Untitled Document
User:
Pass:
Untitled Document

Diễn Đàn

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Quyền được biết Ngày 28 tháng 9 mỗi năm được gọi là Ngày quốc tế Quyền được biết (International Right to Know Day). Ngày này đã được đề nghị từ năm 2002 trong một cuộc mít-tinh của các Tổ chức Tự do Thông tin khắp thế giới tại Sofia, Bulgaria vào chính tháng 9 ngày 28. Các tổ chức này và những người ủng hộ họ trên toàn cầu đã đánh dấu ngày đó bằng nhiều hoạt động nhằm tán dương và khơi dậy ý thức về quyền thông tin (theo Wikipedia). Quyền được biết hẳn nhiên bắt nguồn từ quyền được sống của con người. Hiểu theo nghĩa rộng, quyền được sống là quyền tồn tại như một hữu thể có hồn có xác, có yếu tố thể chất và yếu tố tâm linh mà cần phải được thường xuyên cung cấp thực phẩm, thường xuyên chăm sóc bồi dưỡng. Thực phẩm vật chất cho xác và thực phẩm tinh thần cho hồn. Xác nhận thực phẩm vật chất chủ yếu qua việc dinh dưỡng ăn uống và hồn nhận thực phẩm tinh thần chủ yếu qua việc học hỏi tìm hiểu. Và việc đó làm nên hai quyền cơ bản của con người: quyền được ăn và quyền được biết. Giam người ta trong đói khát và giữ người ta trong ngu dốt là hai trọng tội, nhất là đối với những kẻ có quyền lực và trách nhiệm. Nay xin nói về quyền được biết. Vì mỗi cá nhân vừa là một con người tồn tại trong trời đất vừa là một công dân tồn tại trong xã hội, nên quyền được biết cũng có hai khía cạnh: quyền được biết trong tư cách con người và quyền được biết trong tư cách công dân: 1- Quyền được biết trong tư cách con người a. Trước hết là quyền được biết để có khả năng tồn tại. Điều này đòi hỏi con người phải được truyền đạt kiến thức và kỹ năng qua việc giáo dục học đường và giáo dục nghề nghiệp. Ví dụ phải biết chữ để tiến bộ trong tri thức, biết cách giữ gìn và gia tăng sức khỏe để sống an vui yên hàn, biết một nghề nghiệp để sinh nhai mà sống no đủ. Thành ra một nhà cầm quyền không tạo điều kiện để người dân có được một kiến thức văn hóa tối thiểu (ví dụ chẳng những không cung cấp giáo dục miễn phí cơ bản mà còn chặt chém phụ huynh và học sinh mọi cấp với học phí và phụ phí đủ kiểu, khiến cho hàng triệu thanh thiếu nhi không thể đến trường hoặc phải sớm rời trường...), không tạo điều kiện để người dân được có một nghề nghiệp vững chãi và sống được bằng nghề đó (ví dụ đào tạo ồ ạt để rồi không dùng, tốt nghiệp xong thì đành thất nghiệp, có bằng đỏ vẫn phải thua hay phải có thêm bằng vàng, làm việc không đúng với khả năng đã được đào tạo, lấy đất nông dân nhưng không giúp họ chuyển nghề...), một nhà cầm quyền như thế rất đáng lên án. b. Thứ đến là quyền được biết để có khả năng ứng xử. Ứng xử đây, trước hết là phản ứng tốt đẹp trong những vấn đề liên quan tới người khác, theo chuẩn mực đạo đức nhân nghĩa lễ trí tín (nói kiểu Đông phương). Thành ra một nền giáo dục thay vì giúp hiểu biết và thấm nhuần các giá trị đạo đức chuẩn mực này, lại dạy dỗ hay dung túng cho học sinh ngay từ nhỏ thói gian dối, bạo hành, vô lễ, thói đạt thành tích giả, thói theo dõi để báo cáo về thầy và bạn... hoặc nhồi nhét những điều dối trá, dạy bảo những kiểu ngụy biện, đưa ra cho học sinh lý tưởng sống hư ảo (ví dụ xã hội chủ nghĩa), những tấm gương giả tạo, không bao giờ hiện hữu thật hay không bao giờ đạo đức thật (vì dù có được tô vẽ, các em rồi đây vẫn khám phá ra được đó là những kẻ gian hùng, tàn độc...) hòng tạo nên những ngu trung cho chế độ, một nền giáo dục chính trị hóa như thế thật tai hại và đốn mạt, vì giết cả bao thế hệ con người, gây hiểm nguy cho tương lai lâu dài của dân tộc. Ứng xử còn có nghĩa là phản ứng chính đáng trong những vấn đề liên quan tới bản thân, nghĩa là biết được tất cả các nhân quyền cơ bản mà mình phải được thụ hưởng và nếu chưa có thì phải đòi hỏi. Các nhân quyền cơ bản này, nhân loại văn minh đã trình bày trong các Tuyên ngôn lẫn Công ước quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và được tóm tắt thành 26 quyền: 8 quyền về thân thể, 6 quyền về an cư, 8 quyền về lạc nghiệp, 4 quyền về tự do dân chủ. Khốn nạn thay một nhà nước, vì những toan tính chính trị, đã ký nhận hết mọi văn kiện quốc tế đó như ai, nhưng chẳng bao giờ phổ biến cho quốc dân của mình biết, thậm chí còn ra tay đàn áp những công dân phổ biến chúng, tổ chức hội thảo hay học hỏi về chúng. Có lúc lại còn cho tay chân lếu láo biện bạch: luật quốc gia hơn luật quốc tế, quyền đất nước cao hơn quyền con người, văn hóa nước ta khác với văn hóa thiên hạ!?! Nhưng vì con người, ngoài hai chiều kích thể chất và trí tuệ, còn có chiều kích tâm linh, nghĩa là có quan hệ với thế giới siêu việt, với các hữu thể thiêng liêng (gọi chung là thần thánh, Trời Phật...), để tìm ra ý nghĩa và cùng đích cho cuộc sống, nỗi khổ lẫn cái chết của mình, từ đó làm cho kiếp đời mình hạnh phúc, xã hội mình tốt đẹp. Thành ra con người còn có quyền được biết về các tôn giáo là nơi giới thiệu, trình bày cũng như giúp tiếp xúc gặp gỡ thế giới ấy, các hữu thể siêu việt ấy. Thế nhưng cái chế độ vô thần toàn trị đã luôn tìm cách tước quyền biết đạo và sống đạo của con người: hoặc cấm cản tiêu diệt, hoặc xuyên tạc vu khống, hoặc công cụ hóa các giáo hội. Không cho tôn giáo có phương tiện truyền thông đại chúng lẫn góp phần vào giáo dục (chỉ dạy mẫu giáo), đưa ra chiêu bài “đạo pháp và xã hội chủ nghĩa” hay “Phúc Âm hòa hợp với ý thức hệ”, cắt xén Thi văn giáo lý của Đức Huỳnh Giáo chủ, cấm sử dụng cơ bút (thông linh học) Cao Đài... là một vài thí dụ. 2- Quyền được biết trong tư cách công dân Nhân dân với tư cách là người làm chủ toàn thể đất nước, là người ủy nhiệm công việc cho giới lãnh đạo chính trị, là người đóng thuế nuôi bộ máy cầm quyền, đương nhiên có quyền được hiểu biết và được can dự vào những gì liên quan tới việc biên soạn luật pháp, việc dự thảo chính sách, việc quản lý kinh tế, việc điều hành quốc gia, việc bang giao quốc tế, việc bảo vệ bờ cõi, việc thực thi pháp luật... Đảng và nhà cầm quyền muốn cho dân biết rằng mình cũng ý thức chuyện này nên đã không ngừng giương cao các khẩu hiệu: “Nhân dân là chủ, cán bộ là đầy tớ”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, “Đảng CSVN... chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” (Hiến pháp đ. 4). Rồi thì dùng vô số chữ “ủy” (có lẽ hơn mọi chế độ trong lịch sử loài người): “đảng ủy”, “chính ủy”, “quân ủy”, “ủy ban”, “ủy viên”, “tỉnh ủy”, “huyện ủy”, “xã ủy”... Nhưng trong thực tế, họ hành xử như những đầy tớ, kẻ thừa ủy, hay như những chủ nhân, lãnh chúa, chủ tể, chẳng thèm nói cho dân biết, chẳng thèm đáp lời dân hỏi, chẳng hề chịu trách nhiệm trước dân thì ai nấy đều rõ. a. Trước hết là quyền được biết sự thật, sự thật lịch sử Dân tộc và sự thật xã hội Việt Nam. Việc trình bày các loại sự thật này đòi hỏi một nền học thuật nghiên cứu vô tư và một nền báo chí truyền thông liêm chính, không bị đảng hóa, chính trị hóa, công cụ hóa. Mọi bộ sách sử, giáo khoa sử, mọi bộ bách khoa nổi tiếng và giá trị của thế giới văn minh dân chủ đều là của tư nhân, chẳng hạn William và Ariel Durant với bộ “Câu chuyện của nền văn minh” , Arnold Toynbee với bộ “Nghiên cứu lịch sử” , chẳng hạn bộ bách khoa Britannica tại Anh quốc, bộ Compton’s tại Hoa Kỳ... Đang khi đó thì Viện Sử học VN được Ban chấp hành Trung ương đảng rồi Thủ tướng ra quyết định thành lập và nay trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội. UB này có ra một bộ Lịch sử VN 2 cuốn tổng cộng 799 trang (ấn bản 1976) nhưng phần về ông Hồ Chí Minh và đảng CS đã dày tới 219 trang rồi. Trong cuốn 1, trang 261, UB lại dám bỏ câu cuối cùng trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi: “Thế là nhờ trời đất, tổ tông, khôn thiêng che chở, giúp đỡ cho nước ta vậy”. Bộ Từ điển Bách khoa VN (4 cuốn, khoảng 4000tr.) “được biên soạn với sự tổ chức và chỉ đạo của Nhà nước” thì đã bị vô số học giả và độc giả phê bình nát bét (x. Wikipedia). Còn sách giáo khoa thì che giấu lịch sử (chẳng biết Hai Bà Trưng chống kẻ thù nào) hay xuyên tạc lịch sử (Hoàng Sa Trường Sa là của Tàu cộng)! Ngày 08-09 hôm nay, tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội) có trưng bày chuyên đề “Cải cách ruộng đất năm 1946-1957” trong đó có mục “Sai lầm và sửa chữa sai lầm; Hoàn thành thắng lợi” . Phải chăng nhà cầm quyền lại sắp tuyên truyền xuyên tạc về vụ việc long trời lở đất này? Sau hơn nửa thế kỷ, phải chăng CS vẫn cố chấp không nhận cái tội tày đình giết nông dân tài giỏi, diệt nhân sĩ uy tín và cướp bóc ruộng đất của dân cho đảng? Thành ra, quyền được biết sự thật lịch sử của dân đòi hỏi không được đem tiền thuế của dân để kiến tạo cái gọi là viện sử học nhà nước, một hệ thống báo chí công cụ và một dàn dư luận viên đầy tớ, không được ra những sách nghiên cứu và giáo khoa “dưới sự chỉ đạo của đảng và nhà nước” đầy xuyên tạc sự thật. b. Tiếp đến là quyền được biết và được dự vào những vấn đề của đất nước xã hội, cách trực tiếp hoặc cách gián tiếp qua các đại biểu đích thực của mình (dân biểu chứ không phải đảng biểu). Cụ thể, đó là những gì liên quan tới việc biên soạn luật pháp, việc dự thảo chính sách, việc quản lý kinh tế, việc điều hành quốc gia, việc bang giao quốc tế, việc bảo vệ bờ cõi... Về luật pháp, chính sách, nhân dân cần phải được biết (có thể tham dự các phiên họp của quốc hội như tại các nước dân chủ), được hỏi ý kiến, được quyền đồng thuận, như trong Kiến nghị của nhóm 72 trí thức về HP mới đây: “Quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân, chứ không thể thuộc về bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào, kể cả Quốc hội. Cần xác định rõ chủ thể quyết định, ban hành hiến pháp là nhân dân” . Thế nhưng trong chiến dịch lấy ý kiến nhân dân cho bản Hiến pháp mới rồi, chúng ta đã thấy cả một trò hề lừa đảo, một màn cưỡng bức trắng trợn và cuối cùng là việc bỏ xó mọi ý kiến xây dựng của người dân... Không ai quên được vào tháng 9-2009, viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã tự giải thể để phản đối quyết định 97 của Thủ tướng nhằm giới hạn việc nghiên cứu và phản biện công khai các chính sách của nhà cầm quyền. Còn các Luật đất đai, Pháp lệnh tôn giáo tín ngưỡng, phải chăng đã có sự hỏi ý và đồng thuận của nông dân, tín đồ? Về kinh tế, tài chánh, nhân dân có quyền được biết việc thu chi tiền thuế của nhân dân, việc lời lỗ của các công ty quốc gia, tập đoàn nhà nước, việc xử lý và khắc phục các hậu quả tai hại do các tổ chức kinh tế này gây ra cho công quỹ. Thế nhưng, từ ngày cầm quyền đến nay, đảng và nhà cầm quyền CS đã có khi nào công bố chi tiết chi tiêu hàng năm của chính phủ? đã giải trình đúng đắn các khoản vay quốc tế và việc sử dụng tiền viện trợ? đã trả lời công khai rành mạch cho dân về những thất thoát tài chánh? những món nợ công mà mỗi người dân đang phải gánh? Việc nhiều quan chức cao cấp nhận hối lộ trong vụ tiền polymer vẫn còn là một câu hỏi lớn đối với công luận. Về bang giao quốc tế, an ninh quốc phòng, bảo vệ bờ cõi, từ lâu người dân đã mong mỏi đảng và nhà nước trình bày rõ ràng về công hàm Phạm Văn Đồng, về hiệp định biên giới năm 1999, hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, nhất là về nội dung hội nghị Thành Đô năm 1990 vốn đang làm toàn dân hoang mang và sợ hãi. Nhiều cá nhân và tập thể công dân đang lên tiếng về vấn đề này, cụ thể là Thư ngỏ của 61 đảng viên ngày 20-07-2014, Chiến dịch “Tôi/Chúng tôi muốn biết” của Mạng lưới Blogger VN ngày 02-09 và kiến nghị của 20 tướng tá quân đội nhân dân trong cùng ngày. Nhìn thấy nhiều sự kiện chứng tỏ sự lệ thuộc, sợ hãi, nhượng bộ, thậm chí toa rập, đồng lõa của Hà Nội với Bắc Kinh từ sau hội nghị ấy, người dân tự hỏi phải chăng đảng CS đã quyết tâm biến VN thành tỉnh tự trị của Tàu cộng sau thời điểm 2020? c. Cuối cùng là quyền được biết về việc nhà nước thực thi pháp luật. Điều này trước hết bao hàm quyền được tham dự các phiên tòa, nhất là các phiên tòa xử các vụ án chính trị. (Các nước văn minh dân chủ đã cho người dân thực hiện quyền này từ lâu). Nhưng một sự mỉa mai trắng trợn là mọi phiên tòa chính trị tại VN đều tự tuyên bố là “công khai” nhưng nhân dân đều bị từ cấm cản ngăn chận đến hành hung giam nhốt, chứng nhân có khi còn bị tống cổ dẫu có giấy mời của tòa án, còn thân nhân bị can thì hiếm khi được có mặt đầy đủ, điển hình như vụ xử bà Bùi Minh Hằng mới rồi. Bên cạnh quyền dân được biết việc thực thi luật pháp như một chứng nhân, còn quyền được biết như một can nhân. Nghĩa là khi vừa bị bắt hay trước khi bị thẩm vấn, công dân nghi phạm có quyền được biết theo điều gọi là“Lời cảnh báo Miranda” từ miệng cảnh sát: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa. Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh. Nếu anh không thể tìm luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi. Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư, nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ đợi sự có mặt của luật sư”. Trong cái chế độ luôn tự xưng là “của dân, do dân, vì dân” rất ưu việt với “nền pháp chế xã hội chủ nghĩa đầy tính nhân đạo”, có bao giờ được nghi phạm được nghe những lời ấy? Nói gì đến việc các lời ấy tiếp đó được thực hiện hay không thực hiện? Kết luận: Cộng sản là một chế độ ngu dân Qua những điều trình bày ở trên về quyền được biết của con người và của công dân cũng như hiện tình thực thi quyền ấy tại nước CHXHCNVN, ta thấy rõ Cộng sản là một chế độ ngu dân. Ngu dân bằng cách tổ chức một nền giáo dục học đường và giáo dục cộng đồng tạo con người thành những thần dân và công cụ cho đảng. Ngu dân bằng cách tổ chức một nền thông tin đầy bưng bít che giấu, dối trá lọc lừa và vu khống ngụy biện, để chỉ còn đảng nổi lên như một chuẩn mực sự thiện, suối nguồn sự thật và quan tòa công lý. Ngu dân bằng cách tổ chức một nền chính trị loại công dân ra ngoài tất cả mọi hoạt động của đảng cầm quyền, mọi vấn đề của đất nước mà công dân có quyền hiểu biết và can dự, để đảng tự do tung hoành hầu nắm chắc mãi mãi quyền lực và quyền lợi, túi bạc và ngai vàng, dẫu với giá trở thành thái thú cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc. Huế ngày 08-09-2014

 

