Untitled Document
User:
Pass:

Quan Điểm

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Mỗi năm, đúng hôm 03-09, nhà cầm quyền VN lại rùm beng tổ chức “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”. Cái tên nghe thật kêu, như chứng tỏ “đảng ta” quan tâm về giáo dục lắm. Nhiều bích chương có hình 2 trẻ nhỏ, một nam một nữ, mang khăn quàng đỏ của Đội thiếu nhi Tiền Phong, đứng dưới cờ đỏ sao vàng với giòng chữ ở đỉnh hay đáy bích chương: “Từ ngày có Đảng”, được treo khắp phố phường, làm như thể dân Việt chỉ được đến trường từ ngày đảng CS xuất hiện. Thế nhưng, ngoại trừ kẻ mắc bệnh tâm thần, ai cũng biết rằng nền giáo dục của CSVN là nền giáo dục khốn nạn nhất trên thế giới. Với đủ thứ thành tích rất đáng xấu hổ và tệ trạng vô phương chữa trị. Về tư cách lãnh đạo thì trước hết là chuyện đích thân bộ trưởng giáo dục kiêm phó thủ tướng (nay chỉ còn chức PTT) được các trang blogs bầu chọn là nhân vật tồi tệ nhất trong 2 năm liền (2007-2008), vì đã đẩy nền giáo dục ngày càng xuống hố thẳm. Thầy có một thành tích nổi bật là đã lệnh cho các hiệu trưởng đại học từ Nam chí Bắc (chính các vị này cũng nhất trí đồng lòng) ra văn thư cấm cản sinh viên biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Trường Sa năm 2007-2008. Còn đích thân thầy thì chủ tọa cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh qua Sài Gòn ngày 30-04-2008 với thái độ thản nhiên trước bản đồ Trung Hoa do thanh niên Tàu giương cao trong đó Hoàng Trường Sa được ghi là lãnh thổ Trung Cộng… Kế tiếp là chuyện thầy hiệu trưởng trường trung học thị trấn Việt Lâm (tỉnh Hà Giang) đứng ra thành lập đường dây mua bán trinh trẻ vị thành niên, những nữ sinh yêu quý của thầy, để “phục vụ sinh lý” cho các quan chức lớn trong tỉnh... Gần đây nhất, hôm tháng 8, là chuyện hai nhân vật lớn từ Bộ Giáo dục (trong đó có một Thứ trưởng) đã tìm cách gây khó khăn cho Đại học tư thục Phan Châu Trinh tại Hội An, Quảng Nam nhằm mục đích loại ban quản trị để chiếm lấy trường… Còn vô số “gương lành lãnh đạo” khác nữa… Về đạo đức học đường thì hầu như ngày nào cũng có chỗ xảy ra cảnh dân phòng hay công an tra tấn học sinh sinh viên kiểu xã hội đen; thầy giáo hiếp dâm học trò, đổi tình lấy điểm, lén coi nữ sinh thay y phục; cô giáo bắt học trò liếm ghế, cho bạn tát tai bạn, sờ chỗ kín của nam sinh; học trò đánh thầy giáo, đánh bạn học (thậm chí nữ sinh cũng đấm đá nhau chí tử rồi tung lên mạng), học trò vay nóng, lãi cao để chơi game hay hút xì ke bị xã hội đen dọa giết, nữ sinh viên để kiếm tiền trả học phí đành làm gái gọi v.v… Rồi nạn dối trá tràn lan, như lời nhà văn Trần Mạnh Hảo (trong tham luận gởi Đại hội Hội Nhà văn mới đây): “Đạo đức trong giáo dục VN hôm nay đồng nghĩa với dối trá : thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục VN…”. Ngoài ra còn phải kể đến nạn ban giám hiệu, sở giáo dục hay cả bộ giáo dục hăm dọa, cấm cản học sinh sinh viên sống niềm tin tôn giáo (như tại Nghệ An), sách nhiễu, loại trừ các thầy cô có tinh thần độc lập hay dân chủ (như Nguyễn Thị Bích Hạnh, Đỗ Việt Khoa, Vũ Hùng...); dửng dưng trước việc các nữ sinh nạn nhân ở trường Việt Lâm đã bị tuyên là tội phạm, chịu những án tù dài; bỏ mặc cho công an đày đọa giáo sư Phạm Minh Hoàng chỉ vì thầy có chính kiến khác với đảng thống trị… Về thành tích giáo dục thì kết quả kỳ thi tốt nghiệp năm nào cũng dưới 50% nhưng lại được đôn lên gần 100%... VN không có đại học nào chất lượng được thế giới công nhận. Chẳng cơ sở nào của VN có tên trong mọi danh sách các đại học hàng đầu châu Á. Trong số các bài viết xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007, thì Đại học Quốc gia Seoul (Hàn quốc) có 5.060 bài, Đại học Quốc gia Singapore: 3.598, Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc): 3.219, Đại học Mahidol (Thái Lan): 950, Đại học Malaya (Malaysia): 504, Đại học Manila (Philippin): 220, còn Đại học Quốc gia VN (cả Hà Nội lẫn Sài Gòn) chỉ có 52 bài. (x. Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters). Đến nay VN vẫn lẹt đẹt như vây. Chỉ số sáng tạo thì trong số bằng sáng chế được cấp năm 2006, Hàn Quốc có 102.633 bằng, Trung Quốc: 26.292, Singapore: 995, Thái Lan: 158, Malaysia: 147, Philippines: 76, còn VN ta là một con số 0 vĩ đại (x. World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review). Đến nay ta vẫn chưa khá lên nổi. Dĩ nhiên còn nhiều tệ nạn khác trong ngành giáo dục như tham nhũng từ cao xuống thấp, cơ sở và giáo viên thiếu thốn, trường ốc xập xệ, học cụ nghèo nàn, giáo khoa đắt đỏ, môn chính trị quá nặng, học sinh nghèo bỏ học… Có người cho tất cả những tệ nạn trên là do đất nước đã trải qua một cuộc chiến tàn phá tổn hại, do sự yếu kém trong quản lý giáo dục, do nền kinh tế của đất nước và quốc dân còn nghèo nàn, do việc đào tạo thầy cô ở mọi cấp chưa được chu đáo hoàn chỉnh, do sự thiếu cọ xát giao lưu với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới…. Theo chúng tôi thiết nghĩ, đó chỉ là những nguyên nhân phụ. Nguyên nhân chính vẫn là đường lối giáo dục, bao gồm triết lý giáo dục và mục tiêu đào tạo , vốn do đảng Cộng sản đề ra. Điều này được trình bày rõ ràng trong Luật Giáo dục do Quốc hội khóa 11 ban hành ngày 14-06-2005. “Điều 2: Mục tiêu giáo dục: Đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức… trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội….”. “Điều 3: Tính chất, nguyên lý giáo dục: 1. Nền giáo dục VN là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. “Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất… hình thành nhân cách con người VN xã hội chủ nghĩa…”. “Điều 40: Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản… và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…” Tất cả các điều này rõ ràng cho thấy đảng và nhà cầm quyền Cộng sản VN quyết tâm đào tạo con người VN theo một chủ nghĩa đã bị nhân loại vất vào sọt rác từ mấy chục năm nay vì phi nhân và bất lực, dối trá và cưỡng bức, sai lầm và ảo tưởng, noi gương một con người mà đạo đức là vô luân và tư tưởng là vô thực, hướng đến một mục tiêu, lý tưởng và nhân cách chưa bao giờ xác định được là “chủ nghĩa xã hội”. Rồi để bảo đảm đi đúng đường lối giáo dục này, Điều 56 cho biết trong mọi trường (có lẽ trừ mẫu giáo của các Giáo hội) đều có Tổ chức Đảng: “Tổ chức Đảng Cộng sản VN trong nhà trường lãnh đạo nhà trường…”. Cụ thể là mọi hiệu trưởng các cấp đều phải là đảng viên và trong mỗi trường đều có đảng ủy, chưa kể Đoàn thanh niên CS Hồ Chí Minh (với nhiều đoàn viên đóng vai công an học trò theo dõi thầy giáo và bạn học) hoặc Đội thiếu nhi Tiền Phong trong các trường cấp 1 (với nhiều đội viên có nhiệm vụ báo cáo về cô giáo). Tổ chức đảng này còn nằm trong những Sở giáo dục tỉnh, thành, quận, huyện mà mục tiêu chủ yếu là theo dõi chính kiến của phụ huynh và học sinh. Một chính đảng cầm quyền và một chính phủ công cụ mang trong mình ba đặc tính cố hữu: “tàn ác cách lạnh lùng, dối trá cách bình thản, ngu dốt cách cố chấp”, sáu yếu tố tự hủy: “vô thần, duy vật, hận thù, bạo lực, bất công và gian trá”, đã và đang thất bại trong các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng… thì làm sao có một nền giáo dục lành mạnh, nhân bản và hiệu quả? làm sao đào tạo được những công dân trưởng thành, tự do và độc lập cho đất nước? Có chăng là chỉ đào tạo được những thần dân hoặc trung thành tối mặt với đảng, hoặc khiếp nhược im lặng trước đảng, nghĩa là thành nô lệ hay công cụ cho đảng. Và tất cả những tệ nạn trên kia chỉ là hậu quả của đường lối chính trị hóa giáo dục đó. Đến đây, không thể không ngậm ngùi luyến tiếc nền Giáo dục của VN Cộng Hòa trước năm 1975. Triết lý giáo dục thời đó theo ba nguyên tắc "nhân bản", "dân tộc" và "khai phóng" (liberal), được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp VNCH (1967). Nhân bản vì lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản; xem con người như cứu cánh chứ không như phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái hay tổ chức nào. Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Dân tộc vì tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia; bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Khai phóng nghĩa là mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới. Còn Mục tiêu giáo dục Phát triển toàn diện mỗi cá nhân trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của từng học sinh; cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, đường hướng định sẵn. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh , bằng cách giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường và lối sống của người dân; biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở, ca ngợi tinh thần đoàn kết đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; học và sử dụng tiếng Việt cách hiệu quả; biết bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia, có tinh thần tự tin, tự lực và tự lập. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại (theo Wikipedia) Làm văn hóa giáo dục sai là giết chết cả một thế hệ. Từ 1954 tới nay, CS đã giết chết bao thế hệ? Ngày nào nó mất đi, thì làm sống lại các thế hệ cũng không phải là điều dễ dàng!!! Ban Biên Tập

 

