


===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.
1- Từ mấy năm nay tại Việt Nam, đã có nhiều vụ án trong đó bị can là giới trẻ, là sinh viên và họ đã lãnh nhiều bản án rất nặng nề. Điển hình là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, sinh viên kỹ thuật và Đỗ Thị Minh Hạnh, sinh viên kinh tế, bị bắt tháng 2-2010 vì hoạt động cho quyền của người lao động, rồi hơn một năm sau, tháng 3-2011, đã phải lãnh án 9 năm tù (Hùng) và 7 năm tù (Hạnh). Tiếp đến là vụ án 3 sinh viên Công giáo tại Nghệ An ngày 24-05-2012, gồm Đậu Văn Dương, đại học du lịch và thương mại (3,5 năm tù), Trần Hữu Đức, đại học kỹ thuật (3 năm tù), Chu Mạnh Sơn, đại học y khoa (3 năm tù), chỉ vì tội dấn thân cho công lý và sự thật. Đầu năm nay, ngày 09-01-2013, 14 thanh niên yêu nước, trong đó đa phần là sinh viên, đã bị kết án tại Vinh với một bản án tổng cộng 83 năm tù giam và 42 năm quản chế, qua tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đang khi họ chỉ hành xử quyền tự do ngôn luận, quyền tự do gia nhập hội và quyền hoạt động chính trị theo tư cách công dân. Mới nhất, ngày hôm nay, 16-05-2013, là vụ xử hai sinh viên: Đinh Nguyên Kha (24t, Đại học kinh tế công nghiệp) bị 8 năm tù và Nguyễn Phương Uyên (21t, Đại học công nghiệp thực phẩm) bị 6 năm tù chỉ vì tội yêu nước. Ngoài bản án nặng nề vừa tuyên, toàn thể vụ án kể từ khi hai em bị bắt tháng 10-2012 đã có vô số kịch tính, bộc lộ tất cả bản chất ghê tởm của nền chính trị và nền pháp lý CS. Trước hết, cô sinh viên 21, ủy viên ban chấp hành chi đoàn thanh niên, đã bị bắt và giam giữ theo kiểu bắt cóc, bất chấp mọi quy định về tố tụng hình sự. Bị gia đình và thân hữu của em chất vấn, cơ quan công an nửa tháng sau đành tìm cách lấp liếm và dối gạt công luận cách trơ trẽn. Khi bạn bè cùng lớp rồi 144 nhân sĩ trí thức gởi thư lên Chủ tịch nước bênh vực cho Phương Uyên, họ liền lãnh cả một loạt hành vi trả đũa đê tiện. Các sinh viên bị nhà trường bức bách phải rút lại chữ ký, rồi bị công an từ đó luôn theo dõi. Còn các vị nhân sĩ thì vừa bị thóa mạ (tên bồi bút Đông La gọi họ là “trí thức bầy đàn, phạm pháp bầy đàn”), vừa bị mạo danh qua một kiến nghị giả trái ngược. Tiếp đó là cả một chiến dịch tấn công trên báo chí lề đảng. Các công cụ mù quáng và vô liêm sỉ này đua nhau vu khống hai sinh viên đủ thứ tội: nào tham tiền (dù Uyên chỉ được tặng 100 đôla mua máy ảnh), nào khủng bố, chế tạo chất nổ nhằm giật sập tượng HCM (dù Kha chỉ có khoảng 300gr hóa chất làm pháo đốt chơi), nào xâm phạm an ninh quốc gia, nào cấu kết với thế lực thù địch… Gia đình 2 em cũng liên lụy một cách khốn khổ: bị lôi đến đồn để hăm dọa ép cung, bị hành hạ đủ kiểu trong việc thăm tù, bị cấm biểu lộ tình cảm mẫu tử, bị buộc xác nhận con mình có tội trên giấy thăm nuôi, bị cựu chiến binh đến nhà hành hung và vu vạ con mình phản động, riêng anh của Kha thì bị tịch thu máy móc hành nghề rồi không cho làm việc. Chưa hết! Tiếp đó là kịch bản cũ mèm, bị dư luận khinh bỉ và chẳng bao giờ tin, đó là đưa các đối tượng lên truyền hình để đọc bản “ăn năn nhận tội” và “xin nhà nước khoan hồng”! Rồi màn cho Uyên gặp các luật sư để chỉ xác nhận mình bị bắt đúng thủ tục và được đối xử tốt trong ngục! Tất cả chỉ tố cáo thái độ hèn nhát, ác độc của kẻ mạnh đối với người yếu thế bị huỷ diệt mọi khả năng lựa chọn trước các đòn đe dọa. Đến khi Phương Uyên phản đối những điểm sai trái, vu khống trong bản cáo trạng (như ghi rằng em “đã viết một số nội dung không hay về Trung Quốc” đang khi thực sự em đã đề: “Tàu khựa hãy cút khỏi Biển Đông”...), thì liền bị trả thù dã man tàn độc (26-04): bị cấm mang kính khiến phải nhức đầu thường xuyên, bị đánh đến ngất xỉu, với nhiều thương tích và vết bầm tím trên người… Thế nhưng, tất cả các sinh viên bị án kể tên trên đây đều đã hiên ngang trước tòa và chẳng hề nhận mình có tội. Như Đặng Xuân Diệu từng nói: “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính họ đang dẫm đạp lên đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc VN và họ phải tự chịu trách nhiệm”. Còn hôm nay, Uyên-Kha cũng tỏ thái độ bất khuất theo ghi nhận của một blogger trẻ: “Họ kết án các em bao nhiêu năm không quan trọng… Tôi sung sướng cực kỳ vì các em đã quyết không nhận tội… Hãy hoàn thành nốt sứ mạng của mình trong cái nhà tù nhỏ… Các bạn tù dự khuyết bên ngoài ngưỡng mộ và ghi nhớ công lao của các em… Các em đã đi vào lịch sử”! 2- Tại sao nhà cầm quyền CS lại giáng xuống trên các sinh viên trẻ tuổi, tương lai của đất nước, những cách hành xử dã man và những bản án nặng nề như thế, biểu lộ tất cả sự phẫn nộ điên cuồng của kẻ thống trị? Thưa đó chỉ vì CS thấy mình đã hoàn toàn thất bại trong đường lối giáo dục của họ, một lối giáo dục quái đản và tác hại chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc và thế giới. Dựa vào nguyên lý “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” (Luật Giáo dục điều 3), đảng CSVN ngay từ đầu đã chủ trương chính trị hóa nền giáo dục. Nghĩa là thay vì đào tạo ra những con người trưởng thành cho xã hội, biết tư duy độc lập trong cuộc sống, những công dân tự do, biết thực sự xây dựng quê hương, đảng chỉ muốn dùng cái học thuyết nhân loại đã phỉ nhổ để uốn nắn thế hệ trẻ thành những thần dân nô lệ cho đảng, chỉ biết noi gương lãnh tụ đảng cách mù quáng (đang khi ông ta thuần là một tên gian hùng, phạm vô số tội ác trong đời tư lẫn đời công và hoàn toàn chẳng có gì gọi là tư tưởng). Đảng muốn có trước mắt những người máy chỉ biết vâng phục mệnh lệnh cách khiếp nhược (dù mệnh lệnh đó có phi lý và tàn ác đến đâu), chỉ biết coi trọng “hồng hơn chuyên”, ý thức tuân hành hơn khả năng học vấn, để rồi đảng sẽ ban khen là có “bản lĩnh chính trị”!?! Tiến trình đầu độc trí óc, đánh gục ý chí, phá hủy tâm hồn, tẩy não nhồi sọ này khởi sự từ cấp mẫu giáo lên đến đại học với “Đội Thiếu nhi Tiền phong” và “Đoàn Thanh niên Cộng sản”, những tổ chức chuyên kiểm soát chặt chẽ tâm tình tư tưởng các đội viên, đoàn viên, để tạo ra lực lượng hậu bị ngu trung cho đảng. Chương trình đầu độc, đánh gục, phá hủy, tẩy nhồi giới trẻ đó được tiến hành trước hết với những giáo khoa hoàn toàn do đảng biên soạn, nhất là giáo khoa văn và sử đầy tô hồng cho đảng và lãnh tụ, che giấu cuộc kháng chiến ngàn năm chống Tàu, vu khống thóa mạ mọi kẻ thù của chế độ, và mới đây còn kín đáo giới thiệu đất nước của quân xâm lược; thứ đến với những thần tượng tuổi trẻ như Lê Văn Tám, Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi… được thêu dệt từ con số không hoặc thổi phồng theo tưởng tượng một cách lố bịch, mà dù nay đã bị phanh phui là giả tạo, vẫn được đảng cố chấp duy trì; tiếp nữa, sống sượng và ngang ngược hơn, với những trò ép buộc đoàn viên phải phục vụ sinh lý cho lãnh đạo đảng (vụ Sầm Đức Xương-Nguyễn Trường Tô với những nữ sinh bị hành tội), phải đến quấy rối các cộng đoàn tôn giáo đòi công lý (vụ giáo xứ Thái Hà chẳng hạn, khiến từ đấy đoàn thanh niên CS được nhân dân đổi tên thành đoàn thanh niên côn đồ), phải lên án bạn học dám đòi công lý cho dân oan (vụ đại học Luật Sài Gòn mới đây vu khống và hăm dọa những sinh viên bênh vực nông dân Tiên Lãng), phải ngăn cản đồng môn tham gia biểu tình yêu nước, phải dàn hàng bảo vệ sứ quán của bọn xâm lược (đang khi đó là bổn phận của công an hay quân đội, theo quy định ngoại giao)… Đấy là chưa nói đến nạn giới trẻ được giáo dục tính gian dối, thói bạo hành và lòng thù hận khi còn ngồi trên ghế nhà trường, được uốn nắn hay buông thả để chỉ khóc thương danh ca, hôn ghế thần tượng, để thích thú với những cuộc thi hoa hậu đủ kiểu, để sống thử với nhau như vợ chồng và làm nhiều trò gây lo lắng lẫn phẫn nộ cho các phụ huynh cùng những nhà giáo dục chân chính. mới đây còn kín đáo giới thiệu đất nước của quân xâm lược; thứ đến với những thần tượng tuổi trẻ như Lê Văn Tám, Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi… được thêu dệt từ con số không hoặc thổi phồng theo tưởng tượng một cách lố bịch, mà dù nay đã bị phanh phui là giả tạo, vẫn được đảng cố chấp duy trì; tiếp nữa, sống sượng và ngang ngược hơn, với những trò ép buộc đoàn viên phải phục vụ sinh lý cho lãnh đạo đảng (vụ Sầm Đức Xương-Nguyễn Trường Tô với những nữ sinh bị hành tội), phải đến quấy rối các cộng đoàn tôn giáo đòi công lý (vụ giáo xứ Thái Hà chẳng hạn, khiến từ đấy đoàn thanh niên CS được nhân dân đổi tên thành đoàn thanh niên côn đồ), phải lên án bạn học dám đòi công lý cho dân oan (vụ đại học Luật Sài Gòn mới đây vu khống và hăm dọa những sinh viên bênh vực nông dân Tiên Lãng), phải ngăn cản đồng môn tham gia biểu tình yêu nước, phải dàn hàng bảo vệ sứ quán của bọn xâm lược (đang khi đó là bổn phận của công an hay quân đội, theo quy định ngoại giao)… Đấy là chưa nói đến nạn giới trẻ được giáo dục tính gian dối, thói bạo hành và lòng thù hận khi còn ngồi trên ghế nhà trường, được uốn nắn hay buông thả để chỉ khóc thương danh ca, hôn ghế thần tượng, để thích thú với những cuộc thi hoa hậu đủ kiểu, để sống thử với nhau như vợ chồng và làm nhiều trò gây lo lắng lẫn phẫn nộ cho các phụ huynh cùng những nhà giáo dục chân chính. Nền giáo dục phi nhân bản, phản dân tộc khốn nạn ấy đã đẻ ra cả một thế hệ thanh niên sau đó trở thành những công an trẻ đầy thói tàn bạo, tư cách côn đồ, sẵn sàng đàn áp thẳng tay các cuộc khiếu kiện của dân oan, các cuộc biểu tình chống xâm lược, các cuộc dã ngoại về nhân quyền như đang thấy; trở thành những tên tin tặc chuyên lùng sục để phá hoại các trang mạng dân chủ hay bắt bớ các công dân mạng dám phát biểu chính kiến ngược với đảng; trở thành những dư luận viên chỉ biết vì tiền mà bênh vực đảng và chế độ một cách ngang ngược, lố bịch và ngu xuẩn! Số dư luận viên này hiện lên tới 80.000. Mỗi tên được trả trung bình 3 triệu/ tháng, vị chi ngốn tiền thuế của dân mỗi tháng 240 tỷ, tương đương 12 triệu đôla! Xa hơn, nền giáo dục quái đản ấy đã sinh ra cả một thế hệ trí thức cận thần, trí nô ký sinh, mất hết nhân cách, dù mang đủ thứ học hàm học vị, đang ngồi trong Quốc hội, Tòa án, Quân đội, Công an, cơ quan công quyền và trường đại học… Chỉ vì chút bổng lộc hiện thời và sổ lương hưu tương lai, họ sẵn sàng ngăn chận sinh viên của mình biểu tình chống quân xâm lược, trâng tráo bênh vực sự lãnh đạo độc quyền và vĩnh viễn của đảng trên dân tộc đất nước, cổ vũ không biết ngượng cho lòng trung thành tuyệt đối của quân đội đối với cái đảng ác với dân và hèn với giặc, mải miết khẳng định đảng là sở hữu chủ duy nhất của mọi tài nguyên để cướp đất ruộng của dân cày, bênh vực mù quáng cho các dự án bauxite, nhà máy điện hạt nhân đầy tai hại, sẵn sàng nhận hối lộ và về phe với công tố dẫu mình là quan tòa, và nhắm mắt tuyên án nặng các nhà dân chủ theo chỉ thị từ trên mà chẳng chút vướng mắc lương tâm (như phiên tòa Uyên-Kha hôm nay chẳng hạn). Dĩ nhiên là đảng hài lòng về “thành quả giáo dục” này, bởi có như thế thì đảng mới yên tâm mà thống trị cả dân tộc. Một dân tộc khốn khổ đã bị đảng -sau khi làm tiêu tán hàng triệu sinh mạng, làm mất hàng vạn km2 đất liền biển đảo, làm lụn bại kinh tế, suy đồi văn hóa, ô nhiễm môi trường- thì nay bị làm cho bại hoại tinh thần, yếu nhược ý chí, không còn sức thoát ách độc tài, đương cự ngoại xâm, vươn lên tầm mức văn minh tiến bộ của nhân loại. May thay, hồn thiêng sông núi, khí phách dân tộc vẫn trường tồn và đang tác động lên biết bao tâm hồn tuổi trẻ. Nối tiếp bao vị anh hùng trẻ tuổi của đất nước, các thanh niên sinh viên đầy ý thức và nhiệt huyết, thông minh và can đảm đó đang là mối lắng lo đêm ngày, hãi sợ thường trực khiến đảng phẫn nộ ngút trời và trả thù tàn bạo. Nhưng đó cũng là niềm hy vọng và hãnh diện cho đất nước và dân tộc hôm nay lẫn mai sau. BAN BIÊN TẬP
