Untitled Document
User:
Pass:

Văn Nghệ

===>> Nội dung của các bài đăng dưới đây không nhất thiết phản ảnh chủ trương và đường lối của Lương Tâm Công Giáo. LTCG không chịu trách nhiệm nội dung các ý kiến của độc giả.

 

Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người 'anh hùng' được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gọn trong phần tổn thất của quân bạn: 'Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích'. Chấm hết! Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng võ trang Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. NHT * * * Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch 'Việt Nam hóa chiến tranh' của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phi công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài. Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là 'Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972' (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây. [1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụ ng 'Mùa Hè Đỏ Lửa' thay cho 'Easter Offensive'] Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui. Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ. Hôm đó là ngày 29 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ ! Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ. Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình. Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày. Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch. Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ. Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt. * * * Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá. Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống. Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái 'cầu' này để vào trại. Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột! Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại. 'Nhà vệ sinh' này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. 'Vấn đề' là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có 'nhu cầu', người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là 'nhà vệ sinh' ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy. Theo ký ức của tôi thì nước uống không có 'vấn đề'. Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có 'vấn đề'. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được 'chiêu đãi' bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây 'yucca' ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu. Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi. Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại. * * * Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ! Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi 'phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi', tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó. Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang. Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái ngược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng. * * * Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh. Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, tôi còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lắm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết.. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh. Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho. Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời! Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó. * * * Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây 'cầu' bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống và kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa! Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penicillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải. Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới 'khách sạn Hilton - Hà Nội' lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến. * * * Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng. Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh. Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho 'trang chủ' mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết. Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do. Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy. William S. Reeder Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)

 

Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregan. Công việc: Sỹ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Phòng Vệ thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregan, cấp bậc Thiếu Tá. (Oregon Army National Guard/State Defense Force/Interpreters Team/X.O) (ORANG/SDF/Interp. Team/XO). Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện về một người bạn cựu chiến binh Mỹ tự xưng là “người Việt gốc Mỹ”. Tôi biết Mike khoảng hai năm sau ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dù hành trang sẵn có chút ít tiếng Anh từ trước 1975, tôi vẫn phải vất vả hội nhập vào xã hội mới bằng những bước chân chập chững, e dè trong độ tuổi "bất hoặc". Thật may mắn, tôi tình cờ được gặp và quen biết Mike. Anh đã cho tôi một cái nhìn khá bao quát nước Mỹ từ phong tục tập quán đến văn hóa xã hội lẫn chính trị. Mike đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cả vật chất tinh thần để tôi có được một nghị lực, niềm tự tin, sự phấn khởi tràn trề khi bắt đầu nửa cuộc đời còn lại nơi tha phương, đất khách. Trong buổi họp mặt cựu Chiến Binh nhân dịp Memorial Day của State Guards Association of U.S (SGAUS), bàn của tụi tôi rất ồn ào với đủ mọi vấn đề trên trời dưới đất, vui nhất là những chuyện tiếu lâm xoay quanh đời sống thường nhật của người Mỹ, đặc biệt lớp tuổi về hưu phải đương đầu với nhà dưỡng lão, bệnh tật, nhất là bệnh lãng trí Alzheimer... . Hôm ấy, tôi kể chuyện một đôi vợ chồng già, Bác Sĩ nói với người vợ: tôi thấy sức khỏe ông nhà ngày càng khá hơn khi ông tìm được niềm vui nơi Thượng Đế, tin tưởng nhiều hơn vào Chúa Quan Phòng, đến nỗi, ông nghĩ Chúa đang theo giúp đỡ ông trong mọi việc, trong từng bước chân đi. Ông nói với tôi, đêm qua, khi ông vừa mở cửa nhà vệ sinh để đi tiểu thì Chúa bật đèn lên cho ông liền.... Bà vợ la lên, ngắt lời Bác Sĩ: ôi lạy Chúa tôi, ổng lại đái vào tủ lạnh của tôi rồi!!! Cả bọn cười bò lê bò càng. Cười lớn nhất là một chàng cao lớn, tóc vàng tên là Mike. Anh vỗ vai tôi: - Ê, bạn người gốc nước nào? - Việt Nam. Mike bật đứng dậy, bàn tay như hộ pháp chụp lên đầu tôi, nói thật lớn, nguyên văn bằng tiếng Việt đặc sệt giọng miền nam: - Đ.M. nãy giờ sao hổng nói? - Ủa, anh biết tiếng Việt hả? Mike vênh mặt lên, tay phải vỗ bồm bộp vào cái ngực đang ưỡn, vẫn dùng tiếng Việt: - Hai lần công tác Việt Nam, đem về Mỹ một cô giáo dạy tiếng Việt tại gia từ 1972, học và nói tiếng Việt từ hồi đó đến giờ, bộ ngu lắm sao mà không biết, biết rành quá đi chứ!! Không ngờ trong bàn lại có một số cựu chiến binh Việt Nam khác, đua nhau xổ ra những câu tiếng Việt họ còn nhớ lõm bõm: Chòi đắt ui (trời đất ơi) chào cắc Ong, mành giỏi? (chào các Ông, mạnh giỏi) Con gái Viết Nàmdde.p lám (con gái VN đẹp lắm) Ngùi Viết Nàmtót lám, đi đi mao, đin - kí đàu(người VN tốt lắm, đi đi mau, điên cái đầu !).... Riêng Mike nói tiếng Việt rất lưu loát, không hề sai một âm nào (giống như ca sĩ Delena hát tiếng Việt vậy), kể cả cách dùng chữ rất trí thức, đôi khi dí dỏm, có lúc thật tiếu lâm. Tôi đã gặp một nhân viên Bộ Ngoại Giao rành tiếng Việt đến nỗi khi tôi đùa hỏi "Anh người gì mà nói tiếng Việt ngon lành vậy" Anh trả lời tỉnh bơ "Tôi người Bắc !". Tôi cũng đã gặp một số người Mỹ chính gốc, thuộc giáo phái Mormon, họ thảo luận Kinh Thánh, đi truyền đạo Tin Lành bằng tiếng Việt thật trôi chảy, nhưng đó là nghề của họ. Còn Mike, anh nói tiếng Việt bằng cả tấm lòng: tên Mỹ của tôi là Micheal, tên Việt của tôi là Mai, theo giọng Việt Nam có nghĩa là hên, là may mắn, còn giọng Việt Bắc (?) hay Việt Trung (?) có nghĩa là hoa mai, một loài hoa rực rỡ mùa xuân ! Vợ tôi vẫn thích kêu tôi là Mai Cồ, hay Anh Cồ, hoặc Cồ ơi chỉ vì tôi bự con! Con rể của nước Đại Cồ Việt mà! Một ông thày bói VN nói số tôi phải cưới vợ họ Trần vì cả đời tôi không thích mặc áo..vv và vv ... tôi há hốc miệng ngồi nghe một chàng mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng 100% Anglo-Saxon đang chơi chữ bằng chính ngôn ngữ của tôi !!! Một đêm hội ngộ tuyệt vời, vui như chưa từng thấy từ ngày mất nước, từ ngày sống kiếp lưu vong. Một tuần sau, Mike điện thoại mời tôi đến nhà. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: gia đình Mike gồm vợ chồng và 2 con hoàn toàn sinh hoạt theo truyền thống Việt Nam và tự nhận là người VN. Mike nói: đúng ra tôi là người Việt gốc Mỹ! Người bản xứ khi nghe tôi giới thiệu là người VN, nói tiếng VN thì họ vui lắm, vài người lúc đầu cứ tưởng nước VN ở đâu đó bên Đông Âu nên mới tóc vàng, mắt xanh! Người gốc VN lại tưởng tôi là Mỹ lai, càng vui hơn, gần gũi hơn vì có 50% máu Việt Nam trong người mà, ai cũng vui. Mike dùng chữ "vui cả làng"! Cả gia đình dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính. Sống trên đất Mỹ, Mike tâm sự, nói tiếng Anh là việc đương nhiên, thế mà nhiều gia đình VN từ vợ chồng con cái đều ra vẻ hãnh diện với mớ tiếng Mỹ đôi khi trật giọng, sai văn phạm....hoặc nói đệm, câu nào cũng chêm thêm chữ Mỹ vào, trong khi cố tình lơ lớ tiếng mẹ đẻ của mình, dễ mất gốc quá, tủi hổ ông bà tổ tiên quá, uổng phí quá. Lại có cả vài người viết văn, nhiều chữ thông thường không biết, hay giả vờ không biết, lại phải dùng tiếng Anh mới thấy dổm làm sao. Tôi rất khâm phục những gia đình còn giữ vững truyền thống tốt đẹp VN. Tôi thấy những em bé VN thật dễ thương với tiếng Việt líu lo như chim hót nhưng tôi nhìn các em với cặp mắt bình thường nếu các em nói tiếng Anh, thật bình thường vì đây là nước Mỹ, sau này khi lớn lên phải học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, họ sẽ hối hận. Tiếc quá, Mike chặt lưỡi, lập đi lập lại, tiếc quá !! Anh có biết "bà lang kẹt" là ai không? Thế mà một ông VN đã tuyên bố tự nhiên như người Sàigòn, vào mỗi mùa Đông, trên giường của ông phải có ít nhất hai bà lang kẹt ngủ mới đã, mới đủ ấm !?!? Mai Liên, vợ anh, một sinh viên Đại Học Cần Thơ sinh quán Sóc Trăng. Hai người quen nhau khi Mai Liên đi học thêm Anh ngữ trong một lớp do chính Mike phụ trách phần đàm thoại và luyện giọng. Thế rồi hai người yêu nhau nhưng không thể tiến đến hôn nhân vì gia đình hai bên đều không tán thành. Mike phải xin trở lại Việt Nam lần thứ hai, kiên trì thuyết phục cha mẹ Mai Liên bằng chính tiếng Việt anh đã học được từ người tình. Cuối cùng không những cha mẹ, anh chị em của Mai Liên mà cả bà con xóm giềng cũng hài lòng với "thằng Cồ" vui tánh dễ thương lúc nào, nơi nào cũng pha trò được. Riêng gia đình Mike lúc đầu vẫn chưa mấy thiện cảm với người dâu dị tộc. Hai vợ chồng son cố gắng sống hòa hợp với mọi người, không tỏ ra khó chịu mà còn thấy vui vui với cái tên Liên vài người cố tình đọc trại thành Alien (=người lạ). Chẳng bao lâu sau tình thế hoàn toàn đảo ngược. Khi cha mẹ Mike dọn vô nhà dưỡng lão chỉ có vợ chồng Mike thăm viếng thường xuyên. Ông bà rất cảm động, thỉnh thoảng lại công khai ngỏ lời xin lỗi Mai Liên và giới thiệu với mọi người Liên là đứa con gái yêu quý nhất. Bốn gia đình anh chị của Mike tan vỡ hết ba, sự kiện phổ thông với trên 60% gia đình Mỹ bị rắc rối trong hôn nhân. Cứ một lần li dị lại một lần chia gia tài, riết giống như chuyện thường tình. Tuy nhiên, có điều lạ là sau khi chia tay, họ vẫn liên lạc qua lại với nhau, coi nhau như bạn, không ai ghen tuông gì hết. “Tạ ơn trời đất (Mike không dùng chữ Chúa) tôi có được một bà vợ tuyệt vời. Liên lo lắng chăm sóc tôi kỹ lắm từ mọi sinh hoạt đến từng miếng ăn hàng ngày. Tôi đã quen và rất thích thức ăn Việt Nam. Rất hợp lý nếu ta không biết kiêng cữ, cứ ăn tầm bậy là đưa đủ thứ bệnh tật vào thân thể mình thôi. Anh ăn cái gì anh sẽ như thứ ấy (1). Ăn nhiều rau, đậu, trái cây tươi, da thịt anh sẽ tươi. Anh ăn mỡ, cơ thể anh sẽ phải đeo mỡ (2). Tốt nhứt nên ăn chay. Gia đình tôi ăn chay mỗi tuần một lần, nhiều nhất là các loại rau. Đồ chay Liên làm ngon lắm. Món nào cũng ngon, cũng tốt cho sức khỏe vì Liên chỉ dùng dầu olive thay cho mỡ động vật, không mặn lắm, không ngọt quá như đồ ăn Mỹ, nhất là hoàn toàn không dùng bột ngọt. Đặc biệt nước mắm ăn riết rồi mê luôn nhưng điều cần thiết nước mắm mua ở chợ về phải đem nấu cho sôi lên rồi đổ lại vô chai xài vì trong nước mắm có thể có nhiều siêu vi trùng, nhất là siêu vi bệnh gan, các loại mắm cũng vậy. Chế độ ăn uống như thế làm sao bị phát phì như ba phần tư dân Mỹ hiện nay. Đến như con nít trên 6 tuổi thì phân nửa đã vượt quá trọng lượng được coi là mập rồi. Còn về thẩm mỹ, Anh thấy không, thông thường da người Mỹ trắng lại quá trắng, trắng nhễ nhại (?!)trắng như Bạch Tuyết nên trông có vẻ yếu đuối, bệnh tật, vì vậy họ phải đi phơi nắng ngoài biển hay vô các phòng nhuộm da trong các tanning clubs để cho da họ có màu đồng nâu hay màu bánh mật, nhìn rất khỏe mạnh, thể thao hơn, mốt thời thượng mà! Bà xã tôi được Trời Đất thương cho cái màu tự nhiên đó từ bé nên Ông Bà Ngoại sắp nhỏ mới đặt cho cái tên Mai Liên, anh đọc lái lại coi?!” Nghe đến đây chính tôi đã phải kêu lên: chu choa mệ tổ ơi, mần răng mà cái chi mô anh cũng biết hết rứa chừ hết biết luôn. Mike hiện nguyên hình một "chú Sam" há hốc miệng "Wh...what? What d'you say?" Ngay sau khi dành thắng lợi đem được Mai Liên về Mỹ, Mike giải ngũ. Liên đi làm 2 nghề khác nhau cho phép Mike trở lại Đại Học lấy xong bằng Kỹ Sư Điện Tử. Mike rất vui mỗi lần nhắc lại giai đoạn này: tôi sướng như Ông Trời con, ngày ngày đi học, còn Liên cực lắm, hy sinh vừa đi làm vừa lo cho tôi còn hơn Ba Má tôi ngày xưa, dĩ nhiên tôi yên tâm học xong rất nhanh. Bên Mỹ này anh muốn học là phải được, muốn học gì cũng được, muốn lấy bằng gì cũng có, chỉ cần anh có ý thích và có ý chí. Anh có thể học toàn thời gian, bán thời gian, học hàm thụ hay học ngay cả trên online. Không có tiền thì Chánh Phủ hoặc một cơ sở, một công ty hay một tổ chức nào đó ứng tiền cho mượn nếu đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên khi nộp đơn xin việc làm, người chủ chỉ căn cứ một phần trên bằng cấp, còn phần lớn dựa trên kinh nghiệm việc làm đã qua và sự giới thiệu, phê bình của các chủ cũ. Tôi là cựu chiến binh, gần lấy xong bằng Kỹ Sư thì hãng Điện Tử Intel đã nhận trước rồi. Năm đầu tiên tôi đi làm Liên chỉ còn làm một nghề, đến năm thứ hai Liên nghỉ việc hoàn toàn để đi học ngành Y tá. Đó là lý do chúng tôi chậm có con và chỉ có hai đứa. Bên Mỹ này nghe nhà nào có 3,4 con là thiên hạ lắc đầu, le lưỡi liền. Có bầu, sanh con thật dễ dàng nhưng khó nhất, đau đầu nhất là vấn đề giáo dục, không dạy dỗ con được thì lại đổ thừa "cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh", chưa chắc vậy đâu ! Có rất nhiều gia đình nuôi con đến 18 tuổi là bắt nó phải tự lập, nghĩa là đẩy nó ra ngoài xã hội, xét cho cùng điều này cũng có phần tốt. Vì vậy, cũng rất công bằng khi bố mẹ già yếu, đến phiên chúng nó sẽ đẩy bố mẹ vô nhà hưu dưỡng thôi! - Mai Lan ơi, ra chào chú đi con, Mike gọi. Một cô gái Mỹ đẹp như tài tử điện ảnh Hollywood tươi cười bước ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi xuống, nói bằng tiếng Việt rất chuẩn: - Cháu tên Mai Lan, cháu chào chú. Tôi đứng dậy, Mai Lan bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay: - Chú tên là Long, Chú rất hân hạnh được biết cháu, được quen biết gia đình cháu, một gia đình tuyệt vời, cháu là một cô gái tuyệt vời. Cháu có về VN lần nào chưa? - Dạ, cám ơn lời khen của Chú. Cháu đã về VN hai lần. Năm rồi cháu đi VN miễn phí. - Sao vậy? - Cháu có hai người bạn, hai chị em, bố mẹ họ là người Việt, hai bạn cháu không rành tiếng Việt nên bao cháu đi chung về VN để làm thông ngôn. Vui quá chừng. Bà con chòm xóm dưới quê cứ nhìn cháu chằm chằm: sao kỳ quá hè, Mỹ nói tiếng Việt còn Việt đặc thì bù trất, kỳ hén ! Lại nữa, Mỹ thì tên Việt còn Việt lại lấy tên Mỹ, ngộ ghê!! Cháu dịch lại cho hai đứa bạn nghe, tụi nó mắc cỡ quá, về đến Mỹ bắt đầu học tiếng Việt ngay. Ba má tụi nó kèm riết, cháu cũng dạy thêm, bây giờ nói được hơi nhiều rồi. Hè năm nay tụi cháu lại về VN nhưng lần này cháu phải trả tiền vé máy bay vì bạn cháu không cần thông ngôn nữa, thông ngôn thất nghiệp rồi !!Ông bà ngoại cùng gia đình mấy Cậu, mấy Dì thương cháu lắm. Cũng có thể sẽ có anh Liêm đi cùng. - Liêm là ai? - Anh Hai cháu. Ảnh tên là Uy Liêm. - Có phải đó là phiên âm tiếng Việt của chữ William không? - Dạ đúng - Thế anh cháu thích tên nào? - Cả nhà cháu thích tên Uy Liêm hơn vì đa số tên riêng của Mỹ không có ý nghĩa gì hết, thường được bắt chước từ trong Kinh Thánh. Còn tên VN có lồng nghĩa trong đó, có khi mang cả ước vọng của cha mẹ đặt ở người con. - Vậy Uy Liêm nghĩa là sao? Tôi giả vờ hỏi. - Uy là uy phong, uy nghi, uy quyền, uy lực... còn Liêm là liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm. Người có quyền uy thì phải liêm chính. Người ta khi có chút quyền chức thường hay sanh tật xấu, rồi tham nhũng, rồi phách lối. Ba má cháu muốn anh Hai khi nào có địa vị lớn thì phải sống thanh liêm. - Anh hai cháu đã có địa vị lớn chưa? - Dạ ảnh chỉ mới là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang chiến đấu ở Iraq. Còn 4 tháng nữa ảnh sẽ xong nghĩa vụ, khi trở lại Mỹ, được nghỉ phép, anh Hai sẽ theo tụi cháu về thăm Ngoại. - Anh Hai có biết tiếng Việt không? - Hết sẩy Chú ơi, dù dở nhứt nhà nhưng cũng gần ngang tầm với Ba cháu ... Mike ngồi nghe tôi khảo hạch cô con gái, miệng cứ tủm tỉm cười. Tôi thật sự cảm động, nếu không nói là choáng váng, cứ ngây người ra. Giả sử có ai đó kể tôi nghe về một gia đình như thế này, về một cô gái Mỹ thế này, về một Đại Úy Đại Đội Trưởng TQLC Mỹ như vậy... chắc chắn tôi không thể tin vì tôi đã phải chứng kiến nhiều hoàn cảnh trái ngược. Có lần, vừa bước vô nhà một người bạn VN, ngay tại phòng khách treo một tấm bảng bằng carton với chữ: "No Vietnamese!" tôi ngập ngừng, hơi tái mặt, rồi lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng bước ra ngoài. Chủ nhà chạy theo đon đả. Tôi nuốt nước miếng cho dằn cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ họng rồi chậm rãi: có phải ông không muốn tiếp khách người VN hay ông không cho phép ai ngồi trong phòng đó nói tiếng Việt ? Anh ta phân bua: tôi chỉ muốn bà Xã và các cháu luyện tiếng Anh cho thật nhuyễn để mau thành dân Mỹ thôi !?!? Vậy nếu ông vào một nhà hàng, một công viên, lên máy bay, xe lửa, xe buýt hay vô nhà một người Mỹ nào đó, ông thấy hàng chữ này, ông hiểu nó thế nào?!?! Cách đây vài chục năm, khi tình trạng kỳ thị chủng tộc còn tồn tại trên đất nước Mỹ, người ta thường thấy trên xe buýt hay công viên có đeo bảng: No dogs and negroes (cấm chó và người da đen). Đến thập niên 60 mới chấm dứt. Bây giờ ông treo "No Vietnamese" trong phòng khách nghĩa là làm sao?!?! Ông ta gỡ bảng xuống liền. Ông bà này nghe nói qua Mỹ có mấy năm đã về VN xum xue, bà con bên nhà ngạc nhiên thấy ông và gia đình lột xác nhanh quá, sức mạnh một đại cường quốc có khác. Bên này cả hai ông bà đi làm vệ sinh, quét dọn trường học, về VN khoe làm trong ngành giáo dục nên rất ít nói tiếng Việt. Riêng dân Mỹ hay người VN tại Mỹ chỉ nghe âm Mít đặc, không cần nhìn, đều biết ngay ông chánh gốc là "dân địa phương" Alaska vì, mười câu hết chín, ông đều nhắc đến tên một thành phố lớn của Tiểu Bang này: Du nô (3). Nhưng thôi, đây là đất nước tự do mà! Tự do dân chủ với lưỡng đảng đàng hoàng. Mike thường nói đùa với tôi "coi dzậy chứ hổng phải dzậy mà còn quá cha dzậy nữa" khi đề cập đến hệ thống lưỡng đảng của Hoa Kỳ hiện nay. Cứ nhìn vô gia đình Thống Đốc Tiểu Bang California: Ông chồng Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa trong khi bà vợ lại theo Dân Chủ. Khi làm việc, hai đảng kiểm soát lẫn nhau như vợ theo dõi chồng, như chồng để ý coi chừng bà vợ. Nhưng khi có những sự kiện trọng đại liên quan đến an ninh đất nước, đến sự tồn vong của quốc gia, đến sự sống còn của dân tộc Hoa Kỳ thì hai đảng chỉ là một như sau vụ 9/11 mấy năm trước đây. Hình như có một thứ siêu chính quyền đâu đó quyết định tất cả, tương tự ảnh hưởng nội ngoại trên hai vợ chồng giữ cho hạnh phúc lứa đôi bền vững, từ đó nuôi dạy con cái thành công, kinh tế gia đình thịnh vượng, cho nước Mỹ chỉ mới hơn 200 năm lập quốc đã tiến lên bá chủ hoàn cầu. Nước Mỹ đang đứng nhất trên toàn thế giới về mọi phương diện nhưng rất tiếc, nhất luôn về vô luân thường, vô đạo lý và nhất luôn về cả lãnh vực tội phạm! Đấy, Mike hướng dẫn cho tôi nhiều, rất nhiều điều, nhiều chuyện. Chúng tôi ngày càng thân hơn khi biết tôi ngày xưa cũng có một thời gian đi dạy học. Vợ chồng Mike và cháu Lan lại thích tìm hiểu sâu xa tiếng Việt hơn qua những từ ngữ Hán Nôm mà tôi đã được Ông Ngoại, một Cử Nhân Hán Văn, khoa thi cuối cùng, dạy dỗ. Nhờ vợ chồng Mike, tôi thực sự hội nhập vào xã hội Mỹ lúc nào không hay. Từ sự nhiệt tình giới thiệu của Mike, tôi được một chân Technician trong hãng Merix ở Forest Grove. Một năm sau, Mike khuyến khích và hướng dẫn vợ chồng tôi mua một cơ sở kinh doanh riêng ngay trung tâm thành phố Tigard đến nay đã tròn 12 năm. Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhanh như những áng mây ngoài khung trời rộng. Thênh thang như giấc mơ Hoa Kỳ của gia đình tôi liên tiếp nở hoa. Cho đến một ngày... Tin như sét đánh ngang tai. Hai vợ chồng Mike vừa qua đời trong một tai nạn xe! Cháu Lan gọi báo cho tôi bằng tiếng được tiếng mất, tức tưởi, nghẹn ngào. Một anh Mễ nhập cư bất hợp pháp say rượu lái xe vào đường cấm ngược chiều. Xe Toyota Camry của vợ chồng Mike nằm bẹp dí dưới gầm chiếc xe tải F350 chở đầy đồ nghề làm vườn cắt cỏ. Toán cấp cứu phải cưa xe mới đem được hai người ra nhưng cả hai đều đã tắt thở vì sức va chạm quá mạnh và vì vết thương quá nặng.... Lại thêm một nhức nhối của người Mỹ trước làn sóng nhập cư bất hợp pháp... lại thêm một vết đen tệ nạn say rượu, say xì ke lái xe DUII (4) ngày càng nhiều.... Tang lễ thật đơn giản gồm đa số người quen gia đình, bạn bè làm chung Intel với Mike và đồng nghiệp trong bệnh viện của Mai Liên. Cháu Uy Liêm được thông báo từ Iraq về để vừa kịp nhìn cha mẹ lần cuối trước khi đóng nắp quan tài. Trời Oregon chiều nay mưa buồn day dứt. Nghĩa trang Finley Sunset Hills với những dốc thoai thoải quay về hướng Tây, về hướng Thái Bình Dương mà tận cùng bên kia bờ có một vùng đất mang tên VN, quê hương yêu dấu của Mike và Mai Liên suốt cả đời người. Gió buốt miên man như xoáy sâu vào tận xương tủy. Như chưa bao giờ. Vài tia sáng yếu ớt long lanh trên những ngọn cỏ đầm đìa. Mắt tôi nhạt nhòa trong cái lạnh tái tê. Cũng xong một kiếp trong vô lượng luân hồi. Một chút gì đó có lẽ hai người đang hài lòng là vẫn còn được đi chung với nhau, vẫn còn được tay trong tay, cùng qua một thế giới khác, hy vọng sẽ tốt đẹp hơn. Ít nhất về vật chất bây giờ xác hai người vẫn còn được nằm bên nhau, hai ngôi mộ song song, cùng nhìn về quê hương VN tít mù xa thẳm cuối chân trời. Riêng tôi lòng trĩu nặng mối ân tình chưa thanh thỏa. Trong suốt cuộc đời còn lại, dù còn sống trên đất Mỹ này, hay giang hồ đó đây, hình ảnh tươi vui khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực, gương mặt dễ thương, cử chỉ ân cần, lời nói nhã nhặn nhiệt tình và đặc biệt ân nghĩa của vợ chồng Mike đã dành cho gia đình tôi chắc chắn sẽ khó phai mờ. Cám ơn Michael Erickson. Cám ơn Mailiên Trần. Xin tạm biệt.

