Tham Khảo

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Một lần nữa bối cảnh của đoạn tường thuật Phúc Âm là bữa ăn, cùng chung với " cuộc hành trình " xác định giai đoạn lịch sử của sứ mạng Chúa Giêsu lúc đó, Người đang nói về lòng nhân hậu của Thiên Chúa: - " Người Pharisêu và các kinh sư thì thầm với nhau: " Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng " ( Lc 15, 2). Lòng nhân hậu đó được đề cập đến trong ba dụ ngôn tuyệt vời. Những người đối thoại với Chúa Giêsu gồm hai hạng người. Một bên gồm có các người Pharisêu và các kinh sư " thì thầm với nhau ", đứng về phía bên kia, không chấp nhận cách hành xử của Chúa Giêsu, như những gì họ đã làm - ở nhà ông Levi: * " Các kinh sư và người Pharisêu bắt đầu suy nghĩ: " Ông nầy là ai mà nói phạm thượng như vậy ? Ai có quyền tha tội, ngoài ra một mình Thiên Chúa ? " ( Lc 5, 21), - và họ sẽ làm ở nhà ông Zaccheo: * " Thấy vậy, mọi người xì xầm với nhau: " Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ " ( Lc 19, 7). Từ ngữ " ông nầy, ông ấy hay ông ta " ở đầu đoạn Phúc Âm cũng như ở các câu vừa trích dẫn diễn tả được thái độ không có gì thiện cảm trước sứ điệp tuyên bố giải thoát được Chúa Giêsu đem đến. Đàng sau những khuôn mặt đó, chúng ta có thể chuẩn định được đó là khuôn mặt của các kinh sư Do Thái, đối thủ của Chúa Giêsu, mà cũng có thể là những khuôn mặt thuộc cánh bảo thủ các cộng đồng Ki Tô giáo thời tiên khởi, được Thánh Luca đưa ra ánh sáng trong Sách Tông Đồ Công Vụ: - " Có những người thuôc phái Pharisêu đã trở thành tín hữu, bấy giờ đứng ra nói rằng: " Phải làm phép cắt bì cho người ngoại và truyền cho họ giữ luật Moisen " ( Act 15, 7). Phía bên kia là " những bọn thu thuế và người tội lỗi đến để nghe Người ", là những người mà Chúa Giêsu đặc tâm chú ý và thương yêu, bằng cách tỏ ra thái độ hiểu biết, thân cận và đồng cảnh ngộ, " đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng ", khiến cho phía những người " tốt lành- ", " trọn hảo ", " không tỳ vết " phải đứng ra phản đối: - " Vào một ngày sabat, Chúa Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. Nhưng có mấy người Pharisêu nói: " Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sabat " ( Lc 6, 1-2). - " Các kinh sư và người Pharisêu rình xem Chúa Giêsu có chữa người ấy trong ngày sabat không, để tìm cách tố cáo Người " ( Lc 6, 7), - " Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Chúa Giêsu liền nghĩ bụng rằng: " Nếu quả thật ông nầy là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào. một người tội lỗi " ( Lc 7, 39), - " Tới nơi, Người vào bàn ăn. Thấy vậy, ông Pharisêu lấy làm lạ, vì Người không rửa tay trước bữa ăn " ( Lc 11, 37b-38), - " Một ngày sabat kia, Chúa Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm người Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người. Và kìa trước mặt Chúa Giêsu có một người mắc bệnh phù thủng. Người lên tiếng nói với các nhà thông thái luật và những người Pharisêu: " Có được phép chữa bệnh ngày sabat không ? " ( Lc 14, 1-3), - " Chúa Giêsu mới nói vớ ông ( Zaccheo ) rằng: " Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy, bởi người nầy cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất " ( Lc 19, 9-10). Bằng chiến thuật biện luận với ba dụ ngôn, Chúa Giêsu giải thích cho các đối thủ của Người biết thái độ hành xử của mình và ấn dấu tin lên mọi thành kiến về Người. 1- Dụ ngôn con chiên lạc, đồng tiền bị mất và đứa con hoang đàng. Có những từ ngữ then chốt trong cả ba dụ ngôn, qua đó Chúa Giêsu dùng để cho thấy Thiên Chúa " không muốn cho kẻ tội lỗi phải chết, mà muốn cho họ ăn năn hối cải để được sống ": - " Chẳng lẽ Ta lại vui thích vì kẻ gian ác phải chết - sấm ngôn của Chúa là Chúa Thượng - Ta lại không muốn cho nó từ bỏ đường tội lỗi của nó mà được sống sao? " ( Ez 18, 23). Các từ ngữ đó là động từ " mất ": - người mục tử bị mất con chiên: * " Người nào trong các ông có một trăm con chiên, mà bị mất một con,lại không để chín mươi chín con chiên kia ngoài đồng, để tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? " ( Lc 15, 4), - người nội trợ bị mất một đồng tiền: * " Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp nến, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? " ( Lc 15, 8), - người cha bị mất một trong hai đứa con: * " Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy " ( Lc 15, 32). Động từ " mất " trong ba dụ ngôn được trích dẫn vừa kể nói lên ý nghĩa tình qúy mến, thương yêu, khắng khít thể hiện thái độ của Thiên Chúa " trên trời ", mọi con chiên dầu nhỏ bé cũng được thương yêu, chăm sóc thân tình; mọi đồng tiền đều được qúy chuộng; cả hai đứa con cũng vậy đối với người cha. Kế đến là động từ " tìm kiếm ", - " ...để lại chín mươi chín con chiên kia ngoài đồng, để đi tìm cho ký được con chiên bị mất ", - " ...lại không thắp nến lên, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ", - " ...vì em con đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được ". Động từ " tìm kiếm " cũng có ý nói lên sáng kiến của Chúa đối với người tội lỗi: - " Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ - sấm ngôn của Chúa là Chúa Thượng- Con nào bị mất ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh. Ta sẽ canh chừng, Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng " ( Ez 34, 15-16). Sau cùng là danh từ " niềm vui vẻ " để nói lên thành công tốt đẹp của việc tìm kiếm những gì mình đã bị mất, nỗi hạnh phúc của con người, được tràn đầy trong tương quan với những gì mình yêu thương, qúy chuộng: - " Xin chung vui với tôi, vì tôi tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó " ( Lc 15, 6), - " Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã bị mất " ( Lc 15, 9), - " Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất đi mà nay lại tìm thấy " ( Lc 15, 32 ). Những niềm vui nhân loại vừa kể là biểu tuợng của niềm vui Thiên Chúa trên trời, đối với một người tội lỗi trở lại, được sống: - " Cũng vậy, Ta nói cho các ông biết: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối " ( Lc 15, 10). Nhưng có lẽ chúng ra nên đặc tâm chú ý đến dụ ngôn người cha nhân lành, mà Chúa Giêsu trong Phúc Âm Thánh Luca với những lời lẽ thật đơn sơ loan báo và diễn tả dung nhan chưa hề được đề cập đến của Thiên Chúa. Người là Đấng thật tốt lành, thật khoan dung, thật đầy lòng nhân ái, thật tràn đầy tình thương đối với con người tội lỗi. 2 - Dụ ngôn người cha nhân lành. a ) Bối cảnh thứ nhứt, cậu con trai trẻ. Tĩnh từ " trai trẻ " ( Hy Lạp, neoteros ) trong thời các Cộng Đồng Ki Tô hữu tiên khởi cũng được hiểu là những tín hữu vừa mới trở lại đạo. Đối với tâm thức cậu con trái trẻ nầy cũng như đối với những ai mà tỉnh từ " trai trẻ " muốn thể hiện, Thiên Chúa đuợc quan niệm như là một người vừa là cha vừa là chủ. Bởi đó cần phải giữ khoản cách, lánh xa. Lịch sử của tôi lỗi đưọc diễn tả như là lịch sử của một cuộc xa lánh như những gì cậu con đã làm đối với cha mình: - " Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả, rồi trẩy đi phương xa " ( Lc 15, 13). Xa lánh cha, để được tự do tha hồ phóng đãng, phung phí, không những tài sản mình có được, mà cả phẩm giá, sống trong một thế giới không có một hy vọng nào ( Hy Lap, asótos, phung phí, không hy vọng có thể giải thoát được ): - " Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình " ( Lc 15, 13b). Cảnh tượng kế đến cho thấy con đường của người tội lỗi bị đốt cháy, chặn nầy đến chặn khác, nhanh chóng đi đến thảm trạng: không còn tiền, phải đi chăn heo: - " Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, ; người nầy sai anh ra đồng chăn heo " ( Lc 15, 15). Đối với người Do Thái, heo là con vật dơ bẩn: - " Trong các loài nhai lại và các loài có móng chẻ hai, các ngươi không được ăn các con nầy: con lạc đà, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế; con ngân thử, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế; con thỏ rừng, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế; con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng nó không nhai lại: các ngươi phải coi nó là loài ô uế. Thịt của chúng các ngươi không được ăn, xác chết của chúng các ngươi không được đụng đến; các ngươi phải coi chúng là loài ô uế " ( Lv 11, 4-8). Trong tâm thức đó, cậu con trai trẻ bất hạnh bị coi đồng hoá với những gì dơ bẩn trong xã hội, từ một đứa con có gia đình khá giả trổi vưọt cả các người giúp việc. Còn nữa, cậu bị bốt lột đến độ heo có đủ ăn và ăn dư thừa, trong khi đó cậu không có đủ thức ăn: - " Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho " ( Lc 15, 16). Câu nói " nhưng chẳng ai cho " là câu diễn tả cảnh trái ngược so với trạng thái lúc trước anh có tất cả, lúc còn ở nhà với cha: - " Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha là của con " ( Lc 15, 31). Thảm trạng băng hoại cuối cùng là thảm trạng băng hoại tâm thần, mất đi căn tính con cái của mình: - " Xin coi con như một người làm công cho cha vậy " ( Lc 15, 19b). Nhưng chính thảm trạng đó lại là phúc đức cho câu ta. Quyết định trở về hội nhập lại với cha, lúc khởi đầu có vẻ như là thái độ toan tính dựa trên lợi lộc vật chất: - " Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư, gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói ! " ( Lc 15, 17). Nhưng tư tưỏng đó không bao lâu biến thể thành lòng hối hận và quyết định thú nhận thành thật trước mặt cha: - " Thôi ta đứng lên đi về cùng cha và thưa với người: " Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa " ( Lc 15, 18a). Chỉ có khi sau gặp được người cha với tình yêu thương vô hạn, lúc đó cậu mới bắt đầu một cuộc hối cải thực sự. Điều đó cho thấy không có đứa con nào có thể sống được, nếu không cảm nhận được tình thương yêu của cha. b) Bối cảnh thứ hai, người cha. Người cha trông đứng, trông ngồi từ ngày cậu con ra đi. Tâm hồn ông bị tổn thương và lo lắng vì sự vắng mặt của cậu. Nhưng dầu bị tổn thương, bị bỏ lại nhà, ông không bao giờ nghĩ cậu không còn phải là con và vẫn luôn luôn hy vọng. Bất thình lình cậu trở về. Không hề có một lời trách móc, một câu nói phán đoán, một cuộc hỏi dọ thăm dò, cũng không một câu nói nào " cha tha cho con " từ trên phán xuống. Cử chỉ thông cảm, đại lượng ( Hy Lạp, splangchnízomai) của ông thật là bất ngờ, nói lên ông xúc động tự trong ruột gan, mà Thánh Luca dùng để nói lên lòng quảng đại - của Chúa Cha: * " Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta " ( Lc 1, 78 ) - của Chúa Giêsu: * " Trông thấy bà, Chúa Giêsu chạnh lòng thương xót và nói: " Bà đừng khóc nữa " ( Lc 7, 13), * " Nhưng một người Samaritano kia đi đường, tới ngang chỗ ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương " ( Lc 10, 33). Tất cả cử chỉ của người cha đều cho chúng ta thấy một loạt tiếp nối các động tác yêu thương, không khác gì cánh tay âu yếm dịu hiền của người mẹ: - " Anh ta còn ở đàng xa, ngươi cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ và hôn lấy hôn để " ( Lc 15, 20). Trong một câu ngắn ngủi như vậy chúng ta thấy có cả một dòng thác các động từ, để nói lên cử chỉ dồn dã, yêu thương không sao cầm được nữa. Áo quần thôi cũng chưa đủ, phải là bô y phục đẹp nhứt: - " Mau đem áo đẹp nhứt ra đây mặc cho cậu "( Lc 15, 22). Phải mau đem nhẫn ra xỏ cho cậu, để nói lên phẩm giá và uy tín của câu trong gia đình, đối với những người giúp việc cũng như bất cứ ai khác: - " ...xỏ nhẫn vào tay cậu " ( Lc 15, id.). Giày bình thường cũng không đủ, phải đem dép sang trọng của những nhà qúy phái dùng trong vinh thự ra cho cậu: - " xỏ dép vào chân cậu " ( Lc 15, id.), Và rồi bữa thức ăn hằng ngày cũng không xứng đáng với hoàn cảnh, phải mổ bê béo, dành cho những cơ hội độc nhứt đặc biệt: - " ...rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! " ( Lc 15, 23). Cơ hội đôc nhứt đặc biệt đó là bởi vì đây là dịp - " ...em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy " ( Lc 15, 32). c) Bối cảnh thứ ba, người con cả. Qua thái độ hành xử và cách ăn nói của anh ta, người con cả là khuôn mặt đại diện cho các kinh sư và các người Pharisêu, ganh tỵ với cách đối đãi nhân hậu của Chúa Giêsu đối với " bọn thu thuế và người tội lỗi ", thái độ đó thể hiện rõ rệt đối với người phụ nữ tội lỗi, khi Chúa Giêsu dùng bữa tại nhà ông Simon ( Lc 7, 36-50). Cách hành xử của người con cả cũng là khuôn mặt đại diện cho " chín mươi chính con chiên " không cần phải được tha thứ. Người con cả cho thấy quan niệm sai lạc đáng lo ngại của những hạng người vừa kể đối với Chúa: họ nghĩ rằng Thiên Chúa là ông chủ bất công, không biết phân biệt đáng lý phải có giữa những đứa con tốt lành và những đứa con bị chà đạp khổ hạnh. Bởi đó người cha quên đi, không lo lắng gì cho những đứa con " tốt lành, hiếu thảo ", mà lại chú tâm chăm lo quá độ đối với những đứa kia, " bọn thu thuế và quân tội lỗi " . Theo họ, đáng lý ra phải khen thưởng và trọng đãi những đứa con hiếu thảo và bỏ mặc kệ những kẻ sống lăn loàn, hoang phí, trắc nết, lưu manh: - " Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, vậy mà chưa bao giờ cha lấy được một con dê để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng " ( Lc 15, 29-30). Bởi đó anh con cả cam thấy mình bị tổn thương vì thái độ quá nhân từ rộng lượng của người cha đối với đứa em lầm lỗi. Người con cả " hiếu thảo tốt lành " như vừa kể, cả anh ta cũng như đứa em thác loạn lăng loàn, đã đánh mất đi phẩm giá đứa con của mình trong gia đình. Trong gia đình, người con không phải là kẻ làm công cho ông chủ, khép nép, e dè, sợ sệt: - " ...con hầu hạ cha và chẳng bao giờ trái lệnh ". Đó không phải là kẻ sống trong tình cảm cha con. Bởi đó người cha nhắc cho anh ta nhớ: - " Nầy con, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con " ( Lc 15, 31). Thật là kỳ hoặc, chính lòng thương hãi hà của cha lại làm cho anh ta cảm thấy cay đắng, khó chịu và ganh tỵ. Trong khuôn mặt đó của người con trưởng nam, Chúa Giêsu phát họa lên người Pharisêu ở mọi thời đại, tự phụ cho mình là " chưa hề lỗi phạm một điều răn nào ", chớ không biết hưởng thụ niềm hạnh phúc của mình được ở với cha: - " Con à, lúc nào con cũng ở với cha..." ( id.). Và rồi cùng chung với phẩm giá người con trong gia đình, người con cả cũng đánh mất đi tình anh em với em mình: - " Còn thằng con đó của cha..." ( Lc 15, 30). Tĩnh từ " thằng con đó " ( Hy Lạp, hu^tos, ton fils que voilà, La Sainte Bible, L'École biblique de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 1376) cho thấy là cách nói khinh thị của người con trưởng nam đối với em. Trước thái độ hằng học bất mãn đó của anh ta, người cha nhắc nhỡ lại cho anh ta ý thức tình anh em, bằng cách đánh động anh với từ ngữ " em của con ": - " ...vì em con đây đã chết, mà nay lại sống " ( lc 15, 32). 3 - Dụ ngôn và chúng ta. Dụ ngôn " người cha nhân lành " ( đề tựa hiện nay ) hay " đứa con trai hoang đàng " ( như thường thấy trong các bản dịch quá khứ) là dụ ngôn trọng đại có âm hưởng cả thế giới và đã để lại dấu chứng trên thần học, văn hoá và nghệ thuật khắp nơi. Đối với tất cả, các đứa con trai trẻ, các đứa con trưởng nam, các người pharisêu, " bọn thu thuế và quân tội lỗi " ở mọi thời đại, Chúa Giêsu cho biết: tình yêu của Thiên Chúa thật bao la đối với tất cả mọi đứa con, nhứt là những đứa con hư mất và cả đối với những kẻ lạnh lẻo, ích kỷ, vô ân và tự mãn là mình chắc chắn về đời sống tương lai của mình. Bài dụ ngôn đuợc kết thúc một cách thình lình, bất ngờ. Người con cả không được cho biết là anh ta có quyết định thay đổi thái độ ganh tỵ, thù địch với em và cùng vào chung vui dự tiệc vui mừng tiếp đón đứa em trở về hay không, mặc cho những lời giải thích và thái độ yêu thương của người cha. Anh ta sẽ quyết định như thế nào? Kết quả của cả bối cảnh được diễn tả là cuộc kết quả mở ngõ, tùy theo quyết định của anh ta. Dụ ngôn " người cha nhân hậu ", Chúa Giêsu cũng đã nói với chúng ta, chúng ta có vào tham dự tiệc Nước Chúa để ăn mừng, liên kết tình huynh đệ với anh em và đón nhận tình yêu thương vô hạn của Chúa dành cho mọi người con của Người hay không, điều đó còn tùy thuộc vào quyết định và trách nhiệm của mỗi người chúng ta.

 

