Untitled Document
User:
Pass:
Untitled Document

Diễn Đàn

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống CAND Việt Nam, 5 năm Ngày hội “Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc” ( 17/8) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “lực lượng Công an phải chủ động đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ, không để xảy ra gây rối, gây bạo loạn, khủng bố, phá hoại, kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá chế độ, bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu trọng yếu và các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.” http://vietnamnet.vn/chinhtri/201008/Giu-vung-chu-quyen-quoc-gia-on-dinh-chinh-tri-xa-hoi-929599/ Các tổ chức chính trị đối lập chống phá chế độ là cái gì? Đó chỉ là những đống cát nhỏ tự phát so với đống cát đỏ ở Ba Đình. Họ là ai? chỉ là những hạt cát trong một đống cát, tự bản thân hạt cát không có một chất keo kết dính nào cả. Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định , Nguyễn Văn Lý và những người khác là những hạt cát, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, cũng chỉ là những hạt cát, Tất cả người Việt Nam da vàng cũng chỉ là những hạt cát giữa đại dương mênh mông. Vào những thập niên của đầu thế kỷ trước, có một chất keo kết dính tên gọi là Mac Lenin, làm gom tụ một số cát vào trong một cái hộp màu đỏ có tên là đảng cọng sản đặt tại miền Bắc Việt Nam. Một câu hỏi đặt ra trong chiến tranh đảng csvn không dùng chất keo kết dính Mac Lenin mà vẫn sử dụng được những hạt cát miền Nam lót đường để tiến đến đỉnh vinh quang có ký hiệu 30 - 4 đó là hộp cát Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Tai sao? Câu trả lời chính xác là đảng csvn biết rất rõ giá trị của những hạt cát này để sử dụng nó đúng vào vị trí thích hợp, hạt cát Trí Quang phải ở trong Phật giáo, hạt cát Ngô Bá Thành phải quậy tưng bừng trên đường phố Sài Gòn, hạt cát Huỳnh Tấn Mẫn phát thúc đít sinh viên học sinh xuống đường, Huỳnh Tấn Phát phải là cái loa dối trá xí gạt nhân sĩ miền Nam.. v.v... Một câu hỏi nữa đặt ra là sau khi ngưng tiếng súng tại sao đảng csvn, với kinh nghiệm sẵn có, tại sao không đem chất keo “Mác - Lenin” để nhuộm đỏ đống cát MTGPMN và đống cát vàng miền Nam, sử dụng họ trong vai trò hòa giải đoàn kết dân tộc và xây dựng phát triển đất nước? Không phải chất keo đỏ không có khả năng kết dính, mà chính đảng csvn biết rất rõ nếu kết dính họ, và sử dụng đúng vai trò và khả năng của mỗi người như trong thời kỳ chiến tranh thì Lê Đức Anh phải trở về chân cạo mủ cao su, Đỗ Mười cầm dao thiến heo, Tôn Đức Thắng đi cạo sét vỏ tàu ở bến cảng, Nông Đức Mạnh bắt sâu xịt thuốc rầy, Nguyễn Tấn Dũng cầm kim đi chính dạo. Do đó để những hạt cát đỏ còn có chỗ đứng trong xã hội, bằng mọi giá phải đập tan những đống cát này. Đây là một sai lầm lịch sử, những hạt cát này không tan nát, mà còn bay khắp bốn phương trời, có một vài hạt cát còn vương vấn lại như Nguyễn Đan Quế, Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý rơi vãi lung tung, văng vào mắt những hạt cát đỏ. A! Cay quá cha mẹ ơi! Thế lực thù địch vẫn còn chung quanh ta. Có một nghịch lý, tại sao một núi cát đỏ vững chắc như thành đồng với truyền thống “ Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng” lại luôn luôn sợ hãi vài ba hạt cát lẻ tẻ vương vãi chung quanh có tên là diễn biến hòa bình, thế lực thù địch? Giữa thập niên 70s, những hạt cát vàng bay đi tạo một khoảng trống, những hạt cát đỏ bước vào miền Nam sụp lỗ té nặng đem đến hậu quả là những trang sử đen tối nhất Việt Nam ra đời trong thời đại vinh quang của chủ nghĩa xã hội. Có một thời, đảng cọng sản Việt Nam tự hào ví von hạt cát đỏ chính là những hạt giống đỏ, sẽ được gieo mầm kết trái khắp mọi nơi, nhưng lại quên mất một điều tuy là cùng một loại hạt giống nhưng tùy theo thổ nhưỡng của đất trồng, hạt giống có sinh trưởng và kết trái hay không, hương vị chua ngọt là tùy theo mỗi vùng đất. Hạt giống đỏ Nguyễn Tiến Trung gieo trồng tại Pháp lây lan mùi vị dân chủ tây phương. Lê Công Định gieo trồng ở vùng đất Nam bộ, mang phải cái tính bộc trực của người miền Nam để nói “hiến pháp Việt Nam lỗi thời phải thay đổi”. Lê Quốc Quân gieo trồng ở Mỹ tự nhiên nhiễm màu vàng nghệ. Văng qua Úc, Đỗ Nam Hải lai điệu nhảy của con chuột túi (kangaroo). Chỉ có những hạt giống đỏ gieo trồng ở đất Ba Đình nhiễm mùi xác ướp, mới có thể thuần chủng để tự sướng hô hào “đảng csvn quang vinh muôn năm” Tại sao là phải triệt hạ những cây mầm đỏ lai chủng, chỉ cho tồn tại những giống đỏ thuần chuẩn Ba Đình. Lịch sử cây trồng đã chứng minh những loại cây thuần chủng luôn luôn èo uột rất khó phát triển, với năng suất kém. Do đó khoa học luôn luôn nỗ lực tìm tòi lai tạo giống mới. Đảng csvn đi ngược lại khoa học, tiêu diệt giống mới để bảo vệ thuần chủng giống củ, chẳng khác gì đang đi trên con đường diệt vong vậy. Giờ đây giông tố nổi lên tạo thành những đống cát tự phát như khối 8406 đảng Dân chủ nhân dân, nhóm Đà Lạt, ... như những hình ảnh bão cát sa mạc thường thấy. Hợp rồi tan của những đống cát tự phát này là chuyện bình thường của cuộc sống, thế nhưng dù tan hay hợp những hạt cát này vẫn tồn tại song hành với chế độ, mỗi hạt cát vẫn có thể có thể làm ngứa ngáy, làm đui mắt hay làm hen suyễn, nghẹt thở chế độ, nếu cố tình đập tan như lời tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng, những hạt cát này văng đi tứ tung lại càng nguy hiểm và độc hại môi trường vốn đã không còn trong sạch. Những hạt cát vàng ngày xưa không sử dụng, không được gom lại trong một cái hộp nào đó để dễ kiểm soát, giờ đây đảng csvn ân hận về sự sai lầm đó, gán cho nó một cái tên rất tình tự quê hương đó là “Khúc ruột ngàn dặm không thể tách rời”. Nghị quyết 36 là một cái bồ cào nhằm gom lại đống cát vàng, thế nhưng đảng csvn không sẵn sàng một loại vật dụng nào để dung chứa đám cát vàng này, và cũng không đủ khả năng nhuộm đỏ đám cát vàng, vậy khi gom lại, cát sẽ để ở đâu? mà không trở thành những nhân tố độc hại cho môi trường chính trị Việt Nam? Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, hay Mặt trận tổ quốc là những công cụ cào cát tự thân nó không phải là một vật dụng chứa cát. Hiện nay, chất keo đỏ Mac Lenin đã quá hạn sử dụng, không còn tác dụng kết dính, đảng cọng sản Việt Nam muốn dùng chất keo có nhãn hiệu “tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh”. Hạt cát Hồ Chí Minh tự thân không phải là một chất keo. Kinh nghiệm lịch sử Việt Nam đã cho thấy những hạt cát Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy không phải là một chất keo kết dính bền vững. Những đống cát núp dưới cái bóng của những hạt cát đã chết chỉ là một sự gặm nhắm quá khứ, hoài niệm người chết, không đủ sức theo kịp với tốc độ thay đổi nhanh chóng trong thời đại ngày nay, do đó không thể hội tụ thành những đống cát lớn để làm nên đại sự. Đó là một thật tế! Những hạt cát gặm nhấm thân xác Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ. Hồ Chí Minh là một hạt cát đã chết, vị trí đúng của nó là ở trong nghĩa trang, Ba Đình Hà Nội không phải là cái nghĩa trang. Đó là một sai lầm lịch sử! Đảng csvn muốn đập tan những đống cát tự phát, để gìn giữ đống cát đỏ ở vị trí duy nhất toàn trị, thế nhưng bản thân đống cát đỏ không còn chất kết dính hữu hiệu, cái hộp giấy mong manh, màu sắc chói lọi, với tên gọi là đảng csvn có còn đủ sức dung chứa đống cát đỏ hiện tại mà không tự vở tung do những động lực nội tại trong lòng cát đỏ hay không? Vậy tại sao không sử dụng những đống cát khác làm thành chắn, be bờ cho đống cát đỏ khỏi vở tung, sử dụng những đống cát khác lót đường cho đống cát đỏ đi lên đỉnh vinh quang một lần nữa trong thời đại mới (nếu có khả năng tồn tại?) như bài học lịch sử của thời chiến?. Hành động đập tan những đống cát tự phát hiện nay theo như kịch bản của Nguyễn Tấn Dũng mong muốn tại ngày hội “Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc” là tái diễn những bài học lịch sử sai lầm năm 75. Những đống cát tự phát tan biến đi sẽ tạo khoảng trống không cho đống cát đỏ dễ dàng nhanh chóng tự vở và không thể tự mình tồn tại. Đó là một thách đố trước thềm đại hội đảng XI, chất keo nào sẽ thay thế nhãn hiệu “Mac Lênin” có khả năng kết tụ đống cát đỏ để khỏi tự vở trước giông tố của thời đại? Một câu hỏi chưa có lời đáp, không dễ dàng để trả lời, nhưng không thể không đối diện để giải quyết.

 

Ngày 12 tháng 5 năm nay báo chí trong nước và đài phát thanh Việt Nam loan tin Hà Nội tổ chức lễ tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh tại Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988, dưới sự chủ tọa Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn M46 vùng D Hải quân. Toàn bài diễn văn và cả chương trình phát thanh đều không nói đến Trung Quốc, mà chỉ dùng hai chữ chung chung là "nước ngoài". Dù rằng trong dư luận bên ngoài và với tư liệu phim ảnh được chính phía Trung Quốc đưa lên YouTube, rõ ràng Trung Quốc là đầu mối của cuộc gây hấn đưa đến cái chết thảm của 64 chiến sĩ Việt Nam. Sự né tránh đụng chạm tới quan thầy Trung Quốc hiện nay làm cuộc tưởng niệm thành ra vô nghĩa, cả về lý tưởng lẫn công lao trong sự hy sinh của những liệt sĩ này. Đây không phải là một trường hợp cá biệt hay một tiền lệ trong cách hành xử của Đảng. Ngay cả những người có đủ huân chương, giấy tờ tuyên thưởng là Bà Mẹ Anh Hùng, là gia đình liệt sĩ và chính bản thân đã từng có công với “cách mạng”, cũng không được Đảng và nhà nước CSVN đãi ngộ cho xứng đáng với công lao, xương máu của họ mà lẽ ra họ phải được hưởng. Ngược lại còn bị bạc đãi, thậm chí bị hành hung khi những đãi ngộ này nay va chạm vào quyền lợi của giai cấp lãnh đạo. Điển hình là bà Dương thị Kính, có mẹ là một bà mẹ liệt sĩ, đã bị UBND quận Bình Thạnh cho một lực lượng công an đông đảo đến cướp đất phá nhà vào tháng 10 năm 2002 . Mới tháng 7 vừa qua Đảng và nhà nước CSVN đã phủi tay lấp liếm vụ công an Bắc Giang bắt bớ tùy tiện, rồi đánh đập đến chết anh Nguyễn văn Khương, con trai một cựu chiến binh, chỉ vì một lý do mù mờ là vi phạm an toàn giao thông. Trong khi đó ở Khánh Hoà, bà Thái Thị Tiễn, 86 tuổi, người đã từng đào hầm để che giấu cán bộ thời kháng chiến, và được Nhà nước công nhận là gia đình có công với Cách mạng, đã phải nực nở trước sự phản bội của đảng : “…Khi gia đình tôi bị Cưỡng chế hơn 5.000 m2 đất, tôi đã phải ôm Bằng Tổ quốc ghi công để mong nhận được một chút liêm sỉ của chính quyền. Nhưng không ngờ đến tấm Bằng Tổ quốc ghi công của tôi cũng bị cướp đến nay chưa trả…”. Đây chỉ vài một vài trường hợp của vô số gia đình liệt sĩ nay trở thành dân oan. Gần đây nhờ đóng góp của nhiều người trong và ngoài nước, thêm một vụ phản bội chiến sĩ QĐND của Đảng và nhà nước CSVN đã được đưa ra ánh sáng. Theo nhân chứng còn sống, đã có hơn 3.700 chiến sĩ thiệt mạng trong một cuộc hành quân nhằm chiếm lại một số cao điểm quanh Núi Đất - bị sửa tên thành Lão Sơn từ khi bị Trung Quốc chiếm đóng ở biên giới phía Bắc vào năm 1984. Các cao điểm này nằm trong số những vùng lãnh thổ Việt Nam đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ khi họ đơn phương phát động chiến tranh xâm lăng từ năm 1979, gây nên thiệt hại sinh mạng hàng mấy mươi ngàn cả thường dân lẫn quân đội Việt Nam. Điều đáng chú ý về cuộc hành quân ở Núi Đất, thứ nhất, kết cuộc thê thảm cho những chiến sĩ QĐND thiệt mạng trong trận - thương binh bị thảm sát, nhiều người còn kêu la khi bị chôn sống, tất cả bị vùi dập trong hố tập thể để phải chịu chung chất hóa học và xe ủi của quân Trung Quốc, phần lớn đến từ việc một sĩ quan cao cấp trong QĐND ngầm cung cấp tin tức hành quân cho Trung Quốc. Một sự phản bội hẳn là phải có cơ dính líu tới một số không ít nhân vật cấp lãnh đạo của Đảng CSVN. Thứ hai, trừ những tin tức đã được uốn nắn cho sát “lề phải”, thì vẫn với thông lệ bưng bít thông tin, sự hy sinh của hàng ngàn chiến sĩ này vẫn đang bị bưng bít. Mãi đến nay thân nhân của họ vẫn còn không biết hài cốt họ ở đâu. Và rồi, đảng đã coi những hy sinh đó chỉ là vô ích với sự dâng nhượng đất biển cho Trung Quốc cách chính thức vào năm 1989, tiếp tục cho đến ngày hôm nay và còn kéo dài chưa biết đến khi nào. Với cố tật bưng bít thông tin đã thành truyền thống của Đảng, còn bao nhiêu oan ức của cả người sống lẫn người chết vẫn chưa được biết đến? Câu hỏi ít hy vọng có câu trả lời, khi mọi tầng cấp lãnh đạo hiện nay của Việt Nam, từ Ủy ban Nhân dân tỉnh tới tới Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, vẫn thay nhau đánh bóng 16 chữ vàng của quan hệ (họ hy vọng) đời đời bền vững với Trung Quốc, còn tranh nhau dâng đất, dâng rừng và biển cho đế quốc phương Bắc để đổi lấy hợp đồng béo bở, lấy địa vị, chức quyền cho bản thân và gia đình họ. Càng ít hy vọng khi những di thể đang biến thành cát buị của các liệt sĩ Việt Nam vẫn còn bị vùi chôn ở đâu đó. Thanh danh của họ vẫn chưa được một lần nhắc đến bởi những người có trách nhiệm đẩy họ đến kết cuộc bi thảm. Thảm thương và nghịch lý hơn là, khi chính giới lãnh đạo này đã dành những đãi ngộ trang trọng hơn nhiều cho thi hài binh sĩ Trung Quốc ngay trên mảnh đất mà các liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh để góp phần bảo vệ. Chung cuộc, dù sự thật có được phơi bày nay mai hay không, cách hành xử hèn hạ của Đảng và nhà cầm quyền CSVN như hiện nay vẫn là bằng chứng rõ rệt và hùng hồn nhất cho sự phản bội của Đảng này đối với dân tộc của mọi miền đất nước, với những oan hồn trong bao cuộc chiến họ đã gây ra nhân danh độc lập chủ quyền của Việt Nam, và với người dân trong nước còn vất vưởng lầm than, còn phải gánh chịu hậu quả tàn độc khó lường trong tương lai vô định.

 

Trước năm 1975, ông là nhà giáo, quân nhân QLVNCH, khóa 18 Thủ Đức. Định cư tại Mỹ, sau nhiều năm làm việc cho Sypris Data System Los Angeles, ông hưu trí cuối 2009. Sau đây là bài viết mới nhất của ông, kể về một nữ sinh viên từ Việt Nam du học Mỹ đi biểu tình chống cộng. *** Hôm 24 tháng 7 vừa qua, tôi đi biểu tình chống văn công Việt Cộng Đàm Vĩnh Hưng, tình cờ đứng gần một cô gái trạc khoảng 21, 22 tuổi. Cô không có cầm cờ vàng ba sọc đỏ như mọi người; nhưng trên đầu cô đội mũ lưỡi trai màu vàng ba sọc đỏ biểu hiệu quốc kỳ Việtnam. Điều làm tôi chú ý là khi người cầm loa hô: "Đã Đảo Cộng sản. Đã Đảo Văn Công Việt Công Đàm Vĩnh Hưng", cô giơ tay cao lên và hét lớn Đã Đảo, nét mặt cương nghị, quả quyết. Tiếng hô át cả giọng hô của những người đứng cạnh. Bàn tay phải cô nắm chặt lại và vung lên thật mạnh. Cô như muốn trút hết nỗi căm hờn, uất ức trong tiếng hô. An Ninh Chính Trị Xã Hội Chủ Nghĩa Trời nắng gắt. Cô không mang kiếng mát. Thoáng nhìn đôi mắt như có ánh lửa. Thấy tôi mang cái bảng lên án Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Pol Pot là những kẻ tội phạm giết người, cô nhìn chăm chăm và xin phép cho cô chụp hình. Tôi xoay người lại đối lưng với các người biểu tình cho cô chụp hình. Tôi mặc quần short vì trời nóng quá. Cô thấy cái chân trái tôi bị băng vì vết mổ chưa lành. Cô hỏi bằng giọng Huế: - Cháu thấy chú có cái chân quấn băng, đi cà nhắc mà cũng đi biểu tình hỉ? Tôi chưa kịp trả lời, cô liền nói tiếp: - Chỗ mô có mấy cán bộ cao cấp trong nước qua Mỹ dịch vụ hay du lịch, cháu thường thấy đồng bào bên ni tụ tập biểu tình phản đối. Tôi vì chăm chú nhìn chỗ những kẻ đứng sắp hàng vào xem DVH ca hát để hô khẩu hiệu phản đối nên ậm ừ trả lời cho qua chuyện. Thêm nữa, cái chân trái còn nhức nhối lắm; nên thỉnh thoảng cúi xuống xoa nhẹ trên vết thương, không quan tâm mấy đến người đứng bên cạnh vừa mới xin phép mình chụp hình. Bỗng có một bàn tay vỗ mạnh vào vai làm tôi giật mình quay lại thì ra cô gái khi nảy vẫn còn đứng gần tôi. Cô nói một cách rất tự nhiên như người đã quen thân từ bao giờ, vừa nói cô vừa chỉ vào chỗ những người đứng sắp hàng chờ khám xét mới vào trong rạp hát. Cô reo lên. - Kìa! Chú nhìn kìa. Con Liên bạn học cùng lớp với cháu đang đứng sắp hàng kìa. Theo tay cô ấy chỉ, tôi thấy cô Liên nào đó đang đứng sắp hàng. Tôi hỏi: - Bạn học cô đấy à! - Dạ. Nó với cháu cùng lớp ở USC đấy! Vừa trả lời, cô gái móc trong túi quần tây đưa ra tấm vé vào cửa và nói: - Cháu có tấm vé vào cửa đây nhưng cháu không thèm vào xem đâu. Cháu và bạn cháu giận nhau vì cháu không vào xem với nó. Tôi nói: " Vậy hả. Tốt lắm! " Số người biểu tình càng lúc càng dồn lên phía chúng tôi đứng quá đông. Tôi chào cô gái , và lặng lẽ mang cái bảng lách đi chỗ khác, tìm chỗ rộng rãi đứng.Tôi len lỏi ngang qua lớp người đi biểu tình dọc theo đường ra chỗ thưa người, kiếm nơi thoáng khí nghỉ mệt một chút. Bỗng tôi nghe có người gọi tên tôi. Nhìn quanh quất thì ra là anh Phạm Ngọc Dao (Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt) đang ngồi nghỉ mệt cạnh những kết nước lọc. Thấy cái chân trái tôi còn quấn băng. Anh khen: " Cái chân anh đau, đi cà- nhắc như vậy mà cố đi biểu tình. Đáng khen!" Anh lấy chai nước lọc và gói xôi trong cái thùng của chị ngồi bên cạnh mời tôi, anh vừa đưa tôi gói xôi và chai nước lọc, vừa nói liền một hơi: - Mời anh ngồi xuống đây và dùng tạm đỡ khát. Đây là chị Trạch, hiền thê anh Lê xuân Trạch ( khóa 20 Võ Bị ) bạn thân của tôi. Anh Trạch đang đứng đàng kia kìa. Anh Dao còn cho biết anh chị Trach mỗi khi có biểu tình chống Cộng, anh chị thường nấu xôi bỏ tửng gói vào bao ni- lông, và mua thêm mấy két nước lạnh đem theo để phục vụ người biểu tình. Anh chị làm việc tự nguyện, xung phong, bỏ tiền túi của mình, đơn độc chứ không ở trong một tổ chức tập thể nào cả. Tinh thần chống Cộng anh chị cao lắm đấy! - Chị Trạch không nói gì chỉ mĩm cười thôi. Cách đây mười mấy năm, hồi tên Trần Trường treo cờ Việt Cộng và ảnh Hồ Chí Minh nơi tiệm video của y, và mỗi chiều khi đi làm về, vợ chồng tôi đi thẳng đến nơi biểu tình. Đêm nào cũng gặp anh chị Dao ở đó. Anh chị còn dẫn cả đàn con đi cùng. Lúc ấy, anh gầy, nhanh nhẹn, và đầu tóc đen láng. Lần nầy gặp lại anh, đầu tóc anh bạc đều như cước, trông như tiên ông đạo cốt, người bệ vệ, cái bụng hơi phệ, đi đứng châm chạp hơn xưa nhiều. Nước da anh trắng bóc, lại gặp trời nắng gắt nên mặt anh đỏ hồng trông như người say rượu. Thấy tôi nhìn anh có vẽ ngạc nhiên. Anh nói: " Hưu trí rồi nhưng không nhàn nhã đâu." - Sao vậy? - Giữ cháu.( Baby-Sitter) Tôi và anh Dao đang ngồi nói chuyện mông lung, hỏi thăm nhau những năm không gặp, chuyện nhà, chuyện sở, chuyện bạn bè, ai còn, ai mất, chỉ cho nhau ăn uống cử kiêng khi tuổi đời đã lớn, bỗng cô khi nãy mang máy hình trờ tới, đi ngang qua chỗ chúng tôi. Vừa nhận ra tôi, cô liền ghé vào chào. Anh Dao quay qua hỏi: - Quen hả? - Không! Mới biết chỗ đứng đàng kia. Anh Dao nhanh miệng liền mời cô ngồi xuống cùng giải khát . Cô rất tự nhiên, không chút bỡ ngỡ,không e lệ, rụt rè, vui vẻ ngồi xuống cạnh chúng tôi. Thấy cô tỏ vẽ thân thiện, tôi bạo dạn hỏi: - Chắc cô sắp tốt nghiệp? - Cháu còn một năm nữa đấy. - Cô theo học major nào ở USC? - Cháu theo học môn " vi tính ứng dụng" - Tốt nghiệp rồi. Cô định xin làm ở đâu? - Cháu phải trở về Việtnam. - Cô là du sinh à ? - Thưa vâng. Tôi thật thà hỏi: - Thế à! Cô đi biểu tình không sợ Việt Cộng chụp hình làm khó dễ khi trở về nước sao? Cô không trả lời ngay câu tôi hỏi vừa rồi, cô cầm chai nước hớp một ngụm, rồi lên giọng, nghiêm nghị nói một hơi dài : - Nếu mỗi người Việtnam ở đây đều sợ hết thì Cộng sản Viêtnam tha hồ muốn làm gì thì làm đó. Họ tham nhũng, vơ vét, cửa quyền, muốn bắt ai thì bắt, muốn giam ai thì giam, không có luật pháp, kỷ cương gì hết. Họ đưa toàn dân đến chỗ khốn cùng, kiệt lực, quốc gia, tổ quốc tan hoang đó chú. Du sinh cũng có năm bảy loại du sinh, chú ơi! Hơn nữa, tốt nghiệp rồi cháu không muốn trở về đâu. Cháu muốn xin ở lại Mỹ. - Bằng cách nào cô xin ở lại đây? Cô có bà con gì ở Mỹ nầy không? - Cháu chỉ có một bà chị họ con ông bác ở tận Alaska. Cháu cố học để khi tốt nghiệp ra trường với GPA thật xuất sắc, và xin tiếp tục học lên nữa. Cháu sẽ tìm một người mà cháu thật lòng yêu, có quốc tịch Hoa Kỳ để lập gia đình.. - Cháu đến đây du học tự túc hay học bỗng? - Một nửa cha mẹ cháu đài thọ, một nửa là của chính phủ Hoa kỳ cấp qua chương trình được chọn lựa trong những sinh viên xuất sắc. - Cháu đã là sinh viên xuất sắc rồi đấy. Cháu không ưa Cộng sản, sao cháu mua vé vào xem văn công DVH hát, vừa tốn tiền, vừa mất thời giờ đó. Thời giờ đó đến thư viện đọc sách hay làm công việc từ thiện có ích hơn cháu ạ. - Cháu biết!. Cháu đâu có mua. Họ phát không cho đấy. - Thì ra là thế! Nghe tới đây, tôi thầm hiểu rằng Việt Cộng có chủ trương đưa Đàm Vĩnh Hưng ra các nườc tự do ca hát là có một chủ định đen tối. Chúng lợi dụng sự chóng quên của một số người VN tỵ nạn Cộng sản. Họ đã dễ dàng quên đi những sự tàn ác dã man của bọn côn đồ Cộng sản đã đối xử tàn tệ với họ khi còn ở trong nước. Bây giờ thoát ra được các nước Tây phương, họ có tự do, cơm no ấm cật, rững mỡ, họ dư tiền, dư của, rủ rê du lịch Việtnam, ăn chơi phè phởn trong khi cả triệu triệu người Việt nam thấp cổ bé miệng bị bọn lãnh đạo Đảng viên có quyền, có chức bóc lột, chà đạp, cướp nhà, cướp đất, lừa gạt, hăm dọa, vô cớ bắt bớ, đánh đập, tra khảo, vu oan giá họa v...v...giờ đây họ sống yên lành ở đây, nhận vé tặng không của bọn tay sai Cộng sản ở hải ngoại, họ xun xoe áo quần, che mặt sắp hàng vào xem những tên văn công Cộng sản, hát hò, ru ngũ ...họ đâu có biết rằng một số lớn đồng bào của chúng ta còn lại trong nước bị lũ thống trị Cộng sản Việtnam tước đọat hết quyền làm người tối thiểu phải có như: tự do hội họp, tự do tôn giáo, nhân quyền, tự do báo chí v...v... Tôi đang miên man nghĩ ngợi những điều vừa kể ở trên; bỗng anh Dao đứng dậy, tôi nắm tay anh nhờ kéo tôi cùng đứng lên. Chúng tôi chào chị Trạch và tiếp tục ra chỗ hàng rào biểu tình tiếp. Cô sinh viên mới quen xách máy hình theo chúng tôi. Chúng tôi có một chiều thứ Bảy thật có ý nghĩa.

