Untitled Document
User:
Pass:

Tin Tức Khắp Nơi

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Trong khi khẳng định rằng Mỹ cần phải tiếp tục ủng hộ các đồng minh và lợi ích của mình ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, một nghị sĩ hàng đầu của Đảng Cộng hòa Mỹ đã tuyên bố rằng, sự gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông là không thể dung thứ. Facebook Twitter 1 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Bà Ilena Ros-Lehtinen "Những chiến thuật dọa dẫm, ép buộc của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông là không thể được dung thứ", nữ nghị sĩ Quốc hội Mỹ - bà Ilena Ros-Lehtinen hôm qua (10/9) tuyên bố. Bà Ros-Lehtinen là nữ Chủ tịch của Ủy ban Đối ngoại quyền lực của Hạ viện Mỹ. "Chúng ta cần phải tiếp tục ủng hộ mạnh mẽ cho các đồng minh cũng như các lợi ích của chúng ta trong khu vực. Chúng ta cũng cần phải làm rõ với giới lãnh đạo ở Bắc Kinh rằng, Biển Đông và khu vực Tây Thái Bình Dương không phải là nơi để cho họ chiếm", bà Ros-Lehtinen nói thêm. Bà Ros-Lehtinen sẽ triệu tập một phiên điều trần của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ vào ngày 12/9 tới với nội dung tập trung vào vấn đề “Bắc Kinh là một cường quốc mới nổi ở Biển Đông”. Phiên điều trần này sẽ bàn chủ yếu về những chính sách hiếu chiến gần đây của Trung Quốc cũng như việc nước này mở rộng ảnh hưởng ở Biển Đông. Cũng tại phiên điều trần này, các quan chức Mỹ sẽ xem xét lại chính sách hiện nay của Mỹ ở khu vực. "Phiên điều trần của chúng tôi sẽ xem xét các ý định của Trung Quốc và cân nhắc một loạt chiến lược nhằm chống lại các nỗ lực của Bắc Kinh trong việc mở rộng ảnh hưởng ở khu vực quan trọng có tính sống còn này”, nữ Chủ tịch Ros-Lehtinen cho hay. Theo nữ nghị sĩ Mỹ, Washington cần phải hành động kiên quyết để đảm bảo rằng những hành động hiếu chiến sẽ không được bỏ qua, nếu không thế giới chẳng bao lâu sẽ phải đối diện với những mối đe dọa lớn hơn từ một Bắc Kinh ngày càng bạo gan. Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Mỹ đã bày tỏ sự quan ngại về căng thẳng ngày càng leo thang ở Biển Đông. "Chúng tôi rất lo lắng về căng thẳng ở Biển Đông và Biển Hoa Đông gần đây”, nữ phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ - bà Victoria Nuland cho các phóng viên biết tại một cuộc họp báo. "Liên quan đến Senkaku, chúng tôi muốn Nhật Bản và Trung Quốc làm việc với nhau. Mối quan hệ tốt đẹp giữa họ quan trọng cho cả hai nước. Nó cũng quan trọng cho cả khu vực và cho cả lợi ích của chúng tôi", bà Nuland nói thêm.

 

