Untitled Document
User:
Pass:
Untitled Document

Diễn Đàn

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Ơi đồng bào Việt Quốc ! Đất nước không chiến tranh Cớ chi đau thắt ruột Sự tự hào ngộ nhận Một chế độ bi hài sau chiến tranh Bọn cường quyền gian manh cơ hội Đào bới bóc lột dân lành Núp dưới bóng cờ máu, bác đảng Âm thầm bán từng mảnh đất quê hương Tổ quốc thân yêu ơi! Đồng bào thân yêu ơi! Ôi, ta thương quá đi thôi! Vết sẹo hằn sâu vào trái tim, trải dài theo năm tháng Xuyên qua chiến tranh có những nấm mồ hùng vĩ Người phơi thây ngã xuống mắt trừng trừng nhìn nhau “Hậu thế ơi hãy giữ gìn non song” Ôi đất nước giờ tả tơi từng mảnh trao cho giặc! Sự hy sinh bất công! Xứ sở linh thiêng có còn không? Phật khóc, Thánh rơi lệ! Công lý lưu lạc để đức tin chìm vào đáy biển Tràn ngập hôn mê Ơi thanh niên Việt Quốc! Chúng ta là ai? Hãy đứng lên trước vận mệnh tổ quốc Giặc đang tràn tới ngõ Hãy đứng lên đi Đứng lên niềm tự hào để sử sách lưu danh Đứng lên đi cho tự do tỏa sáng Đứng lên đi giành lại nước của dân lành Hởi tất cả những ai là đồng bào Việt Quốc Hãy chung tay giữ gìn cội nguồn cho con cháu mai sau. Nguyễn Phương Uyên

 

Đoạn kết Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng A reporter’s love for a wounded people. Uwe Siemon-Netto Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng." Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ? Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hòa, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy. Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sài Gòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu? Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân." Thực tế không phải như vậy. Ðã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Ðài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân. Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại? Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không. Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các góa phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa. Tôi không có mặt vào lúc Sài Gòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927). Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả sinh năm 1975 khi Sài Gòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên tòa mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội. Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hòa tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki? Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả. Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau: Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!" Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố." Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Hắn đã đúng và hắn đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này. Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hóa bê tha hủ hóa đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xóa đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do. Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra. Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?

 

Liên kết phá tan xiềng xích bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ Cộng Sản Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long 4/24/2013 Kính thưa toàn thể quý vị cùng đồng bào thân yêu trong và ngoài nước, Hôm nay, chúng tôi những người quan tâm đến vận mệnh quê hương và tiền đồ dân tộc, đến trước tòa nhà quốc hội Úc Đại Lợi, biểu tượng của tự do và dân chủ, để bày tỏ sự liên đới với đồng bào quốc nội trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. Lời đầu tiên chúng tôi muốn được gởi đến đồng bào thân yêu và nhất là những nhà tranh đấu trong nước là qúy vị không cô đơn trước thế lực của bạo quyền cộng sản. Chúng tôi những người con dân nước Việt tha hương hậu thuẫn cho qúy vị. Những người yêu chuộng tự do dân chủ khắp nơi hậu thuẫn cho qúy vị và nhất là lịch sử đang xoay chuyển về đích hướng mà qúy vị đang hy sinh tranh đấu, noi gương tiền nhân anh dũng. Qủa thế, chưa bao giờ làn sóng dân chủ lại dâng cao trên khắp quê hương đất nước như ngày hôm nay. Sau bao thập niên sống trong một ý thức hệ ngoại lai, vong bản và hoàn toàn băng hoại, người dân Việt Nam đang đứng lên truất phế cộng nô và phục hồi quyền làm chủ vận mệnh đất nước. Gần đây, nhiều tổ chức yêu nước và nhất là các tôn giáo cũng đã cùng mạnh dạn dấn thân, mở màn cho một thời kỳ khai phóng đầy hứa hẹn. Khởi đầu là Bản Góp Ý của 72 nhà trí thức yêu nước yêu cầu loại bỏ điều 4 Hiến Pháp; tiếp theo đó Hội Đồng Giám Mục đại diện cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Hội Thánh Cao Đài và rất nhiều tổ chức trong và ngòai nước đã cùng hòa nhịp với hơn 80 triệu trái tim Việt Nam cương quyết xóa bỏ độc tài đảng trị. Mọi người mang dòng máu Lạc Hồng, không phân biệt tôn giáo hay xu hướng chính trị đều quyết tâm xóa bỏ Điều 4 Hiến Pháp, tức là chấm dứt hoàn toàn vai trò độc quyền của Đảng Cộng Sản trong việc điều hành đất nước và mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Qúy vị và đồng bào thân mến, gần 70 năm từ ngày bạo quyền cai trị miền bắc và gần 38 năm từ ngày họ áp đặt chế độ ngoại lai “Mác-Lê” trên khắp quê hương thân yêu, Cộng Sản đã gây ra bao nhiêu chết chóc, kinh hoàng, bao hận thù, chia rẽ, bao bất công, đau khổ, bao nhục nhằn cay đắng. Từ chính sách đấu tố “cải cách ruộng đất” của thập niên 50 tại miền Bắc, cho tới cuộc thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968; từ những cuộc vượt biển vô tiền khoáng hậu cho tới nỗi nhục quốc thể còn đang tiếp diễn như những người lao động hợp tác bị ngược đãi; những trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục; những người dân oan bị tư bản đỏ cướp đất; các công nhân bị bóc lột ở các hãng xưởng trong nước v.v.. Thật oái oăm và mâu thuẫn khi chế độ Cộng Sản hứa hẹn một thiên đàng cho giai cấp vô sản, nhưng trên thực tế họ lại bị sống trong một địa ngục đầy bất công và bị bóc lột bởi chính hệ thống tư bản đỏ. Nghiêm trọng hơn nữa đó là những đe dọa về chủ quyền của đất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản đã chứng tỏ sự nhu nhược, hèn nhát và phản bội của họ. Phải chăng chỉ vì muốn duy trì quyền lực và tư lợi, họ đã sẵn sàng tráo đổi quyền lợi của người dân và cơ đồ của tổ quốc? Phải chăng họ đang hiện nguyên hình là những người cộng nô, hèn với giặc ác với dân? Khi lãnh thổ và lãnh hải bị xâm lấn thì nhà cầm quyền Cộng Sản chỉ im lặng hay phản ứng chiếu lệ. Ngược lại, họ sẵn sàng huy động cả một hệ thống an ninh hùng hậu để triệt hạ những người yêu nước mà vũ khí tự vệ duy nhất là tinh thần ái quốc. Nhưng lịch sử luôn đứng về công lý và sự thật. Lịch sử cũng sẽ lên án những ai làm việc ô nhục phản quốc như những tên “cõng rắn cắn gà nhà” trong qúa khứ.Qúy vị và đồng bào thân mến,Việt Nam trước thế kỷ 21 có thể ví như con thuyền trước đại dương đầy sóng gío. Chúng ta không thể vượt đại dương trên một con thuyền cũ kỹ lỗi thời. Chế độ Cộng Sản chính là con thuyền cũ kỹ lỗi thời đó. Cả dân tộc ta đang đứng trước thảm họa bị chìm đắm và diệt vong. Con đường tiến lên cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa chính là con đường dẫn đến sự băng hoại và bế tắc toàn diện như đang diễn ra hiện nay. Đất nước chúng ta cần một con thuyền mới để ra khơi trong thiên niên kỷ mới. Con thuyền đó không được xây dựng bằng ý thức hệ ngoại lai mà được tác tạo bởi ý chí và nhiệt huyết của mọi người dân. Trong kiến nghị của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các ngài đã mạnh dạn tuyên bố là phải phục hồi “quyền làm chủ của người dân”, là “lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng và điều hành xã hội”, là thực hiện một tiến trình dân chủ dẫn đến một “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”. Nói tóm lại, chỉ có con thuyền dân chủ mới đưa Việt Nam vào đại dương của thiên niên kỷ mới.Trong Kinh Thánh Kitô Giáo có câu “Người gieo trong đau thương sẽ gặt hái trong vui cười”. Chúng ta chỉ có một tương lai tươi sáng cho đất nước và cho dân tộc khi chúng ta dấn thân đi “gieo trong đau thương”. Vì sự nghiệp của tiền nhân và vì tương lai của những thế hệ nối tiếp, chúng ta hãy vượt qua sự vô cảm và sự sợ hãi. Người Việt yêu nước khắp nơi, chúng ta hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ Cộng Sản. Hãy “cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi” (lời bài hát của anh Việt Khang) kiến tạo một Việt Nam dân chủ, văn minh, nhân ái, thái hòa cho xứng với hy sinh của tiền nhân và niềm kiêu hãnh của thế hệ tương lai. Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long 4/24/2013

 

