễ dàng. Thế mà khi phóng viên nọ hỏi Kissinger tại sao có tên ông trong danh sách đặc công và điệp viên của Goleniewski, ông trả lời ngay: Tôi không biết Goleniewski là ai, nhưng tôi nghĩ ông ấy đáng chiếm giải Pulitzer về loại văn hư cấu. Còn chuyện thật là như lời Kissinger giải thích tại sao Nam Việt nam thất thủ: “Quân sự yếu thì ngoại giao không thể giúp được nhiều”. Đó là chuyện thật của Kissinger. Nhờ những “chuyện thật” như thế mà ông được chia một giải Nobel Hòa bình, vượt xa trên giải Pulitzer. Phần sau sẽ trình bày sứ mạng và công cuộc ngoại giao của Kissinger ở Việt nam, Trung cộng, Mỹ Latinh, Phi châu, Trung Đông, và về chính sách nới giãn của HK đối với Nga xô.

 

TÂM THƯ GỬI CÁC CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM Kính gửi Quý vị cao niên trọng nghĩa cùng toàn thể anh, chị em Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam thân mến ! Tôi, nhân danh một cựu quân nhân (tham chiến 10 năm + 12 năm công tác tổ chức đảng, đoàn, báo chí, truyền thông và là thương binh hạng hai trong quân đội nhân dân Việt Nam lấy danh dự người chiến sĩ cách mạng thề tiếp tục hy sinh dưới sự vinh danh của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam), xin viết bức huyết tâm thư này gửi đến quý vị cao niên trọng nghĩa, quý vị hưu trí cùng toàn thể anh, chị em thương, bệnh binh đang còn đương chức, tại ngũ cũng như toàn thể Thành Viên Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam đã có những công lao đóng ! góp, hy sinh trong công tác và chiến đấu vì sự vẹn toàn lãnh thổ, độc lập, tự do thực sự cho Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam. Kính thưa quý vị cùng anh, chị em ! Sau khi nhận và đọc hai tài liệu mật của Trung Ương Đảng gửi toàn thể Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam, tôi nhận thấy : 1. Toàn bộ nội dung chỉ đạo, ý nghĩa chính trị của tài liệu đã minh chứng sự bế tắc toàn diện về lý luận, tài liệu còn chỉ thị việc nghiêm cấm không cho phép công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Một tài liệu đơn giản như vậy mà cố tình cấm kỵ thì thật sự lạc lõng giữa thời đại thông tin tiến bộ, tự do của toàn thể nhân loại. Phải chăng đây là nỗi quá lo sợ trước ánh sáng sự thật hay một tín hiệu báo động sự lung lay tận gốc của thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Hơn 50 năm qua, biết bao những chiến binh và công dân Việt Nam yêu nước chân chính đã quên thân, bỏ mình vì nước hoặc hy sinh một phần máu xương, công lao, tài sản để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã thừa kế, lưu truyền và giành quyền tự do cho dân tộc. Nhưng thật không may cho đồng bào ta đã bị một chủ thuyết ngoại lai, phản khoa học và không tưởng : Marx-Lenin du nhập vào tiếp đó bị cơ chế chuyên chính vô sản nhồi ép quá tải nên đã chi phối nặng nề về tư tưởng, ám ảnh nếp nghĩ và đời sống sinh hoạt! để rồi thai nghén ra một thể chế phi nhân, bất nghĩa, bất tài gây nên vô vàn hệ lụy oan khuất, ly tán, khổ đau cho Dân Tộc : - Nó ngoại lai và phản khoa học vì xuất xứ từ nước Đức mà người Đức không thèm sử dụng, nó được thực thi từ Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết thì thể chế ấy đã hoàn toàn phá sản và sụp đổ - Nó phi nhân ở chỗ : cướp đất, tịch thu nhà ở, ruộng, vườn, tài sản, tàn phá môi sinh và tàn độc hơn là cứ nhắm thẳng vào đồng bào mình mà hãm hại, cưỡng bức, bắn giết (chiến tranh 30 năm làm gần 10 triệu người chết, thương vong...) - Nó bất nghĩa ở nơi : bất cứ ai nhìn nhận ra được sự thật hoặc muốn biết sự thật đúng đắn hay góp ý xây dựng (cả quá khứ, hiện tại và tương lai) đều bị loại trừ hết sức tàn bạo : giam cầm, truy bức, ám hại, cải tạo, cô lập, đẩy ra ngoài lề xã hội, rồi quy kết phản động, chụp mũ phản quốc v.v. và v.v. Ví dụ như các vị cách mạng lão thành : Cao Hồng Lĩnh, Hà Huy Tập, Nguyễn Hộ, tướng Giáp, tướng Độ, tướng Thái, tướng Tấn cũng như giám đốc Viện triếtt học Marx Lenin : Hoàng Minh Chính, nguyên chủ nhiệm tạp chí Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam : Phạm Quế Dương, phóng viên Tạp chí Cộng sản : Nguyễn Vũ Bình, luật sư Lê Chí Quang, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, ông Trần Khuê, cựu chiến binh Trần Dũng Tiến, phó tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Toàn... và còn biết bao cựu chiến binh hay những người có công khác đang chịu cảnh ngục tù hoặc sống trong chất chồng oan khuất, ly tán. Số người vừa nêu tên trên chỉ là một số ít trong những chiến sĩ ngời sáng : trung với Tổ Quốc, hiếu với Đồng Bào (cần ! lưu tâm rằng : Tổ Quốc Việt Nam ta đã có từ mấy nghìn năm và Tổ Quốc không thể là một triều đại suy tàn, một chính thể phạm tội). - Nó bất tín ở điểm : Bắt toàn dân cả già, trẻ phải học, đọc, viết : "chính quyền nhân dân" mà chưa bao giờ một công dân nào được tự do lựa chọn, bầu ra. Tất cả đều do Đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quyền xếp đặt từ Quốc Hội, Chính Phủ, Tòa Án, Kiểm Sát ; từụ tổ dân phố, du kích, dân quân, công an, quân đội cho đến chức chủ tịch nước, tổng bí thư (Điều 4 Hiến Pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam). Hơn thế nữa nói xuôi làm ngược. Khi làm sai, làm bậy thì đổ vấy lỗi cho khá! ch quan, cho cấp dưới. Các cấp báo cáo, tổng kết hay trả lời phỏng vấn luôn luôn đưa ra những con số rối trá. - Và thực sự là bất tài. Về quân sự, quốc phòng : trận thắng lừng lẫy Điện Biên, chấn động hoàn cầu (thơ Tố Hữu) mà phải sử dụng tới gần hai triệu người để đánh lại 16 tiểu đoàn quân Pháp và kháng chiến kéo dài suốt 9 năm (số chết, thương vong của ta vẫn chưa được thống kê đúng). 17 năm chống Mỹ (1958-1975) số chết và bị thương hơn 5 triệu người để giết 52.000 lính Mỹ đó là chưa kể 10 năm xâm lược ở Campuchia 1975-1985 và cuộc chiến chống Trung Quốc 1979. Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam và người lãnh đạo cao nhất nước thực sự vì con người và ích lợi cho dân tộc thì không lương tâm nào cho phép đem đổi mạng hàng nghìn, vạn đồng bào mình để chỉ giết được một của đối phương, với hàng chục triệu người chết, thương vong để giành hai chữ độc lập (nghĩa của chữ Độc Lập được tạm chia làm ba phần : * Độc lập lãnh thổ ? Ngày 14-9-1958 thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, đến nay nuớc ta đã bị đoạt ít nhất 11.000 km2 đất biên giới, hải đảo và cả biên giới với Campuchia vẫn chưa được thỏa thuận, phân định. Rõ ràng là nước ta vẫn chưa có độc lập về biên cương, biên thùy, lãnh thổ. * Độc lập dân tộc ? Đa phần đời sống văn hóa và 100% sinh hoạt chính trị, tôn giáo, xã hội, giáo dục, truyền thông đều bị lệ thuộc hoặc bị áp đặt từ Liên Xô, Trung Quốc suốt nhiều năm. * Độc lập chính thể ? Chính quyền thì nay theo Liên Xô mai theo Trung Quốc và chưa bao giờ biết độc lập, tự quyết đúng nghĩa. Tạo hóa sinh ra để mỗi con người đều được sống và sống trong bình đẳng, công bằng, bác ái và được tự do mưu cầu ấm no, hạnh phúc. Nhưng mỗi con người Việt Nam hơn 50 năm qua đã phải làm một con vật thí hết sức rẻ mạt cho những điều áp đặt phi lý, vô nghĩa. - Về kinh tế : cho đến nay, cả nước đã thu về một mối gần trọn 30 năm, nhưng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vẫn là một trong 10 quốc gia nghèo đói, lạc hậu và vi phạm nhân quyền nặng nề nhất hành tinh này (Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế nhận xét). Chưa đạt nổi bình quân 400 đôla/đầu người/năm. Đảng không ngừng kêu gọi công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhưng cái kim may vá để đạt tiêu chuẩn quy định xuất khẩu quốc tế vẫn chưa làm được. Cả nước vẫn mua, bán lậu và xài xe dởm củ! a Tàu, xe nghĩa địa Nhật. Hơn thế nữa còn tìm mọi phương kế cắt xén vốn đầu tư ngoại quốc cùng sự phỉnh lừa để trông ngóng từng đồng ngoại tệ từ những Việt Kiều yêu nước đi, về. Đặc biệt các cơ quan công quyền hữu quan thì tìm đủ mọi mưu mô quỷ quyệt để xô đẩy, và bán đồng bào ra nước ngoài mà vẫn cố tình lấp liếm dưới đủ mọi ngôn từ xảo trá như : hợp tác lao động. - Về văn hóa, giáo dục, xã hội : hiện nay Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa, giáo dục, truyền thông chắp vá, bệnh hoạn, nghèo đói nhất, nhì khu vực, luân thường đạo lý suy đồi, quốc nạn tham nhũng, hối lộ tràn lan vô phương cứu vãn. - Đã qua hàng chục năm (từ 1989), hệ thống đảng cộng sản và thể chế xã hội chủ nghĩa toàn thế giới đã bị quy luật tiến hóa của lịch sử loại trừ và nhân loại tiến bộ đào thải. Vì thế sẽ không có ngoại lệ nào cho chính thể xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cho dù có cố tình chuyển dạng, biến hình thì vẫn không sao có thể tồn tại trước ánh sáng sự thật : Tự Do, Dân Chủ và Phát Triển toàn cầu, đó là xu thế tiến lên tất yếu cuà thời đại. - Cũng như các triều đại quân chủ phong kiến xa xưa của Việt Nam : Chế độ xã hội chủ nghĩa đang ở trong thời điểm suy tàn mục nát nhất, nên càng lo sợ và tìm mọi cách bưng bít thông tin, nhiễu nhương công lý, hoành hành đời sống làm điêu đứng cả xã hội, cộng đồng dân tộc và đã cam tâm bán đất, dâng biển để vinh thân, phì gia. Kính thưa quý vị cùng toàn thể anh chị em Hội Cựu Chiến Binh ! Với kinh nghiệm và máu xương chúng ta đã đổ xuống đất này và sự hy sinh đã quá tải, có lẽ không còn gì để mất hơn, để mất nữa. Vì vậy những dòng chữ lừa mị và răn đe của tài liệu gửi chúng ta chỉ tiếp tay thêm cho tinh thần dũng cảm cùng sự bình tâm nghĩ suy vì tương lai con em chúng ta và sự sống còn của Tổ Quốc. Đồng Bào khổ đau của chúng ta đang vẫy gọi toàn thể các chiến binh Việt Nam, hãy kết đoàn cùng nhau đứng lên, vùng dậy loại trừ những kẻ ngoan cố, gian manh, tham quyền, cố vị đang cam tâm bán rẻ Đất Nước - Dân Tộc và không còn con đường nào khác : tự do hay là ngồi chờ chết lần, mòn trong đói khát và sợ sệt. Nếu hôm nay chúng ta sợ thì ngày mai con chúng ta sẽ khiếp sợ và tiếp đó đời cháu chúng ta sẽ mạt nhược trước nạn nội xâm tàn bạo này.