Chí minh (từ Hán Việt) có nghĩa là rất sáng suốt. Oái oăm và mỉa mai thay, kẻ mang tên đó lại mở đầu cho một chuỗi dài mù quáng (đến tận hôm nay) nơi bản thân ông, đồng đảng ông và nơi một số thành phần trong Dân tộc. 1- Mù quáng vì cuồng tín Quả thế, năm 1920, sau khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, chàng thanh niên ít học Nguyễn Ái Quốc (tên mạo nhận của Nguyễn Tất Thành) đã hoàn toàn tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, nhất là vào đường lối dùng bạo lực để giành lấy độc lập cho dân tộc. Anh ta không biết rằng trước đó một năm, tại Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Hoa Kỳ Wilson đã đề xướng quyền Dân tộc Tự quyết và khuyến cáo các Đế quốc Tây Phương hãy từng bước trả tự trị và độc lập cho các nước Á Phi thuộc địa. Hưởng ứng khuyến cáo này, cũng trong năm 1919, Anh Quốc đã trả độc lập cho Canada và A Phú Hãn. Năm 1936, Pháp trao trả quyền tự trị cho Syria và Lebanon, Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây Phương Mỹ, Pháp, Anh, Hà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 nước thuộc địa và bảo hộ tại châu Á (trong đó có cả Việt Nam, qua hoàng đế Bảo Đại). Tháng 6-1923, đến Moskva theo học Đại học Lao động CS Phương đông, Nguyễn Ái Quốc được đào tạo chính quy về chủ nghĩa Marx, kỹ thuật tuyên truyền lẫn khởi nghĩa vũ trang, và trở nên thành viên Đệ tam Quốc tế. Kể từ đó cho đến năm 1954, tay gián điệp mạo danh “nhà cách mạng” này đã cùng với đồng đảng làm hao tổn xương máu của hàng vạn đồng bào và tài nguyên vô số của tổ quốc để trả cái giá “giành lại độc lập cho nước” (thực chất là giành lấy độc quyền cho đảng), đang khi các quốc gia lân bang cũng đã đạt được điều đó mà hoàn toàn “miễn phí”! Nhưng độc lập ấy (cho miền Bắc) chỉ là giả hiệu, vì Hồ Chí Minh ngay sau đó đã mù quáng tròng lên dân tộc hai cái ách khác: Nga cộng và Tàu cộng. Coi Stalin và Mao là những vị thầy bất khả ngộ, chủ nghĩa Mác-Lê là con đường tốt đẹp xây dựng đất nước, sự thống lĩnh tuyệt đối của đảng CS trên phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa là điều tối thượng, việc bành trướng chế độ xã hội chủ nghĩa cách mạng ra toàn thế giới là lý tưởng sống, Hồ Chí Minh đã tiếp tục mở ra những cuộc chiến đẫm máu khác nhắm vào Dân tộc: nào Cải cách ruộng đất giết nông gia giỏi và nhân sĩ uy tín, tàn phá đạo đức gia đình và cơ cấu làng xã, để cướp mọi tài nguyên vào tay đảng, buộc mọi nhân tâm quy về đảng; nào trấn áp hàng vạn trí thức, nghệ sĩ qua vụ “Nhân văn Giai phẩm” để chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao thống trị trong tâm trí giới tinh hoa của Dân tộc; nào “Giải phóng miền Nam” để chiến đấu cho LX và TQ, bành trướng chế độ CS xuống Đông Nam Á, với cái giá của hàng triệu binh lính lẫn đồng bào hai miền Bắc Nam và sự tan hoang của toàn thể đất nước. Đang khi những đồng chí của HCM ở Bắc Hàn và Đông Đức đã không dại gì “giải phóng”, gây tổn hại cho ruột thịt của họ tại nửa nước đang ở dưới “ách cai trị của tư bản chủ nghĩa”!! Sự mù quáng do cuồng tín vào chủ nghĩa CS, vào tình quốc tế vô sản, nhất là vào đàn anh Tàu cộng đó -từng biểu lộ qua việc ký công hàm bán nước năm 1958, việc im thin thít khi Hoàng Sa bị xâm lăng năm 1974, một phần Trường Sa bị chiếm đoạt năm 1988 (nghĩ rằng anh em giữ cho nhau và sẽ trả cho nhau)- vẫn còn tiếp tục đến hôm nay nơi hậu duệ của Hồ qua hai hiệp định nhường đất và biển cho Tàu cộng năm 1999 rồi 2000, qua việc tuân thủ triền miên khẩu hiệu “16 chữ vàng, 4 chữ tốt”, qua niềm xác tín “việc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại nước ta sẽ thuận lợi nhờ cận kề đại quốc xã hội chủ nghĩa” (lời Nguyễn Chí Vịnh)… đang khi kẻ thù truyền kiếp này chực chờ xâm chiếm Việt Nam tự ngoài biển và ngay trong lãnh thổ. 2- Mù quáng vì thù hận Chiếm được miền Nam xong, nơi người Cộng sản nổi rõ lên một sự mù quáng thứ hai, đó là mù quáng vì thù hận. Học đòi quan niệm cuộc sống là “đấu tranh sinh tồn” (một quan niệm ngu xuẩn và tai hại của Darwin -vì đúng ra là “tương trợ sinh tồn”), Lênin rồi các đồ đệ (trong đó có HCM) đã chủ trương chính trị là “đấu tranh giai cấp”, là phải chia thế giới thành hai phe sống mái: Tư bản và CS, là phải phân biệt loài người có hai hạng đối đầu: anh em bạn bè là hạng lụy phục chế độ CS và người dưng thù địch là hạng chống lại nó, dù họ đồng chủng. Thành ra sau biến cố tháng 4-1975, lòng thù hận CS được thả lỏng. Thật ra trước đó nó đã được buông cương tại miền Nam rồi, qua việc tàn sát các viên chức hành chánh, việc pháo kích các khu dân cư, gài mìn đường sắt đường bộ, nhất là qua cuộc thảm sát dân lành tết Mậu Thân 1968. Nhưng chính sau tháng 4 đen, người ta mới thấy thế nào là tâm địa của những kẻ tự vỗ ngực là “quân giải phóng”: cướp tài sản và đuổi khỏi nhà hàng vạn gia đình “ngụy quân ngụy quyền”, tập trung “cải tạo” gần một triệu quân cán chính VNCH bị chụp mũ là “có nợ máu với Cách mạng”, chặn đường học hành, tiến thân và sinh sống của thân nhân con cái họ. Lòng thù hận này còn tràn sang cả với người dân miền Nam vốn sung túc hơn, văn hóa hơn, nhờ đã có hơn 20 năm hưởng một chế độ tự do dân chủ dù còn non trẻ. Từ đó đã khiến hàng loạt người dân phải bỏ chạy khỏi quê hương mình, đến nỗi Uwe Siemon-Netto, một nhà báo người Đức từng hoạt động tại Việt Nam phải thốt lên: “Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ 1 triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn... Ðã có khoảng 164.000 thường dân miền Nam bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản thời kỳ 1954-1975" (trích bài viết: Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng). Nào đã hết đâu. Lòng thù hận CS nay trút lên thành phần mà họ gọi là "phản động". Hàng ngàn, thậm chí hàng vạn chiến sĩ của tự do nhân quyền, từ phong trào phục quốc thế kỷ trước đến phong trào tranh đấu thế kỷ nay, những tinh hoa thật sự của đất nước, đang cùng với gia đình họ (tới tận con cháu) là đối tượng của những biện pháp trả thù đê hèn và tàn bạo như sách nhiễu cuộc sống, phong tỏa kinh tế, bôi nhọ thanh danh, hành hung thân thể và giam cầm tống ngục. Các tôn giáo cũng không nằm ngoài tầm ngắm của cái chế độ vô thần, vốn luôn căm ghét những thực thể cao cả linh thiêng và thù hận những thế lực tinh thần dám vạch trần những sai lầm và tội ác của nó. Ngày trước chuyên dùng bạo lực vũ khí, nay nó sử dụng bạo lực hành chánh (Pháp lệnh và Nghị định về tôn giáo) để làm cái rọ nhốt các GH, hầu nó mặc sức tung hoành. Lòng thù hận mù quáng đó tựu trung chỉ làm tiêu hao sinh lực của giống nòi và đe dọa sinh mệnh của Tổ quốc. Nhưng CS làm gì có Tổ quốc VN! Họ chỉ có Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thôi! 3- Mù quáng vì tham lam Ở đây phải nói là tham quyền và tham tiền. Tham quyền đương nhiên nằm trong máu di truyền của CS, bởi lẽ đó là một chế độ độc tài, độc tôn, độc đảng. Từ năm 1917 (cách mạng Nga) đến nay, có khi nào CS chia quyền, nhường ghế cho ai đâu, trừ khi bị dồn vào chân tường hay bị hất khỏi ngai vàng thống trị (như các năm 1989-1991 bên Liên Xô và Đông Âu). Bị mọi tầng lớp nhân dân VN ngày càng đứng lên chất vấn và thậm chí đe dọa quyền lực độc tôn của mình, ngoài việc trấn áp thô bạo các cá nhân, tổ chức và phong trào đấu tranh, nay CS muốn chính danh hóa, hiến pháp hóa, luật lệ hóa mãi mãi sự thống trị của mình (qua điều 4 về đảng duy nhất lãnh đạo, điều 70 về quân đội tuyệt đối trung thành với đảng...). Cuộc lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang tiến hành thực chất chỉ là một cuộc cưỡng bức toàn dân đồng thuận với cái Cương lĩnh đó của đảng. Qua đủ thứ trò gian manh và lố bịch, hao sức và tốn thuế: nào là mạ lỵ hăm dọa mọi công dân đấu tranh đòi biên soạn một Hiến pháp mới (Nhóm trí thức 72, Các Công dân tự do, Hội đồng Giám mục, các Giáo hội Tin lành, Phật giáo, Hòa hảo...) qua báo đài công cụ, dư luận viên chó săn, cán bộ đảng viên đầy tớ, trí nô ký sinh trong các học viện và đại học... nào là đem cái đảng pháp (tức HP giả hiệu) tới tận từng hộ dân bắt ký đồng thuận với lời hăm dọa.... nào là khước từ đăng trên phương tiện thông tin đại chúng các ý kiến bất đồng với đảng... nào là nói khống có tới 40-50 triệu ý kiến đồng thuận với HP của Quốc hội. Việc tham tiền của thì nhân dân đã thấy ngay từ Cải cách Ruộng đất thu điền thổ vào tay đảng, rồi sau cuộc "chiến thắng" tháng 4-1975 với hiện tượng "vào vội vã vơ vét về". Lòng tham lam vô độ này còn bộc lộ từ sau năm 1985, lúc đảng mở cửa kinh tế, cho đảng viên, công an, quân đội được phép làm giàu (với quyền thế trong tay lẫn ưu thế nhờ đảng, ba hạng này đã phất lên nhanh chóng, lấn lướt đè bẹp mọi doanh nghiệp tư). Với luật đất đai 1993 tước mọi ruộng đất khỏi tay toàn dân để đảng trở thành địa chủ độc nhất, lòng tham này lại bùng phát hơn nữa. Mới đây, hôm 24-04, cái gọi là "Hội nghị tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội VN về dự án sửa Luật Đất đai" vẫn kết luận cần duy trì chế độ ‘sở hữu toàn dân’ do Nhà nước làm đại diện và chủ động quyết định cách dùng quỹ đất. Đám gia nô mù quáng này đúng là đã làm theo ý đảng bày tỏ trong Dự thảo HP điều 57. Chính sách quản lý thị trường vàng hiện giờ (bị chỉ trích sau bài báo của Thanh Niên) và dư luận về một cuộc đổi tiền sắp tới (vì siêu lạm phát, vì nguy cơ vỡ nợ của ngân hàng, vì ngân hàng đang có nợ xấu cực khủng) chỉ bộc lộ thêm lòng tham lam vô độ của đảng. Mù quáng vì cuồng tín chủ nghĩa, vì thù hận đối nghịch, vì tham quyền hám của, đó chính là bản chất bất biến, căn bệnh khó lành của CS. Đó cũng là v/đ khôn giải của đất nước nếu chủ nghĩa và chế độ CS không bị loại khỏi lịch sử loài người và lịch sử dân tộc. BAN BIÊN TẬP
Theo Từ Điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, “Côn đồ” có hai nghĩa: 1- Kẻ chuyên gây sự, hành hung; 2- Có những hành động ngang ngược, thô bạo. Trong khi đó, theo tác giả “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự” thì “côn đồ là người đã coi thường những quy tắc trong cuộc sống, có những hành vi ngang ngược, càn quấy, bất chấp sự can ngăn của người khác, chỉ vì những nguyên cớ nhỏ nhặt nhưng cũng cố tình gây sự…”. (xem http://phapluattp.vn). Như thế, việc gây sự hành hung cách ngang ngược, thô bạo, càn quấy với kẻ khác, bất chấp các nguyên tắc ứng xử văn minh nhân bản trong cuộc sống, có thể được thể hiện qua lời nói, hành vi bất chợt của một cá nhân, một nhóm người bình thường. Thế nhưng, tính chất hay hành động côn đồ cũng có thể xuất phát thường xuyên từ một nhóm người đang nắm quyền lực trong xã hội qua những biện pháp và chính sách/đường lối bạo lực bất chấp công lý và luật pháp chân thực. Cuộc tiến hóa tinh thần của nhân loại về hướng chân thiện mỹ đã đạt đến một đỉnh cao ở thế kỷ thứ 20 với việc xuất hiện cơ quan Liên hiệp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và hai Công ước hoàn vũ về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong tổ chức và các văn kiện này, lòng tôn trọng nhân phẩm và sự thật, sự cổ vũ cho công lý và hòa bình, việc xây đắp tự do và dân chủ, việc hình thành các chế độ cai trị do sự đồng thuận của quốc dân… là những giá trị được đề cao xưng tụng. Thế nhưng, cũng chính trong thế kỷ thứ 20, chủ nghĩa, chế độ và chính đảng Cộng sản đã bẻ ngược dòng tiến hóa, khi công khai và chính thức chủ trương cướp chính quyền bằng vũ khí, dùng độc tài bạo lực (mà họ tô vẽ thành “bạo lực cách mạng”, “độc tài vô sản”) để cai trị xã hội, và coi “cứu cánh biện minh cho phương tiện” (nghĩa là sẵn sàng chà đạp sự thật và lẽ phải, luật pháp và tình thương, nhân phẩm và sinh mạng) như nguyên tắc hành xử. Từ đó nhân loại đã chứng kiến bao chế độ khủng bố, chế độ côn đồ ra đời. Thí dụ đầu tiên là Lênin ở Nga. Trong cuốn “Hắc thư về chủ nghĩa Cộng sản”, đồng tác giả Nicolas Werth cho biết chỉ trong 2 tháng năm 1918, số nạn nhân bị giết của tân chế độ Lênin là từ 10,000 đến 15,000 người. Đây là những kẻ bất phục tùng mà chính Lênin đã chỉ thị phải trừng phạt, nhờ tay công an mật vụ lẫn côn đồ du đãng. Số người bị giết ở mức ước lượng tối thiểu trong chỉ 2 tháng dưới chế độ Lênin như thế đã gấp 10 lần số nạn nhân của chế độ Nga hoàng trọn năm 1906 là năm đàn áp dữ dội nhất. Theo tác giả Werth, trong gần một thế kỷ dưới chế độ Nga hoàng kể từ 1825 đến 1917, tổng số người bị giết chỉ có 6,321 nạn nhân. Sang đến Trung Hoa, theo chứng từ của 46 ông già lịch sử ở hai thành phố Thành Đô và Trùng Khánh, “trong 30 năm đầu cầm quyền của Đảng CS từ 1949 đến 1978, các cuộc “đấu tranh giai cấp” và “vận động chính trị” do Mao Trạch Đông phát động cứ đợt sau lại tàn khốc hơn đợt trước, khiến Trung Quốc đại lục phải trải qua mối đại họa chưa từng có, trở thành một “địa ngục trần gian”… Hầu như các giới tinh anh không sót một ai đều lần lượt bị đánh, phê và làm nhục, thậm chí còn phải xa lìa vợ con, gia đình chết chóc tan nát. Trong vòng 30 năm, MTĐ đã tạo ra 8,3 triệu oan hồn, 30 triệu án oan, hơn 300 triệu người bị đấu tố”. Đặc biệt từ năm 1966-1976, kẻ suốt đời đầy những thủ đoạn ứng biến, rất biết cách huy động bản năng xấu xa tàn ác nơi con người này đã phát động cuộc “Cách mạng văn hóa” giết hàng triệu nhân mạng, xóa sạch văn minh nhân loại, chủ yếu nhờ bàn tay của lũ tiểu yêu côn đồ mang tên Hồng vệ binh! Xứng danh học trò của hai tên đồ tể số một trên đây, Hồ Chí Minh đã phát động cuộc Cải cách ruộng đất long trời lở đất vì sự tàn ác. Cũng nhờ bàn tay của đám côn đồ trong các đội cải cách, những tên đầy tớ vô lại, du thủ du thực, cặn bã xã hội được đặt làm thẩm phán và công tố trong các tòa án nhân dân, HCM một mặt đã giết trực tiếp và gián tiếp nửa triệu đồng bào miền Bắc, một mặt cướp toàn bộ ruộng đất vào tay cộng đảng, mặt khác đã hoàn toàn phá sạch đạo đức gia phong, cơ cấu làng xã vốn đã giữ gìn