Trong hai bài trước (Thế nào là hôn nhân, Bảo vệ hôn nhân…) chúng tôi đã bàn về hôn nhân và những trào lưu mới của nó. Bài này là bổ túc cho những bài trước. Tại Việt Nam, tuy không có những phong trào đồng tính luyến ái hoạt động ồn ào công khai như ở các nước Tây Phương và Mỹ Châu, nhưng thực tế cũng đã có, hoặc công khai hoặc lén lút. Ý kiến trong bài này là để chia sẻ với độc giả, nhất là những nhà giáo dục và những vị lãnh đạo các tôn giáo và những ai vẫn còn nặng lòng với đất nước dân tộc và tôn giáo mình nên quan tâm hầu bảo vệ hôn nhân truyền thống đầy tình người và đạo đức của cha ông. PHONG TRÀO ĐÒI TÁI ĐỊNH NGHĨA HÔN NHÂN Hô hào tái định nghĩa HÔN NHÂN để hợp thức hóa những cặp đồng tính hiện đang lan tràn như dịch truyền nhiễm trên khắp thế giới. Ở Argentina, Bỉ, Portugal, Phần Lan, Y Pha Nho, Thuỵ Điển, Norway, Nam Phi Châu, những cặp đồng tính có thể được pháp luật công nhận như là vợ chồng có cưới hỏi và hôn thú. Riêng Anh Quốc thì đã thành luật và quốc hội đã định nghĩa hôn nhân bao gồm cả những cặp đồng tính và những cặp mà ý trung nhân là người đã đổi giống (i). Ở Pháp, một đạo luật cho phép những cặp đồng tính làm lễ cưới và có quyền nhận con nuôi đã được hạ viện thông qua, còn đang chờ thương viện chuẩn nhận trong vòng một tháng. Tổng Thống Pháp Francois Hollande đã rất tích cự ủng hộ phong trào này trong cuộc tranh cử và hứa sẽ đem hôn nhân đồng tính vào nước Pháp (ii), đã được dân chúng ủng hộ bầu làm tổng thống hồi tháng 5, 2012. Một thăm dò ý kiến gần đây cho thấy đa số dân Pháp ủng hộ việc tái định nghĩa hôn nhân (iii) và cho phép những cặp đồng tính được nhận con nuôi. Tại Hoa Kỳ, tòa án đặt vấn đề “Hôn Nhân là cái gì?” Hôn nhân đồng tính đã được chấp nhận ở 9 tiểu bang và ở District of Columbia . Hai trường hợp được đưa lên Tối Cao Pháp Viện để đòi hỏi lập pháp phải công nhận hôn nhân là kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Một cặp đàn bà/con gái yêu nhau đã tuyên bố quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi đạo luật số 8 của California đã được cử tri bỏ phiếu xác quyết “hôn nhân chỉ giới hạn giữa một người nam và một người nữ mà thôi”. Một trường hợp nữa đặt vấn đề với cơ quan lập hiến bảo vệ hôn nhân (chỉ giới hạn sự phối hợp giữa người nam và người nữ) về vấn đề thuế liên bang và những mưu cầu lợi ích khác NHỮNG PHẢN ĐỐI TÁI ĐỊNH NGHĨA HÔN NHÂN Dù trào lưu văn hóa chính trị hiện nay đang cổ súy kiểu hôn nhân mới, tại Pháp người ta cũng thấy một phong trào chống đối rất mạnh được yểm trợ và khuyến khích bởi Công Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo. Hàng trăm ngàn người Pháp đã biểu tình tại Paris vào tháng Giêng và tháng Hai để phản đối luật cho phép những cặp đồng tính chính thức cưới nhau. Người biểu tình phản đối gồm đủ mọi thành phần cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ mà hình như cũng không làm thay đổi được khuynh hướng của quốc hội Pháp và bảo vệ được định nghĩa truyền thống căn bản của hôn nhân. Giáo sĩ và giáo dân Công Giáo là những mũi cản tiền phong chống lại sự xâm nhập phá hoại cấu trúc truyền thống của hôn nhân. Tân Giáo Hoàng Francis khi còn làm Tổng Giám Mục Buenos Aires, đã cực lực phản đối xu hướng muốn hợp thức hóa những cặp vợ chồng đồng tính của Tổng Thống Cristina Kirchner và chính phủ của bà ta. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (USCCB) cũng đã đề xướng một sáng kiến giáo dục: Hôn Nhân: Độc Đáo Vì Một Lý Do / Marriage: Unique for a Reason, để phản bác lại những lý luận cho rằng hôn nhân bao gồm cả những cặp đồng tính (iv). Vào ngày 26 tháng 3, 2013, hàng ngàn người ủng hộ hôn nhân đã tụ họp tại khu thương mại Mall ở Washington DC và trên khắp các tiểu bang để phản đối bất cứ toan tính nào muốn thay đổi định nghĩa hôn nhân, nhưng chắc cũng không ảnh hưởng được bao nhiêu trên quyết định của Tối Cao Pháp Viện. Tuy nhiên đó cũng là tiếng nói cho một mục đích thực của hôn nhân, tiếng vang của một nền văn hóa hợp lý và đúng đạo đức. MỤC ĐÍCH CỦA HÔN NHÂN: SINH CON CÁI Quả vậy, người ta vẫn không coi chuyện con cái là cần thiết trong hôn nhân. Đây là điều rất quan trọng có tính khẩn trương cấp tính. Trong nhiều cuộc tranh luận bàn cãi để cho những cặp đồng tính được chính thức cưới nhau như là hôn nhân, người ta nhấn mạnh đến sự công bằng và bình đẳng cho những người đồng tính luyến ái. Như vậy thì mục đích chính của hôn nhân không còn nữa. Những cuộc tuần hành ủng hộ hôn nhân thực sự tại DC đã nhấn mạnh đến vấn đề con cái, coi đây là lý do chính của hôn nhân. Nhiều biểu ngữ, chừng hơn 10 ngàn cái, đã nói lên việc con trẻ cần phải có cha có mẹ: “Mỗi đứa trẻ đều cần được có Cha có Mẹ”. Một cơ chế chính thức và thực sự của hôn nhân phải biểu hiện được lẽ công bằng và công lý ấy cho con trẻ. Nhà nước hay tiểu bang không có một lợi ích nào ràng buộc để phải chấp nhận tình yêu giữa hai người lớn với nhau. Nhưng điều quan tâm của nhà nước hay tiểu bang là hợp pháp hóa hôn nhân đã được mọi người, mọi dân tộc trên khắp địa cầu chấp nhận từ ngàn xưa là sự phối hợp duy nhất giữa một người nam và một người nữ. Con trẻ sinh ra do những cặp vợ chồng như vậy phải được bảo vệ và sự liên kết của chúng với cha mẹ chúng cần phải được nuôi dưỡng và bảo tồn. HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH LÀ TRÁI TỰ NHIÊN Dĩ nhiên không phải tất cả mọi liên hệ giữa người nam và người nữ đều sẽ sinh ra con trẻ, nhưng sự kết hợp giữa người đàn ông và đàn bà rõ ràng là cách duy nhất có thể sinh con cái. Về phương diện sinh học sự kết hợp giữa hai người đàn ông hoặc hai người đàn bà với nhau chắc chắn không tài nào có thể tạo ra con trẻ. Người đàn ông có thể có những cảm giác và tình yêu rất đậm đà sâu thẳm với một người đàn ông khác hoặc một người đàn bà có những cảm hứng và tình yêu thắm thiết với một người đàn bà khác thì tình liên đới giữa họ với nhau vẫn luôn luôn chỉ là cằn cỗi, trái tự nhiên, không tài nào có thể sinh sản ra con, trừ khi họ đi kiếm con nuôi từ bên ngoài họ. Đây là lý do duy nhất không thể coi tình liên đới giữa hai người đàn ông với nhau hoặc hai người đàn bà với nhau ngang hàng với tình liên đới giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Việt Nam ta có tục ngữ: “Có Trai Gái, Có Vợ chồng”. Nam-Nam hoặc Nữ-Nữ kết hợp là trái thiên nhiên. VĂN HÓA THAY ĐỔI Nhưng nghiên cứu cho thấy các hoạt động cho những cặp đồng tính luyến ái được chính thức cưới nhau đã không chỉ xẩy ra rải rác mới đây mà đã từ từ xâm lấn và tấn công hôn nhân trong suốt cà thế kỷ trước. Khi mà nền văn hóa tách rời chuyện sinh con đẻ cái ra khỏi hôn nhân thì cánh cửa đã mở rộng vô hạn định để chuyển hóa tình liên đới giữa những người lớn với nhau. Một khi hôn nhân được coi chỉ như cái xe để chuyên chở hạnh phúc của người lớn, thì việc ly dị trở thành hợp lý khi hạnh phúc giữa hai người bị suy giảm hay không còn nữa. Sự cam kết, thề hứa sống với nhau cho đến chết được biến thành cam kết cho đến khi không còn gì hứng thú nữa. Trong một nền văn hóa dân gian mà hôn nhân dần dần trở nên vắng bóng thường xuyên, thì chẳng có gì lạ là có nhiều người bỏ qua luôn cả hôn nhân, không coi hôn nhân / cưới hỏi là trọng ? Thống kê mới đây cho thấy, tại Hoa Kỳ, trên 40% con trẻ sinh ra do cha mẹ không có cưới hỏi. Gần 73% con trẻ sinh ra do mẹ là da đen và 53% con trẻ sinh ra do mẹ thuộc Hispanic cũng không có cưới hỏi (v) KHÔNG THỂ ĐI NGƯỢC CHIỀU CỦA VĂN HÓA Damon Linker lý luận trong một bài viết trên The Week là chấp nhận dùng thuốc ngừa thai đã làm thay đổi quan niệm về văn hóa hôn nhân vô phương trở lại như cũ được. Ông quả quyết những cuộc tranh đấu về luật pháp hiên nay chỉ là cố gắng bắt cho kịp những điều đã xẩy ra, và tái định nghĩa hôn nhân bao gồm cả những cặp đồng tính là một việc đã được làm xong rồi/fait accompli (vi). Cảm nghĩ của ông cũng được Katherine Jefferts Schori (vii), giám mục Giáo Hội Episcopal khơi động lại. Bà tuyên bố rằng với nền văn hóa hiện nay của chúng ta, mục đích tiên khởi của hôn nhân không phải là sinh con cái mà là tình liên đới trung thành với nhau giữa những người lớn. Do đó, theo như Jefferts Schori, điều hợp lý duy nhất là hôn nhân bao gồm cả những cặp đồng tính. Điều lý thú là Cộng Đoàn Anh giáo, trong đó Giáo Hội Episcopal là thành phần, đã biến đổi nền văn hóa đó vào năm 1930 khi họ là một giáo phái giòng chính chấp nhận cho những cặp vợ chồng / hôn nhân dùng thuốc ngừa thai. Linker hoàn toàn đúng vì đoạn đường đi đến chấp nhận hôn nhân đồng tính đã bắt đầu khi mà chuyện sinh con cái coi như không cần thiết hoặc bị từ chối không được coi là mục đích tiên khởi của hôn nhân. Khi chuyện sinh con đẻ cái được coi là không còn thích hợp với hôn nhân thì hôn nhân trở thành yếu tố duy nhất cho lợi thú của người lớn. Con trẻ bị cướp đoạt mất nhân tính và trở thành đồ phụ tùng của hôn nhân, và người ta coi hạnh phúc của những người lớn là chính, là cần và đủ. Cuộc chiến đòi hỏi cho những cặp đồng tính được cưới hỏi thành hôn nhân sẽ đương nhiên thành công là do thất bại của nền văn hóa bảo vệ hôn nhân chống việc ngừa thai, phá thai, ly dị và sống chung không cần cưới hỏi. KẾT LUẬN: CẦN PHẢI BẢO VỆ CON TRẺ, TRANH ĐẤU VÌ CÔNG LÝ Tuy nhiên, bước theo con đường đó cũng bất khả hồi nếu như có một cuộc thức tỉnh trở về với mục đích thực của hôn nhân. Để cho thành sự thật như vậy chứ không phải chỉ là một ước mong thì cần phải có một cuộc phục hưng hôn nhân. Đó là lúc phải chống lại tất cả những cố gắng làm cho hôn nhân đi theo đà phóng túng của nền văn hóa đại chúng quá xô bồ như hiện nay. Những ai muốn bảo vệ hôn nhân là sự nối kết giữa một người nam và một người nữ thì cần phải bảo vệ hôn nhân chống lại tất cả những cấu trúc của bất cứ hôn nhân nào không cần biết đến lý do tồn tại của hôn nhân là con trẻ (viii). Không làm được như vậy thì không còn lý do chính đáng để phân định giới tính hoặc số người lớn có thể kết hợp với nhau trong tình liên đới được luật pháp công nhận là hôn nhân. Tái định nghĩa hôn nhân như vậy làm cho nó càng ngày càng khó khăn nếu không phải là không thể bảo vệ được nhân phẩm bẩm sinh của con trẻ khi mà chính sự hiện hữu của chúng bị đóng khung trong tính bất thường của người lớn hay chỉ là thú vui bên lề của họ. Do đó, mục đích chính và trọng tâm của hôn nhân là con trẻ, về phương diện pháp lý, cần phải được bảo vệ triệt để. Tranh đấu vì Công Lý. (i) http://www.cnn.com/2013/02/05/world/europe/uk-gay-marriage-vote (ìì) http://www.nytime.com/2013/01/14/world/europe/protesters-in-paris-march-against-gay-marriage,html?_r=2& (ìii) http://www.truthandcharityforum.org/redefining-marriage/hh (iv) http://www.marriageuniqueforareason.org/ (v) http://www.cdc.gov/nchs/fastats/unmarry.htm (vi) http://www.theweek.com/article/index/242060/how-gay-marriage-fate-was-sealed-more-than-50-years-ago (vii) http://www.christianpost.com/news/episcopal-council-reaffirms-homosexual-stance-26150/ Fleming Island , Florida April 19, 2013 NTC

 

30-4-1975 cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt, vì tranh giành quyền lực và quyền lợi, chiến tranh lại tiếp tục xẩy ra giữa phe cánh cộng sản miền Bắc và miền Nam. Phe miền Nam đều được chia cho ghế Thủ Tướng, còn ngược lại phe miền Bắc nắm Tổng Bí Thư. Như thế trong hệ thống độc đảng, cũng cùng 1 đảng, nhưng phe miền Bắc nắm đảng còn phe miền Nam được giữ nhà nước. Khi đảng còn toàn trị thì đảng, nhà nước, quốc hội, mặt trận đều là 1, ít có chuyện xẩy ra. Đại hội 6 lại quyết định cải cách kinh tế nhưng vẫn giữ nguyên hệ thống chính trị. Nhà nước lo phần kinh tế thì phải hướng đến cạnh tranh quốc tế, còn chính trị thì vẫn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước muốn đi tới cũng bị cái định hướng xã hội chủ nghĩa cản lại, nên biến kinh tế thành kinh tế rừng rú: mạnh được yếu thua, tham nhũng và nhóm lợi ích tha hồ hòanh hành. Cán bộ đảng, tư bản đỏ thì càng ngày càng trở nên giầu có trong khi người dân lại hết sức lầm than khổ cực. Ông Trần Xuân Bách đã ví kinh tế và chính trị như hai chân muốn tiến lên thì phải đều bước. Chân này đi tới, chân kia kéo lui, thì tét háng là chuyện tất xẩy ra. Chả thế Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp cho rằng đảng cần mang ra Hội nghị trung ương 7 bàn việc thay đổi quốc hiệu “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để trở lại quốc hiệu cũ là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Bỏ cái Xã Hội Chủ Nghĩa để theo Dân Chủ. Còn nhà nước và mặt trận thì lại đồng ý với Kiến Nghị 72, Kiến Nghị Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam, Tuyên Bố Công Dân Tự Do, Khối 8406,… chấp nhận quyền lập hiến là thể hiện cao nhất chủ quyền nhân dân và sửa đổi phải thông qua trưng cầu dân ý. Phía nhà nước lại còn được cả ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đường đường chính chính chủ tọa. Rõ ràng ông Dũng đang thách thức với phe đảng do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu. Ông Dũng phủ nhận việc tiếp tục mang Cương Lĩnh của đảng Cộng sản áp đặt trên Hiến Pháp, trên Luật Pháp quốc gia và đòi phải trả lại quyền lập hiến cho dân. Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên góp ý Nguyễn Phú Trọng thì bị mất việc. Bây giờ Nguyễn Tấn Dũng đồng ý và sử dụng ý kiến của ông Nguyễn Đắc Kiên, nhưng ông Kiên vẫn chưa được báo Gia đình và Xã hội xin lỗi và mời làm việc lại. Làm dân trong một nước mất tự do là thế. Chỉ có kẻ cầm quyền mới được ăn được nói. Khi Thông báo Quốc Hội cho biết thay đổi thời hạn góp ý từ hạn cuối ngày 31-3-2013 sang hạn mới là 30-9-2013, người viết đã đặt câu hỏi: “Có phải các thế lực nhà nước do Nguyễn Tấn Dũng đại diện vì bị thế lực “Đảng” do Nguyễn Phú Trọng cầm đầu dùng hiến pháp tước quyền, nay cánh nhà nước công khai nổi dậy đảo chánh tước quyền của “Đảng”?” Nay thì đã rõ. Lạ một điều là cả nhà nước, mặt trận và quốc hội (Ủy ban sửa đổi hiến pháp) đều góp ý cùng một lúc và lại đòi mang đề tài vô cùng tế nhị này ra Hội Nghị 7 vào tháng 5 sắp tới. Một cuộc đảo chánh vừa ngấm ngầm vừa công khai xẩy ra. Độc chiêu ba đánh một này phe Nguyễn Tấn Dũng sẽ đẩy phe đảng Nguyễn Phú Trọng vào trận quyết tử để bảo vệ thành trì cuối cùng cho đảng Cộng sản Tàu. Trước khi thảo luận tại sao lại là đảng Cộng sản Tàu chúng ta cần nhận định rõ ràng đây chỉ là trò chơi giữa hai phe Bắc Nam dùng để chỏang nhau. Phía nhà nước vẫn cho rằng cần phải có luật “Trưng Cầu Dân Ý” và phải được Quốc Hội Cộng Sản quyết định thì mới được đưa ra “Trưng Cầu Dân Ý”. Đây chỉ là cách hõan binh và vẫn kiên định chỉ chơi trong phạm vi quốc hội bù nhìn. Đó là chưa kể xưa nay cộng sản vốn quen thói lừa bịp, hứa mà không làm. Thế nên việc sửa đổi hiến pháp chỉ nên xem là trò hề. Điều lý thú và tích cực là trò hề lại được phe nhà nước sử dụng như một khí cụ sắc bén để đánh phe đảng. Phía Kiến Nghị 72, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam, Công Dân Tự Do, Khối 8406,… và nhiều tổ chức khác thì đòi đảng Cộng sản phải trả ngay quyền Lập Hiến cho tòan dân. Ngay từ khi thành lập (8-4-06), Khối 8406 cho rằng đảng Cộng sản phải tôn trọng ý kiến của dân nên đã đề ra phương cách Trưng Cầu Dân Ý với sự kiểm soát Quốc tế. Chỉ có sự kiểm sóat trực tiếp, sâu rộng và hiệu quả của Quốc Tế mới giới hạn được thói gian manh lừa đảo của những người cộng sản. Việc các Tôn Giáo chính Phật Giáo, Công Giáo, Phật Giáo Hòa Hỏa, Cao Đài, Tin Lành đang tiến đến thành lập một liên tôn chính là một giải pháp. Liên Tôn sẽ đứng ra hội tụ các tổ chức chính trị, các tổ chức dân sự nhằm đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Một yếu tố quan trọng khác, người viết đã liên tục đưa ra là phe muốn bảo vệ đảng, bảo vệ xã hội chủ nghĩa, là phe muốn dựa vào “kẻ thù truyền kiếp” của dân tộc Việt Nam. Phe này tìm mọi cách để ru ngủ người dân quên Hòang Sa, quên Trường Sa, quên nhiều phần lãnh thổ của Cha Ông để lại, hiện trong tay quân Tàu xâm lược. Nếu Việt Nam không có tự do chỉ một thời gian ngắn nữa, Việt Nam sẽ hòan tòan là thuộc địa của Tàu. Khi Đài Truyền Hình và Báo chí đưa tin tầu Bình Minh bị tàu Trung cộng cắt cáp tháng 5-2011, người viết đã nhanh chóng cho rằng chính Nguyễn Tấn Dũng đơn phương cho phép các cơ quan truyền thông đưa tin. Việc làm của Nguyễn Tấn Dũng đã được đa số đảng viên đảng Cộng sản ủng hộ. Trong thâm tâm những người này cũng không muốn cúi đầu làm tay sai cho giặc để bị muôn đời nguyền rủa. Thế nhưng việc làm của Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ có giá trị tạm thời, việc chống Tàu cứu nước và giữ nước cần có sự đồng thuận dân tộc. Và chỉ một thể chế tự do dân chủ thực sự mới tạo được gắn bó của tòan dân, khi ấy Việt Nam mới đủ nội lực để chống lại sự bành chướng của Bắc Phương. Quay về với dân tộc, tôn trọng nhân quyền, thực thi dân chủ, là những điều kiện mà Hoa Kỳ và Thế Giới Tự Do đưa ra để đổi lại sẽ bảo vệ Việt Nam thóat khỏi sự hung hăng xâm lược của Bắc Phương. Bài viết trước đây đã đưa ra quan niệm “theo Mỹ cứu đảng”. Theo Mỹ là theo dân chủ. Một sự chuyển tiếp ôn hòa được Liên Tôn chủ động kết nối các khuynh hướng chính trị và dưới sự sự kiểm sóat của Quốc Tế, sẽ tránh được một cuộc nổi dậy bạo động. Khi ấy giới cầm quyền cộng sản và gia đình, dù đã đào tẩu khỏi Việt Nam, cũng khó tránh khỏi việc trả thù. Mỹ ở phương Nam. Phe theo Mỹ là phe Nam. Tàu phương Bắc. Phe theo Tàu là phe Bắc. Phe Nam đã khai chiến với phe Bắc và chiến tranh sẽ bùng nổ trong Hội Nghị 7 diễn ra vào tháng 5 này. Cuộc chiến Bắc Nam đã bắt đầu và càng ngày sẽ càng trở nên khốc liệt hơn. Phe nào thắng cũng chỉ là chuyện nội bộ của đảng Cộng sản. Lẽ đương nhiên nếu phe Nam thực tâm quay về với dân tộc, thì như ông bà ta đã dạy, chúng ta cũng cần “lấy chính nghĩa để thắng hung tàn lấy trí nhân mà thay cường bạo”. Về phía dân tộc, hơn lúc nào hết những người yêu chuộng tự do cần dẹp bỏ sự khác biệt để gắn bó với nhau, gắn bó với dân tộc, giải thể đảng Cộng sản, mang tự do, dân chủ, thịnh vượng và tòan vẹn lãnh thổ đến cho quê hương Việt Nam mến yêu của chúng ta. Nguyễn Quang Duy Melbourne, Úc Đại Lợi 15/4/2013

