Tham Khảo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Phúc Âm Thánh Gioan là Thủ Bản của Khoa Ki Tô Luận ( Christologia), mọi đề tài được lược thuật đều quy hướng về Chúa Giêsu, từ nguồn gốc và bản tính của Chúa Giêsu: - "Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời; Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa " ( Jn 1, 1), Từ thực tại Chúa Giêsu là sự sống của mọi tạo vật: - " Người là sự sống của mọi tạo vật và sự sống là ánh sáng cho nhân loại " ( Jn 1, 3b), đến việc Chúa Giêsu đến để soi sáng và đem lại đời sống vĩnh cữu cho thế gian: - " Ngôi lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” ( Jn 1, 9), và đem đến địa vị con Thiên Chúa cho mọi người: - " Còn những ai tiếp nhận, tức là tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa " ( Jn 1, 12), và cùng với Người được tham dự vào vinh quang của Chúa Cha ban cho Người: - " Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy ân sủng và chân lý " ( Jn 1, 14b). A - Nếu mọi đề tài đều được Thánh Gioan viết quy hướng về Chúa Giêsu như vừa kể, thì trong suốt Phúc Âm của Ngài, Chúa Giêsu là Đấng loan báo để chuẩn bị và ban cho chúng ta Chúa Thánh Linh, Đấng Bảo Trợ và Thầy dạy dỗ, để bênh vực và hướng dẫn người tín hữu Chúa Ki Tô trong cuộc sống tiến về Nước Trời. Duờng như trong suốt cuộc đời trần thế của Người, không có mấy khi mà không có tác động của Chúa Thánh Linh liên hệ. Ngay từ lúc khởi đầu cuộc đời công cộng, Chúa Thánh Thần tác động liên hệ trong cuộc đời Chúa Giêsu được Thánh Gioan Tẩy Giả là nhân chứng xác nhận cho mọi người: - " Ông Gioan làm chứng: tôi đã thấy Thánh Thần tựa chim bò câu từ trời xuống ngự trên Người. Tôi không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: " Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì chính người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn " ( Jn 1, 32-34). Và rồi chính Thánh Gioan , tác giả Phúc Âm, cũng đứng ra làm chứng Chúa Giêsu trao lại Thánh Thần khi Ngài tắt thở: - " Người ta lấy miếng bọt biển để thấm giấm, buộc vào một nhánh hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. Nhấp xong, Chúa Giêsu nói: Thế là hoàn tất! Rồi Người gục đầu xuống và trao Thánh Thần " ( Jn 19, 29-30), cũng như lúc Chúa Giêsu thổi hơi trên các Môn Đệ, ban cho các Vị Chúa Thánh Thần trong niềm hân hoan Phục Sinh: - " Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và phán: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ " ( Jn 20, 22-23). Ngoài trường hợp ở hai cực điểm , tử nạn và phục sinh, của cuộc đời Chúa Giêsu, trong đó các cử chỉ của Chúa Giêsu là cử chỉ thụ động, đối với Chúa Thánh Thần. Trong các biến cố khác, cử chỉ của Ngài trở nên tích cực hơn, nhứt là trong lúc thốt lên những lời cáo biệt. Chúa Giêsu dạy các Môn Đệ nhiều chi tiếc hơn về chức năng và nhiệm vụ của Chúa Thánh Linh, được quy tóm trong 5 lời huấn dụ: a ) " Thầy sẽ xin Cha Thầy và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến và ở với anh em luôn mãi. Đó là Thánh Thần của chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em, anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em " ( Jn 14, 16-17). b ) " Các điều đó Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 25-26), c ) " Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thánh Thần của sự thật, phát xuất từ nơi Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy " ( Jn 15, 6 ), d ) " Song Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy ra đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em " ( Jn 16, 7 ). e ) " Khi nào Thánh Thần sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự toàn vẹn.Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em " ( Jn 16, 13-14). Những huấn dụ trên là những lời tiên báo về Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ can thiệp và làm hoàn hảo công trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, sau khi Người được vinh quang, đánh dấu thời điểm mới, thời điểm sau biến cố Phục Sinh, thời điểm của Chúa Thánh Linh, năng động trong Giáo Hội và trong lòng mọi tín hữu Chúa Ki Tô: Như Kinh Thánh đã nói: " Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống: Chúa Giêsu muốn nói về Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ được lãnh nhận. ( Jn 7, 38-39). Và chính nhờ Chúa Thánh Thần mà những ai theo Chúa Giêsu được Ngài ban cho ơn thông hiểu Thánh Kinh: - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 45). Điều mà trước đó, trước khi được ban cho Chúa Thánh Thần các ông không hiểu: - " Vậy khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các Môn Đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói " ( Jn 2, 22), - " Lúc đầu các Môn Đệ không hiểu những điều ấy. Nhưng sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh, các ông mới nhớ lại là Thánh Kinh đã chép những điều đó về Người, và dân chúng đã làm y như vậy " ( Jn 12, 16), - " Thật vậy, trước đó các ông chưa hiểu: theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các ông lại trở về nhà mình " ( Jn 20, 9-10). Như vậy Chúa Thánh Thần ở một vị thế hết sức quan trọng trong công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu, " mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh ", làm cho hình ảnh Chúa Giêsu luôn hiện diện nơi các Môn Đệ, qua những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm, theo ánh sáng Thánh Kinh đã viết về Ngài, mà " trước đó các ông chưa hiểu ". B ) Chúa Giêsu nói về Chúa Thánh Thần như là một Đấng Bảo Trợ Khác ( Alter Paraclitus) hay là Thánh Thần của chân lý: Thánh Thần là Đấng ban cho chúng ta và dạy dỗ chúng ta về sự thật của Chúa Giêsu: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác. Đó là Thánh Thần của sự thật…Người luôn ở giữa và ở trong anh em " ( Jn 16, 13). Trước hết trong câu Phúc Âm vừa kể của Thánh Gioan, ai đọc bản văn Hy Lạp, sẽ thấy Thánh Gioan dùng nhân xưng đại danh từ ( pronom personel) sai văn phạm. Nhưng chắc chắn Ngài dùng sai văn phạm một cách cố ý để nói lên vai trò sống động của Chúa Thánh Thần. Bởi lẽ Thánh Thần ( tò pneuma ) trong tiếng Hy Lạp thuộc giới trung tính ( neutre), trong khi đó thì Thánh Gioan dùng nhân xưng đại danh từ " Người " ( ekeinos), trong câu ," Người luôn ở giữa và ở trong anh em ", là đại danh từ thuộc giống nam tính ( masculin). Cũng vậy trong các câu: - " Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Cha Thầy, “Người” ( ekeinos) là Thánh Thần sự thật, phát xuất từ nơi Chúa Cha. “Người sẽ làm chứng về Thầy " ( Jn 15, 26). Khi nào Thánh Thần sự thật đến, " Người " ( ekeinos) sẽ dẫn anh em tới sự toàn vẹn” ( Jn 16, 13 ). Những trường hợp lỗi văn phạm rất có ý nghĩa, không bị trừ điểm lỗi văn phạm, mà còn đáng được tha thứ và đáng khuyến khích! Trong lời hứa ban Chúa Thánh Linh cho các Môn Đệ: " Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em " ( Jn 14, 17), Chúa Giêsu không có ý đề cập đến nhiệm vụ của Chúa Thánh Thần cho bằng sự hiện diện của Người nơi các Môn Đệ và trong các Môn Đệ. Sự hiện diện " ở giữa và ở trong " người tín hữu Chúa Ki Tô đó, dành riêng cho người tín hữu, thế gian không thể hiểu được: " Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng không biết Người. Còn anh em, anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em. ( Jn 14, 16-17). Ở một lần khác hứa với các Môn Đệ, Chúa Giêsu gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác: - " Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em Đấng Bảo Trợ khác. Đó là Thánh Thần của sự thật " ( Jn 16, 13). Như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô có hai Đấng Bảo Trợ: Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ khác cũng có cùng nhiệm vụ như Chúa Giêsu đối với những ai là môn đệ Ngươi, tuy thời gian và phương thức bảo trợ có khác. Chúa Thánh Thần tiếp nối những gì Chúa Giêsu đã thực hiện, sau khi Chúa Giêsu " được rước lên trời " ( Lc 24, 51): - " Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em "”(Jn 16, 14). Chúa Giêsu là Đấng Bảo Trợ cho các tín hữu Người. Người dạy dỗ họ và là Đấng Cứu Thế, đem đến cho họ ơn cứu chuộc. Người không phải chỉ là Đáng Tiền Hô, dọn đường cho Chúa Thánh Thần. Vai trò của Chúa Thánh Thần như vai trò của Chúa Giêsu, nhưng khác trong thời điểm. Và do đó cũng khác trong phương thức hành động. Người được sai đến để biến sự khiếm diện vật chất của Chúa Giêsu, sau khi Ngài về cùng Chúa Cha, thành sự hiện diện mới "trong Thánh Thần ", để các Môn Đệ và những ai theo Người khỏi côi cút như Chúa Giêsu đã hứa: - " Thầy không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em " ( Jn 14, 18). Hoạt động của Chúa Thánh Thần là Bảo Trợ và dạy bảo, hướng dẫn các tín hữu: - " Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). " Dạy bảo anh em mọi điều " là động tác mạc khải cho các tín hữu hình ảnh hoàn hảo của Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần bênh vực và bảo đảm cho các tín hữu khỏi những hiểu biết thiếu sót về Chúa Giêsu. " và làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " không những là động tác nhắc lại những gì bị quên lãng , mà còn là sáng tạo những hiểu biết mới, trong hoàn cảnh mới, ngay cả trong nghịch cảnh, những gì Chúa Giêsu đã giảng dạy và thực hiện để có thể áp dụng. Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ, ( hy ngữ: paràkletos ) , với nhiệm vụ para-kalèo, ad vocatus), là luật sư bênh vực cho người tín hữu trước nghịch cảnh: - " Khi nguời ta điệu anh em đi nộp, thì anh em đừng lo trước phải nói gì, nhưng trong giờ đó, Thiên Chúa cho anh em biết điều gì, thì hãy nói điều đó: thật vậy, không phải anh em nói, mà là Thánh Thần nói " ( Mc 13, 11). Và nhứt là nhờ Chúa Thánh Thần dạy bảo và hướng dẫn, người tín hữu Chúa Ki Tô biết được cuộc sống liên kết thân tình giữa họ, Chúa Cha và Chúa Giêsu: - " Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em " ( Jn 14, 20). Cuộc sống thân tình đó của người tín hữu với Chúa Cha và Chúa Giêsu, được Chúa Thánh Thần làm cho họ ý thức, vì chính Ngài sống ở nơi họ và trong họ: - " Đó là Thánh Thần sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em, anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em” ( Jn 14, 17). Đó là cuộc sống ân sủng tuyệt diệu của người Ki Tô hữu. Đới sống Ki Tô hữu không phải chỉ gồm tóm những hiểu biết và tuân giữ một loạt những giới răn cấm đoán " không được làm " một cách sợ sệt như người nô lệ, mà là cuộc sống thân tình trong Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, được Chúa Thánh Thần sống trong họ và làm chứng cho họ. Đó là những gì Thánh Phaolồ viết cho các tín hữu Galati: - " Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Giêsu sống trong tôi " ( Gal 2, 20). Có Chúa Ba Ngôi trong tâm hồn, người tín hữu Chúa Ki Tô đang sống cuộc sống thiên đàng ngay giữa trần gian, với Chúa Thánh Thần là Bảo Trợ, Thầy dạy và hướng dẫn.

 