Công Đồng Vatican II thu nhận các kiến thức về xã hội từ những Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội trước đó, từ Rerum Novarum ( 1881) cho đến 1965, cũng như từ những khám phá mới về tín lý và luân lý của các nhà thần học. Từ đó đến nay, sau trên 40 năm Công Đồng đã kết thúc, Giáo Hội Công Giáo không ngừng đưa ra những Huấn Dụ Xã Hội mới để hướng dẫn chúng ta, đang sống trong các biến chuyển của thời đại, từ cuộc sụp đổ ý thức hệ Cộng Sản năm 1991 đến các tư tưởng hưởng thụ vật chất hiện hành, qua các Thông Điệp - Populorum progressio ( 1967), - Octogesima adveniens ( 1971), - Redemptor hominis ( 1979), - Laborem exercens ( 1981), - Sollecitudo rei socialis ( 1987), - Centesimus annus ( 1991), - Evangelium vitae ( 1995),... - Deus caritas est ( 2005). Dĩ nhiên các Thông Điệp vừ kể không phải chỉ là những Huấn Dụ Xã Hội, bởi lẽ ngoài những lời khuyên dạy về lãnh vực xã hội, các Thông Điệp còn chứa đựng các nội dung tín lý và mục vụ, mà Giáo Hội thấy cần huấn dạy cho con cái mình trong thời gian liên hệ. Hy vọng chúng ta sẽ có dịp trở lại để tìm hiểu qua ý nghĩa của những Huấn Dụ Xã Hội, liên quan đến thời điểm của những biến cố vừa kể, trong những lần khác. Trong nội dung của bài nầy, chúng tôi muốn được đề cập đến ý nghĩa của những huấn dạy về lãnh vực xã hội của Giáo Hội, liên quan trực tiếp đến những vấn đề mà chúng ta đang trực diện hàng ngày trong cuộc sống hiện tại, qua ba đề tựa: - Phúc Âm của đời sống, - Phúc Âm của việc làm - và Phúc Âm của bác ái. 1 - Phúc Âm của đời sống. Đặc tính trước tiên chúng ta đề cập, mà Giáo Hội muốn gởi đến chúng ta theo tinh thần Công Đồng Vatican II và những suy tư kế tiếp về vấn đề xã hội, đó là đặc tính Phúc Âm của đời sống. Một trong những khía cạnh khủng hoảng xã hội hiện nay, là không coi đời sống con người có một giá trị tuyệt đối. Đời sống con người chỉ có giá trị tương đối đối với những giá trị khác, đó là quan niệm đang bành trướng trong xã hội hiện đại chúng ta. Đời sống con người, theo quan niệm đang phổ biến và lưu hành trong xã hội hiện tại, có thể so sánh với các giá trị và các lợi thú quan trọng khác như khoái lạc, sức khoẻ, sống tiện nghi, lợi nhuận kinh tế, khảo cứu khám phá và tiến bộ khoa học. Từ đó, tùy trường hợp, đời sống có thể được coi là thứ yếu so với những giá trị vừa kể: dùng bào thai đựng trong ống để thí nghiệm, rồi sau đó liệng bỏ vào thùng rác chẳng hạn. Giáo Hội không thể thờ ơ trước trào lưu quan niệm như vừa kể. Đó là những gì Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II gì xác quyết trong Thông Điệp đầu tiên của ngài, Thông Điệp Redemptor Hominis ( 1979): - " Giáo Hội không thể bỏ rơi con người. Bởi vì con người là con đường trước tiên mà Giáo Hội phải bước đi trong việc chu toàn sứ mạng của mình: con người là con đường thứ nhứt và căn bản của Giáo Hội" ( Gioan Phaolồ II, Redemptor hominis ( 04.03.1979), n. 14. in EV VI/1209). Bởi đó bổn phận đầu tiên của Huấn Dụ Xã Hội hôm nay là bênh vực quyền tối thượng của con người. Mạng sống con người không thể trở thành một giá trị hạng thứ. Với nguyên tắc vừa kể, bổn phận của Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội là đào tạo một lương tâm mới, gắng sức không ngừng để kiến trúc một quan niệm đồng thuận phổ quát, đối với mọi người, về đời sống con người, được coi như là giá trị luân lý tuyệt đối. Trong thời đại chúng ta, Giáo Hội không ngừng nhấn mạnh đến quyền được sống, như là nguyên lý và nền tảng của mọi giá trị khác. Bảo đảm cho quyền tự do lương tâm, tự do ngôn luận, tự do lập hội và gia nhập hội, tự do hội họp, tự do giáo dục, tự do làm việc, tự do sáng kiến kinh tế..., nếu chúng ta chối bỏ đi giá trị tuyệt đối của quyền được sống, tất cả những quyền được bảo đảm vừa kể có lợi ích gì? Vấn đề thực tế là hiện nay con người đã mất đi ý nghĩa về Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa, Đấng Tuyệt Đối, là nền tảng tuyệt đối của con người, nhân phẩm, tự do và các quyền của con người. Lịch sử đã từng chứng minh thừa thãi cho thấy rằng ý nghĩa về Thiên Chúa và ý nghĩa về con người, hoặc là có thể chung nhau đứng vững, hoặc có thể chung nhau băng hoại sụp đổ: - " Khi Thiên Chúa không còn có ý nghĩa gì nữa, thì ý nghĩa về con người cũng bị đe dọa và bị ô nhiểm" ( Gioan Phaolồ II, Evangelium vitae ( 25.03.1995), n. 22, in EV XIV/2234). Như vậy là chúng ta đang bị rơi vào trong - " một vòng lẩn quẩn: mất đi ý nghĩa về Thiên Chúa, con người cũng có khuynh hướng mất đi ý nghĩa về con người, về phẩm giá và về đời sống của mình; và kế đến là việc vi phạm có hệ thống luật lệ luân lý ( ...), tạo ra tình trạng dần dần lu mời đi khả năng nhận biết được sự hiện diện ban sự sống và cứu rổi của Thiên Chúa" ( Gioan Phaolồ II, Evangelium vitae, n. 21, id. XIV/2231). Hậu quả là đời sống mất đi ý nghĩa và con người bị đánh lạc hướng để chuẩn định được phẩm chất làm cho cuộc sống thực sự xứng đáng với " cuộc sống con người". Và như vậy, chúng ta bị rơi vào quan niệm vật chất thực dụng đê tiện hoá: - " Các giá trị của đời sống được thay thế bằng các giá trị của cải, giàu có. Mục đích duy nhứt quan trọng chỉ còn là đạt được cuộc sống sung sướng vật chất của chính mình. Điều mà được coi là " phẩm chất của cuộc sống ", sẽ được giải thích nhứt là, hay hoàn toàn là, hiệu năng kinh tế, tiêu thụ hỗn loạn, sắc đẹp và việc hưởng thụ đời sống thể xác, trong khi quên đi những chiều hướng sâu đậm hơn của cuộc sống, như giao tiếp thân hữu, thiêng liêng và tôn giáo" ( Gioan Phaolồ II, id., n. 23, XIV/2239). Đó là tình trạng nghịch lý mà thế giới hiện tại của chúng ta đang gặp phải: - " Một đàng, nhiểu bản tuyên bố nhân quyền ( ...), được xác nhận trên cả tầm vóc thế giới nói lên một cảm nhận luân lý chú trọng hơn việc nhận biết giá trị và phẩm giá con người, xứng đáng với con người được nhìn nhận, không phân biệt chủng tộc, quốc gia, tôn giáo, chính kiến, giai cấp xã hội. Nhưng đàng khác, chống lại các tuyên ngôn cao qúy nầy, rất tiếc , trên thực tế, đó là việc chối bỏ chính những giá trị đó. Như vậy, từ xã hội của những con người chung sống nhau, các xã hội của chúng ta có cơ nguy trở thành là những xã hội của những kẻ bị loại trừ" ( Gioan Phaolồ II, id., n. 18, XIV/2222). Đứng trước cuộc khủng hoảng về ý nghĩa và phẩm chất của đời sống con người, Giáo Hội qua Huấn Dụ Xã Hội của mình muốn trả lời như là ngôn sứ của Chúa. Giáo Hội muốn nhắc mọi người rằng con người được kêu gọi để có được một cuộc sống viên mãn, vượt lên trên các giá trị trần thế, kinh tế và xã hội, để mở rộng con người mình ra , tham dự vào chính đời sống của Thiên Chúa. Giáo Hội không có gì hoảng hốt phải từ chối, tỏ ra mình đi ngược dòng khuynh hướng thời trang của thế giới hiện đại, bởi lẽ Giáo Hội biết rằng - " Phúc Âm mà Chúa giao phó cho Giáo Hội là Phúc Âm của đời sống, có tiếng vọng sâu thẩm và thuyết phục trong tâm hồn của mỗi người, người có đức tin hay không cũng vậy. Tiếng vọng đó vượt lên muôn lần trên ước vọng của con người, và đáp ứng lại các ước vọng đó một cách bất ngờ. Mặc cho bao nhiêu khó khăn và bao nhiêu mối nghi ngờ, mỗi con người thành thực cởi mở đón nhân chân lý và điều thiện, với ánh sáng của lý trí và không phải không có ảnh hưởng bí ẩn của ân sủng, đều có thể nhận ra được trong lề luật tự nhiên, được ghi khắc trong tâm hồn mình, giá trị thiêng thánh của đời sống con người từ lúc khởi đầu cho đến thời điểm cuối cùng. Và điều đó cũng làm cho con người có thể xác nhận quyền của mỗi người được kính trọng đối tài sản tiên khởi đó của mình. Chính trên sự nhận biết quyền sống đó mà cuộc chung sống nhân loại và cộng đồng chính trị được xây dựng" ( Gioan Phaolồ II, id., n. 2, XIV/2170). Điều vừa kể cho thấy tại sao trong các thập niên cuối cùng nầy, các Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội rất nhấn mạnh đến gia đình, đến việc cần khởi sự giải quyết cơn khủng hoảng giá trị của đời sống, bằng cách giải quyết cuộc khủng hoảng gia đình: - " Cần phải trở lại nhìn gia đình như là thánh địện của đời sống. Thật vậy, gia đình là thiên thánh: là nơi trong đó đời sống, được Chúa ban cho, có thể được đón nhận một cách thoả đáng và bảo vệ chống lại nhiều cuộc tấn công mà cuộc sống gặp phải, và nơi mà đời sống có thể phát triển theo những đòi hỏi mà cuộc phát triển chính đáng của con người đòi buộc. Chống lại với cái gọi là văn hoá của sự chết, gia đình là tâm điểm của nền văn hoá sự sống" ( Gioan Phaolồ II, Centesimus annus ( 01.05.1991), n. 39, in EV XIII/199). Tổng lược Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ( Compendio della Dottrina Sociale della Chiesa) n. 231. Phúc Âm của đời sống. Gia đình được đặt trên nền tảng hôn nhân thực sự là thánh điện của đời sống , " là nơi mà đời sống được Chúa ban cho, được đón nhận một cách xứng đáng và được bảo bọc chống lại mọi hăm dọa mà đời sống gặp phải, và được phát triển để đáp ứng lại các đòi hỏi của một cuộc phát triển chính đáng của con người " ( Gioan Phaolồ II, Centesimus annus ( 1991), n. 39). Vai trò của gia đình là vai trò quyết định và không thể thay thế được, để thăng tiến và kiến tạo nền văn hoá bảo vệ đời sống chống lại sự lan tràn của tư tưởng phá hoại " chống văn minh" như chủ trương hiện nay của nhiều khuynh hướng và hoàn cảnh hiện tại " ( Gioan Phaolồ II, Lettera alle famiglie, Gratissimum sane ( 1994), n. 13). Các gia đình Ki Tô hữu, với sức mạnh của Bí Tích nhận được, có sứ mệnh đặc thù làm nhân chứng và rao giảng Phúc Âm của đời sống. Đó là một trọng trách mà gia đình Ki Tô hữu đảm nhận, trong xã hội, giá trị đích thực và lòng can đảm ngôn sứ. Vì lý do đó mà - " phục vụ Phúc Âm của đời sống, các gia đình, nhứt là các gia đình gia nhập chung thành hiệp hội, phải hành xử thế nào để luật pháp và cơ chế Quốc Gia không làm phương hại, bằng bất cứ phương thức nào, đến đời sống, từ lúc được thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên, trái lại luật pháp và cơ chế Quốc Gia phải bảo vệ và phát huy đời sống" ( Gioan Phaolồ II, id.). 2 - Phúc Âm của việc làm. Giáo Hội nhận biết vai trò chính đáng của lợi tức, như là dấu chỉ của tiến trình tốt đẹp một cơ sở kinh tế. Nhưng lợi tức không phải là dấu chỉ duy nhứt , động năng chính yếu của phát triển và tiến trình sản xuất, - " nếu các chỉ số kinh tế nằm trong trật tự, nhưng cùng chung với con người, là tài nguyên qúy giá của cơ sở lại bị đê tiện hóa và bị xúc phạm trong phẩm giá của mình" ( Gioan Phaolồ II, Centesimus annus ( 01.05.1991), n.35, in EV XIII / 187). Huấn Dụ Xã Hội gần đây của Giáo Hội phát hiện ra lý do của những mối tương phản trái nghịch trong kinh tế tư bản, nhứt là " tư bản tự do cực đoan ". Đó là việc làm của con người cũng như giá trị đời sống con người, đã bị mất đi ý nghĩa đích thực của nó. Ở đây cũng vậy, chúng ta đang đứng trước cơn khủng hoảng về phẩm chất, về ý nghĩa, được thể hiện dưới hình thức đổ vỡ và đối nghịch - giữa con người và động tác kiến tạo của con người, - giữa việc làm và của cải tư bản, - giữa người công nhân và phẩm chất của cuộc sống cho anh ta. Đứng trước cơn khủng hoản về phẩm chất, thể hiện qua những đối ngược vừa kể, Giáo Hội xác tín rằng mình có thể đưa ra cho con người và xã hội con người giải pháp thoả đáng, bằng cách loan báo Phúc Âm của việc làm: - " Nếu giải pháp, hay đúng hơn là giải pháp thăng tiến tuần tự vấn đề xã hội, bị luôn luôn đứng trước tình trạng càng ngày càng phức tạp hơn, chúng ta phải tìm ra phương thức trong chiều hướng làm cho " đời sống con người xứng đáng với con người hơn", và như vậy chìa khóa của vấn đề là việc làm của con người có một tầm quan trọng nền tảng quyết định" ( Gioan Phaolồ II, Laborem exercens ( 14.09.1981), n. 3, in EV VII/ 1398). Bởi đó, tiếp tục bước đi trên con đường về con người đã được bắt đầu từ khởi điểm triều đại Giáo Hoàng của ngài, Đức Gioan Pholồ II nhắc nhở rằng cần lưu tâm đến việc làm như là yếu tố căn bản của cuộc sống con người, chính trong lúc cuộc cách mạng kỷ thuật đang thay đổi sâu đậm chu kỳ sản xuất và ngay cả trong những mối tương quan giữa con người và việc làm. Giáo Hội ý thức rằng hôm nay chúng ta đang đứng trước - " ngày áp của những phát triển mới trong các hoàn cảnh kỷ thuật, kinh tế và chính trị, mà theo nhiều người có kinh nghiệm, là những phát triển sẽ có ảnh hưởng đến thế giới việc làm và sản xuất, không có gì kém hơn những ảnh hưởng cuộc cách mạng kỷ nghệ thế kỷ vừa qua đã tạo ra" ( id., n. 2, in EV VII/ 1393). Như vậy ý nghĩa đích thực việc làm của con người, nội dung căn bản Phúc Âm của việc làm, được gói trọn trong nguyên tắc sâu đây: - " Nền tảng để xác định giá trị việc làm của con người trước tiên không phải hệ tại ở thứ loại việc làm được thực hiện, nhưng hệ tại ở chỗ kẻ đứng ra thực hiện việc làm là một con người . Các nguồn gốc của phẩm giá việc làm phải được khám phá ra trước tiên không phải trong chiều hướng vật thể, mà trong chiều hương chủ thể. Nói tắt một lời: việc làm được thực hiện cho con người, chớ không phải con người được nhằm để làm việc" ( id., n.6, , in EV VII/1414). Hiểu như vậy, chúng ta cần thấy phải thoát ra khỏi nhãn quang thuần kinh tế, nhứt là kinh tế tự do cực đoan, và nhận biết rằng chủ thể đích thực của tiến trình sản xuất chính là con người. Nói như vậy, có nghĩa là việc làm sẽ có được ý nghĩa đích thực và địa vị cao cả của mình. khi chúng ta đặc tâm chú ý đến ba phương diện căn bản của việc làm. a) Trước hết, việc làm phải được xem là động tác của một con người: - " Với tư cách là con người, con người là chủ thể tác động của việc làm. Như con người, anh ta làm việc, thực hiện nhiều động tác trong tiến trình làm việc; các động tác đó, không tùy thuộc vào nội dung khách quan, tất cả đều được dùng để thể hiện nhân tính của anh" ( id.). b) Kế đến cần lưu ý rằng, việc làm của con người là một động tác sáng tạo, - " Việc làm của con người là nguyên nhân hiệu lực tiên khởi; trong khi đó thì vốn liếng, cùng chung với những phương tiện sản xuất khác, chỉ là dụng cụ. Vốn liếng được tạo ra do việc làm và mang nơi mình ấn tín của việc làm con người " ( id., n. 12, in EV VII/1439). Địa vị thượng đẳng của sự cực nhọc con người trên vốn liếng và trên cả tiến trình sản xuất được nhấn mạnh trong Phúc Âm của việc làm, sau khi được nhận thức rằng - " qua việc làm, con người tham dự vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa " ( id., n. 25, in EV VII/1499). Không những vậy, Phúc Âm của việc làm còn cho chúng ta biết mồ hôi và nhọc mệt, là bạn đồng hành không thể chia tách của mọi động tác con người, thay vì làm cho trở nên xấu xí hơn, làm con người trở thành người cộng tác với Chúa Ki Tô - là " Con Người làm việc" tuyệt hảo ( id., n. 26, in EV VII/ 1504-1510). c) Và sau cùng, việc làm tự bản tính nội tại của nó, là một động tác liên đới , liên đới với các bạn bè công nhân làm việc khác, hay liên đới, có liên hệ đến, người khác cũng vậy. Và như vậy đăc tính liên đới của việc làm con người, không phải liên đới, dưới hình thức tiêu cực, để chống lại ai, mà là liên đới , bởi chính bản tính của việc làm, liên đới để xây dựng: - " Thật vậy, biện giải thế nào một cuộc liên đới lại trở thành cuộc chống đối không thể nhân nhượng chống lại người khác? ( ...) Tình liên đới có nguồn gốc và sức mạnh của mình trong bản tính việc làm của con người, và như vậy trong quyền thượng đẳng của con người trên mọi vật thể, sẽ biết tạo ra những phương thức để đối thoại và cộng tác" ( Gioan Paolo II, Discorso alla 68° sessione della Conferenza internazionale del lavoro ( Ginevra, 15.06.1982, in Osservatore Romano ,16.06.1982). Như vậy sau khi đã tìm ra trong việc làm là chià khóa chính yếu của vấn đề xã hội, Giáo Hội chứng minh rằng, dưới ánh sáng Phúc Âm của việc làm, hiện nay chúng ta có thể trả lại cho việc làm con người ý nghĩa đích thực của nó và đặt lên trên nền tảng việc làm một tình liên đới mới, mở rộng cửa để gặp gỡ bất cứ ai thành tâm thiện chí. Tổng lược Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội ( Compendio della Dottrina Sociale della Chiesa) n. 269. Phúc Âm của việc làm. Khởi từ Rerum Novarum, Giáo Hội không bao giờ ngưng cho rằng các vấn đề làm việc hàm chứa trong nội dung của vấn đề xã hội, dần dần đang lan rộng ra đến tầm vóc thế giới. Thông Điệp Laborem exercens làm cho trở nên phong phú hơn nhãn quang nhân vị của việc làm, đặc tính của các tài liệu về xã hội trước đó, chỉ dạy cho chúng ta cần tìm hiểu sâu xa hơn các ý nghĩa và phân vụ mà việc làm có thể đưa đến, nên lưu tâm đến thực tại là - " luôn luôn nảy sinh ra những câu hỏi và những vấn đề, luôn luôn nảy sinh ra những hy vọng, nhưng cũng có những mối lo sợ và doạ nạt liên quan đến chiều hướng căn bản về sự hiện hữu của con người, chiều hướng mà theo đó đời sống con người được xây dựng mỗi ngày. Và từ chiều hướng đó mà con người múc lấy được chính phẩm giá cá biệt của mình, nhưng đồng thời cũng chinh trong các chiều hướng đó luôn luôn được chứa đựng tầm mức mệt nhọc của con người, sự đau khổ và cả thiệt hại lẫn bất công có thể thâm nhập sâu đậm vào đời sống xã hội, vào nội địa của từng Quốc Gia và ảnh hưởng trên bình diện quốc tế" ( Gioan Phaolồ II, Laborem exercens, n. 1). Thật vậy, việc làm là " chìa khóa chính yếu "( id., n.3) của cả vấn đề xã hội, ảnh hưởng đến phát triển không những kinh tế, mà cả đến văn hoá và luân lý của mỗi con người, đến gia đình, xã hội và cả dòng giống nhân loại. 3 - Phúc Âm của bác ái. Bác ái được xem như chất xi măng hàn gắn mà người tín hữu Chúa Ki Tô đươc đặt vào lòng xã hội để xây dựng xã hội con người. - " ...lòng bác ái thì xây dựng" ( 1 Cor 8, 1). Và Công Đồng Vatican II giải thích thêm: _ " Lời Chúa mạc khải Chúa là bác ái và dạy chúng ta bác ái cũng là lề luật căn bản của sự thiện hảo con người, và bởi đó bác ái cũng là lề luật nền tảng để thay đổi thế giới, đó là điều răn mới của đức bác ái. Bởi vậy ai tin vào lòng bác ái của Thiên Chúa, được chính Người bảo chứng chắc chắn cho rằng bác ái là con đường được mở ra cho tất cả mọi người và chắc chắn rằng các cố gắng để thực thi tình huynh đệ phổ quát cho tất cả mọi người không phải là những nỗ lực vô ích" ( Gaudium et Spes, n. 38, in EV i/1437). Đức bác ái Ki Tô giáo vượt xa hơn những gì chỉ là lòng nhân ái thuần túy. Bởi lẽ đức bác ái Ki Tô giáo không chỉ gồm tóm đạo luật vàng nền tảng trong tinh thần Cựu Ước: - " Tất cả những gì anh em muốn cho người khác làm cho anh em, anh em cũng hãy làm cho họ" ( Mt 7, 12). và cũng vượt lên trên đạo luật cổ: - " Hãy thương yêu người thân cận như chính mình" ( Mt 22, 39). Nhưng bác ái xác nhận rõ bản tính " mới " và thượng đẳng của Ki Tô giáo: - " Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Jn 15, 12), Đức bác ái Ki Tô giáo được thể hiện bằng chính tình thương siêu nhiên của Chúa, đang hiện diện trong chúng ta. Như vậy chứng nhân đức bác ái Ki Tô giáo là làm cho người khác nhận thấy được Thiên Chúa là Đấng vô hình: - " Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo" ( 1 Jn 4, 12). Lời dạy bảo Phúc Âm, đã được chứng thực từ hai ngàn năm lịch sử, nói lên tầm quan trọng, nhứt là trong thời đại khủng hoảng sâu đậm chúng ta đang trải qua, tầm quan trọng mà Giáo Hội đặt liền với nhân chứng Phúc Âm, làm cho lời rao giảng Ki Tô giáo đáng tin cậy, - " Đức bác ái là trung tâm điểm của Phúc Âm và nói lên dấu chỉ trọng đại khiến cho người khác có thể tin vào Phúc Âm" ( CEI, Evangelizzazione e testimonianza della carità, n. 9, in ECEI IV/2727), cũng như là dấu chỉ để xây dựng một xã hội đúng với tầm mức con người. Bởi đó Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II, trong khi " nêu lên những chủ đề và các định hướng, lấy từ các huấn dụ của Giáo Hội trong những năm gần đây " trong Huấn dụ Xã Hội của ngài, Sollecitudo rei socialis, ngài đã trích dẫn: - " việc chọn lựa ưu tiên hay tình thương dành ưu tiên cho người nghèo khổ, mong sẽ được trải rộng ra có tầm vóc thế giới và được vấn đề xã hội lưu ý đến tình thương dành ưu tiên nầy, do những quyết định mà lãnh vực xã hội làm cho chúng ta suy nghĩ đến. Vấn đề xã hội không thể không bao gồm những đoàn thể đông đảo vô tận những người đang đói khát, các giới ăn xin, những kẻ không nơi nương tựa, bao nhiêu kẻ không được bảo trở sức khoẻ và nhứt là không có hy vọng gì có được một tương lai khá hơn ( ...). Cuộc sống hằng ngày của chúng ta phải được đánh dấu bằng những thực trạng đó, cũng như những quyết định của chúng ta trong lãnh vực chính trị và kinh tế" ( Gioan Phaolồ II, Sollecitudo rei socialis ( 30.12.1987), n. 42 in EV X/2673s). Dành lựa chọn ưu tiên cho những kẻ khó nghèo là mở cửa cho chủ đề giải thoát con người của Ki Tô giáo: - giải thoát người nghèo khỏi mọi hình thức nô lệ, - nhứt là khỏi những hình thức " nghèo khổ mới " của con người và khỏi các " cơ cấu trúc của tội lỗi ", nghĩa là khỏi những tình trạng của các cơ chế bất công, trong đó những gì nặng nhọc đều rơi xuống trên những kẻ yếu thế. Rao giảng Phúc Âm của bác ái là tranh đấu để giải phóng những kẻ khó nghèo, những người bị áp bức và tất cả những kẻ bị loại ra bên ngoài. Bởi vì bác ái, khi nào là bác ái đích thực và chính đáng, không thể không hàm chứa việc kính trọng và phát huy công lý. Có ý nghĩa gì, nếu một người hiến tặng miễn phí cho kẻ khác tình liên đới của mình, nhưng đồng thời lại khước từ những gì thuộc quyền hạn và lợi thú chính đáng của anh ta? Tranh đấu cho công lý đã là tình thương. chính Đức Phaolồ VI đã định nghĩa việc dấn thân chuyên cần bênh vực cho công lý như là - " mức độ tối thiểu của đức bác ái" ( Paolo VI, Discorso ai campesinos ( Bogotá, 23.08.1968), in Osservatore Romano ( 25.08.1968), 3). Với những gì Đức Paolo VI vừa phát biểu, Đức Gioan Phaolồ II nối tiếp: - " sự công bằng tự mình thôi, chưa đủ, hay đúng hơn có thể đưa đến việc chối bỏ và tiêu diệt chính nó, nếu công bằng không để cho sức mạnh nội tại sâu thẩm hơn của mình, đó chính là tình yêu, có cơ cấu tạo đời sống con người trong các chiều hướng khác nhau của nó" ( Gioan Phaolồ II, Dives in misericordia ( 30.11.1980), n. 12. in EV VII/926). Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ II giải thích sự cần thiết nầy của đức bác ái, để làm cho công lý được trở nên trọn vẹn: - " Bình đẳng được công lý cho hội nhập chỉ giới hạn trong lãnh vực các của cải khách quan ( beni oggettivi) và phiến diện bên ngoài; trong khi tình thương và lòng nhân hậu làm cho các con người gặp được nhau trong giá trị là chính con người, với nhân phẩm của chính mình" ( id., n. 14, in EV VII/941). Như vậy với sứ mạng loan truyền Phúc Âm của bác ái, Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội chỉ cho thấy sự tổng hợp cần thiết giữa công lý và bác ái liên đới, phương tiện quyết định để kiến tạo một xã hội xứng với tầm vóc con người. Góp công quyết định cho chiều hương vừa kể được Đức Thánh Cha Benedictus XVI nói lên trong Thông Điệp đầu tiên của ngài, Thông Điệp Deus caritas est: - " Lời xác nhận cho rằng các cấu trúc đúng đắn có thể làm cho các động tác bác ái trở nên dư thừa, trên thực tế ẩn giấu bên dưới một quan niệm vật chất về con người: đó là tiền kiến, theo đó thì con người "chỉ cần có bánh để sống" ( Mt 4, 4; cfr. Dt 8,3). Đó là xác tín đê tiện hoá con người và không nhận ra những gì thuộc về chính con người" ( Benedictus XVI, Deus caritas est ( 25.12.2005), n. 28). Tổng lược Huần Dụ Xã Hội của Giáo Hội ( Compendio della Dottrina Sociale della Chiesa) n. 4 -6 : Phúc Âm của bác ái. Bất ngờ biết được Thiên Chúa yêu thương, con người hiểu được phẩm giá siêu nhiên của mình, biết được mình không còn chỉ có thể thoả mãn về chính mình và như vậy cần gặp được người khác trong mối liên hệ luôn luôn nhân bản hơn. Con người được Thiên Chúa canh tân bằng tình thương yêu của Người, có khả năng thay đổi luật lệ và phẩm chất của các mối liên hệ và cả các cấu trúc xã hội: họ là những con người - có khả năng đem lại hoà bình đến nơi đâu có chống đối tranh chấp, - xây dựng và vun trồng các mối tương quan huynh đệ ở đâu có hận thù, - tìm kiếm công lý ở đâu có phương thức cai trị làm cho con người lợi dụng con người. Chỉ có tình yêu thương có khả năng biến đổi tận gốc rể các mối tương quan giữa nhân loại giao hảo với nhau. Hội nhập vào viễn ảnh đó, mỗi người thành tâm thiện chí có thể bắt đầu nhận thấy được các chân trời rộng mở của công lý và phát triển con người trong chân lý và thiện hảo. Tình thương có trước mặt mình một công trình rộng lớn phải làm, mà Giáo Hội muốn góp phần vào đó bằng cả Huấn Dụ Xã Hội của mình, liên quan đến con người toàn diện và đến tất cả mọi người. Bao nhiêu anh em đang cần được sự giúp đở, bao nhiêu người đang bị đàn áp đang cần công lý, bao nhiêu người thất nghiệp đang cần việc làm, bao nhiêu dân tộc đang chờ đợi được sự kính trọng: - " Trong thời đại chúng ta, làm sao còn có thể có những người đang bị chết đói? Còn có những kẻ bị kết án phải gánh chịu nạn mù chữ? Còn có những người đang chịu thiếu thốn ngay cả những việc chăm sóc y tế sơ đẳng? Còn có những người không có được một căn nhà để nương tựa? Cảnh tượng nghèo đói có thể lang rộng đến vô tận, nếu chúng ta thêm vào những cảnh nghèo nàn cũ cả những hoàn cảnh mới, liên quan cả đến các môi trường và những hạng người không phải thiếu thốn tài nguyên kinh tế, nhưng đang lâm vào tình trang thất vọng vô ý nghĩa, vào tình trạng nguy hiểm của nha phiến, vào hoàn cảnh bị bỏ rơi trong tuổi già nua hay bệnh tật, vào trạng thái bị loại ra bên lề hay bị đối đải thiên vị...Và rồi làm sao ai có thể dững dưng trước viễn ảnh môi trường bị hư hại, làm cho con người không thể sống được hay trở thành đối nghịch với con người trên cả những vùng rộng lớn trên địa cầu? Hay đối với những vấn đề hoà bình, thường bị ác mộng của những trận chiến tranh thảm khóc hăm doạ? Hay trước vấn đề vi phạm các quyền căn bản của con người đang xảy ra đối với bao nhiêu người, nhứt là đối với trẻ em?" ( Gioan Phaolồ II, Lettera Apostolica Novo millenio ineunte ( 2001), n. 50s). Tình thương Ki Tô giáo thúc đẩy chúng ta tố cáo, đề nghị và dấn thân chăm lo đến những đồ án văn hoá và xã hội, đến các động tác thực hiện, đến việc thúc đẩy tất cả những ai thành thật lưu tâm đối với số phận con người, để họ cũng tham gia cộng tác bằng chính phận vụ của họ. Cả nhân loại càng ngày càng ý thức rõ ràng hơn rằng - mình liên hệ vào cùng chung một số phận, - đòi buộc phải có thái độ cùng đảm nhận trách nhiệm, - được định hướng bằng quan niệm về con người toàn diện và liên đới ( uomo integrale e solidale). Cả nhân loại thấy được rằng viễn ảnh đồng số phận đó thường xuyên bị ảnh hưởng hay thậm chí bị áp đặt bởi kỷ thuật và kinh tế và cần có được một ý thức rộng lớn hơn về luân lý, định hướng cho hướng đi chung. Ngạc nhiên trước những khám phá mới về kỹ thuật, con người của thời đại chúng ta rất mong ước rằng tiến bộ sẽ được dùng vào mục đích tốt đẹp thực sự cho nhân loại hôm nay và ngày mai. Nói tóm lại, từ Công Đồng Vatican II Giáo Hội Công Giáo muốn nhắn với tất cả chúng ta, người tín hữu Chúa Ki Tô cũng như những ai thành tâm thiện chí, rằng để xây dựng một cuộc sống xã hội tốt đẹp, trong đó con người có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá của mình, chúng ta cần phải lưu tâm và dấn thân để tạo ra đồ án định chế và tổ chức cơ chế thực hiện theo ba định hướng mà Giáo Hội đã nhắn gởi đến chúng ta: - Phúc Âm của đời sống, - Phúc Âm của việc làm và - Phúc Âm của bác ái.

 