VRNs (30.07.2012) – Huế-Saigon-Houston-Boston – “Dã tâm xâm lược Việt Nam của mọi triều đại Trung Quốc từ thời phong kiến xưa đến thời cộng sản nay không hề thay đổi! Dã tâm ấy hiện càng mở rộng, khiến Trung Quốc ngày càng trở thành hiểm họa lớn lao nhất của cả thế giới. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ mơ hồ, mất cảnh giác về điều này cũng như chưa bao giờ sợ hãi! Trong điều kiện thuận lợi của thế giới văn minh và liên lập hôm nay, một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân thì dân tộc ấy hoàn toàn có thể bảo vệ được Tổ quốc họ, với sự ủng hộ và trợ giúp của cộng đồng quốc tế”. Đây là một trong những nội dung do Khối 8406 nêu lên trong Tuyên bố về hiện tình đất nước, được phổ biến hôm 28.07.2012. VRNs xin giới thiệu đến quý độc giả toàn văn Tuyên bố này. ———— Tuyên bố về hiện tình đất nước: Tổ quốc lâm nguy ! Kính gửi: - Toàn thể đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước. - Các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ. Tổ Quốc Việt Nam đang lâm nguy vì dã tâm xâm lược của Nhà cầm quyền Trung Quốc và vì thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của Nhà cầm quyền Việt Nam! Điều đó thấy rõ qua vô số sự kiện dồn dập gần đây liên can tới quan hệ Trung-Việt. Hiện tình quan hệ Việt Nam – Trung Quốc: Ngày 21-06-2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước Việt. Cùng ngày, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị tuyên bố: “Đây là một hoạt động lập pháp bình thường nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới”. Việc này đã kéo theo một chuỗi phản ứng như sau: 1) Hành động xâm lược của phía Trung Quốc: + Ngay trong ngày 21-06-2012, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn quyết định thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa”, với phạm vi quản lý bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cùng ngày, tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Trương Chí Quân đã triệu tập đại sứ Việt Nam, ông Nguyễn Văn Thơ, yêu cầu phía Việt Nam phải “chỉnh sửa ngay lập tức Luật Biển mới thông qua vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Trung Quốc. Nó hoàn toàn vô giá trị, không có hiệu lực. Hành động đơn phương của Việt Nam làm leo thang và phức tạp thêm tình hình, vi phạm sự đồng thuận đạt được giữa lãnh đạo hai nước cũng như tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC.” + Ngày 23-06-2012, Tổng công ty Dầu khí Hải Dương – Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên thông báo mời thầu quốc tế, với 9 lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Nơi gần nhất chỉ cách đảo Phú Quý của Việt Nam khoảng 13 hải lý và cách bờ biển Việt Nam khoảng 60 hải lý. + Ngày 12-07-2012, Trung Quốc đưa một đội tầu 30 chiếc, gồm một tầu hậu cần 3000 tấn và 29 tầu đánh cá tiến vào khu vực đảo đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa. (Mặc dầu trước đó, họ đã ngang ngược ra lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ ngày 16-05-2012 đến ngày 01-08-2012, lấy lý do “bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên biển”) . Đài truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV tuyên bố: “Đây là một cách thể hiện chủ quyền ở Nam Sa”. Cùng lúc, báo Quân Giải Phóng Trung Quốc cho biết: “Sẽ thay thế 6 nhân sự cấp cao trong quân khu tỉnh Hải Nam để ứng phó với tình hình căng thẳng ở biển Nam Hải”. + Ngày 20-07-2012 một tàu đổ bộ của Trung Quốc mang tên Ngọc Đình (072-II) số 934, được trang bị ba khẩu pháo và một bãi đáp trực thăng, dùng để chở binh lính và hàng hóa, đã xuất hiện tại bãi đá Su Bi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Từ lâu nay, những loại tầu quân sự chính thức hay trá hình của Trung Quốc như thế đã thường xuyên bắt giữ ngư thuyền, tịch thu ngư cụ, cướp đoạt ngư phẩm và đánh đập ngư dân Việt Nam (thậm chí còn bắt giam họ để đòi tiền chuộc) mà hải quân Việt Nam chẳng bao giờ ra tay bảo vệ! + Ngày 21-07-2012, tờ China Daily đưa tin : “Ủy ban Quân sự trung ương Trung Quốc đã ủy quyền cho Bộ chỉ huy quân khu Quảng Châu thành lập đơn vị đồn trú ở “thành phố Tam Sa”. Đơn vị này tương đương cấp phân khu, có nhiệm vụ quản lý các hoạt động quốc phòng, quân bị và thực hiện các hoạt động quân sự tại “thành phố Tam Sa”. Tư lệnh quân đồn trú chịu sự quản lý song song của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Nam, cũng như của giới chức hành chính của “thành phố Tam Sa”. + Ngoài ra, trên mặt trận ngoại giao: Trung Quốc luôn né tránh vấn đề Biển Đông ở tất cả các diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế. Họ cho rằng: tranh chấp trên Biển Đông chỉ nên giải quyết trực tiếp giữa các nước hữu quan (theo kiểu song phương, thay vì đa phương như các nước đòi hỏi). Tại Hội nghị ngoại trưởng khối ASEAN kết thúc ngày 13-7-2012 vừa qua ở Phnom Penh, Trung Quốc đã chi phối được nước chủ nhà Campuchia không đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông giữa Việt Nam, Philippin với Trung Quốc vào Tuyên bố chung, khiến lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của khối ASEAN, Tuyên bố chung không đưa ra được, làm cho Khối mất uy tín nặng nề. + Trên mặt trận tuyên truyền: tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phụ bản của tờ Nhân Dân Nhật Báo – Cơ quan ngôn luận của Đảng CSTQ- liên tục có những thông tin bịa đặt, luận điệu vu cáo nhằm kích động tâm lý hiếu chiến, chống đối Việt Nam trong công chúng Trung Quốc và cộng đồng người Hoa khắp thế giới. Cụ thể trong số ra ngày 03-07-2012: “Phía Việt Nam đã chiếm đảo, ăn cắp dầu mỏ; ngư dân Trung Quốc đánh cá trong vùng biển của Trung Quốc bị pháo hạm của Việt Nam truy đuổi, phun vòi rồng, bắt thuyền, đánh người, cướp cá…” . Sự kiện Hoàng Sa năm 1974 bị đổi trắng thay đen thành: “Chính quyền Sài Gòn đã huy động quân đội xâm phạm nhóm đảo Vĩnh Lạc trong quần đảo Tây Sa, đánh chiếm các đảo Cam Tuyền và Kim Ngân của Trung Quốc. Đáp lại, quân và dân Trung Quốc đã vùng lên đánh trả, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ”. Cuối cùng tờ báo hăm dọa: “Hiện nay Trung Quốc có tiền, có súng, có thị trường và tình hình tất sẽ phát triển theo hướng khó tránh khỏi xung đột… Nếu bọn khỉ (chỉ Việt Nam) chấp nhận thì phải từ bỏ tranh giành. Nếu họ dám phá thì ngoài việc thu hồi những đảo họ đã cưỡng chiếm, ta còn thu hồi cả những mỏ dầu mà họ đã khoan trước đây.” 2) Thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của Nhà cầm quyền Việt Nam: Trước những hành động ngày càng ngang ngược, biểu lộ dã tâm xâm lược Việt Nam của phía TQ, phản ứng của Nhà cầm quyền Hà Nội rất nhu nhược và gây phẫn nộ trong nhân dân: + Họ chỉ ra lệnh cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (một doanh nghiệp đơn thuần) họp báo, rồi Hội Luật gia, Hội Nghề cá Việt Nam ra tuyên bố, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) ra thông báo… gọi là để phản đối quân xâm lược. Theo một bản tin ngắn của TTXVN thì: “Ngày 24-6-2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp (thay vì triệu tập) đại diện Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối về việc chào thầu trên” nhưng lại không nói rõ đại diện của cả 2 phía là những người nào. + Họ đàn áp nhiều người Việt Nam yêu nước xuống đường ngày 01-07 để phản đối các hành động leo thang xâm lược mới của phía Trung Quốc. Đến ngày 13-07, Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội lại phát biểu trong kỳ họp bế mạc của Hội đồng nhân dân: “Về an ninh trật tự, đặc biệt lưu ý tình trạng tập trung đông người kéo về Hà Nội khiếu kiện có tổ chức, theo chỉ đạo của đối tượng xấu. Lợi dụng tình hình trên, các thế lực thù địch và số cơ hội chính trị đã kích động người dân, nhất là số người đi khiếu kiện ở các địa phương biểu tình để gây áp lực với chính quyền phải giải quyết những khiếu nại, yêu sách”. Sau cuộc biểu tình ngày 22-07 mà rất nhiều nơi bị ngăn chận, báo Nhân Dân (24-07) lại cho rằng những ai xuống đường chống TQ đã “bị lạm dụng, bị khống chế và lôi kéo vào một số bè phái… luôn nhân danh lòng yêu nước nhưng thực chất là toan tính ích kỷ, háo danh, hoang tưởng… Hành động biểu tình này đã gây tổn hại đến sức mạnh và lợi ích quốc gia”. + Ngày 10-7-2012, tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội hữu nghị Việt-Trung nhiệm kỳ 5 (2012-2017), ông Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng Việt Nam phát biểu: “Hội hữu nghị Việt- Trung sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc xuyên suốt trong 5 năm, sau Đại hội này”. Những sự kiện gần đây trên Biển Đông không hề được ông lẫn các quan chức cấp cao hơn ông lên tiếng. Đại hội trái lại chỉ thống nhất nhận định: “Vấn đề nổi cộm nhất trong quan hệ giữa hai nước là sự “mất cân bằng lớn trong cán cân thương mại”! + Những phản ứng trên là hoàn toàn “nhất quán” với Tuyên bố chung Việt-Trung ngày 15-10-2011 tại Bắc Kinh, do Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng đồng đưa ra: “Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục.” Ngoài ra, tuy Quốc hội đã ra Luật Biển, nhưng phải đợi tới đầu năm 2013, Luật mới được Đảng CS thông qua và Chính phủ CS phê chuẩn. Phải chăng Luật sẽ còn sửa đổi để phù hợp với phương châm và tinh thần nói trên? + Giới lãnh đạo quân sự cao cấp của Việt Nam cũng hoàn toàn im hơi lặng tiếng sau những sự kiện trên. Có chăng chỉ là ở cấp quân khu, tỉnh đội. Điều này phản ảnh thái độ của Thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh vốn đã dõng dạc tuyên bố trong Hội nghị đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung lần thứ 2 ngày 28-8-2011 tại Bắc Kinh: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi… Nhưng nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỉ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới”. Điều đó cũng phản ảnh thái độ của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh vốn tuyên bố trong Hội nghị lần 6 của các bộ trưởng quốc phòng Khối ASEAN ngày 29-05-2012 tại thủ đô Campuchia: Chủ trương của Việt Nam là giữ quan hệ hợp tác-giao lưu về quốc phòng và quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc: “Lãnh đạo Quân đội hai nước gặp nhau trao đổi thẳng thắn, chân tình và thống nhất quân đội hai nước phải kiềm chế không để xảy ra xung đột quân sự trên biển”. Ông cũng kêu gọi chính phủ hai bên chú ý quản lý các phương tiện truyền thông, “không để các cơ quan báo chí đăng tải những bài viết có tính chất kích động, chia rẽ quan hệ hai nước, làm phức tạp thêm tình hình“. 3) Phản ứng yêu nước của nhân dân Việt Nam: Trước nguy cơ mất nước cận kề, trái ngược hẳn thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của Nhà cầm quyền, một bộ phận ưu tú của Dân tộc đã quyết đứng lên: + Nhiều cán bộ lão thành, nhiều trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báo và những người đấu tranh dân chủ đã tỉnh táo chỉ rõ tình thế cực kỳ nguy hiểm của dân Việt hôm nay là: ngoài biển Đông thì Trung Quốc liên tục gây hấn; trong đất liền thì Trung Quốc liên tục xâm nhập: thuê các cánh rừng đầu nguồn, khai thác bauxite ở Tây Nguyên, lập bè nuôi cá trên vịnh Cam Ranh và Vũng Rô (những vị trí xung yếu về an ninh và quốc phòng), xây thôn làng phố thị tại Lào Cai, Bình Dương…, thắng thầu khắp mọi nơi từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, dựng nhà máy không giấy phép ở Quảng Ninh, khai trương trang mạng xã hội Baidu hòng kiểm soát và khống chế internet trên đất Việt, mở phòng mạch khám chữa bậy tại Hà Nội lẫn Sài Gòn, xúi nông dân nhiều nơi nuôi đỉa trâu, làm chè bẩn… Tất cả xảy ra trước sự bất lực hay bao che của toàn bộ “hệ thống chính trị” Việt Nam! Đó là chưa kể Trung Quốc đang thao túng nền chính trị, tài chánh, văn hóa của đất nước; xâm nhập vào cả lực lượng công an, quân đội. + Tại những thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn vào các ngày chủ nhật, (01, 08, 22 tháng 07-2012 đã có hàng ngàn người xuống đường phản đối những hành động xâm lược mới của Trung Quốc. Đặc biệt có ông André Menras (Hồ Cương Quyết), một người Việt gốc Pháp từng làm bộ phim “Hoàng Sa–Nỗi Đau Mất Mát” cũng đã cùng đồng bào biểu tình chống Trung Quốc tại Sài Gòn ngày 1-7-2012 với tấm biểu ngữ: “Thế giới căm ghét bọn ăn cướp! Không có một “chữ vàng”, không có một “cái tốt” với kẻ ăn cướp! Hãy tôn trọng luật pháp quốc tế! Hãy tôn trọng dân tộc Việt Nam! Biển Đông không phải là cái ao nhà của các ngươi! Hãy quay về Hải Nam của các ngươi! Cút đi!”. Thế nhưng nhiều người trong số công dân yêu nước ấy đã bị Nhà cầm quyền Việt Nam ra tay đàn áp bằng nhiều cách: hoặc hăm dọa, ngăn chận, hoặc đánh đập, bắt giam… Và tất cả họ đều bị Nhà cầm quyền lùa hết vào cái rọ “lũ phản động”, coi như “những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội chính trị bị các thế lực thù địch bên ngoài mua chuộc, lôi kéo, chi phối, giật dây”, “luôn nhân danh lòng yêu nước nhưng thực chất là toan tính ích kỷ, háo danh, hoang tưởng”, “có âm mưu lật đổ nhà nước nhân dân”!?! 4) Phản ứng phê phán của cộng đồng thế giới: + Tại Philippin, ngày 04-07-2012, Bộ Ngoại giao Philippin đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc là Mã Khắc Khanh để phản đối việc nước này thành lập “Thành phố Tam Sa” và tuyên bố: “Philippin sẽ không đàm phán song phương với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông”. Đồng thời, Tổng thống Philippin, ông Benigno Aquino, đã gặp toàn bộ nội các vào ngày 05-07-2012 để bàn về việc tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. + Tại Campuchia, ngày 12-07-2012, Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton khẳng định: “Tuy Mỹ không tuyên bố chủ quyền hay biên giới ở biển Đông, nhưng có những lợi ích cơ bản về kinh tế, thương mại và quyền tự do đi lại ở đây. Chúng ta tin rằng các quốc gia trong khu vực cần làm việc trên tinh thần ngoại giao và hợp tác để giải quyết các tranh chấp; không được áp bức, khủng bố tinh thần, đe dọa và tuyệt đối không sử dụng vũ lực. Tiếp cận giải pháp theo hướng song phương chỉ gây rối loạn và đối đầu”. + Tại Australia, ngày 17-07-2012, tờ Sydney Morning Herald bình luận: “Thái độ hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông đang khiến những ai từng nghi ngờ âm mưu của Trung Quốc thì nay đã hết cả nghi ngờ. 22 vụ đụng độ trên Biển Đông trong ba năm qua chủ yếu là do tàu của Trung Quốc gây ra ở những khu vực của Philippines và Việt Nam là bằng chứng rõ ràng hơn bao giờ hết. Những động thái mới nhất của Trung Quốc cho thấy nước này không hề có tư tưởng hòa giải nào trong đầu. Bắc Kinh chỉ cho thấy họ đang sẵn sàng châm dầu vào lửa!”. + Tại Nga, ngày 20-07-2012, các vị tướng lĩnh quân sự nước này tuyên bố: “Nếu Trung quốc cố tình hành động xâm phạm chủ quyền biển của Việt Nam được quốc tế công nhận thì sẽ vấp phải sự lên án không chỉ của Mỹ và Nga mà còn cả thế giới nữa.” + v.v… Trước tình hình trên, Khối 8406 chúng tôi tuyên bố: 1) Dã tâm xâm lược Việt Nam của mọi triều đại Trung Quốc từ thời phong kiến xưa đến thời cộng sản nay không hề thay đổi! Dã tâm ấy hiện càng mở rộng, khiến Trung Quốc ngày càng trở thành hiểm họa lớn lao nhất của cả thế giới. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ mơ hồ, mất cảnh giác về điều này cũng như chưa bao giờ sợ hãi! Trong điều kiện thuận lợi của thế giới văn minh và liên lập hôm nay, một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có một chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân thì dân tộc ấy hoàn toàn có thể bảo vệ được Tổ quốc họ, với sự ủng hộ và trợ giúp của cộng đồng quốc tế. 2) Những hành động ngày càng leo thang xâm lược Việt Nam của Nhà cầm quyền Trung Quốc trước hết là do bản chất xấu xa của họ. Nhưng nguy cơ dẫn đến mất nước chính là sự hèn nhát bạc nhược và tiếp tay đồng lõa của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống trong Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam trước kia và hiện thời, những kẻ chưa bao giờ thực sự đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên tất cả! Đang khi đó thì Nhà cầm quyền Hà Nội vẫn cứ lải nhải “16 chữ vàng”, “tinh thần 4 tốt”, vẫn cứ huênh hoang “tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục”, vẫn cứ phủ dụ: “Việc đấu tranh với Trung Quốc hãy để Đảng và Nhà nước lo” hòng tiếp tục lừa bịp nhân dân! 3) Trong những ngày qua đã có nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc nổ ra, tiếp nối phong trào biểu tình năm ngoái. Chúng tôi hết sức hoan nghênh thái độ yêu nước này của Đồng bào. Nhưng thâm tâm ai cũng thấy phương thức hữu hiệu nhất để chống lại nổi quân xâm lược chính là tinh thần và thể chế dân chủ. Bởi lẽ thủ phạm chủ yếu làm trì trệ việc phát triển đất nước và làm suy yếu việc bảo vệ Tổ quốc chính là đường lối sai lầm (chính sách độc tài toàn trị) của tất cả các Bộ Chính trị ĐCSVN từ khi thành lập đến nay. Đứng trên lập trường dân tộc, chúng tôi kêu gọi Đồng bào tiếp tục đấu tranh bất bạo động, kể cả xuống đường, đòi dân chủ hóa chế độ, để nhân dân có đời sống tốt đẹp hơn, đất nước có chính danh cùng sức mạnh hơn hầu chống TQ xâm lược. 4) Giới trí thức dân sự và chức sắc tôn giáo xin hãy thể hiện tinh thần sĩ phu yêu nước, đoàn kết chặt chẽ, đứng ra lãnh đạo toàn dân, điều hướng sức mạnh của mọi lực lượng quần chúng chống lại ngoại thù xâm lăng và nội thù đồng lõa. Lực lượng công an quân đội -sinh ra từ nhân dân và nuôi sống bởi nhân dân- chớ để mình hay tự biến mình thành kẻ thù của nhân dân bằng cách đàn áp những tấm lòng yêu nước theo lệnh các lãnh đạo CS. Bằng không anh em sẽ đắc tội trước lịch sử và sẽ trực tiếp hứng chịu sự trừng phạt của nhân dân khi những kẻ sai khiến anh em bỏ chạy ra nước ngoài. 5) Đồng bào Việt Nam trên khắp thế giới xin hãy liên tục và đồng loạt biểu tình chống hành vi xâm lăng ngang ngược của Trung Quốc và chống thái độ “hèn với giặc, ác với dân” của nhà cầm quyền CSVN tại các tòa đại sứ, tòa lãnh sự của cả hai nước. Cộng đồng thế giới dân chủ xin hãy ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa cuộc đấu tranh nhằm dân chủ hóa đất nước của người Việt Nam, áp lực với nhà cầm quyền CSVN trả tự do cho tất cả những công dân yêu nước đang bị bỏ tù, bắt bớ, quản chế, bao vây, theo dõi; xin hãy đưa những đòi hỏi về nhân quyền khi bang giao với Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại, quân sự… Làm tại Việt Nam và hải ngoại, ngày 28 tháng 7 năm 2012. Ban điều hành lâm thời Khối 8406: 1- Linh mục Phan Văn Lợi – Huế – Việt Nam. 2- Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Sài Gòn – Việt Nam. 3- Giáo sư Nguyễn Chính Kết – Houston – Hoa Kỳ. 4- Bà Lư Thị Thu Duyên – Boston – Hoa Kỳ. Trong sự hiệp thông với Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản. Phụ lục: 1) Tuyên bố của Khối 8406 về hiện tình đất nước. (30/7/2011) http://cackhangthu.blogspot.com/2011/09/tuyenbovehientinhdatnuoc.html 2) Tuyên bố của Khối 8406 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 6 ngày thành lập. (8/4/2006 – 8/4/2012): http://cackhangthu.blogspot.com/2012/06/tuyenbonhankyniem6namthanhlap.html