 

Hỡi anh đảng viên các cấp Vẫn từng yêu mến non sông Mất đi Nam Quan, Bản Giốc Hỏi anh, lòng có đau lòng? Hỡi anh, cán binh, bộ đội Cả đời gìn giữ quê hương Mà nay Nam Quan, Bản Giốc Về người, anh có đau thương? Hỡi em, các sinh viên trẻ Tương lai, rường cột sơn hà Mất rồi, Nam Quan, Bản Giốc Em ơi, lòng có xót xa? Hỡi bác nông phu cày cuốc Cuộc đời là mảnh đất nâu Than ôi, Nam Quan, Bản Giốc Mất đi, lòng bác có sầu? Hỡi những con dân nước Việt Biết chăng, đảng cắt dâng người Non sông, máu xương, cơ nghiệp Ông cha xây dựng bao đời Đảng đem Nam Quan, Bản Giốc Và vùng lãnh hải, bán đi Đảng phản quê hương, nòi giống Hỡi ta, ta phải làm gì??? Hỡi anh, mọi tầng, bộ đội! Hỡi người, các cấp, đảng viên! Hỡi em, học sinh, mọi tuổi! Hỡi dân, ở khắp ba miền! Có nghe sơn hà rung chuyển Bởi người bán nước đấy không? Kết đoàn, hỡi toàn dân Việt Đứng lên, đòi lại núi sông! Đứng lên trị phường bán nước Là làm nhiệm vụ công dân Đứng lên xóa đời bạo ngược Là ta xây dựng, góp phần Không ai có quyền quay mặt Khi mà sông núi đau thương Không ai có quyền chia cắt Dâng người tài sản quê hương!!! (Kính gởi đảng viên, quân đội nhân dân yêu nước các cấp và đồng bào Việt Nam mọi giai tầng và mọi lứa tuổi) Ngô Minh Hằng

 

KHÉP LẠI QUÁ KHỨ Anh khuyên tôi: “Hãy quên đi thù hận” Về quê hương xây dựng nước non nhà Bằng tài năng học hỏi chốn phương xa Đảng, nhà nước hoan nghênh người viễn xứ ! Anh khuyên tôi hãy “khép lại quá khứ” Quên những ngày khói lửa dậy trời Nam Chiến xa Nga hằn đậm vết hung tàn Trên đường phố Sài Gòn ngày quốc hận ! Anh bảo tôi quên những ngày lận đận Cha đi tù, mẹ buôn gánh bán bưng Nuôi đàn con trong khốn khổ tột cùng Tôi phải thôi học, sáng ngô chiều sắn Vâng, tôi cố quên những ngày mưa, nắng Đi mò cua, giúp mẹ buổi cơm chiều Quên những ngày nước ngập mái tranh xiêu Đêm u tịch hãi hùng : “kinh tế mới” ! Giờ, tha phương, quê nhà xa dịu vợi Tôi sống cuộc đời dân chủ ấm no Nhưng dân tôi ĐANG khắc khoải mong chờ Ngày sụp đổ của bạo quyền tàn độc Thương quê hương, bao lần tôi bật khóc Thấy lương dân trong kiếp sống khốn cùng Thương dân hiền cam chịu kiếp lao lung Khổ đến nổi đem con mình đi bán ! Tôi chống anh KHÔNG PHẢI VÌ DĨ VÃNG Mà là vì HIỆN TẠI với TƯƠNG LAI Vì dân tôi ĐANG sống kiếp dọa đày Thế hệ trẻ nhìn TƯƠNG LAI VÔ ĐỊNH ! Thì anh ơi, nói chi lời lừa phỉnh Đến bây giờ, ai tin cộng sản đâu Nếu thật lòng xin hãy thực hiện mau Cuộc hoà giải với người dân quốc nội : Hãy ngưng ngay những hành động bỉ ổi Ngưng đuổi nhà, cưởng chiếm đất nhân dân Ngưng đào mồ, sang phẳng những mộ phần Xây khách sạn làm giàu cho đảng ủy Hãy ngưng ngay những ngón nghề phù thủy Đạo giáo quốc doanh, dân chủ cò mồi Hứa hoà hợp hoà giải ở đầu môi Nhưng cộng đảng vẫn độc quyền chúa tể Nếu thật tình thì hãy mau giải thể Đảng độc tài cộng sản (đảng vô lương) Người TỴ NẠN bốn bể sẽ hồi hương Đem tài sức hiến dâng cho đất nước Hứa với anh, tôi là người đi trước !!! TCY (17/04/2006)

 