Năm 2006, Cao Guangjing, phó giám đốc quản lý công trình thủy điện của Hoa Lục, đã tuyên bố với báo chí trong và ngoài nước, rằng Trung Cộng sắp hoàn thành Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp, lớn nhất thế giới, trên sông Dương Tử và hãnh diện xác nhận : Ðây là một kỳ quan cũng như biểu tượng kinh tế của Tàu, trong thế kỷ XXI. Có điều lạ trong lần khoe tốt này, ngay chính đương sự cũng không dám khẳng định, công dụng của đập thủy điện trên tốt xấu thế nào, mà chỉ nói bâng quơ rằng phải chờ tới những ba chục năm sau, hay đúng hơn phải coi nó có thể ngăn chống được sự tàn phá hằng năm của lũ lụt thường trực trên sông Dương Tử, lúc đó mới có thể kết luận. Câu chuyện làm cho người ta nhớ lại Vạn Lý Trường Thành, xưa nay ai cũng nói do Tần Thủy Hoàng xây dựng trước Thiên Chúa giáng sinh, từ lâu được đanh giá là một công trình kiến trúc vĩ đại, chẳng những của nước Tàu, mà còn là của nhân loại. Tuy nhiên huyền thoại này, vào năm 1969 đã bị đánh đổ, bởi Arthur Waldron , giáo sư khảo cổ tại Trung tâm nghiên cứu về Ðông Á, thuộc Trường Ðại học Harvard (Hoa Kỳ). Trong tác phẩm ‘ The great wall of China ‘ , trình bày những nghiên cứu lịch sử và khảo cổ tại chổ sau nhiều năm đi khắp nước Tàu, cuối cùng tác giả đã khẳng định rằng Vạn Lý Trường Thành, đã tồn tại suốt bao chục thế kỷ qua, thực chất chỉ là huyền thoại. Theo ông, từ năm 700 trước Tây lịch tới nay, khắp nước Tàu đã có rất nhiều thành lũy được xây dựng rãi rác mọi nơi, mọi thời. Nên câu chuyện bức tường thành được kiến trúc duy nhất thời nhà Tần, là không đúng sự thật. Ðể chứng minh,tác giả dựa vào lịch sử Trung Hoa, từ thời nhà Hán cho tới thế kỷ thứ XIII, khi Nhà Nam Tống bị quân Mông Cổ xâm lăng và tiêu diệt, cho thấy Tàu lúc đó không hề có một bức tường thành nào cả, nên đã không thể ngăn cản được vó ngựa trường chinh của Thành Các Tư Hản ở phương Bắc. Ngoài ra ông còn dựa vào các tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Hoa qua bao thời dại, xác nhận các văn nhân lúc đó, chẳng hề xử dụng tới danh từ nào đồng nghĩa với ‘ The great wall’, mà Tây phương chỉ mới dùng sau này. Ngay đến tài liệu phòng thủ của nhà Minh (1368-1644), cũng không hề nhắc tới Vạn Lý Trường Thành. Mãi đến nửa thế kỷ thứ XVI, trước nguy cơ đe dọa của các dân tộc du mục phuơng Bắc như Mãn, Mông, Tạng.. đã làm cho các Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh, mới nghĩ tới việc xây dựng Trường Thành, mục đích phân biệt ranh giới địa lý và nhân vân của Trung Nguyên với các dân tộc trên. Ðó chính là hình ảnh mà người Tây phương đầu tiên đã mang tới cho thế giới bên ngoài, hồi thế kỷ XVIII và phổ biến tới ngày nay. Còn huyền thoại về Vạn Lý Trường Thành do Tần Thủy Hoàng xây dựng, theo Waldron cũng không phải phát xuất từ sách vở của người Tàu, mà được Mao Tôn Cương, hồi thế kỷ XIX do các nhà thám hiểm và khảo cổ Châu Âu. Riêng nhũng ghi chú về Trường Thành, trên bản đồ mà Bắc Kinh phổ biến hiện nay, cũng là sản phẩm của các Giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, thuộc Dòng Tên, vào thời Nhà Thanh (1644-1912) . Tóm lại, theo các nhà nghiên cứu trong hội nghị quốc tế vừa được tổ chức tại Bắc Kinh, thì Vạn Lý Trường Thành , phần lớn được xây dựng từ thời Nhà Minh. Còn quan niệm cho rằng nhửng thành lũy thời Chiến Quốc, được nhà Tần nối lại với nhau, thành bức Trường Thành, ngày nay kể cả người Tàu vẫn nghi ngờ về phương diện khảo cổ, còn các sử gia thì nói đây là sự giả định, vì không có tài liệu nào minh chứng. Nhưng đó là chuyện của nước Tàu, nó chỉ liên quan đến chúng ta, là liệu đập thủy điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử, có ảnh hưởng gì tới những đập thủy điện khác, mà Trung Cộng đã xây dựng trên thượng nguồn của sông MeKong và Hồng Hà,trong tỉnh Vân Nam, trước khi chảy vào lãnh thổ nước ta, được đánh giá như là một sự khủng bố trắng trợn, đối với vận mệnh của Dân tộc VN. Ðây là nguy cơ trước mắt, được cả thế giới thấy rõ, cho dù Ðảng VC đang đô hộ cả nước, vì sợ Tàu, nên đã cố tình bưng bít nội vụ một cách công khai. Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xữ dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phat nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược,liên quan tới sự sống còn của dân tộc. Ai có thể ngăn được sự phẩn uất , trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong ‘ Ðây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được , ai dám ngăn cản ‘. Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Ðại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa. Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Ðà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết., một sự kiện đáng làm trước hết hơn là phung phí ngân khố quốc gia, để lãnh tụ và ca sĩ quốc doanh xuất ngoại làm trò cười cho đồng bào tị nạn khắp nơi trên thế giới. 1- ÐẬP THỦY ÐIỆN : VŨ KHÍ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG CỘNG . Giang Nam là tên gọi của lưu vực hạ nguồn sông Dương Tử, do nhà Thanh (1644-1912) đặt ra, gồm các tỉnh Giang Tây, Giang Tô và Triết Giang. Miền này thời Ðường,Tống được gọi là Giang Châu, nguyên là đất đai của Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt,Âu Việt và Lạc Việt..), thủ công tinh xảo, dân trí thanh lịch, non nước hữu tình. Sông Dương Tử còn có tên là Trường Giang, đứng thứ ba trên thế giới sau sông Amazone (Nam Mỹ) và sông Nil (Ðông Phi), có chiều dài 6380km, phát nguyên tại vùng rừng núi Thanh Hải (Tây Tạng), từ trên độ cao 6600m, chảy qua phía tây Tứ Xuyên, xuống phía bắc Vân Nam, rồi đổi hướng chảy ngược lên phía đông Tỉnh Tứ Xuyên , ngang qua các tỉnh Hồ Bắc, An Huy, Giang Tô và ra Biển Ðông tại Hoàng Hải. Nếu tính luôn các phụ lưu, chi nhánh chằng chịt khắp miền Hoa Trung, thì chiều dài của sông Dương Tử lên tới 80.000 km, với hơn 12 triệu dân, gồm 55 sắc tộc, sinh sống ở hai bên bờ sông với đủ nghề. Trên thượng nguồn, sông Dương Tử có 3 khe núi lớn gồm 25 thác đổ, nhiều nơi nước chảy xiết nhất là vào mùa mưa, khiến cho các ghe thuyền xuôi ngược dễ bị chìm vì đá ngầm. Ðó là hẽm Kingtanxia dài 5km, hẽm Wuxia dài 25km và hẽm Xilingxia dài 47km., tuy ngày nay đã được nạo vét nhưng tàu qua lại vẫn phải có hoa tiêu hướng dẫn để tránh nguy hiểm. Lưu vực sông Dương Tử hiện nay có hơn 400 triệu người sinh sống. Ngoài ra vùng này còn có 5 hồ lớn, thường đước nhắc nhớ trong các tác phẩm thơ văn của Trung Hoa . Phân Dương Hồ, chứa nước ngọt , rộng tới 5000 km2, nằm trong tỉnh Giang Tây, gần thành phố Vũ Hán. Ðộng Ðình Hồ có các sông Tiêu và Tương đổ nưóc vào và thông với Trường Giang qua sông Hán. Hồ nằm phía tây tỉnh Hồ Nam,nổi tiếng với Nhạc Dương Lầu, măng tre Thần Châu và quít ngọt Ðộng Ðình Hồng. Thái Hồ chứa nước mặn nằm giữa hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây. Sào Hồ và Tây Hồ . + ÐẬP THỦY ÐIỆN TAM HIỆP TRÊN SÔNG DƯƠNG TỬ : Tháng 12-1994, Trung Cộng chính thức khởi công xây dựng Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp (Three Gorges Dam), trên khúc sông Dương Tử , chảy trong tỉnh Hồ Bắc, vừa để khống chế nạn lụt hàng năm, đồng thời xây dựng một nhà máy thủy điện với công suất tổng cộng lên tới 12.000 MW. Ðể thực hiện công trình trên, đảng cộng sản đã đuổi hơn 1,5 triệu người dân bản địa, đồng thời làm xáo trộn sinh hoạt của 20 thành phố lớn nhỏ trong vùng. Tam Hiệp, địa điểm được chọn để xây dựng đập thủy điện, là tên một khúc sông Dương Tử dài hơn 200km, từ phía tây tỉnh Tứ Xuyên, chảy qua phía đông tỉnh Hồ Bắc, được coi như điểm nối của vùng thung lũng Tứ Xuyên với các đồng bằng miền Hoa-Trung, phía dưới hạ nguồn. Khúc sông này chảy qua ba hẽm núi lớn và 25 thác đổ. Theo nhận xét của nhiều bậc thức giả trong và ngoài nước, thì dự án Ðập Thủy Ðiện Tam Hiệp tuy đã được manh nha từ thời Dân Quốc, do Tôn Dật Tiên đề xướng. Nhưng bị các hội bảo vệ môi trường sinh thái địa cầu chống đối, vì nó sẽ hủy diệt vĩnh viễn cãnh quan thiên nhiên trong vùng, đồng thời xóa tên 140 thành phố lớn nhỏ, 4500 làng mạc, 30.000 ha đất trồng trọt, hằng ngàn di tích lịch sử và tiêu phí một ngân khoản khổng lồ, mà không chắc đạt được kết quả mong muốn. Với nước Tàu, từ trước tới nay sông Dương Tử là nguồn nước tưới cho cả khu vực đồng bằng Hoa Trung, miền đất cá và gạo, chiếm nửa tổng sản lượng của cả nước. Nhưng đồng thời sông Dương Tử cũng là tai ương ngàn năm của Hán Tộc, riêng trong thế kỷ XX lụt lội đã gây cho hơn 300.000 dân chúng trong vùng thiệt mạng. Giống như sông Mekong, sông Dương Tử cũng phát xuất từ Tây Tạng, chảy qua khu vực Tam Hiệp, trước khi vào thành phố Trùng Khánh, được coi như lớn nhất hiện nay tại Hoa Lục. Từ nhiều lý do, trong đó quan trong nhất cũng vẫn là mục tiêu chính trị,khiến cho Bắc Kinh đã nhắm mắt lao vào một công trình rất tốn kém về tiền bạc, sức người lẫn thời gian,gây ảnh hưởng nặng nề đến vấn đề tâm lý, khi đàn áp đuổi dân, phá hoại các công trình kiến trúc bao đời trong vùng. Thực hiện được đập thủy điện này, về quốc tế Trung Cộng sẽ hãnh diện có thêm một kỳ quan, sau Vạn Lý Trường Thành. Về kinh tế, Ðảng Cộng Sản nuôi hy vọng, nhờ nó giúp mức phát triển 11% hàng năm qua nguồn cung cấp điện cho công nghệ và sinh hoạt. Ðây là một cái đập khổng lồ , kinh phí dự chi tốn khoảng 30 tỷ đô la, thực hiện trong 14 năm. Chiều cao của dập 607 bộ, chiếm một diện tích hơn 1 dặm vuông., bao gồm một hồ chứa nước dài 370 dặm và một hệ thống khóa đặc biệt : Hút nước từ các nguồn nước khác khi thiều, cũng như xã nước vào mùa lụt, vừa giúp sự giao thông trên sông Dương Tử, đồng thời vét vơ nước từ các con sông khác, qua hệ thống kênh đào, để tưới cho các vùng đất khô hạn xa xôi ở phía tây. So với các đập thủy điện khác trên thế giới, dập Tam Hiệp không cao và rộng hơn nhưng lại trội nhiều về sức mạnh, với 26 Turbin mà trọng lượng mỗi chiếc 400 tấn/1 chiếc, sẽ tạo ra 18.200 magawatt điện, công suất tương đương với 18 nhà máy điện nguyên tử. Ðập này mạnh hơn các đập Itapu (giữa Brazil và Paraguy có công suất 12.600 megawatt ), dập Guri ở Venezuela có 10.300 megawatt, dập Grand Coulee ở Colorado của Mỹ có 6809 megawatt và đập Sayano Shushensk ở Nga với 6400 megawatt. Theo nhận xét của thế giới, Trung Cộng đã tốn hết 75 tỷ Mỹ kim cho công trình vĩ đại này (chứ không phải 19 tỷ như tuyên bố của đảng) . Vì mục tiêu chính trị, Trung Cộng không cần biết tới tính khả thi và hiệu quả kinh tế của dự án, hầu như đều bị sự phê bình chỉ trích của các nhà đầu tư và tài chính quốc tế. Bởi thế nên không làm lạ khi nghe Phó giám đốc xây dựng đập là Cao Guangjing, nói rằng muốn biết đập có hoàn hảo hay không, phải đợi tới 30 năm sau mới thấy được. Chưa hết, Trung Cộng còn cho biết sau khi hoàn tất đập Tam Hiệp vào năm 2008, Ðảng lại tiếp tục xây thêm 10 đập khác trên thượng nguồn sông Dương Tử, nối tiếp vùng Tam Hiệp. Ðiều lo lắng nhất của người Tàu hiện nay, là làm thế nào để có thể giảm nhanh chóng một biển nước khổng lồ , luôn được chứa trong hồ với độ cao từ 512-574 ft, khi mùa mưa tới. Thãm kich về đập thủy điện Banqiao ở Hồ Nam, vào năm 1975 mưa nhiều vở đê kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống đập chung quanh, gây lụt lội làm chết hơn 230.000 người. Nhưng Trung Cộng đã ém nhẹm tới gần đây thế giới mói biết. Ngoài ra đập thủy điện Tam Hiệp chưa khánh thành nhưng nhiều dấu hiệu bể nứt đã thấy xuất hiện. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì trong thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa anh em (Tàu,Nga, VC,Bắc Hàn, Cu Ba), gần hết ngân khoản của các công trình xây dựng, đều bị cán đảng và quan quyền lớn nhỏ, móc ngoặc với nhà thầu, chia, chặt, xén, bỏ túi.. cho nên đâu có kiến trúc nào được toàn vẹn, vì vậy chưa bàn giao đã lung lay hay sứt mẽ là cái chắc. + HỆ THỐNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VÀ HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN : Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Ðông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Cũng vì dòng sông có sự liên quan của nhiều nước, nên đã có chương trình hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong, do nhiều tổ chức và các định chế tài chính quốc tế tham gia. Trên lý thuyết, đã có tới sáu chương trình và dự án phát triển con sông trên. Chương trình Ủy ban sông Mekong (MRC), do LHQ khởi xướng từ năm 1957, nhằm quản lý nguồn nước và tài nguyên của sông, được xúc tiến mạnh sau năm 1975, khi chiến tranh Ðông Dương lần 2 chấm dứt. Năm 1992, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lại khởi xướng chương trình hợp tác sông Mekong, giữa các nưóc liên hệ (GMS), thúc đẩy sự đầu tư khai thác của các nước trong vùng, qua các dự án đầu tư do ADB chi phối. Năm 1993, Nhật Bản đề xướng diễn đàn phát triển toàn diện Ðông Dương (F&DI), chú trọng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng có sông Mekong chảy qua. Tiếp theo Nhật lại đưa thêm dự án AEM-MITI nhằm giúp Miến Ðiện, Lào, Kampuchia chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Cũng năm 1993, Thái Lan lại đề xướng chương trình hợp tác sông Mekong, nhằm phát triển khu vực sông chảy qua các nước Tàu, Miến Ðiện, Thái Lan và Lào. Tháng 12-1995, Tân Gia Ba và Mã Lai lại đề xướng dự án hợp tác phat triển sông Mekong của các nước thành viên Asean có sông Mekong chảy qua, ưu tiên là đặt hệ thống đường sắt.. Nhưng tất cả đều là lý thuyết, vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Trung Cộng đã ỹ mình nước lớn, nên đã bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Ðập Thủy Ðiện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN. Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam. Theo tài liệu chính thức của Tỉnh Ủy Vân Nam và lời xác nhận của Hiroshi Hiro, người Nhật, một chuyên gia về sông Mekong, cho biết Trung Cộng đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này, đó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Ðại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Ðộ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng. Sông Mekong hay Dza-Chu (Nguồn nước của đá), phát nguyên từ cao nguyên phía đông Tây Tạng, dài hơn 4000 km, chảy về hướng Nam, băng qua những hẽm núi sâu và rừng núi hoang lạnh của tỉnh Vân Nam với cái tên Lan Thương Giang (Lancang Jiang). Riêng khúc sông chảy giữa biên giới Lào-Thái mang tên Mae Nam Khong. Tại Cam Bot sông lại có tên là Tonle Thom và cuối cùng Cửu Long Giang trong lãnh thổ VN. Trong cuốn sách ‘ Lan Thương Giang - Tiểu Thái Dương ‘ , do Vân Nam Nhân Dân Thư Xã ấn hành bằng tiếng Tàu, từ đầu tới cuối chỉ đề cao tới tiềm năng của sông cần khai thác, tuyệt nhiên chẳng thấy nói tới hậu quả nào do chuổi đập gây thiệt hại tới các nước ở hạ lưu. Ðiều này dễ hiểu,vì Trung Cộng luôn coi đó như một bí mật quốc phòng, thứ vũ khí môi sinh chiến lược, để khủng bố VN, quốc gia cuối cùng nơi dòng sông thoát ra biển. Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Ðại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm , làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Ðông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển. Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ , đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữa lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide.. gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá . Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Ðập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Ðập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đola. Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần. 2- ÐỒNG BẰNG VÀ SÔNG NGÒI VN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU : Diện tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Ðồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm., với diện tích 15.000 km2, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình. + SÔNG HỒNG HÀ : Phát nguyên từ rặng Ngụy Sơn, kế Ðại Lý Hồ trong tỉnh Vân Nam (Tàu), có chiều dài 1200 km, phần chảy trên đất Trung Hoa gọi là sông Ma Lung hay Nguyên Giang. Riêng 500 cây số trong lãnh thổ VN, được gọi là Nhĩ Hà, Hồng Hà hay Sông Thao. Sông vào địa phận Bắc Việt tại Hà Khẩu (Lào Kai), trước khi ra biển Ðông, đã tiếp nhận nhiều phụ lưu quan trọng như sông Lô ở tả ngạn. Sông này còn có tên là Thanh Giang, cũng phát nguyên từ bên Tàu và chảy vào VN tại Hà Giang, rồi đổ vào sông Hồng ở Việt Trì. Sông Lô còn có hai phụ lưu là sông Gầm va sông Chẩy thông với hồ Ba Bể. Sông Ðà bên hữu ngạn,cũng phát nguyên từ Vân Nam, chảy vào VN song song với sông Hồng và đổ vào sông này tại Việt Trì. Ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ khác, cũng đổ vào Nhĩ Hà như Nậm Pò, Nậm Na, Nậm Mấc, Ngòi Thia, Ngòi Lao ở thượng nguồn. Phía gần biển, có thêm các phụ lưu Sông Luộc, sông Ðuống, sông Ninh Cơ, Trà Lý.. Tất cả đã mang phù sa bồi đắp cho cánh đồng lúa mùa, miền Hạ Du, ngay từ thời Văn Lang lập quốc cho tới bây giờ. Từ Hà Nội lên Lào Kai, xuyên biên giới đi Vân Nam ,có con đường sắt được thiết lập từ thời Pháp thuộc, chay song song với tả ngạn sông Hồng, qua những nhà ga Bảo Hà, Trái Hút, Phố Lu.. mang đầy huyền thoại trong kho tàng văn học dân gian, về các câu chuyện ‘ Ma-Cọp ‘. Lào Kai là tỉnh địa đầu của miền tây bắc, chỉ cách Trung Cộng có cây cầu biên giới Cốc Lếu, nên trong cuộc chiến năm 1979, giặc Tàu gần như làm cỏ thành phố, mãi cho tới năm 1991 mới chỉ có 1700 gia đình trở về nhà cũ của mình.. Ngày nay nhờ chương trình du lịch Sapa và nhất là buôn lậu ,nên Lào Kai dân số gần 100.000 người. Thị xã nằm ngay trên ngả ba sông Nậm Thị từ Vân Nam đổ vào sông Hồng. Cầu Hồ Kiều dài 200m, ngăn đôi hai nước, bên này là Lào Kai, phía bên kia là thị trấn Hà Khẩu, thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam. Sông ra biền bằng cửa Ba Lạt và Trà Lý ở thị xã Thái Bình. Trước đây khi Trung Cộng chưa xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn của sông chảy trong tỉnh Vân Nam, thì Nhĩ Hà có lưu lượng rất lớn và thay đổi tuỳ theo mùa, từ 300m3/1 giây - 28.000 m3/1 giây nhưng trung bình là 700m3/1giây.. Nước sông dâng cao thường vào mùa mưa, tại Hà Nội có khi dâng cao tới 12m, trong khi mùa nắng mực nước chỉ có 2m.. Từ trước tới nay vùng Hoa Nam và Bắc Phần có nhiều mưa về mùa hè, làm cho mực nước sông Nhị dâng cao rất nhanh. Lúc trước tại Vân Nam, rừng chưa bị đốn để dựng đập nước, nên mùa mưa, phần nào giữ được nước tuôn từ thượng nguồn về. Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới , trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó , hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vở. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón. Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Ðuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường. do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra. + ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG : Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần : Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu vực này chiếm một diện tích 40.000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt : - Vùng phù sa nước ngọt : Từ nguồn sông chính tại Kampuchia, Mekong chảy vào Nam Phần bằng hai nhánh tại Châu Ðốc và Hồng Ngự, xuống tận Mỹ Tho, Bến Tre. Khu vực này chiếm một diện tích hơn 1 triệu Ha, phần lớn là vườn cây ăn trái đủ loại, mọc bạt ngàn theo hai bờ sông Tiền và Hậu, cùng với một hệ thống kênh rạch chằng chịt như mạng nhện. Ðặc biệt giữa dòng sông thường có nhiều cù lao lớn nhỏ như Cồn Phụng, Lân, Qui tại Mỹ Tho, cù lao Ông Hổ ở An Giang, cù lao Tân Lộc (Thốt Nốt-Cần Thơ), cù lao Bình Hòa Phước tại Vĩnh Long.. - Vùng phù sa nước mặn : Chiếm diện tích khoảng 900.000 Ha, bao gồm lưu vực các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau. Ðặc điểm vùng này là có nhiều rừng nguyên sinh ngập măn, nhiều khu vực tập trung hàng ngàn loại chim cò đủ loại tại Vàm Hồ (Ba Tri-Bến Tre), Bạc Liệu hay Chùa Dơi (Sóc Trăng).. - Vùng bán đảo Cà Mau : Nằm cuối miền Nam nước Việt, rộng chừng 1 triệu Ha và hằng năm được phù sa của sông Hậu, bồi đắp thêm làm cho Mũi Cà Mâu càng lấn ra biển từ 60 ố 80m. Tại đây còn nhiều khu rừng tràm, đước được dùng làm củi đốt từ xưa tới nay Khắp khu vực có nhiều Sân Chim Cò, Cốc hơn 40 loại, sống tại Ngọc Hiển, U Minh, Hòn Khoai. Ðây cũng là vựa tôm, cá và đặc biệt là mật ong nổi tiếng của Miền Nam. - Vùng Ðồng Tháp Mười và Khu Tứ Giác Long Xuyên : Rộng 1 triệu ha, được coi như là những hồ chứa nước thiên tạo, vào mùa sông Tiền-sông Hậu lụt lội, nhờ vào năm miền trũng thấp. Trong số này quan trọng nhất vẫn là Ðồng Tháp Mười, với các khu rừng tràm Xẻo Quít (20 Ha), Tràm Chim (2441Ha).. có hơn 141 loài chim sinh sống, nhiều nhất là loài sếu đầu đỏ. Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu. Trong lãnh thổ VN, phía thượng nguồn, sông Cửu Long làm thành vùng trũng như những hồ chứa nước thiên nhiên trong mùa lụt. Về phía biển, đồng bằng được phù sa bồi đắp cao ráo, thành những giồng để cất nhà cửa, lập vườn cây ăn trái . Dòng sông cho nhiều tôm cá quanh năm, bù đắp phù sa như một thứ phân bón hữu to rất tốt cho đồng ruộng. Toàn vùng, Mỹ Tho được coi là lý tưởng nhất cho nghề nông vì đất đai phì nhiêu, sông rạch đầy tôm cá, người dân làm chơi ăn thiệt, cuộc sống sung túc, tạo thêm dân trí lễ nghĩa với các thú vui nghệ thuật, mà phát triển nhất nếp sống miệt vườn tao nhã qua đờn, ca, hát xướng, thơ ngâm, hò đáp khi chèo thuyền giả gạo. Sông Tiền Giang chảy ngang qua thành phổ cổ kính Mỹ Tho, trước khi ra biển bằng nhiều nhánh. Giữa những nhánh sông có các cù lao rộng lớn phì nhiêu, làm thành tỉnh Bến Tre nổi tiếng với rặng dừa xanh lơn nhất nước. Trường Trung Học danh tiếng Nguyễn Ðình Chiểu tại Mỹ Tho, được coi như là ngôi trường đầu tiên của người Việt tại Nam Phần, trong lúc Sài Gòn mới có ngôi trường Trung học dành cho con cái người Pháp (nay là trường TH.Lê Quy Ðôn) , lập hồi cuối thế kỷ XIX. Vào năm 1926, Sài Gòn mới có trường TH.Petrus Ký, dành cho người Việt. Ðất Gò Công sát biển, nổi tiếng với Ðức Từ Dũ (Mẹ ruột vua Tự Ðức nhà Nguyễn), căn cứ chống thực dân Pháp của anh hùng Trương Ðịnh (1863). Ngược về phía nam, xuyên QL4 (nay là QL1), trước khi đến cầu Mỹ Thuận (thay thế phà), hai bên đường lẫn bờ sông, nhà cửa san sát, xen lẫn với vườn đủ loại trái cây và đồng ruộng lúa nước xanh um ngút mắt. Qua cầu, quẹo về hướng biển non 10 cây số, là tới Vĩnh Long, miền đất hiền lành xinh đẹp nằm trên Sông Cổ Chiên, một nhánh của Cửu Long. Chợ tỉnh trải dài theo bờ sông bồng bềnh những giề Lục Bình hắt hiu trong màu phù sa làm cho nước vàng đục. Thành cổ xưa còn đó với cây đa cổ thụ, làm nhớ tới Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông.. người uống thuốc độc quyên sinh để đền nợ nước, kẻ thỉ rời bỏ quê làng chôn nhau cắt rút, dắt díu gia đình ra tận Bình Thuận tị địa vào năm 1867, khi thành Vĩnh Long bị thực dân Pháp đánh chiếm. Gần chợ nay vẫn còn Văn Thánh Miếu được lập ra thờ Khổng Tử, nhưng ngày nay người Việt đến cúng bái, gần như chỉ biết tới Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông mà thôi. Bên kia sông Hậu là thành phố Cần Thơ, sung túc bề thế và xinh đẹp chỉ thua Thủ đô Sài Gòn. nên xưa nay vẫn được đời xưng tụng là Thủ phủ của Miền Tây-Nam Nam Phần, phát triển ngay từ đầu thế kỷ XX, ngay khi miền Hậu Giang trở thành vựa lúa gạo nuôi sống cả nước. Nhờ vậy mà cả cánh đồng lau sậy, tràm được, cá sấu, muỗi mòng, giữa sông Hậu và Vịnh Phú Quốc, được khai thác, đào kênh, đắp đường, mở mang làng xóm, trù phú như ngày nay. Thời Pháp thuộc, Cần Thơ có Chi nhánh Ngân hàng Ðông Dương, Nhà máy Ðiện lực rất lớn, cung cấp điện cho các tỉnh lân cận. Trường Trung học Công lập Phan Thảnh Giản thành lập từ năm 1926,hơn trăm năm qua đã đào tạo không biết bao nhiêu nhân tài của đất nước, trong đó không thể không nhắc tới Nhà Quân Sử nổi tiếng hiện nay tại hải ngoại là Pham Phong Dinh.. Cuối nước Việt, về hướng biên giới,đầu tiên là Cảng Cá,nằm ngay Vàm sông Ông Ðốc, qui tụ nhiều tàu đánh cá lớn khắp vùng. Xa hơn là Ngư Cảng Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang, nổi tiếng nhất nhì trong nước, ngang hàng với Ngư Cảng Phan Thiết-Bình Thuận. Biển ở đây cạn, nhiều bùn lại nhiều muỗi mòng nhưng ngược lại đầy tôm cá. Ngoài khơi Rạch Giá có hằng trăm đảo thuộc chủ quyền VN, trong đó có Hòn Tre diện tích lớn, dân đông.Kế bên là Hòn Sơn Rái nổi tiếng làm nước mắm cá biển Sát biên giới Việt-Kampuchia là Thị Xã Hà Tiên,phong cảnh hữu tình với Ðông Hồ, núi Tô Châu, ngôi chợ tuy nhỏ nhưng đây cổ kính. Ðối diện là Hải Ðảo Phú Quốc, lớn nhất VN, chuyên trồng tiêu, làm nước mắm, ngư nghiệp Từ Chợ Hà Tiên đi ngược lên dọc theo biên giới có Kênh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu đào vào thập niên 1920, thời Vua Minh Mệnh nhà Nguyễn. Kênh này như một thủy đạo, nối liền sông Hậu thông ra Vịnh Phú Quốc. Vùng này trũng thấp, đất phèn mặn, nên ruộng đồng hoàn toàn bị ngập, vào mùa lụt do sông Cưu Long dâng cao. Bảy Núi hay Thất Sơn bao gồm nhiều hòn lớn nhỏ, chạy dài trên 30km, mà đỉnh cao nhất là ngọn Núi Cấm (700m),mây trắng che mịt mù vào mùa đông, trong nuí có nhiều hang động thiên nhiên, trên sườn mọc đầy sắn, đậu, hoa quả và các cây thuốc Nam. Kế cận là Thị Xã Châu Ðốc, nổi tiếng ba miền là Miểu Thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, được xem là chốn linh thiêng, quanh năm có rất nhiều thiện nam tín nử tới hành hương cúng kính.. Chợ Châu Ðốc xây trên bờ sông Hậu, dưới sông tấp nập ghe thuyền. Phia bên kia sông có nhiều Làng Chàm Hồi giáo, chuyên sinh sống bằng ngư nghiệp và nghề dệt dệt tơ lụa. Thành phố Long Xuyên là thủ phủ của tỉnh An Giang, lúa gạo sung túc, đang phát triển mạnh nghề nuôi cá bè trên sông Hậu. Ðây là miền đất được mở mang sớm nhất ở Nam Phần, ngay từ năm 1700 khi Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh, được lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu, tới đây cũng cố biên giới, vì vậy các lưu dân từ Thuận Quảng theo chân đoàn quân vào đậy lập nghiệp rất đông đảo. Tại An Phú, đầu nguồn của sông Hậu trong tỉnh An Giang, nay còn sót lại Búng Bình Thiên, có diện tích rộng hơn 30.000 m2, là một vùng đất bị bỏ hoang vì nước sâu không thể trồng lúa được. Láng mọc đầy Sen và cỏ dại, là nơi chung sống của đủ loài thủy tộc, từ cá tôm, cho tới rắn rùa, sống dưới rừng củ co, bông súng, rau tràng.. cảnh sắc không gì thay đổi như từ hai ba thế kỷ trước. An Phú còn có tới 4 chợ trời biên giới và đông đảo người Chàm theo Hồi giáo cư ngụ. Sa Ðéc hiện nay chỉ là thị trấn, trong khi Cao Lãnh trở thành thị xã tỉnh lỵ của Ðồng Tháp. Nằm bên hửu ngạn sông Hậu, Sa Ðéc là vùng đất cổ, nổi tiếng với những vườn cây ăn trái của Nam Phần,nhờ khí hậu trong lành so với các tỉnh khác. Chợ Sa Ðéc đẹp, vùng lân cận nổi tiếng về sản xuất hoa hồng. Trên con đường từ chợ tới Bắc Vàm Cống, có hai làng nghề truyền thống là Nem Lai Vung và Chiếu Lấp Vò. Ngoài ra tại làng Ðịnh Yên, còn có một Chợ chiếu độc đáo, mà người điạ phương gọi là ‘ Chợ Ma hay Chợ Âm Phủ ‘, vì chợ chỉ nhóm họp hằng đêm từ 12 giờ khuya tới hừng sáng thì dẹp. Ðây là truyền thống đã có từ 100 năm qua, chuyên bán sĩ và lẽ hai loại chiếu ‘ Hà Niên’là loại chiếu bông vuông nhỏ và loại ‘ Vẩy Ốc ‘ màu trắng, bông được in bằng khuôn, làm rất công phu, để lâu không bị bay màu và lên mùi mốc. Ðồng Tháp Mười là vùng đất trũng, nhiều phèn, vào mùa lụt nước sông dâng cao tới 4m, cá tôm nhiều nhưng muốn có phải mua sắm dụng cụ mới khai thác được.. Tại đây còn có một loại lúa trời, mọc tự nhiên, ăn được nhưng không ngon. Trước đây Ðồng Tháp Mười coi như một đồng cỏ khổng lồ, ngày nay nhiều khu vực đã được khai khẩn để trồng lúa. Dân cư tứ xứ tới đây làm ăn rất đông, nhất là khu vực tiếp xúc với hai con sông Vàm Cỏ Ðông và Tây. Tại những tỉnh về phía Nam, nơi hạ nguồn của sông Hậu như Trà Vinh, Sóc Trăng, đồng bằng được phù sa bồi đắp, thành những giồng đất cao ráo, không bị úng lụt vì nước rút ra biển rất nhanh. Ðây là địa bàn cư trú cũa người Việt gốc Khmer và người Minh Hương (Tiều Châu chiếm đa số) . Ngoài những cánh đồng lúa, ruộng muối cò bay thẳng cánh ở Bạc Liêu, dân địa phương còn trồng nhiều hoa màu phụ như cải, dưa hấu, cây ăn trái.. Với người Việt gốc Khmer, thì thu nhập chính vẫn là cấy lúa ngắn hạn loại Thần Nông, trên đất cao không cần nhiều nước. 3-TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG : Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị, thuộc Miền Trung nước Việt, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết,thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao ‘ Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm ‘.Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào miền Châu Thổ Sông Cửu Long,vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người. Trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt, tổ tiên ta bao đời vừa phải ngăn chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng luôn luôn diễn ra cuộc chiến sống chết chống thiên tai bảo lụt, khắp ba miền Trung, Nam , Bắc., mỗi miền có một địa hình, thời tiết khác nhau nên cách phòng chống cũng vô cùng phức tạp. Dựa vào tài liệu của bao đời lưu lại, ta thấy người xưa đã biết rất rõ ràng phương pháp trị thủy. Miền Trung điạ hình hẹp và dốc, sông ngắn nên lụt lội dâng lên rất mau., phải luôn đề phòng để kịp thời phòng chống. Ở Bắc phần, đồng bằng thấp hơn mực nước sông vào mùa lụt từ 5m ố 7m, vì vậy cần phải đắp đê rất cao để ngăn lụt. Hằng năm vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn bên Tàu chảy về, cộng thêm nước từ miền Trung Du và đồng bằng, lại còn thủy triều và nước biển dâng cao, do ảnh hưởng của bảo, là nguyên nhân mà các thời đại VN trong lịch sử, phải đắp đê ngăn ngừa lụt ở miền Bắc. Năm 886 sau Tây lịch, miền Bắc đã bắt đầu khởi công xây dựng hệ thống đê điền, doc theo các con sông Hồng,Thái Bình và nhiều con sông quan trọng khác.. Hiện nay qua báo cáo, hệ thống đê tại Bắc Việt dài tới 3500 km,tổng khối lượng đất đá xữ dụng là 400 triệu m3, gồm 260 bờ kè, 800 cống thoát nước. Những con đê với bờ cao, dốc thoải,thảm cỏ xanh rờn, uốn lượn hai bờ sông, đã vẽ nên bức tranh quê làng VN, thật là êm đềm hạnh phúc. Khắp nơi chen chúc ruộng đồng, vườn tược và nhà cửa đình làng, ân hiện sau lũy tre xanh, đã nói lên thể phách văn minh văn hiến của Dân tộc Hồng-Lạc. Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới 15-15,5m. Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Ðà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể.. để hạ bớt mực nước lụt. Câu chuyện thần thoại ‘ Sơn Tinh Thủy Tinh ‘ thời Tổ Hùng dựng nước, được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp hồi tiền chiến, vẽ lại bằng bức tranh thơ, đã nói lên cuộc chiến quyết liệt của Dân Tộc Việt,trước thảm nạn lụt lội và giặc thù truyền kiếp, cả hai đều xuất phát từ nước Tàu. Vậy mà từ Hồ Chí Minh tới các chóp bu kế tiếp sau này, lúc nào cũng to miệng bưng bợ Trung Cộng, rằng là đồng chí đồng rận, chủ nghĩa xã hội anh em, môi hở răng lạnh, sông liên sông núi liền núi.. cho nên VC mới đem không biết bao nhiêu đất đai biên giới, biển đảo để mà dâng cúng cho quan thầy,cũng đâu có gì lạ. Ðồng bằng sông Cửu Long trái lại bằng phẳng,cho nên trước đây người dân bản địa có tập quán là cứ sống chung với lủ lụt cho tới khi nước rút hết, chứ không làm gì cả. Ta biết Sông Mekong tuy phát nguồn tận Tây Tạng và chảy qua các nước Miến Ðiện, Thái Lan, Lào, Kampuchia mới vào Nam VN. Quan trọng nhất, là dù phần cuối của sông Mekong, với tổng diện tích tự nhiên chỉ có 3,9 triệu ha, chiếm 5% toàn bộ lưu lượng của cả dòng sông. Trong lúc đó hằng năm,miền tây nam Nam phần, phải nhận của sông Cửu Long, hơn 460 tỷ nước, cùng 200 triệu tấn phù sa, tạo nên miền châu thổ phì nhiêu sông Tiền, sông Hậu ngày nay. Lãnh thổ VN, chỉ có địa hình Nam Phần bằng phẳng, thấp không có đồi núi nhiều (trừ núi Bà Rá, Bà Ðen ở miền Ðông-Bắc,Thất Sơn ở biên giới phía Tây). Nên dù khắp nơi có đầy kênh rạch, sông ngòi nhưng vào mùa nước lụt, vẫn không chịu nổi ảnh hưởng của thủy triều và lượng nước tuôn về từ thượng nguồn, khiến cho lòng sông không tải kịp nước ra biển, gây nên hiện tượng úng ngập tràn lan kéo dài hằng tháng. Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào.. thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ , làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản.. Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước. Thật ra vấn đề lụt lội tại Nam Phần, đã được người Pháp quan tâm từ năm 1926, khi Ðông Dương là thuộc địa của thực dân. Qua những hồ sơ lưu trữ, ta biết tới nay vùng này đã bị 31 lần lụt lội lớn nhỏ. Quan trọng nhất là năm 1966, vào mùa lụt, nước sông Cửu Long tại Tân Châu lên tới 5,28m (trước đó mực nước tối đa là 4,6m), đã làm cho toàn thể đồng bằng miền Tây chìm ngập trong biển nước. Trước đây người ta thường có quan niệm về sự lụt lội của Nam phần, là điều phải xãy ra theo chu kỳ qui định của thiên nhiên trong 4 năm. Ðó là những giai đoạn 1937-1940, 1946-1949. Nhưng giai thoại trên, kể cả lụt lội đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, coi như đã chấm dứt từ năm 1980, nguyên do vì Trung Cộng đã phá vở gần như tất cả những môi trường thiên nhiên tại thượng nguồn nhưng VN lại lãnh đủ hậu quả, nhưng cứ đem hiệu ứng nhà kính, đã gây ra sự thay đổi thời tiết, khí hậu, để mà đổ thừa hay che dấu sự thực. Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Ðồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại , từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ. Sông Mekong khi chảy tới Kampuchia , trong tỉnh Kompong Cham thì lòng sông không đủ sức chuyển vận lưu lượng nước từ thượng nguồn, nên phần lớn ruộng đất trong vùng cũng bị ngập nước nhiều tháng, từ tháng 7-12 hằng năm. Nhờ nước tràn bờ nên lưu lượng giảm. Thêm vào đó tại NamVang, sông Cửu Long có một chi nhánh lớn là sông Tonle Sap, đã dẫn nước về chứa trong Biển Hồ có thể tích tới 80 tỷ m3.Nước này lại chảy ngược ra sông chính vào mùa khô. Cũng tại Kompong Cham, sông Cửu Long lại chia thành hai nhánh : Nhánh chính tới Neak Luong và chảy vào VN tại Tân Châu gọi là Tiền Giang. Nhánh Phụ còn gọi là sông Bassaac vào Châu Ðốc, đó là sông Hậu và ra Ðông Hải bằng chín cửa nhưng nay cửa Ba Lai tại Bến Tre đã bị cát biển và phù sa bít kín. Tại đầu nguồn, vì lưu lương nước quá mạnh, nên dòng sông thường bị tràn bờ, đã tạo nên vùng nước úng thủy Ðồng Tháp Mười và Khu trũng Tứ Giác Long Xuyên. Ngoài ra vùng này còn phải tiếp nhận một khối lượng nước phèn, hơn 77% từ Kampuchia tràn sang trong mùa lụt. Từ năm 1961 tới nay, miền Tây Nam Phần đã bị nhiều trận lụt rất lớn và thiệt hại, vào các năm 1961-1966-1984-1991-1994 với mực nước dâng cao từ 4,67m ố 5,28m. Năm 1978 tại Tân Châu, nước lên cao 4,88m làm 87 người chết, gây hư hại 307.000 Ha lúa và 9000 căn nhà. Năm 1994 mực nước lụt lên tới 5,11m làm chết 407 người, gây tổn thất 283.000 Ha lúa, 2799 căn nhà bị nước cuốn, thiệt hại tới 2284 tỷ tiền Hồ.Năm 1995 lại lụt, làm 150 người thiệt mạng, cuốn trôi nhiều nhà cửa và ruộng lua. Nguy cơ trùng trùng nhưng Ðảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ.. nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó,thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong.. đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất.. được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo. Khôi hài nhất là bọn Tàu trắng Á Châu và các nước Tây Phương, trong cái gọi là Ủy Ban hợp tác và bảo vệ sông Mekong, lúc nào cũng to miệng về những chuyện trên mây,mục đích vẫn là những dự án đầu tư kiếm lời, chứ đâu thấy ai nhắc tới hiểm họa, khủng bố mà Trung Cộng đã gây cho các nước ở hạ nguồn sông Cửu Long. 4- ÐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN : Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ : Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều. Ðã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Ðây là thảm họa chỉ mới xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên,vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng. Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa. Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 ố 1,3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá , ốc.. để xuất cảng. Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Ðồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Ðồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa. Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km. Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng. Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại , không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho.. mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ.đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước,dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước. Hởi ơi viết chuyện nước mà đau lòng với nước ‘ ‘ Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mõi miệng cái gia gia Dừng chân ngoảnh lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta ‘ (Bà Huyện Thanh Quan) Hay ‘ Non cao đã biết hay chưa Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn ‘ (Tản Ðà) Vẽ hửng hờ và êm ả của giòng sông, vào lúc chiều tà hay khi trăng treo trên đầu núi, không biết Nguyễn Du tiên sinh sống lại, đứng trước những thảm họa trên,đang ào ạt trút xuống những giòng nước thân thương đó, từng phút, từng giây, từng trong hơi thở của nhip sống Dân Tộc Việt, có còn đủ cảm hứng để hạ bút đề thơ : ‘ Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác, biết là về đâu ‘ -/- Xóm Cồn Hạ Uy Di Cuối năm 2013 - MƯỜNG GIANG

