Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Bao Thành và Kỳ Sơn là hai pháo đài bảo vệ cho kinh đô Kiểu Kinh về phía tây và tây nam. Trấn thủ Bao Thành Bao Quýnh và trấn thủ Kỳ Sơn Thiệu Tường là đồng liêu và là chỗ tâm giao. Cả hai đều là đại phu và là những người trung quân ái quốc. Vào một năm trời làm mưa bão dầm dề, núi Kỳ Sơn đổ. Nhiều người cho đó là điềm trời báo trước sự sụp đổ của nhà Chu . Trấn thủ Kỳ Sơn dâng biểu tâu lên vua về những thiệt hại do thiên tai gây ra và khẩn xin triều đình mở kho cứu trợ cho dân chúng Kỳ Sơn. U-Vương đã chẳng màng đến lời tâu, còn cười chê Thiệu Tường là người dốt nát không biết cai trị, rồi cách chức. Vua tôi trong triều vẫn cứ thản nhiên tiếp tục ăn chơi hưởng lạc. Nhà vua phái nội thị bủa đi tứ phương tìm gái đẹp tuyển vào cung để đờn ca múa hát và phục vụ xác thịt. Triệu Thúc Đái đang giữ chức gián quan, thấy đất nước càng ngày càng nguy ngập, bèn dâng biểu để can ngăn. U-Vương nghe lời Quắc Công dèm pha, cách chức Triệu Thúc Đái đuổi về. Bao Quýnh đang ở Bao Thành nghe tin, tức tốc vào triều để can gián vua. U-Vương giận lắm, sai quân bắt Bao Quýnh tống vào ngục. Từ bấy giờ các quan trong triều không còn ai dám can ngăn vua nữa. Bao Quýnh ở tù đã ba năm. Phu nhân và con trai ở nhà sống thiếu thốn và như bị cô lập. Các đại thần đồng triều cũng như bọn quan lại thân sơ đều sợ hãi mà xa lánh. Lâu rồi, mẹ con không lẽ cứ ngồi ôm nhau mà than khóc. Bà mẹ cuối cùng đành phải liều đẩy đứa con ra đường để tìm cách cứu nước, cứu chồng. Qua bao nhiêu đắn đo suy nghĩ, Bao Quýnh phu nhân hôm nay mới đem những điều mình ấp ủ ra bàn với Hồng Đức, đứa con trai duy nhất của mình hãy còn trẻ. Bà nhỏ nhẹ nói với con: - Con không ra bên ngoài nên không biết được việc thiên hạ. Qua nhiều năm liên tiếp, hạn hán rồi lụt lội làm mất mùa triền miên. Trời làm cơ cực một phần, nhưng tham quan của triều đình nhũng nhiễu gây thê lương còn nhiều hơn gấp bội. Bọn tham quan vơ vét bóc lột thật thậm tệ. Bá tánh vì thế sống vô cùng lầm than đói khổ. Loạn lạc triền miên. Trai tráng phần bị lùa đi lính, phần thì phiêu bạt tứ xứ để làm ăn kiếm sống. Con gái còn trinh kẻ bị bắt dâng lên cho triều đình, kẻ bị bán làm nô lệ tình dục khắp nơi tại các nước chư hầu. Còn lại bên trong các làng mạc khô cằn là các cụ già và những người không sứt càng thì cũng gẫy gọng. Bên trong triều đình thì Thiên tử hoang dâm vô đạo, ham mê tửu sắc, đêm ngày nghe đàn ca hát xướng. Nhiều khi cả tháng trời vua không thiết triều một lần. Triều thần ít khi trông thấy mặt thiên tử. Mọi việc triều chính giao vào tay bọn Tam Công là Quắc Công, Sái Công, và Doãn Cầu. Một tên làm tổng quản quân đội của thiên triều. Một tên lãnh chúa đám mật vụ côn đồ. Còn tên nữa là chưởng quản tất cả đám quan lại từ trong triều ra đến ngoài quan ải. Cả ba cấu kết với nhau làm thành một mạng lưới chuyên quyền độc đoán. Vì thế mới sinh ra nạn buôn quan bán tước. Có tiền là mua được chức quan. Khi đã có chức quan, chúng vơ vét để bù lại. Toàn thể hệ thống quan lại từ trên xuống dưới đều là những tên tham quyền ham lợi, chỉ biết trên thì nhắm mắt xu nịnh, dưới thì tham lam vơ vét. Bá tánh đói khổ, còn quan lại sống phè phỡn trên sự đói khổ của lê dân. Những người trung trực kẻ thì bị giết, người bị lưu đầy, còn lại hầu hết đều cáo thoái về cầy ruộng. Trong số những người bị đi tù có thân phụ của con đang làm quan đại phu tổng trấn Bao Thành. Chưa bao giờ đất nước sa vào cảnh điêu linh như hiện nay. Cũng chưa bao giờ bá tánh phải lầm than đói khổ như bây giờ. Con phải biết, cứu phụ thân của con là chuyện nhỏ, cứu giang sơn xã tắc này khỏi ách tàn bạo vô luân của tên bạo chúa mới là chuyện lớn phải làm của một trang nam tử như con. Con có hiểu như thế không? Hồng Đức nhìn mẹ buồn rầu thưa lại: - Thưa mẹ, mặc dầu con không thiếu quyết tâm, sẵn máu nóng báo thù, nhưng con còn nhỏ, cuộc đời chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm, lại không quen biết nhiều, làm sao con có thể làm nên việc, nếu không có cha con bên cạnh? Người mẹ không phải không hiểu lý lẽ đó. Đặt một gánh nặng quá lớn so với tuổi đời và từng trải trên vai của đứa con, bà không thể nào không lo lắng cân nhắc. Nhưng trong hoàn cảnh lẻ loi này, bà không còn cách nào khác để giải quyết. Nghe con nói xong, bà quàng tay kéo con trai ngồi sát bên mình, rồi ôn tồn giảng giải: - Cứu phụ thân con, con làm công việc này một mình đơn độc. Nhưng con đứng lên diệt bạo chúa, mọi người đều hưởng ứng theo con. Ai bảo con không có người bên cạnh. Hơn nữa, cho dù cứu được phụ thân con, ai bảo đảm gia đình mình thoát được những tai họa khác nữa sau này. Chỉ có cứu được giang sơn này thì mọi người mới được sống yên vui hạnh phúc lâu bền. Con có nghĩ như mẹ không? Hồng Đức không cần suy nghĩ, vội vàng quì xuống đất, nắm lấy bàn tay mẹ, nhìn thẳng vào mắt bà, quả quyết: - Vâng thưa mẹ, con hiểu ra rồi. Con sẽ làm theo lời mẹ dậy. Con hứa sẽ làm được cả hai điều mẹ mong muốn, vừa cứu cha con, vừa giải phóng bá tánh khỏi ách tham tàn mê muội của hôn quân. Ngày hôm sau, chàng thanh niên Hồng Đức từ giã mẹ ra đi, mang trên vai một gánh nặng thù nhà và nợ nước. / / / Hồng Đức đi Bao Thành có ý tìm gặp những thân hữu hoặc thuộc hạ cũ của cha mình khi xưa hầu mưu việc đại sự. Nhưng chuyện đời không đơn giản như chàng nghĩ. Tất cả những người quen biết mà chàng tiếp xúc họ đều từ chối. Không phải họ không có lòng, mà vì nhát sợ, trông thấy sự tàn bạo của triều đình. Suốt mấy tháng trời, sự ra đi của Hồng Đức không đem lại một kết quả nào. Chàng cảm thấy thối chí nên muốn trở về bàn bạc lại với mẹ. Điều làm chàng buồn phiền nhất là sợ khi gặp lại mẹ, nhìn thấy vẻ mặt thiểu não của bà. Nhưng bất luận thế nào chàng cũng phải trở về. Trên đường về, đi đã cả buổi, chàng nghỉ mệt. Đang lúc ngồi nghỉ chân dưới một gốc cây bên bờ sông, bất chợt chàng thấy một cô gái quẩy đôi thùng từ trong xóm ra gánh nước. Cô gái trông còn rất trẻ, chắc chắn chỉ vừa độ tuổi trăng tròn. Một cô gái nhà quê mộc mạc nhưng lại rất xinh đẹp, xuất hiện giữa khung cảnh buổi chiều hè rực rỡ với trời, mây, nước bao la, trông chẳng khác nào một bức tranh thủy mạc sống. Thật tuyệt vời. Cô gái có vẻ lúng túng vì sự có mặt của một chàng trai xa lạ. Nàng vục nước đầy hai chiếc lu sành rồi vội vã quẩy vô xóm. Hồng Đức để cho nàng đi khuất rồi mới theo dấu nước sánh trên mặt đất mà tìm đến nhà. Tới đầu ngõ, chàng bắt gặp một ông gìa đang đứng hóng mát gần một khóm trúc ngoài cổng. Chàng dừng lại lễ phép cúi đầu chào. Thấy cái dáng thư sinh của người khách lạ, ông già lên tiếng trước, hỏi: - Chẳng hay công tử có việc gì đi qua đây? - Kính chào lão bá, cháu ở xa đi ngang qua đây mà trời cũng không còn sớm. Cháu có ý kiếm một chỗ ở trọ qua đêm. Lão bá có biết xin chỉ dùm. Hồng Đức không kịp chuẩn bị trước cho tình huống bất ngờ này, nên chỉ còn cách nói dối. Nhưng làm sao chàng che mắt nổi một ông già từng trải. Con gái ông vừa gánh nước về. Ông thấy rõ chàng thanh niên theo dấu nước trên đất mà tới đây. Nhìn mặt chàng trai không quen nói láo, sắc diện trở nên bẽn lẽn, thật tội nghiệp, ông già thương hại cái dáng khờ khạo ấy, chỉ mỉm cười độ lượng: - Chỗ trọ quanh đây thì lão phu không biết. Nhưng nếu công tử không chê bai túp lều tranh này của cha con lão thì công tử cứ tự tiện ở lại đây qua đêm. Chúng tôi rất lấy làm hân hạnh được tiếp đón công tử. Hồng Đức được lời như cởi tấm lòng. Thấy ông già có vẻ như muốn gói ghém một lời giới thiệu khéo léo cô con gái trong sự mời mọc, chàng cảm thấy phấn khởi liền nhận lời: - Được như vậy thì tốt quá. Cháu không dám khách sáo. Xin hết lòng đa tạ lão bá. Chủ khách theo nhau vô nhà, một căn nhà tranh vách đất tồi tàn nhưng ngăn nắp và kín đáo. Ông già tự tay nấu nước pha trà, và sai cô con gái sửa soạn bữa cơm chiều đãi khách. Hai người đàn ông vừa uống trà vừa trò truyện. Biết được Hồng Đức là con quan đại phu Bao Quýnh trấn thủ Bao Thành trước đây, ông già vui mừng giãi bầy tâm sự: - Gia đình lão phu ở đây đã lâu đời. Lão tên là Tự Đại. Hai vợ chồng già không có con trai, chỉ sanh được một đức con gái duy nhất, đặt tên nó là Bao Tự. Chẳng bao lâu tiện nội mất. Lão phu một mình nuôi con. Trời cho nó có chút nhan sắc. Điều này làm lão lo sợ. Con gái đẹp ở vùng này hiện nay đang bị quan lính săn bắt dâng lên cho thiên tử. Lão phu lo ngaị cho đứa con gái của lão. - Thưa lão bá, không có cách nào để tránh cho Bao cô nương không bị bắt sao? Hồng Đức lo lắng cắt ngang. Lão Đại nhấp ngụm trà, trầm ngâm, mắt nhìn mông lung ngoài trời ra chiều tư lự lắm. Lão thở dài úp mở: - Thực ra thì cũng không phải là không có. Nhưng…….. - Nhưng cái gì? Xin lão bá cho biết tôn ý. Hay lão bá có điều gì khó nói thì thôi cũng không sao. Không khí bỗng dưng trở nên nặng nề. Hồng Đức cũng e dè, chàng im lặng chẳng còn biết nói gì. Một lúc lâu sau, ông già đổi đề tài câu chuyện. Lão hỏi: - Lão phu có nghe lệnh tôn bị gian thần ám hại. Chẳng hay việc này có đúng không? - Thưa lão bá, chuyện này là thiệt. Phụ thân cháu bị bọn tam công hại. Nhà vua chỉ biết nghe lời xu nịnh. Phụ thân cháu bị giam có đến gần ba năm nay rồi. Ông già chép miệng thở dài: - Thời buổi này làm dân đã khó, mà làm quan thanh liêm trung trực lại càng khó gấp bội. Những người làm quan như lệnh tôn đây không được mấy người, nhưng rồi dần dần cũng mất cả. Bá tánh lầm tham không còn biết trông cậy vào đâu. Không biết đất nước này rồi sẽ ra sao!!! Ba năm…cũng là lâu rồi đấy. Ông già ngồi trầm ngâm một lúc rồi lại tiếp tục: - Phu nhân và công tử đã có dâng biểu trần tình để minh oan cho lệnh tôn bao giờ chưa? Cũng nên thử xem sao. Hồng Đức rầu rĩ thưa: - Xin thú thật với lão bá, làm thế không được đâu. Thiên tử đã trở thành điếc đặc đối với những lời ngay thẳng từ lâu rồi. Cháu đã lặn lội mấy tháng nay để tìm xem có phương pháp nào không nhưng vô hiệu. Những chỗ quen biết xưa kia với phụ thân cháu họ đều từ chối. Cũng có người nhận giúp nhưng họ đòi nhiều tiền bạc quá, gia đình cháu thật bất lực. Lão bá có diệu kế gì xin chỉ dậy cho. Cháu mang ơn suốt đời suốt kiếp. Ông già mỉm cười hiền từ: - Nói lão phu chỉ dậy thì không dám, và mang ơn thì cũng không cần thiết. Theo ý lão phu, nếu công tử chỉ muốn cứu lệnh tôn thôi thì việc cũng không có gì khó khăn lắm. Còn nếu công tử muốn làm chuyện lớn hơn thì cũng cần phải bỏ ra một chút công sức. Tuy nhiên, dù việc lớn hay nhỏ cũng có thể làm theo cùng một nguyên tắc mà các binh gia thường hay áp dụng. Đó là lấy cái yếu của đối phương làm cái mạnh của mình mà hành động ắt có thể thành công. Hồng Đức muốn biết liền, nóng lòng hỏi: - Xin lão bá có thể giảng giải rõ hơn một chút được không? - Có gì đâu mà khó hiểu…. Nhưng thôi, chuyện còn dài. Công tử đi đường xa chắc đã mệt và đói bụng. Nghỉ ngơi một lát rồi ăn uống trước đã. Mặc cho Hồng Đức ngồi bần thần suy nghĩ, ông già cắt ngang câu chuyện, đứng dậy đi xuống bếp tiếp con gái giọn cơm. Thực ra ông đã có chủ đích rồi, nhưng ông không thể đường đột nói ra, mà cần phải thăm dò ý kiến của con gái đã, và bàn bạc những gì cần thiết trước. / / / Ăn uống xong thì trời vừa tối. Chủ khách ngồi uống trà bên ngọn đèn nhựa chai leo lét. Bao Tự đứng hầu bên cạnh cha. Hồng Đức cứ băn khoăn về câu chuyện còn dở dang hồi chiều: cái gì là cái yếu của đối phương, và cái gì là cái mạnh của mình? Chàng muốn thử phân tích cái chiến pháp mạnh, yếu mà các binh gia thường áp dụng ấy xem sao. Chàng trình bầy với ông già: - Theo cháu thấy, nhược điểm lớn nhất của triều đình hiện nay là vấn đề độc đoán và thối nát. Vua không còn biết nghe lời nói phải. Quan chỉ quen thói xu nịnh. Từ Thiên tử trở xuống ai nấy chỉ biết vơ vét để ăn chơi và hưởng lạc. Hà hiếp bá tánh và vơ vét cho thật nhiều để tận hưởng. Đây là vấn đề trọng yếu phát sinh ra các nguy cơ khác làm suy yếu chế độ. Có thể kể đến như khắp nơi nạn mua quan bán tước trở thành đường lối cơ bản trong việc chọn lựa người làm quan. Do đó, quan lại chỉ là một bọn vô luân, vô đạo, vô tài và vô tướng. Chúng bỏ tiền ra mua được chức quan rồi thì tất nhiên là phải đục khoét và vơ vét để bù lại. Bọn chúng vì phe cánh và vì miếng ăn, đối với nhau cũng như mèo với chó chứ chẳng tử tế gì. Chỉ bằng mặt mà nhiều khi còn coi nhau như thù địch. Chế độ vì thế có thể ví như một cái cây đã rỗng ruột, có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Bên ngoài bá tánh bị thiên tai rồi bị bóc lột đến tận xương tủy. Mọi người sống lầm than khổ cực như trâu chó. Thanh niên phải đi lính hay bị bắt làm phu dịch. Con gái đẹp ngoài số bị bắt tiến cung, còn lại hầu hết cũng bị ngay cha mẹ mình bán đi làm gái điếm để nuôi sống gia đình. Nói chung, người dân bất mãn và hoàn toàn mất tin tưởng vào triều đình. Chế độ nào cũng cần phải lấy dân làm gốc. Chế độ này đã mất gốc thì tất nhiên nó sẽ phải sụp đổ. Triều đình hiện nay đã không nhìn thấy điều đó lại còn lơ là mất cảnh giác. Thiên tử và cả triều thần vẫn cứ tưởng họ còn đang vững mạnh! Còn về phía bá tánh, cái mạnh của người dân là gì nếu không phải là hiện nay ai cũng đều có cơ hội lũng đoạn triều đình bằng bất cứ phương tiện nào họ có hay sao? Với tiền bạc, người ta có thể mua và sai khiến được quan viên triều đình trên dưới. Còn gái đẹp chính là chìa khóa có thể qua được bất cứ cánh cửa nào. Chỉ với hai thứ đó là có thể đốn gục cái chế độ mục nát này rồi. Hồng Đức nói hăng say đến nỗi không để ý đến cô con gái rất xinh đẹp của ông già đang đứng gần đó. Chàng giật mình và ngừng lại, cảm thấy đã quá khinh xuất bèn xin lỗi: - Cháu thật là thất lễ, đã có lời mạo phạm. Xin lão bá và Bao cô nương tha thứ. Ông già nhìn chàng cười bao dung: - Không sao. Công tử nói rất đúng. Những nhận xét và phân tích của công tử cũng là những suy nghĩ trong đầu của lão phu. Tuy nhiên cũng còn một khía cạnh khác mà công tử không đề cập đến. Đó là thế lực của các chư hầu. Hiện nay thiên tử yếu mà có nhiều chư hầu mạnh. Tuy vậy không có chư hầu nào đủ sức lấn lướt mà vượt lên, nên họ vẫn cần phải bảo vệ ngôi thiên tử để giữ thế quân bình ổn định. Nếu có cách nào làm cho các chư hầu không còn tin tưởng vào thiên tử nữa thì sự biến mới có thể xẩy ra. Chiến lược là đúng, nhưng cũng cần phải có sách lược thích hợp để vận dụng kế sách. Ông gìa trình bầy lý luận có vẻ lạ tai đối với chàng thanh niên. Ông ngừng lại ở đấy hình như có ý muốn cho chàng có thì giờ tiêu hóa hết những điều mình vừa nói. Không gian về đêm vốn đã tịch mịch càng trở nên u tịch hơn khi tiếng nói của ông dứt đoạn. Ông già nhấp ngụm trà nóng, mắt vẫn không rời khỏi bát nước trà, lại tiếp tục nói mà như đang nói với bát nước trên tay. Ông đưa ra thăm dò: - Hoàn cảnh của công tử cũng là hoàn cảnh của nhiều người khác nữa. Lão phu rất hiểu và cảm thông với công tử. Vậy thì bây giờ công tử đã có dự tính riêng cho mình như thế nào chưa? Hồng Đức lắc đầu thở dài: - Thưa lão bá, rất tiếc là cháu tài hèn sức mọn, hai bàn tay trắng lại không có kinh nghiệm. Những tính toán đều đã thất bại cả. Cháu xin lão bá cho một lời chỉ giáo và nếu có thể giúp đỡ cho cháu chóng hoàn thành được nhiệm vụ. Ông già vẫn giữ giọng trầm đều: - Giữa công tử và chúng tôi trời đất xui khiến xem ra có chỗ đồng thanh và còn có thể là đồng khí nữa đấy. Công tử có mối thù gia phụ. Gia đình tôi, tiện nội bị triều đình thảm sát. Công tử sống ở kinh đô vả lại còn trẻ chắc không biết chuyện xẩy ra tại Bao Thành này mười mấy năm về trước, lúc ấy đứa con gái này hãy còn phải bế trên tay. Ông quay sang nhìn Bao Tự, rồi quàng tay kéo con lại sát bên cạnh mình, tỏ một cử chỉ âu yếm khác thường. Trong không gian chìm lắng, ông già lại cất tiếng trầm buồn kể chuyện. Chàng thanh niên trẻ im lặng chăm chú nghe: - Chuyện xẩy ra vào lúc giặc Khương Nhung nổi loạn, Tuyên Vương ngự giá thân chinh và bị thua. Quân lính chết rất nhiều. Vua phải thân hành ra đất Thái Nguyên kiểm tra dân đinh để bắt lính bổ sung. Khi trở về ngang qua một cái chợ, vua cho dừng quân để nghỉ. Có lũ trẻ con chơi đùa ngoài chợ hát câu đồng dao thế này: Bao giờ thỏ mọc ác tà, Yểm hồ Cơ bặc ắt là mất Chu . Tuyên Vương nghe thì cả sợ, bèn bắt lũ trẻ mà điều tra. Nhưng lũ trẻ cũng không biết câu đồng dao đó từ đâu mà có. Vua về triều hội bàn với các quan, nhưng mỗi người bàn một cách. Kẻ thì cho là chuyện trẻ con chẳng đáng tin. Người thì bảo rằng ứng về điềm trong nước có loạn lạc vì yểm hồ và cơ bặc ám chỉ cung tên và túi cỏ để đựng tên. Riêng quan thái sử Bá Dương Phụ bói quẻ bàn rằng thỏ là mặt trăng chỉ âm, ác là mặt trời chỉ dương. Thỏ mọc ác tà là dấu chỉ âm thịnh dương suy. Ắt hẳn là sẽ có cái họa đàn bà can thiệp đến chính trị trong nước. Bất ngờ đúng vào lúc đó, tại hậu cung lại đồn chuyện một cung nữ từ thời tiên đế đã ngoài 50 tuổi đạp phải rãi rồng mà mang thai, đã 40 năm mới sinh được một đứa con gái. Khương hậu (vợ Tuyên Vương) thấy vậy, để giữ tiếng tăm cho hoàng gia, bắt đem đứa trẻ bỏ trôi sông. Một câu chuyện yêu quái như thế không biết từ đâu được thêu dệt rất ly kỳ khiến nhà vua liên tưởng đến cái nạn nữ họa thời Kiệt, Trụ (Thương, Ân). Tuyên Vương sợ hãi bèn hạ lệnh đi khắp mọi nơi hễ ai vớt được đứa con gái ấy đem nộp, dù còn sống hay đã chết, thì được thưởng 300 tấm lụa. Nếu có ai bắt được mà giấu giếm thì cả nhà phải chết chém. Vua cũng nhớ lại câu đồng dao “yểm hồ cơ bặc” ngày trước, nên truyền cho chợ búa khắp trong nước không ai được bán cây cung bằng gỗ dâu (yểm hồ) và túi tên bằng cỏ cơ (cơ bặc) nữa. Ai không tuân lệnh cũng bị chém đầu. Vợ chồng lão phu không biết lệnh cấm, đem cung dâu và túi cỏ ra chợ bán như thường lệ, vì đây là nghề sinh sống của gia đình lão từ lâu nay. Tiện nội mang đồ bán đi trước một quãng, còn lão phu đùm đề đứa con mới sanh lẽo đẽo theo sau. Vừa đến cửa thành, quan lính xét thấy đồ quốc cấm gùi trên lưng, tiện nội bị bắt liền tức thì. Lão phu ôm đứa con đi sau thấy vậy phải lẩn trốn mới thoát. Vua Tuyên Vương cho là câu hát của lũ trẻ đã ứng nghiệm, ra lệnh chém đầu tiện nội để trừ hậu hoạn. Cha con lão phu phải trốn tránh, đến ở cái xóm Hạc Lâm hẻo lánh này từ ngày đó đến nay. - Bá mẫu chết thật là oan ức! Hồng Đức nghe uất ức bèn thốt lên. Ông già cũng ngừng kể. Một lúc lâu sau ông mới đi vào kết luận: - Ông trời thật không phụ lòng người nên đã cho lão phu gặp được công tử. Chúng ta cùng có chung một kẻ thù, cũng nên phải cùng chung một hành động mới đúng. Lão phu đã già rồi, khó có thể thực hiện ý nguyện được. Lão xin có một đề nghị với công tử. Ông ngập ngừng có ý thăm dò phản ứng của chàng thanh niên và cũng còn để lựa lời cho thích hợp. Hồng Đức sốt ruột dục: - Lão bá có đề nghị gì xin cứ dậy bảo. Cháu xin lãnh giáo. - Có hơi đường đột một chút đấy, nhưng xin công tử tha lỗi cho. Nếu công tử không chê bai, lão phu xin được gởi gắm đứa con gái này cho nó theo hầu để công tử sai bảo. Không biết ý công tử thế nào? Ông già hỏi, nhưng xem ra đã biết trước câu trả lời của Hồng Đức rồi, nên ông quay sang nhắn nhủ Bao Tự đang đứng sát bên cạnh ông: - Con phải nghe theo lời dậy bảo của công tử cũng như nghe lời cha. Con có biết không? - Thưa cha con biết. Từ chiều đến giờ, Hồng Đức mới nghe thấy người con gái nói. Chỉ vỏn vẹn có mấy tiếng. Chàng thật sự không hiểu rõ ý nghĩa trong mấy câu ngắn ngủi của cha con ông già. Ông muốn gả con gái cho mình, hay ông tình nguyện hy sinh con gái mình cho chàng để làm kế cứu cha. Thế nào thì cũng đều là chuyện khó tin. Không dễ dàng như thế chứ! Nếu ông có ý định gả con gái thì ít ra cũng phải có cưới hỏi, và nhất là được sự ưng thuận của hai bên cha mẹ. Không thế nào có chuyện quá hấp tấp đến vô lý thế được. Còn nếu ông mưu tính kế mỹ nhân thì ít ra ông cũng nên tiết lộ cho chàng biết kế hoạch? Nếu ông tình nguyện hy sinh con gái làm mỹ nhân kế để trừ bạo chúa thì chàng cũng khó lòng mà đồng ý được, vì từ lúc gặp Bao Tự ngoài bờ sông, chàng đã bị cái đẹp của nàng hớp hồn mất rồi. Theo cách này thì chàng sẽ vĩnh viễn mất nàng. Chỉ nghĩ đến chuyện phải mất người con gái xinh đẹp này, chàng đã cảm thấy chán nản, mất nghị lực. Một đàng không thể để mất đi cơ hội, một đàng không thể không hoàn thành sứ mạng mẹ chàng trao cho lúc ra đi. Cả hai đều khó cầu