A - Có lẽ để tránh cho bài đọc quá dài trong Thánh Lễ, Thánh Bộ Phụng Vụ đã cắt đi hai câu rất có ý nghĩa để hiểu được đoạn Phúc Âm hôm nay. Đó là hai câu ( Lc 24, 44-46), chúng ta thử đặt lại vào văn mạch toàn bộ để tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc mà Thánh Luca muốn chuyển đến chúng uta trong đoạn Phúc Âm: - " Rồi Người phán: Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Moisen, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy, đều phải được ứng nghiệm. Bây giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh và Người phán: Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki Tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cỏi chết sống lại " ( Lc 24, 44-46). Hai câu Phúc Âm vừa kể thuật lại cho chúng ta biết nền tảng của cuộc sống và sứ mạng người Ki Tô hữu: Chúa Giêsu Phục Sinh ban cho Giáo Hội vừa mới khai sinh Chúa Thánh Linh để được soi sáng thấu hiểu Thánh Kinh, nền tảng chương trình và phương thức cứu rỗi của Thiên Chúa đối với nhân loại: - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 45). Bởi vì Thánh Kinh không những đề cập cho cho chúng ta về Chúa Giêsu, mà còn nói đến Chúa Cha , phẩm giá con người và chương trình an bài của Chúa Cha để cứu rỗi con người chúng ta, sau những gì bất hạnh xảy ra với nguyên tội: - " Có lời Thánh Kinh chép rằng: Đấng Ki Tô phải chịu khổ hình rồi ngày thức ba từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 46-47). Món quà tặng vừa kể mà Chúa Giêsu Phục Sinh ban tặng cho Giáo Hội tiên khởi của Ngài, - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh ", đã được các thiên thần đề cập đến với các phụ nữ bên ngôi mộ trống: - " Sao các bà lại tìm Người Sống giữa kẻ chết. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilea, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại " ( Lc 24, 5-7). Rồi Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đã đề cập đến với hai Môn Đệ Emmaus bằng cách vừa trách cứ vừa giải thích cho trí nhớ kém cỏi và chậm hiểu những gì Người đã nói với các ông: - " Anh em chẳng hiểu gì cả! Lòng trí anh em thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ. Nào Đấng Ki Tô chẳng phải chịu khỗ hình như thế, rồi mới vào vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Moisen và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong cả Sách Thánh " (Lc 24, 25-27). Món quà tặng đã được đề cập đó, chính trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu trao tặng cho các Môn Đệ, cho Giáo Hội vừa mới khai sinh của Người và cho chúng ta con cái được sinh ra trong Giáo Hội: - " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 45). Và chính Chúa Giêsu , hơn ai hết, không những là người có thể chú giải Thánh Kinh cho các Môn Đệ hiểu, như đã giải thích cho các Môn Đệ Emmaus, mà còn chính là người đứng ra thực hiện hoàn tất những gì Thánh Kinh đã viết ra phải được thực hiện: - " Khi còn ở với anh em, Thầy đã nói với anh em rằng tất cả những gì sách luật Moisen, sách các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm " ( Lc 24, 44). Như vậy chỉ sau khi nhận được từ Chúa Giêsu Phục Sinh ơn được "mở trí cho các ông hiểu Thánh kinh " và được soi sáng bởi Thánh Kinh, Giáo Hội mới có khả năng rao giảng Phúc Âm, làm chứng về Chúa Giêsu: - " Chính anh em là chứng nhân những điều nầy " ( Lc 24, 48), để hướng dẫn mọi người đến ơn cứu rỗi: - " Phải nhân danh Thầy mà giảng dạy cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 47). Không có ơn được " mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " mà Chúa Giêsu Phục Sinh trao cho trong Phúc Âm hôm nay, Thánh Phaolồ tốn công sức rao giảng như người lực sĩ múa máy vô ích trong hí trường và chính Thánh Phêrô và Thánh Gioan, sau khi thấy những gì đã xẩy ra trong ngôi mộ trống, mặc dầu " ông đã thấy và tin " ( Jn 20,8), cũng lại lủi thủi trở về nhà: - " Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: Theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó các ông lại trở về nhà mình " ( Jn 20, 9-10). Thay vì có khả năng rao giảng và làm nhân chứng cho Chúa Giêsu. B - Và cũng có lẽ là tiến trình tự nhiên của biến cố, sau khi Chúa Giêsu trao tặng cho các Môn Đệ món quà cuối cùng, món quà được " mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh ", cũng như những lời dặn cuối cùng, - " Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em những điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống " (Lc 24, 49), Chúa Giêsu mới từ giã các Môn Đệ để về cùng Chúa Cha: - " Và đang khi chúc lành thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời " ( Lc 24, 51). Nhưng có lẽ cũng là tiến trình Thánh Luca muốn ngụ ý thuật lại cho chúng ta để hiểu biết tầm quan trọng của biến cố Chúa Giêsu Thăng Thiên hôm nay: không có ơn được thấu hiểu Thánh Kinh và không được Chúa Thánh Thần ở trong chúng ta và soi sáng cho, chúng ta không thể hiểu được ý nghĩa sâu thẩm của biến cố Lễ Thăng Thiên. Dùng từ ngữ Lễ Thăng Thiên ( Ascensio in coelum), chúng ta dùng để diễn tả quang cảnh huy hoàng với ánh sáng chói lọi vinh hiển của biến cố, như các Môn Đệ lúc đó: - " Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa " ( Lc 24, 52). Chúng ta có lý dùng từ ngữ Lễ Thăng Thiên để biến cố vinh quang và niềm hoan hỷ của chúng ta tham dự vào vinh quang của Chúa Giêsu lên trời. Nhưng chúng ta đừng quên một ý nghĩa khác cũng rất quan trọng được diễn tả bằng từ ngữ Chúa Giêsu được rước lên trời ( Assumptio in coelum), được Thánh Luca nói đến trong Phúc Âm hôm nay: - " Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời " ( Lc 24, 51). Trong Thánh Kinh và nhiều lần trong Phúc Âm nói riêng, vì lòng tôn kính Thiên Chúa, nên khi đề cập đến tác động của Người, các tác giả thường dùng động từ ở thể thụ động ( temps passif ) , " được đem lên trời ". Dĩ nhiên khi đọc, chúng ta sẽ tự hỏi: " được ai rước lên trời? ". Và câu trả lời sẽ không có gì khác hơn là " được Chúa Cha rước lên trời " ( a Padre assumptus in coelum). Hiểu được như vậy trong ngôn từ Phúc Âm và trong ngôn từ của Thánh Luca ở đây, chúng ta sẽ thấy rằng Lễ Thăng Thiên không phải chỉ để nói lên một biến cố huy hoàng, nhưng rồi biến mất đi sau đó, như để đánh dấu một giai đoạn dài mất tâm tích của Chúa Giêsu, mà là nói cho chúng ta sứ mạng của Chúa Giêsu đã hoàn tất và nhân loại chúng ta cũng được dự phần vào vinh quang của Ngài. Động từ ở thể thụ động nói lên động tác của Chúa Cha, " Chúa Giêsu được Chúa Cha rước lên trời" : Chúa Cha vinh thăng Chúa Giêsu trên thiên quốc. Lễ Thăng Thiên là niềm an ủi lớn lao cho nhân loại chúng ta, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn trung thành đối với những gì Người đã hứa. Người đã khởi công cứu chuộc chúng ta bằng việc sai Chúa Giêsu đến với chúng ta. Giờ đây, Chúa Giêsu đã trung thành hoàn tất công cuộc cứu rỗi của Ngài. Chúa Cha vinh thăng Ngài và chúng ta cũng sẽ được Chúa Cha đem lên trời ( assumpti in coelum) nhân danh Chúa Giêsu: - " Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu tử Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội " ( Lc 24, 47) . Ngoài ra Chúa Giêsu được Chúa Cha đem lên trời với cả bản tính nhân loại của Người. Vinh danh Chúa Giêsu với cả bản tính nhân loại của Người, Chúa Cha cũng vinh danh cả nhân loại chúng ta, lý do để tất cả chúng ta, những ai " tin vào danh Người ", " sám hối để được ơn tha tội. Chúa Giêsu là vị Tổ Phụ Adong mới của cả họ tộc nhân loại mới, sẽ vào Nước Trời, nhờ công cuộc cứu rỗi của Người. Bởi đó Thánh Leo Cả ( Leo Magnus) đã tuyên bố một câu rất ý nghĩa: - " Lễ Thăng Thiên của Chúa Giêsu chính là Lễ Thăng Thiên của tất cả chúng ta, và ở nơi đâu Người đã đến trước chúng ta trong vinh quang của Cái Đầu, ở đó niềm hy vọng của thân thể cũng được kêu gọi ". Chúa Giêsu Thăng Thiên, hay đúng hơn Chúa Giêsu được Chúa Cha đem lên trời (Assumptio in coelum), không phải để đánh dấu thời điểm từ biệt và Chúa Giêsu không còn nữa, mà là Chúa Giêsu hiện diện dưới hình thức khác: * Chúa Giêsu luôn luôn hiện diện trong Thánh Kinh " Bấy giờ người mở trí cho các ông hiểu Thánh Kinh " ( Lc 24, 25). * Chúa Giêsu hiện diện trong Chúa Thánh Linh: " Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều gì Cha Thầy đã hứa " ( Lc 24, 49), * Chúa Giêsu hiện diện trong Cộng Đồng Giáo Hội nhân danh Chúa Giêsu rao giảng Phúc Âm cứu rỗi: " Phải nhân danh Thầy mà rao giảng cho muôn dân, bắt đấu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều nầy " ( Lc 24, 47-48). * Mừng Lễ Thăng Thiên hay Lễ Chúa Giêsu được Chúa Cha đem lên trời trong vinh quang, nhắc cho chúng ta hướng chúng ta đến ngày cánh chung: - " Hỡi người Galilea sao còn đứng đó mà nhìn lên trời? Chúa Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời thế nào, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời " ( Act 1, 11). Chúa Giêsu là người anh trưởng của dân tộc mới trong Nước Trời, là Chúa của tất cả mọi người, đã được Chúa Cha ban cho quyền phán xét kẻ sống và kẻ chết: - " Người đã gởi đến cho con cái nhà Israel lời loan báo Tin Mừng bình an, nhờ Chúa Giêsu Ki Tô là Chúa của mọi người. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết " ( Act 10, 36.42). * Và sau cùng, theo lời dặn của Chúa Giêsu các Môn Đệ chỉ bắt đầu sứ mạng của các Ngài sau khi đã nhận lãnh Chúa Thánh Thần: - " Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống " ( Lc 24, 49). Bởi vì Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ và là Thầy dạy dỗ cho chúng ta những gì phải theo: - " Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, ngay khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều Thầy đã dạy bảo anh em " ( Jn 14, 25-26). * Tuân theo lời dặn đó, các Môn Đệ trở lại trong thành, rồi luôn ở trong Đền Thờ cầu nguyện, chờ đợi nhận được Chúa Thánh Thần: - " Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa " ( Lc 24, 52). * Trong thời gian chuẩn bị để đón nhận Chúa Thánh Thần, các Môn Đệ hợp nhau tỉnh tâm cầu nguyện cùng với Mẹ Maria: - " Tất cả các ông đều đồng tâm hợp ý, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với Đức Maria, thân mẫu Chúa Giêsu, và với anh em của Người " ( Act 1, 14). Ước gì trong tuần lễ sắp tới đây, sau Thánh Lễ Thăng Thiên hôm nay, tuần lễ chuẩn bị để đón nhận Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, như Chúa Giêsu đã hứa, tất cả chúng ta Cộng Đồng Dân Chúa cùng hợp nhau, tĩnh tâm cầu nguyện với sự hiện diện của Mẹ Maria để chuẩn bị xứng đáng đón rước Người, - " Đấng Bảo Trợ và Đấng dạy anh em mọi điều Thầy đã dạy bảo anh em ".

 

Thực hiện sứ mạng đầy cường độ ( Lc 6, 17-9, 19) ( 2 ) c) Một vài so sánh ( Lc 6, 39-49). Phần thứ ba của Bài Giảng Dưới Đồng Bằng là đoạn thu tóm một vài so sánh: việc so sánh thứ nhứt gọi là " dụ ngôn " ( Lc 6, 39). Những câu chuyện so sánh vừa đề cập không có liên hệ chặt chẽ vói bản văn trước đó, ngay cả cũng không liên hệ mật thiết các so sánh đó với nhau. Đó là những gì được nói lên tách biệt nhau, được Chúa Giêsu huấn dạy trong nhiều dịp khác nhau, được Thánh tác giả Phúc Âm ghi vào đây, bởi vì là những điều huấn dạy cắt nghĩa rõ ràng hơn lề luật mới và thái độ phải có của người môn đệ đích thực. Dần dần chúng ta tìm hiểu qua từng điểm một. * a - Mẫu gương so sánh thứ nhứt ( Lc 6, 39-40 ): nếu một người mù dắt một người mù khác đi, cả hai đều rơi xuông hố. Đôi với Thánh Matthêu, Chúa Giêsu nêu lên câu chuyện đó, Người có ý ám chỉ đến các người Pharisêu đương thời: " khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng ! " ( Mt 23, 16 ) Trái lại đối với Thánh Luca, lời so sánh không phải chỉ nhằm đến các người Pharisêu đương thời với Chúa Giêsu, mà còn trực tiếp áp dụng cho các người môn đệ sau nầy, các vị sư phụ của ngày hôm nay, không được là những kẻ dẫn đường mù quáng, mà phải là những môn đệ Lời của Vị Thầy Duy Nhứt. Chân lý lời huấn dạy của các môn đệ không hệ tại ở cách ăn nói khéo léo của cá nhân các ngài , mà trong tư cách trung thành của các ngài đối với Lời Người dạy bảo cho. * b - Mẫu gương so sánh thứ hai ( Lc 6, 41-42 ): cái rác và cái xà. Đem lời Chúa Giêsu ra thực hiện cũng có nghĩa là có can đảm thân tình sửa sai lỗi của anh em. Nhưng hành động đó lắm khi không tránh khỏi các thái độ nguy hiểm, đó là thái độ dùng hai trọng lượng và hai tầm mức khác nhau, nghiêm khắc đối với người khác và rộng lượng dễ dãi hơn đối với mình. Lời kết của mẫu gương so sánh là cần ý thức bằng khởi đầu tự xét và phê bình chính mình trước đã, đặt mình trong vị trí của anh em: - " Sao anh thấy cái rác trong con mắt anh em, mà cái xà trong conmắt của chính mình thì lại không để ý tới ?" ( Lc 6, 41). Chính trong tự xét phán đoán đối với chính mình, mà chúng ta ìm được mức độ chính đáng trên đó cân nhắc lời phê bình đối với người khác. * Mẫu gương so sánh thứ ba ( Lc 6, 43-45 ): cây tốt và cây xấu. Cảm tưởng đầu tiên đọc bản văn là dường như Chúa Giêsu đang kêu gọi hãy lưu tâm đến hành động. Chúng ta cảm nhận như Người muốn nói: anh em sẽ phải chịu phán xét không dựa trên sứ điệp loan truyền, cho bằng dựa trên dấu chứng mà anh em biết chứng tỏ ra được. Nhưng mẫu gương so sánh còn có một ý hướng khác, đó là các động tác thoát xuất tù tâm địa, tùy theo nội tâm tốt hay xấu. Như vậy, vấn đề chính yếu là phải thay đổi nội tâm, nguồn mạch khởi thủy và hướng dẫn định hướng động tác. Đó chính là điều ( Lc 6, 45 ) nhắc lại cho chúng ta rằng các động tác thoát xuất từ nội tâm: - " Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình, kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệnh mới nói ra ". Kết thúc lời huấn dạy, Chúa Giêsu ( Lc 6, 46-49) còn lưu ý chúng ta đến mẫu gương so sánh cuối cùng: ngôi nhà xây trên đá và ngôi nhà xây trên cát. Là một mẫu gương so sánh đầy liên tưởng đến Cựu Ước. Tảng đá, nền tảng bảo đảm cho ngôi nhà vững chắc là Thiên Chúa, là lời Chúa, là đức tin, là Chúa Kitô. Liên tưởng tràn ngập ngôn từ Thánh Kinh thường biểu thị cuộc phán xét của Chúa. Qua mẫu gương so sánh nầy, Thánh tác giả Phúc Âm muốn chỉ dẫn cho chúng ta thấy những điều kiện cần thiết để có được một cuộc sống Kitô hữu bền vững và trung thành. Điều kiện tiên quyết là phải biết nương tựa vào Chúa Kitô ( tảng đá), chủ thể duy nhứt làm cho đức tin của người môn đệ khỏi bị siêu ngã, vượt thoát được tính cách yếu đuối mỏng dòn cua con người. Điều kiện thứ hai là phải thi hành theo ý muốn của Thiên Chúa. Tiếp theo tầm mức của đức tin là tầm mức của luân lý. Người tín hữu Chúa Kitô đích thực được Thánh Luca diễn tả bằng ba động từ: đó là đến, lắng nghe và thực hành: - " Ai đến với Thầy và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví như ai: Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên tảng đá... " ( L 6, 47-48). Điều quan tế nhị và quan trọng quyết định là động từ thứ ba, đó là biến lời nói được lắng nghe thành lời nói trở thành thực thể, bằng những tác động thiết thực. Câu hỏi với ý trách móc của Chúa Giêsu: - " Tại sao anh em gọi Thầy: " Lạy Chúa, lạy Chúa, mà anh em không làm điều răn Thầy dạy " ( Lc 6, 46 ) có lẽ là câu hỏi xác nhận chống đối với cách hành xử hình thức, chỉ nói mà không làm, bỏ qua giới răn bổn phận bác ái phải có. Điều vừa kể cho thấy những sự kiện xảy ra tiếp liền theo Bài Giảng Dưới Đồng Bằng , được Thánh Luca ghi lại nhằm nói lên chân lý những gì Chúa Giêsu vừa huấn dạy. Đó là những lời huấn dạy được minh chứng bằng quyền năng của Thiên Chúa, như - biến cố chữa người đầy của viên đại đội trưởng ( Lc 7, 1-10), - biến cố chữa cho sống lại của con trai bà goá thành Nain ( Lc 7, 11-17). Nhưng tư tưởng chính có lẽ là một ý định khác: Chúa Giêsu tuyên bố giới răn trọng đại về tình yêu và chính Người là người đứng ra thi hành trước tiên, dùng quyền năng của Người để thực hiện những tác động của lòng bác ái tốt lành: Người - chữa lành, ban lại đời sống, chứng tỏ cho các sứ giả của Gioan Tẩy Giả thấy các động tác cứu độ của Người ( Lc 7, 18-30), - đón nhận lòng thống hối của người thiếu phụ tội lỗi ( Lc 7, 36-50), - kêu gọi cả một vài phụ nữ khác theo Người ( Lc 8, 1-3). d ) Người đầy tớ của viên đại đội trưởng ( Lc 7, 1-10). Theo luật Do Thái giáo, đi vào nhà của dân ngoại đạo là nhiễm lấy nhơ bẩn, làm cho mình bị cấm không được cầu nguyện ít nhứt trong một thời gian. Có lẽ đó là lý do tại sao viên đội trưởng không kỳ vọng được Chúa Giêsu vào nhà mình. Nhưng đức tin mạnh mẻ và đầy kính nể của ông được trọng thưởng. Người đầy tớ được chữa khỏi bằng quyền năng của lời Chúa Giêsu và bằng đức tin của viên đội trưởng. Một đặc tính chung của các tác giả Phúc Âm đó là phương thức mà qua đó, mặc dầu Chúa Giêsu vắng mặt, Người cũng có thể chữa khỏi cho những người gặp phải khó khăn,bằng cách chỉ dùng lời nói của mình. Điều vừa kể, một cách đặc biệt, được làm cho thể hiện nổi bậc trong Phúc Âm Thánh Luca. Điều làm cho chúng ta đặc biệt chú ý trong phép lạ nầy là nhân vật khẩn xin phép lạ là viên đội trưởng, tức là một quân nhân của đế quốc Roma, dân ngoại đạo đối với Do Thái giáo. Nhưng dĩ nhiên ông ta là người có thiện cảm với dân Do Thái, bởi lẽ chính ông là người đứng ra chỉ thị và huy xây cất hội đường, bởi lẽ ông là một trong những người dân ngoại thất vọng đối với quan niệm cuộc đời của tư tưởng Hy Lạp và Roma, cũng như mức thông thái " đỉnh cao trí tuệ " của các triết gia. Chính những người nầy, dân Hy Lạp, Roma cũng như các triết gia ngoại đạo chú tâm quy hướng về niềm tin của Do Thái giáo: họ đến cầu nguyện trong các hội đường và tham gia vào các động tác bác ái đối với người nghèo, mặc dầu họ không phải là những người thuộc dòng tộc Do Thái. Họ là dân ngoại, thuộc các dân tộc khác, không phải là dân được Chúa chọn trong Cựu Ước. Nhưng rồi Chúa Giêsu đến, không còn phân biệt dòng giống họ tộc nào nữa đối với đức tin. Đức tin không trùng hợp với tổ chức cơ chế Quốc Gia, dòng tộc . Một người dân ngoại cũng có thể có đức tin như các người Do Thái, hay cả hơn người Do Thái. e ) Người con trai của bà goá thành Naim ( Lc 7, 11-17). Truyền thống Phúc Âm nhắc lại cho chúng ta ba phép lạ làm cho sống lại: đó là - phép lạ cho con trai bà goá thành Naim ( Lc 7, 11-17), - cho con gái ông Jairo ( Lc 8 , 50-56) - và cho Lazzaro ( Jn 11, 1-43). Các phép lạ được kể trước tiên không phải là để chứng tỏ quyền năng phi thường của Chúa Giêsu, cho bằng cho thấy Người chính là sự sống. Có lẽ Thánh Luca đặc các phép lạ ở vị thế nầy trong Phúc Âm để chuẩn bị cho câu trả lời của Chúa Giêsu đối những người được Gioan Tẩy Giả sai đến hỏi Người có dấu chứng nào cho thấy Người là Đấng Cứu Thế. Giữa những dấu chứng được Chúa Giêsu trả lời, có cả dấu chứng cho sự sống lại.Đó chính là lý do tại sao Thánh Luca đặt lập tức ở đây biến cố phép lạ chữa cho con bà goá sống lại. Đoạn tường thuật của Thánh Luca chứa khắp đó đây nhiều chi tiếc có ý nghĩa rất sâu xa. Cậu con trai chết đi là cậu con duy nhứt của một bà goá. Khi vào thành phố Naim, Chúa Giêsu gặp phải đám táng của cậu: - " Khi Chúa Giêsu đến gần cửa, thì thình lình đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người nầy là cậu con trai duy nhứt, và mẹ của anh lại là một bà goá " ( Lc 7, 11). Chúa Giêsu có nhiều môn đê đi theo và đám táng có nhiều người cùng đưa đám: - " Có đám đông trong thành cùng đi với bà " ( Lc 7, 12). Như vậy phép lạ được thực hiện trước mặt nhiều nhân chứng. Chúa Giêsu cảm động cho người mẹ và bảo bà đừng khóc: - " Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: " Bà đừng khóc nữa " ( Lc 7, 13). Sáng kiến hoàn toàn phát xuất từ Chúa Giêsu và được thực hiện nhưng không. Người mẹ không hề van xin gì, chỉ làm cho mọi Người thấy bà đang khóc trong nỗi đau đớn của mình. Như vậy tình cảm thúc đẩy Chúa Giêsu là lòng thương hại của Người, được diễn tả bằng ngôn từ Hy Lạp với động từ " splanchnizein ", nói lên ý nghĩa lòng thương yêu của tình mẹ con, thoát xuất từ tâm dạ. Động từ vừa kể cho thấy tâm tình của Chúa Giêsu là nỗi xúc động sâu đậm và tình liên đới con người với người thiếu phụ bị mất con. Chúa Giêsu để cho mình hệ lụy xúc động bởi nỗi đau khổ của người thiếu phụ, không cần biết bà phải được đáng thương đến mức nào. Người thiếu phụ đương cuộc đã làm gì để đáng được một phép lạ cao cả như vậy ? Thánh Luca không hề đề cập đến và cũng không thêm một lời giải thích nào khác. Chúa Giêsu đã trực giác nhận ra nỗi đau khổ của người thiếu phụ phải mất đi đứa con duy nhứt và chỉ cần điều đó khiến cho Người phải can thiệp. Ngoài ra phép lạ được hiến tặng cho nhưng không, còn một đoạn khác cho thấy đặc tính cá biệt của phép lạ. Chúa Giêsu thực hiện phép lạ bằng một câu nói, được thốt lên như là một mệnh lệnh: - " Nầy cậu trẻ, Ta truyền cho anh hãy chỗi dậy " ( Lc 7, 14 ). Không có một lời khẩn xin nào với Chúa, không có một lời cầu nguyện nào, không có một cử chỉ động tác nào, mà chỉ có một lời được nói của Chúa Giêsu được phán ra với tính cách chủ thể ngôi thứ nhứt ( Ta ) và dưới hình thức mệnh lệnh tính ( impératif ) : - " Ta bảo cậu...". Có lẽ đó là mục đích mà Thánh Luca nhằm nói lên cho chúng ta. Chúa Giêsu không có một động tác nào, mà chỉ nói lên một lời dưới thể thức lệnh truyền ( impératif ), " Ta bảo cậu ...". Điều đó có ngĩa là lời nói của Chúa Giêsu là lời nói cứu thoát, lời nói hằng sống. Điều đáng lưu ý cuối cùng, đó là thái độ thán phục của dân chúng, trước phép lạ cho sống lại của Chúa Giêsu. - " Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: " Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người " ( Lc 7, 16), liên tưởng đến biến cố tiên tri Elia. Nhưng đoạn tường thuật của Thánh Luca khác với mẫu gương được kể lại trong Cựu Ước. Trong khi tiên tri Elia, để chữa khỏi cậu con trai của bà goá phụ, tiên tri đã phải nằm rạp mình xuống 3 lần trên thân xác cậu, trái lại Chúa Giêsu không cần có một động tác nào, Người chỉ dùng lời nói và sai bảo " Ta truyền cho anh hãy chỗi dậy ".

