Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Mùa thu đến, lá mùa thu úa vàng rơi lả tả trong gió lạnh. Lá nào mất, lá nào còn? Mỗi chiếc lá thu rơi như một công án phá vỡ "breakthrough" cái màn vô minh, phá vỡ cái vô thường, nổ tung cái hữu hạn của một kiếp người, nổ tung cái thành trì tưởng rằng đỉnh cao với những so đo thắng thua hơn thiệt, miếng to miếng bé, để mở ra một khoảng trống mênh mang, để mở ra một nhãn quan mới trong một tầm nhìn mới. Mỗi chiếc lá thu rơi gợi lên những bâng khuâng, những trăn trở, những bồng bềnh xa vắng... Bao nhiêu người đã nằm xuống, mà tôi vẫn còn sống. Có liên hệ gì đến tôi không? Tôi phải sống? Bạn phải sống? Sống mà làm gì? Sao chúng ta lại vẫn hiện hữu trên mặt đất này? Phải có một mục đích và một lý do nào chứ?! Sống trên đời nhiều chuyện ghê gớm quá, Vậy mà ta sống có kỳ không? (thơ Tô Thùy Yên) TỪ ĐÁY CÙNG ĐỊA NGỤC ĐEN KHỦNG KHIẾP Đấy, tôi phải vòng vo một chút vậy dđể diễn tả cái xúc động không sao diễn tả được của tôi khi gặp lại linh mục Nguyễn Hữu Lễ bằng xương bằng thịt người (chứ không phải hình ảnh một con thú vật đang bị hành hạ vẫn lởn vởn trong đầu), và dự buổi ra mắt sách "Tôi Phải Sống.". Cách đây cả mười năm gì đó, trên chuyến máy bay từ California về New Orleans, tôi đã đọc một loạt bài viết "Một Vấn Đề của Lương Tâm" (tức chương 7, chương 8 và chương 9 trong sách "Tôi Phải Sống" bây giờ). Từ đó tôi cứ bị ám ảnh hoài, như một tiếng nghẹn trong đời không sao phát ra được lời, về hình ảnh một linh mục bị một bộ máy theo đúng bài bản cố ý biến con người thành khốn nạn hơn những con vật trần truồng trong cõi đen kịt đáy cùng địa ngục khủng khiếp nhất của một kiếp người. Cái bộ máy huấn luyện này khủng khiếp đến nỗi có thể biến cả một con chiên hiền thành một con sói dữ, khi dùng cái bao tửđ-ể chôn sống tinh thần, tạo ra được một cõi ác để tước đoạt lẽ sống khi " tước đoạt quyền hy vọng là lý do sống của con người." (trang 596). "Khi con người sống chen chúc nhau trong cảnh khốn cùng, đói khát và tuyệt vọng trong thời gian dài hơn chục năm trời, đ-ã cho tôi rút được bài học sau đây: "Lòng nhân đạo của con người có giới hạn, nhưng sự ác độc của loài người thì vô tận, nhất là khi sự ác độc đó được dung dưỡng bởi hoàn cảnh xấu xa." (trang 597) Cuốn sách dày 650 trang với cái hình bìa rất gợi cảm nói lên tất cả nội dung bên trong. Cái màu đen kịt thật rùng rợn. Màu đen của chết chóc. Màu đen của hận thù. Màu đen của tuyệt vọng, của đường hầm tối không một kẽ sáng, không một lối thoát. Màu đen khủng khiếp này đang muốn nuốt chửng cả mấy cái bông hoa hướng dương có vẻ đang rũ héo cố hút lấy một vài giọt nước cuối cùng để sống còn giữa một vũng máu đỏ. Tôi mở cuốn sách với cái cảm giác màu đen ghê rợn này. Rùng mình. Nổi da gà. Bị hút thật mạnh, tôi đọc một hơi từ trang đầu đến trang cuối cùng, không bỏ sót một hàng. Rôì lại đọc lại, chầm chậm, giữa hai hàng chữ. Tôi ít khi đọc một cuốn sách nào kiểu như thế. Thử tập đặt mình một phần nào vào chính cái rung cảm của người viết qua những "chặng đường thương khó" của đất nước mình từ những ngày hống hách của những người Tây trắng và cái vòng đai những tai to mặt lớn trâng tráo bất công đè nén người dân quê thấp cổ bé miệng, đến những cái xác bị mổ bụng trôi sông mà trẻ con miền thơ ấu gọi là "thằng chổng." Tôi chảy nước mắt. Tôi biết nhiều người đọc "Tôi Phải Sống" đã khóc. Không phải chỉ thương người viết, thương bao người bị tù đầy trong tuyệt vọng, mà thương cả cái dân tộc khổ đau quằn quại của mình. đầy máu. đầy nước mắt. Người mình bị các thế lực xâu xé hành hạ, rồi các "ông thần nhiều râu" đến từ phương tây lại dạy cho người mình biết d-ỉnh cao mà hành hạ nhau, chú Sáu giết dượng Tư anh em trong nhà, móc mắt nhau, mổ bụng nhau, chặt đầu nhau, chôn sống nhau, làm tế vật tế "thần nhiều râu." Râu đỏ hay râu xanh. Bị đẩy vào những hệ thống, như những móc xích, cứ thế mà chạy, không sao ra khỏi, không cần dùng đầu nữa, chất nhân tính biến mất dần, lòng nhân ái và cái tâm lương thiện bị thui chột dần! Chả lẽ dân tộc mình đã đến thời mạt vận hết đường ngóc đầu lên được?! Chả lẽ dân tộc mình cứ mãi phải nuốt nhục cúi đầu trước cộng đồng nhân loại đang tiến quá xa về mọi phương diện?! Nghe những vụ buôn con gái Việt Nam sang Tàu mà đau. Con mình đấy chứ, cháu mình cả đấy chứ!!! "Cuối cùng rồi trên quê huơng ta đã im tiếng súng, nhưng trong lòng dân tộc Việt nam cuộc chiến vẫn chưa tàn. Mộtđ-iều trớ trêu là mặc dù đã im tiếng súng nhưng cuộc chiến đó không có kẻ thắng mà chỉ có những người thua. Những người thua cuộc chính là toàn thể dân tộc Việt nam.” (trang 605) ĐẾN THỊ KIẾN PHỤC SINH Từ lâu tôi vẫn nghĩ, thế nào rối từ những đầy đọa cùng tột, từ những xâu xé tương tàn phi lý ghi đậm một vết nhơ nhất của lịch sử dân tộc mình, cũng sẽ nẩy sinh ra những tác phẩm lớn, có sức bật sáng và đánh thức, mở cửa thay chuyển cả một hướng đi, và hồi sinh như bông hoa hướng dương mọc lên từ nấm mồ thối tha và đen kịt. Cuộc tái lập quốc cuả dân Do Thái vào năm 1948 d-ã chỉ thành hình từ một cuốn sách mỏng cuả Herzl: Quốc Gia Do Thái. Cuốn sách này manh nha từ cuối thế kỷ 19 tại Âu châu, đã là linh hồn cho phong trào Sion phục hưng đất nước. Nhưng cái tinh thần này lại bắt nguồn tự Bộ Kinh Dân Tộc của họ, mà bây giờ đã là một phần của Cựu Ước trong Bộ Kinh Thánh của đạo Chúa. D-iển hình là Thị Kiến Phục Sinh của tiên tri Ezekiel trong cảnh lưu đày thảm khốc vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên. Không ai có thể tin nổi trạng huống của dân Do Thái lưu đầy bi thảm và tuyệt vọng như một đống xương khô nằm rải rác khắp cánh đồng như kiểu ”Killing Fields” mà lại có một chút hy vọng nào được! Thế mà tiên tri Ezekiel và đám môn đệ của ông đã dám tin vào một cuộc phục sinh Do Thái. Sở dĩ ông có niềm tin ấy là vì dưới con mắt ông, đấng Toàn Năng vẫnđ-ang dẫn đầu cuộc hành trình của dân tộc ông, mặc dầu đang đi qua đêm đen hãi hùng, d-ang mò mẫm qua vùng mồ mả đầy xác chết và xương trắng ngổn ngang. Lịch sử của dân tộc Do Thái phải có một ý nghĩa, mặc dù dưới con mắt của nhiều người là phi lý chán chường. Cái hướng lịch sử này đang được mở tới theo một con đường huyền bí, nói theo kiểu người mình là do Ông Trời xếp đặt, đúng thời, đúng điểm. Ta về ta dựng mây lên Trời xe mây lại một bên hòn Lèn. Đã đến thời điểm chiếc xe lịch sử chuyển bánh thì không một sức mạnh nào cản ngăn được nữa. Ezekiel d-ã thành công trong việc khắc sâu niềm tin này vào tâm khảm những kẻ lưu đầy khi họ phải đương đầu với một tương lai mịt mù đen tối của dân tộc họ: Tay quyền phép Đức Giavê chạm đến, Thần Khí Người chợt giáng xuống mênh mông, Ngài đem tôi đặt chính giữa cánh đồng, Ôi ghê rợn đầy xương khô rải rác. Ngài hỏi tôi ”Xương có nhập với xác?” Tôi trả lời ”Ngài biết rất tỏ tường”. Rồi bảo tôi ”truyền sấm chỉ trên xương, Ta cho chúng Thần Linh và sức sống. Ta cho gân là sinh lực chuyển động, Ta cho thịt mọc lấp kín xương người, Ta căng da và khí lực bởi trời, Cho dương sức chúng trở về cõi thế. để chúng biết một mình Ta Chúa Tể” Vâng lời Ngài tôi tuyên sấm trên xương, Sấm truyền xong, kìa huyên náo lạ thường, Các bộ xương đã từ từ ráp nối, Cả thịt da mọc đùn lên tựa thổi, Nhưng vẫn là những đống xác vô tri. Ngài lại bảo ”Truyền sấm đến tử thi, Để Thần Khí Ta nhập vào xác ấy”. Dứt lời truyền, cả đoàn người đứng dậy Đông đảo thay người người sát vai chen. Ngài bảo ” đó toàn thể Israel, Ta cho chúng phục sinh từ cõi chết.” Chúng nhủ thầm ”Xương héo khô gần hết, Hy vọng gì sắp mục nát tiêu ma.” Ngài bảo chúng ”Ta mở mộ ngươi ra, Cứu ngươi sống làm dân Ta tuyển chọn, Đưa ngươi đến đất lành Ta đã chọn, Nơi sữa mật triền miên chảy không ngơi, Cho Thần Lực nguyên khí sống muôn đời, Ta thi hành lời sấm truyền đã hứa. (Ezekiel 37:1-14; Hoàng Vũ chuyển thành thơ) Quả thực, người Do Thái đã dựng lại quê hương của họ từ một niềm tin, từ một Bộ Kinh Tin làm nên Bộ Kinh Dân Tộc của họ. Và người diễn lên viễn tượng cho một cuộc dựng lại quê hương chính là Ezekiel. HOA ƠI TÊN GÌ CÓ PHẢI HOA HƯỚNG DƯƠNG? Cách đây mấy năm, nhạc sĩ Phạm Duy trong "Ngụ Ngôn Mùa Xuân" đã thấy một viễn kiến một người đội khăn tang đi chôn xác. Cả triệu xác chết không phải là phi lý, nhưng đang thành hoa màu cho muà xuân mới của dân tộc. Người đội khăn tang cũng đang chôn luôn các chủ nghĩa giết người, chôn "cả tội hèn của chúng ta." Tiếng hát Thái Hiền rất truyền cảm d-ang vang lên êm ả như một lời vỗ về ru con, ru những trẻ em bất hạnh trên khắp nẻo đường quê hương. Người đi trong mùa đông đội khăn tang mang tình thương theo người phu đi vùi lấp mộ phần... Chôn mộ xong nghe mùa xuân đang rộn rã tới gần. Mai đây nấm mồ một nụ vàng sẽ hé Hoa ơi tên gì có phải hoa hướng dương? Hoa ơi tên gì hoa tình yêu đó em... Phải đọc tới Cuối Chuyện, người ta mới thấy được khá rõ điều tác giả muốn nói trong suốt những bước ngoặt ngoèo tại sao "Tôi Phải Sống." Toàn tập Bút Ký rất giá trị này không chỉ nhằm nói lên cõi ác tối đen thăm thẳm trong những năm tù đầy của mình và của biết bao người như nhiều ngườiđ-ã nói, mặc dù rất khủng khiếp, nhưng chính là để cho thấy sự vượt thắng của cái Thiện, của Nhân Ái, của Thứ Tha, của Tình Thương của Đấng vẫn dẫn đầu hướng đi lịch sử đời mình và của cả dân tộc. Chính chất Nhân Ái này mới có đủ nhựa sống làm hồi sinh những bông hoa hướng dương kia, mà mới là chất keo gắn liền tình dân tộc, mở ra viễn kiến chung cho dân tộc. Chính bông Hoa Tình Yêu luôn hướng về Mặt Trời mới có thể còn chất sống mà vươn lên. " Trước tiên, về phương diện tôn giáo, trong cảnh khốn cùng đó, tôi nhận thấy vai trò của một linh mục thật vô cùng cần thiết để mang lại tình thương và niềm hy vọng trong khung cảnh mà hai thứ giá trị này rất hiếm, nếu không muốn nói là không có. Chính tình yêu và niềm hy vọng của chân lý Phúc Âm đã cho tôi điểm tựa và tôi chia sẻ hồng ân này với các bạn tù mà tôi có dịp sống chung. Tôi nghĩ rằng, trong môi trường tù ngục đọa đầy d-ó, tôi đã sống sứ mệnh linh mục có nhiều kết quả hơn sáu năm trước ngày tôi vào tù... Hơn nữa, qua biến cố xảy ra tưởng như vô tình, nhưng sau này, tôi nhận ra d-ó chính là sự quan phòng của Thiên Chúa, và tôi luôn nghĩ rằng, trong hết mọi hoàn cảnh, luôn có bàn tay Thiên Chúa che chở cuộc đời tôi." (trang 595) "Không bao giờ oán trách con người, không bao giờ thù hận con người, không bao giờ tiêu diệt con người, nhưng phải bằng mọi cách loại bỏ bất cứ chế độ xấu xa nào đã khuyến khích và dung dưỡng sự hận thù giữa người với người, và thay vào đó một xã hội lành mạnh để con người được phát triển phần Lương Thiện của mình.” " Không một chế độ nào dùng họng súng và nhà tù để cai trị mà vững bền được, chỉ có lòng nhân mới cảm hóa con người." Như thế " Tôi Phải Sống" không phải là một tập bút ký mang màu sắc chính trị nào cả, mà là một lời chứng hùng hồn về sức mạnh của Tình Thương thắng được bạo tàn, mở ra một viễn kiến về một bình minh dân tộc, vượt lên trên được mọi xung khắc để góp phần khai triển bộ Kinh Tin dân tộc. "KHI CON NGƯỜI TÌM RA LẼ SỐNG." (Man's Search For Meaning) Từ trong trại "tập trung sát tế" thời Đức Quốc Xã, Viktor Frankl đã tìm ra lẽ sống còn và giúp nhiều bạn tù Do Thái đứng vững giữa những đấy đọa tột cùng. Frankl bị mất hết người thân trong gia đình, thân xác bị lột trần, nhân phẩm bị tước đoạt, mà vẫn còn là mình, mà vẫn cứ là mình. Và ông đã để lại cho nhân loại một cuốn sách mỏng nhưng mang giá trị siêu việt về tâm lý, tâm linh và giáo khoa. Đó là cuốn " Khi Con Người Tìm Ra Lẽ Sống," (Man's Search For Meaning) với khám phá về Logotherapy. Khám phá đó là: Con người khác con vật ở chổ biết tự thức về bản ngã của mình, mang tự do căn bản để chọn lựa thái d-ộ sống mình vẫn cứ là mình trong bất cứ hoàn cảnh nào. Khi mọi thứ quyền khác bị tước đoạt thì mình vẫn còn cái quyền căn bản đó. Và khi con người đã tìm ra lý do để sống, thì không một quyền lực nào hay hoàn cảnh nghiệt ngã nào lay chuyển nổi. Sở dĩ có những người phải tự tử vì thấy đời buồn chán, phi lý và tẻ lạnh. Hãy bắt đầu làm một cái gì cho mình và giúp người khác được thì tìm ra được lẽ sống. Stephen Covey d-ã áp dụng thành công vào trong chương trình " The Seven Habits of Highly Effective People " rất nổi tiếng ngày nay. So sánh như vậy ta mới thấy "Tôi Phải Sống" quả là một tác phẩm lớn và giá trị về văn chương cũng như đường hướng. Chuyện kể của Viktor Frankl rất khô khan và đầy tính lý luận. Đang khi "Tôi Phải Sống" lại rất sống động hào hứng đọc mà không rời ra nổi. Những chuyện "ngày xưa còn bé" kể lại lần đầu được đi Sài gòn thì tuyệt quá. Tôi có cảm tưởng chuyện "Tô Phở Đầu Đời" hay hơn Phở Tráng trong Miếng Ngon Hà Nội của Vũ Bằng xa. Hạnh phúc dân mình giản đơn vậy đó mà người ta lại đưa cho bánh vẽ cùng với những trái bom. Nhiều người đọc "Tôi Phải Sống" với một cung cách hơi lạ đời: cứ xụt xùi thương cảm khóc một hồi rồi lại phá ra cười. Cái cười thật tinh vi hóm hỉnh lẫn xả láng. Cười xong rồi lại khóc! Khổ sở vậy đấy mà cứ phải d-ọc! Trong "Tôi Phả Sống," nhiều lần những tù nhân khốn khổ đã dùng những cái cười để gọi là ngạo nghễ "cười vào mặt nhân gian." Cười để thấy rằng những người đang hành hạ mình thực ra chẳng có quyền gì trên mình cả. Như chuyện Lm. Phạm Quý Hòa "bị ngựa đá," chuyện Lm. Trần Văn Nghị vì quá thương tình cho anh em một cái khăn tay mà bị đánh nhừ tử rồi bị cùm bảy ngày đêm. Thế mà vẫn nhe răng cười hề hề... Một khi đã thấy được lẽ để sống, thấy được một sứ mạng để đi tới thì không gì chế ngự được nữa. Đó là trường hợp khi 28 anh em linh mục được thả về mà tác giả phải ở lại một mình. Cái cảm giác bị bỏ rơi cô đơn tuyệt vọng quá xót xa thân phận mình. Nhưng "qua sáng ngày, tôi cảm thấy mình đã trở nên một con người khác," khi nhận ra tiếng Chúa: " Cha muốn con tiếp tục ở lại đây với những tù nhân khốn khổ còn lại, để con yêu thương, an ủi, giúp đỡ và chia xẻ đời con với họ..." (trang 552) TÌM RA LẼ SỐNG TRONG MỘT NHÀ TÙ MỚI Hồi còn làm học trò từ nhà quê lên "du học" tại Sài gòn, mỗi lần từ giã Bố tôi thường dặn: " Ra đường có ai hạ nhục con, con đừng nổi giận đánh lại hoặc nguyền rủa họ. Hãy dành sức mà làm một cái gì cho con có thể ngẩng đầu lên. Hãy dành sức mà làm một cái gì ý nghĩa hơn cho đời." Bây giờ bước vào trường đời tôi vẫn còn phải học nhiều lắm. Và đọc "Tôi Phải Sống," tôi càng thấm thía câu Bố dặn cũng như câu Mẹ ru văng vẳng trong tâm: Ầu ơ, Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi. Con đi trường học mẹ đi trường đời. Trong những ngày cuối tại trại tù Nam Hà ngoài Bắc, có người báo tin sắp có tên trong danh sách được tha, cậu Đức Mẫm ngày xưa hay Cậu Bảy Nguyễn Hữu Lễ ngày nay đã tỏ ra chẳng mấy hào hứng. " Vì nếu có về đi nữa thì cũng là chuyển từ một nhà tù nhỏ sang một nhà tù lớn. Khi bước chân ra khỏi đây để trở về xã hội bên ngoài chắc gì tôi đã yên thân. Trong khi đó, tôi đã tìm được ý nghĩa đích hực của cuộc đời phục vụ trong nếp sống ở đây." (trang 582) Không phải là vô tình mà tác giả đã mở đầu bằng chuyện khi ra khỏi nhà tù nhỏ. Vào tòa giám mục Hà nội thì gặp ngay thầy Trác rồi thầy Trạc. Hai người này giống nhau quá không sao phân biệt được, anh em sinh đôi mà. Chưa chi mà đã lẫn ông này với ông kia. Đêm hôm đó, đêm đầu tiên ra khỏi tù mà lại trằn trọc không sao ngủ được. Thế là một cuốn phim từ tuổi thơ cho đến lúc này quay chậm lại trước mắt. Bố cục và diễn tiến cuốn sách như thế thật tuyệt. Đời người như một giấc mơ qua đêm. Buồn đau vật vã rồi cũng qua đi như thế. Nhưng có cái gì đó vẫn còn lại. Sáng hôm sau, lại cũng một trong hai thầy lên gõ cửa mời xuống ăn sáng. Tập Bút Ký đã kết xem ra rất đột ngột, như có người gõ cửa gọi dẫn mình đi vào một nhà tù lớn. Và đây là câu cuối cùng thật dí dỏm: "Tôi không kịp nhìn đồng hồ trên tường, vội đáp lại: "Chào thầy..." và lí nhí thêm câu gì tôi không nhớ, nhưng còn nhớ là lúc bước vội vào nhà tắm tôi tự hỏi: "Ông này là Trác hay Trạc đây hả trời?!" (trang 610) Thì ra chúng ta tất cả cũng đang ở trong một loại nhà tù mới, tinh vi hơn và, biết đâu, còn cằn cỗi đen kịt khủng khiếp hơn. Hoa chưa chắc đã mọc lên nổi. Vì bị tước đi nhiều chất người. Bên kia hay bên này. Ở cái thời còn kháng chiến, Doãn Quốc Sỹ trong "Ba Sinh Hương Lửa" đã chợt nhận ra: " Bên kia không óc, bên này không tim." Duy vật hay duy con vật thì cũng vậy. Sau một cuộc chiến không có kẻ thắng mà chỉ có người thua là cả dân tộc, chúng ta lại trở thành những nạn nhân của một vòng hệ lụy nghiệt ngã hận thù vay trả trả vay không có lối thoát và không có đáp số. Vết thương tâm lý này lại đẩy xa hơn tới hiện tượng "giận chó đá mèo, giận cá băm thớt." Người bị thương phải giẫy giụa làm người khác bị thương theo. Và cứ thế lây lan, trong gia đình, trong cộng đồng. Kẻ thù luôn ẩn mặt. Hiện tượng phân hóa nơi các cộng đồng cũng do đó. Chẳng ai nói ai nghe vì thiếu viễn kiến chung. Vậy là mình lại quằn quại một lần nữa bởi chính những vết bầm mưng mủ mà mình không d-ủ can d-ảm buông xả nổi, thành những đợt sóng ngầm "càng kéo dài nó càng tích lũy sức tàn phá tinh thần dân tộc." (trang 602) Biết đâu mình cũng đang bị quẳng vào một vòng xích mới, trở thành một tên tù mới có mặc quần jean và áo Polo hẳn hòi, nhưng chất nhạy cảm nhân ái có thể đã bị tê liệt mất đi kháng thể, lương tri có thể đã bị gậm nhấm, khi tôi không còn cảm thấy đau cái đau tột cùng của anh em tôi, tim và óc đã bị cả một hệ thống "trật tự mới" móc đi, mà tiếng thời mới gọi là sức ép xã hội (society pressure). Có những lúc tôi chả cảm thấy liên đới trách nhiệm gì với những người đã bị hành hạ, hay ngay cả với những người mê muội một thời đã đang tâm hành hạ anh em mình, với những người d-ã nằm xuống bỏ xác nơi góc rừng u tối hay trong lòng biển cả mênh mông... Chả lẽ họ chết một cách lãng xẹc như vậy hay sao?! Và đây là lúc tôi cảm thấy thật sâu xa thế nào là cần thiết của một cuộc "Sám Hối Tập Thể" HỒN DÂN TỘC ĐÂU RỒI? Một thế hệ đã nằm xuống đã trở thành hoa màu cho một thế khác phải mọc lên. Làm một cái gì cho người mình ngóc đầu lên đi chứ! Khi còn sống, triết gia Kim Định hay nói vậy. "Tôi Phải Sống," cũng đặt ra câu hỏi: "Dđứng trước tình cảnh của dân tộc Việt nam như thế, bạn phải làm gì, và làm như thế nào?" Câu hỏi đặt ra cho người khác mà cũng là đặt ra cho chính mình. " đừng ngồi đó để ngâm nga lịch sử và than van oán trách, nhưng hãy dùng lịch sử như một bài học để có thể tránh tái diễn tảm cảnh cho dân tộc... Hãy để cho bóng tối đi qua và cùng nhau hướng về nguồn ánh sáng của Bình Minh Dân Tộc.” Giữa cảnh đen kịt tù mù của cả một bài toán không đáp số, dân tộc mình còn gặp được túc duyên mà cùng thấy được một viễn kiến chung, một con đường đi tới, thì có phúc biết chừng nào. Và điều này người mình vẫn gọi là cái Đức, cái HỒN DÂN TỘC, là kết tinh của biết bao xương máu, tim óc trăn trở và tinh thần khảng khái quyết giữ cho được chất người, chất nhân ái của dòng tộc mình, dù phải lấy cả mạng sống mình mà đối đầu với những đầy đọa có bài bản đẩy con người đến bên vực cầm thú. điều này ta thấy được rất rõ trong lời khẳng d-ịnh: " Khi nguồn sức mạnh của ý chí quật cường và lương tri tổng hợp của dân tộc được khơi dậy sẽ không có một thế lực chính trị nào dù bạo ngược tới đâu có thể cưỡng lại được." (trang 602) Tôi xúc động và hãnh diện biết bao vì thấy dòng máu nòi giống mình có quá nhiều người đã góp phần trồng cây đức đó, những người đã bị bầm dập đầy đọa, nhưng vẫn cứ nhất định ngẩng đầu lên lấy mạng sống mình làm mố cầu bác cho thế hệ sau bước tới. Nhìn như vậy, chúng ta mới cảm thấy mình mắc nợ nhiều quá. Món nợ nào rồi cũng đến lúc phải trả. Người ra đi cũng như người người ở lại. Và cũng chính vì thế mà nhiều người đang nhìn thấy "Tôi Phải Sống" quả là một tác phẩm lớn, mang tính lương tri nhân bản lấy lại phẩm giá cho chủng loại người, và góp phần thổi sinh khí cho một Việt Nam phục sinh trong một viễn kiến chung. Với sức hút nổi bật như thế, chẳng ai lạ gì, "Tôi Phải Sống" đã trở thành một hiện tượng lạ với số sách bán chạy nhất trong lịch sử văn học Việt Nam từ xưa đến nay trong nước cũng như ngoài nước. Vì "Tôi Phải Sống" không phải chỉ được viết bằng óc, bằng tim, mà bằng máu, bằng chính mạng sống. Và nhất là bằng con đường tìm ra lẽ sống. Vì chính lúc bị dồn vào đáy vực của cái chết, linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã hét lên ba đợt: Tôi Phải Sống... Tôi Phải Sống... Tôi Phải Sống... Tiếng hét này vẫn tiếp tục vang lên trong tim mỗi người Việt khi mình cứ phải cúi đầu chung phận với một Việt Nam nghèo khổ nhục nhằn trước đà tiến của ngay cả những nước láng giềng thua mình xa mấy chục năm về trước. Bây giờ đã chậm lắm rồi. Nhưng vẫn chưa quá muộn để bắt đầu. Tôi Phải Sống để làm chứng một chuyện gì. Tôi Phải Sống để biết rằng tôi có một sứ mạng, một ơn gọi, một món nợ phải trả cho dân tộc tôi, cho sự hiện hữu của tôi trên mặt đất này, làm một điều gì có ý nghĩa hơn cho đời. Đó là lẽ sống. Tại sao tôi phải sống? Tại sao bạn phải sống? Và tại sao chúng ta vẫn còn tiếp tục sống? Đặt câu hỏi tức là đang tìm ra cho mình câu trả lời làm lẽ sống. Hình bìa "Tôi Phải Sống"đang được đặt ngay trước mặt tôi đây như công án để chiêm nghiệm. Lẽ sống của mỗi người là nhận lấy trách nhiệm góp giọt máu trong tim của mình tưới cho những bông hoa hướng dương kia hồi sinh, bật sáng được lối đi cho d-àn con bước tới trong một viễn kiến chung: mùa xuân đang rộn rã tới gần. Hoa ơi tên gì? Hoa Tình Yêu đó. Dòng sinh mệnh dân tộc đang chảy tới đó. Đúng vậy. "Hãy để cho bóng tối đi qua và cùng nhau hướng về nguồn ánh sáng của Bình Minh Dân Tộc.”