Boris Pasternak (1890-1960), Arthur Koestler (1905-1983), Milovan Djilas (1911-1995), Virgil Gheorghiu (1916-1992) Alexandre Soljenitsyne (1918-2008)… là những văn sĩ lừng danh thế giới với những tác phẩm sắc bén và mạnh mẽ, có cuốn đoạt giải Nobel. Boris Pasternak với cuốn “Bác sĩ Zhivago”, Arthur Koestler với cuốn “Bóng tối giữa trưa”, Milovan Djilas với cuốn “Giai cấp mới”, Virgil Gheorghiu với cuốn “Giờ thứ 25” và cuốn “Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành”, Alexandre Soljenitsyne với cuốn “Quần đảo tù ngục”… Ngoại trừ cuốn “Giờ thứ 25” lên án chủ nghĩa Phát-xít Đức, các cuốn còn lại đều lên án chủ nghĩa và chế độ Cộng sản, bênh vực các nạn nhân của chế độ khốn nạn chưa từng có trong lịch sử này. Chính vì thế họ đã được nhân loại tôn phong như những chứng nhân và người tố cáo thời đại, trở thành khuôn mặt tiêu biểu của giới văn sĩ thế kỷ XX… Nhà văn Ngô Minh, trong bài tham luận gởi Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 8 (Đã đi với nhân dân thì thơ không thể khác) cũng viết: “Có thể khẳng định rằng, lịch sử các tác phẩm nổi tiếng của văn chương Việt Nam trước năm 1945 đều là lịch sử sự đồng hành của Nhà văn với người dân cùng khổ. Cổ điển có “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, “Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu v.v... Hiện đại trước Cách mạng có “Chí Phèo”, “Sống mòn” của Nam Cao, “Bỉ Vỏ” của Nguyên Hồng, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Giông tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ” của Vũ Trọng Phụng, “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân, truyện ngắn Thạch Lam, Kim Lân…” Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cũng có những nhà văn. 923 người trong họ là thành viên của Hội Nhà văn Việt Nam và vừa họp Đại hội lần thứ 8 tại Hà Nội (như nêu trên) từ hôm 4 đến 6-08 mới rồi. Đây là một sự kiện quan trọng, được đồng bào Việt Nam từ trong ra tới ngoài nước theo dõi. Ta thử xem có gì đáng để ý. Trước hết, Đại hội nhóm họp tại hội trường Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (tức là trường Đảng). Khai mạc Đại hội, ông Phùng Hữu Phú, Phó thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương (tức người của Đảng) đã phát biểu chỉ đạo. Theo ông Phú thì Đại hội Nhà văn lần thứ 8 được lãnh đạo Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, đặc biệt qua việc có một Ban chỉ đạo Đại hội được thành lập! Tới dự buổi khai mạc này còn có ông Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư (lại Đảng ở cấp tối thượng). Ông Sang đánh giá đây là sự kiện chính trị quan trọng của các nhà văn Việt Nam (mà 624/923 là đảng viên), và ông đặt niềm tin vào họ trong “sứ mệnh vì sự cường thịnh của đất nước và vì phẩm giá con người”. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn khóa 7 đã thay mặt Hội nhận bức trướng Ban Bí thư tặng gồm 8 chữ vàng “Ðoàn kết - Dân chủ - Xây dựng - Sáng tạo” như khẩu hiệu của Đại hội từ tay ông Sang. Rõ ràng bóng ma đảng Cộng sản ngay từ đầu đã phủ lên Đại hội! Tiếp đến, ngồi trên ghế chủ tịch đoàn trước hết có ông Hữu Thỉnh, một người nổi tiếng nhờ “tình yêu đắm đuối nhất nước dành cho Bác và Đảng”, nhờ lời tuyên bố trong Đại hội các nhà văn công an trước đó rằng nếu không đưa từ “chính trị” vào cương lĩnh Hội (Hội Nhà văn là một hội chính trị nghề nghiệp) thì sẽ xin ra khỏi Hội, và nhất là nhờ tài đạo thơ, lấy cả ý lẫn từ một bài thơ Đức (được dịch ở Sài Gòn trước năm 1975) để làm thành thi phẩm “Hỏi”, bị tờ Vietnamnet và nhà phê bình Đặng Tiến tố cáo. Hai bên ông ta là hai nhà văn công an (mang sắc phục đàng hoàng) mà một là trung tướng Hữu Ước. Ông này cũng nổi tiếng không kém, trước hết như tay chuyên bịa đặt vu khống các nhà dân chủ trên tờ An ninh Thế giới của ông (bị họ vạch mặt tố cáo nhiều lần), thứ đến như kẻ tự nhận đa tài nhưng lại bị nhà văn Trần Mạnh Hảo gọi là nhạc sĩ mù nhạc, họa sĩ mù màu, nhà văn ít chữ…, và trong chính Đại hội thì bị hầu hết các nhà văn đánh giá là điều hành Đại hội rất xách mé, côn đồ và trịch thượng. Chính vì thế mà theo tin tức của báo chí, đặc biệt của chính các nhà văn truyền ra bên ngoài trong và sau Đại hội, những nhà văn nào lên đọc tham luận kiểu xã luận báo Nhân Dân thì được chủ tịch đoàn mở micro nghe hết cỡ. Còn những nhà văn nói về thân phận con người, số phận nhân dân, thảm trạng đất nước thì micro bỗng trở nên nhỏ không nghe được. Tham luận của Giáo sư Phong Lê có nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa, đến nguy cơ mất nước thì micro bị nhiễu, rè như kẻ khản đặc tiếng, nghe câu được câu chăng… Nhà thơ Bùi Minh Quốc, sau nhiều lần xin phát biểu mà không được (có lẽ vì bài tham luận phổ biến trước đó: “Tổ quốc và Tự do”), cuối cùng khi được lên nói, có nhắc đến Trường Sa, Hoàng Sa và tinh thần yêu nước, thì bị đuổi xuống bằng nhiều tràng vỗ tay đểu. Phát biểu của nhà văn bỏ đảng Phạm Đình Trọng thì bị micro đểu làm méo hết giọng. Đau nhất có lẽ là nhà văn Trần Mạnh Hảo, một tín đồ Công giáo đồng thời là thành viên Khối 8406 (số đăng ký 42). Trước đó khoảng một tuần, trên mạng đã thấy lưu hành bài tham luận của ông nhan đề “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước”. Đây là một bài gây chấn động cả trong lẫn ngoài nước vì thẳng thắn và mạnh mẽ, dám vạch trần những gian dối đủ mặt của chế độ Cộng sản qua ba loại sự thật đang bị chà đạp. Ông cho biết (qua bài trả lời phỏng vấn của BBC 09-08-2010): “Tôi có viết bài tham luận rất dài, đã nộp lên ban lãnh đạo Hội nhưng họ không cho đọc. Vậy nên hôm 05-08 tôi chỉ xin lên phát biểu mấy câu. Họ cũng không cho lên, nên mấy người bạn ở bên cạnh mới giành lấy chiếc micro đưa cho tôi. Tôi vừa nói được mấy chữ 'Kính thưa' thì micro tắt tiếng. Thế là tôi phải bước lên trên chỗ bục chủ tọa để dùng micro trên đó. Mới nói được như thế này: "Kính thưa quý vị, hình như tôi đã đi nhầm địa chỉ. Tôi cứ tưởng đây là Đại hội Nhà văn, nhưng hình như lại là Đại hội chính trị, tranh giành quyền lực. Tại sao mà chúng ta lại để không khí trở nên căng thẳng và thiếu văn hóa đến như vậy? Tôi thấy các vị đã đánh tráo khái niệm." Nói đến đó thì micro tắt tiếng. Tôi không biết nên vẫn tiếp tục nói thêm một lúc. Sau đó thì ông Hữu Thỉnh và ông Hữu Ước trên đoàn chủ tịch có giải thích là lý do kỹ thuật, ông Thỉnh cũng xin lỗi tôi ở trong Đại hội. Thế nhưng khi tôi bước xuống thì âm thanh trở lại bình thường”. Chưa hết! Đến lúc bầu Ban chấp hành mới thì lại thấy thêm không khí “quần ngư tranh thực” rất vô văn hóa của Đại hội này. Nhà thơ Hữu Thỉnh, sau hơn 10 năm làm chủ tịch với thành tích quan trọng nhất là duy trì sự kiểm soát và khống chế của Đảng CS trên trái tim và đầu óc của các nhà văn, nay lại trúng cử chủ tịch lần thứ ba, tham quyền cố vị thêm 5 năm nữa. Về việc ông Thỉnh trúng cử với số phiếu cao nhất trong Ban chấp hành 15 người này, nhà văn Trần Mạnh Hảo nhận định (trong cuộc chat với Đàn Chim Việt): “Tín nhiệm nên mới đa số phiếu. Nhưng có Nhà văn bảo: bố ai biết ma ăn cỗ ở chỗ nào. Đám kiểm phiếu là người của ông Thỉnh… Cứ để ý mà xem, sau lần kiểm phiếu toàn thắng, mấy Nhà văn kiểm phiếu đều có thưởng, được ông Thỉnh cho đi thăm nước ngoài, gọi là thưởng cho tinh thần kiểm phiếu hết sức bí mật, hết sức trung thực của các đồng chí. Các đồng chí kiểm phiếu tuyệt, tuyệt vời, trên cả tuyệt vời, tốt tốt tốt”. Rồi theo tin từ trang web Talawas.org mấy hôm trước, khi Đại hội chưa bầu thì ông Trương Tấn Sang đã ký xong cho ông Hữu Thỉnh giấy bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội Nhà văn VN từ tuần trước rồi. Quả không khác chi các trò hề bỏ phiếu Quốc hội kiểu “đảng cử (trước) dân bầu (sau)” tại Việt Nam suốt mấy chục năm qua. Một chi tiết khôi hài khác là có đến 357 người được và tự đề cử vào Ban Chấp hành. Vị trí này chắc là béo bở lắm, vì từ năm 2005-2010, Hội Nhà văn đã được Nhà nước cấp 86,6 tỷ đồng, trong đó có chỉ có 14,7 tỷ tài trợ sáng tác, hơn 5 tỷ tài trợ tác phẩm chất lượng cao cho 235 Nhà văn, hơn 4,2 tỷ tài trợ công bố tác phẩm cho 802 lượt. Rõ ràng Đại hội với khẩu hiệu om sòm “Ðoàn kết - Dân chủ - Xây dựng - Sáng tạo” chỉ là một màn kịch kệch cỡm khôi hài, càng khôi hài vì nhân sự lại là những con người lẽ ra phải có văn hóa, lịch lãm (chỉ trừ một thiểu số). Tất cả chúng ta đều biết: xét như quyền lực độc tài và toàn trị, các đảng Cộng sản từ Đông sang Tây, từ trước tới giờ, đều thành lập Hội Nhà văn để kiểm soát thành phần ưu tú, tiếng nói dẫn dắt này của xã hội. Hội Nhà văn Việt Nam đã được Hồ Chí Minh thành lập vào năm 1957, tách ra từ Hội Văn học và Nghệ thuật. Đảng lập ra Hội, thì hội viên phải viết theo đúng định hướng và chỉ thị của Đảng. Điều này được xác định rõ ràng trong Điều lệ của Hội (đoạn 3): “Hội Nhà văn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN; Hội hoạt động theo đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng; chịu sự quản lý của Nhà nước và tuân thủ theo quy định của pháp luật Nhà nước CHXHCNVN” Không những thành lập, đảng còn cấp kinh phí hoạt động như thấy trên. “Ai trả tiền, nấy điều khiển”. Nhận tiền của ai thì phải làm cho họ, phục vụ mục đích của họ. Ý thức mối nguy đó, 28 nhà văn đã cùng ký tên kiến nghị đại hội dứt khoát rời bỏ cơ chế bao cấp, chuyển từ hội xin tiền nhà nước thành hội tự nuôi tự quản. Với tiếng nói ít ỏi như thế, dĩ nhiên việc này sẽ thất bại. Chính vì thế mà trong hơn 50 năm dưới chế độ CS, chẳng có tác phẩm nào lớn được xuất hiện, ngoại trừ những tác phẩm mang tính phê phán, đối kháng, trình bày thảm trạng con người và đất nước dưới sự cai trị của đảng. Nhiều nhà văn tiếp tục bán rẻ lương tâm, bẻ cong ngòi bút, tự nguyện trở thành nô bộc. Tiêu biểu như Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Hữu Thỉnh, Hữu Ước, Vũ Hạnh… Các Đại hội Hội Nhà văn vẫn mãi là những hài kịch. Tuy nhiên đó cũng chính là bi kịch, vì nhà văn không còn (được) đóng vai trò tiếng nói của nhân dân, ngọn đuốc của quần chúng, phản ảnh trung thực của xã hội và lương tâm của thời đại. May mà còn có những nhà văn nhà thơ giữ được khí phách và tiết tháo như Trần Mạnh Hảo, Bùi Minh Quốc, Võ Thị Hảo… nhất là 6 nhà văn (ngoài Hội) vừa được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tặng giải Hellman-Hammett. BAN BIÊN TẬP

 

Hôm 14-7-2010, cái gọi là “Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền” của Cộng sản Hà Nội đã tổ chức lễ ra mắt “Tạp chí Nhân quyền Việt Nam”. Đây là lần thứ ba Việt Cộng diễn trò hề trên sân khấu “Nhân quyền”! Lần thứ nhất là “Sách trắng về thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam” dày 82 trang do Bộ Ngoại giao CSVN công bố ngày 18-8-2005. Tài liệu này được chia ra làm 4 chương theo một thứ tự đã được sắp xếp với chủ đích đánh lạc hướng và tung hỏa mù cho độc giả: “Chương I: Quan điểm, chính sách của VN về quyền con người. Chương II: Những thành tựu của VN trong việc thực hiện và thúc đẩy quyền con người. Chương III: Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo đảm và phát triển quyền con người. Chương IV: Về một số luận điệu vu cáo VN trong vấn đề quyền con người”. Lần thứ hai là “Báo cáo quốc gia Kiểm điểm định kỳ việc Thực hiện quyền con người ở VN” cũng do Bộ Ngoại giao CS công bố trên trang mạng chính thức của bộ ngày 23-04-2009 và được trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc ở Geneva, Thụy Sỹ ngày 08-05-2009 tiếp đó. Theo lời giới thiệu trên Vietnamnet.vn ngày 23-04-2009, “Báo cáo gồm 22 trang, trình bày những thông tin cơ bản về VN, việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ở cấp quốc gia, trong đó có các quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em, phụ nữ, dân tộc thiểu số, người khuyết tật. Báo cáo cũng chỉ ra 5 bài học về thực hiện quyền con người ở VN. Trong đó, bài học quan trọng là đặt nhân tố con người vào trung tâm của sự phát triển đất nước, việc thực hiện các quyền con người không thể tách rời độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia”. Hai bản văn này đã bị cộng đồng người Việt tự do lẫn cộng đồng dân chủ quốc tế (qua các bài viết, diễn văn lẫn các cuộc biểu tình) chỉ ra những thống kê gian trá, những đánh tráo quan niệm, những lý luận ngụy biện cũng như những bưng bít hay xuyên tạc về thực trạng nhân quyền tại VN. Kể từ ấy, nhân loại càng thêm theo dõi tình hình nhân quyền tại quốc gia còn do CS nắm quyền này, một tình hình ngày càng tồi tệ và do đó ngày càng bị chỉ trích, nhất là bởi chính giới, báo giới và Việt kiều giới tại Mỹ trong thời điểm Hoa Kỳ và VN kỷ niệm 15 năm bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa hai nước (07/199507/2010). Đấy chính là lý do khiến Việt Cộng phải cho ra đời “Tạp chí Nhân quyền”, xuất bản mỗi tháng một kỳ, số đầu tiên đã ra mắt hôm 21-6-2010. Tổng biên tập là PGS-TS Bùi Quảng Bạ, vốn là thiếu tướng phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I (An ninh Đối ngoại)!?! Chuyên gia về an ninh tức là chuyên gia về nhân quyền à? Tại sao không phải là một luật sư về Công pháp quốc tế chẳng hạn? Tôn chỉ của tờ báo thì được Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo nêu rõ như sau : “1- Phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật trên lãnh vực quyền con người. 2- Tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng. 3- Nghiên cứu âm mưu, phương thức, thủ đoạn, hoạt động của các “thế lực thù địch” lợi dụng vấn đề dân chủ-nhân quyền chống phá Nhà nước”. Đài truyền hình VTV của CS cũng cho hay: “Phát biểu tại buổi lễ [ra mắt], Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, Trưởng ban chỉ đạo về nhân quyền của Chính phủ nhấn mạnh: Tạp chí Nhân quyền ra đời chính thức tạo thêm kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến chính sách của Ðảng, Pháp luật của Nhà nước về nhân quyền; giúp cho đồng bào ta ở trong nước cũng như nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ việc đảm bảo quyền con người là bản chất của chế độ, đồng thời góp phần phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với biểu hiện sai trái, thù địch về vấn đề nhân quyền ở VN.” Tôn chỉ thứ nhất và thứ hai của tờ báo cho thấy không cần thiết phải có nó, bởi lẽ hơn 700 báo giấy và hơn 200 báo hình, báo điện tử của nhà cầm quyền CSVN đã làm việc đó từ bao năm rồi, tức là nói lên chủ trương của đảng, chính sách của nhà nước về lãnh vực nhân quyền với một màu hồng khiến người dân ngao ngán và tởm lợm vì thực tế quá ư xám xịt. Tôn chỉ thứ ba rõ ràng đúng là não trạng CS: có tật giật mình, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù và xem mọi ai nói khác mình hay phê phán mình đều là thế lực thù địch, phải chống lại. Khi một tạp chí đưa ra hai chữ nhân quyền, thì tôn chỉ của nó phải là phổ biến và đấu tranh vì nhân quyền. Nếu các thế lực thù địch cấm cản hay chà đạp các quyền con người ở VN thì tạp chí NQVN có nhiệm vụ đấu tranh với chúng trên mặt trận truyền thông! Đằng này tạp chí lại đấu tranh với tất cả những cá nhân và tập thể trong lẫn ngoài nước đã và đang tố cáo VN chà đạp nhân quyền với những bằng chứng không thể chối cãi. Điều đó chẳng có nghĩa là tờ báo đã thừa nhận rằng ở VN đang có vấn đề nghiêm trọng về nhân quyền như công luận thế giới và nhân dân quốc nội đã vô số lần nêu bật sao? Trong số ra mắt, có lẽ tiêu biểu nhất là bài viết của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, thứ trưởng bộ Công an, “Hãy hiểu đúng về Nhân quyền VN”. Lại cũng một sĩ quan an ninh nói về nhân quyền! Độc đáo của chế độ ta chăng? Đại ý bài viết là: quan niệm nhân quyền ở VN khác với quan niệm nhân quyền Tây phương; nhân quyền của người Việt gói gọn trong những nhu cầu tối thiểu là có cơm ăn, áo mặc, được học hành (như ham muốn tột bậc của “Bác Hồ”); rồi đảng và chính phủ VN đã chăm lo việc này hơn tất cả mọi chính phủ khác trên thế giới!?! Quả thế, vị thứ trưởng nổi tiếng về kiến thức (bậc nhất ngành công an) và về ngụy biện này trước hết cho rằng “những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có VN. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình”. Có thật thế không thưa thứ trưởng, hay ngược lại là gia đình điêu đứng, xã hội hỗn loạn, văn hóa suy đồi, đạo đức băng hoại, bản sắc dân tộc đang mất dần đi tại VN? Tác giả còn trâng tráo viết tiếp: Đến nay VN được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần. Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao”. Ổn định chính trị đúng rồi, nhờ họng súng, nhà tù và công an! Cường quốc xuất khẩu gạo đúng rồi, nhưng nông dân vẫn đói khổ và VN vẫn là một trong 10 quốc gia nghèo nhất thế giới. Cuộc sống được nâng cao đúng rồi, nhưng cho toàn dân hay cho đảng viên cán bộ cao cấp? Tiêu chuẩn nhân quyền được củng cố đúng rồi, nhưng chỉ trong Hiến pháp với những ngôn từ đẹp đẽ và trong tuyên bố của các lãnh đạo với những lời lẽ lừa gạt thôi! Cuối cùng, trong cơn bốc đồng, tác giả hạ bút: “Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo…. Nhà nước và Chính phủ VN đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có Chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy”. Tuyệt vời như vậy sao? Vậy mà thưa thứ trưởng, dân Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi (bằng nhiều cách nhiều ngả), dân oan vẫn tiếp tục lê lết trên đường khiếu kiện cả chục năm trời, dân nghèo vẫn tiếp tục chết lần mòn trong các nhà thương và con cái họ tiếp tục bỏ lần hồi các trường học, thanh niên thiếu nữ vẫn tiếp tục tìm sinh kế ở nước ngoài để rồi rơi vào thảm trạng thành lao nô và tình nô…. Đúng ra, phải nhận định như bác sĩ Nguyễn Đan Quế (qua phỏng vấn của đài VOA hôm Thứ Hai, 19-07-2010): “Cái cốt lõi của chủ nghĩa Cộng sản của họ là không thật tâm tôn trọng nhân quyền. Về chiến thuật, để được hưởng những viện trợ về kinh tế, đầu tư, buôn bán… họ biết rằng không có cách nào tránh được chuyện không làm một số những nhượng bộ về tôn trọng nhân quyền. Đây là họ đang muốn dọ dẫm để xem có thể nhượng bộ, làm vừa lòng những đòi hỏi về nhân quyền trong nước, ngoài nước cũng như của thế giới, nhất là của Hoa Kỳ và Tây phương, đến mức độ nào mà vẫn duy trì được cái độc tài toàn trị”. Đúng ra, “nhân quyền” trong xã hội VN hôm nay, nếu có, chính là lời tuyên bố cũng của ông Hưởng (trong phút nói thật và nói toạc) dịp hè năm ngoái, khi dư luận xôn xao về vụ Thủ tướng CS kí quyết định cấm đoán các trung tâm nghiên cứu độc lập phản biện công khai về các vấn đề chính sách (do đó mà Viện IDS đã phản đối bằng cách tuyên bố tự giải thể): “Nước ta Đảng lãnh đạo, không có phản biện gì cả, phản biện là phản động! Các anh muốn phản biện hả ? Nhà tù còn nhiều chỗ lắm, mà cũng chẳng cần bắt bớ tù đày làm gì! Thời buổi này, tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa, mà cũng chẳng cần tông xe làm gì! Buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa. Các nước người ta đều biết kĩ thuật này, chúng tôi cũng chẳng thua đâu”. “Nhân quyền” đó cũng chính là cán bộ cao cấp hiếp dâm trẻ vị thành niên, gây lỗ lã đến 80.000 tỷ, nhưng không bị truy tố mà chỉ bị đình chỉ chức vụ. Đó cũng chính là các “ông trời con” mặc sức cướp đất của nông dân, thị dân khắp cả nước mà vẫn vững chắc trên ghế ngồi. Đó cũng chính là công an có thể giết dân lành ở Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Giang, Đà Nẵng… hay áp dụng vô số kỹ xảo tra tấn (như lời Lm Nguyễn Văn Lý tố cáo) mà vẫn bình chân như vại…. BAN BIÊN TẬP