 

Chắc chắn Thánh Bộ Phụng Vụ trích đoạn Phúc Âm hôm nay của Thánh Gioan ( Jn 14, 23-29) với hai ý tưởng để chuẩn bị tinh thần chúng ta trước hai biến cố trọng đại, - mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, Chúa Nhật tới -và lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Chúa Nhật kế tiếp. Ý nghĩa để chuẩn bị tinh thần chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên được đề cập đến qua câu Phúc Âm: - " Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng, vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy " ( Jn 14, 28). Và để dọn lòng chúng ta mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta được câu Phúc Âm sau đây nhắc nhở: - " Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). Những gì liên quan đến lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên và lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta sẽ có dịp suy niệm ở các Chúa Nhật liên hệ. Nội dung bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay thuật lại cho chúng ta di chúc của Chúa Giêsu cho các Môn Đệ, nhân dịp môn đệ Giuda Taddeo ( không phải Giuda Iscariota, người sẽ phản bội Ngài) đặt một câu hỏi là tại sao Chúa Giêsu lại chỉ muốn tỏ mình cho các Vị, thay vì bày tỏ tài năng và vinh hiển của Ngài cho mọi người biết: - " Ông Giuda, không phải Iscariota, nói với Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình cho chúng con, mà không tỏ mình cho thế gian? " ( Jn 14, 22). Những gì Chúa Giêsu nói với các Môn Đệ trong Phúc Âm hôm nay, mặc dầu không đề cập đến Giuda, nhưng một cách gián tiếp Người cho thấy câu hỏi của môn đệ Giuda không phải là cách hiểu biết của một người Môn Đệ, cũng như trong dịp lễ Lều Người đã từ chối đáp ứng lại ước vọng được nổi danh, nổi tiếng của " các anh em " gợi ý và khuyến khích Người: - " Lễ Lều của người Do Thái gần tới, anh em Chúa Giêsu nói với Người: Ông bỏ đây mà lên miền Giudea đi, để cả môn đệ của ông cũng được nhìn thấy những việc ông làm, vì không ai ,muốn nổi danh mà lại hoạt động âm thầm. Nếu ông làm những việc ấy, thì hãy tỏ mình cho thiên hạ biết " ( Jn 7, 2.4 ) Trong dịp lễ Lều Chúa Giêsu có lên Đền Thờ dự lễ, nhưng vào một lúc khác, không tùy thuộc vào các lời gợi ý của " các anh em " Người. Cũng vậy trong chương 14, mà đoạn Phúc Âm hôm nay được trích ra, Chúa Giêsu đề cập đến việc Người sẽ tỏ mình ra cho Môn Đệ, nhưng là cách tỏ mình khác với quan niệm cho thiên hạ biết để được nổi danh mà Giuda đề nghị: - " Ai tiếp nhận và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến và sẽ tỏ mình ra cho người ấy " ( Jn 14, 21). Mặc dầu trong câu trả lời, Chúa Giêsu không đề cập đến lời gợi ý của Giuda tỏ cho thiên hạ biết để được danh tiếng, như trước đó Người đã có dịp nói thẳng với Philipphê: - " Chúa Giêsu trả lời: Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? " ( Jn 14, 9-10). Tuy không đề cập đến Giuda, cũng không nhắc lại Philipphê, nhưng những lời dạy bảo các Môn Đệ trong đoạn Phúc Âm hôm nay là những câu nói nối tiếp những gì Chúa Giêsu đã bắt đầu nói với Philipphê. Điều đó cho thấy cả hai Môn Đệ chưa có cùng một tâm tình như những gì Chúa Giêsu muốn dạy các Vị. - " Thầy sẽ yêu mến người ấy và tỏ mình ra cho người ấy " ( Jn 14, 21). 1 - Chúa Giêsu tỏ mình ra thế nào cho người yêu mến Người ? Đây là câu trả lời tuyệt diệu mà chúng ta muốn suy niệm hôm nay: - " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy " ( Jn 14, 23). Như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, không phải là người sống cách biệt với Thiên Chúa, Đấng mà mình thờ phượng , như là một tín hữu sụp lạy trước một vị thần cách biệt ngự trên bục cao. Người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, " yêu mến và tuân giữ lời Thầy ", là người có Thiên Chúa Ba Ngôi đến ngự và sống trong chính con người của mình. Viết đến đây, tôi nhớ lại lúc còn làm học trò giúp lễ , tôi được nghe hát một bài thánh ca rất cảm động diễn tả một cách tuyệt diệu câu Phúc Âm vừa kể: " Chúa ở cùng con, con ở cùng Chúa. Chúa hợp với con cho đến trọn đời. Người là của con, và con của Chúa Đời con sống, vì Chúa sống trong con... " . Hiểu được như vậy, người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng là người có " Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ". Người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng là người đang sống cuộc sống thiên đàng ngay ở trần gian, vì có Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn hạnh phúc bất diệt, là thiên đàng trong con người của mình. Vì ở đâu có Thiên Chúa, thì ở đó có Thiên Đàng. Thánh Phaolồ cũng không diễn tả gì khác hơn, khi Ngài nói người Ki Tô hữu là phần thân thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu: - " Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Chúa Ki Tô sao? " (1 Cor 6, 15). Và mỗi tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, " yêu mến và tuân giữ lời Thầy ", là đền thờ của Chúa Thánh Thần: - " Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần sao? " ( 1 Cor 6, 19). Người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng là sống thông hiệp với bản tính Thiên Chúa, sống thông hiệp với đời sống của Chúa Ba Ngôi, có " Cha Thầy và Thầy đến và ở lại với nguời ấy ". Hay nói như Thánh Phêrô: - " Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa " ( 2 Pt 1,4). Hiểu được như vậy, chúng ta sẽ hiểu được tại sao bất cứ ai, bất cứ ý thức hệ nào đàn áp, không tôn trọng con người, đê tiện hóa phẩm giá con người, là cá nhân đó, ý thức hệ đó, đối với Ki Tô giáo, xúc phạm không phải chỉ đối với con người , mà là xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Và cũng chính trong lời tuyên bố ủy thác lại kho tàng qúy báu cho các Môn Đệ và cho chúng ta, con cái các Ngài trong đức tin, có " Cha Thầy và Thầy đến và ở lại với người ấy ", Chúa Giêsu cũng trao cho chúng ta một phương thức mới để sống đức tin: - " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy " ( Jn 14, 23). Người tín hữu Chúa Ki Tô tin vào Người và ý thức tuân giữ các giới răn Người truyền cho, không phải với thái độ co ro cúm rúm sợ sệt của người nô lệ, mà sống bằng tình thương mến Thầy trò, tình nghĩa Cha con: - " Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con, thì cũng là người thừa kế, nhờ ơn Chúa " (Gal 4, 6-7). 2 - Và rồi ngoài ra phần thưởng chắc chắn cho những ai yêu mến Người, mà Chúa Giêsu cam kết với các Môn Đệ, " Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy ", Chúa Giêsu còn hứa ban cho các Vị Chúa Thánh Linh, là Đấng Bảo Trợ là bảo chứng thật sự Thiên Chúa đang hiện diện , sống trong tâm hồn người Ki Tô hữu; chứng thật chúng ta là con cái Ngài: - " Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : Abba, Cha ơi !...". Và Chúa Thánh Linh sẽ dạy bảo chúng ta và làm cho các Vị nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã dạy, nhứt là trong những lúc khó khăn của cuộc sống: - " Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 25-26). Như vậy, cuộc sống của người tín hữu Chúa Ki Tô không phải là cuộc sống mù mịt, bấp bênh, không định hướng và không có gì chắc chắn để bảo chứng cho cuộc sống đời đời hạnh phúc với Thiên Chúa. Cuộc sống Ki Tô hữu là cuộc sống được chính Thiên Chúa bảo trợ: - " Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi " ( Jn 14, 18.27). Người tín hữu Chúa Ki Tô là người có Thiên Chúa Ba Ngôi ở trong tâm hồn: - " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy " ( Jn 14, 23). Người tín hữu Chúa Ki Tô luôn luôn được Chúa Thánh Thần Bảo Trợ và dẫn dắt, nhứt là trong những thử thách của cuộc sống: - " Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ đến nhân danh Thầy. Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em " ( Jn 14, 26). Và người tín hữu Chúa Ki Tô sống trong ân sủng, " yêu mến Thầy, tuân giữ lời Thầy ", " chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, ta biết chúng và chúng theo Ta " ( Jn 10, 27), được chính Thiên Chúa toàn năng bảo đảm cho sự sống hạnh phúc đời đời với Ngài: - " Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta. Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Ta và Chúa Cha là một " ( Jn 10, 29). Và người đã hứa và đứng ra bảo đảm cho chúng ta chắc chắn cuộc sống hạnh phúc đó với Thiên Chúa, không ai khác hơn là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa: - " Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và anh em tin mà được sống nhờ danh Người " ( Jn 20, 31).

 