 

Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc không thua gì Việt Nam. Cũng như ở ta, Khổng giáo đã từng là khuôn vàng thước ngọc chính thống trong tư tưởng của nước ấy. Nhưng người Nhật đã sớm ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc. Họ bắt đầu giải phóng tư tưởng của họ từ bao giờ? Bằng cách nào? Do trường phái nào? Bằng lý luận gì? Đó là câu hỏi mà tôi mong nhiều bạn sẽ cùng đặt ra với tôi, và bài viết này chỉ là một câu trả lời rất khiêm tốn. Công việc của tôi, thật vậy, rất khiêm tốn: tôi chỉ đọc một quyển sách và trình bày lập luận của tác giả. Quyển sách là một tác phẩm có tiếng và tác giả là một giáo sư đại học lừng danh, ở Nhật cũng như trên quốc tế. Xuất bản lần đầu tại Nhật năm 1952 và gây tranh luận sôi nổi sau đó, quyển sách của Masao Maruyama, rất bác học và khó đọc, được dịch ra tiếng Anh năm 1974, rồi tiếng Pháp năm 1996, khi ông mất, dưới nhan đề: "Essais sur l'histoire de la pensée politique au Japon" ("Luận về lịch sử tư tưởng chính trị tại Nhật"). Giới học thuật Pháp đặc biệt chú ý đến lập luận của Maruyama, một lập luận độc đáo làm họ ngạc nhiên: người Nhật đã thoát ra khỏi sự nô lệ văn hóa đối với Trung Quốc trước khi tiếp xúc với Tây phương. Họ đã giải phóng tư tưởng của họ tự bên trong, chứ không phải dưới áp lực của bên ngoài. Hiện đại hóa trong tư tưởng của người Nhật đã diễn ra trong một quá trình tranh luận giữa các tín đồ Khổng giáo với nhau, chứ không phải giữa họ với "ánh sáng mới" đến từ Tây phương. Nói khác, hiện đại hóa trong tư tưởng của người Nhật đã xảy ra trước khi Minh Trị hiện đại hóa nước Nhật để bắt kịp Tây phương. Giải phóng tư tưởng đi trước giải phóng chính trị. Đó là điểm đặc biệt mà ít người nói đến, nhất là ở phương Tây. Tây phương ưa làm người ta nghĩ rằng nguồn gốc hiện đại là đến từ họ. Đó cũng là điểm đặc biệt mà chúng ta, người Việt Nam, nên chú ý. Vì hai lẽ. Một là: trong cùng một hệ thống tư tưởng đến từ Trung Quốc, tại sao họ biết đặt lại vấn đề để phủ định, để hiện đại hóa, còn ta thì không? Hai là: tại sao ta vẫn lấy tư tưởng Trung Quốc làm tư tưởng của ta? Nếu ta không thiếu những cái đầu để suy nghĩ thì cái gì đã không cho phép ta làm cái việc mà Nhật đã làm hồi thế kỷ 17-18, tức là phê phán tư tưởng chính thống tự trong lòng tư tưởng ấy, bởi những tín đồ của tư tưởng ấy? Người Nhật không hơn gì ta đâu về phương diện triết lý: họ cũng không có những lý thuyết gia xuất sắc. Vậy mà họ có được những trường phái, những tranh luận đưa dần đến sự thành hình một tư tưởng chính trị mang sắc thái đặc trưng của Nhật. Quyển sách của Masao Maruyama nghiên cứu sự thành hình đó. Ông đưa ra hai nhân vật tiêu biểu: Ogyù Sorai và Motoori Norinaga. Sorai (1666-1728) là kết tụ của một quá trình đánh giá lại Khổng giáo, hay nói cho chính xác hơn là Tống Nho. Norinaga đi xa hơn, đả kích Tống Nho, xây dựng cả một trường phái đề cao quốc học. Trong phạm vi nhỏ bé của bài này, tôi chỉ có thể giới hạn vào hai tác giả đó mà thôi, nhất là Sorai. Đối tượng xét lại của Sorai: Tống Nho Khổng giáo du nhập vào đất Nhật rất sớm, cuối thế kỷ thứ 4 sau Tây lịch, và đặc biệt được tôn quý nhất dưới thời Tokugawa, nghĩa là từ đầu thế kỷ 17 đến khi Minh Trị thiết lập lại uy quyền của Vua năm 1868. Sử Nhật xem khoảng thời gian đó như là thời hoàng kim của Khổng giáo. Cũng lạ, đó là khoảng thời gian mà người Nhật gọi là cận đại (kindai). Họ dịch "modernisation" là cận đại hóa. Thời hoàng kim của Khổng giáo ở Nhật là thời cận đại! Nhưng tại sao lại hoàng kim? Lý do thứ nhất là cấu trúc xã hội và chính trị ở Nhật dưới chế độ phong kiến Tokugawa có thể so sánh với cấu trúc ở Trung Quốc hồi Khổng giáo bắt đầu phát triển: đất giống nhau, mùa màng tươi tốt như nhau. Nông dân thời Tokugawa không được phép mang kiếm bên mình, chỉ được sống với đất, tách biệt rạch ròi với giai cấp võ sĩ. Giai cấp võ sĩ lại tách biệt rạch ròi với đất đai, từ giã đất, kéo nhau lên đô thị làm gia nhân cho các lãnh chúa. Giữa họ với nhau, võ sĩ lại tách biệt rạch ròi thành đẳng cấp, tôn ty trên dưới phân minh. Cũng sĩ nông công thương như ở ta, nhưng "sĩ" (võ sĩ) tách biệt với ba giai cấp kia và tách biệt giữa nhau, phân chia trên dưới chặt chẽ, dưới phải tuân trên. Từ trên cùng là Đại Tướng Quân (Shogun) với các tướng quân chư hầu chung quanh, cho đến các samourai thấp kém nhất ở dưới, giai cấp võ sĩ thống trị tuyệt đối trên ba giai cấp khác. Tôn ty trật tự ấy tìm được nơi đạo lý Khổng giáo ý thức hệ tuyệt hảo để làm cơ sở lý thuyết. Ý thức hệ ấy thấm nhuần khắp xã hội, vì các giai cấp ở dưới có khuynh hướng bắt chước đạo lý sống của giai cấp trên đầu. Lý do thứ hai là Khổng giáo khoác bộ áo mới dưới thời Tống nhờ tài ba sáng tác của Chu Hy, và Tống Nho được vị Shogun đầu tiên của thời Tokugawa là Ieyasu (1542-1616) đặc biệt sủng ái. Trước đó, Khổng giáo chỉ được quảng bá ở chốn cung đình, bây giờ Tống Nho được phổ biến rộng rãi trong dân gian qua các thầy đồ mở lớp dạy học trong quần chúng. Chẳng phải ông Đại Tướng Quân này sính gì đạo lý, văn chương. Ông biết ông đã ngồi trên lưng ngựa để được thiên hạ, nhưng ông cũng biết mất thiên hạ như chơi nếu chỉ cai trị với cái lưng ngựa. Tống Nho giúp ông chính đáng hóa quyền hành. Cả một học phái Nhật quảng bá tư tưởng Chu Hy được ông tích cực nâng đỡ. Nhưng Tống Nho là gì? Trước hết, dưới mắt Sorai, đó là một sự trở về nguồn, lấy gương sáng của năm ông vua truyền thuyết thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ, Chu Công) hợp với Khổng, Mạnh, làm kim chỉ nam, đặt trọng tâm trên Tứ Thư (Đại học, Luận ngữ, Trung dung, Mạnh Tử) thay vì Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu). Thứ hai, đó là một siêu hình học vừa được sáng chế, kết nối con người với vũ trụ, lấp đi một lỗ trống lớn trong tư tưởng của Khổng giáo, quá thiên về mặt hình nhi hạ. Toàn bộ là một hệ thống triết lý chặt chẽ bao gồm cả đạo đức hằng ngày của con người lẫn quan niệm về bản thể của vũ trụ. Tôi khỏi phải dông dài về siêu hình học của Chu Hy, về thái cực, âm dương, ngũ hành… Chỉ nói rằng Chu Hy phát triển học thuyết Lí và Khí của hai anh em họ Trình, Trình Hạo và Trình Di, lí là phần siêu hình, khí là phần vật chất, hai phần ấy không tách rời nhau, hễ có khí thì có lí, nhưng lí có trước, khí có sau, lí có trước cả khi có Trời Đất, nghĩa là siêu việt vũ trụ và muôn loài. Mọi vật trong vũ trụ đều được tạo thành do sự hợp nhất của lí và khí; lí là bản chất của mọi vật, khí là hình thể của mỗi vật. Bản chất của mọi vật là giống nhau vì cùng do lí mà ra, nhưng dưới hoạt động của khí, mỗi vật đều dị biệt. Con người khác con vật là vì vậy: bản chất lí giống nhau nhưng nhận khí khác nhau, nên người làm chủ vạn vật. Cũng vậy, giữa người với người cũng khác nhau, vì tuy bình đẳng về bản chất, về lí, người này với người kia khác nhau về khí, về trình độ. Cho nên phàm thánh khác nhau, thánh hiền bẩm thụ khí trong, phàm phu bẩm thụ khí đục. Vũ trụ quan của Chu Hy kéo dài để trở thành lý thuyết về bản chất của con người. Nơi mỗi người vừa có "bản chất nguyên thủy" (lí) vừa có "bản chất riêng"(khí). Nơi thánh hiền, "bản chất riêng" trong suốt, hiển lộ bản chất trong suốt nguyên thủy. Nơi phàm phu, bản chất riêng vẩn đục vì ham muốn che lấp bản chất nguyên thủy. Cho nên "nhân dục" đối lập với "thiên lí". Từ chỗ vẩn đục ấy, tính ác sinh ra. Thế nhưng… nhân chi sơ tính bản thiện, tánh thiện ẩn sâu trong bản tính của con người hơn tánh ác, vì tánh thiện là do lí mà ra, tánh ác là do khí mà đến. Làm sạch được những yếu tố của bản chất riêng thì phục hồi lại được bản chất nguyên thủy. Vì vậy, vấn đề là làm sao làm tốt hơn lên cái khí riêng của mình: tất cả luân lý của Tống Nho nằm trên đó. Làm sao? Một là phải giáo dục luân lý. Lí học thánh hóa đạo đức của Khổng học, đưa Khổng học lên thành tôn giáo. Hai là phải dùi mài trí tuệ: cách vật trí tri. Tu thân là bước đầu tiên phải thực hiện trước khi tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tu tề trị bình, ta đã từng học thuộc như cháo. Nhắc lại là cốt để nói: tất cả đều lệ thuộc vào luân lý, từ vũ trụ, thiên nhiên, đến văn hóa, lịch sử. Lịch sử không có gì khác hơn là bài học về luân lý, là tấm gương sáng về luân lý. Vũ trụ không có gì khác hơn là phản ánh bản tính của con người và bản tính đó là thiện vì lí là tuyệt đối chân và thiện. Từ một quan niệm siêu hình lạc quan về bản tính của con người, Tống Nho đi đến một kết luận về luân lý cực kỳ khe khắt, tất cả đều là luân lý, tất cả ước muốn của con người đều bị đặt dưới tòa án của phán quan luân lý. Nếu đây là lĩnh vực của cá nhân thì chẳng sao cả; vấn đề đặt ra là khi Nhà nước phóng tay lãnh đạo luân lý. Lý thuyết siêu hình lạc quan ấy rất hợp với một xã hội ổn định như xã hội Nhật dưới thời Tokugawa, tức là thời kỳ tiếp theo sau một khoảng thời gian đại loạn kéo dài từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17. Lý thuyết đó đem lại quân bình trong dân chúng và đồng thuận trong xã hội. Nhưng xã hội đâu có đứng yên mãi một chỗ, ổn định đâu có bất biến, tính lạc quan khởi đầu thời đại Tokugawa đâu có mãi mãi bền vững? Cả một loạt câu hỏi bắt đầu được đặt ra, khởi động phong trào đặt lại vấn đề. Lí có thật là bản tính nguyên thủy của con người? Con người có thể tự mình dẹp bỏ được "nhân dục" hay bắt buộc phải dẹp bỏ? Lí có phải là toàn năng đến mức cai trị tất cả? Tu tề có thật sẽ đưa đến trị bình? Nghi ngờ này tiếp theo nghi ngờ khác, rốt cuộc tất cả hệ thống dần dần tan rã dưới cách đặt lại vấn đề của Sokô (1622-1685), Jinsai (1627-1705), rồi Ekiken (1630-1714) như là những nhà đại Nho tiêu biểu. Họ vẫn ở trong hệ tư tưởng của Tống Nho, nhưng họ nghi ngờ. Một câu nói của đồ đệ Ekiken biểu trưng tình trạng đó: "Thầy tôi càng tin mãnh liệt chừng nào vào tư tưởng của Chu Trình thì càng nghi ngờ mạnh mẽ chừng ấy". Quá trình đặt lại vấn đề kết thúc với Sorai. Sorai là mở đầu của đoạn tuyệt. Thế giới trí thức Nhật bàng hoàng với những lập luận mới của ông, nhưng rất nhanh bị ông thu hút. Sorai xét lại Đâu là mới trong lập luận của Sorai? Quan trọng nhất là phương pháp nhìn và phân tích vấn đề của ông. Với phương pháp đó, ông vẫn đứng trong hệ tư tưởng của Tống Nho, nhưng ông đã suy nghĩ với một cái đầu khác. Thú thật, tôi không bị hấp dẫn vì nội dung trong tư tưởng của Sorai bằng phương pháp ông đã dùng trong thời đại của ông. Hai trường hợp cụ thể sau đây cho thấy cái nhìn mới của ông khi ông mới bắt đầu hành trình xét lại. Trường hợp thứ nhất xảy ra năm 1696 khi Sorai giúp việc cho một quan chức lớn. Một anh nông dân cùng khổ bỏ nhà, bỏ vợ, cạo đầu làm thầy tu dưới tên Dônyû, dẫn mẹ đi lang thang kiếm ăn. Dọc đường, bà mẹ bị đau, anh chàng gửi mẹ tại chỗ, tìm đường lên kinh đô. Mặc dù bà mẹ được cư dân ở đấy chăm nom và gửi trả về nguyên quán, anh chàng vẫn bị bắt với tội phạm "từ bỏ cha mẹ". Ông quan hỏi ý kiến các nhà Nho cố vấn: trị tội với hình phạt gì? Luật nhà Minh không có chỗ nào nói về mục này, luật lệ bản xứ cũng không có, các Nho gia đề nghị xem trường hợp Dônyû như chỉ là trường hợp người đi ăn xin; Đi ăn xin thì đâu có phải từ bỏ cha mẹ? Huống hồ anh chàng đã bỏ vợ trước đó mấy ngày mà vẫn cung dưỡng mẹ già dù phải đi ăn xin - một thái độ đáng khen, nhất là đối với một người cùng khổ. Vợ thì bỏ, mà mẹ thì vẫn cưu mang: vậy thì anh chàng có ý định bỏ mẹ đâu? Đó là lối lý luận hợp với tinh thần Tống Nho, cái gì cũng dựa vào lí, lí đó luôn luôn hiện diện trong đầu con người và hiển lộ qua ý định đưa đến hành động. Viên quan không bằng lòng với lập luận đó. Dưới mắt ông, bỏ cha mẹ là tội không tha thứ được, dù con đi ăn xin. Ông hỏi ý kiến Sorai. Đây là lần đầu trong đời, ông lập thuyết công khai: "Nếu có một nạn đói xảy ra nơi nào đó, chắc chắn nơi khác cũng có nhiều người đói như vậy. Bỏ cha mẹ là điều không tưởng tượng được. Nếu ta xét hành động của Dônyû là như vậy và phạt tội, ta sẽ tạo ra một tiền lệ mà tòa án các nơi khác sẽ xử theo. Nhưng tôi nghĩ rằng trách nhiệm dồn một người đến cái mức tàn tệ như Dônyû trước hết phải quy cho các quan địa phương từ cấp thấp đến cấp cao rồi lên cao hơn và ngay cả lên cao hơn nữa. Bởi vậy, tội của Dônyû, nếu đem ra so sánh, là không đáng kể". Thượng cấp của Sorai khen phải. Ông cho phép Dônyû trở về nguyên quán và cấp dưỡng thóc gạo để nuôi mẹ. Lời tự sự sau đây của Sorai đáng ghi lại nguyên văn: "Từ thuở bé, tôi đã sống ở nông thôn; năm 13 tuổi, tôi dời đến Kazusa và nếm đủ mùi khổ cực, thấy đủ mọi cảnh. Chính tại vì tôi là dân quê mùa cục mịch, vừa chui ra khỏi nông thôn, nên tôi mới dám nói với quan lớn thứ ngôn ngữ mà người thường không dám bắt chước… Ở mãi trong phủ chúa, người ta tất nhiên nhiễm thói quen sống và suy nghĩ để trở thành những kẻ nói sao cũng được và tựu trung chẳng biết gì. Nghĩ cho kỹ, các quan lớn hoặc các quý tộc sống mãi trong đó chẳng biết gì cả và chẳng bao giờ nói được câu gì khác với các ý kiến nghe đến nhàm tai". Lời tự sự đó hé ra cho thấy ý muốn cải cách chính trị của Sorai. Nhưng quan trọng không kém là cách nhìn vấn đề của ông. Nho gia nhìn mọi việc qua lí, gò bó tư tưởng trên ý định chủ quan đã đưa Dônyû đến hành động để xem hành động đó "đáng khen" hay không. Sorai, đặt vấn đề trên bình diện khách quan, hướng vấn đề qua trách nhiệm chính trị của quyền lực để tha bổng. Đúng hay không, không phải là chuyện để nói ở đây. Chuyện để nói là cái nhìn đã đổi. Phân biệt hai lĩnh vực, khách quan và chủ quan, là một khía cạnh quan trọng trong phương pháp luận của Sorai. Chuyện thứ hai lý thú hơn nữa, gợi hứng cho những tranh luận kéo dài đến thế kỷ 19. Sáng ngày rằm tháng chạp năm 1702, dân chúng ở kinh đô hoảng kinh khi nghe kể 46 cựu samourai của lãnh chúa Akô tấn công tư thất của Kira Yoshinaka, cắt đầu ông này để trả thù cho chủ cũ. Dư luận bàn tán xôn xao về thái độ phải đối xử trong sự việc tối quan trọng này vì nó liên quan đến mối quan hệ phong kiến giữa chủ và tớ, nền tảng của chế độ Tướng Quân. Sự việc cũng động đến cơ sở của Khổng giáo trong chừng mực luân lý đức Khổng đặt ngang hàng quan hệ chủ tớ với bốn quan hệ khác, có tính cách tư, cha-con, vợ-chồng, anh-em, bạn bè. Nho gia bối rối. Phần đông đòi tha cho các samourai. Rốt cuộc, phán quan của Tướng Quân xử như sau: "Nếu ta lý luận theo các lý do đã thúc đẩy các samourai đó hành động, hành động của họ là thích đáng vì họ là những người mà cuộc đời là ngủ trên chiếu, gối trên gươm, báo thù cho chủ, giết kẻ thù của chủ không đội trời chung. Luật sống của samourai buộc họ không được tha thiết với đời sống, cấm họ nuốt nhục. Nếu ta lý luận theo quan điểm của luật pháp, ai làm trái luật đều phải trị tội. Dù các samourai đã hành động theo lời trối trăn của chủ cũ, họ đã vi phạm luật của Nhà nước. Tội đó đáng phải xử trảm để làm gương cho thế hệ bây giờ và mai sau. Hai quan điểm đó [lý do và luật pháp] có vẽ hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng vẫn có thể sống chung với nhau mà không phản lại nhau. Chỉ cần, trên thượng đỉnh, có một minh quân cai trị với những cố vấn minh triết, làm sáng tỏ luật pháp và ban bố sắc lệnh, và ở dưới, có những chư hầu trung thành và những samourai đạo hạnh, xả thân theo tình cảm của mình, sống trọn với ham muốn, rồi sau đó quyết định tuân theo luật pháp, chấp hành bản án xét xử". Một lập luận hàng hai, nhưng cho phép áp dụng cả hai thứ luật: luật của Nhà nước và luật của võ sĩ đạo. Chuyện đáng nói ở đây là sự phân biệt giữa ý định ở bên trong và luật pháp ở bên ngoài báo hiệu sự tan rã của lý thuyết về lí, đặt tất cả trên nền tảng luân lý, xem mọi nguyên tắc của lĩnh vực công đều bắt nguồn ở luân lý cá nhân, tu thân vi bổn, trị nước là hậu quả kéo dài. Sorai cũng kết án như thế, nhưng với một lập luận khác, chặt chẽ hơn: "Sự việc 46 samourai trả thù cho chủ chứng tỏ rằng các người này tôn trọng danh dự giống như bất cứ samourai chân chính nào khác. Hành động trung thực như vậy, đã đành họ đi theo con đường mà bổn phận của họ đã vạch ra, nhưng sự lựa chọn đó chỉ liên quan đến họ, và, tựu trung, đó là một vấn đề có bản chất riêng tư. Đối với luật, thái độ đó không chấp nhận được. Nếu, bây giờ, ta tuyên bố rằng 46 người đó có tội mà lại kết án họ mổ bụng theo luật võ sĩ đạo của họ thì các võ sĩ ấy có sợ gì mà không mổ bụng theo bổn phận trung thành của họ? Có thể biện pháp đó thích hợp nhất với ích lợi chung, nhưng nếu ta vi phạm ích lợi chung bằng những lập luận về ích lợi riêng như thế, rốt cuộc sẽ không thể làm luật gì được cho Nhà nước". Khác nhau chỉ ở câu cuối. Sorai cũng công nhận hành động của các samourai là có cơ sở, nhưng, bằng mọi giá, phải hạn chế sự công nhận đó vào lĩnh vực tư, như là những quan điểm riêng tư, chủ quan, cá nhân, khi các quan điểm ấy trái với ích lợi chung, hoặc khi một luân lý cá nhân tràn vào lĩnh vực công. Phân biệt hai lĩnh vực công và tư, lãnh địa của luân lý và lãnh địa của luật pháp, lãnh