Ai trong chúng ta cũng biết trong một Quốc Gia Dân Chủ, quyền lực Quốc Gia được ủy thác theo nguyên tắc phân quyền, Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp theo tinh thần “ Kiểm soát và Cân Bằng” ( Checks and Balances) Hiến Pháp Philadelphia 1787 của Hoa Kỳ. Và danh từ Lập Pháp được dùng để nói lên phận vụ của Quốc Hội. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là Quốc Hội cán đáng hết, từ đầu đến cuối tiến trình “ Lập Pháp ” ( làm ra luật) để cai quản Quốc Gia. Bởi lẽ, nếu một số đạo luật do chính các Ủy ban Quốc Hội đề xướng ra, thì nhiều dự án luật do chính Chính Quyền, đụng chạm với thực tế trong cuộc sống hằng ngày đề xướng ra, để giải quyết các vấn đề và chuyển giao cho Quốc Hội để biểu quyết. Ở nhiều Quốc Gia Dân Chủ và Tản Quyền, các Tiểu Bang thành viên, Cộng Đồng Địa Phương, các tổ chức xã hội trung gian cũng có quyền đề xướng dự thảo luật (Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức; điều 23; 71; 99; 121 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) Các dự án luật được nhiều thành phần đề xướng, soạn thảo, phải được chuyển đến Quốc Hội, được Quốc Hội duyệt xét và chấp thuận hay từ chối, sau đó các dự án luật mới trở thành luật và có hiệu luật áp dụng. Nói cách khác, nhiệm vụ “ Lập Pháp ” chính yếu của Quốc Hội là “chuẩn y hay bác bỏ ” luật pháp hơn là “ làm luật ”, soạn thảo, tạo ra luật. Phần đông chúng ta hiểu nhiệm vụ “ Lập Pháp ” của Quốc Hội ở lằn mức đó. Trong nhiều nước dân chủ, nhiệm vụ “ Lập Pháp ” của Quốc Hội đươc hiểu rộng rãi hơn những ý nghĩa hạn hẹp chúng ta vừa trình bày. Là cơ quan dân cử, được dân chúng tín nhiệm và giao phó cho đời sống Quốc Gia trong tay, nhiệm vụ của Quốc Hội là thay mặt dân chúng trong quyền hạn rộng rãi hơn, lãnh đạo Quốc Gia, và “ Lập Pháp ” chỉ là một trong những phương thức để lãnh đạo Quốc Gia. Vai trò lãnh đạo Quốc Gia của Quốc Hội gồm hai phương diện: - hướng dẫn chính hướng hay đường lối chính trị Quốc Gia, - kiểm soát định hướng đúng đắn và thực thi hiệu năng vào thực tế. Vai trò hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia hay “ xác định mục đích cần đạt được ” là vai trò thúc đẩy cho các cơ quan hiến định, Hành Pháp và cả Tư Pháp thực thi lý tưởng được Hiến Pháp đề ra, áp dụng vào thực tế. Nhiệm vụ đó Quốc Hội bắt đầu thực hiện ngay khi duyệt xét và đồng thuận chuẩn y đường lối chính trị Quốc Gia, được Chính Quyền đề ra và xin Quốc Hội chấp thuận bằng động tác bỏ phiếu tín nhiệm, khi Chính Quyền vừa được thành lập: - “ Chính Phủ phải được sự tín nhiệm của Lưỡng Viện Quốc Hội. Nội trong mười ngày sau khi được thành lập, Chính Phủ đến trình diện trước Lưỡng Viện Quốc Hội để được tín nhiệm ” (Điều 94, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Sau đó nhiệm vụ hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia, tín nhiệm Chính Phủ, đường lối chính trị của Chính Phủ, cho phép Chính Phủ bắt đầu hành xử quyền lực Quốc Gia, Quốc Hội có thể chu toàn nhứt là bằng cách soạn thảo các dự án luật, tự mình hay cùng chung với các cơ chế hiến định khác, Chính Quyền, Cộng Đồng Địa Phương, các tổ chức xã hội trung gian, như đã nói và nhứt là “ chuẩn y hay bác bỏ ” các dự án luật hợp hiến hay bất hợp hiến. Đường lối chính trị hay đường lối lãnh đạo Quốc Gia có thể là - đường lối ngoại giao và các mối tương quan quốc tế, - chương trình quốc phòng, - phương cách xử sự đối với các cuộc khủng hoảng quốc tế, - mối tương quan giữa các Tiểu Bang thành viên, Cộng Đồng Địa Phương với nhau và với trung ương, - các dự án kinh tế và ngân sách, - các lãnh vực tổ chức hành chánh về an ninh công cộng, xã hội, y tế, giáo dục…( De Vergottini G. Indirizzo politico della difesa e sistema costituzionale,Giuffré, Milano 1971, 240). Tiến trình soạn thảo và “ chuẩn y hay bác bỏ ” các dự án luật, chúng ta sẽ có dịp trở lại trong một bài viết khác. Với chủ đề của bài viết hôm nay, “ QUỐC HỘI ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO QUỐC GIA”, chúng ta muốn cùng nhau tìm hiểu - vai trò kiểm soát của Quốc Hội đối với những ai có trách nhiệm hành xử quyền lực Quốc Gia, đối với Hành Pháp và các cơ quan hành chánh quản trị của Hành Pháp, - hướng dẫn bằng luật pháp và kiểm soát sao cho các lý tưởng Hiến Pháp đề ra phải được thực hiện, hiệu năng, không lệch hướng và không hống hách lạm quyền, không thiên vị. Thể chế Dân Chủ - không phải chỉ là thể chế được định nghĩa “ quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân ”, - mà còn tùy thuộc ở việc “ người dân làm cách nào hành xử quyền lực của mình ” qua những người đại diện, mà không bị họ lạm dụng, dùng chính chủ quyền tối thượng của mình để áp đảo, đàn áp và cũng có thể bắt mình làm nô lệ cho họ. Nói cách khác, trong thể chế Dân Chủ, quyền tối thượng của người dân trao cho các người đại diện hành xử phải luôn luôn được kiểm soát. Và qua các kinh nghiệm ê chề đối với các bạo chúa của thể chế quân chủ trong quá khứ, cũng như những bộ mặt độc tài như Hitler và Mussolini, người dân Tây Âu chỉ ngủ yên giấc, nếu quyền bính quốc gia của họ giao phó cho Hành Pháp xử dụng vẫn còn được Quốc Hội, cơ chế dân cử do chính họ tín nhiệm tự do tuyển chọn, có thể kiểm soát được. Nói cách khác, quyền hành Quốc Gia vẫn còn nằm trong tằm tay của Quốc Hội. Người dân Tây Âu mới ngủ yên giấc, khi giao trọn quyền của tổ chức Quốc Gia vào tay Quốc Hội, sau những kinh nghiệm ê chề vừa kể. Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được tại sao hầu hết các Quốc Gia Tây Âu đều theo Đại Nghị Chế (Parlamentarisme), ngay cả các Quốc Gia còn có thể chế Quân Chủ như Anh Quốc, Bỉ, Hoà Lan, Na Uy, Thụy Điển…, là những Quốc Gia Quân Chủ Lập Hiến hay Quân Chủ Đại Nghị Chế, mà câu nói đặt điều kiện với vua trong việc trả thuế của dân chúng Anh là một câu nói tiêu biểu, “ No taxation, without reppresentation” ( Nếu Nhà Vua không cho người dân cử thêm người đại diện vào Hạ Viện ( House of Commons), dân chúng sẽ không đồng thuận trả thuế thêm cho vua). Quốc Hội kiểm chứng đường lối hành xử và hiệu năng thực thiện của Chính Quyền theo đường lối chính trị mà Chính Quyền đã trình nhiệm Quốc Hội ngày ra mắt để xin Quốc Hội tín nhiệm. Mục đích của những cuộc kiểm chứng là để Quốc Hội có thể phê bình, đặt điều kiện với Chính Quyền và có thể đi đến việc bất tín nhiệm, nếu Chính Quyền cứ bất chấp, hành xử lệch lạc vi hiến, không tôn trọng chính hướng và chương trình đã tuyên hứa hoặc không hiệu năng. Cũng có thể các cuộc kiểm chứng giúp cho Quốc Hội thấy rõ thực tại của các vấn đề hơn và có định hướng thích hợp hơn trong tương lai ( Galeotti S., voce Controllo parlamentare, Enc. di Diritto, X, Milano 1969, 322). Nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm soát, soạn thảo và chuẩn y luật pháp ( lập pháp) để thực hiện định hướng trong vai trò lãnh đạo Quốc gia của Quốc Hội ngầm chứa việc Quốc Hội phải có được những hiểu biết cần thiết, để quyết định. Để có được những hiểu biết cần thiết vừa kể, Quốc Hội có thể thực hiện bằng hai tiến trình: tìm hiểu và điều tra. I - Tìm hiểu. a) Trong tiến trình tìm hiểu, phương thức quan trọng đầu tiên là “ lắng nghe ” ( hearings), - được nội quy Hạ Viện Cộng Hoà Liên Bang Đức ( Bundestag) quy định ở điều 73, đoạn 3; - nội quy Hạ Viện Ý Quốc, ở điều 144 và Thượng Viện, điều 48. *Các Ủy Ban Quốc Hội lắng nghe các ý kiến và đón nhận những nguồn tin, ngay cả từ những người không thuộc về thành phần Quốc Hội, mà Ủy Ban cho là có thẩm quyền, những ngưòi đặc trách hành chánh và quản trị liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến các cơ quan Quốc Gia chẳng hạn. * Các Ủy Ban liên hệ của Quốc Hội có thể điều tra thêm để có tầm hiểu biết đầy đủ, tương tợ như những cuộc điều tra thực sự ( Predieri A., Per l’introduzione delle undienze legisltative nel parlamento italiano, in Il Potere, 1966, 1109). Để giúp cho công việc tìm hiểu của Quốc Hội được dễ dàng, nhiều Hiến Pháp tiền liệu với các điều khoản rằng Chính Quyền có bổn phận phải trình diện định kỳ trước Quốc Hội để tường trình kết quả mà chương trình quản trị của mình đã thực hiện được và để Quốc Hội có thể kiểm chứng: - * Ở các Quốc Gia với định chế phân quyền cứng rắn như trong Tổng Thống Chế Hoa Kỳ chẳng hạn, Tổng Thống mỗi năm tường trình trước Quốc Hội ( Congress) “ bản tường trình về tình trạng hợp nhứt ” để Quốc Hội thẩm định kỷ lưỡng (Điều 2, khoản 3, Hiến Pháp Philadelphia 1787). * Ở Thụy Sĩ, sau khi được tường trình về cán cân quản trị hàng năm của Hội Đồng Liên Bang trước Lưỡng Viện Quốc Hội, Quốc Hội sẽ thảo luận và rút đúc kết cho dự án năm tới (Điều 102, đoạn 16 Hiến Pháp 1874). Bản tường trình không những đề cập đến đường lối chính trị do Hội Đồng Điều Hành Liên Bang thực hiện, mà cả những hoạt động của mỗi Vùng ( Canton). Các việc làm vừa kể sẽ được Văn Phòng Quốc Hội phổ biến cho công chúng. Ở Hoa Kỳ cũng như ở Thụy Sĩ như vừa kể, các bản tường trình sẽ được các Ủy Ban liên hệ của mỗi Viện Quốc Hội duyệt xét, trước khi đem ra bàn thảo. - Ở các định chế theo Đại Nghị Chế, các bản tường trình định kỳ vừa kể không có tính cách bắt buộc, bởi lẽ Quốc Hội có những phương thế khác để kiểm soát. Dù vậy, một vài Hiến Pháp Đại Nghị Chế Âu Châu cũng tiền liệu tính cách bắt buộc của các buổi tường trình của Chính Quyền trước Quốc Hội: *Ở Phần Lan, mỗi năm Chính Quyền bị bắt buộc phải tường trình trước Hạ Viện các hoạt động của mình để Hạ Viện có thể kiểm soát những gì các cơ quan hành chánh và quản trị đã thực hiện hay còn thiếu sót. *Ở Anh quốc, Luxemburg, Hoà Lan, các buổi tường trình được diển ra dưới hình thức là “diển văn của Nhà Vua ” ( hay Nữ Hoàng ), được Quốc Hội bàn thảo sau đó và đi đến lá phiếu chung kết để quyết định ( Hood Philips O. and Jackson P., Constitutional and Administration Law, VI ed., London 1978, 128). *Ở nhiều Quốc Gia Đại Nghị Chế khác, một phần các Bộ Trưởng Chính Phủ có thể hiện diện trong Quốc Hội, chính họ có thể đã tường trình cho Quốc Hội những gì phải được đề cập, ở một vài định chế khác, chính Quốc Hội yêu cầu Chính Quyền phải chính thức cử đại diện đến tường trình - Ý Quốc, Hiến Pháp 1947, điều 64, đoạn 4; - Nhật, Hiến Pháp 1946, điều 63; - Cộng Hoà Liên Bang Đức, Hiến Pháp 1949, điều 43; - Pháp, Hiến Pháp 1958, điều 31; - Thụy Điển, Hiến Pháp 1975, điều 4, Chương IV; - Tây Ban Nha, Hiến Pháp 1978, điều 110). * Một vài nội quy của Quốc Hội cũng tiên liệu buổi “ lắng nghe” ( hearings) của Quốc Hội cũng có thể do các Ủy Ban Liên Hệ Quốc Hội đảm trách, thay vì phải qua các phiên họp Quốc Hội. *Ở Ý Quốc, các Bộ Trưởng không thể từ chối trình diện trước các Ủy Ban Quốc Hội để cung cấp những dữ kiện mà Quốc Hội muốn biết (điều 64, Hiến Pháp 1947). Và Nội Quy Hạ Viện cho phép các Ủy Ban liên hệ có quyền yêu cầu các Bộ Trưởng tham dự các buổi họp của Ủy Ban để tường trình về đường lối chính trị và tiến trình quản trị thực hiện của các Bộ trực thuộc (điều 143, Nội Quy Hạ Viện). *Cũng vậy, ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, trong các buổi họp thường xuyên định kỳ của các Ủy Ban thường là các buổi hợp không công khai, nhưng trước đó các Ủy Ban có thể mở ra các buổi họp trước công chúng để thông báo cho mọi người biết tiến trình đã đạt được, cũng như còn phải thực hiện theo đường lối chính trị Quốc Gia (điều 43 Hiến Pháp 1949; điều 73, Nội Quy Hạ Viện) Dĩ nhiên những buổi “ lắng nghe” như vừa kể đều đã được thoả thuận trước với Quốc Hội về đề tài được trình bày, cũng như thời gian bao lâu và thời điểm hẹn với các Ủy Ban ( Manzella A., Le Funzioni, Il Mulino, Bologna 1977, 117). b) Đặt câu hỏi ( Interrogation). Phương thức đơn giản kế đến để giúp Quốc Hội nắm vững tình hình đất nước là phương thức « đặt câu hỏi ». Là phương thức đơn giản để Quốc Hội biết được tin tức và những giải thích cần thiết từ phía Chính Quyền vể tình hình chính trị cũng như tiến trình quản trị đất nước. Đặt câu hỏi có thể dưới hình thức - vấn đáp bằng miệng ( orale), - hỏi và trả lời bằng giấy bút. để Chính Quyền trả lời ứng khẩu trước Ủy Ban liên hệ hay trước các phiên họp QuốcHội, hoặc trả lời bằng thư tín. Kết quả của tiến trình đặt câu hỏi không đưa đến việc bỏ phiếu chung kết sau cùng để giải quyết vấn đề nếu có, vì chúng ta đang còn trong thời gian tìm hiểu của Quốc Hội ( Maresca A., Le interrogazioni e le interpellazioni presso il parlamento italiano e presso alcune assemblee parlamentari europei e extra-europei, in Studi per il XX anniversario della Assemblea Costituente, V, Firenze 1969, 469s). Trên thực tế, hiện nay cách đặt câu hỏi thường dùng là cách dùng giấy bút, bởi lẽ những vấn đề Quốc Hội cần biết trong việc lãnh đạo đất nước gồm cả khối khổng lồ những câu hỏi, không có cách gì Chính Quyền ứng khẩu giải đáp thoả đáng cho hết, do đó chỉ có thể trả lời bằng văn thư từ mỗi cơ quan liên hệ. Các việc « đặt câu hỏi » gồm có việc muốn được Chính Quyền giải thích về một vấn đề xác định nào đó, do một thành viên Quốc Hội muốn được một Bộ trưởng liên hệ - giải thích, - để lưu ý Chính Quyền loại bỏ đi những lạm dụng của các cơ quan hành chánh, quản trị, - hoặc để được Chính quyền giải thích cho tại sao có những sự việc không được trôi chảy, nhiều chương trình không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng định kỳ. Việc « đặt câu hỏi » là tiến trình cá nhân, do một thành viên Quốc Hội khởi xướng, không có mục đích biết rõ thực hư sụ việc đã hay đang xảy ra như thế nào, thường thì nhiều người đã biết rồi mới đến tai Quốc Hội, cho bằng có mục đích lưu ý Chính Quyền về tạo dư luận quần chúng hơn. Ở Ý Quốc, theo điều 8 Nội quy Hạ Viện, dân biểu nào muốn « đặt câu hỏi » đối với Chính Quyền phải viết thành văn bản và đệ trình cho Văn Phòng Chủ Tịch Hạ Viện. * Bản văn của việc « đặt câu hỏi » sẽ được in ra và phát cho tất cả các hạ nghị sĩ. * Thường thì các câu trả lời cũng được viết bằng văn thư, đối với các vấn đề liên quan đến cá nhân hay chi tiếc về quản trị. * Các câu hỏi trực tiếp bằng miệng được dành cho thời gian một giờ trong mỗi phiên họp của Quốc Hội và một tuần họp hai lần, một phần thời gian được dành cho đại diện Chính quyền trả lời ( Jones G. W., The Prime Minister and Parliamentary Questions, PA, 1972-1973, 260). * Các câu hỏi phải được đặt trước ít nhứt hai ngày trước để Chính Quyền có thời gian trả lời * Chính Quyền có quyền cho rằng mình không thể trả lời về vấn đề được đề cập và phải cho biết lý do (điều 131, Nội Quy Hạ Viện và 148, Nội Quy Thượng Viện) * Nếu vị dân biểu đặt câu hỏi không hài lòng về những gì Chính Quyền giải đáp liên hệ đến vấn đề, ông có quyền đặt lại vấn đề trong kỳ họp tới của Quốc Hội (điều 133, Nội quy Hạ Viện và 149, Nội Quy Thượng Viện). * Vị dân biểu đặc câu hỏi, qua những gì được nghe hay không được nghe Chính Quyền trả lời có thể cho biết ý kiến là ông sẽ yêu cầu Chính Quyền trình bày với Ủy Ban Quốc Hội liên hệ (điều 133 Nội quy Hạ Viện và 147-152, Nội Quy Thượng Viện). * Về thứ tự trả lời các câu hỏi được đặt ra, Chính Quyền có quyền lựa chọn trả lời vấn dề nào trước hay sau, tùy theo Chính Quyền chọn lựa ưu tiên khẩn cấp đối với vấn đề cần trả lời (điều 135 Nội Quy Hạ Viện và 151, Nội Quy Thượng Viện). Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, việc « đặt câu hỏi » ( Kleine Anfrage) được thiết định dưới hình thức giấy bút và phải được ít nhứt 36 dân biểu ký tên ( con số tối thiểu để có thể thành lập nhóm dân biểu tùy theo chính hướng trong Quốc Hội), điều 11, Nội Quy Hạ Viện ( Bundestag). * Chính Quyền bị bắt buộc phải trả lời trong vòng 14 ngày, bằng văn thư. Quá thời hạn ấn định hoặc các dân biểu đặt câu hỏi không thoả mãn về những gì mình muốn biết, các ông có thể biến việc « đặt câu hỏi » thành « chất vấn » ( Grosse Anfrage), điều 105 Nội Quy Hạ Viện hay thành những câu vấn đáp trực tiếp bằng miệng ( Kurze muendliche Anfrage), điều 111, Nội Quy Hạ Viện. Cũng theo Nội Quy Hạ Viện, mỗi tuần Hạ Viện thiết định ba khoản thời gian, mỗi lần một giờ để các dân biểu « đặt câu hỏi » và nghe Chính Quyền trả lời. * Mỗi dân biểu có quyền được đặt hai câu vấn đáp trực tiếp bằng miệng như vừa kể và hai câu bổ khuyết. * Các dân biểu khác có quyền tham dự bằng những câu hỏi bổ khuyết khác. * Sau phần trả lời của Chính Quyền, theo Nội Quy 1965 Hạ Viện, 26 dân biểu ( con số tối thiểu để một chính đảng có quyền hiện diện ở Hạ Viện) có thể đưa vấn đề ra bàn cải trong vòng một giờ, mỗi dân biểu được quyền phát biểu 5 phút ( Wite – Wegmann G., Recht und Kontrollfunktion der grossen, kleinen und muendlichen Anfrage in Deutschen Bundestag, Berlin 1972). c) Chất vấn ( Interpellation). Sau phần tìm hiểu bằng « lắng nghe »« đặt câu hỏi », chúng ta bước sang phần điều tra để kiểm soát của tiến trình quyền kiểm soát của Quốc Hội đối với Hành Pháp. Cũng giống như việc « đặc câu hỏi », tiến trình « chất vấn » cũng có tính cách cá nhân. Tuy nhiên « chất vấn » khác với « đặt câu hỏi » về phương diện nội dung cũng như dưới nhãn quang hiệu lực trong đường lối kiểm soát của Quốc Hội. Về phương diện nội dung : « chất vấn » được thực hiện với mục đích để xác nhận chắn chắn, không phải đối với sự việc của vấn đề đang bàn, cho bằng để xác nhận thái độ của Chính quyền hay của một vài Bộ liên hệ. Về phương diện hiệu lực : chất vấn có hai đặc tính chính : - tiến trình chất vấn sẽ được diễn biến kế tiếp bằng việc bàn thảo về đường lối tổng quát của Chính Quyền và mọi thành viên Quốc Hội đều có quyền tham dự, không cứ gì chỉ phải là những thành viên đưa ra chất vấn. - kết quả của cuộc bàn thảo là Quốc Hội sẽ có thái độ đối với Chính Quyền, bởi lẽ phần cuối của cuộc bàn thảo sẽ được kết thúc bằng cuộc bỏ phiếu, hài lòng hay không hài lòng về những giải thích của Chính Quyền hay của các Bộ liên hệ, và như vậy Quốc Hội còn tín nhiệm hay không tín nhiệm Chính Quyền để Chính Quyền có thể tiếp tục quản trị Quốc Gia. Như vậy kết quả của tiến trình chất vấn sễ cho thấy đâu là trách nhiệm của Chính Quyền hay các Bộ liên hệ, không những có liên hệ đến kết quả mà còn cả đến đường lối hành xử của những ai đương cuộc. Chất vấn do đó không phải chỉ là dụng cụ để Quốc Hội tìm hiểu sự việc, mà còn là phương thế để Quốc Hội kiểm soát đường lối hành xử chính xác của Chính Quyền và giới hành chánh quản trị lệ thuộc. *Ở Bĩ : chất vấn là phương tiện chính để làm nổi bậc trách nhiệm của Bộ hay các Bộ liên hệ ( Van Impe H.,Le rôle de la majorité parlementaire dans la vie politique belge, Bruxelles 1966, 11). Nội dung Quốc Hội cấm lạm dụng phương thức chất vấn: vị dân biếu chất vấn được quyền phát biểu tối đa nửa tiếng đồng hồ. Nếu vị Bộ Trưởng trả lời, chỉ có tối đa 4 dân biểu được can thiệp đặt câu hỏi thêm. Nều vị Bộ Trưởng không trả lời, tiến trình chất vấn được coi là kết thúc và vị dân biểu đứng ra chất vấn được bày tỏ ý kiến thêm 15 phút nữa. * Ở Cộng Hòa Liên Bang Đức : « chất vấn » ( Grosse Anfrage, câu hỏi lớn) là dụng cụ thích hợp để đưa đến tranh luận công cộng rộng rãi và hiệu năng để kiểm soát đường lối chính trị của Chính Quyền (điều 105, Nội Quy Hạ Viện). Mọi cuộc « chất vấn » phải được viết thành văn bản, mang chữ ký của ít nhứt 26 dân biểu và được chuyển đến văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện. Sau khi tham khảo với Chính Quyền, Chủ Tịch Hạ Viện có bổn phận loan báo cho Quốc Hội biết Chính Quyền có ý định trả lời hay không và lúc nào. Chính Quyền không bị bắt buộc phải trả lời. Nhưng nếu có lời yêu cầu của 26 dân biểu, Hạ Viện phải ghi vào chương trình nghị sự cuộc thảo luận, và Chính Quyền bị bắt buộc phải có mặt trong cuộc thảo luận được ấn định trong chương trình nghị sự ( Wite-Wegmann G., op. cit., id.). * Ở Ý Quốc : Nghị viên « chất vấn » có quyền trình bày vấn đề trong 15 phút. Sau khi Chính Quyền trả lời, nghị viên « chất vấn » có quyền cho biết ý kiến trong vòng 10 phút, để phát biểu ông thỏa mãn hay không về những giải đáp của Chính Quyền (điều 138, Nội quy Hạ Viện). Nếu nghị viên « chất vấn » không thoả mãn những gì Chính Quyền giải đáp và có ý định đưa vấn đề ra bàn cải, ông có thể trình đưa kiến nghị đến văn phòng Chủ Tịch Hạ Viện. Kiến nghị sẽ được đem ra bàn thảo và được kết thúc bằng cuộc bỏ phiếu của Hạ Viện. d) Các Ủy Ban Thường Trực ( Commissions Permanents ). Ngoài ra các phương pháp cá nhân vừa kể để tìm hiểu và khởi đầu tiến trình kiểm soát, Quốc Hội cũng được tổ chức thành những Ủy Ban chuyên môn để đáp ứng những nhu cầu liên hệ cho hoạt động của mình, đó là các Ủy Ban Thường Trực. Ở Hoa Kỳ: các Ủy Ban Thường Trực ( Standing Commitees) không những chỉ có bổn phận nghiêng cứu và soạn thảo các dự án luật, mà còn để giữ liên lạc vững chắc và liên tục với Chính Quyền ( Elia L., voce Commissioni Permanenti, Enc. Dir., VII, 1960, 907-908). * Ủy Ban Thường Trực là nơi Quốc Hội ( cơ quan Lập Pháp) làm cho Hành Pháp nhận lãnh trách nhiệm về đường hướng và phương cách cũng như hiệu năng hành xử quyền lực Quốc Gia của mình, nếu không, khó ai có thể quy trách cho Hành Pháp được, do phương thức phân quyền. * Mặc dầu các Ủy Ban Thường Trực, lúc đầu chỉ xen vào nội bộ của Hành Pháp liên quan đến những lãnh vực Lập Pháp của mình, “ chuẩn y hay bác bỏ ” các dự án luật, quyền điều tra và kiểm soát không được Hiến Pháp Philadelphia 1787 đề cập đến, nhưng hiện nay mọi người đều công nhận quyền điều tra và kiểm soát của Congress là quyền lực đi liền với bản thể của Quốc Hội. * Thường thì các nhiệm vụ vừa kể, điều tra và kiểm soát là phận vụ của các Ủy Ban Thường Trực ( Standing Commitees), tuy nhiên đối với một vài lãnh vực chuyên biệt, Quốc Hội cũng có thể lập ra các Ủy Ban Điểu Tra Chuyên Biệt ( Investigating Committeees). * Nói cách khác Quốc Hội Hoa Kỳ có khả năng kiểm soát một cách tinh vi các hoạt động của Hành Pháp, nhứt là các hoạt động của hành chánh và quản trị, để có thể thực sự giám sát cách quản trị các phục vụ công cộng của Chính Quyền. * Các Ủy Ban Thường Trực có quyền - ra lệnh phải trình diện trước Ủy Ban bất cứ ai, nhân viên Chính Phủ cũng như bất cứ người công dân nào, mà Ủy Ban cho rằng chứng cớ của họ hữu ích cho việc điều tra của mình. - có quyền kết án những ai bất tuân không trình diện, hoặc không chịu làm chứng ( De Vergottini G., Diritto Costituzionale Comparato, Cedam, Padova 1999, 588). * Ở Thụy Điển: Ủy Ban Thường Trực có quyền duyệt xét đường lối, thể thức và hiệu năng các hoạt động Chính Quyền, đối chiếu với Hiến Pháp, để kiểm soát tính cách hợp hiến hay vi hiến (điều 1 và 2 chương XII, Hiến Pháp 1975). * Ở Tây Ban Nha: Hai Ủy Ban Thường Trực được thiết lập để - hành xử thay thế vai trò của Thượng và Hạ Viện, trong suốt thời gian Quốc Hội Lưỡng Viện (Cortes) bị bãi nhiệm trước định kỳ hay trong thời gian Quốc Hội mãn nhiệm, đang chờ đợi để được bầu lại ( điều 78, Hiến Pháp 1978), - hành xử các nhiệm vụ giám sát hoạt động thường nhật của Chính Quyền, nhứt là trong những trường hợp Chính Quyền bị khủng hoảng (điều 116, id.). * Ở Bồ Đào Nha: Các Ủy Ban Thường Trực cũng được phó thác cho các phận vụ tương tợ như ở Tây Ban Nha, chiếu theo điều 179, Hiến Pháp 1976 Bồ Đào Nha. Theo tục truyền thì các Ủy Ban Thường Trực được giao phó tho nhiệm vụ giám sát các hoạt động của Chính Quyền, nhứt là các Ủy Ban Ngoại Vụ được xem là các trung tâm đặc biệt của Quốc Hội để giám định các hoạt động của Chính Quyền trong các mối liên hệ quốc tế ( A. Cassese ( a cura di), Parlamento e politica estera. Il ruolo delle commissioni affari esteri, Cedam, Padova 1982). II - Điều Tra. e) Ủy Ban Điều Tra Tạm Thời ( Commissioni Temporanee di Inchiesta). Thường thì các hoạt động can thiệp điều tra là những liên hệ đã được tiền liệu giữa các Ủy Ban Thường Trực và Chính Quyền, được diển ra trong các phiên họp Quốc Hội, các phiên họp khoán đại cũng như các phiên họp của các Ủy Ban đặc trách liên hệ. Nhưng đôi khi Ủy Ban Điều Tra cũng có thể hành xử phận vụ của mình trực tiếp đối với các cơ chế quản trị của Chính Quyền không cần có sự đồng thuận và hợp tác của Chính Quyền, để có được những tin tức và dữ kiện chính xác. * Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức: cách hành xử trực tiếp ngoại lệ như vừa kể, điều tra trực tiếp tại nhiệm sở và đối với những ai có trách nhiệm, được giao cho Ủy Ban Thường Trực về Quốc Phòng (điều 45, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). *Ở Do Thái: cũng được giao cho Ủy Ban Thường Trực, nhưng Ủy Ban cần phải được Quốc Hội cho phép trước, chỉ định cho lãnh vực liên hệ (điều 22, Hiến Pháp ( Knesset) 12.2.1958). * Ở các Quốc Gia khác, Hiến Pháp tiền liệu cho Quốc Hội có quyền thiết lập những Ủy Ban Điều Tra Tạm Thời, liên quan đến những lãnh vực có giới hạn, để điều tra sâu rộng hơn mà Quốc Hội cho là quan trọng cần phải tìm hiểu thấu đáo: - Bỉ, điều 56, Hiến Pháp 1994; - Ý, điều 82, Hiến Pháp 1947; - Cộng Hoà Liên Bang Đức, điều 44, Hiến Pháp 1949; - Nhật, điều 62, Hiến Pháp 1946; - Hy Lạp, điều 68, Hiến Pháp 1975; - Bồ Đào Nha, điều 178, Hiến Pháp 1976; - Tây Ban Nha, điều 76, Hiến Pháp 1978. * Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức: chiếu theo điều 44 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ và điều 63, Nội Quy Hạ Viện ( Bundestag), các Ủy Ban Điều Tra Tạm Thời ( Untersuchungausschuss) có thể được thiết lập do ý kiến của đa số, nhưng đồng thời Hiến Pháp và Nội quy Hạ Viện cũng bảo đảm cho thành phần thiểu số có quyền có tiếng nói: chỉ cần ¼ thành viên Hạ Viện yêu cầu là Ủy ban cũng có đủ tư cách để được thiết lập ( Stefani W., Ueber die parlamentarischen Untersuchungausschuesse, in Kluxen, Parlamentarismus, Koeln-Berlin 1969, 262). Các Ủy Ban là những cơ quan phụ thuộc, trợ lực cho Quốc Hội, tùy thuộc vào Quốc Hội và được tổ chức tùy theo tỷ lệ đa số thành viên lực lượng các chính đảng trong Quốc Hội. Các Ủy Ban được Quốc Hội xử dụng để thu thập tin tức và dữ kiện chứng minh cho tiến trình tố giác và hình luật. Các cơ quan tư pháp cũng như hành chánh có bổn phận trợ lực và dành mọi dễ dàng cho công việc của Ủy Ban. Với việc tu chính năm 1969, điều 74 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ tiền liệu cho việc thiết lập một loại Ủy Ban Điều Tra ( Enquête Kommission) để điều tra trong các lãnh vực phức tạp, gíúp cho Quốc Hội có thể soạn thảo và chuẩn y những đạo luật mới một cách thoả đáng hơn. Ủy Ban vừa kể có thể gồm cả những thành phần không là Dân Biểu Quốc Hội, các chuyên viên trong nhiều lãnh vực khác nhau, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư đại học chẳng hạn và hoạt động theo tinh thần các đạo luật vừa kể (Stern K., Das Staatsrecht der Bundesrepublik Deutschland, II, Muenchen 1984, 109). *Ở Ý Quốc: Quốc Hội có thể điều tra về bất cứ lãnh vực nào có liên quan đến lợi ích công cộng (điều 82, Hiến Pháp 1947; điều 140-142, Nội Quy Hạ Viện; điều 162-163, Nội Quy Thượng Viện). Quốc Hội điều tra qua các Ủy Ban Điều Tra Lưỡng Viện Quốc Hội, được thành lập theo tỷ lệ đa số lực lượng chính trị trong Quốc Hội. Các Ủy Ban Điều Tra Lưỡng Viện Quốc Hội có quyền năng như các cơ quan tư pháp và trong giới hạn như quyền điều tra của các thẩm phán ( Di Ciolo V., Il diritto parlamentare, Giuffré, Milano 1990, 337). Trong các tổ chức Đại Nghị Chế, các Ủy Ban Điều Tra, tạm thời hay thương trực, đều là cơ quan kiểm soát chính trị của Quốc Hội. Các Ủy Ban chỉ có bổn phận điều tra và tìm hiểu, chuẩn bị cho những gì mà Quốc Hội mới là cơ quan duy nhứt có khả năng quyết định tin nhiệm hay bất tín nhiệm đối với Chính Quyền. Do đó trong Đại Nghị Chế, chúng ta nên phân biệt giữa kết thúc bản tường trình của Ủy Ban Điều Tra và phán quyết chung kết của Quốc Hội ( A. Pace, Il potere d’inchiesta delle assemblee legislative, Saggi, Milano 1973, 1025). Chỉ có khi nào Quốc Hội thẩm định và phán quyết những gì đã được tường trình đối với Chính Quyền, lúc đó việc làm của các Ủy Ban mới được coi là có giá trị hành xử quyền kiểm soát chính trị của Quốc Hội. Ý nghĩa mà Hiến Pháp muốn giao cho Quốc Hội kiểm soát chính hướng, thể thức và hiệu năng các hoạt động Chính Quyền là thành phần đối lập có thực quyền nằm trong tay để đề xướng tiến trình - nghe tường trình (auditions), - đặt câu hỏi ( interrogations), - chất vấn ( interpellations) - và điều tra ( enquêtes), bởi lẽ chỉ cần 1/4 dân biểu Hạ Viện là có thể đề xướng các tiến trình vừa kể đối với Chính Quyền (điều 44, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ). Thành phần đa số thân Chính Phủ trong Quốc Hội, trong Đại Nghị Chế, không thể ỷ thế « cả vú lấp miệng em », ếm nhẹm mọi cách hành xử « tác oai, tác quái tùy hỷ » của Chính Phủ. Thành phần đa số thân Chính Phủ trong Quốc Hội « có thể và phải » bảo vệ Chính Phủ trong các Ủy Ban Điều Tra và trong các phiên họp bàn thảo để bỏ phiếu « tín nhiệm hay bất tín nhiệm ». Nhưng cách thông thường, các phiên họp của Quốc Hội trong Thể Chế Dân Chủ là những phiên họp công cộng, biên bản đúc kết các phiên hội được phổ biến trên báo chí ai cũng biết. Do đó thành phần đa số ỷ thế cố bỏ qua hay bênh vực một cách bất chính hành động sai trái của Chính Phủ, sẽ có dịp tính sổ với dân chúng trong kỳ bỏ phiếu tới. Nhứt là cách bỏ phiếu « tín nhiệm hay bất tín nhiệm » Chính Phủ là những cuộc bỏ phiếu công khai và bỏ phiếu được điểm danh (nominale) ( De Vergottini G., Le inchieste delle assemblee parlamentari, Rimini 1985, 386). f) Ủy Viên Quốc Hội ( Commissaire, hay Ombudsman). Một vài Quốc Hội thực hiện nhiệm vụ kiểm soát của mình đối với Chính Quyền bằng một cơ quan giám sát được gọi là Ủy Viên Quốc Hội ( Ombudsman), một danh từ xuất xứ từ các Quốc Gia Scandinavie. * Trong Hiến Pháp 1809 của Thụy Điển, Ombudsman được xem như là một cơ quan thân tín của vua để giúp vua liên tục kiểm soát cơ quan Hành Pháp, trong trường hợp thiếu vắng các hành động kiểm soát của Quốc Hội, vì Quốc Hội chỉ nhóm họp một vài lần một năm (điều 96, Hiến Pháp 1809). Và hiện thời được tu chính bởi điều 6, chương XII, Hiến Pháp 1975). * Ở Na Uy, Ủy Viên Quốc Hội được chính Quốc Hội thiết lập ngày 21.4.1952. * Ở Đan Mạch, được xác định do điều 55, Hiến Pháp 1953 và tiếp đến là do đạo luật 11.6.1954, các văn kiện của Quốc Hội ngày 22.03.56 và 09.02.1962. * Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, Ủy Viên Quốc Hội chỉ được thiết lập cho lãnh vực quân đội, bằng đạo luật 19.03.1956, trở thành tu chính án cho Hiến Pháp 1949 ở điều 45B và đạo luật 26.06.1957. * Ở Tân Tây Lan, Ủy Viên quốc Hội ( Parliamentary Commissioner) được thiết lập bằng đạo luật 7.9.1962. * Ở Anh Quốc, với Parliamentary Commissioner Act 22.3.1967. * Ở Pháp, “ un médiateur” được thiết lập với đạo luật 03.01.1973. * Ở Bồ Đào Nha, với điều 23 Hiến Pháp 1976. * Ở Tây Ban Nha, điều 54 Hiến Pháp 1978 và đạo luật số 3 ngày 06.04.1981. * Ở Canada, Tỉnh Alberta ( 1967), Manitoba ( 1967), New Brunsweik ( 1967), Québec ( 1968). * Ở Hoa Kỳ, Tiểu Bang Hawai ( 1967). * Ở Ý và nhiều Quốc Gia khác nữa cũng đã thiết lập Ủy Viên Quốc Hội ( Ombudsman) ( Teresi F., Brevi osservazioni sull’Ombudsman delle Regioni, in Atti del XII Convegno di studi di scienza dell’amministrazione, Milano 1972, 292). Ombudsman ở mỗi Quốc Gia có phương thức hoạt động khác nhau. Khuôn mẫu đầu tiên của Thụy Điển, Ủy Viên Quốc Hội ( Ombudsman) là một cơ quan thân tín, đại diện và trung gian, được Quốc Hội lập ra ( hay đúng hơn là cơ quan thân tín của vua để liên tục giúp vua kiểm soát chính trị Quốc Gia, như đã nói), có nhiệm vụ thám sát nền hành chánh và quản trị tùy thuộc Chính Quyền. Và vì Ombudsman được lập ra để giám sát các lãnh vực hành chánh và quản trị khác nhau, nên sớm muộn gì cơ quan cũng trở thành nơi để - dân chúng đệ trình các thỉnh nguyện của mình, - than phiền các hành xử không hiệu dụng, thiếu thốn hoặc thiên vị của Chính Quyền. Và rồi tiến thêm một bước nữa, Ombudsman trở thành nơi nhận đơn dân chúng tố cáo các thiếu sót và hay hoạt động phục vụ công cộng bất toàn của Chính Quyền, giáo dục, y tế, giao thông, xã hội…không được tổ chức có khả năng cung ứng nhu cầu đòi hỏi của dân chúng. * Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, Ombudsman được đặt trách cho lãnh vực lo cho - vấn đề di dân, - những người bị tật nguyền, - gìn giữ và bảo vệ các tài liệu Liên Bang. * Ở Thụy Điển, bên cạnh các Ủy Viên Quốc Hội, Chính Quyền cũng lập ra Ủy Viên thân tín của mình để lo về - tự do giao thương, - tự do cạnh tranh, - bảo vệ người tiêu thụ, - bảo vệ bình đẳng giữa hai phái nam-nữ. Ủy Viên Quốc Hội theo khuôn mẫu của Thụy Điển có phận sự quan sát đối với các lãnh vực - địa phương và những liên hệ đến các lãnh vực tản quyền cho địa phương địa phương: y tế, dân sự, các cộng đồng thiểu số tự lập (Pháp, Ý) - các vấn đề quân sự ( Cộng Hoà Liên Bang Đức), - bảo vệ người tiêu thụ và vấn đề quân sự ( Thụy Điển), - ảo vể trẻ em và tuổi thơ ( Na Uy), Như vậy, nếu vai trò của các Ủy Ban Điều Tra , thường trực hay tạm thời, là để bảo đảm cho nguyên tắc áp dụng đúng đắn chính hướng, nói chung và luật pháp là những áp dụng chính hướng vào thực tể nói riêng, thì vai trò của Ủy Viên Quốc Hội ( Ombudsman) - chuyên biệt trong các lãnh vực thực tiển hơn, - can thiệp vào các trường hợp trong đó công việc quản trị của nền hành chánh không được trôi chảy làm phương hại đến quyền lợi cá nhân cũng như tập thể. * Ở Thụy Điển vai trò của Ombudsman trở thành cơ quan bảo vệ chống lại mọi lạm dụng uy quyền quản trị làm tổn thương đến quyền lợi cá nhân hay tập thể. Đặc tính của Ombudsman là một cơ quan can thiệp vào các trường hợp không hành động hiệu năng, tổ chức trôi chảy hay khiếm khuyết của các cơ quan hành chánh, quản trị, - bằng cách báo cho Chính Quyền và Quốc Hội biết, - mà nhứt là bổ khuyết cho các thiếu sót trong việc bảo vệ quyền và lợi thú cá nhân do cách hành động tiêu cực của các cơ quan quản trị công ích, dân sự cũng như quân sự. Ombudsman có thể dùng quyền hạn của mình để có sáng kiến giải quyết và tạo áp lực trên các cơ quan liên hệ vừa kể. Như vậy một đàng Ombudsman có thể cảnh cáo và ảnh hưởng đến các cơ quan quản trị liên hệ bằng cách - sẽ tường trình tài liệu mình có được trong tay cho Chính Quyền, - đàng khác Ombudsman cũng có thể đưa ra những đề nghị để sửa đổi hay tu chính luật pháp đến Quốc Hội, liên hệ đến những lãnh vực thuộc thẩm quyền mà mình đã có các chứng cớ trong tay. Một cách nào đó, các can thiệp của Ombudsman có đặc tính như là những tiến trình tư pháp đối với các cơ quan đương cuộc. Và như vậy các can thiệp của Ombudsman có tính cách trợ lực, chuẩn bị và ảnh hưởng như các hành động kiểm soát chính trị của Quốc Hội. * Ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, điều 45B tu chính án của Hiến Pháp 1949 liên quan đến Ủy Ban Quốc Hội về quốc phòng ( Wehrbeauftragte) nhìn nhận Ombudsman như là - cơ quan “ phụ thuộc của Hạ Viện trong vai trò kiểm soát của Quộc Hội ”, - ngoài ra là cơ quan đặc trách để “ bảo đảm các quyền căn bản của các thành viên của quân đội”. Nhờ vào các bản tường trình hằng năm hay bản tường trình liên quan đến lãnh vực đang bàn của Ombudsman, Quốc Hội có thể tiếp tục tìm hiểu để kiểm soát Chính Quyền ( Ule C.H., Der Wehrbeauftragte des Bundestag, JZ, 1957, 422). Nói tóm lại, ở các Quốc Gia Dân Chủ, nhiệm vụ quan trọng chính yếu của Quốc Hội mà thường khi chúng ta ít nghe nói tới, “ lãnh đạo và kiểm soát đường lối lãnh đạo Quốc Gia ”, bởi lẽ chúng ta thường bị danh từ “ Lập Pháp” quen thuộc được gán cho Quốc Hội, làm cho chúng ta có cảm tưởng rằng Quốc Hội chỉ là cơ quan “ làm ra luật ”. Quốc Hội có thể - lắng nghe ( audition), - đặt câu hỏi ( interrogation), - chất vấn ( interpellation) trong tiến trình tìm hiểu - và điều tra ( enquête) Trong công tác điều tra, Quốc Hội có thể dùng - các Ủy Ban Thường Trực ( Commissions permanentes), - Ủy Ban Tạm Thời ( Commisssions temporaires) - và Ủy Viên Thân Tín (Ombudsman). Đó là những từ ngữ khác chúng ta đừng quên, ngoài ra từ ngữ “ Lập Pháp” hay đúng hơn là “chuẩn y hay bác bỏ luật pháp”, mỗi khi chúng ta bàn về Quốc Hội ở các Quốc Gia Dân Chủ. Ở các nước dân chủ, không ai khoáng trắng cho giới hành quyền, muốn hành xử quyền lực Quốc Gia cách nào, “ tác oai, tác quái tùy hỷ ”, sau khi giao phó quyền hành cho họ. Nếu Dân Chủ là thể chế được định nghĩa “ quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân ”, quyền lực đó vẫn thuộc về người dân trước khi, đang khi và sau khi ủy thác cho những người đại diện thừa hành xử dụng quyền lực Quốc Gia cho mình. Tiến trình vừa kể được bảo đảm trong Thể Chế Dân Chủ qua Quốc Hội, cơ quan dân cử, đại diện mình nói lên tiếng nói trước khi, đang khi và sau khi quyền hành được ủy thác cho giới đương quyền hành xử. Quyền hành của Quốc Hội là “ chuẩn y hay bác bỏ luật pháp ”“ hướng dẫn, kiểm soát đường lối chính trị Quốc Gia ”. Bởi lẽ không ai có thể tự cho mình, cũng không ai có thể ngây thơ và liều lĩnh đến dại dột, tin được và giao quyền lực Quốc Gia cho họ hành xử tùy hỷ, mà không có một cơ quan nào kiểm soát những ai tự cho mình là “ …đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ” (Điều 4, Hiến Pháp CSVN), nếu không muốn đất nước bị phá sản, con người bị đàn áp như sút vật và biến thành nô lệ, dụng cụ phục vụ cho giới cầm quyền.

