Untitled Document
User:
Pass:

Quan Điểm

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Dạo này từ “Gián điệp” có vẻ được các chính quyền Cộng sản ưa thích, đặc biệt là bạo quyền Cộng sản Việt Nam. Theo tin báo chí thì một nhà tranh đấu cho dân chủ người Trung Hoa ở Mỹ về và bị mất tích ở Việt Nam sáu tháng trước đây một cách bí mật, nay bỗng nhiên chính quyền Trung Cộng cho biết họ đang giam giữ ông Vương và cáo buộc ông tội làm gián điệp cho Đài Loan và còn gọi ông là tên khủng bố, phá hoại an ninh quốc gia, toàn là những tội tày đình mà nếu bị kết tội có thể lãnh những bản án nặng nề ngay cả tử hình. Đàn em CSVN hồi tháng 10 đã đưa ra một bản cáotrạng với những lý lẽ ấu trĩ và ngu xuẩn của viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao để truy tố ba người cháu của cha linh mục Tađêo Nguyễn văn Lý là Nguyễn thị Hoa, Nguyễn vũ Việt và Nguyễn trực Cường tội “gián điệp” và ngày ra tòa sẽ là 14 tháng 1 năm 2003. Gần đây nhất, sau một phiên tòa kéo dài từ 8 giờ sáng tới 4 giờ chiều hôm thứ sáu ngày 20-12 tại Hà Nội để xét xử anh Nguyễn khắc Toàn, một cựu sĩ quan trong quân đội CS, họ cũng kết án anh tội làm “gián điệp” và áp đặt lên anh Toàn một bản án đã định sẵn từ trước là 12 năm tù giam trong khi, theo tiến sĩ vật lý Nguyễn thanh Giang, anh chưa hề có hành động hay lời nói nào mang tính chính trị, anh Toàn chỉ là người có lòng tốt, đã hỏi han những người dân biểu tình đòi đất đai bị nhà nước cướp đoạt và giúp họ điền đơn khiếu kiện mà thôi. Đọc những tin trên, tôi càng thêm ngao ngán cho cái đám “đỉnh cao trí tuệ” đã cố tình gán ghép cưỡng từ đoạt lý hai chữ gián điệp để vu khống, để áp đặt lên bất cứ ai mà họ muốn trừ khử, muốn đàn áp. Một người hoạt động ôn hòa bất bạo động cho nền dân chủ của nước mình hoặc giúp đỡ đồng hương khi gặp cảnh bất công là làm gián điệp ư ? Những người dân lao động, cô thế nhận tiền giúp đỡ từ người hải ngoại trong tinh thần tương trợ hoặc mở hộp thư điện tử cũng là làm gián điệp ư ? Thật cực kỳ vô lý và ngớ ngẩn. Cách đây không lâu, ở Mỹ có một vụ án gián điệp mà tội phạm là một nhân viên của Cục Điều Tra Liên Bang tức FBI, tên Robert Hansen, ông này đã bán những tin tức tình báo cho Nga sô trong suốt 17 năm dài, ông ta ra công viên và để lại hồ sơ với những tài liệu mật trên ghế đá. Ông đã bị theo dõi lâu ngày và cuối cùng thì bị tống giam rồi ra tòa với bản án chung thân. Những tổn hại mà ông ta gây ra cho cơ quan FBI thật khó mà lượng định (theo lời các nhân viên cơ quan này) nhưng chắc phải lớn lao, cũng như nhiều điệp viên hoạt động trên đất Nga đã bị lộ diện và lâm nguy chỉ vì những bí mật đã bị Robert “bật mí” cho bên kia biết, đổi lại ông ta đã nhận khoảng trên 200 ngàn mỹ kim và một số kim cương. Tháng rồi, trên băng tần số 5 có chiếu một truyện phim tên Master Spy căn cứ trên câu chuyện thật của Robert Hansen với câu phụ đề :”Ông ta bán đứng nước Mỹ, mỗi lần một bí mật”, rất tiếc vì bận rộn tôi đã không được xem phim này. Trên báo San Jose Mercury News ngày 19 tháng 11 có đăng tin tức và hình ảnh về một người Trung Hoa, Dr. Wan Yanhai là một vị bác sĩ chuyên môn nghiên cứu và tìm hiểu về bịnh Aids, những tác hại của nó, số bệnh nhân trên toàn nước Tàu cũng như cách mà chính phủ và các nhân viên bộ Y Tế Trung Cộng đối phó với chứng bịnh dịch thế kỷ này như thế nào, họ đã làm gì để bảo vệ dân chúng trước hiểm họa bịnh Aids đang mỗi ngày một lan rộng. Kết quả là ông phải trải qua 27 ngày bị giam giữ cho đến khi được thả ra do sự vận động của nhiều tổ chức cũng như lên án của Liên Hiệp Quốc và bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nhà nước Trung Cộng đã kết án ông làm lộ nhiều thông tin mật của quốc gia trong cuộc nghiên cứu về bệnh Aids cuả ông. Những chi tiết thuộc loại “bí mật quốc gia” trong trường hợp này bao gồm cả tỷ lệ người dân bị nhiễm bịnh và những hoạt động phòng chống, ngăn ngừa. Thật nực cuời cho sự man rợ, bán khai của bè lũ cộng sản, lúc nào cũng phải dấu dấu diếm diếm, che che đậy đây, bản chất gian trá xảo quyệt có khác! Dù sao ông bác sĩ Tàu 39 tuổi này con may mắn, chỉ phải ở tù có 27 ngày rồi được học bổng Fulbright để qua học ở Los Angeles, ông ta tính sẽ đi đây đó để nói chuyện về đề tài bịnh Aids ở nước Trung Hoa. Một bản tin khác do hãng thông tấn AP loan đi về một cựu kỹ sư chế tạo phi cơ cho một công ty quốc phòng Anh đã thú nhận trước tòa án rằng ông ta đã từng bán các chương trình mật chế tạo hỏa tiễn cho Nga. Ian Parr, 45 tuổi, bị bắt hồi tháng 3 vừa qua trong lúc đang tìm cách bán một số tài liệu mật cho một người Nga với giá 200 ngàn. Ông ta đã bị kết án hai tội trạng làm gián điệp theo bộ luật Mật của chính phủ Anh và có thể bị kết án tối đa chỉ 14 năm tù. Được biết công ty mà ông Parr đã phục vụ trước kia chuyên sản xuất các hệ thống quân sự lẫn dân sự, bao gồm những ra đa và những loại phản lực cơ chiến đấu như Tornado và Harrier. So sánh những tội trạng và tính cách nghiêm trọng của những vụ án tại hai quốc gia dân chủ Anh Mỹ, với những cáo buộc tội gián điệp của các chính quyền cộng sản mơí thấy đau đớn cho dân tộc Việt Nam và thương cho số phận của những người dân bị trị dưới một chế độ độc tài, toàn trị, ngu dốt, phi nhân. Những người trẻ Việt Nam đã làm gì nên tội, một Lê chí Quang uất hận trước sự mất đất đai do tổ tiên cha ông gầy dựng và lưu truyền lại nên đã gióng lên tiếng chuông báo động “Hãy cảnh giác với Bắc triều” đã bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế với tội phổ biến tài liệu có hại cho chế độ. Trong khi, những tên phản quốc, những tên bán nước như Phạm văn Đồng, Lê khả Phiêu thì không bị đưa ra tòa xét xử mà vẫn yên vị để làm giàu trên xương máu của dân tộc việt Nam. Phạm hồng Sơn, dù là bác sĩ nhưng không thể nhắm mắt làm ngơ trước khát vọng dân chủ của nước nhà nhưng vừa phổ biến bài “Thế nào là dân chủ” liền bị nhà nước trói tay khóa miệng. Nguyễn khắc Toàn vì bất bình trước cảnh bà con nông dân bị áp bức, bị cưỡng đoạt đất đai hoặc thu mua với giá rẻ mạt nên anh đã cố gắng giúp đỡ họ và phổ biến tin tức về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống bất công này. Thế là bạo quyền chụp ngay cho anh cái mũ “gián điệp” và kết án 12 năm tù chỉ vì anh Toàn đã tham gia vào cuộc tranh đấu ôn hòa đòi công bằng xã hội của những người dân khốn khổ. Đội ngũ “điệp viên” lại càng đông đảo hơn với ba người cháu của Linh mục Nguyễn văn Lý, là Nguyễn thị Hoa, Nguyễn trực Cường và Nguyễn vũ Việt. Họ chỉ là những người dân lao động bình thường, thấp cổ bé miệng, chẳng làm điều gì phạm pháp nhưng bỗng nhiên bị vu khống, qui chụp cho tội “gián điệp” với bản caó trạng đầy những từ ngữ “đao to búa lớn” của Viện Kiểm Sát Nhân dân Tối cao. Người ta trông đợi bản cáo trạng sẽ đưa ra được những hành vi “xuất quỉ nhập thần” của các tay điệp viên lão luyện, những mưu kế “thần sầu quỉ khốc” của những người do thám với hành động bí mật và tài nghệ cừ khôi, nào ngờ đây chỉ là những lập luận vu vơ, ấu trĩ đến buồn cười để gán ghép, để áp đặt, vu cáo cho những người dân hiền lành vô tội mà việc làm của họ chẳng có gì làvi phạm luật lệ hay hiến pháp cả. Nếu mở hộp thơ điện tử là sai trái, nếu gửi lý lịch cá nhân, bằng tốt nghiệp và giấy tờ để xin học bổng nước ngoài là phạm pháp thì thật là hết ý kiến. Những trao đổi thông tin có tính cách cá nhân, riêng tư như gửi hình ảnh cha Lý thời niên thiếu, trả lời câu hỏi về cuộc đời của cha cũng như gửi hình ảnh đám tang bà nội (tức mẹ của cha Lý) cho người ở Mỹ bị gọi là hành vi “gián điệp” thì chính nhà nước đã tước đoạt quyền tự do thông tin của nhân dân. Bản cáo trạng này đã chứng tỏ cho mọi người thấy rõ nền tư pháp man rợ và vô học của CSViệt Nam như tin báo chí cho biết : “Hiện có hơn 400 thẩm phán, trong đó có cả chánh án, phó chánh án chưa có bằng đại học về luật, nhưng vẫn đang nắm quyền xét xử trong các phiên tòa. Từ những năm trước đây người ta được biết nhiều thẩm phán, chánh án trong hệ thống tư pháp CSViệt Nam chưa vượt qua trình độ tiểu học. Họ được cất nhắc chỉ vì họ là đảng viên trung kiên chứ không phải là người có kiến thức chuuyên môn về pháp luật. Thảo nào, “ngài” viện trưởng viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã đưa ra những luận cứ ngô nghê để gán ghép tội gián điệp cho ba người dân lao động cô thân yếu thế. Những “đỉnh cao trí tuệ” đã kết tội em Cường mua điện thoại di động để tiện việc liên lạc hoặc đi thăm hòa thượng Thích Huyền Quang hay ghé lại Thanh Minh Thiền Viện để xem tình hình là hoạt động gián điệp thì hỏi rằng quyền tự do đi lại của người dân có còn hay không. Chị Nguyễn thị Hoa, một phụ nữ góa bụa với 4 người con thơ, phải ngược xuôi buôn bán vất vả, đã thay mặt gia đình nhận lời phân ưu và tiền phúng điếu từ hải ngoại gửi về để tương trợ giúp đỡ tang lễ cho bà nội; cũng như nhận tiền để thăm nuôi chú ruột là Lm Lý trong tù hoặc tiền xây lăng mộ cho bà cố hay giúp mẹ già là những công việc hết sức bình thường để tỏ lòng hiếu kính của con cháu với gia đình mà lại bị kết án là làm gián điệp thì quả thật Viện Kiểm Sát Nhân dân tối cao của nhà nước đã chứng minh cho mọi người thấy sự dốt nát, phi lý, vô luật pháp và bất nhân của mình. Bằng cách quy chụp một tội nặng nề là làm gián điệp cho ba cháu của Lm Lý, bạo quyền CSViệt Nam đã nhắm vào chính bản thân cha để hòng bẻ gãy tinh thần bất khuất, để nhắm đánh gục lòng quả cảm của vị tu sĩ can trường này. Như quân Pháp ngày xưa đã từng theo kế của các tay sai Việt gian bắt bớ gia đìnhcha mẹ của các kháng chiến quân để họ phải ra đầu hàng, ngày nay bạo quyền cũng dùng ba người cháu để tạo áp lực nặng nề lên cha Nguyễn văn Lý, họ căm hận cha vì đã kiên trung tranh đấu cho Giáo hội, cho quyền tự do tôn giáo thực sự mà không chịu cúi đầu khuất phục như các vị khác. Ông Trần Độ, lúc sinh thời đã từng tố cáo đảng CSViệt Nam đàn áp người dân còn hơn thời phát xít phong kiến. Ông Trần Dũng Tiến là một người trong nhóm Dân Chủ ở Hà Nội khi trả lời phỏng vấn đã phải thốt lên rằng nhà nước khủng bố người bất đồng chính kiến còn hơn “tru di tam tộc”. Thật vậy, khi cha Nguyễn văn Lý bị quản chế ở giáo xứ An Truyền thì bà cố Maria Trần thị Kính đang hấp hối trên giường bịnh, bà mong được gặp mặt đứa con trai út biết bao, và cha Lý cũng xót xa đau đớn muốn nhìn mặt người mẹ thân yêu lần cuối, muốn đưa tiễn người đến nơi an nghỉ cuối cùng, thế mà bạo quyền tàn nhẫn cản ngăn dù biết rằng “nghĩa tử là nghĩa tận”. Nhà nước đã gây ra đủ điều khó dễ cho đám tang của cụ cố Maria Trần thị Kính và sách nhiễu con cháu của cụ trong dịp đau buồn này. Bây giờ họ kiếm cớ để bắt giam ba người cháu của cha, những người dân lao động bình thường, không vây cánh bè phái, không vi phạm bất cứ luậ t lệ nào của chế độ. Những chứng cớ đưa ra trong bản cáo trạng tội gián điệp thật klà vô lý đến độ ngớ ngẩn, mở hộp thư điện tử, gửi lý lịch ra nước ngoài, mua điện thoại di động cho người nước ngoài biết tin tức thông thường, nhận tiền tương trợ giúp đỡ để xây mộ cho người quá cố, để thăm nuôi người ở trong tù và để giúp mẹ góa con côi đều là hành vi gián điệp thì cả nước Việt Nam có vô vàn vô số điệp viên. Làm gián điệp dễ dàng và trôi chảy như vậy sao? CSViệt Nam đã khủng bố lương dân vô tội bằng cách gán ghép, vu khống cho họ những tội danh nặng nề, gây tổn thương tinh thần chẳng những cho cá nhân đó mà còn cho cả gia đình con cái họ. Như hai chữ “phản động” đã bị qui chụp cho Tiến sĩ vật lý Nguyễn Thanh Giang khiến ông phải cay đắng than lên rằng: họ “đắm đuối người trên cạn mà chơi”, bạn bè đồng nghiệp, người quen biết đều ngại ngùng xa lánh, ông không còn được hoạt động trong lãnh vực khoa học mà ông yêu thích và đã cống hiến rất nhiều. Tài tử điện ảnh Đơn Dương khi không còn được lòng nhà nước nữa thì bị kết tội “phản quốc”, bị bao vây, cô lập, con cái đi học thì bị bạn bè xa lánh, xầm xì, thầy cô cũng không ai dám bênh vực hỏi han, chẳng người nào muốn dính dáng đến nhà “phản quốc” cả. Tình cảnh các cháu cha Lý cũng vậy, caí mũ “gián điệp” bị nhà nước úp chụp lên những người dân hiền lành, chất phác làm khổ lây cho vợ con họ. Thật tội nghiệp cho vợ và cháu nhỏ mới lên 6 tuổi của Nguyễn trực Cường cũng như bầy con 4 đứa côi cút của chị Nguyễn Thị Hoa, cha đã mất sớm còn mẹ thì bị vu cáo tội làm gián điệp , các cháu phải sống trong thiếu thốn, lo âu, sợ hãi, bị theo dõi, hạch sách, nghi ngờ. Đáng thương cho các cháu biết bao, bất hạnh thay cho con dân nước Việt khi phải sống trong sự cùm kẹp của một bạo quyền bất nhân, vô lương tâm. Một nhà nước thay vì dùng tòa án để binh vực, để bảo vệ quyền lợi, sinh mạng và tài sản của người dân thì lại nhân danh luật pháp để vu khống, để chụp mũ nhân dân, dùng tòa án như công cụ để đàn áp bức hiếp những người thấp cổ bé miệng. Biết đến bao giờ dân tộc Việt Nam mới được hưởng những quyền làm người như người dân các nước dân chủ, pháp trị. Biết đến bao giờ ánh sáng Tự do Công lý mới chiếu soi trên quê hương ta. Nguyện xin Thiên Chúa Toàn năng đoái thương những người con đang bị trù dập oan ức. Xin ban ơn nâng đỡ hồn xác cho Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Vũ Việt và Nguyễn Trực Cường được bình an sáng suốt. Xin cho cha Nguyễn văn Lý được giữ vững tinh thần, không bị khuất phục trước thử thách này. Xin Chúa gìn giữ họ trong cánh tay Quan phòng của Người và giúp họ luôn vững lòng cậy trông và tin tưởng nơi một ngày mai tươi sáng hơn.