địa của tu thân và lãnh địa của trị quốc, tư tưởng của Sorai nhắm vào một điểm căn bản: chính trị hóa Khổng giáo, đặt ưu tiên trên yếu tố chính trị. Từ điểm căn bản này, Sorai dần dần phá vỡ tất cả kiến trúc của tư tưởng Tống Nho, với một phương pháp luận sắc bén, chặt chẽ. Điểm khởi hành của phương pháp đó là: "nghiên cứu những từ cổ và những câu cổ". Sorai gây dựng cả một học phái đi chuyên sâu vào nghiên cứu này. Ông nói: không hiểu chữ cho đúng thì không hiểu Đạo được. Tại sao? Tại vì một ngôn ngữ luôn luôn thay đổi theo thời gian. Nếu ta giải thích những tài liệu xưa theo nghĩa của chữ mà ta dùng ngày nay, có khi ta hiểu sai ý của người xưa. Tinh túy của nghiên cứu, ông nói, là khiêm tốn giới hạn vào việc tìm hiểu từ và sự việc. Đừng quan tâm đến những biện luận tinh tế về bản chất của đời sống. Cụ thể, nghĩa là gì? Là nghiên cứu những định chế và sự kiện văn hóa mà Nghiêu Thuấn để lại cho thời hoàng kim của Tam Đế Hạ, Thương, Chu. Thay vì Tứ Thư như Chu Hy xem trọng nhất, Sorai đặt trọng tâm trên Ngũ Kinh, vì theo ông, Ngũ Kinh diễn tả những định chế và những sự kiện lịch sử. Nghiên cứu cặn kẽ từng chữ, từng câu trong Ngũ Kinh để hiểu rõ cụ thể những định chế của thời thượng cổ, xong rồi mới bắt qua Luận Ngữ để hiểu ý nghĩa thực sự những gì Khổng Tử viết, chứ không phải chỉ hiểu Khổng Tử qua giải thích của người đời sau. Nếu Sorai sống vào thế kỷ 19 ở châu Âu hoặc thế kỷ 20 ở nhiều nước khác, chắc ông sẽ nói: hãy hiểu Mác bằng cách đọc thẳng Mác, chứ đừng đọc qua chữ nghĩa của những người nhân danh ông. Mục đích mà Sorai nhắm đến là gì? Là cắt đứt sự liên tục giữa Thánh nhân và người thường và gạt bỏ dần dần tính chủ quan - mà ông gọi là "minh triết riêng tư" - nhờ chuyển việc nghiên cứu từ lí qua cổ tự, cổ ngữ. Ông lập luận thế nào? Sorai lập luận Trước hết, Đạo chỉ bao gồm những nguyên tắc liên quan đến con người, chứ không phải bao gồm cả trật tự tự nhiên, liên quan đến Nhân, chứ không mắc mớ gì đến Thiên với Địa. Khi người ta nói đến "Đạo Trời" là vì liên tưởng đến "đạo của Thánh nhân", thế thôi, chứ chẳng ai biết Trời là gì. Trời là bí mật, không thể biết được. Thánh nhân sợ Trời, kính Trời, nhưng không bao giờ nói rằng mình biết Trời là gì. Trời không phải là đối tượng của hiểu biết, Trời là đối tượng của kính sợ. Các ông đại Nho giải thích "Trời là một thể với Lí" là tán dóc, là "minh triết riêng tư". Đạo, duy nhất là Đạo của Thánh nhân. Đạo của Thánh nhân là gì? Sorai phân biệt tinh túy với nội dung. Ông nói: Người xây dựng nên Đạo là Nghiêu và Thuấn, mà Nghiêu và Thuấn là vua. Vậy Đạo của Thánh nhân bao gồm duy nhất Đạo của chính quyền, Đạo của Nước. Và bởi vì Nghiêu Thuấn là vua, Đạo của Thánh nhân cũng được gọi là Đạo của các Vua Thời Xưa. Đạo đó có mục đích đem lại thái bình cho Nước. Trong tinh túy, Đạo đó có bản chất chính trị: trị quốc để bình thiên hạ. Chính trị tách rời với luân lý. Chính trị tách rời với tu thân. Dây liên kết tu tề trị bình bị chặt đứt. Còn nội dung là gì? Là lễ, nhạc, luật và nghệ thuật cai trị, những yếu tố mà các Vua Thời Xưa đã sáng chế; Ngoài ra không có gì khác. Đạo là khách quan và cụ thể. Lễ, nhạc, luật, và nghệ thuật cai trị là những định chế và sự kiện văn hóa của thời thượng cổ, không có liên quan gì đến bản tính con người. Nếu ta ăn mặc như Nghiêu, nói năng như Nghiêu, cư xử như Nghiêu thì ta là Nghiêu, chẳng cần nhờ vả gì đến lý thuyết nhân chi sơ tính bản thiện. Vì Đạo không có liên hệ ràng buộc gì của luân lý, bàn luận về tính thiện, tính ác là tốn nước bọt. Vậy thì nền tảng của Đạo là sáng chế của các Thánh nhân hoặc của các Vua Xưa. Tuân theo Đạo của các Vua Xưa là thiện, không tuân theo là ác. Đến cái mức này, tôi nghĩ, các Vua Thánh nhân đã được Sorai siêu việt hóa, thần linh hóa, nâng lên ngang Trời, thành đối tượng tôn giáo. Bởi vậy, trái với Chu Hy cho rằng con người có thể tu thân để trở thành thánh nhân, Sorai quả quyết ta có thể học Thánh nhân nhưng ta không bao giờ thành Thánh nhân. Thánh nhân tách biệt với con người, một bên là tối hảo, một bên là đầy nhân dục, không thay đổi được. Thánh nhân là tối hảo, nên các định chế của họ cũng tối hảo. Nhưng những định chế đó không phải là những nguyên tắc bất biến. Thánh nhân siêu việt, nhưng những nguyên tắc đó không siêu việt mà, trái lại, bị điều kiện hóa theo thời gian và không gian. Hiểu như vậy thì mới hiểu được lịch sử. Lịch sử không phải là một chuỗi dài thưởng phạt, mà là sự kiện. Sự kiện là khách quan, bình chú là chủ quan. Chủ quan thì y theo nguyên tắc. Sự kiện thì thay đổi. Ngôn ngữ cũng vậy. Định chế cũng vậy. Từ đó, Sorai bắt qua chuyện học. Ông nói: thuở đầu, kiến thức bao gồm việc học Đạo của các Vua Xưa để trị quốc. Đạo của các Vua Xưa là Ngũ Kinh. Bây giờ, học còn là quan sát càng rộng càng tốt các sự kiện, không những lịch sử mà tất cả các lĩnh vực khác, văn chương, luật pháp, quân sự, kể cả âm nhạc, nghĩa là những gì liên quan đến văn hóa. Ông gọi lĩnh vực thứ nhất là công, lĩnh vực thứ hai là tư. Quan niệm của Sorai về công và tư khá độc đáo, cần nói rõ thêm để hiểu ý muốn chính trị hóa Khổng giáo đã nêu lên từ đầu. Câu chuyện sau đây làm sáng thêm vấn đề: Hai samourai thông đồng với nhau để lật đổ chế độ tướng quân. Việc bại lộ vì anh này đi tố cáo anh kia với nhà chức trách. Thưởng công cho anh đi tố cáo là việc mà dư luận phản đối, vì ai cũng cho anh này là hèn, sao không tự tay chém phứt cái đầu của anh kia mà phải mượn tay Nhà nước. Sorai không nghĩ thế. Ông thấy một duyên cớ khác: nếu anh ta tố cáo vì trung thành với Nhà nước thì sao? Ông nói: trong việc cai trị một nước, nhiều khi những bổn phận riêng tư phải tuân theo những nguyên do hợp lý, nhưng nếu những bổn phận đó trái với trật tự công đến mức vi phạm trật tự công thì không được viện dẫn bổn phận riêng tư. Trong chuyện vừa kể, cũng như hai chuyện trước, "công" có nghĩa là chính trị, xã hội, cái gì ở bên ngoài; "tư" là cái gì ở bên trong, là cá nhân. Hiểu như vậy là đồng nghĩa với cách hiểu hiện nay, nhưng không dễ gì tư tưởng "tiền hiện đại" đi đến chỗ đó. Trước hiện đại, người ta không thấy gì chống đối, phân biệt, giữa công và tư. Ông quan, đã là phụ mẫu chi dân thì ông làm gì cũng vừa là quan vừa là phụ mẫu. Cả cái nước cũng là của ông. Phân biệt giữa công và tư, và giải phóng cho "tư", là công trình của hiện đại. Trong "tiền hiện đại", không phải người ta hoàn toàn không có khái niệm gì về công và tư, nhưng người ta hiểu một cách khác, dựa trên luân lý. "Công" là tốt, là thiện. "Tư" là xấu, là ác. Trong Tống Nho, "công" là lí, "tư" là nhân dục. Sorai cũng đặt "công" trước "tư". Nhưng ông không bác bỏ "tư". Người cầm quyền cũng có quyền có những quan tâm tư. Nhưng người cầm quyền chính đáng phải đặt quyền lợi công trên quyền lợi tư. Chừng đó, tư tưởng của Sorai đã là cách mạng. Càng cách mạng hơn nữa khi ông bênh vực những cảm thụ tự nhiên của con người, chống lại luân lý gò bó của Khổng giáo. Từ đó, sự phân biệt công/tư trong Sorai đưa đến sự phân biệt giữa quy tắc và tính tự nhiên (norme/nature). Ông viết: "Các đại Nho hiện tại say sưa với nguyên tắc lí, các ngài mở miệng ra là toàn luân lý, bổn phận, thiên mệnh, nhân dục. Mỗi khi nghe vậy, tôi buồn nôn đến nỗi phải chạy đi nơi khác cầm ống sáo mà thổi". Đừng thay đổi tính tự nhiên của con người, phát triển cá tính của mỗi người, giải phóng cá tính đó ra khỏi luân lý chi hồ dã giả, học phái của Sorai thu hút không biết bao nhiêu là trăm hoa trong hội trường của ông. Sau lịch sử, sau chính trị, đến lượt văn chương cũng được ông giải phóng ra khỏi luân lý. Kinh Thi, theo ông, không cốt khuyến thiện trừng ác. "Có rất nhiều bài thơ nhá nhem đạo đức trong đó. Những bài thơ ấy, nếu Chu Hy bình chú là đã được sáng tác để trừng ác, thì tôi quả quyết ngược lại rằng đó là những bài thơ sáng tác để đưa vào đường trắc nết hư thân. Tuyệt đối không có gì khác giữa những bài thơ trong Kinh Thi và những tác phẩm về sau. Phải đánh giá những bài thơ trong Kinh Thi như là những bài thơ và chỉ là những bài thơ". Thơ là để diễn tả tình cảm của con người, do đó thuộc về lĩnh vực tư. Tóm lại, trên tất các vấn đề căn bản, Sorai phá vỡ thành trì Khổng giáo tuy vẫn ở trong Khổng giáo. Một tư tưởng trổi dậy như vậy, được trí thức hưởng ứng, gây nên thanh thế, tất phải có cơ sở xã hội. Cơ sở xã hội này tất không phải nền tảng trên đó triều đại Tokugawa xây dựng quyền hành lúc đầu. Vậy đó là cơ sở xã hôi gì? Cơ sở xã hội của tư tưởng Sorai Trong 80 năm đầu củng cố quyền lực, ổn định xã hội, tiếp theo một thời gian cực loạn, triều đại Tướng Quân Tokugawa đã lấy Tống Nho làm hệ ý thức, cắt đứt mọi liên lạc với bên ngoài, biệt lập với thế giới, bế môn tỏa cảng. Xã hội được ổn định thật đấy, nhưng với thời gian xã hội nào mà không biến chuyển? Trước hết là biến chuyển về văn hóa. Tướng Quân thứ năm, Tsunayoshi, ra sắc lệnh buộc các samourai phải học văn chương chữ nghĩa, ngoài phép tắc lễ nghĩa trên dưới. Ý của Tướng Quân là dựng lên một chính quyền nho sĩ. Khổng Miếu được xây ở Phủ chúa, Edo, giáo dục được mở mang, thơ phú được diễn giảng khắp nơi, chúa tôi hồ hỡi đàm luận chữ nghĩa trong các hội trường, nhà nhà vang dội thánh điển Khổng Mạnh. Được Tướng Quân yêu chuộng, khuyến khích, thơ và nghệ thuật phát triển rất nhanh, trổ ra thành nhiều trường phái độc lập, tranh đua nhau phản ứng lại truyền thống. Bashô xuất hiện trong thơ. hài cú phô sắc. Văn chương bắt đầu có dấu hiệu hiện thực với Saikaku mô tả thế giới ăn chơi ở Edo. Kịch nghệ vụt trưởng thành, mở ra cho giới thị dân có tiền thú tiêu khiển mới. Hội họa khoác áo tươi mát, cởi mở hơn, đáp ứng thị hiếu mới của giới ăn chơi. Tóm lại, trong mọi lĩnh vực của văn hóa, tính sáng tạo nảy nở, đơm bông kết trái. Những hình thái văn hóa mới đó đem vui đến cho đời sống trở nên thoải mái hơn của dân thị thành, nhưng rốt cuộc lại bị dân thị thành biến đổi, và dân thị thành ở đây, đặc biệt là ở ba thành phố lớn nhất, Edo, Kyôto, Osuka, là giai cấp mới đang lên, nhờ kinh tế mở mang. Có tiền, họ phung phí tiền vào những chuyện ăn chơi quá lố, văn hóa rốt cuộc rồi cũng lố lăng. Phụ nữ diện rất sang, bắt chước các cô gái ở khu ăn chơi, áo quần đắt tiền từ ngoài đến trong, phấn son lược là cực kỳ đỏm đáng, trương của trên khắp thân hình, mệnh phụ phu nhân ngày xưa nằm mơ cũng không dám thế. Giới samourai bắt chước theo. Trước, các vị ấy không có cả chiếu trải nhà. Bây giờ, nhà cao cửa rộng, áo lụa xênh xang, đầu chải dầu, gươm nạm vàng bạc, kẻ dưới ăn diện không thua bậc trên, kể cả các chú võ sĩ trẻ hầu hạ trong các gia trang, xa hoa hỗn tạp. Dưới đã vậy, trên khỏi nói. Cách ăn, cách ở, cách đầy tớ gia nhân hầu hạ, cung phụng, bái rước mỗi khi ra đường, nghi lễ đám cưới, đám tang hoành tráng không thua gì chốn cung đình, nhất cử nhất động tiền vung như nước. Các chỗ ăn chơi phồn vinh như trúng số, ban ngày là thiên đường, ban đêm là lạc cung, giới võ sĩ cũng lân la đến nếm mùi, cả trên lẫn dưới. Ăn chơi đã trở thành mục tiêu của đời sống, mọi quan tâm khác, nhất là chính trị, tan biến trong đầu, đầu ai còn tơ tưởng đến đổi mới với cải tổ, tướng quân chỉ cần kín đáo tặng một nhát gươm. Nhất trí, võ sĩ và giai cấp thị dân mới giàu cùng vui chơi, cùng hưởng thụ một thời đại thanh bình, văn hóa phát triển, chính trị ổn định, đỉnh cao nhất của triều đại Tokugawa. Nhưng đó là bộ mặt phồn vinh ở bên ngoài. Ở bên trong, biến đổi cứ âm thầm tiến tới, bước từng bước chậm nhưng chắc nịch, phá hủy dần dần quyền lực của chế độ phong kiến Tokugawa dựa trên sự phân chia giữa giai cấp võ sĩ với ba giai cấp kia. Bắt đầu là biện pháp thả lỏng việc phong đất cho chư hầu và tình trạng các võ sĩ tập trung về thành phố. Đặc điểm của chế độ phong kiến là kết hợp quyền lực và sở hữu đất đai. Bây giờ, tách rời quyền lực ra khỏi việc quản trị trực tiếp đất đai tức là đào mồ cho cả chế độ. Anh chư hầu được phong đất còn có chút liên hệ với đất thông qua đất được phong và phẩm vật phải cống cho thượng cấp, nhưng bây giờ, đối với phần đông giới võ sĩ, toàn là võ sĩ cấp dưới cả, chút liên hệ với đất đai đó chỉ còn tính cách rất tượng trưng qua việc hưởng lương trên thóc của nông dân nộp. Chưa hết, Nhà nước đã bắt đầu đúc tiền, kinh tế bắt đầu đi vào kinh tế tiền tệ, mà tiền thì càng ngày càng phải đúc thêm để trả lương cho các samourai càng ngày càng tập trung về kinh đô và thành phố. Đời sống của các samourai lúc trước dựa trên lợi tức của đất, vững chắc, bây giờ dựa trên tiền càng ngày càng mất giá. Đến nhà thổ, đâu có vác thóc đi theo để trả cho các em? Tiền đâu để xài sang? Tướng Quân Tsunayoshi hào phóng hậu đãi chư hầu và võ sĩ được một thời phồn vinh, nhưng sau ông, khó khăn về kinh tế và tiền tệ trở thành bất trị, ngân sách Nhà nước cứ chi bội thu. Các Tướng Quân không có biện pháp gì khác ngoài việc cứ đúc thêm tiền, cả tiền vàng tiền bạc. Càng đúc, giá càng lên, samourai càng cạn túi, tiền càng đổ xô chui vào hầu bao của giới thương nhân. Võ sĩ đem thóc ra đổi tiền, ban đầu đổi ra tiền vàng, sau tiền vàng mất giá, đổi ra tiền đồng để tiêu hàng ngày. Gạo cơm mắm muối ngày nào cũng chừng ấy, không giảm, mà tiền đồng thì khan, có nghĩa là tiền đồng lên giá, võ sĩ càng túng. Các Tướng Quân giải quyết bằng cách đúc tiền "nặng", giá gấp mười lần đồng tiền cũ. Nhưng dân không ưa tiền ấy, không chịu dùng, chính quyền ép mấy cũng không được, dọa nạt cũng bằng thừa. Đến một lúc thì chuyện lạ ắt phải xảy ra: dân không nghe nữa. Tướng Quân chết giữa cơn hỗn loạn tiền tệ, nào vàng, nào bạc, nào đồng mà tỷ hối cứ thay đổi bất thường, chưa kể vàng bạc cũng biết tìm đường vượt biên ra khỏi nước, định cư nơi nào đắt giá hơn. Tình trạng bất lực kéo dài cho đến Tướng Quân thứ 8, Yoshimune (1684-1751). Ông này áp dụng một chính sách khắt khổ, giảm chi, giảm tiêu, từ Tướng Phủ đến dân chúng. Nhưng tình trạng vẫn không khá, Nhà nước phá sản, không đủ tiền để trả lương cho chư hầu. Rốt cuộc, để cứu nguy, ông phải nuốt nhục dùng đến một biện pháp cùng đường: buộc các chư hầu (daimyô) có một lợi tức bằng hoặc cao hơn 10 000 koku phải biếu ông một "tặng phẩm bằng thóc" tương ứng với 1% của lợi tức. Ngược lại, ông miễn cho họ một nửa nghĩa vụ phải ở kinh đô. Chế độ phong kiến ở Nhật buộc chư hầu phải thay đổi chỗ ở, một nửa thời gian ở địa phương, một nửa thời gian ở kinh đô. Bây giờ cột trụ phong kiến ấy sụp đổ (từ 1722 đến 1730) chỉ vì khó khăn ngân sách. Họa vô đơn chí, khổ vì chuyện tiền, võ sĩ còn khổ vì chuyện thóc. Giá thóc cứ tụt, rồi đến năm 1728 thì rơi tõm vì… quá được mùa. Nhưng giá gạo cơm mắm muối thì không tụt mà cứ thăng thiên. Tiền thì túi rỗng mà ăn chơi xả láng thì quen thói, võ sĩ không trở về lại được nữa với thời yên ngựa thanh gươm, dần dần lệ thuộc vào giới ngân hàng, giới cho vay, phất lên giàu sụ nhờ khai thác tỷ hối lên xuống giữa vàng và bạc, nhờ giá hàng của vật phẩm tiêu dùng lên vọt như pháo bông. Đồng thời, chính sách xây nhà, nhất là sau những thiên tai, tạo ra bổng lộc béo bở cho các nhà thầu, cho các tay buôn gỗ. Chưa bao giờ giới thương gia thượng phong đến thế! Trật tự trên dưới giữa hai giai cấp, võ sĩ và phú thương, đảo ngược, trời nằm dưới, đất ở trên. Chư hầu cao cũng như chư hầu thấp cúi rạp đầu trước phú thương để xin ân huệ, xin tha những lỗi đã phạm, xin khất nợ, xin vay thêm tiền để tiếp tục xa hoa. Trước, võ sĩ xưng hô trịch thượng với thị dân; bây giờ, gặp phú thương đều phải gọi "ngài" như nhau, ngài này với ngài kia, bình đẳng. Trước mắt phú thương, khách hàng là khách hàng, ai cũng như ai, gươm đeo bên hông hay không cũng vậy. Họ nói: võ sĩ có gươm, ta đây có gái geisha, ai làm ai lác mắt? Họ lại nói: gươm chém đầu được, nhưng chém tiền thử coi! Tiền vào là gươm tè ra nước! Tuy nhiên… tuy nhiên cũng phải nói điều này: tất cả giới phú dân vừa phất lên ấy đều ăn bám vào quyền lực phong kiến, tất cả đều là "tư bản thương gia" chẳng có khả năng gì sáng tạo ra những phương thức sản xuất mới, phần đông làm giàu chỉ nhờ cho vay nặng lãi một cách hợp pháp. Nương vào quyền lực phong kiến mà phất, phất lên nhờ hút máu từ thuế của nông dân nộp cho lãnh chúa, kiếp giàu của họ rất mong manh. Họ ý thức chứ: Tướng Quân nổi giận là họ đi đời. Cho nên, ăn chơi cho hả là triết lý sống, vất tiền vào thanh lâu như vất rác, yến tiệc hơn cung đình, xe ngựa lầu son tang bồng phỉ chí. Tất cả giới phú thương đó không tạo ra nổi cái bóng mờ của "giai cấp trung lưu", "bourgeois", đầu óc chẳng có chút lý tưởng gì tương tự giới doanh nhân đồng thời lúc ấy ở bên kia trời Âu như Weber mô tả. Sĩ nông công thương… vị thế tương quan giữa sĩ và thương là như vậy. Còn cột trụ thứ hai của chế độ phong kiến - nông dân - thì sao? Thì âm thầm chịu đựng, như chịu đựng từ bao thế kỷ. Từ đầu, các Tướng Quân Tokugawa đã nghĩ ra mọi biện pháp để thu thuế, thuế là cơ sở kinh tế của quyền lực họ nắm. Mọi biện pháp đều tốt dù xâm phạm vào đời