 

lỜI NOÍ ĐẦU:- Cha Pio Hậu một Linh Mục Công Giáo đã can đảmtình nguyện dấn thân vào cánh đồng truyền giáo trên 20 năm. Ngài đã ghi lại những bước thăng trầm, buồn vui trong cuộc đời truyền giáo của Ngài trong Nhật Ký Truyền Giáo, mà không ột lời tựa nào có thể lột tả hết nghĩa trung thực của nó, chỉ có trong thinh lặng, ngồi đọc tác phẩm của Ngài mới có thể cản nhận phần nào những mặn đắng, ngọt bùi trongcuộc đời truyền giáo. Cái Rắn, ngày 6.11.1997 Sáng nay mình đi thăm nạn nhân trên bờ Kinh Giữa. Đã bốn ngày nay rồi mà cây cối vẫn còn nằm ngổn ngang trên lối đi. Ai nấy lo dựng nhà cho mình và cho lối xóm, quên cả dọn dẹp trong vườn và ngoài ngõ. Mình trèo qua những thân cây bạch đàn lớn, nhảy qua những thân cây bạch đàn nhỏ, luồn dưới những bụi cây trâm bầu bị chém treo cành. Ui da! Ong! Một con ong chích vội một phát vào cánh tay trên trắng nõn của mình rồi chuồn mất dạng. Mình dừng lại ngay. Bất động, để tránh sai lầm thêm, để dò tìm hướng tấn công của địch. Ngước nhìn lên một cách chậm chạp: một tổ ong chỉ ở cách đầu mình một gang tay. Rút lui thật nhẹ. Thua nhỏ để thắng lớn. Thở phào nhẹ nhõm. Rút kinh nghiệm chiến trường. - Tại sao chỉ có một thằng đánh lén? - Tại sao địch ở thế lâm nguy, như thế mà vẫn sinh hoạt tỉnh bơ: Hàng chục con ong cứ bò tới bò lui trên một mảng ô lục lăng to bằng ngón tay cái? Lười biếng? Vô trách nhiệm? Ngu đần? - Không phải: thằng đánh lén là ong lính, có nhiệm vụ chiến đấu để bảo vệ; những thằng bò tới bò lui là ong thợ cần cù, có nhiệm vụ xây dựng. Việc ai nấy làm trong một cơ chế hoàn hảo tuyệt đối. Ta bị ong đánh là sai lầm của ta. Ong đánh ta và không đánh ta là túi khôn của trời đất. Mình đem kinh nghiệm lượm được trên đường đi này để trao đổi với các nạn nhân bão số 5. - Bà Bảy ơi, tôi vừa bị ong đánh nè. - Ông cố bị ong đánh ở khúc nào vậy? - Ngay khúc nhà Ba Tấn. - Tội nghiệp ông cố quá vậy? - Tôi ngu thì tôi chịu. Ai bảo đưa đầu vào ngay tổ ong làm chi? - Ông cố này nói kỳ quá à. Ong đánh ông cố là nó ác nhân thất đức, chứ đâu phải là ông cố ngu. Ông cố mà ngu sao? - Ừ đấy, ong khôn, tôi ngu; bão số 5 khôn, chúng ta dại. Bão tố là trật tự của thiên nhiên, còn ta không biết trước để đề phòng là ta dại. Bà Bảy ớ ra, rồi đánh trống lảng sang chuyện khác. - Ba mẹ con tui sập nhà hết trơn. Thằng Nhơn nó mới về tiếp cho được một bữa, hôm nay nó về Cái Nước rồi. Đi được ba bước thì tới nhà Huế Tài, con rễ bà Bảy. Huế Tài đang ngồi chon von trên nóc nhà. - Tài ơi, bỏ đó đi, xuống đây chúng mình kéo vài hơi thuốc lào đã. Màn trời chiếu đất hai ngày nay rồi, dầm mưa dãi nắng thêm một ngày nữa cũng chẳng nhằm nhò gì. Huế Tài trèo xuống, xách điếu cày ra, mồi thuốc cho mình. - Ờ, thuốc lào của cậu ngon đấy. Đượm khói ra phết... - Thùy, hôm bão, con chun vô đâu? Sợ không? - Sợ. - Hỡi người yếu tin, tại sao các người sợ? - (Cười e lệ)... Chắc là bé Thùy nhớ ra bài giảng của mình về phép lạ Chúa làm sóng gió im lặng. Hôm đó cha con mình làm một băng reo. - Sợ là...- Hèn... - Sợ là...- Yếu tin... Huế Tài thao thao bất tuyệt. - Mấy ông già ở đây cứ hỏi con: Ở ngoài Bắc bị bão hoài, bão là gì? Nói hoài các ông cũng chẳng hiểu. Bây giờ con chỉ cần trả lời: Bão là vậy đó... Khoa học của loài người còn dở quá. Bão như thế mà chỉ báo khẩn cấp có vài tiếng đồng hồ, thì bố tôi cũng không kịp chạy... Còn chuyện thiên tai như động đất, bão lụt là chuyện thông thường của thiên nhiên cũng như ngứa mũi thì hắt hơi. Huế Tài thích triết lý lắm, nên mình cũng triết lý với anh ta cho quên nỗi lo của cơn bão số 5... Cái Rắn, ngày 9.11.1997 Ăn sáng vừa xong, cây tăm vẫn còn đang uốn éo trên hai ngón tay, thì có tiếng gầm gừ của vỏ lãi chạy bằng máy xe hơi. Cố Hiến vô. Quản Long vô. Mình vội chạy ra bến. - Chào anh Ba. Chào Quản Long. - Ê, có Manu (bà quản lý dòng Chúa Quan Phòng) nữa nè. - Có dì Mười nữa (bà giám tỉnh dòng Chúa Quan Phòng). - Chào dì Mười. Dì Mười mà không xuống thăm Cái Rắn, thì tôi sẽ gọi là dì ghẻ. Người ta nói chết cha còn chú, sểnh mẹ bú dì cha, chú, mẹ chết hết, chỉ còn một mình dì Mười đó thôi. - (Cười tủm tỉm) Hôm bão con đang ở Vũng Tàu, chứ nếu không thì xuống đây còn sớm hơn nữa. - Vâng. Cái Rắn là con cưng của dì Mười? - Hổng cưng đâu. Cộng đoàn nào cũng như cộng đoàn nấy.... - Nói vậy mà không phải vậy. Đứa nào cực khổ thì thương hơn chứ. Hôm nay Cái Rắn vui như Tết và đông như hội chợ. Chị Quản Long thì gò tôn, nối kèo, dựng lại và lợp lại căn nhà ba phòng (lớp tình thương, lớp giáo lý và lớp cắt may). Em Cái Rắn thì dọn dẹp nhà thờ đổ nát và lợp lại mái nhà xứ. Cha Quản hạt, dì Mười, dì Manu, dì Chín và mình thì lấy vỏ lãi làm một vòng Kinh Giữa, Biện Tràng, Kinh Cùng, Kinh Thổ và Đập Vườn để thấy tận mắt nỗi đau thương và cảnh tan nát của Cái Rắn. Chỉ trong một ngày, đống đổ nát đã cuốn gói đi theo bão số 5. Đi về đâu? Không biết. Chỉ biết là nhà xứ bây giờ lại ấm cúng như xưa, nhà trường lại khang trang như thuở nào và tình người thì chan chứa. Bão số 5 thì đi, còn tình người thì đến. Bão đến rồi đi. Tình đến rồi ở lại. Cái Rắn, ngày 11.11.1997 Hôm nay Nữ tử Bác ái từ Sài Gòn xuống. Áo xanh, áo xanh và toàn là áo xanh. Màu xanh dương sậm vừa khiêm tốn như nô tỳ, vừa thật thà, hiền hậu như nàng thôn nữ miền quê. Chiếc vỏ lãi gầm lên như con hổ nổi giận, cày xới dòng sông Gành Hào một cách không thương xót, nhưng lại làm vui lòng người Sài Gòn, bạn thân của tốc độ. Sài Gòn, Cà Mau, Cái Rắn, Cái Nước, Đồng Cùng, Kinh Nước Lên, Đất Mới, Kinh Ba, Cái Cấm, Cà Mau, Tân Lộc và Sài Gòn... trong vòng ba ngày. Mệt gần đứt hơi, nhưng người con gái của thánh Vinh Sơn vẫn còn thèm thuồng. - Có đi Năm Căn không cha? - Xa lắm, đi không kịp đâu? - Bác Ái Vinh Sơn không quên Năm Căn được. Chúng con đã đến đó. Chúng con sẽ trở lại đó. Bác Ái Vinh Sơn là như vậy. Họ đã đến Năm Căn vì Năm Căn lúc ấy nghèo như ông Gióp. Họ muốn trở lại Năm Căn vì Năm Căn là khởi điểm để đi đến với người nghèo. Yêu người nghèo. Yêu Năm Căn. Yêu dai như đỉa... Và bây giờ thì yêu nạn nhân của bão số 5. Cái Rắn, ngày 14.11.1997 Mình theo cha quản hạt tháp tùng đoàn cứu trợ từ Sài Gòn xuống. Đi suốt hai ngày, nối tiếp hai ngày. Mệt đứ đừ. Đoàn gồm nhiều thành phần đến độ nhớ không nổi. - Mười Râu ơi, bà nào cao như ông Tây đó? - Chị Thu, giám đốc khách sạn Continental. - Chị ở dòng nào vậy? - Con ở Mân Côi, Chí Hòa. - Còn chị? - Dòng Đức Bà. - Không phải, dòng chim chứ, một ông thầy Đa Minh chen vào. - Còn bác? - Con thuộc giáo xứ Xây Dựng, còn ông này thì ở bên Vườn Xoài. Chúng con ở trong nhóm Đoàn Kết. - Còn chị thì tôi biết rồi: dòng thánh Phaolô. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm về dòng thánh Phaolô. Các chị ở số 4, chúng tôi ở số 6 đường Cường Để...Mình tự hỏi: nếu không có cơn bão số 5, thì những khuôn mặt lạ hoắc này có đến vùng cuối Việt này không nhỉ? Nếu không có nhà sập, thì liệu họ có biết mình và thương mình không nhỉ? Mình mất một nhà thờ, một nửa nhà xứ, một nửa trường học... nhưng lại được vô số tình yêu. Như vậy thì lời hay lỗ? Cứ sau một tai họa khủng khiếp, một trang sử lại lật qua, trang sử của một người, của một tập thể... Mình sực nhớ lời Mười Râu phát biểu ngày 4.11.1997 vừa qua: Chúng ta phải tìm hiểu xem Chúa muốn nói với chúng ta điều gì qua biến cố này?. Phải có một trang sử nào đó đang được Chúa lật qua... Cái Rắn, ngày 15.11.1997 Hôm nay P.P. từ Sài Gòn xuống thăm Cái Rắn. P.P. đã làm mình sửng sốt nhiều phen: cánh tay thật dài, vòng tay thật rộng. Khiêm nhu như cây cỏ. Âm thầm như bóng đêm. Lặng lẽ như gió thu. Mình gửi Fax cho P.P. ngày 5.11, thì ngày 7.11 mình đã nhận được quà cứu trợ của P.P.: món quà lớn nhất, sớm nhất, nhưng cũng âm thầm nhất, vị tha nhất.P.P. sống trong một gia đình nửa Phật nửa Chúa. Bởi vậy P.P. từ bi theo Đức Phật, vị tha theo Đức Chúa Giêsu. P.P. biết mình một cách tình cờ. Mình đến với P.P. một cách ngẫu nhiên. Có một bàn tay vô hình nào đó đang lần mò và nối ráp khoảng cách tưởng như vô cùng giữa mình và P.P. Mình thầm mơ ước trên đời này có thật nhiều P.P. để chúng sinh bớt khổ đau, tiếng rên la của loài người không còn ai oán... Trong thánh lễ chiều nay, mình cầu nguyện cho P.P. thật nhiều để tỏ lòng biết ơn, nhớ ơn và đền ơn. Cái Rắn, ngày 16.11.1997 Hôm nay Mến Thánh Giá và giáo xứ Tân Lập đến với Cái Rắn. Người ta kể rằng: Những bao quần áo cũ ấy được các bà hiền mẫu ủi suốt đêm. Như thế có nghĩa là nạn nhân bão số 5 không bị thương xót mà được kính trọng và yêu thương. Mình hân hoan đón nhận tình yêu, nhưng quyết liệt từ chối lòng trắc ẩn. Tình yêu là trao tặng, trắc ẩn là bố thí. Cái Rắn, ngày 17.11.1997 Sáng nay mình tới UBND xã để trao đổi về việc sửa chữa khẩn cấp của ngôi trường bị sập. Bốn trường ấp bị sập hoàn toàn. Hơn sáu trăm học sinh bơ vơ như trẻ thơ không mái ấm. P.P. giúp 20 triệu, xã phụ thêm 7 triệu. Thế là một ngôi trường đầu tiên được phục hồi sau cơn bão số 5. Mái trường sẽ đẹp hơn và ấm hơn. Ông Chủ tịch tâm sự: - Hôm qua có một phái đoàn cứu trợ đến tặng quà. Bà con giành giật mất trật tự quá xá. Người thì được hai ba bọc, người thì chẳng được tí gì, chửi bới um sùm. Mất thể diện quá! Đó là quy luật. Cung-cầu không cân bằng thì gây xáo trộn. Cầu quá lớn mà cung quá nhỏ thì gây nên đại họa. Luật cung-cầu này không chỉ đúng trong lãnh vực kinh tế mà còn đúng trong cả lãnh vực tôn giáo và đạo đức nữa. Năm 1989 mình đến thăm một họ đạo thuộc tỉnh Phú Thọ. Cha xứ mời mình ngồi tòa. Tòa giải tội rung rinh như có động đất. Mình đứng dậy ra quan sát tình hình. Thật là khủng khiếp. Thật là quái gở. Một rừng người chen lấn nhau một cách hồ lốn. Tại tòa có ba người củng quỳ: người ở giữa thì xưng tội, người ở bên tả bên hữu thì lấy ngón tay trỏ thọc vào lỗ tai, để khỏi lỗi ấn tòa. Cả hai đều ở thế tấn công để chiếm ngay vị trí của người vừa xưng tội xong... Có một người đàn ông bốc vội thằng cu tí bỏ ra ngoài, để chiếm chỗ của nó: Mày là trẻ con, có tội gì nặng đâu mà xưng. Mười năm nay tao chưa được xưng tội... Giận quá! Nhưng suy cho cùng thì đó cũng chỉ đơn giản là luật cung-cầu. Linh mục ngồi tòa thì quá ít, mà giáo dân muốn xưng tội thì quá nhiều. Có người trong suốt hai thập niên chỉ được giải tội tập thể mà thôi. Mình vẫn còn ghi khắc một kỷ niệm nữa về luật cung-cầu, ở bến xe Cà Mau, trong thời xe cộ khan hiếm. Chỉ có một chiếc xe cà tàng sửa soạn đi Cần Thơ, thế mà hành khách thì đông như hội chợ. Bộ đội có, ông già có... thậm chí bà bầu cũng có. Trập trùng. Lố nhố. Bỗng có một ông thầy tu khỏe mạnh len lỏi, luồn lách, lạng bên phải, lạng bên trái, bất chấp ông già, bà bầu. Ổng lọt vào được cửa xe, chạy vội ra khung cửa sổ kêu ơi ới: - Dì Tám ơi! Lại đây nè! Thế là ông lôi bà phước chui qua cửa sổ, chiếm gọn ngay một băng hai, rồi cười sung sướng như kẻ vừa chiến thắng vẻ vang. Đấy, khi cầu quá lớn mà cung quá nhỏ, thì một ông thầy tu, một bà phước... cũng sẵn sàng mất nết một cách vô tư như thế .Cái Rắn, ngày 20.11.1997 Hôm nay mình gửi cho xã 500 phần quà. Mỗi phần quà gồm có một bọc quần áo cũ, mới, vài ba bao mì ăn liền... và một bọc 5 ký gạo. Bảy ấp cho người đến nhà thờ lấy về phân phối cho nạn nhân. Riêng ấp Cái Rắn A thì phát tại chỗ.Khi bọc quần áo thứ 73 được trao cho ông trưởng ban thì trong kho có tiếng la: - Hết. - Như vậy là thiếu 27 bọc quần áo. Bọc gạo thì còn dư nhiều lắm. Bây giờ tính sao đây ông cố? - Bây giờ ai đồng ý thì lãnh một bọc gạo nữa thay cho bọc quần áo. Ai không đồng ý thì chờ ít ngày nữa. - Tôi cần quần áo: rách hết, bay hết rồi. Gạo thì tôi chưa cần. Ở nhà tôi còn năm giạ lúa nữa. - Còn tôi thì đồng ý lấy hai bọc gạo. Có tiếng trẻ con khóc oà lên. Dòm lại, mình thấy một thằng cu tí chừng sáu tuổi đang khóc thổn thức. Mình hỏi mẹ nó: - Tại sao nó khóc vậy? - Nó khóc vì không được lãnh quần áo. Nó chỉ có một cái áo này là coi được. Tiếng khóc của trẻ thơ làm mình xót xa. Mơ ước của nó thật là nhỏ bé... thế mà bỗng trở thành không tưởng. Tại sao trẻ thơ phải khổ đến thế nhỉ? Mình không ngăn được giọt lệ. Chạy trốn về phòng, đóng cửa lại, khóc một mình.Bão số 5 giật sập nhà thờ, lột mái nhà xứ... Mình không hề nao núng. Thế mà hôm nay mình không cầm lòng được khi thấy những người đàn bà kẹp ở nách một cái bao ni-lông xẹp lép, ra về một cách tuyệt vọng, giận hờn... Vết chém của bão số 5 nhanh quá, không kịp đau. Bây giờ mới thấm. Cái Rắn, ngày 21.11.1997 Đức cha Mẫn đã đến Cà Mau từ chiều hôm qua. Mình buột miệng nói với ngài: - Muốn mời Đức cha vô thăm Cái Rắn quá sức mà vẫn cứ phân vân. - ?... - Sợ một ảo tưởng. Người ta nghĩ rằng Đức cha sẽ cho nhiều tiền lắm. Người ta sẽ bu quanh Đức cha, kéo áo Đức cha và... Đức cha không có đường rút... Mình liên tưởng đến một con cò mẹ có một bầy cò con. Cứ mỗi lần cò mẹ mỏi cánh tha mồi về tổ, thì cả bầy cò con há mỏ chờ đợi. Quạc, quạc. Nhưng chỉ có một đứa được toại nguyện. Cò mẹ lại bay đi. Những cái mỏ mở toang hoác vẫn còn đó. Hy vọng và tuyệt vọng.Ngồi nói chuyện lan man với Đức cha, mới thấy bão số 5 đẻ ra vô số vấn đề. Có một người đàn bà than thở với bạn: - Bên Công giáo các chị được Ông Chúa báo trước, nên không ai chết chìm. Bên đạo chúng tôi chết nhiều quá! - Chuyện gì nữa vậy? - Ở vùng Duyên Hải, Vũng Tàu, Phước Tỉnh... giáo dân đi khơi đều kéo nhau về hết từ ngày 1.11 để dự lễ Các Thánh Nam Nữ và Các Đẳng Linh hồn. Nhờ đó mà thoát chết. - Ở Cái Rắn cũng có tiếng đồn: Trời thương bà phước hơn ông cha. Mái nhà ông cha lợp bằng fibro thì bể hết. Mái nhà bà phước lợp bằng lá thì còn nguyên. Hai cây me mọc ở hai góc nhà bà phước đều đổ ra phía ngoài. - Bão mà cũng biết phân biệt đối xử sao ta? Sở dĩ cây me đổ ra phía ngoài, vì theo bản năng sinh tồn, nó đưa hết rễ ra phía ngoài, vùng đất có nhiều muối khoáng và nước. Nhất nước, nhì phân mà. Đất nền nhà vừa khô vừa chua. Thế là mạnh phía ngoài và yếu phía trong. Hai cây me này giỏi về mặt kinh tế và dở về mặt quốc phòng. Nhờ thế mà bà phước thoát chết.Bão số 5 ơi, mi đã đến và mi đã đi, không kèn không trống. Mi không nhiều lời, mà tại sao loài người lại nhiều lời đến thế? Cái Rắn, ngày 23.11.1997 - Ông cố ơi, Đức cha tới! - Chết rồi, không kịp chuẩn bị gì hết! Mình vội chạy ra bến. Áo thun cụt tay.Có ai đó đang kè Đức cha từ dưới vỏ lên. - Đêm qua mưa, khí hậu ẩm thấp, chân tôi lại sưng lên và đau khớp. Đức cha chỉ kịp ăn cơm trưa. Bữa cơm giản dị dưới mức trung bình. Ăn xong Đức cha lại xuống vỏ đi thăm Khánh Hưng và Thời Hưng. Ngài nói thật nhỏ bên tai mình: - Tôi có chút quà gởi cho bà con. Mai cha ra Cà Mau mà lấy. Tình yêu của một người cha nhưng lại khéo léo như tình yêu của một người mẹ. Tình yêu âm thầm. Tình yêu dấm dúi. Cái Rắn, ngày 26.11.1997 Chiều hôm nay mình đang dâng lễ thì có khách, khách Sài Gòn, khách Vườn Xoài. Toàn là phụ nữ, trừ một người vừa to vừa cao. Nghỉ đêm. Muỗi như trấu, lì như trâu, cắm vòi xuyên qua quần jean, xuyên qua chiếu dày. Người đẹp mất ngủ.Sáng nay, các bà nhao nhao lên: - Cha cho tụi con đi thăm bé Linda, bé ra đời vào đúng lúc bão giật sập nhà. - Nhà nó ở xa lắm. - Ông cố ơi, mẹ con nó về ở nhà ông nội rồi. Gần lắm. - Rồi, con đưa các bà đi thăm mẹ con nó. Các bà đua nhau bồng Linda và khen bé xinh. Tặng quà lia chia. Thăm hỏi rối rít và... le lưỡi vì Linda là đứa con thứ tư của một người mẹ trẻ như con gái! Cái Rắn, ngày 27.11.1997 Chiều nay khách đến rất đông: Mặt trận xã, Liên hiệp Phụ nữ xã, dân chính ấp... Đề tài trao đổi là cứu trợ. Chuyện ngoài lề là những tiếng than: than vì chưa được cứu trợ; than vì được cứu trợ ít quá; than vì kẻ được người không. Cán bộ oán trách dân. Dân oán trách cán bộ. Người cứu trợ oán trách nạn nhân. Nạn nhân xâu xé người cứu trợ... Khổ ơi là khổ!Cũng chỉ vì: thiên tai của một thế kỷ; thống khổ của một trăm năm!Vết thương của bão số 5 vẫn còn lở loét, nhưng rồi sẽ khép miệng và mọc da non. Bĩ cực rồi thái lai. Cứ chịu đựng và chờ đợi. Cái Rắn, ngày 7.12.1997 Lớp Thần học Nguyễn Văn Bình đến đây từ tối hôm qua, nhưng vì tối tăm và lấm lem, nên sáng nay chủ và khách mới nhìn rõ mặt nhau. Xơ Thảo ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa trao cho mình một lá thư và một gói quà cứu trợ. Bao giờ mình cũng nhận quà cùng với nụ cười của người trao tặng. Hôm nay thì không. Mình chờ nụ cười duyên dáng của xơ Thảo. Tuyệt vọng! Dường như xơ Thảo đang ấm ức điều gì đó. Giận mình chăng? Không. Hận đời chăng? Có lẽ thế. Lá thư nhảy nhảy trong bàn tay run run của xơ Thảo: Ngày 4.12.1997 Kính gửi cha, Thưa cha, chúng con là một nhóm bạn trẻ khuyết tật, vào đời với đôi chân khập khễnh. Sau hơn bốn năm phấn đấu sống tự lập nuôi bản thân. Hằng ngày chúng con sống bằng nghề may, thêu, buôn bán nhỏ, dạy học.Chúng con có dành dụm được một số tiền để chống dột căn nhà chúng con đang ở. Nhưng vào thời điểm này, chúng con biết được một số lớn đồng bào ở Hậu Giang bị cơn bão số 5.Đứng trước cảnh đau thương đó, chúng con cũng là những người bất hạnh muốn chia sớt nỗi đau với những người bất hạnh. Chúng con ước mong có thật nhiều tấm lòng hảo tâm cùng góp sức để xoa dịu nỗi đau của đồng bào Hậu Giang, giúp họ sớm ổn định cuộc đời. Chúng con xin kính nhờ cha chuyển giúp số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu chẵn) chúng con có, đến quý đồng bào đó.Chúng con cám ơn cha và kính chúc cha một cuộc sống bình an. Kính chào cha, Thay mặt nhóm trẻ khuyết tật. Nguyễn Thị Mai. Đọc xong lá thư và nhìn năm triệu đồng nằm trần trụi trên bàn, mình cảm thấy tim thắt lại. Bây giờ mình mới hiểu cái ấm ức của xơ Thảo. Các xơ đồng trinh, không sinh con, nhưng lòng mẹ của các xơ vẫn dạt dào như biển Thái Bình. Lòng mẹ ấy đùm bọc, nâng niu và nuôi nấng hàng trăm, hàng ngàn những đứa trẻ bất hạnh ôvào đời với đôi chân khập khễnh. Dành dụm, chắt chiu mãi vẫn chưa sửa lại được mái nhà dột nát, thì... đùng một cái, bão số 5 ập tới. Số người bất hạnh lại tăng lên hàng vạn, hàng triệu. Những đứa con bất hạnh của các xơ lại phải quên cái bất hạnh ngổn ngang của chính mình, để cứu vớt những kẻ bất hạnh khác. Đau khổ thì trùng trùng điệp điệp. Bất hạnh thì tầng tầng lớp lớp. Thế mà vẫn có những người thờ ơ và tỉnh bơ... ném tiền qua cửa sổ. Lòng mẹ bao la đối với con cái, nhưng lại nhỏ hẹp đối với những người lòng chai dạ đá.Hiền như ma-xơ, nhưng cũng ấm ức và hậm hực như ma-xơ, vì đời trớ trêu, vì đời bất công và vì... con của ma-xơ đã quá khổ, mà nay lại phải khổ thêm. Sài Gòn, ngày 8.12.1997 Hôm nay mình đi Sài Gòn. Lá thư của Nguyễn Thị Mai vẫn được cất kỹ một cách trang trọng trong cuốn Giờ kinh Phụng vụ. Đọc kinh tối xong, mình lại đọc lá thư của Nguyễn Thị Mai, đại diện cho nhóm bạn trẻ khuyết tật ôvào đời với đôi chân khập khễnh. Hôm qua đọc lá thư này, mình thấy xơ Thảo hậm hực, ấm ức. Hôm nay đọc lại thư này, mình thấy Nguyễn Thị Mai bừng lên như ngọn đuốc. Hôm qua đọc lá thư này, mình thấy đời là đống đổ nát, tàn tạ. Hôm nay đọc lại thư này, mình thấy trên đống hoang tàn bỗng mọc lên một bông hoa lạ, hương thơm ngào ngạt, tỏa lan theo làn gió mơn man. Cám ơn Nguyễn Thị Mai. Cám ơn các bạn trẻ khuyết tật vào đời với đôi chân khập khễnh. Ngợi ca các bạn, vì các bạn không còn khập khễnh vào đời, mà đã dẫn đời vào con đường trơn nhẵn của tình yêu. Xin tặng các bạn bông hoa lạ trên đống hoang tàn. Sài Gòn, ngày 9.12.1997 Mình tản bộ tà tà về phía đường Kỳ Đồng ngang qua nhà ga Hòa Hưng. Một chiếc xích lô lách vội một cái để tránh vũng nước, quệt vào cánh tay mình. Ui da! Cái đụng hơi đau ấy lại do một cái hang đá to đùng chất đầy chiếc xích lô... Thì ra Noel đã gần tới rồi!Đã qua hai tuần Mùa Vọng mà mình chưa hề nghĩ đến lễ Giáng Sinh. Cả tâm lẫn trí cứ lang thang từ cứu trợ đến cứu trợ. Có một ông bạn hỏi mình: - Lễ Giáng sinh năm nay anh chọn chủ đề nào? - Chưa có trong trí khôn. - Vậy năm nay anh tổ chức lễ Giáng sinh như thế nào? - Chưa biết. Chỉ biết chắc là không có văn nghệ. Ông thầy và bà phước bù đầu vào công tác cứu trợ, không còn giờ nào để tập ca, tập múa. - Vậy thì năm nay Giáng sinh sù? - Không sù. Giáng sinh năm nay là bác ái: dựng nhà giùm nhau, tặng cho nhau những cây tràm cụt đầu, những cây so đũa bị chém treo cành, những tàu lá xác xơ, chia sớt cho nhau những lon gạo vơi đầy... Họ đạo Cái Rắn đã chuyển đến nạn nhân bão số 5 hơn 2.000 phần quà, 50 triệu tiền mặt, dựng lại hai ngôi trường ấp trị giá mỗi ngôi trường là 20 triệu. Chánh quyền địa phương phụ vào mỗi ngôi trường 7 triệu... Và công tác cứu trợ vẫn còn tiếp tục, vì những tấm lòng quảng đại từ khắp nơi vẫn chưa cạn nguồn... Đó là Giáng sinh 1997 của chúng tôi... Được chưa? - Tạ ơn Chúa. - Và Giáng sinh 1997 của chúng tôi còn có nhóm bạn trẻ khuyết tật vào đời với đôi chân khập khễnh. Tuyệt