 

Theo Bình Nhưỡng thì bán đảo Triều Tiên đang tiến gần tới ‘cuộc chiến hạt nhân’. Ngày 09/04/2013, Bình Nhưỡng kêu gọi người nước ngoài sớm di tản khỏi Bắc Hàn. Ủy ban Bắc Triều Tiên vì Hoà Bình tại Châu Á Thái Bình Dương, một tổ chức ngoại vi của Đảng Lao Động Triều Tiên thông báo: “Bán đảo Triều Tiên tiến về một cuộc chiến tranh nhiệt hạch”. “Trong trường hợp chiến tranh, Bình Nhưỡng không muốn thấy người nước ngoài sinh sống tại Hàn Quốc phải hy sinh (do vậy) tất cả các tổ chức ngoại quốc, xí nghiệp, du lịch đều phải lập kế hoạch di tản”. Lý do: “Mỹ và những kẻ bù nhìn hiếu chiến Nam Hàn đang theo dõi để chờ cơ hội phát động chiến tranh chống lại Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên, sau khi đã ồ ạt triển khai vũ khí hủy diệt hàng loạt, trong đó có thiết bị chiến tranh hạt nhân trên lãnh thổ Nam Hàn”. “Một khi chiến tranh bùng nổ trên bán đảo, đó sẽ là một cuộc chiến tổng lực, tức là một cuộc trả đũa thần thánh không khoan nhượng của Cộng Hòa Nhân Dân Triều Tiên”. Thật ra, nếu Bình Nhưỡng cứ đánh võ mồm như thế này, để cho Mỹ có lý do thực hiện công cuộc ‘chuyển trục chiến lược’ về Châu Á một cách vững vàng, toàn diện như hiện nay ở vùng Bắc Á, thì chẳng bao giờ Mỹ ra đòn trước, nhưng nếu vô phúc vì háo thắng, mà cậu trẻ Kim Jong Un, ra lệnh phóng lên trời một hỏa tiến, hay cho nổ môt quả bom nguyên tử thì hậu quả chưa biết chừng!? Trước đó, ngày 05/04/13, Bình Nhưỡng cũng đã viện dẫn lý do ‘không bảo đảm’ an ninh, an toàn cho các phái bộ ngoại giao tại Bắc Hàn để họ phải sơ tán trước ngày 10/04/13. Tuy nhiên không một sứ quán nào chịu rút đi. Hôm nay, tại đặc khu kinh tế Keasong, Bình Nhưỡng đã thực hiện lời đe dọa rút hết công nhân Bắc Hàn ra khỏi đặc khu này. Phía Hán Thành - Seoul - cho biết, khoảng 300 kỹ sư Nam Hàn đã trở về nước, hiện chỉ còn khoảng 475 người ở lại để bảo đảm công việc điều hành. Đóng cửa khu công nghiệp Keasong liên doanh với Nam Triều Tiên này, Bắc Triều Tiên sẽ mất nhiều ngoại tệ. Năm ngoái sản xuất được 470 triệu Đôla Mỹ về hàng dệt may, phụ tùng ôtô và các hàng gia dụng, và mất đi 50.000 công ăn việc làm của dân chúng Bắc Hàn với số lương trung bình 110 Mỹ kim một tháng. Thế nhưng việc giao lưu giữa Trungcộng và Bắc Hàn lại không bị đình trệ. Căng thẳng leo thang giữa Bắc Triều Tiên với nhiều nước trên thế giới trong tuần vừa qua không ảnh hưởng gì tới sự bùng phát của các sinh hoạt du lịch của Trungcộng với Bắc Triều Tiên. Truyền thông nhà nước Trungcộng cho biết: “Mùa du lịch hàng năm đã bắt đầu sớm hơn mọi năm và có tăng mạnh của số người chờ đợi để đi thăm quốc gia nghèo khó này”. Mặc dù, về mặt chính trị, tất cả đều biết giữa Trungcộng và Hàncộng hiện nay đang trong cảnh ‘cơm không lành, canh chẳng ngọt’, vì Bắckinh đã liên kiết với Hoa Thịnh Đốn để cho Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trừng phạt Bắc Hàn vì thử bom nguyên tử. Nhất là Bắckinh không có một phản ứng nào về việc Mỹ triển khai sức mạnh quân sự áp đảo của họ ở khu vực Bắc Á. Thế nhưng, Bắc Hàn vẫn chưa dám dứt khoát ra khỏi quỹ đạo của Bắckinh. Chính vì vậy mà Mỹ cứ cột chặt Trungcộng phải có trách nhiệm về tên đàn em cứng đầu là Bắc Hàn. Theo tờ báo Mỹ, New York Times: “Trong tuần tới, Nhà Trắng sẽ gởi nhiều quan chức cao cấp đến Trungquốc để bàn về hồ sơ Bắc Triều Tiên. Đầu tiên là ngoại trưởng John Kerry vào thứ Bảy này”. Ba thượng nghị sĩ có thế lực là John McCain đảng Cộng Hoà, Charles E. Schumer đảng Dân Chủ và Lindsey O. Graham đảng Cộng Hoà đều lên tiếng thúc dục Bắckinh phải gây áp lực mạnh hơn với Bắc Triều Tiên. Trong chương trình “Meet the Press” của đài NBC News, thượng nghị sĩ Lindsey O. Graham nặng lời với Trungcộng rằng: “Tôi trách Trung quốc hơn bất cứ ai khác. Họ sợ Triều Tiên thống nhất, không muốn thấy một nước Triều Tiên Dân Chủ sát cạnh Trung Quốc. nên cứ tiếp tục yểm trợ cho chế độ điên khùng này. Chính họ là người quyết định số phận của Bắc Triều Tiên hơn bất cứ ai khác trên thế giới”. Ô hay! ông thượng nghị sĩ Graham này vẫn còn quan niệm nước lớn cứ phải quyết định số phận của nước nhỏ mãi hay sao? Quý vị chưa thấy cậu trẻ Kim Jong Un này đang đập đầu ăn vạ, ăn vòi đòi đánh Mỹ để được đi với Mỹ, sớm thoát khỏi tay tên đầu nậu Bắckinh đó hay sao? Nói cho cùng thì dù Mỹ có biết như thế, họ vẫn cứ cột anh Tầu này lại với Bắc Hàn để triển khai kế hoạch thiết lập hệ thống phòng thủ ở cả Bắc Á lẫn Đông Nam Á. Theo trang Web quân sự missile threat. com của Mỹ phân tích, thì động cơ chính của nước này trong việc tăng cường hệ thống tên lữa ở Thái Bình Dương là để ‘trị’ Trungcộng. Nhà Trắng thừa nhận Bắc Triều Tiên không có tên lửa hạt nhân, và mãi mãi không bao giờ có thể có, vì Mỹ không cho phép điều đó xẩy ra. Vậy tất cả các tiềm lực quân sự mà Mỹ chuyển sang Thái Bình Dương hiện nay là nhằm vào Trungcộng. Hải quân Hoakỳ hôm qua ngày 08/04/13 loan báo đã hoàn chỉnh hệ thống laser trên biển, có khả năng vô hiệu hoá các tàu nhỏ của kẻ thù và bắn hạ các máy bay không người lái. Hệ thống này sẽ được sử dụng trên vận tải USS Ponce vào năm 2014 sớm hơn dự kiến 2 năm. Có lẽ Trungcộng đã cảm thấy lạnh gáy, nên đã xuống thang đối thoại chính trị với các nước Asean. Trong cuộc họp hàng năm lần thứ 19 giữa ASEAN và Trungcộng từ ngày 01 đến 02/04/13, Trungcộng đã nhất trí cùng làm việc để tiến tới phát triển quy tắc Ứng Sử Biển Đông với Hiệp Hội các nước Asean, vì nếu không đi bước trước thì Mỹ và Asean sẽ cũng đi đến việc thúc đẩy Trungcộng phải chấp thuận Bộ Quy Tắc Hành Xử Trên Biển – COC, thay vì cứ dậm chân tại chỗ với Bản Nguyên Tắc Ứng Xử Trên Biển – DOC đã ký trên mười năm qua. Tại diễn đàn Châu Á, Bác Ngao 2013 ở Trung Cộng, khai mạc ngày 07/04/13, trong diễn văn Tập Cận Bình chủ tịch Trung Hoa Cộng Sản nói: “Không quốc gia nào được phép đưa cả khu vực thậm chí cả thế giới, vào tình trạng hỗn loạn vì lợi ích của mình”. Ông Tập Cận Bình ám chỉ nước nào đây, là Bắc Hàn đang đe dọa chiến tranh nguyên tử, là Hoakỳ đang xoay trục chiến lược về Châu Á – Thái Bình Dương, hay là chính Trungcộng, mà ông là người cầm đầu, đang hung hăng đòi làm chủ trên 80% diện tích Biển Đông, đe dọa an ninh, an toàn lãnh thổ, lãnh hải của các nước trong vùng, từ Bắc Á xuống tới Đông Nam Á đây? Nếu Trungcộng của ông không còn là một nước theo Chủ Nghĩa Xã Hội Đặc Sắc Trung Hoa, tức là đối nội vẫn dùng chế độ độc đảng, độc tài, phong kiến cha truyền con nối để thống trị toàn dân Trung Hoa, đối ngoại vẫn theo truyền thống Đế Quốc Đại Hán để bành trướng quyền lực, xâm lấn lân bang và cho dân Trung Hoa ăn bánh vẽ về một “Giấc Mơ Trung Quốc”, tức là làm Bá Chủ Thế Giới, Trung Tâm Hoàn Vũ. Chỉ vì những chính sách sai lầm, và tham vọng “TrungQuốc” của các ông, mới đưa khu vực và cả thế giới vào tình trạng hỗn loạn và đó cũng là nguyên nhân làm sụp đổ chế độ phi nhân, phi pháp, phi văn hóa của các ông nữa đấy! Ông nên tỉnh thức đi may ra còn kịp. LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigon ngày 09/04/2013.