sống riêng tư, ăn uống mặc ngủ… Nông dân phải ăn thế nào? Ăn ngũ cốc hạng bét, ít gạo. Uống làm sao? Cấm uông sakê, cấm uống trà. Một trà một rượu, hai thứ ấy cấm. Mặc sao đây? Cho phép mặc áo bông, nhưng cấm đụng đến vải sang, dù để làm cổ áo hoặc thắt lưng cho đẹp. Trồng trọt thế nào? Để dành đất mà trồng ngũ cốc, không được trồng thuốc lá. Còn vợ con phu thê, cái thứ ba lăng nhăng ấy, tha hồ chứ? Luật dạy: được rẫy vợ khi vợ không săn sóc chồng đàng hoàng, khi vợ có thói uống trà nhiều quá, thích vui chân dạo chơi nơi này nơi nọ. Ngược lại, dù vợ xấu như ma lem mà sửa túi nâng khăn tươm tất thì phải thương yêu hết mực. Tất cả những cấm kỵ răn bảo đó đều được luật quy định. Và luật phê: như thế thì nông dân sẽ có một đời sống yên lành, vô tư, sau khi đã làm xong nghĩa vụ nộp thuế. Giả dụ như có anh nông dân nào chịu cường hào ác bá không nổi, muốn bỏ làng mà đi, qua sống làng khác, được chăng? Được chứ! Thoải mái, sau khi đã nộp thuế không thiếu một hạt thóc. Ấy, nông dần âm thầm… Nhưng có cái gì mà không biến đổi, kể cả cái âm thầm chịu đựng của anh nông dân? Kinh tế thương mại, kinh tế tiền tệ phát triển vào tận nông thôn, ảnh hưởng lên đời sống của nông dân. Việc thu thuế càng ngày càng khe khắt vì giới võ sĩ càng ngày càng nghèo túng. Kinh tế đổi chác, đổi thóc lấy hiện vật nhường chỗ cho tiền, khí cụ trao đổi. Nhưng ảnh hưởng kinh tế, dù lớn, cũng không lý thú bằng ảnh hưởng văn hóa, cái thứ văn hóa ăn chơi xa xỉ của phú dân thành thị. Bị siết chặt đủ thứ trong đời sống riêng tư, anh nông dân rướn cổ tìm chút không khí tươi mát bằng cách bắt chước ăn chơi ở thị thành, mặc cho Tướng Quân ban thêm sắc lệnh nhắc nhở bổn phận ăn mặc ngủ nghỉ. Nông dân gánh trên vai hai thúc bách mâu thuẫn: vai này nhắc thuế nặng hơn, vai kia xúi dại ăn chơi chút đỉnh. Hậu quả tất nhiên là thế: giữa nông dân và lãnh chúa "địa chủ", hận thù chồng chất. Đã thế, thâm nhập của tư bản thương mại vào nông thôn tất phải đưa đến việc thu hút đất đai vào quy trình tiền tệ. Trên nguyên tắc, đất đai trồng trọt cấm không được mua bán; nhưng luật đó bị cả trăm biện pháp vô hiệu hóa. Rốt cuộc, một mặt, trên nguyên tắc, đất bị tập trung; một mặt, trên thực tế, đất bị phân tán. Nông dân, cùng đường, chỉ còn có cách duy nhất thôi, quá quen thuộc trong lịch sử, là nổi loạn. Từ 1704 đến 1735, đếm sơ sơ 40 vụ nổi loạn, gấp đôi so với trước. Đến 1750 thì tình trạng nông dân bi đát đến mức đe dọa cả chế độ phong kiến. Bức tranh xã hội kể trên đưa đến nhận định gì? Đàng sau lớp son tráng lệ của văn hóa thời Tsunayoshi (thường gọi là văn hóa Gensoku) dâng lên, ở thành phố cũng như nông thôn, một thái độ chống đối, nơi này tiêu cực, nơi kia tích cực, tất cả hợp lại thành nước thủy triều làm nứt đê, đẩy chế độ phong kiến đến chỗ phải xét lại. Nhưng chống đối, tiêu cực hoặc tích cực, đều không đủ mạnh để đập vỡ chế độ. Dù lung lay, phong kiến Tokygawa vẫn tồn tại. Nói cách khác, đây đúng là tình trạng chuyển tiếp, giao thời. Đúng là bối cảnh xã hội để Sorai "chính trị hóa" Khổng giáo. Thật vậy, nếu xã hội vững chắc, ổn định, một tư tưởng xét lại sẽ không có chỗ đứng, tâm lý con người lúc đó ai cũng thấy lạc quan. Chỉ khi nào xã hội biến đổi, giai cấp thống trị cảm thấy bị đe dọa, khi đó một vài đầu óc nhạy bén mới cảm thấy có khủng hoảng, mới đặt vấn đề tư tưởng chính trị lên hàng đầu. Nhưng, mặt khác, nếu xã hội tham nhũng, nhầy nhụa, xáo trộn đến mức vô phương cứu chữa thì hoạt động trí thức cũng bầy nhầy, nhem nhuốc, lấp liếm rỗng tuếch trong phê phán bằng tiếu lâm với ngụ ngôn. Chính ở giữa hai tình trạng đó, hai giới hạn đó, một tư tưởng chính trị có tính chiến đấu, có khả năng đốp chác với thực tại, mới có thể trổi dậy. Sorai đúc kết được tư tưởng của ông, chối từ lạc quan của Tống Nho, "chính trị hoá" Khổng giáo", chính là nhờ ông đã sống ở giữa hai giới hạn ấy. Sorai là "nhà tư tưởng về khủng hoảng" lớn đầu tiên mà xã hội Tokugawa đã sản xuất. Bênh vực ông hay chống lại ông, trí thức sau ông đều là con đẻ của ông, bởi vì đều chịu ảnh hưởng vô cùng lớn của ông, nhất là trên mặt phương pháp. Sau Sorai: Norinaga Sau Sorai, một học phái khác xuất hiện, chế ngự thế giới trí thức của Nhật: học phái "nghiên cứu quốc học" mà chủ xướng là Motoori Norinaga (1730-1801). Hai ông khác nhau như hai thái cực, nhưng ông này có thể được xem như sợi dây nối dài của ông kia trên mặt lập thuyết. Học phái "nghiên cứu quốc học" đả kích Khổng giáo tận cội rễ, thay thế bằng việc đề cao lịch sử và văn học của Nhật. Họ nói: Thánh nhân hoặc Vua Xưa của Tàu là Vua và Thánh nhân của Tàu, bởi vậy giáo huấn của họ chẳng thích hợp gì để hiểu đặc điểm riêng của lịch sử Nhật. Thay vì Thánh ấy và Vua ấy, Norinaga đề cao các vị thần đã tạo ra nước Nhật. Thay vì thánh điển của Tàu, ông đưa ra thi và thư, đầy diễm lệ, đã kể chuyện nguồn gốc, đã sinh thành ra văn hóa của nước ông. Ta có thể đoán trước: học phái "nghiên cứu quốc học" góp phần tạo ra cơ sở ý thức hệ cho phong trào phục hưng lại quyền của Vua đã bị Tướng Quân tước đoạt, và, sau đó, của chủ nghĩa dân tộc đã đưa nước Nhật đến chiến tranh. Chuyện đó không nói ở đây. Ở đây chuyện để nói là: qua tư tưởng của Sorai và Norinaga, chính trị, lịch sử và văn chương, trước đây bị Khổng giáo buộc chặt thành hệ thống, bây giờ bị tách biệt ra với nhau. Từ sự tách biệt đó, ý thức về hiện đại manh nha. Tuy vậy, lịch sử vẫn luôn luôn đòi hỏi phải cắt nghĩa. Phải giải thích cho bằng được ý nghĩa ẩn nấp sau các sự kiện. Không còn là tấm gương luân lý nữa thì nó là cái gì? Cái gì còn giữ mãi hoài niệm về một quá khứ hài hòa đã mất? Ước muốn tìm lại sự thống nhất nguyên thủy giữa quyền lực và lễ nghi, sự gần gũi giữa người và thần, sẽ đưa đến việc thành lập chính quyền Minh Trị, đặt cơ sở trên cá nhân của Thiên Hoàng, người nắm mọi uy quyền, người có nguồn gốc thần linh, như thuở trước. Nhưng trước khi đi đến kết luận đó, hãy trở về với mối liên hệ giữa Sorai và Norinaga. Có thể nói là có liên hệ không, khi Norinaga chỉ trích học thuyết của Sorai là vẫn còn nô lệ tư tưởng của Tàu? Có thể. Đó là liên hệ vừa đối nghịch vừa tiếp nối. Trước hết là về vấn đề thần đạo ở Nhật. Sorai không nói gì về thần đạo. Và đúng là ông đã nâng các Thánh nhân và các Vua Xưa của Trung Quốc lên hàng thần thánh, đối tượng của tín ngưỡng. Học phái của Norinaga nói: hạ bệ Lí, nhưng sùng bái Thánh nhân của Tàu, như vậy là Sorai mới đi được nửa đường. Huống hồ, cái nhìn của Sorai về Vua Xưa tựu trung vẫn là cái nhìn chính trị: một uy quyền chính trị đâu có ví được với uy quyền của thần linh? Uy quyền chính trị bị hạn chế trong thời gian và không gian, thời gian đó là thượng cổ, không gian đó là nước Trung Hoa. Cực kỳ nghiêm khắc, họ viết: "Người ta gọi Đạo là những gì do Thánh nhân lập ra. Như vậy, cái mà ta gọi là Đạo của người Trung Hoa, trong ý định sâu thẳm nhất, giới hạn vào hai việc: một là đi xâm chiếm lân bang, hai là không để cho lân bang xâm chiếm". Chính trị chẳng phải là như vậy sao? Lý luận của Sorai bị lật ngược. Sorai nói: Đạo là tuyệt đối vì đó là sáng tạo của Thánh nhân. Phái Norinaga nói: chính vì đó là sáng tạo của Thánh nhân nên nó chỉ có giá trị với người Trung Quốc. Về Thần đạo, hồi đầu thời Tokugawa, Khổng giáo được nâng lên bậc nhất, các vị Nho gia đòi triệt hạ Phật giáo, và cách triệt hạ tinh tế nhất là giải phóng Thần đạo ra khỏi ảnh hưởng Phật giáo và ghép tín ngưỡng này vào Khổng giáo. Điển hình là giải thích sau đây của một Nho gia đầu đàn (Nobuyoshi): "Thần đạo của Nhật cũng sửa tâm con người, cũng có ý định tối hậu là trải lòng thương xót ra đến mọi người, cũng thực hiện lòng nhân. Đạo của Nghiêu Thuấn cũng đáp ứng ý định đó. Điều đó, ở Trung Hoa thì gọi là Đạo Khổng, ở Nhật Bản thì gọi là Thần đạo: tên gọi khác nhau, ý định chỉ một". Sorai không chấp nhận sự cưỡng hôn đó. Đạo của Thánh nhân là Đạo của Thánh nhân; Thần đạo không việc gì mà xía vào. Người Nhật thờ phụng thần linh của nước mình là phải, Thánh nhân cũng muốn thế. Và ông đóng cửa, không cho Thần đạo len vào hội trường của ông. Ở hai thái độ đối nghịch, Norinaga tiếp nối Sorai: một bên không muốn Khổng giáo của Trung Hoa làm bẩn Thần đạo của Nhật; một bên không muốn Thần đạo xen vào Khổng giáo. Đi xa hơn nữa, Norinaga phục hưng lại cái mà ông gọi là "Thần đạo nguyên thủy", giải phóng Thần đạo ra khỏi triết lý Khổng giáo: "Thần linh, trong cái nước kia - nghĩa là Trung Hoa - chỉ là một nguyên tắc trống rỗng, chẳng có chút bản chất gì; thần linh trong nước ta là tổ tiên của Thiên Hoàng, của chúng ta, chẳng liên hệ gì đến cái nguyên tắc trống rỗng ấy cả". Mối liên hệ nối dài thứ hai giữa Sorai và Norinaga liên quan đến cái nhìn về lịch sử. Sorai, như đã nói, bác bỏ lối đọc lịch sử qua lăng kính đạo đức. Norinaga, đi xa hơn, bác bỏ luôn cách đọc lịch sử như tuân theo những nguyên tắc siêu nhân loại, kiểu thiên mệnh, ý muốn của Trời, Đạo, thần linh… Ông trích ra nhiều ví dụ cho thấy kẻ ngay bị diệt, kẻ gian được tôn. Bởi vì thiện ác, ông nói, không có ăn nhậu gì với tư cách thần linh. Trong Thần đạo, có thần ác (Magatsubi no kami) chuyên môn mang tai họa và bệnh tật, và ngay đến cả thần thiện cũng không phải chỉ làm toàn chuyện tốt. "Các ông Khổng Nho nói cái gì cũng phải hợp lý, cho nên các ông không để cho các thần thiện dính một chút bụi dơ. Còn ta, ta phải biết rằng thần linh chỉ là những người cao hơn người thường mà thôi". Noranaga cũng từ khước đọc lịch sử theo lối hoài cổ, lý tưởng nằm ở sau lưng, xa tít tận thời Nghiêu Thuấn, lịch sử càng đi càng tiến đến chỗ xấu hơn. Cái lối ngoái cổ lại đàng sau để nhìn, ông nói, và nhìn theo một nguyên tắc chỉ đạo đã vạch sẵn, là lối suy nghĩ của Tàu. Chả nhẽ ở thời Nghiêu Thuấn cái gì cũng tốt cả? Sao lại bảo rằng sau thời Tam Hoàng thì con người bị dơ bẩn vì ham muốn? Chả nhẽ con người dưới thời Nghiêu Thuấn chẳng ai ham muốn cả sao? Từ đó, mối liên hệ nối dài thứ ba liên quan đến việc giải phóng tính tự nhiên của con người bị Tống Nho cho mang gông dưới khái niệm "nhân dục". Sorai đã mở đầu bằng cách chặt đứt tu thân với trị quốc, tu thân là tư, trị quốc là công. Norinaga đi xa hơn: không những ông chấp nhận tính tự nhiên mà còn chính đáng hóa nó. Đạo không phải do học mà biết; nó nằm trong tim chân thật của con người ngay từ khi sinh, trái tim chân thật là trái tim có khi sinh ra, dù tốt hay xấu. Tuy vậy, ông nói tiếp: "Con người ở những thời đại về sau, vì cứ mãi mê hướng theo tư tưởng của Tàu, và do đó mất đi trái tim chân thật, cho nên không còn biết Đạo là gì nữa nếu không học". Vậy thì Đạo là tính tự nhiên của "ham muốn trong con người". Một trong những tác giả sáng chói đầu thời Minh Trị (Tsuda Manichi) tiếp nối ý tưởng của Norinaga theo một quan điểm tiến bộ hơn: "Tại sao chối bỏ, không nhận ham muốn của con người cũng là thành phần của Lí? Hoài bảo thấu hiểu bản chất của sự vật, ý muốn tìm tòi cái gì mới, hưởng thụ tự do, khao khát hạnh phúc: tất cả những đam mê đó, tiêu biểu cho những ý muốn cao đẹp nhất của con người, chẳng phải là cần thiết cho bản tính của con người hay sao?Tất cả chẳng hợp lại để bảo đảm cho tiến bộ hay sao?" Không ở đâu sự giải phóng đó hiển lộ rõ bằng trong quan niệm về văn chương. Sorai giải phóng thơ ra khỏi luân lý và chính trị. Kinh Thi cũng giống như thơ Nhật, chẳng có chỗ nào liên quan đến tốt xấu, cũng chỉ là thở than và reo vui. Có điều là hiểu thơ tinh tế thì có lợi cho ai ngồi trên chóp bu thiên hạ. Norinaga cũng nói vậy: "Mục đích của thơ chẳng phải là để tu thân trị quốc gì cả, chỉ là để diễn tả tình cảm của trái tim… Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi yểu điệu thật, cũng chỉ diễn tả tình cảm thôi, cho nên, giống như lời nói thốt ra từ miệng các cô thiếu nữ, thơ ấy cũng vẩn vơ, chẳng có gì sâu sắc". So sánh thơ Nhật với thơ Tàu, ông cho thơ Nhật không thua. Đi xa hơn, ông trân trọng đặt thơ vào vị trí trung tâm của Thần đạo, cho rằng hồn của thơ (mono no aware) cũng là hồn của chính Thần đạo. Đạo của các thần, ông viết, chẳng những không vướng chút vết tích nào của lối biện luận tăn măn tỷ mỷ trong Khổng giáo, mà còn tràn đầy phong phú, diễm lệ. Cái duyên dáng ấy tạo ra hồn thơ vô cùng thích hợp với Đạo ấy. Trường phái của Norinaga xem hồn thơ đó trong thơ của Nhật có thể mang đến bình yên và hài hòa cho con người và cho xã hội. Quan niệm đó đưa đến bao nhiêu tranh cãi: vậy thơ cũng có chức năng xã hội và chính trị hay sao? Vậy thơ là thuộc lĩnh vực công hay tư? Vấn đề này lớn quá, không bàn ở đây. Chỉ trích thêm một câu của Norinaga để chấm dứt: "Lửa tự nó nóng, nước tự nó lạnh. Không thể hiểu được vì nguyên tắc gì mà chúng nóng lạnh như thế. Để làm cho thiên hạ tưởng rằng ta có thể biết nguyên nhân, người ta bày đặt ra âm dương, thái cực, rồi đưa thái cực lên hàng thánh của tất cả các thánh, hoặc thiêng liêng hóa những đối cực, lí là lửa, phương đông, mùa xuân, khôn là nước, phương tây, mùa thu, khiến cho ai muốn nói cái gì cũng được, tả cũng được, hữu cũng xong. Tát cả những chuyện đó chỉ là đầu óc vặn vẹo do tưởng tượng của các ông thánh Trung Hoa mà ra". ♦ ♦ ♦ Tôi có hai điều muốn nói trước khi kết thúc: Trước hết, mục đích của tôi không phải là để tán dương hai nhà học giả Nhật. Không phải cái gì các ông ấy nói tôi đều tán thành, kể cả về mặt cấu trúc tư tưởng. Tư tưởng của Sorai rất vững chắc trên lý tính, rất hợp với lý tính, rất rationnel. Mà ai cũng biết, rationalisme là một đặc tính thiết yếu của hiện đại. Thế nhưng, từ tính hợp lý trong phương pháp, lập luận của ông đi đến tính bất hợp lý, irrationnel, trong kết luận, khi ông đặt lòng tin tuyệt đối vào các Thánh nhân. Người đọc bỡ ngỡ tự hỏi: thay Trời Phật bằng Thánh nhân, tư tưởng triết lý có cao hơn lên hay thấp xuống bớt? Norinaga lại càng đi xa hơn trong tính bất hợp lý: phục hưng lại Thần đạo, thần quyền của Thiên Hoàng, tin tưởng tuyệt đối vào các thần trong đạo ấy, thế chẳng phải là thay thế một tín ngưỡng bằng một tín ngưỡng khác chẳng phổ quát gì hơn? Cả hai ông nhiều khi nhuộm tư tưởng của mình với màu sắc thần bí (mystique) đến độ làm phương hại cho phương pháp thực nghiệm (positiviste) rất hiện đại của mình. Tuy vậy, đó chưa phải là quan tâm của người viết. Câu hỏi chính là: tại sao người Nhật biết xét lại vấn đề từ hồi thế kỷ 17-18 còn ta thì không? Còn ta thì phải đợi đến Phan Khôi của những năm 1930 khi Khổng học đã chiều tà xế bóng? Đọc Sorai, người đọc thấy ông sùng bái văn hóa Trung Hoa không thua gì các nhà nho của ta, vậy mà ông vẫn đặt lại vấn đề. Đặt lại vấn đề, như vậy, đâu có bị phong kiến đương thời coi là chống đối? Là phản loạn? Hóa ra phong kiến cũng nhận biết rằng đặt lại vấn đề là chuyện bình thường của cái đầu. Cái gì đã khiến ta không làm thế? Cái gì đã khiến ta khác Nhật? Đầu óc nô lệ chăng? Hay là xã hội ta ở thời đại đó bị chiến tranh liên miên, nào Lê, nào Trịnh, nào Mạc, nào Tây Sơn, nào Nguyễn, chỉ mỗi vấn đề chính thống đã làm kiệt quệ hết tư tưởng? Thứ hai, xã hội Nhật thời Tokugawa là một xã hội đóng, cô lập với thế giới, cả Sorai lẫn Norinaga đều không biết mô hình nào khác mô hình phong kiến, cả hai đều không có ý đả phá chế độ phong kiến, cả hai đều phò tá các tướng quân. Vậy mà, trong xã hội đóng ấy, tư tưởng vẫn có thể mở, hai trường phái chính mà hai ông là thủ lãnh vẫn thu hút đông đảo trí thức Chính nhờ tư tưởng đã đi trước thời đại như vậy tự bên trong, không cần có bên ngoài tác động, mà vua Minh Trị mới dám quả quyết khi mở nước Nhật ra cho thế giới bên ngoài: duy tân là giữ hồn Nhật, chỉ mượn phương Tây về kỹ thuật mà thôi. Họ biết đâu là hồn của họ khi mở cửa. Xã hội ta ngày nay, ngược lại, là một xã hội mở, mở loạn xà ngầu, thế mà tư tưởng thì đóng, sinh hoạt trí thức rách rưới, bần hàn. Ai có chút suy nghĩ đều không thể tự đặt câu hỏi: tình trạng ấy có bình thường không? Chú thích Quyển sách của Maruyama, xuất bản lần đầu tại Nhật năm 1952, tập hợp những nghiên cứu ông viết trong khoảng thời gian 1940-1944 Chi tiết này rất quan trọng để hiểu tư tưởng của tác giả và những tranh luận sau đó. Đó là khoảng thời gian mà nước Nhật phát xít lao vào đại chiến thứ hai. Trí thức tiến bộ, Maruyama không vui vẻ gì với chế độ quân phiệt. Về điểm này, cũng như về tư tưởng của Maruyama, một trong những trí thức đầu đàn thời hậu chiến, có thể xem: - Mary L. Hanneman: The Old Generation (Mid) Showa Japan: Hasegawa Nyosekan, Maruyama Masao, and Post-War Thought, Historian, Vol. 69, N° 3, Fall 2007. - Andrew E. Barshay: Imagining Democracy in Post-War Japan: Reflections on Maruyama Masao and Modernism, Journal of Japanese Studies, Vol. 18, N° 2, Summer 1992.- -… - Laura Hein, điểm sách, Tadashi Karube: Maruyama Masao and the Fate of Liberalism in Twentieth Century, American Historican Review, Vol. 114, N° 1, Feb. 2009. © Thời Đại Mới http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai19/201019_CaoHuyThuan.htm