 

Cha là đuốc soi cho đời được sáng Cho Non sông tô đậm nét sử hùng Kinh tình yêu vang dội khắp non sông Dòng máu đỏ cuộn dâng tràn ngạo nghễ Con, Hải Ngoại dẫu chiều tà bóng xế Xót quê nhà, trăn trở nỗi bâng khuâng Nhìn Non sông khắc khoải lệ trào dâng Tổ quốc đó, đã bao đời tận hiến Giống hùng anh muôn đời là bất biến Chẳng lẽ ngồi khuất phục bọn vong nô Cha ra đi để thực hiện giấc mơ Đem xương máu, giữ tin yêu tồn tại Ngọn đuốc thiêng nơi cha là mãi mãi Soi nghìn trùng dẫn dắt bước con đi Thức tỉnh con, cơn ác mộng cuồng si Biết đại nghĩa, đấu tranh vì dân tộc.

 

Trong Lời Tựa của cuốn “Quần đảo tù cải tạo", văn hào Nga Solzhenitsyn kể: "Năm 1949, tôi và một số bạn hữu đọc được một mẩu tin đáng để ý trong một tạp chí khoa học: Thiên Nhiên. Mẩu tin in chữ thật nhỏ thuật lại, trong một chuyến khai quật bên dòng sông Kolyma, người ta đã khám phá ra tảng băng nằm sâu dưới đất, vốn cũng là một dòng nước chảy bình thường - tảng băng này chứa đựng hàng ngàn những sinh vật của thời tiền sử xa xôi. Dù là cá hay những loai bò sát, chúng được bảo trì nguyên vẹn tươi tốt. Bài viết cũng cho biết, nhưng người hiện diện đã không chần chờ lâu, đập ngay tảng băng bao bọc ra để nhai ngấu nghiếu các sinh vật tiền sử, một cách khoái lạc". Những "người hiện diện" đó là ai mà lại mê ăn cá sống đến độ không cần biết đến sự quý giá của nhưng sinh vật tiền sử may mắn được bảo vệ qua hàng trăm, ngàn thế kỷ đó?” Ở một đoạn sau của Lời Tựa, Solzhenitsyn cho biết "những người hiện diện" đó là ai: "Chính chúng tôi đã từng là những người đó. Chúng tôi đã từng thuộc về những "bộ tộc" có một không hai trên trái đất này, những "bộ tộc" duy nhất có thể ăn tươi nuốt sống những sinh vật thời tiền sử (còn được thiên nhiên bảo trì nguyên vẹn) một cách khoái lạc". Không cần phải giải thích thêm nhiều nữa, chắc độc giả đều biết nhưng "bộ tộc" đó chính là những đoàn người tù cải tạo trong dưỡi chế độ xã hội chủ nghĩa của thiên đường cộng sản Xô Viết. Điều mà văn hào Solzhenitsyn không nói (hoặc có thể không biết) là vài chục năm sau, ở một xứ sở khác, nhưng cũng là thiên đường của "công nông vô sản", đó là Việt Nam, cũng đã xuất hiện nhưng bộ tộc hoàn toàn "tương cận" với nhưng bộ tộc có một không hai của ông. Theo như vô số nhưng tường trình của những "chứng nhân sống (sót)", những người "đồng chủng" của văn hào Solzhenitsyn ở Việt Nam cũng rất thường hay thưởng thức nhưng món ăn rất kỳ lạ chỉ khác là ở mặt "địa dư", vì ở Việt Nam thì khó có thể có nhưng tảng băng ngầm đướt đất. Nhưng được biết họ thuộc những bộ lạc người Kinh “ăn thịt người” , họ ăn cả nhiều bộ tộc Tây nguyên của mình, chỉ khác ở đây là họ không "ăn tươi nuốt sống" bắng xương bằng thịt những sắc tộc anh em tiền sử xa xưa này (xin xem những khảo cứu về nhân chủng học và khaœo cổ về các bộ tộc Tây nguyên VN này), nhưng hành động của họ cũng chẳng khác gì "ăn tươi nuốt sống", mà có phần thâm độc hơn. Họ áp dụng những chiến thuật diệt chủng, đồng hóa, cho từng đợt hàng ngàn người Kinh lên vùng ở Thượng du gọi là làm rẫy (phá rừng, đốn cây), trồng trọt (cà phê) khai khẩn đất hoang, nhưng thật ra chỉ là lừa đảo. Ngoài những hành động chiếm cứ trắng trợn và thô bạo, họ còn có những kế hoach tinh vi hơn bằøng cách cho vay mượn cắt cổ. Khi thổ dân trả không đúng kỳ hạn, vườn tược, đất đai của họ bị tước đoạt. Sau khi chiếm đất rồi, họ cho phụ nữ ở đây thi hành những biện pháp y khoa chống sinh sản. Ngoài những người chịu không nổi những chuyện áp bức và cấm cản tín ngưỡng phải trốn đi, định cư ở xứ ngoài, họ còn đày một số những người khác đi sống ở lây lất ỡ những trại cùi dọc theo các quốc lộ hẻo lánh trên vùng sơn cước (xin xem Paris Match “C’est moi qu’on assasine” của ký giả Michel Tauriac). * Vào thập niên 60 thế kỷ 20, cá nhân tôi cũng thuộc vào một bộ tộc người Việt khá kỳ lạ! Đó là "bộ tộc" của những du học sinh từ miền Nam Việt Nam, tức là Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi cũng luôn luôn thèm khát những thực phẩm có hơi hướm của quê hương. Vào thời đó, trước khi có hàng riệu người Việt tỵ nạn lập ra những cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới, ở Âu Châu dễ chỉ có Paris là có những của báu đó. Khi có cơ hội, những thành viên của bộ tộc du sinh này lũ lượt kéo về Paris để hưởng chút hương vị quê nhà. Ở đây, ngoài nước mắm, khô mực, hột vịt lộn, rau răm v.v. chúng tôi còn có thể bắt gặp những hình ảnh của một Việt Nam xa xưa - mà ngày đó ngay trên quê hương đất nước cũng hiếm thấy. Đó là những ông cụ nói "tiếng Tây ba rọi", kiểu "ơ a vếch pơ tí ca na đờ đăng" thay vì tiếng Việt là "trứng vịt lộn" (!) ... hay cả những cảnh các bà bóng ... lên đồng. Kẻ may mắn còn có thể gặp gỡ vị Hoàng Đế cuối cùng của Việt Nam hay nhà bác học kiêm Bộ trưởng Giao dục của chính phủ Trần Trọng Kim của thời tiền cách mạng mùa Thu v.v. Cá nhân tôi nhờ một duyên cơ đặc biệt, được gặp và nghe bà công Chúa Thái kể cho nghe chuyện ngày xưa... (Phải nói ngay, "Thái" đây không phải là nước Thái Lan, mà là xứ Thái miền thượng du nước Việt). Câu chuyện của bà Công Chúa Thái, tóm lược, bắt đầu vào mùa Thu năm 1945, lúc bà còn là một nữ sinh ở Hà Nội ... Tôi vẫn còn nhớ tấm ảnh chụp cô nữ sinh ngồi trên chiếc thuyền buồm nho nhỏ trên hồ Tây thơ mộng của một Hà Nội hời bình yên nào xa tắp. Anh của bà lúc đó là Quan Châu - tức là "vua" - của nước Thái, đồng thời là một trong những lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cách mạng bùng nổ. Bà theo chân người anh, cũng là "vua" nước Thái, tham gia vào cuộc chiến quốc cộng, đã bắt đầu vào thời 45. (Có lẽ cần phải nói rõ, người Thái ở Việt Nam có quan niệm rất khác về chính họ, trong tương quan với nước Việt và người Việt. Có vẻ, người Thái ở Việt Nam không phân biệt họ với người Việt, như người Kinh hay làm. Cũng thế, họ coi nước Thái của họ như một phần "bất khả phân" của nước Việt. Khi dùng từ "yêu nước", thì họ nghĩ chung cả nước Việt Nam. Ít nhất, tôi nhận thấy điều này ở bà Công Chúa Thái). Bà kể: "Lúc đó, bọn họ gọi cô là con xẩm, vì cô hay thắt bím ... Cô còn bé lắm, nên các anh lớn chỉ cho làm những công tác nhẹ ...". Nhưng những công tác nhẹ đó đôi khi cũng nguy hiểm lắm ..." "Một hôm, cô đang đứng bán thịt trâu ngoài chợ, bọn chúng kéo tới, không nói không rằng vung mã tấu ra chém. May mà cô nấp được sau nửa con trâu đang treo nên chúng không chém trúng. Sau đó cô chạy thoát giữa chợ đông"... Bà công chúa cũng cho biết tại sao "bọn chúng" (tức là phe Việt Minh) lại thù bà đặc biệt và được lệnh giết bà cho kỳ được. "Thủa đó ta có một cửa hàng cắt tóc ở phố X ... cô được công tác dụ bọn Việt Minh đến đó dể cắt tóc. Có cơ hội, các cán bộ Việt Minh sẽ bị giết ở đó, xác được mang đi chôn ở ...". Điểm đặc biệt của bà Công Chúa Thái là thái độ hồn nhiên và ngây thơ hiển hiện cả trong lúc bà hồi tưởng lại chuyện ngày xưa (bà kể nhiều chuyện bà bị ám sát ra sao, may mắn thoát chết như thế nào) mà không có vương một chút oán thù. Năm 54, khi Việt Minh chiến thắng ở miền Bắc, Quan Châu nước Thái - tức ông anh bà đưa được nhiều người Thái sang tỵ nạn cộng sản ở Pháp. Dĩ nhiên bà cũng đi theo, và từ đó bà sống với và hoàn toàn cho "đám dân của bà", vì theo bà đó là bổn phận đương nhiên của một người Công Chúa. Bà tự không cho phép mình lập gia đình riêng, khi gia đình lớn của bà, dân tộc Thái, đang lưu vong nơi xứ người. Thế nhưng, lúc tôi gặp bà thì bà lại đang có chồng, và người chồng của bà chính là người bác họ xa mà tôi đến thăm và may mắn được gặp bà. Bà giải thích sự việc oái oăm này cũng bằng một vẻ "ngây thơ" rất đặc biệt, khó gặp được nơi người Kinh: "Ông ấy (chỉ người bác họ của tôi vẫn ngồi im lặng tuyệt đối trong suốt buổi) nhất định lấy cô, nhưng cô không chịu vì đã có lời thề. Sau cùng cô chịu kết hôn nhưng giao hẹn không ăn nằm chung. Ông ấy đồng ý, nên cô mới lấy". Không hiểu là tôi có tưởng tưởng không, nhưng tôi thấy ông bác già cố gắng giấu - nhưng không được - một tâm sự thật u uẩn! Lần gặp gỡ - duy nhất - đó, ông đã gần 80, còn bà Công Chúa Thái chỉ trên dưới 60 (tôi tính ra vì năm cách mạng 45 thi bà mới 15, 16 mà). Nhưng bà vẫn giữ dáng dấp e thẹn của một cô con gái Hà Nội thủa nào xa xưa, thêm vào đó là nét kiêu kỳ của một bà công chúa.Cộng cả lại, là một vẻ đẹp hấp dẫn và kiêu sa, mà tôi chỉ thấy ở một người thứ hai khác. Đó là ở bà Aung Sang Suu Kyi, lãnh tụ của phe dân chủ nước Miến Điện, người đang bị nhà chế độ độc tài Rangoon cầm tù. Cả hai bà đều hy sinh cả hạnh phúc riêng tư cho mối tình lớn hơn, là tình yêu đất nước và dân tộc. (Dù đang ở tù, bà Suu Kyi đã quyết định không đi sang nước Anh thăm người chồng sắp chết vì bệnh ung thư, biết rằng nếu rời nuớc đi thì chính quyền độc tài Miến Điện sẽ không bao giờ cho bà trở về đất nước nữa cả). Mỗi khi nghĩ đến hai "mỹ nhân" của mình, tôi vẫn nhủ thầm: dù sao bà Suu Kyi cũng hạnh phúc hơn bà Công Chúa Thái, bởi vì dù ở trong tù, bà Suu Kyi vẫn là ở trên quê hương mình.