 

Điều kiện nào để theo Chúa Giêsu? Điều kiện nào để vào Nước Trời, vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là hạnh phúc thiên đàng của con người: - “ Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha…Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy…” (Jn 14, 9.11). - “ Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống ” ( Jn 14, 6). Theo Chúa Giêsu là vào Nước Trời, hưởng hạnh phúc tuyệt hảo và bất diệt với Thiên Chúa, hưởng chính đời sống mà chính Thiên Chúa đang sống: - “ Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy ( của Chúa Giêsu), Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta những gì rất qúy báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó,anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa…” ( 2 Pt 1,4). Nhưng muốn theo Chúa Giêsu hay vào Nước Trời, người môn đệ phải có cách hành xử thế nào? Để trả lời câu hỏi đó, Thánh Luca thuật lại một quang cảnh nhộn nhịp, náo nhiệt với đoàn lủ đông đảo đang theo Chúa Giêsu: - “ Có rất đông người cùng đi đường với Chúa Giêsu ” ( Lc 14, 25). Nhưng đi theo Chúa Giêsu hay đi bên cạnh Chúa Giêsu, chưa đủ! Chúng ta còn nhớ trong Phúc Âm của ba Chúa Nhật trước đây, Chúa Giêsu đã dạy những ai theo Ngài, không những chỉ “ tháp tùng ” đi theo, sống cuộc sống “ có đạo ”, sống " hâm hẩm ", uể oải, hưởng thụ, mà là cuộc sống hy sinh, cố gắng, năng động, thực hiện đức tin và đức bác ái bằng hành động: - “ Anh em hãy cố gắng ( chiến đấu) qua cửa hẹp mà vào” ( Lc 13, 24). Đặt ý nghĩa của cuộc “ sống đạo ” trong ý nghĩa vừa kể, chúng ta sẽ hiểu được những lời thúc giục mạnh mẽ của đoạn Phúc Âm hôm nay. Theo Chúa Giêsu không có nghĩa chỉ là “ có đạo ”, được rửa tội, thỉnh thoảng đi nhà thờ, xem lễ, lần hạt Mân Côi, sống đời sống “ bình thường ”, mà còn ý thức những gì Chúa đòi buộc chúng ta, cũng như đòi buộc những người lúc đó đang “ tháp tùng ” theo Ngài, trên quảng đường lên Giêrusalem. Những đòi buộc mà Chúa Giêsu nói với những ai theo Ngài trong Phúc Âm hôm nay gồm hai lãnh vực, qua hai dụ ngôn: - lãnh vực tình cảm, - lãnh vực của cải vật chất. 1- Trước hết đối với lãnh vực tình cảm, Chúa Giêsu dùng những từ ngữ mạnh dạn khác thường, khác thường nhứt là đối với bối cảnh xã hội Do Thái lúc đó: - “ Có rất đông người cùng đi đường với Chúa Giêsu. Người quay lại bảo họ: Ai đến với Ta mà không ghét bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta ” ( Lc 14, 26). Qua câu Phúc Âm vừa kể, Thánh Luca ghi lại thật đầy đủ các mối liên hệ tình cảm máu mủ, “ cha mẹ, anh em, chị em, con cái ”, và cả mối liên hệ tình cảm thân thiết sâu đậm, “vợ ”, mặc dầu không liên hệ máu mủ trực tiếp. Và rồi ngay cả chính bản thân của mình, “ và cả mạng sống mình ”, cũng không được do dự hối tiếc. Dịch “ ghét bỏ ” là cách dịch sát từ ngữ ( mot à mot ) động từ trong ngôn ngữ Do Thái, có nghĩa là “ thương ít hơn ”. Nhưng dù hiểu với ý nghĩa nào đi nữa, “ ghét bỏ ” , từ chối, hay “ thương ít hơn ”, từ ngữ của được Chúa Giêsu dùng là từ ngữ rất mạnh. Nhứt là đọan Phúc Âm được Thánh Luca viết lại, đặt trong bối cảnh xã hội Do Thái lúc đó, xem mối liên hệ tình cảm gia đình là mối liên hệ thiên thánh ( sacré). Chính trong mười điều răn được Moisen truyền cho, tâm tình hiếu thảo, trọng kính cha mẹ là điều không thể lỗi phạm: - “ Ngươi hãy thờ kính cha mẹ, để được sống lâu trên đất mà Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi ” ( Ex 20,12). Và rồi cách tổ chức xã hội Do Thái lúc đó là tập tục xã hội dựa trên tình liên đới gia đình và họ tộc. Mười hai chi họ Israel luôn được lập lại trong Thánh Kinh là vậy. Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu được tại sao Jacob Neuser, một giáo sư về Do Thái Giáo nhiều kinh nghiệm cho rằng do đòi hỏi ngược lại tập tục xã hội vừa kể của Chúa Giêsu, mà cho đến nay người Do Thái còn cảm thấy ngại ngùng tiếp nhận Ki Tô giáo, mặc dầu họ vẫn xem Chúa Giêsu là người anh em Do Thái của họ. Và một trong những lời tố cáo của các giáo sĩ Do Thái chống Chúa Giêsu cho rằng Ngài có thái độ phá hoại đặc tính vững chắc của gia đình Do Thái. Có lẽ chúng ta không nên giải thích một cách cực đoan lời đòi buộc của Chúa Giêsu đối với những ai muốn theo Ngài, trong câu Phúc Âm được trích dẫn. Không phải Ngài muốn phá vở mối liên hệ tình cảm gia đình, cho bằng thấu hiểu ý định của Ngài: thiết lập nên một gia đình mới, gồm các người độc thân hay đã kết hôn cũng vậy, không đặt trên liên hệ máu mủ, mà đặt trên mối liên hệ mãnh kiệt hơn của những ai say mê hiến thân cho Nước Trời và đem chương trình cứu rỗi đến cho tất cả mọi người. Hiểu như vậy, những đòi buộc của Phúc Âm không có nghĩa là loại bỏ người thân, chán ghét gia đình “ để đi tu ” ( thoát tục), mà là đòi buộc người môn đệ Chúa Giêsu phải biết xác định và chọn lựa những ưu tiên phải dành cho Nước Trời, “ thương ít hơn ” đối với những mối liên hệ tình cảm gia đình và cả mạng sống. Đặt Phúc Âm trong nhãn quang đó, đặt Nước Trời ưu tiên trên tất cả, chúng ta hiểu được ai là người “ thân tính”, bà con trong gia đình Chúa Giêsu: - “ Có người nói với Ngài rằng: Thưa Thầy, có mẹ và anh em, chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy. Người đáp lại: Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta? Rồi Ngài rảo mắt nhìn xung quanh và phán: Đây là mẹ Ta, đây là anh em ta. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em Ta, là mẹ Ta ” ( Mc 3, 32-33). Hiểu như vậy, người môn đệ là người quy động tất cả khả năng, sức lực và tình cảm của mình để lo cho Nước Thiên Chúa: - “ Ai tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa” ( Lc 9, 62). Nước Thiên Chúa là một thực thể trổi vượt hơn cuộc sống trần thế, do đó chúng ta không lạ gì Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta phải hy sinh cuộc sống trần thế, mạng sống chúng ta cũng như tình cảm gia đình, để theo Ngài, để vào Nước Thiên Chúa với Ngài. Và rồi Chúa Giêsu kết luận lời giảng dạy thuộc lãnh vực thứ nhứt, lãnh vực tình cảm. Người môn đệ bị đòi buộc không những phải từ bỏ hay “ thương ít hơn ” đối với các mối luyến tiếc gia đình, mà còn hành xử bằng thái độ chuyên cần, nhận lãnh và nổ lực chu toàn hoàn hảo trách nhiệm hằng ngày của mình, kể cả phải bị nhục mạ vì danh Chúa Giêsu trước mặt người khác: - “ Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta được ” ( Lc 14, 27). Thánh Luca thuật lại cho chúng ta Chúa Giêsu thấy đoàn lủ đông đảo ào ạt đi theo Người, Người quay lại và dạy họ thái độ phải có, phải quyết định hy sinh tình cảm gia đình, đối với những ai muốn theo Người. Cử chỉ đó của Chúa Giêsu gợi cho chúng ta ý nghĩ Ki tô giáo không phải là tôn giáo đặt trên khả năng của số đông, tập hợp đông đảo quần chúng, tuyên truyền hữu hiệu và gây được áp lực xã hội. Có thể đám đông “ có rất nhiều người cùng đi đường với Chúa Giêsu ” ( Lc 14, 25), nhưng là đám đông không có ý thức những gì Ki Tô giáo đòi buộc phải có. - “ Ai không vác thập giá mình, thì không thể làm môn đệ Ta ”. Người tín hữu Chúa Ki Tô không thể nào là người không tự mình dấn thân một cách có ý thức và đại lượng hy sinh để phục vụ Nước Chúa. 2) Đối với lãnh vực thứ hai, lãnh vực của cải trần thế, Chúa Giêsu dạy bằng dụ ngôn - người xây tháp ( Lc 14, 28-30) - và nhà vua đi đánh giặc ( Lc 14, 31-32). Trong cả hai trường hợp Chúa Giêsu khuyên dạy thái độ phải có của người môn đệ, “ ngồi lại ”: - “ …mà trước tiên lại không phải ngồi lại, tình toán phí tổn, xem mình có đủ thành công không? ” ( Lc 14, 28). - “ …mà trước tiên lại không ngồi lại bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng ? ” ( Lc 14, 31). “Ngồi lại ” : tìm được thời gian và yên tỉnh để suy nghĩ. Còn nữa các từ ngữ “ tính toán” và tiêu dùng “ phí tổn” có ý nghĩa suy tính để quy động tất cả khả năng, trí thức cũng như vật chất mình có được, đầu tư tất cả vào đại cuộc mình đang suy tính để thực hiện, xây cho xong tháp cũng như thắng chiến tranh. Như vậy theo Chúa Giêsu, đầu tư tương lai của mình vào Nước Trời - không phải chỉ là cuộc “ tháp tùng ”, đi với Chúa Giêsu trên một quảng đường, tạm bợ để tìm cảm giác hứng khởi, nghe những lời hay ý đẹp của Chúa Giêsu dạy cho, mà là một cuộc dấn thân vĩnh viển, hành động với suy tính và tung tất cả khả năng và sở hữu của mình vào công việc rao giảng Nước Trời của Chúa Giêsu. Hành động có suy tính, bởi vì Thiên Chúa ban cho chúng ta có trí khôn ngoan và tự do, khi Chúa dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài ( Gen 1, 27). Người môn đệ không phải là người hành động như một hình nộm múa rối vô lương tri, mà là con người dùng trí khôn ngoan Chúa cho, suy tư và ý thức tự quyết định hành động để phục vụ Chúa và phục vụ anh em. Và một khi quyết định theo Chúa, chúng ta dùng hết trí năng, tâm tình và của cải chúng ta có để phục vụ Nước Trời: - “ Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Thầy” ( Lc 14, 33). - “ Từ bỏ hết những gì mình có ” không có nghĩa là vất đi để khỏi vướng mắc, bận tâm, mà tung hết những gì Chúa cho chúng ta, tài năng cũng như của cải, để phục vụ Nước Trời, phục vụ Chúa và phục vụ anh em, như gương người xây tháp và vị vua lâm chiến, tung vào công trình xây cất và chiến trận tất cả khả năng và sở hữu của mình: - “ Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi và yêu thương người thân cận như chính mình ” (Lc 10,27). Người Ki Tô hữu là người dùng hết mọi tài năng, của cải và mạng sống Chúa ban để phục vụ Chúa và phục vụ anh em.

 