IV-C25 - THẦY BAN CHO ANH EM MỘT ĐIỀU RĂN MỚI: ANH EM HÃY THƯƠNG YÊU NHAU NHƯ THẦY Đà YÊU THƯƠNG ANH EM . A - “Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người ” ( Jn 13, 31). Nếu chúng ta chú ý đọc câu Phúc Âm vừa kể của Thánh Gioan, chúng ta sẽ không khỏi tự hỏi " giờ đây ", " lúc nầy đây " trong câu Phúc Âm vừa kể có nghĩa gì? Nếu nói đến " giờ đây ", " lúc nầy đây ", " ngay bây giờ " là chúng ta giả sử có những gì đã xảy ra trước đó và những gì sẽ xãy ra kế tiếp, sau khi chúng ta xác định thời điểm của biến cố quan trọng mà chúng ta muốn chú tâm đặc biệt. Không những không mấy khi chúng ta chú ý đến yếu tố thời gian tính đặc biệt lúc Chúa Giêsu thốt lên bằng những lời đầu tiên trong câu nói của Ngài, " giờ đây ", mà cả nhiều nhà chú giải Thánh Kinh ( exégistes) cũng không mấy khi bàn đến. Xác định thời điểm " giờ đây ", " lúc nầy đây ", Chúa Giêsu liên tưởng đến những gì đã xảy ra trong quá khứ cho đến lúc đó. Đọc lại những dòng trước đó của Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta gặp được sự kiện vừa xảy ra là sự kiện Chúa Giêsu chấm miếng bánh, trao cho Giuda và sau khi ăn, Giuda ra đi trong bóng đêm: - " Chúa Giêsu trả lời: Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy. Rồi Người chấm một miếng bánh trao cho Giuda, con ông Simon Iscariot. Y vừa ăn xong miếng bánh, Satan liền nhập vào y " ( Jn 13, 26-27). Giuda cầm lấy miếng bánh được Chúa Giêsu trao cho, ăn xong bị qủy nhập và bỏ ra đi trong đêm tối. Thánh Augustino bình luận rằng không phải chỉ Giuda ra đi trong đêm tối mà chính anh ta đã trở thành đêm tối : - " et erat ipse nox " ( chính con người của Giuda đã trở thành đêm tối). Nêu lên sự ra đi trong đêm tối của Giuda, hay " Giuda chính là đêm tối " ( nói như Thánh Augustino) rút lui trước ánh sáng rạng rở đang chiếu rọi trần gian là Chúa Giêsu, mà Thánh Gioan đã long trọng tuyên bố ngay từ Lời Tựa của Phúc Âm Ngài: - " Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng " ( Jn 1, 5). Như vậy sự ra đi của Giuda trong đêm tối được hiểu như là biểu tượng của bóng tối, " không diệt được ánh sáng ", phải rút lui trước ánh sáng đang rực chiếu cho mọi người: - " Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi cho mọi người " ( Jn 1, 9). Thời gian bóng tối của chết chóc, quyền lực của tội lỗi đã kết thúc và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại đang rực sáng lên nơi Chúa Giêsu. Giai đoạn cuối cùng tiến trình cứu rỗi nhân loại của Thiên Chúa đã điểm với việc ra đi trong bóng tối của Giuda, khởi điểm cuộc khỗ nạn cứu chuộc của Người. Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu tại sao khi Giuda vừa ra đi, Chúa Giêsu liền phán với các Môn Đệ: - " Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người " ( Jn 13, 31). Đối với Thánh Gioan, Chúa Giêsu hiển vinh không phải chỉ sau khi Ngài sống lại từ cỏi chết, mà ngay trong thời điểm " giờ đây " và trong tiến trình cuộc tử nạn của Ngài: - " Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta " ( Jn 12, 32). Và vinh hiển của Chúa Cha và Chúa Giêsu là gì? - " Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người " không có gì khác hơn là mọi người nhận biết Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng nên mình và là người Cha thương yêu mình. Nói cách khác, Thiên Chúa được tôn vinh, được hiểu đồng nghĩa với nhân loại nhận biết Nguời thương yêu họ và sai Chúa Giêsu đến để báo cho họ biết tình thương đó. Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu tại sao khi Giuda ra đi trong bóng đêm, khi bóng đêm của tội lỗi và sự chết rút lui trước sự chiến thắng rạng rở của ơn cứu rỗi nơi con người Chúa Giêsu, Chúa Giêsu có thể thốt lên: - " Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người ". Thời gian quyền lực của tội lỗi và chết chóc đã hết, thời gian kế tiếp là thời gian vinh quang của Thiên Chúa, là thời gian tình thương Cha con của Thiên Chúa cho nhân loại sẽ được lan truyền khắp nơi cho mọi người. Đó là lý do tại sao, sau khi xác định thời điểm " giờ đây " Thiên Chúa được tôn vinh, tiếp đến Chúa Giêsu loan truyền cho chúng ta một phương thức sống mới: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " ( Jn 13, 35). Cách sống mới đó được viết ra thành các điều khoản như thế nào, Thánh Matthêu và Thánh Marco viết ra trong Tám Mối Phước Thật và Thánh Luca ghi lại trong Bài Giảng Dưới Đồng Bằng, như là những điều khoản của một bản Hiến Pháp. B - Và rồi Tám Mối Phước Thật và Bài Giảng Dưới Đồng Bằng mà chúng ta có thể xem là các bản văn giải thích thế nào là " điều răn mới ", cho tương lai của một cuộc sống mới trong nước Thiên Chúa, nơi " Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người ", chúng ta không thấy được một " điều khoản " nào dạy chúng ta phải tôn vinh và yêu thương Thiên Chúa như thế nào. Mọi " điều khoản " của Tám Mối Phước Thật và Bài Giảng Dưới Đồng Bằng đều chung quy về cách hành xử công chính và bác ái đối với anh em, như những gì Chúa Giêsu đã lược tóm trong điều răn mới của Ngài: - "... là anh em hãy thương yêu nhau " . Trong suốt bốn quyển Phúc Âm cũng vậy. Ngoại trừ câu trả lời của Chúa Giêsu cho một kinh sư đến hỏi Ngài: - " Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa là Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi " ( Mc 12, 30), để xác định là điều răn quan trọng nhứt, chúng ta không mấy khi được Chúa Giêsu dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa thế nào. Trái lại - " điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " (Jn 13, 35) được các Phúc Âm không ngừng thuật lại qua lời giảng dạy và động tác của Chúa Giêsu, để giảm bớt đi những nỗi khốn cùng, bất hạnh của những ai đến cầu cứu Ngài: - " Các anh cứ về mà thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người mù được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng " ( Mt 11, 4-5). Yêu thương anh em không trừ ai, dù là kẻ bé mọn, vô nghĩa, tội lỗi, bị đàn áp, khinh bỉ, bị loại ra bên lề xã hội: - " Ta bảo thật các người: Mỗi lần các người làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhứt của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy " ( Mt 22, 40). Tình thương anh em được Chúa Giêsu diễn tả qua lòng quảng đại luôn luôn biết tha thứ cho anh em: - " Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Chúa Giêsu đáp: Thầy không nói là bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy " ( Mt 18, 21-22). Và có lẽ không có tôn giáo nào dạy chúng ta không những tha thứ, không hận thù, mà còn yêu thương chính kẻ ngược đải, xúc phạm đến mình, đến độ chính mình đứng ra thành thật phơi bày nội tâm mình trước mặt Thiên Chúa, thật sự thương yêu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành và ban ơn cho kẻ thù: - " Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đải anh em” ( Mt 5, 44). Tất cả những cách cư xử vừa kể, nói lên thái độ rộng lượng, sẵn sàng hy sinh phải có, chấp nhận thiệt thòi về phiá mình để trợ giúp anh em thoát khỏi nhu cầu, tình trạng khốn cùng của anh em, bất cứ từ đâu đến, ngay cả việc hy sinh mạng sống mình để bênh vực anh em: - " Mục tữ nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến anh ta bỏ chạy…Ta là Mục Tử Nhân Lành…và Ta hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên " ( Jn 10, 11-12.14). Thái độ rộng lượng và chấp nhận cả hy sinh, nếu cần, để bênh vực và giúp đở anh em khỏi nhu cầu và khốn cùng của mình, nhưng nội dung thực tế của " điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau "em> là gì? Trên thực tế, chúng ta phải làm gì để thực sự lợi ích cho anh em, thực thi tình thương chúng ta đối với anh em? Chúa Giêsu không liệt kê cho chúng ta những điều phải làm. Đọc lại " điều răn mới " ( thể chế mới) của Nước Thiên Chúa, khi đêm tối đã bị khuất phục: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " ( Jn 13, 35). Chúa Giêsu dạy bảo chúng ta một nền tảng mới cho con người mới và xã hội mới trong Nước Trời mà Người đem đến cho nhân loại. Những điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm trong Phúc Âm là những thí dụ diễn tả ý nghĩa nền tảng cho cuộc sống mới đó, chớ không phải hạn hẹp, " chỉ có vậy ", để chúng ta " sao y bản chính ". Chúng ta cần suy nghĩ để tránh ngộ nhận có thể. Đặt lại câu nói vừa kể - " điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em " của Chúa Giêsu vào đoạn văn kể lại lúc khởi đầu cuộc Khỗ Nạn của Ngài, chúng ta thấy trước khi Giuda ra đi trong bóng tối, được Chúa Giêsu coi như là khởi điểm, " giờ đây ", của giai đoạn chót Công Trình Cứu Chuộc, Người đã rửa chân cho các Môn Đệ, thể hiện trong thực tế tình thương của Ngài đối với các Vị: - " Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Chúa Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau " ( Jn 13, 4b-5). Và sau cử chỉ thể hiện tình yêu thương đó, Ngài dạy các Vị: - " Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em " ( Jn 13, 12-15). Thay vì hiểu được nền tảng của tinh thần yêu thương, dấn thân bằng hành động, coi trọng anh em và phục vụ ngay cả lúc phải hy sinh mạng sống để bênh vực anh em, cách giải thích Thánh Kinh theo lối " trọn vẹn quá khích " ( intégraliste), chắc chắn bắt buộc chúng ta cũng phải hạ mình, làm nô lệ " rửa chân " cho anh em " như " Chúa Giêsu đã rửa chân cho các Môn Đệ. Người Ki Tô hữu phục vụ anh em bằng con người tự do và lòng yêu thương của mình đối với anh em, chớ không phải hành động như người nô lệ. Người Ki Tô hữu tự hạ mình xuống trước mặt anh em để phục vụ, để anh em được lớn hơn, trổi vượt hơn mình, kính trọng anh em có địa vị là hình ảnh của Thiên Chúa, là con Thiên Chúa, như chính mình, nhứt là khi anh em bị đàn áp và đê tiện hoá nhân phẩm cao cả của họ. Không thiếu gì những giáo phái " trọn vẹn quá khích " áp dụng Thánh Kinh bằng cách " sao y bản chính " và tự cho là " trung thành tuyệt đối " với lời Chúa dạy. - " Nếu tay chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay cụt chân mà được vào cỏi sống, còn hơn là có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời " ( Mt 18, 8). Câu nói trên của Chúa Giêsu được không ít giáo phái áp dụng " sao y bản chính ", cho rằng nếu chúng ta bắt được quả tang các tên trộm cướp, chúng ta phải chặt tay chúng. Nếu không, còn đủ tay đủ chân, anh ta sẽ tái phạm trộm cướp thêm nữa. Tội của anh ta sẽ chồng chất nặng nề thêm, hình phạt đời sau của anh ta sẽ gia trọng hơn và chúng ta phạm tội đồng lõa, vì không " chặt tay, chặt chân ", như lời Phúc Âm dạy bảo. Người Ki Tô hữu được Chúa ban cho trí khôn và sự tự do, giống hình ảnh Ngài ( Gn 1, 27), nên cũng biết dùng trí khôn ngoan đó để " trung gian điều giải " ( mediatio) lời dạy của Phúc Âm vào cuộc sống. Chúng ta không thể áp dụng trực tiếp những giáo huấn tôn giáo vào lãnh vực trần thế, lãnh vực và môi trường khác nhau với những luật lệ cá biệt của trần thế. Giữa huấn dụ nền tảng của tôn giáo và lãnh vực trần thế, chúng ta chỉ có thể áp dụng tinh thần cao cả của tôn giáo vào cuộc sống trần thế qua tiến trình " trung gian điều giải ". Chúng ta bắt được người ăn trộm, thay vì áp dụng trực tiếp Phúc Âm bằng cách " chặt tay, chặt chân " anh ta, chúng ta có thể đặt câu hỏi tại sao anh ta ăn trộm? Phải chăng vì nghèo khỗ, không có gì để sống? Và nghèo khổ phải chăng vì không có nghề nghiệp, không được học hành, không có ai lo lắng trợ giúp anh ta, bị người thân bỏ rơi…? Và câu trả lời cho " điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em " cho thấy chúng ta phải - tạo cho anh có điều kiện được giáo dục, - tạo ra chương trình huấn nghệ, tổ chức kinh tế, kỹ nghệ, thương mại…thế nào để bảo đảm cho mọi người có công ăn việc làm, - xây cất nhà cửa, để anh có nơi ăn chốn ở, - tìm lại người thân hay ít nhứt có được những trung tâm bảo trợ xã hội để anh được nhiều người nâng đỡ tinh thần, làm lại cuộc sống thay vì - tuyệt đối trung thành " trọn vẹn quá khích " với Phúc Âm đến độ chà đạp nhân phẩm con người, con Thiên Chúa bằng cách nhục mạ và " chặt tay, chặt chân ", đàn áp, trấn nước, bịt miệng, coi con người như súc vật, như cách hành xử của một quốc gia mọi rợ nào đó. Nhân dịp kỷ niệm số 3.000 của bán nguyệt san Civiltà Cattolica, một tập san dành cho giới trí thức của các cha Dòng Tên ở Roma, Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI đã cám ơn công lao của cá Vị trong việc phục vụ Giáo Hội và phục vụ anh em bằng những lời sau đây: - " Ta xin được cám ơn các Cha Văn Sĩ của tập san về lòng trung thành đại lượng, hoàn hảo và của các Cha đối với Giáo Hội ". Trung thành không có nghĩa chỉ giới hạn trong việc lập lại một cách trung thực những huấn dụ của Giáo Hội. Lòng trung thành thiết thực, đúng nghĩa và hoàn hảo, khi nào lòng trung thành đó trưởng thành. Điều đó có nghĩa là - " ngoài việc đề cập một cách trung thực những huấn dụ của Giáo Hội, - bên cạnh đó còn có cách trình bày, những lời giải thích với nhãn quang tiên tri và năng động hướng về tương lai (…) để khám phá, - và nếu cần , với dấu chỉ thời đại, tiên đoán được những gì phải làm, tiên đoán được nhu cầu, các phương hướng mở ra cho xã hội và nhứt là cho Giáo Hội đang lữ hành về tương lai ( …)chỉ dẫn cho những người đương thời con đường đúng đắn (…) để cho những huấn dụ của Giáo Hội được mọi người tiếp nhận, ngay cả những ai không tin hoặc những ai đã bị băng hoại lạc hướng ( …) đặt con người thay vào chỗ của Thiên Chúa” ( Paolo VI, Discorso al Collegio degli Scrittori della Civiltà Cattolica, in Civ. Catt. 1975, 521-525). Ước gì những lời vừa trích dẫn của Đức Thánh Cha Phaolồ VI cũng là định hướng để chúng ta thể hiện điều răn mới Chúa Giêsu ban cho chúng ta trong Phúc Âm hôm nay trong cuộc sống thương yêu anh em. Thương yêu anh em - không những chỉ là trạng thái tình cảm xúc động đối với anh em, - mà còn phải được thể hiện bằng nổ lực học hỏi, suy tư và dấn thân hành động như Chúa Giêsu đã làm trong Phúc Âm.

 