 

VRNs (26.07.2012) – St.Ottilien, Đức Quốc – Trong những ngày qua, nhiều Giáo xứ khắp nơi trên Quê Hương Việt Nam đã thắp nến hiệp thông cầu nguyện cho Giáo điểm Con Cuông. Xa xôi, nơi Đan viện St. Ottilien thuộc Tiểu bang Bayern, Đức quốc cũng hướng lòng, hiệp thông Cầu Nguyện Cho Quê Hương Việt Nam. Ngày cầu nguyện đã trôi qua nhưng dư âm vẫn còn in lại trong tâm trí nhiều người. Cho dù những ai đang dã tâm muốn dập tắt ngọn lửa Đức tin của người KiTô hữu, đã phá sập Thánh Giá Đồng Chiêm, đập nát Tượng Mẹ Maria ở Giáo điểm Con Cuông, nhưng ngọn lửa Đức tin càng bùng cháy, tỏa sáng nhiều nơi. Đức Cha Viktor Josef Dammertz đã chủ tế Thánh Lễ, cầu nguyện cho Quê Hương Việt Nam tại St. Ottilien, vào thứ bảy ngày 21.07.2012 Sau đây, tôi xin tạm lược dịch một vài ý tưởng của bài giảng Đức cha Viktor Josef: 1.Các Thánh Tử đạo của thế kỷ 20. Khi nói đến „Các Thánh Tử Đạo của Giáo hội“ chúng ta thường hay nghĩ tới những thế kỷ đầu của Ki tô giáo. Trong thời gian này, chúng ta tìm thấy trong lịch phụng vụ hội thánh, đã có tên của các ông và các bà, là chứng nhân Đức Tin được tôn phong. Đức chân Phước Giáo hoàng Gioan Phaolo II. đã nhắc lại nhiều lần, trong thế kỷ 20 vừa qua, là thế kỷ của các thánh tử đạo được ghi vào lịch sử. Chưa bao giờ, như thời gian trước đây, có rất nhiều người nam và người nữ, vì noi theo gương Chúa Kitô mà bị truy nã và bị tiêu diệt. Trong thập niên 1930, cuộc nội chiến đẫm máu tại Tây Ban Nha, và Mễ Tây Cơ, đã có rất nhiều Linh mục, các tu sĩ, và những người giáo dân công giáo, vì họ đã sống niềm tin mà bị sát hại. Và nhiều vị trong số đó đã được phong chân phước trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm sau này. Cũng được kể thêm vào, có 116 vị nam tu sĩ và 60 nữ tu người Đức đa phục vụ truyền giáo tại các vùng viễn đông á châu, tại châu phi hay tại Ba tư nam mỹ. Họ là những nhân chứng Đức tin trong công cuộc truyền giáo của thế kỷ 20. Những chứng tích đức tin của họ cũng đa được xác tín. Trong những vị này, cũng có các linh mục, những đan sĩ của Đan viện ST. OTTILIEN. 2. Giáo hội công giáo tại Việt Nam Trước đây một vài thập niên, trong nghi lễ phụng vụ, hầu hết chỉ được kính nhớ đến các thánh tử đạo người châu Âu; Ngày nay, nhiều nhóm chứng nhân Đức Tin của các nước châu á đã được Đức Giáo hoàng Gioan phaolo II nâng nên bậc chân phước để tôn kính. Vào năm 1988, Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II đa phong hiển thánh cho 117 vị, trong số đó, có 96 vị là người Việt Nam. Họ là những người, vì đa hiên ngang, cam đảm tuyên xưng đức tin mà bị giết chết vào khoảng thời gian từ năm 1740 đến năm 1883. Hàng năm, Giáo hội công giáo hoàn vũ mừng lễ kính Thánh AN RÊ Dũng Lạc và các bạn tử đạo của Ngài, vào ngày 24, tháng 11. Vào đầu thế kỷ 16, các Linh mục người Pháp, người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha loan truyền Tin mừng Chúa Giê su Kitô vào Quê hương Việt nam. Và sau đó, khoảng thế kỷ 17 và 18 hầu hết các vị truyền giáo bị trục xuất ra khỏi việt nam, nhiều người theo đạo công giáo đa bị giết, đặc biệt là những người dạy giáo lý. Trong những năm đầu chế độ cộng sản vn mới cai trị, giáo hội công giáo tại Việt Nam bị chống phá có hệ thống. Nhưng trong những năm gần đây, Nhà nước dường như nỗ lực có thái độ tốt hơn với Tòa Thánh. Phái đoàn Vatican đa đến Việt Nam; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong tháng giêng (1) năm 2007 đa được tiếp kiến với Giáo hoàng Biển Đức XVI. Báo chí Vatican sau đó nói rằng, quan hệ trong những năm gần đây đa có những bước tiến bộ cụ thể và tự do tôn giáo cho giáo hội công giáo tại Việt Nam được cởi mở. Tuy nhiên, có đề cập đến những tiến bộ, cởi mở, nhưng „vấn đề cũ“ cũng gần như không thay đổi. Giáo hội chỉ hy vọng có thể giải quyết được bằng con đường đối thoại. Mặc dầu vậy, giáo hội công giáo việt nam luôn được coi như là kẻ “chống đối“ và do đó, bị cản trở và bị gây khó khăn. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn đoi hỏi yêu sách độc quyền cai trị trong cả nước và không chấp nhận có đảng đối lập, không được phê bình, chỉ trích chính sách của họ. Trong lãnh vực kinh tế thương mại, nhà nước cố gắng thả lỏng đẩy mạnh kinh doanh tư bản, nhưng đồng thời ngăn chặn những hiệp hội tư nhân và tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm đang xuất hiện trong xã hội. Nhà nước nghiêm ngặt chống lại bất cứ ai đoi hỏi đa đảng và dân chủ. Trước sau như một, ở Việt Nam vẫn không có quyền tự do hội họp, tự do lập hội và tự do tôn giáo. Cách đây hơn một tuần, đài RadioVatican thông báo cho biết rằng, tại Việt nam lại có hành vi bạo lực, đập phá , đàn áp người công giáo đang tham dự Thánh lễ tại giáo điểm Con Cuông. Trong cuộc tấn công vào một nhóm nhỏ của người công giáo tại đó, đa có hàng chục người bị thương. Những kẻ tấn công, đập phá này đa được sự chấp thuận của chính quyền địa phương công khai cho phép, để họ tấn công giáo điểm Con Cuông thuộc giáo phận Vinh. Vì thế, ngày hôm nay chúng ta tuởng nhớ, cầu nguyện cho những người anh chị em Việt Nam chúng ta, đang sống làm chứng đức tin. 3. Máu các Thánh tử đạo là hạt giống làm nẩy sinh thêm người ki tô hữu Chúng ta biết rằng, không phải chỉ đang xẩy ra ở Việt Nam, mà cũng xẩy ra rất nhiều nơi khác trên thế giới nữa, người Kitô hữu vì sống Đức tin của mình mà bị đàn áp, bị bách hại, và bị giết. Trong Đức tin, chúng tôi tuyên xưng rằng: hạt lúa mì phải được gieo vào lòng đất và phải mục nát ra(cf. Jn 12,34), và ‘Đây là chiến thắng đã đánh bại thế giới: Đức tin của chúng tôi’ (1 Jn 5,5). Cuộc sống không bao giờ vô vọng. Nó là sự trung tín của Đức tin, bắt nguồn từ cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô! Trong tinh thần cùng hiệp thông, tôi cũng nhận lời mời của Linh mục Augustinô, và dâng thánh lễ cầu nguyện cho giáo hội quê hương Việt nam. Amen