 

Vị tướng được những người cộng sản xem là “khai quốc công thần” cuối cùng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 4 tháng 10 vừa qua. Vậy là, biểu tượng sống về công lao “giành độc lập” và lý tưởng “cách mạng”, tượng đài hữu danh vô thực về một thời “hào hùng” của những người cộng sản đã trở về với cát bụi. Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã lặng thinh một cách vô cảm trước biết bao người đã ra đi một cách bi thương khác. Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua. Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài- dân chủ nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn? Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đọa đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam Cộng Hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng trăm nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không? Dù họ là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra. Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục. Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy? Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính cái quá khứ “oai hùng” và cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Vậy mà, không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhân của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Boxite Tây nguyên) Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắn có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ dân chủ. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia. Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng. Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước? Hay như hoàn cảnh gia đình tôi, ba tôi ở tù khi chị em chúng tôi còn thơ dại và mồ côi mẹ; mười mấy năm trời gia đình tôi sống trong cảnh bần hàn, thất học và sự khủng bố của chính quyền. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh! Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng, những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên... Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với sự tô vẽ KHÔNG THẬT . Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với lương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông. HTV - Sài Gòn ngày 6 tháng 10 năm 2013

 

Câu chuyện kinh thánh Cain và Abel Đức Thánh Cha Phanxicô nêu ra trong buổi tối canh thức dài bốn giờ đồng hồ với 100.000 người tham dự hôm 7 tháng 9 tại cộng trường thánh Phêrô, Roma, cầu nguyện cho Syria và thế giới cũng hòan tòan thích hợp cho tình hình cụ thể đang xảy ra tại Viêt Nam. Câu trả lời của Cain “Tôi không biết. Tôi là người giữ em tôi sao?” (Gen 4:9) làm ta phải nghĩ ngay đến khả năng Chúa buộc anh ta phải xét mình về một bổn phận phải chu tòan. Một cách khác, đây là câu Chúa hỏi nạn nhân Abel. Để tìm một trả lời cho hiện tình trong và ngòai nước chúng ta chung quanh sự việc tương tự xảy ra tại Mỹ Yên, câu chuyện người Samaritano nhân hậu Chúa dùng để trả lời cho người luật sĩ hỏi Chúa đòi hỏi mỗi người Việt Nam chúng ta phải suy nghĩ thật kỹ, thật nhiều. Ai là anh chị em của Đức Cha Phao lô Nguyễn Thái Hợp? Ai là anh chị em của đồng bào ở Mỹ Yên? Anh em của Đức Cha Hợp và đồng bào Mỹ Yên trước tiên không ai (khác) hơn là (chính) nhà cầm quyền Cộng sản tàn ác và bọn tay sai khát máu đã hành hung tàn bạo dân chúng Mỹ Yên. Hãy hạ súng, dùi cui, nắm tay...xuống, nói như Đức Giáo Hòang Phanxicô, để nhìn rõ mặt: (vì) đây là anh chị em mình và ngưng ngay hành động dã thú. Hãy ngồi xuống nói chuyện với nhau để hòa giải thẳng thắn theo lẽ phải, trước khi Chúa ra tay tiêu diệt như đã tiêu diệt quân đội Pharaô hùng hổ, để bảo vệ dân Israel an tòan. Anh em của Đức Cha Hợp và giáo dân Mỹ Yên không ai hơn là các giám mục trên toàn cầu, đặc biệt là tòan bộ các giám mục Việt Nam trong cũng như ngoài nước; Giáo Hội phải dấn thân vào chính trị để cải tạo xã hội như xác định mới đây của Đức Thánh Cha Phanxicô. Hãy nghe các giám mục Cuba lên tiếng đòi hỏi chính quyền cải tổ. Ích lợi gì khi “người đến nhân danh Đức Giáo Hòang” chỉ đi tour hết giáo phận này đến giáo phận kia với kèn trống hàng rào danh dự, vòng hoa, hoan hô (ngu ngơ sa bẫy quảng cáo cho chế độ rồi) mà không đến ngay Mỹ Yên? Hãy có can đảm như Chúa bảo họ đừng tôn mình lên thế. Hãy như Giáo Hòang Phanxicô ra lệnh hạ tượng đài của ngài xuống ngay. Bỏ đi cách xưng tụng khách sáo, không dám nói thẳng nói thật đề cập những sai lầm trong các cuộc đại hội, chỉ tổ làm cho con người mọi cấp bậc mãi sống trong ảo tưởng không đem lại ích lợi gì cho Giáo Hội, xã hội. Theo gương Đức Thánh Cha Phanxicô đơn giản tiệc tùng để còn thời giờ đến thăm một giáo dân nào đó của giáo xứ đang bị cơn bệnh giày vò nằm cô đơn trong căn nhà tồi tàn không thể đi đón tung hô giám mục được. Hãy bỏ mũ gậy xuống để nhìn thấy rõ mặt ‘người anh em’ họ Nguyễn đang đơn độc, bày chiên đang bị sói dữ xâu xé tả tơi mà mau mau lên tiếng bênh đỡ công lý lẽ phải, không cần phải chờ đến lá thơ phân bua gởi tới từng nhà giám mục trên tòan quốc, sự kiện này cho ta cảm giác một sự ngây ngô thế nào ấy! Công bố của văn phòng Giám Mục Vinh và thư chung của Đức Cha Hợp không đủ để đồng thuận sao? Khi tôi còn nhỏ, mỗi khi trong làng có cháy nhà, là tự động mạnh ai nấy đều xách thùng, chậu thau, vừa chạy đến vừa hô hóan mọi người tiếp cứu người hàng xóm lâm nạn, đâu có ai chờ văn thơ tiếp cứu đâu! Tại sao khi phái đòan nhà nước ViệtNam đề cập tới vấn đề giáo phận Vinh thì Vatican nói chưa được nghe biết gì từ phía Giáo Hội? Giáo dân có quyền đòi hỏi các chủ chăn, đòi hỏi người đại diện phải chu tòan nhiệm vụ của mình, mà thật ra chính Chúa đòi hỏi gay gắt trách nhiệm coi sóc đã được ủy thác này. Hãy bỏ đi não trạng sai lệch “ban cho” của thời đại. Anh em của Đức Cha Hợp và đồng bào Mỹ Yên là các linh mục Việt Nam được thông phần vào chức linh mục thừa tác để gần gũi mang tin mừng cứu độ đến mọi người nghèo khó, an ủi cho người sầu khổ, tự do cho kẻ bị áp bức cầm tù... Hãy giang tay cầu nguyện và tập hợp dân chúng khắp nơi cầu nguyện, người Việt cũng như không phải người Việt trong xứ đạo mình coi sóc. Hãy đừng viện cớ bận bịu việc mục vụ, hãy ngưng xây nhà thờ xa hoa cao vút trời xanh, nghĩa trang thênh thang tốn phí… để có thì giờ cúi sâu xuống mà nhìn rõ mặt mũi thân thể nhân lọai đang quằn quại loang đầy vết máu. Anh em của Đức Cha Hợp và giáo dân Mỹ yên là tòan bộ dân Chúa khắp nơi trong Giáo Hội qua cùng một phép rửa đã trở thành một gia đình của Chúa, đặc biệt là giáo dân Việt Nam tự hào là thế hệ con cháu của các anh hùng tử đạo, của Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận. Con cùng một Cha mà sao mà thờ ơ với nhau đến thế sao? Con cháu các anh hùng mà sao nhút nhát thế? Anh em của Đức Cha Hợp và đồng bào Mỹ Yên là tòan thể nhân lọai sinh ra trong tình người, đặc biệt là số nhân lọai mang trong mình máu đỏ da vàng. Máu chảy ruột phải mềm. Đây không phải là thứ tình cảm suông, nhưng là một bổn phận phải chu tòan. Im lặng hoặc không hành động là vô cảm, là trốn trách nhiệm, là hèn nhát, là như Juda chối Chúa, là đồng lõa với sự ác với bóng tối. Lịch sử sẽ xét xử. Chúa sẽ xét xử vì “máu của em con đã vang thấu đến tai ta” (Gen 4:10). Thật đau lòng khi thấy dân mình đánh dân mình; nhưng còn đau lòng hơn khi dân mình cứ dửng dưng nhìn anh em mình dở sống dở chết dọc đường và “lẩn tránh qua bên kia đường mà đi.” Chúa đang hỏi mỗi người chúng ta, giám mục, linh mục, giáo dân, con người, “Anh em của Đức Cha Hợp đâu hết rồi?” “Anh chị em của giáo dân Mỹ Yên, của đồng bào Mỹ Yên đâu hết rồi?” Hãy tự vấn lòng xem mình đã có thái độ thế nào, đã làm được gì cho anh em? Đồng cảm mà thôi chẳng ích lợi gì. Phải hành động, Tự hành động. Chờ đợi thư cầu cứu thì không còn là tình người và chẳng còn gì là bác ái Kitô giáo nữa! Mục tử phải dẫn đầu, phải đi tiên phong không thể rụt rè núp sau đòan chiên. Không thể để biến chất thành Giấy Mã (G.M.). Khi con người không thể nhận ra mặt anh chị em mình, bấy giờ đêm tối bắt đầu! Bấy giờ con người đã bị bóng tối khuất phục, là đã “hỏa hợp hòa giải” mà thực chất chỉ là cách sống “xin cho” chỉ được coi là ngoan mà không khôn như vẫn viết lách bâng quơ trên báo lệch lạc dân tộc, là đã thành ‘đồng chí’ (đ.c.) với kẻ thồng trị đàn áp rồi! “Nước nào tự chia rẽ sẽ bị sụp đổ” (Lk 11:17). Tôi mơ ước nếu cứ mỗi lần bóng tối hành động gian ác là một lần tòan cõi ViệtNam, và tòan thế giới bất cứ nơi nào có người Việt Nam đều vang lên tiếng kinh cầu tha thiết thấu tới trời cao, cộng với ánh nến cảm thông đòan kết yêu thương như Chúa dạy thắp lên bừng sáng mọi miền, tôi tin rất vững vàng sức mạnh cũa Thiên Chúa vượt trên quỉ hỏa ngục sẽ làm bóng tối khiếp sợ mà rút lui, vì ma quỉ biết rõ hơn ai hết sụp lạy dưới chân Chúa mà thưa, “Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đền ông? Xin ông đừng hành hạ tôi” (Lk 8:28). Cử hành năm đức tin mà ta đã làm gì để rèn luyện đức tin của ta hay chỉ treo logo cho cao để chim trời thấy mà thôi? Hãy hạ thấp xuống để soi sáng đời sống hàng ngày của mình. Trong ý thức bồn phận làm người, bổn phận của kẻ mang trong mình máu đỏ da vàng, bổn phận là thành phần của gia đình Giáo Hội, là linh mục Công Giáo, Cộng đòan Công Giáo Việt Nam tại Saskatoon, Canada gồm 45 gia đình Chúa Nhật vừa qua ngày 22 tháng 9 năm 2013 đã cùng dâng Thánh lễ, chầu Thánh Thể, lần hạt cầu nguyện cho những người gây tội ác sớm ăn năn hối cải để được ơn cứu rỗi (Amos 8:4-7) hầu thôi gây thương đau cho chính dân mình; cho các nạn nhân của bạo lực vô nhân tính được mau lành bệnh phần xác và giữ vững tinh thần kiên cường tin tưởng ánh sáng công chính của Chúa sẽ đập tan bóng tối satan và bẽ lũ; nhất là cầu cho mọi người Công Giáo Việt Nam từ giám mục, linh mục tới giáo dân thuộc mọi giáo phận trong nước và ngòai nước cũng như mọi người Việt Nam ở mọi nơi trên mặt đất này được thức tỉnh để không còn thờ ơ vô cảm nhưng đồng cảm trước sự đau khổ oan khiên của đồng bào mình, được khôn ngoan để đồng thuận với ánh sáng mà không bị bóng tối ru ngủ hoặc làm nhát sợ nhưng can đảm đứng lên đồng hành thay vì để mặc “người anh em” Giám Mục đơn độc chống chọi một mình, để mặc “người anh em” giáo dân bị đánh nằm dở sống dở chết dọc đường mà lẳng lặng sống an thân trong vòng ranh giới của mình như chuyện đèn nhà ai nấy rạng. Tham dự giờ cầu nguyện có các đại diện của cộng đồng Phật Giáo và Cộng đồng người Việt tại Saskatoon. Sau giờ cầu nguyện bà con đã cụ thể quyên góp một số tiền gởi về tiếp mua thuốc men cho các nạn nhân. Xin Chúa thương xót tha thứ chúng con. Lạy Mẹ La Vang cầu cho dân Việt chúng con biết thương nhau như Chúa và Mẹ thương chúng con. Lm. Phạm Thuận Phong 26-9-2013