 

MỘT NGƯỜI TÙ LƯƠNG TÂM ĐÁNG KÍNH PHỤC Tháng 10 đến, nhắc tôi nhớ hình ảnh một linh mục với đôi mắt nhắm nghiền trên khuôn mặt hằn nét khắc khổ, chịu đựng, đằng sau là mấy tên công an gian ác. Đó là linh mục Tađêô Nguyễn văn Lý trước phiên tòa của bạo quyền CSVN ngày 19 tháng 10 năm 2001. Một phiên tòa rừng rú chỉ có 2 tiếng đồng hồ, chỉ có những người có giấy phép tham dự mới được vào và bị cáo không có quyền biện hộ, không có luật sư, không có nhân chứng, không cả đại diện của tòa Giám mục Huế, chẳng khác gì một phiên xử “chui”. Và để chuuẩn bị cho phiên xử chui đó, bọn Việt cộng đã công khai mở một chiến dịch bôi lọ, phỉ báng, vu khống cha Lý trên báo chí, truyền thanh, truyền hình và được sự tiếp tay đắc lực của một số người Việt Nam vô lương tâm ở hải ngoại, bằng cách đưa tất cả bài bản của Việt cộng lên một website để phổ biến cho mọi người biết cũng như viết bài đả kích, vu cáo, buộc tội linh mục Lý một cách nặng nề, thậm tệ trước khi tòa xử. Linh mục Nguyễn văn Lý đã làm gì, đã phạm những tội nào mà bị trù dập, đàn áp quá mức như vây. Trong bài này tôi chỉ xin nêu lên vài nhận xét của cá nhân mình về vụ xử cha Lý qua những thông tin thu thập được từ báo chí, từ những bản tin hoặc bài viết có liên quan đến cuộc tranh đấu anh dũng của Lm Nguyễn văn Lý. Có lẽ không ai biết đến cha Lý nếu ngài chỉ sống an thân như những mục tử khác để: Làm mục vụ giáo xứ, sáng lễ tối chầu Giúp người nghèo khó, cứu kẻ ốm đau Thỉnh thoảng tổ chức hành hương lễ hội . . . ...Gia tăng vai vế trong giáo phận nhà Đi ra nước ngoài, du học phương xa Được coi là mục tử đầy năng động (Trich Phan văn Lợi, người là ai?) Linh mục Tađêô không thể sống an nhiên đời bình thản chỉ vì lòng trung tín với sứ mạng chứng nhân: Con không thể làm thinh nín tiếng Khi Mẹ Hội Thánh bị khống chế dần dần Có nguy cơ nên công cụ thế gian ... Thành thuốc phiện dỗ mê tín hữu! ... ...Con không chịu nổi những cảnh bóc lột Tước đoạt mọi nhân quyền trên quê hương ... Thế là cha phải nói lên cho mọi người, cho thế giới biết những âm mưu thâm độc mà tinh vi, có hệ thống của bạo quyền Cộng sản dùng để lũng đoạn, khống chế, lèo lái Giáo hội CGVN nói riêng và các tôn giáo không nằm trong quĩ đạo nhà nước nói chung. Cha phản đối sự can thiệp trắng trợn và thô bạo của chính quyền vào nội bộ Giáo hội để biến ơn Thiên triệu thành Mác-xít triệu như lời một cán bộ nói với chủng sinh đại ý rằng: Không phải Chúa chọn các anh đâu mà do Đảng chiếu cố, tạo điều kiện cho đi tu và chấp thuận cho làm linh mục đấy. Cha Nguyễn văn Lý kêu gọi chính quyền cởi bỏ chiếc thòng lọng mà họ buộc vào cổ các tôn giáo để nới lỏng ra hoặc thắt chặt vào tùy ý. Khẩu hiệu tranh đấu của ngài “Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết” đã nói lên tinh thần bất khuất và là một thách thức đối với bạo quyền, nên sau khi đã giở đủ trò như sách nhiễu, hăm dọa, kêu làm việc, ra lệnh quản chế ...mà vẫn không làm cha từ bỏ vai trò Ngôn sứ của Sự thật nên chúng đã quyết định đưa 600 công an võ trang đến tận nhà xứ bắt cha vào tháng 5 năm 2001 và 5 tháng sau thì đưa ra xử bằng một phiên tòa vội vã, lén lút không theo thủ tục thông thường, không giống một phiên tòa nào của thế giới tự do để áp đặt lên cha một bản án nặng nề, bất công, vô lý với những tội danh mơ hồ và quái đản là “phá hoại sự đoàn kết quốc gia và vi phạm lệnh quản chế” để xử cha 15 năm tù giam và 5 năm quản chế. Thật chỉ có Việt Nam với cái luật pháp bán khai rừng rú mới có thể tiến hành một phiên tòa như vậy. Theo tin đài BBC vào tháng 7, thì mãi đến bây giờ tập đoàn Hà Nội mới dự tính cải cách luật pháp với chương trình đầy tham vọng được hoạch định trong 10 năm dù đã vạch ra chương trình đổi mới kinh tế từ mười mấy năm nay. Theo bản tin này thì một viên chức nhà nước cho biết VN cần cải tổ hệ thống pháp luật, nhất là là lãnh vực tòa án để bảo đảm những phiên xử công bằng, khách quan (?), cũng như cách dùng bằng chứng để luận tội. Cũng tin này cho biết các sinh viên tốt nghiệp trường luật thiếu kỹ năng thực tế, các thẩm phán cũng cần những buổi tập huấn để tăng thêm trình độ về luật quốc tế. Các đồng hương hẳn còn nhớ vào tháng 7 vừa qua, Ủy Ban Nhân Quyền Liên hiệp quốc khuyến cáo VN không tuân thủ thi hành Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị tại VN. Một phái đoàn VN do thứ trưởng Tư pháp Hà hùng Cường dẫn đầu đã bị một loạt chất vấn gay gắt của Ủy ban Nhân quyền LHQ về 29 điều trong bộ luật hình sự thuộc chương An ninh quốc gia trái với Công ước quốc tế về đàn áp tôn giáo, giam cầm bất hợp pháp hai Thượng tọa Thích Huyền Quang, Thích quảng Độ và linh mục Nguyễn văn Lý, về không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, về Hiến pháp chỉ phục vụ tập thể và ý thức hệ Cộng sản chứ không phục vụ các quyền căn bản của con người mà công ước quốc tế đã đề ra, về cuộc đàn áp đồng bào Thượng Tây nguyên v.v. Khi khóa họp lần thứ 75 kết thúc, ông Bhagwati người Ấn độ và cũng là Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền LHQ kết luận sau hai ngày ngồi nghe đoàn CSVN phúc trình và trả lời chất vấn: ... “Tôi muốn nêu ra một trong những quan tâm của Ủy ban tới nghị định 31/CP về quản chế hành chính. Nghị định này cho phép quản chế tại gia trong vòng 2 năm những ai bị nghi ngờ xâm phạm “an ninh quốc gia ” mà không cần thông qua tòa án. Chẳng có một đìêu khoản nào trong nghị định này cho phép bị can được khiếu nại với một nhân viên pháp lý, rõ ràng là nghị định 31/CP vi phạm điều 9 của Công pháp quốc tế về các quyền dân sự và chính trị... Còn khái niệm về tội xâm phạm “an ninh quốc gia ” thì quá mơ hồ, là một điều gì quá bao quát và dễ bị lợi dụng để dập tắt các quyền con người”. Như vậy ta có thể nhận thấy rằng lệnh quản chế Lm Tađêô Nguyễn văn Lý của bạo quyền Hà Nội đã vi phạm Công ước quốc tế mà chính họ đã ký vào. Cũng trong buổi điều trần này, ông Klein, chuyên gia nhân quyền LHQ gay gắt phê bình “Tôi nghĩ rằng: luật pháp quốc gia tại VN là chướng ngại cho quyền con người, vì các luật pháp quốc gia này chẳng tuân theo luật pháp quốc tế”. Ông Klein còn chất vấn tiếp: “Vai trò lãnh đạo của Đảng là gì? Moi sự hiện nay tại VN đều do đảng kiểm soát. Tuy các ông giải thích rằng đảng CSVN cũng phải tôn trọng luật pháp, nhưng trong thực tế, thì đảng làm ra luật pháp chứ chẳng ai khác!...” Tôi chợt nhớ đến cách đây không lâu khi một người VN vặn hỏi cán bộ dựa theo luật nào mà ức hiếp dân thì ông ta vênh váo trả lời rằng “Miệng tao là luật ”. Thật là hết ý kiến! Trở lại buổi chất vấn của Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, khi trả lời câu hỏi về tính độc lập của tư pháp, viện Kiểm Sát nhân dân là gì, thẩm phán ra sao? Hội thẩm nhân dân là gì, họ có được học luật không? Hà Hùng Cường đáp rằng: ... “Bản chất dân chủ trong quá trình bầu cử, các tố tụng hình sự và sự độc lập của tòa án còn phải nâng cao. Tại các phiên xử nghiêm trọng, thì có 2 thẩm phán và 3 hội thẩm nhân dân, ít nghiêm trọng thì có một thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân không được học luật, mà chỉ qua một khóa “đào tạo ” về việc xét xử”. Nghe thế, ông Bhagwati, chủ tịch Ủy ban nhân quyền liền than lên: “Như thế này thì trầm trọng quá, vì hội thẩm nhân dân luôn giữ phần thắng bởi họ ở thế đa số. Thế mà lại không được học luật ư”. Ông Yalden, chuyên gia nhân quyền LHQ người Canada bồi tiếp: “Các ông cho biết Viện Kiểm Sát nhân dân là cơ quan của chính phủ. Khi một cơ quan chính phủ theo dõi chính phủ, cơ quan này còn giữ tính độc lập nữa chăng? Viện Kiểm Sát nhân dân còn theo dõi cả nhà tù, thật là rối loạn quá lắm! Làm sao tính độc lập có thể xuất hiện?” Trên đây chỉ là tiêu biểu một số than phiền, chỉ trích, khuyến cáo của Ủy ban Nhân quyền LHQ về thống luật pháp đầy tính độc tài, đảng trị, cũng như cách thi hành bất nhất, tùy tiện, lạm quyền của những nơi mệnh danh là cơ quan luật pháp của nhà nước CSVN nhưng thực ra chỉ là công cụ của bạo quyền để đàn áp, bắt bớ những người bất đồng chính kiến và đe dọa, sách nhiễu dân lành mà thôi. Trở lại vụ xử Linh mục Nguyễn văn Lý, những phản ứng đầy phẫn nộ, đau xót được thể hiện từ trong nước qua tâm thư của luật sư Nguyễn văn Minh ở giáo xứ Thái Hà, Hà Nội gửi Hội đồng Giám mục VN xin can thiệp cho Lm Nguyễn văn Lý, một người con trung kiên của Giáo hội VN. Sự im lặng làm như không nghe không biết của các đấng bề trên khiến luật sư Nguyễn văn Minh phải thốt lên lời than thở: “Hiện nay nhiều linh mục, tín hữu đang ngày đêm đấu tranh giành lại tài sản của Giáo hội không biết có nên tiếp tục hay không? Sự bày tỏ ôn hòa nhất cũng đủ để khích lệ động viên còn nếu như im lặng là đồng ý thì đó là nỗi khổ tâm và là sự dằn vặt không nguôi về những việc mà anh em đang làm cho giáo hội. Ai sẽ bảo vệ mình đây?!!” Đến như các bạn trẻ tại Bắc Mỹ gồm Hoa kỳ và Gia Nã Đại cũng tích cực vận động để cùng nhau lên tiếng về tình trạng đàn áp tôn giáo và nhân quyên tại VN. Đã có 45 đoàn thể ký tên vào “Tuyên cáo chung của các Đoàn thể trẻ tại Bắc Mỹ” trong đó có những câu như sau: “Nếu những hành động khủng bố tại New York được xem là sự tấn công vào chính nền tảng tự do của nhân loại, thì tương tự như vậy, hành động xử ép linh mục Nguyễn văn Lý trong một phiên tòa tại Huế vào ngày 19 tháng 10 năm 2001 chính là “hành động khủng bố” vậy. Cha Lý, mắt nhắm lại, đã phải nghe bản án cho chính mình được đọc tại phiên tòa: 15 năm tù giam, cộng thêm 5 năm tù quản chế hành chính, 20 năm tù tổng cộng, chỉ vì cha Lý vận động cho những quyền căn bản của con người, bao gồm cả quyền tự do tín ngưỡng. Thật vậy, bản tin đau buồn này đã tạo nên cảm giác như một cây nhọn đâm xuyên qua trái tim của những người trẻ chúng tôi... Và trong khi nhữung người yêu chuộng tự do hay nói cách khác là, những người biết tôn trọng nhân bản trên khắp thế giới đang kết hợp và cùng nhau xoa dịu những nỗi đau sau đợt tấn công khủng bố tại Hoa kỳ, thì tại Việt Nam, cha Lý vẫn tiếp tục chịu đựng trong cô đơn. Chúng ta, những người trẻ phải LÊN TIẾNG , chúng ta phải làm sao để cha Lý và đồng bào biết rằng họ không chiến đấu đơn độc, mà chúng ta đang cùng tranh đấu với họ.” Sát cánh cùng các bạn trẻ trong mục tiêu đòi hỏi Công lý cho vị linh mục chỉ biết tranh đấu ôn hòa, bất bạo động này là rất nhiều cá nhân cũng như đoàn thể của người Việt quốc gia trên khắp thế giới từ Úc sang Âu. Hội luật gia Việt Nam tại California đã có một bài phản đối Hà Nội xử tù linh mục Nguyễn văn Lý với những lý luận chặt chẽ, sắc bén tố cáo CSVN đã vi phạm Công ước quốc tế, về những quyền Dân sự và Chính trị đã được ký năm 1982. Ngày nay mặc dầu hứa hẹn thiết lập nhà nước pháp quyền, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn chủ trương đảng trị thay vì pháp trị. Họ đã đi giật lùi trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là lãnh vực tư pháp... “Ngày nay nhà cầm quyền lại dùng Tòa án làm công cụ để đàn áp, khủng bố các nhà tu hành là những người không tham dự vào chánh quyền mà cũng không chủ trương giành giật chính quyền. Nguyện vọng của họ là được hành sử những quyền con người và quyền công dân như quyền tự do tín ngưỡng, tự do truyền giáo và hành đạo, tự do hội họp và lập hội, đặc biệt là quyền của giáo hội được sinh hoạt tự trị, không bị nhà nước xâm nhập, lũng đoạn, đàn áp, hay khủng bố. Những quyền này đã được nhân loại văn minh thừa nhận và tuyên dương.” Thật vậy, các vị dân cử của quốc hội Liên bang Đức đã lên án CSVN đàn áp tôn giáo, cũng như ủng hộ dự luật Nhân quyền cho Việt Nam đã được Hạ viện Mỹ thông qua. Nữ dân biểu Zoe Lofgren địa hạt San Jose đã cùng dân biểu Tom Davis và nữ dân biểu Loretta Sanchez đứng ra bảo trợ một lá thư gửi cho thủ tướng CSVN Phan văn Khải để lên tiếng phản đối bản án phi nhân và bất công mà bạo quyền CSVN áp đặt trên cha Lý và đòi hỏi trả tự do cho Cha cùng các tù nhân lương tâm khác. Bà Lofgren nói: “Nhà cầm quyền VN rõ ràng vi phạm nhân quyền bởi vì những hành động phi lý nhắm vào cha Lý và các cộng sự viên của ngài. Đó là lý do tôi đang luân lưu lá thư gửi cho thủ tướng Phan văn Khải đòi hỏi trả tự do cho cha Lý để các đồng viện cùng ký tên và cùng với cộng đồng thế giới lên án hành vi thô bạo này.” (Trích báo Quê Hương số 326). Bạo quyền CSVN đã bưng tai bịt mắt trước những phản kháng để tiếp tục giam cầm linh mục Tađêô Nguyễn văn Lý, tuy nhiên phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền mỗi ngày lại có thêm những “chiến sĩ trẻ ” nhập cuộc cho chúng ta có quyền hy vọng về một ngày đổi mới trên quê hương ta. Xin tiếp tục cầu nguyện để Chúa Thánh Linh luôn ở cùng cha Lý, xin Ngài ban cho cha được bình an để chờ ngày “tháo cũi sổ lồng” cùng với 80 triệu con dân nước Việt đón chào một vận hội mới cho đất nước.

 