Hiến Pháp được viết ra thường thường bị ảnh hưởng của mục đích mà mình nhằm đạt tới. Mục đích của Hiến Pháp nói lên cho chúng ta biết Hiến Pháp được viết ra là Hiến Pháp của thể chế cá biệt nào đó xác định tổ chức Quốc Gia, tự do dân chủ hay xã hội chủ nghĩa, các Quốc Gia Phi Châu mới dành được độc lập gần đây hay Quốc Gia dưới thể chế độc tài. Thể thức tổ chức Quốc Gia ảnh hưởng đến việc chọn nội dung cần được thiết định trong Hiến Pháp, văn bản nền tảng xác định thể chế Quốc Gia. Dĩ nhiên cũng có những chất liệu chung, mà chúng ta có thể tìm thấy trong bất cứ Hiến Pháp nào khác, Hiến Pháp tự do hay Hiến Pháp Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa cũng vậy. A - Mục đích. Thường thì Hiến Pháp được viết ra với hai mục đích: - xác định các tiêu chuẩn, các bậc thang giá trị, dựa vào đó Quốc Gia có thể tổ chức các cơ cấu quyền lực của mình, tạo điều kiện vững chắc cho các thế lực chính trị có thể kiểm soát và điều hành Quốc Gia. - xác định các mục tiêu, mà phương thức tiền liệu để hành xử quyền lực Quốc Gia một cách chính đáng và hiệu năng, nhằm đạt được ( De Vergottini G., Diritto Costituzionale Comparato, Cedam, Padova 1999, 190). a) Xác định các tiêu chuẩn: Các Vị soạn thảo Hiến Pháp suy tư làm thế nào là tiêu chuẩn phải có nói lên tính cách hợp pháp ( légitimité), hay bất hợp pháp ( illégitimité), nền tảng pháp lý, cho các cơ chế khác nhau của Quốc Gia. Tư cách pháp lý vừa kể cho phép các cơ chế Quốc Gia được thiết lập xử dụng quyền hành được giao phó trên đất nước. Ngoài ra Hiến Pháp cũng thiết định những tiêu chuẩn khác nhau để phân chia quyền hành, xác định thẩm quyền của mỗi cơ quan hiến định hành xử các phận vụ công cộng của mình ( Hesse K., Die normative Kraft der Verfassung, Tuebingen, 1959, 19s). b) Xác định các mục tiêu: Hiến Pháp xác định các mục tiêu, mà quyền hành Quốc Gia được giao cho, có phận sự phải đạt được. Ví dụ điển hình của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc chẳng hạn: - “ Bổn phận của nền Cộng Hoà là dẹp đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thực sự cản trở tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở ” (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều khoản vừa trích dẫn cho thấy Hiến Pháp xác định mục tiêu của tổ chức Quốc Gia Ý, “cho phép họ phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở ”. Với những mục đích nhằm đạt đến như vừa kể, Hiến Pháp quy trách cho các cơ chế Quốc Gia, “ bổn phận của nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội ”. Như vậy, nếu những mục đích trên không đạt được, nếu người dân không “ phát triển được hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào đời sống cộng đồng của xứ sở ”, vì tổ chức cơ chế Quốc Gia thiếu trách nhiệm, hoạt động không hiệu năng, xử sự theo bè phái, thiên vị, không “ dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội ”, người dân có quyền tố cáo tổ chức cơ chế Quốc Gia, Viện Bảo Hiến có quyền duyệt xét và tuyên án hành vi thiếu trách nhiệm, vi hiến của cơ chế Quốc Gia và Quốc Hội có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm cơ quan liên hệ, bắt buộc phải bải nhiệm. Cũng vậy sau khi xác định mục đích tối hậu của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, - “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm ” (Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), Hiến Pháp quy trách cho cơ chế Quốc Gia: - “ Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp ” (Điều 1, đoạn 3, id.). Nói cách khác, nếu con người không được tôn trọng xứng đáng với nhân phẩm của mình, các quyền căn bản của mình mà Hiến Pháp đứng ra bảo vệ bị xâm phạm, các chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp là các cơ chế Quốc Gia đã hành xử quyền lực của mình một cách vô trách nhiệm, vi hiến, và như vậy sẽ chịu hậu quả mà Hiến Pháp tiền liệu trong những điều khoản sẽ đề cập đến trong thân bài của Hiến Pháp. Nêu ra những điều khoản vừa kể của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức để làm ví dụ, chúng ta thấy rằng các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu có mục đích tối hậu là bảo đảm con người, trong khi đó thì Hiến Pháp các nước Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa được viết ra nhằm mục đích bảo vệ thể chế Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa của họ: - “ Phù hợp với mục đích xây dựng chế độ Cộng Sản, công dân Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết được bảo đảm tự do sáng tạo khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật…( Điều 47, đoạn 1 Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết) - “ Phù hợp với quyền lợi của nhân dân và với mục đích kiện toàn và phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa, công dân Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết được bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, tuần hành và biểu tình ngoài đường phố…( Điều 50, đoạn 1, id.). Đọc hai điều được trích dẫn Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết, chúng ta thấy rằng mục đích của Hiến Pháp không phải nhằm bảo vệ con người, mà bảo vệ chế độ và ý thức hệ Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa của họ, “ phù hợp với mục đích xây dựng chế độ Cộng Sản…, …với mục đích kiện toàn và phát triển chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa…”. Điều đó có nghĩa là khi người công dân có những hành động nào “ không phù hợp với mục đích xây dựng chế độ Cộng Sản…, với mục đích kiện toàn và phát triển Xã Hội Chủ Nghĩa…”, thì các quyền tự do mà Hiến Pháp đứng ra tuyên bố và bảo đảm cho họ ( tự do sáng tạo khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật,…, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, tuần hành, biểu tình ngoài đường phố…) sẽ được coi bằng không. Nói cách khác, nếu người công dân Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết không chấp nhận ý thức hệ Cộng Sản, có hành động không phù hợp để “ xây dựng…, kiện toàn và phát triển chế độ Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa ”, họ sẽ không còn có một quyền tự do nào được bảo đảm. Và một khi con người không còn có một tự do nào, là con người trở thành nô lệ. Con người không có giá trị gì hơn thú vật ! Điều đó cắt nghĩa tại sao trong chế độ Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa con người bị bắt bớ, bỏ tù, đánh đập, lợi dụng, bị xét xử tùy hỷ, nô lệ hóa và đê tiện hoá như thú vật. Ý thức hệ Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa là ý thức hệ nô lệ hóa và thú vật hóa con người, không xứng đáng với loài người! Điều đó cũng là lý do tại sao Cha Hortz S.J., giáo sư luật Hiến Pháp tại Đại học Gregoriana ( Roma ) đã phát biểu: - “ Trong ý thức hệ Cộng Sản không có con người ! ” ( P. Hortz S.J., La Nuova Costituzione Sovietica, in Civiltà Cattolica, 1978, 40). Với những dẫn chứng vừa kể, chúng ta thấy rằng mục đích được Hiến Pháp xác định thay đổi thùy theo thể chế của Quốc Gia mà Hiến Pháp muốn tuyên bố. Quan niệm của Hiến Pháp về thể chế mà Hiến Pháp muốn xác định cũng như hệ thống luật pháp được Hiến Pháp tiền liệu chỉ là dụng cụ của ý thức hệ chính trị nằm bên dưới, làm nền tảng cho Hiến Pháp. Vai trò dụng cụ vừa kể, thể hiện thực rõ rệt trong các Hiến Pháp có mục đích tuyên bố ý thức hệ hơn là xác định các phương thức tổ chức Quốc Gia, trường hợp Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết vừa rồi với các từ ngữ “ phù hợp với mục đích xây dựng chế độ Cộng Sản…, với mục đích kiện toàn và phát triển Xã Hội Chủ Nghĩa…” là những minh chứng. Bất cứ hiến pháp nào cũng được lồng vào đó ý thức hệ, tự do dân chủ và nhân bản, hay Cộng Sản, Xã Hội Chủ Nghĩa. Không có Hiến Pháp nào là Hiến Pháp vô thưởng vô phạt, “ trung lập ”, không màu sắc (Biscaretti di Ruffía P., La Repubblica Popolare Cinese, Giuffré, Milano 1977). B - Chất liệu. Chất liệu là đối tượng mà các điều khoản Hiến Pháp muốn xác định: - cách tổ chức thiết yếu của định chế: xác định các cơ chế hiến định, nhứt là những cơ chế có quyền đưa ra đường lối chính trị Quốc Gia và thiết định luật pháp, gồm cả thể thức tuyển chọn các người lãnh đạo của mỗi cơ chế. - xác định tiến trình để thực hiện lý tưởng căn bản đã được lựa chọn làm đường lối: xác định bổn phận của định chế phải làm thế nào để tiến trình được thực hiện trôi chảy, nguyên tắc để lựa chọn chính hướng, ảnh hưởng đến việc tổ chức nhằm đạt được mục đích. - địa vị của dân chúng bị trị ( cá nhân hay tập thể ), - tương quan giữa các cơ quan hiến định, nhứt là giữa Hành Pháp và dân chúng, giữa giới hành quyền và kẻ bị trị. Dĩ nhiên không phải Hiến Pháp nào cũng hội đủ tất cả những chất liệu vừa kể. Ngoài ra một vài Hiến Pháp cũng có thể thêm những đạo luật xác định không những những nguyên tắc căn bản, mà còn cả những gì các vị soạn thảo cho là cần thiết hoặc nên có. Do đó một vài Hiến Pháp rất ngắn gọn cân đối, trong khi đó một vài Hiến Pháp khác nặng nề, dài dòng. Các Hiến Pháp tự do thế kỷ 18 thường xác định những chất liệu như: - vai trò của các cơ chế hiến định, - địa vị của vua và đại hội đồng cùng với các quyền tự do. Nhưng khởi đầu từ Hiến Pháp Mễ Tây Cơ 1917 và Hiến Pháp Đức Quốc 1919 ( Weimar) các Hiến bắt đầu đề cập đến: - cần gia tăng mức can thiệp của chính quyền vào đời sống kinh tế và xã hội, - cần hợp lý hoá ( razionalizzazzione) cách tổ chức chính quyền. Và đó là đặc tính của nhiều Hiến Pháp từ sau thế chiến thứ I và thức II trở đi. Các Hiến Pháp của các Quốc Gia Liên Bang: - thiết định các mối liên hệ giữa các Tiểu Bang với Liên Bang và giữa các Tiểu bang với nhau, thành ra Hiến Pháp trở nên dài vì có khá nhiều điều khoản. Đặc biệt là Hiến Pháp Ấn Độ có gần đến 400 điều. Hiến Pháp Pháp Quốc sau Cách Mạng 1789, Hiến Pháp Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết, Hiến Pháp Xã Hội Chủ Nghĩa, Hiến Pháp các Quốc Gia mới độc lập gần đây có khuynh hướng nâng cao giá trị ý thức hệ và nhấn mạnh đến đặc tính tuyên truyền: “ Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nền văn hiến Việt Nam. Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, làm Cách Mạng tháng Tám thành công” ( Tiền Đề Hiến Pháp 1992 Cộng Sản Việt Nam). là những Hiến Pháp khá dài, nhiều khi Hiến Pháp dài vì phải đúc kết, hoà hợp pha lẫn nhiêu khuynh hướng chính trị khác nhau, để được ít nhứt là đa số đồng thuận viết lên Hiến Pháp ( Schmith C., Verfassungslehre, Munchen-Leipzig, 1928, trad.it. Dottrina della Costituzione, Giuffré, Milano 1984, 28-38) Qua những gì chúng ta vừa liệt kê, chất liệu của mà Hiến Pháp đề cập đến, đại đa số các điều khoản, có liên quan đến: - hệ thống tổ chức các cơ quan hiến định ( các cơ chế, quyền hạn và các mối tương giao giữa các cơ chế với nhau), - các quyền tự do ( vị trí của cá nhân đối với quyền hành được chỉ định, tuyên bố các quyền tự do, các phương thức để bảo đảm và thực thi, tiêu cực cũng như tích cực). 1 - Hệ thống tổ chức các cơ quan hiến định: - chủ thể được giao phó lãnh đạo quyền hành (địa vị, nhiệm vụ và quyền hạn của những chủ thể đứng chung nhau điều hành và hoạt động trong một cơ quan, hoặc chỉ đề cập đến một phần chính yếu của cơ quan), - hình thức xử dụng quyền hành: tập trung quyền bính hay phân quyền, quyền hành trung ương và tản quyền đến các cộng đồng và tổ chức địa phương. - phương thức xử dụng quyền hành: tiến trình để đi đến các quyết định *chính trị, *luật pháp, *quản trị * có bảo đảm hay không sự đồng thuận của dân chúng trong các quyết định chính trị, nhứt là những quyết định có liên hệ trực tiếp đối với họ ( hay ngược lại, chỉ chủ trương nguyên tắc áp đặt đơn phương các quyết định vừa kể). Điều 4 và điều 6 sau đây của Hiến Pháp 1992 của Cộng Sản Việt Nam có bảo đảm sự đồng thuận của dân chúng hay không, đọc để mỗi người chúng ta tự trả lời: - “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội ngủ tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Điều 4 Hiến Pháp 1992 Cộng Sản Việt Nam). - “ Quốc Hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà Nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ ” (Điều 6, đoạn 2, id.). * và sau cùng định chế mà Hiến Pháp đưa ra có đặt điều kiện, ảnh hưởng đến các cơ quan trong việc lựa chọn quyết định, nhằm đạt được mục đích mà chính ý thức hệ làm nền tảng bên dưới, xác định thể chế Quốc Gia và phương thức tổ chức các cơ chế phải có hay không. Các câu hỏi vừa kể nói lên đặc tính của Quốc Gia: Trong Quốc Gia Dân Chủ : nguyên tắc phân quyền được áp dụng, với sự hiện diện của nhiều cơ quan hiến định khác nhau, được đặc trách mỗi cơ quan hoạt động trong phận vự của mình. Hiến Pháp cũng xác định các phương thức để mỗi cơ quan hành xử chức vụ được giao phó: - “ Mọi quyền bính Quốc Gia phát xuất từ dân chúng.Dân chúng xử dụng quyền hành của mình trong các cuộc tuyển cử và trưng cầu dân ý, và qua các cơ quan chuyên biệt của quyền Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp” (Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). Trong khi đó thì Quốc Gia Xã Hội Chủ Nghĩa, nguyên tắc tập quyền là quốc sách. Theo họ, thì nguyên tắc trung ương tập quyền là phương thức bảo đảm hữu hiệu nhứt quyền tối thượng của nhân dân. Mối liên hệ giữa các cơ quan với nhau chỉ có thể được biện minh, nếu tạo cho hệ thống tổ chức XHCN hoạt động trôi chảy, đều hoà. Và đó là những gì Cộng Sản đã viết ra trong điều 6 Hiến Pháp 1992 của họ, chúng ta đã có dịp trích dẫn ở trên. Trong Quốc Gia Chuyên Chế : nguyên tắc tập quyền được hành xử theo khuôn mẫu Phát Xít. 2 - Định chế quyền hạn. Phần lớn văn bản Hiến Pháp được dành để tuyên bố và định chế để bảo đảm quyền của người dân. Đặc tính trước tiên của Hiến Pháp là đặc tính bảo chứng: - “ Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng ( garantismo). Ở Âu Châu, người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản luật pháp nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ bản, thể hiện một thể chế Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm cho một Chính Quyền có giới hạn” ( Giovanni Sartori, Elementi di Teoria Politica, II ed., Bologna, Il Mulino, 1995, 18). Ngoài văn bản Hiến Pháp ra, các quyền của con người cũng được định chế trong các văn bản khác có đặc tính gần như Hiến Pháp, được gọi bằng nhiều danh hiệu khác nhau: Tuyên Ngôn ( Dichiarazione): “ Tuyên Ngôn nhân quyền và quyền công dân Cách mạng Pháp quốc 1789”. Hiến Chương ( Carte): “ Bill of Rights ” của các thuộc địa Anh Quốc tại Bắc Mỹ năm 1776. Hiến Pháp, Tuyên Ngôn hay Hiến Chương long trọng tuyên bố các quyền được xem là những quyền tự nhiên của con người, như: - quyền sở hữu, - quyền tự do các nhân, - quyền an ninh, - quyền chống lại mọi áp bức ( Giuseppe De Vergottini, Diritto Costituzionale Comparato, V ed., Cedam, Padova 1999, 194). Các quyền được Hiến Pháp, Tuyên Ngôn hay Hiến Chương vừa kể tuyên bố và bảo đảm cho thực hiện là những quyền đã được Hiến Chương “ Bill of Rights” Anh Quốc 1689 đề cập đến trước và cho đó là các quyền tự nhiên đã được bảo đảm cho người dân “ Common Law”. Thường thường thì các quyền của con người vừa kể viết ra trong Tuyên Ngôn hay Hiến Chương, được lập lại và long trọng tuyên bố ở Tiền Đề của Hiến Pháp, như Hiến Pháp 1946 và 1958 Pháp Quốc: - “ Dân tộc Pháp long trọng tuyên bố trung thành với các quyền của con người và với các nguyên tắc tối thượng Quốc Gia như Tuyên Ngôn 1789 định nghĩa và được xác nhận bởi Tiền Đề Hiến Pháp 1946 ” ( Tiền Đề Hiến Pháp 1958 Pháp Quốc). Nhưng nhiều khi các quyền vừa kể cũng được viết sau khi Hiến Pháp đã ban hành như trường hợp Hiến Pháp Philadelphia 1787 của Hoa Kỳ. Các văn bản tuyên bố nhận biết, bảo đảm và thực thi các quyền của con người là những tu chính án mà Hoa Kỳ viết thêm vào Hiến Pháp, kể từ năm 1789 trở đi. Tuyên bố trong các văn bản tách rời khỏi Hiến Pháp ( Tuyên Ngôn, Hiến Chương, viết trước) hay (ở các tu chính án, viết sau khi Hiến Pháp được ban hành để bổ khuyết), hoặc tuyên bố chính trên văn bản Hiến Pháp ở những dòng đầu, ở phần Tiền Đề, để nói lên tính cách long trọng và tối quan trọng của những quyền mà Hiến Pháp muốn định chế và do đó mọi người phải tôn trọng. Đó là những gì một số Hiến Pháp đã làm, Hiến Pháp Hoa Kỳ, Hiến Pháp 1946 và 1958 Pháp Quốc mà chúng ta vừa đề cập. a) Các quyền tự do căn bản Nhưng bắt đầu từ Hiến Pháp Bỉ Quốc 1831 trở đi, các quyền tự do căn bản của con người được nhiều Hiến Pháp - đưa vào chính thân bài của Hiến Pháp - và viết thành những điều khoản luật thực định ( legge positiva) có tính cách bắt buộc phải thi hành, chớ không còn là những lời tuyên bố long trọng lý tưởng trên nguyên tắc ( Giuseppe de Vergottini, op. cit., 204) Nói cách khác, các Hiến Pháp Tây Âu, nhứt là các Hiến Pháp sau thế chiến thứ hai, không còn đặt nặng vấn đề “ long trọng hay không long trọng ”, mà “ hiệu lực hay không hiệu lực ” để bắt buộc phải thi hành. Đó là những gì chúng ta có thể gặp được ở Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, - tuyên bố các quyền căn bản của con người từ điều 1-12 - và định chế bắt buộc phải thực hiện được viết ra như những đạo luật thực định có tính cách bắt buộc phải thực hiện ( 13-54), quy trách cho những ai là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp. Và đây là bằng chứng: Sau khi tuyên bố các quyền bất khả xâm phạm của con người: “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như các nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi người phát triển con người của mình…” (Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), Hiến Pháp quy trách cho tổ chức Quốc Gia phải chịu trách nhiệm thực hiện những gì Hiến Pháp “ nhận biết và bảo đảm ”: - “ Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, cản trở họ phát triển hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở ” (Điều 3, đoạn 2. id.). Cũng vậy, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức - đặt các quyền căn bản của con người vào phần đầu của Hiến Pháp và liên tục tuyên bố trong 19 điều khoản ( 1-19), bằng những đạo luật thực định, - quy trách có tính cách bắt buộc cơ chế Quốc Gia phải thi hành: - “ Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hòa bình và công chính trên thế giới. Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền đòi buộc trực tiếp” (Điều 1, đoạn 1,2 và 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). b) Đặc tính cứng rắn bất di dịch: Ngoài ra hình thức tuyên bố các quyền bất khả xâm phạm của con người trong thân bài của Hiến Pháp, biến các lời tuyên bố thành những đạo luật thực định như vừa kể, một phương thế khác để bảo vệ thể chế nhân bản, dân chủ tự do, để làm khung sườn và nền tảng vững chắc bảo đảm trong đó con người được tôn trọng, là thiết định một số điều khoản bất di dịch. Cấm tuyệt đối mọi tu chính, sữa đổi, thêm bớt, nếu không muốn phá đổ Hiến Pháp và đạp đổ luôn cả thể chế mà Hiến Pháp bảo chứng: - “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, liên quan đến việc tham dự của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp hay liên quan đến các nguyên tắc được tuyên bố ở các điều 1 và 20 ” (Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). (Điều 1 là điều tuyên bố về phẩm giá con người bất khả xâm phạm và điều 20 là phần định nghĩa thế chế Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội của Quốc Gia). c) Phương thức tản quyền Kế đến, ngoài ra phương pháp cỗ điển để bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người trong thể chế dân chủ và nhân bản là phương pháp phân chia quyền lực, nguợc lại với lối cai trị tập quyền của Cộng Sản. Quyền tự trị của tư pháp được bảo đảm để thể chế Quốc Gia có khả năng thiết thực bảo đảm các phương thức hành xử quyền bính tùy hỷ của Chính Quyền và giới chức hành chánh. Tuy vậy, phương pháp phân quyền cũng chưa có hiệu lực hữu hiệu để tránh các lạm dụng của Lập Pháp và Hành Pháp, nhứt là trong trường hợp thành phần đa số đương quyền vừa đa số trong Chính Quyền và đa số trong Quốc Hội. Bởi đó nếu ở Hoa Kỳ có Tối Cao Pháp Viện, thì ở một số các Quốc Gia Âu Châu có Viện Bảo Hiến để kiểm soát tính cách hợp hiến hay vi hiến các đạo luật, nghị định, pháp lệnh được Chính Quyền soạn thảo, một vài lực lượng chính trị đề nghị và được Quốc Hội chuẩn y. Một đạo luật bị Viện Bảo Hiến hay Tối Cao Pháp Viện phán quyết là vi hiến sẽ trở thành vô hiệu, cần phải được sửa đổi hay trở thành bất hiệu lực: - “ Viện Bảo Hiến sẽ quyết định, trong trường hợp bất đồng ý kiến hay nghi vấn, hình thức cũng như nội dung, một đạo luật Liên Bang hay một đạo luật của các Tiểu Bang thích hợp hay bất đồng đối với Hiến Pháp nầy hay việc thích hợp hay bất đồng một đạo luật của một Tiểu Bang đối với đạo luật của một Tiểu bang khác, theo lời yêu cầu của Chính Quyền Liên Bang, một Chính Quyền của một Tiểu Bang hay của 1/3 thành viên Hạ Viện ” (Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức). d ) Các quyền dân sự ( droit civil): Các quyền dân sự hay các quyền căn bản ( droits fondamentaux), cũng được gọi là các quyền tự do ( droits de liberté), là những quyền trong các Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ, Tự Do, được “nhận biết và bảo đảm ”, như là những quyền liên hệ đến bản tính con người, bất khả vi phạm, nếu không muốn vi phạm đến cả bản tính của con người; bất khả vi phạm chống lại quyền lực Quốc Gia nói riêng và chống lại bất cứ mọi vi phạm nào khác, bất cứ từ đâu đến ( erga omnes): - “ Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi các nhân phát triển con người của mình…” (Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Quyền dân sự là các quyền có liên hệ trực tiếp đến nhân vị cá nhân: tự do cá nhân, tự do gia cư, bí mật thư tín, tự do tư tưởng, ngôn luận, tôn giáo, hội họp, nhập hội, kinh tê). Qua tiến trình các cuộc cách mạng đẩm máu chống quân chủ, lãnh chúa và độc tài của người dân Tây Âu lục địa, cũng như tiến trình ôn hòa dai dẵng “ dành lại từng tất đất ” các quyền tự do dân sự, “ no taxation without representation ” của người dân Anh Qưốc, các quyền dân sự được biểu dương trong Hiến Pháp như là những quyền nhằm loại bỏ mọi hành động can thiệp nhằm giới hạn hay bó buộc về phía tổ chức cơ chế Quốc Gia. Nói cách khác đó là những quyền “ tự do tiêu cực ”, bởi lẽ khi tuyên bố: - “ Mọi người dân Đức đều có quyền tự do di chuyển trên toàn lãnh thổ Cộng Hoà Liên Bang Đức ” (Điều 11, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức), điều đó có là “ không ai có quyền cấm người dân Đức di chuyển…”, bất cứ người đó là ai, cá nhân hay đoàn thể, Chính Quyền Liên Bang hay Chính Quyền các Tiểu Bang cũng vậy. Để bảo đảm cho các quyền dân sự vừa kể, ngoài những biện pháp tiêu cực được đề cập, Hiến Pháp cũng tiên liệu cho việc kiểm soát tính cách hợp pháp ( légitime ) các hoạt động của các cơ quan công quyền, dành quyền quyết định cho luật pháp thông thường: - “ Gia cư bất khả xâm phạm. Không thể chấp nhận bất cứ kiểm tra, lục xoát, trung thu nào, nếu không trong các trường hợp và theo thể thức được luật pháp ấn định, nhằm bảo đảm tự do cá nhân ” (Điều 14, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Điều đó có nghĩa là chỉ có các trường hợp và theo các thể thức xác định của các đạo luật do Quốc Hội thường nhiệm chuẩn y. Nói cách khác, Chính Quyền nói chung và cơ quan công lực nói riêng, cảnh sát, công an, hiến binh, quân đội, bất kể, không thể tự mình thảo ra “ nghị định”, “ án lệnh ”, “ pháp lệnh ” để ập vào nhà dân, kiểm soát, lục xét, trưng thu, bắt giam tùy hỷ. Tất cả những hành vi đó là những hành động vi hiến, và các “ nghị định, án lệnh, pháp lệnh” mặc nhiên được coi là những lệnh vô giá trị, chịu trách nhiệm trước Viện Bảo Hiến. Ngoài ra, một đôi khi, Hiến Pháp - không những dành quyền hạn chế cho luật pháp thông thường ( riserva di legge), - còn dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháp ( riserva rinforzata di legge ): * " Mọi bạo lực trên thân xác và mọi khủng bố trên tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt " ( Điều 13, đoạn 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ). * " Hình phạt không thể nào gồm những ngược đãi vô nhân đạo đối với phạm nhân và phải nhằm để cải hoá đương sự " ( Điều 27, đoạn 2, id.). * " Không có bất tứ một trường hợp nào. trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó " ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ). Điều đó có nghĩa là mặc dầu Quốc Hội được Hiến Pháp giao cho quyền soạn thảo và chuẩn y luật pháp, nhưng những lằn mức như vừa kể Quốc Hộikhông thể nào vượt qua, nếu không muốn các đạo luật được chuẩn y trở thành vi hiến, vô hiệu lực và Quốc Hội sẽ phải chịu trách nhiệm thích đáng, kể cả bị giải tán trước định kỳ. - còn nữa, ngoài ra Hiến Pháp còn dùng dùng phương pháp dành quyền quyết định tuyệt đối cho tư pháp ( riserva assoluta al potere giudiziario ) : - “ Không thể chấp nhận bất cứ việc bắt giữ, khám xét, lục soát nào đối với cá nhân, cũng như bất cứ giới hạn nào đối với tự do cá nhân, nếu không có trác án có lý chứng của cơ quan tư pháp và chỉ trong các trường hợp và theo thể thức được luật pháp ấn định” (Điều 13, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy, sau khi dành quyết định tăng cường chỉ có cơ quan tư pháp và trong trường hợp có lý chứng mới được quyền ra “ trác án ” như trên, việc bắt giữ, khám xét, lục soát trên con người của mỗi cá nhân chỉ được thực hiện “ trong các trường hợp và theo thể thức luật định ”, các vị soạn thảo Hiến Pháp còn tăng cường thêm giới hạn đối với Quốc Hội thường nhiệm sau nầy có trách nhiệm chuẩn y luật pháp. Không phải Quốc Hội muốn “ chuẩn y ”“ cho ban hành ” luật pháp thế nào tùy hỷ , nhứt là để “ nhứt trí với các đồng chí bên cơ quan Nhà Nước ”, mà chỉ được “chuẩn y ” và “ cho ban hành ” các đạo luật không được đi ra ngoài tinh thần hiến định. Nói cách khác, Quốc Hội không thể “ chuẩn y ”“ cho ban hành ” các đạo luật thiết định “ trường hợp và thể thức ” trong đó người bị giam giữ có thể bị hành xử bạo lực trên thân xác và khủng bố tinh thần. e) Quyền chính trị: Trong một Quốc Gia Dân Chủ Đại Diện, đó là những quyền bảo đảm cho người dân có quyền và tự do quyết định chính hướng Quốc Gia. Quyền tham gia vào cuộc sống Quốc Gia, tham gia quyết định đường lối chính trị của đất nước được Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố: - “ Mọi quyền lực Quốc Gia đều phát xuất từ dân chúng. Dân chúng xử dụng quyền hành của mình trong các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp ” (Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức). Và đây là những điều kiện thiết yếu để người dân trong một Quốc Gia Dân Chủ Đại Diện hành xử quyền lực của mình trong các cuộc bầu cử, chọn người đại diện: - “ Các nghị sĩ Hạ Viện được tuyển chọn qua các cuộc đầu phiếu phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín…” (Điều 38, đọan 1, id.). Nhưng muốn có được các đặc tính trên của các cuộc bầu cử dân chủ, trong thời gian chuẩn bị trước bầu cử, người dân phải được bảo đảm - quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để truyền bá tư tưởng, tạo được ý kiến quần chúng, - tự do lập hội và gia nhập hội thành chính đảng. Các chính đảng phải được tự do hoạt động để chuyển đạt lý tưởng và chương trình thực hiện của mình vào việc tổ chức và quảng trị đất nước, tạo được sự đồng thuận của đa số trong việc lãnh đạo Quốc Gia. Quyền tự do chính trị, trong một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ Tự Do, - không những chỉ được hiểu là quyền tự do dưới hình thức tiêu cực, “ Chính Quyền không được hạn chế, cấm cản người dân tham gia vào cuộc sống Quốc Gia ”, - mà còn phải được hiểu dưới hình thức tích cực: tổ chức Quốc Gia tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân dùng quyền tự do chính trị của mình tham gia tích cực để hướng dẫn và xây dựng Quốc Gia: - “ Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập hội thành chính đảng, để cộng tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ” (Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Như vậy để chu toàn bổn phận “ nhận biết và bảo đảm ” các quyền bất khả xâm phạm của người dân, tổ chức Quốc Gia - không những tránh mọi hành vi hạn chế, đàn áp cản trở người dân, - mà còn có bổn phận tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích họ tham gia chính trị, gia nhập chính đảng, “ để cộng tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ”. f)Quyền xã hội: Là nhưng quyền mà Hiến Pháp « nhận biết và bảo đảm » các phục vụ mà Quốc Gia có bổn phận cung cấp cho người dân dựa trên tài nguyên kinh tế của Quốc Gia. Đó là các quyền làm việc, an sinh xã hội, bảo đảm hưu bổng, tổ chức giáo dục, văn hóa, y tế. Quốc Gia có bổn phận tiền liệu và thiết định thế nào để tạo nên mức quân bình giữa những ai có của cải dồi dào và những người thiếu thốn. Đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc quy trách cho tổ chức Quốc Gia chịu trách nhiệm : - « Bổn phận của nền Cộng Hòa là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại trong khi thật sự cản trở tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở » (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). - « Mọi công dân không có khả năng làm việc, và thiếu phương tiện cần thiết để sống, có quyền được nuôi sống và trợ cấp xã hội… » « Những người tàn tật và người khiếm khuyết có quyền được giáo dục và khởi công chức nghiệp. » « Những quyền được liệt kê trong điều khoản nầy sẽ được các cơ quan và tổ chức được thiết lập để thực thi hoặc được Quốc Gia bổ túc » (Điều 38, đoạn 1,3 và 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). g) Quyền của các tổ chức xã hội trung gian và cộng đồng quốc tế : Ngoài ra việc tuyên bố và phương thức để « nhận biết và bảo vệ » các quyền dân sự, chính trị và xã hội của cá nhân được đề cập, các Hiến Pháp Tây Âu cũng đề cập đến các quyền vừa kể đối với các tổ chức xã hội trung gian: các nhóm sắc tộc và ngôn ngữ thiểu số, các tổ chức tôn giáo, chính đảng, công đoàn lao động, gia đình, học đường, hiệp hội kỹ nghệ và thương mại, hiệp hội nghề nghiệp, hiệp hội tương tế, liên đới, tổ chức từ thiện, thiện nguyện… : - « Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình, và đòi buộc bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội » (Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc). Để tránh cho bài viết quá dài, phần tu chính và bổ túc của nội dung Hiến Pháp, chúng tôi xin dành lại cho lần tới.

 

Trong Phúc Âm Thánh Luca chúng ta thường gặp được Chúa Giêsu như là người lữ hành và như là người khách được mời đến dùng bửa hay tạm trú. Người lợi dụng các cơ hội được mời vừa kể để gặp được một vài hạng người và nhân đó khai mở cho họ về sứ điệp mà Người muốn truyền đạt cho. Nếu Phúc Âm hôm nay đề cập đến " bửa ăn trong lúc làm việc thường nhật ", - " Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn chỗ tốt mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn nầy " ( Lc 14, 7), thì truyền thống từ cổ xưa đều quan niệm bửa ăn là cơ hội thuận tiện để bàn thảo, trao đổi ý kiến. Trong truyền thống Hy Lạp, từ thời Xenophon và Platon, bửa ăn là bối cảnh trong đó là cơ hội thuận tiện để nói lên tư tưởng, sứ điệp mình muốn chuyển đạt đến các khách đồng bàn. Cũng vậy, trong bối cảnh đoạn Phúc Âm hôm nay, cuộc hội hợp để dùng bửa là cơ hội để Chúa Giêsu chuyển đến các người đồng bàn và dĩ nhiên là cho cả chúng ta, những người đọc Phúc Âm sau nầy, lời giảng dạy của Người. 1 - Đoạn Phúc Âm gồm có câu đầu riêng rẻ, để diễn tả bối cảnh trong đó lời giảng dạy của Chúa Giêsu sắp được ghi lại và chuyển đến người đọc: - " Một ngày sabat, Chúa Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bửa: họ có ý dò xét Người " ( Lc 14, 1). Kế đến chúng ta có hai phần liên kết nhau vì có liên quan đến chủ đề " mời và được mời " ( Hy Lạp, " kaléo ", kêu gọi, mời mọc và quá khứ phân tử ( participe passé ), " được mời ", được lập đi lập lại đến 9 lần trong đoạn Phúc Âm ): - phần thứ nhứt là một dụ ngôn ( Lc 14, 7-11), được hiểu theo nghĩa rộng, được Chúa Giêsu dùng để phán dạy về thái độ ăn ở phải cách ( savoir-vivre, politesse ), khi mình được mời. - phần thứ hai ghi lại các lời khuyên bảo đối với chủ nhà, đáng lý ra phải mời ai ( Lc 14, 8-14). Câu nhập đề ( Lc 14, 1 ) cho chúng ta biết người mời Chúa Giêsu hôm đó là một thủ lãnh của nhóm Pharisêu giúp chúng ta hiểu rõ hơn sứ điệp, mà Chúa Giêsu muốn nói với các người đồng bàn hôm đó và với chúng ta trong cuộc sống Ki Tô hữu: - " Một ngày sabat kia, Chúa Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh hóm Pharisêu để dùng bửa: họ có ý dò xét Người ". Hiểu được thâm ý của người chủ nhà mời Người hôm đó, Chúa Giêsu cũng không lấy gì làm khó khăn để nhận lời mời, với tư cách là con người tự do và cởi mở đối thoại, Người không có bất cứ một mặc cảm thành kiến nào, cũng không bị ảnh hưởng của những lần chạm trán, đụng độ trước đó để khước từ ( Lc 11, 37-54). Câu trích dẫn vừa kể cho thấy Thánh Luca có ý muốn nhấn mạnh đến thời gian tính hôm đó là ngày sabat, tiên báo sẽ có những bất ổn sẽ xảy ra sau đó, như Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm, khi Người chữa trị cho người mắc bệnh phù thủng: - " Người lên tiếng nói với các thầy thông thái luật và những người Pharisêu: " Có được phép chữa bệnh ngày sabat hay không?... " Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sabat ? " ( Lc 14, 3.5). Câu chuyện vừa kể được Phụng Vụ bỏ qua, để đi liền đến câu ( Lc 14, 7) của chủ đề hôm nay, dầu vậy ý nghĩa của việc " bó buộc phải tuân giữ ngày sabat " và thái độ " họ có ý thử Người " cũng là bầu không khí bao trùm chủ đề chúng ta đang suy niệm. 2 - Bài dụ ngôn chính thức, hiểu theo nghĩa rộng, được Chúa Giêsu nói lên trong hai câu ( Lc 14, 8-9), được đóng khung trong lời nhận xét của Chúa Giêsu ở câu ( Lc 14, 7) - " Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn nầy ", và lời kết thúc tổng quát ở câu ( Lc 14, 11): - " Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên ". Bài dụ ngôn được diễn tả một cách linh động nhờ cách dùng động từ liên tục nối tiếp nhau, ở thì ở thể thụ động ( passif ) " được mời " ( 4 lần ) và ở thể tác động ( actif ) " mời " ( 2 lần ). Chúa Giêsu bắt đầu kể ra dụ ngôn, sau khi thấy các thực khách được mời đua nhau chiếm chỗ nhứt. Với đặc tính là người quan sát chính xác, Chúa Giêsu có đủ dữ kiện để chữa trị tập quán đương thời của xã hội lúc đó. Nhưng điều vừa kể không có gì làm cho chúng ta phải ngạc nhiên, bởi lẽ ngay trong thời đại chúng ta cũng không thiếu gì thái độ " ỷ lại ", " kẻ cả ", " cậy nhờ thế lực, phe phái ", ganh đua chạy mau, chiếm chỗ nhứt trong không thiếu gì lãnh vực, nhiều khi ngay cả trong lãnh vực tôn giáo cũng không phải khó kiếm. Thái độ đó có thể gặp những cái bất ngờ. Nhiều khi có những đấng bậc trưởng thượng, cao cả, quyền thế hơn đến trể, không có chỗ phải đứng. Có lẽ bởi đó hiện nay, trong các bửa tiệc cũng như trong các cuộc hội họp, chúng ta thường tổ chức với chỗ ngồi có giấy thiếp ghi tên họ và chức vị. Điều đó khiến cho cuộc tổ chức được dễ dàng, mỗi người đến chỗ của mình đã được thiết định trước. Nhưng hiểu như vậy, có lẽ là cách hiểu không có lý chứng cho rằng lời giảng dạy của Chúa Giêsu trong dụ ngôn chỉ là lời chỉ dạy đơn sơ về phép lịch sự, biết cách sống " savoir vivre " chúng ta thường gặp trong xã hội. Cũng vậy, lời giảng dạy của Chúa Giêsu trong dụ ngôn không phải chỉ là những gì Người nhắc lại đã được đề cập đến trong các sách Khôn Ngoan, bởi lẽ chúng ta có thể gặp được dễ dàng: - " Trước long nhan, đừng lên mặt kiêu kỳ, chớ đứng vào chỗ của hàng vị vọng. Thà được người ta bảo: " Xin mời ông lên trên ! ", con hơn bị hạ xuống trước người quyền cao chức trọng" ( Pr 24, 6-7). Chúa Giêsu luôn luôn nhằm vào điều chính yếu, bản chất của điều mình muốn phán dạy, bỏ qua những yếu tố dư thừa, bên ngoài. Người cấu trúc lời giảng dạy của mình dựa vào thực tế của kinh nghiệm. Khi được mời, tốt nhứt nên chọn chỗ rốt hết, để cho người mời được tự do chuẩn định giá trị của người được mời và từ đó mời mình lên chỗ cao hơn, vinh dự hơn: - " Khi anh đưọc mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhứt, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người mời cả anh vẫn nhân vật kia phải đến nói với anh: " Xin ông nhường chỗ cho vị nầy . Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi ghế cuối " ( Lc 14, 8-9). Ngay cả trong câu giảng dạy vừa kể, ý nghĩa của đoạn văn phải đưọc hiểu một cách chính đáng, để không rơi vào thái độ " khiêm nhường giả hình", để che giấu bên dưới lòng kiêu ngạo khôn khéo tinh vi. Lời nói của Chúa Giêsu có ý nghĩa muốn nói lên là nhũng người khác, những người đứng ra mời, chuẩn định giá trị của con người đương cuộc và quyết định phương thức để cho mọi người thấy rõ thực hữu của giá trị đó. Tiến trình tương phản giữa " xấu hổ "" danh dự " được đặt vào tình trạng của kẻ tự cao, tự đại, bị định chuẩn lên án phải duyệt xét lại thực chất của mình và để cho người khác đánh giá về mình, hơn là tự tôn, tự nâng cao phẩm chất mà có lẽ mình không có. Thái độ chọn chỗ chót hết phải được hiểu là mình nhìn những người được mời khác là những nhân vật quan trọng hơn mình hay ít nhứt cũng nên nghi ngờ là giữa họ có một vài người nào đó trổi vượt hơn mình, đáng trọng đải hơn mình. Đó là một giả thuyết thiết thực cần luôn luôn đặc tâm chú ý trong cuộc sống: - " Trái lại khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải nói: " Xin mời ông bạn lên trên ". Như vậy là anh được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn " ( Lc 14, 10). Câu ( Lc 14, 11) nói lên ý nghĩa thần học dụ ngôn mà cho đến đây chỉ diễn tả tính cách thế tục thông thường của cuộc sống: - " Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên " . Chúng ta đang ở vào câu kết luận tổng quát, có giá trị bất cứ trong hoàn cảnh nào. Điều tương tợ chúng ta có thể gặp được ở một câu văn khác của Phúc Âm Thánh Luca, đề cập đến dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện: - " Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên " ( Lc 18, 14). Có lẽ đọc thoáng qua, chúng ta không để ý giá trị thần học của câu nói, bởi động từ ở thể thụ động " sẽ bị hạ xuống ", " sẽ được nhắc lên ". Có thể chúng ta cho là câu nói diễn tả cách hành xử thường tình và dĩ nhiên , thường gặp được trong cuộc sống. Nhưng trên thực tế, nhiều nhà Thánh Kinh Học hiểu đó là cách diễn tả " thể thụ động thần học " ( passif théologique ), cách diễn tả quen thuộc trong ngôn ngữ Do Thái, để nói lên động tác của Thiên Chúa. Nhưng vì kính trọng Người, người Do Thái tránh cách diễn tả phải hài danh Chúa ra. Như vậy theo tâm thức và cách diễn tả Do Thái, và ở đây Chúa Giêsu đang nói với những người Do Thái, câu Phúc Âm trên có thể diễn tả ra ngôn ngữ chúng ta: - " Vì phàm ai tôn mình lên, Thiên Chúa sẽ hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, Chúa sẽ tôn nhắc lên ". Hiểu như vậy, cuộc sống của con người chúng ta đều được đặt trong tay Thiên Chúa. Chỉ có Chúa mới là Đấng đọc được và thấy được trong nội tâm sâu đậm của mỗi con người chúng ta, phán đoán chính đáng ý hướng của chúng ta. 3 - Động từ " sẽ phải xấu hổ " nói lên thái độ được diễn tả bằng tỉnh từ " hèn hạ ". Tỉnh từ vừa kể nói lên cách đánh giá thấp kém, " nô lệ ", " bất lực ", " không có giá trị " trong quan niệm Hy Lạp. Người tín hữu Chúa Ki Tô chúng ta được giáo dục theo một chiều hướng khác. Hình ảnh khiêm nhường, hạ thấp mình xuống là một nhân đức, chúng ta có Chúa Giêsu là mẫu gương và nguồn năng lực nơi Người. Làm sao Thiên Chúa có thể trỏ thành khiêm tốn? Để trả lời thích đáng ý nghĩa của câu hỏi, chúng ta cần xác định rõ ý nghĩa của quan niệm khiêm nhường. Khiêm nhường là thái độ lưu tâm đến đời sống người khác. Thiên Chúa, nơi con người Chúa Giêsu nhập thể, là Đấng đặc tâm lưu ý đến nhân loại chúng ta, sẵn sàng ban tặng cho chúng ta tất cả, ngay cả mạng sống Con của Người. Chúa Con sẵn sàng chịu chết cho tất cả mọi người. Như vậy khiêm nhường, trở thành chót hết là nhân đức của Thiên Chúa trước khi là nhân đức của con người. Bởi đó Chúa Giêsu dạy chíng ta: - " ...hãy bắt chước Ta, vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường " ( Mt 11, 29). Như vậy ý nghĩa đích thực của con đường nhân đức " Bắt Chước Chúa Ki Tô " " Anh đừng tin rằng mình đã đạt được một tiến triển nào, nếu anh không cho rằng mình thấp hèn hơn tất cả ". Khiêm nhưòng hiểu một cách nào đó là hiểu được các giới hạn của mình. Con người phải nhớ rằng bản tính nghèo hèn của mình. Từ ngữ La tinh " khiêm nhưòng " là humilitas. Và humilitas thoát xuất từ danh từ " humus ", bụi đất. Như vậy, mỗi người hãy lưu tâm nhận biết mình từ đâu thoát xuất ra và đâu là phẩm giá mà Thiên Chúa muốn cho mình, " con Thiên Chúa " ( Mt 6,9). Một nhà thần học luân lý nêu lên khiêm nhường trong ý nghĩa là " tách rời khỏi chính mình giúp cho chúng ta định giá được người khác " ( R Fabris ). Từ đó chúng ta hiểu được ý nghĩa của một nền luân lý mới: quy tựu ích kỷ vào vị tha, vượt thoát ra khỏi đời sống riêng tư để chú ý đến các nhu cầu cấp thiết của người khác. Nền thần học luân lý mới đó lấy có Chúa Ki Tô làm định chuẩn. Ai trong chúng ta cũng biết chính trong Buổi Tiệc Ly mà lời giảng dạy của Chúa Giêsu được thể hiện lên với tất cả chiều sâu thẩm của mình ( Lc 22, 24-27): - " Ai lớn nhứt trong anh em, thì phải nên người nhỏ nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên người phục vụ " ( Lc 22, 26). - " Thầy đây, thầy sống giữa anh em như một người phục vụ " ( Lc 22, 27). Những câu nói vừa kể cho thấy không những Chúa Giêsu nhận biết sự hiện diện của những người khác, mà còn đặt người khác ở địa vị cao cả và hy sinh cả mạng sống mình để phục vụ, cứu rổi con người. 4 - Tư tưởng vừa kể cho thấy cuộc sống người tín hữu Chúa Ki Tô là cuộc sống phục vụ anh em và phục vụ vô vị lợi. Ý nghĩa đó, chúng ta có thể đọc như là phần phụ đính của bài dụ ngôn, để giải thích thêm những gì Chúa Giêsu nói cho chúng ta biết qua lời giảng dạy của Người: - " Rồi Chúa Giêsu nói với kẻ đã mời Người: " Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con, oặc láng giềng giàu có, để họ cũng mời lại ông, và như vậy ông đã được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại " ( Lc 14, 12-14). Trong hai câu Phúc Âm vừa kể động từ " mời-được mời " ( 3 lần ), chúng ta đã có dịp gặp ở trên. Giờ đây, với các câu Phúc Âm vừa đọc, Chúa Giêsu nói trực diện với người đã mời Người và nêu lên cho ông những gợi ý hữu ích cho cuộc sống. Những tư tưởng gợi ý đó dĩ nhiên là vượt lên trên bối cảnh lúc đó và có giá trị đối với bất cứ người Ki Tô hữu nào. Thái độ định chuẩn giá trị đối với người khác, được Chúa Giêsu dạy chúng ta, vượt lên trên lãnh vực tình cảm, mối liên hệ bà con, dòng tộc, gia đình hay cách tính toán " có đi có lại ", " bánh ít đi, bánh quy lại " . Người khác phải được định giá trong thực tại thân thiết của anh ta, dựa trên bản tính con người và địa vị con Thiên Chúa của anh ta, chớ không phải theo những gì thể hiện ra bên ngoài: - " hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù ". Bởi vì những hạng người vừa kể được mời, chắc chắn họ không có gì để đền đáp, trao trả, bửa ăn chắc chắn sẽ là bửa ăn tặng không, nhưng vì địa vị cao cả của họ và tất cả đều được đặt vào tay Chúa, trao tặng cho Chúa. Câu kết luận cuối cùng xác nhận tính cách nhưng không làm cho các anh em bất hạnh thiếu phương tiện vừa kể sẽ không bị quên đi. Lòng đại lượng, yêu thương nhưng không đó sẽ được đền bù " trong ngày các kẻ lành sống lại ", khi Chúa phán xét con người về điều tốt lành mà họ đã thực hiện một cách chính đáng và không vụ lợi. Mọi việc đều giao hết cho Chúa, như những gì câu Phúc Âm ( Lc 14, 11) đã gợi ý cho, qua động từ ở thì thụ động thần học: - " Vì phàm ai tôn vinh mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên ". Chúa Giêsu dạy chúng ta hoàn toàn hướng về Thiên Chúa, dạy chúng ta biết hành xử với tự do nội tâm thoát khỏi những trói buộc tính toán lợi lộc làm cho con người trở thành trở thành nô lệ. Khiêm nhường là chú ý đến người khác, đến Chúa trước tiên và kế đến là đến mỗi anh em, nhứt là những anh em đang cần được giúp đở. Khiêm nhường Ki Tô giáo như vậy là hạ mình, nhưng không phải để đó, mà là khước từ tư lợi ích kỷ để phục vụ Chúa và phục vụ anh em. Chúa Giêsu là khuôn mẫu khiêm nhường tuyệt đỉnh mà chúng ta phải bắt chước, khiêm nhường để phục vụ, mưu ích cho chúng ta, đến nỗi ngay cả lúc cần phải hy sinh mạng sống để cứu rổi chúng ta, xóa bỏ đi quyền lực của tội lỗi để đem lại sự sống cho con người, người cũng không ngần ngại hy sinh. Hiểu như vậy, chúng ta thấy được lời khuyên bảo khiêm nhường của Chúa Giêsu trong cuộc sống không phải chỉ là lời khuyên bảo " thuần lịch sự " ( savoir vivre ), mà là những lời thúc giục qúy báu để chúng ta tìm được mối tương quan chính đáng đối với Chúa và đối với anh em, mối tương quan mà nhiều khi chúng ta bị lòng ích kỷ, tự kiêu che khuất, không thấy được đâu là những bước đi đáng lý phải có. Nếu chúng ta muốn gọi lời dạy bảo của Chúa Giêsu là các ăn ở theo " phép lịch sự ", phép lịch sự đó nên gọi là " phép lịch sự thần học " ( savoir vivre, politesse théologique ), cần phải cẩn thận tuân giữ, để là những người " biết lễ độ " trong trái tim và trước tôn nhan Chúa.