toàn. Điều làm chàng thực sự bận tâm là rước Bao Tự về nhà trong hoàn cảnh gia đình như thế này thì có hợp đạo lý không. Việc cứu cha chưa hoàn thành mà đã mải mê chuyện tình cảm riêng tư. Điều đó mẹ chàng chắc chắn không tha thứ, mà người đời cũng sẽ cười chê. Hồng Đức suy tính nhanh trong đầu thấy chỉ còn cách cứ đồng ý đại đi rồi sẽ tính. Chàng hy vọng sẽ tìm ra cách giải quyết. Chàng tự tin, đứng dậy khoanh tay cung kính thưa với ông già: - Cháu xin phụng mệnh của lão bá. Cháu hứa sẽ chăm sóc tốt cho Bao cô nương. Sáng hôm sau, Bao Tự theo Hồng Đức lên đường trở về nhà. Ra đến đầu ngõ, nàng ôm cha từ biệt: - Con mong sớm có ngày được trở về bên cạnh cha. Ông già không nói gì, đưa tay vẫy ra dấu hiệu bảo đi, rồi quay đầu lủi thủi trở vào nhà. / / / Quả đúng như Hồng Đức lo ngại. Bao Quýnh phu nhân thấy con trai trở về tay không, lại còn mang theo một cô gái trẻ đẹp. Bà buồn rầu không nói gì và tỏ ra lạnh lùng với con. Cũng may mà trên đường về chàng đã biết rõ được vấn đề nên đã hình thành được một kế hoạch đem trình bầy với mẹ nên bà mới an tâm. Những gì ông già nói với chàng mới chỉ là một nửa của sự thật. Còn lại nửa kia ông già khôn khéo dành lại cho con gái nói ra. Nói trắng ra trước tất cả, ông già sợ Hồng Đức không chịu cho con gái ông đi theo. Việc tiến cung của Bao Tự như ông già kế hoạch bỏ đi mất một cơ hội hiếm hoi. Theo Bao Tự kể, nàng không phải con ruột của vợ chồng ông già mà chỉ là con nuôi. Nàng chính là đứa trẻ bị ném bỏ ngoài bờ sông. Người đàn bà đẻ ra nàng thực ra là một cung nữ trong triều đình Tuyên Vương. Cung nữ này bị hoàng tử An Kỳ, con út của Khương Hậu, tức em trai của U-Vương làm có bầu. Khương hậu không chấp nhận mối tình chủ tớ đó, nên đã cho giết chết người cung nữ và đem đứa trẻ bỏ ngoài bờ sông Thanh Thủy. Lại còn bầy ra một câu chuyện hoang đường để gạt vua. Đứa bé được vợ chồng ông già cứu sống, đưa về nuôi và nhận làm con. Bà mẹ nuôi là vợ ông già Tự Đại bị chém đầu vì tội bán cung dâu túi cỏ đúng như ông già nói. Như vậy là cả hai người đàn bà mẹ đẻ và mẹ nuôi của Bao Tự đều bị triều đình giết chết. Bao Tự từ khi lớn lên, hiểu chuyện nên thề quyết sẽ trả mối thù này. Dựa vào sự tài khéo, ý chí, và sắc đẹp của Bao Tự, cha con ông già tính kế phải vào tận hang cọp để giết cọp. Sự xuất hiện của Hồng Đức đúng là cơ hội trời cho. Ông già vì thế đã thận trọng và tỉ mỉ đi từng bước để không bị hư việc. Bao Quýnh phu nhân nghe con trình bầy, sau một đêm suy nghĩ, đến sáng cho gọi Bao Tự vào và hỏi: - Chuyện cô nương muốn báo thù cho mẹ cô là thế nào? Bao Tự kính cẩn hỏi lại: - Chắc phu nhân đã được nghe công tử kể lại? - Phải, ta đã nghe, nhưng tại sao cô nương lại phải đi qua gia đình ta mà thực hiện ý định đó? Có phải cô nương muốn gia đình ta phải mắc nợ cô không? Bao Tự cả sợ, vội vàng qùi xuống thưa: - Phu nhân đã quá lời rồi. Tiện nữ không dám. Tiện nữ và phụ thân chỉ vì quí mến công tử, và cảm mến công đức của quan đại phu khi người còn ở Bao Thành, nên mong làm một chút việc nhỏ đáp đền mà thôi. Kính xin phu nhân chấp nhận. Mẹ Hồng Đức nghe Bao Tự ăn nói lễ phép và trôi chẩy, rất lấy làm bằng lòng. Bà cho rằng con trai mình hẳn đã đem lòng yêu thương người con gái này, và ngược lại cũng thế. Bà lấy làm đau xót và thương cho cả hai đã phải hy sinh cả cái riêng tư cao quí nhất là hạnh phúc của đời mình. Bà quay mặt đi để dấu hai dòng lệ chẩy trên má. Vài hôm sau, có quan thái sử Bá Dương Phụ là chỗ thân tình ghé thăm, Bao Quýnh phu nhân ra tiếp đón. Bá Dương Phụ nhác trông thấy Bao Tự ở nhà trong nên có ý hỏi dò: - Chẳng hay công tử nhà ta mới lấy vợ, sao không cho tại hạ biết để mừng? - Dạ không phải đâu, xin đại nhân đừng hiểu lầm. Phu nhân cải chính và nhận Bao Tự là con gái út trước đây gởi tại nhà người dì ở Bao thành nay mới đem trở về nhà, lại có ý nhờ thái sư giúp tiến dẫn Bao Tự vào cung làm cung nữ để hầu hạ vua. Bá Dương Phụ rất mừng vì tin rằng kế này chắc chắn có thể cứu được Bao Quýnh ra. Nhưng ông ta lại muốn lánh mặt, không muốn đứng ra làm trung gian, nên nói với Bao Quýnh phu nhân: - Kể như chắc ăn rồi đấy, nhưng việc này nên nhờ cậy đến Quắc Công thì tiện hơn. Phu nhân đem lụa và vàng bạc đến đút lót cho Quắc Công để nhờ tâu hộ rằng Bao Quýnh có tội ở tù đã ngoài ba năm, nay đã già và đã biết hối lỗi. Nay xin đại vương khoan hồng và xin dâng con gái út của mình là Bao Tự để hầu hạ đại vương. Quắc Công bằng lòng nhận vàng bạc, gấm lụa để lo công việc. / / / Bao Tự ở trong nhà Bao Quýnh phu nhân đã gần một tháng. Đêm trước ngày được tiến vào cung, nàng nói với Hồng Đức: - Thiếp hình như đã có thai. - Đứa bé sau này sẽ là con chúng ta. Hồng Đức mừng rỡ ôm người yêu vào lòng quả quyết. Rồi lại hỏi: - Có phải nàng có điều gì không vừa lòng mà từ ngày gặp nàng tới giờ ta thấy nàng lúc nào cũng tỏ ra buồn bã không vui? - Thiếp được chàng và phu nhân hết lòng thương yêu và săn sóc thế này là quá hạnh phúc rồi. Thật sự không có gì làm thiếp phàn nàn cả. Nhưng xin chàng hiểu cho, thiếp chỉ có thể cười to lên được khi thiếp chắc chắn trừ được tên bạo chúa này mà thôi. Hồng Đức đã hiểu ra và thông cảm được tâm trạng của Bao Tự. Ngay ngày hôm sau, Quắc Công đưa Bao Tự vào ra mắt U-Vương. Nhà vua nghe Quắc Công tâu trình thì ưng ý, liền lập tức truyền cho Bao Tự vào bệ kiến. Bao Tự hôm nay trông xinh đẹp như một nàng tiên giáng trần. Nàng vốn đã đẹp tự nhiên, lại được trang điểm thật là lộng lẫy nên càng trở nên kiêu kỳ và quyến rũ hơn gấp bội. U-Vương trông thấy là mê liền và cho ở lại trong cung. Vua còn truyền chỉ thả Bao Quýnh, và còn cho phục chức như cũ. U-Vương được Bao Tự rồi thì hình như quên mất hẳn mình đang là thiên tử, trao triều chính cho tam công để bọn này muốn làm gì thì làm. Nhà vua xây cất cung Quỳnh Đài cho nàng ở và cả ngày tự nhốt mình trong đó như một tên tù của xa hoa và xác thịt. Bao Tự tuy chưa có danh phận gì, nhưng nàng không thèm tới chào hỏi ra mắt hoàng hậu theo đúng lễ nghi hậu cung, còn tìm nhiều cách để trêu tức bà ta. Thân hậu vừa ghen vừa tức giận vô cùng nên cùng con trai là thái tử Nghi Cửu tìm cách hạ nhục Bao Tự. Không dè đây lại là cái kế của nàng giăng ra để triệt hạ hoàng hậu. Chẳng bao lâu sau, Bao Tự sanh được con trai, đặt tên là Bá Phục. Nàng càng được vua sủng ái hơn. Bao Quýnh trở thành quốc cựu và Hồng Đức trở thành bào huynh của hoàng hậu. Cả hai thỉnh thoảng được phép vào cung thăm mẹ con Bao Tự. Thằng bé Bá Phục được hai người quí mến và coi như hậu tự của dòng họ Bao. Bọn tam công và các quan triều đình đều bị mua chuộc và đứng về phe Bao Tự cả. Khi Bao Tự đã hoàn toàn lèo lái được nhà vua và có thể khống chế được triều đình, nàng tiến hành bước kế tiếp là bước lên ngôi hoàng hậu. Vấn đề này không khó khăn gì đối với nàng, vì sự thất sủng của Thân hậu chính là bước tiến lên của nàng. Thân hậu là con người thiếu bao dung, tính tình lại hay ghen tương nhỏ mọn làm vua càng ngày càng chán mà xa lánh, cuối cùng bị thất sủng, rồi truất phế và đẩy vào lãnh cung. Thái Tử Nghi Cửu cũng bị chung một số phận và bị đuổi ra khỏi hoàng cung. Sau khi đã phế hậu và thái tử, U-Vương theo công luận của triều đình, lập Bao Tự làm hoàng hậu và Bá Phục làm thái tử. Ý vua đã định, triều đình nhiều người không bằng lòng, nhưng không có ai dám can ngăn vì sợ bị kết tội là phe đảng của Nghi Cửu và bị trị tội. Bá Dương Phụ trưóc kia là bạn bè thâm giao với Bao Quýnh, trước sự việc này cũng bất bình và xin từ chức. Nhiều quan viên khác cũng bắt chước từ quan theo ông. Bao Tự dẫu được phong làm chánh cung, nhưng nét mặt lúc nào cũng rầu rầu ủ dột. U-Vương truyền nhạc công và cung nữ vào cung đàn ca múa hát để nhà vua và hoàng hậu uống rượu vui chơi. Bao Tự dù thế nào cũng vẫn không tươi nét mặt. U-Vương hỏi: - Hoàng Hậu không thích ca nhạc thì thích cái gì? - Thần thiếp không thích gì cả. Chỉ nhớ hôm xưa tay cầm xé tấm lụa. Tiếng lụa xé nghe thấy cũng vui tai. - Chỉ có vậy thôi à, sao không cho trẫm biết trước? U-Vương cười rạng rỡ, truyền mỗi ngày mở kho lấy 100 tấm lụa rồi sai cung nữ đứng xé lụa cho Bao Tự nghe. Trò chơi xé lụa vậy mà gây tác dụng không nhỏ. Nó làm hao tốn công quĩ và làm cho bá tánh mang thêm gánh nặng phải phục vụ triều đình. Bao Tự dẫu hằng ngày được nghe tiếng xé lụa, nhưng vẫn không nở một nụ cười. U-Vương thất vọng lại hỏi: - Hoàng Hậu nghe tiếng xé lụa mà sao vẫn không thấy vui? - Được hoàng thượng yêu quí thế này thần thiếp vui lắm chứ, tại sao lại không? - Nàng vui nhưng sao lại không cười? - Vốn từ xưa tới giờ thần thiếp chưa bao giờ cười cả. - Thật hả? Vậy thì trẫm nhất định phải tìm ra cách làm ái hậu cười cho bằng được mới thôi. Nhất định! Nhà vua nhớ lại chuyện hồi nhỏ trong vườn thượng uyển có một đàn khỉ, tính bắt một vài con đem về cung làm trò để mua vui cho hoàng hậu, nhưng đàn khỉ ngày nay đã bị đưa ra khỏi hoàng thành vì chúng phá phách quá chừng. Vua dẫn hoàng hậu ngự giá ra ngoài dân gian tìm đến nơi có đàn khỉ. Đàn khỉ nay vẫn còn và do một người tiều phu chăm nuôi. Người này không có tên. Người ta gọi ông ta là ông Khỉ. Giống khỉ này là một giống khỉ hiếm quí, chúng được hưởng bổng lộc của triều đình, lại được chăm sóc tử tế nên triều đình thường chỉ dùng để làm quà tặng cho các chư hầu và lân bang. Chúng có bộ lông đen mướt, rất đẹp, lại rất thông minh, biết làm trò, và nhất là biết bắt chước tiếng người và các động tác của người ta. Bao Tự thấy đàn khỉ cũng tỏ ra thích thú. Vua liền cho bắt bốn con đẹp nhất và khôn nhất trong bầy, đem về cho Bao Tự. Vua hãnh diện khoe với các quan viên: đây là tứ trụ điều đình của trẫm. Mỗi khi vua ngự triều đều có đem hoàng hậu cùng với đám khỉ theo. Nghị sự xong, vua thường bắt các con khỉ ra làm trò để triều thần giải trí, cốt để các quan tung hô hoàng hậu cho nàng khoái chí mà cười. Khi làm trò, những con khỉ tỏ ra rất tài nịnh bợ, luôn mồm kêu: hoàng thượng vạn tuế, hoàng hậu thiên tuế, thiên thiên tuế. Có một lần, đang lúc các con khỉ làm trò, thấy hay quá, nhà vua quay sang hoàng hậu hỏi ý kiến để xem nên ban thưởng cho chúng như thế nào. Hoàng hậu không nghe rõ nhà vua muốn hỏi gì, tưởng vua muốn hỏi tên các con khỉ, nàng trả lời gọn một tiếng "Hầu" (hầu tức là khỉ). Lập tức vua truyền chỉ phong hầu cho tất cả bốn con khỉ, gọi là Bá Hầu, Công Hầu, Đình Hầu, và Khắc Hầu, và ban hưởng bổng lộc một vạn hộ. Từ đó khỉ cũng được mang hia, đội mão, mặc triều phục. Mỗi khi vua ngự triều đều có Bao Tự ngồi bên cạnh, và dĩ nhiên các con khỉ qúi cũng có mặt và lon ton bên cạnh Hoàng Hậu. Các quan và mọi người trong triều đều phải gọi các con khỉ này theo tước vị đàng hoàng là Vạn Hộ Bá Hầu đại nhân, hay Vạn Hộ Công Hầu đại nhân v.v. Cái trò khỉ này làm cả triều thần giận tím mặt, nhưng vì sợ vua nên họ vẫn cố gượng cười để làm vừa lòng thiên tử và hoàng hậu. Bao Tự xem trò khỉ nhưng vẫn cứ ngồi trơ, không nở được lấy dù chỉ một nửa nụ cười. Vẫn không làm được cho hoàng hậu cười, U-Vương thất vọng, một hôm lên tiếng hỏi triều thần: - Các ái khanh ai có kế gì làm cho Hoàng hậu cười được thì trẫm sẽ thưởng cho một ngàn lượng vàng. Quắc Công là tên đại thần giỏi nịnh bợ nhất trong đám quan lại, hiến kế cho vua: - Tâu Hoàng Thượng, tiên vương ngày xưa có lập ra hơn hai mươi cái chòi dưới chân núi Ly Sơn, lại làm mấy chục cái trống thật lớn, phòng khi có giặc thì đốt lửa ở trên chòi và gióng trống lên để cho các chư hầu biết có biến mà đến cứu. Lâu nay thiên hạ thái bình không được nhìn thấy cảnh đốt lửa bao giờ. Nếu hoàng thượng muốn làm cho hoàng hậu được vui thích thì xin hoàng thượng và hoàng hậu ngự giá thưởng ngoạn phong cảnh Ly Sơn một chuyến. Ban đêm hạ thần sẽ cho bầy yến tiệc ở đó để hoàng thượng và hoàng hậu cùng vui hưởng, đồng thời thần sẽ cho đốt lửa tại các chòi để báo cho các chư hầu đem quân đến. Đùa cợt với các chư hầu một phen đâu có hại gì. Hoàng Hậu thấy vậy chắc sẽ thích lắm. U-Vương nghe tâu đắc chí vỗ tay khen: - Ý kiến rất hay! Khanh cứ thế mà làm. Chẳng phải Quắc Công có sáng kiến mới mẻ gì, mà đó là gợi ý Bao Tự đã mớm cho hắn từ trước: Bữa nào ta được ra chơi ngoài Ly Sơn xem đốt lửa thì vui biết mấy. Đây là bước chót trong kế sách ba bước tiêu diệt nhà Chu mà ông già Tự Đại đã công phu nghiên cứu và dậy cho con gái. Bước thứ nhất là làm khánh tận công khố bằng việc xây cất cung Quỳnh Đài, việc xé lụa để vui chơi, và những yến tiệc quanh năm suốt tháng trong triều đình. Thứ hai là gây bất mãn làm ly gián giữa các đại thần và thiên tử qua việc phong tước cho khỉ ngang hàng với các đại thần. Sau chót là màn đốt lửa tại Ly Sơn để huỷ diệt sự tin tưởng của các nước chư hầu. Mọi việc được an bài đúng như kế hoạch của Quắc Công đã tâu trình. U-Vương và hoàng hậu ngự giá tới Ly Sơn. Trịnh Bá Hữu là chú của vua, cũng là một đại thần cảm thấy nguy cơ nên lên tiếng can ngăn nhà vua. Nhưng U-Vương nổi giận mắng lại: - Ngày nay thiên hạ thái bình, cần gì đến các chư hầu cứu viện. Trẫm cùng hoàng hậu không có gì tiêu khiển, chỉ bỡn chơi với các chư hầu một chút có hề gì. Ngày khác có nguy cấp, can dự gì đến nhà ngươi mà nhà ngươi phải lo cho mệt trí. Màn đêm vừa buông, vua truyền lệnh khai mạc cái trò chơi đế vương của mình. Lửa lập tức nổi lên từ các chòi, soi sáng khắp bầu trời. Khói đen phủ kín núi rừng. Trống đánh, chiêng khua vang lừng bốn cõi. Vua và hoàng hậu trên ngự đài vừa uống rượu vừa nhìn tứ phía thưởng thức trò chơi. Các chư hầu tưởng có biến, lũ lượt vội vã kéo quân về Ly Sơn. Tới nơi thấy cảnh tượng mới biết mình bị lừa. Họ nhìn nhau ngơ ngác và lắc đầu hậm hực. Bao Tự đứng trên lầu nhìn các chư hầu ào ào kéo tới, rồi lại đùng đùng bỏ đi tức tối, thích chí vỗ tay cười vang. Nàng mừng đến rơi nước mắt, mơ ước giá mà lúc này đây, không phải tên hôn quân khốn kiếp, mà là Hồng Đức nghe được tiếng cười của nàng. U-Vương nhìn thấy hoàng hậu cười, rất lấy làm đắc chí, mừng rỡ nói: - Một tiếng cười của hoàng hậu đủ trăm vẻ đẹp. Thật là Trời không phụ ta. Trẫm thật là thỏa mãn. Chuyện này âu cũng là nhờ cao kiến của Quắc Công mới có. Trẫm phải giữ đúng lời hứa với hắn mới được. Nói rồi, vua truyền lấy vàng đủ ngàn lượng ra thưởng cho Quắc Công. / / / Không bao lâu sau, lần này thì có biến thật. Thân hậu (vợ U-Vương) là con gái của Thân hầu, người đang cai trị đất Thân, và thái tử Nghi Cửu là cháu ngoại của ông ta. Thân hầu bất mãn với việc phế lập con gái và cháu ngoại, nên mượn quân Khuyển Nhung kéo về tấn công kinh đô Kiểu Kinh. Triều đình đang trong lúc thái bình nên không có phòng bị gì. U-Vương lo xanh mặt, bấn loạn cả lên, dậm chân, đập bàn quát hỏi Quắc Công: - Khanh có kế gì chống giặc không, nói mau? Quắc Công run sợ quì sụp xuống tâu: - Xin Hoàng Thượng mau sai người ra đốt lửa ở Ly-Sơn để kêu quân cứu viện của các chư hầu. - Khanh chỉ có kế đốt lửa là giỏi. Thôi được, đi làm gấp. Vua truyền chỉ nhưng vẫn cảm thấy nghi ngờ. Quả thật, không một chư hầu nào đem quân đến cứu vì họ sợ lại bị mắc lừa như lần trước. Vua tôi bấy giờ bàn nhau chỉ còn chạy là thượng sách. Mọi người bàn chạy. Chỉ có thái sử Trịnh Bá Hữu, chú của vua, người trước đây đã can vua đừng đốt lửa gạt chư hầu, là còn mang quyết tâm cự địch. Ông đích thân sai người đốt lửa lên một lần nữa. Chư hầu vẫn không một ai đến. Kinh thành bây giờ trở thành hoàn toàn tuyệt vọng. Một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy xẩy ra: Người sợ thì bỏ của chạy để giữ lấy thân. Kẻ lều mạng thì cướp bóc để lấy của. Địch chưa đến nơi nhưng vua tôi đã bỏ thành mà chạy trước. Bá tánh lũ lượt bồng bế nhau chạy theo. Trịnh Bá Hữu phò vua đi trước chạy ra Ly-Sơn, giữa đường bị quân Khuyển Nhung chận đánh và bị giết. U-Vương cũng chết trong trận này. Bao Tự trước khi ra đi, truyền lệnh cho Quắc Công vào lãnh cung để thả Thân Hậu đang bị giam trong đó. Nàng có ý nhờ tay Thân hậu giết U-Vương và Quắc Công, tên loạn thần số một này, vì Thân hậu biết Quắc Công trước kia đã dâng sớ xin truất phế bà ta. Quắc Công nhận lệnh nhưng hắn không thi hành vì sợ nguy hiểm đến tính mạng. Khuyển Nhung người đông thế mạnh tiến vào kinh đô Kiểu Kinh như chỗ không người. Bọn man rợ này tha hồ mà vơ vét, cướp bóc, vì chúng phải sống trong một đất nước vô cùng nghèo nàn và lạc hậu. Thiếu thốn và đói ăn triền miên khiến chúng trở nên thèm khát hết mọi thứ. Chúng tàn phá không thương tiếc cả những tiện nghi mà vì lối sống đã quen thói rừng rú, chúng cho là hoang phí và xa xỉ. Kinh đô Kiểu Kinh dưới gót chân của quân chiếm đóng chẳng mấy chốc trở nên tan hoang, trơ trụi. Thân Hầu theo quân Khuyển Nhung mà vào thành. Thân phận kẻ rước cướp vô nhà bị đối xử không hơn gì một tên đầy tớ. Ông ta chẳng có quyền hành gì dưới chế độ ăn cướp của Khuyển Nhung ngoài cái quyền ông ta tự ban phát cho mình là thu giọn những đổ nát mà quân chiếm đóng đã gây ra. Ơn huệ độc nhất quân Khuyển Nhung ban cho ông ta là được phép vô lãnh cung cứu con gái ông. Ông ta nghe nói U-Vương đã trốn ra Ly-Sơn liền vội vàng đuổi theo để có ý khuyên vua hàng giặc hầu giữ lại ngai vàng. Ông gặp vua Khuyển Nhung ở dọc đường, và được nghe kể về chuyện U-Vương đã bị giết như thế nào. Lúc đó ông mới giật mình chợt tỉnh, thở dài não nuột, tự than: - Mình chỉ muốn mượn oai hùm để răn thiên tử, không ngờ lại thành ra kẻ phản quốc bất trung. Tiếng đời sẽ cười chê khó mà rửa được. Vua Khuyển Nhung nghe được, cười lên hô hố, chế nhạo Thân Hầu: - Quốc cựu thật là ngây thơ giống như con gái mới lớn, lúc nào cũng sợ bị dụ khị. Bao Tự ra khỏi thành, lén tách rời đoàn xa giá, giắt thái tử và một thị nữ trà trộn vào đám đông, ăn mặc như thường dân, theo đoàn người lánh nạn chạy về phía Bao Thành. Dọc đường, hai mẹ con bị Khuyển Nhung bắt. Chúng giết chết thái tử, còn Bao Tự thấy xinh đẹp, chúng định bắt đem về hầu trong trướng của vua Khuyển Nhung. Nhưng nàng tự vẫn mà chết. Hồng Đức đang ở Bao Thành nghe tin kinh thành bị thất thủ, vội trở về để đi tìm Bao Tự. Trên đường chàng chứng kiến bao nhiêu là thảm cảnh của chiến tranh. Những bãi chiến trường còn vương mùi tử khí. Binh khí vương vãi khắp nơi không ai thèm lượm. Xác chết rải rác không có người chôn. Từng đoàn người lôi thôi, lếch thếch, lang thang không định hướng. Chẳng được ai tiếp tế. Chẳng được ai giúp đỡ. Mọi người đều phải tự sinh, và không thiếu người đã phải tự diệt. Hồng Đức đi từ sáng tới chiều, hỏi thăm từng người, lật xem từng xác chết trên đường. May mắn chàng tìm được Bao Tự chết nằm bên bờ một con suối. Xem chừng nàng cũng mới chết trong ngày. Một mũi đao xuyên qua ngực, đúng vào tim. Đao vẫn còn nằm trong đó. Máu khô bết lại nhuộm đỏ hết xiêm y. Chàng cẩn thận lục xét chung quanh tìm Bá Phục, nhưng không thấy. Chàng gói xác Bao Tự lại tươm tất rồi xe về xóm Hạc Lâm. Mái tranh xưa vẫn còn đó nhưng dột nát và tồi tàn đi nhiều. Ông già Tự Đại lọm khọm chống gậy ra nhận xác con gái. Lão đã già đi, tiều tụy và thiểu não, vẻ tinh anh đã biến mất. Hai người chôn xác Bao Tự bên cạnh căn nhà. Ông già đem ra trao cho Hồng Đức một cái thúng nhỏ và một gói đồ. Cái thúng bằng mây đan rất tinh xảo. Gói đồ gồm một tấm nệm gấm nhỏ mầu hồng nhạt, và một vuông mền mỏng bằng lụa quí có thêu hoa ngũ sắc. Ông già trao cho Hồng Đức và nói: - Của nó. Nên đem theo cho nó. Hồng Đức đốt những thứ đó chung cùng với vàng mã khi hạ huyệt. Chàng thắp nhang, đứng trước ngôi mộ, nghẹn ngào nói với ông già: - Đây là người vợ yêu quí của con. Chúng con đã có giao ước. Nàng đã vì con mà hy sinh cả mạng sống. Ông già không giám nhìn thẳng vào cảnh tượng trước mắt, hai tay ông run run, mắt nhắm nghiền, giọng thều thào như hơi gió: - Không phải vì một mình công tử không thôi, mà còn vì thiên hạ bá tánh nữa. Bây giờ thì con gái lão đang đoàn tụ với cả hai người mẹ của nó rồi. Nó đã có thể vui cười thoải mái như ý nó. Đây là cái giá phải trả cho một mơ ước đạt thành. Công tử cũng đừng quá buồn, nên vui lên mới phải. Xóm Hạc Lâm đón đứa con thân yêu của nó trở về. Trời Hạc Lâm vẫn xanh, rừng cây xanh, đồi núi xanh, và dòng sông xanh quanh co uốn khúc. Đứa con của Hạc Lâm có cái tên Bao Tự đã hoàn thành xuất sắc một sứ mạng cao cả. Giờ đây nàng xứng đáng được yên nghỉ giữa cái không gian đầy mầu xanh tươi đẹp này của Rừng Hạc.