Cuộc đấu tranh của cha Tadêo Nguyễn Văn Lý qua thơ văn của linh mục Phêro Phan văn Lợi Hôm nay lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nhìn lên cung thánh của nhà thờ Saint John có trang hoàng những tấm vải vẽ hình chim bồ câu, những ngọn lửa và câu “Come, Holy Spirit ” (Xin Thánh Thần dến), tôi chợt khám phá ra một điều: Chúa Thánh Thần đã ngự đến, đã ban ơn cho cha Tadêo Nguyễn văn Lý nhiều quá, có lẽ nhiều hơn hầu hết những nguời bình thuờng như chúng ta. Thật thế, nếu không nhờ ơn Chúa Thánh linh là nguồn mạch ban ơn can đảm, mạnh bạo, khôn ngoan thì làm sao cha Nguyễn văn Lý có thể trở thành một con nguời đuợc biết đến như một biểu tuợng củ sự tranh đấu quyết liệt cho Tự do Tôn giáo, là một quyền căn bản của con nguời đã đuợc Liên Hiệp quốc công nhận nhưng nhà nuớc CSVN thì luôn bóp nghẹt và đàn áp, bạo hành. Với ơn Chúa Thánh Thần lúc nào tuôn tràn hồng ân trên cha, linh mục Nguyễn văn Lý đã sống một cuộc đời nhân chứng, làm ngôn sứ rao giảng sự thật, dù có bị bắt bớ, giam cầm khổ nhục. Một nguời bạn chiến đấu của cha Lý là cha Phêro Phan văn Lợi, một linh mục chui, một linh mục nhưng chưa bao giờ đuợc công khai buớc lên bàn thánh, chưa một lần đụơc tự do dâng lễ truớc mặt giáo dân. Nhưng với ơn Chúa Thánh Thần nâng đỡ, cha vẫn tràn đầy lòng tin nơi Thiên Chúa và yêu mến tha nhân, vẫn nhiệt thành và can đảm dấn buớc làm chứng nhân cho Tin Mừnng dù trong những cảnh ngộ ngặt nghèo, nghiệt ngã nhất. Tinh thần đó đuợc thể hiện qua những vần thơ khi thì tha thiết, cậy trông, khi thì bất khuất nhưng luôn luôn giữ trọn niềm tin yêu phó thác. Cha Phêro Phan văn Lợi đã diễn tả đuợc trọn vẹn nỗi niềm, đã ký thác đuợc tất cả tâm tìnnh của cha Tađêo Nguyễn văn Lý mà chúng ta cùng chia xẻ sau đây. Trong ngày đổi đời đầy đau đớn, tang thuơng của đất nuớc mà mọi nguời cố tìm mọi cáchđể vuợt thoát, để trốn chạy một chế độ bạo tàn thì linh mục trẻ Nguyễn văn Lý lại buơn chải tìm đuờng về với giáo phận Huế, để cùng ở lại chia sẻ lắm nỗi bi thuơng với đức Tổng giám mục Philiphê Nguyễn Kim Điền. Ngài đã can đảm chấp nhận mọi thử thách, gian lao trong thánh chức linh mục: Cho con biết yêu con đuờng gian khổ Sống thánh chức linh mục cách anh hùng Không vì lợi lộc ban phát cho trần gian Vì an thân mà trở nên hèn nhát . . . Thái độ sống anh hùng, không muốn an thân này đã mang đến thật nhiều hệ lụy, đã làm cha Lý phải bị lưu đầy từ nhà tù này sang trại giam khác, ra mãi tận ngoài Bắc lạnh lẽo, xa xôi: Thế là hết mọi chức năng linh mục! Thánh lễ giờ: chấp nhận kiếp tù nhân, Lễ phục con: là chiếc áo lam xanh, Bàn thờ con: là nhà lao mang danh cải tạo. Bánh con dâng: là đôi thùng trĩu nặng Là gánh đất đầy, là lửa nắng chang chang Là gió mùa đông xuyên thủng áo ngự hàn . . . Ruợu con dâng: là mồ hôi nhỏ giọt Là sự hao mòn, mệt mỏi xác thân . . . Tuy sống cảnh tù đày nhưng cha Lý lại dùng đó như một môi truờng cho cha thực hành đức bác ái, yêu nguời. Cha đã phân phát hết phần thăm nuôi của mình cho những tù nhân đói khổ. Thi sĩ Nguyễn chí Thiện đã lo lắng cho cha với khẩu phần chết đói của nhà tù nhưng cha thì luôn tin tuởng :”Mạng sống con có Chúa lo liệu”. Lòng nhân ái, nhẫn nhục và tư cách thanh cao của cha Lý đã cảm hoá đuợc cả những tù nhân sừng sỏ, lưu manh của trại giam, lôi kéo họ trở thành con Chúa, như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã thuật lại: “Chúng tôi chưa biết nhiều về đạo, nhưng thấy cha Lý là nguời thay mặt Chúa mà thuơng nguời như vậy nên chúng tôi vào đạo”. Ở hoàn cảnh nào cha Lý cũng thực hiện đuợc sứ mạng rao giảng Tin Mừng của một chứng nhân: Chung quanh con còn biết bao nhiêu kẻ Khổ đau nhiều, mong an ủi cảm thông, Hay băn khoăn lo lắng ngập cõi lòng, Mơ uớc thấy ánh Tin Vui dọi sáng. Cha đã cam kết với Chúa sẽ sống đời thuơng yêu, ngay cả khi phải chịu hành hạ thuơng đau: Con sẽ làm chứng nhân bằng gian khổ Bằng chấp nhận những oán ghét hờn căm Do bạo quyền ác ý của trần gian Với tấm lòng không oán than, thù hận. Đuợc tha về ở xứ Nguyệt Biều nhỏ be, nghèo nàn, cha Tadêo Nguyễn văn Lý vẫn tiếp tục hoài bão phục vụ tha nhân. Cha tự học cách xử dụng máy điện toán, cha trau dồi thêm ngoại ngữ để rồi mở lớp dạy Anh văn, dạy nhạc, dạy máy vi tính cho các em học sinh không phân biệt luơng giáo vì thuơng cho các em phải lớn lên trong cảnh thiếu thốn, thất học: Con đớn đau nhìn sang thế hệ trẻ Gánh chịu nền giáo dục quá tả tơi Thần tuợng giả trá, chủ nghĩa lỗi thời Ngân sách nghèo nàn, phuơng tiện thiếu thốn! Cha Nguyễn văn Lý đã an ủi, nâng đỡ những nguời dân khốn khó, đói nghèo của xứ Nguyệt Biều, cha đã giúp nghững nguời bị thiên tai lụt lội có đuợc mái nhà che nắng che mưa. Với tình thuơng cha đã xoa dịu phần nào nỗi bất hạnh của dân nghèo. Thế rồi tai uơng đến, mảnh ruộng nhỏ bé của nhà chung cũng bị nhà nuớc đòi chiếm đoạt, đất cũng bị lấn chiếm để đào muơng ngay sát chân móng nhà thờ. Một cuộc phản kháng bùng lên, cha Lý đã sát cánh cùng giáo dân tranh đấu để đòi hỏi chánh quyền phải tôn trọng Tự do Tôn giáo, không đuợc chiếm đoạt tài sản của giáo hội. Cha đã viết lên những lời kêu gọi chính quyền đừng ép buộc học sinh, sinh viên cũng như các chủng sinh phải học tập mớ lý thuyết Mác-xít đã lỗi thời của đảng cộng sản, cha kêu gọi chính quyền đừng chen lấn vào nội bộ của giáo hội trong việc đưa ra những tiêu chuẩn và chỉ tiêu để tuyển chọn chủng sinh cũng như bổ nhiệm các linh mục, cha nài xin các đấng bề trên đừng thỏa hiệp để cầu xin những ban phát ơn huệ từ nhà nước. Cha Lý đau lòng vì thấy giáo hội dần dần bị đảng lũng đoạn, thao túng: Con không chịu thế lực vô thần hung hãn Đoạt lấy quyền bổ nhiệm các chủ chăn! Những kẻ chối bỏ cõi thiêng, phần hồn Ngang nhiên quyết định việc điều phối mục tử. Cha Tadêo Nguyễn văn Lý cũng phẫn uất khi thấy nhân phẩm bị chà đạp, nhân quyền bị tước đoạt dù chính quyền CS đã ký vào bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc: Con không chịu nổi những cảnh đời bóc lột Tước đoạt mọi nhân quyền trên quê hương: Hết thảy nhân dân thành một bầy đàn Dưới ngọn roi của độc tài toàn trị. Cha đã áp dụng nhũng kỹ thuật của thời đại tin học để phổ biến cuộc tranh đấu này đến khắp mọi nơi trên thế giới, để đưa hai địa danh Nguyệt Biều và An Truyền đi vào lịch sử. Nguyệt Biều ơi, giáo xứ nghèo nàn, nhỏ bé Bé từ mảnh đất, bé đến số nguời Nhỏ từ kiến thức, nhỏ đến gia tài Nhưng tim gan lớn, đến vỡ tung lồng ngực! Biến thành bài ca với tiếng gào bất khuất: “Tự do tôn giáo, cái chúng tôi cần!” Ôi những khuôn mặt bình thản nhưng hào hùng, Vung lưỡi cuốc dành ruộng vuờn, bên dòng biểu ngữ! Một lòng một dạ, đứng cạnh kề cha quản xứ, Thách lũ bây, đám chuyên lấy thịt đè nguời Đuơng đầu bọn súng lăm lăm chờ bắn, Hô khẩu hiệu: “Tự do tôn giáo hay là chết!” An Truyền ơi, ôi kiên cuờng giáo xứ! Mang giòng máu tổ tiên huyết sử, Sống hiền hòa suốt bao thuở tháng năm, Bỗng một ngày dậy khí phách đăm đăm! Hai bên chủ chăn, dàn hàng dũng cảm, Đem thân mở lối, giữa bầy sói hầm hè. Lệnh quản chế cha xứ, quyết chẳng thèm nghe. Thấy giáo dân yêu mến, nguỡng phục cha Nguyễn văn Lý, bạo quyền CSVN tức tối ra lịnh quản chế cha, không cho cha đuợc làm mục vụ của một vị chủ chăn, của một vị lãnh đạo tinh thần. Cha Lý vẫn hiên ngang bất khuất, ngài đã lập 19 biên bản những lần họ tới quấy nhiễu, phiền hà, hạch sách ngài. Bên cạnh cha là những con chiên trung thành, kiên cuờng, không khuất phục truớc những hăm doạ, đàn áp của công an. Nam phụ lão ấu bất chấp bọn chận đuờng, Hộ tống chủ chăn đến thánh đuờng dâng lễ! Chấp nhận hy sinh phần thu nhập nhỏ bé, Thay phiên nhau bảo vệ mục tử đêm ngày . . . Nhưng đến hôm, như cả nột bầy thú, Cuờng quyền hung bạo, mờ ám rập rình Vây bắt chủ chăn ngay trước lúc bình minh, Đoàn chiên bé nhỏ, thuơng ôi đành bất lực! Nhưng, mặc roi điện vung lên tới tấp, Mặc báng súng dộng xuống tựa mưa rào, Cộng đoàn cô thế vẫn không núng nao, Chẳng bỏ chủ chăn, kinh hoàng chạy trốn! Với một nguời hiền hòa, trong tay không một tấc sắt như cha Nguyễn văn Lý mà bạo quyền phải đưa cả một đòan công an võ trang hùng hậu tới 600 tên để bắt cha, khi ngài chuẩn bị dâng thánh lễ ban sáng, đủ biết họ sợ khí thế giáo dân biết bao. Họ bắt giam cha với hy vọng sẽ dập tắt đi tiếng nói tranh đấu của một nguời bất khuất, những tuởng rằng mất cha các giáo dân sẽ cúi mặt phục tùng, ngọn lửa mà cha Lý đốt lên sẽ bị tàn rụi, lãng quên. Nhưng họ đã lầm. Các giáo dân vẫn kiên cuờng, bất khhuất. Chính quyền đã cho nguời về phủ dụ để giáo dân An Truyền quên đi cha Lý mà chấp nhận một cha xứ mới, mhưng các giáo dân đã thẳng thừng gạt bỏ. Lòng yêu mến, kính phục vị chủ chăn vẫn sâu đậm trong lòng các giáo dân nghèo của cải nhưng giầu lòng nhân ái: Vẫn cuơng quyết lên đuờng đòi lại cha yêu: “Đả đảo đàn áp! Cứ bắn đi nào!” Đáng phục thay đoàn thảo dân nhi nữ! Một lòng tín trung với vị quản xứ, Quyết tẩy chay loại mục tử quốc doanh Gạt đề nghị lếu láo cách thẳng thừng: “Dẫu chỉ thân tàn, cha Lý vẫn là mục tử!” Đối với cha Nguyễn văn Lý, tù tội không làm cha nản lòng, Lúc nào cha cũng vẫn cậy trông, tin tuởng vào Chúa Quan phòng, vào sự soi sáng dẫn lối đưa đuờng của Chúa Thánh Thần, cha sẵn sàng chấp nhận tù ngục như một việc đền tội để dâng hiến Thiên Chúa Tòan năng của lễ hy sinh: Phải chăng Chúa muốn đời con mãi mãi Chịu giam cầm nơi heo hút xa xôi, Để chỉ còn dâng chính bản thân thôi Trên đĩa thánh, gian lao và tân khổ? Vậy này đây, thân yếu hèn tội lỗi, Xin dâng kèm với nếp sống gian nan, Đền tội con, tội nhân thế muôn vàn, Vì linh mục là quên mình hy tế. Lòng tin cậy của cha Nguyễn văn Lý lúc nào cũng kiên cuờng vững chắc: Con tin ở Thánh Linh Chân lý, Đấng hoạt động trong và qua những nguời, Thuộc mọi thời và ở khắp mọi nơi, Luôn thành tâm huớng về Sự Thật . . . Con tin rằng rồi sẽ đến một mai, Chúa đập tan nơi chúng con quyền năng sự dữ . . . Con tin nơi nhân quyền bất diệt, Con luôn tin ở thiện chí chân thành . . . Rằng hòa bình trên trái đất sẽ tuơi nở Cho loài nguời đuợc Chúa thuơng yêu. Dù bạo quyền đã dùng luật rừng qua một phiên toà bất hợp pháp để giam giữ cha với một bản án bất công, nặng nề 15 năm, chúng ta tin rằng Chúa Quan Phòng sẽ nâng đỡ, gìn giữ cha Nguyễn văn Lý đuợc luôn hồn an, xác mạnh để sớm có ngày về sum họp với đòan chiên, để tiếp tục tranh đấu cho Tự do Tôn giáo và Nhân quyền, dân chủ cho hết mọi nguời. Cầu xin Chúa Thánh Thần ở cùng cha và hết thảy những ai đầy lòng thiện chí: Lạy Ngài xin đến dẫn dắt chúng con trên đời Cầu Ngài liên kết chúng con nhất tâm trong Ngài Cầu Ngài ban ơn thêm sức kiên vững không lay Sống sao nên nguời con Chúa, chứng nhân Tình yêu.

 