 

Trong bối cảnh của cuộc di chuyển trong đại, chiếm phần trung tâm chính của Phúc Âm Thánh Luca ( Lc 9-19), chúng ta gặp được đoạn Phúc Âm hôm nay, được Thánh Luca ghi lại và khai triển từ các yếu tố có cả trong Phúc Âm Thánh Matthêu, nhưng với cách sắp xếp khác nhau để cấu trúc thành một ý nghĩa một lời giảng dạy thuần nhứt và năng động. Đoạn Phúc Âm được khởi đầu bằng câu hỏi của một người vô danh, được Chúa Giêsu trả lời bằng cách sắp xếp các nhân vật thành một câu chuyện để giảng dạy: - " Có kẻ hỏi Người: " Thưa Thầy, những người được cứu thoát thì ít, có phải không ? " ( Lc 13, 23). Hiểu được ý nghĩa của đoạn Phúc Âm muốn nói với dân chúng lúc đó và dĩ nhiên với cả chúng ta, chúng ta thấy được Chúa Giêsu đưa ra ba câu giải thích cho câu hỏi vừa được nêu lên, bằng cách đề cập đến: - cửa hẹp ( Lc 13, 23-24), - cửa đã đóng lại ( Lc 13, 25-27) - và mọi người đều được vào Nước Thiên Chúa ( Lc 13, 28-30). 1- Thưa Thầy, người được cứu thoát thì ít phải không ? Đoạn Phúc Âm được khởi đầu bằng câu hỏi của một người nào đó, trong đám dân chúng đang nghe Chúa Giêsu giảng dạy, hỏi Người về số người được cứu rổi: - " Thưa Thầy, những người được cứu thoát thì ít, có phải không? ". Câu hỏi được đưa ra không phải lúc, vì có lẽ người đó đang hiểu lầm, bởi vì Chúa Giêsu đang đề cập đến " đoàn chiên nhỏ bé " của Người, nhóm các môn đệ ( Lc12, 32). Ngoài ra câu hỏi cho chúng ta biết được tâm thức của người Do Thái lúc đó, bởi lẽ vấn đề được cứu thoát hay được giải phóng, liên quan đến vấn đề dân Do Thái đưọc tuyển chọn. Các kinh sư vẫn thường nêu ra vấn đề vừa kể và những câu trả lời không mấy khi đồng thuận nhau. Phái Pharisêu có khuynh hướng cho rằng tất cả các người Do Thái đều được giải phóng hay cứu rổi. Nhưng người khác có khuynh hướng ngược lại, hạ thấp con số được cứu rỗi hay giải hoát xuống: - " Nhiều người ( = tất cả mọi người ) đều được dựng nên, nhưng ít người được cứu thoát " ( 4 Esd 8, 3). Hiểu đuợc tình trạng đó trong tâm thức Do Thái, chúng ta hiểu được ý nghĩa câu hỏi của người trong đám đông, đứng trước Vị Thầy Nazareth được nhiều người tin tuởng và gọi Người bằng " Chúa " ( Kýrios). Chúa Giêsu không trả lời thẳng vào câu hỏi, có vẻ như Người không có ý cho biết con số thống kê chính xác là bao nhiêu như nhân viên kế toán, cũng như không phải là nhà chiêm tinh bói toán tiên đoán vận mệnh, tương lai. Người hướng câu trả lời của mình về một định hướng khác. Đề cập đến " nhiều người " muốn được hội nhập vào bàn tiệc Nước Trời, nhưng không thành công hay tách xa khỏi những người khác: - " Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì Ta nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được " ( Lc 13, 24 ). Câu nói của Chúa Giêsu, hơn những gì chỉ là tiên đoán, đúng hơn là lời khuyên dặn thúc giục hãy có một sự lựa chọn can đảm và không thể trì trệ, dây dưa được. Hiểu như vậy ý nghĩa của đoạn Phúc Âm, với cách nói mạnh mẽ vừa kể, có ý thúc giục không thể trì trệ thái độ lựa chọn và cách hành xử phải có, nếu không muốn rơi vào tình trạng tuyệt vọng, khi thời điểm đã qua. Trong ý nghĩa đó, Chúa Giêsu đặc tâm chú ý đến sự cứu rổi của người đặt ra câu hỏi và tất cả những người khác, bằng cách nói mạnh d ạn để thúc giục mau lựa chọn và hành xử thích đáng, hơn là nhìn về viễn ảnh tương lai. Bởi đó Người đưa ra một loạt các lời chỉ dẫn hữu ích, để đạt được sư cứu rổi. Để cho lời giảng dạy của mình có tính cách sống động, Chúa Giêsu giải thích các vai trò và các tiếng nói khác nhau, tạo nên một cuộc đối thoại đầy ý nghĩa văn chương và thần học. 2 - Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp. Lời khuyên bảo đầu tiên là chìa khóa để hiểu được cả sứ điệp, mà Chúa Giêsu muốn giảng dạy cho: " Hãy chiến đấu..." ( Hy Lạp, agonízesthe ), thoát xuất từ nguồn gốc " agôn " có nghĩa là " chiến đấu ", tốn hao sức lực " mệt nhọc", để có thể chen nhau, thắng được mà vào " cửa hẹp ". Điều vừa kể cho thấy lối vào Nước Thiên Chúa không phải là cổng to lớn, rộng thênh thang, ai cũng có thể thảnh thơi ra vào, mà là một một cửa nhỏ. Từ đó đưa ra ý nghĩa " phải chiến đấu ", động từ được dùng dưới thì mệnh lệnh tính ( impératif ) . Động từ thì mệnh lệnh tính " hãy chiến đấu " được đặt ngay ở đầu câu, tạo cho câu nói trở thành quan trọng, khiến ai cũng phải chú ý. Kế đến câu nói được giải thích cho biết lý do: - " ...có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được " ( Lc 13, 24), Đoạn giải thích lý do vừa kể, không phải là cách tiên đoán tiêu cực về tương lai, cho bằng mời gọi và thúc giục phải hành động lập tức, không được trễ nải, chần chờ. Là lời thúc giục hãy quy tựu tất cả nghị lực để thực hiện và thực hiện lập tức. Bởi lẽ thời điểm thuận lợi không phải vô tận, rồi sẽ qua đi, bởi đó không thể lảng phí thời gian và cơ hội được: - " Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại, anh em còn đang ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: " Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi vào !, thì ông sẽ bảo anh em: ...Ta không biết các anh từ đâu đến " ( Lc 13, 25). Cử chỉ của ông chủ nhà " đứng dậy và khoá cửa lại " cho thấy thời gian hy vọng được vào đã chấm dứt. Trước kia cửa đã chật hẹp, giờ đây còn bị " khoá lại ". Trạng thái tuyệt vọng của những ai còn lại bên ngoài là hy vọng cửa được mở ra trở lại: - " Thưa ngài, mở cửa cho chúng tôi vào ". Cử chỉ thăm dò thứ nhứt đó là lời van xin, " thưa ngài, mở cửa cho chúng tôi vào "- Lời van xin tuyệt vọng đó lại bị một câu trả lời khước từ khẳng khái. - " Ta không biết các anh từ đâu đến " ( Lc 13, 25b). Kẻ kêu cứu bị xếp vào thành phần những người vô danh, không quen biết. 3 - Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài. Cách tìm phương thế thứ hai của những kẻ tuyệt vọng bị loại ra bên ngoài là tìm cách xác định căn tính của mình, bằng cách nói cho ông chủ biết mình đã từng dùng bửa thân tín với ông trong nhà cũng như đã quen.Chúng tôi đã biết ông nơi công trường, ngoài đường phố, trong cuộc sống xã hội: - " Chúng tôi đã từng ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi " ( Lc 13, 26). Một lần nữa câu trả lời lạnh lùng làm tan vỡ đi mọi mối liên hệ có thể có được: - " Ta không biết các ngươi từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính " ( Lc 13, 27). Đó là một cái tát nẩy lửa vào mặt những kẻ mà ông chủ muốn cắt đứt mọi liên hệ. " Hãy cút đi cho khuất mắt ta " là động từ mệnh lệnh tính cuối cùng của đoạn Phúc Âm, cần phải được đặt liên hệ với động từ mệnh lệnh tính đầu tiên trong diễn biến của lời giảng dạy, " hãy chiến đấu mà vào cửa hẹp " ( Lc 13, 24). Động từ mệnh lệnh tính thứ hai là hậu quả của thái độ chểnh mảng, không chịu gắng sức thi hành kịp thời lời khuyên bảo thứ nhứt: vì không ra sức cố gắng để có thể vào được cửa hẹp, giờ đây những kẻ bị kết án phải đứng trước cửa đã vĩnh viễn, cửa đã đóng chặt. Họ không ra công, gắng sức dấn thân, bởi đó họ là những kẻ phải chịu trách nhiệm trước thái độ của mình với hậu quả phải có. Và bởi đó họ bị lên án là những kẻ có hành động bất chính, đáng lý mình phải làm những gì bổn phận mình đòi buộc vào thời điểm phải tác đông, mình lại có thái độ " vô trách nhiệm" " lách sang rồi bỏ đi luôn " ( Lc 10, 29-37), ngay cả trước những nỗi bất hạnh của anh em : " hỡi tất cả những quân làm điều bất chính ! ". 4 - Thiên hạ sẽ từ phương đông và phương tây đến dự tiệc trong Nước Chúa. Thành ngữ " sẽ khóc lóc nghiến răng " diễn tả thái độ tuyệt vọng, được nhà Thánh Kinh Học danh tiếng người Đức, ông Jeremias, hiểu rằng sự cứu rổi đã vĩnh viễn mất đi. Ngược lại số phận của những kẻ bi loại bỏ ra bên ngoài là bối cảnh đầy an ủi êm dịu, hy vọng và vui mừng đề cập đến những kẻ đến tham dự tiệc trong Nước Chúa: - " Thiên hạ sẽ từ phương đông và phương tây đến dự tiệc trong Nước Chúa " ( Lc 13, 29). Đó là những kẻ từ bên ngoài, từ xa, từ khắp bốn phương trời sẽ được đến dự tiệc trong Nước Chúa, nói lên tính cách phổ quát ơn cứu rổi mà Chúa đem đến cho mọi người, không trừ ai, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, điều kiện cá nhân hay xã hội. Như vậy, ơn cứu rổi không còn phải chỉ là đặc ân dành cho dân Do Thái, mà cho tất cả mọi dân nước, không cần phải thuộc về thành phần dân được tuyển chọn. Câu Phúc Âm cuối cùng là câu nói lập lại dụ ngôn được loan truyền trong dân gian, nói lên tình thế đảo ngược có thể xảy ra: - " Và kìa có một vài kẻ đứng chót sẽ lên đứng đầu, và có một vài kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng cuối " ( lc 13, 30). ( Ed ecco, ci sono alcuni tra gli ultimi che saranno i primi e alcuni tra i primi che saranno ultimi, CEI, La bibbia di Gerusalemme, EDB, Bologna 1986, 2231) Chúng tôi dựa vào bản dịch của Hội Đồng Giám Mục Ý ( CEI, Conferenza Episcopale Italiana ), trích dẫn câu Phúc Âm vừa kể, cho thấy chúng ta đừng nên " quơ đủa cả nắm " cho rằng " có những kẻ đứng chót, sẽ lên hàng đầu, và " có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót " như bản dịch Việt Ngữ, mặc dầu bản tiếng Việt đã dùng chữ " có " để giới hạn bớt trương độ của lời quả quyết, thay vì dùng cách diễn tả " có một vài kẻ ...". Mặc dầu ý nghĩa giới hạn trương độ của lời quả quyết trong viết rõ trong nguyên bản Hy Lạp, nhưng theo ý nghĩa văn mạch, không phải " tất cả mọi người đứng chót sẽ lên đứng đầu và những kẻ đứng đầu sẽ xuống chót ", mà là " có thể có một vài kẻ đứng chót sẽ lên đứng đầu và một vài kẻ đứng đầu sẽ xuống chót " hay có thể bị loại ra bên ngoài. Hiểu văn mạch trong ý nghĩa đó, chúng ta dễ nhận ra rằng " những kẻ đứng đầu " là những dân Do Thái, dân được tuyển chọn và được Thiên Chúa giao ước, nhưng giữa họ có những người không ăn ở một cách xứng đáng là người của dân được tuyển chọn, những người đó, hay " có một vài kẻ đứng đầu " đã làm mất đi tước hiệu và vị trí được đặc ân của mình, có thể không vào được Nước Chúa, bởi lẽ họ " không ra sức chiến đấu " để vào cửa hẹp, như những gì câu ( Lc 13, 23 ) đòi buộc. Nhiều người khác, " có một vài kẻ đứng chót ", trong các tín hữu Chúa Ki Tô, được biết sứ điệp các ngôn sứ và sứ điệp Chúa Ki Tô do các môn đệ và Giáo Hội Người đem đến trễ hơn, nhưng họ biết dấn thân chuyên cần với nghị lực để " chiến đấu ", sống theo khuôn mẫu được Phúc Âm dạy, với những hy sinh và nhiều khi đến cả tính mạng, những người đó, " một vài kẻ chót hết sẽ lên đứng đầu ", đuợc vào tham dự tiệc trong Nước Chúa. Đoạn Phúc Âm không nói cho chúng ta biết họ được kêu gọi bằng cách nào, các người tín hữu Chúa Ki Tô, " một vài kẻ chót hết " đó, cũng như không nói cho chúng ta biết họ làm thế nào để vượt " qua được cửa hẹp mà vào " ( Lc 13, 24), Một cách minh nhiên, Phúc Âm không đề cập tới, nhưng từ ngữ " ngồi vào bàn tiệc trong Nước Thiên Chúa " ( Lc 13, 29) cho thấy họ được cứu rổi. Đối với họ cửa vào Nước Chúa được mở rộng, trong khi vẫn còn đóng kín đối với những người khác. Và sau cùng, mặc dầu chúng ta không có được câu trả lời cho biết con số người được cứu thoát là bao nhiêu để thoả mãn tinh hiếu kỳ và tổng lượng kế toán, chúng ta cũng được hưởng sự chắc chắn thanh thoảng cửa vào Nước Chúa được mở ra cho tất cả những ai, nhờ ơn Chúa trợ lực, chuyên cần dấn thân với khả năng và sức lực mình, được lương tâm ngay chính hướng dẫn, hành xử theo những gì Chúa Giêsu phán dạy cho trong Phúc Âm và trong Giáo Hội Người. Cả rừng người từ phương đông phương tây đều đến được để vào dự tiệc trong Nước Chúa, tại sao tôi lại không? Đó là câu hỏi kích thích và định hướng cuộc sống hằng ngày của chúng ta: - " Thiên hạ sẽ từ phương đông và phương tây đến dự tiệc trong Nước Chúa " ( Lc 13, 39).

 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI Anh Chị Em thân mến, hôm nay, trong Phụng Vụ chúng ta tưởng nhớ đến Thánh Nữ Chiara ở Assisi, vị nữ sáng lập dòng các nữ tu Clarisse, một khuôn mặt rạng rỡ sáng chói mà tôi sẽ đề cập đến ở một trong các Bài Giáo Lý sắp đến. Trong tuần nầy, như tôi đã nói sơ qua trong buổi Kinh Nhật Một ( Angelus) Chúa Nhật tuần qua, chúng ta hãy tưởng nhớ đến một vài vị Thánh Tử Đạo, những Vị ở những thế kỷ đầu của Giáo Hội, như Thánh Lorenzo, Phó Tế; Thánh Ponziano, Giáo Hoàng và Thánh Ippolito, Linh Mục; cũng như đến những Vị gần chúng ta hơn, như Thánh Nữ Teresa Benedetta Thánh Giá; Edith Stein, Thánh Nữ Bổn Mạng của Âu Châu; và Thánh Massimilliano Maria Kolbe. Tôi muốn được dừng lại một cách ngắn gọn về động tác tử đạo, hình thức tình yêu trọn hảo đối với Chúa. 1 - Tử đạo được đặt nền tảng ở đâu? Câu trả lời đơn sơ: được đặt nền tảng trên cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, trên sự hy sinh thượng đỉnh của Người cho tình yêu, hy sinh đến tận cùng trên Thánh Giá, để chúng ta có thể có được đời sống: - " Phần Ta, Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào " ( Jn 10, 10). Chúa Ki Tô là người tôi tớ đau khổ, mà tiên tri Isaia nói đến, - " Nầy đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tận cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa; cũng vậy, người tôi trung của Ta sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ " ( Is 52, 13-15), là Đấng đã hy sinh chính mình để cứu chuộc muôn người: - " Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người " ( Mt 20, 28). Chúa Giêsu khuyến khích các môn đệ Người, khuyến khích mỗi người trong chúng ta, mỗi ngày hãy nhận lấy thập giá mình và đi theo Người trên con đường tình yêu trọn vẹn đối với Chúa Cha và đối với nhân loại: - " Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được " ( Mt 10, 38-39). Đó là tính cách hữu lý của hạt giống chết đi để nẩy mầm và mang lại đời sống: - " Thật vậy, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" ( Jn 10, 24). - " Chúa Giêsu là hạt giống từ Thiên Chúa mà đến, hạt giống lúa của Thiên Chúa, được để rơi xuống trên mặt đất, để cho bị bầm dập, chà nát trong cái chết và, chính qua giai đoạn đó, được mở ra và có thể đem lại hoa qủa cho cả thế giới " ( Benedetto XVI, Visita alla Chiesa luterana di Roma [ 14.03.2010]. Vị tử đạo theo Chúa đến cùng, tự do chấp nhận cái chết để cứu thoát thế gian, trong một cuộc thử thách tuyệt đỉnh về đức tin và tình yêu ( Lumen Gentium, 42). 2 - Một lần nữa, từ đâu sinh ra nghị lực để đối đầu lại cuộc tử đạo? Từ sự hiệp nhất sâu đậm và thân thiết với Chúa ki Tô, bởi vì tử đạo và ơn gọi tử đạo không phải là kết quả của một cử chỉ gắng sức nhân loại, mà chỉ là câu trả lời đối với sáng kiến và lời mời gọi của Chúa. Đó là một quà tặng của ân sủng Chúa, khiến cho con người có khả năng dâng hiến đời mình cho tình yêu Chúa Ki Tô và Giáo Hội, và như vậy cho cả thế giới. Ơn của Nếu đọc lịch sử đời sống các Thánh Tử Đạo, chúng ta sẽ sửng sốt về cử chỉ thanh thảng và can đảm trong việc đối đầu với sự đau khổ và cái chết của các vị: quyền lực của Thiên Chúa được bày tỏ ra đầy đủ trong trong cái yếu hèn, nghèo khổ của ai tin cậy vào Người và chỉ đặt hy vọng của chính mình nơi Người: - " Nhưng Người đã quả quyết với tôi: " Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối". Bởi đó, tôi rất vui mừng và tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Ki Tô ở mãi trong tôi ( 2 Cor 10, 9). Tuy vậy, điều quan trọng cần nhấn mạnh là ơn Chúa không loại bỏ hay làm tắt nghẻn, chết ngạt sự tự do của con người đương đầu với cuộc tử đạo, trái lại ơn Chúa làm cho tự do được sung mãn hơn và được kích thích tán dương hơn: người chịu tử đạo là con người nói cách chung vẫn tự do, tự do đối với quyền lực, đối với thế giới; là con người tự do, trong một động tác cuối cùng dâng hiến cho Chúa cả đời sống mình, trong một động tác tối cao của đức tin, niềm hy vong và đức bác ái, ủy thác mình trong tay Đấng Tạo Hoá mình và Đấng Cứu Chuộc mình. Hy sinh chính mạng sống mình để hiệp nhứt mình một cách trọn hảo với Sự Hy Sinh của Chúa Ki Tô trên Thánh Giá. Nói một cách ngắn gọn, tử đạo là một động tác cao cả tình thương đáp lại tình thương vô hạn của Thiên Chúa. 3 - Anh Chị Em thân mến, như tôi đã nói thứ tư tuần trước, có lẽ chúng ta không được kêu gọi để tử đạo, nhưng không ai trong chúng ta bị loại khỏi lời kêu gọi của Chúa để sống thánh thiện, sống ở tầm mức cao độ cuộc sống Ki Tô hữu và điều đó mặc nhiên đảm nhận lấy thập giá mỗi ngày trên chính mình. Tất cả, nhứt là trong thời đại chúng ta, trong đó dường như ích kỷ chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa chiếm thế thượng phong, tất cả chúng ta phải đảm nhận như là việc chuyên cần tiên khởi và nền tảng, đó là chuyên cần tăng trưởng lên mỗi ngày trong tình yêu đối với Chúa và đối với anh em, để hoán cải đời sống chúng ta và hoán cải thế giới chúng ta. Nhờ lời cầu bàu của Các Thánh và các Vị Tử Đạo, chúng ta hãy xin Chúa đốt nóng tâm hồn chúng ta, để chúng ta có khả năng yêu thương, như Người đã yêu thương mỗi người chúng ta. Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập. ( Thông tấn www.vatican.va, 11.08.2010).