Ngày 13 tháng 5 vừa qua, người dân Hoa Kỳ tưng bừng vinh danh người mẹ, người vợ thân yêu của mình bằng Mother’s Day với tiệc tùng, hoa tươi, quà cáp v.v.. Dù là người Việt nhưng chúng tôi cũng hòa niềm vui chung với dân bản xứ để đón mừng ngày lễ thật ý nghĩa này. Những đứa con thường ngày lo lắng học hành, công việc, bây giờ bận rộn bàn tính với nhau sẽ mua quà gì cho mẹ, sẽ mời mẹ đi nhà hàng nào hay tính tóan sẽ nấu món gì ở nhà, sẽ đưa mẹ đi chơi ở đâu…và tôi thì cũng để ý lựa chọn cho mẹ của mình một cái gì đó để bà vui trong ngày Hiền Mẫu. Tuy nhiên khi nghe một bản tin hay đọc một bài báo liên quan đến quê nhà tôi lại ngậm ngùi nhớ đến những người phụ nữ, những người mẹ VN mà bất hạnh đã theo đuổi triền miên kể từ ngày “đời ta có đảng”. Bao nhiêu giấy mực đã tốn hao nhưng chỉ ghi lại được phần nào những thống khổ điêu linh mà người phụ nữ, người mẹ người bà Việt Nam phải gánh chịu. Các chị, các bà đã chẳng bao giờ được hưởng một cuộc sống an bình để yên phận làm mẹ làm vợ bên cạnh chồng con trong một gia đình hạnh phúc khi mà đất nước đầy nhiễu nhương với vô vàn tệ nạn do nhân tai là đảng csVN đổ tai họa xuống đầu trăm họ. Bài viết này với lòng trân trọng và tình thương mến xin gửi đến tất cả chị em bạn gái, những người bà, người mẹ, người chị, người em đã can đảm vượt thắng sự sợ hãi để lên tiếng tố cáo những oan sai, những chèn ép bất công, những tha hóa trầm trọng đã đưa nước nhà đến tình trạng tụt hậu nghèo đói nói chung và cuộc sống lầm than mất nhân phẩm của giới phụ nữ nói riêng. Từ tháng Tư đen năm 75 những tưởng khi nước nhà im tiếng súng thì cuộc sống người phụ nữ sẽ tốt đẹp hơn nhưng thật ra đã 32 năm dâu bể, đá nát vàng phai, thân phận đa số chị em còn lầm than khốn khổ hơn bao giờ. Dưới sự cai trị dốt nát nhưng bạo ngược, phi nhân và vô thần của một thiểu số đầy quyền lực là đảng CSVN khiến đạo đức và luân lý băng hoại, tinh thần sa đọa, con người trở thành vô cảm, giả trá lọc lừa, đội trên đạp dưới để sống . Bao mảnh đời trẻ em, phụ nữ, lão bà phải kéo lê cuộc sống trong tăm tối không ngày mai. Những tin tức trên báo, trên mạng điện tử hàng ngày đưa lên những điều bất hạnh, những hoàn cảnh thương tâm không thể tưởng được đang xảy ra cho phụ nữ trên đất nước đã hòa bình và thống nhất hơn 30 năm. Có cần phải nhắc lại không những dịch vụ buôn người trá hình qua ngả kết hôn với người ngoại quốc. Việt Nam được biết đến như là nguồn cung cấp cô dâu hay nô lệ tình dục cho đàn ông Tàu, Đài Loan, Đại Hàn, Mã lai Á, Singapore, thậm chí đến cả Đông Âu và Nga sô. Phụ nữ Việt vì sinh kế phải tứ tán đi năm châu đến tận những nước Trung Đông để ở đợ, để làm các công việc nặng nhọc trong những điều kiện tồi tệ dưới mỹ từ “xuất khẩu lao động”. Nhà cầm quyền VN không màng đến việc bảo vệ và binh vực cho con dân mình mà chỉ lo chia chác tiền bạc rồi “đem con bỏ chợ” gây nên bao cảnh đau thương và nhục nhã mà báo chí đã tốn bao nhiêu giấy mực để nhắc đến. Những hội Phụ Nữ Đài Loan, Hiệp hội PN hành động và nghiên cứu Singapore, Hội Phụ nữ Mã Lai đều bất bình và phẫn nộ trước những sự lường gạt và ngược đãi mà người đàn bà Việt phải gánh chịu, nhưng nhà cầm quyền VN đã giả đui giả điếc để làm lơ. VN cũng có hội Liên Hiệp Phụ Nữ chỉ biết đi biểu tình đả đảo hoan hô theo lệnh đảng, cũng có các nữ đại biểu quốc hội bù nhìn chỉ 1à nghị gật làm màu mè cho chế độ độc đảng, cũng có các nữ Bộ trưởng, Phó Chủ Tịch Nước, Chủ tịch Công đoàn v..v.. đấy chứ! Nhưng họ hoặc là những người dửng dưng trước nỗi đau đồng loại, hoặc chỉ mải mê chạy theo vật chất, lợi dụng địa vị để gây nhiều tai tiếng để đòi hối lộ, để tham những, bòn rút của công, lo củng cố quyền lực và địa vị để tác oai tác quái như bà vợ Thượng tướng CA Nguyễn khánh Toàn, hay Thiếu Tá CA Võ thị Hiền đã trơ trẽn ra lịnh cho thuộc cấp lột trần Mục sư Nguyễn công Chính trước mặt bà ta để hành hung cho thỏa lòng độc ác, nào là ăn chận bớt xén khẩu phần trẻ em như bà Hiệu trưởng trường Mẫu giáo Chim Non Nguyễn thị Kim Phượng, hoặc mánh mung hối lộ để làm giàu cho cá nhân cũng như cho những tên cán bộ nhà nước nhưng khi sự việc đổ bể thì bị đưa lên giàn hỏa làm vật tế thần như các bà Lã thị Kim Oanh mấy năm trước và Nguyễn thị Tuyết Lan mới đây. Người có học thức như Phan thúy Thanh thì cam tâm làm cái loa tuyên truyền cho bạo quyền Hà Nội, để chối leo lẻo về những sự đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến, lúc nào cũng ra rả bào chữa trước sự lên án của quốc tế vì những vi phạm nhân quyền. Tôn Nữ Thị Ninh những lần qua Mỹ “rải độc” bằng những luận điệu láo khoét bịp bợm cùng các sinh viên đều bị CĐVN tại địa phương “dàn chào” kỹ càng, cảnh sát phải hộ tống để chui vội vào xe như tại San Jose, Bắc California hoặc bị sinh viên gốc Việt chất vấn gay gắt không trả lời được nên nổi cáu như tại Texas v..v Trái ngược với những người trên, trong cuộc đấu tranh cho dân chủ tự do của đất nước, trong cuộc vận động để đưa quê nhà thoát cảnh tụt hậu, đói nghèo đã xuất hiện những bóng hồng, những người mẹ người vợ, những người đàn bà bình thường với những lo toan bận bịu sinh nhai và gia đình,con cái nhưng không quên đóng góp công sức trong việc đòi công lý cho dân oan, nhân quyền cho mọi người và dân chủ cho đất nước. Việc này đã khiến các chị em phải gánh chịu những đòn thù của bạo quyền, bị sách nhiễu đêm ngày, bị ngược đãi, bị mất việc, bị hành hung, bị cướp đi khỏi vòng tay gia đình, xa cách con cái, ngay cả bị ngồi tù vì không chịu khuất phục trước sự đe dọa của bạo quyền. CSVN cũng là băng đảng Mafia đỏ đã ngang nhiên cướp nhà cướp đất của nhân dân, kể cả đất đai hương hỏa đã bao đời thừa kế, đất canh tác để nuôi sống gia đình …khiến bao người phải lâm cảnh không nhà, mất phưông tiện làm ăn sinh sống nên phẫn uất quá phải đâm đơn kiện thủ phạm là những tên cường hào ác bá. Nhưng khốn khổ thay chỉ là “con kiến đi kiện củ khoai”, bọn họ đã đút lót móc ngoặc ăn chia với nhau nên đơn từ cứ đi vòng vòng hoặc bị xử oan sai, bất công. Thế là các bà mẹ, bà vợ phải khăn gói bỏ nhà xa chồng con lên tận thủ đô lê lết nơi vườn hoa Mai xuân Thưởng, nhập vào đội ngũ dân oan, gồm cả những bà mẹ liệt sĩ, những gia đình “cách mạng” để bắt đầu cuộc sống lang thang, lây lất, đói rét cực khổ để ngày ngày vác đơn đi chầu chực khiếu kiện, những mong “đèn Trời soi xét”. Nhưng ác nghiệt làm sao, Công Lý đã bị bức tử trong xã hội chủ nghĩa, đi đến đâu họ cũng bị xua đuổi, thậm chí còn bị bắt đi tù hoặc bắt bỏ vào những “trung tâm xã hội” trá hình như những phạm nhân, mà mới đây chuyện “đem dân đi bỏ cửa rừng” đã xảy ra. May thay một tên tuổi đã nổi bật, đã gắn liền với nỗi khổ dân oan là nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, người đã can đảm dùng ngòi bút để thay họ kêu gào cho mọi người biết những ức hiếp ngang ngược của bọn quan tham, những lộng hành trắng trợn của bọn nhà nước cướp ngày, những mảnh đời rách nát, những nỗi oan ức ngất trời của dân oan. Chị thu thập dữ kiện để giúp họ điền đơn, cất giữ tài liệu của bà con để làm bằng chứng đưa lên báo. Thế là bạo quyền ra tay khủng bố, đòn dằn mặt đầu tiên vào năm 2002 là giữa đường chận xe để bắt về đồn CA với lý do có người tố cáo chị buôn ma tuý. Bị giữ lại đồn CA khi con nhỏ còn gửi ở nhà bà ngoại, TKTT đã ghi lại trong nhật ký được Đàn chim Việt Online phổ biến như sau: “Mình có thể bị bắt giam, có thể chịu tù đày để bảo vệ chính kiến nhân cách, bảo vệ những tài sản quý báu vô giá là tư tưởng của những người bị coi là tội đồ của chúng, dám đòi hỏi sự vượt bậc cấp tiến dân chủ, song con cái mình ai nuôi?...Nếu không hèn mạt nghe theo những yêu cầu của bọn chúng thì bao giờ mới được về với con, nhìn thấy mặt con đây?” Vì lòng thương con chị đành lên xe theo bọn chúng về nhà để bất lực nhìn bọn CA tịch thu lấy đi những tài liệu, sách báo, giấy tờ, đơn khiếu kiện của bà con dân oan…mà chị đã lưu trữ gom góp gần 5 năm qua. Những ngày sau đó chị và chồng con bị bao nhiêu là sách nhiễu, đàn áp, đấu tố, hăm dọa, bao vây, để cuối cùng bị bắt đi trong sự lo lắng và sợ hãi của các con vào ngày 21-4-2007 vừa qua. Thật đáng thương và đáng phục thay bà mẹ cầm bút kiên cường! Một bông hồng đang trong vòng lao lý là nữ luật sư 28 tuổi Lê thị Công Nhân, dù chưa một ngày được hưởng cuộc sống trong thể chế tự do nhưng cô đã sớm thấm nhuần tinh thần dân chủ để bất bình trước việc nhà cầm quyền hiện tại đã trắng trợn khống chế và tước đoạt các quyền căn bản của con người mà nhân dân VN xứng đáng được hưởng. Luật sư LTCN là phát ngôn viên đảng Thăng Tiến VN được thành lập hôm 8-6-2006 với mục đích thúc đẩy dân chủ, đa nguyên đa đảng ở VN. Cô cũng nỗ lực vận động cho quyền lợi công nhân, trong đó có những cô gái, những bà mẹ trẻ đã phải làm việc cật lực, đã bị bọn chủ nhân cấu kết với nhà nước bóc lột tối đa sức lao động bằng đồng tiền rẻ mạt, không bảo hiểm lao động, không có công đòan độc lập để bảo vệ quyền lợi chính đáng. Khi ra sân bay Nội Bài để đi dự hội nghị Công đoàn Tự do được tổ chức tại Warsawa thủ đô của Balan vào tối ngày 27-10-2006 cô đã bị công an csVN ngăn chận không cho xuất cảnh, tuy nhiên cô LTCN đã gửi được tiếng nói của mình đến hội nghị : “Dù nhà cầm quyền đã dùng những phưông pháp không mấy đẹp đẽ để ngăn chận không cho tôi tới Ba Lan, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ ngăn chận được lẽ phải và sức mạnh tinh thần của chúng ta. Vấn đề của chúng ta hiện nay là phải tạo áp lực đối với chính quyền, chứng tỏ cho họ thấy rằng, cần phải cải tổ luật pháp hiện nay về đình công và phải có công đòan độc lập của công nhân…” Luật sư Công Nhân cũng lên tiếng phân tích tỉ mỉ về phương diện pháp lý đối với Chỉ thị báo chí 37 của Thủ Tướng csVN Nguyễn tấn Dũng để lãnh đạo và quản lý báo chí chặt chẽ hơn cũng như kiên quyết ngăn cấm báo tư nhân hầu biến báo chí thành công cụ của chế độ độc tài tồn trị. Những hoạt động yểm trợ sự dân chủ hóa đất nước chẳng những đã đem đến những sách nhiễu đàn áp cho bản thân Ls CN mà còn liên lụy cả gia đình em gái, đặc biệt mẹ của cô là bà Trần thị Lệ, người hết lòng hỗ trợ cho con gái mình trước những mưu mô trù dập từ dựng chuyện để bôi nhọ, phỉ báng đến cấm cản, đe dọa không cho thăm nuôi, gặp mặt khi LS Lê thị Công Nhân bị bắt giam vào ngày 6-3-2007. Mới đây, báo chí còn đưa tin csVN tính kết tội bà Lệ và vợ LS Nguyễn văn Đài là chị Vũ minh Khánh “âm mưu che dấu tội phạm”. Nếu cô Ls LTCN được ngưỡng mộ vì lòng dũng cảm kiên cường:”…Tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước VN và dân tộc VN là tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi để đấu tranh, trước hết là dành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ, tự do cho người VN. Và csVN đừng có mong chờ bất cứ một điều gì là thoả hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi… Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể đi tù, nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa đó chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra..” thì bà thân mẫu Trần thị Lệ cũng đáng được tri ân và trân trọng vì sự nâng đỡ và hỗ trợ quý giá cho người nữ chiến sĩ dân chủ đó. Chúng tôi xin được chia xẻ với bà niềm đau và nỗi hận về phiên xử Ls LTCN vào ngày 11-5 mà bản án nặng nề, bất công chỉ là sản phẩm dàn dựng của chế độ luật rừng man rợ. Trong hàng ngũ những người nhận ra nhu cầu bức thiết của đất nước là phải có dân chủ, tự do, phải tôn trọng quyền con người; đã có những cơ gái rất trẻ tuổi như cô Hòang thị Anh Đào 21 tuổi ở Huế, là Thư ký đảng Thăng Tiến Việt Nam. Cô vừa bị đem ra xử cùng với LM Nguyễn văn Lý và bị án treo 18 tháng dù chẳng có tội tình gì. Cô giáo Lê thị Lệ Hằng cũng bị “tòa án Kănguru” xử phạt 18 tháng tù treo, bà mẹ 44 tuổi này cũng chỉ vì nhận ra mục tiêu chính đáng của khối 8406 để xin gia nhập nên không thóat khỏi đòn thù của bạo quyền. Bà Dưông thị Xuân, biên tập viên của báo “chui” Tập san Dân chủ Tự do bị công an dàn cảnh tông xe để ám hại. Chị Hồ thị Bích Khương một dân oan và là thành viên khối 8406 cũng bị kẻ lạ mặt chủ ý lao xe vào người làm bị thương trầm trọng. Và còn nhiều người nữa, là những bà mẹ bà vợ bình thường , là những người có nghề nghiệp chuyên môn, những trí thức trẻ đều đã thức tỉnh, không còn bị lừa dối vì những lời lẽ hoa mỹ, những xảo thuật gian trá của đảng cầm quyền nữa nên đã mạnh dạn can đảm hoạt động dù biết rằng vơ vàn phiền phức hiểm nguy đang chờ đón. Chẳng hạn nữ Luật sư Bùi kim Thành, người lâu nay tham gia giúp đỡ, tư vấn miễn phí cho dân oan đi khiếu kiện ở các tỉnh miền Nam đã bị công an đến nhà dùng vũ lực cưỡng bách đi giam giữ tại Bịnh viện Tâm thần Trung Ương II ở Biên Hòa từ tháng 11 năm 2006 đến nay mặc dù Tổ chức Ân xá Quốc tế đã lên tiếng yêu cầu nhà nước VN trả tự do cho luật sư. Một người trẻ khác là Ls Thùy Trang làm việc trong văn phòng Ls Lê quốc Quân hiện cũng đang bị giam giữ mà gia đình không hề biết tin tức. Bà Nguyễn thị Lê Hồng là đại diện nông dân trong Hiệp Hội Công Nông Việt Nam được thành lập ngày 30-10-2006 nhằm mục đích là đòi quyền thành lập Nghiệp đòan, Công đòan độc lập không lệ thuộc sự kiểm soát của đảng csVN. Đòi quyền đình công, bãi thị, đấu tranh vì quyền lợi công nhân. Khi trả lời phỏng vấn của đài RFA bà Lê Hồng cho biết nông dân là một trong những tầng lớp bị áp bức bóc lột trắng trợn bởi đảng cầm quyền. “Sự đấu tranh của Hiệp Hội là dựa vào sự đoàn kết của công nhân và nông dân chúng tôi. Chúng tôi sẽ làm những gì mà nhà nước không cấm và luật nhân quyền quốc tế cho phép. Chúng tôi sẽ tập hợp công nông trong tinh thần bất bạo động, ôn hòa, phát động trong phạm vi cả nước đòi laị những yêu cầu mà chúng tôi đã đề ra trước đây của giới công nhân cũng như nông dân kết hợp thành một quần thể chặn đứng những bất công, đàn áp có thể xảy ra sau này còn hơn thế nữa…”. Tin báo chí cho biết bà mẹ này đã bị bắt hồi tháng 11-2006, côg an cs còn gian trá vu khống cho bà buôn bán ma tuý để các con bà bỏ mặc không thèm thăm nuôi mẹ nữa, thật là bọn người quỷ quyệt độc ác, hãm hại chia rẽ tình mẹ con. Những người phụ nữ can đảm gánh vác gia đình, nuôi dạy con thơ khi chồng mắc còn lao lý vì khát vọng dân chủ tự do, vì đòi hỏi quyền tự do hành đạo và truyền đạo cũng bị đày ải trăm chiều, như Vũ thúy Hà là hiền thê BS Phạm hồng Sơn hiện đang bị quản chế tại gia, Bùi kim Ngân mà chồng là nhà báo Nguyễn vũ Bình đang ốm đau trong tù ngục, Thu Hiền là vợ ls Lê quốc Quân đang bị giam sau khi tu nghiệp từ Mỹ về, các bà Nguyễn thị Hồng, Lê thị Phú Dung là phu nhân các Mục Sư Nguyễn công Chính, Nguyễn hồng Quang là đối tượng đàn áp của bạo quyền. Hai chị Thúy Hà và Kim Ngân khi được mời đến tư thất ông đại sứ Mỹ Michael Marine để dùng trà đã bị một bọn 15 tên công an côn đồ ngăn chận, nạt nộ, lôi kéo trước mặt ông và nữ Dân biểu Hoa Kỳ là bà Loretta Sanchez khiến ông đại sứ không đừng được phải lên tiếng can thiệp, yêu cầu công an đừng đối xử thơ bạo như thế với hai vị phụ nữ là khách của ông. Chị Thúy Hà còn bị tông xe khi cố gắng đến gặp ông Michael Marine lần thứ 2 theo lời mời của ông. Quả thật bọn côn đồ đang cai trị đất nước VN không còn biết cách cư xử của con người nữa. Mới đây nhìn ảnh bác sĩ Lê nguyên Sang từ giã mẹ già với mái tóc bạc phơ và vợ ký giả Huỳnh nguyên Đạo khóc bên cạnh chiếc xe sẽ chở chồng mình vào nơi tù ngục, tôi bồi hồi xúc động. Xin tạ ơn những bà mẹ, những người vợ đã chịu đựng bao nhiêu buồn đau mất mát vì chồng con chọn con đường tranh đấu cho đất nước quê hương. Và còn vô số những người đàn bà trên khắp ba miền đất nước đang ngày đêm oán hờn căm phẫn vì nhà cửa đất đai bị cướp trắng, vì cuộc sống tối tăm tuyệt vọng cùng đường, vì con cái bất hạnh bị lừa dối hoặc tình nguyện đi lấy chồng mà đúng hơn là đi làm nơ lệ tình dục xứ người để mong đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình cha mẹ anh em. Những người phụ nữ như thế đầy dẫy trên đất nước VN đã thanh bình 32 năm, thật là đau lòng không kể xiết!! Với những người phụ nữ bằng xương bằng thịt, cùng chủng tộc đất nước thì bạo quyền csVN đối xử tàn tệ như vậy, nhưng đối với những biểu tượng tôn giáo như tượng Thánh Mẫu Maria của người Công Giáo thì sao? Hẳn nhiều người đã có dịp ngậm ngùi đau lòng hay ít nữa cũng bất bình khi nhìn thấy bức tượng Đức Mẹ Sầu Bi ở giáo xứ Đồng Đinh địa phận Phát Diệm thuộc tỉnh Ninh Bình bị đập phá một cách điên cuồng. Bức tượng được đúc theo mẫu tượng Pieta tại Rôma là một trong những tuyệt tác của nhà điêu khắc thời danh Michael Angelo, diễn tả sự đau đớn sầu bi của Mẹ Maria khi ôm xác con mình là Đức Chúa Giêsu được tháo xuống từ cây thập giá. Lòng người Mẹ khi ấy hẳn đau đớn như dao cắt, tưởng chừng như có thể chết đi vì thương xót con yêu dấu. Một bức thánh tượng như thế có thể nào làm hại đến chế độ, có thể nào tuyên truyền nói xấu nhà nước hay âm mưu lật đổ đảng cầm quyền, thế mà những người cộng sản vơ thần lại mất luôn cả nhân tính như chủ tịch xã Đinh công Uy đã tuyên bố một cách đầy thù hận: “Nếu không hạ tượng thì kể cả cụt tay, tôi cũng lấy xà beng chọc nát tượng” Sự gia tăng bắt bớ và đàn áp, khủng bố những người bất đồng chính kiến, những người đấu tranh ôn hòa trong quyền hiến định bởi hiến pháp của chính chế độ cầm quyền cũng như theo Công Ước Quốc Tế về quyền Dân sự và chính trị của Liên HQ mà csVN đã ký kết, chứng tỏ những kẻ lãnh đạo đang run sợ lo lắng trước sự hiểu biết của người dân trong nước, họ sợ cả những người phụ nữ chân yếu tay mềm, họ nhìn đâu cũng thấy thế lực thù địch, ngay cả qua những biểu tượng tôn giáo là tượng Đức Mẹ Sầu Bi. Sự chịu đựng của nhân dân đã mòn mỏi, sự bất hạnh của phụ nữ đã lên đến đỉnh điểm, khi nào thì những người bà, người mẹ, người vợ, người con được hưởng hạnh phúc gia đình, êm ấm bên chồng con, khi nào thì trên đất nước ta không còn cảnh mấy chục cơ gái trần truồng đứng cho ngoại nhân sờ mó nắn bóp với hy vọng được chọn làm “vợ”. Dân tộc VN ta còn bị “bịt miệng, bịt mắt” đến bao giờ? Người nữ luật sư dũng cảm Lê thị Công Nhân đã đặt hy vọng ở sự hỗ trợ của đồng bào hải ngoại:” ..Tôi rất mong muốn báo chí VN ở hải ngoại, báo giới quốc tế cũng như đồng bào trên toàn thế giới hãy nói lên tiếng nói của mình một cách mạnh mẽ, kịp thời để sau này không có những giây phút hối hận rằng chúng ta đã không làm hết sức mình trong khi chúng ta có thể làm được nhiều hơn, để giúp đỡ cho những người dân đang sống ở một đất nước nhỏ bé, nghèo khó và lạc hậu như VN..” Ước mong dịp lễ Hiền Mẫu năm nay, người Việt hải ngoại nói chung và chị em phụ nữ nói riêng, cần phải suy nghĩ về những lời tâm huyết trên của một cô gái trẻ với lòng yêu quê hương yêu dân tộc nồng nàn, đầy lý tưởng và nhiệt huyết đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho đại cuộc dân chủ hóa đất nước. Nguyện cầu Ơn Trên ban bình an cho tất cả các bà mẹ Việt Nam.

 