 

Ngay trong những ngày đầu năm, trong bài “Canh dần xung đột dữ dội-dấn thân để canh tân đất nước” và bài “canh dần bàn thêm về xung đột và canh tân” trên cơ sở của cái nhìn “huyền dịch” chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra những dự báo về những đặc điểm, những dấu chỉ chuyển biến xã hội trong tiến trình cải cách, canh tân đất nước, loại bỏ sự độc quyền lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng Sản. Chúng tôi đã dự báo: ”Năm nay hành mộc, mộc sinh hỏa chủ về “lễ”: Nắng nóng, hỏa hoạn, và nhiều nghi thức lễ hội. “lễ” thịnh sinh “loạn”. Cháy lớn cũng đã xẩy ra tại các đô thị, các khu công nghiệp khắp từ bắc chí nam. Cháy cả chung cư cao tầng hiện đại mới xây ngay tại Hà Nội, cháy chợ Đông Kinh ở Lạng Sơn, trung tâm “buôn lậu”, biểu tượng của sự giao hảo kinh tế hai nước Việt –Trung. Cháy cả nhà cổ đã hơn trăm năm tuổi, Cháy kho sách cổ, quý, lớn tại hà Nộ thiêu rụi 12.000 cuốn sách quý. Cháy cả khu nghĩa địa tại Huế. Người cũng cháy, phóng hỏa đốt người yêu, đốt chồng, đốt con, đốt anh, đốt em, đốt cả bố mẹ, đốt thầy, đốt cả công an…rồi tự thiêu…v..v..Người ta đã có những thống kê, phân tích so sánh từng nhóm số liệu riêng biệt, tất cả đều cho thấy gấp hơn nhiều chục lần so với những năm trước. Thiệt hại về vật chất là hàng ngàn ngàn ngàn tỷ đồng, gấp không biết bao nhiêu lần cú vỡ nợ của Vinasim. Một đợt nắg nóng kinh dị chưa từng có trong 60 năm qua hoành hành trên toàn quốc, tập trung cao độ bắc và trung bộ. nắng nóng vừa đến sớm, vừa kéo dài, và với tần suất cao. Người nông dân trần trụi trong nắng lửa ở những làng quê đã xơ xác, khô khốc vì caí gọi là chủ trương “công nghiệp hóa” “hiện đại hóa nông thôn” của Đảng Cộng Sản. Người thành phố thì quằn quại như bị rang trong các chảo lửa trước sự thờ ơ, vô cảm, độc ác của giới “lãnh đạo đỏ” “tư bản đỏ” vẫn nhởn nhơ trong các điều kiện sống tốt nhất, thừa thãi nhất với những “đại hôi” những “lễ đón” “lễ nhận” danh hiệu… đâu đó ở Thái Bình, ở Hà Tĩnh, Thanh Hóa… dân lành đã phản ứng . Chủ Tịch Xã, Trưởng Trạm Điện, hay lãnh đạo Đảng địa phương… đã bị dân trói, phơi nắng, hoặc giam trong buồng kín không điện, không quạt cho đến khi hiiêủ rõ nỗi thống khổ của dân đen bị cúp điện trong nắng nóng mới được tha… Nhiều người cho rằng nắng nóng chỉ kéo dài thêm 24, 48 hay 62 giờ đồng hồ nữa, và nếu lại không có điện thì Chủ Tịch Nước cũng có thể sẽ bị dân bắt trói phơi nắng hoặc giam trong buồng kín. Lễ hội bùng nổ như bệnh dịch được khởi phát từ lễ hội ”tịch điền” đầu năm, một lễ hội có nguồn gốc từ Trung Quốc xưa, đã mai một nay được phục dựng như một vở tuồng, cũng chỉ để cho ông Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết “diễn xuất” hay “ thông điệp” một cách dị hợm gì đó… để rồi cũng từ đấy mà lễ hội tràn lan mọi địa phương, bị biến dạng, bị thương mại hóa, phá nát hết cả thuần phong mỹ tục. Ngay các lễ hội dân gian lớn như: Lễ hội Đền Hùng thì làm bánh chưng hỏng, quảng cáo rượu (hàng cấm quảng cáo). Lễ hội Bà Chúa kho thì sặc mùi mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lễ hội Đền Trần thì chen lấn xô đẩy cướp ấn, ấn giả..v.v. Cái nhức nhối nguy hại hơn lại chính là các lễ kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống của ban, bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, khu vực, vùng miền, xã phường. Lễ trao tặng, đón nhận danh hiệu, đặc biệt là hàng ngàn các “đại hội” Đảng từ chi bộ đến cơ sở, quận huyện, tỉnh thành trong cảc nước, đã tiêu tốn không biết bao nhiêu là trường học, giường bệnh, là nước tưới tiêu nông nghiệp, là điện chống úng của nhân dân, Câu chuyện về “lễ hội” đã phải trở thành nội dung thảo luận và chất vấn gay gắt tại diễn đàn Quốc Hội, đến nỗi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản mới đây đã buộc phải ra chỉ thị 45 để hạn chế, giảm tần suất, quy mô, cấp độ tổ chức các ngày lễ kỷ niệm. Trong bài những thông điệp đầu năm hay dấu chỉ mạt vong chế độ chúng tôi đã có những nhận định về vấn đề lễ hội này. “lễ” thịnh sinh loạn, rõ ràng đây là dấu chỉ chế độ độc tài đảng trị đã đến hồi mạt vong Chúng tôi đã dự báo: ”Như thế năm Canh Dần sẽ là một năm xung đột căng thẳng, xung đột dữ dội để tiến lên, để canh tân đất nước” Khởi đầu là xung đột thế hệ, và xung đột về đường lối trong các vấn đề về an ninh chủ quyền quốc gia vì sự tồn vong của chế độ giữa các thế hệ Cộng Sản. Đầu năm 3 lão tướng công khai kiến nghị, phản đối về nạn cho nước ngoài thuê rừng đầu nguồn ở 18 tỉnh biên giới. Hơn 300.000 ha đất rừng thiêng liêng, quý giá bị giày xéo và tàn phá, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Hệ sinh thái, đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của dân bản địa bị biến dạng, có nhiều nguy cơ tiêu vong. Đến tháng tư, 18 tướng “lão thành cách mạng” đã lại công khai kiến nghị tới Bộ Chính Tri đảng cộng sản, tấn công trực diện và đích danh tóp cầm đầu của Bộ Chính Trị như : Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng,Tô Huy Rứa… Rồi hai tháng sau hơn 40 cán bộ đảng viên cao cấp, cựu chiến binh lại gửi tâm thư “Vì sự nghiệp bảo vệ độc lập và quyền dân chủ của nhân dân, vì sự còn mất của Đảng và chế độ” trong đó nêu những vấn nạn quốc gia như :tham nhũng, độc tài, bô- xít, Nguyễn Chí Vịnh và Tổng cục 2, mất đất mất bất biển vào tay Trung Quốc.v.v. Xung đột trong giới cầm quyền trước thềm Đại Hội đảng đã vào hồi quyết liệt, người ta chưa thể biết đã là đỉnh điểm chưa nhưng rõ ràng mức quyết liệt là chưa từng thấy trong nhiều năm qua. Ngay sau khi kết thúc hội nghị trung ương 12 (dù đã có những thống nhất sơ bộ về nhân sự ở top cao nhất) đấu trường thực sự mới được mở ra với một loạt những Vinashin, Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch huyện Hóc Môn… Kết luận của UB kiểm tra trung ương cho thấy trong 45 trường hợp nổi cộm nhất trên toàn quốc , có 12 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 4 tập đoàn trực thuộc Chính Phủ với các đối tượng toàn là Bí Thư, Phó Bí Thư, Thường Vụ Tỉnh Ủy, chánh, phó Chủ Tịch UBND tỉnh, lãnh đạo Tập đoàn gồm cả Đảng Ủy đến HĐQT, Tổng và Phó tổng giám đốc… đều “dính đạn”. Trước đây Lã Thị Kim Oanh tham nhũng, thất thoát công quỹ 80 tỷ đồng đã phải đối diện với bản án tử hình, vài thứ trưởng, bộ trưởng, phó thủ tướng, thậm chí chủ tịch nước đã liên lụy, nhưng giờ đây Phạm Thanh Bình với Vinashin làm tiêu tan công quỹ những 80.000 tỷ đồng (con số ước lệ) tức là lớn hơn 1000 lần. thế thì điều gì sẽ xẩy ra? Cũng trước đây chỉ là một tổng cục phó hiếp dâm trẻ em đã phải ngồi trong ngục thất, lúc này thì cả “ hệ thống chính trị” gồm Đảng, Chính, Công Thanh của tỉnh Hà Giang đã vào cuộc hiếp dâm trẻ em. người ta dự báo rằng sẽ có những lãnh đạo cấp trung ương cũng sẽ bị lộ tẩy trong vụ này bởi rất nhiều quan chức Trung ương khi về địa phương công tác, được hưởng chiêu đãi đặc sản địa phương đó. Đặc sản của Hà Giang chính là các cháu học sinh do Tô, Xương quản lý. Tin tức ngoài luồng từ Hà Giang cho hay vì bị dồn đến chân tường Nguyễn Trường Tô đã đe dọa, đại thể là nếu phải ra trước vành móng ngựa, y sẽ đưa ra bản dánh sách đen cấp trung ương. Có lẽ chính vì thế mà vụ việc Nguyễn Trường Tô sẽ dừng ở mức cách chức, khai trừ khỏi Đảng thôi chăng? Thật ra không phải là 80, 60, 50 hay 40, 30… nghìn tỷ mới là nghiêm trọng, không phải chỉ 45, 450 hay 4500… sự vụ nổi cộm bây giờ mới diễn ra. Tất cả đã diễn ra từ trước rất lâu và ngay từ đầu đã là 30, 40, 50, 60…nghìn tỷ rồi. Giờ đây trước thềm đại hội được đưa ra để xử lý, đấy mới là điều khiến mọi người đặt dấu hỏi?… cuộc thí quân đôỉ tướng, chặt chém vây cánh của nhau trước thềm đại hội đã bắt đầu. Từ nay cho đến cuối năm cuộc sát phạt nội bộ Đảng còn diễn biến hết sức phức tạp. cấp độ, tần suất, quy mô các vụ việc sẽ biến thái và lớn hơn nhiều những gì đã thấy. Xung đột xã hội bùng lên dữ dội, nhất là ở những nhóm dân oan là nạn nhân của cuộc cướp đoạt tổng lực và toàn diện mà “lãnh đạo đỏ”, “tư bản đỏ” đang thực hiện đã trở thành một “tầng lớp” luôn xung đột với chính quyền (Trong đội ngũ “dân oan” người ta đã thấy có “cán oan” “đảng oan” “giáo oan” “doanh nhân oan” cả “mẹ Việt Nam anh hùng oan” ) và máu dân oan đã đổ trong các cuộc xung đột ấy, dân oan đã chấp nhận cái chết để cố giành lại chút, phần nào là công lý . Dân đã chết trước súng đạn, đòn roi của đám công an cô hồn đồ tể ở Tĩnh Gia Thanh Hóa, ở Cồn Dầu Đà Nẵng. Oan nghiệt là trong số chết đó, có em học sinh “cháu ngoan bác Hồ” lại đã chết thê thảm trên bùn đất bởi súng đạn của những kẻ “làm theo lời Bác dạy” Căm hờn dâng cao, nhân dân đã tự phát vùng lên giáng trả ở nhiều nơi, đỉnh điểm là ở Bắc Giang, từ vụ việc công an đánh chết một người dân, cả vạn người đã bao vây trụ sở UB Tỉnh, phá vỡ trận địa của Cảnh Sát Cơ Động với đầy đủ phương tiện đàn áp như súng, lựu đạn cay, roi điện. xe phun nước, khiên chống đạn, chó nghiệp vụ…Nhìn cánh cửa sắt của UB Tỉnh sập đổ cong queo dưới những bàn chân của nhân dân, người ta đã rùng mình nghĩ tới cuộc cách mạng lật nhào chế độ độc tài Ceausescu ở Rumani, hay đạp đổ bức tường Berlin ô nhục. Chính bởi cuộc vùng lên ở Bắc Giang mà sau đó cả nhóm công an gây án mới bị bắt giữ, để điều tra khởi tố. Trước đây xung đột giữa tư duy “cấp tiến “ và “bảo thủ”, gữa “thân Tàu” hay “thân Tây” đan xen, ẩn chứa trong xung đột phe nhóm lợi ích, vùng miền để tranh dành vị thế, lợi ích trong Đảng. Nhưng lúc này các mâu thuẫn, xung đột xã hội đã dâng cao thì đòi hỏi, thì bắt buôc vấn đề “cấp tiến, bảo thủ” vấn đề ”thân tầu hay thân tây” trở thành vấn đề chính yếu, lôi kéo các lực lượng xã hội tham gia, bởi đó chính là mấu chốt của sự tồn vong, hưng thịnh của dân tộc, của đất nước. Xung đột quốc tế, cụ thể là xung đột và quyền lợi, vị trí của Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông đang trở nên căng thẳng bởi được gắn vào xung đột Việt –Trung (khi Việt Nam quốc tế hóa vấn đề Biển Đông) Làm cho xung đột Việt –Trung đột nhiên căng thẳng. Giải quyết xung đột Việt-Trung theo cách nào bỗng nhiên là mấu chốt quyết đinh thắng thua cho “dân chủ” hay” độc tài” cho “cấp tiến” hay “bảo thủ” Xung đột căng thẳng đã là sức ép lớn buộc giới lãnh đạo độc tài phải chùn bước, phải xoay xở, phải tìm cách giải quyết khác trước. Và đã đúng như dự báo “ xung đột căng thẳng, xung đột dữ dội để tiến lên, để canh tân đất nước” người ta đã thoáng thấy những biểu hiện của giới lãng đạo cộng sản theo chiều hướng canh tân ( dù mới là biểu hiện là mang tính cải lương) đó là : Việc sửa đổi hiến pháp đã được đưa ra thảo luận tại diễn đàn quốc hội trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 và điều chỉnh chương trình 2010. Hầu hết các ĐBQH phát biểu đều đề nghị sửa ngay một số điều của Hiến pháp 1992. Rồi ông Nguyên Văn An một cựu lãnh đạo chóp bu cộng sản đã công khai nói đến “quyền lập hiến” của dân, đã nói đến “tam quyền phân lập”. cùng sau đó đã có nhiều ý kiến tương tự của các cán bộ cao cấp, các học giả, chuyên viên đương chức nhà nước trong một số hội thảo, hội nghị. Tinh thần là sửa đổi hiến pháp để tiến tới một nhà nước “pháp quyền”, một xã hội “dân chủ” nào đấy mà ở đó vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản sẽ thu hẹp, hay là đứng phía sau như một “thái thượng hoàng”. Cũng ngay trong kỳ họp quốc hội này, lần đầu tiên Quốc Hội Việt Nam kể từ khi được hình thành vốn là một Quốc Hội bù nhìn (với hơn 95 % là đại biểu là đảng viên cộng sản) đã thẳng thừng biểu quyết không thông qua dự thảo Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án xây dựng đường sắt cao tốc Hà Nội – TPHCM. Một siêu dự án nhiêu khê tốn kém, không khả thi, không hiệu quả với 56 tỷ đô-la sẽ là động lực cho tham nhũng tiếp tục phát triển lên cấp độ cao hơn. Nhiều người đã nghi ngờ dự án này nếu được thông qua thì số phận của nó sẽ như là dự án bô-xít Tây Nguyên, tức là sẽ là món quà hữu hảo mà nhóm “thân Tầu” triều cống cho Trung Quốc để tìm sự ủng hộ trong đại hội Đảng, với việc Trung Quốc sẽ là nhà thầu chính của dự án này. Như thế là đã ứng nghiệm lời dự báo của chúng tôi trong phần tái bút của bài canh dần xung đột dữ dội-dấn thân để canh tân đất nước: “Dưới sức ép mạnh từ các lực lượng xã hội, năm Canh Dần Đảng Cộng Sản phải canh cải để mới hơn vào năm Tân Mão đặng tiếp tục tồn tại, Nhưng “mão” hay ” mạo” là cái biểu hiện, cái giả, là cái để “khoác” để “đội” bên ngoài. Nghĩa là là canh tân hay đổi mới của Đảng Cộng Sản không phải là từ bản chất, chỉ là tạo “vỏ bọc” hay “thu nhỏ” lại (mèo là tiểu hổ) để tồn tại mà thôi. Chúng tôi đã dự báo: “Các quôc gia phương tây sẽ có đóng góp quan trọng, quyết định trong bảo vệ và canh tân đất nước ta hơn các quốc phương đông. Tri thức phương tây sẽ “xung đột”, lấn át tri thức phương đông (ít nhất là trong năm nay, trong giai đoạn canh tân đất nước, và chỉ có văn minh phương tây mới có thể canh tân đất nước ta trong lúc này) .Trong xã hội những lực lược xã hội, những con người có tư tưởng canh tân sẽ nổi trội, thắng thế. Trong nội giới cầm quyền thì phái thân “tây“ sẽ “xung đột”, “khắc” phái thân “tầu” (phái thân tầu sẽ hao tổn, bị biến cải)”. Suốt từ đầu năm tới nay, giới lãnh đạo chóp bu một mặt tiếp tục có những quan hệ đầy đủ, không làm mất lòng với Trung Quốc một mặt dò dẫm tìm đường sang với Phương tây, họ có gắng xâm nhập vào EU (châu âu) tới cả Vatican, đặc biệt là tiếp cận sâu hơn với Mỹ. Tuy rằng tỷ trọng quan hệ với phương tây chưa thể so sánh với những quan hệ vốn đã hình thành với Trung Quôc (quốc gia láng giềng phương đông lớn như một lục địa) nhưng việc tìm đường sang phương tây cho thấy lãnh đạo cộng sản đang hướng theo những gì chúng tôi đã dự báo. Vừa mới đây TBT Đảng Nông Đức Mạnh lại sang Nga (một quốc gia không mang giá trị phương đông) cũng hàm chứa ý nghĩa, thông tin hướng về phương tây của lãnh đạo chóp bu Đảng Cộng Sản. (tất nhiên còn có những mục đích, ý nghĩa khác, và riêng cho Nông Đức Mạnh, hoặc nhóm của ông ta mà chúng tôi không bàn ở đây) Và trong những ngày qua Việt Nam liên tục gia tăng, nâng cấp quan hệ về quân sự với Mỹ như chuyến viêng thăm, cập cảng Đà Nẵng của chiến hạm USS John S. McCain, những thông tin úp úp mở mở về việc làm giàu Urani trong thương thuyết hạt nhân Việt Nam-Mỹ. Trong khi quan hệ với Trung Quốc ( 4 tốt, 16 chữ vàng) vốn là toàn diện và chiến lược lúc này có dấu hiệu khựng lại, chỉ còn biểu hiện chung chung về mặt Ngoại Giao… Trung Quốc đã khó chịu ra mặt, họ đã “tuyên bố” và đã có những hành động tương ứng đáp trả. Leo thang ư? Đến nấc thang nào? Cần phải nhìn nhận rõ ràng và tách bạch các vấn đề, hầu có cách giải quyết đúng đắn nhất, đúng với vận trình khách quan (được chỉ ra trong “huyền dịch”) đúng với ước vọng của toàn dân tộc. Ta thấy rõ: với tầm mức quan hệ đang có với Việt Nam, Mỹ hiện chỉ quan tâm, và sẵn sàng tham gia xung đột quân sự với Trung Quốc tại Biển Đông (chủ quyền biển đảo chỉ là cái cớ) vì quyền lợi của nước Mỹ. Nhưng xung đột Việt-Trung vốn mang tính toàn diện, đa dạng, truyền thống và tiềm ẩn. Một tình huống được đặt ra là: nếu bởi việc quốc tế hóa vấn đề biển đông, bởi việc có mặt của tàu chiến Mỹ, Trung Quộc sẽ mất thế tại đây, thế thì xung đột “đa dạng, toàn diện, truyền thống và tiềm ẩn” Việt-Trung có đựợc hóa giải không? hay chính là nơi, là lúc để Trung quốc trút giận, cũng như thực hiện mưu đồ biến Việt Nam thành thuộc địa? Rõ ràng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, dựa vào vị thế quân sự của Mỹ tại Biển Đông để nâng cao vị thế Việt Nam trong xung đột với Trung Quốc là đúng và cần thiết nhưng không thể là đủ, tuyệt nhiên không là đủ. Bởi đây chỉ là cách “đu dây” của các phe nhóm lãnh đạo Đảng Cộng Sản trong kỳ đại hội sống còn này. Trở thành là đồng minh của Mỹ, quan hệ song phương toàn diện với Mỹ mới là đại sách, mới thực sự bảo vệ được đất nước, hóa giải mãi mãi mưu đồ biến Việt Nam thành thuộc địa của Trung Quốc, thoát khỏi sư kiềm toả của Trung Quốc, thực sự đưa dân tộc cất cánh trở thành hổ thành rồng… Hãy xem kinh nghiệm Nhật Bản là thấy rõ. Là quốc gia bại trận, là quốc gia hứng chịu bom nguyên tử của Mỹ làm chết hàng trăm nghìn người, nhưng sau chiến tranh, Nhật chọn Mỹ làm đồng minh… kết quả là họ từ đống gạch vụn, trút bỏ mặc cảm thua trận, trút bỏ hận thù nguyên tử, trở thành quốc gia kinh tế hàng đầu thế giới,có một xã hội văn minh, hiện đại mà vẫn còn nguyên vẹn những giá trị văn hóa, truyền thống. VIệt Nam vốn được tiếng là đã đánh thắng Mỹ, và đã gần 40 năm rồi, lúc này không còn lý do gì nữa để không thành đồng minh của Mỹ. Nghĩa là phải kiến tạo một thể chế chính trị đa nguyên, một xã hội dân chủ pháp trị hướng về những giá trị “phương tây”, những giá trị “Mỹ”, cũng có nghĩa là phải trả lại tự do ngay cho các thanh niên dân chủ, các nhà bất đồng chính kiến, phải xóa bỏ ngay điều 4 trong hiến pháp, phải đảm bảo tự do tôn giáo, phải dừng ngay việc cướp đất của nông dân, sửa luật đất đai đảm bảo tư hữu, cho báo chí tư nhân được thành lập… tiến tới bầu cử quốc hội tự do minh bạch, dưới sự giám sát quốc tế. Đây là lối đi duy nhất, thời cơ lớn nhất, cục diện đẹp nhất mà vận thế dân tộc đã mở ra… Một lựa chọn khó khăn nhưng là bắt buộc cho Đảng Cộng Sản đang cầm quyền… Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản cần phải đi theo lối đó, nhược bằng cứ “đu dây, đánh võng” chắc chắn sẽ ngã dập mặt, chỉ là sự sụp đổ “khủng khiếp”như ở Đông Âu .mà thôi. Có lẽ đã là dài cho một bài viết, chúng tôi xin dừng tại đây. Trong bài viết chúng tôi không có tham vọng tổng hợp phân tích tình hình thối nát, mục ruỗng của chế độ độc tài đảng trị này trong nửa năm qua . Chúng tôi chỉ phân tích chứng minh những gì đã dự báo, từ đó thông tin tới những con người, những lực lượng xã hội đang trả giá, đang hy sinh, đang đau đáu trước vận mệnh của đất nước của dân tộc về một lối đi, về một thời cơ, về một cục diện. Vẫn biết dự báo chỉ là “tập mờ” (không phải “tập chặt”) điều quan trọng là nắm lấy thời cơ, hình thành cục diện, thẳng hướng mà đi. Liên kết thành những hội đoàn, những lưc lượng xã hội lớn, để có hành động tập trung, có đại diện để quan hệ mở rộng. Mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, tập trung vào tố cáo, phản đối, tẩy chay, bất hợp tác với chế độ độc tài đảng trị. (Chúng tôi gạch dưới để nhấn mạnh rằng chúng ta chống hình thái chế độ độc tài đảng trị, xây dựng nhà nước dân chủ pháp trị thay vì chống người cộng sản) Thông tin rộng rãi, nâng cao nhận thức về nhân quyền, về những giá trị phương tây, giá tri Mỹ. Tất cả diễn ra là” tập thể” là “tự giác” và là “bất bạo động” trong khuôn khổ của hiến pháp hiện hành, tạo sức ép xã hội, sức ép chính trị buộc thể chế chính tri độc tài đảng trị phải thoái lui, tiến tới giải thể trong quy luật khách quan.(như “huyền dịch” đã nêu) Một thể chế chính tri đa nguyên, một xã hội dân sự, pháp quyền, một Việt Nam độc lập, cường thịnh hòa bình là không xa. Hồ Học – Trần Trung Luận