 

Từ gần cả năm nay, dư luận trong lẫn ngoài nước, trong lẫn ngoài Công giáo không ngừng bàn tới vụ việc Giáo xứ Cồn Dầu, tọa lạc tại thôn Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Ðà Nẵng. Số là vào năm 2003, lãnh đạo thành phố (cụ thể là bí thư tỉnh ủy Nguyễn Bá Thanh) có đưa ra dự án “chỉnh trang tại chỗ” cho gần 2000 giáo dân đang sống khá sung túc và ổn định tại đó với nghề chăn nuôi và làm ruộng. Nhưng chẳng biết vì lý do gì dự án không thành khiến người dân lâm cảnh khổ, bởi đã phải vay tiền xây dựng nhà cửa để mong được chỉnh trang. Năm 2008, lãnh đạo thành phố Ðà Nẵng lại có dự án giải tỏa trắng 430ha (trong đó thôn Cồn Dầu có 100ha gồm đất ở, đất ruộng và đất nghĩa địa) làm khu du lịch sinh thái Hòa Xuân, với sự đầu tư của ngoại quốc. Để thực hiện dự án này, nhà cầm quyền quyết đẩy dân đi xa và đền bù với giá rẻ mạt -như tại vô số địa điểm khác từ Nam chí Bắc- khiến dân không đủ tiền mua lại và xây lại chỗ ở mới, nơi mà ngoài ra họ chẳng có mấy cơ may an cư lạc nghiệp. Sau khi đã họp với lãnh đạo thành phố trên 20 lần nhưng không đi tới đâu, giáo dân Cồn Dầu quyết đứng lên bảo vệ quyền sống của mình. Thế là những đòn thù từ đó giáng xuống. Giáo dân phải sống trong lo sợ triền miên, vì những trò dụ khị, sách nhiễu, cưỡng ép, hăm dọa và hành hung đủ cách của nhà cầm quyền Cộng sản với hai bàn tay sắt là Công an và Mặt trận. Đỉnh cao của sự đàn áp chính là việc Nguyễn Bá Thanh và đồng đảng ra tay giải tán bằng báng súng, dùi cui, nắm đấm đám tang Cụ bà Maria Đặng Thị Tân ngày 04-05-2010, chỉ vì muốn đoạt nghĩa địa của Giáo xứ. Công an và dân phòng hôm đó, ngoài việc cướp quan tài, còn đánh đập dã man rất nhiều giáo dân từ già đến trẻ. Sau đó chúng kêu lên kêu xuống thẩm vấn hành hạ hàng chục người rồi bắt giam và truy tố bất công 6 người bị chúng gọi là “đầu sỏ phản động”. Cách đây hai tuần, anh Tôma Nguyễn Thành Năm, 43 tuổi, một tín hữu từng tham dự đám tang Cụ bà Đặng Thị Tân và bị đánh đập dã man cùng với rất nhiều giáo dân trong ngày đau thương đó, đã qua đời tại nhà sau các đợt tra tấn mới của công an Cộng sản. Ngày 01-07, chúng đã “mời” anh Năm cùng với người em họ lại tới đồn “làm việc”. Trong lúc thẩm vấn, hai người đã bị đánh thâm tím mình mẩy. Trưa 03-07, lúc 11 giờ, công an lại đến nhà anh để bắt anh, khiến anh sợ quá bỏ chạy. Chúng liền đuổi theo, còng tay, đánh đập anh rất dã man trước mắt nhiều người. Chị vợ đã quỳ lạy, xin tha cho chồng, nhưng công an vẫn tiếp tục hành hạ. Sau khi được đưa về nhà, anh Năm trối trăng với vợ hãy cố gắng nuôi con, rồi sùi bọp mép, ngã lăn ra chết cách tức tưởi trong bàn tay của bà mẹ già 83 tuổi. Xin hãy nghe thêm một đoạn do một chứng nhân lấy tên Người Cồn Dầu viết ngày 11-07: “Ngay khi nghe tin anh Năm mất, chính quyền đã huy động rất đông công an canh giữ nghiêm ngặt xác anh, chung quanh tang gia và mọi ngã đường trong giáo xứ Cồn Dầu, không cho tập trung viếng xác, cầu nguyện như thói quen giáo xứ vẫn làm cho người mới qua đời…. Họ yêu cầu liệm xác anh trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Không ai được quay phim chụp hình hoặc báo tin về cái chết của anh cũng như lý do cho bất cứ ai. Một số bà con giáo dân đã lạnh người khi nhìn thấy những vết thương tím bầm trên bụng, trên ngực, trên hai thái dương anh, lúc họ thay quần áo cho anh để tẩm liệm. Da thịt từ khuỷ tay xuống đến cổ tay anh đều trầy trụa và rướm máu vì bị lôi đi đang lúc bị còng. Máu vẫn tiếp tục trào ra hai lỗ tai và miệng mũi anh khi đặt anh vào áo quan. Đám tang anh được tổ chức vào ngày thứ ba, mồng 6-7-2010… Đưa tiễn anh chỉ có một số bà con ruột thịt (được cho phép) và rất đông công an chìm nổi đi theo áp tải đề phòng bất trắc”. Trước những cảnh oan ức dậy đất và đau thương ngút trời ấy của giáo dân Cồn Dầu, người ta đã thấy phản ứng nào nơi những người có trách nhiệm trực tiếp về họ trong đạo, cụ thể là của những vị giáo sĩ, tu sĩ ở Đà Nẵng? Thật ngạc nhiên mà phải nói rằng ngay từ đầu, sự đoàn kết bênh vực quyền lợi của họ đã vấp phải sự đoàn kết giữa thế quyền và giáo quyền địa phương. Theo tờ thông cáo ngày 01-02-2010 của Tòa Giám mục (TGM) Đà Nẵng thì đã có sự thỏa thuận giữa chính quyền và giáo quyền về việc giải tỏa giáo xứ Cồn Dầu. TGM chỉ yêu cầu giữ lại tài sản của Giáo hội là ngôi thánh đường thôi. Tiếp đến, khi phải hãi hùng gánh chịu cuộc khủng bố của nhà cầm quyền Cộng sản, giáo dân lại chỉ nhận được thái độ tiêu cực từ phía mục tử của họ: chê trách họ dại dột, cứng đầu (trong cuộc gặp gỡ hôm mồng 3 Tết tại Giáo xứ). Sau đó, khi gia đình của 6 giáo dân bị bắt giam và truy tố chạy đến nhờ TGM can thiệp thì vị chủ chăn của họ thản nhiên trả lời: "Đã không nghe lời tôi, giờ tôi không thể làm gì được. Về mà cầu nguyện đi!" Sau cái chết oan ức của anh Nguyễn Thành Năm, cho tới nay người ta vẫn chưa nghe thấy (trên mạng) phản ứng gì gọi là cảm thông, chia buồn, bênh vực, giúp đỡ của vị giám mục và các linh mục tại Đà Nẵng nói riêng và của hàng giám mục lẫn linh mục Việt Nam nói chung (ngoại trừ một số rất ít đã lên tiếng hay ký tên vào thư Hiệp thông của một Nhóm Linh mục tranh đấu hôm 08-07-2010). Những vị giáo sĩ, tu sĩ này -theo cách đánh giá của xã hội- đều thuộc hàng “sĩ phu”, “kẻ sĩ”. Trong quan niệm dân Việt, đây là những con người học hành cao, hiểu biết rộng và nhất là luôn phải hành xử đúng theo tiếng gọi của lương tri: lên tiếng chê trách điều trái, bênh vực điều phải, như lời minh định của cụ Nguyễn Công Trứ, một trong những “kẻ sĩ” chính hiệu: “Cầm chính đạo để tịch tà cự bí. Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên” (tạm dịch: Kẻ sĩ theo đường ngay chống tà thuyết. Ngăn sóng dữ để giữ trăm dòng sông). Cao hơn nữa, đó là những con người không màng danh lợi, hiến thân phục vụ đại nghĩa, sẵn sàng cống hiến sinh mạng cho quê hương, dân tộc, đồng bào. Tại sao trong truyền thống và lịch sử dân Việt, rất nhiều kẻ sĩ đã từng đứng lên (và có lúc ngã xuống) khi Tổ quốc lâm nguy, dân tình điêu đứng, vận nước khốn khổ, như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Thái Học, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Trường Tộ… Thế mà những kẻ sĩ trong tôn giáo, ngoài tiếng gọi của lương tri, còn có mệnh lệnh của Thượng Đế, đòi hỏi của chức phận, lại có thể im lìm, dửng dưng trước nạn bôi nhọ sự thật, chà đạp công lý, đàn áp dân tình được sao? Trong khi các vị chẳng có gì để mất, chẳng có gì để sợ, chẳng có gì “vướng bận thê noa”, lại là những con người có khả năng, có quyền lực, có phương tiện, có uy tín, có quần chúng và có sự hỗ trợ của toàn thể Giáo hội??? Những kẻ sĩ trong giới dân sự tại Việt Nam hiện thời xem ra cũng như vậy. Theo đánh giá mới đây của Tiến sĩ Chu Hảo (trong bài “Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam” viết vào tháng 6-2010), thì “tầng lớp trí thức XHCN” hiện “có những tiêu cực không thể phủ nhận và hết sức điển hình. Đó là: 1. Hời hợt trong tư duy và thiếu nghiêm túc trong nghiên cứu. 2. Tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử. 3. Ưa thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng. 4. Thiếu tinh thần hợp tác và ít lòng vị tha”. Thành ra, ngoại trừ một số ít có tinh thần dân chủ, yêu chuộng nhân quyền, thao thức với nỗi khổ của người dân, thường xuyên lên tiếng vạch trần sai lầm, tố cáo tội ác của nhà cầm quyền, đòi hỏi nhân quyền và dân quyền cho đồng bào, bênh vực đủ các nạn nhân của chế độ, chấp nhận bị bỏ tù vì công lý, thì đại đa số giới trí thức, “kẻ sĩ” vẫn dửng dưng với số phận của những con người đang bị Cộng sản áp bức bóc lột. Đang lúc họ phải nhớ rằng chính nhờ những công nhân lao động, nông dân cày cuốc ra công đổ mồ hôi trong xưởng máy, trên ruộng đồng mà họ mới có cơ hội học hành thông thái, ăn trắng mặc trơn, sống đời no đủ và được xã hội nói chung tôn trọng. Món nợ họ mắc với những dân oan của chế độ bạo tàn này không phải là nhỏ. Bên cạnh vụ Cồn Dầu nói trên, trong thời gian gần đây, còn có nhiều vụ dân oan nổi cộm khác, được dư luận trong và ngoài nước đề cập. Chẳng hạn vụ hai nữ sinh Nguyễn Thúy Hằng và Nguyễn Thanh Thúy ở trường trung học thị trấn Việt Lâm, tỉnh Hà Giang bị hiệu trưởng cùng băng đảng là đám lãnh đạo tỉnh biến thành nô lệ tình dục trong thời gian dài và nay thành phạm nhân trong một vụ án hết sức bất công, mờ ám và có nguy cơ bị cho chìm lỉm. Hoặc vụ hai dân oan khác tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa là em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi và anh Lê Hữu Nam, 40 tuổi, bị công an nổ súng bắn chết ngày 25-05-2010 trong một vụ biểu tình bất bạo động để đòi được đền bù quyền lợi thỏa đáng. Thế nhưng lời kêu gọi của cựu đại tá Bùi Tín sau đây xem ra chưa tác động lên nhiều “kẻ sĩ” trong xã hội: “Đã đến lúc gia đình, nhà trường của các em, Bộ Giáo dục, phụ huynh học sinh ở Hà Giang đòi hỏi công bằng cho các em, đòi thả ngay các em ra khỏi nhà tù, và hướng dẫn cho các em và gia đình kiện lại nhóm quan chức tội phạm với đầy đủ tang chứng các em còn nhớ và giữ được, đòi mọi tên tội phạm phải bị kết tội đích đáng và đòi chúng phải bồi thường danh dự và tổn thất cho các em. Các em nữ sinh vị thành niên hoàn toàn là nạn nhân trong vụ án này. Các em hoàn toàn không phải là gái mãi dâm” (bài “Cần đặt đúng tên cho vụ án”, 09-07-2010). Vụ tại Thanh Hóa cũng vậy, ngoại trừ sự lên tiếng của một số mục sư Tin Lành tại vài địa phương, người ta chưa nghe được tiếng nói của hàng giáo sĩ Công giáo bản địa. Các vị này cũng đã từng im lìm trong vụ 9 ngư dân xã Hoằng Trường-Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa bị Tàu Cộng bắn chết ngày 8-1-2005. (Ngay lúc đó và sau đó chỉ có một vài tu sĩ Công giáo lẫn Phật giáo, vài nhân sĩ trí thức và một số thành viên Khối 8406 lên tiếng lẫn trợ giúp mà thôi). Trong bất cứ xã hội nào cũng vậy, nhất là dưới những chế độ độc tài, thành phần trí thức, kẻ sĩ (dân sự hay tôn giáo) bao giờ cũng được người dân đặt nhiều kỳ vọng vì họ không những là “ngọn đuốc tuệ giác” mà còn là “lãnh đạo tinh thần”. Vậy nếu không dám công bố sự thật, bảo vệ lẽ phải, bênh vực dân oan thì đầu óc của họ để làm gì và quả tim của họ để nơi đâu? BAN BIÊN TẬP