Đem tiền về nuôi ai? Bây giờ đã vào tháng ba năm 2003, có lẽ những Việt kiều về ăn Tết ở quê nhà đã trở lại miền đất tạm dung để tiếp tục “đi cày”, hoặc làm cách nào đó cho có tiền hầu có thêm những chuyến “du lịch” về quê hương nữa. Hẳn những người trở về đã rất sung sướng hưởng một cái Tết với những tiệc tùng khoản đãi bà con hàng xóm, với những phô trương bày biện, những mua sắm ê hề, những rong chơi thoải ái với tất cả tiện nghi do những đồng đô la mang về từ hải ngoại. Có lẽ một số đồng hương đã đặt chân xuống phi trường nước người với nỗi lòng nặng trĩu ưu tư, với tâm hồn buồn phiền khắc khoải vì những suy đồi băng hoại đang xảy ra ở quê nhà, vì cảm thương cho những kiếp người bị đọa đày dưới ách thống trị tàn bạo phi nhân của CSVN. Bài này xin gửi đến tất cả những ai còn có lòng nghĩ đến quê hương, dân tộc, còn mang hoài bão về một đất nước dân chủ, tự do. Trở lại địa phương nơi họ cư ngụ và làm việc từ ngày bỏ nước ra đi hoặc bằng cách vượt biên, hay theo diện HO, diện bảo lãnh, diện con lai, đoàn tụ gia đình v.v. hẳn những Việt kiều này đã thấy hãnh diện vì nghĩ rằng mình đã góp phần vào bộ mặt phồn vinh, thịnh vượng của quê nhà, dù đó chỉ là phồn vinh giả tạo, là thịnh vượng dối trá mà thôi. Một quốc gia mà theo các cơ quan quốc tế chỉ có 400 đô la một năm bình quân lợi tức cho mỗi đầu người, trong khi đó Thái Lan là 8000, Indonesia 4000, Nam Hàn 14000 và Singapore 21000 đô la một năm. Tại sao các nước lân bang từng ngang ngửa hoặc thua kém Việt Nam thời trước 1975 nay lại bỏ xa chúng ta như thế, câu trả lời thật hiển nhiên: vì Việt Nam bị cai trị bởi tập đoàn Cộng sản vừa ngu dốt lại vừa tàn ác, bất nhân, chỉ biết vơ vét làm giầu cho cá nhân, ngay cả bán rẻ tài nguyên quốc gia và dâng đất nhượng biển cho ngoại bang họ cũng không từ, còn đất nước tụt hậu nhân dân lầm than nghèo đói họ cũng mặc kệ. Hó hé chống đối là họ đàn áp thẳng tay. Bộ máy quyền lực độc tài, công an trị của CSVN đã được sự tiếp tay vô tình nhưng rất đắc lực của khối người Việt hải ngoại, mà phần không nhỏ là người tỵ nạn chính trị, những người khi được phỏng vấn để vào một nước định cư đều khai rằng mình trốn chạy, bỏ nước ra đi vì không muốn sống với chế độ bạo tàn. Cách đây một năm, tức năm Nhâm ngọ, vào khoảng thời gian này tôi được đọc bài “Năm Ngựa nói chuyện Cá” của Tưởng Năng Tiến, một tác giả mà tôi ưa thích vì lối văn dí dỏm nhưng sâu sắc của ông, tôi đã định viết bài về đề tài này nhưng cứ lần lữa mãi, dù bây giờ “Ăn cơm mới nói chuyện cũ” cũng không phải là thừa vì đây là một vấn đề gây nhiều nhức nhối và ưu tư cho cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản chúng ta. Xin mời quý độc giả cùng theo dõi một vài đoạn nói về khả năng về nguồn của cá hồi (tức cá salmon) và cách dân Nhật Bản lợi dụng khả năng đó để sản suất ra thị trường mỗi năm hơn 130,000 tấn cá hồi: “Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông, cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn con cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc sống tha phương cầu thực. Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ 6 tháng đến 5 năm, rồi nhờ khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, cá sẽ tìm về được chốn cũ . . . Người Nhật đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào ...hộp ! Nói tóm lại, người Nhật thả cá hồi con ra biển theo kiểu “đem con bỏ chợ” để biển cả nuôi nấng, để khi chúng trở về –theo bản năng- thì họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp rồi mang bán. Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và chắc là nhiều. Bơi vậy, có người bắt chước. Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) - tên kêu gọi thường dùng là Việt Cộng – cũng học theo cách làm ăn vốn tương tự như vậy. Chỉ khác một chút xíu là họ dùng người để kinh doanh thay cá !! Vẫn theo ông Tưởng Năng Tiến “Từ năm 1978 đến năm 1990,bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển, ít nhất cũng có một phần ba vong mạng vì bão tố, hải tặc, vì bị xô đuổi cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận (tôi xin thêm vào vì trúng đạn của công an biên phòng, vì tàu bị đục thủng hay chở quá tải nên chìm sau khi đã nộp vàng cho nhà nước để ra đi bán chính thức). Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi dưới con mắt kinh tài của nhà đương cuộc Hà Nội. Những người dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác bằng nhiều cách. Số người Việt hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp phương trời, có thể được coi như là cá hồi Đại Tây Dương -giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại.- Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trả một số tiền không phải chỉ là 600 Mỹ kim mà có thể là lên tới 6000 đô la hoặc nhiều hơn nữa... Hà Nội có lý do để hãnh diện về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người. Họ đẩy ra khỏi nước những con người cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi thu về những Việt kiều yêu nước giàu sang. Thiệt khỏe !! Đồng hương nghĩ sao về những đoạn trên của Tưởng Năng Tiến – CSVN khỏe thiệt ! Những người mà ngày xưa họ sỉ nhục là “đĩ điếm, ma cô, bồi bếp, cặn bã xã hội, chây lười lao động nên bám theo chân Mỹ” nay thành những “khúc ruột nối dài ngàn dặm” lũ lượt theo chân nhau về du lịch và đầu tư, để nối vòng tay lớn “với Bác, với Đảng” hầu xây dựng một thiên đường Xã hội Chủ nghĩa giàu mạnh ! Ở đây tôi không nhắc đến những đồng hương vì quan hôn tang tế, vì cha già mẹ yếu, thân nhân bịnh tật mà phải trở về hoặc những người mang con cái về cho biết quê hương nội ngoại hoặc những vị cao niên về thăm con cháu, họ hàng cũng như tiền bạc gửi về với những mục đích vừa nêu. Đánh hơi được miếng mồi béo bở từ thập niên trước khi Nguyễn văn Linh mở đầu chính sách kêu gọi nước ngoài đầu tư, Việt kiều được mời gọi đem đô la về cho đảng chấm mút đã xuất hiện mấy câu ca dao 3 người con Việt: Việt Minh, Việt Cộng, Việt Kiều Ba người con ấy đảng yêu Việt nào ? Việt minh tuổi tác đã cao Việt cộng ốm yếu xanh xao gầy còm Việt kiều má phấn môi son Cho nên đảng mới yêu con Việt kiều. Một mặt đảng đổi mới ăn theo Việt kiều, mặt khác đảng tăng cường xuất cảng con người ra ngoài làm cu li để thu gom ngoại tệ trả nợ chiến tranh.” (Trích Từ chiếc áo cà sa đến Thập tự giá của Nguyễn Huệ Nhật). Nhằm mục đích ve vãn, dụ dỗ Việt kiều nên nhà nước CSVN đã thành lập “Ủy Ban về người Việt ở nước ngoài” nằm dưới cái dù của Mặt Trận Tổ Quốc là cơ quan tuyên truyền ngoại vi của đảng CSVN và người cầm đầu là Phạm Thế Duyệt, Ủy viên trung ương Đảng. Ngày 2 tháng 1 năm 2002 nhà cầm quyền Hà Nội gia tăng nỗ lực kiều vận thêm một nấc nữa khi cho lập một tổ chức mới lấy tên là “Hội liên lạc với người Việt ở nước ngoài” tuy cũng là thành phần của Mặt trận Tổ quốc, nhưng lại nằm dưới cái dù của bộ Ngoại Giao. Hội này nhằm nối kết đồng bào VN đang học tập, sống và làm việc tại các nước, giúp kiều bào gắn bó hơn, thực hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc, ối chao ! Cảm động quá ! Vì cầm lòng không được trước những gọi mời, vận động mà người tỵ nạn đã tình nguyện thành những con cá hồi như ôngtưởng Năng Tiến đã viết ở đoạn trên. Bạo quyền Cộng Sản hẳn rất hoan hỉ, hồ hởi, hào hứng trước kết quả huy hoàng, trước tấm lòng hào hiệp của đồng bào ta. Việt kiều cống hiến cho chế độ một lượng đô la khổng lồ hơn ba tỷ đô la trong năm qua, thảo nào, theo tin AFP, nhà cầm quyền CSVN đã nhiều lần ca ngợi sự đóng góp của người Việt hải ngoại vào sự phát triển của đất nước vào một lúc mà, Việt nam đang tùy thuộc rất nhiều vào số tiền từ nước ngoài gửi về VN. Bài “Món quà từ hải ngoại” mà Hoàng Da trích từ báo Kinh Tế Viễn đông là một minh chứng hùng hồn: “Để hiểu thấu được tầm quan trọng của số tiền gửi về từ hải ngoại này, hãy thử lấy con số 3 tỷ đô la làm tiêu chuẩn để so sánh. Số tiền này vượt quá tổng đầu tư ngoại quốc 2.34 tỷ đô la dốc vào năm 2002. Nó gần bằng 3.2 tỷ đô tiền xuất cảng hàng đầu đem vào cho Việt Nam qua lượng dầu thô. Nó lớn hơn rất nhiều so với 1.45 tỷ đô, số tiền mà 370 ngàn người VN phải đi làm công tại nước ngoài thu hoạch được. Và đáng kể nhất là nó cao hơn cả 2.5 tỷ đô la tiền tài trợ phát triển từ nước ngoài (ODA) mà các cơ quan ngoại quốc lớn cam kết sẽ giúp VN vào năm 2003”. Chẳng thế mà Nguyễn văn Phẩm, giám đốc Ủy ban Người Việt Hải ngoại nói: “Con cháu của chúng tôi sẽ phải trả “nơ” tiền ODA nhưng số tiền mà được người Việt ở hải ngoại gửi về thì chúng tôi không cần trả gì hết”. Còn gì sung sướng bằng ! Vũ Phương Liêm, quyền vụ trưởng Vụ Quản Lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước CSVN, nói rằng nhờ khoản tiền khổng lồ do Việt kiều chuyển về, chế độ Hà Nội đã có ngoại tệ để “bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, mà còn góp phần quan trọng tăng cung ngọai tệ cho hệ thống ngân hàng, ổn định tỉ giá hối đoái giữa đồng bạc VN và đồng đô la Mỹ”. Nguyễn sinh Hùng, Bộ trưởng Tài chính cho rằng Kiều hối là một nguồn ngoại tệ vô cùng quan trọng cứu sống chế độ Hà Nội, ông ta cho hay ngân sách nhà nước quá ít oi, chỉ có hơn 100,000 tỷ đồng, tương đương với chừng 7 tỷ đến 7 tỉ rưỡi mỹ kim, không đủ để co kéo, vừa đầu tư theo nhu cầu phát triển của địa phương, vừa phải đầu tư vào các dự án tập trung để sinh lợi nuôi chế độ. (Còn dân chúng thì “sống chết mặc bay” phải không “ông” nhà nước ?) Người VN tị nạn cộng sản đã quên không còn nhớ đến lý do trốn chạy nhưng đã quay về “tiếp máu” nuôi sống chế độ đã, đang và sẽ đưa quê hương đất nước đến đường cùng mà tham nhũng ngày thêm lan tràn, khoảng cách giàu nghèo càng thêm sâu rộng, luân lý ngày càng suy đồi, xã hội ngày thêm băng hoại và giang sơn gấm vóc bị dùng làm món hàng đổi chác để “tranh bá đồ vương” của bạo quyền và tập đoàn thống trị còn rất nhiều tai ương thảm nạn khác, kể sao cho xiết. Than ôi ! Thời gian đúng là liều thuốc lãng quên nhiệm mầu đến ghê sợ như An Xuyên đã than thở trên báo Đại Chúng. Chính sự trở về ồ ạt của người Việt hải ngoại từ thập niên trước mà những đồng hương ở các trại tị nạn bị xếp loại là tị nạn kinh tế, bị cưỡng bách hồi hương đến nỗi có nhiều người mổ bụng tự sát “thà chết ở nơi này còn hơn về lại chốn tù đày” mà những hình ảnh thương tâm còn ghi lại qua băng video “Hành Trình Tìm Tự Do”. Sự trở về đông đúc tấp nập của người hải ngoại tạo ra một giai cấp thượng lưu mới làm thành một bộ mặt thịnh vượng giả tạo cho quê nhà như bản tin của phóng viên Reuters từ trong nước viết: “Tết Nguyên Đán VN chỉ vỏn vẹn nhờ Việt kiều về ăn Tết. Trong khi đa số dân chúng lầm than nghèo khổ, con nít nhiều em thất học phải buôn bán dãi dầu trên hè phố, phải kiếm trong những bãi rác, người dân còn phải dùng mìn phá núi để lấy đá bán, phải cưa bom đạn để kiếm sống mà không màng đến hiểm nguy cho tính mạng. Phụ nữ thì bán thân nuôi miệng hoặc ngược xuôi kiếm đường lấy chồng ngoại để tìm lối thoát cho mình và gia đình, dù cách này cũng trăm bề tủi nhục, đau thương v.v. Theo tin báo chí từ trong nước mà báo hải ngoại đăng lại

 