 

Kính gửi: Đại hội lần thứ 6 Phong trào giáo dân Hải ngoại Ban điều hành, cùng toàn thể thành viên phong trào và tất cả những người quan tâm. Kính thưa toàn thể quý vị Trước hết, tôi xin gửi đến Đại hội lời chúc thành công tốt đẹp, chúc tất cả mọi người luôn được sức khỏe, bình an, hạnh phúc trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Tôi viết những dòng này từ Hà Nội, Thủ đô của một đất nước có tên là “Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” được tự ca ngợi là Thủ đô có nền văn hiến ngàn năm kết hợp với “tinh hoa thời đại là Chủ nghĩa Mác – Lenin và đạo đức Tư tưởng Hồ Chí Minh” vô địch. Là một đất nước “có nền dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản” theo lời của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan. Lý do tôi buộc phải viết bức thư này tới đây, bởi lẽ ra ngày hôm nay, tôi phải có mặt tại đây để nói lời cảm ơn đối với tất cả quý vị, với tất cả anh em, bạn bè và những người luôn hướng về đất nước quê hương Việt Nam, ngày đêm mong mỏi cho quê hương ta được an bình, đất nước được phồn thịnh, người dân Việt được ấm no và ngẩng cao đầu với anh em bạn bè trên thế giới. Nhưng, tôi đã không thể có mặt trong dịp quan trọng này do đang bị nhà cầm quyền cấm xuất cảnh không lý do mà không hề được thông báo theo các quy định mà chính họ đưa ra. Tôi đã hai lần bị tước quyền tự do đi lại, xuất cảnh tại cửa khẩu sau khi đã chuẩn bị xong cuộc đi nước ngoài cho việc riêng vào tháng 8/2012 và tháng 8/2013. Điều này, phần nào đã phản ánh được cái “Tự do – Hạnh phúc” dưới cái Quốc hiệu Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có ý nghĩa gì. Kính thưa toàn thể quý vị Thật khó nói hết được sự xúc động, khi tôi được Phong trào Giáo dân Hải ngoại chọn vinh danh trao tặng giải thường Tự do tôn giáo Nguyễn Kim Điền 2013 cùng với mục sư Phạm Ngọc Thạch. Vinh dự này đối với tôi là một phần thưởng lớn lao, đây là điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới kể từ khi bắt đầu cất tiếng nói nhỏ bé của mình cho quyền cơ bản nhất của con người: Quyền tự do tôn giáo – quyền được làm người có niềm tin trong một đất nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản vô thần. Đây không chỉ là vinh dự riêng có cá nhân tôi, mà là nguồn cổ vũ, động viên tất cả anh chị em cùng có chung nguyện ước, chung ý chí và hành động, chung một tấm lòng mong muốn cho đất nước, người dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Niềm vinh dự này nói lên rằng: Không có tiếng nói nhỏ bé nào cho Sự thật – Công lý, cho quyền Con người mà ở đó quyền tự do tôn giáo là một trong những quyền cơ bản nhất – bị lãng quên. Niềm vinh dự này cũng nói lên rằng: Sự hiệp thông, sự nâng đỡ, sự hiểu biết lẫn nhau, thông công với nhau của các tín hữu trong Phong trào Giáo dân Việt Nam Hải ngoại không chỉ là ở ở Hải ngoại mà là khắp nơi trên thế giới cho đến Việt Nam - một ốc đảo Cộng sản – là một đặc tính riêng có của người Công giáo. Giải tự do tôn giáo mang tên Đức Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền là một vinh dự lớn lao đối với chúng tôi, những người đang chấp nhận nhiều khó khăn, gian khó… như là một phần cuộc sống bình thường ở một đất nước không bình thường. Chính tấm gương can đảm, kiên cường và sự kiên trung của Đức cố Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền luôn soi sáng cho những người dấn thân, bước tới tìm đến những hi vọng mới, những niềm tin mới trong giai đoạn đen tối, đầy gian nan của đất nước bởi tai họa Cộng sản vô thần. Kính thưa quý vị Được chọn trao tặng giải thưởng Tự do tôn giáo Nguyễn Kim Điền 2013, tôi nhớ đến những người cùng đồng hành với chúng tôi trên con đường cất tiếng nói cho công lý, sự thật, cho quyền tự do tôn giáo của người dân Việt Nam. Chúng tôi nhớ đến những giáo dân âm thầm với niềm tin vào Chúa bền bỉ trên miền núi Phía Tây Bắc Việt Nam. Những năm 2008, khi chúng tôi đến với họ, cùng đồng cảm với họ khi hơn 50 năm không một lần được có Thánh lễ, không được gặp Linh mục. Chúng tôi nhớ đến những gia đình giáo dân, mỗi khi chúng tôi đến với họ, tất cả đều trong trạng thái âm thầm, kín đáo và cảnh giác. Bởi xung quanh là công an, là dân phòng, là cán bộ và chúng tôi là “thế lực thù địch”. Đêm Noel 2008, chúng tôi đã phải giáp mặt hàng chục công an, cán bộ ngăn cản con đường đến gia đình một giáo dân giữa Thành phố Sơn La. Để rồi giữa đêm tối họ đưa chúng tôi ra rừng ngủ vì “Ở Sơn La không có nhu cầu tôn giáo”. Chúng tôi nhớ đến những bà con Giáo dân Giáo xứ Tam Tòa đã mấy chục năm nay không nơi thờ phượng, bởi nhà thờ đã bị cướp trắng làm nơi ghi “dấu tích tội ác đế quốc Mỹ”. Khi dựng cái mái che tạm trên nền nhà thờ liền bị đánh đập, tấn công không thương tiếc. Chúng tôi đã đến với họ ngay ngày hôm sau để sẻ chia với họ những khổ đau, để thông tin về tội ác của nhà cầm quyền CSVN đối với họ. Chúng tôi nhớ đến Giáo xứ Cồn Dầu, một xứ đạo sầm uất giữa khu vực đẹp nhất bên bờ sông Hàn. Thế rồi chính sách cướp đất bằng các dự án và họ đã phải rời nơi chôn rau cắt rốn hàng trăm năm của mình để ra đi đến những nơi vô định. Chúng tôi nhớ đến các Giáo xứ Cẩu Rầm, Đồng Chiêm, Con Cuông, Chương Mỹ, Mỹ Lộc, Mỹ Yên, tu viện Bát Nhã của Phật Giáo, và những anh em Phật giáo Hòa Hảo… những nơi người dân bị tấn công dã man và Thánh tượng, tôn giáo bị xúc phạm. Rất nhiều, rất nhiều nơi, nhiều người đã đồng hành với chúng tôi trên con đường nói lên sự thật, đòi quyền tự do tôn giáo cho mỗi người có niềm tin. Rồi cũng như bao tài sản của Giáo hội Công giáo bị cướp đoạt trong cái gọi là nhà nước Xã hội chủ nghĩa, tài sản, ruộng đất của bà con nông dân từ Nam đến Bắc, từ vùng núi đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành phố… lũ lượt bị cướp đoạt phục vụ quan tham đã gây nên nạn lưu vong ngay trên quê hương, đất nước mình. Những người dân oan, nạn nhân đó đã đồng hành cùng chúng tôi. Đặc biệt là các vụ nông dân nổi dậy tự phát như Văn Giang, Dương Nội, Vụ Bản, Tiên Lãng và nhiều nơi khác. Chúng tôi cũng nhớ đến những người bạn đủ mọi tầng lớp trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, vì biển đảo của Tổ Quốc cũng như các nhân sĩ, trí thức của đất nước trong các nhóm kiến nghị sửa đổi chính sách, tuyên bố các quyền dân sự và chính trị của mỗi người dân… Họ là những nạn nhân và là những người bạn của chúng tôi khi sát cánh bên nhau, mỗi người một hoàn cảnh nhưng cùng một ý nghĩ là đòi lại quyền sống cho họ, cho dân tộc và đất nước, trong đó sát cánh bên nhau đòi hỏi quyền con người trong đó có quyền tự do tôn giáo của mỗi người Việt Nam. Chúng tôi cũng xin tri ân tất cả anh chị em thân nhân, những người quen biết và không quen biết, dù xa cách quê hương vẫn nặng lòng và đau đáu với quê hương mình và hiệp thông, giúp đỡ nhiều những anh em chúng tôi trong nước bằng nhiều mặt. Chúng tôi xin tri ân, cảm tạ tất cả. Kính thưa quý vị Những năm qua, với sự phát triển chung của phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, tuy chậm chạp so với yêu cầu, nhưng có những tiến bộ lớn. Nhà cầm quyền CSVN với chính sách độc tài, hà khắc và tàn bạo, đã buộc phải có những bước thụt lùi trong nhiều chính sách, nhất là đối với tôn giáo trước sự đoàn kết và đâu tranh kiên trì, mạnh mẽ của nhân dân ta. Tuy vậy, con đường đi đến tự do tôn giáo, tự chủ của tôn giáo là con đường đang hết sức gian nan trong một chế độ vô thần, xảo quyệt và đầy âm mưu. Ở đó, người ta muốn biến các tôn giáo thành lễ hội. Ở đó, người ta muốn thao túng các tôn giáo từ chức sắc đến các tín đồ. Ở đó, tôn giáo hình thức được sử dụng làm lá bài, làm vật trang sức cho chế độ độc tài. Các tôn giáo không thuộc sự quản lý, chi phối và điều hành, dần dần chuyển thành “thế lực thù địch” của nhà nước. Do vậy, mà con đường đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam đang còn xa xôi và đầy gian khó. Xin được hiệp thông cùng nhau trên bước đường gian khó đó, để quyền làm người, quyền tự do tôn giáo của người dân Việt Nam. Kính thưa tất cả quý vị Khi tôi viết những dòng này gửi đến quý vị, trên quê hương tôi, trên Giáo phận mẹ quê nhà, giáo dân Mỹ Yên đang rên xiết, đau thương bởi những cú đánh, những sự đàn áp tàn bạo của bàn tay bạo lực cộng sản. Nhiều người đang trong cảnh tù tội, bắt bớ, giam cầm và nhiều người đang bị phân biệt đối xử. Đặc biệt các chủ chăn, Đức Giám mục Giáo phận đang là mục tiêu của làn sóng truyền thông đỏ bẩn thỉu vu cáo, đe dọa, bôi nhọ. Ngày hôm nay, cũng là ngày hơn nửa triệu giáo dân Giáo phận Vinh sẽ hiệp ý cùng dâng Thánh lễ cầu nguyện cho Giáo xứ Mỹ Yên, các nạn nhân cách riêng và tự do tôn giáo nói chung. Xin hiệp thông cùng những hoạt động đó để dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện cho các tôn giáo được tự do, tự chủ và được nhìn nhận cách xứng đáng. Đặc biệt xin cho Giáo hội Việt Nam, được vững vàng trong thử thách hiện nay và luôn vững vàng trước mọi phong ba, bão tố trên bước đường đi của mình. Chúng ta cũng cầu xin cho đất nước Việt Nam chúng ta, sớm được Thiên Chúa đoái thương, mau giúp thoát khỏi họa vô thần Cộng sản. Chỉ có như vậy, đất nước mới tiến bộ, nhân dân mới ấm no, hạnh phúc và lãnh thổ đất nước mới được bảo toàn. Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả quý vị và xin cầu nguyện, hiệp thông nhiều với chúng tôi. Hà Nội, 5/10/2013 J.B Nguyễn Hữu Vinh

 

Ngay từ tháng 8 năm 1945, khi cướp được chính quyền, Hồ Chí Minh đã bắt tay xây dựng một chế độ độc tài toàn trị với việc thanh trừng lãnh tụ của các đảng phái chính trị không cộng sản cũng như thủ tiêu tất cả các sỹ phu yêu nước không đồng chính kiến với Hồ Chí Minh, để giành quyền độc tôn thống trị đất nước và dân tộc về đảng cộng sản. Với chính sách cai trị đó, Hồ Chí Minh và các lãnh tụ khác của cộng sản đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác trong suốt thời gian nắm quyền, khiến cho dân tộc Việt Nam triền miên trong điêu linh, tăm tối, đất nước Việt Nam phải thường xuyên đối mặt với hiểm họa này đến hiểm họa khác, từ hàng triệu thanh niên hai miền Nam – Bắc đã phải vong mạng trong cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam mà đảng cộng sản Việt Nam ngoa ngôn là giải phóng dân tộc, cho đến hàng trăm ngàn thanh niên của nước Việt Nam sau thời nội chiến cũng đã phải bỏ mình trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, xâm lược Cambodia vào năm 1978. Sai lầm nối tiếp sai lầm, hiểm họa tiếp liền hiểm họa bởi mọi chính sách từ an ninh quốc phòng cho đến ngoại giao, nội trị của Việt Nam đều do đảng cộng sản quyết định mặc dù trên lý thuyết, hiến pháp của cộng sản Việt Nam quy định rằng: “Quốc hội Việt Nam là một cơ quan quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam và là cơ quan quyền lực Nhà nuớc cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và rằng “Thành phần nhân sự của cơ quan này là các đại biểu quốc hội Việt Nam, do cử tri Việt Nam bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước. Thông qua các đại biểu và thông qua quốc hội, nhân dân Việt Nam sử dụng quyền lực của mình để định đoạt các vấn đề của đất nước. Theo hiến pháp và luật pháp nhà nước, các đại biểu quốc hội không có nghĩa vụ phải tuân theo các chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam.” Nhưng trên thực tế thì Chủ tịch Quốc hội được đề cử bởi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, và 90% các đại biểu quốc hội là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam vì lẽ đó, họ phải luôn luôn tuân thủ các chỉ thị của đảng. Do đó, Quốc hội Việt Nam không có được sự độc lập khỏi Đảng CS khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Mà mọi quyết sách về các vấn đề của đất nước đều do 14 ủy viên Bộ Chính Trị đưa ra. Vả lại, trong số 493 đại biểu quốc hội, thỉ chỉ có khoảng 1/10 tức là khoảng 49 người có được học hành tương đối quy củ để có thể có những nhận thức độc lập về các chương trình nghị sự của quốc hội về những vấn đề hệ trọng của đất nước, thành phần còn lại của quốc hội chủ yếu là xuất thân từ các gia đình có công lao với chế độ, hoặc các chức sắc tôn giáo quốc doanh hoặc các “cán bộ” khung của các sắc tộc thiểu số ở miền núi, chỉ cần biết tuyệt đối trung thành với chế độ mà không cần phải có chút tri thức nào. Và cũng thật đáng buồn là thiểu số những đại biểu quốc hội hội có chút tri thức nói trên thì lại thiếu nhân cách và bản lĩnh để có thể dám làm những việc như cụ Nguyễn Trường Tộ đã làm trước đây trong chế độ quân chủ là điều trần với nhà vua về quốc kế dân sinh, về cải tổ chính trị, văn hóa, khoa học và giáo dục với một tâm tình nặng trĩu với tiền đồ của quốc gia, dân tộc rằng: “Biết không nói là kẻ bất nhân, nói mà không nói hết là kẻ bất nghĩa. Thế cho nên thân tôi tuy ở chốn giang hồ mà lòng vẫn gửi nơi lăng miếu. Tôi thật không nỡ nhìn thấy nước nhà đổ nát, trăm họ lưu ly, cho nên không xét phận hèn mọn mà dám phạm vào lỗi nói ngay thẳng. Nếu cho lời tôi là khi trá, hoặc có ai xúi giục, thì xin đem tờ biểu này treo ở Quốc môn để sau này làm chứng” . Phải chăng vì đất nước đã đến thời mạt vận nên trí thức, hiền tài phải hèn nhát, phải khom lưng cúi đầu trước bạo quyền để được an phận mà hưởng bổng lộc và ơn mưa móc của chế độ? Hay vì sự độc tài toàn trị của đảng cộng sản khiến cho kẻ sỹ phải chịu nhục, chịu hèn để cho quá khứ của dân tộc thì quá đau thương, hiện tại dân tộc thì quá thê lương và tương lai thì dân tộc đang đứng trước một đại thảm họa? Ngoài thảm họa mất dần lãnh thổ và lãnh hải do sự nhu hèn, bạc nhược của chế độ CSVN đối với chính sách “tằm ăn lá dâu” của Tàu cộng thì một đại họa khác cũng đang treo lơ lửng trên đầu cả dân tộc, đó là việc quyết định xây dựng nhà máy điện hạt nhân với 14 lò phản ứng hạt nhân tại các tỉnh Ninh Thuận, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi và Hà Tĩnh, với nguồn kinh phí lên đến hàng trăm tỷ Mỹ Kim từ nguồn vốn vay mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phê chuẩn vào tháng 6 năm 2010 và theo kế hoạch thì các nhà máy sẽ bắt đầu khởi công xây dựng từ năm 2014 đến năm 2030 và chưa biết lúc nào một thảm họa như Tchernobyl, Three Miles Island hay Fukushima sẽ xãy phải ra tại để lại cho hàng chục thế hệ con cháu nguồn chất thải phóng xạ mà “ngàn đời vẫn còn nguy hiểm.” . Mà theo giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, một chuyên gia với thâm niên 30 năm nghiên cứu về điện hạt nhân thì “tất cả các sự cố xãy ra tại Tchernobyl, Three Miles Island hay Fukushima đều do con người mà ra, do sai lầm, do thiếu trình độ. Những rủi ro ấy, không phải vì thiết bị hay thiết kế, những thảm họa xảy ra hoàn toàn là do con người. Lẽ cố nhiên, có sơ suất về trang bị, về thiết kế, nhưng vấn đề nhân sự là chính.” So với người Mỹ, người Nhật và người Nga, thì rõ ràng mặt bằng dân trí chúng ta còn thấp kém hơn, do nền giáo dục XHCN từ mấy chục năm qua đã làm cho con người Việt Nam trở nên vô ý thức vô kỷ luật và vô thượng tôn pháp luật thì việc một thảm họa hạt nhân xãy ra là điều không phải quá xa vời. Ở Việt Nam, hỏa hoạn xãy ra quá thường xuyên ở các nhà máy, các xí nghiệp đến mức người dân cảm thấy quá bình thường, và chỉ mới vào ngày 4 tháng 9 vừa qua đây thôi, một giám đốc và năm nhân viên bao gồm cả kỹ sư đã chết ngạt trong bồn dầu cá tại nhà máy sản xuất bột cá và dầu cá thuộc công ty đa quốc gia IDI tại Đồng Tháp là một minh chứng cho thấy trình độ dân trí cũng như ý thức kỷ luật lao động của người Việt còn quá kém để có thể tránh được một hiểm họa phóng xạ hạt nhân khi xây dựng và vận hành các nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có một cá nhân hay tổ chức chính trị, xã hội nào ở Việt Nam có thể ngăn chặn việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân ở 5 tỉnh thành nói trên hầu có thể tránh cho đất nước Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam “một thảm họa như Tchernobyl hay Fukushima khiến phóng xạ bao trùm và đất nước và để lại cho hàng chục thế hệ con cháu chất thải phóng xạ ngàn đời vẫn còn nguy hiểm” Tại sao? Chỉ vì đó là quyết sách của đảng CSVN, một đảng cầm quyền, toàn trị và toàn quyền quyết định về mọi vấn đề quan trọng của đất nước cho dù quyết định đó có thể khiến cho nước mất nhà tan, dân tộc bị nô lệ, giống nòi bị diệt vong. Trong mấy năm gần đây, đã xuất hiện một số phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cũng như quyền quyết định vận mệnh của đất nước cho toàn dân, tuy nhiên do thiếu hậu thuẩn của quốc tế cũng như thiếu kiện toàn tổ chức, nên các phong trào đấu tranh đó đã nhanh chóng bị dập tắt, nhiều người đã bị tù đày lao lý, bởi chế độ cộng sản vốn độc tài toàn trị, tự cho mình cái quyền được thống trị đất nước mà không chấp nhận bất cứ sự phân chia quyền lực dưới bất cứ hình thức nào cho bất cứ tổ chức đảng phái nào cũng như không chấp nhận bất cứ sự đối kháng nào. Đây chính là nguy cơ đưa đất nước và dân tộc Việt Nam đến bờ vực diệt vong trong một ngày không xa nữa. Đứng trước nguy cơ đó, thời gian gần đây một số đảng viên CS có nhân cách, có lòng tự trọng đã mạnh dạn thoái đảng, từ bỏ các đặc quyền đặc lợi mà đảng cầm quyền ban cho để đứng vào hàng ngủ của những người đấu tranh dân chủ, đặc biệt là hai nhân vật rất tai tiếng trong thời đệ nhị Cộng Hòa và cũng rất nổi tiếng trong thời cộng sản là dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận, nguyên giám đốc chính trị, chủ bút nhật báo Tin Sáng, Ủy Viên Ủy Ban Trung Ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh và ông Lê Hiếu Đằng nguyên là một trong các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975, thành viên Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và ĐH Luật Khoa, hiện là luật gia, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên là phó Tổng Thư Ký Ủy ban Trung Ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Nguyên Tổng thư kí Uỷ Ban Nhân Dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở TP HCM, với 45 năm tuổi đảng, đã thực sự phản tỉnh khi nhìn thấy được sự nguy hiểm của chế độ độc tài đảng trị đối với sự tồn vong của giống nòi, nên đã có kế hoạch thành lập một chính đảng đối lập với đảng CS nhằm xóa bỏ sự độc tôn cai trị đất nước của đảng CS hầu cải thiện tình trạng dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. Tất nhiên chính quyền CSVN đã không ngừng lên tiếng đả phá ý tưởng và phát ngôn của ông Lê Hiếu Đằng, bởi bản chật của CS là độc tài toàn trị nên không bao giờ chấp nhận bất cứ sự đối lập nào. Điều đáng tiếc là cũng có không ít tiếng nói chỉ trích và phản đối đến từ những người không cộng sản hir vì cái quá khứ của ông Lê Hiếu Đằng và Hồ Ngọc Nhuận… Chắc chắn mọi sự phản đối đó điều bất lợi cho công cuộc đấu tranh chung nhằm giải thể chế độ độc tài toàn trị CS, bởi sự ra đời của bất cứ chính đảng nào đối lấp với CS cũng đều hữu ích cho sự tồn vong của đất nước, của giống nòi Lạc Việt vì chỉ có CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐẢNG TRỊ MỚI LÀ MỘT ĐẠI HỌA CHO SỰ TỒN VONG CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC. Và theo nhận định của nhiều người thì chỉ có những người cộng sản mới có thể đào mồ chôn chế độ cộng sản mà thôi. Nguyễn Thu Trâm, 8406