 

Hội nghị của Ban Chấp Hành Trung ương đã diễn ra hồi đầu năm nay (từ 13 đến 21.01.03). Nhưng cuối tháng ba Nghị quyết về Công tác Tôn giáo mới được phổ biến trên tuần báo Công giáo và Dân tộc (số 1400, 20.03.03) và cuối tháng tư mới được biết đến trên mạng lưới. Nghị quyết dài 3 trang. Chia thành 5 mục (I – V). Ký : Nông Đức Mạnh. Sau đây xin đề nghị vài nhận xét về những điểm cốt yếu. 1. Vấn đề chiến lược. Công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược hệ trọng vào bậc nhất đối với mọi đảng cộng sản. Điều này, ai cũng biết cả rồi. Nhưng Nghị quyết vẫn nhắc lại cho rõ : "Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng". Nhiệm vụ của công tác tôn giáo là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Nhưng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, thực tế là đào sâu những chia rẽ và nghi kỵ đã có sẵn và nhất là tạo thêm những chia rẽ mới nhằm cô độc hóa mỗi cá nhân, mỗi thành phần dân tộc để buộc chặt người dân vào Đảng [1] . Có thế, Đảng mới tiếp tục nắm vững quyền toàn trị. Ngôn ngữ của Đảng gọi là 'an ninh chính trị' hay 'ổn định chính trị'. Ai cũng hiểu : khai trừ các đảng phái chính tri, tương đối dễ. Khai trừ tôn giáo, khó hơn. Tôn giáo liên hệ mật thiết với mọi mặt của đời sống cá nhân và xã hội, mà vì thế, nghiễm nhiên thành kẻ thù nguy hiểm nhất cho một chế độ muốn thống trị toàn bộ nếp sống con người. 2. Lùi từng bước. Lúc này thì Đảng quá biết : không thể tiêu diệt được tôn giáo. Nghị quyết công nhận : "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta" (NQ II, 1). Khẳng định này lấy lại y nguyên tuyên bố của Nghị Quyết 24 về Công tác tôn giáo, năm 1990, của Bộ Chính trị : "Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân" (NQ, I). Sau sự sụp đổ của khối Nga Xô, không còn cách nào khác. Người ta thường nói, đảng cộng sản lùi một bước để tiến hai bước. Trước kia thì như vậy. Lúc này không phải vậy. Cái thế lùi một tiến hai đã hết thời. Tất cả quyền lực và sự khôn khéo của Đảng ở cách lùi. Chỗ nào giữ được, Đảng giữ. Chỗ nào không thể giữ nổi, Đảng lùi theo cách của Đảng. Về kinh tế thì rõ như ban ngày. Không thể không hội nhập kinh tế thị trường. Vậy Đảng hội nhập, nhưng Đảng vẫn nắm độc quyền. Như thế gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụm từ 'theo định hướng xã hội chủ nghĩa' có nghĩa là Đảng đã quay lưng lại chủ nghĩa xã hội và vứt nó vào sọt rác [2] nhưng nhất định giữ chắc dân chủ tập trung. Dĩ nhiên, dân chủ tập trung rồi cũng hết, và Đảng biết rõ, tới lúc nào đó Đảng sẽ hết quyền lãnh đạo. Nhưng lúc đó, những ông tư bản đỏ đã thành những ông tư bản chính hiệu rồi. Về tôn giáo cũng thế. Chính sách tôn giáo của Đảng là tự do tôn giáo... theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, trước sau như một, tín ngưỡng, tôn giáo tự do nhưng hướng thuộc quyền Đảng. 3. Bách hại. Khi có thể, Đảng tiếp tục đàn áp một cách ngang ngược, lộ liễu. Coi trường hợp cha Lý, ba người cháu của cha, Hoa, Việt, Cường và em Hoàng Trọng Dũng. Hay cách Đảng đối xử tàn tệ mấy chục năm qua với hai nhà lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, HT Thích Huyền Quang và HT Thích Quảng Độ. Có điều những người này còn được biết tới và vì thế được ít nhiều bênh vực. Tại những vùng quê hẻo lánh, ai biết được con số những người bị truy bức, đánh đập, cầm tù vì lý do 'lợi dụng tư do tín ngưỡng' ? Thô bỉ nhất là hành động cấm đạo dã man đối với các dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở vùng thượng miền Trung và miền Bắc. Từ đầu năm 2001 tới nay, quân đội và công an hợp lực với chính quyền địa phương đàn áp, bắt bờ, đánh đập, phạt tiền, bỏ tù...[3] Đất đai của họ bị chiếm cứ. Chính quyền đưa người Kinh từ Bắc và trong Nam tới (như Trung quốc làm với Tây Tạng !)... Những sự kiên này cả thế giới biết, nhưng Đảng vẫn bình chân như vại ! "Ở một số nơi, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị" (NQ, I). 4. Bình thường hóa. Nhưng không phải lúc nào, chỗ nào Đảng cũng có thể du côn được. Khi hoàn cảnh không cho phép, Đảng thích ứng. Hoàn cảnh là "âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ" (NQ, III). Khi những thế lực này quá mạnh, nói cách khác, khi không thể không chấp nhận một số tự do tôn giáo, thì Đảng tổ chức những tự do đó để chúng nằm gọn trong lòng bàn tay Đảng. Điều Đảng không cấm nổi, Đảng cho phép. Đảng "Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật"(NQ, II,1). "Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước"(NQ, III). Theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước ! Cụ thể là cơ chế xin-cho của Đảng. Trong cơ chế ấy, Đảng tìm cách 'bình thường hóa' các tôn giáo. Đảng tổ chức chặt chẽ các thứ tự do Đảng ban cho các tôn giáo để một mặt, thẳng tay loại trừ những phần tử 'xấu' của mọi tôn giáo, mặt khác giữ các tôn giáo trong vòng ảnh hưởng và kiểm soát của Đảng. Sau Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đảng đã cố bình thường hóa Hòa Hảo, Cao Đài và hiện nay là Tin Lành [4] . Phải công nhận đây là một biện pháp thông minh. Nó có vẻ có lợi cho cả đôi bên. Đảng "xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép"(NQ, I). Đi vừa ý Đảng, Đảng cho phép dễ dàng, có khi còn khuyến khích. Cũng một cái dây thòng lọng, khi nới lỏng, khi buộc chặt. Nhưng người ‘lãnh đạo’ dây thòng lọng vẫn là Đảng. Về phía các tôn giáo cũng không phải không có lợi. Được nới lỏng vẫn hơn là bị buộc chặt. Nhất là khi biết rằng, vì sức ép của hoàn cảnh trong ngoài, đặc biệt sức ép của những phần tử ‘xấu’, chính quyền sẽ còn nới lỏng hơn [5] . 5. Trường hợp Giáo hội Công giáo. Chẳng nói ra, ai cũng biết: nếu công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược của Đảng, thì vì nhiều lý do, Công giáo vận là khâu rất quan trọng của công tác tôn giáo. Không phải vô tình mà Nghị Quyết coi tôn giáo là nhu cầu tinh thần "của một bộ phận nhân dân". Khách quan, đại đa số nhân dân Việt Nam theo một hay nhiều tôn giáo. Tại sao lại nói của một bộ phận ? Tôi coi đây là một 'lapsus'. Nghĩ nhưng không tiện nói ra, rồi vẫn cứ nói ra một cách khó hiểu trên bình diện ngôn ngữ nhưng lại dễ hiểu về phương diện ý nghĩa : Công giáo hay Kitô giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Công giáo được đặc biệt 'ưu đãi'. Nên nhớ lại, Năm 1990 với Nghị quyết 24 của Bộ chính trị về Công tác Tôn giáo cũng là thời điểm Phái đoàn Tòa thánh Vatican sang thương thuyết với chính quyền Hà Nội ; thời điểm Đảng nói chuyện trực tiếp với các Giám mục Việt Nam thay vì nói với tay sai của Đảng, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Yêu nước. Hồi đó, có người quan sát cách hời hợt tưởng rằng quan hệ giữa Vatican và Hà Nội, giữa Đảng và Giáo hội Công giáo Việt Nam đã trở nên tốt đẹp. Thật ra tình trạng có khá hơn trước nhưng vẫn “còn nhiều hạn chế”, theo lối nói xã giao của các Giám mục. Vậy trực diện tố giác những “hạn chế ấy” hay nín thở qua sông, tùy theo hoàn cảnh mà