TRI - HÀNH - HIỆP - NHẤT Cha ông ta thường dạy, và ngay từ ngày mới cắp sách đến trường buổi đầu tiên, thày cô cũng đã căn dặn: “Có Học phải có Hành ”. Điều này thật hiển nhiên và hữu lý. Học bụng đầy chữ, bằng cấp đầy người, nhưng không đem sở trường ra để hoàn hảo bản thân và giúp đời giúp nước, cải tạo xã hội, cộng đoàn hoặc giáo hội của mình thì cái học đó cũng trở thành vô dụng. Nhưng thực hành ra sao và thế nào thì tùy thuộc địa vị của mỗi người. Người dân thường có hoàn cảnh của người dân thường; người trí thức có hoàn cảnh của người trí thức; người tín hữu có trách nhiệm của người tín hữu. Không ai có thể biết hết mọi sự của mọi người trong mỗi giai tầng khác nhau. Do đó mọi người cần phải phối hợp hỗ tương bổ túc cho nhau. Đảng CSVN rất rành tâm lý. Nghề của họ là bịp bợm với mục đích thống trị con người cả hồn lẫn xác nên đã có những kế hoạch tuyên truyền rất tinh vi, đặc thù cho mỗi giai tầng xã hội. Với giới bình dân, chúng đưa ra những câu chuyện rất đơn giản, hợp với tầm hiểu biết nên người dân rất dễ bị mê hoặc và nghe theo. Như câu chuyện xe tăng địch bằng rơm / rạ. Hoặc khi máy bay địch tới, bộ đội ta bắn bông gòn đầy trời làm nghẹt ống khói và kẹt cánh quạt là máy bay địch phải rơi. Hay phi công ta lái máy bay lên trời rồi nấp sau đám mây, tắt máy đợi máy bay địch tới là nhào ra bắn....Ấy vậy mà có rất nhiều dân quê nghe tin một cách tuyệt đối và kể lại một cách hồn nhiên. Trái lại, đối với lớp người trí thức, CS rất khôn khéo ngon ngọt tỏ ra hợp lý và hiểu biết hơn. Điều gì ta nói, đòi hỏi họ đều cho là đúng là hay cả, không bao giờ tỏ vẻ phản đối khiến ta tin tưởng hoàn toàn vào đảng lãnh đạo. Nhưng khi nhận ra sự thật thì “cá đã cắn câu”. Đảng CSVN diễn kịch với 3 loại bịp khác nhau: bịp cho người bình dân quê mùa ít học, bịp dành cho lớp trung bình nơi thị thành và bịp cho loại trí thức. Ngày nay lớp màn sắt đã sụp, mọi sự thật đã phơi bày ra ánh sáng, chẳng ai còn tin vào những lời CS nói nữa. Nhưng chúng không chịu thua. Chúng lại có nhiều quỉ kế khác, nhất là về mặt đàn áp tôn giáo. Mục đích của chúng là làm tê liệt hoàn toàn khả năng đối kháng của cả giáo sĩ lẫn giáo dân bằng cả hai chiêu thức cương và nhu với những ảo thuật có tác dụng ru ngủ làm mất khả năng nhận thức chính xác của con người để phá vỡ phương trình TRI – HÀNH của ta mà ta không hay biết. Nhưng CSVN không thể triệt tiêu khả năng ấy của tất cả mọi người. Có nhiều người vẫn nhận biết sự việc nhưng không hoặc chưa hành động đấy thôi. Người công giáo chúng ta có một lương tâm ngay thẳng, một niềm tin phó thác không thể lay chuyển, nhưng hình như lại đang ngủ yên trước sự đàn áp tôn giáo của Cộng Sản Việt Nam. Nếu ta cứ tiếp tục ngủ yên là ta đã thua sự ác ( Mt.7, 26-27) hoặc đi ngược với lương tri và đồng lõa với tội ác ( Ez:33-7,8 ). Trong các xứ đạo chúng ta có biết bao nhiêu là hội đoàn, mục đích là để sống đạo và truyền đạo. Dĩ nhiên ai cũng hiểu sống đạo không phải chỉ là đọc kinh đi nhà thờ xem lễ...Truyền đạo không phải cứ nói cho người ta rằng Chúa Giêsu chịu chết dang tay trên thập giá, hoặc chỉ giảng thuyết trên tòa giảng, trong nhà thờ mà phải mang Đạo vào Đời, sống với Tin Mừng Chúa, gắn bó sinh tử với Đức Tin của mình. Đi đường gặp người hoạn nạn ta ra tay cứu giúp (Mt.25, 35-40), thấy bạn bè, người đồng hương, những người anh em huynh đệ bị ức hiếp, trà đạp nhân phẩm nhân quyền, bác ái và công bằng bị xâm phạm ta lên tiếng can thiệp là ta đã thi hành sứ mạng môn đệ Chúa Kito (Mt.7, 21-27). Chúng ta ăn ngay ở lành, thi hành bác ái và công bằng một cách chân tình cương quyết là chúng ta đã Sống Đạo và Truyền Đạo. Người ngoài có thể nhìn thấy Chúa ở trong chúng ta (Mt.5,13 16 / Cr.10,31). Xã hội tội lỗi, tha hóa. Đảng phái hận thù ghen ghét nhau. Chính trị gian ác. Tất cả đều đã đi trái với Tin Mừng của Chúa. Chúng ta là người Công Giáo, đặc biệt các đoàn thể công giáo, có bổn phận phải cải hóa (Mt.5,13-16). Chúng ta có biết bao nhiêu là đoàn thể hoạt động rước sách sinh hoạt nội bộ rất ồn ào náo nhiệt, nhưng hình như chưa có một đoàn thể nào chuyên trách tích cực mang Tình Thương Bác Ái, Công Lý & Hòa Bình lan rộng ra ngoài xã hội vào môi trường chính trị (2) để làm đẹp xã hội làm đẹp con người. Vatican có cả một bộ Công Lý & Hòa Bình, tại sao các xứ đạo lại không có lấy một đoàn thể chuyên biệt tương tự ? Ta không thích làm chính trị vì chính trị là bá đạo và dơ bẩn, nhưng không thể để mặc cho chính trị ngày càng sa lầy lún sâu vào tội ác. Trách nhiệm đối với Tin Mừng / Đức Tin và lương tâm buộc chúng ta phải dấn thân. Để yên 99 con chiên lành trên núi mà đi tìm một con chiên lạc (Mt.18, 12-14). Đem Đạo vào Đời. BIẾT thì phải LÀM. Có HỌC phải có HÀNH. TRI – HÀNH - HIỆP - NHẤT. Mỗi xứ đạo nên có một đoàn thể chuyên biệt để mang Tin Mừng cải hóa môi trường chính trị bá đạo thành vương đạo. Florida, tháng 9, Thuyết TRI-HÀNH-HIỆP-NHẤT của Vương dương Minh (Triết gia Trung Hoa cận đại) đòi hỏi con người phải thực hành cái mệnh lệnh của lương tri mình. “....Tri nhi bất hành, chỉ thị vi tri” (Biết mà không làm là chưa biết) (2) CHÍNH TRỊ nói ở đây là loại chính trị bá đạo kiểu Cộng Sản.

 

KỶ NIỆM MỘT NĂM BIẾN CỐ ĐAU THƯƠNG KHỦNG BỐ “NÓNG” 9/11 TẠI HOA KỲ, SUY NGHĨ VỀ SỰ KHỦNG BỐ ‘LẠNH’ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRÊN DÂN TỘC VIỆT NAM. Dân chúng Hoa Kỳ, cách riêng dân chúng New York, đang bồi hồi tưởng niệm biến cố đau thương đã xảy ra vừa tròn một năm. Đúng 8 giờ 46 ngày 11 tháng 9 năm 2001, bọn không tặc đã cướp một chiếc Boeing 747 với hàng trăm hành khách trên đó. Bọn chúng đã cảm tử lái chiếc máy bay khổng lồ lao vào tầng thứ 73 của tháp phía Bắc của toà nhà tháp đôi World Trade Center (WTC) giữa thành phố New York, phút chốc khỏi lửa bừng lên khi hàng trăm ngàn gallon nhiên liệu của chiếc máy bay bị cháy nổ bùng. Khoảng 30 phút sau một chiếc máy bay khác cũng bị không tặc lao vào toà tháp còn lại, thế là cả hai tòa tháp cháy bùng lên trong mù mịt khói lửa và bụi tro. Trên màn ảnh nhỏ người ta chiếu đi chiếu lại cảnh hai chiếc máy bay lao vào toà tháp, rồi cảnh đòan người lũ lượt hoảng hốt túa chạy trong khói và bụi, cảnh toà tháp đôi đổ sụm xuống, người xem có cảm tường như cảnh dàn dựng trong phim ảnh, nhưng đáng buồn thay đó lại là sự thực. Tấn thảm kịch không chỉ dừng lại ở đó, tại Ngũ Giác Đài (Pentagon) của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, một chiếc máy bay khác nữa cũng bị không tặc lao vào góc phía Đông của toà nhà đồ sộ này, nơi thường có khoảng 23.000 người đến làm việc hàng ngày. Lần đầu tiên cảnh tượng chiến tranh, chết chóc, tàn phá xảy ra ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ, ở một thành phố tiêu biểu cho siêu cường Hiệp Chủng Quốc. Kết qủa tại New York, cuộc khủng bố “nóng” đã gây ra cái chết cho 2801 thường dân Hoa Kỳ, 343 người lính Cứu Hỏa và 23 cảnh sát viên của thành phố New York đã can đảm cứu thường dân mắc kẹt trong toà tháp và đã hy sinh vì nhiệm vụ. Trong đó ta không thể quên được cha Mychal F. Judge, vị linh mục Tuyên úy của đội cứu hỏa thành phố New York. Khi hay tin có khủng bố, và với nhiệm vụ tông đồ của mình, cha đã theo chân những người lính cứu hỏa xông vào hành lang của Tháp thứ nhất để hòng cứu rỗi các linh hồn của những nạn nhân đang hấp hối. Cuối cùng chính ngài lại là nạn nhân đầu tiên được mang ra ngoài... Toà tháp đôi trị giá hàng nửa tỉ đô la phút chốc đổ sụm. Riêng tại Ngũ Giác đài có 184 người chết và 380 bộ (feet) của tòa nhà bị phá hủy. Thêm vào đó là 45 người có mặt trên chuyến bay 93 trên đường từ Newark, N.J, đến San