 

Cách đây vài tuần, từ mồng 8 đến 18-06-2010, trên mạng tưới toàn cầu đã phổ biến rộng rãi Lời Chứng số 04 của Linh mục Nguyễn Văn Lý và của một số tù nhân lương tâm khác như các cô Hồ Thị Bích Khương, Lê Thị Công Nhân, Lê Thị Kim Thu, các anh Nguyễn Hữu Phu, Nguyễn Ngọc Quang… Tiếp theo đó, ngày 19-06, lại xuất hiện tiếp Phụ lục 1 cho Lời chứng này. Hai bản văn đã trình bày “44 nhục hình & kỹ xảo mà cán bộ CSVN đã và đang sử dụng để tra tấn các tù nhân trong các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam tại Việt Nam hiện nay”. Đọc xong, không ai không khỏi rùng mình vì sự gian tà, hung ác và thâm độc của con người Cộng sản. Gian tà là vì Cộng sản đã ký vào Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp quốc trong đó có điều 7 : “Không ai có thể bị tra tấn, phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người”, tiếp đó CS còn đưa ra bộ Luật Tố tụng Hình sự (2003) trong đó có những điều khoản văn minh như điều 6 : “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”; điều 7 : “Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật….”; điều 8 : “Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân…”; điều 9 : “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Nhưng trong thực tế, rất nhiều nơi nhân viên bộ máy đàn áp khổng lồ của CS (cụ thể là công an) đã làm ngược lại, ngang nhiên vi phạm nặng nề những điều khoản ấy mà không hề sợ cơ quan nào xử lý, cũng chẳng e dè dư luận kết tội. Thâm độc là vì Lời Chứng cho thấy các kỹ xảo tra tấn và thực hiện nhục hình vừa để khảo cung, vừa để hành hạ ấy đúng là đặc trưng của Việt Cộng, chẳng bạo quyền nước nào sánh kịp (may ra có Tàu Cộng), ở chỗ chúng diễn ra tại bất cứ nơi nào và không cần dụng cụ tra tấn cổ điển lộ liễu. Nơi ấy chỉ cần hơi thanh vắng, xa tầm mắt tò mò của các nạn nhân khác là đủ. Các dụng cụ nhục hình/tra tấn lại vừa rất dã man vừa rất thanh lịch, vừa luôn có sẵn vừa khó phát hiện : ánh nắng, bút viết, thước kẻ, thước may, bàn viết, ghế ngồi, sàn nhà, trần nhà, cửa sổ, bàn tay, găng tay, dép nhựa, giày da, chìa khóa, ổ khóa, đinh sắt, còng tay, roi điện, dùi cui,… thậm chí cả đến mái tóc dài của tên đồ tể. Được nghiên cứu tuyển chọn qua kinh nghiệm lâu dài, chúng thường chỉ để lại thương tích vài ba tháng, có thể tự lành, hoặc dù gây tổn thương bên trong, gieo mầm bệnh AIDS, có thể dẫn đến cái chết và rồi sẽ được pháp y gán cho một nguyên nhân vớ vẩn nào đó, nhưng rất ít để lại dấu vết bên ngoài lâu dài, đề phòng nạn nhân khiếu kiện về sau. Tàn ác là vì 44 nhục hình, kỹ xảo tra tấn đó (chưa liệt kê hết) là những gì vượt quá sự hình dung của con người bình thường, đặc biệt là nhân loại trong thế giới văn minh. Tất cả lại được sử dụng với sự cho phép, hay đúng hơn là truyền lệnh, của giới lãnh đạo cao cấp CS, nhằm mục đích khủng bố tinh thần, tiêu diệt ý chí, tàn phá sinh lực của những công dân yêu chuộng tự do, đề cao dân chủ, đấu tranh cho nhân quyền. Thật đúng như nhận định thời danh của linh mục Frédéric-Vincent Lebbe (1877-1940), một nhà truyền giáo người Bỉ từng hoạt động tại Trung Hoa, bị CS Mao bắt năm 1940 rồi chết trong cùng năm đó. Ngài từng nói: “Cộng sản Trung Hoa không phải là người Trung Hoa! Cộng sản Trung Hoa không phải là người! Cộng sản Trung Hoa là quỷ hiện hình!”. Lời này cũng áp dụng hoàn toàn chính xác cho Cộng sản Việt Nam hôm nay! Được ký tên cách tập thể và được minh nhiên xác nhận sẽ công khai nêu chứng từ trước quốc tế, Lời Chứng thứ 4 quả đã nói thẳng vào mặt đảng Việt Cộng! Trước đó, vào ngày 22-04-2010, 19 cán bộ cao cấp hưu trí, 80-90 tuổi đời, 60-70 tuổi đảng, đã viết một lá thư gửi Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương và các Uỷ viên Ban chấp hành trung ương khoá 10 đảng CS. Trong đó, ngoài những đề nghị liên quan đến việc bầu cử Ban chấp hành Trung ương mới nhân đại hội kỳ thứ 11 sắp họp, các cán bộ ấy đã thẳng thắn và mạnh mẽ phê bình 4 nhân vật chóp bu trong đảng: Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng và Tô Huy Rứa. Nông Đức Mạnh bị tố là “lấn sân sang việc của Chủ tịch nước và Thủ tướng (thoả thuận, ký kết với các chính phủ nước ngoài một số nội dung thuộc chức năng nhà nước)… đã vi phạm nguyên tắc trong quan hệ với nước ngoài ở những vấn đề mà Bộ chính trị chưa bàn bạc”, đã cho nước ngoài đầu tư khai thác Bô-xít Tây Nguyên; thả lỏng chủ quyền trên biển đảo; dung túng sai phạm của Tổng cục II và đề bạt một kẻ phẩm chất xấu là Nguyễn Chí Vịnh, đã “lợi dụng chức quyền để gò ép nơi này nơi kia đưa con trai, con gái, con rể vào các chức danh mà năng lực, phẩm chất, đạo đức không tương xứng”. Nguyễn Phú Trọng thì bị phê bình là suốt thời gian dài làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, đã “để thành phố quá trì trệ; để nhiều cán bộ dính đến tiêu cực về tài sản, tài chính, nhà đất… Lên Trung ương với cương vị Chủ tịch Hội đồng lý luận mà chưa phát hiện được vấn đề gì mới về lý luận”, chỉ biết giáo điều, sao chép. Là Chủ tịch Quốc hội nhưng chưa phát huy dân chủ, trí tuệ của các đại biểu tại cơ quan quyền lực cao nhất (trên danh nghĩa) này; chẳng cho bàn bạc, một đưa Quốc hội vào tình thế “việc đã rồi” trước vấn đề mở rộng thủ đô Hà Nội; trước vấn đề đầu tư khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên, một việc liên quan đến lợi ích đồng bào thiểu số, đến an ninh quốc phòng, đến môi trường sinh thái của quốc gia, đến tài nguyên dự trữ của đất nước. Nguyễn Tấn Dũng thì bị tố là không làm tròn trách nhiệm quản lý tài sản Nhà nước: để lâm tặc phá rừng đốt rừng, cho nước ngoài mua rừng thuê rừng; để khoáng sản các loại “bị thổ phỉ” và khai thác bừa bãi; để tài chính thất thoát nhiều, do tham nhũng lãng phí; để phát triển hơn trăm sân gôn, làm mất nhiều ruộng đất, khiến nông dân thất nghiệp; để hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường, nhập siêu liên miên; để lạm phát bành trướng không hạn chế được, tiền mất giá, mọi thứ nhu cầu của dân tăng vọt giá cả; để vay nợ nước ngoài quá nhiều, cho cả dự án không cần thiết; để gia đình mặc sức tham nhũng, xây nhà thờ họ quá qui mô hoành tráng tốn đến 40 tỷ. Tô Huy Rứa, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa trung ương, Chủ tịch Hội đồng lý luận, thì bị phê phán là “thiếu thực tế, không phát hiện được vấn đề nào mang tính sáng tạo, dễ giáo điều, sao chép, tư duy quá nghèo nàn về mặt lý luận, năng lực hoạt động thực tiễn rất hạn chế,… sử dụng nhiều các biện pháp hành chính, mệnh lệnh, cấm đoán làm cho tình hình đã rối càng rối rắm thêm… tuyên truyền chỉ một chiêu tô hồng, ai nói lên sự thật thì coi là kẻ xấu, bị cấm cản”. Kết luận, 19 cán bộ yêu cầu nhiệm kỳ tới đây (Đại hội 11), 4 nhân vật đó nên thôi ứng cử. Đây cũng là một lời nói thẳng vào mặt đảng CS, khiến cho sáng ngày 13-06-2010, ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư (chức vụ cao cấp thứ nhì trong Đảng) đã phải đến thăm thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một trong những người ký tên, để yêu cầu kiểu vớt vát: “Có ý kiến gì đóng góp thì gửi riêng cho chúng tôi, đừng lan truyền rộng và không nên ký tập thể”!?! Cũng nói thẳng vào mặt đảng CS là một kiến nghị (không đề ngày tháng và đang phổ biến rộng rãi) được ký tên bởi 38 sỹ quan tướng tá, đảng viên lão thành, gửi các nhân vật cao nhất của Đảng, từ Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, đến Trưởng Ban tổ chức trung ương, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Kiến nghị thư trước hết bày tỏ nỗi bất bình cao độ của đông đảo đảng viên, cựu binh và nhân dân cả nước trước việc Bộ Quốc phòng tước quân hàm sỹ quan Trung tá Vũ Minh Trí và đảng uỷ Tổng cục II khai trừ đảng tịch quân nhân này về “tội” tố cáo Tổng cục II và cá nhân Nguyễn Chí Vịnh. Bức thư yêu cầu 2 điểm: 1- Các nhân vật lãnh đạo kể trên phải nghiêm túc xem xét và giải quyết khẩn trương, sòng phẳng, triệt để các vụ việc tiêu cực đã và đang xảy ra ở Tổng cục II từng được phát hiện và tố cáo từ nhiều năm trước bởi Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều tướng lĩnh; 2- Nguyễn Chí Vịnh -vốn có thành tích bất hảo từ khi còn là sinh viên trường Kỹ thuật quân sự và trường Sỹ quan thông tin và từng bị nhà trường đuổi học- là người chịu trách nhiệm lớn nhất về các sai phạm của Tổng cục II, lợi dụng chức quyền đàn áp người này, thi ân người khác, nhập nhèm trong chi tiêu ngân sách, chiếm dụng tới 7 ngôi nhà. Bức thư kết luận: “Rõ ràng Nguyễn Chí Vịnh không đủ tư cách một đảng viên, không xứng đáng là một sỹ quan cấp úy, huống hồ lại vùn vụt leo lên đến trung tướng và biết đâu lại sắp lên thượng tướng và đang ngồi nhầm vào một trong 3 chiếc ghế cao nhất của Bộ Quốc phòng… Không thể để một con người xấu xa, thâm hiểm như vậy ngồi trên đầu trên cổ hàng ngàn, hàng vạn tứơng lĩnh, sỹ quan, làm ô nhục danh dự đội ngũ tướng lĩnh quân đội”. Ngoài ra, cũng phải kể đến một hành động nói thẳng vào mặt đảng CS mới đây, đó chính là Quốc hội do đảng tuyển chọn kỹ lưỡng bỗng trở chứng cứng đầu, hôm 19-06 đã bác bỏ thẳng thừng dự án Đường sắt Cao tốc đã được Bộ Chính trị xét duyệt và quảng cáo công phu, với số tán thành chỉ có 185, số phản đối lên đến 208, sau 2 tuần tranh luận sôi nổi. Tưởng cũng cần nhắc đến một sự kiện tương tự gần đây trong tôn giáo, đó là sáng ngày 26-06-2010, tại Thánh đường Mẹ Hằng Cứu Giúp Sài Gòn, Đức Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh đã tấn phong linh mục cho 9 tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam. Trước đó nhà cầm quyền CS đã chỉ chấp thuận có 7 và Dòng đã mời một Giám mục khác, nhưng sau đấy vị này rút lui, vì vài Giám mục thuộc Giáo tỉnh Sài Gòn đã khuyên không nên phong tất cả, sẽ “mất lòng nhà nước” !?! Đã đến lúc đảng CS (cụ thể là hàng lãnh đạo) hết tự tôn là “đỉnh cao trí tuệ của đất nước”, “tiêu chuẩn của đạo đức và văn minh”, “đại biểu trung thành của nhân dân”, “tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng”. Nó ngày càng lộ nguyên hình (chứ không phải biến chất thành) một băng cướp mang tầm quốc gia, chỉ đáng bị hất cẳng khỏi ghế quyền lực và đặt ngồi ở ghế bị cáo trước tòa công lý của nhân dân!!! BAN BIÊN TẬP

 