 

Năm 12 tuổi, tôi đọc ở đâu đó một chuyện cổ tích Ấn Ðộ. Truyện rất ngắn, ít tình tiết, kể về một thằng ăn cắp. Hồi đó tôi không hiểu ý nghĩa. Ðem hỏi cha tôi thì chỉ nói: "Lớn lên con sễ hiểu. Người nào không có lòng công chính, không là người chân thật thì cũng không hiểu". Thường bọn móc túi nơi đám đông, quân đào tường, khoét vách nhà người ta để trộm tiền bạc, đồ đạc... là những vật cụ thể, hữu hình, gọi là thằng ăn cắp. Ðiều đó dễ hiểu. Còn lòng danh dự, sự công chính, lương tâm là những thứ trừu tượng, những ý niệm, thảy đều có thể bị ăn trộm hay sao? Truyện cổ tích thường vô lý. Cốt lấy ý bỏ lời. Truyện đã đọc gần nửa thế kỷ rồi, nay kể lại ắt không thể đúng theo nguyên văn. Chi tiết thì có thêm thắt, lời văn có thể rườm rà nhưng tuyệt nhiên ý nghĩa vẫn được giữ nguyên. “Ở một làng nào đó bên Ấn Ðộ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đã xế, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng đã mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải dấu trong gói hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương. Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nướcát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm. Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngàng qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian.ễ xong, ngườ i thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa. Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghỉ thầm: "Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta". Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói: - Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta. Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con: - Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nẩy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!, bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại. Người thương gia rảo bước về gấn đến làng. Nhìn xa xa trông ráng chiều tươi êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên những rặn tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách. Về đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu: - Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp tích tụ từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa! Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên. Ðến chùa, cảnh vẫn vắng tanh. Trong chùa có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi: - Gói đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu? Cụ già ngạc nhiên: - Gói đồ nào của bác? Vàng nào của bác? - Thì cái gói đồ tôi để quên hồi xế trưa trong chùa nầy! Cụ già vẫn bình thản: - Quả thật lão không thấy gói đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Gói đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao? Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tôi mN 63;t lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt. Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp mười năm tích tụ của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi, mặc gió đưa đi biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ, may rủi. Cuối làng. giữa một khoảng vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bản đen, nổi bật một hàng chữ trắng viết to: "Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại". Người thương gia mừng quýnh đập cửa xin vào. Người nông phu ra mở cửa, hỏi: - Bác là chủ gói đồ bỏ quên trong chùa? - Vâng, chính tôi. Tôi đã để quyên trong chùa khoảng xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại. - Nhưng trước hết bác phải cho tôi biết rõ gói đồ như thế nào? Trong đựng những gì? Người thương gia trả lời: Ðó là gói vải, trong đựng một ít lương khô đi đường. Người nông phu nói: - Thế thì không phải gói đồ của bác. Người nông phu nói. - Thú thật với bác, cũng còn một số vàng, gói trong một túi vải khác màu đỏ. Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia: - Quả thật gói đồ của bác. Xin mời vào nhận. Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác xé nửa số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói: - Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn. Người nông dân ngạc nhiên: - Trả lại một vật không phải là của mình là một việc bình thường, có gì đâu mà bác phải đền ơn? - Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là phải lẽ. - Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Xưa nay vẫn vậy. Không phải là cái cớ để đòi tiền thưởng. Cũng như lòng yêu quê hương, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác, do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đấy mà được chia phần? Thôi tôi xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống trong giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp. Người thương gia không biết nói gì hơn bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất túi vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy, với ý định bắt buộc người nông dân phải nhận sự trả ơn. Người nông dân vội nhặt gói vàng đuổi theo, miệng hô hoán: - Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp. Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt người nông dân, hỏi: - Nó đã ăn cắp vật gì của bác? - Nó muốn ăn cắp cái tâm công chính và chân thật của tôi từ ngày tôi theo Phật!” Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện vì tư lợi, những nguời yêu nước để mong được địa vị... thảy đều không hiểu chuyện.