Nhân đọc bài viết của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang : “Lê Thị Công Nhân, bông hồng có ánh thép.” Và bài: “Ôi Viết Nam Xứ Sở Mù Lòa” của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy (tù nhân dự khuyết số 1 của đảng cộng sản Việt Nam) viết vào đêm 8-4-2007, và cũng được tin cha Lý, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân vào tù, Trần Khải Thanh Thủy bị bắt giam. Tôi súc động và bàng hoàng trước những biến cố sẩy đến đột ngột và tàn bạo do đảng cộng sản Việt Nam gây ra, khi bỏ tù, bắt giam những nhà tranh đấu cho lý tưởng tự do. Cảm súc mãnh liệt trước những lời nói đầy khí tiết và dũng cảm của Công Nhân khi cô cương quyết bảo vệ tới cùng lý tưởng mà cô đang ôm ấp và theo đuổi. Tôi lại vô cùng ngưỡng mộ lòng dũng cảm bất khuất có môt không hai của Thanh Thủy, khi cô can đảm vạch trần sự thật về Hồ Chí Minh, một việc làm mà từ trước tới nay không một nhà văn nào trong nước dám viết. Cô còn viết nhiều bài vạch trần tội ác của việt cộng mà nhiều người không hay biết, làm tôi phải ngỡ ngàng tự hỏi tại sao một phụ nữ như cô suốt đời sống dưới ách độc tài của cộng sản và lớn lên trong sự bưng bít và nhồi sọ lý thuyết cộng sản mà làm cách nào một người như cô lại có một sự hiểu biết sâu sắc về sự tàn ác thâm độc của việt cộng đến thế. Vì thế tôi tin tưởng rằng cộng sản dù gian manh tàn ác đến đâu chúng cũng không thể thắng được ý muốn của toàn dân và ngày tàn của chúng đã gần kề. Hôm nay, trên đất nước tạm dung này, tôi ngậm ngùi ghi những cảm nghĩ ở đây và trong những dòng thơ, để chia sẻ tâm tư với những người cùng lý tưởng mà tôi kính mến và nhất là để vinh danh họ - những người con anh hùng của tổ quốc -coi thường cuộc sống cá nhân yên ổn để dấn thân tránh đấu cho tự do, công bằng, hạnh phúc của chính mình và đồng bào. Riêng đối với Lê Thị Công Nhân, để thân thương tôi xin được gọi cô bằng con, vì cô đúng bằng tuổi con gái thứ hai của tôi. Cũng xin mượn tựa đề bài viết trên để làm tên gọi cho bài thơ của tôi. Những “Bông Hồng Có Ánh Thép” Cảm ơn Thượng Đế, bởi đất thiêng này đã tạo nên con. Cha mẹ nào phúc đức đã cưu mang. Đất Gò Công miền Nam danh tiếng, nơi anh hùng Trương Công Định đã sinh ra, mà chốn này cũng lại có con. Tuổi còn nhỏ mà sao dũng cảm tuyệt vời. Thân xác mảnh mai, mà sao ý chí thật kiên cường ! Con ngửng đầu, mà bao người cúi mặt chịu đọa đầy bởi lũ vô nhân. Người ta gọi con là:“ Bông hồng có ánh thép.” Nhưng ta tuyên xưng con: “anh hùng liệt nữ của Việt Nam.” Nơi đầy rẫy bất công và cùm kẹp. Con biết rõ, nhưng con không hề khiếp đảm. Giặc nội thù này, mưu mô đầy hiểm độc, gấp ngàn lần, giặc Tầu, giặc Pháp, giặc Nhật xưa. Dân ta thường bảo: “Đỏ đầu làm tội đã qua, trắng răng làm tội gấp ba đỏ đầu.” Ngày nay, trắng răng tàn bạo thua xa ngàn lần mã tấu răng đen hiện thời. Xảo quyệt hơn nữa là: Chúng nêu cao ảo vọng hão huyền độc lập, tự do, hạnh phúc, âm no. Độc lập thì chúng cúi đầu cắt dâng đất biển, hiến cho Tầu để làm quà, đút lót kẻ chở che. Còn tự do, chúng giữ độc quyền, phát ngôn những truyện tức cười làm cho thế giới muôn người cười chê. Ấm no thì đâu chẳng thấy, khắp phố phường đầy rẫy kẻ ăn xin. Hạnh phúc, người dân đâu có được để đến nỗi cột đèn cũng muốn trốn đi. Ôi! nhan hiểm nhất là: khi sua quân tấn chiếm miền Nam, lừa quân, cán chính vào lao tù, cải tạo, để lấy đi sức sống mãnh liệt của miền Nam và che lấp đi tội ác tầy trời, là làm cho miền Bắc tan hoang, nghèo đói. Chúng thấy rõ, mức sống miền Nam thật vô cùng sung túc, và khác biệt vô vàn so với cảnh đói ăn của nhân dân miền Bắc. Ngay chỉ gia đình lính chiến miền Nam cũng âm no bội phần, hơn hẳn cảnh gia đình miền Bắc sĩ quan. Bởi thế, bọn bạo tàn chóp bu miền Bắc sợ rằng, toàn dân nhìn ra sự thật, cái ngu xuẩn lộng hành của chúng, cùng đứng dậy, đòi quyền được sống: tự do, hạnh phúc, âm no. Để dẹp tan khát vọng đòi tự do, đang bùng cháy trong lòng dân đất Việt. Chúng bày trò, bắt giam, tra tấn, đọa đầy, toàn quân dân cán chính miền Nam. Thay vì để họ tự do, đem tài sức đắp xây, một Việt Nam hạnh phúc phú cường, thì đâu đến nỗi ngày nay, cảnh đói nghèo lạc hậu nhất năm châu. Chúng hiểu rõ nếu toàn dân ,có hạnh phúc âm no, thì bọn chúng đầu to mà vô tiền bạc. Bởi chúng lòng lang dạ thú, chỉ biết có mình, mà chẳng nghĩ đến dân. Thay vì cố nâng mức sống của toàn dân ngoài Bắc, để ngang bằng mức sống miền Nam, cho tổ quốc ngửng đầu với năm châu bốn bể. Nhưng chúng sợ làm như thế, địa vị chúng đâu còn, để cưỡi đầu cưỡi cổ người dân. Vì thế Mưu sâu kế độc của chúng là: cho vào tù hết, những tinh hoa đất nước của miền Nam để dìm họ xuống tận cùng sâu vực thẳm, rồi đến lúc ngóc được đầu lên, cũng chẳng bằng người dân nghèo đói nhất của chủ nghĩa chúng tạo ra. Rồi chúng tự hào trong ngu dốt rằng: Xã hội mà chúng quản gia gấp nhiều lần hơn xã hội Quốc Gia . Mưu đồ chúng, toàn dân đâu hiểu thấu. Thật thâm hiểm bạo tàn hơn phát xít thực dân. Trò hề nhất là việc chúng bày ra, đảng cử dân bầu. Làm như thế, dân đâu có quyền lựa chọn. Bỏ thằng nào, cũng vẫn là người của nó. Mưu đồ dối gạt lưu manh, mà sao đa số người dân, đâu có hiểu? Bởi chính sách của chúng hóa người dân thành, liệt kháng trí năng, chai đá con tim, để chúng dễ bề thao túng. Những điều trên mà tôi vừa kể, chỉ là một trong muôn ngàn tội ác của cộng nô. Giấy mực nào chép hết, tội của lũ côn đồ. Xin chắp tay nguyện cầu, đấng Chí Tôn, sao cho toàn dân hiểu thấu phần nào mánh khoé bịp lừa của một lũ chóp bu một phường múa rối lưu manh, để cùng nhau nối bước, Lê Thị Công Nhân đứng lên đòi lại quyền sống, tự do, công bằng và hạnh phúc. Vì quyền này đâu phải, tự chúng có quyền cho mà là quyền thiêng liêng tối thượng từ trên trời ban xuống, tới mọi muôn dân trên khắp hạt địa cầu. Nếu chúng dùng, công an cấm cản, hoặc bịt miệng lại, như nghe lời cha Lý hô: “đả đảo cộng sản”. Hay còng tay trái phép, bắt giam người phụ nữ yếu đau, Lê Khải Thanh thủy. Chỉ vì cất tiếng nói đòi, tự do, dân chủ, âm no cho đồng bào mà cô thương mến. Khán phục nhất, bài viết gần đây Đêm mồng Tám tháng Tư năm lẻ Bẩy với tựa đề: “Ôi Việt Nam Xứ Sở Mù Lòa.” Mà trong đó cô nêu tội ác bác gìa Hồ “xảo quyệt, dâm ô, giết dân, phá nước.” Cô nói thật hay cô đùa với lửa, mà cô dám viết bác Hồ dâm. Bác sống mãi trong quần chúng ta mà. Đâu xác bác còn nằm yên trong lăng đá, để làm bùa cho bè lũ hại dân. Bài viết cô tựa gươm đao sắc bén, Chém bay đầu thần thoại Hồ chi Minh, cho hết thiêng khi đưa bác ra hù và một lần cho tuyệt giống tham tàn hại nước. Bắt giam cô là việc làm thật vô cùng khiếp đảm. Vì chúng sợ tiếng nói của lương tâm. Tiếng nói vô cùng mãnh liệt tỏa hào khí của non sông của hồn thiêng sông núi chứa trong lòng, đã tới lúc bùng ra như lửa cháy, mãnh liệt hơn sóng thần hay hỏa diệm sơn xóa tan đi nỗi sợ hãi bao trùm. Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy Hai nữ anh hùng cho tiếng nói của lương tâm dẫn đầu trong cuộc chiến hôm nay, quyết liệt đòi cho bằng được tự do dân chủ. Xin cúi đầu, cầu Thượng Đế xuống ban cho dân con nước Việt kết hợp một lòng, Không khiếp sợ, chẳng cúi đầu như hai anh hùng liệt nữ dũng cảm của non sông. Campbell, Ngày 24 tháng 5 năm 2007 Hoàng Nông Phu Ghi chú Đỏ đầu chỉ người Pháp trong thời gian đô hộ Việt Nam. Trắng răng chỉ người Nhật khi cai trị Việt Nam hồi 1945. Răng đen mã tấu nói việt cộng ngày naỵ

 