Thực hiện sứ mạng đầy cường độ ( Lc 4, 17 - 9, 9) ( 1 ). Phúc Âm Thánh Luca tường thuật lại theo thứ tự sứ mạng được thực hiện ở Galilea ( Lc 4, 14-9, 50) đã được khởi đầu bằng hai biến cố cá biệt: - biến cố trong bối cảnh Nazareth để nói lên thái độ khước từ của những người đồng hương chống lại Chúa Giêsu ( Lc 4, 14-30), - và một biến cố khác ở Capharnaum, tượng trưng cho thái độ niềm nỡ tiếp đón Người của các dân ngoại, trong một thị trấn mà chính Chúa Giêsu cũng là người ngoại quốc ( Lc 4, 31 - 44 ). Kế đến, Thánh Luca vẫn tiếp tục công việc tường thuật của mình, bằng cách thêm vào những chi tiếc quan trọng khác nhằm xây dựng Nước Thiên Chúa với - việc kêu gọi Phêrô, - sứ mạng của Mười Hai Tông Đồ - và một vài cuộc tranh cãi với những nhóm người bất thân thiện. Qua những gì vừa kể, chúng ta hiểu được bối cảnh thượng đỉnh để trình diện sứ mạng ở Galilea đã được chuẩn bị sẵn sàng. a ) Tám mối phước thật ( Lc 6, 17-26 ). Bài giảng nầy của Chúa Giêsu được đặt trong một bối cảnh thật long trọng: - " Chúa Giêsu đi xuống cùng với các Tông Đồ. Người dừng lại ở một chỗ đất bằng, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giudea, Giêrusalem cũng như từ miền duyên hải Tiro và Sidone, đến để nghe Người và được chữa lành bệnh tật " ( Lc 6, 17-18). Trong Phúc Âm Thánh Luca, như vừa kể, Chúa Giêsu từ trên núi xuống một nơi ở đồng bằng ( trong khi đó thì Phúc Âm Thánh Matthêu kể lại Người lên núi ). Chúa Giêsu cất tiếng giảng dạy, được bao quanh bởi nhóm các Môn Đệ, các Tông Đồ và dân chúng đến từ khắp nơi, cả từ những miền dân ngoại đạo như Tiro và Sidone. Bài huấn dạy được cất tiếng lên trước mặt mọi người, chớ không phải chỉ nói cho nhóm Mười Hai Tông Đồ và cho người Do Thái, mà cho tất cả. Mặc dầu bài huấn dạy có ý một cách đặc biệt dành cho các Môn Đệ, nhưng có dân chúng đứng bao vây bên ngoài: - " Chúa Giêsu ngước măt lên nhìn các môn đệ và nói: Phước cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em..." ( Lc 6, 20). Trong bối cảnh vừa kể, Chúa Giêsu được Thánh Luca cho chúng ta thấy tất cả các động tác của sứ mạng Người: loan báo bằng lời nói, chữa trị người bệnh tật, giải thoát con người khỏi ác thần. Trong bối cảnh long trọng mà chúng ta vừa trích dẫn ở trên, các mối phước thật tóm kết lời tuyên bố sứ điệp cứu độ: lời tuyên bố cho biết rằng Nước Thiên Chúa đã đến và đang ở giữa mọi người. Đàng sau các mối phước thật, các nhà chú giải Thánh Kinh thoáng thấy văn bản được Sách Tiên Tri Isaia tiên báo: - " Thánh Thần của Chúa là Thiên Chúa ngự trên tôi, vì Thiên Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Chúa..." ( Is 61, 1-9). Những dòng vừa được trích dẫn đầu tiên của chương 61 Sách Tiên Tri Isaia là đoạn văn đã được Chúa Giêsu nói lên trong hội đường Nazareth. Các tiên tri diễn tả cho biết thời gian của Đấng Cứu Độ là khoản thời gian trong đó Thiên Chúa chăm lo cho kẻ nghèo hèn, cho người bị loại ra bên lề xã hội, cho người đói khát, người bị bách hại và bị thiên hạ coi là vô dụng. Chúa Giêsu công bố là thời gian đó đã đến. Đối với các tiên tri, các mối phước thật được đề cập là những gì sẽ xảy ra trong tương lại, là niềm hy vọng. Trái lại đối với Chúa Giêsu thời gian đó đang hiện diện trước những người đang nghe Người: - " Phước cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em " ( Lc 6, 20). Lý do tại sao? Đó là vì niềm hân hoan Nước Thiên Chúa đã đến. Và dưới ánh sáng của Nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đang đề cập, các giá trị cuộc sống thông thường của con người đã bị ngược đão, được tuyên bố qua các lời nói có vẽ ngược tai của Chúa Giêsu: - " Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười " ( Lc 6, 21b). Nhưng điều quan trọng hơn hết còn là một yếu tố khác nữa: Chúa Giêsu không những chỉ tuyên bố bằng lời nói các mối phước thật, mà chính Người là chủ thể trước tiên đang sống những gì Người tuyên bố. Người đang tìm kiếm những người nghèo khổ và yêu thương họ. Chính Người là người nghèo khó, đau khổ, đói khát và bị bách hại. Đó là ý nghĩa sâu thẳm của các mối phước thật. Cuộc đời Chúa Giêsu là chìa khoá cho phép chúng ta hội nhập vào được tinh thần các mối phước thật và hiểu đươc. Thánh Matthêu liệt kê ra tám mối phước thật. trong khi đó thì Thánh Luca chỉ kể ra bốn mối: nghèo khó, đói khát, khóc lóc và bị bách hại ( cfr Lc 6, 20-23). Trong ý nghĩa nguyên thủy, tù ngữ " nghèo khó " ( ptochol ) ám chỉ những người ăn xin, những người tỏ ra cử chỉ van xin trước người khác, cúi mình xuống trước mặt người mà mình van xin. Người nghèo khó, không những chỉ là người đang phải lâm vào cảnh thiếu thốn, mà còn là người bị coi không ra gì, bị bỏ rơi, bị áp bức, bên cạnh những người giàu có. Kẻ khóc lóc và kẻ đói khát không có gì hơn là những từ ngữ lập lại trạng thái những người nghèo khó ( Lc 6, 21 ). Chúng ta khó mà đề cập đến ý nghĩa luân lý và thiêng liêng trong các mối phước thật của Phúc Âm Thánh Luca, bởi vì ngài chỉ có định ý liệt kê, ghi lại những gì được nói lên trong lời huấn dạy của Chúa Giêsu hôm đó. Mối phước thật thứ tư, đối với những kẻ bị bách hại, là mối phước thật của các môn đệ: mối phước thật tách rời ba mối được kể trước, nhưng không trực tiếp nhằm nói với các môn đệ, cho bằng với người nghèo khó và áp bức. Qua những gì vừa tìm hiểu, chúng ta có thể đi đến một mối kết luận tiên khởi: khác với Thánh Matthêu, dường như Thánh Luca nhằm đề cập đến hoàn cảnh thực trạng đang xảy ra bị áp bức và bị loại ra bên ngoài xã hội hơn là thái độ luân lý ( tinh thần khó nghèo, khao khát sự công chính, nhân ái và tâm hồn thanh khiết ). Sứ điệp các mối phước thật của Phúc Âm Thánh Luca có vẻ như là một lời phán đoán nghiêm khắc đối với thế giới giàu có ( tư cách nghiêm khắc đó được gia tăng bằng bốn lời khiển trách): - " Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có... - " Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê... - " Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười... - " Khốn cho các ngươi, khi được mọi người ca tụng ..." ( Lc 6, 24-26). Thánh Luca nói lên những phán đoán nghiêm khắc, quở trách như vừa kể là nói lên nhằm mưu ích cho cộng đồng Kitô giáo, là những cộng đồng lúc đó đang sống gữa thế giới dân ngoại, trong các thị trấn giàu có, nói nặng lời đối với thế giới giàu có, hưởng thụ. Sứ điệp muốn kêu gọi người tín hữu Chúa Kitô hãy đảo ngược các cách chuẩn định giá trị: người nghèo khó là những con người có giá trị trước mặt Chúa, những kẻ thuộc về Nước Thiên Chúa. Chúng ta nên lưu ý công thức phát biểu các mối phước thật của Thánh Luca: ngài không cho rằng người nghèo khó trực tiếp được làm cho mình trở thành công chính, mà là những người " thuộc về Nước Thiên Chúa ": -" ...vì Nước Thiên Chúa là của anh em " ( Lc 6, 20). Và lời hứa đó không phải là lời hứa về tương lai, được phát biểu bằng động từ ở thì tương lai mà là động từ ở thì hiện tại, hiện tại họ đang ở trong Nước Thiên Chúa, " Nước Thiên Chúa là của anh em ". Lời thuyết giảng trong Phúc Âm Thánh Luca là lời huấn dạy tôn giáo, chớ không phải xã hội hay chính trị. Nhưng chính từ giá trị tôn giáo đó thoát xuất ra quyền của những người nghèo khổ được có công chính. Bởi vì người nghèo khổ là người được Chúa yêu thương và là những người thuộc về Nước Thiên Chúa. Từ đó chúng ta hiểu được thái độ của những kẻ loại họ ra bên lề xã hội là thái độ bất chính. Chúng ta cũng có thể có được một cái nhìn kết luận khác: trước đám người đau yếu, đến để được chữa lành, Chúa Giêsu loan báo các môi phước thật. Đối với những ai đau khổ, khóc lóc và chịu đau đớn, Người mở rộng cho họ thấy một tương lai khác hơn, không hứa với họ một hiện tại thay đổi, mà là một tương lai, trong đó: - " Phước cho anh em là những người đang đói khát, vì anh em sẽ được no đầy " ( Lc 6, 21). Chúa Giêsu thực hiện các phép lạ, nhưng là những phép lạ dấu chứng cho hy vọng, không phải chỉ là những phép lạ giải quyết các vấn đề hiện tại. Người không báo cho họ từ nay sẽ không còn có đau khổ, cũng như nhiều vấn đề dẫn đến những hậu quả đó; trái lại, các phép lạ đó là những dấu chứng chắc chắn cho một thế giới mới. Điều đó làm cho người được chữa lành và những ai đang ở chung quanh đương sự thấy ngay tù bây giờ có thể sống dưới một ánh sáng hoàn toàn khác biệt. Các mối phước thật dạy chúng ta, những người môn đệ Chúa Giêsu, cách nhìn đoàn lũ dân chúng đang bao quanh Chúa Giêsu và đang đầy dẫy trên thế giới dưới cặp mắt mới, dưới đôi mắt của Thiên Chúa. Để kết thúc các mối phước thật, chúng ta cũng cần đọc thêm dưới ánh sáng của Sách Tông Đồ Công Vụ. Thánh Luca cho thấy Giáo Hội lý tưởng là một cộng đồng trong đó không ai coi của cải vật chất, quyền lực, những gì mình có, được coi như thần tượng tuyệt đối. Bởi lẽ Sách Tông Đồ Công Vụ cho biết những ai có ruộng vườn nhà cửa nên bán đi và đem những gì thu hoạch được đặt dưới chân các Tông Đồ. Các mối thu hoach đó được phân chia cho mỗi người, tùy theo nhu cầu đòi hỏi của anh em ( Act 4, 32-35). b) Yêu thương đối với kẻ thù nghịch ( Lc 6, 27-38). Phần trọng yếu ở giữa của " Bài giảng dưới đồng bằng " được dành riêng cho người tín hữu Chúa Kitô, đó là phần nói về tình yêu. Thánh Matthêu dành cả hai chương 5 -7 để thuật lại " Bài Giảng Trên Núi ", thì Thánh Luca trái lại, chỉ viết lên 30 câu thay vì 107 câu như Thánh Matthêu. Thánh Luca chỉ đặc tâm chú ý đến phần thiết yếu của Bài Giảng: lời tuyên bố các mối phước thật và giới răn về tình yêu. Bài Giảng dưới đồng bằng của Thánh Luca và Bài Giảng Trên Núi vủa Thánh Matthêu là nững gì thu tóm từ các tài liệu của Giáo Hội, tổng kết các lời xác định của Chúa Giêsu. Khác với Thánh Matthêu, Thánh Luca không mấy lưu tâm đến nguyên thủy đặc biệt của thái độ công chính Kitô giáo so với các kinh sư và người Pharisêu, cho bằng co thấy sự khác biệt công chính giữa người môn đệ đối với cách sống của thế giới trần tục. Tính cách xác quyết đó của lời giảng dạy được Chúa Giêsu tuyên bố bằng các động từ ở thì mệnh lệnh tính ( temps impératif ) và các so sánh đối chiếu được dùng ở đây chỉ nói lên một điểm duy nhứt : - " ...hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả má bên nầy, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai doạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy cả áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của mình, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người khác như vậy. Néu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thi có gì là ân với nghĩa. Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ..." ( Lc 6, 27-35), đó là luật tình yêu. Thật vậy, Chúa Giêsu nói lên một phương thức mới để thiết định các mối liên hệ mới giữa người với người: không còn phải là sự công bằng cổ xưa của đồng đẳng giữa cho và nhận được, mà la một tiêu chuẫn mới phá đổ đi ranh giới hạn hẹp của sự có vay có trả. Tiêu chuẩn " có vay có trả " đã bị lật nhào, vì dụ như gương mẫu tha thứ mà Chúa Giêsu đã huấn dạy cho: - " ...hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em; hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em " ( Lc 6, 27-28). Mẫu gương huấn dạy của Chúa Giêsu cho thấy vượt qua cả bên kia thái độ trả thù cho công bằng. Với người thù địch của mình, Chúa Giêsu chỉ dạy cho bốn thái độ tích cực, mà người môn đệ Người phải có: đó là - yêu thương, làm điều tốt lành, chúc phúc và cầu nguyện cho anh ta. Tĩnh từ ( adjectif ) " kẻ thù của anh em..., là từ ngữ quan trọng, bởi vì là từ ngữ biến những chủ thể đối nghịch được nói lên là những chủ thể thực hữu. Các kẻ thù địch, ghen ghét anh em không phải chỉ là những hình ảnh trừu tượng trong cơ hội bất thường, mà nói lên đó là những chủ thể chúng ta có thể gặp trong cuộc sống hằng ngày, không những chỉ là những kẻ đôi khi đàn áp chúng ta ( mà có thể cả mỗi ngày ), mà còn là những kẻ nói xấu, ghen ghét và đối xử tàn tệ với mình trong cuộc sống. Như vậy, kẻ thù địch mà chúng ta phải yêu thương có thể là người không có thiện cảm đối với mình, ở ngay dưới từng nhà hay ở nhà bên cạnh. Đoạn Phúc Âm kế tiếp liền sau đó ( Lc 6, 29-30 ), đưa má khác cho, không khước từ áo choàng, cho mượn ngay cả đối với những ai không có khả năng trang trải, xác, xác nhận rõ cách hành xử mới của người tín hữu Chúa Kitô trong cách đối xử với người khác. Rất thường Kitô giáo nhắc đến những ví dụ vừa kể, để tuyên bố cách hành xử bất bạo động của Phúc Âm. Nhưng nếu chỉ như vậy, thì thật quá ít. Đoạn Phúc Âm đang bàn còn đề cập đến lề luật chung sống mà chúng tôi nghĩ rằng thật chính đáng, đó mới là những luật lệ duy nhứt chính đáng trong cuộc chung sống con người với con người. Đó là lề luật tình thương..Lề luật tình thương còn vượt ra bên ngoài những khuôn mẫu vừa kể và nhằm đưa đến mẫu gương ban tặng nhưng không. Đó chính là điều khác biệt giữa " kẻ tội lỗi "" người môn đệ " : - " Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa ? ngay cả người tội lỗi cũng làm như vậy. Nếu anh em cho vay, mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa, cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẵng " ( Lc 6, 33-34). Yêu thương kẻ thương yêu mình và cho mượn những ai trả lại cho mình, đó là lòng thành tín của kẻ tội lỗi, chớ không phải của người môn đệ. Chúa Giêsu có tiêu chuẩn rất khác với tiêu chuẩn của chúng ta để phân biệt kẻ tội lỗi và người môn đệ. Tiêu chuẩn công chính mà Chúa Giêsu huấn dạy cho chúng ta là thái độ đối xử của Chúa Cha đối với chúng ta: - " Trái lại anh em hãy yêu thương kẻ thù, hãy làm ơn cho kẻ vay mượn mà chẳng hề hy vọng được đền trả.. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Ngưòi vẫn nhân hậu với phường vô ân và quân độc ác " ( Lc 6, 35 ), tình yêu thương của Người hoàn toàn nhưng không và phổ quát cho tất cả, " lòng nhân hậu " của Người đối với cả những kẻ vô ân và bọn người bất chính. Tỉnh từ " nhân hậu " ( Hy Lạp, chrestos ) ám chỉ tình yêu thương chú tâm, hiền lành, luôn luôn đón nhận, không có ý nghĩ gì khác hơn là ban tặng cho. Cả lời huấn dụ về đức công chính mới cũng được tóm kết trong thành ngữ : - " Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ " ( Lc 6, 36 ). Nhân từ là tình yêu thương bất chấp, vẫn đứng vững cả khi không được đáp ứng, đến ngay cả khi bị phản bội. Khi nào chúng ta có cùng thái độ như Chúa Cha tỏ ra cho chúng ta biết - đối với chính mình chúng ta, trước khi đối với người khác - lúc đó chúng ta mới thực sự đáng là con Thiên Chúa. Con giống Cha: tình Cha con của Thiên Chúa ( điều không thể thấy được ), được thể hiện và thấy được bằng tính chất của thái độ chúng ta đối với người khác. Các câu văn kế tiếp: - " Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án.Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em từng đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, và đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em đấu ấy " (Lc 6, 37-38), đọc thoáng qua, chúng ta có cảm tưởng là tư tưởng lời huấn dạy của Chúa Giêsu lùi lại về quan niệm còn đang bị đóng khung trong công bình " cho và được " hay " có vay có trả ": - " đừng phán đoán, thì sẽ không bị phán đoán; đong đấu nào, thì được đo bằng đấu nấy ". Có lẽ ghi lại tư tưởng đó, Thánh Luca chỉ có ý xác nhận rằng đức công chính mới, phá vỡ đi hệ thống bình đẳng có vay có trả, không phải là phương thức vô ích, không sinh hoa quả lợi lộc và không ai có thể thực hiện được, như nhiều người nghĩ, có lẽ cả người tín hữu Chúa Kitô. Chúa đáp ứng, trả lại đức vâng lời của môn đệ mình một cách dồi dào, vượt qua khỏi lằn mức đo lường: - " Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, và đổ vào vạt áo anh em " ( Lc 6, 38).

 