 

II - Phần thực hành. Lần bước theo bốn cột trụ nền tảng của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ( CHLBD), chúng ta đã tìm được những nguyên tắc bảo đảm cho thể chế đa đảng và tiền liệu cho chính đảng đối lập có khả năng thực hữu hành xử quyền và nhiệm vụ đối lập hiến định của mình để bảo đảm cho nền “ Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”. Những cố gắng suy tư để cung cấp cho chính đảng đối lập khả năng thực hữu vừa kể thoát xuất từ kinh nghiệm ê chề của nền độc tài Rudolf Hitler khiến các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBD không thể ngủ yên, nếu quyền lực được giao phó cho giới đương quyền không có ai còn có khả năng “ hạn chế, cắt tỉa, hảm thắng, kiểm soát hiệu năng và dự trù đồ án tốt đep hơn và khả thi hơn trong tương lai ”. Đàng khác các vị cũng thừa hưởng gia tài kinh nghiệm Hiến Pháp của một vài Tiểu Bang thành Viên CHLBD. Đó là kinh nghiệm của Hiến Pháp Tiểu Bang Baden khuyến khích các chính đảng đối lập với giới đương quyền phải cảm thấy mình cùng có trách nhiệm với đường lối và tổ chức chính trị trong việc lãnh đạo Quốc Gia: - “ Ở đâu các chính đảng ở vị thế đối lập với Chính Quyền, họ có phận sự theo dõi và nếu cần chỉ trích hành xử của Chính Quyền và các chính đảng liên hệ. Chỉ trích của họ phải nhằm mục đích có đối tượng xác thực, kích thích và xây dựng. Các chính đảng đối lập phải chuẩn bị mình sẵn sàng, nếu cần, đứng ra lãnh nhận đồng trách nhiệm với giới đương quyền ” (Điều 102, đoạn 3 Hiến Pháp Baden). Kế đến là kinh nghiệm của Hiến Pháp Hamburg, được cập nhật hoá năm 1971: - “Đối lập là thành phần không thể thiếu của nền dân chủ đại nghị chế và là yếu tố chính trị luân phiên đối với Chính Quyền ” (Điều 23, Hiến Pháp Hamburg). Với hai điều khoản vừa được trích dẫn, thiết tưởng chúng ta nên nhắc lại tư tưởng chúng ta đã có dịp đề cập ở phần I. Đó là trong Hiến Pháp 1949 không có một điều khoản luật Hiến Pháp nào xác định vai trò của chính đảng đối lập, nhưng khắp đó đây trong bốn cột trụ nền tảng của Hiến Pháp, chúng ta đã tìm được những nguyên tắc mặc nhiên đứng ra thiết định và bảo vệ chính đảng đối lập như là “ thành phần không thể thiếu của nền dân chủ đại nghị chế ” ( Herret M., Die parlamentarische Opposition in der Bundesrepubblik Deutschland, Muenchen-Wien 1969). Trong phần đầu, nhứt là khi đề cập đến nguyên tắc nền tảng bảo vệ “ phẩm giá và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người ”, trong đó có quyền bình đẳng là quyền thiết yếu, Hiến Pháp 1949 đã đặt các chính đảng ở địa vi ngang nhau trong cộng đồng Quốc Gia. Áp dụng vào thực tế, điều 44, đoạn 1 của Hiến Pháp tiền liệu cho chính đảng đối lập có thực quyền bằng cách xác định chỉ cần ¼ nghị sĩ yêu cầu là Hạ Viện có thể thành lập Ủy Ban Điều Tra đối với Chính Quyền: - “ Hạ Viện có quyền và , theo lời yêu cầu của ¼ thành viên, bị bắt buộc phải thành lập Ủy Ban Điều Tra để thu thập các chứng cứ cần thiết trong phiên họp khoáng đại. Những cuộc bàn cải có thể được giữ kín ” (Điều 44, 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Kế đến điều 45 dành cho Ủy Ban Quốc Phòng Thường Trực có thể khởi công điều tra bất cứ lúc nào, nếu có lời yêu cầu của ¼ thành viên của Ủy Ban: - “ Ủy Ban Quốc Phòng có cả quyền của một Ủy Ban Điều Tra. Theo lời yêu cầu của ¼ thành viên , Ủy Ban có bổn phận mở cuộc điều tra vấn đề được đặt ra ” (Điều 45, đoạn 2, id.). ¼ thành viên Hạ Viện, hay ¼ thành viên Ủy Ban Quốc Phòng Thường Trực là một con số không có gì khó khăn được đặt ra đối với các chính đảng đối lập trong thể chế dân chủ. Có chăng điều vừa kể chỉ được đặt ra đối với Quốc Hội của CHXHCNVN , mà số thành viên trên 99% là đảng viên hay là những người dân cử, được Đảng CSVN cử trước. Còn nữa, theo nội quy cũ của Hạ Viện ( Bundestag), thì sau khi được nghe một thành viên Chính Phủ trình bày một vấn đề nào đó mà Hạ Viện muốn biết, trước năm 1969, thành viên của chính đảng đa số trong Hạ Viện có quyền phát biểu trước, đưa ra ý kiến của ông hay của chính đảng đa số của ông về vấn đề vừa được đề cập. Với thói quen hành xử vừa kể, Chính Quyền và chính đảng đa số trong Hạ Viện là “ bồ nhà ” của Chính Quyền có cơ hội “ nhồi sọ ” các thành viên Hạ Viện đến hai lần, dễ ảnh hưởng để Chính Quyền và Hạ Viện “ cả vú lấp miệng em”. “ Đặc ân ” đó đã được nôi quy Hạ Viện sửa lại ở điều 33, đoạn 1, ngày 18.6.1969, theo đó thì sau khi nghe Chính Quyền “ bày tỏ tâm sự ”, người trả lời đầu tiên phải là người lãnh đạo của thành phần đối lập ( Oppositionsfuerher), nói lên cho mọi người thấy phải trái của Chính Quyền. Đọc đến đây, chúng ta có cảm tưởng là Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng áp dụng thể thức đa đảng và đối lập như hầu hết các Quốc Gia dân chủ khác, nhứt là các Quốc Gia Đại Nghị Chế. Thật ra nhìn vào thực trạng các chính đảng ở Đức, chúng ta có thể thấy ngay là Đức áp dụng thể chế đa đảng điều hoà ( tempéré) hơn là đa đảng thả lỏng. a ) Đầu phiếu theo tỷ lệ và lằn mức ngăn chận. Trước hết với phương thức phổ thông đầu phiếu theo tỷ lệ ( proportional), để tôn trọng tối đa tinh thần bình đẳng và dân chủ, đáng lý ra ở Đức có đến hàng mấy chục chính đảng, mạnh ai nấy nói, “ông nói gà, bà nói vịt ”, có đến 41 chính đảng như ở Ý, lắm lúc làm cho các quyết định chính trị bị tê liệt, thì người Đức đã khôn ngoan, thêm vào phổ thông đầu phiếu theo ỷ lệ của họ phương thức “lằn mức hạn chế ” ( Sperrklausel) trong luật bầu cử . Một chính đảng, nếu muốn được nhận là chính đảng để chính danh hoạt động, có tiếng nói trong Quốc Hội, phải đạt được ít nhứt 5% số phiếu toàn quốc và có được 3 dân biểu Hạ Viện được đắc cử theo thể thức đơn danh. Với “ lằn mức hạn chế ” vừa kể, dần dần số chính đảng mọc như nấm lúc ban đầu bị thu gọn lại, khiến cho thể chế đa đảng ở Đức có khuynh hướng trở thành lưỡng cực chính đảng (bipartitisme). Các chính đảng qui tựu thành hai nhóm đối lập, nhóm đương quyền và nhóm đối lập. b ) Lằn mức đa nguyên trong dân chủ. Kế đến, mặc dầu là Hiến Pháp chấp nhận “ dân chủ đa nguyên”, đa đảng, nhưng muốn có “tập hợp dân chủ đa nguyên”, trước hết phải có dân chủ. Bởi lẽ “ tập hợp dân chủ đa nguyên ” không có “ nguyên dân chủ ” sẽ là một nhà chứa hổn loạn, phản dân chủ và đưa đến bại hoại. “ Tập hợp dân chủ đa nguyên” của CHLBD không thể chấp nhận “ nguyên Đức quốc Xã của Hitler” hay “ nguyên Cộng Sản Chủ Nghĩa của Đông Đức ” chẳng hạn. Bởi đó Hiến Pháp 1949 CHLBD không ngần ngại đặt ra ngoài vòng pháp luật các chính đảng có ý thức hệ hay hành động phản dân chủ và phản lại “ phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người ”: - “ Các chính đảng có mục đích hay hành vi của các thành viên thuộc hệ nhằm gây tổn thương hay loại trừ định chế căn bản dân chủ tự do hoặc hăm doạ sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức là những chính đảng bất hợp hiến…” (Điều 21, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD). - “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp hiện tại có liên hệ đến mối tương quan giữa Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender), đến sự tham dự, một cách tổng quát, của các Tiểu Bang vào tiến trình Lập Pháp hay đến các nguyên tắc đã được nêu lên ở điều 1 và điều 20” (Điều 79, đoạn 3, id.). (Điều 1 đề cập đến nhân phẩm và các quyền căn bản bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người; điều 20 định nghĩa Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Nước Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội). Trong tinh thần “ tập hợp dân chủ đa nguyên”, với “ nguyên dân chủ và nguyên nhân bản ” là điều kiện không thể thiếu ( sine qua non) trong ý thức hệ, tổ chức và hoạt động của các chính đảng, dần dần theo lý tưởng, lối suy tư và hoạt động gần như thuần nhứt với nhau (homogénéité). Tôn trọng con người và tôn trọng dân chủ là đặc tính phải có của bất cứ chính đảng nào ở Đức, nếu không muốn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, “ là những chính đảng bất hợp hiến ” (Điều 21, đoạn 2, id.). c ) Hạ Viện Liên Bang phải có khả năng tuyển chọn Tân thủ Tướng. Còn nữa, sau khi được đắc cử, các thành viên Hạ Viện phải thoả thuận được với nhau để tuyển chọn vị Thủ Tướng Chính Phủ, nếu cứ “ cải lộn ” ( Parlament, Quốc Hội) mà không sao đồng thuận được để chọn Thủ Tướng để lãnh đạo Nội Các, quản trị Quốc Gia, Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện trước định kỳ và cho tất cả về vườn: - “ Được tuyển chọn ( Thủ Tướng) ai hội đủ đa số thành viên (đa số tuyệt đối, 50%+1 phiếu) Hạ Viện. Người được tuyển chọn, phải được Tổng Thống bổ nhiệm. Nếu người được đề cử không được Hạ Viện tuyển chọn, trong vòng 14 ngày kế tiếp Hạ Viện có thể thực hiện một cuộc bỏ phiếu khác, tuyển chọn Thủ Tướng ( Kanzler) với đa số thành viên của mình. Nếu trong thời gian vừa kể, Hạ Viện không thực hiện một cuộc bỏ phiếu nào, cần phải tổ chức lập tức một cuộc bỏ phiếu khác, trong đó ai được được nhiều phiếu sẽ được chọn. Nếu người được chọn hội đủ đa số phiếu thành viên (đa số tuyệt đối) Hạ Viện, Tổng Thống Liên Bang phải bổ nhiệm trong vòng 7 ngày, kể từ ngày được bầu cử. Nếu người được chọn không hội đủ đa số tuyệt đối, Tổng Thống Liên Bang, trong vòng 7 ngày cũng có thể bổ nhiệm hoặc giải tán Hạ Viện ” (Điều 63, đoạn 2, 3 và 4 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Những gì chúng ta vừa trích dẫn là khả năng bị cho về vườn của Hạ Viện, khi mới được dân chúng bầu lên và chính đảng nào cũng “ ta đây, cứ cải lộn ”, không ai chịu nhân nhượng ai và đồng thuận để chọn cho Quốc Gia có được một vị Thủ Tướng lãnh đạo Quốc Gia. Nói cách khác, nếu các hạ nghị sĩ cứ để cho Quốc Gia ở trong tình trạng “ vô Chính Phủ ”, không ai có thể thực hiện được những chương trình quản trị và cai trị Quốc Gia, Hạ Viện đã không chu toàn nhiệm vụ hiến định của mình, đáng bị cho về vườn, “ …Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện” (Điều 63, đoạn 4, id.). Đó là trường hợp Hạ Viện có thể bị giải tán khi mới đắc cử. d ) Lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng ( konstruktive Misstrauensvotum). Trường hợp khác nữa là trường hợp Hạ Viện đương nhiệm cũng có thể bị giải tán trước định kỳ, nếu bất tín nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ mà không tuyển chọn nổi một Thủ Tướng khác thay thế: - “ Trong trường hợp Thủ Tướng Liên Bang xin Hạ Viện biểu quyết tín nhiệm ( chính hướng hay một đồ án nào đó) không được đa số ( tuyệt đối) thành viên Hạ Viện chấp thuận, theo lời yêu cầu của Thủ Tướng Liên Bang, trong vòng 21 ngày, Tổng Thống Liên Bang có thể giải tán Hạ Viện. Quyền giải tán Hạ Viện sẽ không còn hiệu lực, vừa khi Hạ Viện tuyển chọn được vị Thủ Tướng với đa số thành viên của mình” (Điều 68, id.). Nói cách khác, trong Đại Nghị Chế, Quốc Hội có quyền bất tín Chính Phủ, nhưng để tránh kinh nghiệm thời Hiến Pháp Weimar 1919, các chính đảng Đức Quốc Xã và Cộng Sản toa rập nhau truất phế Chính Phủ, không phải để xây dựng mà chỉ để đả phá thể chế dân chủ được Hiến Pháp Weimar đề xướng, làm cho Quốc Gia Bị tê liệt và Hitler lên cướp chính quyền và cai trị độc tài, ai cũng biết. Hiến Pháp 1949 CHLBD tiền liệu Hạ Viện chỉ có quyền bất tín nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ, làm cho Nội Các bị đổ, nếu Hạ Viện có khả năng tuyển chọn một tân Thủ Tướng khác cai trị Quốc Gia. Nếu không, Hạ Viện có thể bị Tổng Thống giải nhiệm trước định kỳ. Tinh thần vừa kể của Hiến Pháp 1949 CHLBD được các nhà Hiến Pháp học gọi là “ lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng ” ( konstruktive Misstrauensvotum): - “ Hạ Viện Liên Bang chỉ có thể biểu quyết bất tín nhiệm Thủ Tướng Liên Bang , khi nào tuyển chọn được một người kế vị với đa số thành viên của mình và yêu cầu Tổng Thống Liên Bang thu hồi nhiệm sở ( konstruktive Misstrauensvotum). Tổng Thống Liên Bang phải chấp nhận lời yêu cầu và bổ nhiệm người được tuyển chọn ” (Điều 67, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Với quyết định của các điều khoản kể trên, nhứt là điều khoản vừa kể, “ lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng ” (Điều 67, id.), các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBD có ý định tập họp các chính hướng thành những khối đông đặc lại, thay vì tảng mác thành 41 chính đảng như ở Ý. Các chính đảng, muốn lãnh đạo Quốc Gia hay đối lập với giới đương quyền một cách có hiệu lực, không phải “ mạnh ai nấy nói ”, mà biết tìm ra những điểm tương đồng trong tinh thần tôn trọng nhân bản (điều 1) và dân chủ xã hội (điều 20), để cùng có một tiếng nói có ảnh hưởng, nhứt là có tiếng nói mạnh để có thể tuyển chọn được vị Thủ Tướng mới cho Nội Các Chính Phủ quản trị và điều hành Quốc Gia ( Điều 63, id.), cũng như nếu muốn bất tín nhiệm Thủ Tướng đương nhiệm (Điều 68, id.). Kết quả của các “ lằn mức giới hạn ” vừa kể (Điều 63 và điều 68) làm cho không phải ai muốn “tập hợp dân chủ đa nguyên” hành động thể nào cũng được, như Đảng Đức quốc Xã và Đảng Cộng Sản đã đạp đổ trong thời kỳ Hiến Pháp Weimar, mà là tôn trọng tinh thần nhân bản và dân chủ trong việc “ tạo nên đường lối chính trị của dân chúng” (Điều 21, đoạn 1, id.), để mưu công ích cho đất nước và cho đồng bào mình ( Eschenburg T., Das Zweipartetensystem in der deutschen Politik, in Fesgabe F. Hartung, Berlin 1958, 411). Hiệu quả đầu tiên của các mấu chốc và lằn mức được đưa ra như vừa kể là Cộng Hoà Liên Bang Đức tạo được một Chính Phủ mạnh và bền vững. Không mấy khi có trường hợp Chính Phủ bị “ giữa đường gãy gánh sang ngang ”, trước định kỳ. Trong suốt 20 năm, 1949-1969, Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo ( CDU) và Đảng Xã Hội Thiên Chúa Giáo (CSU ) thuộc Tiểu Bang Bayern, với Đảng Tự Do ( FDP) ủng hộ từ bên ngoài, đã liên tiếp liên kết nhau thành đa số tuyệt đối lãnh đạo Quốc Gia, biến một nước Đức đổ nát sau thế chiến II thành cường quốc kinh tế và tân tiến vào bậc nhứt Âu Châu về tôn trọng con người và bảo vệ dân chủ. Sau năm 1969, với cảnh “ cơm không lành, canh không ngọt ” giữa hai Đảng Dân Chủ và Xã Hội Thiên Chúa Giáo ( CDU-CSU ), Đảng Dân Chủ Xã Hội ( SPD) lên nắm quyền, nhờ sự hổ trợ từ bên ngoài của Đảng Tự Do ( FDP). Trước kia Đảng Tự Do ( FDP) hổ trợ cho ( CDU-CSU), Hạ Viện có túc số đa số tuyệt đối để tuyển chọn Thủ Tướng và ủng hộ Nội Các lãnh đạo Chính Phủ, sau năm 1969 do cảnh lục đục giữa CDU-CSU, Đảng Tự Do ( FDP) trở cờ ủng hộ Đảng Dân Chủ Xã Hội ( SPD), biến phe Dân Chủ Xã Hội - Tự Do thành đa số trong Hạ Viện và đa số lãnh đạo Chính Phủ. Biết như vậy, chúng ta thấy được vai trò của chính đảng thứ ba ( FDP), một chính đảng nhỏ như Đảng Tự Do có một vị trí đặc biệt trong định chế Cộng Hoà Liên Bang Đức. Do sự kiện các chính đảng đều gần như thuần nhứt như nhau về quan niệm chính trị, tất cả đều phải tôn trọng “ nguyên nhân bản và nguyên dân chủ, liên bang và xã hội ”điều 1 và điều 20), mà chính đảng nhỏ “ thành phần thứ ba ”, Đảng Tự Do ( FDP), có thể liên kết với bên nầy hay bên kia cũng được, tùy hoà cảnh. Và thấy như vậy, chúng ta thấy mỗi khi thay đổi Chính Phủ và trước đó là thay đổi Hạ Viện, không cần phải thay đổ toàn bộ các chính đảng. “ Thành phần thứ ba ” ( FDP) vẫn nằm ỳ tại chỗ, chỉ cần các đảng đối lập lớn ( CDU-CSU) và ( SPD) đối chọi với nhau thôi. Đó là những gì đã xảy ra trong các cuộc tuyên truyền tranh cử năm 1969, 1972, 1976, 1980. Hai khối lớn đối lập nhau ( CDU-CSU) và ( SPD) tranh giành nhau ghế Chính Phủ, còn ( FDP) vẫn dững dưng “ điềm nhiên toạ thị ”, “ Ô! Bên nào cũng vậy ”. Còn nữa, bị đặt dưới lằn mức không thể vượt qua của các điều 21, 63, 67, 68 và 79 kể trên , cũng như đạo luật về “ lằn mức hạn chế ” ( Sperrklausel) 5% trong các luật bầu cử, các chính đảng không những bị thu gọn lại về số lượng, mà còn cả tư tưởng gần như thuần nhứt với nhau: không có chính đảng nào có thể đi ngược lại lý tưởng thể chế nhân bản và dân chủ, cũng như không thể hành động vô trách nhiệm, chỉ nhằm đạp đổ mà không tiền liệu được khả năng xây dựng, như Đức quốc Xã và Cộng Sản đã hành động trong quá khứ. Điều đó đưa đến việc các chính đảng, trong các cuộc vận động bầu cử, không còn tranh luận nhau về lý tưởng nhân bản và dân chủ, cho bằng dựa trên - uy tính của người lãnh đạo được đề cử nắm lấy chức vụ Thủ Tướng, - uy tính và khả năng chuyên môn của các nhân vật được đề cử các chức Bộ Trưởng trong Nội Các - và chương trình hành động của chính phủ trong tương lai, liên quan đến các vấn đề xã hội, kinh tế, công qủy, thế vụ và ngoại giao… Nói cách khác, không cần phải lo tranh cải về lý tưởng nhân bản và dân chủ, có chăng tranh cải để tôn trọng và phát triển hoàn hảo hơn Trong khi tôn trọng con người và áp dụng thể chế dân chủ cho Quốc Gia, điều mà chúng ta đang khàn cổ kêu CSVN đưa thực hiện cho dân tộc Việt Nam, lời kêu gọi trở thành vô ích như “đàn gảy tai trâu ”, thì trái lại các chính đảng tranh cử ở Đức có thời giờ và sức lực chọn lựa vị Thủ Tướng có khả năng lãnh đạo, đề thảo ra các chương trình hiệu dụng hơn và tốt đẹp hơn cho cuộc sống chính trị, kinh tế, xã hội cho đất nước. Đó là những gì các chính đảng Đức đưa ra cho dân chúng, khi họ ra tranh cử ( Giuseppe De Vergottini, Diritto Costituzionale Comparato, V ed., Cedam, Padova 1999, 677-679). Điều đó cắt nghĩa tại sao người Đức có khả năng biến đất nước họ từ chiến tranh đổ nát của thế chiến thứ II, thành cường quốc kinh tế nhứt nhì Âu Châu và Quốc Gia trong đó “ phẩm giá con người bất khả xâm phạm” (Điều 1, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD) và “ Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ” (Điều 20, đoạn 1, id) không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào. Nói cách khác, những điều vừa nói cắt nghĩa được tại sau trong 30 năm, từ năm 1949 Hiến Pháp ra đời và Cộng Hòa Liên Bang Đức được thành lập đến 1979, Đức đã chế được Mercedes, BMW và VW, trong khi đó thì cũng sau 30 năm “ độc lập và thống nhất đất nước dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ” ( 1975-2005), chưa chắc Việt Nam có thể tự mình từ luyện kim đến chế tạo vỏ xe, sản xuất được xe đạp! Ai chuyên về kinh tế, thử nghiêng cứu các bản thống kể xem ở thập niên 1970, Đức Quốc đã tạo được bao nhiêu chỗ làm, đến nỗi công nhân Đức không đủ sức cung ứng cho mức cầu, khiến Cộng Hoà Liên Bang Đức đã phải mở cửa thu nhận bao nhiêu trăm ngàn nhân công ngoại quốc , mà họ gọi là “ Gaestarbeiter ” ( người khách công nhân). Điều gì đã và đang kìm hãm, trói buộc tay chân người Việt Nam trong nghèo đói, lạc hậu và ngu dốt, sau 30 năm Xã Hội Chủ Nghĩa ngự trị, đã phải đi - “ xuất khẩu lao động ”, lao lực làm mọi xứ người; - phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam chưa đến 7-8 tuổi bị đem thân đi bán làm nô lệ tình dục, để kiếm sống ở các nước láng giềng?. Hỏi để mỗi người chúng ta, những ai còn có chút tâm tình với đồng bào và đất nước trả lời.

 