 

*- Phong trào quần chúng bác luận điệu nói đảng Cộng sản có quyền lãnh đạo “nhà nước và xã hội” là “tất yếu của lịch sử” đã nổi lên ở Việt Nam. Những người tham gia Cuộc cách mạng bất bạo động này đòi thay bản dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi bằng một Hiến pháp mới bảo đảm tự do và dân chủ, công nhận đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập (lập pháp,hành pháp và tư pháp) để xây dựng một chính quyền thật sự của dân, do dân và vì dân qua bầu cử trực tiếp. Họ còn tuyên bố Quân đội không phải là công cụ của đảng mà của dân và phải trên hết tuyệt đối trung thành với Tổ quốc. Làn sóng người dân nổi lên cũng tự phủ nhận chủ nghĩa Cộng sản do đảng áp đặt và bắt mọi người phải theo từ 83 năm qua. Và họ cũng kiên quyết đòi đảng trả quyền làm chủ đất nước cho dân để họ tham gia xây dựng Hiến pháp mới, có thể qua một Quốc hội lập hiến do dân bầu. Đây là lần đầu tiên trong 68 năm độc quyền cai trị ở Việt Nam đảng Cộng sản đã phải đối phó với một cuộc nổi dậy không có tiếng súng nhưng trực diện và rất khó dập tắt, trừ phi đảng muốn tái diễn cuộc đàn áp đẫm máu của chính phủ Trung Cộng ở Qủang trường Tiananmen (Thiên An Môn) năm 1989, nếu những người của phong trào phản kháng quyết định tuần hành ở Hà Nội hay Sài Gòn. Nghiêm trọng hơn là trong số những người chống đảng, ngòai số đông gười dân bình thường còn có cả công nhân và nông dân là hai lực lượng nồng cốt đã tạo nên đảng CSVN. Nhiều Lão thành cách mạng, chức sắc Tôn giáo, cựu chiến binh, có cả cựu Tướng lãnh và cán bộ, đảng viên cao cấp đã nghỉ hưu hoặc tại chức cũng tham gia vào làn sóng người phản kháng không đổ máu này. Biến cố này bắt đầu từ “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” của nhóm 72 Nhà Trí thức, Nhân sỹ và Lãnh đạo Tôn giáo nổi tiếng công bố trên báo điện tử Bauxite Việt Nam ngày 19/01/2013. Nhóm 72 nói rằng : “Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ do nhân dân bầu chọn ra trong các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, định kỳ.” Lập trường này xác nhận họ đã bác bỏ việc Hiến pháp được sửa đổi sẽ tiếp tục duy trì quyền cai trị độc tôn, độc tài cho đảng CSVN. Các Trí thức cũng nói : “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam.” Hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội và người Việt Nam ở nước ngòai đã ký tên ủng hộ Nhóm 72. Trong số những trí thức, nhân sỹ, lãnh đạo Tôn giáo ký tên có cả Đức Giám mục Nguyễn Thái Hợp, Giáo phận Vinh; các ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên thiếu tướng, nguyên ủy viên Trung ương đảng, nguyên cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc và 8 nguyên Trợ lý và chuyện gia cố vấn của các nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải (Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Trần Đức Nguyên, Trần Việt Phương, Đào Xuân Sâm, Nguyễn Trung, Vũ Quốc Tuấn) v.v… Nhóm 72 còn đề xuớng một dự thảo Hiến pháp 2013 cho chính quyền dân chủ ở Việt Nam theo Tổng thống chế với 2 viện Quốc hội (Thượng và Hạ) được dân trực tiếp bầu. Ba ngành hiến định Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp hoạt động độc lập. Họ đã trao Hiến pháp dự thảo này cho Ủy ban sọan thảo Quốc hội ngày 04/02/2013 với đề nghị “trang thông tin điện tử của Quốc hội về sửa đổi Hiến pháp và các báo in cần đăng Kiến nghị 72 và Dự thảo Hiến pháp 2013 cùng với các ý kiến khác về sửa đổi Hiến pháp”. Tuy nhiên ông Phan Trung Lý, thay mặt Ủy ban đã bác bỏ yêu cầu của Nhóm 72. TIẾNG NÓI CÔNG GIÁO Quyết định của ông Lý không chỉ xúc phạm đến những người ký tên ủng hộ Nhóm 72 mà còn công khai coi thường hàng trăm tiếng nói của những người Công giáo đã ký tên vào Kiến nghị Lần đầu tiên khỏang 200 Linh mục và Tu sỹ đã hướng dẫn giáo dân hành động theo gương 3 Đức Tổng Giám mục và Giám mục nổi tiếng của Việt Nam, những chủ chăn đã ký tên ủng hộ Nhóm 72 chống Hiến pháp sửa đổi 1992. Làn sóng người công giáo ở Hà Nội, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh tham gia Phong trào chống đảng CSVN lên cao độ ngay sau khi Đức nguyên Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, ở ẩn từ Tu viện Nhà dòng Châu Sơn, Ninh Bình, ký tên ủng hộ nhóm 72, đã có sẵn chữ ký của Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Giáo phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa Bình của Hội đồng Giáo mục Việt Nam. Đức TGM Ngô Quang Kiệt viết: "Tôi đồng ý và ký tên bản Kiến nghị về sửa Hiến pháp 1992 (đăng tải trên Bauxite Việt Nam ngày 22/1/2013.” Sau đó đến lượt Đức Giám mục Nguyễn Chí Linh, Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo phận Thanh Hoá cùng đã dấn thân “làm cách mạng” với giáo dân của Ngài. Hành động của 3 Chức sắc cao cấp của Giáo hội Công giáo và Nhóm 72, phải chăng đã thúc bách đảng và nhà nước CSVN có phản ứng qua những phát biểu của hai ông Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ? Ông Trọng cho rằng “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức” , đó là những ai đòi hỏi “bỏ Điều 4 Hiến pháp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng, muốn đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, phi chính trị hóa quân đội”. (Tuyên bố ngày 25/02/2013 tại Vĩnh Phúc) Và ông Hùng thì lên án những ý kiến không thuận chiều với đảng là “…lợi dụng việc lấy ý kiến sửa đổi hiến pháp để tuyên truyền vận động nhân dân chống lại Đảng chống lại chính quyền… là ngược chiều, phải kiên quyết đấu tranh và ngăn chặn.” Ông cũng bảo: “Bản lấy ý kiến là bản của Uỷ ban dự thảo Hiến pháp công bố trên cơ sở tiếp thu ý kiến thảo luận của Quốc hội…là bản duy nhất. Còn anh tự tổ chức lấy một cách lấy ý kiến khác của anh là không được, đấy là cách làm không đúng quy định, mà tôi chưa nói là vi phạm pháp luật, chúng ta phải đấu tranh…” (Tuyên bố ngày 27/02/2013 tại Hà Nội) ĐỔ DẦU VÀO LỬA Lập luận quy chụp, độc tài, bảo thủ của hai ông Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Sinh Hùng đã bị chống đối quyết liệt từ nhiều phiá người dân vì rõ ràng đảng đã nói một đàng làm một nẻo khi lấy ý kiến mà lại không những chỉ chống mà còn đe dọa người có ý kiến khác với mình. Phản bác đầu tiên và mạnh mẽ nhất vào ngày 26/02/2013 đến từ Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên qua bài “Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng” trong báo điện tử “Cùng Viết Hiến Pháp” của nhóm Giáo sư Tiến sỹ Toán học nổi tiếng Thế giới Ngô Bảo Châu. Ông Kiên nói thẳng ngay từ đầu : “Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách. Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước. Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập, thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những ý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay.” Chỉ ít giờ sau khi bài này phổ biến, Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên bị báo Gia đình & Xã hội cho nghỉ việc vì theo tờ báo thì ông Kiên “không còn tư cách là phóng viên Báo Gia đình & Xã hội .” Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử báo chí Cộng sản Việt Nam đã có một Nhà báo trẻ dám công khai viết bài chỉ trích quan điểm một Tổng Bí thư, người đứng đầu và đầy quyền thế của đảng CSVN. 7 TRIỆU NGƯỜI CÔNG GIÁO LÊN TIẾNG CHO AI ? Biến cố Nguyễn Đắc Kiên và Nhónm 72 được coi như “những ngòi nổ” hay “những giọt nước làm tràn ly” đã kích thích tinh thần cho Phong trào quần chúng nổi lên tuyên bố quay lưng lại với chế độ hà khắc đã chà đạp nhân phẩm và ăn không mồ hôi nước mắt của tòan dân từ 68 năm qua để tiếp tục đẩy đất nước xuống hố sâu đói nghèo lạc hậu. Chỉ hai ngày sau “biến cố Nguyễn Đắc Kiên”, một bản “Tuyên bố của các Công dân tự do” gồm 5 Điểm ra đời hôm 28/02/2013 cũng bác bỏ “Điều 4 trong Hiến pháp”; “ủng hộ đa nguyên, đa đảng” ; đòi “ xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách”; và “ủng hộ phi chính trị hóa quân đội”. Những người chủ trương tuyên bố : “Chúng tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.” Nhóm chủ xướng, phần lớn là những Nhà báo tự do họat động trên các báo mạng “Truyền thông xã hội” ở Việt Nam và nước ngòai, đứng đầu danh sách có các Bloggers nổi tiếng như : Nguyễn Hòang Vi (Sài Gòn); Phạm Thanh Nghiêm (Hải Phòng); Mẹ Nấm (Nguyễn Ngọc Như Qùynh, Nha Trang); Trịnh Kim Tiến (Sài Gòn); Bùi Thị Minh Hằng (Vũng Tầu), Hùynh Ngọc Chênh (Sài Gòn) v.v.. Danh sách đã có ngòai 5000 người ủng hộ, trong đó có các tên tuổi lớn như Tiến sỹ Hà Sĩ Phu; Bác sỹ Nguyễn Đan Quế; Linh mục Đinh Hữu Thọai của Truyền Thông Chuá Cứu Thế (Việt Nam); Nhà văn, Nhạc sỹ Tô Hải; Ông Trần Khuê, người sáng lập Đảng Dân Chủ Thế Kỷ XXI (Sài Gòn); Nhà Thơ Bùi Chát; Nhà thơ Đỗ Trung Quân và Nhà báo Lưu Trọng Văn (con Nhà thơ Lưu Trọng Lư) v.v… Tuy nhiên, thái độ lịch sử lớn nhất của Phong trào, cho đến hôm nay, là tiếng nói thống nhất của trên 7 triệu tín đồ Công giáo đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam công bố vào ngày 01/03/2013. Các Nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo đã công khai phủ nhận đảng CSVN có quyền đương nhiên cai trị dân bằng độc tài, độc đảng để tiếp tục cướp đi tất cả mọi quyền tự do căn bản của con người Việt Nam. Các Ngài cũng chỉ trích sự kiện Bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi, ngay trong Lời Mở Đầu, đã cưỡng chế nhân dân Việt Nam phải đi theo cái gọi là “ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” mà thực chất là vô thần không tin có Tôn giáo. Bằng chứng là trong số 500 Đại biểu Quốc hội, hồ sơ cá nhân chỉ có một số “rất ít” người có Tôn giáo. Chữ “không” ghi trong mục Tôn giáo đã chiếm gần tuyệt đối trong hồ sơ ứng cử của họ. Quan điểm chính trị nghiêm khắc này đã được Hội đồng Giáo mục Việt Nam (HĐGMVN) viết trong Thư góp ý gửi cho Thường trực Ban biên tập - Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Thư góp ý của 26 Tổng Giám mục và Giám mục Giáo phận, mang hai chữ ký của Chủ tịch Hội đồng GMVN, Đức Tổng Giám mục Nguyên Văn Nhơn, Giáo phận Hà Nội và Đức cha Tổng thư ký Hòang Văn Đạt, Giáo phận Bắc Ninh. Các Giám mục viết: “Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận (điều 26), quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật (điều 43), quyền tự do tín nguỡng, tôn giáo (điều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” (điều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho nhân dân tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khả nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.” Khi nói về những hạn chế khe khắt “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” thì đảng CSVN đã chứng minh là “kẻ thù” của mọi Tôn giáo, ngọai trừ những ai chịu nghe theo và làm theo ý muốn của nhà nước trong các Tổ chức Tôn giáo do Nhà nước bảo hộ và có chân trong Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam. Bằng chứng này đã thể hiện trong Pháp lệnh Tín ngưỡng-Tôn giáo năm 2004 và gần nhất là Nghị định Số: 92/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành ngày 08/11/2012. Các nhà lãnh đạo Giáo hội có số giáo dân đứng thứ 2 ở Châu Á, sau Phi Luật Tân còn nói rằng : “Hiến pháp của một quốc gia trước hết và trên hết phải là của chính người dân, do ý thức trách nhiệm của người dân và để phục vụ mọi người dân, không loại trừ ai.” DÂN CÓ LÀM CHỦ KHÔNG ? Từ quan điểm này, các Giám mục Việt Nam nói thẳng: “Quyền bính chính trị cần thiết để điều hành xã hội, nhưng chủ thể của quyền bính chính trị phải là chính nhân dân xét như một toàn thể trong đất nước. Nhân dân trao việc thi hành quyền bính ấy cho những người có năng lực và tâm huyết mà họ bầu làm đại diện cho họ, bất kể người đó thuộc đảng phái chính trị hoặc không thuộc đảng phái nào. Chỉ khi đó mới có Nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân”. Vì thế việc tự do ứng cử của mỗi công dân là đòi hỏi tất yếu trong một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh. Ðồng thời việc bỏ phiếu công khai, khách quan và công bằng, là đòi hỏi cần thiết để người dân có được những đại diện mà họ tín nhiệm. Chính nhân dân có quyền đánh giá năng lực của những đại diện họ đã bầu, và khi cần, họ có quyền thay thế những đại diện đó.” Thực tế ở Việt Nam người dân chỉ “làm chủ đất nước trên giấy tờ” và “bằng nước bọt” bởi đảng Cộng sản Việt Nam đã cướp mất quyền ấy. Đảng tự cho mình cái quyền lãnh đạo độc tôn và độc đảng và ghi cả vào Điều 4, từ Hiến pháp 1980 “là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội.” Sau đó đến Hiến pháp 1992 thì viết lại “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” . Bây giờ trong Hiến pháp sửa đổi thì đảng vẫn giữ nguyên như thế mà không sao chứng minh được “ai đã bầu cho đảng được độc quyền lãnh đạo đất nước” ? Như vậy có “phản động và phản dân chủ” không ? Các cuộc được gọi là “bầu cử” ở Việt Nam Cộng sản từ Hội đồng nhân dân lên Quốc hội đều do đảng quyết định từ khâu chọn người đến tổ chức bầu cử. Người được chọn hầu hết là đảng viên, hay cảm tình viên hoặc được đảng chêm vào cho có mầu sắc đại diện nhiều tầng lớp nhân dân nên lá phiếu của người dân chỉ còn là hình thức “đảng cử dân bầu” để phục vụ cho quyền lợi của đảng và bảo vệ quyền tự phong lãnh đạo tòan diện cho đảng. Vì vậy, Hội đồng Giám mục đã thẳng thắn nói với đảng rằng : “Ðể tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, trong Hiến pháp không nên và không thể khẳng định cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phải chính trị nào (xem điều 4), vì chủ thể của quyền bính chính trị là chính nhân dân, và nhân dân trao quyền bính đó cho những người họ tín nhiệm qua việc bầu chọn. Những cá nhân được bầu phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc họ làm, chứ không thể là một tập thể mơ hồ rồi cuối cùng không ai chịu trách nhiệm cả.” Ngòai ra, các Giám mục cũng nói vào tai đảng rằng : “Hiến pháp hiện hành chỉ công nhận quyền sử dụng đất chứ không công nhận quyền sở hữu đất của công dân. Ðiều này đã gây ra nhiều lạm dụng và bất công nghiêm trọng. Vì thế, Hiến pháp mới cần công nhận quyền sở hữu đất đai của công dân và các tổ chức tư nhân như tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới…. …Quyền bính chính trị mà nhân dân trao cho nhà cầm quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ðể những quyền bính này được thi hành cách đứng đắn và hiệu quả, cần có sự độc lập chính đáng của mỗi bên và vì công ích của toàn xã hội. Trong thực tế của Việt Nam nhiều năm qua, đã không có được sự độc lập này, dẫn đến tình trạng lạm quyền và lộng quyền, gây ra nhiều bất công, suy thoái về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, đạo đức. Cuối cùng, người dân nghèo phải gánh chịu mọi hậu quả và Việt Nam, cho đến nay vẫn bị xem là một nước kém phát triển….” VỚT VÁT GIỜ CHÓT ? Nói tóm lại thì Giáo hội Công giáo Việt Nam đã “sổ toẹt” vào Hiến pháp duy trì quyền cai trị độc tài cho Đảng. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử 68 năm cầm quyền, đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã phải đối phó với “một cuộc chiến không vũ trang” của nhân dân, tuy chưa có sức mạnh lật đổ đảng CSVN nhưng sẽ có tác động mãnh liệt đến tinh thần của tập thể trên 8 triệu đảng viên và binh sỹ đang bị Lãnh đạo đảng lên án lâm vào tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” nghiêm trọng . Vì vậy, ngày 6/3 (2013), Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đã công bố quyết định gia hạn thời gian thu nhận ý kiến cho Dự thảo Hiến pháp đến ngày 30/9 (2013), sau đợt một kết thúc ngày 31/3/2013. Ông Hùng cho biết vẫn còn có nhiều khó khăn và trở ngại trong việc thu nhận góp ý của người dân, nhất là ở vùng xa và vùng cao. Thậm chí nhiều cán bộ, đảng viên và các đơn vị Quân đội ở nhiều nơi cũng chưa đóng góp ý kiến nhiều. Do đó các ngành và địa phương phải rà soát lại những bất cập này. Phải chăng điều này cho thấy người dân và nhiều cán bộ, đảng viên và cả binh lính cũng không mặn mà với việc góp ý vào Hiến pháp sửa đổi ? Ông Hùng cũng thừa nhận có tình trạng chống đảng trong nhân dân khi họ tham gia thảo luận và góp ý vào Hiến pháp 1992 sửa đổi. Ông nói : “Ở một vài địa phương cũng đã phát hiện có một số cá nhân lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để truyền bá những quan điểm sai trái, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.” Do đó, ông đã chỉ thị các cấp phải : “Cần kịp thời đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để truyền bá những quan điểm sai trái, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.” Tình trạng này xa gần liên hệ đến một quan điểm đáng chú ý của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang trong cuộc nói chuyện tại Câu Lạc Bộ Thăng Long của các Cựu Chiến Binh ngày 19/2/2013. Ông Sang đã có quan điểm “không có cùng lập trường” với Điều 70 của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi buộc Quân đội phải “tuyệt đối trung thành với Đảng” trên cả Tổ quốc và nhân dân. Ông nói : “Về vai trò của Đảng với quân đội. Tôi cho rằng Đảng ta lập ra quân là để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân chứ không phải là lập ra là bảo vệ, trung thành với Đảng, vì vậy quân đội phải trung thành, bảo vệ Tổ Quốc, nhân dân rồi mới đến Đảng, có như vậy mới đúng chứ. Nay vì theo tập quán, nhận thức vẫn chưa thực hiện được.” (Trích ghi chép của Đoàn Sự, Dân Luận) Như vậy thì có phải trong Đảng CSVN đang có tình trạng “trống đanh xuôi kèn thổi ngược” đối với Hiến pháp ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất không ? (03/013) Phạm Trần