Đoạn Phúc Âm hôm nay ( Jn 10, 27-30), được Thánh Gioan kể lại trong bối cảnh lịch sử đầy trở ngại trên bước đường rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu, cũng như bài Phúc Âm về Người Mục Tử Nhân Lành trước đó ( Jn 10, 1-21). Chúa Giêsu gặp trở ngại vì lòng cứng tin và oán ghét của người Do Thái được biến thành hành động cụ thể, họ chửi bới và ném đá Ngài: - " Nhiều người trong nhóm nói: Ông áy bị quỷ ám và điên khùng rồi...Người Do Thái lại lấy đá để ném Chúa Giêsu " ( Jn 10, 20.31). Những lời giảng dạy ngắn ngủi của đoạn Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay, cũng như đoạn Phúc Âm về Người Mục Tử Nhân Lành trước đó, Chúa Giêsu có ý dùng để trấn an và khuyến khích can đảm đối với những ai theo Ngài, trước nghịch cảnh. Đoạn Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay được cấu tạo bằng hai tư tưởng chính: - tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và chiên của Người, - tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. A - Tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và chiên của Người. - " Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Ta " ( Jn 10, 27-28). a ) Thuộc về đoàn chiên của Chúa Giêsu, khởi điểm của Đức Tin vào Chúa Giêsu bằng cách biết lắng nghe tiếng của Người: - " Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ". Nhưng nghe nói về Người, tìm hiểu học hỏi về Người, nghiên cứu về giáo lý Người giảng dạy là khởi điểm để tiến tới Đức Tin, là trang bị cho mình một số kiến thức cần thiết để có được Đức Tin vững mạnh, « initium fidei » ( khởi điểm của Đức Tin). Nhưng có kiến thức thôi, chưa phải là Đức Tin. Có được Đức Tin là do chính Chúa ban cho chúng ta nhưng không, do hấp lực của Người đối với chúng ta, để lôi kéo chúng ta về phía Ngài : - « Chẳng ai đến được với Ta, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai Ta, không lôi kéo người ấy, và Ta, Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết » ( Jn 6, 44). - « Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta » (Jn 12, 32). Đức tin là quà tặng không của Chúa ban cho mỗi người chúng ta, cho những ai tìm kiếm Người, không phải do công lao của chúng ta mà chúng ta đáng được tưởng thưởng . b) Chúa Giêsu xác nhận rõ ràng điều kiện để trở thành chiên của Người : - chiên của Người biết nghe tiếng Ngài : * « Người giữ cửa mở cho anh vào và chiên nghe tiếng của anh. Anh gọi tên từng con rồi dẫn chúng ra » ( Jn 10, 3). * « Khi chiên ra hết, anh đi trước và chúng theo sau, vì chúng nhận biết tiếng anh » ( Jn 10, 4). Như vậy điều kiện hệ trọng đầu tiên để khỏi lạc hướng, lầm lẫn có thể đưa đến hậu quả khó lường được là chiên phải biết nhận ra tiếng mục tử : « anh gọi tên từng con một rồi dẫn chúng ra, vì chúng nhận biết tiếng anh ». Cần nhận ra tiếng của Chúa Giêsu và tiếng của những người đại diện Người, để chúng ta khỏi lạc hướng giữa muôn vàn tiếng nói và ý kiến trong cuộc sống chúng ta. Không phải vô ý thức hay bốc đồng mà Chúa Giêsu đặt nền tảng Giáo Hội Người trên tảng đá Phêrô : - « Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi » (Mt 16, 18). Và cũng không phải vô dụng mà Chúa Giêsu đặt đức tin của chúng ta được bảo đảm trong tay Thánh Phêrô và những Đấng Kế Vị Ngài: - « Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững tin » ( Lc 22, 31-32). Thánh Phêrô và các Đấng Kế Vị Ngài là nền tảng bảo đảm cho đức tin nguyên thủy Chúa Giêsu truyền dạy chúng ta : - « Con tin có Giáo Hội duy nhứt, thánh thiện, công giáo và tông truyền » ( Kinh Tin Kính). Như vậy chiên của Chúa Giêsu biết nghe tiếng Người bằng cách tìm tòi học hỏi những gì Người nói với chúng ta trong Phúc Âm, biết giữ thinh lặng và lắng nghe trong nội tâm lời Người nói với chúng ta trong cầu nguyện, thông hiệp với Người trong Phép Thánh Thể , như « người môn đệ Chúa Giêsu thương mến »( Jn 13, 23) và biết nghe lời chỉ dẫn của Thánh Phêrô và những ai kế vị Người. c) Điều kiện thứ hai để sống cuộc sống môn đệ Chúa Giêsu là « theo Ngài » : - « Ta biết chúng và chúng theo Ta » ( Jn 10, 27). Nhưng cuộc sống môn đệ của chúng ta không phải là cuộc sống mạo hiểm không lý chứng. Chúng ta theo Chúa Giêsu vì chúng ta được Chúa Giêsu cho biết là Người đã biết chúng ta : « Ta biết chúng.», trước khi chúng ta biết Người , « và chúng biết Ta ». Chúa Giêsu biết chúng ta, từng người một, khả năng, cá tính, nếp sống và những khó khăn mà mỗi người phải đương đầu giải quyết : - « anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra » ( Jn 10, 3). Theo Chúa Giêsu không phải là cách sống mạo hiểm bâng quơ, mà là một cuộc hành trình chắc chắn để đạt đến mục đích, vì Chúa Giêsu biết chúng ta. Chúa Giêsu thương chúng ta và Ngài sẵn sàng hy sinh cả mạng sống cho chúng ta : - « Ta chính là Mục Tử nhân lành. Người Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống của mình cho đoàn chiên » ( Jn 10, 11). Theo Chúa Giêsu, chúng ta chắc chắn Người lo lắng cho chúng ta và dẫn chúng ta đến cuộc sống tốt đẹp: - « Khi cho chiên ra hết, anh đi trước và chiên theo sau, vì chúng biết tiếng anh...Ta là cửa. Ai qua Ta mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ » ( Jn 10, 4.9). Và áp dụng hình ảnh mục tử và đoàn chiên vào viễn ảnh cho những ai theo Người, Chúa Giêsu nói rõ hơn : - « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta . Ta ban cho chúng sự sống đời đời… » ( Jn 10, 27). Như vậy cuộc sống Ki Tô hữu không có gì khác hơn là - « Ta biết chúng và chúng theo Ta » ( Jn 10, 25) Nói cách khác, Chúa Giêsu thương mến chúng ta ; chúng ta biết lắng nghe tiếng Người và theo Người. Và ai muốn theo Người để có được sự sống đời đời , không có gì khác hơn là tuân giữ các giới răn Người dạy. Giới răn nào ? - « Điều răn đứng đầu là : Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa là Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» ( Mc 12, 29-31). Và Thánh Gioan còn đi xa hơn nữa : - « Nếu ai nói : Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ thấy được, thì không thể yêu Thiên Chúa mà họ không trông thấy » ( 1 Jn 4, 20). Suy nghĩ kỹ lưỡng hơn, câu trích dẫn của thư I Thánh Gioan vừa kể là một câu lên án thật nặng nề, nếu chúng ta đặt liên quan với câu Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 12, 29-31) vừa trích ở trên. Câu Phúc Âm Thánh Marco cho chúng ta thấy rằng Ki Tô giáo chỉ có hai điều răn, « Kính Chúa và Yêu Người ». Và Thánh Gioan cho biết « ai không yêu thương người anh em mà họ thấy được, thì không thể yêu Thiên Chúa mà họ không thấy ». Như vậy, người không yêu thương anh em, thì cũng chẳng kính yêu gì Thiên Chúa. Và chúng ta có thể mở nhãn quang rộng hơn, một ý thức hệ, một hệ thống tổ chức xã hội trong đó con người bị chà đạp, là một một ý thức hệ vừa phi nhân, vừa vô thần, không xứng đáng cho xã hội con người. d) Một đặc điểm khác của đoạn Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay ( Jn 10, 27-30) cũng như đoạn lược thuật lại câu chuyện Người Mục Tử Nhân Lành trước đó ( Jn 10, 1-21) nói về mối tương quan giữa người mục tử và đoàn chiên, Thánh Gioan dùng tất cả động từ ở thời hiện tại, mà bản dịch Việt Ngữ chúng ta không thể làm nổi bậc được. Đọc bản văn La Ngữ hay Pháp Ngữ, chúng ta cảm thấy thấm thía ý nghĩa của đoạn văn : « Mes brebis écoutent ma voix, je les connais et elles me suivent. Je leur donne la vie éternelle, Le Père et Moi, nous sommes un » ( Jn 10, 27.28.30) ( La Sainte Bible, L'E’cole Biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1414). Dùng các động từ ở thời hiện tại ( temps présent) như vừa kể, Thánh nhân không chỉ có ý tường thuật sống động như một bản văn ghi lại các lời giảng dạy trực tiếp của Chúa Giêsu, mà còn có ý nói lên cho chúng ta biết những gì Chúa Giêsu đã nói, không những Ngài đã nói trong thời điểm lịch sử đã qua, mà còn đang trực diện nói với mỗi người chúng ta trong hiện tại : - « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ; Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời, Ta và Cha Ta là một ». Những lời đó, Chúa Giêsu đang nói với chúng ta và đang có giá trị cho mỗi người chúng ta. Người tín hữu Chúa Kitô đang sống thông hiệp cuộc sống đời đời mà Chúa đã và ban cho chúng ta. Rước Thánh Thể, rước Chúa Giêsu cùng thông hiệp với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần nguồn mạch sự sống đời đời vào con người của mình, người tín hữu Chúa Kitô đang có đầy sức sống, đang sống thông hiệp cuộc sống đời đời của Ba Ngôi Thiên Chúa. B - Tương quan liên hệ giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Cuộc sống của người môn đệ theo Chúa Giêsu không phải là cuộc sống không có thử thách. Nếu người Do Thái mạt sát và hành hung đối với Chúa Giêsu, - « Nhiều người trong nhóm nói : Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi...Người Do Thái lại lấy đá ném Chúa Giêsu » ( Jn 10, 20.31), thì chắc chắn các môn đệ Người không thể có cuộc sống « ngồi mát ăn bát vàng ». Con đường cuộc sống Ki Tô hữu là con đường đầy thử thách, nhưng người Ki Tô hữu biết lắng nghe và theo Chúa Giêsu, « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ; ta biết chúng và chúng theo Ta », chắc chắn sẽ được Người « dẫn ra đồng cỏ » ăn uống no nê, được Người « ban cho sự sống đời đời " . Xác tín đó không phải được xây dựng trên ảo tưởng, hay trên tâm tính tự cao tự đại của cá nhân, mà trên những gì Chúa Giêsu đã hứa. Chúa Giêsu biết từng con chiên một của Người. Người đưa bàn tay uy quyền của Ngài để hướng dẫn và bảo vệ chiên khỏi bị sói vồ hay cướp bóc : - « Không ai cướp được chúng khỏi tay Ta » ( Jn 10, 28). Và rồi hình ảnh người môn đệ được Chúa Giêsu đưa bàn tay uy quyền của Ngài để bảo vệ và dẫn dắt không ngừng lại ở đó. Bởi lẽ hình ảnh đó lại được tăng cường thêm bởi bàn tay toàn năng của Chúa Cha bảo đảm cho người môn đệ đạt đến sự sống đời đời : - « Cha Ta, Đấng đã ban chúng cho Ta , thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Cha Ta » ( Jn 10, 29). Như vây cuộc sống Ki Tô hữu, cuộc sống của những ai hành xử theo gương - « Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta ; Ta biết chúng và chúng theo Ta » không phải là một canh bạc, đánh lô tô, xổ số kiến thiết không biết thắng hay thua, « lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục », mà là một cuộc sống trong tình thương Cha con với Thiên Chúa, được bàn tay quyền năng của Chúa Giêsu hướng dẫn và bảo vệ, trong cánh tay toàn năng của Chúa Cha. Bởi vì Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha, cùng bản tính, cùng hành động và ý hướng như Chúa Cha : -« Ta và Cha Ta là một » ( Jn 10, 30). Hạnh phúc đời đời của người Ki Tô hữu, «nghe tiếng Ta và theo Ta» là cuộc sống hạnh phúc được Thiên Chúa ban cho và được chính Thiên Chúa Ba Ngôi bảo đảm cho đạt được : - « Ta ban cho chúng sự sống đờiđời, không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Ta và Cha ta là một » ( Jn 10, 28.30).

 

Từ kêu gọi Phêrô đến kêu gọi Mười Hai Tông Đồ( Lc 5, 1-6,16) ( 2 ) c ) Kêu gọi ông Levi ( Lc 5, 27- 32 ). Lời kêu gọi ông Levi, người thu thuế, là một đoạn tường thuật ngắn ngủi ghi lại cấu trúc tiến trình tiếp nối của việc đi theo Chúa Giêsu: - sáng kiến khởi đầu từ Chúa Giêsu, - triệt để tách rời, " bỏ lại tất cả ", - thái độ đáp ứng tức khắc, - mệnh lệnh tính hãy đi theo: " Sau đó, Chúa Giêsu đi ra và trông thấy một người thu thuế, tên là Levi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: " Anh hãy theo Ta ".Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người " ( Lc 5, 27-28). Thái độ đáp ứng đi theo Chúa Giêsu không phải là một động tác lập tức xảy ra và kết thúc liền sau đó, như là một quyết định thực hiện lập tức và bất di dịch, mà là một động tác còn được kéo dài trong thời gian, một cuộc hành trình, một quyết định còn phải lập đi lập lại hằng ngày. Trong lời kêu gọi ông Levi, chúng ta có thể nhận thấy được một sự khác biệt đối với lời Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ tiên khởi và cả đối với lời kêu gọi các người tội lỗi và nhóm người thu thuế. Các người thu thuế là những viên chức thuộc hệ đối với đế quốc Roma, bị dân chúng coi là " bọn tội lỗi công khai ". Kế đến, ngoài việc kêu gọi " quân tội lỗi ", Chúa Giêsu còn ngồi ăn đồng bàn với " bọn chúng". Đó là động tác mà người Do Thái cho là cách hành xử rất trầm trọng và đầy gương mù gương xấu. Bởi lẽ đó là điều lỗi lề luật trong sạch, cấm người Do Thái ngồi dùng bữa đồng bàn với dân ngoại và kẻ tội lỗi. Nhưng thường xuyên lui tới, tiếp xúc với người tội lỗi là thái độ mạc khải cho biết lý do tại sao Chúa Giêsu đến trong thế gian: - " Ta đến không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn " ( Lc 5, 32 ). Điều đó cho thấy động tác dùng bữa đồng bàn với người tội lỗi không phải là thái độ bất thường, đôi khi xẳy ra. Chúng ta đã biết được sứ mạng phổ quát của Chúa Giêsu không cho phép Người lánh xa đoàn lũ dân chúng: - " Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm đến Người, tận nơi Người đã đến và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi. Nhưng Người nói với họ: " Ta còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác, vì Ta được sai đi cốt để làm chuyện đó. Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giudea " ( Lc 4, 42-44). Người đến để còn phải rao giảng cho cả các thành phố khác. Giờ đây Người còn cho chúng ta biết sứ mạng của Người không cho phép Người đóng khung giữa người thanh sạch hay người nhơ bẫn, giữa người chân chính hay người tội lỗi, mà còn mở rộng ra cho các thành phố khác, cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, dân Do Thái hay dân ngoại. d) Tranh luận về việc ăn chay ( Lc 5, 33-35). Trả lời cho các kinh sư hỏi tại sao các môn đệ của Người không ăn chay, Chúa Giêsu trả lời bằng cách đề cập đến chính mình. Sau khi cho biết rằng Con Người có quyền tha tội và người thầy thuốc đến để chữa trị người lỗi phạm, tiếp theo sau đó Người cho biết Người là chủ, là Chúa của ngày sabat: - " Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ?...Con Người là chủ ngày sabat " ( Lc 5, 34.6, 5). Trong đoạn tranh luận về việc ăn chay, Chúa Giêsu tuyên bố Người là " chàng rể ", tức là Đấng Cứu Thế mà mọi người đang mong đợi. Chành rể và tiệc cưới là hai dụ ngôn cổ điễn về thời cứu độ. Năm cuộc tranh luận chứa đựng lời mạc khải Kitô luận ( Christologica ) , tức là mạc khải về căn tính của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là ai mà dám cho mình là Đấng có các quyền năng của Thiên Chúa và dám bỏ qua cách hành xử phải có, đã được mọi người chấp nhận? Đó chính là vấn đề căn cội của mỗi cuộc tranh luận. Chỉ có ai biết được Chúa Giêsu là ai, mới có thể hiểu được đâu là thực thể các ngôn từ và động tác của Người. Chúa Giêsu không những chỉ giới hạn xác nhận sứ mạng cứu độ của mình, mà còn báo trước cho biết cuộc khổ nạn đang đợi mình: - " Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi, ngày đó họ mới ăn chay " ( Lc 5, 35). Lúc đó các môn đệ sẽ ăn chay; và sự ăn chay đó là để phân biệt được ai là môn đệ của Chúa Giêsu, đó là ăn chay để hiệp thông với cuộc khổ nạn của Người. e ) Bình cũ, rượu mới ( Lc 5. 36-39). Điểm then chốt mà hai đối tượng được đưa ra để so sánh, đó là không thể đặt cái mới và cái cũ chung nhau được. Bởi lẽ hành động đặt chung đó sẽ làm tiêu diệt cho cả hai. Có lẽ các người Pharisêu đang đợi một Đấng Cứu Thế chỉ giới hạn dừng lại sữa đổi một vài phương diện hệ thống tôn giáo của của họ, nhưng họ thất vọng vì Chúa Giêsu không đến để vá víu, chỉnh đốn hệ thống tôn giáo cổ xưa của họ. Người phá vỡ. Như vậy, cần phải thay đổi vất đi những bầu da cũ và y phục cũ. Chúa Giêsu không quan tâm đề cập đến điều mới mẻ nào phải có, bởi lẽ tất cả đã được giải thích một cách rõ ràng trong bối cảnh: sự tha thứ, động tác đón nhận người tội lỗi, thái độ tự do trước việc ăn chay hay không, ngày sabat được lập nên cho con người chớ không ngược lại. Đó là những điều mới mẻ về thần học, chớ không phải hạn hẹp trong luân lý. Điều đó cho thấy Chúa Giêsu không đưa ra những thay đổi đơn sơ về cách đối xử phải có của con người để kính trọng Thiên Chúa, mà là nói đến Thiên Chúa nhìn con người như thế nào. f ) Tranh luận về ngày sabat ( Lc 6, 1-8). Hai cuộc tranh luân cuối cùng có liên quan đến ngày sabat, đó là tình trạng nghỉ ngơi trong ngày sabat, thể hiện rõ rệt việc Thiên Chúa nghỉ ngơi, sau khi đã dựng nên thế giới: - " Ngươi hãy nhớ ngày sabat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày ngươi sẽ lao động và làm mọi việc của con người. Còn ngày thứ bảy là ngày sabat để thờ kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó Ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai, con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì sáu ngày Thiên Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và mọi loài trong đó. Nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, Thiên Chúa đã chúc phúc cho ngày sabat và coi đó là ngày thánh " ( Ex 20, 8-11). Theo thói quen được công nhận, gặt hái bông lúa ngày sabat bị coi là phạm giới. Thánh Luca còn nhấn mạnh hơn nữa đến thái độ vi phạm vừa kể bằng cách cho biết các môn đệ - " vò trong tay mà ăn " ( Lc 6, 1). Tuân giữ ngày sabat là một trong những giới răn thánh rõ ràng, được coi như là thẻ căn cước để nhận biết ai là người có đức tin. Bởi đó không có gì lạ người Pharisêu đòi hỏi các môn đệ phải giải thích : - " Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sabat ? " ( Lc 6, 2) Như thói quen, Chúa Giêsu luôn luôn đứng ra trực tiếp trả lời, như là câu hỏi chỉ được đặt ra đối với Người. Trước tiên Người nhắc đến Thánh Kinh, bằng cách trích dẫn một biến cố trong Sách Ngôn Sứ Samuel ( 1 Sam 21, 1-7): - Các ông chưa đọc chuyện nầy trong Sách sao? Ông David đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng? Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn.Thứ bánh nầy, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi " ( Lc 6, 3-5). Nói đến ý nghĩa vừa kể trong đoạn Thánh Kinh, dường như Chúa Giêsu cho rằng cách suy nghĩ của các người Pharisêu đi ngược lại với Thánh Kinh mà họ kính trọng. Nhưng liền sau đó Người xác nhận - và đây chính là câu trả lời - rằng Con Người là chủ nhân cả của ngày sabat: - " Rồi Người nói: Con Người là chủ nhân ngày sabat " ( Lc 6, 5 ). Đó chính là điều đối nghịch giữa các người Pharisêu và Chúa Giêsu, chớ không phải chỉ là điều hạn hẹp vào việc tuân giữ nghiêm khắc hay lơ đễnh lề luật. Hiểu như vậy, cử chỉ của Chúa Giêsu trước hành động bứt lúa ăn trong ngày sabat, không phải là một thái độ ngoại trừ nới rộng hơn ra đối với lề luật bất di chuyển, mà là những gì thay đổi lề luật tận gốc rễ. Chúa Giêsu là chủ nhân ngày sabat và Người đặt ngày sabat phải tùy thuộc vào những gì lợi ích cho con người. Người là Thiên Chúa, có quyền làm điều đó. g) Chữa người bị liệt tay trong ngày sabat ( Lc 6, 9-11). Trong khi chữa người bị liệt tay trong ngày sabat, Chúa Giêsu tuyên bố lên điều vừa kể: " Con Người làm chủ ngày sabat " và buộc con người tuân giữ lề luật đó,vì lợi ich cho con người. Mặc dầu Do Thái giáo chấp nhận trong ngày sabat có thể chạy trốn để cứu mạng sống mình, trợ giúp người khác trong khi anh ta bị nguy hiểm hay giúp đỡ người thiếu phụ đang bị đau đớn khi sinh nở, hoặc trong cơn hoả hoạn... Nhưng trong trường hợp người bị hoại tay, không có gì là khẩn cấp cần phải giúp đỡ ngay. Động tác Chúa Giêsu chữa trị người bại tay là một hoàn cảnh bất thường đối với lề luật và thay đổi bối cảnh thần học của lề luật. Các kinh sư và người Pharisêu quan sát tác động của Chúa Giêsu để tố cáo Người. Chúa Giêsu thấu hiểu tâm địa của họ và bởi đó thách thức họ, bằng cách chữa trị cho bệnh nhân và công khai loan báo cho mọi người biết: - " Anh hãy trỗi dậy, ra đứng giữa đây " ( Lc 6, 8). Trong các cuộc tranh luận trước, các kinh sư đặt câu hỏi với các môn đệ hoặc đặt thẳng với Chúa Giêru, nhưng ở đây chính Chúa Giêsu đặt câu hỏi cho họ: - " Tôi xin hỏi các ông: ngày sabat được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay hủy diệt ? " ( Lc 6, 9). Họ không trả lời. Bởi lẽ họ là những người không muốn để cho ai đặt vấn nạn đối với mình, cũng như không có ý bàn cải tranh luận với bất cứ ai, bởi lẽ họ là các " kinh sư ", bậc thầy của thiên hạ. h) Chọn mười hai Tông Đồ ( Lc 6, 12-15). Khởi đầu một khoản đường mới trong cuộc hành trình của Chúa Giêsu và cuộc xuất hiện những nhân vật mới: mười hai Tông Đồ. Chúa Giêsu tách rời khỏi các môn đệ để cầu nguyện trong thinh lặng suốt đêm, không ngừng trước mặt Chúa Cha. Thánh Luca là tác giả Phúc Âm nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu cầu nguyện trong tất cả các thời điểm quan trọng của sứ mạng của Người, nhứt là khi phải có một quyết định quan trọng. Việc tuyển chọn các Tông Đồ là một trong những thời điểm đó. Chúa Giêsu tuyển chọn mười hai người giữa số đông các môn đệ của mình.Việc kêu gọi các vị được diễn tả bằng ba động từ: kêu gọi, lựa chọn và đặt tên: - " Đến sáng, Người kêu gọi các môn đệ lại, chọn lấy mười hai người và gọi là Tông Đồ " ( Lc 6, 13). Đó là danh xưng nói lên phận vụ chính của các vị: Tông Đồ là người được sai đi, được phép phát biểu nhân danh vị đã sai mình và nhân chứng cho ý muốn của vị đã sai mình đi. Đặc tính của người Tông Đồ là lòng thành tín. Vị tông đồ không được phép nói lên tiếng nói của mình hay bày tỏ ý muốn của mình, mà hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn của vị đã sai mình đến. Trong Sách Tông Đồ Công Vụ, Thánh Luca cho biết phận vụ thiết thực của các Tông Đồ: các Tông Đồ có phận sự - hướng dẫn các cộng đồng tín hữu, - loan báo Phúc Âm, - trông coi canh chừng việc bảo toàn và truyền bá đức tin đích thực.