 

Đây này là tấm ảnh rất là hiếm, chụp bởi cơ quan NASA. Tấm ảnh này chỉ xảy ra một lần sau 3,000 [ba ngàn] năm. Tấm ảnh này đã làm nhiều phép lạ cho rất nhiều người. Bạn hãy làm một điều ước muốn... bạn nhìn ngay vào con mắt của Chúa. Chắc chắn bạn sẽ nhìn thấy những sự thay đổi trong đời sống của bạn trong ngày. Dầu có tin hay không, đừng giữ bức điện thư này cho riêng bạn. Hãy chuyển đi cho ít nhất 7 người. Tấm ảnh này đã được chụp bởi NASA với ống viễn vọng kính HUBBELL. được gọi là " Con mắt của Chúa". Thật đáng được để chúng ta cùng chia xẻ cho nhau xem. During the next 60 seconds, Stop whatever you are doing, and take this opportunity. (Literally it is only One minute!) Just send this to people and see what happens. Do not break this, please. Trong vòng 60 giây sắp tới, Xin ngừng ngay hoạt động bạn đang làm, và dành lấy cơ hội này. (Nói cách khác chỉ cần một phút thôi!) Chỉ cần gửi tấm ảnh này cho nhiều người và xem điều gì xảy ra. Xin vui lòng đừng xoá bỏ tấm ảnh này.

 

Nghệ An – Bà con giáo dân rất bức xúc trước những hành vi thô hèn của chính quyền và họ đòi sẽ kéo về trụ sở UBND tỉnh Nghệ An để đòi nhà cầm quyền Nghệ An giải thích về những việc làm sai trái đã gây ra tại giáo điểm Con Cuông, đồng thời phải lên tiếng xin lỗi Đạo Công Giáo và đính chính lại các thông tin mà các đài báo tại Nghệ an đã đưa tin sai sự thật, xuyên tạc đạo Công Giáo trong thời gian qua. Lý do gây ra bức xúc của giáo dân là vì sự xúc phạm nặng nề đối với đức tin Công giáo, cũng như hành vi đánh đập giáo dân, linh mục của chính quyền tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, cùng sự xuyên tạc, lăng mạ đạo Công Giáo làm mất tình đoàn kết lương giáo của các cơ quan truyền thông của Nghệ An trong thời gian qua. Văn phòng TGM Vinh đã kêu gọi giáo dân của mình lên tiếng bảo vệ đức tin Công Giáo, đòi công lý và hòa bình, hiệp thông với anh chị em tại Con Cuông bằng việc các giáo xứ sẽ tập trung về sở hạt của mình vào Chúa nhật ngày 15.07.2012 để cầu nguyện cho anh chị em tại Con Cuông và cầu nguyện cho chính quyền tại Nghệ An. Đáp lại lời mời gọi của TGM, các giáo hạt trong toàn giáo phận, hàng vạn người nườm nượp kéo về sở hạt của mình trong trật tự, tay cầm cờ vàng trắng hoặc các biểu ngữ biểu hiện chính kiến của mình. Đây là sự phản ứng chính thức của bà con giáo dân Vinh trước sự xúc phạm đức tin Công giáo của bạo quyền tại Nghệ An. Một giáo dân tại giáo hạt Đông Tháp nói: "Chúng ta đã tập trung về nhà thờ hạt để cầu nguyện rồi, nhưng chúng ta phải lên UBND huyện Diễn Châu, và nếu cần chúng ta đi vô Vinh, đến UBND tỉnh để đòi công lý, sự thật". Một người ở giáo xứ Xuân Mỹ nói: "Chúng ta phải lên UBND tỉnh bắt chính quyền phải giải thích sự việc theo đúng sự thật, sau đó ta lên đài truyền hình Nghệ An bắt họ phải xin lỗi và đính chính lại thông tin vu khống đạo của chúng ta. Chúng con sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để đòi cho được công bình và sự thật". Tại Cầu rầm, một sở hạt tại trung tâm thành phố Vinh, thủ phủ của tỉnh Nghệ An. Cùng với 19 giáo hạt trong toàn giáo phận, sáng ngày 15.07.2012, giáo dân hạt Cầu Rầm cũng đã hành hương về sở hạt của mình trong trật tự, thể hiện được tính Ki-tô trong người giáo dân là luôn yêu chuộng hòa bình, công lý. Từ 6h30, giáo dân các giáo xứ Yên Đại, Kẻ Gai, Phù Long, Mỹ Dụ đã nườm nượp đổ về trung tâm giáo hạt. Bà con không quên mang theo mình những khẩu hiệu, băng rôn thể hiện sự đau xót và nỗi bức xúc khi đức tin của mình bị xúc phạm như: "Đập phá ảnh tượng là phạm thánh"; "Giáo dân Nghệ-Tĩnh- Bình sẵn sàng chết vì đức tin"; "Phản đối chính quyền xúc phạm đức tin Công Giáo"; "Lương giáo một lòng xây dựng quê hương"… Trước Thánh lễ, Cha quản hạt Phanxicô Xaviê Hoàng Sĩ Hướng đã điểm lại những sự việc đã xảy ra tại Con Cuông trong thời gian vừa qua. Ngài cũng nhấn mạnh rằng Giáo Hội không có chức năng làm chính trị, nhưng Giáo Hội luôn yêu chuộng công lý, hoà bình và có bổn phận đấu tranh cho công lý và sự thật, cho quyền con người được tôn trọng, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng. Thánh lễ đồng tế diễn ra lúc 8h00 có khoảng 13.000 giáo dân tham dự. Nhiều công an mặc thường phục cũng đến đóng vai giáo dân tham dự thánh lễ. Thánh lễ đã diễn ra trong trang nghiêm, sốt sắng. Sau thánh lễ, quí cha đã lắng nghe ý kiến của bà con giáo dân trước những sự việc đã xảy ra tại Con Cuông và việc các báo đài Nghệ An đã vu khống, xuyên tạc đối với đạo Công giáo trong thời gian vừa qua. Sau khi nghe Cha quản xứ Mỹ Dụ đọc bản tường trình của Cha JB. Nguyễn Đình Thục gửi bề trên giáo phận cùng toàn thể dân Chúa về sự việc diễn ra tại Con Cuông, và nghe lời phát biểu của một nhân chứng đến từ giáo xứ Quan Lãng, người đã có mặt tại Con Cuông khi sự việc xảy ra ngày 01.07.2012, bà con giáo dân rất bức xúc và nhiều người đã phải rơi lệ khi nghe thấy đức tin của mình bị xúc phạm và đòi kéo xuống UBNG tỉnh Nghệ An để đòi lại công bình và sự thật. Tôi xin được trích lại một vài ý kiến sau đây: Một phụ nữ tân tòng, đã từng tham gia đội Thanh Niên Xung Phong thời kháng chiến nói: "Con rất bức xúc khi thấy chính quyền của Con Cuông xúc phạm đến Đức Mẹ. Xúc phạm đến Đức Mẹ là xúc phạm đến đức tin của giáo dân trên khắp hoàn cầu. Con thấy việc làm này của chính quyền là hoàn toàn sai và đã không thực hiện được lời dạy của bác Hồ, bác dạy là phải tự do tín ngưỡng… con đã từng là một TNXP và là một thương binh, trước việc làm sai trái này con sẽ làm đơn gửi lên tỉnh ủy Nghệ An yêu cầu họ nhận ra những sai trái trong việc làm của mình tại Con Cuông". Một bạn trẻ phát biểu cách mạnh mẽ rằng: "Nếu đài báo Nghệ an không đính chính lại những thông tin xuyên tạc, bôi nhọ đạo Công giáo; nếu chính quyền không xin lỗi đạo Công Giáo vì hành vi phạm thánh của mình, thì chúng ta sẽ tập trung về UBND tỉnh, hoặc nếu cần lên Con Cuông dù phải đổ máu. Thời đại này để được đổ máu mà làm chứng cho đức tin khó lắm, đây là cơ hội để chúng ta thể hiện đức tin của mình, vì thế con yêu cầu chúng ta hãy tập trung về UBND tỉnh Nghệ An, yêu cầu chính quyền làm rõ sự thật và đính chính lại thông tin mà đài báo Nghệ An đã xuyên tạc, vu khống đạo chúng ta". Một cụ đã 83 tuổi vừa khóc vừa phát biểu: "Giữa một xã hội văn minh, văn hóa này mà xảy ra những chuyện như thế thì thật đau lòng, hàng đêm con nằm khóc vì sự phạm thánh của chính quyền… Vì thế con muốn xin các cha cho chúng con nếu không lên Con Cuông thì xuống UBND tỉnh để đòi lại công bằng cho chúng con, vì đập tượng ảnh, đập linh mục, tu sĩ, giáo dân của chúng con là đập phá đạo của chúng con". Một cựu chiến binh 76 tuổi phát biểu: "Tôi đã từng gia nhập quân đội, cầm súng đánh đuổi quân thù ở các chiến trường. Nay tôi đã về hưu, tôi luôn cố gắng sống theo câu: lương giáo một lòng xây dựng quê hương. Vậy mà những ngày gần đây tôi được tin chính quyền huy động công an, bộ đội đến đàn áp giáo dân tại Con Cuông, tôi rất bức xúc, bởi quân đội là để đánh đuổi kẻ thù bảo vệ nhân dân chứ không phải là để đàn áp chính nhân dân mình. Ở đây tôi muốn nói rằng, việc làm này là có chỉ thị của cấp trên, vì nhà nước ta là do đảng lãnh đạo….. vì thế, theo tôi, chúng ta không cần lên Con Cuông làm gì mà chúng ta, tất cả mọi người kéo xuống đảng ủy, UBND tỉnh Nghệ An để hỏi cho rõ sự việc. Vừa rồi đây họ làm ở Châu Bình, đập 5 người trong gia đình phải nhập viện, bây giờ lại làm ở Con Cuông, không biết chính sách của đảng ta ở đây là gì?" Tuy nhiên, các cha đã yêu cầu bà con giáo dân của mình không tuần hành xuống UBND tỉnh mà để cho họ có cơ hội và thời gian nhận ra những việc làm sai trái của họ và lên tiếng xin lỗi đạo Công Giáo, Nhưng bà con cũng phải luôn sẵn sàng để khi cần thiết chúng ta sẽ đứng lên bảo vệ đức tin chân chính của mình. Nguồn: http://www.chuacuuthe.com/archives/34689