Tự do yêu mến thiết tha! Mà sao tù ngục hết ra lại vào? Anh Lý thân kính Lời thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sao mà ứng vào Anh đúng thế! Cách đây 32 năm, trong lúc dân chúng Tây Nguyên kinh hoàng bỏ chạy xuống vùng duyên hải, dân chúng miền Trung hớt hoảng tuốn vào miền Nam từ những ngày đầu tháng 2 và 3-1975, rời bỏ cái nơi mà họ linh cảm sẽ là một nhà tù vĩ đại, thì Anh lại ngược đường từ Sài gòn ra Huế, dẫu trắc trở giăng đầy và nguy hiểm rình rập. Chiều ngày 25-3-1975 Anh đã có mặt tại thành phố Huế đang rơi dần vào tay cộng quân. Thấy Anh có tinh thần quả cảm như thế, rất cần thiết để sống trong chế độ cộng sản, lại thêm trí thông minh bén nhạy, Đức Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền đã bổ nhiệm Anh vào chức vụ thư ký Toà Giám mục, phụ tá cho ngài. Nhưng đến ngày 7-9-1977 thì Anh đã bị bắt. Lý do là Anh đã phổ biến rộng rãi 2 bài phát biểu thời danh của Đức Tổng, một vào ngày 15 và một vào ngày 22-04-1977. Trong hai bài đó, Đức Cha đã thẳng thắn tuyên bố “chưa có tự do tôn giáo tại VN” và “người Công giáo bị xem như công dân hạng nhì”. Cộng sản đã lồng lộn lên, tuyên án Anh 20 năm tù với tội danh “tuyên truyền chống chế độ XHCN” trong một tòa án nhân dân đặc trưng của chế độ, nhưng đến ngày 24-12-1977 thì phải thả Anh ra, nhờ việc Việt Nam vừa được gia nhập Liên Hiệp Quốc, và sau đó quản chế Anh tại Nhà Chung đến tháng 8-1978. Thế là Anh bắt đầu nếm mùi ngục tù và quản thúc của chế độ. Sau đó cộng sản áp lực để Anh bị đổi tới Đốc Sơ cai quản giáo xứ. Tại đây, sống giữa nhân dân nhưng trong vòng kềm tỏa, Anh thấm thía được nỗi đau của đồng bào, của tín đồ dưới chế độ mới, do đó Anh liên tục gởi tới nhà cầm quyền 7 kháng thư, thường xuyên bắc loa trên tháp nhà thờ mở đài Chân lý châu Á, coi khinh các quy định “xin phép” vô lý của bạo quyền cộng sản. Thế là ngày 18-5-1983, Anh bị bắt lần thứ hai rồi bị cái gọi là Tòa án nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) xử phạt 10 năm tù về tội “phá rối an ninh trật tự và phá hoại khối đoàn kết toàn dân”, một tội danh quái đản mà chỉ pháp chế cộng sản mới có. Anh trở thành chứng nhân trong ngục thất tới ngày 31-7-1992 tại cái gọi là “Trại cải tạo” tỉnh Hà Nam. Tại đây Anh đã sống cùng thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Hai tâm hồn hết sức tự do gặp nhau giữa 4 bức tường nhà tù! Trở về Nhà Chung Huế, Anh lại tiếp tục bị quản chế. Cộng sản tưởng tù giam và quản chế đã làm Anh quy thuận và ngoan ngoãn, từ nay sẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đùng một cái, ngày 24-11-1994, lễ các Thánh tử đạo Việt Nam, “Tuyên ngôn 10 điểm về thực trạng Giáo hội Công giáo tại Giáo phận Huế” được Anh công bố và phát tán rộng rãi. Bài viết chứng minh toàn thể Giáo hội VN nói chung bị chế độ kềm kẹp, đàn áp. Muốn trói tay Anh, Cộng sản lại áp lực khiến Anh bị đưa tới giáo xứ Nguyệt Biều ngày 30-7-1995, không phải để làm mục vụ nhưng để bị quản chế: ở trong nhà xứ nhưng chẳng được làm lễ một mình cho giáo dân và giảng dạy họ. Nhiều năm trôi qua trong âm thầm chuẩn bị, ngày 14-11-2000, Anh và giáo dân Nguyệt Biều đã căng lên biểu ngữ “Chúng tôi cần Tự do Tôn giáo” rồi biểu ngữ “Tự do tôn giáo hay là chết!” vốn sẽ đi vào lịch sử như một hiệu lệnh. Tiếp đó, từ 03-12-2000 đến 26-2-2001, tự lồng ngực của Anh, hai từ “tự do” tha thiết ấy đã trào tuôn thành 9 Lời Kêu gọi có tính cách toàn diện hơn, kêu gọi hàng Lãnh đạo lẫn tín đồ mọi Giáo hội đòi lại quyền tự do tôn giáo đang bị tước đoạt (LKG 1-4), kêu gọi giáo chức và sinh viên học sinh tẩy chay chủ nghĩa và chế độ CS, hai ngục tù ghê gớm (LKG 6), kêu gọi đồng bào quốc nội lẫn hải ngoại chung lòng đoàn kết, chung tay xây dựng một tổ quốc không có xiềng xích độc tài (LKG 7), kêu gọi thế giới đừng dễ dàng cho chế độ CSVN áp bức tham gia các công ước quốc tế (LKG 5), kêu gọi quốc hội bỏ điều 4 Hiến pháp là vòng kim cô, và kêu gọi đảng CS là tên cai ngục hãy tự giải thể chính mình (LKG 8). Anh cũng đã kết hợp với nhiều chức sắc khác đạo ra “Lời Tuyên bố của Đại diện các Tôn giáo tại Việt Nam ngày 27-12-2000”, với 5 đòi hỏi rất quyết liệt. Trước đó, ngày 25-1-2001, Anh đã tung ra một chứng từ đầy cảm kích về cái chết của Đức TGM Nguyễn Kim Điền, vị lãnh đạo tinh thần đầu tiên sau 75 đấu tranh và bị sát hại vì tự do và nhân phẩm. Thế là CS lại làm áp lực để Anh bị chuyển về một giáo xứ xa hơn, giữa đồng trống trải, khó liên lạc điện thoại và điện thư, lại chỉ có một đường độc đạo đi vào, tức giáo xứ An Truyền. Tại đây, từ ngày 05-02-2001 đến ngày 15-05-2001 là hôm bị bắt, Anh đã viết Lời Chứng thứ 1 rồi Lời Chứng thứ 2 gởi Quốc hội Hoa Kỳ để trình bày thực trạng mất nhân quyền dân chủ ở Việt Nam. Cũng chính tại An Truyền, ngày 26-2-2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên đã ban hành quyết định quản chế Anh hai năm. Anh chỉ mỉm cười khinh bỉ, coi đó như tờ giấy lộn. Từ ngày 27-2 trở đi, CS bắt đầu đàn áp Anh và giáo xứ. Thế là Anh nảy sinh một sáng kiến chưa từng có trong chế độ: lập biên bản về các vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CS địa phương (tất cả có 19 biên bản, được lập từ ngày 11-3-2001 đến ngày 09-5-2001), để biến những tên đồ tể thành tội phạm. Trong các biên bản này, cụm từ “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” được Anh đổi thành “Thiếu độc lập - Mất tự do - Không hạnh phúc”!!! Ngày 19-10-2001, Anh bị Tòa án nhân dân tỉnh xử phạt 15 năm tù về 2 “tội”: không chấp hành quyết định quản chế hành chính và phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, một tội danh quái gở mà chỉ CS mới nghĩ ra và dám ghép càn! Thế là Anh lại lên đường vào tù ngục, ở trại Ba Sao, Nam Hà cho đến hết tháng 01-2005. Tại đây, Anh đã gặp nhiều chiến sĩ dân chủ khác như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn.... Tất cả đã giúp nhau hun đúc tinh thần tự do. Và hiện nay, ra khỏi tù, họ vẫn tiếp tục tinh thần đó. Anh lại thi hành án phạt quản chế lần thứ sáu tại Nhà Chung. Và tại đây, như không ngơi nghỉ, kể từ cuối năm 2005, cùng với nhiều chiến hữu, Anh tái phát động cuộc đấu tranh. Lần này quy mô hơn, không chỉ cho tự do tôn giáo mà còn cho tự do dân sự, không chỉ cho quyền tín hữu mà cả quyền công dân, bởi lẽ đấy là hai mặt của cùng một thực thể: nhân quyền. Là linh mục Công giáo đồng thời là con dân đất Việt, Anh thấy không thể chỉ đấu tranh cho quyền lợi của Giáo hội mà còn cho quyền lợi của mọi đồng bào: tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại, tự do lập hội, tự do bầu cử... là những thứ mà chính tôn giáo cũng phải cần đấy chứ! Thế là lần lượt ra đời “Lời kêu gọi bầu cử Quốc hội đa đảng” ngày 17-10-2005, “Lời Kêu gọi cho quyền thông tin ngôn luận” ngày 20-02-2006, “Lời Kêu gọi cho quyền Công nhân” ngày 19-03-2006, “Lời Kêu gọi cho quyền thành lập đảng phái” ngày 06-04-2006 mà ban đầu Anh cùng ký tên chung với nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền rồi với hàng trăm nhà dân chủ quốc nội. Ngày 08-04-2006, Tuyên ngôn Dân chủ Tự do cho Việt Nam chào đời để rồi đi vào lịch sử, hình thành nên Khối 8406 mà Anh là một trong những tác nhân chủ yếu và đại diện chính thức. Một tuần sau (15-04-2006), tờ báo độc lập đầu tiên trong chế độ CS xuất bản không giấy phép là bán nguyệt san Tự do Ngôn luận mà Anh là thành viên ban Biên tập. Ngày 20-06-2006, Khối 8406 đưa ra 10 Điều kiện cơ bản thiết yếu để cuộc Bầu cử Quốc hội 2007 được đa đảng, tự do, dân chủ. Ngày 22-08-2006, Khối 8406 công bố Tiến trình Dân chủ hóa VN gồm 4 giai đoạn & 8 bước mà nay đã thực hiện được phần cơ bản của 2 giai đoạn đầu (sử dụng quyền Tự do Ngôn luận làm nền tảng cho các Nhân quyền khác; phục hoạt, thành lập và phát triển các Chính đảng Dân chủ phi Cộng sản). Ngày 08-09-2006, Đảng Thăng Tiến Việt Nam -mà Anh cùng với nhiều bạn linh mục khác là cố vấn- công bố tự thành lập tại Việt Nam, trực diện đấu tranh bất bạo động với đảng CSVN. Ngày 16-10-2006, Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam –mà Anh cũng là một trong những cố vấn quan trọng- đã được hình thành, quy tụ các Lực lượng Dân tộc đấu tranh vì Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho Việt Nam trong vài ngoài nước. Ngày 25-11-2006, do sáng kiến của Anh, Khối 8406 đã phát động “Ngày Dân chủ cho Việt Nam, Ngày Toàn Dân Mặc Áo Trắng mỗi 15 và mồng 01”. Anh trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh quyết liệt, toàn diện, triệt để với mục tiêu hạ bệ thần tượng giả tạo Hồ Chí Minh, giải thể chế độ cộng sản độc tài, bằng phương pháp hòa bình bất bạo động, khôi phục mọi tự do cơ bản. Điều này đã gây phẫn nộ và hoảng hốt cho chế độ. Cuộc ra mắt liên đảng Lạc Hồng –mà Anh vẫn là cố vấn- trong đêm giao thừa tết Đinh Hợi là giọt nước làm tràn ly giận dữ của CS, thế là chúng ra tay khử trừ Anh ngay đêm hôm sau (18-02-2007). Chỉ hơn một tháng sau, ngày 30-3, qua một phiên tòa cũng quái đản như hôm 19-10-2001, nghĩa là không thân nhân và đại diện giáo quyền hiện diện, không có biện hộ của luật sư và tự biện hộ của chính mình, cộng sản đã khoác lên Anh và bốn chiến sĩ dân chủ những bản án bất công, nặng nề. Đặc biệt nhất là CS đã bịt miệng Anh trước tòa, một hình ảnh đã gây chấn động toàn cầu, đánh thức hầu hết mọi lương tâm và mãi mãi đi vào lịch sử. Trung tướng Trần Độ, nhà ly khai phản tỉnh từng nói: “Giết một con người thì dễ, nhưng người ấy có chết không lại là một chuyện khác!” Nay cũng thế, bịt miệng một nhà đấu tranh như Anh thì dễ, nhưng có làm im tiếng của Anh không lại là chuyện khác. Giờ đây, với sự xuất hiện trên hàng trăm, hàng ngàn tờ báo, đài truyền hình quốc tế, với lượng xuất bản tới hàng triệu tấm rải khắp năm châu, bức hình “Bịt miệng” lịch sử ấy đã, đang và sẽ là một tiếng nói vang rền thế giới, ngân nga trong lịch sử và rung động hàng triệu con tim. Nó trở thành lời tố cáo hùng hồn cái chế độ vốn độc tài, dối gian và tàn ác nhưng vẫn ngoác miệng tự xưng là “dân chủ triệu lần” và “ưu việt nhân đạo” !?! Giờ đây Anh đang im lặng trong bốn bức tường nhà ngục, sống kiếp tù lần thứ tư tại trại Ba Sao Nam Hà, nhưng tiếng nói của Anh vang động hoàn vũ và tấm gương của Anh tỏa sáng năm châu, ít nhất nơi các cộng đồng dân Việt. Anh vẫn là một trong những con người tự do nhất của dân tộc, bởi lẽ “bầu trời tự do trong trái tim ta!” Biết bao người vẫn nhớ hình ảnh Anh cương nghị và bình thản trước tòa, không thèm đứng dậy lắng nghe và trả lời những thẩm phán nô bộc hèn hạ, miệng hô đả đảo đảng Cộng sản nhiều lần, hai ngón tay của mỗi bàn tay bị cùm giơ lên hình chữ V (Victory, chiến thắng), miệng cười tươi từ giã khi từ tòa án bước lên xe bít bùng của nhà ngục!!! * * * Tuy nhiên, ngay từ hôm bị nhốt chặt trong căn phòng ở Nhà Chung và thấy tòa Giám mục Huế bị cộng sản ngang nhiên biến thành trại tù (ít nhất trong vài ngày) mà rồi chẳng có vị hữu trách nào lên tiếng, lòng Anh đã se thắt lại. Đến khi nhà xứ Bến Củi bị hóa thành nhà giam -với mấy chục lính canh- để giữ Anh hơn cả một tháng trời (24-2 đến 29-3) mà ngay cả vị quản xứ dù phản đối vẫn vô hiệu, Anh đã đau đớn thốt lên: “Nhượng bộ, hợp tác hay đồng lõa? Ai xui nên cảnh trớ trêu này??” Từ hải ngoại, một giáo hữu tên Jean-Baptiste Thanh lúc ấy đã gởi cho bề trên của Anh một tâm thư ngắn gọn : “Cha Nguyễn Văn Lý đã bị CSVN đàn áp tàn bạo và sức khỏe của ngài đang nguy kịch do tuyệt thực lâu ngày. Chúng con chờ đợi Đức TGM lên tiếng với nhà cầm quyền CSVN để họ thả ngay Cha Lý, chứ không phải muốn nghe Đức TGM trả lời Đài Á Châu Tự Do rằng Cha Lý được y tá săn sóc (tại Bến Củi) và sức khỏe vẫn bình thường...” Ngày Anh bị xử tòa, bị bịt miệng, bao tiếng thét đủ nhiều ngôn ngữ đã vang lên ngay tại phòng cách ly của các phóng viên và nhà ngoại giao: “Không ! Không thể được! Ngừng tay! Ngừng ngay lại! Khó tưởng tượng nổi! Quái gở! Ô nhục! Thật đáng xấu hổ! Đồ vô nhân đạo!”. Rồi hàng triệu tiếng thét tương tự đã vang lên trên hành tinh từ đó đến giờ và chắc sẽ còn ngân mãi! Nhưng khổ thay, nơi mà người ta chờ đợi nhất tiếng kêu xúc cảm ấy thì lại chỉ thấy một sự im lặng khó hiểu nặng nề, y như dạo phiên tòa ngày 19-10-2001. Mới đây, cũng có đôi ba tiếng chẳng đặng đừng phải cất lên vì được phỏng vấn: “Ý kiến của Hội đồng Giám mục Việt Nam thế nào về việc cha Lý bị bắt và kết án? - Trả lời: HĐGMVN đến tháng 10-2007 mới họp mặt. Nội dung chương trình do các Giám mục đề xuất. Cha Lý thuộc giáo phận Huế. Đức Tổng Giám mục có đề xuất vấn đề hay không? Tôi nghĩ rằng tùy thuộc vào sự góp ý của cộng đồng dân Chúa tại Huế. Vì lẽ, từ xa tôi không hiểu rõ nguyên nhân cũng như ý nghĩa thâm sâu của những nghịch lý trong cuộc sống của cha. Có lẽ chỉ có Huế mới thấu hiểu”. Anh Lý ơi, vậy thì hãy ráng sống, ráng đợi, ráng cầu nguyện và ráng hy vọng vấn đề của Anh được nêu lên và những “nghịch lý” của Anh được giải thích trong vài tháng nữa nhé! Rồi theo chiều hướng nào lại là chuyện khác nữa! Sao người ta lại không thể lên tiếng ngay để bênh vực Anh ít nhất trong tư cách kẻ bị bạo quyền Cộng sản đàn áp? “Trong ngày tháng vừa qua chắc Đức Cha đã nghe về tin cha Lý bị kết án 8 năm tù mới đây, và rất nhiều người Việt ở hải ngoại đã xôn xao về tình trạng này. Nhiều người đã tố cáo HĐGMVN muốn bảo vệ thế đứng riêng tư của mình, lợi ích về vật chất cho nên đã không có phản ứng. Vậy Đức Cha suy nghĩ như thế nào về trường hợp của cha Nguyễn Văn Lý? - Trả lời: Việc cha Lý hay bất cứ ai bị ra tòa và bị đi tù thì đó là trường hợp thương tâm. Riêng hình ảnh bịt miệng thì tự nó nói lên rất nhiều điều!”. Đúng, hình ảnh đó đã nói lên rất nhiều điều và đã thúc đẩy rất nhiều việc nơi cả thế giới, nhưng nơi vị phát biểu câu này thì e rằng Anh sẽ phải chờ đợi trong tuyệt vọng Anh Lý ạ! Bởi lẽ tiếp theo sau đó: “Vậy, thưa Đức Cha nghĩ gì về vấn đề linh mục làm chính trị hay Giáo hội dấn thân vào vấn đề chính trị? Đức Cha có thể chia sẻ với chúng con được không? - Trả lời: Theo chúng tôi, ai cũng có quyền phát biểu về công bằng, về sự thật, về các quyền lợi xã hội, nhưng (các linh mục) tham gia vào chính trị đảng phái thì sẽ gây chia rẽ. Lý do là thế này: đảng chỉ là một phần thôi, theo phần này bỏ phần kia, và mỗi một phần đó lại thay tuỳ theo nhu cầu tuỳ theo trường hợp, mà chân lý của Chúa thì không có thể xoay như cái chong chóng như vậy được đâu. Chúa muốn sai linh mục tới làm việc cho mọi người, chứ không phải cho nhóm này chống lại nhóm kia. Thành ra, nếu linh mục làm chính trị thì thay vì gây sự đoàn kết, thì gây thêm sự chia rẽ. Tôi cũng được biết thêm nữa là linh mục Nguyễn Văn Lý, sau khi ra tù lần thứ hai, thì được Đức tổng Giám mục Huế đưa tới xứ An Truyền giới thiệu với cộng đồng dân Chúa ở đó. Và trong khi đáp từ thì cha Lý đã xin lỗi và cũng nói lên ý rằng sẽ vâng lời Đức Tổng trong mọi sự ngoại trừ công việc chính trị thì cha Lý xin phép là không vâng lời Đức Tổng. Đây là điều không những tôi mà nói chung là các Giám mục không thể hiểu được”. Thì ra đây là lý do để các bề trên không can thiệp cho Anh! Thế nhưng, hãy xem lại đoạn video và bài tường thuật lễ nhậm chức quản xứ An Truyền của Anh ngày 05-12-2001, thì có đúng là Anh đã nói “sẽ vâng lời Đức Tổng trong mọi sự ngoại trừ công việc chính trị” chăng, đã chống lại bề trên của Anh chăng? Hãy soi kỹ mọi văn kiện của đảng Thăng Tiến Việt Nam, người ta có thấy Anh là sáng lập viên và là thành viên của đảng chăng? Hãy đọc lại Lời minh định của nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền (là những “người trong cuộc” đích thực với Anh) ngày 02-03-2007 thì có thấy “Hoàn cảnh thực sự của Cha Nguyễn Văn Lý, cái cách mà ngài dấn thân để lo việc đó, nó không phải là cương vị một Linh mục, mà là của những người làm chính trị” (lời một vị bên Hoa Kỳ) hay là sẽ thấy: “1- Linh mục Nguyễn Văn Lý không hề làm chính trị đảng phái, nghĩa là không đứng tên thành lập và tham gia một đảng hay liên đảng nào, nghịch với sứ mạng của một linh mục và với luật Hội thánh Công giáo hiện hành. 2- Linh mục Nguyễn Văn Lý chỉ làm chính trị công dân, nghĩa là thực hiện các quyền công dân cơ bản, như ra báo độc lập, đòi quyền tự do ứng cử và bầu cử cho nhân dân, hô hào và ủng hộ sự xuất hiện và hoạt động của các đảng phái chính trị bất bạo động tại Việt Nam để hóa giải tình trạng chính trị độc đảng vốn đã dẫn tới nạn độc tài, chà đạp các quyền tự do dân chủ (như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập đảng, tự do bầu cử, nhất là tự do tôn giáo...) tại Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay”. Phải chăng chính nhờ im lặng như thế (cũng như từng im lặng trước vô vàn sự kiện đau thương chấn động mà bao đồng bào trong và ngoài nước cũng như quốc tế đã mạnh mẽ lên tiếng: đảng CSVN ký hai hiệp dâng đất dâng biển đầy ô nhục năm 1999+2000, nô lệ tình dục và nô lệ lao công bị bán ra nước ngoài mỗi năm mấy trăm ngàn, thai nhi bị tàn sát một triệu rưỡi sinh mạng thường niên, ngư dân bị Trung cộng bắn chết ở vùng biển Thanh Hóa và Đà Nẵng, nông dân nổi loạn bị dẹp tan ở Thái Bình, người thượng Tây nguyên bị đàn áp tại Ban Mê Thuột, công nhân bị bóc lột xương máu ở Sài Gòn Đồng Nai và nhiều tỉnh, dân oan khiếu kiện sống vất vưởng tại Hà Nội, Đức ông Đào Đức Điềm bị ám sát tại Huế, dân Hmông bị đàn áp tại Lạng Sơn, tượng Mẹ Sầu bi bị đập nát tại Phát Diệm, Phật giáo Hòa Hảo bị bách hại ở An Giang, Phật Giáo Thống nhất và Tin Lành bị bắt bớ tại nhiều nơi trong nước, hàng trăm nhà dân chủ bị quản chế, cầm tù...), mà người ta thấy ngay sau vụ án của Anh ngày 30-3 và trong mùa Quốc hận 30-4 này, một số vị được CS tiếp tục cho giấy đi nước ngoài để quyên góp tiền bạc. Khiến nhiều giáo dân phải đem hình Mẹ bị nát đầu, Anh bị bịt miệng đến tại tiệc ăn mừng hay tiệc gây quỹ của các vị như một thứ bùa yểm để phản đối và khơi gợi lương tâm !!! Thật ra, cho dù Anh có làm chính trị đảng phái chăng nữa, nhưng dám làm như thế (nghĩa là tranh đấu cho nhân quyền và dân quyền, khôi phục một nền chính trị đúng nghĩa và một chính quyền xứng danh) giữa chế độ cộng sản chỉ thuần là tà quyền và tà trị, thì Anh cũng đáng ủng hộ; và khi bị bắt bớ xử tòa như hôm 30-3 mới rồi, thì Anh cũng đáng được bênh vực che chở! Chính vì thế mà hầu như cả thế giới (ngoại trừ các kẻ chủ trương độc tài cộng sản và đám người thỏa hiệp với họ) đều đứng bên cạnh Anh, đều không cần phân biệt Anh làm chính trị đảng phái hay chính trị công dân, theo hay không theo luật Giáo hội. Tên công an Nguyễn Minh Tâm đã dùng tay bịt miệng Anh trước tòa án, nhiều vị hữu trách cũng bịt miệng Anh thêm vì những kiểu phát biểu nhận định như trên. Anh đang bị giam nhốt trong nhà tù, nhưng tâm hồn Anh vẫn tự do. Ngược lại, có nhiều kẻ đang tự do và thoải mái đi ra nước ngoài, tổ chức lễ hội, xây dựng cơ sở, nhưng xem ra họ đang sống trong nhà tù của sợ hãi: sợ Cộng sản phanh phui lỗi lầm ô nhục quá khứ, sợ CS gây mất an nhàn cho cuộc sống hay thậm chí thủ tiêu sinh mạng như vị bề trên đáng kính của Anh, Đức cố TGM Philipphê, sợ Cộng sản không cấp những giấy phép cho họ làm “được việc”, việc này việc nọ, hầu chứng tỏ bản thân họ nhiều tài năng, cuộc đời họ đầy thành tựu!?! Anh Lý thân kính, Anh đã trải qua những năm tháng đẹp đẽ nhất, trẻ trung nhất, năng động nhất của đời linh mục không phải trong một xứ đạo yên bình, tha hồ tổ chức xây dựng, nhưng là ở trong tù ngục, với thân xác bất động, sức khỏe hao mòn và tài năng bỏ phế. Nhưng đó chẳng phải là thân phận của cây nến tàn lụi, nhúm men trầm lắng, hạt muối tan hòa để tỏa sáng, làm dậy và ướp mặn sao? Đó chẳng phải là thân phận của những chứng nhân anh hùng, tù giam tử đạo, để trở thành hạt giống mọc lên bao kitô hữu sao? Hôm nay, ngày Quốc hận 30-4, toàn thể con dân đất Việt ở bất cứ phương trời nào đều nghẹn ngào xúc động vì Quê hương vẫn mãi là một nhà tù lớn bao gồm nhiều nhà tù nhỏ mà một đang giam nhốt Anh, vì Đồng bào Quốc nội vẫn tiếp tục bị đọa đày mà Anh là nhân vật điển hình hơn cả. Hôm nay cũng là kỷ niệm 33 năm Anh chịu chức linh mục, 30-4-1974, dấn thân vào cuộc đời hiến tế bản thân cho chân lý, công bình, tình thương và tự do. Thầy Chí Thánh của Anh, đã kỷ niệm 33 năm đời dương thế bằng cái chết trên thập giá, Anh cũng kỷ niệm 33 năm đời linh mục bằng bản án trong nhà tù. Sao trùng hợp vậy? Phải chăng là vì “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ là đã khá lắm!” (Mt 10,24-25)? Thân chào Anh trong tình huynh đệ linh mục. Người bạn tranh đấu của Anh: Phêrô Phan Văn Lợi KÍNH NHỜ CHUYỂN TIN VỀ VIỆT NAM -------------------------------------------------------------------- Gởi lại “Ra đi!” hay tâm tình của Lm Phan Văn Lợi ngỏ với Lm Nguyễn Văn Lý. “Tổng Giáo phận Huế, ngày 15-05-2002 Anh Lý thân kính, - Thế là đã một năm Anh giã từ chúng tôi ra đi. Không phải với bàn tay vẫy chào nhưng với đôi cổ tay bị chiếc còng số 8 xích lại. Không phải để lên đường cai quản giáo xứ mới - anh nhận xứ An Truyền mới 100 ngày thôi mà- nhưng đi vào chốn lao tù, nơi Anh đã hai lần có mặt với hơn 10 năm trời cả thảy. Không phải giữa thân nhân bạn bè đưa tiễn nhưng giữa vòng vây trùng điệp của 600 công an đằng đằng sát khí, mà một số thì án ngữ các ngõ ngách trong làng Truyền Nam để ngăn chận giáo hữu đến thánh đường, một số quất roi điện, dộng báng súng và đè giày đinh lên những con chiên của anh có mặt tại nhà xứ đang tức tưởi bất lực chứng kiến bầy sói hằm hè vây lấy chủ chăn của họ. Anh đã ra đi khi trời còn tối, mắt sáng đầu cao, thái độ bình thản y như lên đường nhận một nhiệm sở. Những lời cuối cùng Anh để lại An Truyền là những lời an ủi đàn chiên chứ không phải là những lời thù oán các công cụ của bạo lực. Và khi cưỡng bức Anh ra đi, hai tiểu đoàn vũ trang tận răng để khống chế vị linh mục không một tấc sắc cũng tống khứ luôn cả thần công lý.Vậy là sau khi kềm giữ bước chân Anh tại An Truyền và ngang nhiên cấm anh thi hành bổn phận linh mục bằng lệnh quản chế vi hiến quái đản hôm 26-02-2001, nay người ta muốn bịt miệng Anh mãi mãi trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này. Thế nhưng, trước đó một tuần, Lời Chứng thứ hai của Anh trước Quốc hội Hoa Kỳ -mà Anh phải viết bằng tay- cũng đã kịp ra đi, thấu đến Hiệp chủng quốc, thậm chí có mặt trên các diễn đàn internet khắp năm châu trước lúc được người đại diện chính thức đọc tại Hạ viện Mỹ, vào đúng lúc Anh bị còng tay bịt miệng. Một lời chứng hùng hồn, tối hậu Anh muốn ngỏ với lương tâm nhân loại, trước là tố cáo Cộng sản chà đạp nhân phẩm và dùng bạo lực lẫn gian dối để công cụ hóa và hủ bại hóa tôn giáo tại Việt Nam, sau là lên tiếng đòi lại mọi quyền chính đáng cho con người và cho các giáo hội ở quê nhà. Vậy là qua 1 Tuyên ngôn, 2 Lời Chứng, 9 Lời Kêu Gọi, 19 Biên Bản và vô số điện thư cũng như phỏng vấn trên điện thoại, tiếng nói thẳng thắn, rõ ràng, can đảm, trung thực của Anh đã vang khắp vũ hoàn, ra đi đến tận chân trời góc bể, và chắc sẽ tồn tại trong lịch sử như những chứng từ bất khuất, mở ra một đường hướng đấu tranh dứt khoát, toàn diện, trọn vẹn trong tinh thần bất bạo động của kitô hữu. Người ta có muốn ngăn chận tiếng nói ấy cũng chẳng kịp nữa. Tuy nhiên, dù can đảm ra đi, lòng Anh vẫn buồn rười rượi vì đã không thể có mặt bên cạnh thân mẫu đang hấp hối tại giáo xứ Quảng Biên, do sự ngăn chận của những kẻ thống trị quên hết đạo lý làm người. Và chỉ một ngày sau đó (18-05-2001), bà cụ cũng từ giã cõi tạm để ra đi về Nước Chúa. Lòng cụ cũng buồn bã héo hắt vì không được gặp mặt người con út quý yêu mà cụ đã nóng lòng chờ đợi trong cơn hấp hối kéo dài cả tuần lễ, người con đã một lần vắng mặt bên giường chết của cha do cũng bị nhốt lao tù ngày ông cụ giã từ cõi thế. Nỗi buồn của bà còn tăng gấp bội vì sự vắng mặt của hai linh mục bạn đấu tranh của con bà, vốn cũng bị người ta chặn ngay ngoài ngõ, và thê thảm hơn nữa, vì sự vắng mặt -vô tình hay hữu ý?- của đại diện giáo phận Huế, nơi Anh đang phục vụ và chịu đau khổ. Dẫu sao bà cụ cũng ra đi trong thanh thản an bình, vì đã một đời cố gắng làm kitô hữu, cố gắng giáo dục đàn con nên những kitô hữu, nhất là đã dâng hiến đứa con út mà lúc này đây đã thành một linh mục quyết liệt dấn thân trên đường khổ giá vì đại cuộc đấu tranh cho quyền con Chúa và quyền con người. Thân mẫu của Anh đúng là mẹ Việt Nam anh hùng đích thực ! Than ôi, chỉ một tháng sau đó, ba người cháu ruột của Anh cũng ra đi vào tù, mãi đến hôm nay vẫn chưa được thả, chỉ vì một tội duy nhất là có ông chú tranh đấu. Làm người Việt Nam hôm nay quả là bất hạnh, vì có thể bị tống ngục với bất cứ lý do gì, và người ta muốn giam đến bao lâu cũng được. Tình nghĩa đồng bào, niềm tôn trọng nhân phẩm, sự động lòng trước nỗi khổ tha nhân đã cuốn gói ra đi rồi chăng? - Thế nhưng, ngoài mấy cuộc ra đi đầy ý nghĩa nói trên, còn có sự ra đi nào nữa chăng trong những ngày đáng nhớ ấy hỡi Anh Lý? Còn có đấy! Trước đó một tuần, vào ngày 11-5-2001, một điện thư từ Huế đã đi sang Mỹ. Một bức thư không ai có thể ngờ nổi: ngờ nổi tác giả, ngờ nổi giọng điệu, ngờ nổi nội dung. Một bức thư -buồn thay- đã mạt sát Anh với những lời lẽ, luận điệu chẳng khác gì những cái loa tuyên truyền trên báo chí, phát thanh, truyền hình Cộng sản VN trong chiến dịch tổng tấn công con người và việc làm của Anh suốt gần nửa năm trời. Một bức thư được gởi cho một tay bồi bút, đầu lĩnh trong chiến dịch đánh phá Anh, đánh phá công cuộc đấu tranh vì tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền ở quê nhà. Có người nói bức thư ấy đã góp phần phổ biến, nhân rộng ra hải ngoại chiến dịch phá hủy thanh danh và công cuộc của Anh mà Cộng sản đã chủ xướng và khai mào tại quốc nội. Điều đó không ai biết. Chỉ biết là sau một thời gian ngắn, trong cộng đồng Công giáo Việt Nam hải ngoại, đặc biệt giữa đồng nghiệp của Anh, buồn thay đã có những dư luận động trời về Anh, hoàn toàn y như dư luận mà CS đã tung ra tại Việt Nam không một bằng chứng, chẳng một dấu tích! Sao người ta lại dễ tin như vậy? Thậm chí có chức sắc nước ngoài từng bênh vực cho Anh đã đột nhiên quay ngoắt 180 độ sau khi nghe một tiếng nói thế giá bảo Anh có lắm tỳ vết trong cuộc đời và không tranh đấu cho tự do tôn giáo mà chỉ cho tự do ngôn luận. Người ta có thể lèo lái như vậy được sao? Chúng tôi đau lòng tự hỏi phải chăng câu nói “Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã trở nên một thứ Kinh Tin Kính cho những con người này? Rồi sau khi Anh bị gô cổ cách tàn ác và giáo dân của Anh bị đàn áp cách tàn nhẫn, người người đã chờ mong bậc hữu trách lên tiếng phản kháng bạo quyền, bênh vực thuộc cấp, nhắn lời hỏi han, gởi sự giúp đỡ, đích thân thăm viếng những giáo dân của Anh đang bàng hoàng, bơ vơ, hớt hải hay đang liệt giường vì roi điện vụt xuống lưng, giày đinh đạp lên ngực. Thế nhưng chỉ thấy một sự im lặng nặng nề, khó hiểu. Mãi lâu về sau mới xuất hiện vài cử chỉ xoa dịu nhỏ nhặt... Ngày Anh bị xử tòa 19-10-2001, thái độ bất động lặng im đó càng nặng nề khó hiểu hơn nữa. Lòng bác ái mục tử đã ra đi rồi sao? Cũng ra đi nốt, chìm xuồng hẳn một dự tính mà người ta bảo là sẽ làm, làm cách tập thể, có đủ trên dưới, sau khi một số bạn bè của Anh, nhân dịp tĩnh tâm linh mục đoàn Huế giữa tháng 3-2001, nảy sinh ý định đưa ra một bản lên tiếng nhằm phản đối chuyện nhà nước quản chế Anh. Thế nhưng, mặc bao chờ đợi, người ta chẳng động tĩnh gì. Đến lúc Anh bị bạo quyền bứng khỏi nhiệm sở, tống vô lao tù, bạn bè Anh càng trông ngóng đây là một dịp để cùng nhau lên tiếng quyết liệt, mạnh mẽ. Than ôi, càng ngóng trông, càng biền biệt... - Hôm nay là giáp một năm ngày Cộng sản nhốt thân Anh, bịt miệng Anh để Anh thôi vùng vẫy, khỏi lên tiếng. Thế nhưng họ đã đạt được gì ? Có lẽ họ đã thành công phần nào qua việc bịt miệng, nhốt tim của nhiều kẻ có trách nhiệm bày tỏ tình thương đối với Anh và đàn chiên của Anh, có nghĩa vụ bênh vực con người Anh hay ít nhất công cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của Anh. Thế nhưng tiếng nói của Anh vẫn âm vang và ngày thêm mãnh liệt. Tiếng nói đó đã rền khắp các diễn đàn quốc tế, các cơ quan nhân quyền, các quốc hội chính phủ. Tiếng nói đó đã đi vào tâm can của đồng bào Việt Nam hải ngoại bất kể lương giáo, vào tâm can của những chiến sĩ ngoại quốc đang tranh đấu cho nhân quyền khắp hoàn vũ. Tiếng nói đó đã gây nên niềm cảm phục, khơi gợi tinh thần đấu tranh, thổi bùng ngọn lửa dân chủ, gieo niềm hy vọng cho những ai đang mong chờ một Việt Nam có đầy đủ tự do tôn giáo và tự do nhân quyền. Anh Lý, Anh hãy an lòng ra đi trong bàn tay của Thiên Chúa. Vì phong trào đấu tranh cho quyền con người và quyền con Chúa trên đất Việt cũng đã ra đi, đã lên đường và đang bước những bước mạnh mẽ. Thân chào Anh trong tình huynh đệ linh mục. Người bạn tranh đấu của Anh: Phêrô Phan Văn Lợi KÍNH NHỜ CHUYỂN TIN VỀ VIỆT NAM