xã hội VN -nhất là thôn quê- sống trong trật tự, an bình, nhân nghĩa cả ngàn năm trước đó. Từ đấy, cách ứng xử tàn ác gian manh đã nhiễm độc toàn xã hội, và quan trọng hơn, cách hành xử côn đồ vô học đã trở thành một bản năng nơi những kẻ có quyền dù lớn dù nhỏ trong chế độ. Tình trạng thê thảm này càng gia tăng mấy thập niên gần đây, một là sau khi nhà nước mở cửa kinh tế, đảng viên được quyền kinh doanh, công an quân đội được phép làm giàu, và cán bộ địa phương được phép “thu hồi” (thực chất là cướp đoạt) ruộng vườn nhà cửa của người dân theo nguyên tắc “đất đai là sở hữu của nhà nước”; hai là sau khi mọi tầng lớp xã hội lần lượt đứng lên vì không chịu nổi ách cai trị độc tài của hàng lãnh đạo, thói tham lam bóc lột của cán bộ chức quyền, lối hành xử côn đồ vô học của nhân viên công lực, kiểu tuyên truyền gian dối của các phương tiện truyền thông lề đảng, đà xuống dốc của một nền giáo dục chỉ gây ra băng hoại vì dung dưỡng (nếu không muốn nói cổ vũ) bạo hành và gian dối, ngu dân và nô dịch. Tất cả đã và đang đe dọa sự thống trị của đảng, và do đó, cũng khiến gia tăng tính chất côn đồ của chế độ, nghĩa là thói ngang ngược bạo hành, coi thường lẽ phải và sự thật, chà đạp lương tri và luật pháp, sẵn sàng gây sự hay đàn áp nơi những người đang bảo vệ chế độ hay được hưởng lợi từ chế độ. Trước hết, chúng ta thấy có những chính khách côn đồ. Đó là những kẻ từng thóa mạ các dân oan khiếu kiện tập thể, các đồng bào biểu tình yêu nước, các công dân đòi đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, quốc gia hóa quân đội như những con người “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” và ra lệnh cho tay chân phải xử lý thật mạnh. Đó là những kẻ từng cao giọng lên án những ai góp ý về Hiến pháp sửa đổi ngoài ý đảng là truyền bá những quan điểm sai trái, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân vào nhà nước và chế độ, rồi ra lệnh cho công an quân đội phải đấu tranh, ngăn chặn. Đó là những kẻ ra công lệnh xài cả ngàn tỷ tiền thuế của nhân dân để huy động cả đạo quân hàng vạn tuyên vận hùng hậu, đem hàng triệu bản “đảng pháp” tới từng gia đình khắp cả nước, buộc ký đồng ý với lời hăm dọa; hoặc để thành lập đội binh dư luận viên hưởng tiền lương hậu hĩ để chỉ làm mỗi việc lên internet theo dõi công dân mạng, binh vực lếu láo và dối trá cho đảng, chỉ điểm để bắt những bloggers dân chủ can trường. Thứ đến là những công an côn đồ. Hạng này thì đã nổi tiếng từ ngày một tay côn đồ lên làm bộ trưởng CA lâu năm là Trần Quốc Hoàn (kẻ đã dám cưỡng hiếp rồi giết chết người tình của Hồ Chí Minh). Đình đám hiện nay là “vị” đại tá từng dẫn 100 cán bộ, công an, bộ đội vũ trang đầy mình đến cướp đoạt đất, bắn phá nhà anh Đoàn Văn Vươn cách đây hơn một năm, rồi tuyên bố đó là trận đánh đẹp, nay lại ung dung an toàn. Rồi cả đám công an giao thông giết người đi đường chỉ vì không đội mũ bảo hiểm, dám cự cãi nhân viên công lực. Đám công an bảo vệ tòa án thì bịt miệng khóa tay bị cáo, hành hung nhân dân tham dự và nhà báo lấy tin, giựt điện thoại máy ảnh, thậm chí đuổi cả người vừa bị chúng đánh trọng thương gần tòa ra khỏi bệnh viện. Đám công an canh gác các nhà đối kháng thì ném chất thối vào nhà họ, chặn khách thăm viếng họ, xông vào cướp máy móc của họ, truy bức họ đến đời con đời cháu. Đám công an phục vụ cán bộ, đại gia cướp đất thì đánh vỡ mặt dân lành, dày xéo mồ mả tổ tiên họ, cày nát ruộng vườn họ, và rồi đây có thể sẽ được quyền bắn họ với lý cớ “chống người thi hành công vụ”. Đám công an canh giữ các tù nhân lương tâm thì tha hồ bóc lột tí tiền còm gởi thăm nuôi họ, đánh họ đến thương tật trong tù, bức bách họ phải nhận tội, thậm chí dùng cả bệnh viện để hành hạ họ nữa…. Tiếp nữa là những trí thức côn đồ (loại “trí nô ký sinh” với nhiều bằng cấp, học vị, lon lá theo cách nói của Bs Ngọc). Tay của đám này thường vấy mực nhưng cũng có khi vấy máu (những tên từng giết các chiến sĩ quốc gia, tín đồ Hòa Hảo thời “Cách mạng tháng 8”, giết các trí thức chân chính thời “Nhân văn Giai phẩm”, giết các đồng bào vô tội thời Mậu Thân…). Đầu của đám này có khi đẻ ra tác phẩm, nhưng cũng có khi đẻ ra những luận điệu bênh vực cường quyền, ác đảng thối không chịu được. Nào là “Đảng với nhân dân, với nhà nước là thống nhất. Phủ nhận vai trò của Đảng tức là phủ nhận vai trò của nhân dân, phủ nhận ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phương hại đến nền độc lập tự do của Tổ quốc, phương hại đến quyền sống, quyền tự do hạnh phúc của nhân dân. Vì bảo vệ dân mà phải bảo vệ Đảng. Vì bảo vệ dân mà phải hiến định điều 4”. Nào là “Đảng có đầy đủ phẩm chất đạo đức xứng đáng làm lực lượng cầm quyền thông qua đánh giá của nhân dân và lịch sử. Sự tồn tại của Đảng là sự tồn tại hợp hiến, hợp pháp…”. Nào là “Quân đội ta là một quân đội kiểu mới trong lịch sử nhân loại, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do đảng Cộng sản lãnh đạo”. Cũng xếp vào loại trí thức côn đồ này là những thẩm phán và công tố trong các phiên tòa chính trị, chỉ biết chặn họng bị cáo, bịt miệng luật sư, xem nhẹ tranh luận, coi thường luật pháp và mù quáng tuyên án theo chỉ thị, bất chấp nỗi oan khiên đau khổ của dân lành và sự tác hại trên công lý của toàn xã hội. Còn nữa, phải kể đến một hạng côn đồ khác mà có lẽ chỉ chế độ CS mới có, đó là nhà giáo côn đồ. Đây là sự mâu thuẫn đến cùng cực, nhưng lại quá nhan nhản sau mấy mươi năm “trồng người của đảng. Lừng danh trước hết là một hiệu trưởng tại Hà Giang từng bắt học sinh hành dâm với mình và bán dâm cho quan chức, rồi để cho các em phải vào lao ngục. Gần đây hơn là những thầy giáo chơi trò “đổi tình lấy điểm”, giao nộp học sinh cho công an thẩm vấn, những cô mẫu giáo lấy băng keo dán miệng trẻ thơ, đánh phạt thô bạo và oan ức khiến học sinh phải tự sát, như tại Lý Nhân Hà Nam, Cẩm Xuyên Hà Tĩnh … “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Tấm gương những hạng có quyền trong xã hội nói trên đang làm cho đất nước ngày càng đầy rẫy hạng côn đồ và cung cách côn đồ, khiến toàn thể cuộc sống người dân ra điêu đứng, pháp luật bị coi thường, các mối quan hệ công dân thành căng thẳng và an ninh xã hội bị vỡ nát. Tội này thuộc về ai? (Hỏi là trả lời rồi vậy!!!) BAN BIÊN TẬP
Vụ án của thế kỷ 21 (mà đối ảnh của nó là vụ án của thế kỷ 20 ở Nọc Nạn năm 1928) đã kết thúc hôm nay (05-04-2013)* theo đó ông Đoàn Văn Vươn (SN 1963) bị tuyên phạt 5 năm tù, Đoàn Văn Quý (1966): 5 năm tù, Đoàn Văn Sịnh (SN 1957): 3 năm 6 tháng tù; Đoàn Văn Vệ (SN 1974): 2 năm tù về tội “giết người” theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 93 Bộ luật Hình sự. Hai bị cáo Phạm Thị Báu (SN 1982, vợ Đoàn Văn Quý) bị 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng và Nguyễn Thị Thương (SN 1970, vợ Đoàn Văn Vươn) bị 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội “chống người thi hành công vụ” quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 257 Bộ luật Hình sự. Suốt 15 tháng trời kể từ ngày họ bị bắt giam hoặc quản chế (từ 05-01-2012), mọi tầng lớp nhân dân quốc nội (trong đó có cả một số quan chức), đồng bào hải ngoại, người Việt lẫn người ngoại quốc, đều đã chăm chú theo dõi vụ việc tại cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng này. Hầu hết đều bênh vực cho các bị can nói trên, coi họ như những nạn nhân vô tội của một vụ cưỡng chiếm đất đai tài sản do nhà cầm quyền địa phương thực hiện. Ai cũng tưởng sau khi sự thật đã bị phơi bày trên hàng trăm tờ báo, hàng ngàn trang mạng, hàng vạn bài biết, công lý sẽ được thực thi và các nông dân được hoàn trả tự do, tài sản lẫn danh dự. Thế nhưng công luận đã hết sức bàng hoàng phẫn nộ khi ngày 04-01-2013, Viện Kiểm sát thành phố Hải Phòng đã ra một bản cáo trạng nặng nề truy tố anh em nhà ông Vươn, một bản cáo trạng không có những nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, không làm rõ những chứng cứ quy kết, chẳng lột tả được bản chất sự việc, nghĩa là nói lấy nói được theo cung cách xưa rày của Cộng sản! Tiếp đó, ngày 18-03-2013, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định đưa họ ra xét xử với các tội danh nói trên. Theo các chuyên viên luật, phiên tòa xét xử anh em Đoàn Văn Vươn trong 3 ngày qua đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trước nhất là Điều 10: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.” Đến Điều 18: “Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định.” Rồi Điều 218: “Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến…”. Quả thế, theo Facebook của ông Trần Đình Triển, một trong những luật sư biện hộ: “Đa số các bị cáo đều tố cáo trong giai đoạn điều tra, họ đã bị đánh đập, bức cung, mớm cung, dụ cung. Có nhiều trường hợp đưa giấy trắng ép bị cáo ký khống vào… Nội dung cơ bản chưa cần xác định theo cáo trạng đúng hay sai về người bị hại và người làm chứng, nhưng nóng lên tại phiên tòa chính là việc Hội đồng Xét xử và Viện Kiểm sát hỏi theo hướng buộc tội hoặc mang tính chất để buộc tội. Đến phần luật sư thẩm vấn thì đa số bị Chủ tọa phiên tòa dùng quyền uy để cắt hoặc dừng câu hỏi, tạo nên không khí căng thẳng tại phiên tòa không đáng có. Chủ tọa thì cho rằng mình có quyền cắt hoặc dừng theo ý mình. Luật sư thì cho rằng: Chủ tọa có quyền nhưng phải trên cơ sở pháp luật được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự…”. Có lúc quan tòa lại đóng vai công tố nữa, một điều hết sức quái đản đối với pháp chế của nhân loại văn minh! Sau mấy ngày xét xử, vụ án Đoàn Văn Vươn lại lộ ra nhiều tình tiết mới, ví dụ như không phải anh em nhà họ Đoàn nổ súng trước, anh Vươn đã chỉ đạo em trai mình là Đoàn Văn Quý chọn loại đạn 2,53mm thay vì đạn 5,5mm để tránh gây chết người… Rồi cả phòng xử giật mình khi anh Đoàn Văn Vệ khai trong quá trình thẩm vấn, có một điều tra viên đưa điện thoại để anh gọi về bảo vợ đưa tiền bạc cho tay này. Lần đầu 20 triệu, lần sau 10 triệu, vì điều tra viên hứa sẽ lo cho anh thoát tội. Nhưng sau đó không thấy kết quả (vì vẫn tiếp tục bị giam giữ), nên anh Vệ đã đề nghị thay đổi điều tra viên nhưng chẳng được đáp ứng… Bên ngoài phòng xử, thì như mọi phiên tòa chính trị mấy năm nay, tuy luôn được tuyên bố là công khai, nhưng người dân và bạn bè, thậm chí thân nhân các bị cáo đều bị ngăn chặn từ xa, rào chắn dựng cách tòa án cả trăm mét, sóng điện thoại bị phá cả vùng. Công an sắc phục lẫn thường phục dày đặc, côn đồ thì lúc nhúc, nhiều gấp mấy lần số dân đến tham dự. Bọn này chỉ làm có mỗi một việc là xô đẩy, đánh đập, giật biểu ngữ, cướp điện thoại và máy chụp ảnh, bị nhân dân chất vấn cho ra lẽ vẫn không thèm trả lời. Một số blogger nổi tiếng đến lấy tin tức và ủng hộ nạn nhân của pháp luật đã bị hành hung, có người trọng thương phải vào bệnh viện nhưng ngay sau đó cũng bị tống ra ngoài, có người bị áp tải lên Hà Nội như kẻ tội phạm… Rốt cuộc sau 3 ngày, bất chấp lời kêu gọi mãnh liệt của công luận, đến từ nhiều chuyên viên pháp luật, nhiều nhân sĩ trí thức, nhiều chức sắc tôn giáo hoặc từ nhiều dân oan đồng cảnh ngộ, các ông Phạm Đức Tuyên –Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Hải Phòng, chủ tọa phiên tòa, Trần Mạnh Hùng – Thẩm phán, Bùi Đăng Dung và Nguyễn Thanh Bình – Kiểm sát viên giữ quyền công tố, cùng Hội thẩm nhân dân -với lối xét xử coi thường lương tri và luật pháp- đã biến các nạn nhân thành tội phạm với những bản án bất công nặng nề. Dẫu có chút kiến thức, nhóm “cầm cân công lý” ấy đã tỏ ra hoàn toàn vô tư cách! Thay vì can đảm thực hiện đúng vai trò xét xử cao quý của mình cách khách quan và độc lập, họ đã tối mặt làm theo lệnh trên, cụ thể là từ Bộ chính trị CS. Những kẻ đó -y như đám thẩm phán tại mấy phiên tòa xét xử các chiến sĩ nhân quyền Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải- là nỗi nhục khôn cùng cho nền công lý của Việt Nam và cả nhân loại! So với vụ án Nọc Nạn gần 100 năm trước, thì quả thật Thực dân Pháp còn có ý thức tôn trọng công lý và công luận hơn nhiều, mặc dầu họ là những kẻ thống trị ngoại chủng. Chưa kể là qua gần 80 năm cai trị, “bọn Thực dân tàn ác” đó còn làm nhiều điều hữu ích cho đất Việt và giết sinh mạng của người Việt ít hơn những kẻ cùng bọc trứng mẹ Âu Cơ, cùng da vàng máu đỏ nhưng đã bị mù quáng vì chủ nghĩa Mác Lê phi nhân bản phản dân tộc! • Nguyên nhân của vụ án, phiên tòa và những bản án đang làm cho toàn dân và quốc tế công phẫn như thế, đó chính là vì nó động tới Cộng sản Việt Nam, một đảng cầm quyền và một nhà cầm quyền độc tài độc đoán, không do dân bầu, chẳng được dân chọn, chuyên thao túng quốc hội lẫn tòa án, độc dụng công an lẫn quân đội, tự tạo Hiến pháp, bày ra luật pháp chỉ có lợi cho riêng bè đảng, phe nhóm và hoàn toàn thẳng tay đàn áp tất cả những ai động tới ngai vàng và túi bạc