 

Bài giảng của GM Nguyễn Văn Long tại Hoa Thịnh Đốn sau thánh lễ Hành hương Mẹ Lavang 2012. Sau thánh lễ khai mạc HÀNH HƯƠNG MẸ LA VANG 2012 tại nhà thờ Mẹ Việt Nam, Silver Spring, Marylang (TGP Washington, DC), Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long đã chia sẻ với cộng đoàn dân Chúa với chủ đề MẸ LA VANG VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM... Kính thưa quý ông bà anh chị em, Hôm nay, tôi rất hân hạnh được đến Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn để tham dự cuộc Hành Hương kính Đức Mẹ La Vang do Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ tổ chức. Lời đầu tiên, tôi xin được gởi đến toàn thể quý vị đó là lời chúc sức khoẻ, tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa. Xin Ngài kiện toàn thánh ý nhiệm mầu của Ngài nơi chúng ta, những chứng nhân của tự do, công lý và nhân bản. Tôi cũng xin được chuyển lời chào thân thương của đồng bào chúng ta tại Úc Đại Lợi luôn hướng về khối người Việt tại Hoa Kỳ như là con chim đầu đàn của đàn chim Việt đang tản mác khắp bốn phương trời. Dù ở đâu, người Việt Nam chúng ta cũng cố gắng để làm rạng danh ‘con Rồng cháu Tiên’ và cùng tranh đấu cho một tương lai tươi sáng của quê hương dân tộc. Chủ đề mà Ban Tổ Chức đã mời tôi đến để chia sẻ với quý vị tối nay là “Mẹ La Vang với dân tộc Việt Nam.” Tôi phải thú thật là khi nhìn vào một chủ đề như thế, tôi không biết phải nói gì để khỏi phụ lòng mong đợi của quý vị. Nhiều người nghĩ rằng, giám mục thì có thể nói về bất cứ vấn đề gì. Thực tế thì không như thế. Ở lứa tuổi 50 và sống hai phần ba đời mình ở Úc, tôi cũng chỉ có một kiến thức giới hạn – nhất là về những vấn đề liên quan đến Việt Nam. Tôi không thể ‘xuất khẩu thành thơ’ và càng không thể ‘múa rìu qua mắt thợ’ trước một cử tọa ở cái nôi chính trị và văn hóa của Hiệp Chủng Quốc này. Ước mong của tôi là được chia sẻ và học hỏi hơn là được ‘thuyết giảng’ về mối liên quan giữa tôn giáo và dân tộc – nhất là trong hoàn cảnh đất nước chúng ta hôm nay. Tôi cũng đại diện cho một thế hệ trẻ được hấp thụ hai nền văn hoá khác nhau. Vì thế, ước mơ của tôi là làm một nhịp cầu giữa hai thế hệ, ngõ hầu ngọn đuốc của tự do và công lý được chuyển tiếp cho đến ngày quê hương mến yêu được phục hưng. Để tìm hiểu về sự tương quan của “Mẹ La Vang với dân tộc Việt Nam,” chúng ta có thể nhìn vào một dân tộc mà lịch sử của họ cũng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam chúng ta, đó là Ba Lan, quê hương của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II. Ba Lan, một quốc gia bị ngoại bang xâm chiếm nhiều lần và trong lịch sử cận đại đã chịu nhiều tang tóc hơn các dân tộc khác, với hơn sáu triệu người chết trong Đệ Nhị Thế Chiến. Hơn thế nữa, Ba Lan đã sống dưới bóng của tên khổng lồ không mấy tử tế là Liên Bang Xô Viết và chế độ Cộng Sản hơn bốn thập niên. Trong suốt những năm dài tăm tối đó, người dân Ba Lan đã hướng về một thánh địa tượng trưng cho tinh thần dân tộc và ý chí bất khuất của họ, đó là Jasna Gora – một địa danh có nghĩa là Núi Sáng (Luminous Mount) hoặc có thể tạm dịch là Minh Sơn. Nơi đây, Đức Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu Đức Mẹ Czestochowa được sùng kính như là Đấng Bảo Vệ cho dân tộc Ba Lan qua bao thăng trầm của lịch sử. Đức Mẹ Czestochowa có nghĩa là ‘Đức Mẹ Đồng Đen’ Tục truyền rằng, vào năm 1655, khi quân Thụy Điển chuẩn bị xâm chiếm Ba Lan, những người lính trên đồi Jasna Gora đã cầu nguyện với ảnh Đức Mẹ Đồng Đen và họ dù yếu thế hơn đã đẩy lui được quân Thụy Điển. Từ đó, Đức Mẹ Czestochowa được mệnh danh là Nữ Vương nước Ba Lan và đồi Jasna Gora được coi như thánh đô của họ. Vào năm 1920, khi Hồng Quân Liên Xô ồ ạt đánh vào Warsava, một lần nữa người dân Ba Lan lại chạy đến với Đức Mẹ Czestochowa. Không ai có thể giải thích nổi, với một đạo quân hùng mạnh nhất Âu Châu thời đó, Hồng Quân Liên Xô đã bị đánh bại ở dòng sông Vistula – một chiến thắng không ngờ, như Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm xưa (938). Với lịch sử dân tộc gắn liền với đức tin Công Giáo và đặc biệt là lòng sùng kính Đức Mẹ, chúng ta không ngạc nhiên khi Jasna Gora trở thành một biểu tượng không thuần túy về tôn giáo mà là một biểu tượng cho tinh thần quốc gia và niềm tự hào dân tộc. Mỗi khi quốc gia bị mất chủ quyền và dân tộc bị đàn áp, người dân Ba Lan đã tìm đến Jasna Gora không phải chỉ nguyện xin mà còn tìm một lối thoát cho quốc gia và một tương lai mới cho dân tộc. Chính vì thế, trong những năm gọi là ‘chiến tranh lạnh,’ khi bạo quyền Cộng Sản Ba Lan, được sự chỉ đạo của Điện Cẩm Linh, dập tắt tất cả các ngọn lửa đấu tranh cho nhân quyền, Jasna Gora đã trở nên thành lũy đối kháng và linh hồn của phong trào chống cộng. Vào ngày 26 tháng 8 năm 1982, tức ngày Lễ Kính Đức Mẹ Czestochowa, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã nói những lời tâm huyết với đồng bào mình còn đang sống sau cái gọi là ‘bức màn sắt’ và đang tranh đấu cho tự do. Ngài nói như sau: “Đồng bào thân mến. Dù đời sống của người Ba Lan khó khăn thế nào, xin cho chúng ta thâm tín rằng cuộc đời của chúng ta đã thuộc về Trái Tim Mẹ. Như Mẹ đã toàn thắng nơi Thánh Maximiliano Kolbe, người Hiệp sĩ của Đấng Khiết Trinh, xin Mẹ cũng toàn thắng nơi chúng ta. Xin Mẹ Jasna Gora toàn thắng nơi chúng ta và qua chúng ta. Xin Mẹ toàn thắng ngay cả qua những đau khổ và thất bại của chúng ta. Xin Mẹ cho chúng ta đừng nản lòng tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm của con người. Chẳng phải lời của Mẹ ở tiệc cưới Cana ‘Hãy làm theo mệnh lệnh của Ngài’ có nghĩa như vậy sao? Anh chị em hãy nhớ rằng, sức mạnh được thể hiện qua sự yếu đuối. Tôi ở gần anh chị em. Tôi luôn nhớ tới anh chị em.” Đọc những lời của Đức Thánh Cha, tôi không có cảm tưởng là tôn giáo và chính trị là hai thái cực mà người tín hữu không được lẫn lộn. Ngược lại, sự nhập thể của Thiên Chúa vào đời sống của con người đòi buộc chúng ta cũng phải ‘nhập thể’ dưới ánh sáng Tin Mừng. Như lời mở đầu Hiến chế Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng) của Công Đồng Vaticano II đã khẳng định “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô,” Chân phước Gioan Phaolô II đã cho chúng ta thấy rằng, tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm không phải là việc làm của những kẻ muốn chính trị hóa tôn giáo mà là bổn phận ‘nhập thể hóa’ Tin Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường của chúng ta. Nếu chúng ta chỉ giữ đạo trong nhà thờ, nếu chúng ta chỉ đóng khung tôn giáo trong những vấn đề siêu nhiên mà hoàn toàn vô cảm với những vui mừng và hy vọng, những sợ hãi và lo âu của đồng loại, thì phải chăng tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ chúng ta như lời Karl Marx? Đây cũng là chiêu bài của cộng sản. Họ muốn tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru ngủ dân chúng. Họ muốn biến tôn giáo trở thành một công cụ của chế độ. Cách đây không lâu, tôi có nghe một câu nói rất hùng hồn: “Nếu ai không thích cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ.” Đằng sau câu nói này là một khó khăn thực tế cho những ai phải sống dưới chế độ cộng sản. Trong bối cảnh đất nước và giáo hội Việt Nam hôm nay, sự liên quan giữa chính trị và tôn giáo quả thật là một đề tài hết sức tế nhị cho người tín hữu, nhất là các vị lãnh đạo. Làm sao để giữ được một lợi thế thực dụng cho giáo hội mà không thỏa hiệp các giá trị cơ bản của Phúc Âm? Làm sao thăng tiến đời sống đạo và lo cho các nhu cầu của các giáo xứ, các dòng tu, các chủng viện v.v... và đồng thời làm trách nhiệm ngôn sứ trong một xã hội độc tài đảng trị? Đó là một số những mệnh đề nan giải mà những ai sống với cộng sản mới biết những phức tạp của nó. Ở đây, tôi không có ý phê bình câu nói hùng hồn trên kia hay một thái độ nào đó của các vị lãnh đạo giáo hội trước tình hình chính trị của đất nước. Tuy nhiên, như Đức Cố Giáo Hoàng Phaolo II đã quảng diễn qua lời giảng dạy, thái độ và đời sống của ngài, Kitô hóa môi trường theo tôn chỉ Phúc Âm là nhiệm vụ của mọi tín hữu. Tranh đấu cho công lý và sự thật, tự do và nhân phẩm là con đường tất yếu của những ai theo Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Vì thế, vấn đề ở đây không phải là chúng ta ‘không thích cộng sản’ hay ‘khích bác họ.’ Vấn đề ở đây là chọn lựa của chúng ta giữa hai thế lực tương phản: sự thật và sự giả dối, sự thánh thiện và sự gian ác, ánh sáng và bóng tối. Vâng, người tín hữu phải yêu thương cả kẻ thù, kể cả người cộng sản. Nhưng chúng ta không thể đồng lõa và vô cảm với sự giả dối, gian ác và phi nhân của họ. Chính tình yêu đối với Thiên Chúa và nhiệt tâm cho Vương Quốc của Ngài đòi hỏi thôi thúc chúng ta trong cuộc chiến cho công lý và sự thật, ánh sáng và sự sống – cuộc chiến mà chính Đức Kitô đã tranh đấu và khải hoàn qua sự chết và phục sinh của Ngài. Quý vị thân mến, Nếu người dân Ba Lan đã coi Đức Mẹ Czestochowa như là biểu tượng niềm tin của họ, thì người Việt Nam chúng ta có thể coi Đức Mẹ La Vang như là biểu tượng niềm tin của chúng ta hay không? Hơn thế nữa, nếu Jasna Gora đã hun đúc tinh thần đấu tranh cho quê hương và cho giáo hội Ba Lan trong những chặng đường cam go nhất của lịch sử dân tộc Ba Lan, người Việt Nam Công Giáo chúng ta có thể đến với Mẹ La Vang trong nỗ lực tìm kiếm một tương lai tươi sáng cho đất nước và giáo hội hay không? Đối với tôi, những câu hỏi này thật thiết thực với bối cảnh của quê hương chúng ta hôm nay. Đối với tôi, đây không phải là ‘chính trị hóa’ La Vang mà là đem Phúc Âm vào lòng dân tộc và là thực thi vai trò ngôn sứ của chúng ta trong một xã hội đang mất căn tính nhân bản. Nói một cách khác, nếu người tín hữu chúng ta phải như ‘thành phố xây trên núi’ hay như ‘muối men cho đời,’ thì vai trò phục hồi cho xã hội một căn tính nhân bản trên những giá trị Phúc Âm là vai trò thiết yếu của chúng ta. Câu Kinh Đức Mẹ La Vang “Xin cho chúng con tấm lòng từ bi nhân hậu, đại lượng bao dung, cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống” sẽ không có ý nghĩa khi người tín hữu chúng ta vô cảm trước hiện tình một xã hội băng hoại toàn diện đang diễn ra trên quê hương chúng ta. Như quý vị đã biết, trong những ngày gần đây, giáo hội tại Hoa Kỳ đang tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo qua những cuộc biểu tình rầm rộ, những kháng cáo trước tòa án cũng như qua các phương tiện truyền thông. Lý do là gi? Đó là việc chính phủ của Tổng thống Obama đã đề xướng ra một đạo luật về y tế mà theo đó, tất cả các tổ chức kể cả tổ chức Công Giáo phải cung cấp bảo hiểm phổ quát bao gồm ngừa thai cho các nhân viên của mình. Các giám mục Hoa Kỳ đã không ngần ngại đương đầu với chính sách ‘Obamacare’ mà họ cho rằng đi ngược lại với luân lý Công Giáo và hơn thế nữa giới hạn quyền tự do của giáo hội trong việc hành xử theo giáo luật. Giáo hội không thể làm ngược lại tôn chỉ của Phúc Âm nếu bị bắt buộc phải cung cấp dịch vụ phá thai hay ngừa thai – dù chỉ là gián tiếp – trong các bệnh viện của mình hay tài trợ các dịch vụ này cho các nhân viên của mình như tại trường học, giáo xứ, cơ sở xã hội v.v... Chính vì thế, các giám muc Hoa Kỳ đã không ngần ngại đứng lên bảo vệ những giá trị mà họ cho là không thể nhượng bộ dù là trong một xã hội đa nguyên. Nhiều giáo dân và ngay cả một số giáo sĩ Hoa Kỳ không đồng quan điểm với Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Nhưng ít ra, không ai có thể chỉ trích là họ đã can thiệp vào chính sách của nhà nước hay là họ đã vượt qua giới hạn tôn giáo thuần túy. Phúc Âm và đời sống không thể tách lìa nhau; tôn giáo và chính trị không thể không liên hệ với nhau. Vai trò ngôn sứ của Giáo hội đòi buộc người tín hữu ở mỗi bậc và mỗi hoàn cảnh phải tranh đấu cho một xã hội phản ảnh Vương Quốc của Thiên Chúa, hay như Kinh Đức Mẹ La Vang, là xây dựng một ‘nền văn minh tình thương và sự sống.’ Thực thế, truyền thống công lý xã hội trong Kinh Thánh là bằng chứng hùng hồn về sự nhập thế của các giá trị siêu nhiên vào đời sống tự nhiên của con người. Ơn cứu độ không chỉ có nghĩa là một sự giải thoát của linh hồn và đời sống vĩnh hằng trên Thiên Quốc mà là sự giải thoát con người toàn diện. Ngay trên cõi đời này và ngay trong xã hội này, con người được mời gọi để sống cuộc sống sung mãn với Thiên Chúa và tha nhân. Do đó, sống đức tin và sống thánh thiện không chỉ có một chiều dọc, tức là thờ phượng kính mến Chúa được quảng diễn qua xây nhà thờ, tu viện, trung tâm, lễ nghi, kinh kệ, rước sách, đình đám, hành hương, ăn chay hãm minh v.v... Sống đức tin và sống thánh thiện không thể tách lìa khỏi tiến trình công lý hóa xã hội và phong phú hóa đời sống con người. Tiên tri Isaiah đã định nghĩa cho chúng ta thế nào là giữ đạo, đó là “phá vỡ xiềng xích của bọn ác nhân, cất đi gánh nặng của kẻ lầm than, giải thoát cho kẻ bị áp bức và phá tan mọi gông xiềng” (Isaiah 58:6). Đức Kitô cũng đã đúc kết sứ mạng của Ngài trong câu nói đầy ý nghĩa và súc tích: “Ta đến để mọi người được sự sống và sự sống viên mãn” (Gioan 10:10). Sự sống viên mãn không phải chỉ là ở đời sau. Nó là sự sống toàn thể trọn vẹn. Nó là sự sống trong yêu thương, trong công lý, trong tình người từ bây giờ và mãi mãi. Ở bên Úc, có rất nhiều người hỏi tôi là họ phải làm gì khi nhận những lá thư hay những lời kêu gọi giúp đỡ giáo hội quê nhà. Nào là xây nhà thờ, sửa tu viện, tu bổ trung tâm hành hương, nâng cấp địa điểm truyền giáo.... rồi nào là giúp cô nhi, người tàn tật, các chị em lầm lỡ [tôi không mấy ưa cụm từ này vì nó có vẻ kỳ thị giới tính quá. Còn các anh lầm lỡ đâu?] Có nhiều người còn nói là họ rất sợ vô đoàn thể vì đó là những nơi bị xin tiền! Tôi trả lời với họ rằng chúng ta không nên vô cảm nhưng cũng không nên tạo một gánh nặng cho mình hay cho người khác. Tôi cũng nói thêm là trên hết mọi sự giúp đỡ, anh chị em hãy tham dự vào tiến trình công lý hóa cho dân tộc. Vì sao? Vì căn nguyên của sự nghèo đói và của những nỗi nhục quốc thể ở trong nước cũng như ở ngoài nước là hệ thống chính trị lỗi thời, là chế độ cộng sản tham nhũng, bất công và phi nhân. Tôi sẽ không bao giờ ngần ngại để nói lên sự thật phũ phàng đó. Tôi sẽ không bao giờ tách lìa lý tưởng một Việt Nam phi cộng sản và một Việt Nam nhân bản ra khỏi sứ mạng giám mục của tôi. Nhiều người Công Giáo quan niệm rằng, đạo và đời là hai thực thể riêng biệt. Chính vì thế, câu nói “người Công Giáo không làm chính trị” đối với họ đã trở thành sự biện minh cho thái độ vô cảm hay chủ trương không tham dự vào những vấn đề xã hội và đất nước. Một số quý vị lớn tuổi ở đây chắc đã từng trải qua thời kỳ Việt Minh vào những năm sau Đệ Nhị Thế Chiến. Ở Bắc Việt, Đức Giám Mục Lê Hữu Từ, là một vị tiền nhiệm của Đức Giám Mục Nguyễn Năng hiện nay, đã có thời lập ra khu Bùi Chu - Phát Diệm tự trị với cả những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, chống lại chính quyền Việt Minh do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đối với ngài cũng như rất nhiều giám mục miền Bắc trong thời kỳ đó đã không ngần ngại dấn thân cho quê hương và có thể nói vượt qua cái ranh giới thông thường của đạo và đời, tôn giáo và chính trị. Hôm nay, tôi không có ý hoài niệm về một quá khứ mà nhiều người trong thế hệ cha anh rất tự hào về giáo hội Việt Nam; tôi càng không có ý cổ võ một con đường chống đối bạo động dù đối với chế độ vong bản phi nhân. Tuy nhiên, khi lấy cuộc sống sung mãn làm mục đích, chúng ta không thể mặc nhiên để sự ác hoành hành khống chế xã hội. Sự ác này không những thể hiện nơi cá nhân hay đoàn thể. Tôi cho rằng sự ác lớn nhất đang hoành hành trên đất nước chúng ta hôm nay chính là tà quyền và hệ thống chính trị đưa con người vào chỗ bế tắc. Có nhiều người sẽ không đồng thuận với nhận xét và quan điểm ở trên của tôi. Họ dẫn chứng rằng: Việt Nam đã có ít nhiều tự do tôn giáo. Nhà thờ, dòng tu, chủng viện v.v... được xây cất tu bổ một cách rầm rộ. Giáo dân đi lễ không còn chỗ ngồi. Ơn gọi không còn chỗ chứa. Bây giờ, cái khó không phải là do chính phủ hay công cụ của họ như công an cảnh sát gây nên. Cái khó là do đời sống luân lý đạo đức suy đồi của người dân, đặc biệt là giới trẻ... Tôi không phủ nhận những thử thách đến từ sự mất hướng đi, lối sống buông thả và hưởng thụ vô trách nhiệm của thế hệ hôm nay cũng như đã xảy ra cho thế hệ hôm qua. Nhưng tôi cho rằng những thử thách về đời sống luân lý vẫn ở mãi với chúng ta từ đời này qua đời khác. Cái khác là trong một xã hội bị cai trị bởi một tà quyền và hệ thống chính trị gian dối ác độc, những thử thách ấy mang một sắc thái tiêu cực và bi đát hơn. Khi một chế độ không cho giới trẻ một tương lai, không tạo cho họ một niềm tự hào, không cho họ cơ hội phát huy tài năng; khi một chế độ chỉ cho họ tiến thân qua thẻ đảng, khi chỉ có ‘còn đảng mới còn ta’ thì làm sao tránh được sự tuyệt vọng, sự mất hướng đi và sự bất cần của giới trẻ. Hãy cứ hỏi những cô dâu đi lấy chồng Đài Loan, Nam Hàn, những người lao động hợp tác ở Mã Lai, ở Arab Saudi và thậm chí ở cả Phi Châu, những người di dân bất hợp pháp ở Đông Âu, những em bị bán làm nô lệ tình dục ở Thái Lan, những người dân oan bị cướp đất, các công nhân bị bóc lột ở các hãng xưởng, những người trẻ trong các ‘chat-room’ v.v... Có lần đi Macau, tôi gặp một số bạn trẻ Việt Nam lao động bất hợp pháp. Họ bị đối xử tàn tệ mà tòa đại sứ Việt Nam hoàn toàn không can thiệp. Tôi không nghĩ là trong các nước không cộng sản không có những vấn nạn xã hội của họ – ngay cả trên đất nước Hoa Kỳ này. Nhưng một điều không thể chối cãi được là trong nước ta hôm nay, nhiều những hiện tượng tôi đan cử trên là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử oai hùng của nước ta và là những nỗi nhục quốc thể cho những ai mang dòng máu Việt. Những hiện tượng này là triệu chứng của một cơn bệnh trầm kha: một thể chế hoàn toàn băng hoại và dẫn cả dân tộc vào chỗ bế tắc. Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI có nhắc nhở cho người Công Giáo là “Giáo Hội không làm chính trị nhưng cũng không đứng bên lề xã hội.” Lịch sử Việt Nam qua nhiều thời đại đã minh chứng được sự dấn thân của người tín hữu thuộc mọi thành phần giáo hội vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Thế nhưng trong những năm gần đây, sự ru ngủ lương tri của giáo hội đã trở thành một hiện tượng phổ biến nằm trong chính sách công cụ hóa tôn giáo của chính quyền cộng sản. Các cụm từ như ‘tôn giáo và dân tộc,’ ‘tốt đời đẹp đạo,’ ‘giáo dân tốt công dân tốt,’ ‘kính Chúa yêu nước’ và ‘đồng hành cùng dân tộc’ đã trở thành những viên thuốc an thần để ru ngủ lương tri và vô hiệu hóa vai trò ngôn sứ của giáo hội. Khi “đồng chí” Lê Hồng Anh, thường trực Ban Bí Thư, đi thăm Đức Cha Bùi Tuần nhân dịp Giáng sinh 2011, “ông bày tỏ tin tưởng đồng bào có đạo tiếp tục phát huy truyền thống kính Chúa yêu nước” (nguyên văn của báo Sàigòn Giải Phóng). Rồi sống sượng hơn nữa, “đồng chí” Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ Tướng, tại La Vang năm 2010 đã ban huấn từ cho cả các giám mục Việt Nam về việc mà ông gọi là “đồng hành cùng dân tộc.” Cái điều mà người Tây phương gọi là ‘elephant in the room’ tức là điều ai cũng nhận ra là đảng đã tự tôn mình ngang hàng với dân tộc thay vì là ‘đầy tớ của nhân dân’ như họ vẫn rêu rao. Bằng chiêu bài đồng hóa đảng với dân tộc họ biến lòng yêu nước thành yêu đảng và chống đảng là chống lại dân tộc. Điều đáng buồn là liều thuốc an thần này đang làm ru ngủ và làm vô cảm lương tri của nhiều người Việt Nam, kể cả người tín hữu. Đồng hành cùng dân tộc không thể là đồng hành cùng chế độ, nhất là khi chế độ đó đang đưa dân tộc vào chỗ diệt vong. Quý vị thân mến, Trở lại câu hỏi là chúng ta có thể đến với Mẹ La Vang trong nỗ lực tìm kiếm một tương lai tươi sáng cho đất nước và giáo hội hay không, niềm xác tín của tôi là đây là bổn phận của người tín hữu. Như người Công Giáo Ba Lan, cũng như ở khắp mọi nơi, chúng ta người tín hữu Việt Nam cũng cùng Mẹ để hành trình tiến về sự sống sung mãn cho đất nước và cho dân tộc. Ở trên, tôi đã chứng minh là đây là sự nhập thể hóa đức tin và là bổn phận Phúc Âm hóa môi trường xã hội của người môn đệ Chúa Giêsu. Bây giờ, tôi xin được hướng về chính Đức Trinh Nữ Maria như là một ‘mẫu người lữ hành trong đức tin’ và là một ‘đầy tớ can trường của công lý.’ Có lẽ đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, họ ít khi nào dùng hai cụm từ này để diễn tả hay suy niệm về Đức Mẹ. Trong gần 20 năm ở trong nước, kể cả những năm ở tiểu chủng viện Phaolô Xuân Lộc, tôi chưa một lần nghe các cha giảng về Đức Mẹ dưới hai danh hiệu nói trên. Thế nhưng tôi cho rằng đây là một kho tàng về Thánh Mẫu học mà chúng ta cần khai phá, nhất là cho những tín hữu Việt Nam trong bối cảnh của đất nước chúng ta hôm nay. Phúc Âm thánh Luca đã mô tả là khi Maria bước vào nhà mình, bà Elisabeth được đầy ơn Chúa Thánh Thần đã thốt lên: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi... Phúc cho em là kẻ đã tin lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện” (Luca 1:43,45). Maria được đầy ơn phúc không những vì là người được những đặc ân Thiên Chúa ban tặng. Bà là một người đã tín thác tuyệt đối. Bà là mẫu người lữ hành trong đức tin vượt trội hơn mọi người lữ hành khác. Abraham đã tin vào lời Chúa hứa khi ông bỏ tất cả để tiến về vùng đất hứa. Ông đã tin dù chẳng được thấy bằng chứng của lời hứa ấy. Abraham chẳng hề nhìn thấy con đàn cháu đống và cũng chẳng hề được bước chân vào vùng đất đầy sữa và mật ong. Ông tin khi không còn gì để tin và hy vọng khi không còn gì để hy vọng. Maria cũng thế. Bà cũng tin khi không còn gì để tin và hy vọng khi không còn gì để hy vọng. Ít ra ông Abraham khi phải chịu thử thách là đem con đi sát tế, Chúa đã nhận lòng tin và cứu con ông khỏi chết. Còn lòng tin của Maria thì bị thúc đẩy đến đường cùng. Bà phải chứng kiến con một mình bị sát tế trên bàn thờ thập giá. Đức tin của bà được chứng minh một cách tuyệt đối. Maria trên Núi Sọ đã trở thành một người lữ hành trọn hảo trong đức tin. Bà cũng là môn đệ trọn hảo vì đã bước theo con đường chân thiện mỹ của Đức Kitô cho đến cùng. Còn Maria là ‘đầy tớ can trường của công lý’ như thế nào? Kinh Magnificat (Luca 1:46-55) cho chúng ta câu trả lời khi Maria ca ngợi Đấng đoái thương tới người nữ tì hèn mọn như Ngài đã luôn chúc phúc cho những kẻ khiêm nhường và đói nghèo nhưng luôn kính sợ Ngài. Những lời nói này đối với những người không hiểu lịch sử cứu độ thì có vẻ tổng quát và mơ hồ. Kẻ khiêm nhường và người nghèo đói theo truyền thống Kinh Thánh là những người trung tín với giao ước bất chấp những thử thách. Họ không chỉ là những người mà nói theo tục ngữ Việt Nam là “ở hiền gặp lành”. Khi người Do Thái bị lưu đày hơn 60 năm ở Babylon, rất nhiều tín hữu mất niềm tin trong tâm trạng tuyệt vọng hoàn toàn. Họ mất quê hương, mất đền thánh Jerusalem, mất hòm bia, mất chính quyền, mất quân đội và mất tất cả. Họ bỏ giao ước vì nghĩ rằng chính Thiên Chúa đã bỏ họ. Chỉ có một thiểu số giữ vững niềm tin và tiếp tục duy trì giao ước. Trong Kinh Thánh họ được gọi là ‘Anawim’ mà có thể gọi nôm na là ‘tàn dư còn sống sót’ [danh từ này rất phổ thông trong những năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975; chính quyền cộng sản dùng để miệt thị những ai dính líu tới chế độ cũ.] Chính từ những ‘tàn dư’ này hay hình ảnh ‘gốc chồi Jesse’ mà Thiên Chúa đã tái tạo một Do Thái mới sau khi họ trở về đất hứa. Họ là những người sống theo sự công chính của giao ước. Họ là những người trung tín với đường lối Thiên Chúa ngay cả khi lộ trình này tưởng như chỉ dẫn đến sự thất bại, tủi nhục và tuyệt vọng. Maria là nữ tì hèn mọn theo bước chân của những ‘tàn dư’ trung tín. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã viết là “Anawim không phải một giai cấp xã hội mà là một sự chọn lựa của kẻ công chính.” Họ chọn con đường công lý và sự thật mặc dù bị thiệt thòi và bắt bớ. Họ trung kiên theo giao ước dù bị kẻ có quyền bính ức hiếp. Như thế kẻ ‘tàn dư’ trung tín cũng là những ai sống tám mối phúc thật. Maria đầy ơn phúc vì Ngài là người nghèo khó, người hiền lành, người có lòng thương xót, người khóc lóc và khao khát chân lý... Maria đầy ơn phúc vì Bà trung kiên bước theo con đường của người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II kết luận là “Bài ngợi ca Magnificat đã nói lên vai trò của Mẹ trong cuộc chiến chống lại sự dữ và tà quyền.” Mẹ là người đồng hành và liên đới với tất cả những ai đứng về phía công lý và sự thật. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư, người giàu có, lại đuổi về tay trắng. (Lc 1:51-53) Những lời này cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn đứng về phía ‘anawim’ của Ngài, tức là những người dù thiểu số và yếu hèn nhưng luôn kiên cường trong công lý và sự thật. Ngài sẽ chiến thắng trên những kẻ gian tà và phục hồi danh dự những ‘anawim’ của Ngài. Thiên Chúa đã thực hiện chiến thắng này nơi Đức Kitô, “phiến đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường”. Ngài đã thực hiện nơi Maria nữ tì hèn mọn cũng như tất cả những ‘anawim’ trung tín của Ngài. Quý vị thân mến, Đức Mẹ La Vang đã đi vào tâm hồn của người Công Giáo Việt Nam và Ngài cũng đã đi vào lòng dân tộc chúng ta. Dù không phải như là người Ba Lan đã gắn bó với thánh địa Minh Sơn như là linh hồn của cả dân tộc, người Việt Công Giáo ở khắp mọi nơi hướng về Mẹ La Vang như là người đồng hành trong thăng trầm của lịch sử và là đấng phù hộ trong cơn thử thách. Lòng sùng kính Đức Mẹ không chỉ đưa chúng ta tới những hành động thuần túy tôn giáo và lễ nghi như đi hành hương, dâng hoa, rước kiệu, cung nghinh v.v... Với bổn phận ‘nhập thể hóa’ Tin Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường, lòng sùng kính Đức Mẹ cũng như lòng yêu mến Chúa thôi thúc chúng ta tìm cuộc sống sung mãn cho tha nhân. Chính vì thế, chúng ta không thể chỉ đến với Mẹ qua những hành động thuần túy tôn giáo mà không noi gương đấng là ‘anawim’ của Thiên Chúa. Maria là người lữ hành trong đức tin và là nữ tì trung tín của triều đại chính trực. Lòng sùng kính Mẹ thách thức chúng ta cũng phải làm đầy tớ và là chiến sĩ của công lý và sự thật trong cuộc chiến muôn thuở chống lại sự dữ và tà quyền. Vào ngày 15 tháng 8 tới đây, theo như tin tức của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì sẽ có nghi lễ đặt viên đá đầu tiên để xây Vương Cung Thánh Đường tại La Vang. Đây là một biến cố quan trọng thể hiện lòng sùng kính Mẹ và là một biểu hiện đặc thù của đức tin Công Giáo Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta không dừng lại ở một hình thức bên ngoài và nhất là tạo nên một biến cố để trang điểm cho chế độ. Nếu Kitô giáo mà mất vai trò ngôn sứ thì nó bị thuần hóa và trở thành công cụ của chế độ. Lúc đó, chúng ta không còn là tiếng kêu trong hoang địa nữa mà sẽ là tiếng chũm chọe kêu inh ỏi (1Cor 13:1); lúc đó chúng ta sẽ như muối không còn mặn nữa mà chỉ còn chờ ném ra ngoài đường cho người ta đạp lên nó (Mat 5:13). Nói tóm lại, lòng sùng kính Đức Mẹ La Vang không thể tách lìa với bổn phận xây dựng một xã hội theo giá trị của Phúc Âm. Sứ mạng của Đức Kitô là đem sự sống sung mãn cho con người. Người Kitô hữu chúng ta không thể chỉ dừng lại trong những hành động tôn giáo mà không kiếm tìm sự sung mãn của đồng loại và nhất là của đồng bào. Như Mẹ Maria là nữ tì trung tín, xin cho mọi người Công Giáo Việt Nam trong và ngoài nước cũng trở nên đầy tớ của Tin Mừng, của công lý, của sự thật trong cuộc chiến chống lại sự dữ và tà quyền. Tôi xin phỏng theo lời của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolo II để kết thúc buổi chia sẻ hôm nay: Xin Mẹ La Vang toàn thắng nơi quê hương chúng ta. Xin Mẹ toàn thắng ngay cả qua những đau khổ và thất bại của chúng ta. Xin Mẹ cho chúng ta đừng nản lòng tranh đấu cho công lý và sự thật, cho tự do và nhân phẩm của con người. Xin Mẹ đem lại chiến thắng của ánh sáng trên tối tăm, sự lành trên sự dữ, chí nhân trên cường bạo và đại nghĩa trên hung tàn. Cùng Mẹ La Vang, chúng ta hãy tiến bước về tương lai tươi sáng cho dân tộc và cho đất nước. +Vinh sơn Nguyễn văn Long OFMConv, Giám mục Hiệu tòa Tala và Giám mục Phụ tá TGP Melbourne, Australia.