 

Đảng Cộng Sản Việtnam quen thói mượn danh nghĩa nhân dân, cứ mỗi lần Đại Hội Đảng, là họ đều trình diễn màn ‘vận động toàn đảng, toàn quân, toàn dân’ góp ý kiến ‘xây dựng đảng’. Nhưng rồi ý kiến hay ho nào cũng đều bị liệng thùng rác hết. Đến lần buộc phải sửa đổi Hiến Pháp này, nhằm đáp ứng với tình thế mới, dù Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương đã quyết định không bỏ Điều 4 về quyền lãnh đạo tuyệt đối toàn trị của đảng Cộng Sản, và vẫn duy trì Điều Khoản, quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu” . Nhưng lại đã ra lệnh cho Quốc Hội làm trò hề, phát động Phong Trào Toàn Dân Góp Ý Sửa Hiến Pháp 1992, để một lần nữa đảng Việtcộng mượn danh nghĩa đại diện toàn dân, thực hiện mưu đồ toàn trị và hợp pháp hóa việc cướp đoạt tài sản quốc dân Việt Nam. Nhân đó, một nhóm Trí Thức Việtnam đưa ra kiến nghị với Quốc Hội, khởi đầu với 72 người đứng tên - đến nay, ngày 25/02/13, đã lên con số 5365 người ký tên – Theo nhóm Trí Thức này: “Hiến Pháp của một quốc gia do dân làm chủ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về toàn dân và được hình thành từ sự thỏa thuận giữa các thành phần đa dạng trong xã hội”. “Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 chưa thấu suốt bản chất của một Hiến Pháp Dân Chủ…”. Đúng, vì lời nói đầu của Bản Hiến Pháp 1992 chứng tỏ đây chỉ là ‘Cương Lĩnh’ của một đảng chính trị cầm quyền, bắt cả nước phải theo đuổi một chủ nghĩa không tưởng, chứ không phải là mục tiêu tạo ra Công Ước Quốc Gia Dân Chủ, bởi dân, do dân, vì dân, nhằm bảo vệ Quyền Làm Chủ thật sự của Công Dân, tạo môi trường cho toàn dân chung sức bảo vệ Chủ Quyền Độc Lập Dân Tộc và Toàn Vẹn Lãnh Thổ Tổ Quốc, Phát Huy nền Văn Hóa Viên Dung Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp, Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Tự Do, thực thi Công Bằng Nhân Ái và An Toàn Xã Hội…trong một thế giới Nhân Chủ Nhân Văn. Nhóm Trí Thức này thêm rằng: “Hiến Pháp phải mang tính chính đáng được đo bằng nhiều tiêu chí: Thứ Nhất, hiến pháp phải có mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền, kiến tạo tự do, dân chủ, công bằng, hạnh phúc, đồng thời đoàn kết toàn dân, loại bỏ mọi sự chia rẽ hay áp bức, hướng đến sự phát triển dân tộc. Thứ Hai, hiến pháp phải thể hiện ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân để lập ra các cơ quan nhà nước. Thứ Ba, hiến pháp phải được xây dựng theo các nguyên tắc pháp luật phổ biến của thế giới văn minh, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt nam đã tham gia. Nên nhóm 72 Trí Thức đã Kiến Nghị 7 điểm: 1- về Lời Nói Đầu. 2- về Quyền Con Người. 3- về Sở Hữu Đất Đai. 4- về Tổ Chức Nhà Nước. 5- về Lực Lượng Vũ Trang. 6- về Trưng Cầu Đân Ý. 7- về Thời Hạn Góp Ý. Đồng thời đưa ra bản DỰ THẢO HIẾN PHÁP 2013 gồm Lời Nói Đầu, với VII Chương, 81 Điều. Trong đó, tuy Lá Cờ Đỏ Sao Vàng đẫm máu người dân, và bàn Tiến Quân Ca man rợ khát máu “Thề phanh thây uống máu quân thù” vẫn còn là Quốc Kỳ và Quốc Ca. Nhưng dĩ nhiên Điều 4 Hiến Pháp và Điều Khoản về đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu, bị biến mất. Khiến cho Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư cộng đảng hoảng hồn, coi đó là “biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Đài truyền hình Việtnam tối 25/02/13, dẫn lời Nguyễn Phú Trọng phát biểu ở tỉnh Phú Thọ, rằng: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến, cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Trọng lớn tiếng đe dọa: “Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến Pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không? Muốn đa nguyên, đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có quan điểm đấy, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thế là suy thoái chứ còn gì nữa. Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký nộp đơn tập thể, thì nó là cái gì? Nên phải quan tâm xử lý những điều đó”. Chưa biết Nguyễn Phú Trọng và đảng Việtcộng xử lý ra sao với 72 nhà Trí Thức đã từng góp công sức ‘hãn mã’ cho đảng và chế độ, cùng gần Sáu Ngàn công dân ký vào bàn Kiến Nghị đây? Thực tế cho thấy, Nguyễn Phú Trọng đã sớm phá hỏng màn trình diễn góp ý sửa hiến pháp bịp bợm của đảng Việtcộng rồi. Nhưng dù sao, tòan dân trong, ngoài nước và cả thế giới đã thấy rõ nhu cầu Đa Nguyên Chính trị đã xuất hiện trong đời sống chính trị ở Việtnam. Gần Sáu Ngàn người đã bất chấp hiểm nguy ký tên vào bản Kiến Nghị, đưa ra Dự Thảo Hiến Pháp Dân Chủ, đòi bỏ Dự Thảo Hiến Pháp Độc Tài thì đúng là Đa Nguyên Chính Trị rồi, dù đây chỉ là một trò hề của Việtcộng, nhưng với những người ký tên vào Kiến Nghị thì lại là “lộng giả thành chân”. Khiến cho Người Dân không còn sợ Việtcộng nữa. Chưa biết nhóm 72 Trí Thức phản ứng ra sao về sự đe dọa của Nguyễn Phú Trọng? Riêng nhà báo Nguyễn Đắc Kiên phóng viên, biên tập viên trang mạng của báo Gia Đình và Xã Hội của lề phải, đã bị buộc phải thôi việc vì bài viết bộc trực, thẳng thừng phản đối lập luận của ông Nguyễn Phú Trọng về sự ‘suy thoái’. Nguyễn Đắc Kiên viết rằng: “Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách. Ông là Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ ‘suy thoái’ thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người là đảng vìên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước. Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4 Hiến Pháp, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việtnam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những ý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay…ông nói suy thoái về đạo đức. Tôi muốn hỏi ông, đạo đức của ông đang muốn nói là đạo đức nào? Đạo đức làm người? Đạo đức công dân? Đạo đức dân Tộc VN? Tôi đoán là ông đang muốn nói đến đạo đức người cộng sản của các ông… Thế ra những người không theo đảng cộng sản trên thế giới này là vô đạo đức hết à? … đi vào nội dung suy thoái chính trị, tư tưởng…chính trị, tư tưỏng ông đang muốn nói là chính trị tư tưởng nào? Có phải chính trị, tư tưởng của đảng cộng sản?... ông thử đọc lại Cương Lĩnh chính trị và Điều Lệ đảng của các ông ban hành xem. Không có điều nào nói xóa bỏ Điều 4 là suy thoái, muốn đa nguyên chính trị là suy thoái, muốn phi chính trị hoá quân đội là suy thoái, chỉ có tham ô, tham nhũng…đi ngược lại lợi ích của nhân dân là suy thoái…”. Nguyễn Đắc Kiên đòi tổ chức một Hội Nghị Lập Hiến để Hiến Pháp đó thể hiện ý chí của toàn dân Việtnam, chứ không chỉ kiến nghị sửa Hiến Pháp như 72 nhà Trí Thức. Vậy là thêm một Nguồn Tư Tưởng Chính Trị nữa của giới trẻ cùng xuất hiện tại Việtnam. LÝ ĐẠI NGUYÊN - Little Saigon ngày 26/02/2013.