 

Tôi không có dịp đi nước ngoài nhiều, nên không biết ở ngoài người ta có hệ thống chăm sóc sức khỏe cho lãnh đạo hay không. Nhưng nhìn từ góc độ y đức tôi thấy chuyện dành ra một tài khoản và ban bệ chỉ để lo chuyện sức khỏe cho lãnh đạo thật là quá ư vô minh. *** Thời còn làm trong bệnh viện nhà nước tôi chứng kiến nhiều cảnh đau lòng. Thường dân không có thuốc phải nằm chờ chết. Cán bộ cao cấp thì được lệnh mua thuốc ngoại, giá bao nhiêu cũng được duyệt. Thường dân nằm la liệt hành lang bệnh viện. Cán bộ nằm phòng có máy lạnh. Ðó là thời 79-85. Nhưng thời nay cũng chẳng có gì khác. Cũng như giữa giàu và nghèo, khoảng cách giữa dân và quan càng ngày càng lớn. Quan thì giàu, dân thì nghèo. Người ta nói một chuyện làm một chuyện khác. Nói xóa bỏ giai cấp, nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tờ nhân dân, nhưng trong thực tế là cha mẹ nhân dân. Ngôn ngữ dưới thời XHCNVN không còn ý nghĩa thật của nó nữa. Sài Gòn có bệnh viện Thống Nhất dành cho lãnh đạo. Nhưng ít ai biết rằng bất cứ tỉnh nào cũng có một khu trong bệnh viện chỉ dành cho lãnh đạo. Phải bao nhiêu tuổi đảng mới được nằm ở các khu đặc trị đó. Tôi không có vinh dự điều trị cho các vị lãnh đạo vì tôi đoán lý lịch của mình không “sạch” mấy (do học y thời trước 75). Nhưng tôi được biết đồng nghiệp điều trị cho các lãnh đạo than trời lắm. Họ nói các vị lãnh đạo coi bác sĩ chẳng ra gì, đối xử với bác sĩ như là cấp trên và cấp dưới. Chán lắm. Bực tức lắm. Nhưng nhiệm vụ và y đức thì phải làm, chứ chẳng ai ham làm trong các khu đặc trị cho lãnh đạo cả. Thật ra, mấy khu đặc trị là những khu nguy hiểm trong bệnh viện. Dù trang bị tốt hơn các khu khác, nhưng tử vong vẫn cao trong mấy khu đặc trị. Lý do đơn giản là bác sĩ chẳng dám quyết định gì cả. Cái gì cũng hỏi cấp trên. Có lẽ nhiều người không biết, nhưng có ca phải hỏi ý kiến … cấp ủy. Không có hệ thống y khoa nước nào quái đản như nước ta, bác sĩ xin ý kiến cấp ủy để điều trị! Có cụ bị để nằm cho đến chết vì chẳng ai dám quyết định, ai cũng sợ trách nhiệm. Có lần tôi tham dự hội chẩn về một trường hợp và bị ám ảnh lâu dài về hệ thống y tế dưới thời XHCN. Ông cụ không phải là cán bộ cao cấp, nhưng là bố của một ông thứ trưởng, nên cũng được nằm khu dành cho lãnh đạo. Ông cụ bị cao huyết áp và tiểu đường, bệnh rất hay gặp. Người ta hội chẩn mãi, xin ý kiến mãi, thậm chí ông thứ trưởng bay vào Sài Gòn thăm bố. Chẳng ai dám làm gì! Ba tuần sau, ông cụ qua đời. Chính cái hệ thống phân biệt đối xử và giai cấp làm cho ông cụ chết. Chính cái hệ thống đó đang giết người dân nữa. Ðọc blog thấy có tin Thanh Hóa “đầu tư xây dựng trụ sở Ban Bảo vệ – Chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Thanh Hóa“. Có cái gì ghê tởm ở đây. Chúng ta biết rằng người dân Thanh Hóa đang đói. Gần 250.000 người đói. Vậy mà người ta thản nhiên tập trung tiền bạc vào việc chăm sóc sức khỏe cán bộ! Ðâu chỉ Thanh Hóa mới lo chăm sóc sức khỏe cán bộ. Trung ương cũng thế. Chẳng những huy động, mà còn huy động toàn hệ thống. Thử đọc bản tin Huy động sức mạnh của toàn hệ thống trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ thì biết người ta muốn gì. Ðọc bản tin đó gần chục lần tôi vẫn không giải thích được tại sao người ta lại vô cảm, ngạo mạn, ngang nhiên, trắng trợn như thế. Trong khi bệnh viện các cấp quá tải, trong khi hai ba bệnh nhân phải nằm chung giường, trong khi bệnh nhân nằm ghế bố la liệt ngoài hành lang, mà có một giai cấp ngang nhiên huy động toàn hệ thống để chăm sóc cho một nhúm cán bộ đảng viên. Họ xem bệnh viện, bác sĩ, y tá, chuyên gia như là tài sản của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Không hiểu trong lịch sử nước nhà, đã có một giai cấp thống trị nào chẳng những bất tài mà còn tàn nhẫn với người dân như hiện nay. Tìm hoài trong cổ sử mà chưa thấy. Tạm thời có thể nói đảng viên là giai cấp tàn nhẫn nhất với người dân trong lịch sử Việt Nam? BS Đỗ Hồng Ngọc

 

Theo Thông Tấn Xã Việtnam ngày 08/08/2013 loan báo: “Ngày 06/08/13, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng đã ký quyết định thành lập 7 đoàn kiểm tra các vụ tham nhũng nghiêm trọng. Các đoàn này sẽ hoạt động từ ngày 15/08 đến ngày 30/09/2013”. Theo quyết định: “17-QĐ/BCĐTƯ, bảy đoàn công tác đứng đầu là các nhân vật cao cấp trong dàn lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời là thành viên Ban Chỉ Đạo Trung Ương về phòng chống tham nhũng. Trong số đó có 2 ủy viên Bộ Chính Trị là Ngô Văn Dụ chủ nhiệm ban Kiểm Tra Trung Ương và Trần Đại Quang, bộ trưởng Công An, và các ủy viên Trung Ương Đảng như Trương Hoà Bình, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Hoà Bình, Huỳnh Phong Tranh, Nguyễn Văn Hiện”. Ngô Văn Dụ sẽ đảm nhiệm kiểm tra về Thanh Tra Chính Phủ và thành phố HCM. Trần Đại Quang đảm nhiệm kiểm tra Hànội, Hải Phòng. Nguyễn Bá Thanh, trưởng ban Nội Chính và là phó trưởng ban thường trực ban Chỉ Đạo Trung Ương phòng chống tham nhũng sẽ kiểm tra Bộ Công An, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, và Toà Án Nhân Dân Tối Cao. Còn 4 ủy viên khác sẽ kiểm tra các tỉnh Cần Thơ, Đồng Nai, Hải Dương, Hưng Yên, Đắc Lắc, Bình Thuận, Cà Mâu, An Giang. Xem ra Ban Chỉ Đạo Trung Ương chống tham nhũng của Nguyễn Phú Trọng đã có mục tiêu nhắm tới những nơi là hang ổ của “Đồng Chí X” hơn là thực tâm Phòng Chống Tham Nhũng. Vì tất cả dư biết, tham nhũng thì cả Đảng Cộng Sản từ Trung Ương xuống Điạ Phương đều là Tham Nhũng. Diệt Tham Nhũng là Diệt Đảng Cộng Sản. Rõ ràng Nguyễn Phú Trọng chỉ dùng danh nghiã Chống Tham Nhũng để hạ bệ Nguyễn Tấn Dũng, nhằm phục hồi Đảng Quyền lãnh đạo Chính Quyền như dưới thời bao cấp trước kia, theo sự chỉ đạo của Bắc Kinh. Khởi đi từ Hội Nghị Trung Ương 4, ngày 16/01/2012, phát động chiến dịch “Phê Bình và Tự Phê”. Sang đến Hội Nghị Trung Ương 5, ngày 15/05/12, Nguyễn Phú Trọng đoạt được chức Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng từ tay Nguyễn Tấn Dũng. Nguyễn phú Trọng và cánh Đảng Quyền chuẩn bị chu đáo để hạ bệ Dũng ở Hội Nghị Trung Ương 6, ngày 15/10/12. Nhưng Nguyễn Tấn Dũng đã vội vàng sang Tàu ôm chân Tập Cận Bình. Thế là kế hoạch loại bỏ Dũng ở Hội Nghị 6 của Trọng thất bại. Có đến 175 ủy viên Trung Ương đứng về phía Nguyễn Tấn Dũng. Đến Đại Hội Trung Ương 7, ngày 11/05/2013. Nguyễn Phú Trọng thảm bại, không đưa được Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào ghế Ủy Viên Bộ Chính Trị. Nhưng khi ra Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm, thì Nguyễn Tấn Dũng lại rơi xuống hạng tín nhiệm thấp. Trái lại, về uy tín quốc tế thì Nguyễn Tấn Dũng nổi bật tại Hội Nghị An Ninh Khu Vực - Đối Thoại Shangri-La 2013, khi được đọc diễn văn hướng dẫn cuộc đối thoại, bày tỏ lập trường của khu vực là: “Các nước trong vùng không phản đối sự can dự chiến lược của các nước ngoài, nếu sự can dự đó nhằm tăng cường hợp tác vì hoà bình, ổn định và phát triển”. “Các nước trong khu vực coi trọng vai trò của Trung quốc và Hoa kỳ”. Nhưng từ ngày 19 đến 21/06/2013, Tập Cận Bình chủ tịch Trung Hoa Cộng Sản, mời Trương Tấn Sang chủ tịch nước CHXHCNVN, qua Bắckinh để ký 10 văn kiện “Hợp Tác Chiến Lược Toàn Diện lên tầm cao mới”. “Hai Hành Lang. Một Vành Đai”. Nghĩa là lãnh thổ, lãnh hải, và chế độ cộng sản Việtnam bị nằm gọn trong vành đai chiến lược của Trung Hoa Cộng Sản. Lúc đó bọn lãnh đạo Việtcộng mới hoảng hồn, bị mất thế đu giây, vội vàng cho Trương Tấn Sang xin sang gặp tổng thống Mỹ, Barack Obama, để yêu cầu nâng cấp bang giao Việt-Mỹ lên tầm Hợp Tác Chiến Lược Toàn Diện, giống như đã ký với Bắckinh. Nhưng vì Việtnam còn vi phạm Nhân Quyền trầm trọng, nên Mỹ chỉ chấp nhận quan hệ Việt Mỹ ở tầm Đối Tác Toàn Diện chứ chưa thể là Hợp Tác Chiến Lược Toàn Diện được. Nếu biết khôn ra thì Nguyễn Tấn Dũng nhân dịp Trương Tấn Sang đi Mỹ, phải chủ động lên tiếng đề nghị Đảng và Chính phủ phóng thích tất cả các tù nhân chính trị, tôn giáo và các Blogger, để Việtnam có thể thiết lập được quan hệ Hợp Tác Chiến Lược Toàn Diện với Mỹ, theo đúng nguyên tắc mà Dũng đã đề ra về “Lòng Tin Chiến Lược” ở Diễn dàn Shingri-La thì người mà chứng tỏ có thực quyền ở Việtnam là Dũng, chứ không phải là Sang hay Trọng. Nhưng vì quá ngu và ích kỷ đi ganh tỵ với Trương Tấn Sang, tranh công làm đầy tớ Tàu với Trọng, cứ ôm cứng lấy Tập Cận Bình để thi hành kế hoạch của Bắckinh là ngăn chặn chiến lược về Việtnam của Mỹ, qua việc đàn áp Nhân Quyền một cách có hệ thống và thẳng tay triệt tiêu phong trào Chống Trung Cộng xâm lược của Việtnam. Mới đây, ngày 31/07/13, Nguyễn Tấn Dũng lại ký ban hành Nghị Định 72 về quản lý internet, nhằm cấm các blogger và người dùng các mạng xã hội không được chia sẻ thông tin thời sự trên mạng, để bị Hoakỳ, dư luận Quốctế và Công Dân Mạng Việtnam lên án. Buộc Mỹ không thể bán võ khí sát thương cho Việtnam. Việc này rơi vào đúng thủ đoạn thâm độc của Bắckinh. Cùng là dịp để Nguyễn Phú Trọng xuống tay hạ bệ vai trò thủ tướng toàn quyền của Nguyễn Tấn Dũng. Dù Nguyễn Tấn Dũng đã mất uy tín với Quốc Tế và đương nhiên là thủ phạm đàn áp nhân quyền và đứng đầu hệ thống tham nhũng, nhưng Dũng đang là công cụ đắc lực của Bắckinh, để Phá Kế Hoạch tái Hội Nhập Việtnam của Mỹ. Do vậy, Nguyễn Phú Trọng cũng chưa dễ gì loại được Dũng khỏi chức thủ tướng hiện nay. Nhưng dù sao vì sợ bị ghép tội tham nhũng, những ủy viên Trung Ương trước kia đi theo Dũng sẽ trở cờ theo Trọng, vì thấy Dũng đã thất thế, không thấy Dũng có phản ứng quyết liệt nào, mà biết Trọng chỉ giả vờ chống tham nhũng để buộc những kẻ có tội phải tỏ ra trung thành với Trọng, trong việc Phục Hồi Đảng Quyền. Tiếp tục duy trì chế độ khốn nạn hại dân, bán nước, độc đảng, độc tài, tham nhũng, làm tay sai cho Đế Quốc Tàu. Xem ra cả Trọng lẫn Dũng, đều đang thực hiện kế hoạch thâm hiểm của Bắckinh. Nguyễn Tấn Dũng thì vi phạm nhân quyền để Mỹ không thể thiết lập được quan hệ Hợp Tác Chiến Lược Toàn Diện với Việtnam, còn Nguyễn Phú Trọng thì cố duy trì chế độ Cộng Sản Độc Tài, Độc Đảng, Toàn Trị để thủ tiêu khả năng phát triển đất nước và sức đề kháng truyền thống của toàn dân chống với cuộc diệt tộc Việtnam của người Trung Hoa. Đã đến lúc mọi người dân Việtnam ở trong và ngoài nước, nhất là giới trí thức cũng như tuổi trẻ yêu nước phải nhận lấy trách nhiệm vận động toàn dân và sự hỗ trợ của toàn thế giới, để tiến hành công cuộc loại bỏ những tên cộng sản ngu xuẩn, ra khỏi các cơ quan quyền lực, đang cam tâm làm tay sai đắc lực cho giặc Tàu, để trả về cho toàn dân Việtnam quyền làm chủ lấy vận mệnh của mình và chủ quyền dân tộc. Chỉ có Dân Chủ Hoá chế độ, đa nguyên, đa đảng, mới cứu Việtnam ra khỏi thân phận làm nô lệ cho người Tàu, tiến lên ngang tầm thời đại mà thôi. LÝ ĐẠI NGUYÊN – Little Saigon, ngày 13/08/2013.