 

Năm nay ngày Quốc Hận thứ 32 lại tới trong không khí căm phẫn vì dư âm và hình ảnh ô nhục của một phiên toà bịt miệng man rợ, chỉ có thể xảy ra ở đất nước VN mà thôi. Người bị bịt miệng vì giữa chốn công đường đã dũng cảm hô lớn “đả đảo đảng CSVN” là một linh mục bất khuất mà tên của ông rất quen thuộc với các tổ chức quốc tế, với các vị dân cử của những quốc gia văn minh từ Âu sang Mỹ, và với tòan thể người Việt yêu chuộng dân chủ tự do: Linh Mục Tađêo Nguyễn văn Lý. Ba mươi hai năm trước, theo Nguyệt Biều An Truyền Lưu Tập do bà Ngô thị Hiền của Uỷ ban Tự do Tôn giáo cho VN thì “trong những ngày sôi bỏng tháng 4-1975, đang lúc ai nấy tất tả tháo chạy vào Nam hay ra ngoại quốc thì LM NVL theo tiếng Chúa, qua lời mời gọi của Đấng Bề Trên là Đức Tổng Giám Mục Nguyễn kim Điền, lại xấn người đi tới, về lại thành phố Huế đang hấp hối, đi ngược con đường của mọi người. Đây là một thành tích “lẫy lừng” hiếm có, tiên báo và chuẩn bị cho những bước dấn thân về sau. Không tìm được một chuyến xe đò, một chuyến máy bay, một chuyến xe lửa, một chuyến tàu thuỷ..cha đành quá giang từng chặng. Một đoạn xe hơi, một đoạn xe thồ, một đoạn xe ngựa, một đoạn ghe máy..cứ vậy rồi Chúa cũng đưa cha về đến chỗ Chúa muốn Cha phục vụ.” Linh mục Lý trở thành thư ký toà Tổng Giám Mục Huế vào những ngày đổi đời bi thảm nhất của quê hương Việt Nam. Quả thật, từ đấy trở đi như một định mệnh đã an bài, cuộc đời cha Nguyễn văn Lý, bắt đầu từ đức Vâng Lời, là một chuỗi những hoạt động đầy gian truân, tù tội trong tinh thần hy sinh, quên mình để phục vụ tha nhân, giáo hội và đất nước. LM NVL đã thực hành lời của Thầy Chí Thánh là Đức Chúa Kitô: "Không có tình yêu nào trọng đại bằng hy sinh mạng sống cho người mình yêu” . Vì yêu thương giáo hội, LM đã cương quyết chống lại sự lũng đoạn khống chế của chế độ vô thần trên Giáo hội Công Giáo VN cho dù phải trả giá bằng những sách nhiễu, vu khống, tù tội và bị hiểu lầm, bị chỉ trích, bị bỏ rơi, từ các Bề Trên và một số những người đồng đạo với cha. Ngay từ tháng 9 năm 1977, LM Lý bị công an bắt giam và kết án 20 năm tù vì đã phổ biến 2 bài tham luận của Đức Giám Mục Philiphê Nguyễn kim Điền lên án chủ trương tiêu diệt tôn giáo một cách tinh vi của ĐCSVN. Tuy nhiên lúc ấy, csVN đang nộp đơn xin gia nhập Liên hiệp quốc nên bọn chúng chỉ giam ngài vài tháng rồi thả về, được bài sai của ĐTGM NKĐ về làm quản xứ Đốc Sơ, Thừa Thiên, Huế. Tại đó chính quyền Cs đã không cho phép ngài được bầu Hội đồng Giáo xứ mới, nhưng vì là việc cần thiết phải làm, LM Lý bất chấp và đã âm thầm cho bầu HĐ trước lễ Giáng Sinh. Vào khoảng năm 1981, khi tình hình tôn giáo vẫn còn căng thẳng và việc tụ tập thờ kính vẫn còn bị ngăn cấm nghiêm nhặt, LM Lý tổ chức hành hương La Vang dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời với nhiều giáo xứ khác nhau bằng xe đạp, dù bị công an tìm cách ngăn cản nhưng với sự khôn khéo và can đảm ngài đã hoá gỉai đưọc để tiếp tục cuộc hành hương. Bạo quyền cộng sản rất tức tối trước sự kiên cường bất khuất của Lm Lý nên chỉ chờ cơ hội thuận tiện để bắt ngài lần nữa. Tháng 1-1983 lấy cớ cha đã cưỡng lại lịnh cấm dạy giáo lý cho giáo dân, cs trục xuất ngài ra khỏi giáo xứ Đốc Sơ và buộc phải về ở với cha mẹ ở xứ Quảng Biên tỉnh Đồng Nai nhưng cha Lý với sự yểm trợ của giáo dân cương quyết không tuân theo, vài tháng sau công an đưa một lực lượng hùng hậu đến bắt cha đi biệt giam. Lần ra tòa này ngài lại bị bản án 10 năm tù giam tại các trại giam khắc nghiệt như Thanh Cẩm, Thanh Hoá và Ba Sao, Nam Hà ở miền Bắc. Những trại tù khủng khiếp này đã được người tù 27 năm Nguyễn chí Thiện diễn tả bằng 2 câu thơ: Những trường bắn im lìm không tiếng súng Những lò thiêu không cần lửa điện than. Chính trong trại Nam Hà, cha Lý đã sống cùng phòng với ngục sĩ hơn một năm. Khi cha Lý đang thọ án tù thì CSVN đầu độc chết Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn kim Điền, người đã được đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị ca ngợi là ý “Vị Giám Mục Uy Dũng”. Được trả tự do ngày 31-7-1992 và phải về ở Nhà Chung mà không được thi hành thánh chức Linh Mục. Bất bình trước sự khống chế và can thiệp thô bạo vào sinh hoạt của Giáo Hội Công Giáo VN, vào ngày 24-11-1994 linh mục Lý ra “ Tuyên Ngôn Về Thực Trạng Công Giáo tại Giáo Phận Huế”. Công an cộng sản điên tiết lập tức kêu ngài lên hỏi cung và “làm việc” liên tục trong 2 tháng nhưng cha Lý không bị khuất phục, vẫn dứt khoát đòi Tự do Tôn Giáo cho VN. Năm sau 1995, Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn như Thể đưa LM Lý về trông coi giáo xứ Nguyệt Biều, một nơi nhỏ bé , hẻo lánh và nghèo nàn. Năm 1999 một trận lụt kinh hoàng xảy ra tàn phá nặng nề vùng Nguyệt Biều, đây là lúc LM NVL tận tình lo lắng săn sóc cho bà con không phân biệt lương giáo và sốt sắng quyên góp tiền bạc để tu bổ sữa chưã những hư hại lớn lao trong xã. Ngài còn mở lớp dạy Anh văn, dạy vi tính, dạy nhạc cho giới trẻ trong vùng. Chính sự hy sinh và lòng bác ái đã khiến dân Nguyệt Biều đem lòng kính phục thương mến cha hết lòng. Tháng 12 năm 2000 cha Lý cho phổ biến Lời kêu gọi số 1 đòi Tự do Tôn giáo cho Việt Nam , để bảo vệ tài sản của giáo xứ Nguyệt Biều LM đã cùng giáo dân kiên quyết xác định chủ quyền của mình trước sự chiếm đoạt trắng trợn của nhà nước. Cha Lý đã nổi danh với tấm hình chụp trước cửa nhà thờ NB với khẩu hiệu Tự Do Tôn Giáo hay là Chết. Bản Tuyên Ngôn về Thực Trạng Công Giáo tại Giáo Phận Huế và 9 Lời Kêu Gọi cũng như 2 Lời Chứng về sự vi phạm quyền Tự do Tôn giáo của CSVN do cha Nguyễn văn Lý gửi ra để đọc trong buổi Điều Trần tại Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện Hoa Kỳ đã được đưa lên mạng lưới toàn cầu và cũng được giới truyền thông loan tin rộng rãi. Dù không bưng bít được cuộc đấu tranh của LM Lý nhưng csVN chưa dám mạnh tay vì lo ngại quốc tế chỉ trích, lên án. Đầu năm 2001 Đức TGM NNT lại thuyên chuyển cha Lý về giáo xứ An Truyền, nơi đây dù bị đặt dưới lệnh quản chế nhưng vị linh mục kiên cường này nhất quyết không tuân thủ. Một chiến dịch bôi nhọ và vu khống ngài được csVN phát động trong nước với sự tiếp tay của một số tay sai tại hải ngoại để xuyên tạc cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa của một vị LM, dù đã mấy phen tù tội vẫn một lòng bền gan tranh đấu cho quyền lợi của Giáo hội mà ông tận tình yêu mến và phục vụ hết lòng. Tháng 5-2001 hơn 600 tên công an vũ trang tới nhà xứ An Truyền đánh đập hành hung giáo dân tàn nhẫn bằng roi điện khi họ ngăn cản bọn côn đồ đến bắt cha Nguyễn văn Lý về nhốt ở nhà lao Mang Cá, Huế. Ngày 19-10-2001 chúng vội vàng đưa cha ra một phiên tòa được bí mật dàn dựng và kết án LM Lý 15 năm tù giam và 5 năm quản chế. Một lần nữa Ngài bị đưa ra trại giam Ba Sao, Nam Hà. Năm 2005, trước áp lực của các tổ chức quốc tế như Human Rights Watch, tổ chức Ân xá Quốc Tế, nhiều vị dân cử Hoa Kỳ và Âu Châu qua sự vận động của người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới, CSVN đã phải giảm án và cuối cùng trả cha NVL về quản chế ở nhà Chung thuộc Tổng Giáo Phận Huế. Chúng tưởng rằng sau bao nhiêu năm tù đày chắc linh mục đã chịu khuất phục, tuy nhiên LM Tađêo chẳng hề vị kỷ cầu an mà bưng tai nhắm mắt trước những sự bất bình. Vì lòng yêu mến Giáo Hội, vì yêu mến tha nhân, cha Lý không thể làm ngơ trước những thống khổ, những bất công, những sự đàn áp của nhà nước hầu tước đoạt đi các quyền làm người căn bản mà người dân có quyền được hưởng để có cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người. Nên ngài đã nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới và triệt để lợi dụng những tiến bộ của ngành Tin Học để đưa những hoạt động của ngài đi xa hơn, khắp miền Bắc Trung Nam, lôi cuốn và khuyến khích sự tìm tòi học hỏi về tự do, dân chủ, nhân quyền nơi các tầng lớp dân chúng trong xã hội VN. Với sự cộng tác tích cực và hữu hiệu của các anh em linh mục trong nhóm Linh Mục Nguyễn kim Điền như quý cha Phêro Phan văn Lợi, Têphanô Chân Tín, Phêro Nguyễn hữu Giải cùng nhiều chiến hữu khác trong đó có anh Đỗ Nam Hải, Ls Nguyễn văn Đài, Ls Lê thị Công Nhân, Gs Nguyễn chính Kết v.v. đẩy mạnh phong trào đòi dân chủ hóa Việt Nam, kêu gọi có một cuộc bầu cử quốc hội đa đảng chứ không phải “đảng cử dân bầu” như hiện nay. Ngài đã là một trong những sáng lập viên Khối 8406, sáng lập viên tờ báo “chui” Tự do Ngôn luận, là cố vấn của đảng Thăng Tiến VN.v.v... Cái tên Nguyễn văn Lý đã trở thành quen thuộc, được ngưỡng mộ và cũng là mục tiêu của csVN và tay sai bôi nhọ vu khống, dựng chuyện phỉ báng v..v.. Và kết cuộc chúng ta đã biết số phận tù đày lại đến với Ngài lần thứ tư ở tuổi 60, nhưng trước khi vào tù cha Nguyễn văn Lý đã giáng cho CSVN một đòn chí tử qua thái độ dũng cảm khẳng khái trước toà, không đứng lên, không trả lời, lại còn hô to Đả đảo CSVN để đưa đến bức hình độc đáo có một không hai là Bức hình Ô nhục hay Bức hình Bịt miệng đã nhanh chóng lan tràn khắp thế giới khiến nhân loại vừa phẫn nộ vừa ghê tởm cho chế độ bạo tàn, phi nhân và man rợ của CSVN. Dù nay chúng khống chế giam hãm thể xác cha Lý trong tù nhưng tinh thần bất khuất của cha tỏa sang khắp năm châu, là tấm gương sáng của “Ngôn Sứ Thời Đại Mới” như Giáo Sư Đỗ mạnh Tri từng ca tụng. Hơn nữa, cha Tađêo NVL chính là chứng nhân của Tình Yêu, một tình yêu quê hương, giáo hội và đồng bào rất chân thành và đầy nhiệt huyết để sẵn sàng chấp nhận hy sinh, tù đày và ngay cả đem sinh mạng của mình để làm chứng cho Tình Yêu Cao Cả đó. Nguyện cầu Thiên Chúa gìn giữ LM Nguyễn văn Lý trong cánh tay quan phòng của Ngài để phù hộ ban ơn cho cha sớm thoát vòng lao lý, trở về tiếp tục cuộc sống Chứng Nhân Cho Tình Yêu trong lòng xã hội Việt Nam. Mùa Quốc Hận 2007 NTQB

 

Do nhiều ngả đường trên mạng lưới toàn cầu chúng tôi nhận được câu chuyện cảm động dưới đây không để tên tác giả và xuất xứ. Đọc xong người thưởng ngoại có thể đoán truyện này do một tác giả hiện đại người Hoa viết và đã đươc dịch sang tiếng Việt. Vì không rõ ngọn nguồn chúng tôi - qua những giòng này - xin phép tác giả, dịch giả và cơ sở truyền thông đầu tiên đã phổ biến chuyện ngắn này. được phổ biến tiếp để càng nhiều người hơn nữa cùng rung động vì một hoàn cảnh nghèo khó éo le và vì một thứ tình cảm thâm sâu nhất của nhân loại. (Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng) Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng thường nhổ nước bọt khi đi qua cô gái, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi “Cút cho xa!”. Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng. Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi “đứa nối dõi” sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể. Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: “Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!”. Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con. Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: “Đưa, đưa tôi...” bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: “Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!” Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có “bệnh thần kinh”, nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. Ngày nọ, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: “Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?” Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ “lệnh tiễn khách” liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: “Đừng... đừng...”. Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: “Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có kết quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?” Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, “phầm!” một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại. Bà nội ngồi thẫn thờ, hóa ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những giọt nước mắt nóng, rồi quay lại sắt mặt nói: “Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!”. Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: “Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!”. Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí. Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa. Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: “Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi”. Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ “bà lang sói”, thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết “điên” nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không? Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: “Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!” Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: “Thụ... bóng... bóng...” Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào tôi với vẻ lấy lòng. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: “Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!” Tôi tức tối đáp lại nó: “Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!” Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi “Mẹ!”, khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi “quan sát học hỏi”, bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ “cỏ lợn”. Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: “Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được...” Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: “Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà...” Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: “Đừng... đừng...” Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: “Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...” Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: “Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!” Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: “Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!” Tôi vùng vằng bĩu môi: “Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!” “A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!” Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: “Đánh tôi, đánh tôi!” Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: “Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!” Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa. Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: “Thụ... ô...” Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị thằng Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng “vút” kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp “bay” ào vào, một tay tóm cổ thằng Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra. Mẹ vì tôi gây ra đại họa, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: “Mẹ!” đây là tiếng gọi mẹ đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà thằng Hỷ nhờ tới, bố thằng Hỷ hung hãn chỉ vào cha tôi nói: “Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày, tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra”. Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà thằng Hỷ, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha. Kết quả hòa giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. “Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành họa đấy thôi!” Cha lại nhìn tôi nói: “Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!” Tôi gật đầu, tôi hiểu. Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp. Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này. 27/4/2003, lại là một Chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: “Ngọt quá, ở đâu ra?” Mẹ nói: “Tôi... tôi hái...” không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: “Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!” Mẹ cười hì hì. Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: “Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!” Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: “Mẹ mày có nói gì không?” Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay: “Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!”. Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: “Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!” Tôi nói: “Thím, thím đừng dọa cháu...” Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi... Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: “Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào...” Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi tưởng chừng cũng rớt nước mắt theo tôi. Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, “bay” thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: “MẸ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!”