 

Tôi không đọc cuốn “Bên thắng Cuộc” của tác giả, nhà báo Huy Đức nên không dám có ý kiến. Tôi chỉ đọc lời khen/tiếng chê trên các diễn đàn internet. Từ giữa Tháng 12/2012 đến nay, đã có khá nhiều lời khen/tiếng chê nhưng tôi chỉ chú ý đến phát biểu của một số người mà tôi biết rất rõ. Trong số này, phần lớn là những người đã một thời làm lính. Tôi tin là lính nói thật. Lính đúng nghĩa, chứ không phải “lính kiểng”. Những năm đầu của thập niên 1960, là thời điểm mà thế hệ của những người tôi sắp nói đến, một khi đã chấp nhận đời lính thì không được phép hoạt động chính trị. Trong ý nghĩa đó, lính trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ biết bảo vệ Tổ Quốc, không được phép phục vụ lợi ích của bất kỳ đảng phái nào. Họ chiến đấu vì lý tưởng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những gì họ phát biểu đều dựa vào Danh Dự của một người lính chuyên nghiệp, chỉ biết nói sự thật. Trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam , họ đã chiến đấu cho lý tưởng của họ, cũng là lý tưởng của quân đội và quyết bảo vệ danh dự của người lính cho đến khi không còn sức. Trước hoàn cảnh oan nghiệt của ngày 30-4-1975, một số người đã gục ngã, số còn lại, bằng cách này hay cách khác, đã bị bắt đi tù, sống như tù binh chứ không phải hàng binh như những đồn đãi lấy lòng Bên Thắng Cuộc. Tôi chỉ muốn nhắc đến sự thật này, và nhân tiện đây, muốn nêu một câu hỏi: Những ai thuộc Bên Thắng Cuộc? Tôi xin nhấn mạnh đến “những ai” vì biết chắc rằng, cộng sản Hanoi không thể đơn độc thuộc về Bên Thắng Cuộc được. Trước khi bàn đến “Những ai thuộc Bên Thắng Cuộc?”, tôi nghĩ đến những chiến binh đã phát biểu liên quan đến những sự kiện được mô tả trong “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” Là câu thơ trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, có lẽ chỉ đúng cho một số trường hợp. Nhưng cho dù trong trường hợp nào cũng chẳng ai chê trách cái “hèn” của những người bị “sa cơ lỡ vận”. Trong cuộc chiến vừa qua có nhiều người đã chọn cái chết, trước khi hoặc sau khi bị “sa cơ”. Có nhiều người không phải là “hùm thiêng”, bị “sa cơ” mà vẫn không “hèn” sau “Tháng Tư Nghiệt Ngã”. Cả hai trường hợp, đều rất đáng khâm phục. Trong trường hợp thứ hai, đã có nhiều chiến binh trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị “sa cơ” mà vẫn không “hèn” và đã được nhiều người nhắc đến. Trong số những chiến binh ấy, qua phát biểu của họ, tôi biết có liên quan đến những sự kiện được diễn tả trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, nhưng tác giả đã không nhắc đến. Dĩ nhiên, những thiếu sót của một nhà báo là chuyện không thể tránh, không đáng trách nếu vô tình. Nhưng dù thế nào, bài báo sẽ giảm giá trị. Ở đây, tôi chỉ nhắc đến lý do tại sao anh Lê Quang Liễn lại được chú ý hơn những người khác có cùng hoàn cảnh như anh. Trước hết, tôi xin tóm tắt vài sự kiện theo sự hiểu biết của mình: Anh Phạm Cang, anh Phạm Văn Tiền và anh Nguyễn Văn Sử đã bị bắt ở cửa biển Thuận An cùng với anh Lê Quang Liễn. Đơn vị của các anh đã chiến đấu trong tuyệt vọng, không được tiếp tế lương thực, đạn dược. Hoàn cảnh này đã được mô tả trong nhiều tài liệu, sách báo trước đây. Có một điều chắc chắn là các đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến tham gia mật trận này đều bị bắt làm tù binh chứ không phải hàng binh như ông Huy Đức đã viết. Anh Nguyễn Văn Nghiêm và anh Nguyễn Trọng Nhi thuộc Tiểu Đoàn 12 Nhảy Dù đã làm chủ tình hình - nơi có chiếc cầu nối liền đường Phan Thanh Giản- Saigon đến Xa Lộ Biên Hòa - cho đến giờ phút khi các anh nghe lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Tại đây, cả hai anh đều nắm rất vững tình hình lúc bấy giờ, không hề có một đơn vị nào của Việt Cộng xuất hiện, thì làm gì có chuyện VC bảo vệ chiếc cầu như Huy Đức đã viết. Anh Phạm Văn Hồng biết rất rõ người Mỹ, Gerald Kosh, một trung uý của Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh đã cùng đi trong chiếc Ford Falcon với anh đến bến cảng Đà Nẵng, rồi cùng xuống chiếc Tuần Dương Hạm HQ16 với nhiều quân nhân khác đến quần đảo Hoàng Sa. Tại đây anh Phạm Văn Hồng đã bị giặc Tàu bắt làm tù binh cùng với nhiều chiến binh khác. Trong một cuộc phỏng vấn với ông Huy Phương trên đài SBTN, anh Hồng đã tiết lộ khá nhiều chi tiết thú vị. Ông Huy Đức chẳng biết gì về chuyện này cả, nên đã diễn tả sai lệch trong cuốn sách của ông. Anh Vương Mộng Long thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân - đã được nhắc đến trong cuốn e-book Comrades In Arms, tác giả là một cựu chiến binh Mỹ đã từng tham dự cuộc chiến Việt Nam, tiến sĩ Roger Canfield - liên quan đến mặt trận Long Khánh vào những ngày sau cùng của cuộc chiến, tức những ngày sau cùng trong “chiến dịch Hồ Chí Minh” là một trong 4 chiến dịch đánh chiếm miền Nam của Việt Cộng. Trong suốt trận này, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long là đơn vị trấn giữ cổng Tòa Hành Chánh và sân bay Long Khánh. Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã đánh tan một trung đoàn Cộng Sản, và bắn cháy gần hết số chiến xa VC đi theo yểm trợ đơn vị này khi chúng tiến sát vòng đai hướng đông của tòa hành chánh tỉnh. Chính Thượng Tướng VC Hoàng Cầm đã phải thú nhận thảm bại này trong hồi ức "Chặng Đường Mười Nghìn Ngày" của y. Huy Đức đã sai lầm khi trích dẫn lời Chủ Tịch Nước Lê Đức Anh huênh hoang rằng, "Quân VC đã cắm cờ trên nóc Tòa Tỉnh Long Khánh". Trường hợp Lê Quang Liễn Riêng trường hợp của anh Lê Quang Liễn đã bị ông Huy Đức khai thác kỹ hơn, nhưng những gì ghi trong sách “Bên Thắng Cuộc” của ông, nhiều bạn cho biết, hoàn toàn bịa đặt. Sự thật như thế nào? -Trong một cuộc phỏng vấn với ông Dương Phục trên đài Saigon Houston 900AM, anh Liễn đã cho biết, ở trang 52 của cuốn sách nêu trên, dưới tựa đề “Ngụy Quân”, ông Huy Đức đã dựa vào một bài báo của Phan Xuân Huy viết cho tờ Tin Sáng của Ngô Công Đức, là tờ báo thuộc thành phần “thiên Cộng” ở miền Nam trước đây, để hạ nhục binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hạ nhục cá nhân anh. Sau 40 năm anh mới biết chuyện này. Anh Liễn cho biết, tất cả chỉ là điều tưởng tượng được gọt dũa cho phù hợp với nghị quyết 36. Ông Huy Đức đã xin lỗi anh Liễn trên facebook, đồng thời đã hứa là sẽ sửa chữa và lùi lại ngày phát hành cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của ông. Anh Liễn đã ghi nhận và lưu lại làm bằng chứng. Tôi nghĩ, còn rất nhiều người khác nữa là những nhân chứng của nhiều trận đánh hoặc các biến cố xã hội trước khi có lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh, đã được mô tả trong “Bên thắng Cuộc”, nhưng tác giả Huy Đức đã không hề biết đến sự thật. Chỉ riêng trường hợp của anh Lê Quang Liễn được nhắc đến khá chi tiết nhưng cũng sai sự thật như vừa nêu trên. Tại sao vậy? -Lẽ dễ hiểu, khi tác giả Huy Đức từ Bắc vào Nam, ông chỉ “vồ” được một bài báo “nịnh Việt Cộng” của nhà báo Phan Xuân Huy, con rể của ông Dương Văn Minh, viết láo lếu về đơn vị và cá nhân anh Lê Quang Liễn nhằm “nâng bi” Việt Cộng. Còn những trường hợp khác, đã không có nhà báo miền Nam nào đề cập đến, cho nên ông Huy Đức đã không có cơ hội “vồ” được, thì lấy gì để viết. Chuyện đơn giản chỉ có thế! Tình “Huynh Đệ Chi Binh” Về trường hợp của ông Dương Văn Minh, nhiều người gọi ông là “hèn tướng”, “đần”, “nhiều lần cờ đến tay không biết phất”, nhưng dù có hèn cũng không đáng chê trách vì như trên đã nói, ông là người đã nhiều lần bị “sa cơ lỡ vận” có lẽ cũng tại “đần”. Và vì đã một thời “khoác chiến y”, bây giờ đối với “cách mạng” ông là người “có tội”, nên phải hèn, nhưng ông không bị đi tù như các thuộc cấp của ông. Nếu có đáng chê trách chăng, thì chỉ đáng chê trách khi ông hèn đến độ không dám mở miệng, trong lúc ông có thể yêu cầu Bên Thắng Cuộc “nương tay” đối với các chiến binh đã một thời làm việc dưới quyền ông. Lời yêu cầu có thể chẳng đi tới đâu nhưng thể hiện được tình “huynh đệ chi binh”, một thứ tình thiêng liêng trong quân ngũ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh Lê Quang Liễn đã thể hiện được thứ tình thiêng liêng này khi anh đem xác người em ruột - trong lúc cùng đoàn người dân di tản ra khỏi vùng đất đang giao chiến, đã bị một viên đạn vô tình gây tử thương - lên một chuyến tàu để chuyển về Saigon. Nhưng không xong, lúc ấy con tàu bắt buộc phải lùi xa bờ để tránh những làn mưa đạn pháo của địch. Anh Liễn còn kẹt trên tàu nhưng quyết định nhảy xuống nước, bơi vào bờ, trở lại đơn vị để cùng chịu chung số phận “bị bắt” ở cửa biển Thuận An với đồng đội của mình. Một hành động như thế vào những ngày cuối cuộc chiến, hầu như không ai làm được. Về chuyện này, tờ Thời Báo Houston số 321 phát hành ngày 4 tháng 1 năm 2013 đã mô tả chi tiết hơn, như sau: (xin trích nguyên văn) “Một số thường dân chạy theo lính đã trúng đạn chết, trong đó có sinh viên Lê Quang Thể 19 tuổi là em ruột ông Liễn. Sáng hôm sau, một quân vận đĩnh LCM vào gần bờ đón thương binh, TĐ trưởng Cang phân nhiệm cho TĐ phó Liễn hướng dẫn anh em đưa thương binh và tử sĩ của đơn vị xuống tàu tản thương. Dưới