Tháng 12 năm ngoái, nhân Hội nghị thượng đỉnh giữa Nhật và 5 quốc gia vùng sông Mekong ở Tokyo, thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã tự tiện cam kết sẽ nhờ Nhật Bản giúp xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Hà NộiSài Gòn. Tổng công ty Đường sắt VN ngay sau đó đã cử chuyên gia sang Nhật học hỏi về công nghệ này. Đến tháng 4 năm nay, đang khi Dự án còn ở giai đoạn trình Quốc hội, thì cũng trong một chuyến thăm Nhật, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã nói chắc nịch với các quan chức Nhật rằng: “VN sẽ thông qua chủ trương xây dựng hệ thống Shinkansen [tức Đường sắt cao tốc theo kỹ thuật Nhật] dài 1.500 km nối Thủ đô với thành phố lớn nhất nước” (theo Earthtimes.org). Đây là một dự án khổng lồ với lượng vốn vay dự kiến vào khoảng 56 tỷ USD, tương đương 2/3 GDP của Việt Nam (đang ở mức xấp xỉ 90 tỷ). Theo trình bày của chính phủ, đó là việc xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ 300 km/g chuyên chở hành khách. Tổng chiều dài toàn tuyến đường là 1.570 km, bắt đầu từ Hà Nội đến ga cuối là Hòa Hưng (Sài Gòn), trong đó cầu cạn dài 1.043 km, cầu vượt sông và đường bộ dài 46 km, hầm dài 117 km, còn lại là nền đường đào đắp dài 364 km. Có tất cả 27 ga. Dự kiến thời gian chạy từ Hà Nội vào Hoà Hưng là 5g38’ đối với tàu nhanh (chỉ đỗ các ga Vinh, Đà Nẵng, Nha Trang) và 6g51’ với tàu thường ga nào cũng đỗ. Dự án chia làm hai giai đoạn, giai đoạn một đến năm 2020, giai đoạn hai đến năm 2030 và sẽ hoàn thành toàn tuyến năm 2035. Tổng diện tích đất thu hồi để làm dự án khoảng 4.170 ha và sẽ phải tái định cư 9.480 hộ. Tất cả những điều này đã được trình bày tại phiên họp Quốc hội ngày 17-04-2010, qua “Báo cáo đầu tư xây dựng” 33 trang của Tổng Công ty ĐSVN, với không đầy 2 trang về hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án!?! Riêng “Tờ trình của Chính phủ cho Quốc hội” do Bộ trưởng Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng soạn đọc thì phần trình bày hiệu quả kinh tế của dự án còn sơ sài hơn nữa. Thế mà ngay lập tức, người ta đã nghe được vô số “lời có cánh” của một số Đại biểu như ông Lương Phan Cừ (Đắk Nông): “Đó là những công chúa ngủ trong rừng, những nàng tiên đang chờ được đánh thức”; ông Trần Tiến Cảnh (Hà Nam): “Các nước có chỉ số IQ [ct: Chỉ số thông minh] cao đều xây đường sắt cao tốc. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi làm... Việt Nam không phải nước nghèo. Với quyết tâm chính trị, tôi đề nghị phải xây… Đường sắt cao tốc là giấc mơ đẹp của người dân, là cơ hội thay đổi cả bộ mặt nền kinh tế”; ông Nguyễn Ngọc Đào (Hà Nội): “Đây là dự án đầu tư cho tương lai, cho phát triển. Đầu tư 50-60 tỷ USD không phải là việc đánh mất. Con cháu chúng ta sẽ nói lời cảm ơn những người ngồi đây đã nghĩ cho tương lai”; ông Trần Bá Thiều (Hải Phòng): "Người ta cho vay thì mình cứ vay, có nơi cho vay là tốt quá. Cứ ý kiến ra, ý kiến vào. Nếu Chính phủ đã quyết liệt như vậy thì tại sao Quốc hội không ủng hộ? Tần Thủy Hoàng xưa nếu không quyết liệt thì làm sao để lại Vạn lý Trường thành?"; ông Trần Đình Đàn (Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội): "Sau khi Quốc hội đồng ý về chủ trương xây đường sắt cao tốc thì sẽ tính toán chi tiết”; ông Trần Đình Long (phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật): "Có đi vay mới có đầu tư cho phát triển, quan trọng là sau đó lo trả nợ… Mai sau thế hệ con cháu tài giỏi hơn chúng ta sẽ làm thay”. Bồi thêm vào đó là “những lời trấn an” của các viên chức chính phủ như Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Lê Doãn Hợp: “Nếu ta làm đường thì họ mới ưu ái cho vay vì tình nghĩa với VN. Chứ nếu ta muốn đầu tư nông thôn, vùng sâu vùng xa thì làm sao vay được?” ; Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Võ Hồng Phúc: “Bài toán kinh tế, môi trường, công nghệ... chúng tôi đã tính hết. Quốc hội cứ quyết chủ trương đi”; Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng: “Nên chọn phương án hoành tráng nhất : làm đường sắt tốc độ 300 km/g dù chỉ chở được hành khách. Để đi ngay vào hiện đại” !?! Và chốt lại tất cả chính là lời Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khẳng định sáng ngày 12-06: “Tôi yên tâm với dự án này, chúng ta không thể không làm đường sắt cao tốc. Có ý kiến bảo rằng dự án kéo dài đến mấy chục năm. Làm mấy chục năm nhưng chia ra thành từng đoạn, mỗi đoạn làm trong thời gian ngắn… Vấn đề các đại biểu đặt ra nữa là tiền đâu để làm dự án, chuyện này tôi không lo lắng lắm. GDP của nước ta những năm qua cũng ổn và dự kiến đến năm 2050 GDP cũng khả quan. Chúng ta phải phấn đấu đến năm 2050 Việt Nam là nước công nghiệp phát triển, đất nước này phải đi như vậy. Công việc làm là phải làm”. (x. http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/383739/ ngày 12-06-2010). Đang khi đó thì những người có tâm huyết đối với dân tộc và tầm nhìn sáng suốt trước hoàn cảnh như Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp thì cho rằng: “Đây là một dự án của sản phẩm công nghệ cao mà chỉ có các nước giàu mới làm. VN chúng ta nếu có nhiều tiền mà xây dựng ĐSCT thì tốt quá. Nhưng đi vay một số vốn rồi thuyết phục, biện minh để làm thì dường như chúng ta đã quá say sưa về công nghệ, quên mất rằng những vấn đề về tài chính mới là quyết định. Trước hết, phải nhìn nhận rằng nền kinh tế nước ta còn gặp nhiều khó khăn, bội chi ngân sách, nợ quốc gia còn lớn…”. Tiến sĩ Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội xây dựng VN cũng phát biểu: “Đối với một dự án lớn tầm cỡ như ĐSCT Bắc-Nam, quốc tế thẩm định phải mất từ 3 đến 5 năm. Trong khi theo tìm hiểu của chúng tôi, việc ký hợp đồng tư vấn xây dựng dự án này mới được hơn một năm, đồng thời thẩm định dự án chỉ trong thời gian hơn hai tháng đã xong. Nếu thẩm định như thế tôi cũng thẩm định được và đó là thẩm định… bừa”. (http://phapluattp.vn/20100527124650597 p0c1013). Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế lại nhận xét: “Tôi thấy đây là một dự án quá phiêu lưu. Trong khi tàu cao tốc của Hàn Quốc, Đài Loan chưa quá 10% GDP thì dự án của VN chiếm khoảng 50% GDP của năm 2009. Trên cả thế giới mới có 11 nước xây đường cao tốc và tất cả đều là những nước giàu có. VN mới chớm bước vào ngưỡng của nước có thu nhập bình quân đầu người thấp, khoảng 1.000 USD. Chúng ta thực hiện dự án này cũng như gia đình nghèo đang ở nhà tranh vách đất muốn xây biệt thự villa thay vì tích tiền để xây nhà ngói trước…” (http://vnexpress.net/GL/ Kinh-doanh/2010/06/3BA1C989/ ngày 4-6-2010). Cuối cùng, cựu đại sứ Nguyễn Trung, người từng lên tiếng mạnh mẽ phản đối vụ bauxite Tây Nguyên, cũng đã thẳng thắn nêu ra nhiều bất cập của dự án. Bất cập thứ nhất là xem thường Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất theo nguyên tắc. Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã quyết định chuyện này hôm tháng 4 vừa qua trước khi Quốc hội đưa ra kết luận. Bất cập thứ hai là không có sự chuẩn bị, nghiên cứu kỹ càng khi lập báo cáo. Chính TGĐ Tổng Công ty ĐSVN thú nhận: “Báo cáo tiền khả thi là vô cùng quan trọng để làm cơ sở xin ý kiến về chủ trương. Nhưng đây là lần đầu chúng tôi trình một dự án ra Quốc hội nên chưa có kinh nghiệm”. Vậy thì, những con số 56 tỉ USD, hoàn thành sau 25 năm, có lời có lãi… đáng tin được mấy phần? Bất cập thứ ba là lợi ích kinh tế. Theo lời Bộ trưởng GTVT: “Chúng tôi đã phân tích hiệu quả kinh tế xã hội và kinh tế tài chính. Có thể nói rằng hiệu quả kinh tế đơn thuần thì không cao song dự án có thế lấy thu bù chi, hoàn trả được vốn”! Một dự án 56 tỉ USD mà hiệu quả kinh tế không cao thì tại sao phải làm? Bởi lẽ người nghèo không có điều kiện đi ĐSCT, chỉ người giàu thôi. Mà dự án lại không đem lại hiệu quả kinh tế, thì Nhà nước lấy tiền đâu để nâng cao đời sống dân nghèo được? Rồi chính người nghèo cũng phải chung trả nợ quốc gia đang khi ĐSCT chỉ phục vụ giới giàu. Điều này bất công quá thể! Bất cập thứ tư là một dự án mập mờ. Chính phủ chỉ muốn Quốc hội “thông qua” dù báo cáo không rõ ràng đầy đủ để các đại biểu thấy được những lợi hại, khó khăn của sự việc. Vậy thì Quốc hội dựa vào cái gì để đánh giá dự án nên làm hay cần làm? Có phải Chính phủ đang muốn “giấu” các đại biểu của nhân dân hay không? Bất cập thứ năm là ý kiến người dân. Thử hỏi đến hôm nay đã có cơ quan nào của Chính phủ thử làm một cuộc “trưng cầu dân ý” hay chưa? Đã có đại biểu QH nào tổ chức gặp cử tri của mình để hỏi ý kiến, nguyện vọng của họ hay chưa? Một siêu dự án chiếm đến hơn một nửa GDP của đất nước mà người dân không được tham gia ý kiến thì quả là kỳ lạ! (Bài “Đường sắt cao tốc, dự án nhiều bất cập và những lạc quan tếu. Mạng Bauxite Việt Nam). Tại sao với một phí tổn dự án khổng lồ như vậy, Nguyễn Tấn Dũng vẫn nhắm mắt đi vay để làm cho bằng được? Đang khi hệ thống đường sắt, đường bộ của VN vẫn hết sức lạc hậu (có nơi, như tại sông Pôkô, Kontum, nhân dân phải đu dây vì thiếu cầu). Một phần là vì Đảng CS đặt kỳ vọng dự án sẽ giúp đánh bóng thành tựu phát triển kinh tế vốn luôn ì ạch của đất nước. Nhưng lý do chính là 10% hoa hồng không dưới 5 tỷ USD của dự án đã khiến họ phải thực hiện bằng mọi giá, chẳng cần biết hậu quả! Khoản hoa hồng kếch xù này sẽ được trả cho chủ đầu tư là các quan chức CSVN khi đi vay vốn và cả khi chọn nhà thầu. Nợ nần chồng chất thì phó mặc cho các thế hệ kế tiếp gánh lấy và con cháu các đời sau nai lưng ra trả. Dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam là một miếng mồi to mà các quan chức CSVN xác định cần phải xơi. Dự án càng lớn, kinh phí càng cao và tốc độ càng nhanh thì tiền ăn chia càng nhiều và họ càng quyết tâm ăn, ăn cho nhanh, bất kể hậu quả! Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khi quả quyết “Chúng ta không thể không làm đường sắt cao tốc” phải chăng đã mường tượng ra số tiền “lại quả” thu được, để bổ sung vào gia tài 13 tỷ USD ông ta đang có với Võ Hồng Phúc, Lê Đức Thúy theo một tài liệu ngân hàng mới bị tiết lộ gần đây? Và người ta dự đoán rằng vào ngày 16-06 tới, Quốc hội cũng sẽ thông qua nó, như đã từng thông qua dự án kiểu “đặt cái cày trước con trâu” là dự án khai thác bauxite Tây Nguyên năm 2009. Nếu đúng như thế, thì Quốc hội CSVN vẫn mãi là lũ bù nhìn, chỉ biết giơ tay -trong sợ hãi, trong thói vô trách nhiệm hay trong mưu tính thủ lợi- để biểu quyết đồng ý các dự tính dù ngông cuồng, dù tai hại của đảng, dù gây khánh kiệt cho đất nước! BAN BIÊN TẬP

 