Francisco, CA, đã đâm đầu xuống gần một khu rừng tại Pittsburg, bang Pensylvania. “LET’S ROLL” (NÀO RA TAY). Đó là những lời cuối của hai hành khách Mark Bingham và Todd Beamer khi đã quyết định phải tấn công chống lại bọn khủng bố không tặc 4 người. Người ta tin rằng hai người này đã tông vào phòng lái, vật lộn với không tặc để chiếc phi cơ không thể bay đến mục tiêu là tòa Bạch Ốc (White House) hay tòa nhà Quốc Hội (Capitol). Ai cũng cho rằng đó là hành động hợp lý, đúng lúc, rất nhiệt tình yêu nước và anh hùng. Họ đã quên thân mình để cứu được bao nhiêu mạng người khác trên mặt đất, tại một trong hai tòa nhà nói trên. Phản ứng của dân chúng Hoa Kỳ hết sức tức giận vì hành vi tàn bạo dã man của những kẻ chủ trương, do đó chỉ hai tháng sau, mạng lưới Al-Qaida của Osama Bin Laden và đồng minh chứa chấp là Taliban của Afghanistan đã bị sức mạnh cuả không lực Hoa Kỳ xoá bỏ. Mạng lưới khủng bố bị truy tầm và tận diệt khắp nơi. Cả thế giới lên án khủng bố và hợp tác với Mỹ để tiêu diệt khủng bố “nóng” do các phần tử Hồi giáo quá khích chủ trương. Kỷ niệm một năm ngày tang tóc, Hoa kỳ và thế giới hướng về New York để tưởng niệm các nạn nhân vô tội để nhắc nhở và cảnh giác với hiểm họa khủng bố “ nóng” dù đã bị đập tan nhưng chưa hẳn đã chấm dứt. Trùm khủng bố Osama Bin Laden vẫn còn là một ẩn số bí mật mà Hoa Kỳ và thế giới đang ngày đêm cố công tìm cho được “ dù sống hay chết” như lời khẳng quyết của Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush. Nước Mỹ với hơn 200 năm lập quốc, đây là lần đầu tiên có một kẻ thù từ bên ngoài dám tìm đến ngay tại nơi trọng yếu để thực hiện ý đồ khủng bố tàn bạo, một cuộc sát nhân tập thể, thật dã man. Nó đã dấy lên một cao trào yêu nước trong mỗi người dân Hoa Kỳ và sự đồng lòng rằng kẻ ác phải bị trừng trị. Cộng đồng người Việt Tỵ nạn Cộng sản định cư tại Hoa Kỳ cùng chia xẻ niềm đau thương mất mát với dân chúng Hiệp Chủng Quốc. Kỹ sư Nguyễn ngọc Khang người Mỹ gốc Việt cũng đã thiệt mạng khi đang làm việc với tư cách nhân viên dân sự thuộc Bộ Quốc Phòng HK. Trong niềm chia xẻ nỗi bất hạnh với dân tộc Hoa Kỳ, người Việt chúng ta bùi ngùi nhìn về quê nhà nơi dân chúng Việt Nam đang lầm than cơ cực trong gọng kềm “khủng bố trắng” của đảng Cộng sản Việt nam, một hạng người vong bản tôn thờ chủ nghĩa ngoại lai. Lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ và thế giới đang bận tâm với bọn khủng bố Al- Qaida nên chúng đã gia tăng đàn áp, khủng bố trắng trợn và tàn bạo thêm đối với những ai đòi tự do và nhân quyền. Thật thế, với bản chất khát máu dã man, Công sản Việt Nam càng siết chặt thêm gọng kềm khủng bố “lạnh” trên các vị lãnh đaọ tinh thần các tôn giáo. Thấy thế giới phản ứng không đủ quyết liệt khi chúng giam lỏng Hoà Thượng Thích Quảng Độ chúng bèn đem Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý ra trước một phiên toà quái đản, kết án người 15 năm tù giam và 5 năm quản chế. Cộng sản còn đi xa hơn qua hành động cướp đất đoạt tài sản của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam như vụ nhà thờ Chính toà Hà Nội, nhà thờ Thái Hà Hà Nội, nhà thờ Loan Lý, nhà thờ Bàu Gốc, Dòng Thiên An, Thánh địa La Vang, Thánh địa Trà Kiệu, đàn áp các giáo dân nhỏ bé khốn khổ đáng thương ở An Truyền và Nguyệt Biều để trả thù vì họ đã dám đứng lên ủng hộ Cha Lý đòi Tự do Tôn giáo và đòi lại miếng đất của nhà thờ Nguyệt Biều đã bị chúng cướp trắng. Điều đáng buồn là dù bị đàn áp dã man như thế, trắng trợn như thế, con cái bị trù dập khủng bố như thế, tài sản bị cướp bóc như thế, nhưng HĐGMVN vẫn chọn lấy thái độ im lặng, dù các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô Đệ nhị khuyến khích hãy can đảm “ra khơi”. Không biết các ngài có khi nào chạnh nhớ đến những đàn chiên đang bơ vơ giữa giông tố bách hại không, có khi nào các ngài nhớ đến người tù lương tâm Nguyễn Văn Lý đang cô đơn trong bốn bức tường nhà tù lạnh lẽo nơi xứ Bắc xa xôi không? Hay các ngài thấy cộng sản cho các ngài được dự các buổi lễ lạy đông đảo hào nhoáng bên ngoài, được thong dong đi ra nước ngoài gặp gỡ con chiên lưu lạc, để quyên góp về mua xe đời mới sang trọng, quyên góp xây nhà thờ đồ sộ, vô tình hay hữu ý làm bằng chứng cho CS tuyên truyền rằng đã có tự do tôn giáo ở Việt Nam rồi. Các vị quên đi những tài sản CS đã cướp đoạt, đang cướp đoạt thêm và lăm le cướp đoạt nốt, để quên đi những thủ đoạn CS hèn hạ cho xây nhà thờ đồ xộ rồi kiếm cớ vận động thuyên chuyển cha xứ này đi, đưa cha khác mà chúng ưa thích về chiếm ngụ, quên đi những bác bỏ thẳng thừng của cộng sản mỗi khi các ngài cầu xin chúng để được đi đến các giáo xứ hẻo lánh để làm mục vụ. “Trước những tấn công tàn bạo của nhóm võ trang Hồi giáo, Đức Tổng Giám Mục Henri Tessier của giáo phận Algers, kêu gọi dân chúng hãy đứng dậy đối kháng Bạo lực”. Đó là những dòng đầu tiên trong bản tin mà Vietcatholic News (ngày 24/8/2002) đã loan dưới tựa đề: Tại Algeria, Giáo Hội kêu gọi dân chúng hãy đối kháng Bạo lực. Ngày 21 tháng 5 năm 1996, 7 đan sĩ Công giáo bị giết chết ở Tibhirine và tiếp theo vào ngày 1 tháng 8 thì Đức Giám mục Claverie bị ám sát. Chịu đựng hết nổi, Đức TGM phải kêu gọi giáo dân đối kháng với người Hồi giáo quá khích. Con giun xéo mãi cũng oằn. Còn Việt Nam ta thì sao? Thái độ im lặng trong hoàn cảnh như hiện nay, dù biện bạch cách nào thì cũng chỉ thể hiện một thái độ khiếp nhược, một thái độ đồng loã với sự ác. Hình ảnh HĐGMVN hiện nay chẳng khác nào có một bọn cướp xông vào nhà phú hộ kia, trói con cháu thanh niên trai tráng trong nhà, rồi ra tay cướp bóc từ đồ tế nhuyễn đến của riêng tây, cụ già phú hộ vì già yếu được chúng để ngồi trên ghế không cần trói tay hay bịt mắt. Cụ phú hộ cho đó là đặc ân và cám ơn rối rít vì cho là bọn cướp còn nhân đạo chán! Thế rồi có một vài thanh niên con cháu cụ thì thầm muốn xông ra đối địch với quân cướp để lấy lại tài sản thì bị cụ giả lơ không nghe, không thấy và đôi khi còn mắng át con cháu rằng đừng làm gì để rồi chúng lấy chán thì chúng sẽ trả lại, chống cự chúng lỡ chúng giết cả ta thì sao?!! Đó, cái nhân đạo có điều kiện của cộng sản là như thế đó, sự khủng bố lạnh của cộng sản đã từ lâu tiến hành khiến nhiều đấng bậc đang trong vòng dây oan nghiệt mà cứ tưởng được thong dong không vướng bận, không trở ngại nào, các vị cứ im lặng thì bản thân được thong dong nhưng cuối cùng tài sản của cụ còn gì? Con cháu sau này sinh sống ra sao? Có lẽ đó không phải là trách nhiệm của cụ, của bậc chủ gia đình hay sao? Trong bối cảnh thế giới chống khủng bố “nóng” như hiện nay, thật khó cho chúng ta lên tiếng đánh động chú ý của thế giới đối với sự khủng bố “lạnh” của CSVN, nhưng khó cách mấy chúng ta vẫn phải làm, chúng ta phải làm bằng hết cả tâm huyết, bằng hết cả trí óc và bằng lương tâm công giáo của mình, chúng ta cứ làm và dâng lên Thiên Chúa với tất cả tấm lòng, chắc chắn Ngài sẽ không nỡ chối từ, màsẽ can thiệp như khi xưa Ngài đã ban cho dân Israel một vị cứu tinh là Mai-sen, để đưa dân tộc Do thái thoát khỏi Ai Cập, vượt qua eo biển và đến được đất hứa. Bao giờ ta mới có được một cha “Mychal F. Judge” của Việt Nam, dám xông vào lửa đỏ chỉ để cứu người, mà không màng đến thân mình. Một Todd Beamer hay Mark Bingham, quên đi mạng sống của mình, vật lộn với Cộng sản vô thần để không cho chúng thực hiện được ý đồ tiêu diệt Tôn giáo, nhất là Giáo hội Công giáo VN. Biết tìm đâu cho được một Tổng Giám Mục Tessier cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, là người dám hô hào giáo dân đòi lại Tự do Tôn giáo và Nhân quyền đích thực cho Việt Nam. Viết cho LTCG nhân ngày kỷ niệm biến cố 9-11.