 

Ngài là một linh mục, nhưng ở đấy người ta không gọi ngài là cha, mà chỉ nghe gọi là Bố, hoặc Bố Già. Tôi gặp Bố Già trong một hoàn cảnh thật tình cờ và hi hữụ. Một hôm, gần giáp tết, tôi và ba anh bạn tù được lệnh đi ra xã bắt lợn. Từ ngày vô trại, chúng tôi không biết xã ở đâu. Được đi ra ngoài và nhất là đi xa là một điều vô cùng sung sướng đối với bất cứ tù nhân nào. Đi là đi cho biết đó biết đây để mở rộng tầm mắt, và xem miền Bắc xã hội chủ nghĩa tốt đẹp ra sao. Ngoài khu vực nhốt tù được vây kín bởi hai lần rào tre bên trong và một lần kẽm gai bên ngoài, tất cả chung quanh đều là đồi núi chập chùng, rừng cây xanh ngắt, chẳng thấy làng mạc đâu. Những lần đi lấy cây hay tre nứa, có khi đi cả cây số mới nhìn thấy một vài căn nhà của dân. Cũng chỉ là những mái tranh úp xúp nghèo nàn ở rải rác như những ốc đảo, không thể gọi là làng hay xã. Nghe tên quản giáo bảo ra xã, tôi mường tượng là một nơi phồn hoa náo nhiệt, và chuyến đi chắc thú vị lắm. Vì phải đi xa nên chúng tôi được lãnh phần ăn sáng trước. Mỗi phần gồm hai khúc mì luộc. Mỗi khúc tròn bằng nửa cườm tay và dài cỡ gần gang tay. Chúng tôi cũng còn được phát luôn thêm phần ăn trưa vì chắc chắn trưa chúng tôi không về kịp. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lên đường. Lúc đi chúng tôi nhẹ nhàng thoải mái vì không phải mang vác gì. Chỉ có lúc về là hơi vất vả vì phải khiêng heo. Bốn người thành hai cặp, chúng tôi thay đổi nhau từng cặp một để khiêng cho đỡ mệt. Ông Trời cũng chiều lòng người. Hôm nay trời nắng đẹp. Đường núi thật là khô ráo dễ đi. Đường đi nhiều đoạn phải leo núi nhưng không sao, chúng tôi ai cũng đi người không. Lúc về có con heo trên vai nhưng đường lại xuống dốc. Luật bù trừ ở đây xem ra khá ứng nghiệm. Trên đường lúc đi cũng như lúc về, bọn tù chúng tôi vô cùng an tâm vì đàng sau đã có khẩu AK với đạn lên nòng và lưỡi lê lắp sẵn luôn luôn bảo vệ. Mỗi năm tết đến, dù tình trạng bết bát đến đâu thì đám tù cũng có được ba ngày tết ăn tươi. Chẳng phong lưu cũng ba ngày tết mà. Bọn tù già đầu chờ tết cũng y như lũ con nít chờ tết vậy. Chẳng khác gì. Con nít chờ mặc áo quần mới, tiền lì xì, chơi bầu cua, đốt pháo. Còn bọn tù già chờ được miếng ăn ngon. Dài cổ chờ cả năm. Đếm nhẩm từng ngày. Tết đến thật là mừng. Được ăn no cơm trắng với thịt lại không phải lao động. Chương trình ăn tết năm nay của trại chúng tôi gồm có một con trâu già đã hết khả năng lao động, hai con heo, bánh chưng với nhân khoai lang luộc nghiền nhuyễn ngào mật, kẹo bánh, và dĩ nhiên dưa hành đã muối sẵn từ trước cả tháng. Dự trù hai con heo nhưng trại mới chỉ có một con. Trâu thì đã có sẵn. Còn thiếu một con heo nữa nên trại phải mua ở ngoài và hôm nay chúng tôi đi bắt về. Heo miền núi Bắc Kỳ cũng giống như con người ngoài đó, thiếu ăn nên không lớn được và gầy trơ xương. Bọn tù già có máu tếu gọi là heo diet. Cao lắm con nào cũng chỉ tới năm chục ký là cùng. Bọn tù chúng tôi những lúc lao động ngoài rẫy hay sau giờ vô chuồng, đã phác họa thực đơn cho từng ngày tết. Cũng đã thử làm một con toán quân phân hai con heo trên đầu người cho cái tết năm nay đâu vào đấy chu đáo cả rồi. Thịt trâu cho mùng một và mùng hai. Xương trâu mùng ba. Da trâu dành riêng cho ngày ra quân mùng bốn tết. Bộ đồ lòng được chôn vào bụng các ban (hay cai tù). Cái đó khỏi nói. Luật bất thành văn trong trại tù là bất cứ mổ heo hay mổ trâu cũng thế, bộ đồ lòng bao giờ cũng được đặc biệt đem chôn tử tế. Không phải chôn dưới đất mà là chôn vào bụng các ban. Còn về hai con heo, nếu cả hai con vật đạt trọng lượng tối đa thì trại đã có 100 ký heo để ăn tết. Nhưng đây là heo hơi hay heo sống chứ chưa phải là thịt heo. Cả trại có 420 tù cải tạo, cộng thêm chừng bốn chục tên ban tức cai tù, chia nhau hai con heo vừa xương, vừa lông, vừa những thứ linh tinh trong bụng của nó nữa. Vị chi mỗi đầu người sẽ được thưởng thức khoảng 217 gram thịt heo hơi. Hơn một trăm gram thịt heo hơi này vừa làm nhân bánh chưng, vừa bầy biện pha chế đủ các món xào nấu cho ngày đầu xuân. Tết như thế kể cũng đã linh đình thịnh soạn rồi. Tuy nhiên đấy là tính trên lý thuyết. Thực tế chẳng bao giờ có sự bình quyền bình đẳng giữa tù và cai tù. Nghĩa là tù được ăn một thì cai tù ăn mười, ăn một trăm. Chưa kể bộ đồ lòng cũng được chôn vào bụng các ban. Trên đường đi tới xã, bốn chúng tôi vẫn còn hăng say bàn tán “kế hoạch” thực đơn của ngày tết. Ngày này qua ngày khác, bọn tù bàn ăn không bao giờ biết chán. Khoảng nửa đường, chúng tôi được nghỉ chân một lần. Đường núi ngoằn ngoèo, lên dốc nhiều nên dù khí hậu mùa đông giáp tết, chúng tôi cũng cảm thấy láp nháp tí mồ hôi. Hai mẩu sắn vào bụng hồi sáng đã biến mất. Chúng tôi lấy xuất ăn trưa ra thanh toán, không cần biết rồi trưa nay sẽ ra sao. Chúng tôi tới xã mặt trời đã gần đứng bóng. Lội khoảng 8 cây số đường đồi núi mất đến gần 4 tiếng đồng hồ. Tới nơi rồi mà chúng tôi vẫn không biết. Hỏi tên cán bộ bảo vệ, nó nhe hàm răng cải mả đáp: - Tới rồi đấy. Tôi không thể tin được chỗ này mà lại là xã. Chỉ có mười mấy căn nhà le ngoe nằm rải rác chung quanh một khu lòng chảo nhỏ. Hỏi ra mới biết trụ sở xã và là nơi có đông người ta ở còn cách đây những hơn ba cây số nữa. Nơi đó mới thực là xã. Xóm quê này người địa phương quen gọi là Xóm Núi cũng thuộc xã nên tên bảo vệ gọi là xã cũng không sai. Thấy khách bắt heo tới, bà chủ bán heo niềm nở chạy ra tận ngõ đón khách. Bà đúng là điển hình một bà mẹ Việt Nam trong văn chương cổ xưa và trên các tranh vẽ thời đó: tóc vấn, đội khăn mỏ qụa, răng đen, chân đất, áo nâu sồng, lưng quấn ruột tượng, mặc váy đen, một loại skirt mà ở bên Mỹ này chưa thấy có ai vẽ kiểu. Bà còn khoác ngoài một cái áo bông mầu đen cũ đã sờn gấu. Lúc ra chào khách, bà hãy còn nhai bỏm bẻm trong miệng miếng trầu đỏ nhoét. Thỉnh thoảng nhổ toẹt một bãi nước miếng trầu xuống ngay bên cạnh. Bà nói chuyện rất xởi lởi với tên cán bộ bảo vệ nhưng lại làm ra vẻ lạnh nhạt với bọn tù và giữ một khoảng cách chừng mực với chúng tôi. Bà niềm nở mời tên bảo vệ vô nhà và quay sang nói với chúng tôi như ra lệnh: - Các anh tạm ngồi nghỉ ngơi ngoài này đi. Tên cán bộ bảo vệ trước khi bước vô nhà vẫn không quên theo đúng sách vở nhắc nhở chúng tôi phải giữ nội qui nghiêm túc, không được quan hệ linh tinh. Chúng tôi vâng dạ cho phải phép, mừng thầm trong bụng vì được hưởng những giây phút thoải mái ngoài sự canh chừng của con mắt hắn. Một lúc sau bà chủ bán heo đem ra cho chúng tôi bốn khúc mì luộc khá lớn đựng trong một cái rá rách và một ấm chè xanh, hai cái bát sành để uống nước. Bà nói lớn như cố ý cho tên bảo vệ trong nhà nghe thấy: - Đồng chí cán bộ cho phép các anh ăn trưa để chốc nữa khiêng lợn đấy. Tôi nghĩ trong bụng thì ra vụ bắt heo này đã được sắp đặt trước chứ làm gì có mà nước uống với mì luộc lẹ đến thế. Chúng tôi ngồi bệt xuống dưới gốc một cây rừng già bên ngoài cổng để nghỉ. Xóm Núi là một khu thung lũng hẹp. Chung quanh núi đồi và rừng già trùng điệp.Có một con suối chảy qua. Đây là nguồn nước duy nhất cho mọi gia đình trong xóm. Nếu là một du khách có tâm hồn lãng mạn hoặc một thanh niên có tinh thần thể thao thì đây là nơi có thể nói là khá lý tưởng để làm thơ hoặc leo núi. Tại các chân núi và các triền đồi thấp, người ta trồng cấy lúa nương, khoai mì hoặc bắp. Rải rác trong thung lũng chỉ có chừng hơn một chục mái tranh. Nhà nào cũng như nhà nấy, gồm hai hoặc ba gian nhà trên và một gian nhà ngang. Gian này tách rời và nằm chắn đầu nhà trên thành một góc vuông dùng làm bếp. Trước cửa nhà trên là một khoảnh sân nhỏ. Mỗi nhà thường có trồng mấy gốc chè (trà). Có khi chè trồng thành luống trước cửa nhà phía bên ngoài khoảnh sân. Thường nhà nào cũng có vài ba con gà thả trong sân. Có nhà còn nuôi heo. Heo không có chuồng mà cũng được thả rông như gà. Xóm Núi có cuộc sống xem ra thanh bình và có thể nói đươc là trù phú xét theo tiêu chuẩn nhà quê miền núi. Đây là điều chúng tôi đặt thành nghi vấn trong đầu để tìm hiểu. Bà chủ heo từ trong nhà trở ra cho biết mọi sự đã ổn định. Chữ ổn định của bà có nghĩa là mọi chuyện đã sắp đặt đâu vào đó, không còn trở ngại gì nữa. Tên bảo vệ đã bị ông chủ nhà cầm chân bằng nửa con gà luộc với một cút (xị) rượu và cơm canh. Nó giao khoán bọn tù cho bà chủ nhà coi giữ không ngờ vực gì cả. - Nó ăn xong còn phải ngủ nữa. Bà chủ nhà cho biết như thế. Lúc này bà đổi hẳn thái độ với chúng tôi. Bà chuyện trò niềm nở và còn trấn an chúng tôi thêm: - Nó say rồi. Các anh yên tâm có ông nhà tôi ở trong nhà. Chúng tôi không lạ gì lối sống hai mặt như thế của người dân miền Bắc. Từ khi đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã gặp những con người hai mặt như thế này nhiều rồi. Lần đầu tiên lúc xuống ga xe lửa Yên Bái, bọn cán bộ huy động đồng bào ra chửi bới lăng nhục bọn tù chúng tôi. Chúng bắt đồng bào mang nước ra cho chúng tôi uống. Khi có mặt bọn cán bộ thì đồng bào làm ra vẻ căm hờn bọn “Ngụy” chúng tôi lắm, nhưng sau lưng bọn chúng, đồng bào đổi hẳn thái độ, ân cần múc nước mời chúng tôi, có khi còn lén dúi cho củ khoai, khúc mía v.v. Sống trong chế độ công sản ít có những lúc đồng bào miền Bắc sống thực với lòng mình. Quanh năm suốt tháng lúc nào người dân cũng sống trong tâm trạng giả dối đó nên họ người nào người nấy thường mang vẻ mặt đăm chiêu tư lự, ít khi thấy họ cười đùa một cách hồn nhiên. Gặp chúng tôi, biết cùng là người đồng hội đồng thuyền, bà chủ nhà mới dám bộc lộ tâm tư. Chúng tôi kể chuyện miền Nam cho bà nghe. Bà nói chuyện miền Bắc với chúng tôi. Sống ở cái xó núi này lại còn bị chính sách bưng bít thông tin của cộng sản, thực ra bà cũng chẳng biết được bao nhiêu chuyện về miền Bắc. Nhưng câu chuyện về Xóm Núi này của bà thì bà biết rành mạch lắm. Khi cộng sản tiếp quản miền Bắc vào năm 1954 thì Xóm Núi này còn toàn là rừng núi hoang vu. Bà là một trong mấy người được đưa đến đây đầu tiên. Ngày đó, ở ngay trên nền nhà hiện thời của gia đình bà,có một dẫy lán bằng nứa do đám thanh niên xung phong được đưa lên làm lâm trường dựng lên để ở. Lâm trường thì chưa thấy nhưng bọn thanh niên đói rét quá chịu không nổi bỏ trốn mất gần hết. Thế là lâm trường phải dẹp. Vào lúc này đang có phong trào đồng bào trốn di cư vào Nam và chiến dịch cải cách ruộng đất đang gây kinh hoàng khắp miền Bắc nên số người bị bắt, bị đầy không biết bao nhiêu mà kể. Xóm Núi được coi là nơi lý tưởng để lưu đầy những thành phần chống đối hoặc không theo chế độ. Những người khốn khổ này bị đưa lên lấp chỗ trống cho bọn thanh niên xung phong. Họ sống chui rúc trong những dẫy lán tre mà bọn thanh niên xung phong dựng lên. Hầu như tất cả dân xã đều là những thành phần bị chế độ kết án. Có người là phản động, có người là cường hào, kẻ là địa chủ ác ôn, người là tư sản tìm cách trốn theo Mỹ Diệm. Thành phần càng bị coi là nguy hiểm càng bị tống lên cao. Người nào được coi là ít nguy hiểm hơn thì được chỉ định cư trú tại địa điểm chung quanh trụ sở xã bây giờ. Mười mấy gia đình bị đưa lên Xóm Núi đều thuộc loại cực kỳ phản động và hung hiểm. Đợt đầu tiên bị tống lên đây gồm ba gia đình. Hai người là hạ sĩ quan trong quân đội partisan của Pháp cùng với gia đình không chịu vô Nam và một nữa là gia đình bà chủ heo. Ông chồng bà làm trùm ở một giáo xứ vùng đồng bằng thuộc địa phận Thái Bình. Giáo xứ này là một làng tự vệ chống Việt Minh. Đa số dân làng đã dắt díu nhau di cư vào Nam . Lúc đó bà trùm đau nặng nên cả gia đình đành phải ở lại rồi bị đầy lên đây. Những gia đình khác lần lần bị đưa lên sau, gồm gia đình của một ông chánh tổng, còn lại đều thuộc thành phần địa chủ ác ôn. Tới sau cùng là một người đàn ông trung niên. Ông ta bị đưa lên đây một mình. Nói đến nhân vật này, bà chủ heo mới sực nhớ ra, bà vừa chỉ tay về phía một rẫy bắp cách không xa vừa nói: - Mới thấy bố già đàng kia mà thoắt cái đã đâu mất rồi. Lúc mới tới, chúng tôi có nhác thấy một ông cụ gìa đang lui cui làm cỏ một vạt bắp gần đó, nhưng bây giờ không còn thấy đâu nữa. Tôi cũng nhớ lại nên hỏi bà chủ heo: - Có phải ông cụ cùng với mấy đứa nhỏ làm cỏ bắp ở đàng kia không? Chúng tôi mới trông thấy đây thôi mà. - Đúng rồi. - Bà chủ heo nheo mắt cười rồi quay về phía ruộng bắp gọi: - Bố già ơi, bố có đem theo điếu với lửa cho mấy anh này mượn hút với. Tiếng ông già vọng lại từ cuối ruộng bắp: - Có đây, tôi đem lại ngay. Thoáng cái đã thấy ông cụ ló đầu ra khỏi luống bắp cầm theo chiếc điếu cầy và mồi lửa đi về phía chúng tôi. Ông cụ râu tóc bạc phơ. Bộ đồ nâu rách lỗ chỗ lên mầu mốc thếch tiệp với nước da trên khuôn mặt khô hốc của ông. Tôi tò mò hỏi bà chủ heo xem ông là ai để chúng tôi tiện việc chào hỏi. Bà nói thật nhỏ vào tai chúng tôi: - Ông cha xứ của chúng tôi đấy. Bà nói tiếp liền để mô tả về ông cha xứ của bà: - Ông cụ già rồi mà chẳng bao giờ chịu để cho chúng tôi giúp đỡ gì cả đâu. Cái gì cũng làm lấy tất. Già rồi mà còn khỏe đáo để. - Kính chào cha. Cha xứ đến, cả bốn chúng tôi đều đứng lên lễ phép chào. Ngài nhìn quanh quất giây lát rồi thận trọng bảo chúng tôi: - Ấy chết các ông gọi như thế ở đây là không được đâu. Bà chủ heo chêm vào: - Gọi ông cụ là bố già được rồi. Bố con mình đợi mấy anh ra mà ra kiểu này có chán không kia chứ! Có phải không bố? Bố già cười xề xòa an ủi chúng tôi: - Ai muốn vậy đâu. Không phải tại các ông ấy. Vận nước tới biết sao được. Trưa mùa đông ở vùng cao tuy có nắng hanh nhưng trời vẫn lạnh căm. chúng tôi co ro bên đống lửa do bố gìa nhúm để sưởi và để hút thuốc lào. Rít điếu thuốc lào rồi nhấp một ngụm chè xanh đặc quạo thì thật là một cái thú trên đời, dân tỉnh thành chắc chẳng bao giờ được hưởng. Bên cạnh đống lửa, câu chuyện về Xóm Núi cứ tự nhiên như một cuốn phim với bố già là nhân vật chính và bà chủ heo là diễn viên phụ tuần tự quay lại theo khói thuốc của chiếc điếu cầy. Bố Già trước kia là một linh mục coi một giáo xứ miền duyên hải tỉnh Nam Định. Sau khi đất nước bị chia đôi, ngài tổ chức cho giáo dân của ngài và cho cả đồng bào không có đạo chung quanh đó đóng bè vượt biển vào Nam tìm tự do rất nhiều. Ngài và một ít thanh niên tâm phúc tình nguyện ở lại lo cho đồng bào ra đi, hết đợt này đến đợt khác. Cuối cùng cha con họ mới ra đi trên một chuyến bè chót. Chẳng may bè bị sóng lớn đánh bể ngoài khơi. Mười mấy thanh niên không biết sống chết ra sao. Sau này không bao giờ ngài được gặp lại họ nữa. Trôi dạt trên mặt đại dương hơn một tiếng đồng hồ giữa đêm tối sóng to gió lớn, ngài may mắn ôm được một cây bương. Cứ thế một ngày trời chịu đói, chịu rét, sóng đưa ngài dạt vào gần đến bờ thì bị công an bắt được. Chúng giam ngài tại tỉnh lỵ mấy tháng rồi tống ngài vào trại Đầm Đùn Khu Tư. Đây là một trại giam khét tiếng dữ dằn chuyên nhốt tù thứ dữ. Tù vô đây cứ coi như không có ngày về. Gần mười năm sau có lẽ công sản sợ Miền Nam đánh ra Bắc nên chúng đem cầm chân ngài trên Xóm Núi. Ở đây lúc này đã tập trung được 14 gia đình gồm ba là công giáo, còn lại là người lương. Việt Minh giao ông cha cho hai gia đình người lương quản lý để theo dõi và báo cáo chi tiết mọi sinh hoạt của ngài. Bố già lúc đó chỉ còn là một cây sậy biết đi, nhưng ngài vẫn tỉnh táo, tháo vát và vui tính. Ngài tự đi lấy cây lấy nứa về dựng một túp lều cho mình, không phải nhờ đến ai. Chỉ sau dăm sáu tháng về đây, ngài đã có thể trồng bắp và khoai lang để tự túc được về lương thực. Điểm đặc biệt là bố già lúc nào cũng tỏ ra là một người yêu đời, sống chan hòa và giúp đỡ bất cứ ai trong xóm. Dân Xóm Núi gom lại từ nhiều địa phương khác