của họ. Cụ thể là họ đã bày ra Luật Đất đai hết sức bất công phi lý, với lối khẳng định kiểu mị dân lừa bịp: “đất đai thuộc về toàn dân” rồi kiểu độc chiếm trắng trợn: “…do nhà nước đại diện sở hữu”, để biến mình thành ông chủ độc nhất của mọi tài nguyên đất Việt! Hơn 20 năm qua, bộ luật với nguyên tắc quái đản đó đã khiến cho hàng triệu nông dân bị tước đoạt ruộng vườn, lâm vào cảnh dở sống dở chết, lếch thếch kiện tụng vô vọng từ địa phương tới trung ương, từ đời ông đến đời cháu, thậm chí nhiều người còn bị hành hung, bức tử và tống ngục, hay bị đẩy đến đường cùng phải phản ứng như anh em nhà Đoàn Văn Vươn. Trong khi đó thì đảng viên và cán bộ ngày càng trở thành địa chủ đỏ, tư bản đỏ, bóc lột dân lành thì tài, hưởng thụ của cướp thì giỏi, điều hành kinh tế thì ngu, quản lý quốc gia thì tệ, khiến đất nước rơi vào cảnh xáo trộn xã hội, bất ổn chính trị, suy sụp mức sống của toàn dân. Những cảnh tượng tang thương đau lòng đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên đất nước như Văn Giang, Kiên Giang, Phước Long, Thủ Thiêm, Vụ Bản, Dương Nội… tại các vườn hoa công cộng lẫn trước các cơ quan công quyền, nơi hàng vạn vạn dân lành ngang nhiên bị tước đoạt nguồn sống, tước đoạt tương lai và bị tước đoạt cả quyền lên tiếng, quyền kêu khổ… • Nền tảng cho tất cả chính sách cai trị độc đoán, bóc lột trắng trợn và chà đạp công lý đó chính là bản “Hiến pháp” mà Cộng sản đang đưa ra cho toàn dân để gọi là “lấy ý kiến” từ đầu năm nay, với một vài thay đổi râu ria sau khi đã ngồi trên nó 20 năm và nay không thấy êm nữa. Đọc kỹ “Dự thảo sửa đổi” này, ai cũng thấy đó vẫn là thứ “cương lĩnh của đảng” (lời mở đầu), vẫn tiếp tục khẳng định đảng là “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” (điều 4), không chịu quyền kiểm soát từ bất cứ chỗ nào và không chịu nhường quyền cai trị cho bất cứ ai, vẫn tiếp tục duy trì nguyên tắc sai trái đã từ lâu đem cho đảng nói chung và đảng viên nói riêng biết bao quyền lực lẫn của cải: “Đất đai tài nguyên quốc gia thuộc sở hữu toàn dân cho Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (điều 57). Rồi để bảo vệ độc quyền chính trị và độc hữu tài nguyên này (chưa kể độc tôn văn hóa qua việc áp đặt chủ thuyết Mác-Lê), Hiến pháp dự thảo sửa đổi lại ngang nhiên tuyên bố (điều chưa từng có trong các bản HP trước) là: “Lực lượng vũ trang nhân dân [tức công an, quân đội, dân phòng…] phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam” trước cả Tổ quốc và nhân dân, “có nhiệm vụ bảo vệ Đảng và Nhà nước” trước cả đồng bào và dân tộc (điều 70). Chưa hết, như để củng cố quyền lực của chính đảng và quyền hành của công cụ đảng, mới đây lại còn có dự thảo bộ Công an đề xuất cho bắn kẻ bị coi là “chống cán bộ thi hành công vụ”! Viết lên những điều như thế, phải chăng đảng và nhà cầm quyền CSVN muốn hợp pháp hóa những gì họ đã làm trong quá khứ, đặc biệt qua vụ Tiên Lãng, và sẽ làm trong các vụ Tiên Lãng tương lai mà họ dự đoán sẽ ngày càng có cơ bùng nổ sau khi tân Hiến pháp và tân Luật đất đai được “đổi mới như cũ” với nhiều tiềm năng tai hại cho đất nước và dân tộc? Thành ra, để trừ hậu họa này, toàn dân Việt Nam, ngoài chuyện “biểu tình trên mạng” qua việc ký vào các bản kiến nghị, các lời tuyên bố, còn phải “biểu tình trên đường” hàng ngàn, hàng vạn, hàng ức, hàng triệu người để bày tỏ ý chí và sức mạnh của toàn dân. Ý chí và sức mạnh đập tan áp bức độc tài, đòi hỏi công lý sự thật, xây dựng tự do dân chủ! BAN BIÊN TẬP
“Vừa rồi đã có các luồng ý kiến có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn tam quyền phân lập không? Muốn phi chính trị hóa quân đội không? Như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!... Ở đâu nữa nào?… Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể… Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này !” Những lời ấy, phát xuất từ nhân vật cao cấp nhất của đảng CS, thốt ra nhân một sinh hoạt chính trị quan trọng nhất của đất nước, nhắm vào tập thể rộng lớn nhất của Dân tộc (hàng chục triệu con người đang đòi đất đai tài sản và đòi tự do dân chủ) quả là đáng khắc vào bia miệng ngàn năm và ghi… vào hồ sơ công lý! Nói ra từ một đầu óc từng nổi tiếng với 4 kiên định: kiên định học thuyết Mác-Lê, kiên định chủ nghĩa xã hội, kiên định chế độ độc đảng, kiên định kinh tế quốc doanh chủ đạo, và nay là với 4 “đại” không: không bỏ điều 4, không đa nguyên đa đảng, không tam quyền phân lập, không để quân đội thoát khỏi bàn tay đảng, đó chỉ có thể gọi là một lời tuyên chiến long trọng với nhân dân (chưa kể là một lời xấc láo hỗn xược và lú khờ ngu xuẩn của một tên đầy tớ năng tự xưng như thế nhưng luôn tự coi mình là ông chủ). Người dân chưa kịp tức vì không ngờ bị đảng CS mà Nguyễn Phú Trọng là đại diện tỏ ra khinh thường và xúc phạm đến mức độ ấy (tha thiết mời người ta góp ý, nhưng khi người ta nói ngược ý mình thì mạt sát lại còn đe dọa), cũng như chưa kịp mừng vì những phát biểu ấy đã làm cho cả thế giới thấy được cái bộ mặt hết sức trâng tráo và gian manh của cộng đảng, cái trí tuệ và tư cách hết sức thấp kém đê hèn của lãnh đạo chế độ, cái nghị quyết “lấy ý” hết sức bịp bợm và vụng về của Quốc hội. Thì chỉ hơn tuần sau, ngày 06-03, Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc hội gia nô, đã ra một công thư khẩn, gởi đến mọi cấp ủy cộng đảng, mọi cơ quan, mọi tổ chức, mọi địa phương, để tiếp tục “chỉ đạo sát sao” (nghĩa là lèo lái, ép buộc) việc nhân dân góp ý cho Dự thảo HP của đảng. Sau khi cao giọng lên án: “Ở một vài địa phương đã phát hiện có một số cá nhân lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi HP để truyền bá những quan điểm sai trái, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta” , Nguyễn Sinh Hùng lớn tiếng đe dọa phải đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng cơ hội như vậy để “chống phá” các định chế “cao quý” của ông ta! Được viết sau Kiến nghị 7 điểm rất chí lý và Dự thảo Hiến pháp mang tính dân chủ của 72 trí thức nhân sĩ ngày 19-01, sau Lời Tuyên bố đầy khẳng khái của các Công dân tự do ngày 28-02, sau Thư nhận định và góp ý hết sức xác đáng lẫn mạnh mẽ của Hội đồng Giám mục VN ngày 01-03 (cả 3 văn kiện phản bác toàn bộ Dự thảo của CS này lại kéo theo hàng chục ngàn chữ ký ủng hộ), công thư khẩn của Nguyễn Sinh Hùng cũng chỉ vang vọng và củng cố lời tuyên chiến của đảng đối với nhân dân mà nay trước mắt CS chỉ là những kẻ thù nguy hiểm! • Chính vì thế mà quân đội và công an, hai lực lượng chiến đấu, vốn có bổn phận “tuyệt đối trung thành với đảng trước cả Tổ quốc nhân dân và phải bảo vệ đảng trước cả nhân dân và Tổ quốc” (Điều 70 Dự thảo HP sửa đổi) được lập tức lôi vào cuộc, như Nguyễn Phú Trọng đã ra lệnh ngày 28-12-2012: “Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương phải… đấu tranh, ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng”. Người ta nhận thấy hầu hết các bài viết phản bác việc bỏ Điều 4 HP, thừa nhận đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không cần thông qua bầu cử, khẳng định quân đội phải là của đảng, trung thành tuyệt đối với đảng… đều xuất phát từ Quân đội và Công an. Lực lượng thứ ba, Ban Tuyên giáo Trung ương, vốn có trách nhiệm giữ vững tư tưởng cán bộ đảng viên, cũng có một số bài viết bảo vệ “quyền lãnh đạo tuyệt đối và đương nhiên” của đảng, nhưng giọng điệu ít hung hăng và giáo điều hơn hai lực lượng vũ trang này. Thử điểm qua vài khuôn mặt. Trước hết có lẽ là Trung tướng “Phó Giáo sư-Tiến sĩ” Nguyễn Tiến Bình, nguyên chính ủy Học viện quốc phòng. Ngay từ 20-04-2011, ông ta đã viết trên báo QĐND (chắc để dọn đường cho đàn em) rằng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng, các thế lực thù địch đã tăng cường những âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tập trung bài xích cơ chế lãnh đạo của đảng đối với quân đội, hạ thấp vai trò của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy, công tác chính trị trong quân đội, ra sức truyền bá quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội”. Mới đây, ngày 13-03-2013, ông ta còn nói: “Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND đã chứng minh và khẳng định vấn đề có tính quy luật: phải luôn coi trọng hàng đầu việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị” vì “sức mạnh chính trị là đặc trưng bản chất và là ưu thế vượt trội trong sức mạnh của quân đội ta, một quân đội kiểu mới trong lịch sử nhân loại, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do đảng Cộng sản lãnh đạo” . Bản chất chính trị của quân đội kiểu mới này thể hiện ở “sự trung thành tuyệt đối với Đảng, ở nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội” (CAND 14-03-2013) Tiếp đến là Đại tá, Phó Giáo sư Nguyễn Bình Ban, quyền Viện trưởng Viện Lịch sử Công an. Ông ta viết: “Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, chống xâm lược thống nhất đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng ta đã được cả dân tộc thừa nhận và tuân theo” . Đoạn ông hô hào : “Chúng ta kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch và cơ hội, xét lại, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hoặc chỉ thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc, đòi Đảng trả lại quyền lực cho nhân dân khi kết thúc thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Thực chất là đòi hạ bệ, tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chống lại xu thế phát triển của cách mạng VN là tiến lên Chủ nghĩa Xã hội…” (CAND 23-02-2013). Rõ ràng những tướng lãnh này chỉ biết nói lấy nói được, bất chấp thực tế là quân đội đã phải hy sinh xương máu hết sức to lớn (do chiến thuật thí người của CS) để xây ngai vàng cho đảng và tạo hố khốn cùng cho dân tộc; bất chấp thực tế là công an luôn được đảng xử dụng như công cụ mù quáng để khủng bố tinh thần, cướp bóc tài sản, đày đọa cuộc sống của đồng bào ngõ hầu đảng có thể yên tâm thống trị và hưởng thụ dài lâu. • Để tấn công giới trí thức nhân sĩ dân chủ, nhiều “tay chân mang học vị” của chế độ cũng ào ào lên tiếng. Tiêu biểu như “Giáo sư-Tiến sĩ” Hoàng Chí Bảo, ủy viên HĐ Lý luận TW. Ông khẳng định trên Vietnamnet ngày 08-03: “Đảng với nhân dân, với nhà nước là thống nhất. Phủ nhận vai trò của Đảng tức là phủ nhận vai trò của nhân dân, phủ nhận ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phương hại đến nền độc lập tự do của Tổ quốc, phương hại đến quyền sống, quyền tự do hạnh phúc của nhân dân. Vì bảo vệ dân mà phải bảo vệ Đảng. Vì bảo vệ dân mà phải hiến định điều 4”. Ông còn quả quyết: “Đảng có đầy đủ phẩm chất đạo đức xứng đáng làm lực lượng cầm quyền thông qua đánh giá của nhân dân và lịch sử. Sự tồn tại của Đảng là sự tồn tại hợp hiến, hợp pháp… Điều 4 lần này đã hiến định địa vị pháp lý của Đảng một cách rõ ràng, thuận lòng dân và phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội hiện đại ”. Quả là lối đồng hóa đảng với nhân dân hết sức trắng trợn và xưng tụng công đức đảng hết sức trâng tráo. Đảng mà đạo đức và vì dân vì nước thật sao? Trên Vietnamnet ngày 09-03 lại xuất hiện khuôn mặt của “Tiến sĩ-Viện sĩ” Nguyễn Chơn Trung, từng là Chủ nhiệm UB về người Việt ở Nước ngoài. Phê bình đa nguyên đa đảng, ông ta nói: “Bản thân tư tưởng đa đảng, đa nguyên không sai nhưng có sai hay không là ở người sử dụng nó như thế nào. Bác Hồ khi thành lập nước cũng mời các đảng phái có nhiều xu hướng chính trị khác nhau tham gia nhưng với mục tiêu là chống Pháp xâm lược…” Đúng là một kiểu lý luận nực cười. Đa nguyên đa đảng là 1 hình thái mở trong sinh hoạt chính trị, tôn trọng khác biệt, hướng tới tự do và tiến bộ cho xã hội. Người ta có quyền chấp nhận hoặc tẩy chay nó, chứ không phải là sử dụng nó cách đúng hay sai. Từ lý sự cùn này, Ng. C. Trung xuyên tạc lịch sử: “Nhưng càng về sau, khi đối đầu với sự sống chết, nhiều đảng tự rời bỏ kháng chiến, thậm chí theo giặc để chống lại cách mạng, chống lại nhân dân… Lịch sử đã chứng minh không có đảng nào xả thân quên mình làm nên thành tựu vĩ đại như vậy. Từ đó ta khẳng định không có đảng nào thay thế đảng CSVN hiện nay được” . Rõ ràng những kẻ mang học vị đầy mình như thế, với bộ dạng cũng nghiêm trang đạo mạo như ai, chỉ là những máy nói, những con vẹt, những tên đầy tớ vô liêm sỉ chẳng hề biết thế nào là biện luận hợp lý và phán đoán chân thực. • Cuộc tiến công vào nhân dân nói chung thì đang thực hiện qua chiến dịch cưỡng bức chấp nhận Dự thảo sửa đổi HP đầy sai trái của Quốc hội mà thí điểm đầu tiên là tại SG. Kiểu “trưng cầu dân ý” gian manh và ép buộc này đang được tung ra với toàn bộ “sức mạnh chính trị” của chế độ: hàng vạn cán bộ tuyên vận đến nhà thúc giục, dọa nạt, hàng triệu văn bản HP đối chiếu được in phát không từ hàng ngàn tỷ tiền thuế, hàng trăm cò mồi xuất hiện trên truyền hình để đầu độc công luận. Trận tấn công tư tưởng này dự kiến mở rộng trên cả nước kéo dài đến cuối tháng 9 năm nay. Và sau đó là bắt đầu cuộc bố ráp trả thù những ai góp ý ngược với đảng. • Cũng nằm trong trận chiến chống nhân dân, có lẽ phải kể đến đề xuất ghê gớm gần đây của công an là cán bộ thi hành công vụ được quyền bắn chết ngay những ai có hành vi bị cho là nghiêm trọng đe dọa họ. Điều này rất dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền nổ súng vào dân và dự thảo nói trên nếu được chấp thuận sẽ không khác nào bản án tử hình khỏi qua xét xử. Từ bao năm nay, CA đã giết gần cả trăm người dân vô tội mà không hề bị quy trách nhiệm. Trước viễn ảnh toàn dân rồi đây có thể sẽ phải xuống đường chống lại HP quái đản lẫn chế độ CS hung tàn và do đó coi như đe dọa sự sống còn của đảng, đặc biệt của các đảng viên cán bộ đang gây ra tội ác với tổ quốc và đồng bào, dự thảo “xử lý tức thì” này phải chăng là 1 chiến thuật trong chiến cuộc đang đến hồi khốc liệt giữa đảng với toàn dân? BBT