 

Khoảng đâu đó cuối thập niên 1960, sau một trận đánh giữa quân đội miền Nam và bộ đội chính quy miền Bắc, quân ta đã tìm thấy một bài thơ trong xác một binh sĩ Bắc Việt. Bài thơ hay, cảm động, nói lên tình cảm của người lính vì nghĩa vụ mà phải xa quê, xa mẹ hiền. Nhưng cũng trong bài thơ là sự thắc mắc về ý nghĩa cuộc chiến mà đảng CS đã lừa gạt bằng mỹ từ "Giải Phóng Miền Nam" Người lính xấu số này, cũng như hàng triệu thanh niên miền Bắc đã bị lừa bịp mà hy sinh cho cuồng vọng của Hồ Chí Minh và đảng CSVN, cũng đáng cho chúng ta thương xót. Ngày nào đó, sau khi diệt tan bọn CS, chắc chắn người Việt chúng ta sẽ lập một đàn cầu siêu cho những người lính - cả hai bên phải không quý vị? - để giải oan cho linh hồn họ. Bài thơ đã quá lâu, nên ít ai còn nhớ hết, và cũng chẳng biết tựa đề bài thơ. Không đề Từ buổi con lên đường xa mẹ Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung Non xanh, nước biếc chập chùng Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ Tuổi thanh xuân, cuộc đời như hoa nở Vì hoà bình đâu ngại bước gian nguy Mấy tháng trời, đêm nghỉ ngày đi Giày vạt gót, áo sờn vai thấm lạnh Những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh Mẹ hiền ơi! Con chợt nhớ quê mình Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh Con bướm nhỏ, mái đình xưa, nhớ quá! Vào nơi đây, tuy đất người xa lạ Nhưng miền Nam cũng cùng một quê hương Vẫn bóng dừa xanh, vẫn khói lam chiều Con trâu về chuồng, tiếng tiêu gợi nhớ Đã qua buổi ban đầu còn bở ngỡ Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu? Buổi chợ đông, đồng lúa xanh màu …… Lớp học tưng bừng những đàn trẻ nhỏ Đang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca Và trong vườn, luống cải vườn hoa Đàn buớm nhỏ rủ nhau về hút mật Xóm dưới làng trên, niềm vui ngây ngất Sao người ta bắt con đốt xóm phá cầu ? Phải gài mìn, gieo tang tóc thương đau? Đã có nhiều lần tay con run rẩy Khi gài mìn để sau bỗng thấy Xác người tung, máu đổ chan hoà Máu của ai? Máu của bà con ta Của những người như con, như mẹ Đêm hôm ấy, mắt con tràn lệ Ác mộng về, con trằn trọc thâu canh . . . . . . . . . . . . . . . .

 

HÃY NGHE ĐÂY Hãy nghe đây hỡi Đồng Bào Quốc Nội Bọn Cường Quyền Việt Nam rất bạo tàn Họ ác độc đàn áp hết dân gian Các Nhà Dân Chủ hờn Lãnh Đạo ra lệnh Ta nghe đây…Mục Sư Nguyễn Công Chính Ông lên án bọn Việt Cộng Vô Thần Chúng tàn bạo đạp lên đầu nhân dân Họ săn lùng hết các Nhà Dân Chủ Và xâm nhập gia cư bất hợp pháp Cấm đi lại, hay liên hệ với nhau Đánh chén cơm sinh sống của dân nghèo Nhà cửa ,Ruộng vườn,của dân họ cướp Họ khủng bố tinh thần và thể xác Quản thúc hết những nhà Đấu Tranh Giả dạng Côn đồ làm nhục nạn nhân Trắng trợn cấm… không ra vào trước ngỏ Gây cuộc sống với vô vàn gian khó Họ vô liêm sĩ tạo khiếp sợ cho dân Đủ thủ đoạn khung bố trắng- xám- đen Giả côn đồ chuyên mặc đồ thường phục Họ sách nhiểu , khủng bố và làm nhục Đánh Mục Sư Nguyễn Công Chánh gảy răng Gây thương tích đổ máu …Lũ bạo hành ..! Tội Mục Sư ..! Sứ Giã của Thiên Chúa Đúng Vô Thần Cộng Sản sắp tàn úa Lũ Công An tựa một đàn chó săn Chúng tàn bạo với mọi giới tu hành Gây khổ đau cho nhân dân, tu sĩ Cao Trí Dũng ĐẬP TAN SỢ HÃI Đập tan đi cái yếu tố Sợ hãi Toàn Dân ta hãy VÙNG DẬY ĐỨNG LÊN Đòi bằng được Quyền NGÔN LUẬN TỰ DO Hết thảy ta cùng LIÊN MINH ĐOÀN KẾT Đừng sợ gì điều Cộng sản họ làm Mà hãy làm những gì Cộng Sản sợ Xin mọi người cùng hổ trợ tiếp tay Hãy đập tan cái Yếu tố SỢ HÃI “Các Nhà Dân Chủ với vũ khí cuối Lấy Sự chết đánh đổi TỰ DO” Quyết bằng được Toàn dân ẤM NO Lời Tuyên bố Giáo Sư Nguyễn Chánh Kết Tôi vô cùng Khâm Phục lòng Khí khái Sự Quyết tâm Vị Giáo Sư kiêu hùng Đã tra tay cầm cày không nhìn lại Ông đã nguyền dù chết không sợ hãi Câu “Tự Do Tôn Giáo hay là chết” Của Linh Mục Nguyễn văn Lý trước đây Bị tù tội gông cùm bao nhiêu ngày Phải biệt giam thật vô cùng gian khổ Nhưng không thể ai dẹp được ý chí Ông Đấu tranh liên lỹ và Kiên cường Vì Tự Do Tôn Giáo của Quê Hương Bất chấp mọi hình khổ hay tù tội Phan văn Lợi , Linh Mục này dứt khoát Ngài Tranh đấu đòi Hành đạo Tự Do Họ muốn đem tôi giam đâu cứ việc Đùm khăn gói đồ cá nhân sẳn chờ Không sợ hãi vũ khí sắc bén nhất Làm kẻ thù Cộng sản sẽ đổi thay Các nhà Dân Chủ họ khí khái hôm nay Đổi mạng sống vì Tự Do- Dân Chủ Cao Trí Dũng

 

Ý NGHĨA MÀU ÁO TRẮNG (Xin gởi về quê hương và dân tộc Việt Nam với niềm tin quang phục) Đã là người, ai mà không tình cảm Tình cảm Quê hương, thân tộc, bạn bè Tình thiêng ấy nếu bị đời xúc phạm Người sẽ thấy lòng đau đớn, tái tê Trong đau khổ, có người quì, vuốt mặt Nhưng có ngươì dũng cảm đứng vùng lên Bởi máu họ, máu hào hùng, bất khuất Thà chết vinh hơn sống nhục gông xiềng Đã là người, ai không mong được sống Sống cuộc an lành, hạnh phúc, ấm no Được học, được nhìn, trời cao, biển rộng Được hưởng công bình, dân chủ, tự do ! Những quyền ấy, quyền làm người, căn bản (Dù có khác nhau ngôi vị nghèo, giàu) Nếu ai cướp hay manh tâm thủ đoạn Ta phải đứng lên, đối mặt, đương đầu Nhưng ta đứng lên không cần bạo động Chỉ mặc một màu ÁO TRẮNG TINH KHÔI Bởi MÀU TRẮNG thiêng liêng từng ý sống Màu trong lành, mẹ ủ thuở nằm nôi Và MÀU TRẮNG cũng đưa ta về đất Đem ta vào miên viễn với thiên thu Nên màu trắng là màu cao quí nhất Tinh khiết, thanh cao, không hận, không thù Bởi trong sạch nên tượng trưng công lý Cho Tự Do, cho Dân Chủ, Công bằng Và màu trắng còn hàm bao thiện chí Của tình ngươì trong thế giới văn minh Ta hãy mặc cho ta MÀU ÁO TRẮNG Mỗi tháng hai ngày, Mồng Một, Mười Lăm Là ta đã thét lên trong thầm lặng Đòi lại Tự Do, Dân Chủ, Công Bằng Ngô Minh Hằng RỪNG NGƯỜI ÁO TRẮNG (Gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam - riêng tặng những chiến sĩ đang thật sự dấn thân trong công cuộc đòi tự do, dân chủ cho dân nước ) Hãy tưởng tượng một RỪNG NGƯỜI ÁO TRẮNG Đang cư tang vì sông núi đau buồn Màu tang trắng, màu ĐẤU TRANH THẦM LẶNG Điểm mặt độc tài, giải phóng quê hương Hãy tưởng tượng từ nhánh cây, ngọn cỏ Từ chiếc xe, con phố chợ, đường làng Đều có chít một vành tang trắng nhỏ Nhưng lớn vô cùng, chấn động rền vang ... Hãy tưởng tượng nhà tù rồi vỡ nát Cho nhà thương, trường học, mái nhiều hơn Hãy tưởng tượng lửa thiêu tàn sa mạc Nhưng rừng cây CHÍNH KHÍ vẫn xanh rờn Hãy tưởng tượng lâu đài ma sập xuống Và tan hoang trong muôn tiếng reo mừng Hãy tưởng tượng cờ Vàng bay khắp nước Người vui bên người, mắt lệ rưng rưng ... Hãy tưởng tượng, nhà dân, dân sẽ ở Không sợ người quy hoạch, cướp tinh vi Hãy tưởng tượng một ngôi sao máu đỏ Vỡ tan tành sóng bạc cuốn trôi đi Hãy tưởng tượng ta nói điều ta nghĩ Không sợ vu oan, phản động, nhốt tù Tai chẳng phải nghe những điều phi lý Mắt hết nhìn nhau nghi hoặc, oán thù.. Hãy tưởng tượng một RỪNG NGƯỜI ÁO TRẮNG Đi giữa quê hương HÀ NỘI - SÀI GÒN Hãy tưởng tượng bình minh ngời ngũ sắc Tô điểm đất trời, rực rỡ nước non Tưởng tượng đó sẽ trở thành sự thật Sự thật tất nhiên, sự thật oai hùng Bởi MÀU TRẮNG, màu quật cường bất khuất Vì công bằng mà diệt bạo, trừ hung Bền lòng nhé, hỡi anh em, hỡi chị Hỡi toàn dân, mau dựng một phong trào Vì chính nghĩa, đập tan guồng thống trị Vì tương lai, xin ngước mặt, tự hào Ngô Minh Hằng

 