 

Từ khi khai thiên lập địa đến này, không có loài vật nào độc ác bằng bọn Việt Minh, tức là bọn Cộng Sản Việt Nam, nên toàn dân đã có câu ca dao như sau: Từ khi có đất có trời, Không gì độc ác bằng loài Việt Minh. Dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, những người trí thức chân chính đều bị bọn CSVN coi như kẻ thù vì họ hiểu rõ bản chất gian manh của bọn CSVN. Chính vì thế, bọn CSVN dùng toàn lũ ngu si đần độn để làm việc trong các chức vụ điều khiển hạ tầng vì bọn này dễ được sai khiến, kềm kẹp, và bóc lột. Chứng kiến hoàn cảnh này, toàn dân mới có ca dao sau: Từ ngày "cách mạng mùa thu," Thằng khôn đi học thằng ngu làm thầy! Gian manh từ bấy đến nay, Lừa dân bán nước cốt đầy túi tham.. Dưới chế độ Cộng Sản, người Việt không có công lý và thiếu tự do. Nhân dịp bọn Cộng Sản chiếm Sài Gòn rồi thay tên đường Công Lý bằng tên Nam Kỳ Khởi Nghĩa và thay tên đường Tự Do bằng tên Đồng Khởi, người Việt ta đặt ca dao như sau: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do. Những câu ca dao khác do dân ta sáng tác để chửi cán bộ Cộng Sản răng đen mã tấu giống lũ khỉ rừng: Gái miền Nam như cành liễu rủ Gái miền Bắc như củ khoai môn Trai miền Nam như chim anh vũ Trai miền Bắc như lũ khỉ rừng Chim anh vũ đậu trên cành liễu rủ Lũ khỉ rừng ôm củ khoai môn. Đôi dép râu và chiếc nón tai bèo của lính Cộng Sản đã làm tan nát tương lai tuổi trẻ: Đôi dép râu dẫm nát hồn son trẻ Chiếc nón tai bèo che khuất nẻo tương lai. Chính quyền Cộng Sản bắt dân lao động để chúng bóc lột, đầy ải đến chết: Thi đua làm việc bằng hai Để cho cán bộ mua đài mua xe Thi đua làm việc bằng ba Để cho cán bộ xây nhà xây sân (Ghi chú: Đài: người Cộng Sản gọi radio là đài.) Lao động là vinh quang Nghĩa trang là kết quả. Tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá Từ ngày giải phóng vô đây, ta ăn độn dài dài. Ai sinh thằng Cáo thằng Hồ Để em đói rách tô hô không quần Ai sinh thằng Duẩn thằng Duân Em đã không quần nay áo cũng không Ai sinh thằng Sắt thằng Đồng Em đã mất chồng nay mất thằng cu Ai sinh thằng Khủ thằng Khu Tố chết thằng bác, bỏ tù thằng cha. Thằng Duẫn mặt rất đẹp trai Thứ mặt chó sói ăn hoài không no Mặt thằng Giáp giống cái mo U để u hốt cứt bò u ơi Thằng Đồng nho nhã tuyệt vời Cái mặt nhẵn quẹn, cái môi thâm sì Tên cướp giựt, kẻ cu li Bên thì tám lạng, bên thì nửa cân. Ghi chú: Cáo và hồ để chỉ Hồ Chì Minh, ranh ma quỉ quái như con cáo con hồ; Duẩn và Duân để chỉ Lê Duẫn; sắt và đồng để chỉ Phạm Văn Đồng; khủ và khu để chỉ Trường Chinh Đặng Xuân Khu; và giáp để chỉ Võ Nguyên Giáp. Mấy tên này là đầu sỏ của đảng Cộng Sản gây ra thảm họa cho toàn thể dân tộc Việt. Một năm hai thước vải thô Lấy gì che kín "Bác Hồ" cuả em. Ghi chú: Cộng Sản bóc lột đến độ không có vải may quần để che thân. "Bác Hồ" ở đây ý nói chỗ kín của đàn bà con gái,đồng nghĩa với "lá đa" hay "sự đời" như trong câu: Sáng trăng em tưởng tối trời Em ngồi em để cái "sự đời" em ra Sự đời như cái "lá đa" Đen như mõm chó, chém cha sự đời. Dưới chế độ Cộng Sản, dân chúng rất thống khổ vì Cộng Sản bần cùng hóa nhân dân, cai trị bằng thủ đoạn bóp nghẹt bao tử nên dân chúng mới có các câu ca dao sau: Nhân phẩm toàn dân mất sạch rồi Chỉ còn lương thực gía cao thôi Lương tâm giá rẻ hơn lương thực Chân lý chân giò cũng thế thôi. Ngày xưa roi điện thì còn Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương. Nước nhà mãi mãi khó khăn Dân mình mãi mãi phải ăn khoai mì. Công viên tấp nập buổi chiều Chung quanh tượng "Bác" đĩ nhiều hơn dân! Cáo Hồ rời lại cáoTôn, Hai cáo rất thích hôn trôn đàn bà. Những câu ca dao diễn tả cái vô lý, cái trái tai gai mắt, cái manh tâm của Cộng Sản, và nỗi thống khổ của dân Việt dưới ách Cộng Sản còn rất nhiều rải rắc trong dân gian. Những câu ca dao này trở thành bia miệng ngàn năm không mòn để lên án bọn Cộng Sản Việt Nam.

 

Tình cờ tôi gặp nhà thơ Lệ Khanh, trong câu chuyện hàn huyên, anh hỏi tôi : - “ Có biết cụ Diệm làm thơ không? “ -“Tôi chưa nghe nói” – tôi thành thực trả lời Anh kể: - “ Cụ Diệm có một bài thơ làm từ năm 1953, Việt Yên muốn nghe tôi đọc cho nghe ". - “Vâng xin anh đọc đi “ – tôi vừa trả lời vừa sửa soạn giấy bút để ghi chép lại. Anh đọc bài thơ cho tôi chép : NỖI LÒNG Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không ! Xe muối nặng nề thân vó Ký Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng Vá trời lấp biển người đâu tá? Bán lợi mua danh chợ vẫn đông! Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế Cắm sào đợi khách, thuở nào trong ? ( Chí sĩ ) NGÔ ĐÌNH DIỆM 1953 Mới thoạt nghe bài thơ Lệ Khanh đọc, tự nhiên tôi rùng mình, cảm xúc bài thơ đi thẳng vào tim óc , tôi nhẩm đi nhẩm lại bài thơ, gần như thuộc lòng, Lệ khanh cười : -‘ còn đây là bài họa của tôi : Gan vàng đem trải khắp non sông Quyền rộng chẳng màng, lợi cũng không Chí quyết dẹp xong bọn cướp nước Lòng mong quét sạch đám cờ hồng Tâm hư chói rạng vùng trời Bắc, Tiết trực sáng ngời chốn biển Đông Một lũ phản thần mưu giết chúa Tham tiền nào biết đục hay trong . LỆ KHANH 2003 Lệ Khanh nói tiếp :- “ anh Từ Phong cũng có một bài họa, rất tiếc tôi không nhó hết, Việt Yên thử hỏi anh Từ Phong xem". Từ giả Lệ Khanh, tâm trí tôi luôn ám ảnh bài thơ của cụ Diệm, về đến nhà tôi gọi điện thoại cho anh Từ Phong và xin anh đọc bài họa, anh vui vẻ đọc cho tôi chép qua phone : “ Ghé vai gánh vác nửa non sông Lèo lái Thuyền Nam sóng gió không Đả thực, giữ gìn bờ cõi Việt , Bài phong, tô điểm nước non Hồng Đêm lo ngăn cản thù phương Bắc Ngày tính canh chừng giặc bể Đông Tế thế kinh bang tài xuất chúng Tiếc thay mầm vạ nẩy từ trong !! TỪ PHONG 7- 7-2003 Và anh nhấn mạnh : Tôi làm bài này đúng ngày 7 tháng 7 năn 2003 cũng là để kỷ niệm ngày cụ Diệm về nước chấp chánh ( mồng 7- tháng 7 ngày Song Thất ) Đêm đó tôi không ngủ và cố dò theo tư tưởng của Cụ Diệm để làm một bài họa. Gần đến nửa đêm thì tôi chợt nảy ra cái ý : tinh thần độc lập của cụ Diệm, nhất định không muốn người Mỹ nhúng tay trực tiếp vào cuộc chiến Việt Nam , thế là tôi hăm hở ngồi ghi chép : Nỗi lòng trang trải với non sông Hậu thế ai người có biết không ? Độc lập nước nhà nêu ý hướng Tự do dân tộc điểm tâm hồng. Chí ngăn lũ giắc cuồng phương Bắc Tài giữ đồng minh vai chủ Đông Tiết trực tâm hư gương ái quốc Mai nầy đời gạn đục khơi trong TRẦN VIỆT YÊN 2003 Làm xong bài thơ - thực ra chưa được hoàn chỉnh lắm – và vội vã gởi cho các thi hữu gần xa để xin nhã hứng họa lại, Cụ Trường Giang là người gởi bài thơ họa đến cho tôi xem sớm nhất : Thù nhà, nợi nước, gánh non sông Chưa vững quyền uy, bạc cũng không Quyết chí đánh tan quân mặt trắng Tận tâm xé nát ngọn cờ hồng Thanh liêm chỉ một vang Miền Bắc Chính trực không hai, dội cõi Đông Khí tiết lăng sương thù khiếp vía Hiềm vì phản loạn núp bên trong . TRƯỜNG GIANG 10-2003. Tiếp theo nhà thơ Hoàng Ngọc Văn cũng gởi bài họa của anh : Bùi ngùi tấc dạ xót non sông, Sóng lớn thuyền con, kẻ sĩ không Xin gửi tấm lòng củng sử ký Trao về xương cốt với tim hồng Quốc gia nghiêng ngửa, chèo phò tá ? Đất nước chênh vênh, tát biển Đông Nhắm mắt xuôi tay tùy cõi thế Nguyện cầu dân tộc, đục thành trong . HOÀNG NGỌC VĂN, 2003 Tôi chần chừ chưa muốn viết bài này vội vì còn chờ bài họa của nhiều nhà thơ khác, Trong đó có thi hữu Thiên Tâm vì tôi biết anh rất thích họa thơ những bài Đường luật hay, quả nhiên anh gởi đến tôi không phải một mà tới 2 bài họa. Cái đặc biệt của Thiên Tâm là anh đã ký thác được tâm sự của anh và của cụ Diệm một cách sâu sắc. MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG MỘT đời tận tụy gánh non sông NÉN bạc phản thùng, nghiệp hóa không HƯƠNG ngát nghìn thu, gương chính khí LÒNG son một thuở dáng linh hồng THẮP cao ngọn đuốc soi đêm tối DÂNG tận đài mây gọi gió đông CHÍ lớn chưa thành, thân dẫu thác SĨ dân thương tiếc biển, trời trong THIÊN TÂM 18-10- 03 Và một bài thứ 2 : CHẠNH LÒNG . Gió uất, mây hờn phủ núi sông “Tự do, Độc lập “… … rứa, buồn không?! Nhe nanh múa vuốt loài yêu quỷ Tím ruột bầm gan giống Lạc Hồng Tuấn kiệt lơ thơ sao buổi sớm Nhân tài lác đác lá mùa đông Cứu tinh dân tộc nay đâu vắng Xao xác chợ đời luận đục trong THIÊN TÂM Nhà thơ Tố Nguyên cũng gởi đến cho chúng tôi thưởng lãm bài họa của anh : NHỚ NGÔ CHÍ SĨ Chí Sĩ quên mình với núi sông Vì dân vi` nước chẳng hề kho^ng Cộng hòa khai lối giòng Dân Việt Tiên tổ truyền lưu giống Lạc Hồng Diệt Cộng bài Phong nạn giặc Bắc Đồng minh kết hữu tình Tây Đông* Trời ơi ! Oan nghiệt ai mưu giết Giữa buổi nhiễu nhương đục lẫn trong TỐ NGUYÊN 19-10-2003 (*) Ta^y Phu+o+ng va` DDo^ng Nam A' Anh Lệ Khanh có bổ túc cho tôi một bài thơ của Nữ thi Sĩ Lê Bạch Lựu, Nữ sĩ đã ngoài 80 tuổi hạc, hiện cư ngụ tại Montreal, Canada baì thơ hoạ được đăng trong tập thơ của Nữ sĩ từ năm 1993 như sau : Tiết thắm lòng son rạng núi sông Quyền cao lộc trọng vẫn coi không Thương nhà vững dạ trông mây trắng, Cứu nước bền gan chặn sóng hồng Lẫm liệt xua GÀ chìm biển Bắc Hiên ngang đuổi Ó tếch trời Đông Quốc gia chính nghĩa ghi công lớn Vằng vặc muôn đời gương sáng trong Lê Bạch Lựu , Montreal, Canada 1993 Trở lại với bài thơ NỖI LÒNG của chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM , tôi xin được nêu vài ý nghĩ thô thiển về bài thơ của cụ , Thật ra, tôi không phải là người quen bình thơ thiên hạ, gặp bài thơ hay tôi chỉ xin được gọi là họa lại đôi lời hưởng ứng hoặc gởi đến anh em thi văn hữu quen biết để cùng thưởng lãm.Việc xướng họa trong vòng anh em chúng tôi thường hay diễn ra. Hôm nay tôi đánh bạo viết đôi dòng để gọi là nối điêu ý tưởng bậc cao minh. Theo Lệ Khanh cho biết Cụ Diệm làm bài thơ này từ năm 1953, nếu trí nhớ không đánh lừa tôi thì lúc đó cụ Diệm chưa về nước chấp chánh, cụ còn đang lưu ngụ trong một nhà dòng Thiên Chúa Giáo tại tiểu Bang Misouri (?) Hoa Kỳ . Thời điểm đó, chiến cuộc Đông Dương đang diễn ra ác liệt, một bên là Việt Minh Cộng Sản với sự trợ giúp cả người và vũ khí của Trung Cộng và Liên sô , bên kia là Quân Đội Liên Hiệp Pháp và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam rất non trẻ mà phần thắng đang nghiêng dần về khối Cộng . Hội nghị Genève được hình thành nhằm tìm kiếm hòa bình cho Đông Dương, các chính phủ Quốc gia được thành lập và tham dự hòa đàm Genève, nhưng tốc độ chiến tranh đẩy phe Quốc gia vào thế bị động, các chính phủ lần lượt ra đời ( dường như chính phủ Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu trong Nam kỳ, roi chính phủ của Hoàng Thân Bửu Lộc được Quốc Trưởng Bảo Đại tấn phong ) nhưng xem ra tình thế không có gì sáng sủa, Người Mỹ với vai trò lãnh đạo khối thế giới Tự Do nóng lòng và muốn can thiệp vào vũng lầy Đông Dương, đang tìm kiếm một khuôn mặt ít chịu ảnh hưởng của người Pháp để ủng hộ , Do những quen biết, ông Ngô Đình Diệm có lẽ đã được thăm dò ý kiến về vai trò lãnh đạo, theo tôi chính đó là hoàn cảnh bài thơ NỖI LÒNG được ra đời . Đọc bài thơ NỖI LÒNG người ta thấy được tinh thần dấn thân của một con người đang muốn xông pha vào thế cuộc , Đọc câu thơ thứ nhất “ Gươm đàn nữa gánh, quảy sang sông “ người ta thấy hình ảnh đầu tiên đập vào mắt người đọc NỖI LÒNG là TỪ HẢI, một nhân vật cái thế anh hùng trong truyền KIỀU của THI HÀO NGUYỄN DU. Thật vậy GƯƠM ĐÀN NỬA GÁNH, chứng tỏ cái chí của một bậc anh hùng cái thế, “Gươm đàn nữa gánh, non sông một chèo “người muốn tự mình tạo riêng một cõi triều đình, chứ không chịu cúi luồn trong khuôn khổ. Chỉ 3 chữ “quẩy sang sông “ đã thể hiện được thái độ hăm hở xốc vác dám dấn bước sang một hoàn cảnh khác của tác giả dù hoàn cảnh đó có như thế nào đi nữa cũng không thối chí nhụt lòng . Câu thơ thứ 2 ” Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không , Mặc dù hăm hở muốn sang sông, tác giả vấp phải hoàn cảnh thực tế phũ phàng : Muốn sang sông thì phải có thuyền, nhưng thuyền không có mà lái cũng không nốt!! Nhìn vào hoàn cảnh nước nhà lúc đó con thuyền quốc gia đang bị sóng gió cộng sản vùi dập, mà người đủ tài lèo lái con thuyền cũng không co, lấy gì để sang sông. Riêng trong trường hợp tác giả lúc đó, dù nóng lòng hăm hở muốn sang sông gánh vác, nhưng thuyền là tổ chức, mà người lãnh đạo cũng chưa có thì làm sao có thể sang sông cho được bây giờ ?! Hai câu thực “Xe muối nặng nề thương vó ký, Đường mây rộng rãi, tiếc chim hồng “ Tác giả mượn điển tích Chu Bá Nhạ để nhìn cơ đồ tổ quốc đang như một chiếc xe ngựa thồ muối ì ạch leo dốc mà thương cho những người đang cố gắng vất vả như con ngựa Ký ( tương truyền là một giống ngựa giỏi, có thể đi xa, thồ nặng được như không ) Nhìn hoàn cảnh nước nhà như thế, mà tiếc cho cánh chim hồng trước không gian bao la của tương lai dân tộc lại không được bay bổng. Hai câu luận : “Vá trời lấp biển người đâu tá ? Bán lợi mua danh chợ vẫn đông” Trước nghịch cảnh này thử hỏi những người có hoài bão lấp biển vá trời nay đâu cả rồi sao không dấn bước sang sông ? Dù hoàn cảnh nước nhà đang nghiêng ngửa nhưng nhìn lại triều đình, người ta vẫn ì xèo buôn danh bán tước, vẫn lắm kẻ bán người mua, mà trong những kẻ mua danh bán tước đó có mấy ai mang hoài bão lấp biển vá trời ? Mấy ai thực lòng vì dân vì nước ? Hay chỉ là những kẻ vì danh chút danh tiếng hão huyền, vì chút lợi ích nhỏ nhen cho bản thân và phe nhóm ?. Hai câu phá, kết : “Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế Cắm sào đợi khách thuở nào trong ? “ Tác giả một lần nữa nói lên cái ý chí nhập cuộc của mình, không thể chần chừ trước cảnh dầu sôi lửa bỏng, trước cảnh bá tánh toàn dân đang trở thành nạn nhân cho thứ chủ nghĩa Cộng sản bạo tàn , nếu dợi cho lúc bể lặng trời trong mới ra gánh vác thì đâu còn cái dũng của một kẻ sĩ : ” kiến giả bất vi vô dũng giã“ ”Giữa đường thấy sự bất bằng mà tha ?!” Nếu cứ chần chừ chờ cơ hội thuận tiện thì bao giờ cơ hội mới đến, vì thế phải nhập cuộc, phải sang sông . Đọc cả bài thơ tôi thấy toát lên cái hào sảng của một kẻ sĩ, dù đang ẩn nhẫn , nhưng quyết chí phải xông pha vào con đường gió bụi phong trần cái hăm hở của một con người nhập thế, dám chấp nhận thử thách khó khăn , Có lẽ vì mang tinh thần NHẬP CUỘC đó mà chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM sau đó ít lâu đã nhận lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về nước đảm nhận vai trò thủ tướng khi người Pháp đang bị vây khốn Điện Biên Phũ, Cụ về nước để gánh vác trách nhiệm xây dựng một Miền Nam thanh bình no ấm trước một miền Bắc nghèo nàn xác sơ vì chủ nghĩa Cộng sản bóc lột, Có lẽ vì bản tính chính trực quang minh của cụ Diệm ( Thể hiện qua Quốc huy nền Đệ Nhất Cộng Hòa là Bụi Trúc “Tiết trực tâm hư “) là khắc tinh với Gian manh xảo quyệt của Hồ Chí Minh, và Hồ Chí Minh đã thấy được sự thất bại sẽ đến với hắn nếu cụ Diệm còn nắm chính cương ở Miền Nam, nên Hồ chí Minh đã tìm mọi cách loại trừ cụ, âm mưu sát hại cụ để trừ hậu hoạn cho chế độ Cộng Sản Vô Thần. Viết như thế, tôi không có ý ám chỉ Hôi Đồng Tướng Lãnh Cách Mạng năm 1963 đã làm một việc không công cho Hồ chí Minh, tôi chỉ giận và tiếc, giống như tâm trạng các thi hữu đã họa lại bài cũa cụ Như Lệ Khanh phê phán: Một lũ phản thần mưu giết chúa Tham tiền nào biết đục hay trong ?! Vì đồng tiền tối mắt mà những kẻ võ biền đã làm một điều tệ hại khôn lường cho quốc gia đại sự , tiếc lắm thay !!! Hay như nhà thơ Từ Phong than thở : Tế thế kinh bang tài xuất chúng Tiếc thay mầm vạ nẩy từ trong!! Và nhà thơ Trường Giang ngưỡng mộ : Khí tiết lăng sương thù khiếp vía, Hiềm vì phản loạn núp bên trong . Nhưng trong những kẻ nhúng tay vào máu, chúng ta không thể không nói đến vai trò người MY. Theo như các tài liệu được giải mật, người ta được biết một trong những nguyên nhân cái chết của cụ Diệm là vì cụ đã mâu thuẫn với chủ trương đem quân tham chiến trực tiếp của người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Ơ đây ta mới thấy cái tài thao lược ước đoán như thần của cụ Diệm, dường như có một tài liệu cho rằng cụ Diệm phản đối người Mỹ đổ bộ ở Miền nam, vì dù có phải nhờ tiền của viện trợ, cụ Diêm nhất định giữ lấy vai chính trong việc đối đầu với cả khối Cộng sản tại Việt Nam, vì cụ e rằng người Mỹ trực tiếp tham chiến sẽ là cái cớ để Hồ Chí Minh đánh bóng chính nghĩa giả tạo giải phóng Miền Nam. Cụ không muốn nhờ vả đến máu xương ngươì Mỹ vì: Nợ gì còn có thể trả được Nợ Máu Xương lấy chi báo đáp cho cân??" Cái gương ái quốc và minh tuệ của cụ Ngô Đình Diệm đã làm tôi thao thức kính phục, Hy vọng sự thật phải được sáng tỏ để phục hồi danh dự cho một người có công lớn với đất nước và dân tộc : Tiết trực tâm hư gương ái quốc Mai nầy đời gạn đục khơi trong . Tôi dùng chữ mai nầy e không được hoàn chỉnh cho lắm, cần gì phải đến mai sau gương ái quốc của cụ Diệm mới trở nên trong sáng vằng vặc như trăng rằm? Bổn phận chúng ta phải như Thi sĩ Thiên Tâm : CHÍ lớn chưa thành thân dẫu thác SĨ dân thương tiếc biển trời trong Để tự hỏi và tự kêu gào : Cứu tinh dân tộc nay đâu vắng? Xao xác chợ đời luận đục trong Ước vọng lớn nhất của người viết bây giờ là phục hồi uy tín của một bậc đại sĩ, một cứu tinh dân tộc, Một người mà tâm nguyện đến lúc chết vẫn là “uy vũ bất năng khuất “ Nhắm mắt xuôi tay tùy cõi thế Nguyện cầu dân tộc đục thành trong Hoàng Ngọc Văn Đọc bài thơ NỖI LÒNG của chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM để chúng ta cảm thông và kính phục tinh thần nhập cuộc của cụ , niềm thao thức của cụ và xót xa cho thân phận lãnh tụ một nước nhược tiểu : “Đường mây rộng rãi tiếc chim hồng “ Sau 50 năm, đọc bài thơ NỖI LÒNG của chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM, lòng tôi thấy bùi ngùi xúc cảm, phải chi cụ còn sống, hẳn lịch sử nước nhà đã đổi khác, 80 triệu con dân nước Việt ít ra cũng không phải sống trong cái chế độ XẮP HÀNG CHÓ NGỰA như bây giờ, hàng triệu sinh linh chưa chắc đã phải vùi thây nơi rừng thiêng nước độc, hay biễn cả bão bùng. Và hàng triệu người khác phải lưu lạc nơi đất khách quê người để bùi ngùi nhìn về quê hương tăm tối . Câu nói “một dân tộc không cần nhiều anh hùng, chỉ cần có một vị minh quân” sao chí lý lắm thay. Có người đăt nghi vấn đây không phải là bài thơ của cụ Diệm, mà có thể là bài thơ của một nhà nho ái quốc nào khác viết hoặc giả có người nào đó viết thác tên của cụ; tôi không được rõ lắm, nhưng tôi nghĩ cụ Diệm đã từng học Hán văn, lại theo Tân Học, một người như cụ chẳng lẽ cả đời không làm được bài thơ nào hay sao, có thể bài thơ do cụ sáng tác nhưng vì bản tính khiêm tốn, kín đáo cụ không muốn phổ biến lúc cụ còn sống, còn cầm vận mệnh dân tộc, còn lèo lái con thuyền quốc gia ( đó là điểm khác biệt giữa Trần Dân Tiên – Hồ Chí Minh và chí sĩ Ngô Đình Diệm ) vả lại thời gian trước phương tiên truyền thông không phổ cập như hiện nay, nên có rất nhiều nhà nho, nhà trí thức làm thơ chỉ lưu truyền trong vòng thân hữu nên sau này bị thất lạc là đa phần . Tôi nêu bài thơ này để như tiếng chuông gióng lên để quý vị nào biết thì lên tiếng để đánh tan những ghi vấn . Tôi nghĩ rằng sẽ còn nhiều thi hữu sẽ họa lại bài thơ này, nhưng sợ để lâu nhiều ý nghĩ bị mai một nên tôi xin được ghi chép ra đây để như thi sĩ THIÊN TÂM gọi là: MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG DÂNG CHÍ SĨ MUÔN ĐỜI TƯỞNG NHỚ BẬC HIỀN MINH San Jose ngày 19 tháng 10 năm 2003 Kỷ niệm 40 năm ngày mất của vị khai sáng Việt Nam Cộng Hòa * * Tôi cũng vừa được cụ Mục Sư Hồ Xuân Phong ( năm nay 81 tuổi ) cho hay cụ Diệm còn một bài thơ nhan đề “TÓC BẠC “, nhưng rất tiếc đã lâu cụ quên mất cũ chỉ còn nhớ một bài hoạ cũng của một vị nữ sĩ từ thập kỷ 1960, bài thơ cũ đọc cho tôi chép từ nơi ở cua c là NamCalifornia bài thơ họa như sau : Hoạ bài " TÓC BẠC" của Chí sĩ NGÔ ĐÌNH DIỆM Kinh sách còn kia cãi vả chi? Rằng tôi mão miện bậc tu mi Tôi xanh chưa nhuốm mùi danh lợi Tôi trắng chẳng màng tiếng thị phi Nguyện giữ lòng đơn đừng rối rắm Mặc cho miệng thế mãi xầm xì Thân tôi dẫu bạc lòng không bạc, Ai nghĩ sao thì cứ nghĩ đi Nữ sĩ vô danh 1963 Cụ Hồ Xuân Phong có hứa khi nào nhớ lại được bài thơ sẽ đọc cho tôi chép nốt , nếu bậc cao minh nào biết bài thơ ấy xin gởi cho chúng tôi xin - Xin đa tạ