1- Hát trên những xác người. Đó là nhan đề một trong những bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một trong những chứng nhân của cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 do Việt cộng (VC) gây ra tại Huế. 45 năm qua, kể từ tội ác tày trời này của Hồ Chí Minh và đồng đảng đồng bọn, nén hương tưởng niệm của gia đình các nạn nhân mỗi dịp xuân về lại đốt cháy tâm can đồng bào VN, nhất là nung đỏ tim đen của những tên đồ tể tàn ác và hèn hạ. Trả thù cho cuộc thất trận chua cay về phương diện nhân tâm (vì chẳng có nhân dân địa phương nào của VNCH nổi dậy chạy theo chúng) và về phương diện quân sự (vì đã bị tổn hại binh lính gấp 10 lần quân địch: 100 ngàn nhân mạng mà chẳng chiếm được cái gì), những tên VC xâm nhập từ miền Bắc và nằm vùng trong cái gọi là “Mặt trận Giải phóng” đã giết chết hơn 6000 viên chức hành chánh và thường dân vô tội đang khi chúng còn tung hoành tại Huế và trước khi tháo chạy nhục nhã lên núi vào bưng. Những hình thức tàn sát mà ngay cả đô hộ Tàu, thực dân Pháp, phát xít Đức cũng chào thua, như cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống, tất cả đã cho thấy CSVN không phải là người VN, không phải là người mà chỉ quỷ địa ngục!!! Thế nhưng, bất chấp hàng ngàn nấm mồ với bia đá ghi tạc, hàng vạn chứng nhân còn sống sờ sờ, hàng ngàn tấm hình của báo chí ngoại quốc (đặc biệt tuần báo Life lớn nhất nước Mỹ), hàng trăm bài viết của bao nhà nghiên cứu ngoại quốc lẫn người Việt, nay nhan nhản trên xa lộ thông tin toàn cầu, Hà Nội vẫn tìm cách bẻ ngược lịch sử, xuyên tạc sự thật, đầu độc công luận qua bộ phim 12 tập của Lê Phong Lan vốn đã được trình chiếu trên truyền hình, phóng lên YouTube, để một đàng trơ trẽn tự hào đó là chiến thắng và đàng khác đổ tất cả tội thảm sát dân lành lên đầu quân đội VNCH và đồng minh Mỹ. Đặc biệt trong tập 8, “Khúc ca bi tráng”, ngoài những lời bình chối tội của Lê Phong Lan dựa vào luận điệu xuyên tạc sống sượng của các tay phản chiến thân cộng như Noam Chomsky và Gareth Porter, tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân (mà nhân dân TT-H đều biết mặt) cũng lếu láo cho đó là trò phản kích tâm lý dối trá của “Mỹ-Ngụy”, là sự trả thù dã man tàn ác của phe VNCH, và y bảo rằng cần phải “lật lại vấn đề” vì “việc phản tuyên truyền của ta (VC) bao năm qua chưa đủ trọng lượng”!?! Quả là Việt cộng vẫn tiếp tục ca hát trên những xác chết, như chúng đã từng uống rượu hòa với máu đỏ, ăn bánh tét trộn lẫn thịt người của gần 10 ngàn đồng bào nạn nhân cũng như gần 100 ngàn đồng đội bị nướng vào cuộc chiến xâm lăng và tương tàn phi nghĩa cách đây 45 năm. Bài ca trên xác người đó, mới đây VC còn hát trong ngày 17-02, kỷ niệm 34 năm cuộc chiến xâm lăng của Tàu cộng nhắm vào các tỉnh biên giới phía bắc (1979). Hồi ấy, trên đường tấn công, quân Tàu nã súng không thương tiếc đối với bất kỳ ai, bất kỳ vật gì chúng gặp trên đường. Nhận được lệnh từ cấp trên là “sát cách vô luận” (giết người không bị buộc tội), lính Tàu đã thẳng tay sử dụng xăng, mìn, đại bác, hỏa tiễn, súng phun lửa để tiêu diệt làng này sang làng khác, hết người này đến người khác trên đất Việt. Nếu như ở Bát Xát, thuộc Lào Cai, hàng trăm phụ nữ bị hãm hiếp, bị giết chết dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Tàu tiến sang, thì tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3-1979, trước khi rút lui, bọn Tàu còn giết 43 người gồm 20 trẻ em và 23 phụ nữ. Tất cả đều bị chém bằng dao, vứt hai bên bờ suối hay ném xuống giếng cạn. Rồi theo tài liệu của TQ, hơn 42.000 chiến sĩ quân đội nhân dân VN đã chết, hơn 10.000 người bị thương và hơn 2.000 người bắt làm tù binh trong khi chiến đấu chống quân xâm lược. Thế nhưng, từ bao nhiêu năm nay, cuộc chiến bi hùng này đã bị Bộ Chính trị cố tình chôn vào quên lãng, bằng cách ra lệnh đục bỏ các bia kỷ niệm, để hoang tàn lạnh lẽo các nghĩa trang liệt sĩ, cấm ghi biến cố vào sách giáo khoa, chẳng màng tưởng nhớ các thường dân tử nạn và hỗ trợ gia đình họ, vạn bất đắc dĩ phải đề cập thì không dám động tới tên “TQ”... Đang khi VN im lặng như thế thì theo tướng Lê Văn Cương (báo Thanh Niên phỏng vấn ngày 17-02), “những dịp đó chúng tôi đã thống kê: hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN. Có thông tin cho rằng hiện có trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả”. Trong chính hôm kỷ niệm lần thứ 34 này, tính tới cuối ngày, các tờ báo và trang điện tử chính thức của VN như Nhân dân, Quân đội ND, Đài tiếng nói VN, Thông tấn xã VN, Đài truyền hình VN cho tới nhiều tờ báo lớn khác không hề thấy đưa bài tưởng niệm cuộc chiến, cũng chẳng có tin lãnh đạo đảng, nhà nước hay quân đội viếng thăm, ghi nhớ sự kiện. Duy nhất một bài phỏng vấn trên Thanh Niên điện tử. Chưa hết, xuất phát từ tâm tình tri ân tử sĩ, một đoàn nhân sỹ, trí thức và quần chúng Hà Nội có sự hiện diện của một cựu bộ trưởng và một cựu đại sứ VN tại Trung cộng đã không thể mang vòng hoa với băng đen ghi nhớ vào hành lễ -vì bị cản trở cách thô bạo- ở các đài tưởng niệm quốc gia như tượng đài Cảm tử, tượng đài Lý Thái Tổ, tượng đài Bắc Sơn và cuối cùng là tượng đài Nguyễn Huệ. Họ đã không được phép chụp hình lưu niệm tại các chỗ đó với băng ghi dòng chữ "Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ đã anh dũng hy sinh trên mặt trận chống quân TQ xâm lược." Tại Sài Gòn, một đoàn khác gồm 30 thành viên trong đó có một nguyên thứ trưởng và nhiều cựu quan chức CS đã tới tượng đài Trần Hưng Đạo để tưởng niệm. Tuy lực lượng an ninh không lỗ mãng ngăn cản họ như ở Hà Nội, nhưng bọn này cũng đã có hành động gỡ bỏ một số băng-rôn gắn trên các vòng hoa. Nghĩa là toàn thể vụ việc rõ ràng có sự chỉ đạo từ Bộ Chính trị ở Ba Đình, chứ không phải là một hành xử tùy tiện của cấp địa phương, bởi lẽ đám cầm quyền Hà Nội hèn với giặc ác với dân nay rất sợ làm phiền lòng Tàu cộng. Đang khi đó thì vô số hình ảnh, bài viết (đọc được trên mạng với bản dịch Việt ngữ) cho thấy bọn bành trướng Bắc Kinh đã trắng trợn xuyên tạc sự kiện, đồng thời tưng bừng kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh biên giới VN, mà chúng gọi là cuộc chiến phản kích tự vệ. Rõ ràng, máu và nước mắt của các chiến sĩ đã tuẫn tiết và thường dân đã bỏ mạng trong cuộc chiến biên giới 1979 đang kêu gào công lý, đang đòi hỏi thừa nhận, đang yêu cầu được tưởng nhớ, đang xứng đáng được tôn vinh. Thế nhưng chỉ có bài ca “4 tốt”, tiếng hát “16 chữ vàng” (át tiếng oan hồn) của một lũ người vong ân chiến sĩ, phản bội dân tộc và sẵn sàng bán đứng Tổ quốc hòng giữ được quyền lực và quyền lợi trong chức “thái thú” đê hèn và ô nhục! 2- Hét trên những con người. Không những đang hát trên những xác người, CS cũng đang hét trên những con người, những công dân tự do của nước Việt nhưng bị chúng xem như những thần dân và nô lệ, buộc phải nghe bất cứ điều gì chúng nói và làm bất cứ điều gì chúng truyền mà không được cãi lại. Cụ thể là sau khi Dự thảo Hiến pháp do đám gia nô Quốc hội kiêm thần tử Cộng đảng viết và được tung ra cho dân chúng, nhiều trí thức lẫn thường dân đã phản bác bằng Kiến nghị 7 điểm và một Dự thảo HP mang tính dân chủ, đối lập. Họ yêu cầu nhà cầm quyền phải công bố rộng rãi Kiến nghị lẫn Dự thảo này, thế nhưng Phan Trung Lý, Chủ nhiệm UB Pháp luật QH kiêm Trưởng ban Biên tập Dự thảo sửa đổi HP 1992, đã hét vào mặt họ trong thư phúc đáp hôm 7-2: “Ý kiến đề nghị UB dự thảo công bố dự thảo HP do Ông [tức nguyên bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, đại diện nhóm] là không đúng với quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 38/2012 của QH”. Phan Trung Lý còn hăm dọa: “Đề nghị Ông thực hiện đúng quy định của pháp luật”. Như để hòa giọng, Chủ tịch Quốc hội CS Nguyễn Sinh Hùng sáng 27-2-2013 còn hét to hơn: “Tuyên truyền vận động nhân dân chống lại Đảng, nhà nước, cái đó là ngược chiều, phải kiên quyết đấu tranh và ngăn chặn. Bản lấy ý kiến là bản của ủy ban dự thảo HP công bố, trên cơ sở tiếp thu thảo luận của QH. Đó là bản duy nhất. Còn anh tự tổ chức lấy ý kiến khác của anh, là không được”. Chưa hết, trong lời phát biểu tại Vĩnh Phúc đưa lên truyền hình ngày 25-2, Nguyễn Phú Trọng còn gầm thét trước mặt toàn dân: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức… Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Những quan điểm như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!”. Đấy quả thực là lời nói hết sức hỗn hào láo xược và lú lẫn ngu dại chưa từng thấy của một tên đầy tớ trước ông chủ toàn dân. Thành thử nó đã được đáp trả ngay bằng việc công luận tới tấp đồng tình với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên trong “Lời tuyên bố của các công dân tự do”: “Chúng tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà còn muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến… Chúng tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam… Chúng tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc… Chúng tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội… Chúng tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Chúng tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng…” Những lời đanh thép trên thế nào cũng dẫn tới chỗ buộc ĐCS phải khóc lóc thú nhận tội ác của mình và thôi không còn mạnh miệng la hét quát tháo như hơn 60 năm qua nữa. Hỡi những tên tội đồ dân tộc, hãy nhớ lấy, hãy chuẩn bị cho ngày ra trước công lý của toàn dân! BAN BIÊN TẬP
Hiến pháp đúng nghĩa của mọi nước dân chủ văn minh là một «khế ước xã hội » (nguyên từ của triết gia Jean-Jacques Rousseau) xác định các quyền của nhân dân và nghĩa vụ của nhà nước qua các điều khoản kết thành một thể thống nhất, chặt chẽ. Trong các nước độc tài lạc hậu thì trái ngược, cái được gọi là «Hiến pháp» lại xác định các quyền của nhà nước và nghĩa vụ của nhân dân, cũng qua nhiều điều khoản kết thành một thể chặt chẽ, thống nhất. Thật ra đó chỉ là cương lĩnh của chính đảng độc tôn đang nắm trọn quyền thống trị quốc gia dân tộc. Cái mà thường dân ngây thơ và trí thức lầm lẫn gọi là «Hiến pháp» của Việt Nam dân chủ cộng hòa (1959) rồi của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980 và 1992), nơi đảng Cộng sản mặc sức tung hoành, làm mưa làm gió suốt gần 60 năm qua, cũng chỉ là cương lĩnh của đảng không hơn không kém. Nó càng lúc càng củng cố quyền lực mạnh mẽ cho nhà nước (tức cho đảng) và gia tăng các nghĩa vụ ngặt nghèo cho nhân dân. Điều này nay thấy rõ hơn nữa trong «Dự thảo HP sửa đổi 2013» đang được gởi ra công luận để gọi là «lấy ý kiến» nhân dân (chứ không phải để được nhân dân phúc quyết). Dự thảo 124 điều này, được biên soạn do các thành viên Quốc hội kiêm thành viên của đảng CS, mà đa phần thông thạo luật rừng hơn luật pháp, tựu trung có lẽ chỉ quy về 3 điểm : độc quyền lãnh đạo, độc hữu tài nguyên và độc dụng công lực. Ba điểm này liên hệ chặt chẽ với nhau. 1- Độc quyền lãnh đạo của đảng thì đã quá rõ qua điều 4. Trong đó các đồ đệ của Hồ Chí Minh vừa vỗ ngực tự khen: «Đảng CSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc VN, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc» , vừa mù quáng ảo tưởng: «lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng» , vừa nghênh ngang lộng quyền: «là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội» , vừa mỵ dân lường gạt: «Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình», vừa khiêm tốn đểu giả: «Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật» . Người ta biết rằng đây chẳng phải là sáng kiến gì mới của đảng CSVN. Điều 4 đó đã cảm hứng từ Điều 6 Hiến pháp năm 1977 của Liên bang Xô viết: «Đảng CS Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và hướng dẫn xã hội Xô viết, là trọng tâm của hệ thống chính trị, mọi tổ chức nhà nước và tổ chức quần chúng. Đảng CSLX hiện hữu vì dân và phục vụ nhân dân. Đảng CSLX trang bị bởi chủ thuyết Mác-Lê, quyết định tổng quát đường hướng phát triển xã hội cho các chính sách đối nội và đối ngoại của LB Xô viết, lãnh đạo công tác xây dựng vĩ đại của nhân dân Xô viết... Mọi cơ cấu của đảng hoạt động trong phạm vi hiến pháp LB Xô viết » Và điều 6 này cũng đã cảm hứng từ bộ luật ngày 14-7-1933 của chế độ phát xít Hitler, quy định «Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa [gọi tắt là Đảng Quốc Xã] là đảng chính trị duy nhất ở Đức. Bất kỳ người nào duy trì cơ cấu tổ chức của một đảng chính trị khác hoặc thành lập một đảng chính trị mới sẽ bị phạt với mức án đến ba năm khổ sai hoặc với án tù giam từ sáu tháng đến ba năm, nếu hành động không chịu hình phạt cao hơn chiếu theo quy định khác» . Gần đây, tuyên giáo trung ương đảng bắt đầu tung ra nhiều luận điệu biện hộ cho điều 4 này. To miệng nhất là ông Phan Trung Lý, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật QH kiêm Trưởng ban biên tập «Dự thảo sửa đổi HP». Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC, tay chủ nhiệm này đã ngoác mồm biện minh cho điều 4 hiến pháp bằng bốn luận điểm. - Thứ nhất là vì công trạng : đảng đương nhiên độc quyền vì đã được “lịch sử cách mạng chứng minh”. Đây là kiểu “ăn mày dĩ vãng” khi hiện tại đã quá bệ rạc. - Thứ hai là vì đảng khẳng định như thế : «đảng phải tiếp tục cai trị, phải giữ vai trò lãnh đạo”. Đây là lối ngụy biện ngang ngược khi nhân dân bắt đầu chống đối. - Thứ ba là vì thực tế cuộc sống «cũng yêu cầu liên tục khẳng định và duy trì điều 4”. Đây là sự khỏa lấp hiện tình bi đát và ảm đạm của xã hội. - Thứ tư là vì «muốn nhấn mạnh trách nhiệm của đảng». Đây là kiểu cố đấm ăn xôi, tham quyền cố vị sau khi đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước nhân dân và đất nước. Dĩ nhiên trước sự độc quyền lãnh đạo muôn niên này thì nhân dân chỉ có một nghĩa vụ là vâng lời và các chính đảng khác chỉ có một số phận là bị tiêu diệt. 2- Độc hữu tài nguyên : Muốn giữ quyền thì đương nhiên đảng phải có tiền. Tiền ở đâu ra? Chính là ở tài nguyên đất nước. Do đó, bất chấp phản đối của toàn dân, đảng tiếp tục khẳng định qua Điều 57 (sửa đổi, bổ sung Điều 17, Điều 18): «Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật». Chỉ cần phất một câu trong bộ luật tối cao này, đảng đã thu tóm ngon ơ mọi đất đai mà các cá nhân đã làm chủ từ bao đời và mọi công điền công thổ do tổ tiên để lại mà nhà nước chỉ có bổn phận quản lý. Ở đây cần nói thêm về tài nguyên đất nước. Đó là tài sản của toàn dân, vì chính hàng triệu người qua bao thế hệ đã chiến đấu, đã sống gian khổ, thậm chí đã chết thảm thương để gìn giữ, bảo vệ và phát triển nó. Ngày nay việc khai thác tài nguyên này là độc quyền của nhà nước, trong khi nhà nước ấy do đảng lãnh đạo. Lãnh đạo các tập đoàn khai khoáng lại là người của đảng. Chưa hết, truyền thông về chuyện này đảng nắm, luật lệ về chuyện này đảng ra… trên dưới một giuộc, thì dễ hiểu là tài sản chung này bị thất thoát, bị ăn chia đến mức nào. Và thực tế chứng tỏ đã bi thảm như vậy qua các tin tức như «Tập đoàn dầu khí để ngoài sổ sách hơn 10 ngàn tỷ», «Biếu không cho nước ngoài mỏ than tốt nhất Việt Nam»… Đang khi đó thì cái nhà nước tự gọi là «đầy tớ nhân dân» này -qua bao năm tháng- đã chẳng hề công khai và tự nguyện cho nhân dân biết đã khai thác những gì, bán cho ai, thu về bao nhiêu tiền bạc và tiền bạc ấy đã chi dùng vào việc gì. Quyền độc hữu tài nguyên còn bày tỏ qua Điều 58 : «Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích...». Tất cả đều là ân huệ của nhà nước (của đảng) còn nhân dân, kẻ thuê mướn đất, thì chỉ có nghĩa vụ. Chưa hết, «Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng... trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế xã hội ». Không có trong Điều 18 HP 1992, điểm mới này một đàng hợp thức hóa những dự án đã làm đổ máu và nước mắt của nhân dân tại Văn Giang, Thủ Thiêm, Tiên Lãng, Vụ Bản, Dương Nội... và mở đường cho các đảng viên cao cấp kiêm đại gia tư bản tiếp tục tước ngay cả quyền sử dụng còn sót lại của nhân dân. 3- Độc dụng công lực. Đã có quyền (ngai vàng) và tiền (túi bạc), mà có một cách bất chính, thì đảng phải bảo vệ cả hai cho tới cùng. Do đó mà có Điều 70 (sửa đổi, bổ sung Điều 45) : «Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng CSVN, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế» . Đây là điều hết sức mới mẻ, mới mẻ một cách quái đản, vì HP 1946 không có điều khoản riêng về Lực lượng vũ trang này. HP 1959, Điều 8 chỉ nói «Lực lượng vũ trang là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hòa bình của nhân dân» . HP 1980, Điều 51 và HP 1992, Điều 45 chỉ xác định «các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước». Nghĩa là ngay trong các HP 1980 và 1992, khi đang ở đỉnh cao của quyền lực, đảng CS cũng chưa dám khẳng định là lực lượng vũ trang phải trung thành với đảng. Hôm nay, khi chủ nghĩa và chế độ CS quốc tế đã hoàn toàn tan rã vì bị nhân loại phỉ nhổ, khi đảng CSVN không hoàn thành nhiệm vụ gìn giữ biên cương hải đảo của Tổ quốc, khi việc đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc bị phơi trần bộ mặt, khi nhân dân ngày càng coi đảng như kẻ thù (và ngược lại) thì đảng lại ma giáo đòi hỏi mọi lực lượng vũ trang (quân đội, công an, dân phòng...) phải tuyệt đối trung thành với đảng và phải bảo vệ đảng trước cả nhân dân đất nước. Luận điệu này đã được những tên tướng tá đê hèn như Phạm Tuấn Quang, Võ Tiến Trung, Nguyễn Tiến Bình bênh vực một cách trơ trẽn và ngu xuẩn. Quân đội được nhân dân sinh ra và tốn công nuôi nấng thì phải phục vụ nhân dân, bảo vệ giang sơn đất nước chứ đâu phải tuyệt đối trung thành với đảng để rồi phải tuyệt đối xả thân bảo vệ cái nền tảng tư tưởng Mác-Lênin chết tiệt. Tệ hại hơn nữa, vì cái nền tảng tư tưởng quái dị ấy mà phải dấn thân làm đồ đệ cho một “mẫu quốc” nào đó như lập trường của Phùng Quang Thanh và Nguyễn Chí Vịnh trước Tàu cộng hiện nay. Kết : Rõ ràng cái gọi là «Dự thảo HP» với 3 mục tiêu (độc quyền lãnh đạo, độc hữu tài nguyên và độc dụng công lực) chỉ là một mệnh lệnh ngang ngược của «chủ đảng» với «tớ dân» không hơn không kém. Theo lẽ thường, trước việc lấy ý kiến mang tính chất lường gạt công luận, khinh rẻ quốc dân và đầy mưu mô thâm độc như thế, toàn dân phải đồng loạt xuống đường đả đảo, thậm chí hỏi tội những tên đã ngang ngược viết ra nó. Nhưng với sự cố chấp và ngạo mạn của các lãnh đạo CS, sự mù quáng và tàn bạo của các lực lượng vũ trang sẵn sàng đàn áp dân lành, phải chăng toàn dân nên dùng một hình thức biểu tình khác là gởi thư đến Quốc hội CSVN để bày tỏ lập trường, thẳng thừng phản đối điều 4 và các điều liên hệ? BBT
Trên thế giới, ai cũng công nhận sở dĩ Hoa Kỳ là quốc gia phát triển về kinh tế, tiến bộ về khoa học, thành đạt về giáo dục, bình đẳng về nhân quyền và ảnh hưởng về chính trị quốc tế vào bậc nhất hoàn cầu, chính là nhờ họ có một nền tảng luật pháp hết sức vững chãi, nghĩa là một Hiến pháp giá trị, một Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà hầu như chẳng có bất cứ một lỗi văn bản hay đúng hơn một lỗi nguyên tắc lớn nào! Được hình thành năm 1787 tại Philadelphia, với mong muốn trở nên một căn bản trường tồn qua nhiều thời đại, Hiến pháp Hoa Kỳ đã theo một nguyên tắc quan trọng là dựa trên bản tính tự do của con người và tính chất dân chủ của xã hội mà khẳng định những điều sẽ không bao giờ thay đổi, chẳng hạn mỗi con người đều có quyền được sống, quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, mỗi cá nhân đều có quyền tư hữu thiêng liêng và bất khả xâm phạm, mọi công dân đều có quyền bầu lên cũng như bãi nhiệm chính phủ của mình... Hơn 2 thế kỷ qua, bản văn ngoại hạng này chẳng cần thay đổi. Chỉ có những điều phụ tùy được bổ sung gọi là Tu chính án. Đang khi đó thì tại Việt Nam, chỉ trong không đầy 70 năm, dù dưới cùng một chế độ chính trị, Hiến pháp (tạm gọi vậy) đã thay đổi xoành xoạch, 4 lần rồi và đang chuẩn bị lần thứ 5, chưa kể những lần sửa đổi nhỏ. Quả là một con số kỷ lục không tìm thấy đâu trên thế giới! Về việc này, cựu bộ trưởng tư pháp CS Nguyễn Đình Lộc đã biện minh như sau: “Chúng tôi (Việt Nam) phát triển theo một điều kiện mà tình hình đất nước luôn có những giai đoạn thay đổi. Tương ứng từng giai đoạn như thế phải có một Hiến pháp. Phải thấy được đặc thù của chúng tôi là từng giai đoạn mang một tính chất khác cho nên phải có bản Hiến pháp. Cho nên có thể thấy Việt Nam rất tôn trọng Hiến pháp. Mỗi giai đoạn phát triển dù thế nào cũng có một bản Hiến pháp tương ứng”. (RFA 19-11-2012) Đó chỉ là kiểu ngụy biện lếu láo! Bởi lẽ do bản chất độc tài đảng trị, người Cộng sản không quan niệm Hiến pháp (như mọi quốc gia dân chủ trên thế giới công nhận) chính là bộ luật cao nhất do toàn dân dựa trên nhân tính tự do và xã hội tính dân chủ để soạn ra mà xác định các quyền con người và quyền công dân, chế độ chính trị tự do và chế độ kinh tế phát triển, quyền hạn và bổn phận của chính phủ như công bộc được toàn dân giao cho nhiệm vụ điều hành quản lý đất nước. Nói cách khác, đi từ lý thuyết Khế ước của triết gia Hy lạp Aristote (tk IV trước CN, tác giả cuốn “Cộng hòa”), được triển khai bởi nhiều triết gia Âu châu thế kỷ 17 và 18 như Thomas Hobbes, John Locke và Jean-Jacques Rousseau (tác giả cuốn “Về khế ước xã hội”) nhằm xóa bỏ tư duy cai trị kiểu quân chủ chuyên chế (Vua là thiên tử, con trời), nhân loại văn minh -kể từ sau Cách mạng Hoa Kỳ rồi Cách mạng Pháp- đã quan niệm Hiến pháp là khế ước, giao kèo giữa nhà nước với người dân, là văn kiện giao phó quyền lực chính trị từ người dân cho Nhà nước để thay họ điều hành quốc gia và đảm bảo an toàn, tự do, bình đẳng và phát triển cho họ. Nói theo kiểu tiêu cực thì Hiến pháp là một khế ước của nhân dân lập ra để kiểm soát quyền lực nhà nước, để ràng buộc chính phủ chứ không phải để nhà nước ban quyền cho người dân theo kiểu thí ân huệ. Nhưng ở các quốc gia độc tài, nhất là độc tài Cộng sản, Hiến pháp được sử dụng như cương lĩnh của nhà nước hay thoát thai từ cương lĩnh của đảng cầm quyền. Điều này chính Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc hội CS đã nhấn mạnh tháng 8 năm 2011: “Ủy ban dự thảo và Ban biên tập cùng các Tổ biên tập cần nắm vững và đưa vào bản Hiến pháp mới nội dung Cương lĩnh quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết vừa được Đại hội XI của đảng CS thông qua”. Thành ra cái được gọi là Hiến pháp của nhà nước Cộng sản không phải là HP thật mà chỉ là pháp lệnh, quân lệnh từ trên đảng truyền xuống cho dân thi hành bất luận đúng sai, giống thời chuyên chế quân chủ. Nó và các bộ luật dưới nó được giai cấp cầm quyền (tức đảng thống trị) sử dụng như công cụ khống chế, vũ khí trấn áp bất cứ ai chống lại chủ trương đường lối cũng như hành vi ứng xử phản dân hại nước, củng cố quyền lực và vơ vét quyền lợi của bọn họ, của đảng họ. Lẽ ra Hiến pháp phải giúp cho người dân được quyền tự do chính trị, nghĩa là xây dựng được một thể chế dân chủ với cơ cấu tam quyền phân lập; được quyền tự do kinh tế, nghĩa là xây dựng được một nền kinh tế thị trường có cạnh tranh lành mạnh; được bảo đảm an sinh, nghĩa là có quyền tư hữu về tài sản cũng như các phương tiện sản xuất, mà chủ yếu là đất đai; được bảo đảm an ninh, nghĩa là có những bộ luật bảo vệ công lý, bênh vực nhân quyền, có những lực lượng giúp đỡ công dân, giữ gìn xã hội, bảo vệ tổ quốc. Thế nhưng, sau bản Hiến pháp năm 1946 tàm tạm vì có công nhận các nhân quyền và dân quyền (song lại trao quyền lực quá lớn cho một cá nhân -Chủ tịch Nước- đồng thời tước đoạt quyền lực của cơ quan đại diện nhân dân -Nghị viện- để giao cho một nhóm nhỏ mang tên Ban Thường vụ Nghị viện. Đây là nguồn gốc của cơ chế “Chủ tịch Nước–Ban Thường trực Quốc hội” vốn sẽ bị thay bằng cơ chế “Bộ chính trị–Ban chấp hành Trung ương Đảng” đầy lộng quyền), thì các bản “Hiến pháp” năm 1959, 1980, 1992 và nhất là Dự thảo sửa đổi hiện nay đều hoàn toàn và ngày càng đi ngược lại ý nghĩa, mục tiêu của một bản Hiến pháp đích thực, vẫn chỉ là các bản văn hết sức phản động, chẳng có dấu hiệu của một nhà nước pháp quyền vì dân. • Bởi lẽ nền tảng của nhà nước pháp quyền là những luật cơ bản vốn phải được áp dụng cho tất cả mọi người, kể cả chính phủ. Các luật này được tạo ra bởi người dân nhằm kiểm soát những hoạt động mà chính phủ được phép thực hiện, không để cho bộ máy nhà nước được làm tất cả những gì mình muốn. Một trong những cách để hiện thực điều này chính là hệ thống tam quyền phân lập. Quyền lực của nhà nước, của chính phủ phải được phân ra. Và mỗi nhánh phải được vận hành bởi những thành phần