chèo chống để giữ vững con thuyền của Giáo hội qua cơn sóng gió ? Nói chung, Giáo hội đã chọn giải pháp thứ hai. Kể cũng là một đường lối để giữ mình. Với đường lối ấy, Giáo hội nhất định thắng, vì Giáo hội quá biết, Đảng cộng sản không có tương lai. Vậy lúc này Giáo hội được Đảng nới lỏng là tốt. Ngoài ra, được đàng chân, lân đàng đầu : từ kiến nghị này đến cho phép khác - ngôn ngữ ngoại giao gọi là đối thoại, dung hòa - Đảng ở vào cái thế mỗi ngày phải nới lỏng hơn. Khác hẳn lối hành xử của một linh mục Nguyễn Văn Lý : cắt đứt dây thòng lọng. Tự do tôn giáo hay là chết ! Nói cách khác : sẵn sàng chết để sống tự do [6] . Ôn hòa nhưng không chút nhân nhượng. Vì tự do không thể chấp nhận độc tài ở bất cứ mức độ nào. Chưa nói tới Tin Mừng, chỉ xét về phương diện con người, thái độ ấy đáng cảm phục biết bao. Nhưng mấy ai có được thái độ ấy ? Ai cũng thích tự do, nhưng mấy ai dám thực sự sống tự do ? Những người như linh mục Lý sẽ vẫn cô đơn bao lâu chế độ độc tài còn ngự trị. Sự im lặng của hàng giáo phẩm Việt Nam vể vụ án cha Lý là một bằng chứng. Lá thư của Đc Phạm Minh Mẫn gửi cho Đại hội UBĐKCG, của HĐGMVN gửi cho Quốc hội cuối năm ngoái tuy rất mạnh mẽ nhưng vẫn chưa dám nhắc tới những trường hợp cụ thể như trường hợp lm Nguyễn Văn Lý Nhân nhượng, khôn ngoan, đi từng bước hay dứt khoát cắt đứt dây thòng lọng ? Đây không chỉ là vấn đề nội bộ của Giáo hội Công giáo. Đó là vấn đề của cả nước. 6. Chuyện lâu dài. Sớm muộn rồi độc tài cũng qua đi. Nhưng khi nào ? Đảng không đời đời nhưng đừng tưởng Đảng chỉ nghĩ chuyện trước mắt. Vấn đề tôn giáo "còn tồn tại lâu dài", vậy công tác tôn giáo của Đảng cũng lâu dài. Đảng đã có hẳn một Viện nghiên cứu về tôn giáo, một Hội đồng Tư vấn về Tôn giáo, một Ban tôn giáo chính phủ, một Ban chỉ đạo 184 của Trung ương và còn những ban, ngành kín đáo nào nữa ? Nghị quyết đưa ra một số biện pháp rất đáng lưu ý: - Đóng chặt Đạo vào nhà thờ : "Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo đúng quy luật"(NQ, II, 5). Chỉ một điều có vẻ tích cực như thế, đủ cho thấy tự do tín ngưỡng bị hạn chế tới đâu. Tôn giáo tự do là thứ tôn giáo hoàn toàn riêng tư. Không được ra khỏi nhà và nhà thờ, với điều kiện nơi thờ tự đã hợp pháp lại còn phải theo đúng quy luật ! - Ảnh hưởng đường lối : "Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà Nước"(NQ III). Thật là trơ tráo. Chẳng cần ai tố cáo. Các ‘thế lực thù địch’, các tổ chức quốc tế chỉ đọc Nghi quyết này cũng đủ thấy : chính Đảng cho biết Đảng đang trấn áp tôn giáo. Đường lối đối ngoại của tôn giáo phải phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng. Nói gì đối nội ! Vậy khi Đảng tuyên bố tại Việt Nam có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, không có tù chính trị, không có tù nhân lương tâm thì các Giám mục, Thượng tọa cũng phải hùa theo Đảng mà nói dối trắng trợn ? Tiếc thay đã có những vị làm như thế. Thật ra Đảng khôn hơn. Thí dụ trường hợp Công giáo : không dùng được Ủy ban Đoàn kết Công giáo để sai khiến Giáo hội, Đảng tìm cách đưa người của Ủy ban này vào cơ cấu tổ chức của Giáo hội. Điển hình là lm Huỳnh Công Minh, làm Tổng đại diện của Tổng Giám mục Sài Gòn từ năm này qua năm khác, như một người không ai thay thế nổi. Các Tổng Giám mục qua đi. Tổng đại diện vẫn.. lâu dài. Nhưng lm Huỳnh Công Minh ai cũng biết. Lưu manh hơn là ảnh hưởng đường lối của Giáo hội để chính Giáo hội có đường lối riêng của Giáo hội mà vẫn phù hợp với hay it ra không trực tiếp chống lại đường lối đối ngoại của Đảng. Giúp đỡ những phần tử cơ hội trong hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ ; đối xử tử tế với những tu sĩ, linh mục, giám mục đạo hạnh nhưng 'mềm dẻo'; đề cao những vị có thiện cảm với UBĐKCG hay ít ra không chống lại UBĐKCG để họ có những vị trí then chốt trong tổ chức của Giáo hội... Đó là những điều Đảng thường làm một cách rất nghề nghiệp và Đảng cũng nói rõ trong nhiều văn kiện. Khách quan mà nhìn : Giáo phẩm không kiên nhẫn chờ đợi bằng Đảng. Trong việc bổ nhiệm Giám mục, truyền chức linh mục chẳng hạn. - Lấy truyền thống chống tà đạo : " Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân ; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc (...) tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo... " (NQ IV, 2). Đọc qua, thấy ngọt xớt. Nhưng mấy chữ 'lợi dụng tôn giáo' đủ làm người đọc cảnh giác. Đề cao truyền thống để giữ ghế là biện pháp Đảng dùng từ khi chủ nghĩa xã hội đã được thay thế bằng định hướng xã hội chủ nghĩa. Cứ xem cách Đảng buộc đồng bào các dân tộc thiểu số bỏ đạo Tin Lành để trở về với tín ngưỡng truyền thống của họ, thì đủ biết, mục tiêu không phải là chống mê tín dị đoan [7] . Kể ra, đây cũng là một biện pháp rất truyền thống. Xưa kia, vua quan bách hại đồng bào công giáo cũng nhân danh truyền thống, nhân danh thuần phong mỹ tục để cấm Giatô tà đạo. 7. Thực dụng. Trên đây là chuyện lâu dài trên bình diện tạm gọi là lý thuyết. Có những chuyện lâu dài rất thực dụng. - Đảng phá sản rồi cho phép tôn giáo xây dựng lại. Đảng đánh, rồi Đảng cho phép tôn giáo xoa. Nghị quyết viết : "Giải quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo dục... của Nhà nước", dĩ nhiên là "theo quy định của pháp luật"(NQ, IV, 3). Có cần nhắc lại : ‘xã hội hóa’ là thứ ngôn ngữ kỳ khôi để chỉ một biện pháp đi ngược lại chủ nghĩa xã hội, vì xã hội hóa đơn thuần là tư nhân hóa ? Giáo dục xuống cấp thê thảm, tệ nạn xã hội tràn lan, bất công, áp bức, nghèo đói... Các tôn giáo đã chẳng chờ Đảng để hàn gắn những vết thương do Đảng gây ra. Chính Đảng đã và còn đang gây nhiều khó khăn cho công việc từ thiện. Bây giờ, Đảng cho phép và khuyến khích các tôn giáo tham gia trong một số lãnh vực cần 'xã hội hóa'. Dĩ nhiên không phải tất cả mọi lãnh vực ! Tệ nạn xã hội lớn nhất, làm căn nguyên cho nhiều tệ nạn khác, là tham nhũng. Nhưng Đảng giữ độc quyền chống tham. Dễ hiểu thôi ! Muốn chống tham nhũng thực sự phải chống Đảng. Mà xét cho kỹ : ‘chủ trương xã hội hóa’ là một thứ tham nhũng tinh vi. Những việc mà lẽ ra Nhà nước phải làm, bây giờ Nhà nước 'cho phép' dân làm để Nhà nước dùng tiền của dân làm chuyện khác. Thao nào, Nghị Quyết cũng có cái nhìn tích cực về tôn giáo : “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”(NQ, I). Chẳng biết xã hội mới của Đảng là xã hội nào, nhưng từ bi, bác ái thì khai thác được : có lợi cho Đảng. Còn công bằng, tôn trọng sự thật, vô úy không biết có được Đảng coi la đao đức tôn giáo không. Nghe nói Đc Phạm Minh Mẫn đang quyên tiền xây một nhà thương lớn và tối tân để giúp đỡ dân nghèo. Đảng cho phép. Nếu Đức cha yêu cầu Đảng trả lại những Nhà thương, trường học Đảng đã chiếm đoạt chắc là không xong. - Lâu dài ? Đoạn mại ! Nghị quyết nói rõ :"Đối với việc khiếu kiện liên quan đến nhà và cơ sở tôn giáo đã chuyển giao cho chính quyền hoặc đoàn thể sử dụng : về nguyên tắc, xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành ; riêng đối