 

LƯƠNG TÂM TẢI ĐẠO Dĩ Lương Tâm tải đạo Tiên kính chúa ái nhân Đồng tâm quang phục quốc Nhật nhật tư cố hương Thúy Sơn Chuyển ý 1 Đem lương tâm soi vào cõi thế Để muôn dân thế hệ gắng theo Trước là kính chúa yêu người Sau là quang phục rạng ngời quê hương Thúy Sơn Chuyển ý 2 Đạo trời vốn tự tâm sanh đó Trước thờ Chúa, sau nhớ yêu người Ngày ngày khấn nguyện khôn nguôi Đấu tranh đem lại đổi đời thế nhân Trần Việt Yên Chuyển ý 3 Sắt son giữ đạo giữa đời Một lòng kính Chúa yêu người như ta Quê hương non nước mờ xa Quyết tranh đấu để nhà nhà an vui Hoàng Ngọc văn Chuyển ý 4 Lấy lương tâm sống ở đời Đạo là kính Chúa, yêu người thế gian Đồng lòng quang phục giang san Ngày ngày thương nhớ vô vàn quê hương Thiên Tâm Chuyển ý 5 Lương tâm chở đạo giúp đời Thờ Thiên Chúa lại yêu người khắp nơi Đồng lòng quang phục nước nòi Ngày đêm trong dạ nhớ lời cố hương Trường Giang

 

Cuộc viếng thăm của Bill Clinton vào tháng 11 vừa qua, trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ của ông, đã tiết lộ cho thấy có một sự nứt rạn trong giới trí thức Hoa Kỳ về vấn đề diễn dịch chiến tranh Việt Nam. Những chính trị gia dân chủ, như Clinton, Phó tổng thống Al Gore sắp rời chức vụ và Thượng nghị sĩ John Kerry ở Massachusettes, tranh luận cho rằng sự can thiệp của Mỹ vào Đông Dương là một chuyện làm khinh suất, thiếu thận trọng, nhưng không có gương mặt quan trọng nào nữa trong chính quyền từ hồi ấy công nhận cuộc chiến tranh là vô luân. Đồng thời những bài điểm sách chính và những tờ báo ngày càng thu hẹp của phe Tả như hai tờ báo Dissent và Nation vẫn khăng khăng ca tụng Frances FitzGerald, George C. Herring và những di sản khác của thập niên 60 đóng dấu chấp nhận trên những tuyển tập được xuất bản đều đặn bởi những học giả phe Tả để một lần nữa, nhắc lại những giáo điều không có giá trị của phong trào chống chiến tranh – rằng như Hồ chí Minh là một khuôn mặt nhân từ, rằng những Tổng thống Lyndon B. Johnson và Richard M. Nixon là những tên độc ác giết người hàng loạt, là những người kéo dài cuộc chiến tranh chỉ với mục đích đề cao những tham vọng chính trị ngắn hạn của họ. Tuy nhiên, trong vòng một thập niên hay hai, sau khi những chủ bút tuổi trung niên cố gắng duy trì quan điểm sống động này đã về hưu, ngay cả giới báo chí cấp tiến và giới trí thức sẽ nhận thấy một sự thật là: Cuộc chiến tranh Việt Nam không phải là một lầm lỗi, nó chỉ là một trận đấu trong nửa thế kỷ chiến tranh lạnh để rồi chấm dứt bằng sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác xít – Lê nin nít. Đó là quan điểm của một nhà thơ Việt Nam vĩ đại nhất hiện còn đang sống ( greatest living Vietnamese poet) , Nguyễn chí Thiện. Nếu bạn không đọc thấy tên của ông ta trong báo New York Times hay New York Review of Books hay tờ Dissent hoặc tờ Nation, là cũng do có một lý do. Vào thập niên 1980, chuyện ủng hộ những người viết bất đồng chống lại Cộng sản đã trở nên được xã hội chấp nhận trong hàng ngũ của giới trí thức cấp tiến Mỹ, nhưng chỉ với hai điều kiện. Thứ nhất, họ phải là người Âu châu ( giống như Vaclav Havel và Joseph Brodsky) Và thứ hai, họ phải phê phán chủ nghĩa Cộng sản từ một cái nhìn Dân chủ Xã hội ( tiêu chuẩn này không áp dụng cho nhân vật quốc gia chính thống Nga xô Alexander I. Solzhenitsyn ). Nguyễn chí Thiện không thuộc vào hai tiêu chuẩn nói trên – ông là người Á châu ( đó phải chăng là những gì giới Mỹ trắng cấp tiến hay Tả phái đã được nghe thấy từ bất cứ nhân vật Á châu bất đồng chính kiến nào, ngoài nhân vật Ngụy kinh Sinh ?), và ông chống chủ nghĩa Mác-xít ở tất cả mọi hình thức. Trầm trọng hơn nữa, ông lưu ý giới trí thức Mỹ về một cuộc chiến trong đó có nhiều người trong bọn họ tích cực ủng hộ cho một nền độc tài vốn bỏ tù ông. Điều này giải thích cái sự thật kỳ lạ là Nguyễn chí Thiện, đã nhiều lần được đề cử giải Nobel, được khắp mọi nơi trên thế giới biết đến, ngoài trừ quốc gia mà ông lưu trú là Hoa Kỳ. Hiện nay sống lưu vong thay đổi từ hai nơi Virginia và Paris, Nguyễn chí Thiện được sinh ra năm 1939 trong một gia đình thuộc giới cận trung lưu ( cha ông là một thư ký tòa án), và nhận được một nền học vấn tốt trong nền văn hóa Pháp và Việt. Vào năm 1954, ở lứa tuổi 15, ông hân hoan đón nhận sự thiết lập cơ cấu chính quyền theo Hiệp định Geneve trên Bắc Việt Nam của chế độ Cộng sản. Và giống như nhiều người miền Bắc khác, ông quay ra chống lại chế độ trong thời kỳ chế độ cai trị áp đặt bạo lực sau đó. Bọn độc tài Hà nội thiết lập những mô hình tập trung của Liên Xô và Trung Cộng như " chương trình cải cách ruộng đất " gây nên nhiều thảm họa. " Một nghị định phân biệt quần chúng " được ban hành ngày 2 tháng 3 năm 1953, đã phân chia mọi người theo từng loại được đặt ra bởi Sô Viết trong thập niên 1920, chẳng hạn như " địa chủ " và " nông nô ". Tuy nhiên, sự thật là một chủ đất trung bình ở Bắc Việt Nam sở hữu không đến hai mẫu đất trồng ruộng, có khoảng 10000 đến 15000 người miền Bắc bị lên án là kẻ thù giai cấp và xử bắn. Trong giai đoạn này Hồ chí Minh và đồng bọn của ông đã thích thú với sự diệt chủng dành cho giai cấp ở mức độ lớn nên họ mời những người Cộng sản Trung Cộng đến để giúp họ phân loại ra ai là người được sống và ai phải chết. Một viên chức miền Bắc lưu vong là Bùi Tín có nói đến trường hợp của bà Nguyễn thị Năm. Dù những con của bà là những viên chức trong Đảng, " những cố vấn Trung Cộng kết luận bà là một địa chủ tàn bạo và phải bị loại trừ." Trường hợp này gây được sự chú ý đến Hồ chí Minh, nhưng ông ta từ chối can thiệp. " Bà Năm nhanh chóng bị kết án bản án tử hình bởi những người đại diện cho Mao trạch Đông, đám này kết tội bà gian dối len lỏi vào những hàng ngũ của cách mạng để phá hoại nó từ bên trong." Nhiều nông dân dùng tiến trình cải cách ruộng đất để trả thù, nhưng khi sự tù đày và giết người ngày càng lan rộng thì những người sợ hãi đã biến thành những người chống đối. Vào ngày 2 tháng 11 năm 1956, dân làng nổi loạn ở Nghệ An, gần nơi sinh của Hồ, và đã làm cho chế độ phải gửi sư đoàn 325 của Quân đội Nhân Dân đến đàn áp họ. Giống như Stalin ở Liên Xô và Mao ở Trung quốc, cải cách ruộng đất của Hồ ở Bắc Việt Nam được chấm dứt khi nó đã phục vụ xong mục đích là phân tán nhỏ xã hội và thiết lập kiên cố xong sự kiểm soát của đảng cộng sản. Hồ chí Minh thú nhận " có những lỗi lầm " đã xảy ra, nhưng dửng dưng lờ đi cái chết của hàng vạn nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất. Ông cho rằng, " không thể làm sống dậy người chết được." Sự tàn bạo của chính quyền Bắc Việt Nam đã làm nhiều người trí thức, trong đó có nhiều người trong Đảng Cộng sản xúc động sâu xa. Họ phản kháng bằng cách viết những bài in trong hai tờ báo Nhân Văn ( The Humanities) và Giai Phẩm ( Masterpieces), được gọi là vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm ( 1956 – 1958). Chế độ ra tay ruồng bố những kẻ bất đồng chính kiến ( dissidents), nhưng không thể giết đi tinh thần phản kháng. Nguyễn chí Thiện bắt đầu làm những bài thơ phê bình chế độ, vốn được phổ biến riêng trong giới thân hữu. Bộ máy quyền lực đưa ông vào tù năm 1961. Trong lời chứng trước Quốc Hội Hoa Kỳ năm 1995, nhà thơ diễn tả lại những gì xảy ra trong thời kỳ đó, " Vào năm 1961, chính Hồ chí Minh đã ký một sắc lệnh ra lệnh cho phép tập trung cải tạo cả trăm ngàn người, bao gồm những kẻ đã từng phục vụ trong quân đội hay chính quyền của chế độ Bảo Đại, và những người trong dân chúng bất mãn với chế độ, trong đó gồm những nhà sư, những linh mục, những thành phần tư sản và giới trí thức. Tất cả họ đều bị giam vào trong những trại lao động khổ sai. Phần lớn trong số những người này chưa bao giờ được đưa ra tòa và số phận của họ hoàn toàn tùy thuộc vào những sự sắp xếp, định đoạt bởi những cán bộ an ninh nhà nước..." Được thả ra vào năm 1963, Nguyễn chí Thiện bị bắt lại năm 1966 và bị giam cho đến năm 1977. Giống như Solzhenitsyn trong quần đảo ngục tù Gulag, ông phải làm thơ và ghi vào trí nhớ. Cho dù là khi ông ở Hỏa Lò ( tức " Hanoi Hilton ), nơi mà nhiều tù binh Mỹ bị giam giữ trong thời kỳ chiến tranh ), hay khi làm công tác lao động nặng ở miền quê, ông rán bỏ ra một số ngày tháng để ôn lại những bài thơ đã làm. Nỗi sợ lớn nhất của ông là nếu ông mất đi trí nhớ thì sự nghiệp sáng tác của ông coi như tiêu tan. Sau khi được thả ra vào năm 1977, ông sống với một người bạn và viết xuống giấy gần 400 bài thơ từ trí nhớ. Ông chọn ngày kỷ niệm phá ngục Bastille ( 14 tháng 7) năm 1979 để mong chuyển tập thơ của ông đến những nhà ngoại giao ở Tòa đại sứ Pháp tại Hà Nội. Không may là sự canh giữ quá chặt chẽ của lính gác đã làm ông bỏ cuộc, không thi hành được dự tính. Hai ngày sau, sau khi nghiên cứu những chi tiết canh gác của bọn lính canh, ông nhào vào tòa Đại sứ Anh và nói to lên bằng tiếng Anh, " Tôi không phải là một người điên, tôi là một nhà thơ và tôi có một thứ văn kiện quan trọng cần trao cho các ông ." Vì tin như thế nên ba nhà ngoại giao Anh chặn những lính gác người Việt Nam lại và hỏi ông muốn gì. Ông trao cho họ bản thảo tập thơ và ba cái hình của ông, để chứng tỏ rằng ông không muốn ẩn danh. Khi rời tòa đại sứ đi ra, ông bị bắt. Ông phải trải qua thêm 12 năm tù tội và làm thêm một loạt thơ thứ hai.( 1). Năm 1991, ông được thả ra và đến Mỹ tỵ nạn năm 1995. Mô phỏng theo tác phẩm Ac Hoa ( Les Fleurs du Mal ( Flowers of Evil ) ) , Nguyễn chí Thiện đặt tên tác phẩm đầu tay của ông là Hoa Địa Ngục ( Flơwers from Hell). Trong lá thư viết bằng tiếng Pháp gửi kèm với bản thảo tập thơ, ông viết, " Phần lớn ( những bài thơ) được sáng tác trong những năm tôi bị quản thúc. Tôi nghĩ rằng, chính những nạn nhân chúng tôi có bổn phận, hơn ai khác, là làm cho thế giới thấy sự đau khổ vô bờ bến của dân tộc tôi hiện đang bị đày đọa và hành hạ thẳng tay. Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn có một hy vọng là được thấy càng đông người ý thức được Cộng sản là một tai họa khủng khiếp cho nhân loại." Vào năm 1980 những bài thơ trong tập thứ nhất bắt đầu được phổ biến trong những cộng đồng người Việt Nam sống ở Mỹ, Pháp và những quốc gia khác. Năm 1982, có một bài viết trong tờ Asiaweek nhan đề " Một tiếng nói từ Hà Nội thâm u " ( A voice from the Hanoi underground ), theo sau đó là một chương trình phát thanh của đài BBC, đã mang lại sự chú ý ngày càng nhiều đến nhà thơ phản kháng này. Ông được tặng thưởng nhiều giải thưởng danh dự do những Hội văn bút Mỹ, Pháp, Thụy Điển và Nhật trao tặng. Những bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Nhật, Đức, Trung Hoa, Tiệp Khắc và Tây Ban Nha. Nhiều bài thơ trữ tình của ông được phổ nhạc bởi nhạc sĩ người Ao Gunter Mattisch và nhạc sĩ Việt Nam lưu vong Phạm Duy. Toàn bộ thơ ông bao gồm nhiều loại thơ có số lượng còn nhiều hơn những bài thơ phản kháng chính trị. Trong đó bao gồm những bài thơ tình, thơ miêu tả cảnh vật và thơ trầm tư mặc tưởng về thế thái nhân tình. Nhiều bài thơ nguyên bản có nhịp điệu từ thể thơ Việt Nam cổ điển, một số có cấu trúc phức tạp, một số khác mang hình thức dân ca đơn giản. Sự so sánh gần gũi nhất có thể nêu ra là sự hỗn hợp của nội dung chính trị và cách làm thơ theo kiểu truyền thống trong những bài thơ của Bertolt Brecht ( dù ông này khó được đánh giá là người phê phán chủ nghĩa Cộng sản ). Đáng tiếc là bản dịch của Nguyễn ngọc Bích đã không gợi cho người đọc ý niệm gì về những sự tinh tế, thanh tú của hình thức trong tập thơ nguyên bản. Những bài thơ này thuộc loại " khó nhai" không những chỉ đối với những người tả phái thân cộng mà còn cho thế hệ già hơn của những người cấp tiến chống những người chống cộng ( anti-anti- Communist liberals ), vốn là những người trố mắt tròn xoe khi nghe thấy Tổng thống Ronald Reagan gọi Liên Xô là một " đế quốc ma quỷ " và tiên đoán chủ nghĩa Mác xít – Lêninít sẽ sớm chấm dứt trong đống rác của lịch sử. Từ lúc mới trưởng thành, Nguyễn chí Thiện đã khẳng định, giống như những tác giả người Pháp của cuốn sách " Hắc thư Cộng sản " ( The Black book of communism) mới đây, là ( theo lời của họ ) " tội ác hàng loạt, tội ác có tổ chức, và tội ác chống lại nhân loại " phải là " một yếu tố chủ yếu trong khi phân tích chủ nghĩa Cộng sản." Một trong những đoạn thơ ghi chép vụn vặt ( Scribblings), nhà thơ đã từng bày tỏ, " Ôi chủ nghĩa Mác Lê buồn bã. Tới trời Nam ngươi bậy bạ hơn nhiều. Bên trời Âu dù nhục nhã bao nhiêu. Cũng chưa đáng phần ngàn nơi đất Á ! " Oh, doleful Marxism-Leninism! By the time you get here, to Viet Nam, you’ve become a real crime! No matter hơ shameful you’ve been in Europe/ All your crimes amount to but a thousandth of what took place here in Asia! Sau đây là một bài thơ làm từ năm 1960 có tên " Nếu trời còn " ( Should Providence Exit ) : Nếu trời còn để có một ngày mai. Tôi sẽ kể chuyện đêm dài khủng khiếp. Cho thế hệ hiện nay cùng đàn sau kế tiếp. Giật mình thức tỉnh, thương đau. Phẫn nộ trào dâng, dốc sức cùng nhau. Đánh phọt óc con rắn hồng độc hại. Giải phóng cả một phần ba nhân loại. Bị nó cuốn tròn sống trong ngắc ngoải ( 1960). ( Should Providence exit and there remain a tomorrow. I will tell the stories of this horrible night. So that the present generation and the next and the next. Would wake up to this suffering. And animated by rightful anger, they would pool their forces. To kill this poisonous red snake, smashing its brain. Thus liberating one third of mankind. Which is currently in its grasp, more dead than alive.) Năm 1973, trong khi những chuyên gia trí thức Mỹ vẫn cứ tin Cộng sản Việt Nam là kết quả dân tộc tự nhiên (indigenous outgrowth) của lòng ái quốc, Nguyễn chí Thiện đưa ra một cái nhìn khác hẳn trong bài thơ "Đảng" "Đảng thực chất chỉ là đảng cướp …… Nhờ súng đạn Tàu Nga bắt bớ." (This Party in fact is nothing more than a gangster mob Made possible by Russian and Chinese arms and the weapons of arrest ) Bài thơ " Thế lực đỏ " ( Red Power) được làm trong nhà tù năm 1975, một thời gian ngắn trước khi Tổng thống Carter gạt bỏ những gì mà ông gọi là " nỗi sợ quá trớn về Cộng sản " ( inordinate fear of Communism): " Thế lực đỏ: phải đồng tâm đập nát. Để nó hoành hành họa lớn sẽ lan nhanh. .. Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết. Những tội tầy đình được bưng bít tinh vi. .. Sự hiểu biết sẽ là mồ hủy diệt " ( Red Power: We must be of one mind to crush it. For if we let it roam, catastrophes will follow.. One must write , thousands of us must write . About its colossal crimes, however subtly camouflaged.. Knowledge then will be its destroyer, its grave." Nhiều thế hệ người Tây phương khi được cho đi xem những làng " kiểu mẫu " Potemkim ở những nước Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, đều ngớ ngẩn tin rằng chủ nghĩa Mác xít- Lêninít đã đưa ra một đường lối nhằm thoát khỏi sự nghèo khó cho những quốc gia phát triển. Chẳng hạn như hai nhân vật Barbara Tuchman và John Kenneth Galbraith trước đây khi đi thăm viếng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào đầu thập niên 1970, đều lên tiếng rằng Mao đã trông nom và kiểm tra sự tiến bộ diệu kỳ về kinh tế ( giờ đây chúng ta đều biết có hàng triệu người chết đói vì chiến dịch " Bước nhảy vọt " đề ra chỉ một thập niên trước đó). Năm 1974, Nguyễn chí Thiện phân tích nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong bài thơ " Miếng thịt lợn " ( A Cut of Pork) như sau: " Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại! Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai. Chanh, chuối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai.. Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại) ( What a miracle, a cut of pork. A double miracle, a beef cut, my friend! Lime, banana, orange, sugar, peanut, bean, rice, yam. Everything and anything that one can chew on. At the Party’s magic touch becomes a miracle hard to find.). Vì viết những vần thơ như thế nên nhà thơ đã phải trải qua gần hết tuổi thanh xuân trong tù và chuyện này làm cho sức khỏe ông bị yếu đi vĩnh viễn. Chính phủ Hồ chí Minh chỉ thích những bài thơ giống như bài thơ của nhà thơ công thần của Đảng là Tố Hữu viết khi nghe tin Stalin chết vào năm 1953, "Ôi Stalin! Nghe tin ông mất đất trời còn không! Thương cha thương mẹ thương chồng. Thương mình thương một thương ông thương mười. ) ( Stalin, oh Stalin, alas he is gone. Do Heaven and Earth still exist? Devotion to father, to mother, to husband. Devotion to Him ten times more than to oneself. ) Trong tập thơ " Hoa Địa Ngục" , Nguyễn chí Thiện mỉa mai thứ người làm văn hóa đáng khinh này là " bồi bút" ( pen pals) của chế độ độc tài. Chế độ độc tài Bắc Việt Nam muốn chắc chắn những tù nhân của họ ( loại bao gồm những người Việt Nam bên ngoài cũng như bên trong những nhà tù và những trại cải tạo ) biết đến những lời nói và hành động của những nhân vật hoạt động chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ và Âu châu. Cố nhiên chuyện tham dự của Triết gia Bertrand Russell vào trong tòa án lố bịch Stockholm để tuyên án Mỹ có tội về những tội ác chiến tranh là một sự quảng cáo rùm beng cho chế độ Hà Nội. Nguyễn chí Thiện có làm một bài thơ trong tù nhằm trả lời cho chuyện đó năm 1968. Bài thơ tên " Gửi Bertrant- Rút-Xen " ( Letter to Bertrand Russell): Ông là một bậc triết nhân. Nhưng về chính trị ông đần làm sao. Ông bênh Việt Cộng ồn ào. Nhưng ông hiểu chúng tị nào cho cam. Mời ông tới Bắc Việt Nam. Xem nô lệ đói phải làm ra sao. Mời ông tới các nhà lao. Xem bò, lợn được đề cao hơn người. Không ai kêu nổi một lời. Mồm dân Đảng khóa đã mười mấy năm! Xem rồi ông mới hờn căm. Muốn đem bọn chúng ra băm ra vằm. Tuổi ông ngót nghét một trăm. Nhưng thua cậu bé mười lăm đói gầy. Về môn " Cộng sản học " nầy! ( 1968) ( Letter to Bertrand Russel": " The worlds respects you as a philosopher. But in politics, you are only a novice. After all your noisy defenses of the Viet Cong. Can you in truth say you really know them? Please come and have a look at our country. Come and see for yourself our system of slavery. Come and visit our countless prisons. When even pigs and cơs fare better than people. Just come and seek one angry testimony. You will learn how we have bêen hushed forever. Only then will you understand them, your allies. Whom you will want chopped into many pieces. My dear sir, you’re a hundred years of age. But in " Communistology" you’re a mere babe." Cũng vào năm 1968, trong lúc sinh viên ở những trường đại học Mỹ và Âu Châu xuống đường biểu tình ủng hộ Việt Cộng, Nguyễn chí Thiện đã viết bài thơ, " Tôi có thể ăn " ( I can eat) một bài thơ mà nhịp điệu của nó, chứ chưa nói đến nội dung, cũng đã đủ chất liệu để tạo cảm hứng cho Bob Dylan, hay Peter, Paul và Mary viết thành một bản nhạc. "Tôi có thể ăn: Tôi có thể ăn vài cân sắn sống. Ngon lành như nhai kẹo xô-cô-la. Bạn phục tôi tài hơn cả lợn à? Tôi đương sống trong nhà giam Việt Cộng ! Mùa đông rét, ào ào gió lộng. Đứng ngâm mình vớt nứa giữa dòng sông. Bạn tưởng tôi xương sắt, da đồng? Tôi đương sống trong nhà giam Việt Cộng! Chỗ tôi nằm sau mười phân chiếu rộng. Hai người bên, một hủi, một ho lao! Bạn bảo tôi còn biết làm sao? Tôi đương sống trong nhà giam Việt Cộng! ( 1968) ( I can eat a few kilos of raw manioc. And enjoy them as if they were chocolate!. Aren’t you impressed that I can outdo a hog? It’s because I am living in a Viet Cong jail. In the winter when blow wintry blasts. I am half submerged in water gathering sharp bamboo. Do you think that I have copper skin and iron bones? No, I am just living in a Viet Cong jail. My bed is a piece of mat about two fêet wide. On one side is a leper, on the other a TB case. What do you think that I should do? I am living, though, in a Viet Cong jail. Trong bài điều trần trước Quốc Hội Mỹ năm 1995, Nguyễn chí Thiện giải thích những quan điểm của ông về chiến tranh Việt Nam như sau, " Thật ra, cuộc " chiến tranh giải phóng " này không có gì hơn là một nỗ lực nhằm áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản, hay loại Mác- xít Lêninít của nó, lên toàn thể nước Việt Nam như là một tảng đá thống trị đè nặng lên phần còn lại của vùng Đông Nam Á . Sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975, hàng trăm ngàn người bị gửi vào những trại cải tạo tập trung. Cho nên Cộng sản không cần dùng đến những cuộc tắm máu, vì làm như thế thì rõ ràng và lộ liễu quá. Thay vào đó, dưới chế độ mới, hàng trăm ngàn người đã phải chết vì lạnh, hay chết đơn giản không ai ngó ngàng tới trong những xó xỉnh hoang vắng nào đó của rừng rậm. Nhà thơ phản kháng tiếp tục " Cuốn sách mới đây của ông Robert Mc Namara về chiến tranh ở Việt Nam ( cuốn In Retrospect) cho thấy sự hiểu biết ít ỏi của ông về Việt Nam và người Việt Nam. Hơn thế nữa, ông đã lăng nhục trí nhớ của những người đã từng chiến đấu và hy sinh cho lý tưởng và dân chủ ở Việt Nam, vốn giống với lý tưởng của thế giới và ngay cả tại nước Mỹ. ..Nhìn lại, cuộc chiến Việt Nam có thể so sánh như một trận đánh – một trận đánh lớn nếu bạn muốn nghĩ như thế – đã bị thua, nhưng cuối cùng đã đóng góp vào sự chiến thắng ở mức độ lớn nhất." Sự vui sướng mà những người trẻ Việt Nam đón chào Tổng thống Clinton trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 11 đã gợi ý cho thấy nền độc tài Mác-xít Lêninít trong một quốc gia nghèo đói, không tự do sẽ không sống vài năm lâu hơn những người lãnh đạo Việt Nam già nua. Nhưng tương lai sẽ có thể chứng kiến sự trở lại của nền cai trị độc ác như quỷ ở đâu đó dưới chiêu bài của những phong trào mới và những ý thức hệ mới. Điều nguy hiểm và lầm lạc nhất của những loại này , giống như chủ nghĩa Cộng sản, có vẻ hấp dẫn tới những lý tưởng tiến bộ và thức tỉnh. Sự anh dũng trí tuệ ( intellectual heroism) của Nguyễn chí Thiện, Solzhenitsyn và nhiều người tiên tri không võ trang khác đã trực diện đối đầu với sự gian trá độc hại nhất của thế kỷ 20, nó sẽ cần đến để gây hứng khởi cho những người nối tiếp của họ trong trận đấu với những hình thức khác của chuyên chế. Bài thơ " Đảng đầy tôi ( 1972)" ( They Exiled Me) có thể coi là một bản quốc ca vô tận cho sự sống còn của những nhà bất đồng chính kiến ở khắp mọi nơi: " Đảng đầy tôi trong rừng. Mong tôi xác bón từng gốc sắn. Tôi hóa thành người săn bắn. Và trở ra đầy ngọc rắn, sừng tê. Đảng dìm tôi xuống bể. Mong tôi đáy nước chìm sâu. Tôi hóa thành người thợ lặn. Và nổi lên ngời sáng ngọc châu. Đảng vùi tôi trong đất nâu. Mong tôi hóa bùn đen dưới đó. Tôi hóa thành người thợ mỏ. Và đào lên quặng quý từng kho. Không phải quặng kim cương hay quặng vàng chế đồ nữ trang xinh nhỏ. Mà quặng uranium chế bom nguyên tử." (They exiled me to the heart of the jungle. Wishing to fertilize the manioc with my remains. I turned into an expert hunter. Anh came out full of snake wisdom and rhino fierceness. They sank me in the ocean. Wishing that I would remain in the depths. I became a deep sea diver. And came up covered with scintillating pearls. They squeezed me into the dirt. Hoping that I would become mire. I turned instead into a miner. And brought up stores of the most precious metal. No diamond or gold, though. The kind to adorn women’s baubles. But uranium with which to manufacture to atom bomb. Lawndale, một chiều có nắng hanh hao và mưa lấm tấm đầu tháng 9 năm 2002. 1. Loạt thơ thứ hai này được in dưới cái tên "Hạt máu thơ" sau khi nhà thơ Nguyễn chí Thiện đến Mỹ định cư năm 1995.