 

Lê Quốc Quân lại bị bắt giam Ngày 27/12/2012, Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt. Việc bắt Lê Quốc Quân không phải chuyện lạ. Bởi đây là lần thứ 3 Lê Quốc Quân bị bắt vào nhà giam. Khác với hai lần trước, những lý do bắt bớ Lê Quốc Quân là “tổ chức hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” và “gây rối trật tự công cộng”, lần này, lý do bắt là “tội trốn thuế” – một tội danh nghe qua rất “bình thường” ở Việt Nam. Nhưng đối với Lê Quốc Quân, đây là cả một câu chuyện có quá trình dài. Ngày 7/3/2007, Lê Quốc Quân bị bắt, tận ngày 19/3/2007 mới bị khởi tố theo điều 79 tội “tổ chức hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau 3 tháng, anh được trả tự do với bản tin trên báo chí rằng: “Trong quá trình tạm giam để điều tra, Lê Quốc Quân đã thành khẩn, xin được khoan hồng và có đơn trình bày. Vì vậy sáng 16/6, Lê Quốc Quân đã được cơ quan bảo vệ pháp luật thả về đoàn tụ gia đình” mặc dù đến ngày 25/10/2007, mới có quyết định đình chỉ điều tra bị can. Thực ra, ai cũng biết Lê Quốc Quân đã được thả ra không vì sự nhân đạo quá mức của nhà nước, mà chỉ là vì áp lực mạnh mẽ khi Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước muốn sang thăm Hoa Kỳ. Ngày 4/4/2011 khi đang đi đến xem phiên tòa công khai xử sơ thẩm Cù Huy Hà Vũ Lê Quốc Quân lại bị bắt cùng với bác sĩ Phạm Hồng Sơn vì tội “gây rối trật tự công cộng”. Quá trình bắt giữ vụ này, dưới con mắt chứng kiến của không biết bao nhiêu người dân đi tham dự phiên tòa với video và chứng cứ đầy đủ rằng việc bắt bớ này hoàn toàn tùy tiện và có chủ đích đen tối. Một phong trào ủng hộ những người bị bắt bớ đã dấy lên khắp nơi. Sau 10 ngày giam giữ, Lê Quốc Quân lại được thả ra và kèm theo cái gọi là “Quyết định cảnh cáo”. Ngày 27/11/2011. Lê Quốc Quân lại bị nhận “Quyết định cảnh cáo” vì đã dám đi biểu tình ủng hộ Thủ tướng đề nghị có luật biểu tình. Và điểm nút là ngày 27/12/2012, Lê Quốc Quân bị bắt vì tội trốn thuế, sau khi người em ruột của Quân cũng đã bị bắt giam mấy tháng trước đó để “điều tra”. Như vậy, tội danh “trốn thuế” xem ra hữu hiệu hơn lý do “hai bao cao su đã qua sử dụng” trong vụ Cù Huy Hà Vũ. Và con đường đến trại giam của Lê Quốc Quân khá lòng vòng. Nhưng cuối cùng, thì Lê Quốc Quân, một người ưa các hoạt động xã hội, quan tâm đến tình hình đất nước, biên giới, hải đảo và là người có nhiều đóng góp công sức cho cộng đồng công giáo cũng đi đến đích được soạn sẵn… nhà tù cộng sản. “Trốn thuế” hay “hai bao cao su”? Ở nước ngoài, trốn thuế là một tội danh nặng nề. Còn ở Việt Nam, doanh nghiệp trốn thuế là “chuyện thường ngày ở… khắp nơi”. Đến mức độ báo chí nhà nước phải kêu lên là quá nhiều doanh nghiệp trốn thuế. Ngày 3/6/2013 Báo Dân Trí có bản tin: “TP.HCM: Gần 1.300 doanh nghiệp bỏ trốn, “xù” luôn tiền thuế”. “Nhiều doanh nghiệp dùng thủ thuật để trốn thuế”. Trong năm 2012, Cục Thuế TP.HCM đã thanh tra, kiểm tra gần 12.500 hồ sơ về thuế, phạt và truy thu hơn 6.000 tỉ đồng… Do vậy, khi bị bắt về tội “Trốn thuế” người dân thường dễ tin hơn là tội “tổ chức lật đổ chính quyền nhân dân”. Bởi vì, ở VN đã hình thành một tâm lý từ rất xưa, nghiễm nhiên thành một quy luật xã hội rằng đã doanh nghiệp, hẳn nhiên trốn thuế. Thế nhưng, việc tận dụng tội danh này trong một số vụ án nhằm lấy cớ bắt người đã lộ liễu đến mức người dân nghe qua là cảnh giác, nhất là đối với các đối tượng, những người yêu dân chủ, muốn có những đổi thay về chính trị. Điển hình là vụ án Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, một người đi đầu trong các cuộc xuống đường chống Trung Quốc xâm lược và là một Blogger – Câu lạc bộ nhà báo tự do. Ngày 20/4/2008, Công an quận 3 Sài Gòn bắt Nguyễn Văn Hải tại Đà Lạt. Ông bị đưa ra tòa tuyên 30 tháng tù vì tội trốn thuế. Bản án đã gây một làn sóng dư luận nghi ngờ tính trung thực của hành vi khởi tố và xét xử. Nhưng, phía nhà nước vẫn nghênh nghênh rằng: Ông Hải bị tù vì tội trốn thuế mà thôi. Nhưng, cha ông đã dạy “Nói dối hay cùng”. Sau đó, chính báo chí nhà nước đăng tin như sau: “Ngày 20/4/2008, Nguyễn Văn Hải bị bắt vì tội tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN” (Báo Petrotimes). Đến đây, tội danh “trốn thuế” đã được chứng minh chỉ là cái cớ. Thế rồi mãn hạn tù, chừng như chưa yên tâm thả ra, ông Hải tiếp tục bị nhốt để ra tòa tiếp vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” thêm 12 năm tù. Người ta thừa biết rằng, nếu không có tội danh “trốn thuế” cho Điếu Cày, thì sẽ có “hai bao cao su đã qua sử dụng” như với Cù Huy Hà Vũ. Những sự thật sẽ dần dần lộ sáng cho biết giá trị của nền pháp quyền XHCN là gì. Với Ls Lê Quốc Quân, có vẻ như tội danh trốn thuế cũng đã được lặp lại làm cái cớ bắt giữ. Màn kịch cũ lại được đưa ra diễn lại ở Hà Nội, nhân vật chính đã thay đổi nhưng nội dung vở kịch vẫn như cũ. Lê Quốc Quân đã bị bắt vì trốn thuế như thế nào? Trước khi Lê Quốc Quân bị bắt, em trai Quân là doanh nhân Lê Quốc Quản đã bị bắt giữ, khám xét đồ đạc cùng với các nhân viên một công ty khác. Sau một thời gian, nhiều người trong công ty cùng bị bắt với Lê Quốc Quân ở công ty của mình. Việc bắt giữ khẩn cấp một giám đốc vì trốn thuế với số tiền được nêu ra là 437,5 triệu đồng có ý nghĩa gì khi ngay cũng thời gian đó, một vụ án khác đã được đưa ra xét xử với tội danh trốn thuế hàng chục tỷ đồng được xử án treo? Thậm chí với kẻ chủ mưu vụ án cũng không bị bắt giữ mà chỉ “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Vụ án này được chính báo An ninh Thủ đô đăng tải. Lẽ nào cơ quan điều tra Thành phố Hà Nội không đọc bản tin này để thấy rằng giữa con số hàng chục tỷ đồng có thật và 437,5 triệu đồng đang điều tra lại cần có sự xử lý khác biệt và khắc nghiệt đến vậy? Đây không chỉ là câu hỏi, mà là câu trả lời cho những ai còn nghi ngờ về lý do “trốn thuế” trong vụ án này. Điều tra? Án tại Hồ sơ? Bản Cáo trạng của Viện KSND Thành phố Hà Nội đưa ra trong vụ án Lê Quốc Quân trốn thuế, cho người ta thấy cách điều tra của các cơ quan công an Hà Nội “công phu và tỉ mỉ” đến hài hước nhường nào trong vụ án này. Không rõ với phương thức điều tra này, số tiền 437,5 triệu trốn thuế kia (nếu có), có đủ cho phục vụ một phần nhỏ công việc điều tra đó? Điều đáng nói là dù một người ít hiểu biết về pháp luật, nhưng đọc bản cáo trạng này, thì có thể khẳng định rằng không thể có ai thoát tội trốn thuế ở Việt Nam khi cơ quan công an cần bắt. Này nhé, bạn ăn ba bát phở, mỗi bát 50 ngàn đồng, bạn trả tiền 150 ngàn và lấy hóa đơn hẳn hoi. Nhưng khi cơ quan điều tra đến, họ sẽ điều tra ra rằng mỗi bát phở chỉ đáng giá 20 ngàn, như vậy ba bát phở chỉ 60 ngàn và dù bạn có hóa đơn, giấy tờ chứng minh đầy đủ là đã trả tiền, thì bạn vẫn bi kết tội kê khống 90 ngàn để… trốn thuế. Vì sao ư? Lời khai của những người được công an triệu tập sẽ phù hợp với việc chứng minh rằng mỗi bát chỉ đáng giá 20 ngàn đồng và đó mới là cái cần đề kết tội! Còn việc anh đã trả 150 ngàn là chuyện không cần biết? Tương tự ở đây, Công ty Giải pháp Việt Nam thuê các chuyên gia, có hợp đồng đầy đủ, giấy tờ chi tiền, nhận tiền với chữ ký từng cá nhân… phù hợp pháp luật. Thế nhưng, công an “triệu tập làm việc” và kết quả lời khai rằng họ đã không nhận đủ số tiền đó. Vậy là công ty bị kết tội ghi khống để trốn thuế mà không cần biết phía chi tiền có đồng ý đối chất hoặc thừa nhận việc đó là có hay không. Như vậy, những hợp đồng, những chữ ký của ngay chính những người đã nhận tiền có giá trị hơn, hay những lời khai trước cơ quan điều tra của từng người khi một mình họ đối diện với cán bộ điều tra tại cơ quan công an có giá trị hơn? Theo cách nghĩ đơn giản nhất của người dân, khi ký chữ ký của mình, người ký phải chịu trách nhiệm pháp lý về chữ ký đó. Việc anh ký nhận 10 triệu đồng, nhưng anh chỉ nhận một triệu, đó là lỗi và là trách nhiệm của anh mà cơ quan pháp luật không thể vì thế mà truy tội người chi tiền. Cũng theo cáo trạng nói trên, một số giao dịch, mua bán hàng hóa được thể hiện rõ ràng bằng hóa đơn, hợp đồng… thế nhưng khi công an điều tra và nhận được lời khai rằng không có các giao dịch. Thế là tội đổ lên đầu người mua bất kể ý kiến của người mua ra sao. Vậy về pháp lý, những hóa đơn đó nói lên điều gì? Việc xuất hàng, nhận tiền được xác nhận đầy đủ bằng chữ ký và con dấu có giá trị gì trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp và xã hội, hay chỉ phụ thuộc vào ý muốn của cơ quan điều tra coi đó có là chứng cứ hay không? Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự ghi rõ: Điều 72. Lời khai của bị can, bị cáo 1. Bị can, bị cáo trình bày về những tình tiết của vụ án. 2. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Đọc bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội trong vụ án này, dù không có chuyên môn về luật pháp, người ta cũng không khỏi có những nghi ngờ cần thiết cho sự minh bạch và công lý ở quá trình điều tra, kết tội ở đây. Hầu hết, những kết tội của cơ quan điều tra là căn cứ vào lời khai, bỏ qua tất cả những giấy tờ, hợp đồng, hóa đơn có giá trị pháp lý hẳn hoi nhằm kết tội Lê Quốc Quân là giám đốc Công ty? Trong khi đó, chính nạn nhân là Lê Quốc Quân đã không hề được có ý kiến gì nêu ra tại đây? Vậy đây là pháp luật hay đòn thù khi mà Bộ luật Tố tụng hình sự đã ghi rõ: “Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. Vở hài kịch sẽ đi đến đâu? Sơ qua vài chi tiết trong vụ án này, để thấy rõ hơn cái lý do bị bắt về tội “trốn thuế” của Lê Quốc Quân. Ở đó, là cả một quá trình công phu, tỉ mỉ và là con đường vòng vo đưa Lê Quốc Quân đi đến nhà tù sau khi hàng loạt lượt bắt bớ, giam giữ đã không thành công. Vở hài kịch này sẽ dẫn đến đâu? Chúng ta hãy chờ xem nền pháp lý Xã hội Chủ nghĩa biểu diễn như thế nào để thể hiện tính ưu việt “không cần tam quyền phân lập” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố. Hà Nội, ngày Báo chí Việt Nam, 21/6/2013 J.B Nguyễn Hữu Vinh Nguồn: Blog J.B Nguyễn Hữu Vinh

 