Vậy là “Sau 5 ngày được điều trị và chăm sóc tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, ông Lê Hữu Nam, 43 tuổi đã tử vong. Ban đầu, ông bị chấn thương sọ não nghiêm trọng. Tới nay thì ông đã chết. Như vậy, tính đến nay đã có 2 nạn nhân tử vong sau phát súng của đội trưởng cảnh sát cơ động 113 Thanh Hóa vào đoàn người đòi quyền lợi bồi thường giải phóng mặt bằng tại công trường nhà máy lọc dầu Nghi Sơn sau khi bị công an bắn sáng 25/05. Hôm đó, em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi đã tử vong trên đường cấp cứu. “Thông tin từ xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa cho biết hàng ngàn người dân ở đây đã tiến tới bao vây đồn công an huyện, trụ sở huyện ủy và ủy ban nhân dân huyện. Quốc lộ 1A đi qua đây đã bị tắc nghẽn do đoàn người này vào sáng nay, 30-05-2010. Ngay lập tức, công an, quân đội với vũ trang tối tân đã được điều động đến. Tuy nhiên, không có đụng độ xảy ra. Đại diện phía công an lại "hứa hươu hứa vượn" (theo lời người tường thuật tin) sẽ điều tra nghiêm túc. Sau đó, hàng ngàn người dân đã lũ lượt quay trở về. “Trước đó, người dân đã đập phá tan nát các đồ đạc trong gia đình ông chủ tịch xã Tĩnh Gia, người đã nói câu "Ai cản trở thi công cứ bắn, tôi chịu trách nhiệm", được coi là nguyên nhân trực tiếp cho sự việc trên. Nên nhắc thêm, buổi họp báo liên quan không nhắc tới vấn đề này. Một thành viên trên Paltalk nickname "Viet Hanoi" nói "cần phải bắt tất cả những kẻ chỉ đạo sáng hôm đó" và cho rằng việc bắt giữ trưởng đội cảnh sát cơ động 113 Nguyễn Mạnh Thư là "lấy dê tế thần". “Như vậy 2 phát súng đã gây ra cái chết cho 2 người là em Lê Xuân Dũng và ông Lê Hữu Nam, 1 người bị thương là chị Lê Thị Thanh. Phát súng đầu tiên bắn xuyên qua tay chị Thanh, vào bụng em Dũng gây tử vong. Phát súng thứ hai bắn vào mắt ông Nam, chui vào bên trong đầu, gây chấn thương sọ não nghiêm trọng và sau đó tử vong. Tuy nhiên, trong buổi họp báo chiều 28-05, các cơ quan chức năng liên quan đã giúp thủ phạm gây ra những cái chết thương tâm này - đội trưởng đội cảnh sát cơ động 113, Nguyễn Mạnh Thư. Người ta gọi đây là "sự lấp liếm". Trong văn bản ngày 28-5 của CA Thanh Hóa vẫn hàm chứa những điều khuất tất. Theo đó, CA Thanh Hóa đổ hết trách nhiệm về phía người dân “quá khích”. Cái gọi là “thông tin điều tra ban đầu” có tính chất một chiều, thể hiện rõ sự bao che, lừa dối dư luận”. Bản tin trên Tumasic’s Blog đã viết như thế ngày 30-05-2010. Quả là công an đã thực hiện câu khẩu hiệu (do Nguyễn Viết Xuân đưa ra năm 1966) mà người Cộng sản thường tự hào : "Nhắm thẳng quân thù mà bắn". Có điều quân thù của họ, của đảng hôm nay chính là những nông dân hiền lành chất phác, vốn từng là nền tảng và đội hậu bị của đảng, từng được đảng đưa lên tới trời trong mục đích đẩy họ đến chỗ tử vong để xây ngai vàng thống trị cho đảng và nay đẩy họ đến chỗ bần cùng để xây cơ ngơi hưởng thụ cho đảng. Cùng lúc với hai phát đạn kim loại giết người như thế, cũng có hai phát đạn khác, phát đạn tinh thần, bắn thẳng vào tim nhân dân. Đó là lời tuyên bố “lếu láo, mất dạy” (tác giả Lê Diễn Đức dùng) phát ra từ miệng Trần Văn Thực, Chánh Văn phòng Công an Cộng sản tỉnh Thanh Hóa: “Để bảo vệ chế độ cộng sản, lực lượng công an chúng tôi sẵn sàng nghiền nát cả dân tộc này, nếu họ có ý đồ chống lại đảng, nhà nước và chế độ” cũng như lời tuyên bố của Lê Trọng Hồng, chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải: “Ai cản trở thi công thì bắn, tôi chịu trách nhiệm”! Nhắm thẳng vào nhân dân mà bắn, quyết lệnh này không chỉ có mới đây. Nó đã có ngay từ đầu, khi chế độ Cộng sản khởi sự được thành lập trên thế giới. Trong bộ phim “Câu chuyện Sô Viết” do tác giả và đạo diễn trẻ Edvins Snore thực hiện (bản tiếng Việt 8 phần do Diên Vỹ, diễn đàn X-Café thực hiện, mới tung ra trên YouTube), người ta thấy trong năm 1932-1933, Stalin đã ra lệnh bỏ đói đến chết 7 triệu nông dân Ukraine đồng bào của ông, vì họ đã phản đối chính sách tập thể hóa. Stalin không những ra lệnh cướp đi hoa màu vừa thu hoạch, mà còn tịch thu thực phẩm nông dân thu giấu, rồi lại cấm những con người đói lả đó không được vào thành phố để kiếm ăn sống còn… Sau đó Stalin cho xuất khẩu hàng triệu tấn lúa mì của Ukraine sang Tây phương. Không khác gì CSVN ngày nay cướp của dân, giết mạng dân rồi còn bỏ tù họ để lấy đất đai tài sản bán cho tư bản ngoại quốc. Tiếp nối truyền thống “đạo đức cách mạng” của Stalin, Mao Trạch Đông đã giết hơn 30 triệu nông dân Trung Hoa trong cái gọi là “Đại nhảy vọt”, một kế hoạch xã hội và kinh tế không tưởng và tàn bạo của ông ta, được thực hiện từ 1958 đến 1960, nhằm mục tiêu đưa Trung Quốc đại lục từ một nền kinh tế chủ yếu nông nghiệp dựa vào nông dân là chính sang một xã hội công nghiệp cộng sản hiện đại. Tiếp đến, với cuộc “Cách mạng Văn hóa” diễn ra trong 10 năm từ 1966 đến 1976, Mao gây ra cái chết cho khoảng 10 triệu người nữa, đa phần là các nhà trí thức. Hồ Chí Minh cũng không thua kém. Ông ta cũng đã nhắm thẳng dân lành mà bắn qua cuộc Cải cách Ruộng đất giết trực tiếp và gián tiếp tới nửa triệu người miền Bắc, qua cuộc tàn sát tết Mậu Thân giết hơn 5000 thường dân vô tội ở Huế, qua cuộc xâm lăng miền Nam, đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc đến chỗ chết và khiến hàng triệu người dân miền Nam cũng tử vong vì tự vệ. Võ Nguyên Giáp, một huyền thoại CSVN thứ hai, cũng coi nhân mạng không ra gì. Trong một cuộc phỏng vấn với W. Thomas Smith của tạp chí Geogre (11-1998), đại tướng Westmoreland, Tư lệnh các lực lượng của Hoa Kỳ một thời ở Việt Nam, đã nói về Võ Nguyên Giáp như sau: “Tất nhiên, ông Giáp là một đối thủ ghê gớm. Nhưng tôi cũng xin nói rằng Giáp đã được đào tạo đánh trận bằng đơn vị nhỏ, với chiến thuật du kích, nhưng ông đã khăng khăng tiến hành cuộc chiến ở mức đại đơn vị và gây thiệt hại khủng khiếp cho binh lính của ông ấy. Chính ông ta xác nhận, vào đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông hy sinh một nửa triệu binh sĩ. Chính ông ta báo cáo như vậy. Sự không đếm xỉa đến mạng sống con người có thể đã làm cho ông ta trở thành một kẻ thù ghê gớm, nhưng điều đó không làm nên một thiên tài quân sự. Sĩ quan chỉ huy Mỹ thí quân như thế e rằng sẽ khó tại chức hơn một vài tuần.” (trích Sông Lô, Tư cách của một huyền thoại). Dĩ nhiên Võ Nguyên Giáp không nhắm bắn chính các chiến hữu của mình nhưng sẵn sàng đẩy họ ra trước họng súng của phe địch, theo chiến dịch “biển người” nổi tiếng của ông. Chết bao nhiêu cũng được miễn là chiến thắng! Sau biến cố 1975, với quan niệm tất cả dân thuộc Việt Nam Cộng Hòa đều là kẻ thù, Cộng sản trước tiên đã đày hầu hết quân cán chính chế độ cũ vào các nhà tù nơi rừng thiêng nước độc. Theo ước tính của các tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến, thì số nạn nhân và số các "trại tù cải tạo" được ước tính như sau: 1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ không qua xét xử hay kết tội chính thức; 165,000 nạn nhân chết tại các "trại tù cải tạo"; có ít nhất 150 "trại tù cải tạo" sau khi Sài Gòn sụp đổ (trích Đỗ Ngọc Uyển, Tù Cải tạo: Tội ác chống nhân loại của Cộng sản Việt Nam). Tiếp theo đó, với chính sách cải tạo thương nghiệp đẩy hàng triệu thị dân đi vùng kinh tế mới, chính sách cai trị hà khắc đẩy hàng triệu người dân vượt biên vượt biển, Cộng sản đã gây ra cái chết tức tưởi cho biết bao con người dân Việt. Hơn hai thập niên qua, tiếp tục và gia tăng chủ trương tiêu diệt mọi đối kháng chính trị, chủ trương quốc hữu hóa (nghĩa là đảng hữu hóa) mọi tài nguyên đất đai, Cộng sản đã gây ra cái chết dân sự (mort civile) cho hàng triệu con người. Họ không còn có những điều kiện lẫn quyền lợi sống như con người và như công dân. Các nhà đối kháng thì bị sách nhiễu cuộc sống, bị phong tỏa kinh tế, bị tống vào lao tù; gia đình thân nhân họ thì bị làm con tin, bị hăm dọa, bị tước đoạt… Những gì gây ra gần đây cho hàng trăm chiến sĩ dân chủ và gia đình họ từ nam chí bắc là những bằng chứng. Còn các dân oan bị tước lấy ruộng vườn thì lâm vào cảnh dở sống dở chết: những kẻ may mắn được một số tiền đền bù, một căn hộ tại khu chung cư, thì sau một thời gian tiền hết sạch và cũng mất tuốt luốt mọi cơ hội làm ra của cải, vì đất sản xuất chẳng có mà nghề nghiệp sinh nhai cũng không; những kẻ ít may mắn hơn thì lang thang đầu đường xó chợ, làm tôi mọi cho chính những kẻ đang cướp đất của mình, thẫn thờ tuyệt vọng tháng này đến tháng khác, năm này đến năm nọ bên cạnh các “nhà tiếp dân” im lìm kín cửa. Đây cũng là kiểu CS bắn thẳng vào dân lành bằng họng súng hành chánh. Và dĩ nhiên tất cả dân Việt bị tước đoạt mọi nhân quyền cơ bản thì sống cũng như chết, ở trên quê hương mà cũng như mất quê hương! Gần đây nhất, có một dân lành nổi tiếng đã bị Cộng sản nhắm bắn thẳng, không phải để giết chết sinh mạng mà là giết chết sự nghiệp, không những bắn bay ra khỏi vị trí của mình trên đất nước mà còn bay ra khỏi quê nhà. Đó là Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt. Khẩu súng của Cộng sản đã lên nòng từ cuối năm 2008 (với nghị quyết “tống cổ NQK ra khỏi Hà Nội trong năm 2010”), sau bài phát biểu thẳng thắn của ngài ngày 20-09 trong cuộc họp với Ủy ban Nhân dân thủ đô. Từ đó, với nhiều lần nạp thêm thuốc súng, với nhiều lần mời thêm xạ thủ góp tay bóp cò, những xạ thủ từ chính trong lòng đảng Cộng sản cũng như từ chính trong lòng Giáo hội Công giáo, khẩu súng đã nổ vang vào chính sáng ngày 07-05 và đã phát huy hoàn toàn tác dụng vào đêm 12 tiếp đó. Dù nói gì đi nữa, thì đây là phát súng thời danh trong chế độ CSVN hiện nay, mà đau đớn thay, có sự hỗ trợ của chính anh em nạn nhân xấu số. Khói thuốc súng khét lẹt đó đang lan tỏa và đầu độc rất nhiều thành phần và nơi chốn thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam. Tất cả những ai cản trở con đường quyền lực tuyệt đối và cuồng vọng thống trị muôn niên của CS đều phải bị giết chết. Không bằng cái chết thực sự thì cũng bằng cái chết dân sự. Không bằng cái chết thể xác thì cũng bằng cái chết tinh thần, cái chết của ý thức làm người đứng thẳng. BAN BIÊN TẬP

 

Mang bản chất vô thần (chống lại quyền uy Thượng Đế) và phi nhân (khinh khi phẩm giá con người) trên phương diện triết lý, cùng lúc khoác tính cách độc tài (một mình quản lý xã hội) và toàn trị (kiểm soát mọi mặt của đời sống con người) trên phương diện chính trị, chủ nghĩa, chế độ và chính đảng Cộng sản không bao giờ thôi coi mọi tinh thần, thực thể và thế lực dân chủ cũng như tôn giáo là kẻ thù không đội trời chung. Cộng sản chỉ đội trời chung cách bất đắc dĩ với các thực thể này khi chưa khống chế và kiểm soát được họ (nhưng vẫn luôn nuôi tham vọng thôn tính và thống trị, thời còn Liên Xô và Đông Âu thì qua chiêu bài “chung sống hòa bình” và nay với Trung Cộng thì qua chiêu bài “Một thế giới một giấc mơ”). Bằng chứng là kế hoạch bá chủ toàn cầu mà Trung Cộng đang cưu mang và nỗ lực thực hiện từng ngày trên phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, khoa học... với sự tiếp tay nhiệt tình của tên đầy tớ Việt cộng. Còn ở nơi nào mà cộng sản đang cai quản dưới bàn tay sắt, như trong những quốc gia “xã hội chủ nghĩa”, thì chỉ có một mình đảng đội trời, còn tất cả (từ cá nhân đến tập thể, từ dân sự đến tôn giáo) đều phải đội đảng, đội đảng lên đầu, nếu muốn yên thân tồn tại và bình thường sinh hoạt. Trong não trạng duy mình đội trời đó, suốt tháng tư đen kỷ niệm Quốc hận này, CSVN một đàng ăn mừng “chiến thắng đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, hả hê vì đã trừng trị “bọn xâm lược ngoại quốc cùng lũ tay sai quốc nội”, tiếp tục tự đắc là “không ai trên thế giới dám động đến nước ta và đảng ta” (đặc biệt trên báo chí) ... Đủ thứ diễu hành, biểu tình, triển lãm, hội họp, bắn pháo hoa đầy kiêu căng và hợm hĩnh, đầy khoa trương và tốn kém (đến hàng trăm tỷ bạc). Mặt khác, CS lại tiếp tục chính sách thâm nhập, lũng đoạn, khống chế, khuynh loát để thôn tính gọn cộng đồng người Việt hải ngoại giàu nhân lực, tài lực và vật lực mà CS luôn thèm chảy nhỏ rãi qua chiêu bài “hòa giải hòa hợp” . Tuy nhiên vẫn cứ là não trạng cha chú, ban ơn, trịch thượng: cho được hòa hợp hòa giải, cho được cầm tay đảng đã chìa ra trước; vẫn cứ não trạng chỉ mình đảng có chính nghĩa, ai phê bình nhà nước, chống báng chế độ, đòi hỏi hòa giải hòa hợp đích thực trong điều kiện có dân chủ tự do đều là kẻ vô tri, mặc cảm hay thù địch với Quê hương Dân tộc. Như lời bà Nguyễn Thị Bình nói trong cuộc phỏng vấn của báo Tuần VN ngày 28-4-2010 “Nhiều người từng ra đi, đã trở về. Dĩ nhiên cũng còn nhiều người vẫn chưa hiểu rõ chính sách của Nhà nước, hoặc còn mặc cảm... hoặc có một số vẫn giữ một thái độ thù địch đối với chế độ, đối với đất nước. Nếu nghĩ rằng những người "chiến thắng" phải chủ động ra tay trước, thì thực tế Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã chìa tay ra, tạo điều kiện để người VN khắp nơi có thể trở về, xây dựng quê hương” hoặc như Nguyễn Thanh Sơn, thứ trưởng ngoại giao CSVN nói trong thư gửi dân biểu Hoa Kỳ Cao Quang Ánh ngày 31-03-2010: “Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài dự kiến tiến hành chuyến đi tới Mỹ và Canada với mục đích gặp gỡ và tiếp xúc với cộng đồng người VN, trong đó có cả những cá nhân, tổ chức còn thiếu thông tin đúng đắn về VN và vẫn còn mang tư tưởng hận thù cùng những lời nói, việc làm chống lại Nhà nước VN”. Hay lời của tay cán bộ tên Võ Khánh Linh trong Thư ngỏ (ngày 06-05-2010) gửi ông Cù Huy Hà Vũ về bài trả lời phỏng vấn đài VOA hôm 30-4-2010: “Giờ đây ông mượn khối hận thù của một bộ phận nhỏ người Việt hải ngoại này để lên án Đảng chưa thực lòng hoà hợp, hoà giải, đi tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng…”. Những lời tuyên bố của các cán bộ CS trên, một lần nữa cho thấy trong ý định của Hà Nội, hòa giải hòa hợp vẫn chỉ là chiêu bài để nắm cho được cộng đồng người Việt tự do, buộc họ quay về dưới trướng CS, đem công sức khuyển mã xây dựng chế độ dưới sự lãnh đạo toàn diện đảng. Không thể nào có sự cộng tác mà chỉ có sự tham gia, không thể nào có sự ngang hàng mà chỉ có sự tuân phục. Còn đối với người trong nước, quần chúng bị trị, thì đã, đang và sẽ không bao giờ có vấn đề hòa giải hòa hợp, bởi lẽ như đã nói, chỉ một mình đảng đội trời còn tất cả phải đội đảng. Bằng chứng là điều 4 Hiến pháp vẫn còn đó, các cuộc đàn áp dân chủ với những phiên tòa bất công và bản án nặng nề vẫn còn đó (ví dụ các cuộc phúc thẩm trong thời gian gần đây), các màn cướp đất đai nhà cửa nông dân và thị dân để làm giàu cho đảng vẫn còn đó, các trận tấn công lực lượng dân báo vẫn còn đó (như trung tướng công an Vũ Hải Triều mới khoe đã đánh sập 300 trang blog cá nhân và mạng dân chủ), chủ trương đảng hóa hành pháp, lập pháp, tư pháp, công an, quân đội, học đường, báo chí vẫn còn đó. Tuy nhiên có một lực lượng, một thực thể trong nước mà đảng phải luôn nỗ lực để khống chế cho bằng được, bắt đội đảng cho bằng được, đó là các tôn giáo, đặc biệt là Công giáo. Xâm nhập tận các cơ quan quyền lực cao nhất của GH, khống chế mọi lãnh vực và nhân sự của GH, khuynh loát mọi sinh hoạt của GH, biến GH thành công cụ qua chiêu bài “đối thoại cộng tác”. Và đảng xem ra thành công qua vụ việc rất gần đây, vụ Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt và Tòa Tổng Giám mục Hà Nội. Theo nhận định chung, mọi việc bắt đầu từ ngày 15-12-2007, khi Đức TGM Ngô Quang Kiệt, đang cai quản Tổng giáo phận Hà Nội, viết cho giáo dân một bức thư về khu đất Tòa Khâm sứ, vốn đã bị nhà cầm quyền tước đoạt sau khi đại diện của Vatican bị trục xuất năm 1958. Ngài kêu gọi họ cầu nguyện để khu đất được trả lại. Thế là giáo dân lẫn giáo sĩ đã đáp ứng, mở đầu cho một phương cách đấu tranh mới. Bằng đọc kinh ca hát, bằng thắp nến cầu nguyện, bằng rước đặt tượng ảnh, người Công giáo Hà Nội (và sau đó là từ nhiều giáo phận khác) đã biểu lộ ý chí khẳng định quyền sở hữu của GH. Nhà nước cũng vội ra tay: khóa cổng Tòa, sách nhiễu các giáo dân, đánh đập trọng thương người cầu nguyện. Đầu năm 2008 nổ ra tiếp vụ Giáo xứ Thái Hà. Cũng theo một trình tự: giáo dân cầu nguyện, canh thức, công an bao vây, đàn áp, đánh đập, xử tòa. Thế rồi Vatican can thiệp: yêu cầu dẹp bỏ. Ngày 30-01-2008, Hồng y Quốc Vụ khanh Tòa thánh gửi thư cho Đức Tổng Hà Nội, yêu cầu dừng lại việc cầu nguyện vì lo ngại sự việc có thể dẫn tới những hành vi gây rối trật tự công cộng (y như lối cáo buộc của CS) và để dọn đường cho cuộc đối thoại với chính quyền. Chính quyền chỉ hứa hão và cướp thật. Tiếp đó, ngày 20-09-2008, trong cuộc họp với UBND Hà Nội, Đức Tổng Kiệt một đàng lên tiếng đòi hỏi tôn trọng pháp luật, yêu cầu trả lại đất đai, một đàng khẳng định tôn giáo là quyền lợi chứ không phải ân huệ, rồi bày tỏ ước mong quốc thể VN được tôn trọng ở nước ngoài. Thế là 3 hôm sau, Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND Hà Nội, gửi văn thư kiến nghị HĐGM “xem xét, xử lý nghiêm minh theo qui định của Giáo hội đối với TGM Ngô Quang Kiệt” và các linh mục ở Thái Hà. HĐGM đã trả lời ông: "Chúng tôi thấy các vị này không làm bất cứ điều gì ngược lại giáo luật hiện hành của Giáo hội Công giáo" . Một kiểu trả lời tiêu cực, thay vì bênh vực thái độ của Đức Tổng Kiệt đòi hủy bỏ cơ chế xin-cho và ủng hộ các Linh mục Thái Hà đòi công lý qua việc đòi linh địa. Tiếp đó là một cuộc tấn công quy mô của truyền thông CS nhắm vào Đức Tổng Kiệt lẫn các Linh mục Thái Hà và một nghị quyết trục xuất các vị này ra khỏi Hà Nội, nhưng HĐGM chẳng thấy nói thêm gì. Ngày 6-1-2010, các lực lượng vũ trang CS lại triệt hạ và đập phá Thánh giá bêtông trên một ngọn núi thuộc giáo xứ Đồng Chiêm đồng thời ném lựu đạn cay và đánh đập tàn nhẫn một số tín hữu. Việc xúc phạm đến biểu tượng thánh thiêng nhất của đức tin Kitô giáo và Giáo hội này đã gây xúc động lớn. Đồng bào công giáo tuốn về Đồng Chiêm; khắp nơi, kể cả tại hải ngoại, có những buổi hiệp thông cầu nguyện. Thế nhưng, mãi một tuần sau, 14-1-2010, trên trang mạng của HĐGM, một văn bản tựa đề “HĐGMVN: Lên tiếng hay không lên tiếng” đã bày tỏ thái độ: «không lên tiếng về và nhằm giải quyết từng vụ việc nhưng lên tiếng bằng cách đưa ra những định hướng mang tính chủ đạo để mỗi địa phương áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của mình… nhằm góp phần xây dựng xã hội, một xã hội vì con người và một xã hội phát triển toàn diện». Nghĩa là xem ra mỗi địa phương bị đàn áp thì tự lo liệu lấy, HĐGM không liên can và can thiệp gì cả! Kể từ đó, có tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt lâm bệnh nặng, phải đi tĩnh dưỡng một thời gian dài tại tu viện Châu Sơn, Ninh Bình, rồi ngày 4-3-2010 lại đi Rôma để chữa bệnh và dưỡng sức tiếp. Song song đó, lại có tin Tòa thánh (theo đề nghị của một chức sắc người Việt tại Rôma được CS ve vãn) sẽ bổ nhiệm một vị TGM phó với quyền kế vị, và người đó không ai khác hơn là Đức GM Nguyễn Văn Nhơn, đang cai quản Giáo phận Đà Lạt đồng thời làm Chủ tịch HĐGM. Vị này lâu nay nổi tiếng ở việc kín tiếng: chưa bao giờ lên tiếng về các vụ bách hại tôn giáo tại tòa Khâm sứ, các xứ Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Cồn Dầu…, tại các tu viện ở Nha Trang, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Sài Gòn…; chưa bao giờ lên tiếng về các vụ xâm hại quyền con người và quyền đất nước, như việc khai thác bauxite ở Lâm Đồng, việc lãnh thổ, lãnh hải và biển đảo bị Trung cộng xâm lấn, việc công nhân lao động bị bán ra nước ngoài, việc hàng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, việc hàng trăm ngàn dân oan bị cướp đất đai nhà cửa… Một việc bổ nhiệm, tiếc thay, gây phản đối rộng khắp trong cộng đồng Công giáo người Việt. Hôm 07-05 mới rồi, vị tân TGM phó 72 tuổi đã ra mắt tại Hà Nội, trong tình cảm dạt dào của giáo dân dành cho vị TGM chính 58 tuổi sắp ra đi. Và chỉ chưa đầy một tuần sau, đêm 12-05, Đức Tổng Kiệt đã rời VN trong sự luyến tiếc thương cảm của cộng đồng Công giáo trong lẫn ngoài nước cũng như của rất nhiều đồng bào nhìn thấy ngài là biểu tượng của công lý và sự thật, đồng thời cũng trong sự hả hê của nhà cầm quyền CS vì đã triệt hạ được một chướng ngại lớn lao trên con đường công cụ hóa GH. CS có thành công trong việc bắt Công giáo và mọi tôn giáo đội đảng để một mình đảng đội trời chăng? Chúng ta hãy chờ xem! BAN BIÊN TẬP