với những trường hợp nhà, đất do tôn giáo đã hiến tặng có văn bản xác nhân thì không đặt vấn đề trả lại"(NQ, IV, 3). Diễn nôm : đã chiếm đoạt rồi thì không có trả lại. Chuyện lâu dài ở đây, Đảng muốn biến nó thành chuyện đoạn mại. Ai bảo Đảng nhiều ảo tưởng ? Lý thú hai chữ nguyên tắc : xử lý theo quy định của pháp luật của Đảng đã chẳng ra gì rồi, thế mà có xử lý chăng là trên nguyên tắc thôi ! Còn trong thực tế cũng tùy ngẫu hứng và lòng tham của các đầy tớ nhân dân [8] . Kết luận Do sức ép "của những thế lực thù địch", một mặt Đảng đương tìm cách bình thưỡng hóa các tôn giáo, tức nhượng bộ và ban bố một số tự do nhưng đưa các tôn giáo vào khuôn phép của Đảng. Nếu cần, bình thường hóa luôn cả những phê phán mạnh mẽ và biến những phê phán ấy thành chứng cớ của “tự do tôn giáo tại Việt Nam”, với điều kiện những phê phán này không trực diện chống đối chế đo [9] . Tiến trình bình thường hóa cho phép Đảng loại trừ trắng trợn những thành phần tôn giáo dám trực diện chống đối. Có một thứ biên giới vô hình nhưng rất rõ ràng giữa những tự do tín ngưỡng tôn giáo được bình thường hóa, thứ tự do cá chậu chim lồng và tự do tôn giáo thực sự, tự do... bình thường. Biên giới rất rõ ràng này xê dịch với hoàn cảnh, thời gian. Tùy theo hoàn cảnh, Đảng có thể lùi thêm một bước và mở rộng hàng rào. Hiện nay hàng rào của Đảng vẫn chắc, và Đảng dự trù rào kín hơn, chắc hơn, uyển chuyển hơn để luôn luôn cập nhật. Công tác Tôn giáo từ đây trở thành mặt trận đại quy mô. Được tổ chức chi tiết, cặn kẽ. Nghị quyết là Nghi quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, huy động toàn bộ các tổ chức của Đảng từ trên xuống dưới. Không chỉ có Ban Tôn giáo Chính phủ mà Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và mọi thứ tay sai (như Ủy ban Đoàn kết Công giáo), tất tất đều phải tăng cường quản lý, vận đông, tuyên truyền. Công việc đào tạo cán bô làm công tác tôn giáo được Đảng đặc biệt chú ý : sẽ là công việc đào tạo dài hạn. Các cán bộ này sẽ được bồi dưỡng đúng mức. Một Pháp lệnh về tôn giáo sẽ được ban hành nay mai, dẫn tới một Luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Tôi có cảm tưởng những người dứt khoát đấu tranh cho tự do tôn giáo trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, họ sẽ bị cô đơn hóa hơn. Tại hải ngoại công việc đấu tranh và hỗ trợ người ở nhà hẳn cũng sẽ phức tạp hơn. Đỗ Mạnh Tri. Paris 17/05/03. [1] Viết Đảng chữ hoa không phải vì đề cao đảng cộng sản, nhưng vì, như mọi người đều biết, chế độ cộng sản, trong bản chất của nó, không chấp nhận bất cứ một tổ chức nào (tôn giáo, chính trị, văn hóa, kỹ thuật...) bên ngoài vòng kiềm tỏa của đảng cộng sản. Một khi nắm được chính quyền, đảng cộng sản dùng mọi biện pháp, kể cả những biện pháp nhân đạo, để trở thành Đảng, tức thành cơ cấu tổ chức độc nhất và toàn bộ của xã hội. Chỉ có tại những nước dân chủ, người ta mới cần đặt tên cho một đảng vì tại những nước này có nhiều chính đảng. Trong chế độ cộng sản không có chính đảng, tức những tổ chức chỉ tranh đấu trên bình diện chính trị nhằm lên nắm chính quyền, chỉ có Đảng. Khi người cộng sản nói : « tất cả là chính trị », điều đó có nghĩa rằng kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật v.v.. tóm lại, mọi lãnh vực của đời sống cá nhân, tập thể đều thuộc quyền Đảng. [2] Nghi quyết phân biệt hai giai đoạn cách mạng, và viết : "Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, vấn đề tôn giáo có những nội dung mới. Năm 1990... ". Như vậy, cách mạng xã hội chủ nghĩa khởi đầu từ năm 1990, khi chỉ còn có 'định hướng xã hội chủ nghĩa', tức từ khi Đảng bỏ rơi chủ nghĩa xã hội ! Còn trước đó Nghi quyết coi là "cách mạng dân tộc dân chủ" ! Cải cách ruộng đất, Vụ án Nhân văn Giai phẩm, Hợp tác xã, Vụ án xét lại chống Đảng và tất cả những gì xảy ra trong Nam sau 1975 cho đến 1990 đều là cách mạng dân tộc dân chủ cả ! [3] Tài liệu ‘Tối mật’ Kế Hoạch 184 B, Phát triển kinh tế, văn hóa, ổn định xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vùng núi, đồng bào dân tộc thiểu số đang có đạo Tin Lành (03/05/1999) cũng công nhận sự kiện cấm đạo này : « Ở một số tỉnh, do thấy nguy cơ của sự mất ổn định, trong một số năm đã chủ trương tiến hành các đợt chống truyền đạo trái phép : Tuyên truyền phê phán âm mưu kẻ xấu ; xử lý bằng pháp luật với người truyền đạo ; yêu cầu đồng bào cam kết bỏ đạo ; thậm chí phạt tiền, phạt thóc (...). Nhưng nhìn chung (...) kết quả rất hạn chế. Nơi làm mạnh thì dường như sinh hoạt tôn giáo lắng xuống, âm ỉ, đồng bào sinh hoạt không công khai. Bị thúc ép nhiều hơn, đồng bào bỏ quê di cư sang tỉnh khác, đi xa hơn vào các tỉnh Tây nguyên hoặc chuyển sang theo công giáo. Giải quyết vấn đề tôn giáo trực diện bằng cách phê phán, ngăn chặn, thu hẹp, cam kết xóa bỏ đạo đã không mang lại kết qua như mong muốn ; đông bào theo Tin Lành mặc cảm, xa chính quyền hơn, không nói thật, dấu giếm việc theo đạo của mình ». Chính quyền biết thế ít là từ năm 1999. Nhưng những bản báo cáo của Human Rights Watch hay của Amnesty chứng tỏ đồng bào dân tộc thiểu số theo Tin Lành ngay lúc này đây, tháng 04/03 đang bị bách hại nặng nề. Có lẽ vì biết thế nhưng bí thế trước sự « bùng nổ » của Tin Lành nên chính quyền cứ tiếp tục làm càn ? [4] Về điểm này, Kế hoạch 184A cũng nói rõ : khi tổ chức Đại hội Đại biểu Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành (miền Nam) năm 2000, chỉ làm cho « đồng bào Kinh ở đồng bằng. Không mở rộng ra vùng dân tộc ít người ở Tây Nguyên, Nam Trường Sơn và những nơi mới theo đạo ». Và Đại hội lần thứ 32 của Hội thánh Tin Lành miền Bắc năm 1999 tại Hà Nội cũng « không mời những người theo đao Tin Lành trong đồng bào dân tộc ». [5] Thái độ của Đảng đối với Thầy Huyền Quang hiện nay nhằm ‘bình thường hóa‘ GHPGVNTN để bới đi được một cái gai trong nước, và nhất là ngoài nước. Tiếp tục khinh rẻ và bách hại GHPGVNTN lúc này, lợi ít hại nhiều. Muốn kiềm chế những tăng thống có uy tín với GH một cách hiệu quả hơn không thể mãi mãi để GH ngoài vòng pháp luật. Nhưng làm cách nào để GHPGVNTN có chỗ đứng xứng đáng, trong khi GHPGVN vẫn « là tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam về mọi mặt quan hệ ở trong nước và nước ngoài như Hiến chương GHPGVN quy định ? Đây là vấn đề quan trọng cho chính quyền trong những ngày tháng sắp tới. Và cũng quan trọng không kém về phía nội bộ Phật giáo. Vẫn là câu chuyện thống nhất Phật giáo. Xin trích lại điều tôi đã viết trong cuốn Đọc Thông điệp Hướng về Thế kỷ XXI của HT Thích Huyền Quang (tái bản tại Hoa kỳ, 2000) : Muốn có cái nhìn tương đối vô tư, nên xem hai chứng từ của hai chứng nhân quan trọng : Bản Nhận Định vế những sai lầm tai hại của Đảng cs Việt Nam đối với nhân dân và Phật giáo Việt Nam của thầy Thích Quảng Độ và hồi ký của Đỗ Trung Hiếu, trong Phật giáo Thống nhất/Thống nhất Phật giáo (nxb Tin, Paris 1994). Thầy Quảng Độ viết : « Khoảng đầu năm 1980,lần đầu tiên cố