khác nhau để có thể kiểm tra, giám sát, kiềm chế, đối trọng lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền lực. Điều này sẽ giúp bảo đảm rằng đất nước không bị điều hành bởi chỉ một người hay một nhóm người, dân tộc thoát khỏi chế độ độc tài, chuyên chế, toàn trị và xã hội cũng ngăn chặn được sự thông đồng, lạm dụng quyền lực. Thế nhưng, Dự thảo 2013 cho thấy tổ chức bộ máy Nhà nước vẫn không phân biệt rạch ròi các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các cơ quan hiến định khác; các nhánh quyền lực vẫn bị chi phối bởi đảng CS và Bộ chính trị; hệ thống tư pháp vẫn không bảo đảm được quyền xét xử độc lập, chỉ dựa vào Hiến pháp và luật. Đặc biệt, thay vì thiết lập Tòa án Hiến pháp với chức năng phán quyết, Dự thảo chỉ đề xuất Hội đồng Hiến pháp với chức năng tư vấn, kiến nghị! • Thứ đến, như Kiến nghị 7 điểm về sửa đổi Hiến pháp ngày 19-01-2013 nói rõ, mục đích của việc thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền tự nhiên của con người. Dự thảo tuy đã điều chỉnh thứ tự để đề cao các quyền này so với Hiến pháp 1992 (từ chương 5 đưa lên chương 2), nhưng vẫn có vô số điểm chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế về nhân quyền, như các quy định hạn chế về quyền lợi (Điều 15, 16, 20), quy định tùy tiện về nghĩa vụ (Điều 41, 42, 49). Việc nhấn mạnh “quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” (thật vu vơ mơ hồ) rồi việc tiếp tục đưa vào cụm từ ma giáo “theo quy định của pháp luật” sẽ mở đường cho việc nhân danh HP để vi phạm nhân quyền, đàn áp tự do như mấy chục năm qua. • Tư hữu là quyền tự nhiên của mỗi con người. Điều 16 bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền đặt nó ngang hàng với tự do, an ninh và chống áp bức. Điều 17 bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền cũng khẳng định “mỗi cá nhân riêng biệt hay trong cộng đồng đều có quyền tư hữu”. Tuyệt đại đa số những bản HP trên thế giới đều ghi nhận tư hữu -đặc biệt tư hữu đất đai- là quyền tuyệt đối của mỗi công dân, vì nó là điều kiện để bảo vệ tự do và nhân phẩm. Thế nhưng, dự thảo sửa đổi HP 1992 vẫn khăng khăng khẳng định ở Điều 57 (sửa đổi, bổ sung Điều 17, Điều 18) : «Đất đai... là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu». Rồi còn hợp hiến hóa «quyền nhà nước thu hồi đất» ở Điều 58 (sửa đổi, bổ sung Điều 18) trong đó lại mở rộng phạm vi áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế xã hội. Đây là một sự thụt lùi so với Hiến pháp 1992 và có thể gây bùng nổ bất ổn trong một xã hội vốn đã chứng kiến hàng triệu vụ khiếu nại, khiếu kiện về đất đai trong những năm qua. • Hiến pháp đặt lợi ích của toàn dân và tổ quốc lên trên lợi ích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào. Do đó mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang (quân đội, công an, dân phòng…) chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, giữ gìn sự an ninh của xã hội, che chở cuộc sống của dân lành. Bởi thế lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành (mà lại trung thành tuyệt đối) với đảng CSVN, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Quy định này hết sức mới mẻ, không hề có trong các bản “HP” cũ, kể cả “HP 1980” là lúc đảng ở đỉnh cao uy tín và quyền lực. Đó cũng là một quy định quái đản, chưa hề thấy trong bất cứ một hiến pháp nào, bộc lộ bản chất cực quyền của đảng CSVN và nỗi lo âu cực đại của cái tổ chức chính trị chưa bao giờ vì dân vì nước này. Tóm lại, có thể nói những bản văn gọi là “HP” 1959, 1980, 1992 và nhất là “Dự thảo sửa đổi HP 2013” chẳng đáng gọi là HP chút nào. Đó chỉ là ý muốn độc đoán, cương lĩnh độc tài của ĐCS (theo kiểu Luật là tao! Tao là luật!) lâu lâu lại sửa đổi chút ít để gia tăng quyền lực cho đảng, chứ chưa bao giờ biểu hiện và thể hiện khát vọng tự do dân chủ của nhân dân, mệnh lệnh của chủ nhân đất nước giao cho đầy tớ công bộc. Chính vì thế, các bản văn luật pháp cao nhất này, thay vì xây dựng một xã hội an lạc phú cường, một đất nước phát triển tiến bộ, một cộng đồng hòa hợp đoàn kết, một quốc gia uy tín đáng nể (như Hoa Kỳ chẳng hạn) thì chỉ tạo ra một VN tụt hậu đói nghèo, dân tình điêu đứng khốn khổ và vận nước ngày càng suy vong, nguy kịch, nhất là trong bối cảnh kẻ thù truyền kiếp Đại Hán đang hăm he. BBT
1- Vậy là cuộc lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi Hiến pháp đã bắt đầu. Từ ông nhà nước đến các chú báo chí (công cụ) đều tuyên bố rùm beng về cái gọi là “hoạt động dân chủ” sôi nổi này. Báo Vietnamnet (điện tử) ngày 6-11-2012 cho biết: “Chốt phiên thảo luận tổ sáng nay, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Trưởng ban soạn thảo sửa đổi HP, nhấn mạnh một số yêu cầu với các đại biểu trong quá trình góp ý cho việc sửa đổi. Ông nói: HP đã xác định rõ mọi quyền lực đều nằm ở nơi dân. Dân ủy quyền cho QH, dân cũng đặt ra các định chế cho nhà nước nên tất cả đều phải chịu sự giám sát của dân, kể cả tổ chức đảng và đảng viên. Bản HP sửa đổi lần này sẽ là khung cơ bản thể hiện rõ quyền lực của dân”. Vậy là nhân dân thực sự làm chủ rồi nhé! Oái oăm thay, Nguyễn chủ tịch thản nhiên phán tiếp: “Ban soạn thảo vẫn thống nhất giữ nguyên điều 4 HP về vai trò lãnh đạo của Đảng”. Nghĩa là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội VN vẫn chỉ là cái đảng luôn tự nhận là “đội tiên phong và đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động (dù hai giới này xưa nay bị sử dụng đến thí mạng và bị bóc lột tận xương tủy) và của dân tộc VN (dù đám dân này xưa nay vẫn bị làm vật thí nghiệm cho chủ thuyết Mác-Lê ngông cuồng và bầy nô lệ cho chế độ CS độc tài toàn trị). Đến phiên Tạp chí Cộng sản (điện tử) hôm 02-01-2013 cũng cho biết: “Ngày 28-12-2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị số 22 của Bộ Chính trị về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi HP”. Chỉ thị mở đầu rất hùng hồn: “Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi HP năm 1992 là một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nhằm phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân… góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.” Rồi ông ra lệnh cho các cấp lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị phải “đôn đốc, kiểm tra và tạo điều kiện cần thiết cho… việc lấy ý kiến nhân dân; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc… xây dựng báo cáo đóng góp ý kiến của nhân dân, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả, phản ánh đầy đủ và chính xác ý kiến của nhân dân”. Nghe mà quá sướng! Nhưng chưa kịp mừng vì lòng nhiệt thành quan tâm đến tiếng dân của đảng, người ta đã tá hỏa bởi câu tiếp liền của ông Tổng: “Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương lãnh đạo, kiểm tra việc lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi HP… chỉ đạo chặt chẽ công tác bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan kịp thời đấu tranh, ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta”. Nghĩa là việc lấy ý kiến nhân dân lần này không chỉ cần có các nhân viên dân sự hay các tòa soạn báo chí lắng nghe lời nói hoặc đón nhận văn bản góp ý về HP rồi gởi về QH, mà cả lực lượng quân đội và công an cũng phải vào cuộc, vì đảng sợ rằng từ trong bọn thảo dân sẽ có những kẻ lợi dụng cơ hội trưng cầu ý kiến đó để tấn công đảng và nhà nước, phá hoại an ninh, làm đảo lộn trật tự xã hội. Ông Tổng nhà ta, trong cùng một văn bản, có thể nói những điều mâu thuẫn nhau (trên mị dân, dưới đe người) mà chẳng xấu hổ chút nào cả! Chưa hết, trong cuộc họp báo ngày 29-12-2012, ông Phan Trung Lý, trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi HP lại tuyên bố là nhân dân có thể cho ý kiến đối với mọi nội dung trong bản dự thảo, kể cả điều 4 của HP, «không có cấm kỵ gì cả». Trước đó, cũng số báo Vietnamnet nói trên cho biết thêm: Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (Trưởng ban chỉ đạo tổng kết thi hành HP) phát biểu: “Chúng tôi rất lắng nghe, rất cầu thị. Và muốn có một bản HP với giá trị lâu dài”. Cứ tưởng lần này nhà cầm quyền đã biết chia sẻ một phần “quyền làm chủ” cho nhân dân, thể hiện một bước tiến dân chủ hóa trong bối cảnh Myanmar đang cải cách sâu rộng về mặt chính trị. Nhưng cũng chính ông Phúc thản nhiên nói tiếp: “Khẳng định điều 4, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là một nội dung rất quan trọng. Vì vậy việc sửa đổi phải hướng tới xác định rõ chỉ một Đảng lãnh đạo…”. Việc câu sau chửi chống câu trước như thế mà vẫn nói được chỉ có nơi những kẻ hoặc không biết suy nghĩ lý luận hoặc đã hoàn toàn đứt dây thần kinh xấu hổ! Nghĩa là vô liêm sỉ tột cùng! Và dĩ nhiên việc tiêu biến sự xấu hổ rồi đây sẽ thể hiện qua cuộc tổng kết vào cuối tháng 3, khi những ý kiến nào CS thấy bất lợi thì sẽ thẳng thừng vứt vào sọt rác, những đề nghị nào động tới chuyện “nhạy cảm” hay “cấm kỵ” thì sẽ cẩn thận ghi vào sổ đen, chờ ngày đưa ra trước tòa án với nhiều tội danh của Bộ luật Hình sự: Điều 78: tội phản bội Tổ quốc, Điều 79: tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, Điều 80: Tội gián điệp, Điều 87: Tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, Điều 88: Tội tuyên truyền chống Nhà nước v.v… 2- Đài BBC (điện tử) ngày 10-01-2013 đã đưa bản tin “Hà Nội có nhóm chuyên gia bút chiến”. Theo đó, tại Hội nghị công tác tuyên giáo toàn quốc 2012 sáng ngày 9-1 ở Hà Nội, trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hồ Quang Lợi cho biết thành phố đã tổ chức đội ngũ chuyên gia (gồm 19 trang tin điện tử và hơn 400 tài khoản trên các mạng xã hội) để “đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên internet chống những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch”. Ngoài ra, cơ quan tuyên giáo còn tổ chức đội ngũ 900 “dư luận viên” làm công tác đi tuyên truyền. Ông Lợi nói: “Trong nước, các nhóm đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng lòng yêu nước của quần chúng nhân dân đối với các hành vi của Trung Quốc trên biển Đông, sự bức xúc trong đền bù giải tỏa đất đai đã kích động nhân dân tổ chức hàng chục cuộc tuần hành biểu tình, gây những hệ quả tiêu cực, ảnh hưởng đến hình ảnh và sự phát triển chung của đất nước”… Người ta được biết tay Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy này từng làm phó biên tập báo Quân Đội Nhân Dân và tổng biên tập báo Hà Nội Mới. QĐND là tờ báo chuyên đời ngụy biện và đầu độc công luận, mới đây nổi đình nổi đám với bài “Không thể chấp nhận quan điểm quốc gia hóa quân đội” của cái ông Trung tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Bình, và bài “Điều 88 Bộ luật Hình sự với quyền con người và quyền công dân” của tác giả Đức Giang nào đó phản bác lại những ý kiến kêu gọi tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam. Còn tờ Hà Nội Mới thì từng nổi danh qua việc dựng chuyện đả kích vu khống. giáo dân Thái Hà và Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt năm 2007-2008 mà Hồ Quang Lợi là chủ mưu chính. Nhờ đã “lập đại công” dâng đảng trong vụ này nên y được cất nhắc lên Trưởng ban Tuyên giáo Hà Nội đầy quyền lực và béo bở. Theo tác giả Tâm Đồn (với bài “Đội quân đớn hèn” đăng trên BVN), đây là lần đầu tiên một quan chức CS công khai thừa nhận sự tồn tại của một nhóm chuyên viết ăn lương, mà dư luận thường gọi là 'hồng vệ binh', hay 'CAM' (Công an mạng). Nó tương tự như bên Trung Quốc cách đây khoảng 10 năm, khi những người bất đồng chính kiến, dân chủ đối kháng bắt đầu sử dụng công cụ sắc bén Internet để truyền bá các tư tưởng và giá trị dân chủ ưu việt chống lại các tư tưởng độc tài tệ hại của nhà cầm quyền CS. Bắc Kinh lúc ấy, ngoài việc bịa đặt các chứng cứ hình sự để dễ bề tống ngục họ nhằm dập tắt tiếng nói lương tri, đã tạo ra một công cụ hết sức tàn độc và ươn hèn: lực lượng đánh thuê trên mạng, có nhiệm vụ viết các ý kiến phản hồi bênh vực đảng CS, đả phá các tư tưởng dân chủ và cải cách. Các “chiến binh” đặc biệt với đồng lương ưu đãi này cả ngày ngồi trước máy tính, nặn ra những luận điệu mà Đảng mong muốn, sau đó tung lên mạng. Với số lượng ước tính khoảng 20.000, đội quân chiến binh thầm lặng và vô liêm sỉ đó đã nhận được những khoản tiền không nhỏ (nghe nói là 50 nhân dân tệ cho mỗi một comment) lấy từ tiền thuế nhân dân. Tại VN, khoảng 3-4 năm nay, nhiều người đã đặt ra câu hỏi: Liệu nước ta có tồn tại một lực lượng đánh thuê trên mạng không? Không ai trả lời nổi. Nhưng cho đến sáng ngày 09-01-2013, mọi việc trở nên rõ ràng: tên tớ Việt cộng cũng đã học theo ngón nghề của ông thầy Tàu cộng, xây dựng một đội quân đánh thuê trên mạng, dưới sự điều hành của một trong những kẻ mặt dày nhất và vô liêm sỉ nhất trên lãnh vực truyền thông CS (bên cạnh Hữu Ước và Nguyễn Như Phong). Với sự thừa nhận của