 

Sau cuộc tập trận quy mô giữa Mỹ với Nam Hàn tại vùng biển Nhậtbản, ngày 08/08/10, tiếng là để kỷ niệm 15 bang giao Mỹ-Việt, siêu hàng không mẫu hạm USS George Washington kéo bầu đoàn hộ tống tiến vào hải phận Việtnam, đậu cách bờ biển Đànẵng chừng 200 hải lý, để chứng kiến hoạt động thao diễn của nhóm tầu tấn công đi kèm và đón các sĩ quan cao cấp Việtcộng lên tham quan USS George Washington. Ngày 10/08/10, khu trục hạm USS John S.McCain -DDG56- cập bến Đànẵng, chính thức viếng thăm Việtnam 4 ngày, mang theo thủy thủ đoàn 270 người, với các sinh hoạt luyện tập, trao đổi văn hóa, thể thao… Trong khi đó, 3 tàu USS Curtis Wilbur -DDG 54- tàu USS Chung-Hoon - DDG93-, tàu USS McCampbell- DDG85- và tất nhiên có một số tàu ngầm không được nêu tên, vẫn nằm ở hải phận quốc tế ngoài khơi Việtnam tới hết thời gian tiến hành các sự kiện trên. Trong khi đó Hạm Đội 7 của Hảiquân Hoakỳ vừa loan báo về các hoạt động hợp tác theo chương trình: Tập huấn phi tác chiến, như kiểm soát thiệt hại, tìm kiếm cứu nạn, trao đổi kỹ năng… với hải quân Việtnam. Có nghĩa là, sau cuộc chiến thảm khốc Việtnam, giờ đây, Hạm Đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương lại chính thức hợp tác với hải quân Việtnam, để hợp pháp hóa sự có mặt thường trực của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ tại vùng biển này, như là một rào cản đương nhiên ngăn sức bành trướng của hải quân Trungcộng tại Biển Đông. Ký giả Margie Mason của hãng tin AP, cùng đi thăm tàu George Washington viết: “Siêu hàng không mẫu hạm của Mỹ đến đây để gởi đi thông điệp rằng “Trungquốc không phải là tay chơi duy nhất trong vùng”. Đồng thời còn dẫn lời đại úy Ross Myers, chỉ huy phi đội chiến đấu trên tàu sân bay nói: “Ý nghĩa chiến lược và tầm quan trọng của Biển Đông và quyền tự do hàng hải là điều quan trọng đối với cả Việtnam lẫn Hoakỳ”. Theo các viên chức Mỹ, khi tàu USS George Washington đi vào biển Đông thì tàu hải quân Trungquốc lẽo đẽo theo sau và giữ một khoảng cách với tàu Mỹ. Dưới tựa đề “Obama muốn ngăn chận sự bành trướng trên biển của Trungquốc” tờ Le Figaro tại Washington cho rằng: “Hoakỳ cố gắng chống lại những đòi hỏi về chủ quyền của Bắckinh ở Biển Đông, bằng cách giúp đỡ các đồng minh trong khu vực”. Phản ứng của Trungcộng về chuyến viếng thăm Việtnam của tàu chiến Mỹ. Báo China Daily cho: “Sự kiện tàu USS George Washington thăm Việtnam là thêm bằng chứng Hànội một lần nữa thách thức chủ quyền của Trungquốc đối với Tâysa”, tức là Hoàngsa. Báo này trích lời Su Hao, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Quản Lý Xung Đột và Chiến Lược thuộc học viện ngoại giao Trungcộng rằng: “Việtnam đã cố tình đưa ra vấn đề Biển Đông ở Diễn Đàn Khu Vực Asean tại Hànội, nơi ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton tuyên bố “Mỹ quan tâm giải quyết tranh chấp biển đảo…” “Việtnam định quốc tế hóa vấn đề để họ có thể là đối trọng mạnh hơn trước Trungquốc, nhờ sự yểm trợ của Mỹ”. Thực ra, Hoakỳ không chỉ quan tâm về Biển Đông, họ còn công khai giúp các nước trong vùng ngăn chận những âm mưu thâm độc của Trungcộng, định khống chế nhiều mặt sinh sống và phát triển đối với các nước láng giềng, như: Chương trình trợ giúp 4 nước hạ nguồn sông Mêkông. Bên lề Hội Nghị Ngoại Trưởng Asean tại Hànội, hôm 22/07/10, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton họp với đồng nhiệm 4 nước Việt, Lào, Miên, Thái, nhằm khởi động Hội Nghị Sáng Kiến Hạ Nguồn Sông Mêkông được thành lập năm 2009 do sáng kiến của Mỹ, cho biết mỗi năm sẽ chi ra 187 triệu Mỹkim kéo dài 3 năm để giúp các nước hạ nguồn, chống lại ảnh hưởng ngày càng lớn của Trungcộng, với mưu đồ khống chế nguồn nước của 4 quốc gia nói trên. Riêng Việtnam, hôm 05/08/10, bộ ngoại giao Mỹ cho biết: “Hoakỳ thương lượng với Việtnam về chương trình trợ giúp hạt nhân, cung cấp nhiên liệu và công nghệ hạt nhân kể cả tinh lọc uranium”. Hiện nay một mặt Trungcộng bỏ thầu thật rẻ để đạt cho bằng được những công trình xây dựng các nhà máy công nghệ, điện lực, kể cả nhà máy điện nguyên tử. Mặt khác Trungcộng cho xây dựng nhiều nhà máy điện nguyên tử ở Hoa lục giáp biên giới Việtnam với dự định cung cấp điện lực cho Việtnam, khi các nhà máy điện Việtnam bị hỏng hóc. Rõ ràng là Trungcộng có âm mưu thâm độc là nắm trọn nguồn nước và nguồn điện sinh mạng sống còn và phát triển của Việtnam. Bởi vậy Mỹ phải kịp thời ngăn chận mối nguy đó. Nhưng còn những mối nguy mà Mỹ không thể thọc tay vào, đó là Trungcộng đang êm đềm sử dụng “Võ Khí Sinh Hóa” qua việc đầu độc vào rau, quả, thực phẩm từ Tầu ồ ạt nhập vào Việtnam, và những hóa chất làm tươi, và tăng trưởng cấp kỳ rau, quả, thực phẩm do người Việtnam tự nuôi, trồng, nhằm Diệt Chủng Việtnam, qua lòng tham và thiếu hiểu biết của dân Việt và nhà cầm quyền Việtcộng. Đây là chưa kể tới việc Cộngsản Việtnam ngoan ngoãn làm tay sai cho Trungcộng để thực hiện những kế hoạch đầu độc dân tộc và phát tán ‘võ khí sinh hóa’ đợt mới này, bằng cách thực phẩm Tầu đóng nhãn hiệu Việtnam xuất khẩu ra thế giới . Để tận diệt âm mưu nguy hiểm trên, việc phải làm là cần huy động sức đóng góp của toàn dân, muốn thế phải Dân Chủ Hoá chế độ, dùng quyền tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, quyền tự do nghiệp đoàn, quyền tự do tôn giáo, rồi phối hợp với sự trợ giúp của Mỹ và quốc tế mới thành được định cuộc. Trong Thông Điệp Vu Lan 2010, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hoá Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, có đọan viết: “Riêng đối với giới cầm quyền Cộngsản Việtnam, trước tình trạng đất nước bị suy thoái về mọi mặt và nhất là hiểm hoạ quốc gia bị xâm lấn, tôi thiết tha kêu gọi chư vị sớm nhận thức được việc áp dụng chủ thuyết sai lầm mà chính trong thâm tâm quý vị cũng không tin tưởng nữa; nhưng vì quyền lợi cá nhân phe nhóm, nên quý vị cố nán níu đến nỗi gây nguy cơ đưa tổ quốc tới diệt vong, hãy kịp thời sám hối, trả lại tự do cho những nhà hoạt động tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ; trả lại tài sản mà nhà nước đã chiếm dụng của các tôn giáo và nhân dân oan ức để tạo điều kiện cho toàn dân tích cực tham gia công cuộc cứu nguy và tái thiết đất nước. Hãy đặt sự sống còn của dân tộc lên trên quyền lợi riêng tư của phe Đảng”. Với quốc tế, Ngài lên tiếng: “Đại diện Giáo Hội Dân Lập Truyền Thống, chúng tôi chân thành đề nghị các chính phủ đang có quan hệ với Việtnam thay vì quan tâm đến thiểu số lãnh đạo độc tài toàn trị, không được lòng dân, vì không đại diện thực sự cho dân”. Tóm lại: Giải pháp quốc tế nhằm ngăn bành trướng Trungcộng rất cần, mà chưa đủ, phải huy động nổi sức mạnh của toàn dân Việt và các nước Đông Nam Á, qua việc thực sự Dân Chủ Hoá chế độ, mới trở thành định cuộc là dùng sức mạnh của các nước Tự Do Dân Chủ, nhằm làm cùn nhụt mộng bá quyền của Trungcộng để dân chủ hóa Trung Hoa, tạo hòa bình yên vui phát triển cho thế giới. Little Saigon ngày 10/08/2010.

 

Trước sự đe dọa thôn tính toàn cõi Biển Đông của Trungcộng và trước thái độ hèn nhát của giới lãnh đạo Việtcộng, đã đẩy lên một cao trào chống xâm lăng Trungcộng và bọn cầm quyền tôi tớ Bắckinh trong lòng toàn dân và toàn cõi Việtnam. Khiến cho những người cộng sản còn có lương tri, còn chút tự ái dân tộc đều thấy tủi nhục. Bởi thế họ đã ra sức thúc đẩy Việtnam phải “Quốc Tế Hóa Biển Đông”. “Đa Phương Hóa Quốc Phòng”. Điều này đã được phản ảnh trên báo Pháp Luật ở trong nước hồi đầu tháng 4/2010, qua dự thảo “Đề án Hợp Tác Tăng Cường Năng Lực cho Hệ Thống Quản Lý về Biển, do Tổng Cục Biển và Đảo Việtnam soạn thảo: “Việtnam cần ưu tiên hợp tác quốc tế với một số nước có trình độ quản lý biển tiên tiến như Mỹ, Đức, Hàlan, Nhậtbản…để khắc phục các hạn chế. Trong đó, Mỹ được đánh giá là một trong những nhà tài trợ tiềm năng. Việtnam sẽ tiếp cận với chính phủ Mỹ, nhằm lồng ghép việc tăng cường năng lực quản lý vùng ven biển, đặc biệt ở khu vực duyên hải miền Trung và vịnh Tháilan và các hoạt động trong khuôn khổ chiến lược môi trường của chính phủ Mỹ. Được biết , Tổng Cục Khí Quyển và Đại Dương Quốc Gia Hoakỳ đang hỗ trợ cho Việtnam trong quản lý vùng ven biển Vịnh Bắcbộ”. Trên đây dù chỉ là ý niệm “Quốc Tế Hoá” về quản lý và môi trường vùng biển. Nhưng ngay từ khi Hoakỳ cho Việtnam hưởng quy chế “Thương Mại Bình Thường Vĩnh Viễn –PNTR- giúp Việtnam gia nhập WTO thì Hoakỳ đã đặt vấn đề hợp tác An Ninh và Quốc Phòng Mỹ-Việt lên hàng ưu tiên. Tiến triển về liên hệ Quốc Phòng được nâng cấp tới đâu thì trợ giúp và đầu tư Mỹ vào Việtnam tăng lên tới đó. Vì sợ Trungcộng kết tội phản bội đàn anh, nên Việtcộng phải ngoan ngoãn nhượng bộ hết đòi hỏi này tới đòi hỏi khác, ngay cả việc Trungcộng ngang nhiên nhận chủ quyền ở 2 quần đảo Hoàngsa, Trườngsa, và cấm không được đánh bắt cá, bắn giết, bắt ngư dân Việtnam ngay trên lãnh hải Việtnam để đòi tiền chuộc, thì nhà cầm quyền Cộngsản Việtnam cũng phải câm nín. Rồi bắt cả làng báo Việtnam phải ngậm miệng. Thậm chí còn đàn áp thanh niên sinh viên biểu tình phản đối Trungcộng xâm lược. Tồi tệ nhất là bắt cả những người chỉ viết lên 6 chữ tắt “HS TS VN”. Bởi thế mỗi khi Hoakỳ loan báo liên hệ quốc phòng Việt-Mỹ lên thêm một tầm cao nào đó, thì Việtcộng cũng lại phải lủi thủi sang Bắckinh để nghe huấn dụ của Trungcộng về hợp tác chiến lược giữa Việt-Hoa. Cuộc chạy đua quan hệ quốc phòng giữa tay 3 Mỹ-Việt-Tầu cứ tiến đều như thế cho đến khi Việtnam tìm ra lối thoát bằng giải pháp “Đa Phương Hóa Quốc Phòng”. Chẳng là Mỹ đã có những quan hệ quốc phòng hài hoà với Liên Âu, Ấnđộ, các đồng minh châu Á, sau này với Nga nữa, nên chủ trương “Quốc Phòng Đa Phương” của Việtnam trở nên thông thoáng hơn. Việtnam liên hệ chặt chẽ quốc phòng với Ấnđộ, đổ nhiều tỷ ĐôLa vào mua tàu ngầm máy bay của Nga. Úc, Nhật, Nam Hàn cũng thiết lập liên hệ quốc phòng với Việtnam. Về khối Asean thì vì chiến luợc an ninh mới, Mỹ rất coi trọng Diễn Đàn An Ninh –ARF, nhằm “Quốc Tế Hóa Biển Đông”. Mới đây, theo lời mời của Hànội, bộ trưởng quốc phòng Pháp, Hervé Morin chính thức tới Việtnam, gặp người tương nhiệm Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng Việtcộng. Phía Việtnam đưa cho Pháp một danh sách mua vũ khí thật dài. Bộ trưởng Morin tuyên bố: “Ngoài việc bán vũ khí, Pháp chủ trương xây dựng phát triển hợp tác lâu dài với Việtnam về quân sự quốc phòng. Cụ thể Pháp hy vọng là ngoài các hợp đồng cung cấp quân dụng và vũ khí. Pháp sẽ tham gia huấn luyện bảo trì, tất cả những khâu trong việc sử dụng vũ khí và trang thiết bị này. Bộ trưởng Hervé Morin xác nhận: “Việtnam đã đề nghị mạnh mẽ và mong rằng, Pháp tham gia vào tiến trình hiện đại hóa quân đội Việtnam”. Hiện nay, những nước như Ấnđộ, Nhật, Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn. Liên Âu, Asean… và cả Nga nữa cũng đều liên hệ mật thiết tới chiến lược phi hạt nhân hóa chiến tranh và mổi nước tự phòng vệ của Mỹ. Có nước là đồng minh, có nước là đối tác, hợp tác với Mỹ. Sau khi Obama-Medvedev tái khởi quan hệ Mỹ-Nga, hai nước đang chuẩn bị tiến hành một cuộc tập trận chung chưa từng có từ trước tới nay. Cuộc tập trận có tên là “Đại Bàng Cảnh Giác” sẽ bắt đầu từ ngày 08/08/10. Có sự phối hợp của Trung Tâm Tư Lệnh quân đội Hoakỳ ở căn cứ không quân Elmendorf, bang Alaska với các cơ sở quân sự Nga ở gần thành phố Khabarovsk miền Viễn Đông Nga. Có nghĩa là cuộc tập trận Mỹ-Nga, một liên minh quân sự mới toanh, sẵp diễn ra ngay trên đỉnh đầu nước Tầu. Tuy nhiên nước Tầu vẫn còn là đối tác kinh tế, ngoại giao và có thể cả về mặt quân sự với Mỹ và các nước, các khối kể trên. Nhưng trong nhất thời vì thái độ hung hăng hiếu chiến của Trungcộng đang uy hiếp Biển Đông, nên tất cả đều mặc nhiên đồng thuận về giải pháp Quốc Phòng Đa Phuơng và Quốc Tế Hoá Biển Đông, hòng làm cùn nhụt tham vọng “Bành Trướng” của Bắckinh và mộng Đại Đế của Hántộc. Trả lời cuộc phỏng vấn hiếm hoi với tờ Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng, ngày 02/08/10. Giữa lúc đang diễn ra những căng thẳng gần đây giữa Trungcộng và Việtnam liên quan tới Biển Đông, thứ trưởng quốc phòng Việtcộng, trungtướng Nguyễn Chí Vịnh nói rằng: “Không có một phương pháp nào xây dựng lòng tin hơn là sự minh bạch”. “Chúng tôi không bao giờ muốn sử dụng vũ lực để đạt lợi ích riêng, và một thông điệp nữa mà chúng tôi muốn gửi tới cộng đồng thế giới là chúng tôi không bao giờ chấp nhận bất cứ giải pháp nào liên quan tới việc sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực, và chúng tôi có khả năng ngăn cản điều đó”. Được báo này hỏi: “Điều đó có ngụ ý rằng gần đây Trungquốc đã đe dọa Việtnam hay không?. Ô Vịnh trả lời: “Đó là câu hỏi đối với Trungquốc chứ không phải với Việtnam. Tướng Vịnh thêm rằng: “Việtnam có thể phát triển quan hệ tốt đẹp hơn với Mỹ và Nga cũng như Trungquốc”. Được biết Nguyễn Chí Vịnh vốn là kẻ cầm đầu Tổng Cục II, cơ quan gián điệp cật ruột với Bắckinh. Nguyễn Chí Vịnh đã bị các cựu tướng lãnh lên án làm tay sai Trungcộng, khống chế lãnh đạo đảng và nhà nước Việtnam. Họ từng ra sức ngăn không cho được bầu Nguyễn Chí Vịnh vào Ủy Viên Trung Ương khóa X và yêu cầu không đưa vào danh sách Trung Ương khóa XI. Nhưng Nguyễn Chí Vịnh vẫn được lên lon trung tướng, thứ trưởng quốc phòng. Đầu tháng 02/2010 chủ tọa cuộc họp báo công bố “Chính Sách Đối Ngoại Quốc Phòng”. Xuất hiện nhiều lần trước công chúng và công du nhiều quốc gia liên hệ. Như đang được đánh bóng để giữ chức cao hơn sắp tới. Điều đáng nói ở đây là, nay Nguyễn Chí Vịnh bỗng quay ngoắt 180 độ. Rời bỏ hẳn chủ trương “Quốc Phòng Song Phương” giữa hai nước đồng chí anh em của Trungcộng; ngả hẳn sang chủ trương “Quốc Phòng Đa Phương” của chiến lược toàn cầu Mỹ. Đây có thể là cuộc “đảo bài ba lá” của các tay trùm quốc tế, có thể của Mỹ, cũng có thể là của Tầu, hay cả Mỹ lẫn Tầu. Nhưng ảnh hưởng tức thời và cụ thể về mặt lập trường tư tưởng chính trị thì đó là tiếng còi báo hiệu cho toàn thể cánh Việtcộng thân Tầu, hãy mau mau “trở cờ” cho sớm, thì may ra còn hy vọng được bầu vào các chức vụ mới trong kỳ Đại Hội XI này. Cuộc Tự Diễn Biến Hoà Bình đang trên đà chạy nước rút. Little Saigon ngày 03/08/2010.