Tôi bàng hoàng xúc động thật lâu khi nhận được điện thoại của một người bạn học gọi từ Pennsylvania báo tin thầy cũ của chúng tôi là thầy N. mới từ Việt Nam qua Mỹ du lịch và thầy rất mong được gặp lại tôi. Thầy tôi đang ở nhà của một người cháu ở vùng Tây Nam tiểu bang Virginia , cách nhà tôi gần 3 giờ lái xe. Tôi gọi điện thoại xuống để chào thầy và hẹn cuối tuần sẽ xuống đón thầy về nhà nhưng thầy bảo cứ để thầy đi xe lửa lên Hoa Thịnh Đốn rồi đón thầy ở nhà ga, và“đó là mệnh lệnh” nên tôi đành phải vâng lời. Sau khi nói chuyện điện thoại với thầy, tôi đã ngồi thẫn thờ cả tiếng đồng hồ tưởng nhớ lại kỷ niệm hơn bốn năm về trước, lúc trở về Việt Nam thăm gia đình, tôi đã hỏi thăm và tìm cách đến thăm Thầy sau gần 30 năm cách biệt. Nếu không có một người bạn học dẫn tới, chắc chắn tôi không thể nào nhận ra thầy cũ của mình... Tôi chỉ nấc lên được một tiếng “thầy” rồi ôm chầm lấy thầy mà khóc òa trong tức tưởi! Thầy tôi đó, một ông lão gầy gò ốm yếu, tóc chỉ còn lơ thơ vài sợi trắng như tuyết, và vẫn chưa được “trả quyền công dân” sau bao nhiêu năm bị tù đày vì đã làm thầy của bao nhiêu người “quyền cao chức trọng” trước năm 1975. Thầy tôi chỉ là một nhà giáo dạy trường tư nhưng đã bị giam cầm và quản chế lâu hơn rất nhiều sĩ quan và công chức khác vì lúc nào thầy cũng “ngẩng cao đầu và đứng thẳng lưng” để không mất đi tư cách của một nhà giáo. Thầy tôi đã quyết định không đi Mỹ theo diện đoàn tụ, cũng chẳng nộp đơn theo diện H.O. , chỉ muốn đi du lịch một lần cho biết trước khi về với ông bà tổ tiên. Sáng Thứ Bảy tôi thức dậy rất trễ vì tối hôm trước ngồi chuyện trò với thầy mãi tới gần 2 giờ sáng mới đi ngủ. Vừa bước xuống nhà tôi đã thấy thầy đang ngồi uống trà vàđọc báo ở phòng khách. Nghe tôi chào, thầy tháo cặp kiếng lão rồi nói: - Đúng là “đi một ngày đàng học một sàng khôn” con ạ.? Mới đọc vài tờ báo đã học được nhiều chuyện hay về đời sống của người Việt mình bên Mỹ… Con uống trà hay cà phê? Vợ con đã để sẵn phích nước sôi, hộp trà, và càphê trên bàn. Chắc thầy làm ồn nên con giật mình hả? - Dạ không ạ. Bình thường con dậy sớm lắm. Thầy dậy lâu chưa ạ? - Mỗi đêm thầy ngủ có vài ba tiếng thôi. Con mệt cứ lên ngủ tiếp đi. - Con ngủ thẳng giấc rồi thầy ạ. Để con pha vội ly cà phê rồi chở thầy ra Eden chơi. Gần 10 giờ sáng rồi, thầy trò mình ra trễ khó tìm chỗ đậu xe lắm... Buổi chiều vợ chồng con vàcác cháu sẽ đưa thầy lên DC chụp hình và thăm NhàTrắng, Quốc Hội, Tháp Bút Chì, Viện Bảo Tàng và những đài kỷ niệm khác. - Tuỳ con. Nhưng thầy không muốn gia đình con phát bịnh vì phải lo tiếp đãi thầy. * * * * * Trong lúc chờ vắng xe để quẹo trái vào “Cổng Tam Quan” trước trung tâm Eden , thầy tôi hỏi lớn: - Đường này họ đặt tên là “Đại Lộ Sàigòn” hả con? - Dạ. Hồi đầu năm Thành Phố Falls Church cho phép cộng đồng Việt Nam để thêm tên “ Saigon Boulevard ” song song với tên đường chính thức là “ Wilson Boulevard ”. Còn bên trong khu Eden , tất cả các đường ngang dọc đều mang tên Việt Nam hết đó thầy. - Người Việt mình bên này hay thật! - Mai mốt thầy sang California hay Texas sẽ thấy nhiều trung tâm lớn hơn Eden nữa, và sinh hoạt người Việt dưới đó còn mạnh gấp mấy lần trên này thầy ạ. Tôi vừa quẹo xe vào cổng, thầy tôi đã nghẹn ngào thốt lên: - Ôi! Đẹp quá. Lá cờ… Lá Cờ Vàng… Ôi! Mấy chục năm rồi… Con nhớ chụp cho thầy mấy tấm hình dưới cột cờ nhé. - Dạ… Mà thầy không sợ gặp rắc rối lúc trở về Việt Nam sao?? Mấy người “du lịch” khác họ sợ liên luỵ lắm nên… - Ăn thua chi con. Ai sao kệ họ. Phần thầy đã nếm đủ rồi, chẳng có gì phải sợ hãi! Con lái xe tới gần chỗ cột cờ đi. - Dạ… nhưng phải đứng xa xa mới chụp được thầy ạ. Cây cột cờ cao quá. - Ừ nhỉ. Mà con nhớ chờ lúc gió nó bay bay rồi mới chụp cho đẹp nhé. Nhìn hai lá cờ Việt – Mỹ tung bay trong gió màthấy lòng quặn đau con ạ.? Ôi! Mấy chục năm rồi! Tôi nghe giọng thầy nghèn nghẹn như không muốn thoát ra khỏi đầu môi. Tôi biết thầy mình đang xúc động lắm. Hình như đôi mắt của thầy cũng long lanh ngấn lệ… Sau khi chụp mấy tấm hình với nhiều góc độ khác nhau, thầy cầm tay tôi nói nhỏ: - Con đi với thầy tới chỗ cột cờ nhé. - Dạ. Tôi theo thầy đến bên cột cờ. Thầy tôi trịnh trọng đưa tay sờ vào cột cờ như một cái gì linh thiêng lắm, rồi từ từ ngửa mặt, nheo mắt ngắm hai lá cờ đang tung bay phần phật dưới nắng ban mai. Mãi một lúc lâu thầy mới quay lại thầm thì bên tai tôi: - Thầy trò mình đứng im cầu xin cho những người đã hy sinh bỏ mình vì quê hương con nhé. - Dạ. Một phút mặc niệm phải không thầy? - Đúng. Đã có hàng trăm, hàng ngàn người bỏ mình dưới Lá Cờ này đó, con còn nhớ không? Ta bắt đầu cầu nguyện cho họ nhé. - Dạ. Sau mấy phút im lặng dưới cột cờ, tôi nhận ra sự thay đổi khác thường trên khuôn mặt già nua vì tuổi tác của thầy.? Tôi biết biết chắc chắn đằng sau đôi mắt u uẩn đau buồn của thầy còn chất chứa bao nhiêu tâm sự không biết giãi bày cùng ai. Tôi đưa thầy dạo qua một vài cửa tiệm nhưng thầy tôi cứ lững thững đi theo như một kẻ mất hồn! Tôi dừng lại bên “quầy báo” trước cửa tiệm Phở Xe Lửa. Mặc dầu “người bán báo” hôm nay không phải là “chú thương phế binh” quen biết nhưng tôi cũng lên tiếng theo thói quen: - Chú cho cháu xin mỗi thứ một tờ. - Có ngay. Có ngay. 15 Đô tất cả. Thầy cầm tay tôi giặc giặc: - Ở nhà có mấy tờ Hoa Thịnh Đốn, Phố Nhỏ… rồi đó con. Sáng nay thầy đã đọc. - Dạ. Không sao thầy ạ. Con mua ủng hộ các chú gây “quỹ thương phế binh”. - Ồ. Quý hóa quá! Chờ lúc tôi nhận lại tiền thối và xếp báo xong xuôi, thầy tôi trao cho “chú bán báo” tờ giấy 5 Đô và nói nhỏ: - Ông cho tôi góp mấy đồng nhé. - Dạ… Dạ… Cám ơn. Xin lỗi ông đây là… Tôi đỡ lời: - Thưa chú đây là thầy cũ của cháu mới từ Việt Nam qua chơi. Không để tôi nói thêm, thầy tôi lên tiếng: - Tình chiến hữu! Tình chiến hữu! Đẹp thật! Đẹp thật! Các ông làm hay quá. Rồi quay sang tôi, thầy tiếp tục: - Con chụp cho thầy một tấm hình với ông anh đây. Con chụp cẩn thận để lấy hết hình cái sạp báo nhé. - Dạ. Không biết thầy tôi và “ông bạn mới” to nhỏ những gì mà chú ấy phải chạy nhờ người trông dùm sạp báo để đi theo thầy tôi chụp chung một số hình dưới “sân cờ” với những nụ cười thật rạng rỡ trên khuôn mặt của cả hai người. Sau đó, thầy tôi nhất định không chịu vào tiệm ăn sáng, cứ nằng nặc bắt tôi chở về nhà để đọc báo và “con đi in ngay cho thầy mấy tấm hình!” Cũng may vợ vàcác con tôi đã dậy, và đang chuẩn bị bữa trưa trước khi chở thầy đi thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn. * * * * * Thầy kính yêu, Bao nhiêu năm ở Mỹ, hầu như tuần nào con cũng ghé Eden , và đã hơn một lần con đậu xe sát bên cột cờ, nhưng chưa bao giờ con xúc động như mấy phút cùng thầy cầu nguyện dưới cột cờ buổi sáng hôm đó. Đúng như cha ông đã nói — “không thầy đố mầy làm nên” — con đã quên mất ý nghĩa linh thiêng của Lá Cờ nếu như con không được một lần chứng kiến “cảnh đoàn viên” của thầy và Lá Cờ Vàng ở Eden sau bao nhiêu năm cách biệt. Mãi mãi con vẫn là đứa học trò bé nhỏ của thầy. Thầy không những đã dạy con qua sách vở và bài giảng mà còn qua chính gương sống của thầy. Con cầu xin để bài học về “Lá Cờ” không phải là bài học cuối cùng thầy dạy cho con.

 

“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ, Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong, Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng, Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin … bất diệt.” (*) Đủ rồi, Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Cho dân nghèo được biết cơm no. Ba mươi năm “làm chủ” trọn cõi bờ, Dân vẫn chết vì cưa bom đổi gạo! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,..... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Cho bé thơ được biết ngày mai, Cho đêm đêm em mơ đẹp mộng đời, Không chỉ mơ thấy “Bác Hồ” tóc bạc! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,..... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Cho thanh niên được biết tự do, Tung cánh bay cao vượt mọi cõi bờ, Đừng chôn họ trong chiếc hòm Mác-Lê cứng nhắc! span style="color:red; font-weight:bold">“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,.... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Đừng ngày đêm tiêu diệt luân thường, Đừng bôi đen, bóp méo chữ “yêu thương” Bằng gian dối, bằng mưu mô quỷ quyệt! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,.... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Cho dân tôi được ăn nói tự do. Sáu mươi năm theo Đảng nói mò, Báo chí,truyền thông tệ 100 lần hơn thời Phápthuộc! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,.... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Đừng xua dân vào kiếp lao nô, Nơi xứ người, thân cực, thế cô, Đảng ngoảnh mặt tợ hồ không biết! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ....., Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Đừng bán dân vào kiếp “cô dâu”, Nô lệ dục tình, khổ nhục ngập đầu… Đảng nhẫn tâm tiền lời bỏ túi! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,..... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Cởi trói cho tôn giáo, tín đồ, Đừng gian trá, lươn lẹo, mưu mô, Dùng tôn giáo như là thuốc phiện! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,..... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Đừng cấu kết nhau vơ vét, tham ô, Tàn hại rừng ranh, cạn kiệt sông hồ, Cắt đất biển dâng cho Tàu cộng! “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,..... Đủ rồi! Thôi xin Đảng hãy ngừng tay giết! Tự biết mình bất lực, hại dân, Tàn phá quê hương, vật chất tinh thần… Mà bước xuống cho dân tôi vươn dậy! Boston, ngày 25 tháng 8 năm 2006 Bác Sĩ Sebastian Lê văn Thành CHÚ THÍCH: (*) Thơ Tố Hữu. Bài này được đọc đi đọc lại trên các đài phát thanh và các loa phóng thanh trên toàn Miền Bắc vào thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất đẫm máu cuả thập niên 1950, trong đó hàng trăm ngàn người dân vô tội bị giết oan hay bị tù tội khổ sai… Trong suốt chiều dài lịch sử cuả nước ta, đã có nhiều kẻ phản bội quê hương, bán nước cho giặc, nhưng chưa từng có ai công khai hô hào giết dân mình để thờ các lãnh tụ ngoại bang như Hồ Chí Minh và Đảng CSVN. Ngày nay, tuy không công khai hô hào giết dân như vậy nữa, nhưng Đảng CS, với chủ trương bám chặt lý thuyết Mác-Lênin, coi đó là “đỉnh cao cuả trí tuệ loài người”, vẫn ngấm ngầm tiêu diệt dân ta, tàn hại đất nước bằng cách bóp nghẹt tự do, dân chủ , triệt hạ mọi giá trị tinh thần và luân lý, chà đạp nhân phẩm cuả phụ nữ, tàn phá tương lai cuả thiếu nhi, tham ô, lươn lẹo, để vơ vét tài nguyên cuả đất nước.

 