 

Tín Ngưỡng Có Vai Trò Trong Sinh Hoạt Xã Hội * Văn Hiền dịch Vào tháng trước, Tòa Bạch Ốc vừa bổ nhiệm Tổng Giám Mục Chaput, thuộc giáo phận Denver, làm Chủ Tịch Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới với nhiệm kỳ 1 năm. Hôm nay, tại Denver, Đức Tổng Giám Mục chia sẻ một số quan tâm chính của Ngài. Hỏi : Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới có vai trò gì và tác động thế nào đến thế giới ? Tổng Giám Mục Chaput (TGM) : Chiếu theo đạo luật về Tự Do Tôn giáo Thế Giới, ban hành năm 1998, Ủy ban sẽ cố vấn cho bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về những vấn đề liên hệ đến Tự do Tôn giáo, nhưng Ủy ban cũng có tiếng nói độc lập của mình. Như thế thì Ủy ban có hai lãnh vực trách nhiệm. Một mặt, Ủy ban giúp đỡ bộ Ngoại giao đề cao vấn đề Tự do Tôn giáo trong chính sách ngoại giao của chính phủ Hoa Kỳ. Mặt khác, Ủy ban, với tư cách độc lập, tự điều tra các vi phạm quyền Tự do Tôn giáo trên thế giới và tìm cách đánh động công luận về những chính phủ đang vi phạm quyền tự do nầy. Ủy ban tổ chức những buổi điều trần và ấn hành bản báo cáo hàng năm bao gồm những Quốc Gia Phải Quan Tâm Đặc Biệt. Không nước nào muốn bị ghi tên vào danh sách này cả. Ủy ban cũng soạn thảo những báo cáo riêng về những khó khăn cản trở tự do tôn giáo tại những nơi như Sudan hay Việt Nam. Với tầm mức ảnh hưởng của Ủy Ban lên Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội, và Bộ Ngoại Giao, Ủy Ban có thể tạo nhiều tác động rất đáng kể. Hỏi : Ngài có nghĩ rằng các quốc gia trên thế giới hiểu rõ quan niệm Tự do Tôn giáo không? TGM : Không. Sự bảo đảm quyền Tự do Tôn giáo được tuyên xưng tuyệt vời trong điều 18 của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền, nhưng nhiều quốc gia không đếm xỉa tới, hay diễn dịch một cách rất méo mó. Có hai hình thức trù dập Tự do Tôn giáo : Những chính phủ thế-quyền như tại Bắc Hàn, coi niềm tin tôn giáo như là một sự cạnh tranh về ý thức hệ, một quan niệm đối chọi về con người; hay những chế độ thần-quyền cực đoan như tại Iran muốn đẩy những tôn giáo nhỏ ra khỏi (xã hội). Niềm tin tôn giáo là một lực rất mạnh trong việc uốn nắn cách hành xử từ cá nhân đến cả xã hội rộng lớn. Vì vậy, đối với những chính quyền có mục tiêu duy trì và mở rộng tầm kiểm soát của họ lên xã hội, thì tự do tôn giáo có thể bị xem là rất nguy hiểm. Hỏi : Một số người coi việc bảo vệ quyền Tự do Tôn giáo là sự cố tình can dự của các giáo hội, đặc biệt là Giáo hội Công giáo, vào chính trị và những vấn đề toàn cầu. TGM : Cách chỉ trích phê bình đó chỉ nhằm một mục đích, đó là hù dọa người Công giáo và tín đồ các tôn giáo khác phải im lặng khi mà đúng ra họ phải lên tiếng. Con người phải biến thành hành động những điều mình tin, đặc biệt là niềm tin tôn giáo. Nếu không, ngay cả những điều mình tin rồi sẽ biến mất. Chính trị là việc áp dụng quyền lực vào những vấn đề của con người. Việc xử dụng quyền lực luôn luôn dấy lên những câu hỏi luân lý, và dẫn đến những câu hỏi tôn giáo, về bản chất của lằn ranh đúng sai và cái gì được kể là lợi ích chung. Do đó, nếu Giáo hội không tích cực đề cao quyền Tự do Tôn giáo, thì quả là Giáo hội rất dại dột – và đúng ra, là không trung thành với sứ mạng của mình. Quan niệm của một xã hội về Thượng đế sớm muộn gì cũng sẽ ảnh hưởng lên cách xã hội đó đối xử với con người. Hỏi : Ý nghĩa đúng của câu nói "Tách biệt Giáo hội ra khỏi Chính quyền" là gì và câu đó có liên quan đến Tự do Tôn giáo như thế nào ? TGM : Tự Do Tôn Giáo không nhất thiết đòi hỏi một nhà nước thuần túy vô tôn giáo. Tôi nghĩ rằng, một quốc gia có thể cho một tôn giáo nào đó tư cách đặc biệt, nhưng không đương nhiên bách hại những tôn giáo khác. Tuy nhiên, phải vào chi tiết mới biết dở hay. Nhiều tín đồ Hồi giáo tuyên xưng bộ luật Shariah của họ có bao gồm khoản biệt đãi Hồi giáo nhưng vẫn bảo đảm một số quyền hạn cho tín đồ Do Thái giáo hay Thiên Chuá giáo. Nhưng dữ kiện lịch sử cho thấy ngược lại : luật Shariah thực ra đã gạt ra và áp bức tín đồ Công Giáo và những tôn giáo khác, cũng như ngăn trở họ tham gia trọn vẹn vào sinh hoạt của quốc gia. Tại Saudi Arabia, một người Hồi giáo trở sang Thiên Chúa giáo có thể chịu nguy hiểm tính mạng, và tất cả những sinh hoạt tín ngưỡng không phải Hồi giáo đều bị cấm. Đây là những vi phạm rất căn bản điều 18, những vi phạm rất nghiêm trọng đối với quyền của con người về tự do tín ngưỡng. Một niềm tin thật sự vào Thượng Đế phải luôn luôn dẫn chúng ta đến sự tôn trọng quyền của mỗi con người ngày một sâu thẳm hơn, kể cả những người không cùng tôn giáo với mình, bởi vì chúng ta tất cả đều được tạo thành bởi cùng một Cha (trên trời). Cho nên, Hoa Kỳ có một cơ hội thuận lợi và ơn kêu gọi đặc biệt. Hoa Kỳ có thể trình trước thế giới một thí dụ cao đẹp về sự chung sống hài hòa của nhiều tôn giáo khác nhau, cộng tác cho những điều tốt đẹp chung. Điều nầy dĩ nhiên chỉ có thể xảy ra nếu những tín đồ biết mang tín ngưỡng của mình một cách ôn hòa nhưng tích cực vào lòng xã hội – kể cả tại những phòng đầu phiếu. Câu nói: "Tách biệt Giáo hội ra Chính quyền" không bao giờ có nghĩa là loại bỏ tín ngưỡng ra khỏi sinh hoạt công cộng. Hiến pháp nghiêm cấm việc việc thành lập một quốc giáo. Nhưng Hiến pháp không ngăn cấm, và các nhà lập quốc cũng không hề có ý định ngăn cấm, sự tham gia hoạt động tích cực của tôn giáo vào sự bàn thảo những vấn đề của quốc gia. Hỏi : Quan niệm của Thiên Chúa giáo về việc người Công Giáo tham gia vào chính trị như thế nào ? TGM : Chính trường là nơi thực thi những việc làm cụ thể để bảo đảm quyền lợi chung và nhân phẩm của từng cá nhân. Do đó, người Công Giáo cần phải tham gia rất tích cực. Họ cần phải hiểu về đức tin Công Giáo và dùng sự hiểu biết đó làm hướng dẫn cho những quyết định chính trị của mình. Hướng dẫn của Công Đồng Vatican II về vai trò của Giáo hội trong thế giới hiện đại (Gaudium et Spes), bản Tuyên Ngôn Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis Humanae) và các thư luân lưu về các vấn đề xã hội, kể cả văn kiện Evangelium Vitae là những nguồn tài liệu tham khảo vô cùng súc tích. Người Công Giáo nên hân hoan chào đón sự hợp tác với những người thuộc tôn giáo khác, hoặc những người không theo tôn giáo nào nhưng mang đầy thiện ý. Chỉ có một điều người Công Giáo không được làm, đó là tự xưng mình là người Công Giáo và rồi tách rời đức tin của mình ra khỏi những hành động chính trị. Quí vị không thể cùng lúc tin vào nhân vị của một hài nhi trong bụng mẹ nhưng lại đi bỏ phiếu ủng hộ cho điều luật cho phép giết đứa bé đó. Bạn không thể cùng lúc ủng hộ tự do tín ngưỡng nhưng lại im lặng khi một "nước đồng minh" bách hại những tôn giáo nhỏ khác (tại nước đó). Đó là một dạng giả hình dối trá.