trận mưa pháo dày đặc của địch, tàu kéo cửa và lùi ra khơi trong khi Liễn còn kẹt trên tàu, chưa kịp mang xác em trai mình lên. Để thoát nạn, ông Liễn chỉ việc ở lại trên quân vận đĩnh với đồng đội bị thương, nhưng tiểu đoàn phó đã quyết định nhảy xuống nước, lội vào bờ, để tiếp tục chiến đấu với đồng đội. Trên đường vừa đánh vừa rút xuôi Nam về phía cửa Tư Hiền, quân nhân TQLC lần lượt bị bắt sau khi hết đạn, không có chuyện đầu hàng như Phan Xuân Huy dựng đứng. Ngoài ra, khi nói lính TQLC “đã bị tên tướng ngụy Bùi Thế Lân bỏ kẹt tại cửa Thuận An”, Phan Xuân Huy tự chứng tỏ mình không có cả khái niệm sơ cấp nhất về hệ thống quân giai: các đơn vị TQLC triệt thoái không thành công khỏi cửa Thuận An là những người lính thuộc quyền của trung tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế.” Nhà báo Phan Xuân Huy không phải là người “sa cơ”, ông là người “thời cơ”, ông không phải là người Bên Thua Cuộc, thế mà ông vẫn hèn. Ông viết báo để nịnh “cách mạng”, nói đúng hơn là nịnh Việt Cộng, bẻ cong ngòi bút, thay trắng đổi đen. Dưới ngòi bút của ông, trại tù đã biến thành trại hè, tù nhân đã biến thành người đi nghỉ hè. Thật hết sức lố bịch! Cách biến hóa rất độc đáo này của một nhà báo “thời cơ”, thật rất đáng khinh bỉ! Nhà báo Huy Đức đã đưa sự kiện độc đáo này vào tác phẩm “Bên Thắng Cuộc” của mình và sau đó đã xin lỗi, như vừa nêu ở trên. Một phê phán khác Ngoài những phê phán có chứng cớ rất hiển nhiên của các chiến binh như tôi vừa nêu trên, cũng còn một phê phán khác đáng chú ý. Cho đến nay thì mọi người đã biết rõ “Bên Thắng Cuộc” là cuốn sách mà nếu nói về hình thức thì không phải là hồi ký, bút ký, tạp chí, tiểu thuyết hay truyện ngắn, và chắc chắn không phải là cuốn sử ký. Theo blog BS Ngọc cho rằng, đây chỉ là cuốn sách nói về “hậu trường chính trị của chế độ Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội, hay cộng sản”. Tôi nghĩ, ý kiến này chính xác. BS Ngọc cho biết thêm: “Huy Đức không phải là người đầu tiên ghi lại những biến cố đau thương sau 1975. Trước Huy Đức đã có cụ Nguyễn Hiến Lê viết lại cẩn thận những sự kiện và biến cố làm cho miền Nam suy sụp sau ngày ‘giải phóng’ trong tập Hồi Ký nổi tiếng nhưng bị nhà xuất bản cắt xén khá nhiều.” BS Ngọc đã trích nhiều đoạn quan trọng trong tập Hồi Ký này để cống hiến bạn đọc và cho biết Huy Đức chỉ là người “cho chúng ta chứng từ để giải thích cho những nhận xét của cụ Nguyễn Hiến Lê”. Những trích đoạn được ghi nhận dưới các tiểu đề như: Kẻ “thắng trận” muốn biến miền Nam nghèo như miền Bắc.- Trong cùng lúc ra tay hành hạ dân miền Nam.- Trong khi đó bản thân những kẻ “thắng cuộc” thì ăn hối lộ và tham nhũng.- Họ tạo nên một xã hội trong đó con người mất hết nhân phẩm.- Tình trạng phân chia Nam Bắc càng nặng; bởi vì một trong những nguyên nhân là: người miền Bắc coi người miền Nam là ngụy… Như vậy, nếu nói riêng về thực trạng xã hội miền Nam sau ngày 30-4-1975, Huy Đức viết trong “Bên thắng Cuộc” chẳng có gì mới mẻ, và thiếu sót quá nhiều nếu so sánh với Hồi Ký của cụ Nguyễn Hiến Lê. Những ai ra đi khỏi nước trước ngày 30-4-1975, nhất là những người dân miền Bắc và những ai được sinh ra sau ngày này, thì lầm tưởng rằng những gì Huy Đức viết là những điều “trung thực” về thực trạng miền Nam sau ngày “giải phóng”. Nhưng thực ra Huy Đức chỉ nói được một phần nhỏ sự thật. Còn nhiều dữ kiện đã viết sai sự thật, hoặc chỉ đúng với những bài báo “nịnh” chế độ sau khi VC chiếm được Saigon, chưa kể đến rất nhiều điều quan trọng không được nhắc đến. Những ai còn kẹt lại ở miền Nam sau ngày 30-4 và càng kẹt lâu thì càng thấy rõ những gì Huy Đức viết sai hoặc thiếu sót, sau khi đọc Hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê. Cụ đã cho thấy đảng cộng sản, người Bên Thắng Cuộc đã “đần độn” đưa đất nước xuống vực thẳm sau ngày “giải phóng”. Còn những chuyện: “đằng sau hậu trường chính trị” do Huy Đức phỏng vấn các cán bộ Việt Cộng hoặc những người liên can với cán bộ, thì liệu có tin được không? Những ai thuộc “Bên Thắng Cuộc”? Phải xác định ngay: Đảng Cộng Sản Tàu và Đảng Cộng Sản Việt Nam là những người Bên Thắng Cuộc. Còn toàn Dân Việt Nam là những người Bên Thua Cuộc và đã thua đậm trong cuộc chiến kéo dài suốt 20 năm. Cuộc chiến vừa chấm dứt vào ngày 30-4-1975 thì lại rơi ngay vào các cuộc chiến khác, đưa đến hậu quả là toàn dân đã thua lại càng thua, vì mất mạng sống, mất đất, mất biển, mất hải đảo. Hậu quả ấy vẫn chưa hết, hiện nay, mặt trận Biển Đông vẫn còn đang nóng bỏng, toàn dân vẫn còn đang tiếp tục bị thua trên mặt trận này, chưa biết đến bao giờ mới hết thua và đang làm nhức nhối những con tim yêu nước. Nhiều bạn cho biết, câu nói của Nguyễn Duy: “Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh Bên nào thắng thì nhân dân đều bại” đã tổng quát hóa ý nghĩa “Bên Thua Cuộc”. Kể từ khi loài người xuất hiện trên mặt địa cầu, không biết có bao nhiêu cuộc chiến lớn/nhỏ đã xảy ra ở khắp mọi nơi. Nhưng sau mỗi cuộc chiến, ít ai để ý đến ý niệm Thắng/Thua dai dẳng như sau cuộc chiến Việt-Nam. Đặc biệt, cuộc chiến Nam-Bắc nước Mỹ (American Civil War) kéo dài 4 năm, làm chết hàng triệu người; thế mà khi buông súng đầu hàng, bên thua cuộc lại được đón tiếp trọng thể và được vinh danh nhiều hơn bên thắng cuộc, đã là nguyên nhân của sự “hòa giải” và “hòa hợp” giữa hai bên, thật sự đã đưa đến thành công lớn trong việc xây dựng nước Mỹ, mặc dầu là một nước đa chủng tộc, đa văn hóa. Đó là nhờ tính quảng đại của Bên Thắng Cuộc đã giúp toàn dân cùng đứng về Bên Thắng Cuộc. Không ai mong đợi tính quảng đại từ phía cộng sản Hanoi , chỉ hy vọng là họ sẽ không trả thù Bên Thua Cuộc. Nhưng rốt cuộc, như mọi người đã thấy, hy vọng đã trở thành thất vọng. Bên Thắng Cuộc không những chỉ trả thù người còn sống mà cả những xác chết Bên Thua Cuộc. Vì thế, sau cuộc chiến Việt Nam, mặc dầu cùng chủng tộc, cùng văn hóa, đã 38 năm không còn nghe tiếng súng trên quê hương nhưng ý niệm về thắng/thua vẫn còn nguyên vẹn. Đó chính là nguyên nhân của sự chia rẽ, càng ngày càng trở nên trầm trọng. Chỉ vì người bên thắng cuộc đã quá tự đắc, kiêu ngạo, tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ” nhưng u tối đến nỗi không tìm thấy nguyên nhân căn bản gây ra sự chia rẽ. Hoặc có thể thấy, nhưng đó không phải là cứu cánh của Bên Thắng Cuộc, mà nếu như thế thì lại càng u tối hơn nữa. Nhiều dữ kiện lịch sử đã chứng minh, sau cuộc chiến Việt Nam, Giặc Tàu có lợi nhiều nhất vì một phần đất quan trọng phía Bắc, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông đã từ lâu thuộc chủ quyền của Việt Nam thì nay thuộc về nước Tàu. Kế đến là Đảng Cộng Sản Việt Nam có lợi vì giành được toàn bộ Quyền Tư Hữu và Quyền Lãnh Đạo đất nước dưới sự bảo trợ của giặc Tàu. Toàn Dân Việt Nam thua vì mất Quyền Tư Hữu, mất Nhân Quyền và mất Quyền Yêu Nước, tất cả những quyền ấy đã thuộc về tay Đảng Cộng Sản Việt Nam . Tổ Quốc Việt Nam thua vì mất đất, mất biển, mất hải đảo, cơ đồ do tiền nhân gây dựng lâu đời thì nay đã thuộc về tay giặc Tàu. Tuy chính quyền Mỹ có tham dự một phần vào Bên Thắng Cuộc, sau cuộc chiến Việt Nam họ đã đánh sập được đối thủ Liên-Sô và các nước CS Đông Âu, nhưng không ai lên án Mỹ, mà chỉ trách chính sách ngoại giao không đồng nhất của họ đã bỏ rơi đồng minh trong cuộc chiến giữa lúc quân/dân miền Nam đang trên đà chiến thắng. Ông Ted Gunderson, cựu nhân viên đặc nhiệm ở Los Angeles và Washington DC đã nói gì về việc Cộng Sản Hanoi đầu hàng Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa vào đầu năm 1973, nhưng ngay sau đó, chiến lược của Mỹ đã thay đổi như thế nào? Xin quý vị đem link dưới đây vào Google search để nghe họ nói gì: http://www.youtube.com/watch?v=hwvXyzo7MjM Những nhà báo viết theo “lề phải” tức những nhà báo Bên Thắng Cuộc thì chắc chắn không biết chuyện ông Ted Gunderson, vì họ không cần biết hoặc không được phép biết. Mọi người lên án giặc Tàu vì ý đồ xâm lăng Việt Nam đã được nuôi dưỡng từ khi Mao Trạch Đông cầm quyền ở Hoa Lục, cho đến năm 1974 là thời điểm thuận lợi tiến chiếm Việt Nam. Mỹ và giặc Tàu đều hành động vì quyền lợi tối cao của quốc gia họ là chuyện đương nhiên. Thế còn Đảng Cộng Sản Việt Nam hành động theo quyền lợi của ai? Ngay từ buổi bình minh của cuộc chiến, nếu không có sự giúp sức của Nga, Tàu và ngay cả Mỹ sau này, thì liệu Đảng CSVN có thuộc về Bên Thắng Cuộc được không? Đó mới là điều cần biết rõ để rút kinh nghiệm cho thế hệ sau (hoặc ít ra là muốn nghe lời bình luận thẳng thắn) hơn là những thứ lẩm cẩm “đằng sau hậu trường chính trị của chế độ cộng sản”. Chắc quý vị đều đồng ý rằng, bất cứ cuộc chiến nào rồi cũng đến hồi kết thúc và có một Bên Thắng Cuộc. Hiện nay, trong cùng một lúc, toàn dân Việt Nam đang phải đương đầu với hai cuộc chiến cực kỳ khó khăn: -Cuộc chiến chống chế độ Mafia trong nước; và -Cuộc chiến chống giặc ngoại xâm đến từ phương Bắc. Điều mong đợi, sau khi hai cuộc chiến này đến hồi kết thúc, toàn dân ta sẽ cùng đứng chung trong một Bên Thắng Cuộc. Thế nhưng, ngay bây giờ phải bắt đầu bằng cách nào? Võ Phương Tháng 2-2013