Hồ Quang Lợi, Việt cộng thêm một lần nữa áp dụng các biện pháp và chính sách của Tàu cộng, kể cả vĩ mô và vi mô. Đội lính đánh thuê trên mạng do đảng Cộng sản thành lập và trả lương với tiền thuế của nhân dân này chắc chắn sẽ bất chấp xấu hổ, liêm sỉ để tiếp tục những trò hèn nhát (giấu mặt, nặc danh), thô bạo (hacker phá hoại) và tráo trở (bịa đặt xuyên tạc) để tấn công giới bất đồng chính kiến, giới dân chủ đối kháng và giới trí thức phản biện ở Việt Nam. 3- Cũng phải nêu tên một số lãnh đạo chức rất cao nhưng mặt cũng rất dày mà tên tuổi được công luận nhắc nhở qua nhiều sự kiện khác trong thời gian gần đây. Đó là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với lập trường “Kỷ luật (trong đảng) chỉ sinh ra thù oán, đối phó, thành phe phái, rối nội bộ” và cho thái độ bao che nhau này là “tư tưởng nhân văn” (Cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội hôm 01-12-12). Đó là cựu thứ trưởng bộ Tài nguyên Môi trường Đặng Hùng Võ mà hôm 8-11-2012, đã thừa nhận sai lầm và nhận lỗi trước mặt nông dân Văn Giang khi ký hai tờ trình năm 2004 dẫn đến việc Phó thủ tướng lúc ấy ký quyết định thu hồi đất trái luật, rồi chỉ vài hôm sau lại chẳng ngượng miệng nói việc thừa nhận ấy quá hấp tấp vội vàng !?! Đó cũng là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vốn đang ngậm tăm (và công luận sợ là đang rắp tâm) trước sự việc nữ diễn viên kiêm đạo diễn điện ảnh Nguyễn Thị Kim Chi, hôm 8-12-2012, từ chối lời khen của ông vì “không muốn trong nhà có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” và coi đó là một sự xúc phạm. Xấu hổ, liêm sỉ là một trong những đức tính Ông Trời phú bẩm cho con người để xây dựng nhân cách, chùn tay trước điều xấu định làm, sửa chữa những lỗi lầm đã phạm và thay đổi lối ứng xử, cách hành động của mình, đặc biệt đối với tha nhân và xã hội trong tương lai. Nhưng lịch sử mấy mươi năm của đảng CS cho thấy đức tính này hầu như vắng bóng hoàn toàn nơi các đảng viên, nhất là nơi hàng lãnh đạo đảng. Thảo nào chính trị ngày càng hà khắc, kinh tế ngày càng suy thoái, đạo đức ngày càng lụn bại, xã hội ngày càng hỗn loạn và đất nước ngày càng lâm nguy! BBT
Câu chuyện của cô Nguyễn Hoàng Vi, một blogger dân chủ kiên cường bị đám công an côn đồ làm nhục tại đồn phường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn hôm 28-12, nhân phiên tòa phúc thẩm 3 thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, quả đã gây chấn động và phẫn nộ nơi đồng bào Việt Nam từ trong ra tới ngoài nước và cả công luận quốc tế nữa. Tuy nhiên, đấy chỉ là một trong muôn vàn biểu hiện của việc đảng và nhà cầm quyền CSVN đã và đang lăng nhục bằng nhiều cách mọi con người, mọi công dân đang phải sống trên nước Việt. Đứng trước viễn cảnh chủ nghĩa ngày càng bị bêu riếu và sẽ bị vứt bỏ, chế độ ngày càng bị kinh tởm và sẽ bị tiêu diệt, đảng ngày càng bị khinh ghét và sẽ bị đào thải, Cộng sản đang dồn hết tàn lực để trấn áp, để chà đạp những ai đang sống trong vòng kềm tỏa của nó hầu níu kéo thêm cho mình thời gian tồn tại. Chúng ta hãy cùng nhau điểm qua những kiểu lăng nhục mà CSVN đang ngày càng tung ra đối với nhân dân và đất nước. 1- Văn minh hiện thời của nhân loại công nhận mọi con người đều có nhân phẩm mà trước hết là sống với một bản tính tự do, có những nhân quyền mà trước hết là sống trong một đất nước dân chủ. Sự lăng nhục đầu tiên do đó đến từ những nhà cầm quyền chủ trương chế độ độc tài, nhất là độc tài toàn trị. Và đấy là điều mà CSVN đang thực hiện. Đang khi nhân loại năm châu ngày càng đi vào xu hướng toàn cầu hóa về dân chủ, như thấy qua các cuộc cách mạng chống độc tài tại Trung Đông và Bắc Phi, qua sự chuyển dần từng bước theo đường dân chủ tại Miến Điện và qua cuộc chiến khử bạo tàn hiện nay tại Syria, thì đảng cầm quyền tại Việt Nam, dù mất hết uy tín trước nhân dân do bất lực và bất tài, lại càng ra sức củng cố ách thống trị của mình hòng giữ lấy ngai vàng và túi bạc. Họ dùng đủ mọi cách để đè bẹp, lăng nhục cuộc đấu tranh ngày càng mãnh liệt của nhiều công dân trong nước nhằm phản đối lối hành động, phê phán kiểu cai trị và chất vấn quyền lãnh đạo tuyệt đối toàn diện của đảng, hầu đòi lại quyền tự do cho con người, quyền tự quyết cho dân tộc, quyền toàn vẹn lãnh thổ cho quốc gia. Thái độ khinh bỉ khát vọng tự do dân chủ của toàn dân đã ngang nhiên bày tỏ qua Tuyên bố của Hội nghị lần 6 Ban Chấp hành TW đảng khẳng định đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất của đất nước, qua phát biểu gần đây của tay Thủ tướng độc tài nhất quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập, qua cái gọi là “trưng cầu dân ý về sửa đổi Hiến pháp 1992” trong đó việc giữ lại điều 4 đã là ngón đòn chặn họng, là cú tát vào mặt toàn thể nhân dân! 2- Tiến bộ hiện thời của nhân loại xác nhận nền kinh tế thị trường (với các công ty tư nhân cạnh tranh lành mạnh và phi độc quyền) là phương thức tốt hảo để phát triển đất nước về mặt vật chất, mang lại công ăn việc làm cho vô khối người dân và cơm no áo ấm cho đại đa số gia đình. Chính sự no cơm ấm áo này là một trong những yếu tố làm nên tự do và nhân phẩm. Thế nhưng, CSVN vẫn cứ chủ trương kinh tế nhà nước là chủ đạo, công ty quốc doanh là ưu tiên, một đàng để đảng viên và thân tộc có nhiều thuận lợi nhất hầu thao túng kinh tế, làm giàu dễ dàng, một đàng để giữ nhân dân trong tình trạng nếu không đói khổ triền miên thì cũng đầu tắt mặt tối mưu sinh hòng đảng yên tâm thống trị. Và đây chính là một sự lăng nhục con người. Trong thực tế tại Việt Nam, đường lối kinh tế ấy của đảng quả đã giúp cho đảng viên cán bộ, đặc biệt cao cấp, ngày càng trở nên giàu sụ, thành giai cấp tư bản đỏ, nắm các tổng công ty, đại tập đoàn, ngân hàng lớn. Nhưng chính việc lợi dụng quyền lực lẫn ưu ái của đảng, việc tung tiền do tham nhũng ra mua đất đai nhà cửa, đầu cơ chứng khoán và bất động sản, việc làm kinh tế chỉ nhằm tư lợi bản thân gia đình chứ không phục vụ đồng bào xã hội, đã giết chết các công ty vừa và nhỏ do tư nhân làm chủ, dẫn tới tình trạng tổng sản lượng nội địa ngày càng đi xuống, đồng tiền Việt từ từ mất giá trị, hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân bị giải thể, kéo theo sự đổ vỡ của chính các công ty nhà nước và khiến tuyệt đại đa số nhân dân lâm cảnh khốn cùng. Dù vậy, sau Hội nghị TW 6, đảng tiếp tục duy trì chính sách kinh tế bất công và sai lạc đó, nhằm giúp các công ty của đảng viên bù lỗ trả nợ, tạo điều kiện cho đảng viên tiếp tục vơ vét làm giàu, bất chấp dân tình điêu linh khốn khổ. Đẩy tuyệt đại đa số nhân dân vào cảnh thê thảm kinh tế như thế là một sự lăng nhục không thể chấp nhận. 3- Thành tựu hiện thời của nhân loại là đã xác định mọi con người đều được thủ đắc và hưởng dụng các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội (xem hai Công ước quốc tế nhân quyền do Ðại hội đồng LHQ ban hành năm 1966). Từ đó, pháp luật của mọi quốc gia đều có mục tiêu cổ vũ, bảo vệ, tăng cường các quyền con người và quyền công dân ấy. Thế nhưng, đảng CSVN tiếp tục coi mọi bộ luật và toàn thể hệ thống tư pháp là công cụ bảo vệ quyền lực độc đoán của mình hơn là cổ vũ nhân quyền và bênh vực lẽ phải. Hầu hết mọi văn bản pháp luật (liên quan đến 5 quyền cơ bản và tổng quát nói trên) được đưa ra hay tu chính chẳng hề nhắm đến quyền lợi chính đáng của công dân mà chỉ để củng cố quyền uy của đảng. Điều này thấy rõ trong các phiên tòa chính trị xét xử các công dân dám lên tiếng phản đối bất công bạo hành của người nhà nước, đòi lại đất đai, nhà cửa, tài sản bị cán bộ đảng viên cướp đoạt, đấu tranh cho các quyền tự do tôn giáo, bầu cử, ngôn luận, lập hội bị đảng tước đoạt…, chống ngoại bang xâm lấn bằng biểu tình, viết bài, sáng tác nhạc, rải truyền đơn… Tại các phiên tòa đó, công an điều tra, viện kiểm sát công tố, chánh thẩm và bồi thẩm luôn nhất nhất tuân lệnh đảng, không ngừng câu kết hiệp đồng với nhau để chỉ làm một việc là kết tội, là trừng phạt với những bản án định sẵn; các luật sư thì bị ngăn cản tác nghiệp từ nghiên cứu hồ sơ đến biện hộ trước tòa; các bị cáo bị tước các quyền cơ bản như hỗ trợ tâm lý, cố vấn pháp luật, bào chữa bản thân; thân nhân bằng hữu của họ thì bị cấm tham dự phiên tòa, thậm chí bị hành hung lăng nhục. Các vụ sơ thẩm và phúc thẩm năm qua là những bằng chứng sờ sờ. Chưa hết, trại giam tiếp tục đối xử khắc nghiệt với nhiều tù nhân lương tâm để buộc họ phải nhận tội, hầu lường gạt công luận rằng luật pháp và án xử nhà nước là chính đáng. Đó quả thật là sự lăng nhục công lý lẫn phẩm giá con người cách trắng trợn. 4- Kể từ xa xưa, mà đặc biệt hiện nay, các chế độ nhân bản và văn minh đều tôn trọng quyền tư hữu tài sản, nhất là tư hữu đất đai. Vì đó là một trong những điều kiện để bảo vệ tự do và nhân phẩm. Thế nhưng, từ gần 60 năm trên thực tế và hơn 20 năm trên pháp lý, đảng CSVN luôn chủ trương “đất đai thuộc toàn dân do nhà nước đại diện sở hữu”. Chính sách bất công trắng trợn, đường lối cùng cực phi lý, quan niệm hư ảo lừa bịp này đã tước bỏ cái quyền cơ bản và chính đáng của nhân dân mà lịch sử và nhân loại nghìn năm đều công nhận. Chính sách đó thực tế đã tạo điều kiện cho quan chức, cán bộ, đảng viên địa phương cướp trắng gia sản tổ tiên, công sức xương máu của hàng chục triệu dân lành qua chiêu bài “quy hoạch đô thị”, “phát triển kinh tế”, “xây dựng công nghiệp”… Nó đã đẩy hàng triệu gia đình vào đường cùng (đến nỗi có kẻ đã phản ứng với ít nhiều bạo lực), lâm cảnh vô nghề vô nghiệp, dở sống dở chết, con cái mờ mịt tương lai. Đó là chưa kể nó khiến nhân dân lo âu hồi hộp tại nơi đang sống vì không biết sẽ bị bứng lúc nào, và nông dân chẳng thèm làm cho đất đai đang thuê mướn của nhà nước thêm màu mỡ. Khốn thay, hội nghị Trung ương 6 và Dự thảo Luật đất đai sửa đổi vẫn ngoan cố bám giữ chính sách sai lầm đó và duy trì tình trạng thê thảm này. Đẩy nhân dân vào sự lệ thuộc nhà nước và vào sự bấp bênh cuộc sống như thế, khiến người ta không thể an cư lạc nghiệp, là 1 sự lăng nhục quyền sống của con người. 5- Cũng kể từ xa xưa, mà đặc biệt hiện nay, các chế độ nhân bản và văn minh đều tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Vì đó cũng là một trong những điều kiện để nhân phẩm quý cao được thăng tiến và nhân tính thiêng liêng được bảo toàn. Điều này đương nhiên đòi buộc các chính quyền phải công nhận cho các tổ chức tôn giáo, tức các giáo hội, được quyền có quy chế pháp nhân, quyền độc lập trong tổ chức, quyền tự do trong sinh hoạt, quyền rao giảng giáo lý cho quần chúng, quyền tham gia việc giáo dục giới trẻ và quyền hoạt động cứu trợ xã hội. Thế nhưng, CSVN vẫn luôn nuôi ý đồ biến các Giáo hội thành công cụ phục vụ chế độ. Sau thất bại trong việc tiêu diệt tôn giáo bằng bạo lực vũ khí, họ chuyển sang bạo lực hành chánh. Đảng chỉ thí ban các thứ tự do tôn giáo phụ tùy như tổ chức lễ hội, xây dựng điện thờ, cho chức sắc ra ngoại quốc (nhưng chỉ đối với những ai không có vấn đề với chế độ) nhằm lừa gạt công luận, còn những thứ tự do tôn giáo chủ yếu và đích thật nói trên thì hầu như chẳng có trên lý thuyết lẫn hiện thực. Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo và Nghị định 92 áp dụng Pháp lệnh này chỉ là một sợi dây thòng lọng ngày càng siết cổ tôn giáo để biến các Giáo hội hoặc thành những cơ thể thiếu máu hoặc thành những công cụ ngoan ngoãn. Nhiều sự cố đau lòng (tức các cuộc đàn áp) luôn xảy ra cho mọi Giáo hội. Chạm tới tôn giáo như thế là chà đạp và lăng nhục một trong những nền tảng của phẩm giá con người: đạo đức cõi lòng và tâm linh hướng thượng. 6- Còn nhiều kiểu lăng nhục nhân dân của CSVN nữa. Thời sự nhất là việc đảng tăng cường “giáo dục” nhân dân về “lòng biết ơn, tình hữu nghị” đối với Trung Quốc và ru ngủ nhân dân hãy “để đảng và nhà nước lo chuyện bang giao” với cái nước lớn luôn nuôi mộng thôn tính VN này. Giành quyền lo việc nước vào tay mình, ngăn cản trấn áp tất cả mọi biểu hiện về lòng ái quốc chống quân xâm lược (từ nghiên cứu lịch sử đến hội họp thảo luận, từ phát biểu báo đài đến đăng bài trên mạng, từ giăng biểu ngữ đến rải truyền đơn, từ kiến nghị văn bản đến xuống đường biểu tình…), đảng CSVN thực ra chỉ mong thỏa hiệp với lũ cướp nước để được yên thân, muốn ung dung làm thái thú Tàu để giữ quyền lực, cam tâm đem bán đất nước để mua phú quý. Đó là một sự lăng nhục khôn cùng chẳng những với đồng bào mà còn với Tiên tổ. Kết: Phẫn nộ và lên tiếng về việc cô Nguyễn Hoàng Vi bị làm nhục là điều chính đáng và cần thiết. Nhưng chính đáng và cần thiết hơn biết bao trước những kiểu lăng nhục mà CS đang làm đối với Tổ quốc đất nước, nhân dân đồng bào như vừa thấy, những kiểu lăng nhục còn ngàn lần sâu rộng hơn, thấm thía hơn, tai hại hơn. Chẳng lẽ toàn dân cứ đứng yên cho chúng xúc phạm? BAN BIÊN TẬP