HT Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, TT Thích Trí Tịnh Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự và TT Minh Châu Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục được Nhà nước cộng sản mời với tư cách cá nhân đi dự cuộc ‘gặp mặt đầu năm‘ do ông Nguyễn Văn Linh, bí thư thành ủy chủ trì... Ba vị về cho chúng tôi biết có cả hòa thượng Thích Đôn Hậu (...) Về sau, cố hòa thượng Trí Thủ được ai đó bầu làm trưởng Ban vận động thống nhất Phật giáo, TT Trí Tịnh phó trưởng ban và TT Minh Châu làm thư ký. Từ đó ba vị đi họp luôn, có khi ra họp ngoài Hà Nội, và cứ mỗi lần đi họp về, các vị đưa vấn đề ra trước Viện Hóa Đạo xin góp ý kiến ». Sau này hòa thương Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo sẽ được bầu làm Trị sự trưởng của GHPGVN. Mai ngày, khi hết độc tài, những tăng ni phật tử thành tâm, dù có những chọn lựa nào đi nữa, cũng phải bắt tay nhau. (...) thán phục thái độ cương nghị và dứt khoát của những Tăng Ni như thầy Quảng Độ không có nghĩa là phải tố cáo toàn thể các Tăng Ni thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tr. 87-88) Trong số những tăng ni phật tử tại các tự viện, các trường Phật học (của GHPGVN) có bao nhiêu người thành thực theo Đảng, bao nhiêu người vì tình thế ép buộc mà ít nhiều thỏa hiệp cho qua ngày, hoặc châm chước để được việc ? Tất nhiên, nếu cương nghị cả như Thầy Quảng Độ thì còn gì bằng. Nhưng sự thể đã không ra thế. Tôi có cảm tưởng rằng năm 1981, một khi đã cam nhận sự hướng dẫn của chính quyền, những người đứng ra cáng đáng công việc thống nhất Phật giáo Việt Nam đã bị bó buộc chấp nhận nhiều điều họ không muốn chấp nhận và đã cố gắng tối đa thực hiện những gì có thể thực hiện được. Dù sao, ý chí thống nhật Phật giáo Việt Nam đã có từ trước khi có chính quyền cộng sản tại Việt Nam, và tới nay vẫn chưa thực hiên. Hồi đó, Đảng muốn thống nhất Phật giáo. Tăng ni cũng muốn thống nhất Phật giáo. Dĩ nhiên, đối với người phật tử, thống nhất Phật giáo đơn giản là ... thống nhất Phật giáo. Còn đối với chính quyền, thống nhất Phật giáo là sát nhập Phật giáo miền Nam vào Phật giáo miền Bắc (cũng như thống nhất đất nước là là miền Bắc vươn dài tới miền Nam), mà Phật giáo miền Bắc thì đã ‘thống nhất’ với Đảng rồi. Đàng khác, và đây là điều hết sức quan trọng, đối với Đảng, thống nhất Phật giáo chỉ có nghĩa là thông nhất tăng ni (cũng như Ủy ban Đoàn kết Công giáo yêu nước chỉ là Ủy ban Đoàn kết linh mục tu sĩ yêu nước). Không phải vì Đảng nghĩ rằng nắm được tăng ni là nắm được phật tử. Nhưng vì trong một thể chế toàn trị chuyên chính vô sản, dân chủ tập trung, không thể có một định chế, một tổ chức xã hội nào nằm ngoài vòng tay chính quyền. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết là đoàn kết từng người Việt Nam một với Đảng, thông qua các định chế xã hội của Đảng, tức phải ly tán người dân ra khỏi mọi định chế, mọi cơ cấu, mọi tổ chức có trước (gia đình, làng mạc, giáo hội, hiệp hội...) để họ tay không gia nhập, tức nộp mình cho Đảng hay một tổ chức ngoại vi của Đảng. Tăng ni thì có GHPGVN, phật tử thì có Đoàn thanh niên công sản, Hội phụ nữ, Hội nhà văn... Trong Bản Nhận Định, Thầy Thích Quảng Độ cho biết, người cộng sản gọi Công giáo là cứt gà, lết vào quần áo không thể rửa sach, chỉ có cắt đi ; còn Phật giáo là phân gà, phủi đi là xong. Phật giáo không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ bằng Công giáo. Dễ thao túng. Nhưng đấy là nói về tổ chức. Tăng ni bị thao túng, hẳn cũng ảnh hưởng đến phật tử tại gia. Có điều đạo Phật đã thấm nhuần nếp sống người dân từ mấy ngàn năm nay, kể cả người dân đảng viên. Thay đổi lòng người đâu có phải chuyện ngày một ngày hai (mà phủi đi được). (...) Thích Trí Thủ : Ôn tâm sự với tôi (Đỗ Trung Hiếu) : Thống nhất kiểu này, tới cũng khó mà lui cũng khó. Tôi thưa với Ôn :Thực tế diễn ra có thể tốt hơn. Mấu chốt bây giờ là con người. Mình phải uyển chuyển. Ôn đồng tình. Nhưng lòng không vui » Nhưng lòng không vui ! Đọc, thấy thương mến Ôn Già Lam. (tr. 93-96) [6] Có người cho đó là hăng máu tử đạo mà không hiểu rằng đó là khẳng định và biểu lộ sức mạnh của sự sống. [7] Ngược lại, có lẽ chỉ có mê tín dị đoan mới được Đảng cho tự do thực sự vì cái đó tự nó không thể có sức phản kháng lại Đảng trái lại hoàn toàn có lợi cho Đảng trong việc mê hoặc ru ngủ quần chúng. [8] Coi vụ dòng Thiên An. Đất đai của nhà dòng, người của chính quyền đã mua đi bán lại cho nhau. Chẳng tài nào đòi lại được. Trừ khi... [9] Nghị quyết ra sau thư của Đc Phạm Minh Mẫn, Tgm Sài Gòn, gửi cho Đại hội của UBĐKCG. Thê nhưng Đc Mẫn vẫn đi nước ngoài. Chứng tỏ Đảng tôn trọng tự do tôn giáo của Đc Mẫn. Cũng như Đảng đang tôn trọng tư do tôn giáo của Thầy Huyền Quang.

 

Mẹ Teresa, thiên thần ghé thăm trái đất Trần Trung Ðạo "Tôi gặp một phụ nữ bị bịnh đang nằm chờ chết bên đường. Một nửa thân thể của bà bị chuột rỉa và phần thân thể còn lại thì bị kiến bu đen nghịt. Tôi đem bà vào bịnh viện nhưng họ không nhận vì chẳng còn cách nào chữa trị được. Tôi nhất định không chịu ra về nếu họ không săn sóc cho người đàn bà bất hạnh kia. Cuối cùng thì họ chịu tạm thời lo lắng cho bịnh nhân của tôi. Để người đàn bà ở đó, tôi đi đến trụ sở thị xã để kiếm một nơi có thể đem bà đó về. May thay có người chỉ cho tôi một căn phòng trống trong ngôi chùa Ấn Độ Giáo bỏ hoang. Căn phòng đó sau nầy trở nên Căn Nhà Cho Những Người Đang Chết. Tôi cầm tay và ngồi lại với người phụ nữ kia cho đến khi bà ta trút hơi thở cuối cùng”. Đó là một câu chuyện trong hàng ngàn câu chuyện mà Mẹ Teresa kể lại và đó cũng là một ngày trong suốt 50 năm mà Mẹ đã hiến dâng cho nhân loại khổ đau của thế gian nầy. Cô bé Agnes Gonxha Bojaxhiu cất tiếng khóc chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Macedonia thuộc xứ Albany. Cả gia đình theo đạo Thiên Chúa mặc dù đa số dân Albany theo Hồi Giáo và xứ sở nầy đang chịu sự bảo hộ của Đế Quốc Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Cha của Gonxha là một thương gia, có vẻ thích chuyện chính trị và thường vắng nhà vì công việc làm ăn xa. Năm Gonxha vừa lên 9 tuổi thì cha mất. Mẹ của Gonxha phải tần tảo để nuôi ba người con, tất cả đều trong tuổi còn thơ ấu. Cả gia đình đều ngoan đạo, ba mẹ con cùng cầu nguyện mỗi đêm và đi nhà thờ mỗi ngày. Trái tim của Gonxha, dù còn thơ ấu, đã sớm nhịp chung theo từng nỗi khổ đau của lớp người cùng khổ. Nhà của ba mẹ con ở vốn cũng đã nghèo nhưng nếu có ai cần gì gõ cửa thì Gonxha cho hết những gì mình có. Gonxha thường theo mẹ đi giúp đỡ một người đàn bà góa bị bịnh ghiền rượu trong làng, tắm rửa và lo cho con cái bà ta ăn uống. Khi bà góa phu chết để lại sáu đứa con thơ, mẹ con Gonxha lại tiếp tục lo lắng cho chúng như trong một gia đình. Đến tuổi 12, cô gái Agnes Gonxha Bojaxhiu đã có ý nguyện hiến dâng cuộc đời để phục vụ ước muốn của Chúa. Gonxha cầu nguyện rất nhiều, mãi đến khi cô Gonxha lên 18 tuổi thì lời cầu nguyện được thành sự thật. Một buổi chiều