Chính trị vốn là một lãnh vực phức tạp. Đối với nhiều người, đó là một vùng đất “ô nhiễm bẩn thỉu”. Trong hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam hiện tại, lãnh vực và ngay cả hạn từ “chính trị” còn bị nhiều người xem là rất “nhạy cảm”. Bài viết này không nhằm trình bày một lập trường hay chọn lựa chính trị nào, cũng không nhằm tóm lược toàn bộ giáo huấn về chính trị của Hội Thánh, mà chỉ muốn khơi gợi, dựa vào giáo huấn của Giáo Hội, một vài suy tư về việc người tín hữu dấn thân sống đức tin trong lãnh vực phức tạp và rất “nhạy cảm” này, giữa bối cảnh xã hội cụ thể của chúng ta hôm nay. I. Một số vấn đề quan trọng Trong lãnh vực chính trị, chúng ta đang phải đối diện với hàng loạt vấn đề lớn, ví dụ: sửa đổi Hiến Pháp, quốc nạn tham nhũng, các vấn nạn môi sinh, các vấn nạn công lý, các vấn đề nhân quyền, các vấn đề quản trị và cơ quan thẩm quyền… Nhưng những vấn đề đó, mặc dù quan trọng, không phải là đề tài được bàn đến trong phần này. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nói đến những vấn đề mang tính tổng quát và nguyên tắc, cấp thiết đối với việc sống đức tin trong sự dấn thân chính trị của các Kitô hữu Việt Nam hôm nay. Thiết nghĩ, trong bối cảnh chính trị và xã hội cụ thể hiện nay của chúng ta tại Việt Nam, và trong tình cảnh cụ thể của Giáo Hội Việt Nam, có ba vấn đề lớn, quan trọng và cấp thiết mà các Kitô hữu dấn thân và/hoặc quan tâm đến lãnh vực chính trị, được mời gọi chú tâm. Đó là việc (1) góp phân xây dựng một nền dân chủ thực sự; (2) ý thức trách nhiệm của người tín hữu phải dấn thân phục vụ trong chính trị; và (3) tôn trọng sự đa nguyên trong những dấn thân chính trị. 1. “Hội Thánh đánh giá cao hệ thống dân chủ”[1] Thật ra, “Sứ mệnh riêng biệt mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Hội Thánh không thuộc phạm vi chính trị, kinh tế hay xã hội: mục tiêu mà Người chỉ định cho Hội Thánh thuộc phạm vi tôn giáo… Do sứ mệnh và bản chất, Hội Thánh không cấu kết với bất cứ hình thức văn hóa hay hệ thống chính trị, kinh tế hoặc xã hội nào”.[2] Thông điệp ‘Quan tâm đến vấn đề xã hội’ công nhận rằng Giáo Hội không đề xuất các hệ thống hoặc chương trình kinh tế và chính trị, mà cũng chẳng nhất quyết ủng hộ hệ thống này hơn hệ thống khác.[3] Tuy nhiên, như thực tế đang minh chứng, sự thành công và phát triển của chế độ dân chủ tại khắp nơi trên thế giới là một sự thật không thể phủ nhận. Trong sứ điệp truyền thanh nhân dịp Lễ Giáng Sinh năm 1944, Đức giáo hoàng Piô XII đã đưa ra những lý giải về tính chính đáng của chế độ dân chủ và về những lợi ích mà người ta có thể trông đợi ở nó. Ngài ghi nhận: “Ngày nay, hình thức chính phủ dân chủ xuất hiện ở nhiều nơi như là một yêu cầu tự nhiên, xuất phát từ đòi hòi của lý trí”.[4] Đức chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II quả quyết: “Hội Thánh đánh giá cao hệ thống dân chủ, xét như một hệ thống bảo đảm cho người công dân được quyền tham gia vào các lựa chọn chính trị, đồng thời bảo đảm cho những người dân vừa được quyền chọn lựa và kiểm soát những người cầm quyền, vừa được quyền thay đổi họ bằng những phương thế ôn hòa khi điều đó tỏ ra thích hợp. Như vậy, Hội Thánh không thể tán thành thể chế chỉ có một nhóm người lãnh đạo giới hạn, nắm hết quyền lực nhà nước nhằm phục vụ lợi ích riêng tư hoặc những mục tiêu ý thức hệ”.[5] Tuy nhiên, Hội Thánh cũng không hề làm ngơ trước những hạn chế và những điều tiêu cực của hệ thống dân chủ. Hội Thánh biết rằng: một đàng, hệ thống dân chủ đang là hệ thống tốt nhất bảo đảm cho sự tham dự của người dân vào những chọn lựa chính trị, nhưng đàng khác, điều đó chỉ có thể xảy ra nếu nền dân chủ được đặt nền tảng trên quan niệm đúng đắn về con người.[6] “Chỉ có thể có nền dân chủ đích thực nơi những quốc gia được cai trị bằng luật pháp và dựa trên một quan niệm đúng đắn về con người. Muốn như thế cần phải có những điều kiện cần thiết để vừa thăng tiến cá nhân thông qua việc giáo dục và đào tạo theo những lý tưởng chân chính, vừa phát triển xã hội trong tư cách là chủ thể, bằng cách lập ra những cơ chế cho mọi người cùng tham gia và chia sẻ trách nhiệm”.[7] “Một nền dân chủ đích thực không phải chỉ là kết quả của việc tuân thủ máy móc các luật lệ, mà là kết quả của một sự chấp nhận với niềm xác tín các giá trị đưa tới các tiến trình dân chủ như: phẩm giá của mỗi người, tôn trọng nhân quyền, dấn thân cho công ích như là mục tiêu và tiêu chuẩn hướng dẫn đời sống chính trị. Nếu không có sự đồng thuận chung về các giá trị ấy, nền dân chủ sẽ mất đi ý nghĩa sâu xa nhất của nó và tình trạng ổn định của nền dân chủ sẽ bị phương hại. Học thuyết xã hội của Giáo Hội coi chủ nghĩa tương đối về đạo đức, chủ trương không có những tiêu chuẩn khách quan hay phổ quát để dùng làm nền tảng cho chúng ta sắp xếp thang giá trị cách đúng đắn, là một trong những mối đe dọa lớn nhất cho các nền dân chủ hiện nay”[8]. Trong cái nhìn đó, giáo huấn xã hội của Hội Thánh đề cao việc người tín hữu dấn thân thúc đẩy tiến trình thăng tiến dân chủ và bảo vệ nhân quyền. Và một sự dấn thân Kitô giáo đích thực trong lãnh vực chính trị sẽ không thể chấp nhận để cho các Kitô hữu bị biến thành công cụ “tán thành thể chế chỉ có một nhóm người lãnh đạo giới hạn, nắm hết quyền lực nhà nước nhằm phục vụ lợi ích riêng tư hoặc những mục tiêu ý thức hệ”.[9]. 2. Các tín hữu “có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chinh trị’”[10] Do nhiều yếu tố thuộc nhiều lãnh vực khác nhau, hiện nay, một số rất đông người Công giáo Việt Nam e dè và sợ hãi khi nói đến các vấn đề chính trị và sự dấn thân phục vụ cũng như làm chứng tá cho Tin Mừng trong lãnh vực này. Thậm chí nhiều người còn chủ trương một cách mạnh mẽ rằng người tín hữu Công giáo thì ‘không làm chính trị’. Và điều này, trong thực tế hiện nay, đang gây ra nhiều bất đồng không đáng có nhưng lại rất nguy hại trong nhiều cộng đoàn tín hữu. Quả đúng thực rằng giáo sĩ và tu sĩ không được trực tiếp tham gia chính trị.[11] Nhưng sự việc lại hoàn toàn khác đối với các tín hữu giáo dân. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội quả quyết một cách rõ ràng: “Đối với tín hữu giáo dân, việc tham gia vào chính trị là một hành động thích đáng và đòi hỏi nhiều nỗ lực để biểu lộ sự dấn thân của Kitô hữu trong việc phục vụ người khác”.[12] Tình cảnh của thế giới chúng ta đang sống mạnh mẽ đòi hòi sự dấn thân của các Kitô hữu. “Chúng ta hãy nghĩ đến vô số xúc phạm mà phẩm giá của nhân vị con người đang phải chịu hôm nay. Một khi không được nhìn nhận và yêu mến theo phẩm giá của mình là hình ảnh sống động của Thiên Chúa (X. St 1, 26), con người làm mồi cho những hình thức nhục nhã và lệch lạc nhất là ‘biến họ thành dụng cụ’, thành nô lệ cho thế lực mạnh hơn một cách khốn khổ. ‘Thế lục mạnh hơn’ này có thể mang nhiều bộ mặt khác nhau: ý thức hệ, quyền lực kinh tế, những hệ thống chính trị phi nhân, hình thức kỳ trị khoa học, sự xâm nhập của các phương tiện truyền thông xã hội. Một lần nữa, chúng ta đang đối diện với một quần chúng là những anh chị em của chúng ta, bị xúc phạm trong những quyền căn bản, đôi khi là hậu quả của thái độ dung túng quá đáng, thậm chí của sự bất công rành rành của một số luật dân sự: quyền được sống và toàn vẹn thân thể, quyền có nhà ở và việc làm, quyền có gia đình và sinh sản có trách nhiệm, quyền được tham dự vào sinh hoạt công cộng và chính trị, quyền được tự do lương tâm và tuyên xưng niềm tin tôn giáo của mình…”[19]. Những hoàn cảnh hiện tại trong Giáo Hội cũng như trong thế giới, các thực tại xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa mà chúng ta đang sống của thế giới hôm nay… rõ ràng đang đòi hỏi những Kitô hữu giáo dân phải dấn thân thật sự, dấn thân một cách kiên nhẫn, một cách mạnh mẽ, một cách hữu hiệu vì công lý và hòa bình. “Nếu trước đây, sự làm ngơ bổn phận này đã là điều không thể chấp nhận được, thì hiện giờ, thái độ đó lại càng đáng bị khiển trách hơn”.[20] 3. Tôn trọng tính đa nguyên chính trị của các Kitô hữu Sự dấn thân xã hội đích thật Kitô giáo, đặc biệt trong lãnh vực chính trị, luôn bao hàm đòi hỏi tôn trọng tính đa nguyên chính trị của các Kitô hữu. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay tại Việt Nam chúng ta, do những yếu tố chủ quan và khách quan, không phải lúc nào tính đa nguyên chính trị của các Kitô hữu cũng được tôn trọng, từ phía bên trong cũng như từ phía bên ngoài các cộng đoàn tín hữu, từ phía bên dưới cũng như từ phía bên trên trong nội bộ các cộng đoàn tín hữu. Nhiều giáo dân bị cám dỗ đòi buộc các giáo sĩ phải lấy cùng một lập trường chính trị với mình, và ngược lại. Công đồng Vatican II đã công nhận sự chính đáng và chính thống của tính đa nguyên chính trị của các Kitô hữu. Khi bàn về trách nhiệm của các tín hữu giáo dân, trong tư cách là công dân của thế giới, một cách cá nhân cũng như tập thể, hoạt động trong các lãnh vực sinh hoạt nhân loại. Công đồng đã nói như sau về các dị biệt trong ý kiến và trong sự dấn thân: “Thông thường, nhãn quan Kitô giáo sẽ hướng dẫn các Kitô hữu lựa chọn một giải pháp nhất định nào đó tùy hoàn cảnh. Tuy nhiên, cũng có những tín hữu khác, với cùng một sự thực tâm, sẽ có thể thẩm định một cách khác về cùng một vấn đề, như vẫn thường xảy ra; và sự thẩm định đó vẫn có thể là hợp lý và chính đáng. Nhiều người dễ dàng gán ghép sứ điệp Tin Mừng với những giải pháp mà họ đề ra, cho dù nhiều khi sự gán ghép đó nằm ngoài ý muốn của họ. Cần nhớ rằng, trong các trường hợp như thế, không ai được độc quyền lấy thẩm quyền của Giáo Hội để biện minh cho lập trường riêng”.[21] Dĩ nhiên, sự tôn trọng tính đa nguyên chính trị của các Kitô hữu không đồng nghĩa với việc dễ dãi chấp nhận chủ nghĩa tương đối về luân lý. “Sự tự do chính trị không được đặt nền và cũng không thể được đặt nền trên ý tưởng tương đối chủ nghĩa cho rằng mọi quan niệm về sự thiện hảo dành cho con ngưòi đều có chân lý và giá trị như nhau”.[25] II. Những đòi hỏi căn bản và đặc thù Liên quan đến việc dấn thân trong lãnh vực chính trị, người tín hữu Chúa Kitô được mời gọi phải chú ý đến những đòi hỏi căn bản và đặc thù trong hoàn cảnh Việt Nam hôm nay. Thiết nghĩ, những đòi hỏi đó bao gồm những yếu tố sau đây: 1. Tôn trọng sự thật “Mọi người có nghĩa vụ đặc biệt là phải luôn hướng tới sự thật, tôn trọng sự thật và làm chứng về sự thật một cách có trách nhiệm, sống trong sự thật là điều đặc biệt quan trọng trong các quan hệ xã hội. Thật vậy, khi việc sống chung của con người trong cộng đồng được xây dựng trên sự thật, đời sống chung ấy sẽ được trật tự và có kết quả, xứng với phẩm giá của những con người. Càng nhiều người và nhiều tập thể xã hội cố gắng giải quyết các vấn đề xã hội theo đúng sự thật, họ càng tránh được những lạm dụng và càng dễ hành động phù hợp với các đòi hỏi khách quan của luân lý”.[28] Có một sự thật về thế giới và xã hội trong đó chúng ta đang sống. Theo quan điểm của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, thế giới hiện đại một đàng mang cái dung mạo của một thế giới trong đó những quyền của con người bị chà đạp, bị khinh miệt bởi một số người, và đôi khi, đó là những người đang cầm quyền thống trị; nhưng đàng khác, thế giới chúng ta đang sống cũng được ghi dấu bởi một khát vọng, một ý thức, một nỗ lực của rất đông những con người muốn đề cao nhân quyền, đề cao phẩm giá của con người.[29] Và chúng ta được mời gọi đối diện với cái thế giới ấy, được mời gọi can đảm nhìn thẳng vào cái thế giới ấy, đi vào trong cái thế giới ấy, dấn thân trong tư cách là Kitô hữu. Có một sự thật là người nghèo đang bị chà đạp. Có một sự thật là bất công lan tràn. Có một sự thật là trong thể chế hiện tại luôn xảy ra nguy cơ chỉ có một nhóm người lãnh đạo giới hạn, nắm hết quyền nhà nước nhằm phục vụ lợi ích riêng tư hoặc những mục tiêu ý thức hệ. Giáo Hội mời gọi cách riêng các Kitô hữu giáo dân dấn thân đi vào trong cái thế giới của bất công, của bạo lực nhưng đồng thời cũng lại là cái thế giới mà nhân quyền cần phải được khẳng định đó. 2. Tôn trọng công ích và công lý Đức chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II viết: “Một đường lối chính trị vì dân, vì nước sẽ luôn luôn lấy công ích làm tiêu chuẩn căn bản… Hơn nữa, một đường lối chính trị vì dân vì nước thì phải chọn đường hướng trường kỳ là bênh vực và cổ võ công lý”.[30] Công đồng Vatican II đã quả quyết rằng: “Công ích là lý do tồn tại, là ý nghĩa và là căn bản pháp lý thiết yếu cho các tổ chức chính trị”[31]. Nói như thế có nghĩa là Hội Thánh dạy cho chúng ta biết rằng, khi một tổ chức chính trị mà không còn chú tâm lo cho công ích, không còn chú tâm lo cho thiện ích chung nữa, thì tổ chức chính trị ấy không còn căn bản pháp lý, không còn ý nghĩa và không còn lý do để tồn tại. Nếu một tổ chức chính trị chỉ chăm lo cho quyền lợi riêng của mình hay lợi ích nhóm của riêng mình, thậm chí của những lãnh tụ cao cấp của mình, thì tổ chức chính trị ấy, dưới quan điểm của công đồng Vaticanô II, đã đánh mất đi lý do tồn tại, đánh mất đi ý nghĩa và căn bản pháp lý của mình. Thánh Công đồng chi rõ: “Công ích nói đây bao gồm tất cả điều kiện của đời sống xã hội, nhờ những điều kiện cá nhân này, gia đình và đoàn thể có cơ hội phát triển trọn vẹn và dễ dàng hơn”.[32] 3. Tinh thần phục vụ “Việc thi hành quyền bính chính trị phải đặt nền trên tinh thần phục vụ. Tinh thần phục vụ, cùng với khả năng chuyên môn và hiệu năng cần có là điều kiện thiết yếu làm cho hoạt động của các chính trị gia được trong sáng và liêm khiết. Hơn nữa, đây cũng là đòi hỏi rất chính đáng của dân chúng. Muốn vậy cần có sự đấu tranh công khai và thẳng thắn để chiến thắng những khuynh hướng xấu xa, như: việc sử dụng những phương cách hành xử bất chính, gian dối và mờ ám, sự biển thủ công quỹ nhằm trục lợi của một số người, việc sử dụng những phương thế mờ ám và bất hợp pháp để bằng mọi giá chiếm đoạt, duy trì và bành trướng quyền hành”[33]. Đức Thánh Cha nói rõ rằng những thứ đó là những khuynh hướng xấu xa mà người Kitô hữu phải công khai và thẳng thắn chiến đấu chống lại. 4. Tình yêu, tình liên đới và lòng yêu chuộng hòa bình Đức Gioan Phaolô II khẳng định rằng đức ái không được tách rời khỏi công lý, tức là đừng ai nhân danh đức ái Kitô Giáo để phủ nhận những tiếng gọi khát khao, những khát vọng về công lý của con người. Ngài viết rõ: “Đức Ái yêu mến và phục vụ con người thì không được tách rời khỏi Công Lý, cả hai mỗi bên theo cách của mình đều đòi hỏi sự nhìn nhận toàn diện và hữu hiệu các quyền của con người, là đối tượng mà xã hội với tất cả cơ cấu và định chế của nó phải hướng đến”.[34] “Một đường lối chính trị nhằm phát triển con người phải lấy tình liên đới làm phương tiện và kiểu mẫu. Tình liên đới đòi hỏi sự tham gia tích cực và ý thức trách nhiệm của mọi người vào đời sống chính trị, từ mỗi một người công dân đến các đoàn thể khác nhau, từ các nghiệp đoàn, đến các đảng phái; tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta đều là kẻ thừa kế và là người tham gia tích cực vào chính trị”.[35] Tình liên đới không phải là một sự thương hại hay một tình cảm quan tâm mơ hồ hay một cảm xúc động lòng trắc ẩn hời hợt, trước bao nhiêu khốn khổ của những người xa gần “Ngược lại, tình liên đới Kitô giáo là một sự đấu tranh quyết liệt, vững chãi, bền chí để thể hiện công ích”.[36] Nói cách khác, để thực hiện lợi ích cho mọi người và mỗi người, tất cả chúng la phải mang lấy trách nhiệm thực sự đối với mọi người. Liên đới trong trách nhiệm, liên đới trong quyền được tham gia vào việc điều hành xã hội, liên đới trong việc phải chiến đấu bảo vệ những người cô thế cô thân, liên đới trong việc phải chiến đấu để gạt bỏ bất công trong xã hội và trong thế giới. Đó là tình liên đới Kitô giáo đích thực. Đó là một sự dấn thân quyết liệt, vững chãi và bền chí vì ích lợi chung của mọi người. 5. Xác tín căn bản: “Đức Giêsu Kitô là Chúa”[38] Trong sự dấn thân chinh trị hôm nay tại Việt Nam, xác tín đức tin căn bản này là yếu tố quan trọng và cấp thiết nhất, làm nên dung mạo đích thực của người Kitô hữu giữa hoàn cảnh đầy khó khăn, thách đố và nguy hiểm. Bất chấp tất cả, người Kitô hữu luôn tin tưởng vững chắc rằng chính Chúa Kitô mới là Đấng nói lời tối hậu cho lịch sử nhân loại, lịch sử đất nước và lịch sử mỗi người. Người là Alpha và là Ômêga. Người nắm trong tay chìa khóa của mọi thực tại. Người mới là Đấng duy nhất có quyền tuyệt đối. Và lịch sử, sâu xa ra, không bị phó mặc cho những thứ quyền lực nào khác. III. Đặt sự dấn thân chính trị trong bối cảnh của một cuộc đối thoại tứ diện? Tại Hội nghị toàn thể giới lần thứ X của FABC ? tại Xuân Lộc (12/2012), Đức giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc đã đưa ra một đề nghị đáng chú ý Ngài nói như sau trong tham luận của mình: “Khi ôn lại quá khứ. FABC nhắc đến hướng đi được vạch ra ngay từ thập niên 70 là đối thoại trong tương quan với ba lãnh vực: với người nghèo, với các nền văn hóa, với các tôn giáo (số 5). Thiết tưởng nên ghi nhận vài điểm sau đây: 1. Tại Á châu, sự phân biệt giữa văn hóa và tôn giáo không đơn giản, về một phương diện, sự phân biệt này thật hữu ích: một Kitô hữu không thể theo một “tôn giáo” khác (thí dụ Phật giáo), nhưng có thể theo một “văn hóa” khác (thí dụ văn hóa Nho giáo). Phải hiểu tôn giáo như thế nào? Không nên bỏ qua “tín ngưỡng dân gian” với những ưu điểm và khuyết điểm của nó. 2. Các giám mục miền Nam Việt Nam đã là thành viên của FABC ngay từ khi thành lập. Tuy nhiên, vào năm 1975, chưa đầy một năm sau Đại hội lần I, toàn bộ đất nước Việt Nam thống nhất dưới danh xưng “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Đây là dịp để Giáo Hội suy nghĩ về sự hiện diện và sứ vụ loan báo Tin Mừng của mình. Chúng tôi mong rằng FABC có thể góp phần vào nỗ lực suy nghĩ của chúng tôi. Xã hội vô thần duy vật có nằm trong các lãnh vực đối thoại của FABC hay không? Nếu có thì trong lãnh vực nào: người nghèo, văn hóa, tôn giáo? Có nên nới rộng “cuộc đối thoại ba mặt” (triple dialogue) thành “bốn mặt” (quadruple) không? Có thể nói theo cách của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI: mở rộng “Sân chư dân”? Hay nói theo kiểu Bộ Loan báo Tin Mừng về những “diễn đàn mới” (the newforums, les nouveaux aréopages). 3. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã vạch ra cho chúng tôi một hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với Tin Mừng; trong Huấn từ dịp Ad Limina ngày 27 tháng 6 năm 2009 cho các ‘giám mục thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam ’, ngài nói: “Anh em cũng như tôi đều biết rằng một sự hợp-tác lành mạnh giữa Giáo Hội và Cộng đồng chính trị là điều có thể thực hiện được, về điểm này, Giáo Hội mời gọi mọi phần tử của mình dấn thân cách trung thành nhằm xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng. Giáo Hội không hề muốn thay thế Chính quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Giáo Hội có thể góp phần mình vào đời sống của Đất Nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân” (trích Huấn từ của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho các giám mục Việt Nam, bản dịch của Ban thư ký HĐGMVN)”.[40] Để kết thúc bài viết nhỏ này, thay cho kết luận, chúng tôi xin được mạo muội tự hỏi: Chúng ta sẽ phải đối diện với những thách đố nào nếu đặt sự dấn thân chính trị của người Kitô hữu Việt Nam hôm nay trong bối cảnh của cuộc đối thoại tứ diện đó? * Nguồn: Hiệp Thông Bản tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam số 75 (tháng 3&4 năm 2013) - See more at: http://conglyvahoabinh.org/3582/2013/05/#sthash.Xhnd0OFS.dpuf