(Xin gởi đến quí bạn đọc và thân hữu một chuyện ngắn mới viết. Ý chính (main idea) là một câu chuyện có thật xẩy ra trong gia đình một người bạn của người viết. Người viết chỉ thêm mắm thêm muối (fictionalize) tình tiết thành một chuyện kể để hấp dẫn người đọc thôi. Mong rằng quí bạn đọc và thân hữu mua vui được trong chốc lát. Thành thật cám ơn) BÀ CỐ Bà Chiến dắt díu ba đứa con, hai trai một gái, theo dòng người xuôi Nam trong phong trào tự phát “Nam ra nhận họ, Bắc vô nhận hàng” sau ngày con sông Bến Hải được dán liền lại bằng một mảnh giẻ mầu máu tươi đỏ lòm. Ba đứa con bà nay đã khôn lớn. Thằng Tiến, con trai cả đi bộ đội bị thương, đã được phục viên. Cứ vài ba tuần mới thấy nó về nhà một lần, tụ tập bạn bè ăn nhậu, rồi lại đi biền biệt. Bà Chiến chẳng biết nó đi đâu. Bà hỏi, nó trả lời cụt ngủn: đi làm ăn. Chỉ có thế. Đứa con gái út tên Lan cũng gần như anh nó. Nó cũng đi, nhưng chỉ đi ban đêm. Ban ngày nó ở nhà. Công việc duy nhất ở nhà của nó là ngủ. Nó đúng là một chiếc đồng hồ người. Chiều nào cũng thế, nó ra khỏi nhà đúng vào lúc đèn đường bật sáng, và trở về sáng hôm sau khi người đưa thơ đến từng nhà khoảng 10 giờ, bắt đầu giờ ngủ của nó. Hai đứa con này hầu như không ăn cơm ở nhà bao giờ nên bà Chiến được rảnh. Một mình bà ăn uống sao cũng được. Còn người con trai thứ, thầy Sáu Hóa, thì đã đi tu từ mấy năm nay, được Nhà Chung nuôi. Nhưng từ hơn một tuần nay bà Chiến trở nên bận rộn vì có thầy Sáu Hóa ở nhà. Trong thời gian chờ đợi để được thụ phong linh mục, đức giám mục địa phận cho thầy Sáu về nhà ở với mẹ. Vì thế, bà phải lo cơm nước, giặt giũ, và làm những công việc lặt vặt mỗi khi thầy Sáu cần. Việc thầy Sáu cần cấp bách bây giờ là làm sao kiếm cho ra đủ số tiền mà mụ chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc đòi để thông qua vấn đề cho phép thầy được chịu chức. Vấn đề này mẹ con thầy đã bàn qua tính lại nhiều lần, nhưng chưa tìm ra được giải pháp. Bà Chiến nhất định thúc con phải tìm ra cho bằng được. Lan đi cả đêm như thường lệ. Sáng nay không hiểu sao nó lại mò về sớm. Nó vừa thò đầu vào trong nhà thì bà Chiến đã chộp lấy liền, hạch sách: - Bây giờ mới thấy mặt. Ngủ đâu? Sao dậy trễ thế? - Tại má thức sớm lại bảo con dậy trễ. – Con Lan trả lời mẹ. Thế là huề. Bà Chiến chẳng mấy khi giáp mặt con, bà muốn kiếm dịp để dậy bảo con gái cho bớt tính phóng túng bừa bã đi, nhưng xem chừng bà phải chịu thua ngay hiệp đầu. Không đấu lại được con gái, bà kiếm cớ để đuổi nó đi: - Mày lên lầu mời thầy Sáu xuống ăn sáng. Đồ ăn nguội hết rồi. Con Lan nghe nói “mời thầy Sáu” nó không phản đối, nhưng nhăn mặt hí một cái thật dài rồi chạy lạch bạch lên lầu, chõ miệng vào phòng thầy Sáu Hóa nói lớn: - Anh xuống ăn sáng, má làm xong rồi kìa. Thầy Sáu Hóa đi xuống, ngồi vào bàn ăn. Bà Chiến lại đem chuyện ra bàn. Bà hỏi thầy: - Việc này rồi thầy tính sao đây? - Tùy má thôi chứ con biết tính sao bây giờ. - Thầy Hóa trả lời mẹ. - Việc của thầy mà thầy bảo tùy má là tùy thế nào? Nghe giọng điệu giận hờn của mẹ, thầy Hóa đâm hoảng, đánh bạo thưa: - Thôi hay là con xin đức cha cho phép chờ cho đến khi nào có tiền thì hãy truyền chức. Bà Chiến nghe giận quá ngồi im một đống. Một lúc lâu sau thầy Sáu lại rụt rè nêu sáng kiến mới với mẹ: - Hay mẹ cầm tạm căn nhà này đi. Có được không? Ngược lại thì bây giờ người đâm hoảng lại chính là bà Chiến. Không phải bà không nghĩ đến giải pháp con bà vừa đề nghị, nhưng thực tế là bà thấy việc này không thể được. Cầm nhà thì dễ rồi, nhưng tiền đâu để trả lời hàng tháng. Ba tháng thôi không trả đủ thì ngôi biệt thự kể như mất toi. Thầy Hóa không hiểu chuyện đời nên nói liều. Bà không trách. Nhưng còn ý kiến hoãn chịu chức? Bà lo việc này mà hoãn thì bao nhiêu công lao của bà sợ phải đổ sông đổ biển hết. Trước hết là đối với thành ủy. Quyền hành nằm trong tay nó. Nó tưởng mình dở trò gạt nó thì sức mấy mà nó để yên. Nó cho ngâm tôm luôn thì làm gì được nó. Bà đã có kinh nghiệm đầy mình với tụi này rồi. Nó gạt người ta thì được chứ không bao giờ chịu để người khác gạt mình. Còn vấn đề nữa bà không thể không nghĩ tới. Tuy rằng chưa gởi thiệp báo chính thức, nhưng các chỗ quen biết xa gần đã được bà báo miệng trước cả rồi. Bây giờ biết ăn nói sao với người ta. Ai biết hoãn vì lý do gì. Rồi thì trăm điều trăm chuyện người ta dựng đứng lên. Chuyện nào cũng như là thật cả. Tốt thì chẳng thấy, nhưng xấu thì chắc chắn không thiếu. Mặt mũi bà còn để vào đâu. Nhưng cái quan trọng nhất vẫn là bà Chiến sợ thầy Sáu nản chí phá ngang thì công của bà từ trước tới nay sẽ là công dã tràng. Trước kia bà đã từng nói với Hóa: Con là cái gậy chống của má lúc má về già. Trong ba đứa con của bà, Hóa là đứa bà tin tưởng nhất. Bà nhất định phải vạch cho nó một con đường đi, hướng dẫn nó để sau này bà có thể nương nhờ vào nó. Thằng con lớn là Tiến có tài làm ra tiền, nhưng qúa liều lĩnh, sống rất bạt mạng. Bao nhiêu lần bà Chiến suýt đứng tim vì hành động bán trời của thằng con này. Ngược lại, Lan con gái út của bà không làm ra được đồng cắc bạc nhưng xài tiền thì lại cực giỏi. Bọc tiền của bà cất giấu ở đâu nó cũng mò ra để chôm chĩa. Hóa thì không thế. Nó luôn quanh quẩn ở bên cạnh mẹ. Học không giỏi nhưng được cái chịu khó. Đó là niềm hy vọng còn lại của bà Chiến. Bà bôn ba từ Bắc vô Nam cũng vì tương lai của con cái. Bí mật lớn của gia đình vợ chồng bà Chiến là có một người em làm sĩ quan nhẩy dù của chế độ miền Nam. Ông Chiến là bộ đội phòng không bảo vệ Hànội chết vì bom Mỹ. Trước khi chết ông mới tiết lộ cho vợ biết. Vì thế ngay sau khi Saigon thất thủ, bà vội vàng dắt díu ba đứa con vô Saigon tìm em chồng. Trong cảnh hỗn loạn của tình hình lúc đó, bà chẳng thể nào tìm lại được người thân. Bà đành dắt con ra nương tựa ông cha xứ của một họ đạo gần khu Bà Quẹo. Ông cha xứ cho bà một giải đất trống bên bờ một con lạch. Giáo dân trong họ đạo có lòng tốt dựng lên cho mẹ con bà một mái tranh để che nắng che mưa. Bà chẳng có nghề ngỗng gì nhưng được cái cần cù và chịu khó. Bà biến con lạch thành một khu trồng rau muống nước. Vào lúc mà rau muống và củ mì là hai món cao lương của mọi gia đình thì bà Chiến đúng là nhà kinh doanh có tài tiếp cận thị trường. Sau ít năm bà bỏ ống được một số vốn. Bà sang được một miếng đất chó ỉa trên đường Trương Minh Giảng cũ, gần lăng Cha Cả. Chuyện này cũng phải nói là nhờ thằng Tiến con bà. Thằng Tiến lúc này đã đi bộ đội. Nó chỉ là tên lính quèn, nhưng nó đóng quân hàm đại úy mang khẩu súng lục ngang hông dẫn mẹ đến phường thương lượng chuyện sang đất. Trong lúc cả miền Nam còn đang hoảng hồn co cụm lại, bọn phường khóm người Nam thấy ông đại úy oai phong đi cùng với bà mẹ thuộc diện gia đình liệt sĩ nói năng gì thì cũng răm rắp làm theo. Bà Chiến dúi cho bọn “cách mạng 30” đó mớ bạc giấy nói rằng để các chú uống cà phê, chúng còn cám ơn rối rít. Bà Chiến xây dựng được thành một ngôi biệt thự như hiện nay cũng phải mất năm bẩy năm trời. Cọc sắt và xi-măng thì “đại úy” Tiến rinh về. Nhân công thì vài ba thằng bạn công binh của Tiến rỉ rả làm từ từ, vật liệu có đến đâu làm đến đó. Nhưng cũng có nhiều thứ vật liệu phải mua sắm và khi cần phải có nhiều nhân công biết việc. Công đoan đó đòi hỏi phải có tiền. Cũng lại do sáng kiến liều mạng của thằng Tiến. Nó lại mang quân hàm đại úy với khẩu súng ngang hông, bỏ túi theo tờ chứng từ làm chủ miếng đất do phường cấp và bằng liệt sĩ ra ngân hàng để vay tiền. Chuyện này thì dễ dàng thôi. Nhà băng thấy có miếng giấy đất thế chấp nên mượn bao nhiêu cũng được. Việc hoàn trả ngân hàng thì đó là chuyện về sau. Từ khi thầy Hóa có bà mẹ nuôi bên Mỹ thì bà Chiến đã có tiền từ từ trả cho nhà băng. Cơ ngươi đó bà thật sự không trông mong gì thằng Tiến và con Lan giữ được. Giữ được ngày nào hay ngày đó thôi. Còn tương lai bà, bà Chiến đã tính cột chặt vào với người con trai thứ là thầy Hóa. Bà cố gắng cho Hóa ăn học. Bôn ba từ Bắc vô Nam dưới chế độ này, bà nghiệm ra được một điều là không phải con dòng cháu giống trong đảng thì không bao giờ ngóc đầu lên được. Cho rằng Hóa có đậu được bằng cấp đi chăng nữa thì cũng chỉ làm đầy tớ cho thiên hạ. Mà ra trường đã dễ gì kiếm được việc làm. Vì thế bà cần tìm một lối thoát vững chắc cho mẹ con bà. Lối thoát đó là cho Hóa đi tu làm ông cha. Đối với bà, tại Việt Nam không có cái nghề nào danh gía, nhàn hạ, vững chắc và sướng cái thân cho bằng làm nghề ông cha xứ. Nếu cao hơn nữa thì lại càng cao danh giá và ấm thân hơn. Trước mắt là học lên đại học, tiền bạc gia đình không phải lo. Thời buổi này cha mẹ lo cho con học mẫu giáo cũng đã muốn khùng rồi, nói gì đến học lên đại học. Học xong làm ông cha trông coi một họ đạo, mọi việc chỉ cần đứng chỉ tay năm ngón. Ông cha sai bảo ai dám không nghe. Cả ngày chỉ có việc sáng dậy làm lễ. Ăn có người hầu. Mặc có người lo. Ở nhà cao cửa rộng. Đám cưới, đám ma, đám gì cũng có tiền, chưa kể đến quà cáp biếu xén. Cần tiền đi Mỹ một chuyến là xài mệt nghỉ. Nhu cầu linh mục thì nhiều mà số người tình nguyện ít, nên không bao giờ bị thất nghiệp. Cán bộ đảng có khi còn lo mất chức chứ ông cha xứ thì không. Vấn đề kỷ luật trong giáo hội hiện nay xem ra cũng dễ dãi hơn trước kia nhiều. Ông cha có bồ có bịch không thiếu, thậm chí có cả vợ con đùm đề như cha Phan Khắc Từ cũng không thấy bề trên nào phiền trách. Thầy Sáu sau này làm cha rủi có sai quấy gì cũng không phải là điều đáng lo ngại đối với bà Chiến. Ngày trước thì chắc chắn là không được rồi. Làm ông cha xứ, điều đáng quan ngại nhất là cách thức phải đối phó với chính quyền để được sống yên ổn. Có nhiều linh mục ngoài Bắc cũng như trong Nam đi tù không có ngày về. Có vị chết trong tù. Bà chiến rất sợ chuyện đó sẽ xẩy đến cho con bà sau này. Nhưng được cái là bây giờ cũng đã khác rồi, may mắn là các đức cha đã sáng suốt tìm ra và chỉ dậy cho các linh mục cũng như giáo dân cách thức để được sống an toàn trong thời buổi khó khăn này. Sự chỉ dậy của đức cha địa phận và cả của cha xứ của bà rất thực tế và các ngài còn là mẫu mực để con chiên bổn đạo bắt chước. Chủ yếu là phải sống Phúc Âm ngay chính giữa lòng dân tộc mà không ở một chỗ nào khác. Điều này thì bà Chiến đã hiểu rõ. Ngay từ hồi còn ngồi bệt dưới đất học i-tờ ngoài Hànội, bà Chiến đã được học đảng là giai cấp công nhân, mà giai cấp công nhân là dân tộc Việt Nam, vậy đảng ta chính là dân tộc VN. Vì vậy sống trong lòng dân tộc có nghĩa là sống trong lòng bàn tay của đảng. Giản dị có vậy thôi. Cái thứ lý luận tam đoạn gian manh này ứng dụng vào thực hành là muốn cho được tốt đạo đẹp đời thì không gì hơn là thực hành lối sống đạo theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là chỉ cần tuân theo mọi đường lối chính sách của đảng và nhà nước là xong. Không có gì rắc rối cả. Những hiểu biết trên bà Chiến đã đem ra truyền thụ dần dần cho con trai. Thầy Sáu Hóa luôn tỏ ra là người mau tiếp thu. Còn một điều bà suy nghĩ mà không nói ra với con là sau này khi Hóa làm linh mục thì tất nhiên bà sẽ là bà cố, mẹ ông cha. Bà sẽ có địa vị trong cộng đoàn giáo xứ. Ông cha xứ cũng phải trọng nể bà. Giáo dân gặp bà cố ai nấy đều cung kính chào hỏi. Các buổi hội họp bà cố có chỗ ngồi đặc biệt. Tóm lại, bà sẽ không còn là người bị bỏ quên như trước đây nữa. Trường hợp bà theo con đến giáo xứ nào thì tất nhiên bà cố cũng được đối xử như ông cha. Vấn đề nó là như thế. Nếu thầy Hóa mà làm hỏng việc này thì thật là uổng công cả đời của bà. Trong tình thế này, bà Chiến cảm thấy không thể nông nổi. Bà cần phải mền dẻo với con mới xong. Bà nhỏ nhẹ giải thích với thầy Sáu: - Những sáng kiến của thầy má đều đã nghĩ tới, nhưng không được đâu. - Vậy má tính sao xin cho con biết. - Thầy Hóa xuống nước. Bà Chiến đã tính cả rồi nhưng bà vẫn muốn thăm dò tình hình trước, bà nói: - Hay là thầy thử lại viết thư sang Mỹ xem. Thầy Hóa ái ngại trả lời mẹ: - Nhưng mà người ta mới gởi về cho con đây mà. - Má biết thế. Má cũng thấy ngại lắm, nhưng hoàn cảnh đặc biệt chắc người ta cũng thông cảm. Thầy cứ viết thư thử coi. Nói là lần cuối cùng và chỉ dám mượn đỡ thôi. Má hứa với con má không dám bắt con làm phiền người ta lần khác nữa đâu. Thầy Hóa không còn dám có ý kiến gì khác. Ăn sáng xong, thầy lên phòng viết thư và bà Chiến đem ra bưu điện gởi đi ngay trong ngày. Ba ngày sau, cụ Nghị ở bên Mỹ nhận được thơ của thầy Hóa. Cụ cảm thấy lo lắng và thương thầy Hóa quá đỗi. May mà tiền cụ đã có sẵn. Cụ thu xếp đi gởi về cho thầy Hóa liền. Cụ Nghị sửa soạn xong, bước ra khỏi phòng, rồi đi thẳng xuống bếp. Bếp núc vắng tanh. Cụ lẩm bẩm một mình: Quái lạ, nó đi đâu rồi, đang làm bếp mà? Cụ lại trở lên các phòng, dáo dác đi tìm, vừa đi vừa cằn nhằn: Thế này thì trễ mất thôi, cần gấp lắm mà. Vẫn không thấy ai, cụ hé mở cửa sau, gọi với ra: - Con Minh đâu, có ngoài ấy không? Có tiếng con gái vọng vào: - Vô liền. Vô liền. Thấy Minh trở vào, tay cầm mấy trái táo vừa mới hái, cụ Nghị bảo con: - Mày chở mẹ ra chợ một chút liền có được không? - Gì mà gấp thế? - Tao có chuyện cần. - Mẹ mua sắm gì mà phải đi chợ? Cần gì nói con mua cho. Gìa rồi không ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe, tới lui hoài chi cho mệt. Nói vậy thôi chứ Minh vẫn chiều ý mẹ. Nàng chỉ lấy tay vuốt lại mớ tóc, sửa sơ lại bộ đồ trên người, rồi dìu mẹ ra xe. Nàng cẩn thận đặt mẹ ngồi lên ghế, cột giây seat-belt, đóng cửa lại, về ghế ngồi rồi mở máy. Trước khi cho xe chạy, nàng hỏi mẹ: - Đi chợ nào đây? - Thì đi chợ Senter chứ còn chợ nào nữa. 10 phút sau, hai mẹ con ra tới chợ. Cụ Nghị nói với con: - Thả mẹ xuống đây rồi về nhà hay có đi đâu thì đi. Chừng nửa giờ sau trở lại đón mẹ được rồi. Một thái độ khả nghi. Chưa bao giờ xẩy ra như thế. Minh thắc mắc trong đầu nhưng vẫn làm bộ như không nghi ngờ gì cả. Nàng ngừng xe trước cửa chợ. Đỡ mẹ xuống rồi lên xe phóng đi. Chạy xe vòng vòng chừng mươi phút, Minh quay trở lại chợ. Nàng đậu xe ở đàng xa rồi kiếm một chỗ khuất để quan sát. Một lúc sau nàng nhìn thấy mẹ. Cụ Nghị không từ trong chợ bước ra, mà từ một văn phòng chuyển tiền về Việt Nam ở gần đó. Minh vội vàng chạy đến đón đầu mẹ, cau mặt hỏi: - Mẹ đi đâu đây, sao nói đi chợ? Cụ Nghị như đứa trẻ ăn vụng bị bắt tại trận, ú ớ trả lời con: - Ờ thì tao đi chợ rồi ghé đây một chút hỏi thăm….. - Thôi mẹ đừng nói dóc nữa. Mẹ lại gởi tiền nữa phải không? Gởi cho ai? Bao nhiêu? Đưa receipt con coi. Mẹ nàng lúng túng ra mặt, không dám đưa receipt cho con. Minh vẫn còn biết tế nhị, không muốn làm mất mặt mẹ giữa đám đông. Nàng kéo mẹ ra xe, vừa đi nàng vừa hăm he: - Thôi lên xe con sẽ nói chuyện với mẹ sau. Nói thế chứ trên đường về Minh chẳng nói gì. Còn mẹ nàng thì ngồi im thin thít. Không khí thật nặng nề. Mãi đến chiều, Đông, anh của nàng đi làm về, có mặt cả ba mẹ con, nàng mới đem câu chuyện ra nói. Trước mặt mẹ và anh trai, nàng nghẹn lời nói như muốn khóc: - Con không thể chịu đựng nổi cái tình trạng này mãi được nữa. Mẹ thử suy nghĩ lại coi mẹ làm như thế có đúng không. Con nói ra thì bảo con hẹp hòi, bất hiếu. Nhưng con hết chịu đựng nổi nữa rồi. Đông không hiểu chuyện gì xẩy ra. Anh lo lắng hỏi em: - Có chuyện gì mà phải như thế? Chuyện gì? - Chuyện gì thì anh hỏi mẹ đi. – Minh hậm hực trả lời anh. Cụ Nghị đã tính giữ im lặng cho qua chuyện, nhưng rồi cụ cũng phải lên tiếng: - Có gì đâu, mẹ gởi về chút đỉnh ấy mà. - Mẹ lại gởi tiền nữa? Mẹ mới gởi hôm nào đây thôi. Hôm nay lại gởi nữa? – Đông hơi sẵng giọng với mẹ. Cụ Nghị cố lờ đi, không đả động tới số tiền mà từ tốn phân trần với các con: - Mẹ đã nói rồi. Chút đỉnh thôi chứ có nhiều nhặn gì đâu. Chuyện chẳng có đáng gì. Thầy Sáu sắp chịu chức rồi, tốn phí đủ thứ. Thầy mồ côi mồ cút thấy cũng tội nghiệp. Mẹ không lo thì ai lo cho thầy? Giúp cho thầy là giúp cho Giáo Hội, giúp cho Chúa đấy. Người ta làm cha rồi người ta cầu nguyện cho không ơn phước lắm sao? Các con phải suy nghĩ như thế chứ. Mẹ gìa rồi. Mẹ làm một chút công việc tích đức. Các con chiều mẹ một tí có được không? Minh và Đông nghe mẹ xuống nước, cũng cảm thấy tội cho me, không muốn rầy rà gì thêm. Cụ Nghi chỉ nói bấy nhiêu rồi cụ đứng lên đi khỏi. Cụ vừa bước ra cửa thì một mảnh giấy nhỏ từ trên người cụ rớt xuống thảm. Cụ không biết. Minh với nhặt lên. Thì ra là cái receipt gởi tiền. Nàng liếc mắt ngó qua, rồi đưa cho anh. Đông cầm miếng giấy đọc. Anh thở dài, mặt hơi biến sắc. Biết Minh cũng đang bàng hoàng như mình, Đông làm bộ thản nhiên vỗ vai cô em an ủi: - Thôi chuyện đã rồi. Em cũng đừng làm khó gì mẹ nữa. Mẹ cũng đã già rồi. Mọi việc để anh lo. Cứ tin tưởng anh đi. Chuyện sóng gío trong gia đình cũng như cơn bão. Gío mưa ập đến cũng mau, rồi qua đi cũng lẹ. Ồn ào một lúc, rồi gia đình lại trở lại bình thường. Đông vẫn ngày ngày đi làm. Minh vừa đi học vừa có bổn phận chăm sóc mẹ. Cụ Nghị hàng ngày đi nhà thờ đọc kinh, xem lễ. Ở nhà cụ làm công việc bếp núc hoặc lặt vặt giúp con gái. Công việc của cụ quanh năm suốt tháng chỉ có thế. Cụ không phải lo nghĩ chuyện cơm áo như hồi còn ở Việt Nam hay như những ngày đầu mới sang Mỹ. Cụ sống, ăn với con, ở với con, mỗi bữa chỉ lưng chén cơm, thức ăn có gì ăn nấy, quần áo đồ dùng có thế nào mặc thế nên chẳng tốn hao gì. Mỗi tháng Đông còn cho mẹ dăm ba trăm để cụ bỏ nhà thờ hay giúp cho những vụ quyên góp của các cha, các sơ từ Việt Nam qua. Tiền đó còn dư ra cùng với tiền già trợ cấp hàng tháng cụ gom lại để gởi về giúp cho thầy Sáu Hóa.Từ ngày còn ở Việt Nam và bây giờ sang đến Mỹ, mặc dù qua bao nhiêu sóng gío vùi dập, gia đình cụ Nghị sống rất bình thản và hạnh phúc. Tên Nghị thực ra không phải là tên của cụ, mà là chức vụ của chồng cụ ngày trước, ông Trần Quyết làm nghị viên hội đồng tỉnh. Ông nghị viên mất vì “bệnh tù” sau khi đi cải tạo về một thời gian. Lúc đó Minh mới chập chững biết đi. Đông học chưa hết cấp 3 phải bỏ học bươn chải với mẹ để sống. Gia đình cụ vì thế cũng được đi Mỹ theo diện HO. Sang đây Đông vừa đi làm vừa học. Anh cũng đã đậu được cái bằng kỹ sư. Là một chuyên viên giỏi nên chưa bao giờ Đông thất nghiệp. Đồng lương kiếm được cũng khá đầy đủ để có thể lo cho mẹ già và em gái đi học. Đã ngoài 40 rồi nhưng Đông chưa nói năng gì đến chuyện lấy vợ. Sự hy sinh bản thân của Đông là yếu tố chính giúp gia đình cụ Nghị sống thuận thảo đùm bọc nhau. Người ngoài nhìn vào ai cũng khen. Từ ngày được một hội đoàn trong giáo xứ giới thiệu, cụ Nghị nhận đỡ đầu cho một chủng sinh ở Việt Nam mới được nhận vào chủng viện. Chủng sinh này tên Hóa. Thầy Sáu Hóa lúc này đã học xong thần học năm cuối cùng và sắp được chịu chức linh mục. Cụ tỏ ra lo lắng và chăm sóc thầy Hóa có lẽ còn hơn cả con ruột. Không mấy tháng cụ không gởi tiền về cho thầy. Cụ nói để thầy giúp đỡ và lo cho người nghèo. Lần đầu tiên viết thư sang cho cụ Nghị, thầy Hóa cho biết thầy là một thanh niên mồ côi không cha, không mẹ, cũng không có anh em. Thầy học giỏi lại có chí hướng đi tu nên được cha xứ đỡ đầu và gởi vào chủng viện. Thỉnh thoảng thầy còn khoe với cụ khi thì thành lập ca đoàn cho giáo xứ này, khi thì bảo trợ cho lớp mẫu giáo tình thương ở họ đạo nọ. Những lá thư như thế đều có tác dụng đánh mạnh vào lòng đạo đức và từ tâm của cụ Nghị. Đôi khi nghe thầy Hóa phải lo những công việc to lớn và tốn kém, cụ còn quyên góp tiền bạc từ các bà trong giáo xứ mà cụ quen biết để gởi về cho thầy. Cụ nghĩ dịp lễ thụ phong và mở tay chắc thầy Hóa cũng phải tốn phí nhiều nên cụ đã chuẩn bị tiền bạc từ lâu và đã gởi về trước rồi. Nhưng đùng một cái lại nhân được thư thầy cho biết còn một chút trở ngại ở trên thành ủy, nên thầy cũng cần phải tốn phí thêm chút đỉnh. Thầy nói không biết nhờ cậy ai ngoài “mẹ cố” ở bên này. Tiếng mẹ cố nghe nó thân thiết làm sao. Danh từ này thầy Hóa mới dùng để gọi cụ Nghị lúc gần đây ngày thầy báo tin cho cụ thầy sắp được chịu chức linh mục. Cụ Nghị thấy mình sắp được làm mẹ ông cha nên có vẻ hãnh diện với những người quen biết lắm. Cụ khoe với mọi người. Vì thế, tinh thần cụ có phần phấn chấn hơn trước. Sức khỏe cụ xem ra cũng dồi dào hơn. Số tiền cụ gởi về cho thầy Sáu lo chạy trên ủy ban là tiền cụ dành dụm kín đáo có ý để đem về mừng cha Hóa ngày làm lễ mở tay, nhưng thấy thầy cần gấp nên cụ gởi về trước. Cụ nghĩ trong bụng cho thì bề nào cũng là cho, cho trước hay cho