năm 1928, sau khi đến nhà thờ Đức Mẹ cầu nguyện, Gonxha gạt nước mắt từ giã mẹ và hai chị lên đường đi về phương đông xa xôi, nơi khổ đau đang chờ đợi bàn tay và trái tim của cô. Gonxha tạm thời dừng lại ở Dublin để làm thủ tục tại cơ sở chính của dòng tu Loreto Sisters. Tại đây Gonxha học tiếng Anh và làm quen với đời sống tôn giáo. Cô nhận y phục của một nữ tu và chính thức chọn tên cho mình là Teresa để tưởng nhớ đến Thánh Teresa của Lisieux. Tháng 12 năm 1928, Sơ Teresa cùng một nhóm nữ tu lên đường đi Ấn Độ, một xứ sở mà Sơ Teresa hằng mơ ước. Đầu năm 1929, đoàn nữ tu đến Columbo, rồi Madras và cuối cùng là Calcutta. Đoàn nữ tu tiếp tục chuyến đi về phía Darjeeling, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn, ở đó các sơ trẻ sẽ được bắt đầu huấn luyện hai năm trước khi thực hiện Lời Hứa thứ nhất. Hoàn cảnh sống của dân chúng Ấn Độ đã làm trái tim của Sơ trẻ Teresa thắt lại. Bao nhiêu người đói khát, bệnh tật đang thoi thóp chờ chết trên cùng khắp mọi nơi trên vùng đất Bengaly nghèo nàn và bất hạnh. Sơ Teresa đi Calcutta để theo học ngành sư phạm và không lâu sau đó đã trở nên một cô giáo trong trường cấp hai. Lòng bác ái của Sơ Terera đã chinh phục tâm hồn đang khao khát tình thương của học trò một cách dễ dàng. Sơ Teresa không chỉ dạy học sinh học chữ mà còn dạy thương yêu và dâng hiến tình yêu. Ngày 24 tháng 5 năm 1937, Sơ Teresa thực hiện Lời Hứa cuối cùng tại Darjeeling. Ngoài nhiệm vụ dạy học, Sơ Teresa dành thời gian để giúp đỡ những người nghèo khổ. Sơ Teresa đi thăm viếng bịnh viện, thăm viếng những khu dân nghèo, những khu thường được gọi một cách khinh bỉ là khu ổ chuột. Cuộc sống bi thảm của dân chúng đã làm sống dậy mãnh liệt trong lòng Sơ Teresa ước muốn “sống giữa sự khổ đau của nhân loại” mà Sơ từng ôm ấp từ những ngày còn ở quê hương Macedonia. Với tất cả dự tính trong đầu, Sơ Teresa rời trường học để về lại Darjeeling vào ngày 10 tháng 9. Như Sơ đã nhắc lại sau nầy “đây là chuyến đi quan trọng nhất trong cuộc đời tôi”. Ngày 10 tháng 9 sau nầy được dòng tu của Mẹ Teresa gọi là “Ngày Ước Vọng”. Sơ Teresa cố gắng thỉnh nguyện Đức Ông Perier, Tổng Giám Mục Calcutta để cho phép Sơ được rời khỏi dòng tu Loreto Sisters để trở thành một nữ tu độc lập. Tuy nhiên lời thỉnh cầu của Sơ đã bị từ chối. Một năm sau, Sơ Teresa lại lần nữa đệ đạt lời thỉnh cầu của mình. Lần nầy, Đức Tổng Giám Mục đồng ý nhưng chỉ thị Sơ Teresa phải đệ trình đơn thỉnh nguyện lên Tòa Thánh. Mãi đến tháng 8 năm 1948, Sơ Teresa mới nhận được sự chấp thuận của Tòa Thánh cho phép Sơ được rời khỏi dòng tu Loretto với một điều kiện rằng Sơ phải giữ lời hứa phục vụ người nghèo, tinh khiết và tuân phục. Ngay sau đó, Sơ Teresa, 38 tuổi, từ giã chiếc áo nữ tu Loretto và thay vào đó chiếc áo vải thô, trị giá chỉ 1 đồng tiền Ấn Độ, với viền xanh nhạt. Sơ Teresa trở nên một công dân Ấn Độ và cuộc hành hương vào giữa nỗi khổ đau của nhân loại thực sự bắt đầu. Sau khi học một khóa huấn luyện kỹ càng về làm thế nào để sống và săn sóc người nghèo và bịnh tật, Sơ Teresa trở lại Calcutta, đi vào các khu ổ chuột và giúp đỡ dân chúng cùng khổ ở đó. Hằng ngày Sơ Teresa tắm cho các em bé, lau chùi các vết thương của bệnh nhân. Phương tiện duy nhất của Sơ là đôi bàn tay, một cục xà phòng nhỏ và vài chiếc khăn. Bất cứ khi nào có thể, Sơ Teresa cũng không quên dạy họ học chữ. Sơ một mình âm thầm làm việc như thế trước sự ngạc nhiên của mọi người trong làng. Họ tự hỏi “Người đàn bà Châu Âu trong bộ đồ vải trắng đó là ai ?” Đối với trẻ em nghèo, họ bắt đầu gọi Sơ là Mẹ Teresa. Đối với Mẹ Teresa, Chúa là chỗ dựa tinh thần duy nhất mà thôi. Một ngày nọ có một cô học trò cũ, con nhà giàu tìm đến và xin ở lại với Mẹ. Mặc dù đây là phút giây cảm động nhưng Mẹ Teresa một mực từ chối. Mẹ kể cho cô gái nghe về đời sống và công việc làm hằng ngày của Mẹ, trong đó bao gồm việc tắm rửa cho bịnh nhân, lau chùi các vết thương, vết lở đầy máu mủ. Cô gái ra về. Ngày 19 tháng 3 năm 1949, cô gái đó trở lại, không một chút phấn son và không một món trang sức nào trên người. Ước muốn của cô đã được Mẹ Teresa chấp nhận. Mẹ Teresa dùng tên cũ của mình để đặt cho tên cho cô gái: Agnes. Và cứ thế, tháng 5 có thêm ba người gia nhập và sang năm sau thì có thêm 7 người. Hội của những nữ tu Bác Ái với 12 nữ tu đầu tiên được thành lập và được Đức Giáo Hoàng chấp thuận vào ngày 7 tháng 10 năm 1950. Nguyên tắc căn bản của dòng tu là hiến dâng chính mình để phục vụ người nghèo trong tình yêu của Chúa. Mẹ cũng đã mua lại căn nhà cũ của một người Pakistan để làm trụ sở đầu tiên. Căn nhà sau đó đã được gọi là Căn Nhà Của Mẹ. Từ điểm khởi hành đó, hàng trăm người từ khắp nơi trên thế giới đổ về hàng năm để cùng với Mẹ Teresa dâng hiến đời mình để xoa dịu nỗi khổ đau của nhân loại. Vào khoảng giữa thập niên 1950, Mẹ Teresa tập trung nỗ lực vào việc giúp đỡ bịnh nhân cùi. Chính phủ Ấn cung cấp cho Mẹ khoảng đất rộng 34 mẫu để thành lập Trại Cùi, trại nầy được Mẹ đặt tên là Shanti Nagar (Làng Thanh Bình). Để tỏ lòng biết ơn và tôn kính, chính phủ Ấn đã trao tặng Mẹ Teresa giải Padmashree và 1965 Đức Giáo Hoàng Paul VI đã đặt Dòng Tu Bác Ái trực tiếp dưới sự kiểm soát của tòa thánh. Đức Giáo Hoàng cũng đề nghị Mẹ Teresa mở rộng dòng tu sang các quốc gia khác ngoài Ấn Độ. Năm 1971, Đức Giáo Hoàng Paul VI tặng Mẹ Teresa giải Hòa Bình Giáo Hoàng John XXIII cao quý. Năm sau, chính phủ Ấn Độ trao tặng Mẹ Teresa giải thưởng quan trọng: Jawaharlal Nehru. Năm 1979, Mẹ Teresa được trao tặng giải Nobel Hòa Bình, giải thưởng quốc tế được kính trọng nhất. Dù nhận bao nhiêu huân chương và giải thưởng, Mẹ Teresa cho đến cuối đời vẫn một chiếc áo vải thô trắng viền xanh đơn giản mà Mẹ đã mua với giá 1 đồng và tấm lòng thương người bao la như nước sông Hằng cuồn cuộn. Mẹ Teresa có lần dạy một bài học về tình yêu đầy ý nghĩa: “Người nghèo không cần chúng ta thương hại, họ cần tình yêu và thông cảm. Họ cho chúng ta nhiều hơn là chúng ta cho họ. Trong thời gian khó khăn của Ấn Độ, chúng tôi yêu cầu một số người tình nguyện từ khắp nơi đến giúp. Nhiều ngàn người đã đến và khi họ ra về, nhận xét chung của họ là họ đã đem về nhiều hơn là đem cho. Có một lần ở Calcutta, chúng tôi nhặt được 5 người đang chết, trong đó có một người phụ nữ bịnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với bà trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay của bà. Bịnh nhân tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát chỉ miệng cười và nói “cám ơn” trước khi nhắm mắt lại từ giã cuộc đời”. Ngày thứ Sáu 5 tháng 9 năm 1997. Mẹ Teresa được Chúa gọi về sau hơn 50 năm phục vụ những người cùng khó. Không phải chỉ dân tộc Albany hay quốc gia Ấn Độ, mà cả nhân loại mất đi một người Mẹ hiền. Ngay cả một tờ báo Hồi Giáo ở tận xứ Kasmir cũng đã viết những dòng ca ngợi Mẹ: “Mẹ Teresa chưa hề được sinh ra đời và Mẹ cũng chẳng bao giờ chết, Mẹ chỉ đến viếng thăm hành tinh của chúng ta mà thôi”.