 

Cách đây hơn 20 thế kỷ, vào thời Xuân Thu, nhà binh pháp số một của nhân loại là Tôn Tử có nói (đại ý): “Chiếm được thành quách mà không chiếm được lòng người thì cũng kể là thất trận”. Cuối thế kỷ thứ 20, một lãnh đạo tinh thần hàng đầu của thế giới là bà Chiara Lubich, người sáng lập phong trào Focolare với hàng triệu thành viên, cũng nhắc nhở: “Những chiến tích không có tình yêu thì chỉ tày là mây khói”. Trong những ngày này, tại Việt Nam và tại các đại sứ lãnh sự quán của Việt cộng trên khắp hoàn cầu, nhà cầm quyền Cộng sản đang tưng bừng tổ chức cái gọi là “35 năm giải phóng miền Nam, chiến thắng Mỹ ngụy”. Những đoạn phim, những hồi ký phía CS về ngày 30-04-1975 được chiếu đi chiếu lại, nhắc đi nhắc lại để cho toàn dân trong nước thấy được “cuộc chiến thắng lẫy lừng dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng”. Quả là có một “chiến thắng” khi chiếc xe thiết giáp T54 của Cộng quân húc đổ cổng Dinh Độc lập, đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, và khi toàn bộ Quân lực miền Nam buông súng. Tiếp theo đó là những lời huênh hoang của các lãnh đạo CS đương thời, nào là “Đế quốc Mỹ đã thua trận”, nào là “Từ đây lịch sử sẽ có một cột mốc mang tên: Thế giới sau VN!”, nào là “Trong 10 năm tới chúng ta sẽ vượt Nhật, và 15 năm tới sẽ vượt Mỹ” v.v…. Men “chiến thắng” của CS cũng bày tỏ qua nhiều hành động đáng được ghi vào lịch sử: xua đuổi hoặc giết bỏ các thương binh VNCH để chiếm lấy các quân y viện, trục xuất khỏi nhà thân nhân các quân cán chính miền Nam không may có cơ ngơi hơi khá to đẹp, kìn kìn khuân vác chuyên chở bao tài sản công lẫn tư ra miền Bắc, chia chác cho nhau đất đai nhà cửa của kẻ thua trận, gọi đấy là chiến lợi phẩm, tìm cách “mượn vĩnh viễn” vô số cơ sở của các giáo hội… Tuy nhiên, đó chỉ mới là những hành động ăn cướp kiểu đột xuất. Phải ăn cướp có chính sách thì mới chứng tỏ ta là người chiến thắng oanh liệt! Thế là những chủ trương thâm độc ra đời: nào là “xây dựng kinh tế mới” để tước đoạt nhà cửa của cư dân thành thị miền Nam, nào là “cải tạo công thương nghiệp” để cướp bóc và phá hủy hạ tầng cơ sở đầy hữu hiệu của nền kinh tế tư bản, nào là “cải tạo tư tưởng chính trị” để đọa đày hàng triệu quân cán chính VNCH -tài nguyên đất nước- trong vô số trại tù khủng khiếp mang mỹ danh lừa dối “trại cải tạo”, để tống ra khỏi mọi cơ quan công quyền, mọi cơ sở giáo dục ở miền Nam những “đầu óc ngụy độc hại” vốn cũng là nguyên khí quốc gia, để tịch thu phá hủy bao kho tàng văn hóa từ văn chương, âm nhạc tới mỹ thuật, từ tủ sách thư viện tới thánh thất miếu đình, từ lễ hội nhân gian đến lễ hội tôn giáo, nào là “san bằng lợi tức, thực hiện công bình xã hội” qua mấy chiến dịch hoán đổi tiền, đăng ký vàng nhằm mục đích vét sạch túi nhân dân và vô sản hóa quần chúng ngoài đảng. Đó là chưa kể chủ trương bán bãi, săn lùng người vượt biên chỉ nhằm mục tiêu chủ yếu là cướp nữ trang vàng bạc của những ai không chịu đựng nổi chế độ mà muốn thoát ra nước ngoài. Và đây chính là một trong những dấu hiệu của việc chiến thắng trở thành chiến bại. Sự thất bại này có nhiều mặt. Trước hết thất bại về mặt nhân tâm. Ngay trong những tháng ngày hấp hối của chế độ Sài Gòn, hàng triệu người miền Nam đã dùng đủ mọi cách để vào nam, “chạy giặc CS”, trốn “đoàn quân giải phóng” như trốn ôn dịch. Sau đó vài tháng là hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn, rồi cả triệu người dân miền Nam (những ai có cơ may và phương tiện), thậm chí cả một số dân miền Bắc, đã “bỏ phiếu bằng chân”, liều mạng tìm đường thoát khỏi “thiên đường xã hội chủ nghĩa” bằng tất cả mọi phương tiện. “Nạn thuyền nhân” như tên gọi hiện giờ là những trang bi hùng nhất của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc. Hiện nay, cuộc đào thoát khỏi chế độ vẫn còn tiếp diễn, dưới hình thức kết hôn với Việt kiều, du học không về nước, đoàn tụ theo diện bảo lãnh, làm công nhân xuất khẩu rồi trốn ở lại… Nhưng trước đó phải kể đến sự thất vọng, ngỡ ngàng và đau xót của bao chiến binh hay dân thường miến Bắc lần đầu tiên vào được miền Nam, thấy được cảnh sống sung túc, bầu khí tự do, trình độ phát triển và tinh thần nhân bản của VNCH. Ai quên được những giòng nước mắt tức tưởi của nhà văn Dương Thu Hương ngồi xuống bên vệ đường thành phố Sài Gòn tháng 5 năm ấy, và lời tuyên bố cay đắng sau đó của bà: “Cuộc chiến giải phóng miền Nam là cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc”. Nhạc sĩ Tô Hải, một người từ trong lòng chế độ ở miền Bắc, cách đây khá lâu cũng nhận định: “Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho một chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người đang âm mưu làm Vua của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc lập, Tự do mà ở các nước người ta đã có từ nửa thế kỷ trước nay rồi, vì người ta may mắn thay đã không có đảng Cộng sản cai trị!” Ông còn nói thêm về cái động lực gây nên cuộc chiến đó là chủ nghĩa cộng sản: “Đấy chính là một tà giáo đại bịp nhất trong lịch sử loài người mà những tên lãnh tụ tối cao của chúng dựa vào đó để gây chiến tranh nồi da xáo thịt, để tiến hành âm mưu hiểm độc tiêu diệt mọi lòng tin khác, mọi nhận thức, mọi tình cảm, mọi tình yêu, kể cả lòng yêu nước của con người!”. Tiếp đến là thất bại về mặt kinh tế. Những chính sách như cải tạo công thương nghiệp, đưa miền Nam hòa nhập vào nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, những chủ trương như đổi tiền, tự sản tự tiêu, ngăn sông cấm chợ, bãi chợ đông đồng… thập niên 1975-1985 đã đẩy đất nước đến bờ vực thẳm. Cuộc “đổi mới kẻo chết” do toàn dân uất ức đòi hỏi (chứ không do nhận định sáng suốt của đảng như CS tuyên truyền) đã đưa đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, tự do buôn bán làm ăn sản xuất khiến người dân dễ thở hơn một chút. Nhưng cũng vì thòng cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, dành ưu tiên cho “kinh tế quốc doanh, công ty nhà nước”, dựa nguyên tắc “đất đai nhân dân chỉ có quyền sử dụng” (còn quyền quản lý -thực chất là quyền sở hữu- thuộc nhà nước, thuộc đảng), đưa ra những chương trình quy hoạch đất đai, mở rộng đô thị, xây dựng khu chế xuất, mời gọi đầu tư nước ngoài… bất chấp sự bảo vệ môi trường, sự an sinh của dân chúng, sự tôn trọng tài sản công dân, sự đồng bộ trong kế hoạch phát triển, cộng thêm nạn “quy hoạch treo”, “lãnh chúa địa phương”, “cường hào ác bá”… tất cả đã tạo nên một thiểu số tư bản đỏ giàu sụ, sống xa hoa, thuộc giai cấp thượng lưu, bên cạnh một thiểu số trung lưu và đại đa số nhân dân bị đẩy vào giai cấp hạ lưu nghèo khổ… Đất nước hiện sống còn nhờ dựa vào việc bán tài nguyên (, mượn vốn quốc tế, trông chờ kiều hối hải ngoại… Thất bại về mặt ngoại giao quốc phòng. Năm 1975 chiến thắng nhờ đàn anh Trung Cộng, (TC), Việt cộng (VC) càng hí hửng tin vào tình quốc tế vô sản, nghĩa đồng chí anh em (niềm tin này có từ thời tên quốc tặc HCM). Thế nhưng bang giao quốc tế chỉ là vấn đề quyền lợi dân tộc, nghĩa tình cộng sản chỉ là cá lớn nuốt cá bé, trong tội ác (nhất là tội ác xâm lăng) không có đồng chí mà chỉ có đồng lõa, sẵn sàng phản bội nhau khi chia chác chiến lợi phẩm. Liền sau chiến thắng, Trung cộng đã đòi trả nợ. Khổ nỗi đầu óc bành trướng đại Hán chỉ đòi trả bằng đất đai. Thế là VC phải để yên cho TC xây dựng Hoàng Sa mà chúng đã chiếm của VNCH một năm trước đó. Tới năm 1979 lại đành mất một số cao điểm chiến lược trên vùng biên giới phía Bắc. Năm 1999 rồi 2000 lại dâng tiếp cho quan thầy gần cả ngàn km2 lãnh thổ và trên mười ngàn km2 lãnh hải. Năm 2008 lại để cho Tàu vào tận trong đất nước qua dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, qua chủ trương cho thuê rừng quốc phòng và rừng phòng hộ. Song song đó là để cho lân quốc Bắc phương, kẻ thù truyền kiếp, xâm lấn quốc gia về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị. Chiến thắng cho độc lập tự do đâu chả thấy, chỉ thấy đất nước, nhất là Bộ Chính trị đảng, ngày càng vào trong cái rọ của Tàu đỏ. Thất bại về mặt chính trị. Ngay từ thập niên 70-80, đã có những cuộc nổi loạn của nhiều tổ chức vũ trang muốn phục quốc, những phản kháng bất bạo động của một số thường dân hay tín đồ bị chèn ép, sự bất mãn của nhiều chiến binh, cán bộ thấy mình bị lợi dụng xương máu, lường gạt lý tưởng… Đến cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, phong trào phản kháng tại quốc nội và ở hải ngoại ngày càng dâng cao. Nhiều nhóm, khối, tổ chức, chính đảng phi cộng và chống cộng trong nước xuất hiện. Họ mạnh mẽ tố cáo những tội ác, vạch trần những sai lầm của chủ nghĩa, chế độ và chính đảng CS. Họ truyền bá cho dân những ý niệm về tự do, nhân quyền, công bằng, dân chủ, để nêu bật tính đàn áp, phi nhân, bất công, độc tài của chế độ. Nhiều tín hữu và chức sắc, nhiều tổ chức và cộng đồng giáo hội cũng đứng lên, một mặt kêu gào tự do tôn giáo, một mặt đòi hỏi công lý nhân quyền, qua những bài quan điểm, những buổi cầu nguyện, những cuộc tập hợp, những lần biểu dương trước tòa, những chiến dịch bất tuân dân sự… Mới đây lại có phong trào tố cáo sự can thiệp của CS vào nội bộ tôn giáo và sự thỏa hiệp của một số chức sắc quan trọng. Vô số trí thức và sinh viên học sinh cũng tổ chức những cuộc xuống đường chống ngoại xâm lẫn nội xâm, thiết lập những trang dân báo điện tử, những diễn đàn liên mạng để bày tỏ chính kiến trước những vấn đề của đất nước xã hội, hình thành những tổ chức dân sự, phi chính phủ (hay tự giải thể) để bày tỏ lập trường…. Cộng đồng người Việt hải ngoại cũng ngày càng nêu cao chính nghĩa của tự do dân chủ, tinh thần của VNCH qua vô số hoạt động như tẩy chay tham dự, biểu tình phản đối những gì là của Việt cộng, như hiệp thông bênh vực, ủng hộ tài trợ cho phong trào dân chủ trong nước, như thông tin cho quốc tế, vận động các chính khách về mặt thật chế độ, hiện thực Việt Nam… Tất cả những điều trên cho thấy sau 35 năm, những ai và cái gì mới thực sự chiến thắng. Như trong tôn giáo, người chiến thắng là vị tử đạo kiên cường giữ vững đức tin dù phải bị bắt quỳ trước kẻ ngồi ngai bách hại, thì trong chính trị xã hội cũng vậy, người chiến thắng là người đang xác tín, đang theo đuổi và đang nỗ lực thực hiện các giá trị dân chủ nhân quyền, dù tạm thời bị tà lực độc tài đàn áp. Bởi lẽ chiếm được thành, được nước mà không chiếm được lòng người như Tôn Tử nói thì chiến thắng cái nỗi chi??? BAN BIÊN TẬP