 

Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài Nguyễn Du Hà Sỹ Phu là một nhà khoa học tự nhiên. Anh viết luận văn tiến sỹ về vấn đề nuôi cấy mô và tế bào. Làm phó giám đốc Phân viện Sinh vật học Đà Lạt, với năng lực nghiên cứu khoa học xuất sắc, anh hoàn toàn có khả năng vươn tới đỉnh cao trong khoa học công nghệ để được vinh thân phì gia. Nhưng rồi, văn chương cứ như cái nghiệp đeo bám làm cuộc đời anh phải trải bao khổ ải, truân chuyên. Phải chăng vì cái nghiệp kiếp trước hay chỉ vì cái tâm quá lớn. Cái tâm gánh nặng nỗi lo đời. Cầm bút đối với Hà Sỹ Phu là nghề tay trái, nhưng cái tay trái này lại khuấy động cả "đất trời" nên ắt phải sinh chuyện. Anh trần tình : Thương người tay trái làm thơ Hỏi rằng tay phải bây giờ để đâu ? Thưa rằng trong cuộc bể dâu Tay phải bị trói, từ lâu liệt rồi ! Trái tay, vẽ lộn đất trời, Cho điều phải trái trên đời được minh ! Bài " Chia tay Ý thức hệ " ra đời, khiến ông bị "tông xe, giật túi", bị tù một năm vì tội đã dám cầm một bài phát biểu của ông Võ văn Kiệt. (Thật mỉa mai cho HSP vì bài phát biểu này có nghĩa lý gì so với những bài lý luận của anh !). Ngoài ba bài chính luận: " Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ ", " Suy nghĩ của một công dân ", " Chia tay ý thức hệ ", HSP có một số bài có tính chất văn học, một số câu đối, và thư từ gửi cho bạn bè. Câu đối của HSP là đề tài được nhiều người lưu ý, sẽ nói đến sau. Nhưng thư từ cũng sinh chuyện. Vì viết ba bức thư riêng gủi các ông Trần Độ, Hoàng Minh Chính và Lê Hồng Hà mà năm 1999 ông bị hỏi cung một tháng rưỡi rồi kết tội "vi phạm luật xuất bản" và bị tịch thu một dàn vi tính, trong đó có một printer laser. Đến năm 2000 vì viết thư trả lời hai nhà báo người Việt ở nước ngoài mà ông bị quy tội "phản quốc" nhưng sau 4 tháng trời hỏi cung thì kết luận chưa đến mức chịu hình sư, chỉ bị quản chế 2 năm và tịch thu một dàn vi tính nữa. Viết 5 bức thư mà mất 2 dàn vi tính. Ở xã hội ta, thư từ cũng phải trả giá đắt thật nhỉ! Việc chọn ngành khoa học tự nhiên của ông là một chọn lựa thích hợp với tư duy khúc triết, chính xác đầy tính chất toán học của ông. Nhưng một nửa con người ông đã mắc duyên nợ với văn chương từ thuở thiếu thời. Cụ thân sinh ra ông dạy chữ nho cho cả bốn con trai nhưng cụ tâm đắc nhất với người thứ ba, tức Nguyễn Xuân Tụ. Mỗi bài thơ, mỗi đôi câu đ?i xướng họa với bạn bè của cụ, cụ vẫn chờ dịp "chú Tụ" về để đọc, để ngâm, để bình, để cha con cùng cân nhắc từng chữ, từng ý, từng câu. Mặc dù là cán bộ nghiên cứu Công nghệ sinh học, nhưng những câu đối, bài thơ thù tạc lúc trà dư tửu hậu đã khiến cho lượng bạn bè của ông ngày càng thiên về văn chương thơ phú. Ong làm thơ, câu đối, viết văn, làm nhạc, viết báo. Nhiều câu đối được bạn bè thích thú, trích đưa vào truyện dài, truyện ngắn của mình. Nhưng biến đổi có ý nghĩa bước ngoặt trong việc cầm bút có lẽ là cuộc gặp gỡ với nhà thơ Bùi Minh Quốc. Hội Văn nghệ Lâm Đồng thành lập năm 1988 do nhà thơ Bùi Minh Quốc làm Chủ tịch. Nguyễn Xuân Tụ là một trong những hội viên sáng lập, ở ban Văn thơ mà sau thành Chi hội Văn học, lấy hai bút danh Tú Xuân và Hà Sĩ Phu (HÀ là một đại từ nghi vấn, chất vấn. Đặt tên Hà Sĩ Phu là đặt ra một dấu hỏi). Tuy mới quen nhau trong sinh hoạt văn thơ, nhưng với con mắt của một nhà thơ chuyên nghiệp, Bùi Minh Quốc lưu ý ngay đến những bài thơ của HSP. Có cái gì đó không lẫn vào đâu được. Theo Bùi Minh Quốc kể lại thì tập thơ đầu tiên mà Hội Văn nghệ Lâm Đồng lúc đó dự định xuất bản là tập thơ của Hà Sĩ Phu. Tên tập thơ dự kiến là "Nước mắt cười". Nhưng rồi việc ấy chưa kịp thực hiện thì Bùi Minh Quốc đã bị mất chức Chủ tịch Hội vì chuyến đi "xuyên Việt". Do tập thơ của HSP chưa xuất bản. Bạn bè chỉ biết đến thơ ông qua một số bài ông viết tay gửi tặng bạn bè, một vài bài đăng rải rác trên báo này báo khác ở trong nước và ngoài nước, hoặc hãn hữu xuất hiện trong một tập thơ chung. Trong những bài thơ dù viết về "Tĩnh vật" hay "Động vật" như cây cột điện, con cua, con mực, cây thông … người ta đều thấy một chiều sâu rất động, một nội hàm đầy ắp và dồn nén. Ở Đà lạt, đứng trước một dinh thự, nhìn thấy những cây thông bị kẽm gai xuyên ngập vào tới tủy, chỉ vì trước đây người ta đã dùng kẽm gai quấn hờ qua những cây thông để làm hàng rào tạm. Rồi thông lớn lên, càng lớn thông càng nuốt kẽm gai vào lòng, đến mức nay muốn gỡ ra cho thông cũng không được nữa. Quanh dây kẽm, thân thông xùi lên như cặp môi sưng, như ẩn ức điều gì mà không nói được. Còn chính dây kẽm là thủ phạm làm đau những cây thông thì lại được hàng thông ngày càng nâng cao mãi lên cho kẻ trộm rộng chỗ chui vào. Nhựa vẫn lên, và thông vẫn lớn Vẫn xếp hàng đưa dây kẽm lên cao Cái khoảng trống sát nơi mặt đất Cứ cao thêm cho kẻ trộm chui vào (Trích bài Những cây thông quanh biệt thự) Thật là một "bi kịch của sự phát triển" ! Con cua ở hang, bò ngang, bị luộc lên thì đỏ rực … xưa nay ai chẳng biết. Thế nhưng trong hai tâm trạng khác nhau, với hai cấu tứ khác nhau, HSP đã nhìn thấy hai thứ cua khác hẳn nhau: Con cua 1 Trên đời lạ nhất chú Cua Động va là cắp, động bò là ngang. Luộc sôi mới đỏ mai càng Có gạch mà chịu ở hang suốt đời. Con cua 2 Cậu chỉ bò mà được tiếng ngang ! Có gạch thì sao cứ ở hang ? Đã sang sắc đỏ là đi đứt ! Màu mỡ khoe chi cái nước … hàng ! Một loại cua của Chí Phèo nơi thôn dã, và một loại cua của thượng tầng, làm bộ khệnh khạng nhưng thực ra chỉ là bọn mãi thân cầu thực, mãi quốc cầu vinh. Cũng như nhiều nhà nho học và làm câu đối, HSP cũng đem thú chơi chữ vào thơ .Hai bài về chuyện "nước" có thể là ví dụ. Cái nghịch cảnh ngoài trời thì mưa tầm tã, nước tràn trề, mà vòi nước trong nhà thì tắc : Một ngày mất nước Nước cúp, trời mưa, khách lại đông Nước ngoài thì có, nước trong không. Chân bết bùn nhơ không chỗ rửa, Nước tắc, bao giờ nước mới thông ? Và cái cảnh một giếng chung, ai cũng vục gàu khua đục mà chẳng ai nghĩ chuyện tu sửa : Nước đục Khuấy bừa, cặn bã vẩn lên trên Nước đục, ai lo chuyện đánh phèn ? Cứ học anh Cò, thân lại béo, Trong đục, tìm chi bóng Khuất Nguyên ? Vui nhất là bài thơ chơi chữ để đùa nhà thơ Xuân Sách khi nhà thơ này bị thu tập sách "Chân dung nhà văn" Bốn mùa Hành nghề vẽ chân dung XUÂN Sách bị THU sách ! Người mua sách càng ĐÔNG THU sách thành HẠ sách ! Và bài thơ tặng nhà thơ Cộng sản Bùi Minh Quốc khi ông bị khai trừ Đảng: Cộng trừ nhân chia Nghe tin cậu bị khai TRỪ Tấm lòng CỘNG sản có dư vẫn bền. Tấm lòng ví được NHÂN lên, CHIA cho thiên hạ làm duyên bạn bầy. Trạnh lòng nhớ thuở thơ ngây NHÂN CHIA chưa biết, loay hoay CỘNG TRỪ ! Đùa Nguyễn Thanh Giang bằng lối thơ lòng vòng, khi ông vừa được phong Viện sĩ, vừa bị Công an Việt Nam bắt : Viện sĩ Thanh Giang được Mỹ phong: Mỹ phong, nhà nước lại cho còng. Cho còng, để khóa đầu ông lại, Ông lại thề không bẻ bút cong ! HSP thường nói với bạn bè về cái tật thích chơi chữ : Tớ nghèo chẳng có gì chơi Chơi dăm ba chữ cho vơi sự buồn ! Có khi ông đùa một cách rất nghiêm chỉnh. Ây là cái năm Con Chuột (1984), khi còn ở trong một căn nhà Ổ chuột, bị chuột tàn phá hết mọi thứ, buộc lòng ông phải viết một "kiến nghị" kính cẩn gửi lên bác Chuột chủ nhà (vì nhà ấy là nhà Ổ chuột) như sau: Bác là Chuột, tôi là Người Người, Chuột xưa nay vốn cách vời Thời thế đẩy tôi chui ổ bác Ta đành thương lượng với nhau thôi Nào ta thương lượng với nhau thôi Sát nóc trên cao bác chiếm rồi Còn chỗ dưới sàn xin với bác Bảo đàn con cháu bác thương tôi. Đàn con cháu bác chẳng thương tôi Có chiếc ghi-ta chúng gậm rồi Gạo sỏi chúng còn pha cứt chuột Sách quý gia truyền cắn tả tơi. Cơm áo ừ thì chót tả tơi Dây điện làm sao bác cắn hoài ? Vẫn biết bác không cần ánh sáng Tôi viết làm sao lúc tối trời ? Cái ổ chung này bác đứng tên Bạn tôi muốn đến biết đâu tìm ? Muốn đổi tên chung, dùng mới tiện Thấy bác nhe răng, biết bác phiền Có phiền thì cũng chẳng phiền lâu Hiến pháp dân tôi ghi rõ câu: "Dân chúng có quyền có nhà ở" Mai mốt rồi tôi cũng có lầu ! (HSP "nói khoác" với Chuột thế thôi, hơn 20 năm đã qua rồi, ông làm gi đã đuợc có nhà) Tuy vậy, bên cạnh những câu thơ đau đời, nghiệt ngã, cũng có những câu trữ tình mượt mà Ông mượn vẻ đẹp cảnh vật để tả vẻ đẹp thân hình: Em gái trắng hồng nước da Đà lạt Nghiêng dù soi nước Xuân Hương Đôi ngọn Lang Biên chập chờn mây mỏng Mấy rặng quỳ xanh, tỏa sắc vàng. (Trích bài Người đẹp bên cầu) Mượn tình yêu đôi lứa để nói triết lý đời là bể khổ: Hương đời còn đó chưa phai Lệ đời thấm đã ướt vai bạn tình. Hoa cười, cho bướm bay quanh Biết chăng hoa cũng mong manh sắp tàn ? Hồng nhan chi mấy hồng nhan, Anh hùng chi mấy hỡi gan anh hùng ? (Trích bài Hương đời gió thoảng) Và một đoạn trong bài Mùa thu không trở lại : Ôi mùa thu cũ cứ thơ ngây Cứ thắm như tà áo vẫn bay Cứ ngát hương cau, mềm bóng liễu Sao không trở lại thế gian này ! Về hình thức thơ, đáng chú ý là lối thơ sáu câu. Lục bát sáu câu như bài: Hạt mưa Phải chăng đi khắp đó đây Nên ta lại gặp được ngay chính mình ? Phải chăng sống hết với tình Nên ta lại gặp chúng sinh muôn loài ? Hạt mưa mang nặng đất, trời Mảnh thân mang cả nỗi đời vô biên ! Thất ngôn sáu câu như bài: Hỏi cụ Ức Trai Cháu buồn cháu gọi Ức Trai ơi, Xin được quỳ bên, hỏi một nhời : - Kim bang vô đạo, hà như xử ? Cổ tích oan khiên diệc khả hồi ? Giọt máu Linh xà sao thấm mãi, Cháu buồn cháu gọi Ức Trai ơi ! Hình như đây là những bài thơ cần tính triết lý. Cái luận lý "Tam đoạn luận" chỉ cần ba nhịp, mỗi nhịp hai câu. Ba nhịp vừa đủ để khép lại một dòng luận lý, hai nhịp thì chưa chặt mà bốn nhịp thì thừa. Khác với Văn và Thơ, Câu đối của HSP được biết đến nhiều hơn. Có lẽ vì thời nay người làm câu đối cho ra câu đối thì ít, mà câu đối HSP lại thật ấn tượng, rất thâm nho nhưng rất hiện đại, rất tân thời. Ong làm câu đối cho bạn bè, cho mình và cho thế sự. a/ Câu đối thế sự Dịp gợi hứng nhất để làm câu đối là những dịp Tết, mỗi Tết dính đến hai "con giáp", một con tiêu biểu cho năm cũ đang qua, một con là năm mới sắp đến. Xin ví dụ vài câu đối Tết, mỗi câu mỗi chữ đều là một trò chơi chữ, đều ẩn dấu một gánh nặng ưu tư : * Tết con Lợn (câu đối dán cửa hàng thịt lợn) : Tiền bạc nổi trên hai mặt thớt Óc tim quyện dưới một dao bầu ! * Tết con Lợn (đối đáp giữa đôi anh chị bán thịt lợn) : Chân giò em vẫn nây nây, ba chỉ sỏ tai, nhưng hết ruột ! Đầu lưỡi bác như bạc nhạc, bốn chân bì mỡ, chẳng còn tim ! (Tất cả những chữ Chân giò, Nây, Ba chỉ, Sỏ, Tai, Ruột, Đầu, Lưỡi, Bạc nhạc, Chân, Bì, Mỡ, Tim đều là các loại thịt lợn) * Năm THÂN sang DẬU : KHỈ níu THÂN tàn, đào đến Tết ! GÀ chui DẬU thủng, quất vào Xuân ! (chữ Đào, chữ Quất nếu là danh từ thì vui biết mấy, nhưng nếu là hai động từ thì cũng thật đau) * Năm MÃO sang THÌN : Lắm việc phải làm ngay, MÈO sắp đi rồi, thôi bỏ thói làm như MÈO mửa ! Bao điều cần nói thật , RỒNG đang tới đó, nhưng tránh trò nói tựa RỒNG leo! (Năm ấy ông Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh vấn đề Nói và Làm, mở trên báo chuyên đề "Những việc phải làm ngay"). * Năm NGỌ sang MÙI : Hết khoe MÃ một thời, NGỌ ngoạy lắm cũng ra vành móng NGỰA ! Còn xuất DƯƠNG mấy độ, MÙI mẽ chi mà vểnh sợi râu DÊ ! (Mã và Ngọ cũng là Ngựa. Dương và Mùi cũng là Dê). * Năm SỬU sang DẦN : Tiễn bác TRÂU chớ gẩy đàn cầm , bác là bậc có sừng có sỏ ! Đón anh HỔ đừng ngay ruột ngựa, anh vốn loài dùng vuốt dùng nanh ! * Năm THÌN sang TỴ : RỒNG hết thuở RỒNG, bác khủng LONG ngọc thể bất an, đã tăng ký lại tăng xông, tiêm thuốc MỸ cũng xuôi miền Tây trúc ! RẮN đang mùa RẮN, rượu tam XÀ âm dương lưỡng bổ, hết quốc doanh còn quốc lủi, ngâm táo Tàu để chấn khí Đông A ! (Câu đối khiến ta liên tưởng đến quan hệ Việt Mỹ và Việt Trung) Năm Khỉ có vế mời đối : "Ngộ có ngộ không, ngộ không ngộ, ngộ không là khỉ !". Vế này khó vì "Ngộ không" vừa là tên nhân vật của Tây du ký, chữ "không" cũng có nghĩa riêng, còn chữ "ngộ" thì vừa nghĩa là ta, vừa nghĩa là giác ngộ, vừa nghĩa là điên dại, vừa nghĩa là họa hoằn, may ra. Vế đối có thể hiểu thành rất nhiều nghĩa. Vế này đã có nhiều người đối, đăng đặc san Văn nghệ, trong đó có nhiều câu hay. Năm Canh Thìn sang Kỷ Tỵ có vế mời đối : "Trời đã sang CANH, đừng vị KỶ !". Vế mời đối rất đơn giản, sáng sủa và đáng yêu. Đã có mấy chục vế ứng đối, trong đó có nhiều câu hay. Năm GIÁP TÝ (1984) ông đùa trêu một người bạn gái, nhưng nói trệch đi là tặng cụ Võ nguyên Giáp: "GIÁP tý thì GIÁP, chẳng GIÁP thì thôi, GIÁP tý lại thôi, đừng có GIÁP !". b/ Câu đối cho bạn bè: * Câu đối viếng cụ Nguyễn văn Chấn, tác giả tập Gủi cho Mẹ và quốc hội : Đánh Thực dân, ra báo công khai, Tiếng DÂN CHÚNG bao phen thù phải sợ ! Vì Dân chủ, viết văn bí mật, Người SÀI GÒN muôn thuở bạn còn yêu ! (Được công khai trong lòng địch mà phải bí mật trong lòng ta, thế mới oái oăm!) * Câu đối (chữ nho) viếng nhà thơ Phùng Quán : Nhất QUÁN tận can trường ! Trùng PHÙNG lưu cốt cách ! (Nhà thơ Phùng Quán mất vì bệnh gan. Đám tang do nhà thơ Phùng Cung làm chủ tang lễ. Câu đối này đã khắc vào bia.) * Vế xuất đối (chữ nho) mừng sinh nhật nhà thơ Bùi Minh Quốc : MINH MINH quốc, cầm MINH quốc bất MINH, MINH nhật kê MINH, MINH quốc phục ! (Ngày sinh năm ấy ông BMQ đang bị quản chế lần thứ nhất. Rất khó đối, vì vế xuất đối có tới 7 chữ MINH với 5 nghĩa khác nhau, lủng củng những "minh" mà vẫn "bất minh". Vế đối này nghe nói đã có nhiều người ứng đối, chúng tôi chưa có văn bản chính xác nên đành để lại). * Câu đối viếng Vũ Huy Cương : Một phút ra đi thế tử không mang duyên thế tục Trăm năm là mấy nước non chưa trắng nợ tang bồng * Câu đối dề tặng cuốn sách "Suy tư và Ước vọng" của Nguyễn Thanh Giang : Đã hiên ngang một giải Suy tư Tài nguyên ấy kết tinh từ thuở trước ! Lại khắc khoải bao niềm Ước vọng Tâm lực này lưu trữ để mai sau ! Trên đây chỉ là vài ví dụ. HSP đã "phải" làm rất nhiều câu đối viếng, câu đối mừng cho những người thân, người quen. Người ta thích câu đối của ông vì các câu thường đối rất chọi, hay dùng những tên tuổi hay "điển tích" gắn liền với nhân vật của câu đối, khiến cho câu đối gắn chặt với con người ấy, câu đối ý nhị, có hồn, không thể lẫn sang ai khác được. Nhiều câu đối ông nghĩ rất nhanh, nhiều điều thú vị đã thành giai thoại, mà nội dung xin nhường lại cho một dịp khác. c/ Câu đối cho bản thân: Đôi khi HSP làm câu đối cho mình và gia đình. Năm 42 tuổi ông tự trào: Lẻ bốn chục xuân xanh, nhìn sắc tóc mới hay mình có … BẠC ! Chẵn hai bàn tay trắng, thấy màu da đủ biết tớ ưa … VÀNG ! (Lẻ đối chẵn, bốn đối hai, xanh đối trắng, sắc đối màu, mình đối tớ, bạc đối vàng. Cứ đối tran trát. Như thế cũng đủ trào lộng rồi, chứ chưa cần nói đến sự "vênh váo" rằng mình rất nhiều vàng bạc!). Năm 47 tuổi ông "chơi" một gam màu vừa chua lại vừa chát: Nợ chất XÁM chưa đền mà tóc TRẮNG ! Số hoa ĐÀO toàn gặp những cơn ĐEN ! (Người ta kể lại, lúc ấy ông đang rán đậu để nhắm rượu với ông Vũ Văn Thanh mải chuyện để đậu cháy thành than, nên ông tức cảnh để kỷ niệm một "cơn đen" của mình.) Khi bị tù một năm, ngày Tết ngồi sau song sắt trại giam, ông có thể làm gì ngoài việc gửi lòng mình vào những câu đối : Quên điều Quốc luật gài then sắt Để chữ Dân quyền nảy nét son ! Hoặc : Thơ Xuân dâng hồn Nước , song sắt phải mờ Đối Tết rộn tình Quê, cửa lim cũng vượt ! (Cái Hồn Nước, cái Tình Quê nó "vượt" qua song sắt, cửa lim, chứ sức lực HSP thì vượt đi đâu?. "Son" bền hơn sắt! Cú "vượt" này ai mà ngăn được ?). Những lời thiết tha nhất ông dành cho bố mẹ. Câu đối khóc khi mai táng mẹ : Trời dẫu xập chẳng đau bằng mất mẹ ! Đất tuy dày không cản được lòng con ! Câu đối từ trong tù (1996) gửi ra nhân ngày giỗ cha : Nhớ giỗ Cha thắp nén hương thầm, đem chí khí quyết đền công dưỡng dục ! Yêu đất Mẹ mở con đường lớn , lấy bút nghiên mong trả nợ tang bồng ! Về phần văn, có bài Thằng Bờm, phần 1, đăng báo Văn nghệ, phần 2 đăng ở Pháp. Một số bài khác đã đăng báo Tuổi trẻ, Thanh niên. Truyện ngắn "Sấm Trạng Sần" đăng ở Pháp với bút danh Tạ Xích Thằng. Bài "Năm Mã nói chuyện Khuyển" gủi cho bạn bè, sau đăng nhiều báo nước ngoài. Tuy viết chưa nhiều, nhưng thiên hạ nhiều người đã mến, đã nhớ giọng văn của ông. Một lối văn rất tản mạn mà có chủ đề,vừa tự do vừa điển tích, vừa khiêm tốn vừa khinh bạc, mua vui mà lại gợi buồn … Đọc để chơi, mà cũng không phải để chơi. Như trên đã nói, nghề của tiến sỹ khoa học Nguyễn Xuân Tụ là Công nghệ Sinh học. Văn chương với Hà Sỹ Phu chỉ là cái nghiệp, là công việc tay trái. Nhưng, đây là một "tay trái" mà thiên hạ không thể bỏ qua, không thể lướt qua. Ở đời có cái làm chơi mà tai vạ thật, có cái làm chơi mà lợi ích thật. Việc đánh giá con người và tác phẩm HSP vẫn còn ở phía trước, tôi chỉ làm cái việc giới thiệu vài nét sơ bộ thôi. Kết thúc bài viết, tôi trở lại một câu đối mà chính HSP đã tự trào lộng về cuộc đời cầm bút của mình, ông bảo với người thân khi nào ông chết đi thì cứ khấn ông bằng câu đối đó: TRIẾT LÝ dăm câu CƯỜI THẾ SỰ ! VĂN CHƯƠNG mấy chữ KHÓC NHÂN TÌNH ! Hoá ra, TRIẾT LÝ nghiêm chỉnh thì để mà Cười, còn làm THƠ khôi hài thì lại để Khóc ! Ông cầm bút chẳng qua là để được Cười được Khóc mà thôi. Hà Sỹ Phu đã từng cười với cuộc đời, còn ta, đôi khi ta không thể không khóc trước những bất lương, tàn bạo người ta đã giành cho một nhân tài như ông. Nhớ lại một lần, Hà Sỹ Phu ra vế đối : " Lê mác đi khó cứu Mác Lê " và tôi đã ứng đáp " Tụ xuân lại mà làm Xuân Tụ ". Đấy cũng là lời cầu chúc, mong mỏi của người viết bài này. Hà Nội 1 tháng 11 năm 2003

 