 

Chương 21 không phải là phần phụ đính của Phúc Âm Thánh Gioan, được viết sau và thêm vào gượng gạo như một vài nhà chú giải Thánh Kinh có ý kiến, mà là một phần nguyên tác của toàn bộ, bổ túc cho toàn quyển Phúc Âm cũng như cho phần tường thuật các biến cố Phục Sinh ( Jn 20, 1-31), chúng ta đã có dịp suy niệm suốt hai tuần qua. Nói cách khác, chương 21 là phần kết thúc khóa Ki Tô học ( Christologia) được Thánh Gioan giảng dạy trong suốt quyển Phúc Âm của ngài. Liên kết với chương 20 tường thuật lại các biến cố Phục Sinh, ở chương Phúc Âm đang bàn Thánh Gioan đưa ra một cái nhìn ở độ cao điểm nhứt đối với những gì Ngài thuật lại trước đó: 2) 1) - Trước đó ở chương 20, niềm tin của các Môn Đệ còn mờ mịt, “Sáng sớm ngày thứ nhứt trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Magdala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người Môn Đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: Người ta đã đem Chúa ra khỏi mộ, và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu” ( Jn 20, 1-2). - Và rồi Thánh Gioan diễn tả giai đoạn mờ mịt của đức tin, mặc dầu vừa được nẩy sinh vẫn còn phôi thai non yếu: - “Bây giờ người môn đệ kia, kẻ đã đến mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và tin. Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Thánh Kinh, Chúa Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà mình” ( Jn 20, 9). - Mặc dầu niềm tin Phục Sinh được " người Môn Đệ Chúa Giêsu thương mến!" " đã thấy và tin" , bà Maria Magdala vẫn chưa thấy và chưa tin: “ Thiên thần hỏi bà: " Nầy bà, sao bà khóc. Bà thưa: Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu" ( Jn 20, 13). - Cho đến lúc chính Chúa Giêsu hiện ra với bà, bà cũng không nhận ra: - " Chúa Giêsu nói với bà: Nầy bà, sao bà khóc? Bà tìm ai? Bà Maria tưỏng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin ông nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem người về " ( Jn 20, 15) . - Sau đó Thánh Gioan thuật lại Chúa Giêsu hiện ra cho các Môn Đệ hai lần khác, chúc bình an cho các Ngài, thổi hơi ban Chúa Thánh Thần, cho các Ngài xem tay và cạnh sườn và cuối cùng khuyên bảo các Ngài: - " Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc cho những người không thấy mà tin. ( Jn 20, 28). Và Thánh Gioan với tư cách là người tường thuật cũng ghi lại những lời xác quyết cuối cùng cho những ai tham dự khóa Ki Tô học của Ngài: - " Còn những điều được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người " ( Jn 20, 31). Câu văn vừa kể được coi là câu kết thúc những gì Thánh Gioan phải viết ra để chuyển đạt tư tưởng của Ngài về niềm tin Phục Sinh. Đó là lý do tại sao một ít nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng Phúc Âm Thánh Gioan đã kết thúc ở câu nói cuối cùng vừa kể. Đối với Thánh Gioan, niềm tin Phục Sinh của các Môn Đệ được xác tín như vừa kể, không còn cần Chúa Giêsu hiện ra cho các Ngài thêm một lần nào nữa và Phúc Âm của Ngài cũng không còn cần phải ghi lại thêm dữ kiện nào nữa để cũng cố đức tin của các Môn Đệ và của những ai đọc Phúc Âm của Ngài. Đó chính là điều Thánh Gioan đã viết để nói lên niềm tin Phục Sinh ở điểm cao độ, khi Ngài thuật lại trong chương 21, Chúa Giêsu hiện đến với các Môn Đệ trên mặt hồ: - " Không ai trong các ông dám hỏi: Ông là ai?, vì các ông biết đó là Chúa" ( Jn 21, 12). Các Môn Đệ đã tin chắc Chúa Giêsu đã sống lại. 2) - Như vậy viết thêm chương 21, không phải là để ghi thêm dữ kiện, cũng cố thêm đức tin Phục Sinh, mà là để bổ túc sự hiểu biết về Chúa Ki Tô cho các Môn Đệ và cho chúng ta, những người tham dự trong tương lai lớp Ki Tô học của Ngài trong quyển Phúc Âm. a) Trước hết phần đầu của bài Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay ( Jn 21, 1-14), chúng ta có thể đề tựa là " Sứ mạng thất bại, thành công và được bảo đảm". Chúng ta có thể suy niệm tuần tự, dựa theo nội dung của phần Phúc Âm được trình bày. Trước hết chúng ta đừng nghĩ rằng sau khi Chúa Giêsu chết đi, Thánh Phêrô bàn với các Môn Đệ đi đánh cá trên biển Hồ, như là đề nghị để các ông lui về nghề cũ của các ông trước khi theo Chúa Giêsu: - " Ông Simon Phêrô, ông Tôma gọi là Didimo, ông Natanaele người Cana, miền Galilea, các ông con ông Zabede và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simon Phêrô nói với các ông: Tôi đi đánh cá đây. Các ông đáp: Chúng tôi cùng đi với anh" ( Jn 21, 2-3). Có lẽ ý nghĩ bỏ cuộc, lui về với nghề cũ, nghề đánh cá, hợp lý hơn, nếu đoạn văn được viết bởi các Phúc Âm nhất lãm khác. Bởi lẽ trong Phúc Âm Thánh Gioan không có đoạn nào nói cho chúng ta biết là bất cứ Môn Đệ nào hành nghề đánh cá, kể cả Phêrô, trước khi theo Chúa Giêsu. Vậy thì buổi ra đi đánh cá của các Vị, theo lời báo của Phêrô, chỉ là một buổi đánh cá bất thường nào đó, chớ không phải là chương trình trở lại cuộc sống bằng nghề đánh cá và bỏ cuộc đối với cuộc sống Môn Đệ sau khi Chúa Giêsu chết đi. Và càng không có lý chứng hơn sau những gì Chúa Giêsu Phục Sinh đã hiện ra báo và chứng minh cho các ông. Mục đích thuật lại cuộc ra đi đánh cá được Thánh Gioan viết ra với ngụ ý những gì Ngài muốn trình bày: - " Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả " ( Jn 21, 3) . “ Đêm ấy họ không bắt được gì cả”. Tại sao? - Vì không có Chúa Giêsu! Một đêm đánh cá thất bại. Đó là những gì Thánh Gioan muốn gởi đến chúng ta, trong quan niệm "thần học từ hư vô" ( theologia ex nullo) của Ngài. Không có Chúa, mọi sứ mạng đều bị thất bại, không thể thực hiện được. Đó là những gì Thánh Gioan đã viết trong Phúc Âm: - " Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì " ( Jn 15, 5) . Thánh Gioan tường thuật lại đêm đánh cá thất bại, có thể là một thực tại, nhưng với ngụ ý tượng trưng cho sứ điệp mà Ngài muốn trình bày ở bên dưới: không có Chúa Giêsu hiện diện và năng động, mọi sứ mạng rao giảng Phúc Âm đều thất bai. Nhưng rồi sự thất bại của một đêm lao lực, thức sáng " không bắt được gì cả " trở thành kinh nghiệm qúy giá, thành công mỹ mãn, với Chúa Giêsu hiện diện. Các ông vâng lời Ngài một cách tuyện đối, không bàn cãi: - " Khi trời đã sáng, Chúa Giêsu đứng trên biển, nhưng các Môn Đệ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu, Người bảo các ông: Cứ thả lưới xuống bên phải thuyền thì sẽ bắt được cá" ( Jn 21, 4-6). Các Môn Đệ đã tin chắc chắn là Chúa Giêsu đã sống lại. Nhưng tin chắc là một chuyện, nhận ra Chúa Giêsu hiện diện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, trên thực tế là một chuyện khác: Khi trời đã sáng, Chúa Giêsu đứng trên biển, nhưng các Môn Đệ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu. Buổi đánh cá được kết quả mỹ mãn, cuộc sống hàng ngày của chúng ta, sứ mạng truyền giáo của chúng ta muốn có được kết quả, chúng ta phải nhận ra Chúa Giêsu hiện diện, để vâng lời Người và cộng tác với Người, như các Môn Đệ vâng lời thả lưới phía bên phải thuyền. Có Chúa Giêsu hiện diện, đêm đánh cá, sứ mạng truyền giáo được kết quả mỹ mãn. Việc nhận ra Chúa Giêsu đang ở bên cạnh để bảo đảm cho buổi đánh cá, cho sứ mạng truyền giáo, được kết quả tốt đẹp, phải do " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" , sống thân tình với Chúa Giêsu , sống trong ân sủng, có trực giác nhận ra, hiểu ngay ý Chúa muốn và báo cho Phêrô: - " Người Môn Đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó " ( Jn 21, 7) . Chúa Giêsu hiện diện và năng động trong Giáo Hội, hướng dẫn Giáo Hội đến thành công trong sứ mạng rao giảng Phúc Âm mà Ngài đã ủy thác cho. Đó cũng là ý nghĩa những gì Thánh Marco đã ghi lại để kết thúc Phúc Âm của Ngài: - " Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng " ( Mc 16, 20 ). Nhận ra Chúa Giêsu hiện diện là vai trò của những ai sống thân tình với Chúa Giêsu, được Ngài ban cho ân sủng. Đó cũng là những gì Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta vai trò của " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" , và cũng chắc chắn của những ai sống thân tình với Chúa, được ân sủng Chúa ban, cần thiết để phục vụ cộng đồng Giáo Hội. Vai trò nổi bậc ân sủng của " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" được thể hiện trong buổi tiệc ly, dưới chân thánh giá, bên ngôi mộ trống và trong buổi đánh cá ban đêm trên biển hồ của đoạn Phúc Âm hôm nay: -- " Trong các môn đệ, có một người được Chúa Giêsu thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Chúa Giêsu" ( Jn 13, 23), - " Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Chúa Giêsu nói với thân mẫu rằng: Thưa bà, đây là con bà. Rồi Người nói với môn đệ: Đây là mẹ anh. Kể từ lúc đó, người môn đệ rước bà về nhà mình" ( Jn 19, 26-27), - " Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã đến mộ trước, cũng đi vào: Ông đã thấy và tin " (Jn 20, 8),- - " Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó ! " ( Jn 21, 7). b ) Thánh Gioan có cách viết tường thuật các biến cố, rất chú trọng đến các yếu tố chi tiết, nhưng được Ngài lồng vào văn mạch với chủ đích ngụ ý. Trong đoạn Phúc Âm hôm nay, Thánh Gioan kể lại là mặc dầu lưới được nhiều cá, nhưng lưới không bị rách, trước hết có ý liên tưởng đến y phục của Chúa Giêsu không bị xé nát để phân chia, khi Ngài chịu chết để đem đến ơn cứu rỗi: - " Thế là ứng nghiệm lời Thánh Kinh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn" ( Jn 19, 24) . Như vậy chiếc lưới đầy cá còn nguyên vẹn, trước sự hiện diện của Chúa Giêsu cũng có một ý nghĩa biến cố cứu rỗi do Chúa Giêsu đem đến: - " Cá nhiều như vậy, mà lưới không bị rách " ( Jn 21, 11b). Kế đến một tiểu tiết khác cũng được Thánh Gioan ghi lại, khi Ngài cho biết số luợng cá bắt được: - " Ông Simon Phêrô lên thuyền rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con" ( Jn 21, 11a ). Có lẽ thật sự là " một trăm năm mươi ba con " , nhưng cũng có thể Thánh Gioan dùng số 153 viết ra mẫu tự Do Thái, mỗi số tương đương với một chữ và như vậy đọc chung lại số 153 được ghi thành chữ, chúng ta sẽ có lưới cá chứa một " Cộng Đồng Tình Thương" , để ám chỉ Cộng Đồng Giáo Hội. c ) Ý nghĩa của chương 21 liên quan với toàn quyển Phúc Âm Thánh Gioan. Trong cả Phúc Âm, Thánh Gioan không ngừng nhấn mạnh đến việc nhân loại chúng ta không nhận biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là ánh sáng, là sự sống của chúng ta: - " Người đã đến nhà Người, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận " ( Jn 1, 11). - " Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một Đấng ở giữa các ông, mà các ông không biết " ( Jn 1, 26), - " Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần xuống và ngự trên ai, thì Người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn " ( Jn 1, 33-34). Và sau bao nhiêu lần không biết, không nhận đó, chương 21 Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng các Môn Đệ nhận biết Chúa Giêsu một cách chắc chắn, là thượng đỉnh con người đạt được trong tiến trình đi tìm Thiên Chúa, được Thánh Gioan ghi lại ở đoạn kết của Phúc Âm, như là kết quả ở cao điểm nhứt mà con người đạt được, trong tiến trình đi tìm Chúa: - " Không ai trong các Môn Đệ dám hỏi: Ông là ai?, vì các ông biết rằng đó là Chúa" ( Jn 21, 12). Và nhờ vượt thắng được sự tối tăm của con người không nhận ra Thiên Chúa, con người đạt đến đức tin vào Chúa và là cửa ngõ để vào sự sống đời đời: - " Còn những điều được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Ki Tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người " ( Jn 20, 31), - " Tôi viết những điều đó cho anh em, là những người tin vào danh Con Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời " ( 1 Jn 5, 13). 3) - Phần còn lại của đoạn Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay đề cập đến sứ mạng của Thánh Phêrô và của Thánh Gioan ( Jn 21, 15-24), liên hệ và bổ túc nhau bằng chức năng và ân sủng như chúng ta đã có lần đề cập đến trong đoạn Phúc Âm Chúa Nhât Phục Sinh ( Jn 20, 1-18). Mặc dầu Thánh Phêrô được Chúa Giêsu cân nhắc lên địa vị lãnh đạo của Giáo Hội, chức vị mà mọi người phải kính trọng, kể cả Thánh Gioan, " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" . Thánh Phêrô là tảng đá trên đó Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội Ngài ( Mt 16, 16), là cột trụ đức tin để nâng đở đức tin của anh em ( Mc 22, 31-32), nên Thánh Gioan phải kính nhường: - " Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào" ( Jn 20, 4-5). Thánh Phêrô là tảng đá nền tảng của Giáo Hội, là cột trụ đức tin của cả Cộng Đồng Dân Chúa, nhưng không được Chúa ban cho ân sủng có trực giác " đã thấy và tin" ngay (Jn 20, 8) như Thánh Gioan, và cũng không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài hiện ra với các Môn Đệ buổi sáng trên biển Hồ. Chính Thánh Gioan, " người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" nhận ra và báo cho, Thánh Phêrô mới nhận biết và nhảy xuống biển đến với Ngài: - " Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: Chúa đó! Vừa nghe nói: Chúa đó!, ông Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển" ( Jn 21, 7). Điều đó cho thấy địa vị uy quyền và ân sủng trong Giáo Hội được Chúa ban cho mỗi người khác nhau, để bổ túc nhau, cùng cộng tác phục vụ Cộng Đồng Dân Chúa: - " Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Nhưng chính Thánh Thần duy nhứt ấy làm ra tất cả những điều đó, và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người. ( 1 Cor 12, 4.5.11). Riêng đối với chức vị Thánh Phêrô, Ngài được Chúa Giêsu ban cho chức vị chăn dắt "chiên con " " chiên mẹ" của Người qua ba lần tuyên xưng tình thương của Ngài đối với Chúa, phục hồi lại ba lần lỗi phạm đã chối Chúa trong lúc khỗ nạn ( Jn 18, 17-18.25-27). Và Thánh Phêrô đã kết thúc cuộc đời mình bằng gương tử đạo, phục vụ chăn dắt " chiên con " và “ " chiên mẹ " của Chúa Giêsu, chớ không phải của mình: - " Hãy chăn dắt các con chiên con của Thầy " ( Jn 21, 15), - " Hãy chăn dắt các con chiên mẹ của Thầy " ( Jn 21, 16) , - " Hãy chăn dắt các con chiên mẹ của Thầy " ( Jn 21, 17).