sau cũng thế. Người ta cần gấp mà. Cụ biết cụ gởi tiền cho thầy Sáu hoài các con cụ không bằng lòng. Nếu Minh và Đông biết cụ gởi một món tiền lớn chắc thế nào cũng có chuyện rắc rối. Mà quả đúng thật. Mười hai ngàn dollars từ Mỹ về đến Saigon, con đường dài nửa vòng trái đất mà chỉ mất không đến một ngày trời. Nó bay lẹ hơn máy bay phản lực. Người ta đem tiền đến trao tận nhà. Thầy Sáu Hóa nhận tiền trước mặt mẹ. Bà Chiến tức khắc phác họa một chương trình làm việc trong đầu rồi nói với thầy Sáu: - Mọi sự Chúa lo liệu cả. Thầy Sáu cứ ở nhà nghỉ ngơi. Tôi đi lên hầu Đức Cha ngay rồi ra thành ủy nữa là xong. Công việc của thầy đúng như đã dự liệu. Hôm nay bà Chiến ra ngoài ăn mặc tề chỉnh hơn mọi khi. Có thể nói là sang trọng nữa. Bà tự nhủ: bề gì cũng sắp làm mẹ ông cha rồi. Bà cố lên hầu đức cha mà ăn mặc luộm thuộm quá coi sao được. Vả lại còn phải gặp phó bí thư thành ủy nữa, mẹ ông cha không tươm tất? Nó khinh cho. Không để mất mặt như thế được. Bà tự tin vào lý luận của mình và bước lên taxi đi lên hầu đức cha. 2 giờ đúng. Đức cha vừa ngủ trưa dậy. Ngài còn đang dùng bữa “tea Ăng Lê” ở phòng ăn thì cha thư ký bước vào trình: - Kính thưa Đức Cha có khách. - Bà cố Chiến hẳn? - Thưa vâng, Đức cha quả thánh đoán. - Thần thánh gì, việc phải đến thì nó đến thôi. Tôi ra liền. Đức Cha cũng đang nóng lòng về chuyện thành ủy đòi làm tiền vụ truyền chức cho thầy Sáu Hóa. Ngài vội vã bữa ăn và ra liền. Bước vào phòng khách, đức cha cho bà Chiến hôn nhẫn xong liền tươi cười hỏi ngay: - Thế nào bà cố? Công việc đến đâu rồi? Bà Chiến được đức cha gọi là bà cố thấy sướng rên, nhưng vẫn làm bộ chữa thẹn trả lời đức cha: - Kính thưa đức cha, thầy Sáu chưa được phong chức mà con đã được đức cha phong chức trước rồi. Đức cha thật thà xác nhận: - Trước sau gì cũng phải vậy thôi. - Thân lậy Đức Cha, công việc con lo muốn hụt hơi luôn, nhưng Chúa thương mọi sự đều đã đâu vào đấy cả, chỉ còn đợi lệnh Đức Cha ban nữa là xong thôi. - Ô hay sao lại đợi lệnh tôi? Việc đạo thì giám mục lo, còn việc nhà nước người ta tính thế nào thì gia đình cứ tùy tiện làm thế nào đấy được thì làm chứ. - Con sợ lỗi phép đạo nên con phải xin phép Đức Cha trước rồi mới dám làm. Đức Cha không cấm thì xin phép Đức Cha con đi lo ngay. Ở nhà thờ, bà Chiến nghe nhiều người xì xào chuyện bà định đút lót chính quyền để thầy Sáu Hóa được chịu chức. Nhiều người cho là có tội nên bà còn lo ngại. Vì thế cần phải có phép của đức cha thì bà mới yên tâm. Tuy đức cha không nói rõ ngài có cho phép hay không, nhưng bà chiến hiểu là ngài đã đồng ý. Bà chỉ cần có thế là yên tâm để lo công việc. Bà cúi đầu chào đức cha rồi quay ngoắt bước ra, quên cả một lời cám ơn cho phải phép. Bà mừng rỡ bước ra khỏi phòng khách đức cha. Mặt tươi rói, bà đi như chạy ra đến đường. Bà nhẩy xô ra giữa lộ để kêu taxi khiến nhiều xe cộ phải ngừng lại. Chiếc taxi trờ tới để tránh một tai nạn giao thông, bà lách qua mở cửa xe nhẩy lên ngồi rồi dục tài xế: - Đi ủy ban. Anh tài xế không biết khách muốn đến ủy ban nào vì trong thành phố rộng lớn này có rất nhiều ủy ban. Hắn lại thấy bà Chiến ăn mặc sang trọng tưởng thuộc loại mệnh phụ phu nhân nên lễ phép hỏi. - Thưa bà ủy ban nào ạ? Bà Chiến chợt nhớ ra liền cải chính: - Không, thành ủy. Đi đường chốc chốc bà lại dục tài xế chạy cho mau. Đến nơi bà móc trong bóp ra một nắm tiền. Bà chẳng thèm đếm, đưa cả cho tài xế. Anh tài xế mừng húm yên trí hôm nay vớ được khách sộp. Anh cầm nắm bạc chỉ liếc qua, chẳng cần kiểm lại, nở một nụ cười hóm hỉnh với bà khách quí: - Bà đi mạnh giỏi. Chúc bà may mắn. Bà Chiến đã ra vào hết ủy ban này đến ủy ban nọ từ Hànội vô đến đây nên bà mạnh dạn theo thói quen và tự tin. Bà xuống xe và xăm xăm bước vào trụ sở. Tên công an gác cổng chận lại hỏi: - Chị đi đâu? - Cho gặp đồng chí phó bí thư. Tên công an trố mắt nhìn người đàn bà ăn mặc sang trọng từ đầu đến chân để đánh giá theo nghiệp vụ của hắn. Công tác chuyên môn này kéo dài chỉ vỏn vẹn trong nháy mắt. Thấy không có gì khả nghi, hắn hất hàm một cái đúng điệu công an hỏi bà Chiến những chi tiết cần thiết theo thủ tục xin tiếp xúc với thượng cấp của hắn để báo cáo vô trong. Tùy theo từng loại vấn đề xin gặp, tên bí thư có thể không tiếp, có thể bắt chờ một vài tiếng đồng hồ, cũng có thể thoái thác bằng cách trả lời “đồng chí phó bí thư mắc họp, khi khác trở lại”. Tuy nhiên loại vấn đề như vấn đề của bà Chiến bao giờ cũng mang số ưu tiên một. Bà mới chờ chừng vài phút thì đã có tiếng từ bên trong truyền ra qua chiếc máy intercom: - Cho người ta vào. Một tên công an khác từ trong cổng gác bước ra nói như ra lệnh: - Chị đi theo tôi. Bà Chiến là dân Bắc Kỳ 75 nên đã quá quen thuộc với lối xưng hô và cung cách làm việc mang đặc tính công an này của tên lính. Bà lẳng lặng đi theo hắn. Chỗ này bà đã tới một lần nhưng hình như hôm nay đã khác: rộng lớn hơn và đẹp hơn. Lần trước là lần bà đi theo mụ chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc, người có trách nhiệm trực tiếp lo các vấn đề về tôn giáo của thành ủy. Cách đây hơn một tháng đích thân mụ dẫn bà Chiến lên gặp tên phó bí thư về vụ thầy Sáu Hóa chịu chức linh mục. Văn phòng thành ủy sau khi nhận được văn thư của tòa giám mục xin truyền chức linh mục cho thầy Sáu, đã làm việc với bên Mặt Trận và chính mụ chủ tịch Mặt Trận đã dẫn bà Chiến lên gặp tên phó bí thư. Lý lịch thầy Sáu đã được mặt trận tìm hiểu cặn kẽ bên công an và được mụ chủ tịch báo cáo với tên phó bí thư là đáng được chiếu cố: thành phần gia đình liệt sĩ, chấp hành tốt mọi luật pháp và chính sách của nhà nước, có anh đã thi hành xong nghĩa vụ quốc tế và đã phục viên, vào Nam sinh sống theo chính sách “rải mạ” của đảng, đương sự đã được Mặt Trận xây dựng và có nhiều biểu hiện tốt đối với đường lối và chính sách của đảng và nhà nước ta ….. Các điều kiện về lý lịch kể như không có gì trở ngại. Còn lại là vấn đề chính sách nữa mà thôi. Mụ chủ tịch Mặt Trận (chứ không phải tên phó bí thư) là người thi hành chánh sách của đảng và nhà nước. Mụ yêu cầu bà Chiến ủng hộ quĩ kiến thiết thành phố chút đỉnh nữa là xong. Mụ bảo đảm với bà như thế. Mụ ra gía là hai chục cây vàng hoặc mười ngàn dollars Mỹ. Việc này được hiếu là trách nhiệm của bên Mặt Trận và mụ chủ tịch có bổn phận thi hành. Ban bí thư thành ủy vì cần giữ sự liêm khiết cho bản thân và tính trong sáng cho đảng nên không dính dáng gì tới vấn đề tiền bạc. Bà Chiến năn nỉ xin bớt thì mụ nói tỉnh bơ: - Có vậy thôi mà còn bớt xén gì nữa. Diện chính sách mới được đảng ưu đãi đấy. Đã nói đến được đảng ưu đãi rồi thì bà Chiến đành phải chịu thua. Nhưng vẫn chưa hết. Mụ Mặt Trận còn thòng thêm một câu làm bà ngẩn người ra: - Còn vấn đề bồi dưỡng thì chị cho thêm hai nghìn được rồi. Chỗ chị em đấy. Bà Chiến đã sống trong lòng chế độ từ ngày còn trong bụng mẹ nên bà hiểu rõ thế nào là kiến thiết và thế nào là bồi dưỡng của mấy ông bà đảng viên. Nói huỵch toẹt ra mười ngàn kiến thiết là để xây biệt thự cho tên phó bí thư ngoài Vũng Tầu. Còn hai ngàn bồi dưỡng là tiền cò của mụ Mặt Trận lo chạy việc. Chuyện rõ ràng như thế chẳng thế nào che mắt bà Chiến được. Nhưng bà vẫn phải nuốt giận vào sâu trong bụng vì bà đang cần đến những tên này. Bà phải làm bộ tươi cười để tỏ ra mình hiểu biết chính sách, đồng thời cũng cần phân trần rạch ròi cho mụ Mặt Trận biết, bà nói: - Tôi cũng biết các đồng chí trong ban bí thư rất cần tiền để xây dựng những công trình này nọ cho thành phố, và bà chủ tịch đi chỗ này chỗ nọ cho tôi cũng không phải là không tốn hao, nhưng thực tình mà nói, kiếm cho ra số tiền đó ngay cũng không phải dễ. Mụ Mặt Trận cũng không phải tay vừa. Mụ chận họng bà Chiến liền: - Khó thì cũng có khó thật đấy, nhưng là khó với người ta kìa, còn với chị thì lại khác. Anh Hóa lên làm ông cha rồi đi Mỹ một chuyến thì lời gấp trăm gấp ngàn ngay thôi. Chị không thấy đấy, ông đức cha rồi các ông cha, ông nào đi Mỹ về mà không ôm về cả đống dollars. Chị thấy có đi đâu mà thiệt. Tôi nói có đúng không? Mụ chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc đang đi guốc trong tim gan bà Chiến. Cách tính toán của mụ sao đúng y chang cách tính trong đầu người đàn bà sành sỏi này. Việc năn nỉ bọn cán bộ cũng là nói cho có nói để xoa dầu vào cái tính tự cao tự đại của chúng một phần. Phần khác là kiềm chế bớt máu tham lam vô độ của chúng. Thế thôi. Giá chúng ra giá gấp đôi gấp ba thì bà cũng phải chịu, chả làm thế nào được. Tới văn phòng thành ủy, tên công an mở cửa cho bà Chiến vô rồi đóng cửa lại. Tên phó bí thư chỉ bộ salon mời bà ngồi chờ. Chỉ một thoáng sau cánh cửa lại xịch mở và mụ chủ tịch Mặt Trận bước vô. Mụ vô đề liền, tỉnh bơ nói với bà Chiến một cách sống sượng: - Chị mang theo đủ chứ? - Vâng, mang đủ. Bà Chiến vừa trả lời vừa mở bóp lấy gói bạc ra đặt lên bàn. Mụ chủ tịch Mặt Trận nhoài người vồ lấy nhét vào bóp của mụ. Bà Chiến ngơ ngác, phải nhắc nhở mụ: - Xin bà kiểm lại xem có thiếu đủ gì không. Mụ nhoẻn miệng cười thật đểu cáng hỏi lai: - Chị dám thiếu sao? Tôi dư biết là đủ rồi. Bà Chiến coi như công việc đã xong xuôi và không còn lý do gì để ngồi lại nữa. Bà toan đứng lên để ra về. Tên phó bí thư cảm thấy sượng sùng vì cái lối tiếp khách quá trơ trẽn của cán bộ thuộc quyền, hắn lên giọng vuốt ve và trấn an bà Chiến: - Chị Chiến lo công việc thật mau lẹ và chu đáo. Tôi biểu dương tinh thần hợp tác rất cao của chi. Chị cũng nên nhớ là gia đình chị là gia đình liệt sĩ, thuộc diện chính sách. Đảng và nhà nước ta luôn luôn tạo mọi điều kiện cho những người như mẹ con chị được thăng tiến trong đời sống xã hội. Đảng cũng biết chị mới vào Nam làm ăn. Cuộc sống vẫn còn có chỗ chưa được như mong muốn. Nhưng đây là tình hình chung. Trong lúc đất nước ta vẫn còn nghèo, nhân dân chưa được no ấm thì mỗi người cũng cần phải ý thức điều đó, đóng góp một chút tùy theo hoàn cảnh vào công việc chung. Gia đình chị là gia đình liệt sĩ, thuộc diện chính sách, một chút đóng góp của chị chỉ là tối thiểu. Tôi tin là đảng và nhà nước nói chung, và chúng tôi ở đây nói riêng sẽ đặc biệt chiếu cố đến hoàn cảnh của gia đình chị, nhất là anh Hóa sắp tiến thân lên một địa vị mới. Cho tôi và các đồng chí trong tỉnh ủy gởi lời chúc mừng đến tân linh mục. Chúng tôi chắc chắn sẽ còn gặpgỡ và làm việc với anh Hóa nhiều. Chị yên tâm. Mấy câu vuốt ve man trá nhưng cũng chứa đầy đe dọa của tên phó bí thư thành ủy vậy mà có phần nào hiệu lực. Bà Chiến đã dằn sự uất nghẹn xuống. Bà cám ơn tên tỉnh ủy và mụ Mặt Trận rồi tươi cười bước ra. Tên cán bộ hình như cảm thấy chưa yên tâm lắm, hắn còn dọa với theo: - Chắc chúng tôi cũng còn phải trao đổi nhiều với tân linh mục nữa đấy. Lễ truyền chức không còn gì trở ngại. Chỉ còn một tháng nữa là đến ngày như đã dự trù. Vấn đề đầu tiên còn lại là gởi thiệp mời. Gia đình chỉ mời những người trong bà con dòng họ hay làng xóm, còn các cấp trong chính quyền hay trong giáo hội là do tòa giám mục phụ trách mời. Riêng thầy Sáu Hóa còn phải nghĩ đến việc đối xử với bà “mẹ cố” ở bên Mỹ làm sao cho ổn. Đây không phải là vấn đề nhỏ. Cụ Nghị đã mấy lần hứa sẽ về Việt Nam tham dự lễ thụ phong và mở tay của thầy Sáu. Cụ nói thầy không còn cha mẹ anh em gì, mà cụ đã nhận thầy là dưỡng tử thì cụ phải về và có mặt trong ngày đại hỉ của thầy cho có mẹ có con để thầy khỏi tủi. Thầy Sáu không thể không gởi thiệp sang cho cụ Nghị, nhưng vấn đề là chỉ báo tin thôi hay mời cụ về dự lễ? Thầy đã trót nói với cụ Nghị về hoàn cảnh gia đình của mình nên vấn đề mới trở nên rắc rối. Cuối cùng thì thầy Sáu quyết định chỉ báo tin. Còn chuyện mời thì thầy khôn khéo nói rằng thầy rất muốn mời nhưng vì cụ đã già cả, việc đi lại khó khăn nên thầy không dám bắt tội cụ phải vất vả vì mình. Thầy Sáu hứa sau này nhất định sẽ có cơ hội sang Mỹ viếng an mẹ cố. Cụ Nghị không được mời nên cụ thường tỏ ra buồn bực. Anh em Đông và Minh biết điều đó nên cũng cảm thấy áy náy và bực bội. Hai anh em bàn nhau tìm cách nào để làm cho mẹ vui đồng thời có thể giúp mẹ tìm hiểu cho rõ vấn đề mà cả hai anh em lâu nay vẫn nghi hoặc. Đối với Đông thì đây là dịp may đã đến, anh có thể thực hiện lời đã hứa với em gái trước đây: mọi việc hãy để anh lo. Cứ tin tưởng anh đi. Ngay chiều hôm đó, Đông liên lạc về Saigon với một người bạn thân để sắp xếp chuyến đi về Việt Nam cho mẹ. Anh kể cho bạn nghe tất cả mọi chi tiết của vấn đề, ý định của anh, lý do mẹ anh về, rồi bàn những việc cần làm và phải làm như thế nào. Tóm lại là một kế hoạch tỉ mỉ và chu đáo. Thỏa thuận với nhau xong, Đông chạy đi lấy hai cái vé máy bay cho mẹ và cho em. Chiều đi làm về, việc đầu tiên của Đông là gặp mẹ anh. Anh giơ hai chiếc vé máy bay ra trước mặt mẹ khoe: - Có cái này cho mẹ này. - Cái gì vậy? - Cụ Nghị hỏi. - Vé máy bay cho mẹ về Việt Nam đấy. - Mẹ đã nói mẹ không có về mà. Xem ra cụ Nghị cũng chẳng lấy làm vui, Đông cố ra sức giỗ ngọt và khuyên giải mẹ để bà cụ đừng làm hỏng kế hoạch của mình. Anh trấn an rằng mẹ đi với em Minh chứ không phải đi một mình. Rằng anh đã sắp xếp chuyến đi cho mẹ đâu vào đấy cả rồi. Rằng mẹ về Saigon đã có người lo cho mẹ v.v. và v.v. Anh còn dèm pha với mẹ việc thầy Hóa không mời là việc thiếu cả tế nhị và lịch sự. Anh đồng ý với mẹ là không nên về, vì người ta ai cũng phải có tự ái. Tuy nhiên anh muốn mẹ về kỳ này là để mẹ đi chơi một chuyến. Anh lý luận rằng còn đi được thì nên đi, mai mốt dù mẹ có muốn đi cũng không còn đi nổi nữa. Đông còn đề nghị với mẹ nếu muốn, mẹ anh cứ đến dự lễ của thầy Hóa nhưng chỉ đi như tình cờ tham dự thôi, có gặp cũng không nên cho thầy Hóa biết mẹ là ai. Cụ Nghị nghe con trai thuyết một hồi xem chừng cũng đã mềm lòng. Cụ đứng dậy lẳng lặng đi vô phòng. Đông và Minh hiểu ý mẹ, hai anh em cứ tiến hành sắp xếp chuyến đi như đã dự trù. Đây là lần thứ hai cụ Nghị trở về thăm nhà. Nói là thăm nhà nhưng thực ra chẳng còn nhà đâu mà thăm. Gia đình, bà con cụ đã đi Mỹ hầu hết. Chỉ còn vài ba người ở lại nhưng đều là bà con xa. Mẹ con cụ về Saigon ở khách sạn như bạn của Đông đã sắp xếp. Những ngày đầu rảnh rỗi Minh đưa mẹ đi thăm bà con, bạn bè, rồi đi Nha Trang, Đà Lạt chơi. Đúng ngày cha Hóa ăn mừng mở tay, Minh đưa mẹ từ Vũng Tầu về Saigon và đến nhà chào mừng tân linh mục. Cha Hóa làm lễ mở tay tại một giáo xứ ngoại ô Saigon, vùng Bà Quẹo, nhưng tiệc mừng lại tổ chức tại tư gia bà cố Chiến trên đường Trương Minh Giảng. Minh cố ý đưa mẹ đến trễ. Tư gia là một biệt thự khá sang trọng có lầu. Chung quang khu nhà có tường xây bao bọc. Mặt trước là một dàn hoa bông giấy phủ kín bức tường làm cho căn nhà thêm quí phái và kín đáo. Qua một cái cổng sắt, Cụ Nghị và con gái được dẫn thẳng vô đi qua một hành lang rợp bóng cây, tới một cái sân sau khá rộng. Tất cả đều láng xi măng sạch sẽ. Một chiếc màn dù căng phủ kín cái sân. Trong ngoài chỗ nào cũng giăng hoa kết đèn, giống như một đám cưới sang trọng. Cỗ bàn bầy ngoài trời la liệt, khách khứa ngồi hầu như không còn chỗ trống. Phòng khách ở đàng sau trông ra cái sân này. Mẹ con cụ Nghị được dẫn vào phòng khách. Ở đây cũng bầy cỗ bàn nhưng dành cho khách VIP. Thấy có khách vô, cha Hóa và bà cố ra tận cửa đón tiếp. Sau khi nghe cha Hóa tự giới thiệu và giới thiệu bà cố, Minh lanh miệng lên tiếng ngay vì sợ mẹ rủi ro làm bể chuyện. Nàng nói đại khái mẹ con nàng ở Mỹ về, trú ngụ ở gần đây, nghe biết cha Hóa mới đựợc thụ phong nên tiện ghé chào mừng cha và thăm bà cố. Thấy khách là Việt kiều Mỹ, cha Hóa liền khoe cha cũng có bà cố nuôi ở bên Mỹ. Cha có mời mẹ nuôi về dự lễ nhưng bà mắc bận không về được. Cha Hóa và bà cố nài nỉ mời khách ở lại dự tiệc nhưng mẹ con cụ Nghị nhất định từ chối lấy lý do còn nhiều nơi phải thăm và nhiều chỗ phải đi nên không có thì giờ. Minh lấy trong bóp ra một phong bì trắng đã dán kỹ đưa cho cha Hóa, nàng nói chỉ là một chút quà mọn kính biếu cha để xin cha cầu nguyện cho rồi xin phép đưa mẹ ra về liền. Cha Hóa và cả bà cố tiễn mẹ con cụ Nghị ra đến tận cổng. Ngồi trên taxi trở về khách sạn, cụ Nghị thở dài chán nản nói với con: - Về thôi. - Đang về mà mẹ. – Minh không hiểu ý mẹ nên trả lời lạc đề. - Mẹ nói là về Mỹ. Minh biết mẹ mình thất vọng lắm. Nàng ôn tồn vuốt ve mẹ: - Còn những tuần nữa mới có chuyến bay. Con cố gắng đổi chuyến bay sớm hơn nhưng không biết có được không. Thôi mẹ đừng buồn. Mẹ thích đi chơi đâu con đưa mẹ đi. Con cũng không muốn ở lại đâu. Việc cụ nghị đòi tức tốc trở về Mỹ không làm cho Minh ngạc nhiên tí nào. Chính nàng cũng đang có tâm trạng như mẹ. Việc làm cho mẹ nàng khám phá ra được chân tướng của sự việc là mục đích của chuyến đi mà nàng đã đạt được. Nàng dự tính sẽ đổi chuyến bay để đưa mẹ trở về Mỹ càng sớm càng tốt. Gần về đến khách sạn, cụ Nghị vẫn cứ ngồi đăm chiêu ủ rũ. Minh sực nhớ lại vấn đề cái phong bì đưa mừng cho cha Hóa, nàng hỏi mẹ thăm dò: - Con biết mẹ đang nhớ đến cái phong bì mừng cho cha Hóa. Có phải không? Cụ Nghị vẫn ngồi lặng thinh, Minh nói thêm: - Mẹ bận tâm làm gì, chút quà nhỏ thôi mà, có gì đâu, mẹ biết không, để khỏi mất mặt với người ta thôi. Việc như thế mà cụ Nghị cũng không nhớ và không nghĩ đến, cụ tự trách mình nhưng không nói ra. Thấy con gái biết xử sự, cụ cảm thấy yên ủi, cụ quay sang nhìn con gái với vẻ hài lòng. Minh cho rằng thế nào mẹ cũng nghĩ đến số tiền trong đó, nhưng nàng thì nghĩ khác. Nàng tưởng tượng tối nay khi cha Hóa mở phong bì ra chắc sẽ phải chưng hửng và sượng sùng lắm. Quả thật, sự việc không ngoài tài đoán việc của Minh. Đến gần khuya cha Hóa mới hết khách. Cha mệt nhoài. Vì đãi ăn tại nhà mà chỗ tiếp khách lại chật chội nên chủ nhà phải chia số khách mời thành nhiều đợt. Mãi đến mười giờ đêm đợt khách cuối cùng mới ra về. Bà cố Chiến dục con đi nghỉ sớm để lấy lại sức. Việc giọn dẹp bà cố giao cả cho đám người phụ việc. Bà vào phòng riêng đóng kín cửa lại để kiểm điểm số tiền mừng. Những chiếc phong bì lớn nhỏ nằm xếp lớp đầy ắp một ngăn tủ đựng đồ của bà. Bà cố Chiến mở khóa đổ ra đếm, nhưng chỉ đếm được một phần nhỏ mà đã thấy mỏi mệt quá. Bà lại dồn trở lại hộc tủ để đợi đến mai. Bà cố thầm cầu xin được đủ số tiền mua cho tân linh mục một chiếc xe auto con đời mới thật xinh, thật đẹp để cha có phương tiện mà đi làm việc tông đồ cho Chúa. Cha Hoá nghe lời mẹ cũng uể oải bước lên cầu thang để lên lầu. Dưới nhà đã im hẳn tiếng ồn ào, thỉnh thoảng chỉ còn lại tiếng đũa chén va vào nhau do những người dọn dẹp vụng về làm kêu lách cách. Cha bước vào phòng đóng cửa lại. Bây giờ ngài mới nhớ đến chiếc phong bì mẹ con bà khách từ Mỹ về đưa mừng. Cha thọc tay vào túi. Chiếc phong bì vẫn còn nằm yên trong đó. Cha đã có kinh nghiệm và phân biệt rõ ràng các loại phong bì trong nước hay ngoại quốc. Các phong bì đưa mừng nếu là phong bì Việt Nam, cha đưa hết cho bà cố, còn phong bì ngoại quốc, cha cẩn thận đút vào túi. Cha rút ra chiếc phong bì trắng tinh. Ngài bật thêm chiếc đèn bàn rồi đưa lên soi. Cha lấy cái kéo, từ từ cắt đứt một đầu, đưa hai ngón tay vào bên trong, rút tờ giấy ra coi. Cha ngạc nhiên đến sững sờ. Chỉ là một tờ giấy trắng. Cha vội vàng mở ra đọc: Kính chúc cha sức khỏe và dồi dào ơn Thánh Chúa để cha chu toàn sứ mệnh Chúa trao ban cho cha. Bà quả phụ Trần Quyết USA. Đúng là tên của mẹ cố ở bên Mỹ. Không thể nào nhầm lẫn được. Cha Hóa xám mặt, ngã người xuống ghế. Tờ giấy rơi xuống bàn. Cha mệt lả. Chân tay rã rời. Mắt nhắm nghiền. Đầu óc cha xoay tròn. Cha không còn biết cha đang nghĩ gì nữa. Vừa lúc đó, bà cố Chiến từ bên ngoài mở cửa bước vào. Thấy con có vẻ mệt mỏi thái quá, bà cố hỏi: - Cha mệt lắm hả? Con giọn giường cho cha đi nghỉ sớm nhá. Cha Hóa nói thều thào như người sắp chết: - Hỏng hết rồi. - Cái gì hỏng? - Bà cố ngạc nhiên hỏi. - Bể bạc hết trơn rồi. Mẹ cố ở bên Mỹ về. Bà cố chộp lấy tờ giấy trên bàn, mở banh ra đọc. Bà đã hiểu ra. Bất chợt, bà cố đùng đùng nạt ông cha con: - Tưởng gì. Có vậy thôi mà làm như chết đến nơi rồi. Còn tôi đây, cha không có gì phải lo. - Nhưng người ta …….. - Không có nhưng gì hết. Người đàn bà đó từ nay không còn cần thiết nữa. Bà cố Chiến nói xong giận dữ xô cửa bỏ ra ngoài. Cha Hoá vẫn ngồi bất động, ngả đầu trên lưng ghế, hai mắt vô hồn nhìn lên trần nhà. Gian phòng im lặng như tờ, chỉ còn nghe tiếng chiếc máy lạnh kêu xè xè đơn điệu.