 

Tâm Mãn: Phân Ưu Anh Phêrô Lê Thanh Hùng ( Cây Muốn Lặng) Sinh ngày 13 tháng 4 năm 1952, tại Vĩnh Long, Việt Nam, Đã yên nghỉ trong Chúa ngày 26 tháng 6 năm 2012. tại bệnh viện Villeneuve-Saint-Georges, Paris, Hưởng thọ 60 tuổi. Thánh lễ an táng sẽ cử hành vào lúc 10giờ, ngày 30 tháng 6 năm 2012 tại thánh đường Saint Notre Dame de Lourdes 40 avenue Anatole France Ngày 02/07/2012, lúc 11:30 : Lễ nghi an táng tại nhà nguyện của nghĩa trang Valenton, Paris. 13 Avenue de la Fontaine Saint Martin, 94460 VALENTON Và được Hỏa táng tại Crematorium Valenton vào lúc 13:30 Nguyện xin Thiên Chúa là Cha rất nhân từ nhận Anh Phêrô Lê Thanh Hùng, tôi tớ Chúa vào bàn tiệc Thánh trên Nước Trời. Thành thật chia sẻ mất mát lớn lao nầy với chị Lê Thị Thanh cùng toàn thể tang quyến. Thành Kính Phân Ưu. Linh mục tuyên úy Augustinô Phạm Sơn Hà OSB Toàn ban cố vấn và Quý Anh Chị Em Ops của Diễn Đàn Tiếng Nói Tự Do Của Người Dân Việt Nam

 

Hôm nay trong bản tin từ trong nước, thông tín viên SB-TN gửi ra tin về việc Việt Nam nay tràn ngập các phòng khám đông y bất hợp pháp của Trung cộng,... Chưa bao giờ ở Việt Nam lại có nhiều phòng khám bệnh Ðông y của người Hoa như hiện nay. Tuy nhiên nếu đó là những nơi khám bệnh tử tế và đáng tin cậy thì không đáng nói, đằng này rất nhiều phòng khám đông y người Hoa tàng trữ những loại thuốc quái lạ không rõ nguồn gốc và hạn định sử dụng, bóc lột tiền của dân chúng Việt Nam, thậm chí còn có nguồn tin đó là những cơ sở nằm vùng của an ninh Trung Cộng nhằm chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh thôn tính Việt Nam khi cần thiết. Ngay sau vụ bè cá gián điệp của Trung Cộng bị phát giác ở biển Cam Ranh vào đầu tháng 6 vừa qua, nhiều nơi có người Trung Cộng sống và làm việc đang bị xét lại. Các nhà thuốc Ðông y của người Hoa đang bị bí mật tổng kiểm tra, theo lệnh của an ninh Cộng sản Việt Nam. Nhiều nơi có người Hoa hoạt động đông y đã tìm cách tháo chạy. Sáng hôm qua khi một đoàn thanh tra Sở Y tế đến vài phòng khám bệnh y học ở Sài Gòn, người ta chứng kiến một số bác sĩ người Hoa đang khám bệnh lập tức cởi áo blouse và bỏ chạy trốn. Bản báo cáo của thanh tra Sở Y tế thành phố Sài Gòn cho thấy tại thời điểm kiểm tra, chủ cơ sở phòng khám này không có mặt dù cơ sở đang hoạt động. Tất cả bác sĩ đang thực hiện khám chữa bệnh cho bệnh nhân đều không đeo bảng tên và chưa xuất trình được bằng cấp chuyên môn hay giấy phép lao động. Phòng khám có hai phòng cấp phát thuốc, một phòng cấp phát tân dược và một phòng cấp thuốc dịch truyền, kháng sinh và một số loại thuốc đông y. Tuy nhiên khi kiểm tra phát giác có nhiều loại thuốc nhập cảng từ Trung Cộng nhưng phòng khám chưa xuất trình được giấy phép lưu hành. Tại đây còn có ba loại thuốc đã hết hạn sử dụng trong đó có hai loại thuốc xuất xứ từ Trung cộng và một loại dùng trong cấp cứu chống sốc, một số thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Mà nói đến dược phẩm của Trung Cộng thì ai cũng biết là đầy các loại dược tính có hại đến sức khoẻ. Ông Li Jian Hua là người quản lý phòng khám như vậy ở đường Phan Ðăng Lưu, Quận Phú Nhuận, nói ông chỉ nghe nói phòng khám có sáu người Hoa, nhưng mới có một người làm xong giấy phép hành nghề và giấy phép lao động, còn năm người đang làm giấy tờ. ông Vũ Quốc Lập là trưởng Công an Phường 2, Quận Phú Nhuận cho biết suốt thời gian phòng khám này hoạt động, Công an Phường 2 đã tiếp nhận 4 đến 5 trường hợp bệnh nhân khiếu nại về cách điều trị ép buộc nộp tiền cắt cổ của phòng khám thì mới được chữa cho khỏi bệnh. Ðã có trường hợp bệnh nhân trực tiếp gọi điện thoại cho Công an nhờ giải quyết khiếu nại với phòng khám. Tuy nhiên do các phòng khám này dàn xếp với bệnh nhân không thấy kiện cáo nữa. Nhưng cũng khá lạ, như trường hợp người Trung Cộng nuôi cá bè ở Cam Ranh, Phú Yên đến và đi một cách bí mật, những phòng khám Ðông Y này cũng được ai đó hậu thuẫn đến và quảng cáo rầm rộ trên TV, báo chí trong nước, và rồi cũng bí mật rút đi khi bị kiểm tra. Dường như Việt Nam đã không còn là nơi an toàn của người dân lẫn nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trước nhưng tên bất hảo Bắc Kinh.(SBTN)

 

Tin Bắc Kinh - Trung Cộng đã tỏ ra hết sức bất bình trước việc Việt Nam đưa máy bay chiến đấu ra tuần tiễu tại quần đảo Nam Sa mà Việt Nam gọi là Trường Sa. Ðó là tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Cộng được Tân Hoa xã phổ biến vào sáng nay. Lên tiếng tại cuộc họp báo thường kỳ tại Bắc Kinh, phát ngôn nhân Hồng Lỗi một lần nữa nhấn mạnh Trung Cộng có chủ quyền không thể tranh cãi tại quần đảo Nam Sa và các vùng lãnh hải lân cận, và cho rằng hành động mới đây của Việt Nam vi phạm trầm trọng đến chủ quyền của Bắc Kinh. Hồng Lỗi nói Trung Cộng kêu gọi Việt Nam tuân thủ Tuyên bố ứng xử của các bên về Biển Ðông, tránh các hành động làm leo thang hay phức tạp thêm tình hình, và nỗ lực bảo vệ an ninh, ổn định trong khu vực. Trước đó hôm thứ sáu Hà Nội loan báo Trung đoàn không quân tiêm kích 940 lần đầu tiên đưa máy bay chiến đấu Sukhoi 27 ra tuần tiễu bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Trường Sa. Việt Nam chưa có trả lời chính thức về phản ứng của Trung Cộng.(SBTN)