Sự ra đi của Trịnh-Công-Sơn tạo khá nhiều bất đồng ý kiến. Kẻ thì bảo Trịnh Công Sơn là nhạc-sĩ có tài, yêu nước. Người thì nói “nó là tên Cộng-sản nằm vùng”. Rồi những bài viết về Trịnh Công Sơn có thể là của cô em tinh-thần “một thuở đi về có nhau”, hay của một vài bạn-bè chếnh-choáng hơi men đêm nào nơi quán cóc ven đô. Một chút đam-mê thời xa xưa đó lại hiện về khi “ghế đá công-viên dời ra đường phố”. Hãy bình tâm mà xét, xin một phút nghĩ về đêm kinh-hoàng của người dân miền Nam nhất là những người dân như “đàn chim đã một lần bị tên”. Xin hãy lắng nghe tiếng tức-tưởi của hàng ngàn người đã ngã xuống, quằn-quại, rên-xiết ... Và rồi, át cả tiếng kêu than là tiếng của Trịnh Công Sơn trên đài phát-thanh Sài-Gòn “Rừng núi dang tay nối lại biển xa, ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn-hà. Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay”. Rồi từ sau ngày 30-4-1975 là giai-đoạn “ánh-sáng” trong đời TCS. Ánh lửa kinh-hoàng của 30-4-1975 là ánh bình-minh mà TCS hằng mong đợi. Ta hãy nghe TCS chia cuộc đời mình làm 2 giai-đoạn: trước 1975 là “bóng tối”, sau 30-4-1975 là “ánh-sáng”. Trong bài viết “Tiếng hát về ánh-sáng” của TCS trên báo Đất Việt số ra ngày 20-01-1979: -“Lúc bấy giờ nếu nói về núi thì tôi sẽ không nói gì về cái vóc dáng hùng-vĩ của nó mà tôi chỉ nhìn thấy cái vẻ im-lìm, cam chịu của núi. Nhìn dòng sông thì tôi chỉ thấy cái hình-ảnh của thời-gian mang đi hết tuổi thơ của mình. Tôi cũng không nói về cái nắng rực-rỡ của bình-minh mà chỉ bằng lòng cái màu vàng-vọt cùa nắng quái buổi chiều. Nói đến con người, tôi không bao giờ nói đến nó đã sống oanh-liệt như thế nào mà chỉ nhắc đến cái buổi chia-lìa của nó với mặt đất. Tóm lại tôi đã đứng về phía bóng tối tiêu-cực như một thế-giới-quan bệnh hoạn mà từ đó tôi đã khai-thác làm thành cách biểu-hiện của riêng mình đối với cuộc đời. Trong quá-khứ tôi đã hát về bóng tối. Tôi đã quen-thuộc với bóng tối đến độ tôi đi trong đó mà không phải thắp đèn. Tôi đã sống với bóng tối như một kẻ đã được sinh ra mà định-mệnh của nó là niềm tin tuyệt-vọng”. Thật tội nghiệp cho TCS đã mang niềm tuyệt-vọng từ ngày còn là một cậu giáo sinh trường sư-phạm Qui-Nhơn (1962). Một TCS thông-minh, mưu trí như một tay gián-điệp quốc-tế “đi trong bóng tối không cần dọ-dẫm”. Thật sự thì cần gì phải dò-dẫm, kế-hoạch nào, phòng-thủ ra sao TCS đã thuộc lòng. Lợi-dụng lòng tin, tình-cảm vào những đêm ngồi cùng hát cho nhau nghe chến-choáng hơi men. Những tình-cảm chân-thực được tỏ bày qua những kẻ đàn anh đã dang tay che chở cho Sơn vào thời điểm Sơn phải vào lính. Thà rằng TCS làm như Hoàng-Phủ Ngọc-Tường, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê văn Nuôi để bè bạn đỡ phần ân-hận. Dòng đời là tiếp nối những thăng-trầm. Sự chết nào rồi cũng khơi nguồn cho mạch sống mới. Nếu không có cái chết của Phạm-Phú-Quốc thì ta đâu được nghe dòng nhạc bồng-bềnh như len-lỏi trong mây “Huyền sử ca một người mang tên Quốc” của Phạm-Duy. Động-cơ nào đã đưa nhạc TCS lên đến đỉnh cao được nhiều người mến-mộ? Trước 30-4-1975 TCS đã hát về bóng tối, đứng về phía bóng tối tiêu-cực như một thế-giới-quan bệnh-hoạn (theo lời TCS). Đọc lại sử Việt-Nam qua những chiện-thắng hào-hùng của tiền nhân, từ cuộc chiến chống bọn phong-kiến phương Bắc đến bọn đế-quốc xâm-lược đều là “tự-vệ”. Những năm tháng ấy, ông cha chúng ta còn phải đương-đầu với Chiêm-Thành ở phía Nam. Rồi những rạn-nứt, phân-chia qua các cuộc phân-tranh Trịnh - Nguyễn, Gia Long - Quang Trung, hình-ảnh chiến-tranh, chết-chóc kéo dài từ thế-hệ nầy qua thế-hệ khác đã phát ra tiếng kêu trầm-thống âm-ỉ trong lòng người dân Việt. Rồi cuộc chiến-tranh xâm-lược của Cộng-sản miền Bắc được sự hỗ-trợ của Nga Tàu, từ sau ngày đất nước được tạm chia để chờ ngày thống-nhất. Dân miền Nam chống cuộc xâm-lược đó chỉ là bảo-tồn sự sống còn của nền tự-do và tín-ngưỡng mà tiền nhân đã truyền lại từ ngày lập quốc. Ta nghe lại “Một ngàn năm đô-hộ giặc Tàu, một trăm năm đô-hộ giặc Tây, ba mươi năm nội chiến từng ngày...”, cuộc nội chiến đó ai gây, điều đó chắc TCS phải hiểu bởi vì ở vào lứa tuổi “bắt buộc phải hiểu”. Hình-ảnh của chết-chóc bất-ngờ quá, chua-xót quá. Vừa mới đó, mới còn thấy đó phút chốc đã mất mẹ mất cha, mất người yêu, mất bạn bè. Ai giết? Ai gây? “Người anh em”, người vừa mới cùng mình chén tạc chén thù, người mới vừa thề thốt đã bội phản. Nhìn cái chết tức-tưởi, phi lý, không còn một lựa chọn nào khác hơn. Cảnh đau lòng đó hỏi ai không xót thương, không oán hận. Phải thừa-nhận rằng TCS là nghệ-sĩ có tài đã nói lên được cảnh tận cùng bi-đát, đã đưa vào lòng người cảnh-tượng hãi-hùng đó. Và chính nhờ cái “gia-tài của Mẹ để lại cho con” mà nhạc TCS được nhiều người hậm-mộ là đã nói lên một sự-thật dân miền Nam đang gánh chịu. Nhưng nói lên sự thật mà không nói đến nguyên-nhân tạo nên cảnh tương-tàn đó, chỉ ru ngủ rằng: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi Để một mai tôi về làm cát bụi” Người đọc nghe, cảm-nhận điều đó đúng hoàn-toàn. “Sinh, lão, bệnh, tử” có từ nghìn xưa nhưng nơi đây chưa đến lúc phải về với cát bụi mà đã vội đi về hỏi ai không nghĩ đến. Dù biết rằng sớm muộn gì cũng về nhưng chưa chắc có một ai lựa chọn cõi về như một nỗi hân-hoan bình-thản. Tôi không dám nói đến cõi về của các “thánh tử đạo” nhưng chẳng biết quí vị thánh đó có đầu-tư cho “linh-hồn mình ở kiếp sau không” chỉ có Trời biết. Năm tháng TCS đã sống và chính TCS đã gọi đó là “bóng tối”, chính nhờ cái bóng tối đó mà TCS được nhiều người biết, ca-tụng, hâm-mộ và họ đã bị phản bội. Bóng tối đã tạo nên hào-quang cho TCS, dùng hào-quang để ngụy tạo rồi vong ơn. Từ ngày TCS được gọi là trở về với nhân-dân, TCS sáng-tác có đến 150 bản nhạc, có bản nào được ca-tụng như thời TCS bị ở trong bóng tối? TCS ơi! anh đã làm gì với thời đó, anh có thấy người nông-dân miền Nam vừa mờ sáng vác cuốc đi thăm ruộng đã phải dẫm mìn VC tan xác bên bờ ruộng mình? Một người mẹ bởi gắng cắt nốt luống lúa vừa chín tới kẻo tối đến du-kích về gặt trộm mất. Nhễ-nhại mồ-hôi, vừa xong việc trời đã chập-choạng tối, vội-vàng đầu đội bó lúa, tay nách đứa con vừa thôi nôi đã bị du-kích bắn trả. Quá khuya người nhà đi tìm thì hỡi ơi, dòng sữa nào đã cạn chỉ còn dòng máu đang rỉ thấm vào miệng đứa con thơ . . . Đó là những người làm nên hạt cơm nuôi sống anh, hạt gạo của những bà mẹ quê nơi miền Nam trước năm 1975. Và rồi, chúng ta được nghe “Đại-bác đêm đêm dội về thành-phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”. Đại-bác, hỏa-tiễn từng đêm về thành-phố, từ đâu về và do ai chỉ-điểm? Giả vờ xót thương, hòa mình vào cái đau khổ, cậm lặng chịu đầu hàng số-phận để rồi đâm sau lưng một cách hèn-hạ. Ta hãy nghe TCS trả lời phỏng-vấn báo Đảng như sau: “Năm 1963 tôi lên Đà-Lạt trốn lính và tình-cờ nghe Khánh-Ly hát ỏ đây. Khi về Sài-Gòn, Khánh-Ly bỏ phòng trà và đi hát với tôi trong phong-trào sinh-viên. Đến sự-kiện nổ súng ở trường Đại-học Văn-Khoa 1968, tôi không hát trước đám đông nữa”. Nhớ vào ngày lễ Giáng-sinh 1968, đêm văn-nghệ có TCS hát, khi hát được nửa buổi, một thanh-niên lên máy vi-âm tuyên-bố: “Buổi sinh-hoạt văn-nghệ hôm nay là để kỷ-niệm ngày thành-lập MTGPMN”. Nghe tới đó, Ngô Vương Toại (xin đừng lầm với tên VC Đoàn Văn Toại) chạy lên giằng lấy micro. Thanh-niên kia rút súng nổ vào bụng Toại rồi mở đường tẩu thoát. Ngô Vương Toại được đưa vào bệnh-viện, rất may chỉ mất một đoạn ruột (từ đó Toại được gọi là Toại ruột). TCS biến đi lúc nào không ai hay. Có lẽ TCS vào bóng tối vì ông đi trong bóng tối không cần đèn. Trên tờ Đất Việt do hội Việt kiều Đoàn-Kết (báo VC xuất-bản), TCS viết: “Tôi (tức TCS) đã trở về với nhân-dân năm 1968”. Chiến-tranh dai-dẳng trên đất-nước, ai không mong một ngày hòa-bình? Dòng nhạc TCS đã khơi đúng nỗi ước mơ “khi đất-nước tôi không còn chiến-tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình”. Ước mơ đã thành sự thật, đất-nước hết chiến-tranh (sau 30-4-1975) hàng vạn bà mẹ lên núi với áo vải chân trần ngược dòng đến tận nơi đèo heo-hút gió, thâm-sơn cùng-cốc để không phải “tìm xương con mình” mà để “nhìn xương con mình”. Đó là những bộ xương người lỡ đất trồng khoai trên các ngọn đồi cháy nắng hay bì-bõm kéo cày thay trâu nơi sình lầy nơi các trại tù. Những bà mẹ đó đã năm lần bảy lượt đút lót cho bọn Công-an sau những tháng ngày tần-tảo buôn-bán kiếm tiền để xin được giấy phép thăm con; những người vợ phải bán máu nơi cổng bệnh-viện và những đứa trẻ thơ phải đi bán từng tấm vé-số góp đủ tiền mua ký đường để má nó đi thăm chồng tận trại giam đất Bắc. Những bà mẹ đó đâu được cái vinh-hạnh như TCS trên chuyến xe lửa xuyên Việt đầu tiên năm 1975 khi đi “tham-quan” miền Bắc. Trong tờ “Đứng Dậy” TCS viết: -“Khi tàu dừng ở Vinh để phái-đoàn đi ăn trưa, tôi và anh em ngồi quán chờ nhà hàng dọn cơm. Bầy trẻ bu quanh nhìn tôi, một đứa giơ tay trỏ vào tôi kêu lên “Ui chao, cái toóc”. Tóc tôi dài quá. Quả đúng! Sau bao nhiêu ngày sống với cách-mạng, tới ngày giờ nầy cái tàn dư của Mỹ Ngụy vẫn còn rơi rớt lại trên đầu trên cổ tôi. Thế là tôi bỏ bữa ăn trưa để đi hớt tóc”. Đọc đến đây tôi sững-sờ, đau xót; có lẽ cái đau xót hơn cả một cô gái nhà lành lỡ trao thân nhằm tướng cướp. Đứng thật nghiêm như một lần thú tội. “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi . . . mọi đàng” và vẵng đâu đây tiếng mõ cầu kinh. “Thiện tại, thiện tai . . . Nam Mô A Di đà Phật. Trả lời phỏng-vấn báo Đất Việt năm 1986, TCS cho biết: -“Khi giải-phóng tôi ở Huế, được thư và điện của bạn bè ở cục R (trung-ương cục miền Nam) và miền Bắc như các anh Hoàng-Phủ Ngọc-Tường, Nguyễn Khoa Điềm; cùng các anh em đó tôi lập hội văn-nghệ ở Huế. Năm 1979, tôi xin chuyển về thành-phố HCM sinh-hoạt hội văn-nghệ thành-phố”. Sau 1975, TCS là ủy-viên biên-chế, quyền sinh sát với các tác-phẩm của hàng trăm văn nghệ-sĩ khác. Đời TCS từ sau 1975 đã lên tột đỉnh vinh-quang, ta hãy đọc lại đoạn TCS viết khi “bóng tối” khép lại: -“Rất may, là cái giai-đoạn nầy đã khép lại kịp thời, khép lại vĩnh-viễn với một đất-nước đã được giải-phóng hoàn-toàn, giành lại độc-lập, thống-nhất và hòa-bình. Bóng tối trong tôi cũng từ đó khép lại và mất hút trước một ánh-sáng mới-mẻ của bình-minh”. “Buổi bình-minh đã được khôi-phục bằng máu xương của cả dân-tộc, bằng những hy-sinh lớn-lao không có gì so-sánh nổi”. Sau 3 năm từ ngày miền Nam mất, TCS đã sáng-tác đâu lối 10 bản nhạc. Nghĩ về mình chưa làm hết sức mình để dâng công cho Đảng, TCS viết: -“Ba năm với khoảng 10 ca khúc phục-vụ các phong-trào, vài ba cái bút ký ghi chép những thực-tế nóng bỏng của các công-trương, nông-trường, chúng tôi tự thấy có bổn-phận phải giữ một cái nhìn nghiêm-khắc hơn về phía lương-tâm mình. Chúng tôi có phần giống một người nông-dân tồi, bất-lực trước cánh dồng chưa hoàn-thành nổi một vụ mùa nào dù nhỏ. Đời-sống thì cứ mỗi ngày phơi mở ra dưới những dạng linh-động phong-phú mà tiếng nói biểu-hiện cuộc đời dường như muốn lẫn tránh chúng tôi. Tuy-nhiên chúng tôi không vội nản lòng vì anh em bằng-hữu chung-quanh chúng tôi và qua những anh em đó, chính là sự có mặt của Đảng, vẫn luôn luôn đủ kiên-nhẫn để duy-trì một tình-cảm đôn-hậu và nồng-nhiệt, cứ sẵn-sàng chờ đợi ở tôi cũng như ở các bạn tôi một tiếng nói mới. Điều may-mắn cho riêng tôi là tôi vẫn chưa quá già để không thể trả nổi cái ân-tình nồng-hậu của các anh, các bạn và nhất là cuộc sống hôm nay bằng một “Tiếng hát về ánh-sáng”. Đó phải là tiếng hát của hạnh-phúc và của niềm hy-vọng”. Gần 30 năm về trước, tôi cũng đã lảng-đảng trong niềm vẩn-vơ cho cuộc đời, thân-phận khi dòng nhạc TCS qua các bản: Lời buồn thánh, Diễm xưa, Tuổi đá buồn. Chính vì nỗi đam-mê đó, ngày là lính tôi đã tổ-chức mỗi cuối tuần: “Mỗi tuần một ngày cho người nằm xuống”. Vào ngày cuối tuần đó, đơn-vị tôi sửa-soạn những thức ăn thật ngon (cá tươi mua từ bãi biển Sa-Huỳnh khi ghe vừa vào bến) thịt lấy từ chuồng nuôi của đơn-vị, khoảng 20 chiếc GMC đưa binh-sĩ hậu-cứ đến rừng đốn củi mang ra thị-xã bán. Số tiền thu được mua gạo phát cho gia-đình tử sĩ, thương phế binh và những anh em trong đơn-vị có đông con. Tôi, chúng tôi đã khóc, khóc nhiều lần khi tiếng hát vang ra từ những chiếc loa phóng thanh nơi ven rừng: “Bạn-bè còn đó, anh biết không anh? người tình còn đây anh nhớ không anh? ... bạn-bè rồi quên, người tình rồi xa...”