 

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm Từ người xuống vươn mất bao nhiêu năm? Xin mời thế giới tới thăm Những trại tập trung trong núi rừng sâu thẳm! Tù nhân ở truồng từng bầy đứng tắm Rệp, muổi, ăn nằm hôi hám, tối tăm Khoai sắn tranh giành cùm, bắn, chém, băm Đánh đập tha hồ, chết quăng chuột gặm! Loài vượn nầy không nhanh mà rất chậm Khác vượn thời tiền sử xa xăm Chúng đói, chúng gầy như những cái tăm Và làm ra của cải quanh năm Xin mời thế giới tới thăm!

 

Đêm xứ người, trời bỗng nhiên trở lạnh. Chập chờn qua khói thuốc còn đọng lại trong căn phòng âm u, tôi nghe tiếng nấc của bà quả phụ Thiếu Tướng Lê Văn Hưng thoát ra từ cuộn băng ghi âm: “Xin mình cho em chứng kiến giây phút cuối cùng của mình…” . Một tiếng đạn nổ, khô khắc vang lên từ ống loa hay từ một thuở nào trong cơn biến loạn. Có lẽ cũng từ lòng tôi. Ngậm ngùi, tôi đứng dậy tắt máy. Nhìn ra khung cửa mù sương, trí tưởng nhạt nhòa lại đưa tôi về một vùng trời hẻo lánh Tiền Giang với khu đồn Giồng Riềngbó rọ trong mấy vòng kẽm gai hoen rỉ và mười sáu quả lựu đạn cuối cùng. Nghĩa Quân Lê Văn Hùng và người vợ lính Phạm Thị Thàng.... Hơn 30 năm về trước, thuở tóc tôi chưa đau từng sợi bạc. Tôi đã dẫn quân tăng viện, chiếm lại khu đồn sau trận tiến công biển người của địch. Trong khói lửa ngập vùng, hỏa châu bừng sáng, tiếng nấc của thương binh và tiếng vặn mình của gỗ sắt hòa lẫn với tiếng nổ rời rạc của vài viên đạn gặp lửa bùng lên. Nghe anh phó đồn cụt chân kể lại: "Sau khi chồng bị tử thương, chị Thàng ẵm hai con nhỏ núp sau ụ đất với một thùng lựu đạn 16 quả. Cánh tay của người vợ lính vung lên, từng tiếng nổ ầm, át cả tiếng khóc trẻ thơ. Mười lăm quả lựu đạn vút đi, ngăn chân biển địch. Thùng lựu đạn chỉ còn đây một quả Em dâng anh với cả tình yêu … Chị Thàng đã tự sát cùng hai con để đi theo chồng là Nghĩa Quân Lê Văn Hùng vào cõi vĩnh hằng, cô đơn, côi cút và âm thầm trong cuộc chiến. Người vợ lính đã nuôi con bằng gạo Quân Tiếp Vụ, hạnh phúc bình thường qua bữa cơm với cua đồng cá nội. Ảnh của chị đã được treo lên tại góc đường Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt ở Saigon một thuở nào giữa dòng người thờ ơ qua lại. Người phụ nữ miền Nam với nụ cười đơn sơ chất phác, e ấp qua mảnh khăn rằn.Từ Bến Hải đến Cà Mau, bước chân của người vợ lính ẵm con đã đi theo chồng khắp bốn vùng chiến thuật. Không có những móng chân đỏ hồng nhưng đã tạo nên những vần Thơ dường như huyền sử. Tôi quay lại bấm máy. Tiếng của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn vang lên qua từng loạt đạn nổ … “Thiếu Tướng biểu y lệnh hả Chị? Dạ, tôi sẵn sàng…” Tôi lại tắt máy, không dám nghe nữa, có lẽ vì mặc cảm tự ti, thấy mình quá nhỏ bé trước những tiếng vọng anh hùng. Lại châm thêm điếu thuốc, ngọn đồi Chu-Prao hiện về. Người nữ sinh sắc tộc Thái Trắng, Đơn Dương, hoa khôi Đà Lạt một thời với tên Đèo-Nàng-Hoa. Lấy chồng là trung sĩ Biệt Kích Trường Sơn, tên Neo-Krông, da sạm đen với bắp tay cuồn cuộn như một nhánh cây rừng. Trong một lần đi toán, Neo-Krông đã không về lại. Tặng tiền tử của chồng cho một viện mồ côi, Đèo-Nàng-Hoa đã đi tu và xin chuyển ra làm việc trong trại cùi ở Qui Nhơn. Có một lần tôi gặp lại nàng khi tôi đến thăm mộ Hàn Mặc Tử. Người nữ sinh vợ lính thuở nào như bóng của huyền thoại đã trở thành Dì Phước. Nhìn cặp mắt đen mà nghe cả tiếng thông reo. Bàn tay của Dì Phước Đèo-Nàng-Hoa đã bắt đầu ửng đỏ bệnh phong, sự thật hay do tôi tưởng tượng? Khi ra khỏi trại cùi, tôi không dám quay nhìn lại, tâm hồn của người vợ lính bình thản đã nạm vàng trong khi bóng tôi bên đường chỉ là hạt bụi. Tiếng thơ của Hàn Mặc Tử lại vọng qua gió thổi rì rào:Run như run hơi thở chạm tơ vàng... Tiếng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm buồn nhưng cương quyết: “Làm tướng mà không giữ được nước được thành thì phải chết theo thành theo nước …” . Tôi nghe mủi lòng rưng rưng. Hình ảnh của người vợ lính ven sông Thu Bồn dắt con qua bao chuyến tàu chợ từ Quảng Nam ra miền Bắc tìm chồng trong tù cải tạo. Nước mắt âm thầm chảy xuống dặm đường cay nghiệt, chân giẫm lên sỏi đá hận thù. Một gói đường phèn, một lon muối ớt, với tất cả tình thương mộc mạc, đơn sơ như thửa ruộng bờ đê, chắt chiu từng đồng, lặn lội suốt gần tháng trường gian khổ để chỉ được vài ba tiếng đồng hồ im lặng nhìn con, nhìn chồng tả tơi trong manh áo tù không án. Tù của một giai đoạn lịch sử oan khiên, tù của một chế độ bạo tàn, mà người mẹ và vợ lính không bao giờ hiểu nghĩa. Gần suốt đời cam phận bóng mờ di chuyển theo chồng qua bao trại gia binh, sinh con trong những khu đồn hẻo lánh, để rồi hôm nay bên cạnh tên cúng cơm lại bị ghi thêm hai từ Vợ Ngụy! Từ ngữ sao mà cay nghiệt, nặng trĩu hận thù! Người vợ lính cũng chẳng hiểu vì sao? Có người cầm tấm thiệp mời dự Ngày Quân Lực, hai mươi bảy năm rời xa Tổ Quốc, nhếch môi phán rằng : “Quân với Lực làm gì nữa, phí một ngày đi chơi cuối tuần!!!” Tôi cũng cầm tấm thiệp, vặn máy tăng âm cho tiếng vang từ cuộn băng bừng lên, căn phòng dồn dập tiếng đạn xa xưa… Tôi ôm đầu, quặn đau cả lòng. Từ trong tâm tưởng, tôi nghe có tiếng bước chân âm thầm của những người mẹ và vợ lính. Phạm Thị Thàng, Đèo-Nàng-Hoa, … và hàng triệu bóng dáng phụ nữ Việt Nam một thời khói lửa, son sắt thủy chung, đang nhìn tôi qua màn sương lạnh. Nỡ nào quên tình đồng đội, quên những người mẹ và vợ lính đạm bạc, không cần lịch sử ghi danh, đã và đang khóc, thương con thương chồng cùng thương Nước với tấm lòng biển rộng trời cao! Hình ảnh của người mẹ và vợ lính sống mãi trong Hồn Dân Tộc với niềm hãnh diện cô đơn. Rồi một ngày không xa, tôi sẽ được vô vàn diễm phúc đứng bên cạnh đường lịch sử vinh quang rợp bóng cờ vàng để ngắm nhìn các mẹ, các chị, các em, mỉm cười trong ân nghĩa Tình Người: Gặp nhau biết nói gì hơn Cười vui trong gió tóc vờn cờ bay!