 

PHONG TRÀO GIÁO DÂN VIỆT NAM HẢI NGỌAI The Movement of the Vietnamese Laity in Diaspora 405 Ranger Rd. Fallbrook, CA 92028 - USA Ph.: 760-451-9379 / Fax: 760-451-9769. Email: phongtraogiaodan@aol.com NHẬN ĐỊNH CỦA PHONG TRÀO GIÁO DÂN VIỆT NAM HẢI NGOẠI về tài liệu được gọi là “Tâm thư kính đệ trình Hội Đồng Giám Mục Việt Nam” của Linh mục Nguyễn Văn Lý ngày 17 tháng 4 năm 2003 từ trại giam Nam Hà Sau khi đã xem xét và nghiên cứu: - Tài liệu được gọi là “Tâm thư kính đệ trình Hội Đồng Giám Mục Việt Nam” của Linh mục Nguyễn Văn Lý ngày 17.4.2003 từ trại giam Nam Hà nhận được qua Internet, - Bản minh định của hai Linh mục Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi ngày 16 tháng 7 năm 2003 về tài liệu nói trên, - Bản tuyên bố của Lm nguyễn Văn Lý tại nhà thờ họ đạo An Truyền, ngày 19 tháng 3 năm 2001, hai tháng trước khi bị chính quyền cộng sản Việt Nam bắt giam, về tính cách vô giá trị của những lời tuyên bố và những văn bản được gán cho ngài khi bị giam giữ, Ban Thường Vụ Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại có những nhận định sau: - Những phát biểu trong hoàn cảnh bị biệt giam và khủng bố tinh thần bằng những kỹ thuật tinh vi mà cộng sản đã từng áp dụng thì hoàn toàn không có giá trị; - Tài liệu ngụy tạo được tung ra nhằm đánh lạc hướng dư luận đồng bào các tôn giáo trong cũng như ngoài nước đang chống đối việc tiến hành “pháp lệnh về tôn giáo” độc đoán của CSVN; - Đảng Cộng Sản Việt Nam âm mưu mượn danh nghĩa và uy tín của Lm Nguyễn Văn Lý để “rao bán” chính sách độc đoán của họ, đồng thời để lộ cho thấy tình cảnh lúng túng của họ trước những đòi hỏi chính đáng từ nhân dân và dư luận quốc tế. Phong Trào Giáo dân Việt Nam Hải Ngoại cực lực tố cáo âm mưu dối trá và thâm độc của chính quyền cộng sản Việt Nam, và đồng thời tái khẳng định lập trường ủng hộ triệt để công cuộc đấu tranh bất bạo động cho tự do tôn giáo và nhân quyền của Lm. Nguyễn Văn Lý. Chúng tôi đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho Lm Nguyễn Văn Lý . Hải Ngoại ngày 03 tháng 8 năm 2003 TM Ban Thường Vụ Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại

 

Xin nhắc lại là ngày 11 tháng 4 năm 2002, Nhóm Chuyên Gia Nghiên Cứu Việt Nam thuộc Viện Nghiên Cứu Chính Sách của Hoa Kỳ, đã hội thảo về ‘Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam’. Với bài tham luận có tính cách dự thảo do nhóm này trình bày, theo đó, Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam những cải tiến về chính trị, kinh tế, và quân sự, giúp Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh với thể chế dân chủ, có khả năng tự chủ và duy trì mối bang giao thân thiện với các quốc gia láng giềng, nhất là Hoa Kỳ và cộng sản Trung Quốc. Thuyết trình đoàn trong buổi hội thảo, gồm: Tiến sĩ Arthur Dommen, tiến sĩ Stephen B. Young, tiến sĩ Võ Nhân Trí, luật sư Trần Thanh Hiệp, ông Bùi Tín, cựu Đại Tá quân đội nhân dân của cộng sản, và ông Nguyễn Hữu Sơn. Bài tham luận của nhóm có hai phần: Phần nhận định, và phần đề nghị. Phần nhận định được tóm tắt như sau: Cộng sản Trung Hoa đã tuyên bố chủ quyền của họ đối với khu vực Biển Đông bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, điều mà những triều đại Trung Hoa trước đây đã không hề nói đến. Rồi trong những năm gần đây, do sự vắng mặt của Hoa Kỳ và Nga tại vùng Đông Nam Á, cộng sản Trung Hoa đã và đang theo đuổi chính sách bành trướng trong vùng này, cụ thể là những cuộc thao diễn quân sự thường xảy ra. Ảnh hưởng của cộng sản Trung Hoa đối với Cam Bốt và Miến Điện rất mạnh, vì không phải ngẫu nhiên mà Thủ Tướng Cam-Bốt từ chối tòa án quốc tế xét xử Khờ-Me đỏ, cũng không phải ngẫu nhiên mà Miến Điện cho cộng sản Trung Hoa sử dụng hải cảng Thilawa, tạo điều kiện cho hạm đội của cộng sản Trung Hoa lần đầu tiên có mặt tại Ấn Độ Dương. Bài tham luận cũng đề cập đến hai thỏa ước ký kết bí mật hồi cuối năm 1999 và cuối năm 2000, cho thấy nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã nhượng đất nhượng biển cho cộng sản Trung Hoa. Và giữa năm 2002, cộng sản Trung Hoa đòi hỏi lãnh đạo cộng sản Việt Nam phải cho họ sử dụng hải cảng Vinh, và hằng ngày cho phép 900 tàu thuyền đánh cá của họ vào sâu trong hải phận Việt Nam. Thêm nữa, cộng sản Trung Hoa còn yêu cầu cộng sản Việt Nam, viết lại lịch sử và sách giáo khoa về cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Hoa đầu năm 1979, đồng thời loại bỏ ‘thành kiến bài bác Trung Hoa’ trong xã hội Việt Nam. Bài tham luận cho rằng, trong bối cảnh như vậy, Hoa Kỳ và Việt Nam cần có một chính sách đối ngoại thích hợp, bởi vì không một nước nào cho phép cộng sản Trung Hoa làm bá chủ vùng Đông Nam Á này. Nhưng, làm thế nào để cân bằng lực lượng trong vùng? Điều này phải là mối quan tâm chung của Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhớ rằng, nguyên tắc của Hoa Kỳ từ năm 1954 đến nay, đều trong mục đích thực hiện chính sách giúp Việt Nam trở thành một quốc gia theo ‘chủ nghĩa quốc gia, độc lập, tự chủ, và dân chủ.’ Nếu Hoa Kỳ chọn lựa giải pháp bảo vệ Việt Nam để ngăn chận tham vọng bá chủ của cộng sản Trung Hoa, điều này sẽ gặp chống đối mạnh mẽ của cộng sản Trung Hoa như một số người lo ngại, và ở điểm cực đoan của mối lo ngại này có thể dẫn đến sự đối đầu quân sự. Vậy, mọi quan niệm sử dụng cần thận trọng để tránh hậu quả, đồng thời tạo mối tương quan hỗ trợ cho nhau trong môi trường nhân đạo, khoan dung. Hoa Kỳ không thể để cho việc xây dựng Việt Nam, lại gây sự đối đầu quân sự với cộng sản Trung Hoa, nhưng cũng không thể để mối lo ngại này ảnh hưởng vào sự chọn lựa chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Chúng ta phải đồng ý rằng, không có một lực lượng chính trị đối kháng với cộng sản Trung Hoa, Việt Nam sẽ bị thu hút vào quỹ đạo của cộng sản Trung Hoa, và khoảng trống đó lại càng mời mọc tham vọng của nước cộng sản rộng lớn này với hậu quả không thể lường được. Vì vậy mà khoảng trống chính trị đó phải được san lấp. Một nước Việt Nam dân chủ, sẽ không bị giằng buộc bởi sự che chở của cộng sản Trung Hoa đối với nhà cầm quyền Việt Nam, như vậy Việt Nam có quyền tự chủ và bang giao tốt với Hoa Kỳ lẫn cộng sản Trung Hoa. Nghĩa là có khả năng tránh được sự đối đầu với cộng sản Trung Hoa, đồng thời kềm chế cộng sản Trung Hoa không thể thực hiện tham vọng của họ. Tiếp đây là tóm tắt phần đề nghị. Bài tham luận cũng nhận định rằng, Hoa Kỳ sẽ không nhắm mắt hỗ trợ bất cứ chánh phủ nào ở Việt Nam. Mục tiêu này đòi hỏi phía Việt Nam phải thi hành những biện pháp dân chủ hóa mà nhóm nghiên cứu này đề nghị một ‘bản đồ lộ trình’ qua những bước chuyển tiếp về chính trị, để tất cả mọi người có cơ hội góp phần vào công cuộc xây dựng một nước Việt Nam tiến bộ và tự hào. Muốn được như vậy, chỉ có một chế độ đa nguyên mới thực sự đoàn kết mọi thành phần dân tộc, và không một cá nhân hay đảng phái nào có quyền lấn áp sinh hoạt văn hóa xã hội. ‘Bản đồ lộ trình’ gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn một. Điểm 1. Ứ­ng cử viên không thuộc đảng cộng sản Việt Nam được phép ứng cử vào quốc hội trong cuộc bầu cử trung tuần tháng 5/2002. Xin mở ngoặc: điều này đã quá trễ. Xin đóng ngoặc lại. Điểm 2. Các công ty tư doanh được đối xử ngang hàng với công ty quốc doanh, đặc biệt là về tín dụng ngân hàng. Điểm 3. Cộng sản Việt Nam phải công khai hóa tình hình tài chánh và đầu tư trong lãnh vực kinh doanh. Giai đoạn hai. Điểm 1. Các tôn giáo được tự do chọn lựa tổ chức và điều hành, kể cả quyền bổ nhiệm giáo sĩ, nhưng không hoạt động chính trị. Điểm 2. Trong tổ chức quân đội không còn tổ chức chính trị của đảng. Các thẩm phán và luật sư, ra khỏi đảng. Điểm 3. Trả tự do tất cả tù nhân chính trị. Điểm 4. Một số báo chí được tự do. Điểm 5. Các công ty xí nghiệp mà cộng sản Việt Nam có trên 25% cổ phần, phải bán cho công chúng. Điểm 6. Việt Nam phải bảo vệ những tài sản trí tuệ để khuyến khích đầu tư. Điểm 7. Hoa Kỳ chánh thức viện trợ 500 triệu mỹ kim. Điểm 8. Tổ chức những chương trình trao đổi tạo cơ hội cho người Mỹ gốc Việt giúp Việt Nam phát triển kinh tế, văn hoá, và trợ giúp huấn luyện các ngành về dịch vụ. Điểm 9. Một công ty tư nhân Hoa Kỳ xây dựng khu kỹ nghệ và sửa chữa lại hải cảng Cam Ranh. Điểm 10. Hoa Kỳ cung cấp cho quân đội Việt Nam dụng cụ truyền tin và huấn luyện. Giai đoạn ba. Điểm 1. Những đảng phái không cộng sản được phép hoạt động, được phê bình chánh phủ, và được tham gia các cuộc bầu cử. Điểm 2. Điều 4 trong hiến pháp phải được hủy bỏ để chánh