 

Hà Nội, ngày 04.08.2010. Bất cứ ai là Người Việt Nam sống lâu năm tại Việt Nam và theo dõi tình hình Việt Nam đều thấy rằng nhân dân khắp mọi miền đất nước đã chán ngán các cán bộ nhà nước, các cán bộ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cán bộ càng cao thì nhân dân càng thấy ngao ngán, chán ghét. Các cán bộ ở Xã-Phường, Huyện-Tỉnh thì chỉ trông chờ xem dân sơ hở chỗ nào để vơ vét, ăn quỵt, thậm chí thấy người dân già yếu, sơ suất, trình độ văn hóa thấp thì cướp dật, trấn lột nhà cửa, đất đai của họ. Chuyện người dân đi đâu cũng phải chạy trường, chạy điểm cho con, vào bệnh viện thì tới đâu cũng phải đút lót, hối lộ cho y tá, bác sỹ. Chuyện chạy việc cho con em mình là đương nhiên, mà phải thông qua các cán bộ cao cấp của ĐCSVN mới được, tức Lãnh đạo ĐCSVN quản lý toàn bộ việc làm đối với nhân dân trong hệ thống nhà nước bao gồm trong Bộ máy chính quyền và trong các doanh nghiệp do nhà nước chi phối chỉ cốt để thu “lệ phí”. Nói tới sự chạy chức, chạy quyền là đương nhiên. Chạy chức Cục trưởng, Vụ trưởng, Sư đoàn trưởng hay muốn được phong cấp tướng phải mất vài tỷ đồng. Chạy chức thứ trưởng phải mất 5-6 tỷ đồng. Chạy chức Bộ trưởng phải tính tiền triệu đô la Mỹ. Người dân nói Ông Lê Thế Thảo chạy chức Chủ Tịch UBND Thành phố Hà Nội mất 30 tỷ. Rồi chuyện các Lãnh đạo cấp cao của ĐCSVN có nhiều triệu đô la Mỹ. Mỗi ủy viên trung ương Đảng CSVN hàng năm cũng kiếm được vài chục triệu đô la Mỹ là chuyện thường. Tiếp đó là danh sách 300 Vị đứng đầu đất nước có từ hàng trăm triệu đôla Mỹ đến hơn 2 tỷ đô la Mỹ mà mọi người đều biết được tuyên truyền rầm rộ trên internet lâu nay. Rồi chuyện Ông Cựu Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn có hơn 50 cái Vi-la trên khắp cả nước, có con riêng 7-8 tuổi. Và mấy ông Bộ trưởng về hưu khác cũng đều có con riêng nhưng báo chí cấm được viết về những hiện tượng này. Rồi chuyện ông Trịnh Trọng Quyền - Cựu bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa- cho con lập Công ty riêng để tham gia các thầu xây dựng đường sá trong tỉnh và luôn thắng thầu (theo tin của Đảng viên cao cấp của ĐCSVN). Sau đó bán lại thầu ngay tức khắc lấy 5% tổng giá trị gói thầu. Rồi chuyện Lãnh đạo Công ty Gang thép Thái Nguyên cho con mua lại nhà máy thép cũ như là cướp luôn cả nhà máy để bán sắt vụn kiếm tiền. Chuyện Thượng tướng-thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, UV TƯ ĐCSVN Nguyễn Huy Hiệu bị một phụ nữ vác con đến Cơ quan Bộ Quốc Phòng đòi ông Hiệu nhận là con đẻ. Trong nhiều năm qua nhân dân lưu truyền chuyện ông Đỗ Mười nhận 1 triệu đô la hối lộ của một Công ty Hàn Quốc nhiều người biết nhưng không trả lại. Chuyện ông Lê Đức Anh bị xuất huyết não và Trung Quốc cử một phái đoàn bác sỹ đặc chủng sang cứu sống. Từ đó ông Lê Đức Anh rất biết ơn Trung Quốc. Lâu nay hàng năm Trung Quốc vẫn cử một đoàn cán bộ y tế sang kiểm tra sức khỏe cho ông Lê Đức Anh cốt để bằng mọi giá giúp ông Lê Đức Anh sống càng lâu, càng tốt. Đây là hành động thể hiện “Thiên Triều” nuôi dưỡng “tên Thái Thú, tên Chư Hầu”. Ông Lê Đức Anh chính là người chỉ huy toàn bộ quá trình bình thường hóa quan hệ với TQ, nó bất thường tới mức: Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán,,,. Đây là bằng chứng rõ ràng Lãnh đạo Việt Nam chịu làm Chư hầu, Thái thú, đàn em, làm một tỉnh của TQ hay TQ bảo gì nghe nấy. Theo các vị lão Thành cách mạng từng làm cấp trên của ông Lê Đức Anh như Phạm Văn Xô (Cựu phó ban Tổ chức TƯ ĐCSVN), Đồng Văn Cống (Cựu phó Tổng Thanh tra QĐNDVN) và Nguyễn Văn Thi (Cựu chủ nhiệm hậu cần Bộ tư lệnh Miền Nam) thì ông Lê Đức Anh đã khai man lý lịch cá nhân và khai man tư cách Đảng viên: Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant-một sỹ quan phòng nhì của Pháp. Ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào ĐCSVN, ấy thế mà tự khai là Đảng viên ĐCSVN từ trước năm 1940, nay đã hơn 70 năm tuổi đảng. Ông Lê Đức Anh, ông Đỗ Mười và Nguyễn Chí Vịnh cũng đã từng cùng dựng ra vụ Sáu Sứ-Năm Châu để vu khống Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Trần Văn Trà cùng với tay chân định lật đổ Bộ Chính Trị và chính quyền trong dịp Đại hội 7 ĐCSVN, năm 1991. Còn vụ T4 thì ba ông trên đã dựng chuyện quy kết Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, TT Võ Văn Kiệt, TT Phan Văn Khải, ông Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng là tay sai của tình báo CIA-Mỹ nhằm mục địch triệt hạ uy tín các đối thủ để xây dựng Phe thân Trung Quốc, làm tay sai cho Trung Quốc của các ông ấy một cách trơn tru, dễ dàng như gần 20 năm trở lại đây. Hồi ông Lê Đức Thọ còn sống mỗi khi ông Lê Đức Anh-đệ tử ruột được truyền ngôi- đi ra khỏi nhà ông Thọ đều phải đi thụt lùi không giám quay lưng vào nhà ông Lê Đức Thọ. Theo sự thăm dò của tôi thì hầu như 100% các sỹ quan quân đội cao cấp của Việt Nam hiện nay đều rất ghét bố con ông Lê Đức Anh-Nguyễn Chí Vịnh, ngược lại rất quý trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Người Anh cả của QĐNDVN. Nhiều nhân sỹ, trí thức, các cựu cán bộ cao cấp của ĐCSVN và nhân dân khắp nơi phải lên tiếng, thậm chí kêu gọi “lật đổ, đảo chính quân sự” thì mới đây Lãnh đạo ĐCSVN đã phải mời Mỹ và Nga vào hợp tác với ASEAN. Ngay lập tức cách đây 1-2 tuần trên Vietnamnet ông Lê Đức Anh có bài viết, nói rằng Ông là người đầu tiên bảo trợ cho quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ từ những năm 1986 qua việc cứu giúp một ông Bác Sỹ. Chuyện này có thật hay không? Rồi con dâu ông Lê Đức Anh là bà Nguyễn Thị Doan cũng làm Phó Chủ Tịch Nước mấy năm nay. Qua những chứng cứ trên cho thấy rằng ông Lê Đức Anh là Trụ cột cho quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vài chục năm lại đây, một con người gian trá, xảo quyệt, vu khống dựng chuyện nói xấu các Đại Công Thần của đất nước một cách ngang nhiên, đẩy đất nước vào tình trạng bị Trung Quốc thôn tính như mấy năm lại đây. Hiện nay đất nước ta vẫn còn rất kém cỏi, chậm tiến mọi mặt so với Thế giới, tham nhũng thối nát tràn lan. Ông Lê Đức Anh làm mọi chuyện cũng vì ông ấy và con cái ông ấy, chứ hoàn toàn không vì đất nước, vì dân tộc gì cả. Chúng ta không thể chấp nhận một “Nhà chính trị xấu xa, kém trí tuệ” như vậy. Phe đảng của ông Lê Đức Anh không xứng đáng lãnh đạo đất nước nữa, phải chấm dứt độc quyền cai trị đất nước một cách sớm nhất có thể! Chuyện ông Nông Đức Mạnh có khu Vi-la ở Thái Nguyên thường xuyên đuổi vợ về quê, còn hàng ngày thì về sống ở Vi-la tại Hồ Tây có diện tích 500 m2, có gái chân dài vào phục vụ hàng ngày (có nguồn tin cho rằng đây là do TC2 bố trí). Bên cạnh có khu đất-nhà của em trai là Nguyễn Tất Trung có diện tích là 150m2. Phía Trung Quốc thì khẳng định rằng ông Nông Đức Mạnh đã tự nhận mình là người dân tộc Choang của Trung Quốc. Trong các cuộc trao đổi ông Nông Đức Mạnh bảo “đất rừng mình chưa dùng đến thì để cho người ta thuê cũng được chứ sao?”. Tôi tiếp xúc với rất nhiều trí thức và người dân Việt Nam thấy ai cũng chê ông Nông Đức Mạnh. Một tiến sỹ, cựu giảng viên ĐHBKHN và ĐH Mỏ Địa chất, nguyên thành viên Ban hiến kế cho Bộ chính trị nói: Ông Nông Đức Mạnh trí tuệ kém lắm ghê, tư duy nói năng không có một chút lô-gíc nào cả. Một anh nông dân-lái xe ở Nghi Lộc-Nghệ An thì bảo: Ông Nông Đức Mạnh đầu óc tối tăm, không có sáng kiến gì, không làm được gì cho dân cho nước. Các Cụ Lão thành thì khẳng định “Ông Nông Đức Mạnh đã ngả hẳn vào lòng Trung Quốc rồi”. Ông Nông Đức Mạnh đã cùng với Nguyễn Chí Vịnh là hai nhân vật chính quyết định cho TQ vào Tây Nguyên khai thác Boxite nhôm-một cái cớ để tiến hành xâm lược và thôn tính nước ta. Đây là trọng tội không thể tha thứ! Con ông Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn hình như sinh năm 1963, đã từng phải đi xuất khẩu lao động ở Đông Đức ấy thế mà lại làm đến chức Chủ Tịch Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam và hiện nay là Phó Bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang để chuẩn bị vào Trung Ương ĐCSVN, rồi kế tục Cha chăng? Mấy ngày qua dân chúng Bắc Giang biểu tình đòi giải quyết vụ một thanh niên bị CA đánh chết nhưng ông Phó bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang vẫn đưa 2 đầu bếp từ Hà Nội về để nấu món thịt cừu, thiết đãi bạn thì thử hỏi tư cách và trí tuệ của “một chính trị gia” ở đâu? Vậy Phe cánh của Bố con ông Nông Đức Mạnh có xứng đáng là một “Chính trị gia” và lãnh đạo đất nước hay không? Ông Nguyễn Phú Trọng- Chủ Tịch Quốc Hội hiện nay- một “Lý thuyết gia” của ĐCSVN, một tiến sỹ triết học Mác-Lê Nin nhưng nói năng không có một chút triết lý hay lý luận gì. Một Nhà chính trị phải có tư tưởng riêng, lý luận riêng, chính kiến riêng, có chí khí, có lòng dũng cảm, có nhiều sáng kiến, có tư duy lô-gíc và sắc sảo, có ý thức luôn giữ cho mình trong sạch nhất có thể và phải vì quyền lợi của đất nước và dân tộc mình. Ấy thế mà như mọi người thấy đó ông Nguyễn Phú Trọng không có gì cả. Chúng ta chưa thấy Ông ấy thể hiện được một ý tưởng nào có giá trị, chưa nói được câu nào thể hiện người có chính kiến, có tư duy lô-gíc. Ông Nguyễn Phú Trọng còn công khai ủng hộ Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác Boxite nhôm như: Ngăn không cho QH bàn về dự án boxite, “Dự án Boxite có vốn dưới 600 triệu USD”,,,. Vậy thử hỏi Ông vì quyền lợi của đất nước và quyền lợi của dân tộc ở chỗ nào? Ông và ông Phạm Quang Nghị cũng là hai người được cử sang Trung Quốc thực tập làm Tổng bí thư của ĐCSVN khóa này. Đây rõ ràng là bằng chứng làm tay sai cho Trung Quốc, để Trung Quốc can thiệp vào nội bộ của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nếu hai Ông ấy là những Chính trị gia lão luyện thì không bao giờ chấp nhận sang TQ thực tập để làm Tổng Bí Thư-đó là hành động nhục nhã! Vậy Bộ chính trị ĐCSVN hoàn toàn không xứng đáng để lãnh đạo dân tộc ta nữa! Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên là một y tá trưởng của một xã ở Miền Nam, một người lính, một người con của một Đồng chí của Ông Võ Văn Kiệt (có tin lại bảo là con rơi của ông Nguyễn Chí Thanh). Ông nguyên trình độ chỉ học hết cấp 2, sau đi học làm y tá và đi học tại chức đại học luật (không rõ từ năm nào đến năm nào, ở trường nào), trên mình có 32 vết thương. Một bạn học của ông Dũng nay làm lớn ở Thanh Hóa nói rằng ngày trước phải luôn làm hộ bài, chép bài cho ông Dũng vì Ông không biết gì cả. Vậy một Chính trị gia lại học dốt, để cho bạn làm bài hộ à? Chúng ta thấy ông Dũng không có tư duy riêng, cũng chẳng có lý luận gì hết. Ông chưa nói được câu nào chúng ta thấy có giá trị, thấy có lô-gíc, hoàn toàn không có tố chất chính trị gì cả. Ông Dũng đã sáng tạo được gì cho đất nước chúng ta? Ông lại là một người ba phải. Khi Ông Kiệt còn sống thì có chỗ dựa nên rất “khỏe khoắn”. Khi Ông Kiệt chết thì ngả hẳn theo Phe tay sai Trung Quốc là ông Nông Đức Mạnh-Nguyễn Chí Vịnh. Gần đây Ông còn đại diện Dân tộc ta đi ký hợp tác làm ăn với mấy thành phố trực thuộc tỉnh, mấy tỉnh của Trung Quốc. Đây rõ ràng là hành động kém thông minh của “một chính trị gia” như ông Dũng. Đất nước ta, dân tộc ta chỉ ngang hàng với một Thành phố, một tỉnh của Trung Quốc hay sao? Làm như vậy người Trung Quốc sẽ khinh rẻ ông Dũng-Thủ Tướng Việt Nam- khinh rẻ Người Việt Nam chúng ta, họ xem chúng ta chỉ ngang với một tỉnh hay một Thành Phố nhỏ của Trung Quốc, rất tai hại cho “Thương hiệu hàng Việt Nam”. Đây là hành động rất kém chính trị và đáp ứng thế chiến lược nhằm “dìm dân Việt Nam” từng bước chấp nhận làm dân một tỉnh của Trung Quốc, phục vụ ý đồ thôn tính Việt Nam của TQ. Ông Dũng lại cho xây dựng nhà thờ họ ở quê tốn tới 40 tỷ VNĐ trong khi dân chúng đói khổ và thiếu việc làm khắp nơi. Một cán bộ Cơ quan Trung ương còn nói rằng “mấy năm trước doanh nghiệp nào muốn ông Dũng đến thăm thì phải mất cho Ông ấy 150 triệu đồng, cho trợ lý của ông Dũng 50 triệu”. Nghe tin con ông Dũng ở Tây Nguyên sống như vua vậy. Xung quanh các quan sếp tỉnh làm gì cũng chạy đến hỏi con ông Dũng. Nhà chính trị phải chứng tỏ mình thông minh, cao thượng để nhân dân và Thế giới nể phục, chứ như ông Dũng thì ai người ta nể trọng. Ông Phùng Quang Thanh nghe nói là con cháu của ông Phùng Khắc Hoan, cũng như các vị Ủy viên BCT ĐCSVN khác chẳng có gì đặc biệt. Từ lúc 17-18 tuổi vào bộ đội làm lính thì làm sao có thể trở thành một chính trị gia giỏi được? Ông Thanh cho TGĐ Công ty xăng dầu Quân đội bán xăng dầu dự trữ quốc phòng để kiếm chênh lệch bỏ túi hàng trăm tỷ đồng, để khi quân đội cần xăng diễn tập thì không có mà dùng. Ông Thanh còn nhận hối lộ của một Tỉnh đội trưởng hàng tỷ đồng để được phong lên Thiếu tướng. Trong dịp đi thăm Trung Quốc vừa rồi thì Báo QĐND viết: Đồng chí Phùng Quang Thanh lên báo cáo Đồng Chí Từ Huy Hậu . Ông Từ Huy Hậu chỉ là một ông tướng của Trung Quốc, phó chủ tịch quân ủy TQ, ngang hàng với Thứ trưởng Bộ QP Trung Quốc mà ông Thanh là Bộ trưởng BQP Việt Nam phải đến “báo cáo”. Vậy ông Thanh là cấp dưới như Tỉnh đội trưởng lên báo cáo với Thứ trưởng BQP à? Đây là một động thái chèn ép dân Việt Nam từng bước để nhân dân ta chấp nhận là một tỉnh của Trung Quốc. Tổng biên tập báo QĐND và cá nhân đưa tin đó lên rõ ràng đã bị bàn tay của bọn Tay sai-Thái thú TQ chèn ép, chỉ đạo hay tự nguyện làm tay sai cho TQ rồi. Ông Nguyễn Chí Vịnh ai cũng biết là con Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một đối trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày xưa, thuộc phe ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, là con nuôi của ông Lê Đức Anh. Ngày trước đi học tuy là con nhà giàu có nhưng vẫn đi ăn trộm Kho Quân Nhu của Học viện Kỹ thuật Quân Sự nên bị đuổi học cùng với một số bạn khác. Ăn cắp, ăn trộm trong Trường Đại Học là chuyện tày trời, rất xấu xa, phi đạo đức không thể chấp nhận được thế mà đòi đi làm chính trị. Ngày trẻ Ông Bush con cũng chỉ nghiện rượu tý chút. Nghiện rượu hay ma túy không phải là đạo đức xấu xa, nhưng còn cố tình tổ chức đi ăn trộm, ăn cắp khi đã là sinh viên thì không thể chấp nhận được. Một tên ăn cắp mà là Ủy viên BCT hay Bộ Trưởng Bộ QP, dự định còn làm TBT ĐCSVN thì ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến lòng dân, đến đạo đức và nhân cách của cả dân tộc Việt Nam. Tên ăn cắp thuở nào mà làm TBT thì ĐCSVN sẽ sụp đổ ngay tức khắc. Nhưng TQ-với tư cách là nước muốn thôn tính Việt Nam- rất cần những kẻ xấu xa, đồi bại, tham nhũng, ăn cắp thuở nào làm Tay sai-Thái thú. Chỉ có những kẻ xấu xa, gian trá, dốt nát mới chịu làm tay sai-thái thú cho nước khác để phản lại lợi ích của dân tộc mình, của đồng bào mình để bản thân gia đình vợ con được hưởng sung sướng, bổng lộc trước mắt. Nguyễn Chí Vịnh như đã nói ở trên đã tham gia cùng ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh những chuyện rất xấu xa, thiếu nhân cách. Nguyễn Chí Vịnh là người đã gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Dũng năm nào bảo ông Dũng cho TQ thắng thầu xây Sân Mỹ Đình với giá 55 triệu USD, trong khi đó CHLB Đức bỏ thầu chỉ có 50 triệu USD lại thua thầu. Nguyễn Chí Vịnh còn trực tiếp sang Trung Quốc chọn gái tên là Trương Vỹ Hoa cho ông Lê Khả Phiêu chơi bời một tuần đẻ ra một đứa con bây giờ đã mười mấy tuổi. Nguyễn Chí Vịnh là người trực tiếp liên hệ giữa ông Nông Đức Mạnh với Trung Quốc để cho TQ vào VN khai thác Boxite. Tay chân của Nguyễn Chí Vịnh trong TC2 toàn là những kẻ hư đốn và ăn cắp năm nào ở Học viện Kỹ thuật Quân sự. Nguyễn Chí vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Việt Nam có cảm tình và không có cảm tình với Trung Quốc. Dựa vào danh sách này Trung Quốc đã mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay để từng bước biến lãnh đạo ĐCSVN trở thành tay sai-thái thú. Đây rõ ràng là một hành động làm tình báo cho nước ngoài, một hành động làm tay sai cho Trung Quốc, một hành động tội phạm, phản bội Tổ Quốc của Nguyễn Chí Vịnh. Nhiều nguồn tin khác nói rằng còn nhiều cá nhân khác trong nội bộ ĐCSVN làm như Nguyễn Chí Vịnh. Theo các sỹ quan quân đội cao cấp ở Hà Nội thì vừa qua 18 tỉnh cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông (thực chất là TQ cả) thuê đất rừng đều có sự chỉ đạo của Tổng Cục 2 của Nguyễn Chí Vịnh. Với những thành tích bất hảo như trên liệu Nguyễn Chí Vịnh có xứng đáng là Trung Tướng-Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam hay không? Và qua đây chúng ta cũng thấy rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh chủ đích nâng đỡ Nguyễn Chí Vịnh-tên tay sai của TQ, có nhiều điều bất hảo, xấu xa- chẳng hiểu biết chính trị gì cả, mà cốt vì quyền lợi cá nhân các ông ấy. Họ không xứng đáng một chút nào là “Nhà chính trị”, nhà lãnh đạo của Việt Nam có trách nhiệm với nhân dân! Còn các Vị Ủy viên Trung Ương ĐCSVN khác như ông Hoàng Trung Hải hay Nguyễn Thiện Nhân, các Bí thư tỉnh ủy khác không giám lên tiếng đấu tranh gì, chỉ như cái đuôi, cái bóng của ông Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng và một số Ông UV BCT khác, tham nhũng như cơm bữa liệu có xứng đáng là “Nhà chính trị, Nhà lãnh đạo” của nhân dân ta hay không? Chắc chắn là không! Ở CHLB Đức trong những năm 90 của Thế kỷ trước có chuyện ông Engholm- Chủ tịch đảng đối lập SPD, Thống đốc bang, Ứng cử viên tranh chức Thủ tướng với ông Helmut Kohl- bị phát hiện gian lận, dối trá về thuế đã phải họp báo xin chấm dứt sự nghiệp chính trị, trở về làm một ông Luật sư quèn. Từ đó vĩnh viễn không bao giờ nói tới chính trị nữa. Còn ông Sharping-nguyê n là một người hoạt động chính trị từ thời học sinh cấp 3, Thống đốc bang, có lần ra tranh cử Thủ tướng, là Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Thủ tướng mới đây của CHLB Đức là Gehart Shreoder (thỉnh thoảng bây giờ Ông vẫn đến Việt Nam ta)- bị phát hiện “cầm nhầm” có 1000 EURO mà phải tuyên bố từ chức Bộ trưởng BQP và chấm dứt sự nghiệp chính trị của cuộc đời, về làm dân thường, không bào giờ giám xuất hiện trước công chúng nữa. Qua những dẫn chứng như trên chúng ta có thể kết luận rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Phùng Quang Thanh, Phạm Quang Nghị, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Chí Vịnh và các UV TƯ ĐCSVN khác hoàn toàn không xứng đáng là các “Nhà chính trị” của nhân dân ta, không xứng đáng giữ các vị trí lãnh đạo đất nước, phải rút lui càng sớm càng tốt! Nếu không biết điều mà tự rút lui sớm thì e rằng sẽ chuốc lấy hậu họa như ông Ceautrcescu- cựu Tổng bí thư ĐCS Rumani- và Honecker- cựu Tổng bí thư ĐCS Đông Đức năm 1989, hay như cựu Tổng thống Hàn Quốc năm 1994, bị kết án tù trung thân vì tham nhũng 600 triệu USD. Chúng ta là đại đa số người dân thuộc Phe đối lập, phe chưa cầm quyền với ba vị tướng đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung Tướng Đồng Sỹ Nguyên, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh phải cương quyết đấu tranh bằng mọi giá để nắm quyền hành pháp lãnh đạo đất nước, đẩy Phe đảng cầm quyền hiện nay vào thế đối lập trong Quốc hội và Thường vụ Quốc hội. Để chuẩn bị cho việc thành lập một chính đảng lớn có mặt trên toàn quốc cạnh tranh với Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Chí Vịnh thì ngay từ lúc này mỗi Thôn, mỗi Bản, mỗi Khu phố hãy kết nối các công dân có cùng chí hướng thành những Chi bộ nhỏ 2-5 người. Lực lượng của chúng ta phải yêu cầu Phe đảng cầm quyền hiện nay từ chức, chấp nhận bầu cử Quốc hội mới, tổng tuyển cử bầu Người đứng đầu đất nước trong thời gian sớm nhất. Nhân dân cả nước đều thấy rằng Hiến pháp và Pháp luật hiện nay là của Phe đảng cầm quyền nêu trên, chứ không phải của toàn thể dân tộc. Đường cùng Lực lượng của chúng ta phải kêu gọi nhân dân xuống đường phản đối, Công an và Quân đội hỗ trợ. Đó là những biện pháp thực tế nhất để chúng ta thể hiện trách nhiệm đối với đất nước và dân tộc! Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung Tướng Đồng Sỹ Nguyên, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh muôn năm! Các tác giả: Ông Trần Văn Huy: Thôn 1, xã Đức Minh, h. Dakmil, Đắc Nông. Thường trú tại: Q.Hoàng Mai, Hà Nội. Đt. 0917512863. Ông Nguyễn Trung Lĩnh: Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đt: 0912370646. viamsa.ntlinh@ gmail.com (VIỆT NAM ANH MINH SÁNG SUỐT NGUYỄN TRUNG LĨNH@gmail.com). Blog: http://vn.360plus. yahoo.com/ trunglinh67/ . Ông Văn Nguyễn: Giáo viên cấp 3 tại Tây Nguyên. dingdangdinh@ gmail.com. Ông Lê Thanh Tùng: Khối 13, Phố Chợ, Phù Lỗ, Sóc Sơn, Hà Nội. Đt. 01997775733. aiquocle@gmail. com. (TB: Rất hân hạnh được gửi tới các cháu học sinh phổ thông, thanh niên, sinh viên, công nhân, nông dân và những người dân bình thường trên khắp mọi miền của đất nước).