 

CHIA SẺ TIN MỪNG Lễ cầu nguyện cho các linh hồn (2-11-2003) ĐỌC LỜI CHÚA • Is 25,6-9: (8) Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. • Rm 6,3-11: (8) Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, đó là niềm tin của chúng ta. • TIN MỪNG: Lc 23,33-34.39-43 Đức Giê-su chịu đóng đinh thập giá – Người gian phi sám hối (33) Khi đến nơi gọi là «Đồi Sọ», họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. (34) Bấy giờ Đức Giêsu cầu nguyện rằng: «Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm». Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm. (39) Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người, «Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!» (40) Nhưng tên kia mắng nó: «Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! (41) Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!» (42) Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: «Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!» (43) Và Người nói với anh ta: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». CHIA SẺ Câu hỏi gợi ý 1. Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, tại sao Ngài lại bắt linh hồn người chết phải thanh luyện cho hoàn hảo mới được vào thiên đàng? 2. Chịu thanh luyện để nên hoàn hảo, Bản chất của sự hoàn hảo này là gì? Là tình yêu? đức tin? sự trong sạch? hay sự tôn trọng lề luật? hay sự gì khác? 3. Người gian phi đầy tội lỗi trong bài Tin Mừng, tại sao lại được Đức Giêsu cho vào thiên đàng ngay? Vậy yếu tố cốt yếu nhất để vào thiên đàng là gì? Đọc kinh? cầu nguyện? dâng lễ? bố thí? giữ luật? hay tình yêu? lòng vị tha? Suy tư gợi ý 1. Niềm tin của người Công giáo về luyện ngục Hôm nay và suốt tháng 11 này, người Công giáo chúng ta đặc biệt quan tâm cầu nguyện cho những người quá cố. Chúng ta thường nghĩ họ đang phải chịu thanh luyện bằng đau khổ để trở nên hoàn hảo. Sự thanh luyện đó được Giáo Hội định tín: «Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là “Thanh Luyện”» (DS 856/464). Mục đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị tha, đầy tình thương, không còn một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào nữa. Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lý, vì đó là một «nơi» hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời. (Gọi là «nơi» thì chỉ là tạm gọi, vì thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục không phải là nơi chốn, là không gian vật lý cho bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn: Thiên Đàng là tình trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện. Còn Hỏa Ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ...) 2. Thiên đàng đòi hỏi người trong đó phải thật hoàn thiện Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi rằng: để vào Thiên Đàng thì phải thật trọn hảo. Thật vậy, thử hỏi, khi trở về «nơi» lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không? Nếu người ở thiên đàng mà còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì chính bản thân họ sẽ đau khổ, đồng thời còn gây nên đau khổ cho người khác nữa. Chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền của Thiên Đàng, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành, nếu còn chút gì xấu xa thì phải thanh luyện cho hết. Tình trạng thanh luyện ấy được gọi là «luyện ngục». 3. Tội lỗi hay tính vị kỷ là đầu mối gây đau khổ Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải đau khổ. Việc Ngài sai Con Một mình xuống chịu chết một cách thảm thương để cứu nhân loại chứng tỏ điều ấy. Nhưng Ngài không thể trực tiếp cứu chúng ta khỏi đau khổ, mà chỉ có thể cứu chúng ta khỏi những nguyên nhân gây nên đau khổ là tội lỗi. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan viết: «Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta» (Kh 1,5). Đau khổ chỉ là ngọn, còn tội lỗi mới là gốc. Muốn tránh khổ thì phải tránh tội lỗi. Diệt khổ thì chỉ là diệt ngọn, khổ vẫn có thể tiếp tục phát sinh. Diệt tội lỗi mới là diệt khổ tận gốc. Nhưng con người vì còn u mê nên thường sợ khổ chứ không sợ nguồn gốc phát sinh ra đau khổ là tội lỗi, là tính ích kỷ. Họ vẫn cứ tiếp tục phạm tội, sống ích kỷ. Vì thế, dù tìm đủ mọi cách để tránh khổ, con người vẫn cứ rơi vào đau khổ, hết khổ này đến khổ khác. Trong việc cứu khổ cho người khác, cho các linh hồn được thanh luyện, con người cũng chỉ nghĩ tới việc cứu họ khỏi đau khổ, chứ không nghĩ tới việc cứu họ khỏi những nguyên nhân gây đau khổ. Nguồn gốc của tội lỗi chính là tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ tới đau khổ và hạnh phúc của mình, mà không quan tâm hay biết đến đau khổ và hạnh phúc của người khác. Vì thế, nguyên nhân sâu xa hơn của đau khổ chính là tính ích kỷ. 4. Tình yêu hóa giải đau khổ và đem lại hạnh phúc Nếu ích kỷ là nguồn gốc phát sinh đau khổ, thì ngược lại, tính vị tha hay tình yêu chính là nguồn tạo nên hạnh phúc. Do đó, người ta chỉ có thể vào được thiên đàng khi họ có đầy tràn tình yêu và không còn chút tính ích kỷ nào nữa. Nắm vững điều này, ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa câu nói Đức Giêsu, khi có người – vốn đã giữ rất chu đáo các lề luật – hỏi Ngài về cách đạt được sự sống đời đời: «Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mc 10,21). Điều đó có nghĩa là phải biết yêu thương và thật sự thể hiện tình yêu ấy thì mới được sự sống đời đời, tức được hạnh phúc đích thực. Kho tàng ở trên trời mà mọi người muốn lên đó phải sắm cho mình chính là kho tàng tình yêu. Người trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay đã thể hiện được tinh thần vị tha và tình yêu ấy. Trong cảnh khổ như thế mà anh không hề nghĩ tới đau khổ của bản thân mình, mà chỉ nghĩ tới đau khổ của Đức Giêsu, thương cho Ngài bị hàm oan: «Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!». Chính vì thế, anh đã được Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». Người trộm lành tuy đầy tội lỗi, nhưng cuối cùng anh đã phát tâm yêu thương, và tình yêu đã biến anh thành người tốt lành, xứng đáng với hạnh phúc thiên đàng. Đúng như câu nói của thánh Phaolô: «Tình yêu che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8). 5. Chấp nhận đau khổ vì tình yêu là bí quyết của hạnh phúc Câu chuyện về người trộm lành trên làm tôi nghĩ đến một câu chuyện của Đức Phật. Trong một tiền kiếp nọ của ngài, ngài đã phạm một trọng tội khiến ngài bị đọa vào địa ngục. Tại đó, ngài cùng nhiều người khác bị đau khổ ghê gớm. Khi nhìn thấy những người trong đó đang quằn quại với những cực hình vô cùng đau đớn như mình, ngài thương họ vô cùng. Tình thương ấy khiến ngài phát tâm nguyện rằng: Tôi nguyện sẵn sàng chịu thay cho mọi người trong địa ngục này tất cả những đau khổ mà họ đang phải chịu, để họ thoát khỏi những cực hình ghê gớm này! Vừa nguyện như thế xong thì lập tức ngài tự nhiên thoát khỏi cảnh đau khổ ấy. Còn những người kia thì vẫn tiếp tục ở lại đấy chịu đau khổ. Tôi chỉ coi chuyện trên như một dụ ngôn. Tuy không có thực, nhưng nó nói lên một chân lý mà chính tôi đã thực nghiệm thấy rất đúng. Khi tôi chỉ quan tâm chú ý tới những đau khổ tôi đang phải chịu, thì tôi thấy đau khổ ấy – một cách chủ quan – tăng lên gấp bội. Nhưng khi tôi quan tâm tới những đau khổ của người khác đang phải chịu, khi tôi muốn làm giảm bớt đau khổ cho họ, khi tôi chấp nhận chịu đau khổ thay cho họ, hay chịu khổ nhiều hơn nữa để họ bớt khổ hay để họ được hạnh phúc, thì lập tức tôi cảm thấy tâm hồn mình mạnh mẽ lên. Lúc ấy những đau khổ tôi đang chịu – tuy dù một cách khách quan không hề thay đổi, mà có thể còn tăng lên – bỗng nhiên mất đi tính dữ dội hay thảm khốc của chúng đối với tôi. Chúng không còn làm tôi đau khổ được như trước. Áp dụng kinh nghiệm này vào đời sống gia đình, tôi nhận thấy: khi tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, mọi đau khổ, mọi buồn phiền để làm những người thân yêu của tôi bớt khổ và được hạnh phúc, thì điều lạ lùng tôi cảm nghiệm được là tôi không hề đau khổ mà lại thấy hạnh phúc hơn. Tôi hạnh phúc hơn vì tôi thấy nhờ hành động ấy của tôi mà những người tôi yêu thương được hạnh phúc hơn. Điều làm họ hạnh phúc nhất là thấy tôi yêu thương họ, hết mình với họ. Và chính vì thế, họ cũng chẳng để tôi phải vất vả hay chịu đau khổ thay cho họ, ngược lại họ lại sẵn sàng chịu đau khổ thay cho tôi. Và thế là cả gia đình tôi – trong đó có tôi – đều cảm thấy hạnh phúc trong bầu khí đầm ấm yêu thương. Thế là chỉ vì tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, cực nhọc, đau khổ thay cho những người thân yêu, mà tôi biến gia đình tôi thành một gia đình hạnh phúc. So với nhiều người chủ gia đình khác, tôi thấy mình hạnh phúc hơn họ nhiều, xét cả mặt khách quan lẫn chủ quan. Tôi nhận thấy: không phải khi mình sẵn sàng chịu đau khổ thay cho người khác thì tất nhiên mình sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn đâu! Mà ngược lại, thái độ quên mình ấy lại đem lại hạnh phúc cho cả tôi lẫn những người chung quanh tôi. Đó là kinh nghiệm của tôi trong gia đình. Và tôi đang áp dụng kinh nghiệm này ra ngoài gia đình, trong xã hội… và tôi vẫn thấy nó đúng. Xin chia sẻ với mọi người kinh nghiệm có thật này để may ra hữu ích cho ai đó! CẦU NGUYỆN Lạy Cha, thánh Gioan nói: «Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo» (1Ga 4,18). Con cảm thấy chính khi con thật sự có tình yêu thì con không sợ đau khổ, mà sẵn sàng đón nhận đau khổ để người khác được hạnh phúc. Và khi con không sợ đau khổ, thì đau khổ không còn tác oai tác quái trên con nữa. Nó không còn khả năng làm con mất bình an hạnh phúc được nữa. Và con cảm thấy bình an và hạnh phúc do tình yêu đem lại chính là thiên đàng. Một thiên đàng mà con có thể cảm nghiệm trước ở ngay trần gian này. (JK)