thức hoá thành lập một chế độ đa đảng, và chấm dứt vai trò độc tôn của đảng cộng sản Việt Nam. Xin mở ngoặc: Khởi thủy của giai đoạn này nói rằng, điều 4 có thể bỏ hay không cũng được, nhưng ở phần kết luận cho là dứt khoát phải bỏ, vì nó mâu thuẫn với những gì thực hiện trong các giai đoạn. Xin đóng ngoặc lại. Điểm 3. Những công ty quốc doanh phải bán cho tư nhân để khu vực công sản xuất không quá 25% tổng sản lượng nội địa. Điểm 4. Hoa Kỳ gia tăng viện trợ, đồng thời khuyến khích các công ty Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam. Điểm 5. Phối hợp huấn luyện quân sự giữa Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Thái Lan, với Phi Luật Tân. Điểm 6. Hoa Kỳ cung cấp vũ khí tối tân cho quân đội Việt Nam. Và giai đoạn bốn. Điểm 1. Tách cảnh sát công an và lực lượng an ninh ra khỏi đảng cộng sản, và giảm nhân số. Điểm 2. Hoa Kỳ được sử dụng hải cảng Cam Ranh cho mục tiêu quân sự. Điểm 3. Viện trợ của chánh phủ Hoa Kỳ sẽ giảm, và thay vào đó là đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp của tư nhân. Điểm 4. Các đại học Hoa Kỳ được khuyến khích mở các chi nhánh tại Việt Nam. Và điểm 5. Hoa Kỳ bắt đầu tổ chức những cuộc huấn luyện và thao diễn quân sự hằng năm với quân đội Việt Nam. Phần kết của bài tham luận. Tình hình Việt Nam và Đông Nam Á thay đổi nhanh chóng, mà cộng sản Trung Hoa là mối đe dọa lớn lao và trực tiếp đối với Việt Nam. Nếu không có một lực lượng đối kháng cấp bách thì tham vọng của cộng sản Trung Hoa sẽ là vô giới hạn. Đề nghị trên đây có khả năng đáp ứng nhu cầu đó, và cần bắt đầu ngay. Nhưng sau cuộc bầu cử quốc hội trung tuần tháng 5/2002 phải chờ đến năm 2007 mới có bầu cử, đó là thời gian quá xa. Do đó, cần có cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế vào năm 2004 hoặc 2005, để bầu quốc hội lập hiến. Và vấn đề chọn lựa cơ quan lập pháp, vị lãnh đạo hành pháp, tư pháp, cũng như quyết định về quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, sẽ căn cứ vào bản Hiến Pháp mới trong tinh thần dân chủ tự do. Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho Việt Nam là cơ hội tốt, giúp Việt Nam thay đổi thể chế chính trị mà trước sau gì cũng phải xảy ra. Đến đây là hết phần tóm tắt bài tham luận của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Vụ của Hoa Kỳ. Tiếp đây là tóm tắt bản tin ngày 3 tháng 10/2003 của đài Á Châu Tự Do. Theo đó thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam xác nhận nguồn tin Tướng Phạm Văn Trà, Bộ Trưởng Quốc Phòng của họ sẽ sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 11/2003 này theo lời mời của ông Rumsfield, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ. Tin này trước đây thuộc loại tin hành lang, nhưng bây giờ đã trở thành chánh thức. Giới quan sát quốc tế cho rằng, sở dĩ có tình trạng này là vì Việt Nam rất thận trọng trong vấn đề bang giao với Hoa Kỳ. Điều này cũng dễ nhận ra mối giao hảo giữa hai nước cựu thù từ năm 1994 đến nay, trải qua nhiều giai đoạn: - Năm 1994, Hoa Kỳ quyết định bãi bỏ cấm vận. - Năm 1995, Hoa Kỳ quyết định bình thường hóa bang giao. - Năm 1997, trao đổi Đại Sứ. - Năm 1999, ký kết hiệp định thương mại song phương. Trình tự như vậy có thể được xem là hợp lý. Nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài của những diễn tiến đưa đến kết quả tích trên đây, thì ai cũng có cảm tưởng là hai nước đang tiến đến tình trạng bình thường. Sự thực thì bên trong của vấn đề không đơn giản, vì hoàn cảnh nội bộ của cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam, đều có những phức tạp riêng của mỗi bên. Riêng về phía Hoa Kỳ, sự chống đối việc cải tiến bang giao với Việt Nam không mạnh, vì chánh phủ cũng như những thế lực Hoa Kỳ xem vấn đề Việt Nam không thuộc loại quan trọng. Nhưng về phía Việt Nam thì khác, sự giằng co giữa những khuynh hướng trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam, có thể được xem là vấn đề then chốt trong việc lựa chọn đường lối: đẩy mạnh hay không đẩy mạnh mối quan hệ với Hoa Kỳ? Trong giới quan sát quốc tế ghi nhận rằng, khi Thủ Tướng Phan Văn Khải dự hội nghị APEC tại New Zealand (Tân Tây Lan) năm 2000, có mang theo chỉ thị phải thỏa thuận với Tổng Thống Bill Clinton về Hiệp Định Thương Mại, nhưng lại được chỉ chị vào phút chót của nhóm lãnh đạo đảng là ông không được ký kết gì hết. Sự kiện này cho phép suy đoán là có sự tranh chấp gay gắt giữa khuynh hướng đổi mới với khuynh hướng bảo thủ, hay là tranh chấp giữa khuynh hướng thân Mỹ với khuynh hướng thân cộng sản Trung Hoa trong hàng ngũ lãnh đạo của cộng sản Việt Nam. Và rõ ràng là cộng sản Việt Nam phải đợi cộng sản Trung Hoa ký thỏa ước tương tự với Hoa Kỳ trước, Việt Nam mới dám ký sau đó. Hành động này cho thấy lãnh đạo cộng sản Việt Nam ở vào hoàn cảnh thật tế nhị, nói cho đúng là lãnh đạo cộng sản Việt Nam không dám đứng ngang hàng với lãnh đạo cộng sản Trung Hoa. Tuy phải dựa vào đàn anh cộng sản Trung Hoa, nhưng không vì thế mà không lo về sức ép của nước láng giềng này luôn đè nặng áp lực lên đầu Việt Nam. Sau khi ký thoả ước tặng phần đất trên bộ và tặng phần lãnh hải trên vịnh Bắc Việt, tuy không dám nói ra công khai, nhưng trong chốn riêng tư nhiều người Việt Nam, một số người nghĩ rằng, nếu Hoa Kỳ quay lại Việt Nam là một cơ hội tốt để Việt Nam vừa có lợi cho mình, vừa có thể làm nhẹ bớt áp lực từ cộng sản Trung Hoa. Nói thì dễ nhưng vào việc không phải là đơn giản, vì áp lực của cộng sản Trung Hoa thì sát nách, thậm chí ngay trên đỉnh đầu, trong khi Hoa Kỳ ở quá xa. Với lại cộng sản Việt Nam chắc không quên bài học đắng cay, khi tỏ ra thân thiện với Liên Bang Sô Viết xa xôi mà phải bị trừng phạt hồi năm 1979 bởi cộng sản Trung Hoa. Trở lại nguồn tin Tướng Phạm Văn Trà sẽ sang thăm Hoa Kỳ vào tháng 11/2003 tới đây. Khi loan báo tin này, Lê Dũng, người phát ngôn của bộ Ngoại Giao cộng sản Việt Nam tỏ ra rất thận trọng. Điều này cũng dễ hiểu, vì cứ mỗi lần công bố chánh thức về một sự kiện quan trọng nào đó liên hệ đến bang giao với Hoa Kỳ, y như rằng lãnh đạo cộng sản Việt Nam vừa công bố vừa nhìn lên đàn anh cộng sản Trung Hoa ngay trên đỉnh đầu, để xem phản ứng ra sao hầu có phản ứng thích hợp. Nói cho đúng là cộng sản Việt Nam rất sợ cộng sản Trung Hoa nổi giận. Cũng bản tin của đài Á Châu Tự Do ngày 6 tháng 10/2003, nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết là ngày 5 tháng 10, một phái đoàn của Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư của cộng sản Việt Nam đến Washington DC, bàn về vấn đề phát triển quan hệ giữa hai nước về kinh tế, an ninh, và quân sự. Đặc biệt là trong phái đoàn này có nhiều viên chức cao cấp về quân sự và tình báo. Theo bản tin ngày 8 tháng 10/2003 của đài VOA, một phái đoàn khá hùng hậu của cộng sản Việt Nam do ông Nguyễn Dy Niên, Bộ Trưởng Ngoại Giao dẫn đầu, đến Hoa Kỳ dự hội thảo với phái đoàn của Hoa Kỳ do ông James Kelly trưởng đoàn. Buổi hội thảo được tổ chức tại trường đại học John Hopkins, vào ngày 2 tháng 10/2003 vừa qua. Đề tài hội thảo là bang giao Mỹ Việt. Giới quan sát quốc tế có nét nhìn rằng, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Việt Nam trong lãnh vực ngoại giao và kinh tế trong mấy năm qua, có thể đang chuẩn bị bước sang lãnh vực quân sự và chiến lược thì phải, vì vậy mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam càng phải thận trọng hơn bao giờ hết. Và nguồn tin thân cận giới ngoại giao cao cấp của Hoa Kỳ cho biết rằng, những ngày tới sẽ có những biến chuyển mới giữa Hoa Kỳ với cộng sản Việt Nam, vì theo nhân vật này, Tổng Thống Bush đang giảm uy tín do chiến sự Iraq và do phản ứng bất lợi trong nội địa Hoa Kỳ, vì vậy mà Tổng Thống mở lối thoát mới tại Việt Nam, để làm bàn đạp chế ngự cộng sản Trung Hoa trước khi giải quyết vấn đề nguyên tử với Bắc Hàn. Tóm lại. Bản đồ lộ trình dân chủ hoá Việt Nam do Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Vụ của Hoa Kỳ soạn thảo, và đã hội thảo hồi trung tuần tháng 4/2002. Từ ấy đến nay gần như nó nằm im ở đâu đó, nay có vẻ như nó được mang ra áp dụng từng bước thì phải? Vì theo những nhà quan sát quốc tế, và ngay cả nguồn tin thân cận từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho rằng, thời gian tới đây sẽ có những biến chuyển mới trong việc tăng cường quan hệ giữa Hoa Kỳ với lãnh đạo cộng sản Việt Nam trong lãnh vực kinh tế, an ninh, quân sự, và lãnh vực chiến lược, mà những điều này đã dự liệu trong bản đồ lộ trình dân chủ hoá Việt Nam./. Houston, đầu Thu 2003.