 

--- On Fri, 7/30/10, Ts Hong Linh wrote: From: Ts Hong Linh Subject: [VN-Politics] LÝ DO CẦN GIẢI TÁN NHÓM HỖN HỢP VATICAN-CSVN [1 Attachment] To: VN-Politics@ yahoogroups. com Date: Friday, July 30, 2010, 6:12 PM [Attachment(s) from Ts Hong Linh included below] Lý Do Cần Giải Tán Nhóm Hỗn Hợp Vatican-CSVN! Ts Hồng Lĩnh Lời Mở Đầu Như bao người đã phát biểu: Lịch sử thường tái diễn dưới một hình thức khác và lịch sử thương thảo của CSVN trong qúa khứ, nay lại tái diễn tại Vatican, trong khóa họp vòng II (23-24/06/2010) của Nhóm Công Tác Hỗn Hợp Vatican-CSVN. Đối với CSVN, thương thảo là tiếp tục gây hấn dưới một hình thức khác. Tuy CS nói chung đã bị Hội Đồng Âu-Châu lên án là tội ác chống nhân loại, nhưng CSVN vẫn tiếp tục thói củ thương thảo của chúng. Chúng tới Vatican để yêu sách những cái mà chúng không thắng Giáo dân tại VN. Chúng lặp lại phương thức vừa đánh và vừa đàm mà chúng đã dùng với Mỹ trong hội đàm Paris của những năm 69-72 thuộc thế kỷ trước, khi khối CS Nga chưa đổ. Tại Vatican CSVN Đã Yêu Sách Những Gì? Theo VietCatholic News, tại các buổi họp trong hai ngày 23-24/06/2010, CSVN đã ngang tàng, xem trời bằng vung úp nồi, đã có những yêu sách sau đây trong các yêu sách của chúng tại Vatican: 1.- CSCV yêu sách Toà thánh cấm không cho TGM Ngô Quang Kiệt về nước kể cả dịp đại hội các GMVN vào tháng 10-2010 và không bổ nhiệm vào bất cứ chức vụ nào ở Toà thánh. 2.- CSVN yêu sách Toà thánh cấm không cho dòng Chúa Cứu Thế hoạt động tại Việt Nam hay ít nhất không cho hoạt động tại Hà Nội. 3.- CSVN yêu sách Toà Thánh ra thông báo cấm các cuộc tập trung cầu nguyện đòi đất đai, tài sản như thời gian vừa qua và can thiệp kịp thời như vụ cầu nguyện ở Toà Khâm sứ (cuối năm 2007). 4.- CSVN yêu sách Toà thánh dừng tiến trình phong thánh cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì “không có lợi cho đại đoàn kết dân tộc”. Còn Hai Ẩn Số 1.- Ần số thứ nhất : “Tại vòng I tại Hà Nội (16-17/02/2009) , Tòa Thánh đã chấp nhận một số đề nghị từ phía Việt Nam liên quan tới Giáo hội Việt Nam (theo Vietcatholic New). 2.- Ẩn số thứ hai: “Vị đại diện của ĐTC, có thể là Cha J.B Etcharren, nguyên Bề Trên Hội Thừa sai Paris, có được tự do vào Việt Nam gặp gỡ các giám mục, linh mục giáo dân hay không? Có phải xin phép và báo trước lịch trình cho phía Việt Nam và được ở lại Việt Nam bao lâu hay bao lâu mới được đến Việt Nam một lần ? Lời Bình Của Tác Gỉa Liên Quan Tới Nhóm Hỗn Hợp Vatican-CSVN Nếu nhóm hỗn hợp là nhóm của quốc Gia Vatican và thể chế CSVN, thời nhóm ấy chỉ có quyền bàn các vấn đề ngoại giao giữa quốc gia Vatican và thể chế CSVN mà thôi. Vì GHCGVN, tuy là một bộ phận của Giáo Hội Là Mã, phải có đại diện trong các hội họp liên quan tới vận mệnh của GHCGVN. Thật bất hãnh cái cảnh Mỹ và CS Bắc Việt, tại Paris định đoạt số phận của VNCH lại tái diễn tại Vatican cho GHCGVN! Một GH không có quyền nắm vận mệnh của mình mà để cho CSVN quyết định với Vatican hay sao? Giống Mỹ và CSVN đã làm tại Paris trong thế kỷ trước đối với VNCH! Liên Quan Tới Các Yêu Sách Của CSVN Tại Vatican Qua ngắn gọn, không rõ CSVN là thần nào mà cả gan yêu sách Vatican như vậy? Chúng đòi những cái mà chúng không thắng Giáo dân tại VN! Chúng muốn can thiệp ngay vào việc phong thánh nữa. Giốngnhư chúng đã đòi Mỹ truất phế cố TT Thiệu không bằng. Liên Quan Tới Hai Bí Ẩn Tại vòng I, không rõ phái đoàn Vatican đã chấp nhận những đề nghị nào từ phía CSVN? Có lẽ CSVN đã thừa thắng xông lên, nên tại Vatican chúng mới lếu láo ngang ngược đòi hỏi như thế, giống một người cắt khúc giò luạ. Cắt khúc nầy xong lại cắt khúc khác mà nguời Tây phương gọi là chiến thuật cắt Salami (Tactique de Salami italien). Nên đã gặp phản ứng tương xứng của phái đoàn Vatican ( xem tham chiếu phía dưới). Liên quan tới hoạt động của Vị đại diện của ĐTC tại VN, có lẽ phải đợi họp vòng III mới biết được. Giống cảnh kéo cùn cắt dẻ rách. Lời Kết Nếu Nhóm Hỗn Hợp Vatican-CSVN muốn bàn các vấn đề của GHCGVN, thời phải có đại diện của GHCGVN trong Nhóm Hỗn Hợp. Nếu không có đại diện của GHCGVN trong Nhóm Hỗn Hợp, thời chỉ là nhóm của quốc gia Vatican và thể chế CSVN thôi. Nên không có quyền bàn các vấn đề liên quan tới GHCGVN. Nếu muốn bàn, thời phải có một nhóm hỗn hợp khác. Nhóm ấy là nhóm của GH hoàn vũ La Mã-CSVN, trong đó phải có đại diện của GHCGVN. Đề nghị giải tán Nhóm Hỗn Hợp Vatican-CSVN. Vì đã đi ra ngoài thầm quyền của Nhóm: Bàn chuyện của GHCGVN mà GHCGVN không có đại diện. Đề nghị các nhà bình luận của NVHN trả lời các yêu sách của CSVN tại Vatican để xem có hợp với trả lời của Vatican không! Các yêu sách của CSVN sao có vẻ giống Adolf Hitler (Đức), Édouard Daladier (Pháp), Neville Chamberlain (Anh) et Benito Mussolini (Ý) tự ký bản án tử hình kết liễu độc lập của Tchécoslovaquie trong vắng mặt của TT Edvard Beneš Trong vắng mặt của TT Edvard Benes! Trong vắng mặt của GHCGVN! Tại Münich 1939 Tại Hà Nội 2009 Tham chiếu : Vatican đã bác bỏ nhiều đòi hỏi phi lý từ phía Việt Nam như thế nào trong Phiên họp hỗn hợp vòng 2 tại Vatican VietCatholic News Phiên họp hỗn hợp giữa Vatican và Việt Nam đã kết thúc hơn 1 tháng nay. Cả hai bên đều ra thông cáo gần giống nhau, đều coi đây là bước phát triển trong quan hệ song phương và đã có một thoả thuận là Toà thánh được cử một đại diện không thường trực đến Việt Nam. Thế nhưng còn rất nhiều chi tiết của phiên họp đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Mới đây VietCatholic nhận được một số tin tức từ những nguồn tin đáng tin cậy cho biết về phiên họp này và một số những chi tiết "nhậy cảm" xin được ghi lại như sau: Khác hẳn với phiên họp vòng 1 tại Hà Nội, Tòa Thánh đã chấp nhận một số những đề nghị từ phía Việt Nam liên quan tới Giáo hội Việt Nam thì trong phiên họp lần 2 Tòa Thánh chẳng những có thái độ không khoan nhượng với những lập luận phê bình Giáo hội từ phía Việt Nam, nhưng còn thẳng thắn bác bỏ hầu hết các đòi hỏi do đoàn Việt Nam đưa ra ở phiên họp vòng 2 tại Vatican. Theo nhiều nguồn tin chúng tôi nhận được thì đoàn Việt Nam đã đề nghị Toà thánh cấm không cho Đức TGM Ngô Quang Kiệt về nước kể cả dịp đại hội các GMVN vào tháng 10-2010 và không bổ nhiệm vào bất cứ chức vụ nào ở Toà thánh. Vatican cho rằng, Đức TGM Ngô Quang Kiệt chưa bị tước quyền công dân Việt Nam nên Toà thánh không thể làm cái việc vi phạm nhân quyền và cả pháp luật Việt Nam nữa. Còn việc bổ nhiệm nhân sự ở Vatican, đó là công việc nội bộ mà Việt Nam không nên can thiệp vào giống như Vatican không thể đề nghị ông A làm Thủ tướng hay bà B không được làm Bộ trưởng ở Việt Nam. Việt Nam cũng đề nghị Toà thánh cấm không cho dòng Chúa Cứu Thế hoạt động tại Việt Nam hay ít nhất không cho hoạt động tại Hà Nội giống như trước đây trong lịch sử Toà thánh đã rút dòng Tên khỏi Việt Nam, không cho hoạt động mục vụ ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII. Vatican trả lời các dòng tu hoạt động theo tôn chỉ của Dòng và luật pháp ở từng quốc gia. Nếu họ sai pháp luật, xin các ngài hãy xử theo luật pháp, chúng tôi chỉ có thể nhắc nhở họ khi họ làm sai với tôn chỉ đã được Toà thánh phê chuẩn. Về đề nghị của Việt Nam là Toà Thánh ra thông báo cấm các cuộc tập trung cầu nguyện đòi đất đai, tài sản như thời gian vừa qua và can thiệp kịp thời như vụ cầu nguyện ở Toà Khâm sứ, phái đoàn Vatican trả lời rằng: đất đai, tài sản của Giáo hội sở hữu một cách hợp pháp, Toà thánh kiên quyết bảo vệ và vẫn dứt khoát nêu lại đòi hỏi của các Giám mục Việt Nam là đòi lại quyền sử dụng hợp pháp Toà Khâm sứ ở Hà Nội và Giáo hoàng học viện Đà Lạt. Toà thánh nhận định rằng nếu như Toà thánh có đại diện ở Việt Nam thì việc nắm bắt thông tin sẽ kịp thời và chính xác hơn thì sẽ sẽ đễ dàng có chỉ dẫn cụ thể cho từng vụ việc. Lập trường của Toà thánh là luôn ủng hộ việc đòi hỏi chính đáng: việc đòi lại tài sản hợp pháp của Giáo hội Việt Nam trong tình thần ôn hoà, bất bạo động. Việt Nam cũng đề nghị Toà thánh dừng tiến trình phong thánh cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì “không có lợi cho đại đoàn kết dân tộc”, Vatican đã bác bỏ thẳng thừng và cho đó là vi phạm các thoả thuận giữa Vatican và Việt Nam ở vòng 1 vì chỉ có phong giám mục ở Việt Nam mới cần có sự đồng thuận của Nhà nước Việt Nam mà thôi. Không khí họp căng thẳng tới mức phái đoàn Việt Nam đã xin tạm ngừng họp để xin ý kiến ở Hà Nội. Không biết Hà Nội chỉ đạo thế nào nhưng kết thúc đã thống nhất đề nghị Vatican được cử một đại diện không thường trực đến Việt Nam. Tuy nhiên vị đại diện này có được tự do vào Việt Nam gặp gỡ các giám mục, linh mục giáo dân hay không? Có phải xin phép và báo trước lịch trình cho phía Việt Nam và được ở lại Việt Nam bao lâu hay bao lâu mới được đến Việt Nam một lần vẫn chưa thống nhất được mà phải chờ đến vòng ba họp tại Hà Nội vào năm sau. Còn một số thông tin nữa chúng tôi đang kiểm chứng, đối chiếu nhưng với những gì biết được và khi nào thuận tiện sẽ trình bầy sau. Một số giáo sĩ Việt Nam ở Roma và một vài Giáo chức Giáo hội có ảnh hưởng ở Việt Nam rất nhiệt liệt hoan hô tinh thần làm việc thẳng thắn của phái đoàn Vatican tại phiên họp vòng 2 vừa qua.

 

VRNs (18.07.2010) - Đảng Cộng sản Việt Nam lại giở chiêu chống đỡ những hành động không thể chối cãi được về quyền con người để hy vọng thay mặt cho chế độ. Việc làm này mới xẩy ra vào ngày 14-7 (2010) khi Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ tổ chức linh đình lễ ra mắt Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam tại Hà Nội. Phát biểu tại buổi lễ, Phạm Gia Khiêm, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngọai giao, Trưởng ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ nói: “ Đảng và Nhà nước luôn coi con người và quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Đó là nền tảng cơ bản để thực hiện tốt hơn quyền con người trong thời kỳ phát triển mới.” (Thống Tấn Xã Việt Nam (TTXVN), 14-7-2010) Nói câu này, không biết Khiêm có biết điều được gọi là “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, thực hiện thành công công cuộc đổi mới và đã thu được nhiều thành tựu to lớn” chỉ đúng nửa bé của sự thật? Nửa to còn lại là những mảng đen tham nhũng, lãng phí, ăn cướp đất đai và tài sản của dân, đàn áp dân của những cán bộ mất phẩm chất, coi dân như tôm tép, công bằng trong xã hội và dân chủ, tự do là những thứ “xa xỉ phẩm” chỉ dành riêng cho đảng viên đảng CSVN, nhất là những kẻ có chức có quyền trong guồng máy cai trị? Như vậy thì quyền con người là của đảng hay của dân? Còn chuyện “đã bảo vệ vững chắc Tổ quốc” ư? Khiêm hãy nhìn ra Biển Đông để thấy Hải quân của Trung quốc đang làm gì với ngư dân Việt Nam từ ba năm qua? Nếu đã bảo vệ được thì tại sao Quân Tầu vẫn còn chiếm Quần đảo Hoàng Sa từ 1974 và 8 hòn đảo của Trường Sa từ năm 1989 ; ngư dân Tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt tại đảo Lý Sơn vẫn còn bị Hải quân Tầu bắt, bị đánh đập tàn nhẫn, bắt giam, tịch thu tài sản, đánh chìm thuyền trong đêm tối và đòi tiền chuộc mạng khiến nhiều ngư dân bị phá sản, mang nợ cả đời? Vậy vấn đề của đất liền thì sao? Khiêm có biết Tổ quốc Việt Nam đã mất bao nhiêu đất về tay Tầu sau khi Nhà nước CSVN đơn phương ký Hiệp ước Biên giới vào ngày 30/12/1999 mà không bàn bạc gì với Quốc hội hay hỏi ý dân? Chỉ sau khi mọi chuyện đã xong xuôi để được lòng các “đồng chí Phương Bắc” thì Hiệp ước này mới được đem ra cho Quốc hội biểu quyết gỉa vờ cho qua mà không ai có tài liệu và Bản đồ mới để đối chiếu với ranh giới cũ. Thậm chí Quốc hội không có lấy một cuộc chất vấn nào với chính phủ về việc làm có liên quan đến xương máu của Tổ tiên và của bao nhiêu thế hệ đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ từng tấc đất? Nhưng nếu cuộc Đổi mới đã thành công rồi và đã “thu được nhiều thành tựu to lớn” thì ra Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam để làm gì? Khiêm nói : “Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu cáo, xuyên tạc, can thiệp vào sự phát triển của đất nước Việt Nam. Vì vậy, ngoài việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với các luận điệu, âm mưu thù địch đó. Tạp chí Nhân quyền Việt Nam được xuất bản là việc làm cần thiết, tạo thêm một kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực quyền con người; giúp cho đồng bào ở trong nước cũng như ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ việc đảm bảo quyền con người là bản chất của chế độ Việt Nam; đồng thời góp phần phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch.” Ngoài ra, vẫn theo lời Khiêm thì Tạp chí này còn “thông tin về tình hình nhân quyền thế giới; quan điểm của các nước về quyền con người; hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, khu vực.” Nếu nói như Khiêm thì không có vấn đề quyền con người bị xâm phạm ở Việt Nam và cũng chằng có ai bị bắt bỏ tù vì tranh đấu đòi nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của con người đã được ghi trong Hiến pháp của CSVN. Vậy những người như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Linh mục Phan Văn Lợi, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Khắc Tòan, Bác sỹ Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Nhà báo Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy v.v... đã bị bắt giam hay bị ra tù vào khám nhiều lần là những người đã làm gì nên tội? Nếu bảo họ đã vi phạm luật pháp quốc gia, có những họat động xâm phạm đến an ninh của Tổ quốc hay có âm mưu chống lại chế độ thì tại sao không tranh luận với họ để giáo dục họ mà lại sử dụng võ lực để áp chế họ? Ngòai hai bàn tay trắng, tiếng nói và các bài viết đòi quyền sống và đòi nhà nước trả lại các quyển tự do cho họ như Hiến pháp đã quy thì những người này đã làm những gì để bị liên tiếp khủng bố, xét hỏi vô cớ bất kể ngày đêm, không cho họ được có công ăn việc làm và bỏ tù để khóa miệng họ? Một nhà nước như thế mà vẫn còn huyênh hoang tự nhận là “Nhà nước pháp quyền” thì thứ pháp quyền này áp dụng cho ai và những ai đã được hưởng thứ pháp quyền ngụy biện này? Còn quyền tự quyết định lấy vận mạng của đất nước, quyền quyết định cho tương lai chính trị, quyền ứng cử, bầu cử, quyền phát biểu, hội họp, lập hội, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình có được nhà nước tôn trọng không? Các cuộc được gọi là bầu cử từ Xã lên Quốc hội chẳng qua cũng chỉ là trò “đảng cử dân bầu” phản dân chủ, mị dân vì các ứng cử viên phải là người của đảng hay của các tổ chức do đảng lập ra và phải được Măt trận Tổ quốc tuyển chọn trước. Và nếu Khiêm bảo ở Việt Nam người dân đã được hưởng mọi thứ quyền tự do, nhất là tự do báo chí thì tại sao lại có Chỉ thị số 37/2006/CT-TTg ngày 29-11-2006 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện kết luận của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước”? Luật pháp nào đã cho phép nhà nước CSVN tác oai tác quái đến mức độ này? Và ai đã cho phép Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị với Chính phủ cho “ sửa Luật Báo chí nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; không có báo chí tư nhân” và nhốt những người hành nghề báo chí vào cái chuồng khổng lồ để cho các cấp đảng từ trung ương về địa phương kiểm sóat, xiết họng? Còn quyền tự do tín ngưỡng và thờ phượng có được Việt Nam tôn trọng không, hay chỉ có những tôn giáo nào chịu để cho đảng kiểm sóat và chi phối mới được công nhận, được nâng đỡ theo tiêu chuẩn xin-cho của đảng? Khiêm hãy đến thăm Hòa thượng Thích Qủang Độ của Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở Sài Gòn, hay đi “thăm dân cho biết sự tình” với các giáo phái đạo Tin Lành miền núi từ Bắc vào Nam xem họ có được tự do hành đạo không? TRÒ DÂN CHỦ GIẢ HIỆU Thực tế tồi tệ như thế mà Việt Nam vẫn có thể lươn lẹo viết trong Báo cáo về quyền Con người với Liên Hiệp Quốc ngày 23/4/2009 : 1) “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.” 2) “Việt Nam luôn ủng hộ hoạt động của HĐNQ và hợp tác đầy đủ với các cơ chế nhân quyền LHQ. Việt Nam đã đón các Báo cáo viên Đặc biệt (BCVĐB) về Giam giữ Độc đoán và về Tự do Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng (1998) và đang làm thủ tục mời 03 BCVĐB của LHQ về Quyền Giáo dục, về Quyền được Chăm sóc Sức khoẻ và về Đói nghèo Cùng cực vào thăm Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình thảo luận nhằm thành lập cơ chế nhân quyền khu vực ASEAN, tham gia nhiều hội nghị nhân quyền quốc tế và khu vực khác.” 3) “ Quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền tự quyết định vận mệnh của mình, quyền bầu cử, ứng cử... là những quyền cơ bản nhất của con người, nhưng phải đến năm 1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với thế giới rằng nước Việt Nam “đã trở thành một nước độc lập”, người dân Việt Nam mới thực sự được hưởng các quyền cơ bản này. Và kể từ thời điểm đó đến nay, dù phải trải qua chiến tranh, mọi người dân Việt Nam luôn được bảo đảm việc thụ hưởng ngày càng toàn diện và đầy đủ các quyền con người, trong đó có các quyền dân sự, chính trị.” 4) “ Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng.” Trong 4 điều “giả hiệu” này, liệu Việt Nam có đánh lừa được Liên Hiệp Quốc và các Tổ chức nhân quyền trên thế giới không? Chắc chắn là không, bởi vì đảng CSVN chưa giết hết được các nhân chứng, nạn nhân của các vụ đàn áp nhân quyền và các quyền dân chủ, tự do đang còn sống ngoài xã hội hay trong các nhà tù ở Việt Nam. Như vậy thì việc ra Tạp chí Nhân quyền Việt Nam của nhà nước CSVN vào lúc này có ích gì không, hay lại là việc lấy gậy ông đập lưng bà? (07/2010)