I - Phần lý thuyết. Có lẽ đọc thoáng qua Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, người đọc, nhứt là những người ngoại cuộc như chúng ta, khó tìm được những điều khoản rõ rệt liên quan đến việc bảo đảm tính cách đa nguyên, đa đảng và thành phần đối lập. Nhưng trong tâm khảm người Đức, nhứt là những nhà soạn thảo Hiến Pháp 1949, vừa thoát khỏi cơn ác mông độc tài kinh hoàng của Rudolf Hitler, không thể nào bỏ sót yếu tố quan trọng trong việc thiết lập lại “ dân chủ bảo đảm” mà họ nhằm đạt tới và chính Hiến Pháp là văn bản bảo chứng tiên khởi cho nền dân chủ nhân bản Quốc Gia. Hiểu được tâm trạng đó, chúng ta thử tìm những tư tưởng xác định để bảo đảm cho Quốc Gia - một cuộc sống dân chủ đa nguyên, đa đảng - và bảo đảm cho thành phần đối lập với Chính Quyền đương nhiệm, mà chúng tôi nghĩ là yếu tố không thể thiếu, nếu Quốc Gia muốn có được một cuộc sống nhân bản và dân chủ. Đọc qua văn bản, các định nghĩa, cách phân chia chương mục và tiểu đoạn, chúng ta thấy được bốn định hướng cột trụ là nền tảng cho toà nhà Hiến Pháp 1949: – nguyên tắc dân chủ tự do. – nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị. – nguyên tắc cơ chế Liên Bang. – nguyên tắc bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người ( Schneider-Zeh, Parlamentsrecht und Parlamentspraxis in der Bundesrepublik Deutschland, Berlin-New York 1989). A – Nguyên tắc dân chủ tự do. Nguyên tắc dân chủ tự do được hai điều 20 và 28 của Hiến Pháp 1949 tuyên bố: - “ Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc gia Liên Bang, Dân chủ và Xã hội”. Mọi quyền lực Quốc gia đều phát xuất từ dân chúng. Dân chúng hành xử quyền lực của mình trong các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan đặc trách của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 20, đoạn 1 và 2, Hiến Pháp 1949 CHLBD). - “ Thể chế hiến định của các Tiểu Bang ( Laender) phải hợp với nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị, Cộng Hoà, Dân Chủ và Xã Hội, theo tinh thần của Hiến Pháp nầy. Ở các Tiểu Bang, Vùng ( Kreise) và Xã Ấp ( Gemeinde), dân chúng phải có được thành phần đại diện do các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 28, id.). Qua tinh thần của hai điều khoản vừa kể, chúng ta có thể rút ra những hệ luận liên quan đến các chính đảng và thành phần đối lập: - các chính đảng và thành phần đối lập được thể chế dân chủ bảo đảm, - các chính đảng và thành phần đối lập là yếu tố bảo cho đảm dân chủ, đối lập với Chính Phủ đương nhiệm, bắt buộc Chính Phủ phải hành quyền với trách nhiệm của mình. - chính đảng và thành phần đối lập hiện tại là yếu tố quyết định tổ chức hành chánh luân phiên trong tương lai. 1 - Chính đảng được bảo đảm. Trước hết địa vị và vai trò các chính đảng và thành phần đối lập được thể chế dân chủ bảo đảm. Các chính đảng đương quyền hay chính đảng đối lập là một phần dân chúng trong cộng đồng Quốc Gia, được tổ chức theo thể chế “ Dân chủ, Liên Bang và Xã Hội ” (điều 20, đoạn 2, id.). Trong một Quốc Gia dân chủ, một trong những nguyên tắc căn bản không thể thiếu là quyền bình đẳng: - “ Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”. “ Người nam và người nữ đều có quyền như nhau”. “ Không ai có thể bị thiệt thòi hoặc được ưu đãi do phái tính, sinh trưởng, chủng tộc, gia đình, ngôn ngữ, quốc tịch, xuất xứ, tín ngưỡng, ý kiến tôn giáo và chính trị ” (Điều 3, đoạn 1, 2 và 3, id.). Trong tinh thần dân chủ và bình đẳng vừa kể, tư tưởng thành phần các chính đảng đối lập được Hiến Pháp bảo đảm, đã được Viện Bảo Hiến Liên Bang (Bundesverfasssungsgericht) long trọng xác nhận: - “ Quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập nằm trong các nguyên tắc căn bản của nền tảng tự do và dân chủ, chiếu theo điều 21, đoạn 2 của Hiến Pháp, bên cạnh các nguyên tắc về trách nhiệm của Chính Phủ, nguyên tắc đa nguyên và nguyên tắc liên quan đến việc các chính đảng đều có cơ hội như nhau ” ( BverfGE 2, 1; 5, 85). Và sau đây là điều 21, đoạn 2 mà Viện Bảo Hiến đề cập: - “ Các chính đảng có chủ đích hoặc cách hành xử của các đảng viên thuộc hệ có ý phá hoại, loại trừ thể chế căn bản tự do, hoặc hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hòa Liên Bang Đức, là những chính đảng bất hợp hiến…”. Dĩ nhiên “ các chính đảng bất hợp hiến” mà các nhà soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBD nhằm trước tiên chắc chắn là những tổ chức phía bên kia (Đông Đức), bởi lẽ Hiến Pháp đang được viết lúc đất nước còn bị chia đôi. Nhưng tư tưởng của các vị không chỉ hạn hẹp vào những tổ chức “ phía bên kia” thôi, khi các vị viết lên nguyên tắc trên. Mục đích của Hiến Pháp mà qúy vị đang viết là để bảo đảm nền dân chủ cho dân tộc, sau những đại hoạ chết chóc và đổ nát của thế chiến thứ II mà Hitler đã tạo nên cho đất nước với đường lối độc tài, độc đảng, coi con người như sút vật của ông ta. Các vị muốn bảo đảm cho nền dân chủ tự do mà dân tộc Đức mong thấy được thực hiện và tồn tại. Do đó Hiến Pháp phải là “ hàng rào bảo đảm chống lạm quyền” ( Garantismus) bất cứ từ đâu đến, từ “ phía bên kia”, hay phía “ bồ nhà” cũng vậy, phía “đa số đương quyền” hay phía “ chính đảng đối lập” cũng vậy. “ …Quốc Gia Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” (Điều 20, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD) sẽ coi là “ bất hợp hiến”, có nghĩa là đặt ra ngoài vòng pháp luật bất cứ thành phần phe phái nào, “ phía bên kia” ( Cộng Sản Đông Đức) hay “ phía bồ nhà ” ( các chính đảng trong lãnh thổ Tây Đức lúc đó), các chính đảng đương quyền ( Chính Phủ ) hay các chính đảng đối lập cũng vậy. Không ai có thể vi phạm thể chế “ Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” của Quốc Gia! Điều đó cho thấy các chính đảng đối lập được bảo vệ chống lại mọi cách hành xử quyền lực Quốc Gia thiên vị, phe phái, áp bức tùy hỷ của giới đương quyền. Nguyên tắc bảo đảm cho quyền tự do thành lập chính đảng và hoạt động đối lập trong thể chế dân chủ của “…Quốc Gia Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” phát xuất từ đó. Còn nữa, đi sâu hơn vào việc áp dụng nguyên tắc dân chủ, bình đẳng trong các hoạt động Quốc Gia, chúng ta càng thấy rõ hơn việc bảo đảm cho các chính đảng đối lập phát xuất từ nguyên tắc dân chủ: - “ Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag) biểu quyết với đa số phiếu đồng thuận, trừ các trường hợp Hiến Pháp nầy quyết định cách khác. Đối với những cuộc bầu cử nội bộ Hạ Viện, điều lệ nội bộ có thể dự liệu các trường hợp ngoại lệ” (Điều 42, đoạn 2, id.). - “Đa số thành viên Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag) và Thượng Viện Liên Bang (Bundesrat), theo tinh thần của Hiến Pháp nầy là đa số của tổng số các thành viên được luật pháp quy định ” (Điều 121, id.). Với nguyên tắc dân chủ “ thiểu số phục tùng đa số ” vừa được nêu lên trong hai điều 42, đọan 2 và điều 121 của Hiến Pháp 1949 CHLBD, mặc nhiên Hiến Pháp cũng thừa nhận cho các chính đảng thiểu số đối lập, không thuộc thành phần đa số đương quyền trong Chính Phủ và Quốc Hội, cũng có cơ hội và điều kiện tự do ảnh hưởng đến việc tạo ảnh hưởng của đa số: - có tiếng nói để phát biểu ý kiến và đặt điều kiện với thành phần đa số trong Quốc Hội và trong Chính Quyền, - cũng như cho dân chúng thấy đâu là quan niệm đúng đắn, chương trình khả thi và hiệu năng, không thiên vị, phe phái đảng trị, không phung phí tài nguyên Quốc Gia mà vẫn đạt được lợi ích cho mỗi người và cho cuộc sống Cộng Đồng Quốc Gia. Điều vừa kể, các chính đảng đối lập có cơ hội và điều kiện nói lên ý kiến của mình và đặt điều kiện với giới đương quyền, được điều 21 Hiến Pháp đứng ra bảo đảm: - “ Các chính đảng cộng tác vào việc tạo nên đường hướng chính trị của dân chúng ” (Điều 21, đoạn 1, id.). Ý nghĩa vừa kể của điều khoản Hiến Pháp cho thấy đường lối chính trị lãnh đạo Quốc Gia không phải chỉ là đường lối độc tôn như giáo điều của - “ Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và Xã Hội” (Điều 4, Hiến Pháp CHXHCNVN), mà kết quả của - lập trường các chính đảng đa số đương quyền, - cùng với ý kiến và điều kiện của các chính đảng đối lập, có khả năng “ảnh hưởng, đặt điều kiện, điều hoà,cắt tỉa, hảm thắng bớt ” chính hướng của đa số, với mục đích sao hành động có lợi cho đất nước. Như vậy, thể chế dân chủ tự do bảo đảm cho các chính đảng đối lập có khả năng “ảnh hưởng, đặt điều kiện, điều hòa, cắt tỉa, hảm thắng bớt ” chính hướng của đa số, mặc nhiên nói lên tính cách chính danh( légitime) các quyết định của đa số đương quyền và hành động của Chính quyền là hành động theo thể thức dân chủ. Bởi lẽ các quyết định và hành động của Chính Quyền đều được “ lọc qua” chính kiến của các chính đảng đối lập ( Gherig, Parlament – Regierung – Opposition: Dualismus als Voraussetzung fuer eine parlamentarissche Kontrolle der Regierung, Muenchen 1969, 189s). 2 + 3: Các chính đảng bảo đảm dân chủ và yếu tố dân chủ luân phiên. Các chính đảng thiểu số đối lập là tiếng nói bảo chứng của phương thức dân chủ đối với hành động có trách nhiệm của Chính Quyền và là yếu tố quyết định cho tổ chức hành quyền luân phiên trong tương lai. Sự hiện diện của các chính đảng đối lập trong thể chế dân chủ là tiếng nói bảo chứng luôn luôn gióng lên ben tai giới đương quyền rằng quyền hành của họ là - quyền hành có giới hạn trong lằn mức hiến định và pháp định, - và trong khoản thời gian cố định được Hiến Pháp tiền liệu. Chính Quyền không được “ tác oai, tác quái ” hành xử quyền lực đất nước tùy hỷ và “kéo dài thời gian tác quyền vô hạn định”, coi đồng bào như là thần dân phải phục dịch cho và đất nước như tư hữu của ông bà họ để lại, như những ai tự cho mình là “ …đội ngủ tiền phong của giai cấp công nhân,… đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”, tự cho mình có quyền “…theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà Nước và Xã Hội ” để áp lên đầu lên cổ dân Việt Nam. Trong thể chế dân chủ tự do, tất cả những đặc tính và tước hiệu ngoạn mục vừa kể, “đội ngủ tiền phong,… đại biểu trung thành quyền lợi giai cấp công nhân,…lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”, phải do “ công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc” phong cho bằng cách đứng ra “ biểu quyết với đa số phiếu đồng thuận” trong các cuộc - “ phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 28, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Nếu không, những tước hiệu và chức vụ ngoạn mục vừa kể chỉ là những đặc tính và tước hiệu, chức vụ vô giá trị của những kẻ tiếm quyền, chuyên chế, tự tôn (autocrate) và tự phong cho, dẩu cho đất nước có được gọi là “ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân” cũng vậy. Ngoài ra, các tước hiệu và chức vụ phải được Hiến Pháp xác định không những bằng cách hành xử theo luật pháp, mà còn trong thời gian giới hạn, nếu không “ công nhân…, nhân dân lao động và cả dân tộc…” có thể lầm tưởng rằng “ Đảng và …đội ngủ tiến phong…, đại biểu trung thành…, lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội ” là bè đảng của nhóm “ Độc Tài Toàn Trị ” ( Dictatorialisme- Totalitarisme) hay nhóm “ Quân Chủ Độc Tôn” ( Monarchie Absolue) mà các máy chém của của thời Cách Mạng Pháp 1789 chưa thanh toán hết. Tước hiệu và thời gian của quyền lực Quốc Gia trong thể chế dân chủ tự do phải được dân chúng phong tước cho và trong thời gian giới hạn, được Hiến Pháp xác định, làm bảo chứng. Đó là những gì Hiến Pháp 1949 CHLBD ghi lại: - “ Các dân biểu Hạ Viện Liên Bang được tuyển chọn qua các cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD - “ Hạ Viện Liên Bang được tuyển chọn có thẩm quyền bốn năm. Chu kỳ quyền hạn của Hạ Viện chấm dứt đồng thời với phiên họp đầu tiên của Hạ Viện mới” (Điều 39, đoạn 1, id., tu chính 23.08.1976). - “ Tổng Thống Liên Bang được Hội Đồng Quốc Gia ( Bundesversammlung) tuyển chọn, không cần tranh luận” (Điều 54, đoạn 1, id.). - “ Nhiệm kỳ của Tổng Thống kéo dài 5 năm. Việc tái cử liền sau nhiệm kỳ vừa chấm dứt chỉ được chấp nhận thêm một lần” (Điều 54, đoạn 2, id.). - “ Hạ Viện Liên Bang có thể bất tín nhiệm Thủ Tướng Liên Bang, nếu đa số dân biểu đồng thuận chọn vị Thủ Tướng kế vị ( konstruktive Misstrauensvotum: bất tín nhiệm xây dựng), và yêu cầu Tổng Thống triệu hồi quyền hạn của Thủ Tướng” (Điều 67, đoạn 1, id.). - “ Nhiệm vụ của Thủ Tướng và các Bộ Trưởng Liên Bang chấm dứt, khi Hạ Viện Liên Bang mới bắt đầu nhóm họp. Nhiệm vụ của Bộ Trưởng Liên Bang( và của cả Nội Các ) chấm dứt, mỗi khi Thủ Tướng hết quyền hạn” (Điều 69, đoạn 2, id.). Qua nhnữg suy tư và trích dẫn trên, chúng ta thấy rằng trong thể chế dân chủ, quyền hành của giới đương nhiệm được Hiến Pháp giới hạn bằng - thể thức được giao phó, - lãnh vực xác định - và thời gian có giới hạn. Đó là ý nghĩa và nhiệm vụ chính của các Hiến Pháp Tây Âu nói chung và CHLBD nói riêng. Nhiệm vụ chính của Hiến Pháp không phải là để nêu lên phương thức tổ chức Quốc Gia nói chung và Chính Quyền nói riêng. Hiến Pháp có mục đích khởi thủy và ưu tiên là bảo vệ con người và người công dân với địa vị và các quyền liên hệ, bằng cách đứng ra chỉ định thể thức tổ chức và giới hạn quyền hành của cơ chế Quốc Gia. Nói cách khác Hiến Pháp nêu lên các phương thức tổ chức Quốc Gia, thiết định đường lối phải theo và các lằn mức hành xử quyền lực Quốc Gia không thể vượt qua là để bảo vệ và phát huy con người và người công dân. Từ Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789 trở đi, nói đến Hiến Pháp là trước tiên người ta nói đến văn bản “ giới hạn quyền hành của Chính Quyền để bảo đảm cho con người và người công dân”, trước khi là những văn bản trình bày đường lối tổ chức Quốc Gia và thể thức tổ chức Chính Quyền: - “ Hiến Pháp được người dân Tây Âu luôn luôn hiểu đồng nghĩa là một văn bản bảo chứng (Garantismo). Ở Tây Âu người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ bản thể hiện thể thức tổ chức Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác tùy hỷ và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn” ( Giovanni Sartori, Elementi di teoria politica, III ed., Il Mulino, Bologna 1995, 18). Hiểu như vậy, chúng ta thấy rằng nguyên tắc thứ nhứt xác định quyền hành Quốc Gia không ai có thể vượt qua đã được Hiến Pháp 1949 CHLBD xác định: - “ Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Cộng Hoà, Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ” (Điều 20, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). “ Con người và người công dân Đức” sống trong lằn mức đó, không một lực lượng nào, ngoại nhập từ “ phía bên kia ” hay nội tại “ phía bồ nhà ” có thể áp bức, khống chế, vi phạm nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình, bao giờ Hiến Pháp còn hiện hữu - “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là tôn trọng và bảo đảm nhân phẩm đó. Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền bắt buộc trực tiếp” (Điều 1, đọan 1 và 3, id.) Thể chế dân chủ tự do như vừa kể còn được tăng cường bảo vệ bởi tính cách hợp hiến của quyền tự do lập đảng và hoạt động đối lập với Chính Quyền đương nhiệm: - “Quyền thành lập và hoạt động đối lập nằm trong nguyên tắc căn bản của thể chế dân chủ tự do” (BverfGe 2, 1; 5, 85). - “ Chỉ nội việc thành phần các chính đảng đối lập hiện hữu và hoạt động hữu hiệu, phe đối lập là tiếng chuông cảnh tỉnh gióng bên tai giới cầm quyền đương nhiệm rằng thời gian tồn tại của Chính Quyền tại chức được tính từng ngày một. Trong tương lai sẽ có đường lối lãnh đạo Quốc Gia hiệu năng hơn và hấp dẫn hơn”(Schneider-Zeh, Parlamentsrecht und Parlamentspraxis in der Bundesrepublik Deutschland, Berlin-New York 1989, 1063-1064). Hiểu như vậy sự hiện hữu của các chính đảng đối lập là viễn ảnh cho một nền “ Dân Chủ Luân Phiên” ( Alternanzdemokratie). Đó là một hình thức bảo vệ Dân Chủ và làm cho “ Dân Chủ cầu tiến”, “ Dân Chủ hiệu năng”, “ Dân Chủ hoàn hảo hóa”, thay vì “Dân Chủ độc tài, phe nhóm, thiên vị” hay “ Dân Chủ ngủ gà ngủ gật ”. B - Nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị. Cột trụ thứ hai của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, dựa vào đó nguyên tắc đa đảng và các chính đảng đối lập được bảo đảm, đó là nguyên tắc “ Quốc Gia Pháp Trị ”. Sau đây là những điều khoản được Hiến Pháp tuyên bố về nguyên tắc “ Quốc Gia Pháp Trị ”: - “ Mọi quyền lực Quốc Gia đều phát xuất từ dân chúng. Dân chúng hành xử các quyền mình trong các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt của ngành Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp” (Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD). - “ Quyền Lập Pháp bị giới hạn bởi các điều khoản của Hiến Pháp, quyền Hành Pháp và Tư Pháp, bởi luật pháp và các quyền ( của con người và người công dân)” (Điều 20, đoạn 3, id.). - “ Thể chế hiến định các Tiểu Bang ( Laender) phải phù hợp với các nguyên tắc Quốc Gia Pháp Trị Cộng Hoà, Dân Chủ và Xã Hội, theo tinh thần của Hiến Pháp nầy. Ở các Tiểu Bang, Vùng ( Kreise) và Xã Ấp ( Gemeinde) dân chúng phải có được thành phần đại diện do các cuộc bầu cử phổ quát, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín” (Điều 28, đoạn 1, id.). Tinh thần “ Quốc Gia Pháp Trị ” trong Tổng Thống Chế được áp dụng hơi khác, so với Đại Nghị Chế hay “ Quốc Hội Chế ” ( Parlamentarism). Trong Tổng Thống Chế, quyền hạn của mỗi cơ quan quyền lực Quốc Gia được phân định rõ rệt (Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp), theo nguyên tắc phân quyền “ Kiểm soát và Cân bằng ” (Checks anh Balances) của Tổng Thống Chế Hoa Kỳ. Trong Đại Nghị Chế, thể chế của hầu hết các Quốc Gia Âu Châu, kể cả các Quốc Gia còn theo thể chế Quân Chủ ( Quân Chủ Lập Hiến), Chính Quyền và thành phần đa số trong Quốc Hội mang một ý nghĩa khác hơn. Vị Thủ Tướng Chính Phủ do thành phần đa số trong Quốc Hội (đa số tuyệt đối, 50%+1 phiếu) đề cử và Tổng Thống bổ nhiệm (Điều 63, đoạn 2, id.). Thủ Tướng Chính Phủ và thành phần Nội Các ( các Bộ Trưởng) tuyên thệ trước Quốc Hội, để được Quốc Hội biểu quyết tín nhiệm, trước khi hành xử quyền lực Quốc Gia (Điều 64, đoạn 2, id.). Hạ Viện Liên Bang có thể bất tín nhiệm Chính Phủ, nếu đa số dân biểu đồng thuận chọn một Thủ Tướng khác thay thế (Điều 67, đoạn 1, id.). Và dĩ nhiên các dự án luật thường do Chính Phủ đề xướng, đưa qua Quốc Hội sẽ được đa số nghị sĩ “ bồ nhà ” của các chính đảng đa số thành viên trong Quốc Hội chấp thuận, trở thành luật. Điều đó cho thấy trong Đại Nghị Chế, giữa Chính Phủ và thành phần đa số trong Hạ Viện luôn luôn có sự “ cấu kết, đồng thanh cộng hưởng ” trong đường lối lãnh đạo, cũng như trong các hoạt động Quốc Gia. Nói cách khác, nguyên tắc phân quyền giữa Chính Phủ và thành phần đa số trong Hạ Viện không được áp dụng triệt để trong Đại Nghị Chế. Trong Đại Nghị Chế, Lập Pháp và Hành Pháp có khuynh hướng sát nhập nhau thành một khối, cộng tác hơn là phân chia quyền lực. Điều đó có thể là có nguy cơ Quốc Hội ( nhứt là Hạ Viện) và Hành Pháp toa rập nhau để khuynh đảo thể chế tự do dân chủ của Quốc Gia. Bởi đó trong Đại Nghị Chế, cần có những thể thức khác để giới hạn quyền hành, toa rập tự tung tưụ tác bất chính, cần có những chủ thể khác để giao phó quyền kiểm soát và cân bằng “ Checks anh Balances” của Tổng Thống Chế, kiểm soát và đối kháng lại khối Hành Pháp và khối đa số trong Hạ Viện toa rập bất chính. Đó là sự kiểm soát và đối kháng lại của các chính đảng đối lập, ngay cả trong lòng Hạ Viện, để bù trừ lại cho những gì thua thiệt của việc kiểm soát và cân bằng của Tổng Thống Chế. Các chính đảng đối lập hành xử quyền hiến định của mình không những bằng cách chỉ trích, kiểm soát, mà còn thắng bớt, cân bằng, điều chỉnh chính hướng lãnh đạo Quốc Gia, sao cho đường lối và hoạt động của Chính Quyền “ thích hợp và hiệu năng” đối với lý tưởng và lợi ích của xứ sở. Ngay chính việc các chính đảng đối lập đồng thuận hay phản đối, cắt giảm ngân sách công qủy hàng năm cũng là tiếng nói cảnh tỉnh cho “ thích hợp và hiệu năng ” đối với đường lối, cách tổ chức và hoạt động của Chính Phủ. Đó là chưa nói đến những ý kiến đồng thuận, sửa đổi hay phản đối trên những lãnh vực khác, đối nội cũng như đối ngoại. Với khả năng dung hoà, hạn chế hay đồng thuận khuyến khích thể thức điều hành quyền lực Quốc Gia, bằng các hoạt động của mình, các chính đảng đối lập cộng tác tăng cường thêm “ hiệu năng” cho nguyên tắc Dân Chủ và Quốc Gia Pháp Trị, để bảo toàn và nới rộng thêm khuôn thước cho tự do cá nhân ( Gherig, Gewalenteilung zwissen Regierung und parlamentarische Opposition, in DVBL, 1971, 633s). Khả năng dung hoà, kiểm soát, cắt xén hạn chế chính hướng và phương thức hành xử quyền lực Quốc Gia vừa kể của các chính đảng đối lập, được Hiến Pháp nêu lên ở điều 93: - “ Viện Bảo Hiến Liên Bang ( Bundesverfassungsgericht) sẽ quyết định trong trường hợp bất đồng ý kiến hay nghi vấn về các vấn đề thích hợp hay không giữa luật pháp Liên Bang hay luật pháp của Tiểu bang với Hiến Pháp hiện tại, hoặc giữa luật pháp của Tiểu Bang với các đạo luật của Liên Bang, nếu được Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ Hạ Viện Liên Bang yêu cầu” (Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBD). Đoạn văn “ …Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị sĩ của Hạ Viện Liên Bang yêu cầu ” cho thấy Hiến Pháp nâng cao “ khả năng đối lập ” của các chính đảng lên “ lằn mức khả thi ” thiết thực. Trong một Quốc Gia Liên Bang như Đức Quốc hay Hoa Kỳ, các chính đảng đa số đang chiếm đa số ghế trong Hạ Viện và đang lãnh đạo Quốc Gia trong Chính Phủ. Nhưng các chính đảng đối lập có thể đang lãnh đạo Chính Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang nào đó, cũng như đang chiếm 1/3 số ghế hay hơn nữa trong Hạ Viện Liên Bang. Đó là điều hiển nhiên dễ xảy ra. Hay là tình trạng tự nhiên ở một Quốc Gia dân chủ tự do. Trên thế giới, khó có Quốc Gia nào mà trong cuộc bỏ phiếu dân chúng đồng thuận đến 99% ủng hộ các quyết định của “Đảng và Nhà Nước mình”, như ở nước CHXHCNVN, theo Xã Hội Chủ Nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ con số tỷ lệ 99% cũng nói lên trình độ dân chủ của chế độ lãnh đạo Xã Hội Chủ Nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là con số càng nêu lên, càng làm trò cười cho thiên hạ! Trở lại Hiến Pháp 1949 CHLBD, các chính đảng đối lập có thừa khả năng để chiếm được Chính Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang, hoặc đang chiếm 1/3 hay hơn nữa số ghế ở Hạ Viện Liên Bang. Và Hiến Pháp xác định là mỗi khi chỉ cần có một Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 số dân biểu Hạ Viện Liên bang yêu cầu là Viện Bảo Hiến sẽ duyệt xét lại tính cách hơp hiến hay vi hiến các đạo luật đã được thành phần đa số Chính Phủ đương quyền soạn ra và được đa số Hạ Viện chuẩn y. Quyết định như vậy là Hiến Pháp trao cho các chính đảng đối lập khả năng thực hữu kiểm soát tính cách hợp hiến hay vi hiến việc làm của Chính Quyền và Hạ Viện. Sau khi nhận được lời yêu cầu của các chính đảng đối lập, chỉ cần một Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 dân biểu Hạ Viện, là Viện Bảo Hiến, một cơ quan trung hòa và độc lập, sẽ phán quyết. “Đảng và Nhà Nước mình” cũng như thành phần đa số Hạ Nghị Sĩ được đắc cử với 99% số phiếu sẽ khó lòng mà “ cậy quyền, ỷ thế ”, dựa vào số đông, “ cả vú lấp miệng em ” để lừa lọc và coi luật pháp như rơm rát. “ Quốc Gia Pháp Trị ” là vậy! Nói cách khác, các chính đảng đối lập trong Hiến Pháp 1949 CHLBD có thực quyền đối lập, để “thừa hành” “ quyền và bổn phận ” đối lập của mình được Hiến Pháp giao phó, bênh vực quyền lợi của xứ sở, bênh vực dân chủ tự do và bênh vực phẩm giá và các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người. Các chính đảng đối lập trong Hiến Pháp 1949 CHLBD không phải chỉ là “ nghị gù, nghị gật ”, làm “ nô bộc, vâng dạ ” cho - “ Đảng Cộng Sản là bậc thầy không thể sai lầm về phương diện ý thức hệ; về phương diện áp dụng thực hành, Đảng là sự Chính Xác Tuyệt Đỉnh; về phương diện trí thức, Đảng là Thần Thánh” (R.G., Lenin’s Legacy: The Story of CPSU, in The Breznev Party, Standford Univ., Standford, California 1978, p. 255). Chỉ có Breznev và Đảng Cộng Sản tối tăm mới có thể dám tự hào như vậy, " Không thể sai lầm, ...là Chính Xác Tuyệt Đỉnh...là Thần Thánh". Các chính đảng đối lập được Hiến Pháp 1949 CHLBD mặc nhiên giao cho nhiệm vụ “điều chỉnh, thắng bớt, cắt tỉa, phản đối và loại trừ ” đường lối và hoạt động quá lố, sai lầm, không hiệu năng của đa số đương quyền trong Chính Phủ và Hạ Viện. Điều đó nằm trong tinh thần khôn ngoan của câu nói ngàn đời của người La Tinh: “ Sai lầm là bản tính của con người ! ” ( Errare humanum est !), khác với thái độ kiêu ngạo và đầu óc tối tăm được thể hiện qua câu nói trên của Leonid Breznev và của Đảng Cộng Sản, chúng tôi vừa trích dẫn ở trên. Khả năng thực hữu của các chính đảng đối lập luôn giữ cho giới cầm quyền thi hành quyền lực quốc Gia trong khuôn khổ hiến định và luật định, “ Quốc Gia Pháp Trị ” để bảo đảm cho dân chủ tự do và con người có cuộc sống “ người cho ra người ”. C - Thể chế Liên Bang. Thể chế Liên Bang mặc nhiên công nhận và bảo vệ phương thức đa đảng và chính đảng đối lập. Ở trên chúng ta vừa đề cập thể thức cấu tạo Quốc Gia theo cơ chế Liên Bang tạo ra cơ hội cho các chính đảng đối lập có thể lãnh đạo Chính Phủ ở một hay nhiều Tiểu Bang, mặc cho Chính Quyền cũng như Hạ Viện Liên Bang do thành phần đa số lãnh đạo. Lãnh đạo Chính Quyền, điều khiển và quản trị một hay nhiều Tiểu Bang, các chính đảng đối lập có cơ hội cho dân chúng thấy, không những ở một hay nhiều Tiểu Bang nơi họ đương nhiệm, mà cả dân chúng toàn quốc, thấy được đường lối đúng đắn, tài năng và phương thức lãnh đạo hiệu năng, ích lợi cho địa phương nói riêng và cho xứ sở nói chung. Đó là món tiền cọc đặt trước cho kỳ tuyển cử tới, để chính đảng hay các chính đảng đối lập hiện tại sẽ là giới lãnh đạo Chính Quyền và Hạ Viện Liên Bang ở trung ương (Friedrich F., Landparlament in der Bundesrepublik, Berlin 1975, 215). Không những vậy, nhìn vào cấu trúc Thượng Viện Liên Bang, chúng ta cũng thấy được Hiến Pháp 1949 CHLBD tiền liệu cho quyền đối lập của các chính đảng được tăng cường, chống lại tập đoàn, phe phái và đảng trị của phe đa số: - “ Thượng Viện Liên Bang ( Bundesrat) được cấu tạo bằng các thành viên của các Chính Phủ các Tiểu Bang. Các thành viên đó được các Chính Phủ liên hệ tuyển chọn và thu hồi. Các Chính Phủ các Tiểu Bang có thể đặc phái những thành viên khác đại diện cho mình” (Điều 51, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Qua ý nghĩa của điều 51, đoạn 1 vừa trích dẫn, trường hợp các chính đảng đối lập chiếm được đa số đáng kể Chính Quyền các Tiểu Bang, các thành viên mà họ gởi đến Thượng Viện sẽ chiếm đa số ở Thượng Viện Liên Bang. Và ở đó, với tư cách là thành viên Quốc Hội ( Thượng Viện là một Viện Quốc Hội), họ có quyền “ sửa đổi, cắt xén, giảm bớt , chuẩn y hay bác bỏ ” những dự án luật hoặc sắc lệnh được Chính Phủ Liên Bang đưa ra và Hạ Viện Liên Bang chuẩn y đồng thuận. - “ Qua Thượng Viện Liên Bang, các Tiểu Bang cộng tác trong việc lập pháp, quản trị và những vấn đề liên quan đến Cộng Đồng Âu Châu” (Điều 50, id., Tu chính án cho Thỏa Ước Maastricht 21.12.92). - “ Các dự án luật được Chính Quyền Liên Bang, các thành viên Hạ Viện trình lên Hạ Viện và Thượng Viện Liên Bang” (Điều 76, đoạn 1, id.). - “ Luật pháp Liên Bang được Hạ Viện Liên Bang chuẩn y. Và sau khi được Hạ Viện Liên Bang chấp thuận, các điều khoản luật đó phải được Chủ Tịch Hạ Viện Liên Bang lập tức chuyển đến Thượng Viện” (Điều 77, id.). Và như chúng ta đã đề cập, các thành viên của Thượng Viện là người của Chính Quyền các Tiểu Bang phái đến (điều 51, đoạn 1, id.), bởi đó khi một dự án luật được chuyển đến Thượng Viện, các thành viên của Thượng Viện sẽ tiếp tục chuyền về Chính Quyền các Tiểu Bang mình để hỏi ý kiến. Nếu Chính Quyền các Tiểu Bang đa số tỏ ý bất đồng, Thượng Viện không có cách gì tự mình “ chuẩn y ” dự án luật đang bàn, nhứt là những dự án luật áp đặt, bất lợi cho quyền lợi các Tiểu Bang, cho Chính Quyền cũng như cho dân chúng sở tại. Thượng Viện Liên Bang là Viện Quốc Hội, gồm các thành viên là thành viên của các Chính Quyền địa phương. Tiếng nói của Thượng Viện Liên Bang là tiếng nói của Chính Quyền và dân chúng địa phương, có thể là tiếng nói của các đảng phái đối lập, nhằm “ cắt tỉa, hảm thắng” tư tưởng và cách hành xử quá lố, tùy hỷ của Chính Quyền và hạ Viện Liên Bang có thể cấu kết nhau. Tiếng nói của Thượng Viện, của các Tiểu Bang hay của Cộng Đồng Địa Phương, của các chính đảng đối lập, không phải chỉ là tiếng nói liên quan đến các vấn đề địa phương, mà cũng có thể là tiếng nói địa phương liên quan đến nhu cầu và ước vọng, lý tưởng của cả đất nước. Do đó, không có cách gì Hiến Pháp 1949 CHLBD cho phép Hạ Viện và Chính Phủ Liên Bang soạn thảo, “ chuẩn y bay bác bỏ ”, và hành xử luật pháp, mà không đếm xỉa gì đến tiếng nói của Thượng Viện, của Chính Phủ và dân chúng ở các Tiểu Bang ( Gherig, Parlament-Regierung-Opposition:Dualismus als Voraussetzung fuer eine parlamentarissche Kontrolle der Regierung, Muenchen 1969, 189s). Những gì vừa nói trong Hiến Pháp 1949 CHLBD cho thấy các chính đảng đối lập, thi hành “ quyền và nhiệm vụ đối lập” hiến định của mình, không phải là cách hành xử “phản động, chống Đảng và Nhà Nước, là thế lực của phe thù địch ” cho bằng là dụng cụ thiết yếu để bảo vệ “ Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ”. Có chăng thả lỏng cho “ Đảng và Nhà Nước” độc đảng, lộng hành tùy hỷ, “Đảng và Nhà Nước mình” mới là “ bọn phản động, chống Dân Chủ, Liên Bang và Xã Hội ”, coi Hiến Pháp như giấy lộn vô giá trị. D – Bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm. Nguyên tắc cột trụ thứ tư của Hiến Pháp 1949 CHLBD, bảo vệ nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người, mặc nhiên bảo vệ quyền đối lập các chính đảng. Điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp 1949 CHLBD đề cập đến “ phẩm giá bất khả xâm phạm của con người và các quyền liên hệ ” cũng như quy trách cho tổ chức Quốc Gia trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm để các quyền vừa kể không những khỏi bị xúc phạm mà còn được phát triển hoàn hảo: - “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Mọi quyền lực Quốc Gia có bổn phận kính trọng và bảo đảm cho phẩm giá đó… “ Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có hiệu lực bắt buộc đối với Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp” (Điều 1, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD). Trong các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng vừa kể, quyền tự do báo chí (điều 5, đoạn 1), tự do giáo dục (điều 5, đoạn 3), tự do hội họp (điều 9), tự do bảo mật thư tín, bưu điện và viễn thông (điều 10)…, là những quyền không ai được vi phạm, lạm dụng để chống lại thể chế căn bản dân chủ tự do (điều 18). Qua các điều khoản vừa được liệt kê, chúng ta thấy rằng trong các quyền tự do “ tương giao xã hội ” , quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập thuộc khối “ nhân cội bất khả xâm phạm và bất khả nhượng”, một trong những nền tảng then chốt của Hiến Pháp 1949 CHLBD: - “ Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào liên hệ đến Hiến Pháp nầy, có liên quan đến các đề mục tương quan giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến việc tham dự các Tiểu Bang vào việc ban hành luật pháp hoặc đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20” (Điều 79, đoạn 3, id.). Và như chúng ta biết, điều 1 liên quan đến “ nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người” và điều 20 định nghĩa thể chế “ Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”. Như vậy quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập nằm trong khối nhân cội các quyền “ bất khả xâm phạm và bất khả nhượng” trên. Kế đến Hiến Pháp cũng cảnh cáo những vi phạm các quyền trên, quyền thành lập chính đảng và hoạt động đối lập, nằm trong tinh thần “ mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ”, người công dân, cá nhân hay nhóm công dân trong chính đảng, thuộc giới đương quyền hay thành phần chính đảng đối lập cũng vậy: - “ Không ai có thể bị thiệt hại hay được ưu đải do phái tính, chủng tộc, gia đình, ngôn ngữ, quốc tịch, nguồn gốc xuất xứ, tín ngưỡng, ý kiến tôn giáo hay chính trị ” (Điều 3, đoạn 3, id.). Tuyên bố “ dưới hình thức tiêu cực”, Hiến Pháp 1949 CHLBD liệt kê - các nguyên tắc và các quyền “ bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người ” - và “ thể chế Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”, là những lằn mức không thể vượt qua, đồng thời cảnh tỉnh những hành vi ám muội bằng cách coi là “ bất hợp hiến ”, cá nhân hay đoàn thể có mưu đồ đen tối vi phạm các lằn mức trên (điều 21, đoạn 2, id.), hoặc chính tổ chức Quốc Gia phải đứng ra bảo vệ cho người dân không bị ai xâm phạm nhân phẩm của họ và các quyền vừa kể (điều 1, đoạn 3). Nhìn dưới khía cạnh tích cực, các tự do mà chúng ta đang bàn, tự do thành lập chính đảng và tự do hoạt động đối lập, cũng như khi có các điều kiện thuận lợi đứng ra lãnh đạo Quốc Gia, Hiến Pháp khuyến khích người dân hãy xử dụng tự do được Hiến Pháp bảo vệ, để kiến tạo cho mình và cho đồng bào mình một xã hội xứng đáng với “ nhân phẩm con người”, mà Hiến Pháp long trọng tuyên bố “ bất khả xâm phạm ” ngay ở điều khoản đầu tiên (điều 1, đoạn 1, id.). Nói cách khác, người dân Đức, thành phần đa số đương quyền hay thành viên các chính đảng đối lập, hãy xử dụng quyền tự do lập hội, tự do ngôn luận, tự do hội họp để bảo vệ và phát triển thể chế “ Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội ”, trong đó “ Phẩm giá con người bất khả xâm phạm ”: - “ Các chính đảng cộng tác vào việc hình thành ý hướng chính trị của toàn dân…” (Điều 21, đoạn 1, id.). Hiến Pháp 1949 CHLBD không dành một đề mục nào rõ rệt bảo vệ thể chế đa đảng và chính đảng đối lập, nhưng lần mò theo các nguyên tắc nền tảng cột trụ của Hiến Pháp, chúng ta khám phá được những điều khoản Luật Hiến Pháp “ mặc nhiên ” bảo chứng cho các chính đảng đối lập được hiện hữu và có khả năng thực hữu để hoạt động, đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của dân chúng.