. Dòng nhạc và tâm-tình đó đã thấm dần vào từng tế-bào của da thịt, từng “van” máu về tim. Đó là một loại rượu “bồ-đào” xa xưa của người tráng-sĩ lên lựng ngựa túy-lúy say: “Túy ngọa sa-trường quân mạc tiếu Cổ-lai chinh-chiến kỷ nhân hồi”. (Lương Châu Từ, Vương-Hàn) Rồi như một chất men âm-ỉ trong tim sau một ngày chếnh-choáng hay một cuộc hành-quân trở về phố thị, chúng tôi: Nghĩa, Minh (Phan Như Thức), Vương Thanh, Luân-Hoán, Minh Đường, Việt, ... quanh chiếc bàn, gác đầu vào vai nhau hát nhạc TCS mặc cho sương thấm lạnh chiếc áo trận bạc màu. Và sau hôm ấy, Nghĩa (Đ/U) mất tích ở Quế-Sơn, Việt (Đ/U) bị mìn cụt hai chân hiện giờ lưu-lạc, biệt mất hay còn ở quê nhà. Vương Thanh bị bệnh mất sau gần 10 năm tù. Minh Đường mất sau những ngày bệnh tật đói khát; Phan Nhự Thức sau gần 10 năm tù được giấy cho về, mừng quá không kịp xem đến ngày có tin đi Mỹ, nhìn lại giấy ra tù đề ngày 30-2-1982. Vay mượn và được bạn bè giúp-đỡ đủ lộ-phí ra vô Quảng-Ngãi, Hà-Nội để điều-chỉnh ngày 30-2 lại (vì tháng 2 không có ngày 30). Tiền mất tật mang, kết quả đã mất vì bệnh-hoạn. Riêng Luân Hoán, “Ngày trở về có anh thương binh KHÔNG chống nạng cày bừa bởi vì CS đâu có cấp đất cho thương phế binh “Ngụy”. Luân Hoán hiện ở Canada gác nạng, ngồi viết gởi bài cho tờ Khởi-Hành Nam California. Trước năm 1975 nhìn cuộc chiến tương-tàn trên đất Việt hỏi ai không đau xót, nhất là những tâm-hồn nghệ-sĩ, tâm-hồn dễ xúc-cảm. Đêm thật buồn trên quê-hương, đèn mờ nơi phòng trà nước mắt nào không nhỏ xuống khi nghe dòng nhạc TCS trong bài “Em hãy ngủ đi”: “Đời mãi đêm và đời mãi buồn, em hãy ngủ đi”. Tưởng chừng như bàn tay của một nàng tiên đang xoa nhẹ trên khuôn mặt của cô bé mang nỗi buồn vô tận khi sự chết-chóc vừa cướp đi những người thân trong gia-đình. Dòng nhạc đó người nghe có cảm-tưởng như tiếng ru bềnh bồng mang đến cõi về mà chính mình hằng mong ước. Nỗi khổ đau tận cùng trên quê-hương không lối thoát đó ai không mong đợi một ngày, một ngày mà: “Việt-Nam ơi! còn bao lâu những con người ngồi nhớ thương nhau” hoặc “Huế, Sài-Gòn, Hà-Nội, 20 năm tiếng khóc lầm-than” và rồi “ngày mai đây những con đường Nam Bắc nở hoa” (trong bài Huế, Sài-Gòn, Hà-Nội của TCS). Đó là một sự thật người dân Việt hằng mong ước, nỗi buồn chỉ còn rượu để tìm quên, song rượu vào, trái sầu vẫn không rụng. Dục phá thành sầu, duy dụng tửu Túy tự, túy đảo sầu vẫn sầu”. NCT Nỗi buồn bất tận thì còn gì biết phải về đâu, thiên-đàng hay địa-ngục cũng là một: Sầu đã chín xin người thôi hãy hái Nhận tôi đi dù địa-ngục thiên-đàng” HC. Giữa những suy-tư đó có một kẻ thật tỉnh-táo, vờ say, vờ phóng-khoáng trong tính-toán khôn lường. Đánh đúng vào yếu điểm để xem mình như kẻ đồng-hội đồng-thuyền rồi mưu-đồ cho cá-nhân là một diều sỉ-nhục không thể tha-thứ. Đọc Kim-Dung qua “Tiếu ngạo giang-hồ” ta thấy nơi Lệnh Hồ Xung, một tửu đồ hào-phóng dường như không có chính hay tà mà chỉ có rượu ngon hay dở và kẻ đối ẩm có đáng để giao tình. Trên Tích Tiên tửu lầu năm xưa, LHX đã dùng mưu trí lừa được tên dâm tặc Điền Bá Quang để cứu Nghi-Lâm rồi nhân đó khơi lên chút thiện tâm, hùng tâm để Điền Bá Quang lẻn vào hầm rượu Tích Tiên tửu đập bễ gần 200 vò rượu quý trên thế-gian chỉ giữ lại có 2 vò mang lên đỉnh Hoa-Sơn cùng với LHX đối ẩm. Với TCS là một tên tửu đồ khơi vào lòng những kẻ cầm súng tự-vệ nỗi buồn chán chiến-tranh mau buông súng đầu hàng để chực cướp thời-cơ dân công cho Bác Đảng. Rồi 30-4-1975 đến, TCS dang tay đón nhận ánh hồng bình-minh mà từ lâu TCS hằng mong đợi, trong khi đó nó là nỗi kinh-hoàng nhất của nhân-dân miền Nam. Trên những con lộ về Sài-Gòn nhầy-nhụa, lênh-láng xác và máu người dân vô tội. Hàng vạn bè bạn những người đã ngưỡng-mộ TCS lần lượt vào các trại tù từ Nam ra Bắc. Hàng nửa triệu người bỏ xác trên biển Đông hoặc làm mồi cho thú rừng, cho hiếp-đáp, cướp-bóc dọc biên-giới, ... TCS không một giọt nước mắt tiếc thương. Ngay từ năm 1968 hàng ngàn xác người được đào lên từ những mồ chôn tập-thể, nơi quê-hương TCS (Huế). Cuộc tàn-sát nhẫn-tâm trong Tết Mậu-Thân, TCS có một tiếng nói nào cho sự tiếc thương? Nghệ-sĩ là những người đa-cảm và bất-khuất, nhất là nghệ-sĩ tương-đối có tài như TCS. Hãy nghe lời thơ của Trần-Dần và Phùng-Quán trong Nhân Văn Giai-phẩm, thời mà CS sẵn-sàng thanh-toán bất cứ một ai chỉ cần một chút hé môi giọng bất-mãn: “Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ” (Nhất định thắng- Trần Dần) hoặc: Yêu ai cứ bảo là yêu Ghét ai cứ bảo là ghét Dù ai ngon ngọt nuông chiều Cũng khôn nói yêu thành ghét Dù ai cầm dao dọa giết Cũng không nói ghét thành yêu” (Lời mẹ dặn- Phùng Quán). Anh Sơn ơi! là một nhạc-sĩ khá tiếng tăm, chắc anh nghe nỗi hoài-vọng của hàng vạn người đã trốn chạy chế-độ Cộng-sản từ 1954. Anh có nghe thoảng trong gió tiếng hát ngút-ngàn lảng-đảng đâu đây: “Hà-Nội ơi, tóc thề thả gió lê-thê ... biết đâu ngày ấy anh về”. Trong khi đó lại vang lên nỗi chờ của anh, của lời anh đang kêu gọi: “Nơi đây tôi chờ, trong căn nhà nhỏ, mẹ cũng ngồi chờ. Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang-vu, người tù ngồi chờ bóng tối mịt-mù. Chờ đã bao năm, Chờ đã bao năm”. Chờ gì hở anh? Chắc anh chờ ánh bình-minh để rồi anh hả-hê cười trong thỏa-mãn “Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay muôn vạn cờ bay”. Cờ đỏ sao vàng anh mong đợi đã về đó! Anh tiếp-tục lừa phỉnh người em gái tinh-thần một thời cùng anh được mệnh-danh “nữ-hoàng đi chân không” đi rao giảng tin “cờ nối gió, đêm vui nối ngày. Dòng máu nối con tim đồng-loại”. Tôi không bàn đến người cùng anh rao giảng có chủ-đích gì không nhưng bằng tất cả rung-cảm tột cùng đã lôi-cuốn người nghe như âm-điệu của loài ma quái ru người và tên tuổi anh được sáng-chói phải nói một phần là ở công-lao của trái tim nhiệt-tình nầy. Bấy giờ anh sẵn rượu ngon, gái đẹp trong tay cô ca-sĩ trẻ có khuôn mặt khả-ái với đôi răng khểnh ngày đêm bên anh “khi tựa gối khi cúi đầu” chưa đủ sao anh? anh lại bảo “Em ra đi nơi nầy vẫn thế”. Anh đã tạm thời vờ quên bữa cơm trưa nơi quán hàng bến xe đò tại Vinh (Quảng-Bình) để cắt đứt, không còn dính-líu vào cái tàn dư Mỹ-Ngụy. Và rồi anh tiếp-tục hát ca-khúc “Bài ca đường tàu Thống-nhất”: Xóa hết những ngày tối tăm Bóng dáng sao vàng lồng lộng Đoàn tàu đi thống-nhất hai miền”. Trước năm 1975 chắc anh đã chứng-kiến những đứa trẻ 15, 17 chết không toàn thây trên đường mòn Hồ Chí Minh hoặc quanh các tiền đồn miền Nam với 4 chữ trên cánh tay “sinh Bắc tử Nam”, anh không cảm-nhận lời nhu nhắn gọi của người bộ-đội qua lời thơ nơi đáy chiếc ba-lô trước khi chết nơi ven rừng không ai vuốt mắt: Những chiều Trường-sơn núi rừng cô-quạnh Mẹ hiền ơi con chợt nhớ quê mình”. Anh còn tiếp tục thăng-hoa cho những bà mẹ, bà chị, em nhỏ trĩu nặng vai trong mỗi phiên chợ buồn: Gánh gánh gánh gánh mau ra chợ Có tiếng líu-lo trẻ nhỏ Quê-hương ta thống-nhất thật rồi”. Anh không thấy đoàn nữ vận-chuyển Trường-sơn tuổi 15, 17 đã bỏ cả quảng đời con gái làm thân lạc-đà nơi núi rừng. Ngày hòa-bình, về lại quê xưa cày cấy thì không được chia đất, lấy chồng thì trai làng không còn chỉ còn những đứa bé trai lên 5 lên 3, đi làm gái điếm để mưu cầu cuộc sống thì không khách nào đủ can-đảm để hứng gọi mời. Anh tiếp tục cổ-võ họ ra nông-trường, biên-giới: “Trên nông-trường không xa lắm Có đôi chân đi không ngại ngần Em bây giờ quên mùa nắng Tóc trên vai vấn-vương bụi hồng Qua bao mùa em bỗng lớn Đời cho em trái tim nồng-nàn Yêu người nên lo-lắng Muốn nghiêng vai gánh thêm nhọc-nhằn” Trước 30-4-1975, anh đã nói lên được sự-thật, sự-thật không thể chối cãi: “Khi đất nước tôi không còn chiến-tranh Mẹ già lên núi tìm xương con mình” Bây giờ thì thật sự những bà mẹ từ miền Bắc đi tìm xương con mình trên núi đồi Trường-san. TCS ôi! Anh có thấy bóng-dáng bà mẹ được đứa con mình nhắn gọi qua lời thơ đang lang-thang trên đồi không anh? Năm 1979 nữ danh ca Mỹ Joan Baez (người đã cùng Jane Fonda) được Việt Cộng ca-ngợi là đã hát cho hòa-bình Việt-nam trước năm 1975, Người đã nhân-danh tổ-chức Humanitas in bích-chương với chữ ký của giới trí-thức phản chiến quốc-tế dán khắp thành-phố lớn trên thế-giới để cảnh-tỉnh lương-tâm nhân-loại về nhân-quyền tại Việt-Nam. Hai tên Việt Cộng Nguyễn Khắc Viện, Lưu Quý Kỳ đã gọi Joan Baez thay-đổi lập-trường làm tay-sai cho CIA. Riêng TCS đã viết cho Joan Baez một lá thư lên án bảo bà ta là: “Tiếp tay cho tư-bản thọc sâu lưỡi dao vào vết-thương của dân-tộc Việt-Nam chưa được hàn-gắn, do đế-quốc Mỹ và bè lũ tay sai” (theo tờ Đất Việt của VC, Canada 14-10-79). Những người may-mắn thoát chết hiện lưu-lạc xứ người, tuổi đã về già, nợ gia-đình phải lo nhất là sợ con cháu mình lỡ có một người như anh. Sự thật thì không đủ thì giờ xem báo, hiểu thêm về anh sau 1975 hoặc đọc đôi lời anh tâm-sự. Một thoáng hiện về với âm vang thời xa xưa đó nghe lòng nhức-nhối quặn đau. Bạn bè, những người cùng dựa lưng nhau trong nỗi chết gần kề đâu còn mấy ai. Tôi đốt nén hương cho bè bạn tôi, những người đã nằm xuống có bàn tay anh góp sức và xin được tiễn những người đã ra đi trong số đó có anh bằng tiếng ca trong “Lời nguyền” của Phạm Thế Mỹ: “Lạy Trời, tôi đừng biết Tôi chết vì tay anh”. Kết những dòng nầy tôi nhớ chuyện xưa; một trong số con cháu nhà Lê, “Lê Báo” vì mưu-đồ phục-hưng sự-nghiệp tiên chúa nên núp bóng chùa Tiêu-Sơn để hoạt-động. Nhưng nhà Lê đã đến thời mạt vận, nghiệp lớn không thành; bấy giờ ông ở tuổi 43, đang quét lá nơi sân chùa. Một đứa cháu hỏi: -“Thưa Chú, bây giờ nghiệp lớn không thành, chú định làm gì?”. Ông nhìn trời, một phút lặng yên rồi trả lời: -“Từ lâu vì mưu-đồ việc phục-hưng để khỏi phụ lòng tiên chúa nhưng nghiệp nhà Lê đã hết, đó là ý Trời. Núp bóng, lợi-dụng danh-nghĩa chốn từ-bi, kẻ tu-hành mưu-đồ sự-nghiệp cho cá-nhân, dòng họ là một điều không nên dù là việc nước nhà. Vong ân là một điều vô liêm của con người nhất là kẻ sĩ. Chú nguyện với lòng là cạo đầu ở dưới mái chùa quét lá đa là vậy”. Bây giờ anh đã nằm xuống. Chết là hết nhưng nơi anh nào đã hết. Người ta nhắc tên anh, đưa anh về nơi an nghỉ với: ngưỡng-mộ, thương-hại, nguyền-rủa, khinh-bỉ và nhất là tính hiếu-kỳ. Cõi nào anh về? Niết-bàn hay thiên-đàng, theo tôi vẫn là một. Thoảng nghe dòng nhạc anh “Người nằm xuống để thấy thiên-đàng cuối trời thênh-thang”. Cửa thiên-đàng vốn rộng mở, lòng Chúa vốn bao-dung; lừa lọc gian ngoa càng dễ vào, không sao đâu anh.