nhau, thuộc đủ mọi thành phần và giai tầng xã hội cũng như tôn giáo nên thời gian đầu họ sống rất cô độc, lạnh nhạt với nhau. Nói đúng ra là họ nghi kỵ nhau nên ai cũng thủ. Đó là tâm trạng chung trong bất cứ một xã hội cộng sản nào. Nhưng chỉ vài năm sau khi bố già tới, tình hình đã biến đổi. Ngài chiếm trọn cảm tình và sự tin tưởng của mọi người dân Xóm Núi, kể cả tên công an phụ trách an ninh xóm. Vì thế, không những ngài được nới rộng quản chế mà còn được chỉ định làm tổ trưởng tổ sản xuất có trách nhiệm trông coi chi nhánh hợp tác xã sản xuất Xóm Núi. Hợp tác xã là cái tên chỉ đặt ra theo phong trào. Ngài đem hết những hiểu biết của mình trước kia về cộng sản từ sách vở và những kinh nghiệm của ngài trong các nhà tù ra để giúp ngời dân Xóm Núi sống thích ứng với hoàn cảnh mới. Ngài chủ trương ở đây là đất rừng và đồi núi, ai canh tác được bao nhiêu tùy sức. Vấn đề là đóng thuế đủ cho xã. Ngài lập luận với bọn chính quyền xã: thế cũng là một hình thức khoán sản phẩm của nhà nước rồi. Mức thuế do xã qui định, nhưng sự qui định của xã lại tùy theo cung cách xử trí vấn đề của người dân trong xóm. Nói nôm na là dân biết sống được lòng quan thì chuyện gì cũng xong. Ai lên đây cũng với hai bàn tay không, đổi chén mồ hôi lấy miếng ăn. Có đủ miếng ăn đã là may. Thời gian đầu khi mọi người còn giữ thái độ e dè nghi kỵ nhau, tinh thần người dân Xóm Núi xuống rất thấp. Họ thất vọng, chán nản và hầu như buông xuôi. Thấy tình cảnh như vậy, bố già lập tức đề ra trong đầu một chương trình dân sinh chung cho cả xóm. Câu nói mà cộng sản dậy cho tù trong lúc ngài bị giam giữ “mình vì mọi người, mọi người vì mình” được ngài đem ra thực hành. Bắt đầu ngài tới lui từng nhà, đề nghị sửa sang, tu bổ hay thay đổi cái này cái khác. Những đề nghị của ngài nếu được gia đình đồng ý đều do chính tay ngài thực hiện. Gia đình có đóng góp thì chỉ là phụ. Mỗi ngày, ngài lao động cho mình một nửa ngày. Nửa ngày còn lại ngài làm giúp các gia đình, nay nhà này, mai nhà khác. Bọn chính quyền xã sau một thời gian theo dõi và kiểm soát, không thấy có biểu hiện nào đáng nghi ngờ, chúng chỉ định ngài làm đội trưởng đội sản xuất và trông coi hợp tác xã. Vì là ở miền núi và nhất là không có trâu bò cũng như dụng cụ canh tác nên ngài tranh đấu cho mỗi người được giao phần đất lãnh canh tối thiểu. Nghĩa là từng người tùy theo tuổi tác hay sức khỏe nhận khai phá và trồng trọt phần đất để đủ sinh sống. Tuy nhiên ngài ngầm cổ võ và khuyến khích từng người và từng nhà khai phá và canh tác tối đa nếu có thể. Do đó tuy với mức thuế khoán thường là 60%, Xóm Núi vẫn có đủ lương thực không bao giờ thiếu. Con gà trong sân gia đình nào nuôi được đều là sản phẩm thặng dư có quyền giết ăn hoặc bán . Trừ ra con heo nuôi được nếu giết ăn hay bán đi thì phải đóng thuế. Ngài còn áp dụng phương pháp vần công, đổi công của các hợp tác xã nông nghiệp miền Bắc để xây dựng nhà ở cho từng gia đình. Vì thế gia đình nào cũng có nhà cửa tương đối tươm tất để ở. Một vấn đề khó khăn cho người dân Xóm Núi lại chính là sự “thịnh vượng” bề ngoài ấy của họ. Khi người dân no mà cán bộ cách mạng đói thì đúng là một điều nghịch lý dưới chế độ cộng sản. Thấy dân có ăn, bọn chánh quyền xã bắt đầu mè nheo yêu sách. Nhận thấy có mòi bất ổn, bố gìa trong tư cách đội trưởng đội sản xuất lập tức tìm cách chận đứng ngay. Cũng chẳng có gì khó khăn. Cái khó nó đẻ cái khôn là qui luật tự nhiên. Phương pháp hữu hiệu nhất để chận họng và khóa tay bọn cán bộ là tọng cái gì đó vào miệng chúng thì chuyện gì cũng xong. Kinh nghiệm sống trong xã hội cộng sản dậy cho mọi người biết rằng con người chỉ là con vật, mà bản tính của mọi loài vật là bằng mọi cách để sinh tồn. Người dân tìm sinh tồn bằng chính bàn tay và mồ hôi mình đổ ra. Còn bọn cầm quyền CS sinh tồn bằng cây súng trong tay của chúng. Thực ra người dân Xóm Núi đã là những người cùng khổ nhất trong cái xã hội nghèo nàn miền Bắc này rồi. Họ chẳng còn có gì để cho đi ngoài miếng ăn hàng ngày của họ. Nhưng dù phải hy sinh bớt đi ít nhiều trong khẩu phần của họ để được hưởng một chút thoải mái trong cuộc sống vẫn còn hơn. Cái mà họ có thể dùng để trả giá cho cuộc sống yên vui của họ là rau quả ngoài vườn, là con gà trong sân, là chén gạo trong lu, là chai rượu nấu được. Đơn giản thế thôi. Bà chủ heo kể rằng bà nuôi được hai con heo. Một con bán cho trại tù hôm nay chúng tôi tới bắt. Con khác lớn và mập mạp hơn một chút đã bán trước cho hợp tác xã (tại xã). Con heo này bà phải đóng thuế mất già một nửa trị giá. Bộ đồ lòng dành riêng để “bồi dưỡng” cho ủy ban. Khi cân heo, chiếc cân được nhích lên khoảng vài ba ký trừ hao. Người chủ heo được đền bù những cái mất mát kia bằng cách đó theo tập tục xã hội chủ nghĩa. Một bên có lợi vì được cho không. Một bên bị ăn cướp công khai nhưng lấy lại được chút ít ân huệ. Như thế cũng thỏa mãn rồi. Những chuyện bị ăn cướp rồi được đền bù đại loại như thế đã trở thành nếp sống của người dân dưới chế độ công sản nói chung, và tại Xóm Núi nói riêng. Không một ai dám kêu ca mà trái lại còn phải coi đó như một ân huệ mà nhà nước chỉ chiếu cố cho những người xứng đáng được hưởng. Bố già dí dỏm nhận định tham nhũng là một “đức tính xã hội chủ nghĩa” ở miền Bắc, và ngài còn cho rằng cách thức người ta đưa và ăn hối lộ đã trở thành một “nghệ thuật giao tế” trong chế độ cộng sản. Điều này thật quan trọng. Không phải cứ đưa hối lộ là được nhận cả đâu, mà phải biết đưa cho đúng cách mới thực sự là điều quan trọng. Nếu không khéo léo thiếu tế nhị khi đưa hối lộ thì không những mất của mà còn mất luôn cả cái mạng nữa chưa biết chừng. Bởi vì dưới chế độ cộng sản, việc nhân dân bồi dưỡng cán bộ và việc hối lộ mua chuộc cán bộ nhà nước là hai hành động đã đưọc điển chế hóa hẳn hoi. Vui vẻ tự nguyện cho cán bộ ăn được coi là việc làm bồi dưỡng cán bộ. Đây là hành động có công với cách mạng. Ngược lại cho bọn cán bộ ăn mà không vui vẻ tự nguyện thì đó là hối lộ cán bộ nhà nước. Đây là một tội hình, nhẹ thì tù sơ sơ năm mười năm, mà nặng thì mất đầu như chơi. Bọn tù chúng tôi học được cả một kho kinh nghiệm sống của bố gìa. Quả thật là đi một ngày đàng học một sang khôn. Chuyến đi bắt heo của chúng tôi không uổng. Việc bố già bị đầy lên Xóm Núi là cái xui cho ngài nhưng phải được coi là cái may cho những người dân bị đầy lên đây. Trong câu chuyện, bà chủ heo lập đi lập lại với chúng tôi: - Không nhờ có bố gìa, Xóm Núi không được như thế này đâu. Cuộc sống người dân Xóm Núi được cải thiện và nâng cao rõ ràng so với hầu như toàn miền Bắc. Trong khi dân miền Bắc có nơi có người bị chết đói thì Xóm Núi vẫn chưa đến nỗi thiếu thốn cái ăn. Trong khi cả nước bị chiến tranh tàn phá thì Xóm Núi vẫn thanh bình yên vui. Nhà nước không mở trường học ở đấy nhưng bố già cũng đã tự mình tổ chức được một lớp học vào mỗi Chủ Nhật để dậy cho những người ít chữ nghĩa, không kể người lớn hay trẻ con. Ở Xóm Núi ai ai cũng có nhà ở. Người dân với nhau không ai bóc lột áp bức ai mà lại sống rất chan hòa yêu thương nhau. Thực ra cũng có áp bức bóc lột, nhưng là do bọn cán bộ nhà nước. Tuy nhiên tệ nạn này cũng đã hóa giải được tới mức có thể chịu đựng được nhờ người dân Xóm Núi biết hy sinh và tài khéo léo của bố già. Ở trong một đất nước theo xã hội chủ nghĩa, có thể nói được rằng bố già là một lãnh tụ đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội tại Xóm Núi này, chuyện mà Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh v.v. đã phải giết đến hàng chục triệu con dân của họ để thực hiện mà cho đến lúc chết vẫn chỉ là giấc mơ. Đấy là về mặt xã hội. Một khía cạnh quan trọng khác là về mặt tôn giáo. Bố già là một linh mục công giáo. Xóm Núi là nơi ngài bị đầy ải. Ngài sống trong một căn nhà hai gian. Ngài nấu ăn ở đấy, ngủ ở đấy, dậy học ở đấy, và thậm chí làm lễ cũng ở đấy. Khi bố già mới tới, Xóm Núi có 14 gia đình thì 11 là lương dân. Chỉ có ba gia đình là công giáo. Bố già được giao cho hai gia đình bên lương quản chế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, cả hai gia đình này đều trở lại công giáo. Chín gia đình khác về sau được ngài cảm hóa cũng theo đạo của ngài. Còn lại chỉ còn hai gia đình vẫn giữ đạo ông bà. Bố già ở Xóm Núi, tuy là một linh mục nhưng ngài không bao giờ giảng đạo cho ai. Phải nói là ngài không dám giảng đạo mới đúng. Những người theo đạo đều là vì cảm mến ngài mà theo đạo của ngài. Bà chủ heo hãnh diện giới thiệu với chúng tôi bố già là ông cha xứ của bà. Thực ra Xóm Núi chẳng phải là một xóm đạo. Ông cha xứ chỉ là một tên tù bị chỉ định cư trú. Bố già cũng không có một cái gì để hành xử chức linh mục của ngài. Thậm chí đến một cuốn Phúc Âm cũng không có. Ngài không có thánh đường, không có Thánh Kinh, không giảng thuyết, nhưng chính bản thân ngài là một cuốn Thánh Kinh sống. Người ta có thể đọc được từng lời của Chúa trong lối sống và hành động của bố già. Ngài không xây cất thánh đường nguy nga tráng lệ để mở mang nước Chúa, không tổ chức lễ lạt với cờ xí trống chiêng inh ỏi để truyền bá Phúc Âm. Nguời ta tìm thấy Chúa trong chính con người đơn sơ của ngài. Hồi còn chưa đi lính, tôi có đọc câu chuyện về một linh mục giống y như bố già. Ngài là người Ý, cha Pio. Cha Pio là cha sở họ đạo Rosola, một làng quê miền núi hẻo lánh. Cha là một linh mục khác thường. Khác thường ở đây có nghĩa là chẳng được bằng ai. Phong thái thì nhà quê nhà mùa. Trí khôn thì chậm chạp, có thể nói được là dốt nát. Quê mùa dốt nát là tất cả những gì cha Pio có. Chỉ có giáo dân của ngài mới biết ngài là linh mục, nhưng lại không biết tên họ của ngài là gì. Mọi người theo thói quen gọi ngài vắn tắt bằng cái tên mộc mạc Pio, cha Pio. Những người chưa quen biết ngài, dù đang đứng đối diện với ngài cũng không thể nào nhận ra ngài là một ông cha sở. Ngài thiếu hẳn cái dáng dấp và tác phong của một ông cha sở mà người ta thường thấy: mặc áo chùng thâm, đội mũ mục đồng, tay cầm ba toong, đi rảo chung quanh nhà thờ vào những lúc rảnh rỗi. Trái lại, cha Pio, ngoài những lúc làm nhiệm vụ linh mục như giải tội, làm lễ v.v., suốt ngày lam lũ ngoài nương khoai rẫy bắp như một anh nông phu chánh hiệu con nai vàng. Giáo dân trong họ đạo mỗi khi có việc đến nhà xứ để gặp ông cha sở mà không thấy, họ biết ngay họ phải kiếm ngài ở đâu. Họ chỉ việc men theo con đường ngòng ngoèo từ nhà xứ dẫn ra ngoài rẫy. Con đường mòn này hai bên cây cối um tùm, lúa ngô rậm rạp, họ vừa đi vừa gọi tên ngài. Thế nào họ cũng tìm ra được cha sở của họ đang lúc hoặc cuốc đất, hoặc trồng bắp, hoặc vun xới mấy gốc nho đâu đó. Người ta kể lại. Có một ngày, đức giám mục địa phận mới nhậm chức, đến thăm cha Pio nhưng không gặp ngài trong nhà xứ. Đức cha bèn trở ra, ngài thấy một ông già đang chăm chú sửa sang hàng rào cây chung quanh nhà thờ. Ngài hỏi thăm ông già: - Chào ông già, ông có biết cha sở ngài đi đâu không? Ông già làm vườn có vẻ hơi lung túng. Ông cúi đầu chào đức cha, không trả lời thẳng câu hỏi mà chỉ tay về phía nhà xứ như có ý bảo cha sở đang ở trong đó. Thế rồi ông để đức cha đứng đó một mình giữa sân nhà thờ, vội vã chạy vào nhà xứ làm như đi trình báo cho cha sở biết. Ít phút sau, người ta thấy cha sở tất tả chạy ra đón đức giám mục. Đức cha nhận ra ngay cha sở chính là ông già làm vườn ngài vừa mới gặp. Tuy nhiên đức cha vẫn tươi cười tỉnh bơ, giả bộ như một người thiếu con mắt tinh đời. Hồi nhỏ, cậu Pio không có được cái may mắn cắp sách đến trường vì cả vùng quê cậu ở không có trường học. Hầu hết các trẻ em ở đây đều thất học. Riêng Pio, ngoài việc chăn cừu, còn được cái may mắn đến học chữ với cha sở một họ đạo vùng Montalbano. Pio học hành không giỏi nhưng được cái ngoan và hiền. Lớn lên cậu được gởi vào chủng viện rồi trở thành linh mục. Sau một thời gian làm tuyên úy, cha Pio được cử về làm cha sở xứ đạo Rosola. Ngoài công tác mục vụ, công việc thường xuyên của cha là làm rẩy. Nhà xứ không có ai giúp việc. Cha sở phải tự tay làm lấy tất cả mọi việc. Làm lễ cũng cha. Giật chuông, mở cửa nhà thờ cũng cha. Ăn uống cha cũng tự nấu lấy. Thậm chí áo quần rách cha tự tay khâu vá, không nhờ đến ai. Tài sản của ngài thu gọn trong một cái túi lớn. Ngài đi chợ mua ăn không cần giỏ xách. Tất cả được gói lại nhét vào một cái bao may liền với cái áo chùng thâm của ngài. Bổn đạo cười. Ngài thản nhiên trả lời: - Có sao đâu. Vậy mà tiện lắm đấy. Nói chuyện với Bố Già tôi cứ tưởng tượng ngài là cha Pio của xứ đạo Rosola. Cả hai giống nhau đặc biệt về mặt tu hành và thực hành chức linh mục. Về mặt này, bố già phải được kể là một nhà truyền giáo rất thành công. Tuy ngài không giảng đạo nhưng có nhiều người chung quanh ngài nhận ra Chúa và theo Người. Bố Già Xóm Núi mang hai hình ảnh, vừa là nhà truyền giáo vừa là một lãnh tụ cộng sản. Mặt nào ngài cũng thành công. Những chuyện xẩy ra ở Xóm Núi mặc dầu rất âm thầm nhưng không thể qua mắt được bọn cán bộ xã. Tuy nhiên chúng cũng phải mắt nhắm mắt mở làm ngơ như không biết gì, bởi vì bọn chúng một đàng không có điều gì đến nỗi phải thù ghét bố già. Đàng khác chúng đã mắc nghẹn ở cổ họng rồi. Chúng không có lý do gì để khui ra mà hành tội ngài cả. Tên công an Xóm Núi còn chưa ráo máu đầu, là cộng sản từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, không biết tôn giáo là gì, nhưng rất khoái bố già, thỉnh thoảng trước đám đông nó hỏi ngài: Sao, anh tính lấy vợ đi chứ, tôi xây dựng cho. Bố già chỉ cười thoái thác: Tôi già lão thế này ai mà chịu lấy. Bà chủ heo kể câu chuyện vui nhưng sợ buồn lòng bố già, bà phân trần với bọn tôi: - Thằng ranh con không biết cha cụ là ai. Cũng tội nghiệp. Chuyện trò giữa bọn tù chúng tôi với bố già và bà chủ heo còn đang hào hứng thì tên cán bộ bảo vệ trong nhà đã thức giấc. Nó lên tiếng gọi chúng tôi: - Các anh vào bắt lợn, khẩn trương về cho kịp. Chúng tôi đứng lên chào bố già rồi chạy vào. Công việc bắt, trói con heo tiến hành đâu vào đấy chỉ mất năm phút như những người giết heo nhà nghề. Bắt con heo xong, tên cán bộ hối về liền. Tôi hỏi nó: - Phải cân đã chứ cán bộ? - Cân rồi, năm chục ký. – Tên cán bộ trả lời. Chúng tôi hiểu ý. Con heo làm gì đến năm chục ký. Cái kiểu cân bằng mắt của tên bảo vệ hẳn là để bù lại nửa con gà và xị rượu hắn đã tống vào bụng. Chúng tôi khiêng heo ra đến cổng thì vừa lúc bố già đi làm về cũng ngang qua đó. Ngài tươi cười chào hỏi mọi người và không quên nhắn nhủ chúng tôi một câu cho phải phép: - Các anh cố gắng học tập tốt, lao động tốt để chóng được đảng và nhà nước cho về đoàn tụ với gia đình nhá. Tên cán bộ bảo vệ thấy ông già nhà quê lên lớp bọn tù, nó lấy làm hả hê lắm, nhe hàm răng cải mả ra giữa đống da thịt đỏ ối vì men rượu nói với chúng tôi: - Các anh thấy không, đảng và nhân dân ai cũng mong như thế cả. Về sớm hay muộn đều là tùy các anh cả đấy. Sâu vào trong xóm, bố già khả kính của người dân Xóm Núi cùng với hai tiểu đồng đi trước, đứa vác cuốc, đứa xách chiếc điếu cầy đang khuất dần vào vạt bắp rậm rạp. Bọn tù chúng tôi khiêng heo về trại để chuẩn bị ăn tết. Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất XUÂN TRONG TÙ Nhìn trời đàn én đến đưa thoi Mới biết ràng xuân đã đến rồi Gió nhẹ đưa hoa cười cợt ý Nắng hồng đón bướm lượn đùa chơi Xuân về ai nấy vui xum họp Tết đến mình riêng một góc trời Chó tới: "mày... tha thì chẳng chẳng" (1) Gà đi: "đời... có thế mà thôi..ôi...ôi". (2) Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất Tân-Lập, Vĩnh Phú tết Canh-Tuất 1982 (1) tiếng chó sủa: ẳng ẳng) (2) tiếng gà gáy: ò ó o o)