 

Từ kêu gọi Phêrô đến kêu gọi Mười Hai Môn Đệ ( Lc 5, 1-6, 16) ( 1 ). Mặc dầu đoạn tường thuật lại sứ mạng ở Galilea của Thánh Luca ( Lc 4, 14-9,50) khá giống vớì đoạn tường thuật của Thánh Marco, Phúc Âm Thánh Luca không đặt biến cố kêu gọi Phêrô trước ngày sinh hoạt ở Capharnaum ( như trong Phúc Âm Thánh Marco). Trái lạ Thánh Luca viết lại biến cố kêu gọi Phêrô theo cách trình bày của ngài và xếp đặt thứ tự các sự kiện nối tiếp một cách theo thứ tự đặc tính quan trọng ( Lc 1, 3 ): - kêu gọi các môn đệ được đặc tâm chú ý ( Lc 5, 1-11), - hơn biến cố chữa trị ( người phong hủi và người bại liệt ) là nguyên nhân đưa đến những cuộc tranh cải ( Lc 5, 13-16. 17-26), - kêu gọi Levi, môt môn đệ khác ( Lc 5, 27-39), - hơn hai biến cố ( các môn đệ bứt lúa ăn và chữa người bị tay liệt trong ngày sabat ) làm phát sinh ra những cuộc tranh cãi mới ( Lc 6, 1-11) - và sau cùng là việc tuyển chọn mười hai vị môn đệ ( Lc 6, 12-16). 1 ) Kêu gọi Simon Phêrô ( Lc 5, 1-11) ; ( Mc 1, 16-20; 4, 1); ( Mt 4, 18-22); ( Jn 1, 15-21, 1-11). Khác với Phúc Âm Thánh Matthêu và Marco, Thánh Luca chỉ bắt đầu giới thiệu việc kêu gọi các môn đệ ( Phêrô, Giacobê và Gioan) sau những phép lạ ở Capharnaum và thêm vào đó là biến cố buổi đánh cá lạ lùng, mà Thánh Gioan ghi lại xảy ra sau Phục Sinh ( Jn 21, 1-11). Như vậy, một cách thực tiễn, đặc tính diễn giải của các Phúc Âm thuật lại các biến cố lịch sử cuộc đời Chúa Giêsu, theo các nhãn quang thần học khác nhau. Cách tường thuật lại của Thánh Luca là phương thức cấu trúc của ngài, dùng những yếu tố từ các nguồn khác nhau hay là từ kết qủa của các chi tiết truyền thống truyền khẩu được sắp xếp chung lại với nhau. Tư tưởng truyền thống truyền khẩu là điều có lý chứng hơn cả, bởi lẽ đoạn tường thuật nầy của Thánh Luca rất xúc tích với cách hành văn cá biệt của ngài. Sự kiện đề cập đến những yếu tố địa lý cũng giống như trong Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 4, 1), - "Một hôm, Chúa Giêsu đang đứng ở bờ hồ Genezareth, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người, để nghe lời Thiên Chúa. Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Chúa Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon. Và Người xin ông Simon chèo thuyền ra xa bờ một chút . Rồi Người ngồi xuống và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông " ( Lc 5, 1-3). Nhưng sau đó Thánh Marco tiếp tục tường thuật lại dụ ngôn người gieo giống ( Mc 4, 1ss), Khác với Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 17ss), sau đó Chúa Giêsu tiếp tục nói chuyện với cả Andrea, sau khi nói chuyện với Phêrô, và rồi Người kêu gọi cả Giacobê và Gioan. Trong khi đó thì Phúc Âm thánh Luca cho biết, trong đoạn tường thuật liên hệ, Chúa chỉ hàn huyên và kêu gọi Phêrô: - " Bấy giờ Chúa Giêsu bảo ông Simon : " Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người ngư phủ lưới người ta" ( Lc 5, 10). Những câu nói vừa kể, được nhấn mạnh theo ngôn ngữ Hy Lạp, hàm chứa sau đó có một cuộc thay đổi sâu đậm về cuộc sống của Phêrô. Ngài sẽ đánh lưới cá con người, với mục đích cứu thoát đời sống của họ, thay vì lưới cá dùng để ăn trong gia đình. Động từ ở thì tương lai " anh sẽ là người ngư phủ đánh lưới người " giao phó ơn gọi cho Phêrô trong cả cuộc đời của ngài. Những dòng vừa kể được Thánh Luca viết lên 70 năm sau Thiên Chúa giáng sinh, nói lên cho chúng ta biết tước vị lãnh đạo của Phêrô sẽ không được trao cho bất cứ ai, ngay cả cho Giacobê, như một vài học giả chủ trương, khi các vị khảo cứu Sách Tông Đồ Công Vụ ( Act 10). Simon Phêrô không phải chỉ là phát ngôn viên cho nhóm người theo Chúa Giêsu, - " Còn anh em, anh em bảo thầy là ai? Ông Phêrô thưa. " Thầy là Đấng Kitô, con Thiên Chúa 2 ( Lc 9, 20), mà ngài còn có phạn vụ tương tợ trong nhóm các Tông Đồ ở Giêrusalem, sau Phục Sinh: - " Trong những ngày ấy, ông Phêrô đứng lên giữa các anh em, có khoản một trăm hai mươi người đang hợp mặt " ( Act 1, 15 ). Nhứt là ngài sẽ rao giảng lời Chúa, để " lưới " mọi người, tạo thành cộng đồng Kitô hữu tiên khởi ( Act 2, 14-41). Sau hết, trong đoạn cuối cùng, đặc biệt của Phúc Âm Thánh Luca, các môn đệ bỏ lại tất cả mà đi theo Người, chớ không phải chỉ bỏ lại chài lưới như trong Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 18). Điều đó cho thấy theo Chúa Giêsu là một thái độ chọn lựa dứt khoát triệt để. Từ ( Lc 5, 12 - 6, 11) gần như Thánh Luca hoàn toàn dùng chất liệu của Phúc Âm Thánh Marco ( Mc 1, 40-45), chỉ có đôi chút sữa đổi. Về cách thứ tự xếp đặt, hai phép lạ sắp tới ( chữa người phong hủi và người bại liệt ) được diễn tả một cách thích hợp hoàn toàn với hai biến cố ( sự chay tịnh Kitô giáo và ngày sabat ), được kể lại sau khi đã kêu gọi ông Levi. a ) Chữa người phong hủi ( Lc 5, 12-16): ( Mc 1, 40-45); ( Mt 8,1-4). Thánh Luca thuật biến cố phép lạ chữa người phong hủi nầy " trong một thành phố ": - " Khi ấy Chúa Giêsu đang ở trong một thành phố kia, có một người đầy phong hủi, vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống xin Người rằng: " Lạy Ngài, nếu ngài muốn, xin Ngài có thể làm cho con được sạch " ( Lc 5, 12). Trong khi đó thì Phúc Âm Thánh Marco thuật lại biến cố xảy ra ngoài đồng, nơi thích hợp để gặp một người đang ở trong trạng thái bệnh tật khá nặng nề ngoài da, có thể sang bệnh truyền nhiễm cho người khác. Đối với Thánh Luca, lộ trình của Chúa Giêsu không quan trọng, điều hệ trọng là đối những ai mà Người thốt lên lời dạy bảo. Người phong hủi bị coi là người ô uế đối với nghi thức phụng tự cũng như đối với đời sống xã hội. Anh ta là người bị đuổi ra bên ngoài trại: - " Người mắc bệnh phong hủi phải mặc áo rách, xoã tóc, che râu và kêu lên: " Ô uế, ô uế ! ". Bao lâu còn mắc bệnh, thì nó ô uế, nó phải ở riêng ra, chỗ ở của nó là một nơi bên ngoài trại " ( Lev 13, 45-46), bởi vì đối với cộng đồng dân chúng, anh ta là người bị coi như là người đã chết, có thể so sánh anh ta như một người nghèo khổ cùng cực chăng? Người phong hủi gặp Chúa Giêsu hôm đó, không xin Người chữa cho lành bệnh, mà được chữa cho trở nên sạch sẽ: - " Lạy Thầy, nếu Thầy muốn, xin làm cho con được sạch " ( Lc 4, 12), Đó là tâm trạng thể hiện trong cả truyền thống Thánh Kinh, theo đó thì bệnh nhân bị nhiễm phong hủi là người tuyệt vọng cảm thấy mình bị loại ra khỏi cộng đồng xã hội. Chỉ có khi nào con người đó được trở nên sạch sẽ, mới có thể được tham dự vào các nghi thức tôn giáo và vào cuộc sống trong cộng đồng xã hội. Biết được truyền thống đó trong Thánh Kinh, chúng ta hiểu được đối với người Do Thái, Chúa Giêsu đang phạm lỗi với truyền thống, bởi vì Người: - " Người giơ tay đụng vào anh ta và nói: " Tôi muốn, anh hãy sạch đi " . Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh ( Lc 4, 13), như là để nhận lấy bệnh tật của anh vào con người của Người, chữa anh khỏi cơn bệnh và truyền vào con người anh sức mạnh chữa trị của Người. Tuy vậy, Chúa Giêsu vẫn công nhiên tuân giữ Lề Luật, khi Người truyền cho anh đến trình diện trước mặt các viên chức quyền lực, để được chấp nhận trở lại vào cuộc sống cộng đồng: _ " Đây là lề luật về người phong hủi, trong ngày anh ta được thanh tẩy. Đương sự sẽ được đưa đến với tư tế: tư tế sẽ ra khỏi trại. Tư tế sẽ khám: nếu người phong hủi đã khỏi vết thương phong hủi, thì tư tế sẽ truyền lấy cho người phong hủi hai con chim còn sống và thanh sạch, gỗ bá hương và phẩm cánh kiến và cành hương thảo... " ( Lev 14, 2-4). Đoạn tường thuật được kết thúc bằng một lời cầu nguyện. Trong khi Thánh Marco cho biết rằng Chúa Giêsu phải lui vào sa mạc, để tránh cho đám đông dân chúng vì bị kích thích, sẽ tổ chức thành phong trào cách mạng chính trị để giải thể chế độ hiện tại, thì Thánh Luca nhấn mạnh rõ việc Chúa Giêsu lui vào sa mạc để cầu nguyện và đó là động tác tự nhiên và thường xuyên theo thói quen của Người: - " ...đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. Nhưng Người lui vào nơi hoan g vắng mà cầu nguyện " ( Lc 4, 15-16). Với lời cầu nguyện, Người có được tất cả những gì dân chúng van xin Người. Trong biến cố đang bàn, Thánh Luca bỏ qua phần lớn các lời đối thoại, ngài chỉ diễn tả thuật lại biến cố được trôi chảy hơn và chứa đựng một ít đặc tính cá nhân của ngài hơn. b) Chữa người bại liệt ( Lc 5, 17-26); ( Mc 2, 1-12); ( Mt 9, 1-8), ( Jn 5,8). Thánh Luca hoàn toàn sắp xếp lại phần khởi đầu của đoạn tường thuật nầy, lấy từ Phúc Âm Thánh Marco. Ngay cả ở những lời khởi đầu, Thánh Luca ghi nhận rằng biến cố nầy " bỗng xảy ra ": - " Bỗng có người khiêng đến một bệnh nhân bị bại liệt nằm trên giường, họ tìm cách đem vào đặt trước mặt Người " ( Lc 5, 18). Chương trình mà Chúa cho xảy đến, chúng ta không thể dự tính trước được. Điều quan trọng là biết đặc tâm chăm chỉ nhận ra các biến cố đó đang xảy ra giữa chúng ta và ý nghĩa muốn nói lên cho chúng ta. Đoạn tường thuật được diễn tả khá dài với chi tiết làm thế nào người bại liệt nằm trên giuờng có thể đến được trước mặt Chúa Giêsu. Đó là một cố gắng, mà Chúa Giêsu nhận ra như là một dấu chứng đức tin: - " Thấy họ có lòng tin như vậy..." ( Lc 5, 20). Nhưng mặc dầu với đức tin đó, hay chính vì có đức tin đó, Chúa Giêsu dường như muốn thử thách làm cho lòng ao ước người bại liệt được chữa trị của họ bị thất vọng. Những người đem người bại liệt đến cũng như chính bệnh nhân, đến để xin được chữa lành bệnh, thì lại nghe Chúa Giêsu nói : - " Nầy anh, tội của anh đã được tha rồi " ( Lc 5, 20b). Chúa Giêsu ban cho người bệnh hơn cả những gì anh mong muốn, chớ không phải ít hơn, nhưng không phải là điều mà bệnh nhân mong đợi. Đối với bệnh nhân, điều anh đang đợi là sức khoẻ, được lành bệnh; đối vói Chúa Giêsu điều quan trọng hơn cả và trước tiên là mối liên hệ với Thiên Chúa.. Câu xác nhận bất ngờ của Chúa Giêsu, "tội của anh đã được tha rồi" làm hoàn toàn đổi hướng đoạn tường thuật: điều then chốt không còn phải là quyền phép của phép lạ, mà là định ý của Chúa Giêsu ban cho ơn tha tội. Thật vậy, Do Thái giáo nhân biết các nghi thức tha tội trong lúc tế tự trong đền thờ: ơn tha tội con người có thể nhận được bằng lòng thống hối và nhứt là bằng vật hiến tế để xin tha tội ( Lv 4, 1-5, 13). Từng nhóm người, như nhóm dân chúng theo Thánh Gioan Tẩy Giả, ơn tha tội con nguời có thể nhận được nhờ hoán cải nội tâm và đón nhận phép rủa: - "Ông liền đi khắp vùng sông Giordano, rao giảng, kêu gọi dân chúng chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối, để được ơn tha tội " ( Lc 3, 3 ). Nhưng ơn tha tội đối với Chúa Giêsu - không còn phải nhận được qua hệ thống các đền thờ, - cũng không có dấu gì cho thấy tội lỗi được gột rửa sạch bằng nước, như những gì Gioan Tẩy Giả đã làm. Ở đây, biến cố lành bệnh thể xác của người bị bại liệt ( " hãy đứng dậy mà đi " ( Lc 5, 23 ) là dấu chứng ơn tha tội đã được lãnh nhận ( " tội của anh đã được tha " ( Lc 5, 20b ). Từ nay sự việc được lành bệnh chỉ là dấu chứng hướng dẫn con người nhìn đến một chân trời khác: - " Vậy để các ông biết, dưới đất này, Con Người có quyền tha tội " ( Lc 5, 24 ) . Con người nhân loại của chúng ta - cần có được sức khoẻ, - nhưng cũng cần có được ơn tha tội. Điều đó giải thích tại sao Chúa Giêsu - không những chữa lành bệnh cho người bại liệt, - mà còn còn ban cho anh ơn tha tội - và kêu gọi hãy sám hối.