 

Trong tâm thức của người Việt, mùa xuân được coi là mùa của sự khởi đầu, của sự phát triển, sự hồi sinh của cuộc sống mới và một chu kỳ sống mới lại bắt đầu. Mặc dù mùa đông ở Việt Nam không quá lạnh giá và khắc nghiệt như ở một số nước ở hai đầu địa cực nhưng mùa đông cũng được xem là mùa sự kết thúc, của u buồn bởi sự sống của muôn vật dường như ngưng trệ trong chu kỳ này của thời gian. Chính vì vậy mà người Việt chúng ta tổ chức lễ đón mừng năm mới vào Tiết Nguyên Đán, mà dần dà bị biến âm thành Tết Nguyên Đán hay Tết, là lễ chào đón tân niên và bắt đầu cho một mùa lễ hội mới: Mùa Xuân. Cũng bởi tâm thức này mà ngay khi vừa giành được độc lập ngắn ngủi, thoát khỏi ách thống trị của Nhà Lương là Lương Vũ Đế vào tháng 2 năm 544, Lý Bí đã xưng là Lý Nam Đế và đặt quốc hiệu là Vạn Xuân với ước vọng đất nước chúng ta trường tồn mãi mãi. Tất nhiên sự trường tồn của đất nước, của dân tộc không chỉ là ước vọng riêng của vị Hoàng đế khai sáng nhà tiền Lý, mà đó cũng là ước vọng của toàn dân Việt. Cũng bởi ước vọng đó về một đất nước Vạn Xuân, mà bao thế hệ cha ông chúng ta đã không tiếc máu xương, đã ngã xuống vì nền độc lập, vì sự trường tồn của nòi giống. Lịch sử Việt tộc đã gắn liền với nhiều mùa xuân với những chiến công oanh liệt hào hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong tinh thần ôn cố tri tân, vào dịp xuân về này, chúng ta hãy điểm lại những mùa xuân, cả hào hùng cả bi thương của dân tộc, để chúng ta, những người Việt xa xứ và cả các thế hệ cháu con của chúng ta nữa sẽ không quên được bởi ai, do đâu và tại sao chúng ta phải có mặt ở nơi này. Để chúng ta có thể đoán định về một tương lai cho mình, cho đất nước, cho dân tộc. Để chúng ta có thể hy vọng cho một mùa xuân hào hùng mới nữa của lịch sử dân tộc, đang đến, sẽ đến, để chúng ta, những người Việt xa xứ, sẽ không còn phải sống đời lưu vong rồi phải gửi lại nắm xương tàn nơi xứ lạ, và đồng bào của chúng ta ở quốc nội cũng sẽ không còn sống đời lầm than, đói nghèo, tủi nhục và nhược hèn dưới ách thống trị của bạo quyền CS. Trước tiên là những mùa xuân hào hùng của dân tộc: Có lẽ mùa xuân hào hùng đầu tiên của Việt tộc là mùa xuân năm Đinh Tỵ 1077 với chiến thắng trên sông Như Nguyệt, Bắc Ninh khi Lý Thường Kiệt đánh bại đại quân xâm lược của nhà Tống là Tống Chiêu Ninh do Chiêu thảo sứ Quách Quỳ và Triệu Tiết thống lĩnh, diễn ra từ ngày 18 tháng 1 đến đầu tháng 2 năm 1077. Với chiến thắng này, quân dân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy, đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến phạt Tống, bình Chiêm lần thứ II từ 1075 đến1077. Mùa xuân năm Mậu Ngọ 1258 diễn ra cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ I, trong đó nhân dân làng Xối Đông xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Hà đã tổ chức ba đồn binh cùng với một cánh quân của Nhà Trần, đã đánh tan một đạo quân của Ô Mã Nhi ở cầu Vô Tình, khi chúng sang sông cướp phá, rồi tiếp theo là cuộc phản công bằng trận Đông Bộ Đầu ngày 29-01-1258, đập tan âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông. Mùa xuân năm Ất Dậu 1285 diễn ra trận phòng ngự ở Vạn Kiếp vào tháng 2 năm 1285 do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh thắng quân Nguyên-Mông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ II. Mùa xuân năm Mậu Tý 1288, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông cùng quân dân Đại Việt đã tiêu diệt hơn 4 vạn quân Nguyên-Mông do Thoát Hoan, Toa Đô và Ô Mã Nhi thống lĩnh, trên đường rút chạy. Quân Đại Việt đã bắt sống nhiều tướng Nguyên trong đó có cả Ô Mã Nhi, Phạm Nhàn lẫn Phàn Tiếp và dâng lên Thượng hoàng Thánh Tông. Ngoài ra, quân dân Đại Việt cũng đã tịch thu hơn 400 chiến thuyền. Đây là chiến thắng Bạch Đằng lần 2 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần III từ 1287 đến 1288. Mùa xuân năm Ất Tỵ 1785 với chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút vào ngày 20-01-1785, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ cùng quân dân Tây Sơn đã đập tan âm mưu can thiệp của phong kiến Xiêm La, mở đầu cho các chiến dịch bình định nước nhà, kết thúc cuộc chiến Nam-Bắc phân tranh của Trịnh Nguyễn kéo dài ngót 100 năm, đã gây ra muôn vàn đau thương mất mát cho nhân dân cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Mùa xuân Kỷ Dậu 1789, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ cùng mười vạn binh và 100 voi trận đã đánh tan tành 20 vạn quân Mãn Thanh xâm lược ra khỏi bờ cõi, thống nhất nước nhà sau hơn 100 năm loạn lạc chia cắt do sự phân tranh của Trịnh–Nguyễn. Và những mùa xuân bi thương trong lịch sử của dân tộc… Từ mùa xuân Canh Ngọ 1930 lịch sử Việt tộc bắt đầu đi vào những trang đen tối, dân Việt lại trở về kiếp đói rách, lầm than của đêm trường nô lệ sau khi đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 03-02-1930 mà bắt đầu là nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử của dân tộc vào mùa xuân năm Ất Dậu 1945 với hơn 2 triệu đồng bào đã chết đói… Họ chết, chết dần chết mòn kéo dài tận tháng 3 năm đó, trên khắp các tỉnh thành của miền Bắc. Hai triệu người chết đói trong một mùa xuân của dân tộc báo hiệu cho một thời kỳ bi thương, tối tăm và chết chóc dường như vô tận, báo hiệu cho một nguy cơ bị đồng hóa, bị diệt vong của giống nòi, báo hiệu cho một đại họa mất nước… Nếu người dân Việt cứ tiếp tục nhu nhược úy kỵ, cứ tiếp tục khom lưng cúi đầu cho bọn Cộng sản cưỡi cổ, đè đầu, tiếp tục cho đảng Cộng sản nắm quyền cai trị đất nước. Bởi sau mùa xuân Canh Ngọ 1930, sau mùa xuân Ất Dậu 1945 với hơn 2 triệu người đã chết đói đó, thì đảng và nhà nước CSVN còn ghi thêm vào sử Việt nhiều mùa xuân đau thương và tang tóc nữa. Mà khởi điểm có thể là từ mùa xuân năm 1949 khi đảng và và nước CSVN tiến hành công cuộc Cải cách Ruộng đất kéo dài suốt 7 năm cho đến cuối năm 1956, trải qua 5 giai đoạn, đánh dấu bằng những sắc lệnh, ban đầu nhẹ nhàng và mị dân, tiến dần đến sắt máu và triệt để với Sắc luật về Cải cách Ruộng đất do Hồ Chí Minh ban hành ngày 14-06-1955, cho phép nhà nước tịch thu toàn bộ tài sản của những “tên Thực dân, địa chủ gian ác, cường hào ác bá, Việt gian phản động”, truất hữu đất đai của các tôn giáo, gọi là để phân chia lại cho nông dân không đất, gia đình thương binh, chiến sĩ, liệt sĩ. “Thành tích lớn lao” của công cuộc Cải cách Ruộng đất và đấu tố địa chủ được báo cáo chính thức cho chính phủ HCM là tổng cộng chiến dịch, đảng và nhà nước đã tịch thu của địa chủ, phú nông 31.110 tấn thóc, 810.000 hecta ruộng, 106.448 trâu bò, 1.846.000 nông cụ, 148.565 ngôi nhà với 172. 008 nông dân bị quy là địa chủ và 15.000 người trong số đó đã bị hành quyết tại chỗ, số còn lại bị đưa đi cải tạo và hãm cho chết đói dần dần… Thế nhưng chính việc quy định thành phần xã hội, phân chia tài sản cách bất công và với thâm ý tước đoạt quyền tư hữu đất đai đã gây nên bao cảnh giết chóc cùng đổ vỡ. Và rồi những kẻ được phân chia ruộng đất sau đó phải trả lại tất cả cho nhà nước qua Hợp tác xã. Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lẽ không biến cố nào đau thương bằng sự kiện ấy: Đau thương vì đó là cuộc đảo lộn xã hội nông thôn Việt Nam một cách toàn diện từ kinh tế, văn hóa đến luân lý do một chủ trương cải tạo nông nghiệp vô cùng tàn nhẫn và phi nhân. Vì đó là cuộc tàn sát trực tiếp lẫn gián tiếp xấp xỉ nửa triệu nông dân chỉ trong thời gian ngắn mà không cần phải sử dụng đạn bom hay bất cứ một loại vũ khi chiến tranh nào. Kết quả mà đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đạt được từ mùa xuân Kỷ Sửu 1949 này là sự suy sụp nông nghiệp, tan hoang làng xóm, đổ vỡ tình người, băng hoại đạo đức, một ách nô lệ mới được khoác lên toàn thể nhân dân miền Bắc: Nô lệ Cộng sản. Đến tận hôm nay, nhà cầm quyền CS vẫn tiếp tục tước đoạt quyền tư hữu đất đai của người dân, và các tòa án nhân dân vẫn tiếp tục là công cụ mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam dùng để bịt miệng, trói tay, giam thân những ai muốn đòi công lý và sự thật. Cho nên việc chúng ta nhìn lại cuộc Cải cách Ruộng đất là một kiểu ôn cố tri tân trên tinh thần mọi người dân Việt cần phải biết sử Việt để có thể làm lại lịch sử cho dân tộc. Mùa xuân bi thương tiếp theo mà đảng CS mang lại cho đồng bào VN là mùa Xuân Mậu Thân 1968 . Ngay vào thời điểm Giao thừa, tức là thời khắc thiêng liêng nhất trong năm, khi toàn dân đang hân hoan tiễn đưa năm cũ và đón mừng năm mới, tức là vào đêm 30 rạng ngày 31-01-1968, cộng quân Bắc Việt đã đồng loạt nổ súng tấn công vào tất cả các đô thị miền Nam, mang đau thương, chết chóc cho hàng trăm ngàn dân lành và binh lính của cả hai miền Nam Bắc ngay giữa những ngày đầu xuân tưởng như thanh bình và an lạc với hiệp ước hưu chiến cho nhân dân hai miền Nam-Bắc được vui xuân đón tết. Thương đau hơn cả là 7.000 dân lành ở Cố đô Huế bị giết chết một cách vô cùng oan nghiệt bằng hình thức đập đầu và chôn sống. Tội ác lại kéo theo tội ác, khi những nấm mồ của các nạn nhân CS Bắc Việt ở Huế trong vụ thảm sát Xuân Mậu Thân 1968 vừa được cải táng chưa xanh cỏ, thì đảng và nhà nước CS Bắc Việt lại tiếp tục mang đến cho đồng bào vùng tuyến đầu lửa đạn thêm một mùa xuân đau thương nữa, đó là mùa xuân năm Nhâm Tý 1972: cộng quân bắc Việt đã vi phạm Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954 đối với “Vùng phi quân sự”: Cộng quân bắc Việt đã xua quân tràn qua sông Bến Hải, tấn công, cưỡng chiếm thị xã Đông Hà, rồi tiếp tục tấn công chiếm cổ thành Quảng Trị với một chiến dịch quân sự kéo dài từ 30-03-1972 cho đến 31-01-1973 gây đổ nát hoàn toàn tỉnh Quảng Trị khiến sau khi tiếng súng tạm yên thì công việc thu lượm xác chết phải kéo dài 7 tháng trời mới kết thúc. Xin mọi người hãy dừng lại trong phút chốc để tưởng niệm các đồng bào ruột thịt cùng các chiến sỹ của QLVN CH vì bảo vệ tự do cho miền Nam mà đã đền nợ nước trong mùa xuân bi thương năm Nhâm Tý 1972 đó, và xin quý vị hãy tưởng tượng xem bao chục ngàn đồng bào của chúng ta đã ngã xuống, để rồi công việc thu gom xác chết, do báo Sóng Thần đảm nhiệm, đã phải mất hơn nửa năm trời mới hoàn tất. Đây cũng là công việc để nhắc nhớ chúng ta về tội ác mà đảng và nhà nước CSVN đã mang đến cho dân tộc, cho đất nước vốn đã quá đau thương tang tóc vì chiến cuộc này. Nhưng đã hết đâu! Chỉ sau đó đúng hai mùa xuân, thì cộng quân Bắc Việt với bom mìn, với xe tăng, với đại pháo của Nga Sô và Trung cộng, đã ồ ạt tiến quân đánh chiếm miền Nam vào mùa xuân Ất Mão 1975 , bức tử một chính phủ hợp hiến, hợp pháp có lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, xóa bỏ một chính thể Cộng hòa đã tồn tại 20 năm trên trường quốc tế và đã mang đến cảnh chết chóc tang thương cho hàng triệu đồng bào miền Nam cùng những chiến sỹ là con em của dân Nam đang cầm súng chiến đấu vì nền tự do của Nam Việt. Đây là mùa xuân cuối cùng của người dân Nam, bởi sau những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975 đó, ở miền Nam đã có hơn 1.350.000 người thuộc diện phải ra trình diện và đi cải tạo. Tính đến năm 1980 thì Phạm Văn Đồng của chính phủ Việt Nam công nhận là chỉ còn 26.000 người đang còn bị giam giữ trong các trại tù lao cải. Tuy nhiên, một số quan sát viên ngoại quốc ước tính phải còn khoảng 300.000 đến 450.000 người vẫn đang bị giam cầm. Chính phủ Hoa Kỳ thì công bố rằng khoảng 165.000 người đã chết đang khi bị giam giữ trong các trại cải tạo do đói khát, ốm đau và do bị tra tấn. Đành rằng không có cuộc chiến nào mà không có mất mát hy sinh, đành rằng không có cuộc chiến tranh nào mà không có nạn nhân của chiến cuộc. Nhưng cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vì muốn áp đặt nền cai trị Cộng sản chủ nghĩa lên toàn đất nước, để áp đặt ách nô lệ Cộng sản lên toàn dân thì hậu quả là quá tàn ác! Hình ảnh của những đứa bé ngồi khóc bên xác mẹ giữa vùng chiến sự đang ác liệt nổ ra, hay hình ảnh những em bé đang ôm bầu vú người mẹ đã chết lạnh nhiều ngày vẫn thấy khắp nơi trên đường đi lánh nạn Cộng sản suốt dọc quốc lộ số 1… Hình ảnh những người cha, người mẹ thân đầy thương tích đang thẫn thờ bên xác của những đứa con vừa tan tành vì đạn pháo của cộng quân cũng dọc đường quốc lộ… là những hình ảnh quá thương đau mà chúng ta sẽ không bao giờ quên được… Hình ảnh của những người tù cải tạo khô gầy như xác ve, thều thào với các bạn tù là mong ước được một lần ăn no trước khi lìa đời… Và hình ảnh của hàng chục ngàn nấm mồ hoang lạnh, đầy cỏ dại chung quanh các trại tù có cho phép chúng ta quên được tội ác của Cộng sản Việt Nam không…? Hình ảnh những con thuyền bé nhỏ của từng đoàn dân Việt đi tìm tự do đang chòng chành giữa đại dương trong cơn bão tố với những xác người đã chết bên cạnh những người còn sống trong tuyệt vọng, vô hồn bởi đã nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, không nước uống không cơm ăn và lưỡi hái của thần chết đang chực chờ bên cổ họ từng phút từng giây… có cho phép chúng ta quên đi cảnh thương đau của chính chúng ta cũng như của cả dân tộc Việt Nam, bởi tội ác của những kẻ đã du nhập chủ nghĩa Cộng sản về để truy diệt giống nòi và tàn hại đất nước hay không? Khát vọng của Lý Nam Đế về đất nước Vạn Xuân, về một đất nước trường tồn nay có còn nữa không? Theo quy luật tuần hoàn của vũ trụ, theo chu kỳ của đất trời, một mùa xuân nữa lại về, nhưng đã 38 lần trong đời người Việt quốc nội không hề có mùa xuân, bởi từ dạo 30 tháng 4 năm ấy, xuân là tang thương, là mất mát, là chia ly. Xuân về tết đến, không phải chỉ người dân xứ Huế hiệp kỵ cho những thân nhân của họ đã bị thảm sát cũng vào một mùa xuân gần 50 năm về trước mà hàng trăm ngàn gia đình ở miền Nam cũng đều đớn đau, thương tưởng đến những người thân yêu của họ đã chết một cách oan nghiệt trong những ngày xuân bi thương của năm 1975, hay đã chết một cách mòn mỏi thương đau trong các trại lao cải… Còn chúng ta? Chúng ta đã có bao giờ nhẩm tính là có bao nhiêu mùa xuân tha hương đã đến và đã đi trong đời của chúng ta rồi? Và có bao giờ chúng ta nhắc nhở cho con cháu mình bởi đâu, do ai và tại sao chúng ta lại có mặt ở nơi này để trở thành những người Mỹ da vàng hay những người Âu, người Úc tóc đen mũi tẹt hay không? Hãy làm việc này, ít nhất một lần vào mỗi độ xuân về, cũng trong tinh thần ôn cố tri tân, để chúng ta mãi mãi không quên rằng chúng ta là người Việt đang phải sống đời lưu vong vì những chuỗi mùa xuân bi thương mà đảng và nhà nước Cộng sản đã mang lại cho dân tộc, và rằng đất nước của chúng ta đã có một thời là đất nước VẠN XUÂN để liệu chúng ta sẽ có thể làm được gì hầu khôi phục lại mùa xuân yêu thương và trường tồn cho dân tộc mình hay không? Mong sẽ không quên bao giờ .