 

Tại Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng sản đang rầm rộ tổ chức cái gọi là kỷ niệm «35 năm giải phóng miền Nam». Ở hải ngoại và cả quốc nội, đồng bào cũng không quên tưởng niệm Ngày Quốc hận, ghi nhớ biến cố toàn thể đất Việt rơi vào ách thống trị của một chủ nghĩa, chế độ và chính đảng vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc. Dù bộ máy tuyên truyền của CS hết sức tô vẽ cái gọi là «sự nghiệp giải phóng, thành quả cách mạng» sau 35 năm, nhưng không ai không nhận thấy VN đang ngày càng thụt lùi về kinh tế, hỗn loạn về xã hội, hà khắc về chính trị, ô nhiễm về môi trường, sa sút về văn hóa, suy đồi về đạo đức, thu hẹp về đất đai và bấp bênh về an ninh quốc phòng… Vì đường lối quản lý xã hội và điều hành kinh tế có thể do bất lực sai lầm nhưng cũng có thể do thâm ý tàn độc của Cộng sản, đại đa số nhân dân VN đang sống trong nghèo nàn khốn khổ bên cạnh một thiểu số đảng viên cán bộ giàu nứt đố đổ vách, đằng sau vài phố thị phát triển hiện đại là vô số gia cư ổ chuột và mênh mông thôn dã bần cùng. Nếu cho rằng CS từng mong muốn đem lại công bằng xã hội như họ hằng rêu rao thì quả là họ đã hoàn toàn thất bại về mặt dân sinh, kinh tế. Nhưng điều đáng tổng kết sau hơn 1/3 thế kỷ CS cai trị nước Việt, đó chính là sự thất bại về mặt tinh thần, hay nói đúng hơn là sự hủy diệt ý thức của đủ mọi hạng người trong xã hội, mà CS là thủ phạm, y như một nhà văn Nga từng nói : «CS thực chất là một sự ác tinh thần» (Le communisme est un mal spirituel). 1- Tiêu diệt ý thức đại diện quốc dân nơi các thành viên Quốc hội. Được ngồi vào cơ quan quyền lực cao nhất nước trên danh nghĩa này không do dân bầu nhưng do đảng cử, các thành viên Quốc hội, qua hơn 12 khóa, đã chỉ làm một công việc là «giơ tay», «nhất trí cao, phấn khởi lớn» trước ý muốn của đảng, của Bộ chính trị. Những cuộc gặp gỡ, lấy ý kiến cử tri địa phương chỉ là trò mỵ dân ; những cuộc chất vấn các thành viên chính phủ thuần là màn trình diễn. Từ công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, qua hai hiệp định lãnh thổ và lãnh hải năm 1999 rồi 2000, đến vụ khai thác Bauxite Tây Nguyên 2008 (đây chỉ kể những việc nổi cộm), Quốc hội chẳng hề đứng về phía nhân dân để tìm hiểu, chất vấn, phản biện và hành động, một để cho Bộ chính trị và Trung ương đảng mặc sức tung hoành, dù bất lợi và nguy hiểm cho đất nước. 2- Tiêu diệt ý thức phục vụ công chúng nơi các nhân viên công quyền. Ý thức này đã bị tiêu diệt ngay từ đầu, qua việc họ là những người đã được đảng bộ trung ương hay địa phương tuyển chọn đặt để, nghĩa là không được nhân dân trao quyền, nhưng là cướp quyền từ tay nhân dân (những cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp chỉ là trò hề). Thành thử họ đã cư xử như những ông trời con, hung thần thổ địa, hống hách khinh người, chỉ lo tích lũy của cải hơn là phục vụ. Lối nói mai mỉa «hành là chính», những cơ ngơi đồ sộ của các «đầy tớ nhân dân» được phơi bày trên mạng Câu lạc bộ «Nókìa», những màn «cướp cơm chim» của kẻ bần cùng và nạn nhân bão lụt, những cuộc biểu tình vô vọng của dân oan bị lấy đất trước các trụ sở ủy ban xã huyện tỉnh, những cuộc đánh phá của các lãnh đạo chính quyền nhắm vào tôn giáo tại Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Cồn Dầu, Nha Trang, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Thủ Đức… và mới đây là việc các tỉnh cho Trung Cộng thuê rừng quốc phòng và phòng hộ là những bằng cớ không ai có thể chối cãi. 3- Tiêu diệt ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân nơi giới công an cảnh sát. Bị nhồi sọ bởi tư tưởng : được đảng gầy dựng, lãnh đạo, trả lương, coi như lực lượng bảo vệ đảng, thấm nhuần «lời thề danh dự : Tuyệt đối trung thành với Đảng CSVN, với Nhà nước CHXHCNVN… Nghiêm chỉnh và triệt để chấp hành mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng… » (trích từ 5 lời thề của CAND), giới này đã trở thành công cụ đàn áp dân oan và giáo oan (có khi với cung cách côn đồ) khi họ đứng lên đòi quyền lợi trong các vụ biểu tình, phản kháng, khiếu kiện đơn lẻ hay tập thể ; thành «lực lượng đối thọi» với các nhà dân chủ cất tiếng đòi dân chủ tự do, thành kẻ hỗ trợ cho công tố viên trong các phiên tòa chính trị, và gần đây là thành nỗi kinh hoàng cho bất cứ ai bị bắt về đồn công an cảnh sát với bất cứ lý do «vi phạm» lớn nhỏ (vụ anh Nguyễn Quốc Bảo hôm 21-01 mới rồi tại Hà Nội là một ví dụ). 4- Tiêu diệt ý thức bảo vệ Tổ quốc nơi hàng ngũ quân đội : Luôn khắc ghi lời thề «dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, phấn đấu thực hiện một nước VN xã hội chủ nghĩa… Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng…» (trích 10 lời thề của QĐND), nhất là từ khi thay thế khẩu hiệu «Trung với nước hiếu với dân» bằng khẩu hiệu «trung với đảng…», rồi được cho làm kinh tế tự do, quân đội nhân dân đã thực sự trở thành công cụ của đảng, chỉ lo làm giàu (nhất là hàng lãnh đạo vốn nắm vô số công ty lớn nhỏ), quên lãng bổn phận bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trên lãnh hải, bỏ mặc ngư dân cho sự sách nhiễu, cướp bóc, tàn sát của Trung Cộng (vì chủ trương của đảng hiện thời là thần phục TC và xây dựng XHCN theo tấm gương và trong sự liên kết với TC). Dĩ nhiên từng có những chiến sĩ oai hùng trong cuộc xâm lăng của «Đại Hán» năm 1979 (Việt Bắc) và năm 1988 (Trường Sa), cũng như có một số tướng lĩnh sĩ quan và nhiều quân nhân còn ưu tư vận nước, nhưng quân đội xét chung nay hoàn toàn bị khống chế bởi những thành phần tay sai Bắc triều trong Bộ chính trị hay Bộ quốc phòng. 5- Tiêu diệt ý thức bảo vệ luật pháp và công lý nơi các luật sư. Do việc các Đại học luật khoa và các luật sư đoàn độc lập ở miền Nam bị xóa sổ ngay sau năm 1975 và chỉ mới được tái lập gần đây, nhưng dưới sự cầm trịch của CS, giới luật sư hiện giờ nói riêng và ngành tư pháp nói chung bị biến thành công cụ của đảng, theo cơ chế tam quyền phân công hay tam quyền nhất lập. Rất nhiều luật sư từng than phiền họ bị công an cản trở việc tiếp xúc với các thân chủ trong các vụ án, nhất là vụ án chính trị. Tại những phiên tòa loại này, các thẩm phán thường có những «bản án bỏ túi» do trên ấn định sẵn và ý kiến của các luật sư công tâm bị xem thường. Báo chí cũng hay nói đến việc chạy án, việc quan tòa và công tố ăn hối lộ, việc đào tạo luật sư hay thẩm phán cách qua loa. Ngoài những luật gia hay luật sư có tinh thần dân chủ (nay xuất hiện ngày càng nhiều và cũng bị đàn áp không ít), vô số luật sư vẫn sẵn sàng loại trừ các đồng nghiệp «có vấn đề» với đảng, sẵn sàng bênh vực hay ngậm miệng trước nhiều bộ luật chỉ có lợi cho đảng mà thôi. 6- Tiêu diệt ý thức thương xót bệnh nhân nơi các y bác sĩ : Nền y tế VN từ lâu vẫn nổi tiếng thế giới với những bệnh viện quá tải, trang bị lỗi thời, vệ sinh tồi tệ ; với cảnh bỏ mặc những ca cấp cứu chưa nộp tiền, đối xử ngược với châm ngôn «lương y như từ mẫu», đòi bệnh nhân hối lộ mới săn sóc tốt, cung cấp thuốc quá hạn hay thuốc dổm, ăn hoa hồng quá độ khiến giá y dược bị đẩy lên tận trời, ưu tiên săn sóc cho đảng viên cán bộ, coi rẻ những người dùng thẻ bảo hiểm y tế và dân nghèo vào bệnh viện chỉ có nước tử vong… Nhân dân chua chát bảo rằng từ ngữ «nhà thương» nay hoàn toàn vô nghĩa, vì ở đó chỉ có sự khai thác nỗi khổ đau của con người. 7- Tiêu diệt ý thức làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi giới tu hành : Cộng sản từng phỉ báng tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân, nhưng nay lại muốn tôn giáo trở thành thuốc phiện thực sự. Và họ đang làm được điều đó với những chức sắc chỉ còn biết ý nghĩa cuộc sống và hoạt động tu hành của mình là xây dựng điện thờ nguy nga, tổ chức lễ hội rầm rộ, ra ngoại quốc làm mục vụ xin tiền, mà hoàn toàn dửng dưng trước cảnh đồng bào bị đàn áp, xã hội bị băng hoại, tổ quốc bị lâm nguy… Những vị này còn lý luận mình không muốn làm chính trị, chỉ lên tiếng về các nguyên tắc luân lý chung chung (an toàn hơn) chứ không can thiệp vào những trường hợp cụ thể (dễ gặp nguy hiểm), sẵn sàng đặt tượng tên tội đồ dân tộc, từng bách hại tôn giáo bên cạnh Đức Phật trên điện thờ hay lấy tên của y làm danh hiệu cho giáo phận… 8- Tiêu diệt ý thức lương sư giáo dục nơi các thầy cô giáo : Nền giáo dục CS là nền giáo dục mang tính chính trị, không nhắm đào tạo những công dân tự do và trưởng thành cho đất nước nhưng là nhào nặn ra những thần dân khiếp nhược và nô lệ cho đảng. Chính vì thế CS đã cố gắng huấn luyện ra những thầy cô «hồng hơn chuyên », bó buộc hiệu trưởng mọi loại trường (trừ một số trường mẫu giáo của các giáo hội) phải là đảng viên để nắm chắc đường lối chủ trương của đảng, để theo dõi tư tưởng lập trường của mọi giáo viên và học sinh. Thành ra nền giáo dục VN ngày càng sa sút với vô số giáo viên thiếu tư cách, thiếu khả năng («đứng nhầm lớp»), với vô số vụ việc thầy bạo hành trò, đổi tình lấy điểm, bắt học sinh làm điếm (như tại tỉnh Hà Giang), bỏ mặc công an dân quân hành hạ học trò (vụ sinh viên Vũ Hoàng Quang), với việc giáo sư cấm sinh viên biểu tình chống Trung Quốc để bày tỏ lòng yêu nước… Từ đó, sinh ra một hậu quả khủng khiếp là sự ngây thơ, trong sáng, chân thật nơi các học sinh cũng bị tiêu tùng. Điều này dễ nhận thấy qua việc tệ nạn học đường ngày càng gia tăng với vô số vụ học sinh đánh lộn nhau (ngay cả trẻ nữ), hành hung thầy, học hành kiểu gian dối hay kiểu đối phó, dùng tiền hay tình để mua điểm, thậm chí sẵn sàng nhắm mắt theo lệnh những kẻ điều khiển «Đoàn thanh niên côn đồ HCM» như trong vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ tại Hà Nội. «Thành quả quan trọng» của 35 năm CS cai trị chính là những điều vừa nói trên. Tất cả cho thấy sự ghê gớm và ghê tởm của chủ nghĩa lẫn chế độ CS. Sở dĩ có thành quả kinh hoàng này, đó là vì ngay sau khi chiếm được miền Nam cách đây đúng 35 năm, CS đã hành xử không chút tình đồng loại, tình đồng bào, tình dân tộc qua việc lăng nhục, hành hạ, giam nhốt, đọa đày, cướp tài sản, đuổi đi kinh tế mới hàng triệu con người cùng da vàng máu đỏ như họ (xem bài So sánh ngày 8-4-1865 của HK và ngày 30-4-1975 của VN trong tập). Nhân đã ra sao thì quả cũng thế. Khởi sự thế nào thì kết thúc cũng y như vậy. BAN BIÊN TẬP